Một Cuộc Đời

Lượt đọc: 2088 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG XIII

Hai tiếng đồng hồ sau, cỗ xe dừng lại trước một  căn nhà gạch nhỏ xây cất giữa một vườn táo kề bên con đường lớn, những cây táo được xén tỉa trông như những búp sợi to.

Bốn góc vườn là bốn vòm cây kim ngân hoa và tiên nhân thảo có lót lưới mắt cáo. Vườn chia thành từng ô vuông nhỏ trồng rau, cách nhau bởi những con đường hẹp hai bên trồng cây ăn quả. Một bờ rào cây xanh tươi rất cao bao bọc kín khu nhà. Ở phía bên kia một thửa ruộng là cái ấp hàng xóm; cách khu nhà độ một trăm mét về phía đường cái có một cái lò rèn. Ngoài ra, các nhà cửa khác ở gần nhất, cũng cách đến một cây số.

Phong cảnh xung quanh trải ra trên cánh đồng xứ Cô (Caux), chi chít những trại ấp, trại nào cũng có một vườn táo được bao bọc bằng bốn hàng cây cỡ lớn.

Vừa đến nơi, Jeanne đã muốn đi nằm nghỉ, nhưng Rosalie không cho, vì sợ nàng lại rơi vào trạng thái ưu tư vơ vẩn.

Bác thợ mộc của thị trấn Gốcđeevin (Goderville) đến giúp kê dọn nhà cửa. Trong khi chờ đợi chuyến xe chở đồ cuối cùng cũng sắp tới nơi, việc xếp đặt những đồ đạc đã đem đến được làm ngay đâu vào đó. Đây quả là một công việc to lớn đòi hỏi suy nghĩ kỹ và tính toán nhiều. Một giờ sau, chuyên xe bò chót đã xuất hiện bên cái chắn đường. Đồ đạc được bốc xuống dưới trời mưa.

Tối hôm đó, ngôi nhà hết sức lộn xộn, tràn ngập những đồ đạc bỏ bừa thành từng đống, Jeanne mệt lử, vừa đặt mình xuống giường, đã ngủ thiếp đi ngay.

Những ngày tiếp theo, công việc ngập đầu, nàng chẳng còn chút thì giờ rảnh rang nào để mà bâng khuâng buồn bã nữa. Đeo đuổi mãi ý nghĩ là sẽ có ngày con trai về ở nơi đây, nàng còn thấy nguồn vui trong việc tô điểm cho ngôi nhà mới của mình thêm đẹp đẽ. Những tấm thảm tại phòng riêng cũ của nàng nay được đem căng ở phòng ăn kiêm phòng tiếp khách, Nàng đặc biệt quan tâm sắp xếp một trong hai gian phòng trên gác và nàng đã thầm đặt tên cho nó là "phòng ở của Gà con".

Nàng dành cho mình gian phòng thứ hai, Rosalie ở tầng thượng, cạnh vựa thóc sát mái.

Ngôi nhà nhỏ được xếp đặt chu đáo trông cũng khá xinh. Trong những ngày đầu tiên này, Jeanne hài lòng với nó, mặc dù nàng vẫn cảm thấy ngôi nhà như thiêu thiếu một cái gì đó, chưa xác định được.

Một buổi sáng, người thư ký của ông công chứng viên ở Fécamp đem đến cho nàng ba ngàn sáu trăm francs. Số tiền này là trị giá những đồ đạc bà còn bỏ lại ở lâu đài Bạch Dương, do một bác thợ dệt thảm tính toán và định giá giúp. Nhận được món tiền đó, nàng vui sướng run người lên và, khi viên thư ký kia vừa bước ra, nàng đã vội vàng đội mũ, định đi ngay lên Gôđecvin (Gorderville) gửi cho Paul món quà không mong mà có ấy.

Nàng đang hối hả đi trên đường cái lớn thì gặp Rosalie đi chợ về. Dù chưa đoán ra được ngay sự thật, người hầu gái vẫn thấy nghi nghi, ngại ngại thế nào đó. Đến lúc biết rõ sự thật, bởi vì Jeanne không còn biết cách giấu diếm chị bất cứ chuyện gì được nữa, chị liền đặt giỏ xuống đất và nổi ngay một trận lôi đình dữ dội.

Hai tay chống nạnh, chị la hét ầm ĩ, rồi tay phải nắm lấy cánh tay bà chủ, tay trái xách cái giỏ, chị cứ thế mà đi về nhà, nét mặt vẫn hầm hầm tức giận.

Vừa đến nơi, bà hầu đã đòi bà chủ phải bỏ số tiền đó ra ngay. Jeanne đưa luôn nhưng vẫn giữ lại sáu trăm francs tiền lẻ. Mưu mẹo đó lọt sao được con mắt cảnh giác của bà hầu, thế là Jeanne phải nộp tất.

Tuy vậy, Rosalie vẫn đồng ý để Jeanne gửi cho Paul số tiền lẻ đó. Chỉ vài ngày sau, cậu ta gửi thư cảm ơn ngay: "Thực là mẹ đã cứu giúp con được một việc lớn, mẹ thân yêu ạ, bởi vì hai chúng con đang sống cơ cực lắm!"

