Jan (Jeannne) chuẩn bị xong hành lý; nàng bước lại gần cửa sổ, nhưng mưa vẫn rơi.
Mưa rào đập vang vang suốt đêm vào ô cửa kính, vào mái nhà. Bầu trời thấp và đẫm nước dường như vỡ ra, trút hết xuống đất, hòa tan đất thành một thứ hồ nhão, làm đất chảy ra tựa như đường bị đun nóng. Từng cơn gió mạnh ào ào lướt qua, đầy khí nóng hầm hập. Phố xá vắng tanh chìm ngập trong tiếng ầm ầm của các dòng nước tuôn tràn. Nhà cửa, chẳng khác gì chiếc khăn bông xốp, uống no nê hơi ẩm, thấm vào đến tận bên trong và làm cho các vách tường, từ hầm sâu tới kho thóc trên cao, đều phải đổ mồ hôi.
Jan ra khỏi trường dòng ngày hôm qua; thế là từ nay nàng được tự do mãi mãi. Nàng sẵn sàng ghì lấy mọi hạnh phúc của cuộc đời hằng mơ ước bấy lâu. Nàng sợ cha mình do dự không chịu ra đi nếu trời chưa hửng nên từ sáng đến giờ, nàng đã hằng trăm lần nhìn ra phía chân trời xem mưa đã sắp tạnh chưa.
Chợt nhớ ra là mình quên không xếp cuốn lịch vào trong túi hành lý, nàng gỡ từ trên tường xuống miếng bìa cứng nhỏ được chia ra từng tháng, ở giữa một hình vẽ, có đề rõ bằng chữ số vàng niên hiệu năm đó, 1819. Nàng lấy bút chì gạch đi bốn cột đầu, xóa từng tên thánh cho đến ngày 2 tháng 5, ngày nàng ta khỏi trường dòng.
Phía ngoài cánh cửa có tiếng gọi: "Janet!" (Jeannette!)
Jeanne đáp: "Vào đi, bố!". Và bố Jeanne bước vào.
Nam tước Ximông-Jắc Lơ Pectuyx đê Vô (Simon Jacques Le Perthuis de Vauds) là một nhà quý tộc của thế kỷ trước, một người tốt say mê cái gì thì say mê cuồng nhiệt. Là kẻ tôn sùng Jăng-Jắc Rutxô (1) (J.J Rousseau) ông yêu thiên nhiên, đồng ruộng, mảnh rừng và súc vật với tấm lòng tha thiết của một người yêu. Theo bản năng của một người sinh ra từ cành vàng lá ngọc, ông chẳng ưa gì năm 93,(2) nhưng vốn mang bẩm tính một nhà triết học, lại được giáo dục theo tinh thần một người yêu chuộng tự do, ông căm ghét bệnh chuyên quyền bạo ngược, căm ghét theo một kiểu vô thường vô phạt và có tính cách khoa trương.
Sức mạnh to lớn và nhược điểm to lớn của ông chính là lòng tốt, một lòng tốt của người không có đủ tay để mà vuốt ve, trao tặng và ôm hôn, một lòng tốt tản mác và không bền bỉ của kẻ sáng tạo giống như một phần động lực của ý chí bị tê liệt, nghị lực bị thiếu sót, đến mức gần trở thành một thói xấu.
Là một nhà lý luận, ông nghiền ngẫm cả một kế hoạch giáo dục con gái mình. Ông muốn nàng sẽ đuợc hạnh phúc, sẽ thành một người có lòng tốt, ngay thẳng và dịu hiền.
Nàng sống ở gia đình đến năm mười hai tuổi thì nàng được bố đưa vào trường dòng "Thánh-Tâm" (Sacré Coeur), mặc dù bà mẹ khóc lóc chẳng chịu nào.
