Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2089 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIV

Thế là từ đó, nàng không đi ra ngoài nữa, không xê dịch nữa. Sáng nào cũng vậy, nàng dậy đúng vào giờ đã định, nhìn thời tiết qua khung cửa sổ rồi xuống gác ngồi trước cái lò sưởi ở tầng dưới.

Nàng cứ ngồi đó hàng ngày trời, không động đậy, mắt nhìn chằm chằm vào ngọn lửa, mặc cho những ý nghĩ buồn thảm tự do trôi dạt, và điểm lại trong đầu cuốn phim buồn bã về những nỗi khốn khổ của đời mình. Nàng cứ ngồi đó, không một cử động nào khác, ngoài việc tiếp củi vào lò, tiếp mãi cho đến lúc bóng đêm lan dần khắp căn phòng nhỏ. Đó là lúc Rosalie bưng cây đèn bước vào và kêu lên: "Ôi, bà Jeanne, bà phải vận động chút ít gì đi chứ, không có thì tối nay lại chẳng biết đói bụng là gì cho mà xem!".

Nàng thường hay đeo đuổi những ý nghĩ cố định. Trong đầu óc bệnh hoạn của nàng, những sự việc nhỏ nhặt nhất cũng trở nên cực kỳ quan trọng, và nàng thường bị dày vò bởi những lo âu nhỏ nhặt, chẳng chút nghĩa lý gì-

Nàng sống trở lại nhiều nhất với quá khứ, cái quá khứ xa xưa. Lòng nàng bị ám ảnh bởi hình ảnh những năm tháng đầu tiên của quãng đời niên thiếu, bởi những kỷ niệm về chuyến đi trăng mật ở nơi ấy, đảo Corse. Nhiều phong cảnh của hòn đảo, từ lâu nàng đã quên đi, nay bỗng nhiên lại đột ngột hiện ra trong thanh củi đang bốc lửa. Nàng nhớ lại mọi chi tiết, mọi sự việc nhỏ nhặt và mọi khuôn mặt đã gặp trên đảo. Cái đầu nhấp nhô của người dẫn đường Jean Ravoli lại trở về đeo đuổi trí nhớ nàng, cả tiếng nói của anh, nàng tưởng như cũng đang còn nghe thấy.

Rồi nàng nghĩ đến những năm tháng êm đềm của thời Paul còn thơ ấu, nhớ lại cảnh Paul bắt mẹ cấy rau sà-lách, cảnh dì Lison và nàng cùng quì gối cạnh nhau trên đất màu, cả hai ra sức trổ tài khéo léo để Gà con được vui lòng, cùng đua nhau xem ai là người cấy dẻo tay hơn, ai là người đặt được nhiều cây giống hơn.

Nhớ đến đó, môi nàng mấp máy và thì thầm rất nhỏ: "Ôi, Gà con, Gà con bé bỏng của mẹ", cứ như là nàng đang nói chuyện với nó vậy. Dòng suy nghĩ vẩn vơ của nàng đã dừng lại ở chỗ ấy. Có những lúc, suốt mấy giờ liền nàng giơ ngón tay thử viết lên không những hàng chữ hợp thành tên gọi ấy. Trước ngọn lửa bập bùng, nàng từ từ vạch ra những nét, cứ như là đang nhìn thấy rõ từng chữ vậy; rồi, cho là mình đã bị lẫn, nàng vạch lại từ chữ P trở đi, dù cánh tay có run lên vì mỏi mệt, vẫn cố gắng viết cho đến hết tên của con nàng. Viết xong, nàng lại bắt đầu trở lại.

Cuối cùng, vì lẫn lộn lung tung, chữ nọ xọ ra chữ kia, nàng đành chịu không sao viết nổi nữa và cáu kỉnh đến phát điên lên được.

Nàng mang nặng tất cả mọi tính chất thói quen của những người quen sống cô đơn. Đặt nhầm chỗ một vật cỏn con cũng đủ làm cho nàng nổi giận.

Rosalie thường kéo nàng ra đường cái, bắt buộc nàng phải đi tản bộ, nhưng chỉ được chừng hai mươi phút, nàng đã nói; "Chị không đi nổi nữa rồi, em ơi" rồi nàng ngồi bệt xuống bờ một cái hố.

Chẳng bao lâu nàng thấy chán ghét hết thảy mọi cử động, và mỗi buổi sáng lại nằm nán lại trên giường, lâu chừng nào tốt chừng nấy.