Trong lúc ấy, Jeanne vẫn chưa thích nghi được mấy với khung cảnh thôn Batteville này. Nàng thường xuyên cảm thấy mình không con sống như xưa nữa, đời nàng càng cô đơn hơn, càng bị trơ trọi hơn, càng tuyệt vọng hơn. Có lần, nàng ra ngoài đi dạo một vòng về phía thôn Verneuil , trở về qua ngả thôn Ba-ao (Trois-Mares); nhưng vừa đến nhà nàng lại đứng lại, lại khao khát muốn đi tiếp ngay, như thể nàng đã quên không đi đến đúng nơi mình cần phải đến, đúng nơi mình muốn dạo chơi ngắm cảnh vậy.

Cứ thế, ngày nào cũng như ngày nào, tình trạng đó tiếp tục diễn ra, mà Jeanne vẫn chịu, không sao hiểu nổi vì sao có sự đòi hỏi kỳ lạ ấy. Nhưng rồi, một buổi tối, qua một câu nói vô tình của mình, Jeanne đã vụt thấy ra cái điều bí ẩn của tình trạng khắc khoải đó. Khi ngồi vào ăn tối, Jeanne nói: "Ôi! Tôi khao khát được gặp lại biển biết bao nhiêu!".

Đúng rồi, cái mà nàng đang thiếu mãnh liệt, chính là biển: Biển, người hàng xóm lớn của nàng suốt hai mươi lăm năm nay; biển, với bầu không khí mằn mặn, với những cơn nổi giận, tiếng nói gắt gỏng và hơi thở lộng gió của nó; biển mà mỗi buổi sáng, từ khung cửa sổ lâu đài Bạch Dương, nàng vẫn từng nhìn thấy, nàng thường thở hít ngày đêm, nàng cảm thấy gần gũi và nàng thật không ngỡ đã yêu mến nó như yêu mến một con người vậy.

"Thảm sát" cũng sống trong một trạng thái cực kỳ xao xuyến. Từ buổi tối mới đến, nó đã chui tọt vào nằm trong gầm trạn bếp, không tài nào xua nổi nó ra khỏi nữa. Ban ngày, nó cứ nằm lì trong đó, gần như không động đậy, thỉnh thoảng lắm mới gầm gừ, trở mình một tý.

Nhưng, mỗi buổi tối, khi màn đêm vừa xuống, nó liền đứng dậy và lết về phía cửa ra vườn, vừa đi vừa va chạm vào tường nhà. Sau khi đã ở ngoài trời được vài phút cần thiết rồi, nó mới trở vào, chống hai chân trước ngồi xuống trước cái bếp to hãy còn nóng. Khi hai bà chủ vừa rời nhà bếp lên nhà trên đi ngủ, nó bắt đầu tru rống lên

Cứ như vậy, nó tru rống suốt đêm, bằng một giọng rền rĩ và sầu thảm, đôi lúc, chỉ dừng lại độ một giờ để rồi sau đó, lại tiếp tục với một giọng còn xé ruột, xé gan hơn nữa. Khi bị đưa ra trước nhà, xích vào một cái thùng không, nó lại tru rống suốt đêm ở dưới khung cửa sổ. Cuối cùng, vì đã quá tàn tật và cũng sắp chết đến nơi rồi, nó lại được đưa trở vào nhà bếp.

Jeanne không tài nào ngủ được vì tiếng rên rĩ và cào đất của con chó già. Nó hiểu rất rõ căn nhà mới đây. Không phải là nhà cũ của nó và cố tìm biết cho được chỗ này là chỗ nào.

Không gì có thể làm nguôi dịu nó đi được. Ban ngày, trong khi muôn loài sinh sống và hoạt động thì nó ngủ gà ngủ gật, như thể cặp mắt đờ đẫn và ý thức về sự tàn tật của nó đã ngăn cản, không cho nó cử động, nhưng chỉ cần đêm xuống một cái là nó bắt đầu lượn không ngừng, dường như nó chỉ còn dám sống và hoạt động trong bóng tối, vì trong bóng tối, loài vật nào mà chẳng đui mù như nhau.

Một buổi sáng, người ta thấy nó đã chết queo. Thật là một sự giải thoát lớn.

Mùa đông đang tiến bước. Jeanne cảm thấy lòng mình tràn ngập một mối tuyệt vọng không gì cưỡng nổi. Đây không phải là một nỗi đau mãnh liệt, mà là một cái buồn ảm đạm, thê lương.

Không một sự tiêu khiển nào có thể làm nàng bớt được ủ ê. Không một ai quan tâm đến nàng nữa. Con đường lớn trước cửa, ở cả hai phía trái, phải, gần như lúc nào cũng vắng tanh. Thỉnh thoảng, một cỗ xe ngựa không mui chạy nước kiệu qua trước cửa, người đánh xe mặt mũi đỏ gay, chiếc áo choàng phồng lên trước gió, tròn như một quả bóng xanh. Có lúc lại là một cỗ xe bò chậm chạp hoặc một cặp vợ chồng nông dân đang từ xa đi tới trông chỉ nhỏ xíu lúc còn ở chân trời, rồi cứ to dần lên, và khi đã bước qua nhà thì lại nhỏ dần đi, cho đến lúc chỉ còn bằng hai con sâu ở nơi cuối cái vệt trắng nó kéo dài mãi đến tận tít mù tắp, lúc nhô lên, lúc tụt xuống, tùy theo những đường uốn lượn của mặt đất.