Bố nàng nghiêm ngặt nhốt nàng trong đó như trong một nhà tu kín. Nàng sống chẳng hề biết đến việc đời và đời cũng chẳng hề biết đến nàng. Bố nàng muốn rằng, khi trở lại gia đình, ở tuổi mười bảy, con gái ông sẽ trong sạch, và ông sẽ tự mình rèn luyện con qua một khung cảnh thơ mộng vừa phải. Trên đồng ruộng, giữa cảnh đất đai được chăm bón màu mỡ, ông sẽ mở cửa cho tâm hồn nàng, làm cho nàng hết khờ dại trước cảnh yêu đương chất phát, âu yếm đơn sơ của loài vật, trước những quy luật trong trẻo của cuộc sống.
Bây giờ, nàng đã ra khỏi trường dòng, người rạng rỡ, đầy nhựa sống và khao khát hạnh phúc. Nàng sẵn sàng đón nhận mọi niềm vui, mọi sự ngẫu nhiên kỳ thú mà trí nàng đã từng lướt qua trong những ngày nhàn rỗi, những đêm dài cô đơn hy vọng.
Trông nàng giống như một người đẹp trong tranh của Vêrônejơ (Vesronèse) (3) với mái tóc vàng óng ả, nhưng so với nước da nàng, một có gái con nhà quyền quý, màu tóc kia có vẻ còn phải nhường bước. Nước da ấy phơn phớt hồng, phủ nhẹ chút lông tơ như một lớp nhung mờ nhạt chỉ hiện ra chút ít khi có ánh nắng vuốt ve. Mắt nàng xanh một màu xanh nhạt, như mắt những pho tượng sứ Hà-lan.
Nàng có một nốt ruồi nhỏ trên cánh mũi trái và một nốt khác phía cằm phải, ở đó, màu vài sợi lông tơ giống hệt sắc da đến nỗi người ta khó nhận ra. Người nàng cao, ngực nở, lưng ong. Tiếng nói nàng rành rọt, đôi khi dường như quá thanh; giọng cười trung thực của nàng tỏa khắp niềm vui. Với một dáng điệu quen thuộc, nàng thuờng hay đưa hai bàn tay lên thái dương tựa hồ làm cho mái tóc mình thêm bóng.
Nàng chạy đến ôm hôn bố và nói: "Thế nào, ta đi chứ, bố?"
Bố nàng cười, rung rung mái tóc khá dài đã bạc, và giơ tay chỉ ra phía cửa sổ:
- Thơi tiết thế này, đi làm sao được, con?
Nhưng nàng vẫn nũng nịu và âu yếm nài ông: "Ồ! ta đi đi thôi! Con van bố đấy! xế trưa, trời sẽ đẹp thôi mà!'
- Nhưng mẹ con chẳng đời nào đồng ý đâu.
-Có chứ ạ. Con xin hứa với bố như vậy. Con sẽ lo liệu.
-Nếu con thuyết phục được mẹ, bố cũng rất muốn đi ngay.
Thế là nàng chạy vù đến phòng bà nam tước. Bởi vì nàng đã càng ngày càng nôn nóng chờ đợi ngày ra đi này.
Từ khi vào trường dòng "Thánh-Tâm", nàng chưa bao giờ rời khỏi thành phố Ruăng (Rouen).
Bố nàng không cho phép bất cứ một cuộc đi chơi xa nào trước khi nàng đạt đến tuổi mà ông định. Chỉ có hai lần, nàng được đưa về thăm Paris trong mười lăm ngày, nhưng đây cũng vẫn là một thành phố. Nàng chỉ mơ ước có nông thôn thôi.
Bây giờ nàng sắp đi nghỉ hè ở trang trại Bạch Dương, một lâu đài cổ kiểu gia đình xây dựng trên một dải đất kề những vách đá dựng ven biển gần làng Ypo (Yport), và nàng tự hẹn với mình sẽ tạo ra một niềm vui vô tận trong cuộc sống tự do bên bờ sông nuớc ấy. Đã có sự thỏa thuận là tòa nhà ấy sẽ thuộc về nàng; nàng sẽ ở luôn tại đó khi đã lấy chồng.
