“Tao không muốn chết ở đây,” bố nói.
“Có chuyện gì sao?” Terry hỏi. “Anh không thích phòng của anh à?”
“Căn phòng thì ổn rồi. Cái chính là đất nước này.”
Ba người chúng tôi đang ăn món laksa[62] gà và ngắm mặt trời lặn trên đô thị ô nhiễm. Như thường lệ, bố cảm thấy buồn nôn và cố làm ra vẻ như chuyện nôn mửa của ông là một phản xạ tự nhiên không phải đối với thức ăn mà đối với những người có mặt.
“Chao ôi, bọn em cũng không muốn anh chết đâu, phải không, Jasper?”
“Vâng,” tôi đáp, và chờ ba mươi giây sau, tôi nói thêm, “lúc này thì không.”
Bố dùng tay áo tôi để lau khóe miệng ông và nói, “Tao muốn chết ở nhà.”
“Khi anh nói nhà, ý anh là...”
“Úc.”
Terry và tôi nhìn nhau hoảng hốt.
“Chà, ông anh ơi,” Terry từ tốn nói, “chuyện đấy không được thực tế lắm.”
“Tao biết. Nhưng tao sẽ vẫn về nhà.”
Terry hít một hơi sâu rồi nói với bố một cách ôn tồn và thong thả, tựa như đang nhẹ nhàng dạy bảo đứa con ngỗ ngược vì bóp ngạt con vật cưng của gia đình do ôm quá chặt.
“Marty ạ. Anh có biết điều gì sẽ xảy ra vào giây phút máy bay hạ cánh xuống đất Úc không? Anh sẽ bị bắt tại sân bay.” Bố không nói gì. Ông biết chuyện đó là thật. Terry bồi thêm: “Anh có muốn chết trong tù không? Vì đó là chuyện sẽ xảy ra nếu anh bay về nhà.”
“Không, tao không muốn chết trong tù.”
“Thế thì giải quyết xong,” Terry nói. “Anh sẽ chết ở đây.”
“Tao có một ý khác,” bố nói, và ngay lập tức mọi tia hi vọng đều tắt ngóm. Tôi biết rằng một cái chết nhẹ nhàng, yên tĩnh, êm ái, nối tiếp bằng một tang lễ kín đáo và một kì để tang lặng lẽ giờ đây đã ngoài tầm với. Bất kể chuyện gì sắp xảy ra, nó cũng sẽ rất nguy hiểm, rối tung, rồ dại và sẽ đẩy tôi đến bờ vực của cơn điên.
“Vậy, Marty, anh có đề xuất gì?”
“Chúng ta lén trở lại Úc.”
“Cái gì?”
“Bằng tàu,” ông giải thích. “Terry, tao tin chú mày biết bọn buôn người là ai.”
“Chuyện này thật điên rồ!” tôi lên tiếng. “Bố không thể muốn liều mạng mình chỉ để chết ở Úc! Bố ghét nước Úc cơ mà.”
“Nghe này, bố biết đây là thái độ đạo đức giả mang đẳng cấp quốc tế. Nhưng bố đếch quan tâm. Bố nhớ nhà! Bố nhớ phong cảnh và mùi của nó. Bố nhớ cả những người đồng hương và mùi của họ!”
“Lúc này hãy cẩn thận,” tôi đáp. “Hành động cuối cùng của bố sẽ đối lập hoàn toàn với mọi thứ mà bố đã suy nghĩ, nói và tin tưởng từ trước đến nay.”
“Bố biết chứ,” ông phấn khởi nói, không chút buồn phiền. Thật ra, ông có vẻ như phấn chấn lên hẳn vì chuyện này. Lúc bấy giờ ông đã đứng lên, khẽ lắc lư, đưa mắt thách chúng tôi nâng các đồ vật lên để ông bắn hạ.
“Chẳng phải bố nói với con rằng chủ nghĩa dân tộc là một căn bệnh sao?” tôi hỏi.
“Và bố tin là như vậy. Nhưng hóa ra bố đã mắc phải căn bệnh đó, cùng với mọi thứ khác. Và bố thấy chẳng có lý do gì đi chữa cho mình khỏi một căn bệnh nhẹ trong khi bố sắp chết vì một căn bệnh nặng.”
Tôi không trả lời. Tôi có thể nói gì?
Tôi phải lôi những khẩu súng cối ra để giúp mình. May thay, bố đã đóng gói một va li đầy những sách, và tôi đã tìm thấy chính xác câu trích dẫn mà tôi cần trong một quyển sách đã sờn vì đọc quá nhiều có nhan đề Xã hội điên loạn của Fromm. Tôi vào phòng ông nhưng ông đang đi vệ sinh, vì thế tôi đọc nó cho ông nghe qua cánh cửa nhà tắm: “Này, bố. ‘Người nào chưa giải phóng bản thân khỏi những ràng buộc với máu mủ và quê hương thì chưa phải là người hoàn thiện từ khi chào đời; năng lực yêu thương và lập luận của anh ta bị què quặt; anh ta không cảm nhận được bản thân hoặc những người xung quanh trong thực tại con người của anh ta hoặc của họ.’”
“Việc đấy không quan trọng. Khi bố chết, những thất bại và điểm yếu của bố cũng chết theo. Con thấy chưa? Những thất bại của bố cũng sẽ chết.”
Tôi đọc tiếp: “ ‘Chủ nghĩa dân tộc là hình thức loạn luân của chúng ta, là sự sùng bái của chúng ta, là sự điên rồ của chúng ta. “Chủ nghĩa yêu nước”... là biểu hiện phổ biến của nó... cũng giống như tình yêu đối với một cá nhân mà loại trừ tình yêu cho những người khác thì không phải là tình yêu, tình yêu dành cho đất nước nếu không phải là một phần của tình yêu dành cho nhân loại thì không phải là tình yêu, mà là sự sùng bái cuồng tín.’”
“Vậy thì sao?”
“Vậy là bố không yêu thương nhân loại, phải không?”
“Không. Không hẳn.”
“Đấy, bố thấy chưa!”