Từ thuở nhỏ, Jeanne đã có một thói quen dai dẳng duy nhất và không hề thay đổi là mỗi buổi sáng, sau khi uống xong bát cà-phê sữa thì mới đứng dậy, và đứng dậy ngay lập tức. Đặc biệt, Jeanne bám giữ có phần quá đáng cái nhu cầu lót lòng buổi sáng đó. Đối với Jeanne, thiếu món cà-phê sữa buổi sớm còn khó chịu hơn là phải thiếu bất cứ thứ gì khác. Mỗi buổi sáng, Jeanne lại nằm chờ Rosalie đến, với một sự khao khát có một phần nào giống như dục vọng vậy. Bát cà-phê sữa đầy tràn vừa được đặt xuống mặt bàn đầu giường là Jeanne đã ngồi bật dậy, uống một hơi hết sạch với cái vẻ xem ra có phần hơi tham ăn tục uống

một tý. Uống xong, Jeanne tung chăn, đứng dậy mặc quần áo ngay.

Nhưng nay nàng dần dần có một thói quen mới lạ, sau khi đặt cái bát không vào lòng đĩa, nàng vẫn tiếp tục ngồi suy nghĩ vẩn vơ thêm một lúc nữa, rồi lại nằm xuống giường, và ngày này qua ngày khác, cái thói quen lười biếng đó cứ kéo dài mãi ra, cho đến một hôm Rosalie bước vào, giận dữ, lôi nàng dậy và gần như cưỡng bức nàng phải thay quần áo, nàng mới thôi.

Ngoài ra, nàng cũng chẳng còn một chút vẻ bề ngoài nào của ý chí nữa. Mỗi lần Rosalie xin nàng một lời khuyên, đặt với nàng một câu hỏi hay tham khảo nàng một ý kiến, nàng đều đáp: "Thôi, em muốn sao cứ làm vậy, em ạ".

Nàng đinh ninh là bản thân mình đã bị một sự bất hạnh thù ghét đeo đuổi hết sức dai dẳng và trực tiếp, đến nỗi nàng đã dần dần tin tưởng ở thuyết định mệnh như một người phương Đông vậy. Thói quen thấy mãi mơ ước của đời mình bị tiêu tan, hy vọng bị sụp đổ đã làm cho nàng không dám làm bất cứ một công việc gì nữa. Gặp một chuyện cỏn con đơn giản nhất, nàng cũng do dự hàng mấy ngày liền rồi mới dám thực hiện, vì nàng tin chắc hễ làm là nhất định sai và kết quả sẽ chẳng ra gì.

Nàng luôn miệng than thở: "Chỉ có chị mới bị rủi ro trên đường đời như thế này thôi!". Rosalie kêu ầm lên, cãi lại; "Vậy bà sẽ nói sao, nếu như bà phải tự mình lao động để kiếm lấy miếng bánh mì mà ăn? Bà sẽ nói sao, nếu như ngày nào bà cũng bắt buộc phải thức dậy từ sáu giờ sáng để đi làm công kiếm sống? Có biết bao người đã phải làm ăn như vậy mà đến tuổi già lão, họ vẫn cứ chết đói, chết khổ như thường".

Jeanne đáp lại: "Em thử nghĩ xem, thân chị thui thủi một mình, ngay cả đứa con chị sinh ra, nó cũng bỏ rơi chị nốt!".

Thế là Rosalie nổi cáu lên dữ dội: "Rõ chuyện! Này, thế con cái nhà người ta nó đi lính, nó sang ở mãi tận bên châu Mỹ kia thì sao?".

Đối với Rosalie, châu Mỹ là một xứ sở xa xôi, mờ mịt, người ta đua nhau kéo đến đó để làm giàu, nhưng chỉ có đi mà chẳng bao giờ có về.

Chị tiếp tục: "Thế nào mà chẳng có lúc cha mẹ, con cái phải xa nhau, bởi vì trời đất sinh ra người già với đám trẻ có phải là để cho chung sống với nhau đâu!". Rồi chị kết luận, giọng dữ tợn: "Này bà, giả thử nó chết mất rồi thì bà nói sao?".

Đến đó thì Jeanne chịu không đáp được gì nữa.

Những ngày đầu Xuân, thời tiết dịu di, Jeanne cảm thấy trong người khỏe khoắn hơn một chút, nhưng nàng chỉ sử dụng chút ít khả năng hoạt động được phục hồi ấy để càng lao sâu thêm vào những ý nghĩ u ám của mình thôi.