Cơn mưa từ chiều hôm trước vẫn không ngớt nay là điều phiền muộn lớn đầu tiên của cuộc đời nàng.
Ba phút sau, nàng vừa chạy từ phòng mẹ ra vừa kêu om nhà: "Bố ơi bố! Mẹ đồng ý rồi. Bố cho thắng ngựa vào nhà xe đi!".
Những cơn mưa tầm tã vẫn chẳng ngớt đi chút nào; thậm chí có thể nói nó còn dữ dội lên gấp đôi, khi chiếc xe ngựa tiến đến trước cửa.
Lúc Jan sắp bước lên xe, bà nam tước mới xuống cầu thang, bên này bà dựa vào chồng, bên kìa bà dựa vào một cô hầu to, khỏe và nhanh nhẹn như một chàng trai. Đó là môt cô gái xứ Noócmăngđi (Normandie), vùng Cô (Caux), trông người ít nhất cũng phải hai mươi tuổi, nhưng thực ra chưa đến mười tám. Cô được đối xử phần nào như một người con gái thứ hai trong gia đình vì cô là con của bà vú nuôi Jan (Jeanne) . Tên cô là Rôzali (Rosalie). Vả lại, công việc chủ yếu của cô chỉ là giúp đỡ bà chủ nhà đi lại. Đã mấy năm nay, bà béo phì do chứng bệnh phù tim khiến bà luôn miệng kêu than.
Miệng thở hổn hển, bà nam tước đã bước ra tới bậc tam cấp trước tòa nhà cũ kỹ. Nhìn ra cái sân đang cuồn cuộn nước mưa, bà thì thầm: "Thật chẳng biết điều chút nào cả!"
Chồng bà tươi cười đáp; "Bà Adêlait (Adélaïde), thì chính bà muốn như vậy".
Vì vợ ông mang cái tên bóng bảy Ađêlait nên bao giờ ông cũng thêm tiếng "bà" vào đó với một kẻ kính trọng pha chút châm biếm.
Bà tiếp tục bước xuống và nặng nhọc leo lên xe. Tất cả các lò xo của chiếc xe võng xuống. Ông nam tước ngồi cạnh bà, Jan và Rôzali ngồi trên chiếc ghế quay mặt về phía sau.
Cô đầu bếp Luyđivin (Ludivine) mang áo khoác và hai cái giỏ đến, áo khoác đặt trên đầu gối mỗi người, giỏ đút dưới chân. Sau đó, Luyđivin leo lên chiếc ghế, ngồi cạnh lão Ximông (Simon) và choàng mình kín mít bằng một tấm chăn. Vợ chồng ông gác cổng đến chào và đóng cổng lại. Chủ nhà dặn dò thêm ít lời về các hành lý sẽ được chở đi sau trên một chiếc xe bò, rồi xe khởi hành.
Đầu cúi thấp, lưng còng xuống dưới làn mưa, lão đánh xe Ximông (Simon) như biến mất đi trong chiếc áo tơi rộng có ba tầng cổ áo. Cơn mưa to vẫn rền rĩ đập vào cửa kính, nước mưa tràn ngập cả đường đi.
Hai con ngựa phi nước kiệu đưa chiếc xe đi thẳng xuống phía duới bên tàu, chạy dọc theo dãy tàu thủy lớn với nhũng cột và trục buồm, những dây buộc, tất cả đứng ủ rủ dưới bầu trời đẫm nước như những cây cối bị trụi hết cành lá; rồi chiếc xe chạy vào dãy phố dài Núi Ribuđê.(Riboudet)
Chẳng mấy chốc, xe đã chạy tới cánh đồng cổ. Thỉnh thoảng, qua màn mưa mù mịt, lại trang nghiêm nổi lên một cây dương liễu ngập nước, cành lá rũ ruợi như một xác chết. Móng ngựa gõ bì bõm trong nuớc, bốn bánh xe văng bùn tung tóe.