Bố giật nước bồn cầu rồi đi ra mà không rửa tay. “Con không thể làm bố đổi ý được đâu, Jasper ạ. Đây là điều bố muốn. Những kẻ sắp chết được đáp ứng nguyện vọng trước khi chết cho dù nó làm người sống tức điên lên. Và đây là nguyện vọng của bố - bố muốn chết trên quê hương mình, với người dân mình.”
Caroline, tôi thầm nghĩ. Rõ ràng bố đang chịu đựng một nỗi đau không ngừng xuất hiện. Ông đã chuẩn bị tinh thần để luôn thận trọng trước sự thanh thản của chính mình, và sứ mệnh đến Úc này là chỉ thị của một nỗi buồn mà ông buộc phải tuân theo.
Nhưng không chỉ có thế. Với việc lén lút quay lại nước Úc bằng cách làm một kiện hàng người trong một phi vụ buôn người mạo hiểm, bố đã tìm thấy dự án ngu ngốc cuối cùng, và nó chắc chắn sẽ giải quyết nhanh cái chết của ông.
II.
Những kẻ buôn người điều hành đường dây của chúng tại một nhà hàng bình thường nằm trên một con đường đông đúc trông như bảy mươi con đường đông đúc khác mà tôi nhìn thấy khi chúng tôi lái xe đến. Terry cảnh báo bố và tôi ở cửa: “Chúng ta phải cẩn thận với bọn này. Chúng rất ác độc. Chúng sẽ cắt đầu anh trước rồi mới hỏi han sau, chủ yếu là hỏi xem gửi đầu anh đi đâu.” Với suy nghĩ đó trong đầu, chúng tôi chọn một bàn rồi gọi món cà ri rừng[63] và xà lách bò. Tôi luôn hình dung rằng lớp bình phong của những hoạt động phi pháp thường chỉ đơn thuần là để che đậy, nhưng ở đây người ta quả thật có phục vụ thức ăn, mà cũng không đến nỗi tệ.
Chúng tôi lặng lẽ ăn. Bố húng hắng ho trong lúc ăn và xen giữa những tiếng ho, ông gọi người phục vụ liên tục để yêu cầu một chai nước suối. Terry đang xơi ngốn ngấu mấy con tôm và thở phì phò qua mũi. Quốc vương đang nhìn tôi vẻ không hài lòng từ một tấm ảnh chân dung treo ở bức tường phía bên kia. Một đôi du khách bụi người Anh ở bàn cạnh bên đang tranh luận về những điểm khác nhau về mặt thể chất và tâm lý giữa gái mại dâm Thái Lan với một cô gái tên là Rita ở Đông Sussex.
“Vậy, chú Terry này,” tôi hỏi, “bây giờ thì sao? Chúng ta cứ ngồi ở đây đến lúc đóng cửa à?”
“Để đấy cho chú.”
Chúng tôi để đấy cho chú. Mọi sự giao tiếp diễn ra không có lời, theo một lô những nguyên tắc được xác lập trước: Terry gật đầu ra hiệu với người phục vụ, tay này sau đó gật đầu với đầu bếp thông qua một cánh cửa sổ mở vào nhà bếp. Tay đầu bếp sau đó chuyền cái gật đầu cho một người đứng ngoài tầm nhìn của chúng tôi, chúng tôi đoán rằng gã này lại chuyền nó cho hai mươi người nữa xếp hàng thành một cầu thang xoắn ốc dẫn đến gác lửng của địa ngục. Sau vài phút lo lắng, một người đàn ông với cái đầu hói hơi dị dạng đi ra và ngồi xuống, cắn môi và nhìn chúng tôi trừng trừng vẻ hăm dọa. Terry lôi ra một phong bì nhét đầy tiền và đẩy nó qua bên kia bàn. Việc này khiến tay buôn người dịu đi một chút. Chộp lấy cái phong bì, y đứng dậy. Chúng tôi đi theo y, bước chân chúng tôi tạo ra những tiếng vang kéo dài trong lúc bước dọc theo một lối đi, cuối lối đi là một căn phòng nhỏ không có cửa sổ, ở đó có hai tên cầm súng đón chúng tôi với ánh mắt lạnh tanh. Một tên quấy rối chúng tôi, lục soát vũ khí, và khi không tìm thấy gì, thì một người đàn ông trung niên ẻo lả diện bộ complet đắt tiền bước vào và im lặng nhìn chúng tôi. Sự bất động ấn tượng của gã khiến tôi có cảm giác như mình đang ở trong một câu chuyện của Conrad[64], tựa như tôi đang nhìn vào tâm khảm của bóng đêm. Dĩ nhiên gã này chỉ là một doanh nhân, với cùng một tình yêu dành cho lợi nhuận và thái độ vô cảm với nỗi đau khổ của con người hệt như những đối tác doanh nghiệp phương Tây của gã. Tôi nghĩ người đàn ông này có thể là một giám đốc cấp trung tại IBM hoặc một cố vấn luật cho ngành công nghiệp thuốc lá.
Bất thình lình, một tên trong đám vệ sĩ nện báng súng trường vào đầu Terry. Thân hình đồ sộ của chú ngã xuống đất. Chú bất tỉnh nhưng vẫn còn sống, nửa thân trên phập phồng theo hơi thở sâu, chậm rãi. Khi bọn chúng chĩa súng vào tôi, tôi nghĩ đây quả đúng là kiểu phòng mà tôi đã luôn tưởng tượng ra mình sẽ chết trong đó: bé xíu, thiếu không khí, và chen chúc những kẻ lạ mặt dửng dưng đứng nhìn.
“Mày là cảnh sát,” gã đàn anh nói bằng tiếng Anh.
“Không. Không phải cảnh sát,” bố phản đối. “Bọn tao là tội phạm bị truy nã. Giống bọn mày thôi. À, không giống bọn mày. Bọn tao không biết bọn mày có bị truy nã hay không. Có lẽ chẳng ai muốn truy nã chúng mày.”
“Mày là cảnh sát.”