Một buổi sáng, khi leo lên chỗ vựa thóc để tìm kiếm một vật gì đó, nàng tình cờ mở một cái thùng đựng toàn những tấm lịch cũ được giữ lại theo phong tục của một số người ở nông thôn.

Nàng cảm giác như đã tìm lại được chính ngay cả những tháng năm của quá khứ đời mình. Với một niềm xúc động lạ lùng, khó tả, Jeanne đứng sững trước cái đống toàn những tấm bìa cứng hình vuông đó.

Nàng thu nhặt và đem chúng xuống gian tầng dưới. Đó là một đống gồm đủ cỡ lịch, to có, nhỏ có. Nàng xếp riêng chúng ra theo từng năm một, để lên mặt bàn. Đột nhiên nàng tìm ra tấm đầu tiên, tấm lịch nàng đã đem theo về lâu đài Bạch Dương.

Nàng ngắm nhìn nó hồi lâu, nhìn những ngày nàng đã gạch đi vào buổi sáng hôm rời Rouen về đây, khi vừa ra khỏi trường dòng một ngày. Nàng khóc. Những giọt nước mắt sầu thảm rơi chầm chậm, những giọt nước mắt tội nghiệp của một bà già đang đứng trước cả cuộc đời khốn khổ của mình được dàn trải ra trên chiếc bàn trước mặt.

Đột nhiên, nàng nảy ra một ý nghĩ. Ý nghĩ đó đã mau chóng trở thành một nỗi ám ảnh ghê gớm, liên tục và dai dẳng; nàng muốn tìm lại, gần như từng ngày một, những việc nàng đã làm qua những năm tháng đó.

Nàng gắn những tấm bìa cứng đã ố vàng đó, cái nọ tiếp cái kia, lên những bức tường và bức thảm, rồi nàng ngồi rồng rã hàng giờ trước tấm này hay tấm khác để tự hỏi; "Trong tháng đó, việc gì đã xảy ra với mình nhỉ?".

Trước kia, nàng đã đánh dấu những ngày tháng đáng ghi nhớ của lịch sử đời mình, giờ đây, bằng cách lần lượt cố nhớ lại từng sự việc nhỏ xảy ra trước hoặc sau, một sự kiện quan trọng, bằng cách tập hợp và liên kết chúng lại với nhau, đôi khi nàng đã tìm lại được cả một tháng trọn vẹn!

Cứ như thế, nhờ kiên trì tập trung tư tưởng, cố gắng moi móc trí nhớ với một quyết tâm mạnh mẽ, nàng đã thành công trong việc dựng lại gần như đầy đủ hai năm đầu tiên về cuộc sống ở Bạch Dương. Và thế là, những kỷ niệm xa xăm của đời mình đã trở lại với nàng dễ dàng một cách khác thường và hằn rõ từng nét như trên khuôn đúc nổi vậy.

Nhưng những năm tiếp theo dường như chìm ngập mất trong một tấm sương mù bao phủ, dường như pha trộn vào nhau và dẫm đạp lên nhau. Có lúc nàng đứng đó, lâu như bất tận, đầu cúi xuống một tấm lịch, tâm trí dồn hết về cái thời gian xa xưa, thế mà nàng vẫn chịu không tài nào nhớ ra được là kỷ niệm này nằm ở tấm lịch này hay ở tấm lịch kia.

Nàng lướt qua lần lượt từng tấm lịch một. Khôi phục lại những năm tháng trôi qua, những tấm lịch đó quay tròn quanh gian phòng này chẳng khác gì những bức tranh của Con Đường Chữ Thập (1). Đột nhiên, nàng đặt ghế, dừng lại trước một tấm, rồi cứ ngồi ùn, không động đậy như thế cho đến tối, để nhìn ngắm nó và lao sâu vào những suy nghĩ, tìm tòi, hồi tưởng.

Rồi thì, khi tất cả các thứ nhựa cây đều tỉnh dậy dưới ánh nắng ấm áp của mặt trời, mùa màng ngoài đồng đã lên rộ và cây cối đã xanh tươi, khi những cây táo trước các sân nhà đã bừng nở tròn xoe, thắm một màu hồng và tỏa ngát hương thơm trên khắp dải bình nguyên, đột nhiên tâm hồn Jeanne bỗng xao xuyến khác thường.