Mọi người im lặng. Hình như ngay cả tâm trí con người cũng ướt mềm như đất. Bà mẹ ngửa người, tựa đầu và nhắm mắt. Ông nam tước rầu rĩ ngắm nhìn cảnh nông thôn đơn điệu và đẫm nước. Gói hành lý nhỏ để trên đầu gối, Rôzali mơ màng, cái kiểu mơ màng không suy nghĩ của những người dân thường. Nhưng Jan, dưới làn nước chảy ấm áp, lại cảm thấy mình như đang sống lại, chẳng khác một cây cảnh vốn trồng ở trong nhà nay được đem ra ngoài trời. Niềm vui dày dặn, như một tán lá rậm rạp, bảo vệ trái tim nàng, không để cho nó bị buồn bã. Mặc dù không nói năng gì, nàng rất muốn cất tiếng hát lên và chìa tay ra ngoài hứng lấy nước uống. Nàng vui sướng vì được ngựa kéo đi vùn vụt, được ngắm nhìn cảnh vật ủ ê và thấy mình không bị uớt át giữa cảnh lụt lội.
Và dưới cơn mưa dai dẳng, từ mông hai con ngựa, một làn hơi, như hơi nước sôi, đang nghi ngút bốc lên.
Dần dần, bà nam tước đã ngủ thiếp đi. Khuôn mặt bà, vây quanh bởi sáu vòng tóc quấn lòng thòng, cũng dần dần sệ xuống. Ba ngấn cổ to đỡ lấy khuôn mặt đó, những nếp da uốn lượn cuối cùng biến dần vào bộ ngực mênh mông như biển cả. Đầu bà nhô lên, tụt xuống theo nhịp thở; má phị ra; qua cặp môi hé mở, lọt ra một tiếng ngáy khò khò. Chồng bà cúi xuống, nhè nhẹ đặt vào đôi bàn tay đang bắt chéo trên bụng bà một chiếc ví da nhỏ. Tiếng động làm bà thức giấc. Bà giương con mắt còn ngái ngủ, lờ đờ nhìn cái ví. Nó rơi xuống và bật mở. Vàng và giấy bạc vãi ra khắp sàn xe. Bà tỉnh ngủ hẳn. Thế là niềm vui của cô con gái bà đã bật thành một trận cười giòn như pháo nổ.
Ông nam tước nhặt tiền, rồi đặt lên trên đầu gối bà và nói: "Mình ạ, đây là tất cả những gì còn lại về trang trại Elơtồ (d’Életot) của tôi. Tôi đã bán nó đi để có tiền tu sửa trang trại Bạch Dương. Vì từ nay, chúng ta sẽ đến ở đó luôn luôn”...
Bà đếm được sáu nghìn bốn trăm trăng (francs) rồi lặng lẽ đút tiền vào túi.
Đây là trang trại thứ chín bán đi trong số ba mươi mốt cái mà các cụ đã để lại. Tuy vậy, với số ruộng đất còn có trong tay, nó vẫn còn thu được khoảng hai vạn frăng tiền tô. Nếu khéo quản lý, mỗi năm có thể dễ dàng thu được đến ba vạn francs.
Họ sống thanh đạm, nên số thu nhập ấy lẽ ra cũng đủ để chi dùng, nhưng trong nhà họ lại luôn luôn mở sẵn một cái thùng không đáy: lòng tốt. Lòng tốt đó làm khô cạn tiền trong tay như mặt trời làm khô cạn nước trong đầm lầy. Tiền bạc cứ chạy đi, bay biến, trốn mất. Sao thế nhỉ? Chẳng ai biết. Bất cứ lúc nào, ông hay bà cùng có thể nói: "Chẳng hiểu sao, hôm nay tôi tiêu mất đến một trăm francs mà không mua được cái gì ra hồn".