“Không. Chúa ơi, nghe đây. Tao bị ung thư. Ung thư, mày biết không. Là ung thư đấy. Là chết đấy.” Rồi sau đó bố kể lại với chúng toàn bộ câu chuyện phi lý của ông về cú rơi từ đỉnh cao xuống vực sâu và trốn thoát khỏi Úc.
Tôi cứ tưởng theo lẽ thường ai nấy đều chấp nhận rằng những chuyện lố bịch dường này phải có thật, song lũ buôn người có vẻ bán tín bán nghi. Khi chúng cân nhắc số phận của chúng tôi, tôi nhớ Orwell[65] đã mô tả rằng tương lai là một chiếc giày bốt giẫm riết lên khuôn mặt người, và tôi nghĩ rằng xung quanh tôi là những chiếc giày bốt, những kẻ ghê gớm đến độ toàn nhân loại phải bị trừng phạt vì đã không làm gì để ngăn chặn sự tồn tại của chúng. Công việc của những kẻ buôn người này là tìm kiếm những con người tuyệt vọng, lột sạch từng xu của họ, nói dối họ trước khi tống họ lên những con tàu thông thường sẽ chìm nghỉm. Mỗi năm chúng gửi hàng trăm người đến chỗ chết vì khủng hoảng. Những kẻ chỉ biết bóc lột này là hội chứng bệnh đường ruột khó chịu của tạo hóa, tôi thầm nghĩ, và nhìn lũ người này như ví dụ điển hình của loài người, tôi nghĩ mình sẽ vui lòng biến mất nếu điều đó đồng nghĩa với việc chúng cũng không tồn tại.
Gã đàn anh nói nhỏ bằng tiếng Thái ngay khi Terry tỉnh lại. Chúng tôi giúp chú ấy đứng dậy, một việc vốn không mấy dễ dàng. Xoa đầu, chú nói, “Chúng nói anh sẽ phải trả hai mươi lăm nghìn.”
“Năm mươi nghìn,” tôi nói.
“Jasper,” bố thì thầm, “con không biết gì về mặc cả à?”
“Con cũng sẽ đi,” tôi nói.
Bố và Terry nhìn nhau. Cái nhìn của bố tối sầm và im lặng trong khi cái nhìn của em trai ông lại thao láo và hoang mang.
“Nhiều con tàu như thế này đã chìm khi còn rất lâu mới đến được Úc,” Terry lo lắng nói. “Marty! Em tuyệt đối cấm chuyện này! Anh không thể để Jasper đi với anh.”
“Tao không cản nó được,” bố nói, và tôi nhận ra trong giọng nói của ông một sự hân hoan bất chấp mạng sống của tôi vì giờ đây mạng sống của ông xem như đã hết.
“Jasper, cháu dại lắm. Đừng làm thế,” Terry phản đối.
“Cháu phải làm.”
Terry thở dài, và lầm bầm rằng tôi ngày càng giống bố mình. Thỏa thuận được xác định bằng một cái bắt tay và năm mươi nghìn tiền mặt mới cứng. Khi phi vụ đã kết thúc, những kẻ buôn người như trút được gánh nặng, thậm chí còn mời chúng tôi uống bia “miễn phí.” Nhìn những gã bất lương này, tôi tưởng tượng mình đã rẽ khỏi tuyến tiến hóa ở giai đoạn ban sơ và tiến hóa âm thầm, song song với con người nhưng luôn giữ khoảng cách.
“Hãy cho chú biết một điều, Jasper,” Terry nói sau khi chúng tôi rời khỏi nhà hàng. “Tại sao cháu lại đi?”
Tôi nhún vai. Chuyện phức tạp lắm. Tôi không muốn lũ buôn người, những con ma cà rồng khốn nạn ấy, chơi xỏ bố và ném xác ông xuống nước sau khi ở trên biển được nửa giờ. Nhưng đây không chỉ là lòng vị tha bộc phát; nó là một hình thức đánh phủ đầu. Tôi không muốn sự oán giận của bố ám ảnh mình sau khi ông xuống mồ, hoặc những cơn sóng tội lỗi lăn tăn vỗ vào sự bình yên trong tương lai của tôi. Nhưng trên hết, đó sẽ là một chuyến đi đầy cảm xúc: nếu ông có chết, dù ở trên biển hay giữa “những người đồng hương” (kệ mẹ chúng là ai), tôi vẫn muốn tận mắt chứng kiến, mặt đối mặt. Cả cuộc đời mình tôi đã bị người đàn ông này đẩy đi quá những giới hạn chịu đựng, và tôi cảm thấy bị xúc phạm khi nghĩ đến chuyện mình có thể bị lôi kéo quá nhiều vào tấn bi kịch của cuộc đời ông mà lại vắng mặt ở đoạn kết. Bố có thể là kẻ thù tồi tệ nhất của bản thân ông, nhưng ông cũng là kẻ thù tồi tệ nhất của tôi, và tôi sẽ tức ói máu nếu phải nhẫn nại ngồi chờ bên sông, như một câu ngạn ngữ Trung Hoa, để chờ xác ông trôi đến. Tôi muốn nhìn thấy ông chết và chôn cất ông và vỗ đất cho phẳng bằng chính đôi tay mình.
Tôi nói ra điều này với tư cách là một đứa con hiếu thảo.
III.
Đêm cuối cùng của chúng tôi ở Thái Lan, Terry chuẩn bị một bữa tiệc linh đình, nhưng đã sớm bị bố làm hỏng bét vì ông không đến. Chúng tôi tìm khắp nhà, đặc biệt ở các phòng tắm và bồn cầu, bất kì cái lỗ nào mà ông có thể đã rơi xuống, nhưng chẳng thấy bóng dáng ông đâu. Cuối cùng, trên bàn ông, chúng tôi tìm thấy một lời nhắn ngắn gọn: “Jasper và Terry thân mến. Đến nhà chứa rồi. Về sau.”
Terry rất giận khi anh trai cố tránh mặt mình trong đêm cuối cùng ở bên nhau, và tôi không thể thuyết phục được chú ấy rằng mọi kẻ sắp chết đều phải thực hiện một nghi lễ cổ xưa của riêng mình. Kẻ thì nắm tay người thân; người khác lại thích tình dục không an toàn ở thế giới thứ ba.