Nàng không ngồi yên một chỗ được nữa. Nàng đi đi lại lại, ra vào có đến hai chục lượt mỗi ngày. Có lúc nàng đi lang thang dọc theo các trại ấp, trong người như bừng bừng cả một con sốt tiếc thương. Nhìn thấy một bông hoa cúc náu mình trong đám cỏ, một tia nắng mặt trời xuyên qua kẽ lá, một vũng nước trong vết rãnh bánh xe phản chiếu một mảnh trời xanh, chỉ chừng đó, cũng đủ làm cho lòng nàng xôn xang, xúc động và đảo lộn, thấy sống lại những cảm giác xa xưa như tiếng vang vọng trở về của những hồi thời con gái, khi nàng dạo chơi mơ mộng trên khắp cánh đồng này.

Trước kia, khi chờ đón tương lai, nàng đã run lên cùng với những rung động đó, đã say sưa thưởng thức cùng cái dịu ngọt, cái chất men ngây ngất lòng người này của những ngày xuân ấm. Giờ đây, khi tương lại đời nàng đã đóng kín, nàng lại gặp lại tất cả những cái đó. Trong thâm tâm, nàng vẫn còn thấy thú vị, nhưng đồng thời cũng đau khổ với chúng, tưởng chừng như niềm vui vĩnh cửu của vũ trụ vừa tỉnh dậy, khi thấm đượm vào làn da khô héo, dòng máu nguội lạnh và tâm hồn bị đày đọa của nàng, thì chỉ còn có thể đưa được vào đó một sự say mê yếu ớt và đau xót.

Nàng cũng còn cảm thấy dường như tất cả cảnh vật xung quanh nàng, cái gì cũng đã đổi thay chút ít so với lúc nàng còn đang độ thanh xuân. Bây giờ, mặt trời có vẻ ít ấm hơn, bầu trời kém xanh hơn, cỏ kém biếc hơn và hoa kia cũng vậy, ít thắm và ít thơm hơn, chẳng còn làm ngây ngất lòng người như trước nữa.

 Tuy nhiên, có một số ngày, những cảm giác lâng lâng sảng khoái thâm nhập vào nàng mãnh liệt đến mức nàng đã trở lại với những thói quen mơ mộng vẩn vơ, hy vọng, đợi chờ, bởi vì, dù cho số phận có nghiệt ngã và tàn nhẫn đến đâu chăng nữa, lẽ nào con người lại không còn mảy may chút hy vọng trước cảnh đẹp của đất trời kia?

Nàng cứ đi, đi mãi về phía trước, hết giờ này đến giờ khác, như bị quất mạnh bởi một cơn kích động của tâm hồn. Rồi thỉnh thoảng, nàng đột nhiên dừng lại, ngồi xuống vệ đường và suy nghĩ về những điều buồn bã. Tại sao mình lại không được thương yêu như những người khác? Tại sao ngay cả những hạnh phúc đơn giản của một cuộc đời trầm lặng, mình cũng không hề được hưởng?

Đôi lúc khác, trong một khoảnh khắc nào đấy, nàng bỗng lại quên bẵng đi rằng mình đã già và chẳng còn gì nữa ở tương lai phía trước kia, ngoài mấy năm trường ảm đạm và cô quạnh, rằng đường đời kia, nàng đi đến đây là đã hết rồi. Thế là, giống như xưa kia ở tuổi trăng tròn, nàng lại xây đắp những dự tính êm dịu của lòng mình, thêu diệt nên những viễn cảnh tươi đẹp của tương lai. Nhưng rồi, cái cảm giác tàn nhẫn về thực tại lại chụp mạnh xuống người nàng. Nàng đứng dậy, khắp người đau nhừ, cứ như vừa có một vật gì nặng rơi xuống đè nàng bẹp dí đi vậy. Nàng trở về nhà, bước chân chậm chạp hơn, vừa đi vừa lẩm bẩm: "Ôi, mụ già điên dại! Ôi, mụ già điên dại!".

Lúc này Rosalie vẫn phải luôn miệng nhắc nàng: "Nhưng bà phải giữ cho tâm hồn thanh thản chứ! Sao lại cứ xúc động lung tung như thế nhỉ?".

Jeanne buồn rầu đáp lại: "Em không thấy sao, giờ đây, chị nào có khác gì con "Thảm sát" trong những ngày tàn của đời nó?".