Khi cỏ bắt đầu mọc thì, sáng sáng, một em bé gái mặc váy cũn cỡn lại đi ngang chỗ cái chắn đường, tay dắt hai con bò cái gầy gò đi ăn cỏ dọc theo bờ hố ven đường. Chiều tối, em mới trở lại, cũng vẫn cái dáng điệu ngái ngủ ấy, cả mười phút mới lê được một bước sau hai con bò.

Đêm nào cũng vậy Jeanne đều nằm mơ thấy mình vẫn còn ở lâu đài Bạch Dương.

Trong giấc mộng, nàng gặp lại như xưa bố, mẹ và có khi cả dì Lison nữa, nàng làm lại những việc đã quên đi hoặc đã hoàn thành, có lúc thấy mình vẫn còn dìu mẹ đi dạo trên con đường ấy "của mẹ”, Và mỗi lần tỉnh mộng là lại một lần nàng khóc.

Nàng vẫn thường xuyên nghĩ đến Paul tự hỏi: "Bây giờ nó làm gì? Sức khỏe nó ra sao? Liệu thỉnh thoảng nó có còn nghĩ gì đến mẹ nó không?". Lúc đi chầm chậm dạo chơi trên những con đường trũng, giữa các trại ấp, những ý nghĩ ấy cứ trăn trở mãi trong đầu óc và vò xé tâm can nàng.

Nhưng điều làm cho nàng đau khổ nhất là nỗi ghen tuông căm giận không nguôi đối với đứa con gái không quen biết đã cướp mất con trai của bà kia. Chính chỉ có lòng căm giận đó mới đủ sức giữ được nàng lại, ngăn cản không cho nàng hành động, không cho nàng bỏ đi tìm con và lần tới chỗ y ở. Nàng tưởng như nhìn thấy cảnh con mụ người tình ấy của con đứng trên bục cửa hỏi ra:"Bà muốn cái gì ở đây, thưa bà?" Mới nghĩ tới khả năng có thể xảy ra một cuộc chạm trán như thế thôi, lòng tự hào của người mẹ trong người nàng đã vùng lên chống lại rồi. Niềm kiêu hãnh đến thành ngạo mạn của một tâm hồn phụ nữ luôn luôn trong sáng, không một vết nhơ và không hề sa sút đã ngày càng làm cho nàng khinh ghét dữ dội thêm tất cả sự đê tiện của con người nô lệ cho sự thực hành bẩn thỉu tình yêu xác thịt, nó làm cho ngay cả lòng mình cũng trở nên hèn nhát đi. Loài người cũng dường như trở nên nhơ nhuốc mỗi khi nàng nghĩ đến tất cả những điều bí ẩn nhớp nhúa của tình dục, tất cả những kiểu vuốt ve âu yếm làm cho con người trở nên thấp hèn, và tất cả những điều đoán biết được về những bí mật của sự gian díu không gì tách rời nổi giữa trai và gái.

Mùa xuân và mùa hè đã nối tiếp nhau qua đi. Nhưng khi mùa thu đến với những trận mưa dài lê thê và bầu trời xám đầy mây đen, thì nàng chán ngấy cái cảnh sống mãi như vậy, đến mức đã phải hạ quyết tâm có một cố gắng lớn để giành lại cho được Gà con của mình.

Chắc rằng lúc này đây, sự say đắm của nó đã mòn mỏi đi rồi.

Bà viết cho con một bức thư đẫm nước mắt:

"Con yêu quý của mẹ! Mẹ viết thư này gửi đến con, khẩn cầu con hãy trở về đây với mẹ. Con ơi, con hãy nghĩ là mẹ của con nay đã già nua, ốm yếu, lại sống cô độc một mình, quanh năm suốt tháng với mỗi một người hầu gái. Hiện nay, mẹ đang ở một căn nhà nhỏ ven đường, cảnh vật rất buồn. Nhưng nếu có con về đây, thi đối với mẹ, tất cả sẽ thay đổi hết. Trên đời này, mẹ chỉ còn có mỗi một mình con, mà đã bảy năm rồi, mẹ chẳng thấy con đâu! Con không thể nào hiểu nổi mẹ của con đã đau khổ đến thế nào và đã gửi gắm biết bao tấm lòng của mẹ nơi con. Con là cuộc sống của mẹ, là ước mơ, là hy vọng và tình thương yêu duy nhất của mẹ, vậy mà nay mẹ chẳng có con, vậy mà nay con lìa bỏ mẹ!

Ôi, Gà con bé bỏng của mẹ ơi, con hãy về đây, về đây ôm hôn mẹ, về đây với người mẹ già của con đang đưa cánh tay tuyệt vọng chờ con.

Jeanne.”

Một vài ngày sau, bà nhận được thư nó trả lời:

"Mẹ thân yêu của con! Con chẳng mong muốn gì hơn là được về thăm mẹ, nhưng hiện nay con chẳng có lấy một đồng xu. Mẹ hãy gửi cho con một số tiền đi, rồi con sẽ về thăm. Ngoài ra, con cũng có ý định muốn gặp mẹ để bàn với mẹ về một dự kiến, nó sẽ cho phép thực hiện điều mẹ yêu cầu ở con.