Trước khi đi ngủ, tôi gói ghém một số thứ cho chuyến đi. Chúng tôi đã đem theo rất ít khi đến Thái Lan, và tôi chuẩn bị thậm chí còn ít hơn thế cho chuyến trở về - một bộ quần áo để thay cho mỗi người, hai cái bàn chải đánh răng, một ống kem đánh răng, và hai lọ thuốc độc được Terry đem đến đưa cho tôi bằng đôi tay run rẩy trong bữa tối. “Của cháu đây, cháu trai,” chú nói, đưa cho tôi những tuýp nhựa nhỏ chứa thứ chất lỏng đục ngầu. “Trong trường hợp con tàu trôi dạt không đích đến hoặc kết cục nằm dưới đáy biển và cháu chỉ có thể chờ đến lúc chết đói hoặc chết chìm, thì đây! Lựa chọn thứ ba!” Chú cam đoan với tôi đấy là loại thuốc độc có tác dụng nhanh và tương đối không đau, dù tôi đắn đo mãi hai chữ “tương đối”, chột dạ khi nghĩ chúng tôi sẽ kêu gào vật vã trong một khoảng thời gian ngắn hơn so với những loại thuốc độc khác trong cửa hàng. Tôi giấu các tuýp nhựa vào một cái túi có dây kéo nằm bên hông túi xách của mình.
Suốt đêm tôi không tài nào chợp mắt. Tôi nghĩ về Caroline và sự bất lực của bản thân mình khi không thể cứu dì. Thật thất vọng khi đầu óc của tôi hóa ra chỉ có thế. Sau tất cả những gì tôi chứng kiến trong đời, tôi cơ hồ đã tin rằng bánh xe của lịch sử cá nhân xoay vòng nhờ suy nghĩ, và do đó lịch sử của tôi rất lầy lội vì suy nghĩ của tôi rất lầy lội. Tôi tưởng tượng rằng mọi thứ mà tôi đã trải nghiệm đến giờ phút này có thể là sự hiện thực hóa những nỗi sợ của tôi (đặc biệt là nỗi sợ của tôi đối với những sợ hãi của bố). Tóm lại, tôi đã có lúc tin rằng nếu tính cách làm nên số phận, và nếu tính cách là tổng hợp các hành động, và các hành động là kết quả của suy nghĩ, thì tính cách, hành động, và số phận của con người phụ thuộc vào những gì người đó nghĩ. Bây giờ thì tôi không chắc lắm.
Một giờ trước bình minh, khi đã đến lúc lên đường để đón tàu, bố vẫn chưa quay về. Tôi tưởng tượng ông hoặc là đã lạc đường ở Bangkok, mệt mỏi vì mất cả đêm để mặc cả với gái điếm, hoặc là đang đắm mình trong bồn tắm đầy bọt xà phòng tại một khách sạn sang trọng, đã đổi ý về chuyến đi mà không báo cho chúng tôi biết.
“Chúng ta làm gì bây giờ?” Terry hỏi.
“Ta đi xuống bến tàu đi. Có thể bố sẽ đến đấy.”
Mất nửa giờ lái xe đến bến tàu, băng qua thành phố chật chội rồi sau đó qua những khu ngoại ô xiêu vẹo trông như một ngôi nhà khổng lồ xếp bằng lá bài vừa đổ nhào. Chúng tôi đỗ xe cạnh một cầu tàu dài. Mặt trời đang nhô lên từ đường chân trời, tỏa sáng qua lớp sương mù. Xa xa phía trên, chúng tôi chỉ có thể nhận ra những đám mây mang hình những cái đầu bị cắt đứt.
“Nó kia rồi,” Terry nói.
Khi tôi trông thấy chiếc tàu đánh cá, cái quan tài tương lai ọp ẹp của chúng tôi, mọi khớp nối trong cơ thể tôi cứng đờ. Đó là một chiếc tàu gỗ tạm bợ, trông như một cổ vật được phục chế sơ sài để kịp đem ra trưng bày. Tôi thầm nghĩ: đây là nơi chúng tôi sẽ bị nhồi nhét như những miếng gan cá thu.
Không lâu sau, những người xin tị nạn, những Kẻ trốn chạy, bắt đầu xuất hiện thành từng nhóm hai, ba người, sợ hãi, ngờ vực. Có đàn ông, đàn bà, và trẻ con. Tôi nhẩm tính trong đầu khi họ chen chúc ở bến tàu - tám... mười hai... mười bảy... hai mươi lăm... ba mươi... Họ đến ngày một đông. Có vẻ như con tàu nhỏ bé này không thể nào chứa hết tất cả chúng tôi. Các bà mẹ ôm chặt những đứa con trai con gái của họ. Bỗng dưng tôi muốn khóc. Bạn không thể giả vờ như không trông thấy tình cảnh một gia đình đánh liều sự sinh tồn của những đứa con để cho chúng một cuộc sống tốt đẹp hơn.
Nhưng họ ở đây! Những Kẻ trốn chạy! Họ ở đây, thể hiện cùng lúc cảm xúc về nỗi tuyệt vọng và niềm hi vọng của con người, ngấm ngầm túm tụm với nhau, xem xét con tàu với thái độ nghi hoặc tột độ. Họ không ngu ngốc. Họ biết họ sắp bước vào một trò chơi tung xu sấp ngửa. Họ nghi ngại con tàu gỉ sét này khó lòng giải thoát được cho họ. Tôi nhìn họ dò xét, tự hỏi: Liệu chúng tôi có phải tính đến giải pháp ăn thịt người trước khi chuyến hải hành kết thúc hay không? Liệu tôi có phải ăn cái đùi của người đàn ông ấy và uống tủy sống của người đàn bà kia với một cái ly nước giã kèm theo không?
Tôi đứng đợi cùng Terry trên cầu tàu. Những kẻ buôn người không biết từ đâu xuất hiện, tất cả đều mặc đồ kaki. Gã thuyền trưởng bước ra khỏi tàu. Đó là một gã đàn ông mảnh khảnh có gương mặt mệt mỏi. Gã đứng đấy chà xát gáy mình liên tục tựa như nó là một cái chai có vị thần bên trong. Gã ra lệnh cho tất cả chúng tôi lên tàu.