Ngoài ra, việc dễ dàng giúp tiền cho người khác cũng là một trong những nguồn hạnh phúc lớn của đời họ. Họ đã thỏa thuận với nhau về điểm đó một cách đẹp đẽ và đáng cảm động.
Jeanne hỏi: "Lúc này lâu đài của con đã đẹp chưa?". Ông nam tước vui vẻ đáp: "Con sẽ thấy, con gái của bố ạ"...
Cơn mưa dần dần giảm bớt cường độ để rồi chỉ còn là một thứ sương mù, một thứ mưa bụi rất nhỏ. Vòm mây như cao lên và trắng ra. Đột nhiên, từ một kẽ hở không thấy được, một tia nắng dài bỗng rọi chéo xuống cánh đồng.
Mây nứt rạn, nền trời xanh xuất hiện. Rồi thì giống như một tấm voan bị rách, mây cứ xé toạc mãi ra, và một bầu trời trong đẹp, xanh thẳm trải rộng trên cảnh vật.
Một cơn gió mát nhẹ thổi qua như một tiếng thở dài sung sướng của mặt đất. Xe chạy dọc theo rìa các mảnh vườn hoặc rừng; thỉnh thoảng lại vang lên tiếng hót véo von của một con chim đang phơi lông dưới nắng.
Chiều xuống. Lúc này, mọi người trong xe đều đã ngủ, trừ Jeanne. Xe dừng hai lần nơi quán trọ để cho ngựa nghỉ và ăn chút lúa mạch lõng bõng nước.
Mặt trời đã lặn. Phía xa, chuông nhà thờ đổ hồi. Trong một xóm làng nhỏ, đèn đường đã thắp. Bầu trời đầy sao sáng rực lên. Qua từng đoạn hiện lên những ngôi nhà sáng đèn như những đốm lửa xuyên qua bóng đêm. Xe vừa qua khỏi một cái dốc, mặt trăng to, đỏ lừ, trông như còn ngái ngủ, bỗng đột ngột ló ra sau rặng cây tùng.
Trời mát đến nỗi phải hạ kính cửa xe xuống. Mơ màng mãi đến phát mệt, ngắm cảnh vật mãi đến no cả mắt, lúc này, Jeanne cũng đã ngủ. Thỉnh thoảng, tê dai cả người vì một tư thế ngồi kéo dài, nàng lại mở mắt và nhìn ra ngoài. Trong bóng đêm đầy sao sáng, nàng thấy lướt qua trước mặt mình cây cối của một trang trại, hoặc đây đó một vài con bò nằm dưới ruộng, đầu ngửng cao. Rồi nàng đổi tư thế ngồi, thử nhớ lại một giấc mơ vừa mới chớm, nhưng tiếng bánh xe lăn liên tục vang vang, làm tâm trí nàng phát mệt, nàng nhắm mắt lại, cảm thấy ê ẩm cả trong tinh thần lẫn thể xác.
Nhưng xe đã dừng bánh. Nhiều người, nam và nữ, tay xách đèn lồng đứng dưới cửa xe. Đến nhà rồi. Tỉnh giấc đột ngột, Jeanne nhảy xuống rất nhanh. Một bác tá điền rọi đèn để bố nàng và Rosalie gần như phải khiêng bà nam tước xuống xe. Bà luôn miệng kêu khổ, luôn miệng nhắc lại bằng cái giọng lí nhí, như thở hắt ra: "Ôi trời ơi! Ôi các con ơi !". Chẳng ăn uống gì, bà đi nằm và ngủ thiếp đi ngay.
Ngồi trước mặt nhau, Jeanne và ông nam tước cùng ăn cơm tối. Hai bố con mỉm cười nhìn nhau và vươn người qua bàn tay nắm lấy tay. Tràn ngập một niềm vui thơ trẻ, hai bố con cùng đi xem ngôi nhà đã đuợc sửa chữa lại.