Theo con thì đức tính vô tư, khinh tài trọng nghĩa và tình thương yêu của cô gái ấy, người bạn đường gần gũi của con trong những ngày đen tối đang trải qua đây, là mênh mông như biển cả. Con thấy không thể cứ để kéo dài thời gian thêm nữa mà không chính thức công nhận tình yêu chung thủy đến thế, lòng trung thành tận tụy đến thế của cô ấy. Ngoài ra, cô ấy còn có nhiều điểm: rất nết na, thùy mị sẽ làm cho mẹ mến thương. Cô ấy lại có học thức. Cô đọc sách rất nhiều.

Cuối cùng, chắc mẹ không sao hình dung nổi vai trò và vị trí của cô ấy đối với cuộc đời con bấy lâu nay như thế nào đâu. Con sẽ chỉ là đồ súc vật, nếu con không biết biểu thị với cô ấy lòng biết ơn của con.

Vì vậy, con đến xin phép mẹ cho con được cưới cô ấy làm vợ. Mẹ sẽ tha thứ cho con những thiếu sót, lỗi lầm về lòng hiếu thảo, phụng dưỡng mẹ già bấy lâu nay, và mẹ cùng chúng con sẽ chung sống trong căn nhà mới của mẹ.

Nếu mẹ được biết cô ấy, chắc chắn mẹ sẽ đồng ý với con ngay tức khắc. Con xin đảm bảo với mẹ rằng, cô ấy là một con người hoàn hảo rất đáng quí, đáng trọng. Con tin chắc rằng, mẹ sẽ thương yêu cô ấy. Còn về phần con, con sẽ không sao sống nổi nếu không có cô ấy.

Mẹ thân yêu, con nóng lòng chờ thư trả lời của mẹ, và hai chúng con xin ôm hôn mẹ với tất cả tấm lòng của chúng con.

Con trai của mẹ

Tử tước Paul De Lamare".

Jeanne rụng rời cả người. Nàng đặt bức thư lên đầu gối, rồi ngồi im lặng hồi lâu, cô phán đoán cho hết mưu mẹo nham hiểm của cô gái này. Nó đã không ngừng giữ chặt lấy con bà, không thả cho con bà về thăm mẹ lấy một lần để chờ cho đến thời điểm của nó, tức là lúc người mẹ già tuyệt vọng này, không con chịu đựng nổi nữa ý muốn thiết tha được ôm hôn đứa con mình đã sinh ra, sẽ phải mềm lòng đi và chấp nhận tất cả.

Nàng đau đớn nhận thấy Paul đã ngoan cố đứng hẳn về phía người tình của nó, và nỗi đau to lớn này đã xé nát trái tim nàng. Nàng nhắc đi nhắc lại: "Nó chẳng thương mẹ chút nào!".

Rosalie bước vào, Jeanne lẩm bẩm: "Bây giờ, nó muốn cưới con kia rồi đây!".

Bà hầu giật bắn mình: "Ôi! Bà chớ có chấp nhận một việc như vậy nhé. Paul nhà ta rước cái đồ hoa thải, hương thừa, rác rưởi ấy về làm gì cơ chứ!".

Tuy lòng còn nặng trĩu đau thương, Jeanne vẫn bất bình, nàng trả lời ngay: "À, gì chứ cái đó thì không, không đời nào, em của chị ạ. Bây giờ nó đã nhất định không chịu về như thế này, thì chị, chị sẽ đi tìm nó và chúng ta sẽ xem, mẹ nó với con kia, ai là người sẽ thắng trong keo này".

Nàng viết thư ngay cho Paul, báo cho y biết ngày nàng sẽ đến và nói rõ nàng muốn gặp y ở một nơi khác, chứ không phải tại nhà ở của cái loài đĩ bợm kia.

Trong khi chờ đợi thư Paul trả lời, nàng sửa soạn hành trang. Rosalie bắt đầu sắp xếp áo quần và đồ dùng của bà chủ vào một cái rương cũ. Nhưng trong lúc gấp một cái áo dài cũ kiểu nông thôn, chị bỗng kêu lên: "Ôi, bà có còn cái áo xống nào để mặc nữa đâu! Thế này thì tôi để bà ra đi sao được. Bà sẽ làm cho bà con ta, tất cả mọi người phải xấu hổ đấy. Các vị phu nhân ở Paris sẽ coi bà như một người đầy tớ mất thôi!".

Jeanne để mặc cho Rosalie xử trí. Hai người cùng lên thị trấn Goderville chọn mua một xấp vải kẻ ô, màu xanh lá cây, giao cho bà thợ may đồ nữ cắt. Sau đó, hai người đến nhà ông công chứng viên Rutxen (Roussel), người năm nào cũng lên thủ đô chơi chừng mươi mười lăm ngày, để hỏi han tình hình, vì đã hai mươi tám năm rồi, Jeanne chưa trở lại Paris lần nào.