“Cháu sẽ không đi nếu bố không đi,” tôi nói với một sự nhẹ nhõm tột độ.
“Đợi đã! Ông ấy kia rồi!”
Mẹ kiếp, đúng thế, ông ấy kia rồi, đang đi xuống bến tàu, lê bước về phía chúng tôi.
Ai đó từng nói rằng ở tuổi năm mươi, mọi người đều mang gương mặt xứng với tuổi. Chà, tôi xin lỗi, nhưng không có ai ở bất kì độ tuổi nào lại mang gương mặt xứng với gương mặt của bố khi ông tiến về phía chúng tôi. Nom như trọng lực đã bị rối loạn và kéo khuôn mặt ông vừa xuống đất vừa lên mặt trăng cùng lúc.
“Nó đấy ư? Con tàu đấy ư? Con tàu chết tiệt đấy ư? Nó có chống thấm không? Trông nó có vẻ lỏng lẻo quá.”
“Đúng là nó đấy.”
“Trông như nó không thể trôi trong không trung.”
“Con đồng ý. Bây giờ đổi ý thì vẫn chưa muộn đâu.”
“Không, không. Chúng ta vẫn đi.”
“Được.” Mẹ kiếp.
Mặt trời đang lên. Trời sắp sáng. Gã thuyền trưởng tiến đến và giục chúng tôi lên tàu lần nữa. Terry đặt một tay lên vai gã và bóp chặt nó như một quả chanh.
“Được rồi. Hãy nhớ những gì tao đã dặn mày: nếu hai người này không đến được Úc trong điều kiện tốt nhất, thì tao sẽ giết mày.”
“Và nếu nó không làm thế,” bố nói, “hồn ma của tao sẽ quay về và đá vào trứng mày.”
“Thỏa thuận vậy đi,” Terry nói. “Mày hiểu chưa?”
Gã thuyền trưởng ngán ngẩm gật đầu. Trông gã có vẻ như đã quen với những lời dọa nạt.
Terry và bố đứng nhìn nhau như hai người chuẩn bị đấu vật. Bố gắng gượng mỉm cười, nhưng khuôn mặt ông không đỡ nổi sự căng thẳng đột ngột. Terry thở phì ra, giống như đang leo cầu thang, và vỗ nhẹ lên cánh tay bố.
“Ái chà. Đây quả là một cuộc đoàn tụ khốn nạn, nhỉ?”
“Tao rất tiếc cái chết đã biến tao thành kẻ thối tha,” bố nói. Trông ông thật lúng túng với lời tạm biệt này, ông đưa tay lên đầu như thể ông đang lo nó sẽ nổ tung. Rồi họ mỉm cười với nhau. Bạn có thể thấy toàn bộ cuộc đời họ qua nụ cười ấy: tuổi thơ của họ, những cuộc phiêu lưu của họ. Nụ cười nói rằng, “Chẳng phải chúng ta đã trở thành hai sinh vật buồn cười và khác nhau sao?”
“Chúc anh có một cái chết nhẹ nhàng êm ái,” Terry nói, “và cố đừng lôi Jasper theo cùng đấy.”
“Nó sẽ ổn thôi,” bố nói, và quay đi khỏi em trai mình, ông bước lên con tàu đang dập dềnh gõ vào cầu tàu.
Terry nắm vai tôi và mỉm cười. Chú rướn về trước, tỏa hương rau mùi và sả, và đặt một nụ hôn lên trán tôi. “Cháu bảo trọng nhé.”
“Chú sẽ làm gì?” tôi hỏi.
“Chú nghĩ chú sẽ đi khỏi Thái Lan. Có thể chuyển đến Kurdistan hoặc Uzebekistan, một nơi nào đấy mà chú không đánh vần được. Chú sẽ cố gắng gầy dựng một liên doanh ở đấy. Toàn bộ chuyện về bố cháu và Caroline đã làm chú nghĩ lại một chút. Chú nghĩ mình cần thực hiện một hành trình lâu dài, trắc trở. Để xem chuyện gì sẽ xảy ra. Chú có cảm giác ngộ nghĩnh là toàn thể thế giới sẽ tan thành khói bụi. Cuộc chiến đã bắt đầu, Jasper ạ. Hãy nhớ lấy lời chú. Những kẻ vô sản đang tập hợp hành động. Và những kẻ tư sản đã có mặt cho một cuộc đua nước rút.”
Tôi đồng ý rằng có vẻ như tình hình đang diễn ra theo hướng đó.
“Chú có định xuất đầu lộ diện và trở về Úc không?”
“Một ngày nào đó chú sẽ trở về và khiến cho tất cả bọn họ sợ chết khiếp.”
“Thôi nào, về nhà thôi,” bố quát to từ trên boong tàu.
Terry nhìn bố và đưa lên một ngón tay để nói chú cần thêm một phút. “Jasper, trước khi cháu đi, chú muốn cho cháu một hai lời khuyên.”
“Được thôi.”
“Quan sát cháu trong mấy tháng qua, chú nhận ra rằng có một điều mà cháu mong muốn tột độ. Cháu muốn không bị giống như bố cháu.”
Tôi đã không giấu giếm chuyện đó, cả với bố.
“Đến lúc này hẳn cháu đã nhận ra rằng nếu cháu suy nghĩ can đảm, cháu sẽ băng qua những con đường đông đúc mà không cần nhìn trước ngó sau, và nếu cháu suy nghĩ tàn bạo, độc ác, cháu sẽ trở thành kẻ giật phăng cái ghế mỗi khi có ai đó định ngồi xuống. Cháu nghĩ thế nào thì thành người như thế ấy. Vì thế nếu cháu không muốn trở thành bố mình, thì đừng huyễn hoặc mình vào một góc như bố cháu - cháu cần phải suy nghĩ theo hướng mở cửa tâm hồn, và cách duy nhất để làm việc đó là cứ vô tư sống mà không biết mình đúng hay sai, hãy chơi trò chơi của đời mình mà không cần phải cố gắng hiểu ra luật lệ. Hãy thôi phán xét cuộc sống, tận hưởng sự phù phiếm, đừng để chuyện giết chóc làm cháu vỡ mộng, hãy nhớ rằng những kẻ nhịn ăn thì sống trong khi những người đói ăn thì chết, hãy phá ra cười khi ảo tưởng của cháu tan tành, và trên hết, hãy luôn trân trọng từng phút từng giây của kì nghỉ ngớ ngẩn ở địa ngục này.”