Một buổi sáng kia, Rosalie bước vào phòng Jeanne sớm hơn lệ thường, tay đặt bát cà-phê sữa lên mặt tủ đầu giường, miệng nói: "Uống nhanh lên một tý, bà nhé! Thằng cháu Denis nhà tôi đang chờ chúng ta trước cửa, kia. Hôm nay, ta về Bạch Dương; tôi có chút việc ở đó!".

Jeanne tưởng chừng mình có thể ngất đi vì cảm động. Nàng mặc quần áo mà cứ run cả người lên, hoảng hốt và thất thần với ý nghĩ là sắp được gặp lại căn nhà yêu quý.

Một bầu trời rực rỡ trải rộng khắp nơi nơi. Như cũng vui lây với cảnh vật, con ngựa thỉnh thoảng lại phi nước đại một chặng. Khi cỗ xe tiến vào thôn Étouvent, Jeanne thấy hồi hộp đến mức thấy khó thở, và khi trông thấy những trụ gạch của cái chắn đường, mặc dù không muốn, nàng vẫn bật ra hai ba lần tiếng kêu nho nhỏ: "Ôi, ôi, ôi!", như đang đứng trước những sự vật làm đảo lộn cả lòng mình.

Cỗ xe được tháo ngựa tại nhà bác Couillard, rồi trong lúc hai mẹ con Rosalie đi giải quyết công việc của mình, các bác tá điền giao chùm chìa khóa lâu đài cho Jeanne và mời nàng đi thăm lại nhà cũ một vòng, vì hôm đó, các vị chủ mới đều có việc đi vắng.

Jeanne đi một mình. Khi từ phía bờ biển bước đến trước mặt tòa biệt thự cũ, nàng dừng lại và ngắm nhìn. Bề ngoài, nó chẳng có gì thay đổi. Hôm nay, mặt troi lại điểm những nụ cười nắng ấm lên những nền tường đã xỉn của ngôi nhà rộng quét vôi màu xám nhạt. Mọi cánh cửa sổ đều đóng im ỉm.

Một mẩu nhỏ cành cây chết héo rơi trên áo Jeanne. Nàng ngẩng nhìn. Mẩu cành đó là của cây ngô đồng. Nàng bước gần lại cái cây to vỏ nhẵn và xanh nhạt ấy, vuốt ve nó như vuốt ve một con vật. Trong bãi cỏ, chân nàng đụng phải một mẩu gỗ mục. Đó là miếng gỗ cuối cùng còn sót lại của cái ghế dài xưa kia nàng vẫn thường ngồi với tất cả những người thân, cái ghế dài được kê đứng vào ngày đầu tiên Julien đến thăm gia đình.

Nàng bước tới cánh cửa đôi của buồng chờ và phải vất vả lắm mới mở được ra vì cái khóa to nặng đã hoen rỉ không dễ gì mà chịu quay ngay. Một tiếng lò xo kêu ken két, chiếc ổ khóa đã xoay vòng và cánh cửa mở, lúc đầu có phần vướng nặng, sau một cái đẩy mạnh, cũng đã mở ra.

Gần như vừa đi, vừa chạy, Jeanne lên ngay phòng mình. Nàng không nhận ra nó nữa, vì tường đã được phủ một lớp giấy màu sáng. Nhưng đến khi mở rộng một cửa sổ và nhìn ra, nàng bỗng thấy rung động đến từng làn da, thớ thịt, trước toàn bộ cái khung cảnh xiết bao yêu mến: vạt rừng, rặng du, cánh đồng hoang và mặt biển lác đác điểm những cánh buồm nâu như đứng im lìm ở phía xa kia.

Nàng bắt đầu đảo qua khắp ngôi nhà rộng lớn và trống trải. Ngắm nhìn những dấu vết quen thuộc trên các bức tường, nàng dừng lại trước một cái lỗ nhỏ trong lớp vôi vữa, do ông nam tước trước kia, mỗi lần đi qua, lại vui đùa cầm cái gậy chống của mình chọc vào như để ôn lại những miếng gươm đao của thời trai trẻ, cứ vậy lâu ngày đã khoét thủng ra thành một cái lỗ.

Trong căn phòng cũ của mẹ, nàng tìm thấy lại được một cây kim gài thanh nhã, đầu vàng, cắm vào một chỗ khuất sau cánh cửa, gần chiếc giường nằm. Trong nhiều năm, nàng cùng những người khác trong gia đình đã tìm kiếm mãi mà không thấy nó. Bây giờ nàng mới nhớ ra là trước kia, chính nàng đã cắm cây kim vào chỗ đó. Nàng nâng cây kim lên như một vật thánh quý vô giá và hôn vào nó.