Ông Roussel dặn dò nhiều điều, hết cách tránh cho khỏi bị xe cộ chẹt, lại cách đề phòng mất cắp - nên khâu tiền vào trong lớp vải lót quần áo, chỉ để ở túi ngoài chút ít thật cần thiết thôi -: Ông nói thao thao bất tuyệt về các khách sạn giá cả phải chăng, trong đó có hai, ba cái được các bà, các cô hay đến trọ; ông nói rõ cả tên khách sạn Normandie gần ga xe lửa, nơi bản thân ông thường đến nghỉ. Hai người có thể nói là do ông giới thiệu đến.

Sáu năm nay, thiên hạ bàn tán khắp nơi về việc đi lại bằng xe lửa. Tuyến đường sắp Paris - Le Havre cũng đã thông suốt. Nhưng Jeanne, quanh quẩn với bao nỗi buồn đau, chưa hề được thấy cái loại xe chạy bằng hơi nước đang làm cho toàn bộ đất nước phải đảo lộn lên đó.

Còn Paul đã chẳng trả lời!

Nàng đợi tám ngày, rồi mười lăm ngày, sáng nào cũng ra đường cái, đón người đưa thư, miệng hỏi tin mà nguời thì cứ run lên: "Có gì cho tôi không đây, bác Malãngđanh? (Malandin)". Và, lần nào cũng vậy, với giọng khàn đặc vì bốn mùa mưa nắng, bác phu trạm trả lời: "Thưa bà thân mến, hôm nay vẫn chưa có gì đâu ạ!".

Chắc hẳn con mụ yêu quái kia đã ngăn cấm không cho Paul trả lời mẹ nó mất rồi!.

Thế là Jeanne quyết định ra đi ngay lập tức. Nàng muốn đem cả Rosalie cùng đi, nhưng chị không chịu vì sợ tốn nhiều tiền lệ phí.

Chị ta cũng không cho phép bà chủ đem theo người quá ba trăm francs: "Nếu bà cần thêm tiền thì cứ viết thư cho tôi, tôi sẽ đến nhờ ông công chứng viên giúp gửi cho bà ngay. Bây giờ mà đưa thêm cho bà, Paul sẽ bỏ túi ngay cho mà xem!".

Thế rồi một sáng tháng chạp, hai người leo lên cỗ xe bò có mui của Denis Lecoq, do chàng trai tự đánh đến để đưa họ ra ga. Rosalie theo tiễn Jeanne ra tận đó.

Đầu tiên, hai người hỏi thăm về giá vé tàu và cước phí, rồi khi đã thu xếp xong mọi việc và đăng ký được cái rương, hai người liền đứng chờ trước hai vệt đường rầy, tự hỏi mãi không biết loại phương tiện này nó vận chuyển ra làm sao, và điều bí ẩn đó đã thu hút hai người đến nỗi chẳng còn tâm trí đâu mà nghĩ đến những lý do đáng buồn của chuyến đi này nữa.

Cuối cùng, một tiếng còi tàu lanh lảnh từ xa, hai người quay đầu lại và nhìn thấy một cỗ máy đen đang to dần mãi lên. Cỗ máy đó chạy tới, kèm theo những tiếng động khủng khiếp, rồi lướt qua trước mặt hai người, kéo theo một dãy dài dằng dặc những căn nhà nhỏ lăn trên bánh. Một nhân viên đường sắt mở cửa, Jeanne vừa ôm hôn Rosalie vừa khóc rồi leo lên một trong những gian nhà nhỏ đó.

Xúc động, Rosalie kêu lên: "Xin tạm biệt bà! Bà lên đường mạnh khỏe và sớm trở về!".

- Tạm biệt! Em của chị!

Một tiếng còi tàu lại nổi lên. Cả chuỗi toa xe bắt đầu lăn bánh, lúc đầu còn từ từ, sau nhanh dần lên, rồi nhanh ghê người.

Trong toa xe, Jeanne ngồi, còn có hai hành khách khác đang ngủ tựa lưng vào góc ghế.

Nàng nhìn các làng mạc, cây cối, trang trại, thôn xóm vùn vụt lướt qua. Hoảng sợ trước tốc độ đó, nàng cảm thấy mình đã bước vào một cuộc sống mới, một thế giới mới, nó không còn là thế giới của nàng nữa, cái thế giới của tuổi trẻ êm ả, của nếp sống đơn điệu của đời nàng.

Trời đã tối khi đoàn tàu tiến vào thành phố Paris.

Một nhân viên vận chuyển hành lý xách cho Jeanne cái rương. Nàng hoảng sợ đi theo, gần như chạy theo bác ta, chỉ lo mất hút bóng bác. Vụng về trong việc luồn lách qua đám đông nàng bị chen lấn kịch liệt. Khi đến phòng đón tiếp của khách sạn, nàng vội vã nói: "Tôi được ông Roussel giới thiệu đến đây".

Bà chủ khách sạn, một thiếu phụ rất to béo, vẻ nghiêm chỉnh, ngồi tại bàn giấy, hỏi lại:

-Ông Roussel à? Ai thế nhỉ?

Jeanne sững sờ: "Ôi, ông công chứng viên ở Goderville, năm nào cũng đến trọ ở đây đó mà! ".

Thiếu phụ to lớn nói:

-Có thể là như vậy. Tôi không biết ông ta. Bà muốn thuê một phòng?

-Thưa, vâng ạ.

Một người hầu phòng xách hành lý của nàng rồi leo lên cái cầu thang trước mặt.