Tôi không biết phải nói gì. Tôi cám ơn Terry, ôm chú lần cuối, rồi lên tàu.
Khi con tàu ra khơi, qua một tấm màn khói động cơ đen kịt, tôi vẫy tay từ biệt Terry cho đến khi chú khuất khỏi tầm mắt. Tôi nhìn sang bố để xem liệu ông có buồn vì sẽ không bao giờ gặp lại em trai mình, và tôi nhận ra ông đã xoay người theo hướng ngược lại, chăm chú nhìn đường chân trời và nở một nụ cười lạc quan vô duyên hết sức.
IV.
Đại dương mới khủng khiếp làm sao! Hàng tuần liền như thế!
Có vẻ như thuyền trưởng không tài nào khống chế nổi con tàu. Những đợt sóng to đe dọa chúng tôi từ mọi hướng. Chiếc tàu đánh cá bị hất tung thô bạo. Có cảm giác như nó không chỉ bị quăng tới quật lui mà còn quay như chong chóng và lộn nhào, xoay tròn điên cuồng trong không trung.
Phía dưới boong tàu, mọi ô cửa sổ đều bị hàn kín và sơn đen bằng hắc ín. Sàn tàu lót giấy bồi lấm lem đất cát, hành khách nằm ngủ trên những tấm đệm mỏng dính như drap trải giường. Tôi nhớ lại lúc mình mới đến Thái Lan, ai cũng bảo tôi đừng chĩa chân vào đầu người khác. Giờ đây, trong không gian chật chội, mọi người bị nhồi nhét sát vào nhau đến nỗi thành thử bạn phải chĩa chân không chỉ vào đầu người lạ mà còn vào cả mặt của họ, ngày này qua ngày khác. Bố và tôi bị nhét vào một góc chật chội, kẹp giữa những bao gạo to tướng và một gia đình nghiện thuốc lá nặng đến từ miền nam Trung Quốc.
Trong cái chuồng nóng và nhễ nhại đó, lượng khí oxy duy nhất mà chúng tôi hít vào chính là từ những hành khách khác thở ra. Nằm dưới boong tàu chính là bị nhận chìm trong một cơn ác mộng. Sự va chạm của chân tay và những phần thân trên gầy giơ xương thật gây khó chịu, đặc biệt trong cảnh tối tăm ngột ngạt, ở đó những giọng nói - những âm thanh kì dị, lạnh xương sống, khò khè - tạo nên những cuộc trò chuyện xa lạ mà chúng tôi bị cách ly. Nếu phải ra ngoài để hít thở khí trời, thì đấy không phải đi chen qua họ mà là bị xô đẩy không thương tiếc từ đầu này đến đầu kia của thân tàu.
Thỉnh thoảng, bố và tôi ngủ trên boong tàu cứng và có lằn, gối đầu lên những cuộn dây thừng ướt sũng, nặng trịch, dính đầy sình từ đáy biển nay đây mai đó. Ở trên đấy cũng chẳng khá khẩm hơn là bao; ban ngày nóng kinh khủng, trời mưa liên tục, và ai có thể tưởng tượng nổi lũ muỗi lại bay xa đến tận ngoài khơi? Chúng không ngừng gặm nhấm chúng tôi. Chúng tôi không nghe được cả tiếng mình nguyền rủa Thượng đế trong tiếng động cơ tành tạch ầm ĩ, ở đó liên tục phun ra những đám khói đen.
Buổi tối chúng tôi nằm nhìn lên trời, nơi những ngôi sao đang bơi trong nhiều hình dạng, và những hình dạng ấy nom thật đáng sợ bởi tiếng nức nở, gào thét, kêu la trong mê sảng, phần lớn là từ bố.
Các giai đoạn cuối của bệnh ung thư thật chẳng dễ chịu chút nào. Bố bị hoang mang, mê sảng, co giật; ông mắc phải những chứng đau đầu dữ dội, chóng mặt, nói nhịu, choáng váng, buồn nôn, nôn mửa, run rẩy, đổ mồ hôi, đau cơ không chịu nổi, yếu lả người, và ngủ mê man như bị hôn mê. Ông bảo tôi trút vào miệng ông những viên thuốc trong một cái lọ không đọc được nhãn. Đó là thuốc giảm đau, ông nói thế. Như vậy là những dự án bất tử khác nhau của bố đã nhường chỗ cho dự án tử quan trọng hơn của ông: chết trong cảnh ít đau đớn nhất.
Chẳng ai thích có một người mắc bệnh trên tàu. Họ biết hành trình này đòi hỏi sức lực và sự chịu đựng, vả lại, dù bạn có theo tôn giáo nào, thì một người sắp chết cũng đều là điềm gở đối với tôn giáo ấy. Có lẽ vì chuyện này mà những Kẻ trốn chạy lưỡng lự không chia khẩu phần với chúng tôi. Mà không chỉ có vấn đề sức khỏe của bố khiến họ phiền lòng - chúng tôi còn bốc mùi của người lạ. Họ biết chúng tôi là những gã người Úc đã trả một khoản tiền khổng lồ để về quê một cách bất hợp pháp. Họ không thể hiểu nổi chuyện đó.
Một buổi tối khi đang ở trên boong tàu, tôi bị một tiếng quát làm cho tỉnh giấc. “Tại sao mày ở đây?” Tôi mở mắt, nhìn thấy gã thuyền trưởng đang đứng phía trên chúng tôi, hút thuốc phì phèo. Gương mặt gã trông như quyển tiểu thuyết ba xu mà tôi chẳng có sức để đọc. “Tao nghĩ lão sẽ không qua khỏi đâu,” vẫn là giọng nói của gã thuyền trưởng, trong lúc bàn chân gã nhứ nhứ vào bụng bố. “Có lẽ chúng ta nên ném lão đi.”