Đó là một trong những tòa nhà cao, rộng của xứ Normandie, nửa trang trại, nửa lâu đài, xây cất bằng đá trắng đã ngả màu xám, đủ sức chứa một đại gia đình.
Một sảnh đường rộng mênh mông cắt ngôi nhà ra làm đôi, chạy suốt từ đầu này đến đầu kia, mở hai cửa lớn ra hai mặt. Hai cầu thang hai bên chạy vồng lên tầng trên, bỏ trống đoạn giữa, giống như một cái cầu bắc qua cửa ra vào.
Ở tầng dưới, phía bên phải là một phòng khách rất rộng có tường bịt thảm thêu hình lá cây và chim chóc chuyền cành, mọi đồ đạc đều bọc vải thêu nhỏ mũi các hình ảnh minh họa thơ thụ ngôn của La Fontaine (4). Jeanne rùng mình vui sướng khi nàng thấy lại một cái ghế dựa, bọc vải thêu, minh họa câu chuyện Con cáo và con cò hương mà nàng yêu thích từ lúc còn bé tý,
Cạnh phòng khách là gian thư viện đầy ắp những sách cổ và hai gian buồng chưa dùng đến. Phía trái là phòng ăn, vách lát gỗ còn mới, rồi đến phòng để quần áo, nhà bếp và một gian nhỏ có bồn tắm.
Một hành lang chạy theo chiều dài tầng gác. Mười cửa ra vào mười gian phòng đều mở ra lối đi đó. Ở trong cùng, về phía tay phải, là phòng của Jeanne. Hai bố con bước vào. Ông nam tước vừa mới cho sửa lại gian phòng này như mới, bằng cách đơn giản dùng một ít giấy hoa văn dán tường và ít đồ đạc, không dùng, cất trong kho thóc.
Những tấm thảm trong phòng, sản phẩm của xứ Flăngđrơ (Flamande), đều đã rất cũ và có thêu những hình người kỳ dị.
Nhưng khi nhìn thấy chiếc giường nằm, cô gái bật kêu lên vui sướng. Bốn chân giường là bốn con chim to bằng gỗ sồi, đen kịt và đánh sáp bóng lộn, trông cứ như bốn tên lính gác. Hai thành giường là hai mặt gỗ rộng, chạm trổ hình hoa, lá, quả xen lẫn nhau. Bốn cọc giường có đường xẻ rãnh tinh xảo, đầu cọc chạm trổ theo kiểu Côranhtơ (Corrente) (5) , trùm lên cọc là một cái bệ khắc hình những cành hoa hồng và thẩn Tình Yêu cuốn vào nhau.
Cái giường vẫn có vẻ duyên dáng, mặc dù trông đồ sộ và nước gỗ đã sạm lại với thời gian trông có phần nghiêm nghị. Mền đắp chân và đình màn đều may bằng một thứ lụa cổ màu xanh sẫm thêu kim tuyến những bông huệ to trông như hai mảnh trời lấp lánh sao.
Ngắm nghía kỹ cái giường xong, Jeanne giương cao đèn xem cho rõ đề tài trang trí các tấm vải dán tường. Tấm thứ nhất vẽ hình một lãnh chúa và một thiếu phụ trẻ, cả hai đều mặc quần áo hết sức lạ kỳ, sặc sỡ màu xanh lá cây, đỏ và vàng, đang đứng trò chuyện dưới bóng một cây màu xanh lục, quả màu trắng đang chín. Cạnh đó, một con thỏ to, cũng màu trắng, đang gặm ít cỏ xám.
Phía trên những nhân vật ấy, xa xa thấp thoáng năm gian nhà nhỏ hình tròn, mái nhọn, và trên cao, gần như trên nền trời, có vẽ một cối xay gió màu đỏ thắm.
Tất cả những cái đó được trình bày trên một nền vải mang những hình cành lá to nở hoa.