Jeanne thấy lòng cay đắng. Nàng ngồi vào một cái bàn nhỏ và gọi một bát súp với một cái cánh gà. Từ sáng sớm, nàng chưa hề ăn uống gì cả.

Dưới ánh sáng lở mờ của cây nến. nàng vừa buồn bã ngồi ăn, vừa nghĩ đến hàng nghìn sự việc. Nàng nhớ lại lần ghé qua cũng chính thành phố này sau chuyến đi trăng mật ấy, nhớ lại những dấu hiệu cá tính đầu tiên của Julien xuất hiện trong những ngày tạm trú ở Paris. Nhưng khi đó nàng còn trẻ, tin tưởng và dũng cảm. Giờ đây, nàng tự thấy mình già nua, lúng túng, thậm chí còn sợ sệt và yếu ớt nữa, đến nỗi một việc không đâu cũng đủ làm cho nàng bối rối. Ăn uống xong, nàng ra đứng bên cửa sổ nhìn xuống phố xá đông nghịt những người. Nàng rất muốn đi ra ngoài một tý nhưng lại không dám. "Thế nào cũng sẽ bị lạc", nàng nghĩ vậy, nàng bèn đi nằm và thổi tắt đèn.

Những tiếng động ồn ào cộng với cảm giác đang ở một thành phố xa lạ và sự xáo động của chuyến đi đã làm cho nàng không sao ngủ được. Nhiều tiếng đồng hồ trôi qua. Tiếng ầm ì bên ngoài đã dần dần dịu xuống nhưng nàng vẫn thức, vì thần kinh vẫn căng thẳng trước trạng thái nửa nghỉ ngơi nửa hoạt động của một thành phố lớn. Nàng đã quen với giấc ngủ sâu và êm của đồng ruộng, giấc ngủ làm tê lịm tất cả, người, vật và cỏ cây; còn giờ đây, nàng cảm thấy quanh mình cả một sự huyên náo huyền bí. Những tiếng động hầu như không nhận thấy vẫn lọt đến tai nàng, tựa hồ chúng đã luồn qua các bức tường của khách sạn. Thỉnh thoảng, lại nghe thấy một tiếng sàn gác cót két, một tiếng cửa đóng lại, một tiếng chuông reo.

Vào khoảng hai giờ sáng, vừa lúc nàng mới bắt đầu chợp mắt được một tí, bỗng vang lên tiếng kêu của một phụ nữ ở gian phòng bên cạnh. Jeanne ngồi bật dậy, nàng tưởng như nghe thấy tiếng cười của một gã đàn ông.

Thế là càng gần đến bình minh, lòng nàng lại càng tràn ngập những suy nghĩ, lo buồn về Paul. Trời vừa rạng sáng, nàng đã mặc xong quần áo.

Con nàng ở phố Xôvagiơ (Sauvage), trong khu trung tâm của thành phố. Theo Iời dặn cần phải tiết kiệm của Rosalie, nàng quyết định đi bộ đến đó. Hôm nay, trời đẹp. Không khí lạnh làm cho da thịt tê buốt. Những người có việc gấp chạy vội trên hè đường. Nàng cố gắng đi nhanh hết mức, dọc theo một đường phố đã được chỉ dẫn. Hết dãy phố đó nàng rẽ sang phải, rồi lại quặt sang trái. Sau đó, nàng đi đến một quảng trường, tại đó, Jeanne lại phải hỏi thăm đường thêm nữa.

Nhưng nàng không sao tìm ra được địa điểm đó. Nàng hỏi thăm một bác bán bánh mì thì bác lại chỉ những hướng khác. Nàng lại đi, nàng lầm lối, nàng lang thang, nàng tiến theo những lời chỉ dẫn khác, nàng lạc đường hoàn toàn.

Lúc này, cuống lên, nàng hầu như đi liều. Nàng toan gọi một bác đánh xe ngựa thì chợt nhìn thấy dòng sông Xen (Seine). Nàng bước dọc theo các bến của con sông.

Cứ như vậy, sau khoảng một tiếng đồng hồ, nàng mới lần ra được phố Sauvage, một phố nhỏ đen ngòm. Nàng dừng lại trước cổng nhà, nàng xúc động đến nỗi không bước lên nỗi một bước nữa.

Gà con, nó ở chỗ này, trong căn nhà này đây!

Hai bàn tay và hai đầu gối của nàng cứ run lên. Cuối cùng, nàng bước vào, đi theo một hành lang và tìm thấy noi ở của người gác cổng. Tay chìa ra một đồng tiền, nàng nói: "Xin nhớ bác vui lòng lên báo giùm cho ông Paul De Lamare biết là có một bà cụ, bạn thân của mẹ ông ấy, đang đứng đợi ở dưới này”.

Người gác cổng đáp:

- Thưa cụ, ông ta không còn ở đây nữa rồi.

Nàng rùng cả mình, ấp úng hỏi:

-Ồ! Vậy… vậy chứ hiện nay, ông ta ở đâu ạ?

-Dạ, thưa cháu không biết.

Choáng váng cả người như sắp ngã khuỵu xuống, nàng đứng lặng đi một lúc, chẳng nói nên lời. Sau cùng, cố gắng lắm, nàng mới tỉnh táo lại và hỏi khẽ:

-Vậy chứ ông ta dời đi từ lúc nào ạ?