“Có lẽ tao ném mày đi thì có,” tôi đáp.
Một người trong những Kẻ trốn chạy đứng dậy phía sau tôi và quát lên gì đó với gã thuyền trưởng bằng một ngôn ngữ mà tôi không nhận ra. Gã thuyền trưởng lùi lại. Tôi quay qua nhìn. Kẻ trốn chạy này trạc tuổi tôi, có đôi mắt to và đẹp quá hớp so với khuôn mặt u buồn. Cậu ta có mái tóc xoăn dài và những sợi lông mi dài cong vút. Mọi thứ trên người cậu ta đều cong và dài.
“Họ nói anh là người Úc,” cậu ta nói.
“Đúng vậy.”
“Tôi muốn lấy một cái tên Úc. Anh nghĩ ra một tên giúp tôi được không?”
“Được chứ. Xem nào... Ned.”
“Ned?”
“Ned.”
“Được rồi. Bây giờ tôi là Ned. Anh làm ơn gọi tên mới của tôi để xem tôi có quay sang không nhé?”
“Được.”
Ned nhìn đi chỗ khác và tôi gọi “Shane!” để kiểm tra. Cậu ta không mắc bẫy. Sau đó tôi thử gọi cậu ta là Bob, Henry, Frederick, và Hotpants21, nhưng cậu ta vẫn không chút nao núng. Rồi tôi gọi “Ned!” và cậu ta quay lại, nhe răng cười như điên.
“Cám ơn anh,” cậu ta lịch sự nói. “Tôi hỏi anh một câu được không?”
“Hỏi đi.”
“Tại sao các người lại ở đây? Tất cả chúng tôi đều muốn biết.”
Tôi nhìn sau lưng mình. Những người khác đã chui từ buồng tàu phía dưới lên để gột sạch lá phổi bẩn của họ trong trời đêm. Bố đang vã mồ hôi và sốt bừng bừng, Ned chìa ra một cái giẻ ướt cho tôi xem.
“Cho phép tôi nhé?” cậu ta hỏi tôi.
“Cứ tự nhiên.”
Ned ấn miếng giẻ ướt vào trán bố. Bố bật ra một tiếng thở dài. Những hành khách đi cùng hỏi to gì đó với Ned, và cậu ta trả lời to lại trước khi vẫy họ đến. Họ dịch đến sát hơn, tạo thành đám đông xung quanh chúng tôi, và bắn vào tai chúng tôi những tràng tiếng Anh lõm bõm. Những diễn viên đóng vai phụ xa lạ này, đến vào phút cuối để diễn vai khách mời trong đoạn kết của cuộc đời một con người, muốn được biết.
“Ông tên gì?” Ned hỏi bố.
“Tôi là Martin. Đây là Jasper.”
“Vậy, Martin, tại sao ông lại vào nước Úc theo cách này?” Ned hỏi.
“Họ không muốn tôi đến đó,” bố uể oải đáp.
“Ông đã làm gì?”
“Tôi đã phạm phải những sai lầm tồi tệ.”
“Ông giết ai à?”
“Không.”
“Ông cưỡng hiếp ai à?”
“Không. Không phải như thế. Đó là một... sai sót tài chính.” Ông cau mày. Giá mà bố đã cưỡng hiếp và giết người. Những tội danh ấy ít ra cũng đáng để lấy mạng ông, và có lẽ mạng tôi nữa.
Ned dịch cụm từ “sai sót tài chính” cho những người khác, và cứ như định sẵn, tấm màn mây dày tách ra, để mặt trăng soi sáng sự bối rối trên khuôn mặt họ. Nhìn họ quan sát chúng tôi, tôi tự hỏi liệu họ có manh mối nào, dù là nhỏ nhất, về những gì nên mong đợi ở nước Úc. Tôi cho rằng họ biết họ sẽ sống một cuộc đời chui nhủi, bị bóc lột trong nhà thổ, nhà máy, công trường xây dựng, bếp ăn nhà hàng, và bị ngành công nghiệp thời trang vắt kiệt sức, buộc họ may vá đến lúc những ngón tay chỉ còn giơ xương. Nhưng tôi rất nghi ngờ chuyện họ biết đến sự ganh đua như trẻ mới lớn giữa các nhà lãnh đạo chính trị để xem ai có chính sách nhập cư nghiêm khắc nhất, kiểu chính sách mà bạn sẽ không muốn gặp trong hang cùng ngõ hẻm. Hoặc giả công chúng đã mặc định chống lại họ, vì ngay cả khi bạn chạy trốn để bảo toàn mạng sống, bạn vẫn phải chờ đến lượt, hoặc giả nước Úc, như mọi nơi khác, rất xuất sắc trong việc phân biệt theo cảm tính những người có vẻ quan trọng.
Nếu họ biết chuyện này đi nữa thì cũng chẳng có thời gian để nghĩ ngợi nhiều về nó. Sống sót sau chuyến đi là ưu tiên duy nhất, và đó không phải là một trò dễ xơi. Mọi việc đang xấu dần đi. Nguồn lương thực suy giảm. Gió mưa tàn phá con tàu. Những con sóng cuồn cuộn khổng lồ đe dọa lật úp chúng tôi bất cứ lúc nào. Có những lúc chúng tôi không thể buông tay khỏi lan can tàu nếu không sẽ bị hất văng khỏi tàu. Chúng tôi thấy chẳng tiến gần hơn nước Úc là bao so với khi khởi hành, và ngày càng khó tin rằng đất nước chúng tôi, hay bất kì đất nước nào khác, còn tồn tại. Đại dương ngày một rộng lớn. Nó bao trùm toàn trái đất. Bầu trời cũng rộng lớn hơn - được nâng lên cao hơn, kéo căng đến điểm tận cùng. Con tàu của chúng tôi là vật bé nhỏ nhất trong tạo hóa, còn chúng tôi là những chấm li ti. Sự đói khát nhấn chìm chúng tôi thêm một bậc. Cơn nóng là bộ đồ hóa trang giả béo toàn thân mà tất cả chúng tôi cùng mặc. Nhiều người run cầm cập vì sốt. Chúng tôi phát hiện đất liền một hoặc hai lần, và tôi thét vào màng nhĩ của gã thuyền trưởng, “Chạy về phía đó đi, vì Chúa!”