Hai tấm vải dán tường khác cũng giống tấm thứ nhất, trừ một điều là có vẽ thêm bốn người xứ Flăngđrơ (Flamante) đang từ trong những gian nhà đi ra, tay giơ lên trời tỏ vẻ ngạc nhiên và giận dữ đến cực độ.
Những tấm vải cuối cùng lại trình bày một tấn bi kịch. Bên cạnh con thỏ vẫn gặm cỏ như các tấm trên, ở đây, chàng trai lại nằm vật ra, trông như đã chết. Người thiếu phụ trẻ, mắt nhìn anh, tay cầm một lưỡi kiếm đâm vào ngực mình, và màu các quả trên cây đã trở thành đen.
Jeanne chịu, chưa hiểu gì, thì chợt nhìn thấy, trong một góc tranh hình một con vật nhỏ tý xíu, nhỏ đến nỗi nếu con thỏ kia là thỏ sống thực thì hẳn nó đã ăn ngay con vật này như một nhánh cỏ rồi. Vậy mà đó lại là một con sư tử!
Thế rồi Jeanne nhận ra đó là bức tranh mô tả những bất hạnh của Piramơ (Pyrame) và Tixbê! (Thissbé) (6) và, mặc dầu cười thầm tính chất thô thiển của các hình vẽ, Jeanne vẫn cảm thấy vui sướng được nằm trong lòng thiên tình sử này, nó sẽ không ngừng gợi lên trong tâm trí nàng những hy vọng thiết tha. Đêm đêm, giấc ngủ của nàng sẽ bềnh bồng trong không khí âu yếm cổ xưa và huyền thoại ấy.
Các đồ đạc khác, còn lại trong phòng, thuộc đủ mọi kiểu. Đó chính là những thứ mà mỗi thế hệ đã để lại một ít trong gia đình; những thứ đã biến các ngôi nhà cổ thành những loại bảo tàng hết sức lộn xộn. Một tủ có ngăn rất đẹp thời vua Lu-i (Louis XIV) mười bốn, dát đồng sáng loáng, đặt giữa hai cái ghế bành thời vua Lu-i (Louis XV) mười lăm hãy còn bọc lụa thêu hoa. Một bàn giấy bằng gỗ màu hồng kê trước lò sưởi. Trên lò sưởi là một cái đồng hồ quả lắc thời Đế chế, đặt dưới một bầu đèn tròn.
Đó là một chiếc đồng hồ bằng đồng đen làm theo kiểu tổ ong treo lơ lửng giữa bốn cái trụ bằng cẩm thạch trên một mảnh vườn nở hoa vàng, ở đầu quả lắc dẹt có gắn
Chú thích:
(1) Nhà văn và nhà triết học lớn của nước Pháp ở thế kỷ XVIII. Yêu mến thiên nhiên say đắm, tin tưởng mãnh liệt ở con người. J.J. Rútxô đã tạo nên cơ sở tư tưởng cho cuộc cách mạng tư sản Pháp và nền văn học lãng mạn Pháp thể kỷ thứ XIX.
(2) Năm mà nhà nước của cuộc cách mạng tư sản Pháp (1789-1799) thi hành một số chính sách dân chủ, tiến bộ.
(3) Một họa sĩ Ý nổi tiếng thời Phục Hưng ( Thế kỷ XVI)
[4] Nhà thơ Pháp thế kỷ thứ XVII, nổi tiếng về những bài thơ ngụ ngôn răn đời một cách hóm hỉnh
[5]Thành phố cổ Hy-lạp trù phú và có một nền kiến trúc, điêu khắc nổi tiếng.
(6). Pyrame là một chàng trai ở thánh Babylon (2000 năm trước công nguyên) nổi tiếng về mối tình bi thảm với nàng Thisbé.
một con ong nhỏ cánh tráng men lấp lánh, từ trong, thò ra qua một kẽ hở dài, không ngớt đưa qua đưa lại trước mảnh vườn đó.