Người gác cổng liền cho bà biết nhiều chi tiết:

-Dạ, cách đây mười lăm ngày. Một buổi tối, họ cứ thế mà ra đi rồi không trở lại nữa. Khắp cả khu phố này, nhà nào, hai người đó cũng mắc nợ. Như vậy, hẳn cụ hiểu rõ là đời nào họ còn dám để lại địa chỉ nữa cơ chứ!

Jeanne bỗng thấy hàng nghìn tia lửa sáng như hoa cà hoa cải tóe ra trước mặt, cứ như có người nào đó bắn một phát súng sát ngay trước mắt mình vậy. Nhưng một ý nghĩ vững chắc vẫn đỡ lấy nàng, vẫn giữ cho nàng đứng thẳng được, tạo cho nàng một bề ngoài trông có vẻ bình thản và giúp cho nàng xử sự chín chắn, ý nghĩ đó là: Cần phải biết chỗ ở và tìm cho ra Gà con.

- Vậy là khi ra đi, ông ta chẳng nói gì hết sao?

- Ôi! Làm gì có! Cháu đã nói là họ chuyển đi để trốn nợ rồi mà.

- Nhưng hẳn ông ta cũng cho người đến lấy thư từ cho mình chứ?

- Hể có thư mà có người đến lấy thì cháu sẽ đưa thôi. Vả lại, lâu nay họ cũng chỉ nhận không đến mười bức thư mỗi năm. Nhưng hai hôm trước khi họ chuồn đi, cháu có nhận và đem lên cho họ một bức thư đấy.

Chắc hẳn đó là thư của Jeanne. Nàng vội nói ngay:

-  Bác nghe đây nhé, tôi chính là mẹ của ông ấy. Tôi đến đây để tìm gặp cháu. Đây, xin bác cầm tạm muời francs tặng bác. Nếu bác có tin tức gì hoặc tìm hiểu thêm được gì về cháu thì xin bác lại tìm gặp tôi ở khách sạn Normandi, phố Le Havre, tôi sẽ xin tạ ơn bác xứng đáng.

Bác kia trả lời:

- Vâng, xin cụ cứ tin ở cháu".

Nàng bỏ đi ngay.

Nàng cứ thế mà đi, không cần biết đến nơi nào nữa. Nàng hối hả như có việc gì quan trọng thúc đẩy. Nàng vùn vụt lướt dọc theo các bờ tường, xô cả vào những người đang tay xách, nách mang. Nàng băng bừa qua đường, chẳng buồn ngó gì xe cộ qua lại, khiến cho các ông đánh xe ngựa phải chửi rủa ầm ĩ. Nàng đặt chân lên các vỉa hè mà chẳng hề chú ý nên bị vấp lia lịa. Tâm hồn tan tác, nàng cứ lao mình mà đi.

Đột nhiên, nàng nhận ra mình đã đi đến một công viên, và, cảm thấy mệt quá, nàng phải ngồi ngay xuống một chiếc ghế. Nàng ngồi như vậy hình như rất lâu; nàng khóc mà không biết là mình đang khóc, khiến cho nhiều người qua lại phải dừng bước nhìn nàng. Rồi cảm thấy trong người rất lạnh, nàng đứng dậy và tiếp tục đi. Nàng kiệt quệ và suy yếu đến mức đôi chân cơ hồ không đỡ nổi thân mình nữa.

Nàng muốn vào một quán ăn gọi một bát súp mà chẳng dám bước vào những chỗ nhà cửa rộng như vậy, vì lòng nàng thấy hổ thẹn, thấy sợ sệt, thấy ngượng ngùng với nỗi đau của mình, có vẻ bất cứ ai cũng nhìn thấy nó được cả. Bước đến ngưỡng cửa một quán ăn khác, nàng dừng lại một giây, ngó vào trong thấy bao nhiêu người đang ăn uống quanh bàn, thế rồi nàng bẽn lẽn ra đi, bụng bảo dạ: "Thôi để đến một cửa hàng khác, ta sẽ vào"... Nhưng đến quán ăn sau đó, nàng vẫn chẳng bước vào.

Cuối cùng, nàng mua ở một cửa hàng bánh mì một cái bánh nhỏ, hình mặt trăng, vừa đi, vừa gặm. Nàng rất khát nước nhưng chẳng biết uống ở chỗ nào, nên cố nhịn và bỏ qua.

Nàng đi qua một vòm cung, rồi lại lọt vào một công viên khác được bao bọc bằng những hàng của tò vò. Nàng nhận ra đây là khu vực cung điện nhà vua.

Lúc đó, do mặt trời đã lên cao và do đã đi bộ khá nhiều, nàng cảm thấy người ấm hơn. Nàng ngồi xuống nghỉ chân thêm một hai tiếng nữa.

Một đám đông người bước vào, toàn là những người ăn mặc lịch sự. Họ trò chuyện, tươi cười, chào hỏi. Thật là những con người sung sướng, đàn bà thì xinh đẹp, đàn ông thì giàu có, những con người sống chỉ để chưng diện và hưởng thụ những niềm vui.