Nàng đi khắp mọi chỗ, tìm tòi, nhận ra những dấu vết gần như không thể thấy trên những tấm giấy dán tường phòng mà những người chủ mới vẫn giữ, chưa thay. Nàng thấy lại những hình thù kỳ dị mà ta thường tưởng tượng ra khi nhìn những nét vẽ sao, những vân đá cẩm thạch, những bóng hình trên các trần nhà hoen ố với thời gian.

Nàng một mình lặng lẽ bước đi, chân không một tiếng động trong tòa lâu đài mênh mông, im ắng, như bước đi trong một nghĩa trang. Toàn bộ cuộc đời nàng đã nằm lại nơi đây.

Nàng xuống đến phòng khác. Phòng tối om vì cửa sổ đóng kín. Nàng phải đứng lặng đi một lúc cho đôi mắt làm quen với bóng tối, rồi dần dần mới nhận ra được những tấm thảm cao bít tường có hình vẽ những con chim đang bay. Hai chiếc ghế bành còn đó, trước khung lò sưởi, như có người vừa mới ngồi và đứng dậy. Ngay mùi riêng của căn phòng, cái mùi vốn là của riêng nó xưa nay, giống như mọi sinh vật, con nào chẳng có mùi riêng nó phảng phất, mơ hồ mà lại rất dễ nhận, mùi thơm dìu dịu không rõ rệt của căn phòng cũ đó thấm đượm vào Jeanne, bao bọc nàng trong những kỷ niệm và làm trí nhớ nàng ngây ngất say sưa. Nàng đứng đó, hổn hển hít sâu vào lồng ngực, hơi thở của dĩ vãng, mắt nhìn hau háu vào hai chiếc ghế bành. Rồi đột nhiên, trong một ảo giác bất ngờ do một ý nghĩ cố định của nàng tạo nên, Jeanne bỗng tưởng như trông thấy, Jeanne trông thấy - như đã từng luôn luôn trông thấy trước kia - bố và mẹ đang ngồi đó trong hai chiếc ghế bành, sưởi chân trước ngọn lửa.

Nàng thất kinh lùi lại, đụng lưng vào cánh cửa, rồi dựa vào đó để khỏi bị ngã khuỵu xuống, mắt vẫn trân trân nhìn vào hai chiếc ghế bành,

Hình ảnh kia đã biến mất!

Nàng đứng đó, hoảng loạn trong vài phút, rồi sau khi đã dần dần tự chủ lại, nàng những muốn bỏ chạy đi ngay, sợ rằng còn đứng đó có thế phát điên lên mất,

Mắt nàng bỗng tình cờ nhìn thấy tấm gỗ ốp tường nàng đang tựa mình vào: nàng đã gặp lại cái "bậc thang của Gà con". Những vết khắc mờ nhạt bò cao dần lên trên lớp sơn với những khoảng cách không đều nhau. Những con số khắc bằng dao chỉ rõ số tuổi, năm tháng và độ lớn của con nàng. Lúc thì đó là chữ của ông nam tước, to hơn; lúc lại là chữ của nàng, nhỏ hơn; lúc khác, chữ của dì Lison, nét khắc run run. Nàng tưởng như thầy lại đứa con ngày xưa của mình, nó đang đứng đó, trước mặt mẹ, mái tóc vàng hoe, trán dí sát vào tường để đo chiều cao. Ông nam tước kêu to: "Jeanne! Mới sáu tuần lễ mà nó đã lớn được một phân rồi đây!".

Với một lòng yêu thương nồng thắm, nàng hôn lên miếng gỗ ốp tường.

Nhưng kìa, có tiếng ai gọi nàng ngoài kia. Đó là tiếng của Rosalie: "Bà Jeanne! Bà Jeanne! Mời bà ra xơi cơm trưa, bà con tá điền đang đợi đấy".

Nàng bước ra ngoài như một người mất hồn, Người ta nói những gì với nàng, nàng chẳng hiểu. Nàng ăn những món bà con tá điền dọn đến, nghe bà con tá điền trò chuyện mà không rõ là vấn đề gì. Tất nhiên, nàng cũng có trao đổi với bà con khi họ hỏi thăm nàng về tình hình sức khỏe. Nàng chìa má cho người khác hôn và cũng hôn vào má của những người khác chìa đến. Rồi nàng leo lên xe.