Hoảng sợ thấy mình lọt vào giữa đám người xa hoa ấy, Jeanne đứng bật dậy để bỏ chạy đi, nhưng nàng chợt nảy ra một ý nghĩ là biết đâu chẳng có thể gặp Paul giữa đám người này. Thế là nàng bắt đầu lang thang trong đám đông đó, nhìn sát từng khuôn mặt những người đang qua lại không ngớt. Chân bước mau, vẻ hèn mọn, nàng cứ đi như thế suốt từ đầu đến cuối khu công viên.

Nhiều người quay lại nhìn theo nàng; một số thì cười và chỉ trỏ cho nhau xem. Nhận thấy điều đó, nàng vội vã bỏ đi. Hẳn đám đông người kia đã được một phen cười cợt khoái chí trước cung cách đi đứng của nàng và trước cái áo dài kẻ ô vuông xanh lá cây mà Rosalie đã chọn mua vải và đã hướng dẫn bà thợ may ở Goderville may cắt.

Từ lúc đó, ngay cả cái việc hỏi thăm đường ở những người khách qua lại, nàng cũng không dám nữa. Nàng cứ mò mẫm đi dần và cuối cùng, cũng đã tìm ra được khách sạn của mình.

Suốt phần còn lại của ngày hôm ấy, nàng ngồi lì trên cái ghế ở chân giường, không bước ra ngoài, rồi cũng như hôm trước, nàng ăn tối với một bát súp và một chút thịt. Rồi nàng thu xếp đi nằm, mỗi cử động đều làm theo thói quen, cứ như một cái máy.

Sáng hôm sau, nàng đến quận cảnh sát nhờ tìm giúp con nàng. Người ta không thể hứa hẹn gì, nhưng cũng quan tâm đến chuyện đó.

Thế rồi nàng lại đi, vật vờ qua các phố, vẫn luôn với niềm hy vọng là sẽ gặp được con. Giữa đám đông người huyên náo ấy, nàng lại cảm thấy mình cô đơn hơn, lạc loài hơn, khốn khổ hơn là ở giữa những cánh đồng hoang vắng.

Buổi tối, khi về đến khách sạn, nàng được tin báo, có một người được Paul phái đến tìm nàng, hẹn hôm sau sẽ trở lại. Một luồng máu nóng tràn ngập tim nàng. Suốt đêm, nàng không chợp mắt. Có phải chính nó đây không? Đúng rồi, chắc chỉ có nó thôi, mặc dù căn cứ vào những chi tiết hình dáng do người ta kể lại thì bà vẫn chưa thấy chút gì của Paul trong con người đó cả.

Khoảng chín giờ sáng hôm sau, có tiếng người gõ cửa. Nàng kêu to: "Mời vào.", nàng dang rộng đôi tay sẵn sàng lao đến. Một người lạ mặt bước vào. Trong lúc anh ta xin lỗi đã làm phiền nàng và giải thích việc anh ta phải đến đây là để đòi một món nợ của Paul, thì nàng đã biết là mình đang khóc. Nàng cố giấu không để cho người khách lạ thấy điều đó, có giọt nước mắt nào ngưng đọng ở khóe mắt là nàng lấy đầu ngón tay thấm đi ngay.

Anh ta nói tiếp là nhờ có bà quản gia căn nhà phố Xôvagiơ (Sauvage) mách bảo, anh ta được biết nàng có đến đó, và vì không tìm đâu ra người con, anh đành tìm đến người mẹ. Anh ta đưa ra một mảnh giấy; nàng cầm lấy ngay, không chút nghĩ ngợi. Nàng đọc một con số: 90 francs, nàng rút tiền ra trả.

Ngày hôm đó, nàng không đi ra ngoài nữa.

Đến hôm sau, nhiều chủ nợ khác đến thêm. Còn bao nhiêu tiền, nàng trút ra trả hết, chỉ giữ lại trong người khoảng hai mươi francs. Nàng viết thơ cho Rosalie biết rõ tình cảnh đó.

Trong khi chờ thơ trả lời của người hầu, hết ngày ngày qua ngày khác, Jeanne lại đi lang thang, chẳng biết làm gì cho hết quãng thời gian sầu thảm và bất tận, khi không có một ai để nàng nói một lời âu yếm, không có một ai thông cảm được nỗi khốn khổ này. Nàng cứ đi phiêu, đi dạt mãi như thế. Lúc này lòng nàng đã bứt rứt không yên, những muốn được trở lại ngay nơi kia, sống trong căn nhà nhỏ bên con đường lớn quạnh hiu ấy của nàng tưởng không tài nào sống nổi trong căn nhà đó nữa, thì nay trái lại, nàng đã thấy rất rõ là nàng chỉ còn có thể sống ở đó, nơi những thói quen ảm đạm của nàng đã ăn sâu, bén rễ mất rồi.

Cuối cùng, một buổi tối, nàng nhận được một bức thư kem theo hai trăm francs . Rosalie viết:

“Bà Jeanne, xin bà hãy trở về gấp, vì tôi sẽ không gửi tiếp thêm gì cho bà nữa đâu. Còn về Paul, xin bà cứ để mặc tôi. Khi chúng ta được tin tức về nó thì tôi sẽ tìm nó về.

Xin chào bà. Chính em của bà đây.

Rosalie ".

Jeanne lên đường về lại Batteville một buổi sáng tuyết rơi và trời rất lạnh.

« Lùi
Tiến »