Khi cái mái cao của tòa lâu đài đã khuất hẳn sau rặng cây nàng cảm thấy trong lòng ngực mình một nỗi đau xót khủng khiếp. Tự thâm tâm, nàng hiểu rõ thế là nàng vừa nói xong lời chào vĩnh biệt với ngôi nhà cũ của mình.

Nàng trở lại Batteville.

Lúc sắp sửa bước vào ngôi nhà mới, nàng nhìn thấy một cái gì trăng trắng nằm dưới khe cửa. Đó là một bức thơ mà bác phu trạm đã nhét vào trong lúc nàng đi vắng. Nàng nhận ngay ra là thơ của Paul. Nàng mở bức thư, người run lên vì lo sợ.

Pôn viết:

"Mẹ thương yêu, con không viết thư cho mẹ sớm hơn, bởi vì con không muốn mẹ phải mất công đi một chuyến vô ích đến Paris và vì bản thân con cũng sắp phải về gặp mẹ ngay rồi.

Hiện nay, con đang bị một tai họa ghê gớm, một khó khăn to lớn: Vợ con đang hấp hối sau khi đã sinh một cháu gái cách đây ba hôm, mà con thì chẳng có một xu dính túi. Con chẳng biết làm thế nào với cháu đây. Bà quản gia đang cố gắng giúp nuôi cháu bằng sữa bình. Con sợ là cháu sẽ không sống nổi.

Mẹ có thể lo cho con làm việc đó được không? Con

tuyệt nhiên chẳng còn biết phải làm gì nữa. Thuê vú nuôi thì con lại chẳng có tiền.

Mẹ hãy trả lời con ngay, sau khi nhận được thư này.

Đứa con trai thương yêu mẹ.

Paul."

Jeanne lả cả người, nàng ngồi xuống một chiếc ghế và khó khăn lắm mới gọi nổi Rosalie lên. Khi bà hầu đến, hai người cùng nhau đọc lại bức thư, rồi cả hai cùng lặng lẽ đứng nhìn nhau một lúc lâu.

Cuối cùng, Rosalie nói: "Tôi, tôi sẽ đi tìm đón cháu gái nhỏ về đây, bà ạ. Ta không thể nào bỏ mặc Paul trong tình cảnh này được!".

Jeanne đáp: "Được, em đi đi!".

Hai ngươi lại lặng thinh. Rồi bà hầu nói tiếp: "Bà hãy đội mũ lên rồi cùng tôi đi Goderville gặp ông công chứng viên. Nếu thật mụ kia sắp chết, thì Paul phải làm lễ cưới đi thôi. Việc đó là vì lợi ích của cháu bé sau này".

Không đáp một lời, Jeanne đội mũ đi ngay. Một niềm vui sâu sắc mà nàng không dám thú nhận đã tràn ngập trái tim nàng: một niềm vui nham hiểm mà nàng muốn che giấu đi bằng bất cứ giá nào, một niềm vui ghê tởm mà nói ra sẽ làm cho ta phải đỏ mặt lên vì hổ thẹn, nhưng cho ta sung sướng cực kỳ: người tình của con trai bà sắp chết!

Ông công chứng viên cung cấp cho bà hầu nhiều điều chỉ dẫn chi tiết. Chị yêu cầu ông nói đi nói lại nhiều lần, rồi, khi đã tin chắc là không thể nào lầm lẫn được nữa, chị dõng dạc nói: "Xin bà đừng sợ gì nữa. Bây giờ để tôi đảm nhận việc này cho!".

Chị ta đi Paris ngay đêm đó.

Suốt hai ngày, Jeanne sống trong một tâm trạng rối bời khiến nàng không còn sức để suy nghĩ về bất cứ chuyện gì nữa. Đến ngày thứ ba, nàng nhận được mấy chữ của Rosalie báo tin sẽ trở về bằng chuyến tàu chiều. Ngoài ra, không có gì nữa hết.

Khoảng ba giờ, nàng cho thắng cỗ xe mượn được của một ông hàng xóm rồi nhờ ông đưa mình đến nhà ga Bovvin (Beuzeville) để đón Rosalie.

Jeanne đứng trên sân ga, mắt đăm đăm nhìn theo hai đường rày thẳng băng kéo dài mãi và sáp lại gần nhau ở tít phía chân trời. Thỉnh thoảng nàng lại nhìn đồng hồ. Còn mười phút. Còn năm phút. Còn hai phút. Đúng giờ rồi! vẫn chưa thấy có gì xuất hiện trên con đường xa thẳm đó.

Rồi, bất thình lình, nàng nhìn thấy một vệt trắng, một làn khói và dưới làn khói đó, một điểm đen cứ to lên mãi, đang mở hết tốc lực chạy đến. Cuối cùng, cái đầu máy to tướng đã chạy chầm chậm lại, nó phì phò lướt qua trước mặt Jeanne, lúc đó đang chằm chằm nhìn vào khung cửa các toa xe. Nhiều cửa đã mở ra, hành khách kéo nhau xuống: những anh nông dân mặc áo choàng, những chị tá điền mang thúng mủng, những vị sang trọng đội mũ mềm.

Sau hết, nàng nhìn thấy Rosalie đang ôm trên tay một bọc chăn vải,

Jeanne muốn chạy đến đón Rosalie, nhưng sợ ngã vì đôi chân nàng bủn rủn! Nhìn thấy nàng, Rosalie liền bước đến và vẫn với cái vẻ bình thản thường ngày, chị nói: "Chào bà, tôi đã về. Kể ra, cũng có vất vả đấy!”.

Jeanne ấp úng hỏi: "Thế nào, em?".

Rosalie đáp: "À! Cô ta chết đêm qua. Họ đã làm lễ cưới. Còn đây là cháu bé!". Và Rosalie giơ đứa trẻ ra, nhưng vì chăn vải bọc kín nên chẳng trông thấy nó đâu cả.

Như một cái máy, Jeanne đưa tay ra đỡ lấy đứa cháu. Hai người ra khỏi nhà ga và lên xe.

Rosalie nói tiếp: "Việc chôn cất xong là Paul sẽ về đây ngay. Chiều mai, cũng vào giờ này, chắc vậy".

Jeanne thì thầm: "Paul…” rồi không nói gì thêm nữa.

Mặt trời ngã xuống chân trời, tỏa ánh sáng xuống khắp dải bình nguyên xanh tươi được điểm tô đây đó bằng sắc vàng của những chùm hoa cải nở rộ và bằng màu đỏ thắm của những bụi hoa mào gà. Một làn không khí thanh bình vô tận bao phủ lên mặt đất êm đềm đang ấp ủ biết bao những mầm nhựa sống. Bác nông dân cứ đánh lưỡi tanh tách để thúc ngựa, làm cho cỗ xe nhạy nhanh hẳn lên.

Jeanne nhìn thẳng vào khoảng không trước mặt, nhìn lên bầu trời cắt ngang bởi một đàn chim én bay theo hình cánh cung dăng suốt lưng trời. Và đột nhiên nàng thấy một hơi ấm dịu nhẹ, một hơi ấm của sự sống, nó xuyên qua làn áo, lan tới chân tay và thấm đượm vào da thịt nàng: đó là hơi ấm của đứa trẻ sơ sinh đang ngủ yên trên đùi nàng.

Thế là một niềm xúc động vô biên bỗng tràn ngập lòng Jeanne. Nàng thình lình mở lớp vải che khuôn mặt đứa trẻ mà nàng chưa nhìn thấy được: đứa con của con trai nàng! Bị ánh sáng chói chang làm cho tỉnh giấc, đứa bé tí hon yếu ớt bỗng hé mở cặp mắt xanh da trời và chúm chím đôi môi. Jeanne liền nâng hẳn cháu lên, ôm chặt lấy và hôn nồng nhiệt tới tấp vào mặt nó.

Với vẻ hài lồng pha chút quàu quạu, Rosalie ngăn Jeanne lại:

-Thôi, thôi đi bà Jeanne, chừng đó đủ rồi! Bà sắp làm cho cháu khóc thét lên bây giờ!

Rồi chị nói thêm, âu cũng là để tự trả lời cho ý nghĩ của chính mình:

-Cuộc đời, bà xem đấy, chẳng bao giờ đến nỗi thật tốt hay thật xấu như người ta tưởng.

 HẾT

Chú thích:

(1). Theo Kinh thánh của đạo Thiên Chúa “Con đường chữ thập” là một dãy mười bốn bức tranh miêu tả lại quá trình đau khổ của Chúa Jêsu từ lúc bị kết tội đến khi hấp hối chết.

« Lùi
Tiến »