“Đó không phải là nước Úc.”
“Ai mà quan tâm? Đó là đất liền! Đất khô! Chúng ta sẽ không chết chìm ở đó!”
Con tàu tăng tốc, cắt thành một đường sủi bọt trên đại dương đang sôi sùng sục vì những tư tưởng hằn học.
Thật ngạc nhiên khi con người sắp chết lại có thể điềm tĩnh trong một cái gánh xiếc như vậy. Tôi không bao giờ tin nổi. Tôi cứ nghĩ chúng tôi sẽ xé thịt nhau, uống máu những người anh em của mình, nhưng sự thể hoàn toàn không giống thế một chút nào. Mọi người quá mệt mỏi. Phải, có tiếng khóc và khá nhiều nỗi bất mãn cay đắng, nhưng đó là nỗi bất mãn cay đắng lặng lẽ và u buồn. Chúng tôi là những sinh vật nhỏ bé, teo tóp, quá yếu ớt để có thể phản đối nghiêm túc bất kể bằng cách nào.
Phần lớn thời gian bố nằm bất động trên boong tàu, trông như một món đồ chơi nhồi bông đáng sợ để tặng cho một đứa bé trong lễ Halloween.
Tôi vỗ nhẹ lên trán ông, nhưng ông chỉ thu đủ sức để hất tôi ra.
“Bố sắp chết rồi,” ông cay đắng nói.
“Đợi thêm vài ngày nữa thì con cũng chết luôn,” tôi nói, để làm ông vui lên.
“Bố xin lỗi về chuyện đó. Bố đã bảo con đừng đi,” ông nói, biết rõ rằng ông đã không hề nói thế.
Bố đang cố gắng tỏ vẻ ăn năn hối lỗi vì đã ích kỉ định sắp xếp số phận của tôi theo hướng số phận của ông. Nhưng tôi biết nhiều hơn thế. Tôi biết một điều mà ông sẽ không bao giờ thừa nhận - đó là ông chưa bao giờ từ bỏ hẳn ảo tưởng cũ kĩ, bệnh hoạn của ông rằng tôi là sự đầu thai non của bản thân còn sống của ông - và giờ đây ông nghĩ rằng nếu tôi chết, thì ông có thể sẽ sống tiếp.
“Jasper, bố sắp chết rồi,” ông lại nói.
“Chúa ơi, bố à! Nhìn quanh mà xem! Mọi người ở đây đều sắp chết cả! Tất cả chúng ta đều sẽ chết!”
Điều đó khiến ông nóng máu. Ông phát điên vì cái chết của ông không được xem như một sự cố bi thương biệt lập. Phải chết giữa những kẻ đang hấp hối, như một con số, quả thật là chuyện chướng tai gai mắt đối với ông. Tuy nhiên, phần lớn chính vì lời cầu nguyện trời phật không dứt mà bố nổi đóa. “Bố ước gì lũ ngốc này câm miệng đi cho,” bố nói.
“Những người này là người tốt, bố ạ. Chúng ta nên lấy làm hãnh diện được chết chìm cùng với họ.”
Nhảm nhí. Tôi đang nói toàn chuyện nhảm nhí. Nhưng bố đã quyết tâm rời bỏ dương thế trong sự thù hằn, và tôi chẳng thể làm gì để thuyết phục ông đổi ý. Ngay cả khi cuộc đời ông đã được đóng gói và tấm hộ chiếu cuộc đời được đóng dấu, ông vẫn khước từ thế giới tín ngưỡng đến lần thứ bao nhiêu không biết.
Chúng tôi là những kẻ duy nhất không cầu nguyện, và sự thực chứng của những Kẻ trốn chạy quả thật khiến bố và tôi cảm thấy xấu hổ. Họ vẫn có cảm giác rằng những điều đáng yêu đang khuấy động trong không gian. Họ lâng lâng trong chuyến tháo chạy ngây ngất, hạnh phúc vì thần thánh của họ không phải là loại thần thánh tinh thần, chả giúp được gì cho ta trong cơn nguy khốn có thật như một vụ đắm tàu chẳng hạn; thần thánh của họ rất cổ điển, loại thần thánh hướng toàn thể tạo hóa vào khát vọng của cá nhân. Thật quý hóa làm sao! Thần thánh của họ thực sự lắng nghe con người, và đôi khi can thiệp nữa. Thần thánh của họ phù hộ độ trì cho những nguyện vọng cá nhân! Đó là Người mà bạn biết là ai đấy! Vì lẽ đó mà trong trải nghiệm riêng của mình, họ không hề biết đến nỗi khủng hoảng lạnh lẽo của chúng tôi: chúng tôi không hình dung ra được ngón cái và ngón trỏ khổng lồ nào mò xuống từ thiên đường để nhặt chúng tôi ra khỏi cơn khốn khó.
Tôi chăm sóc cho bố trong trạng thái giống như bị thôi miên. Trong bóng tối ông đưa ra vô vàn sáng kiến về cuộc sống và cách sống. Tuy nhiên, chúng có phần rối rắm và tầm thường hơn cả những lời chỉ trích thường ngày của ông, và tôi nhận ra rằng khi bạn suy sụp, thứ duy nhất bạn phải nắm chặt là chính bạn. Khi ông nói, tôi giả vờ lắng nghe. Nếu ông muốn ngủ, tôi cũng ngủ cùng. Khi bố rên rỉ, tôi cho ông uống thuốc giảm đau. Chẳng còn gì khác để làm. Ông đang đau đớn, đôi mắt xa xăm của ông trở nên xa xăm hơn bao giờ hết. Tôi biết ông đang nghĩ đến Caroline. “Martin Dean - hắn quả thật đã là một thằng ngốc!” ông nói. Ông cảm thấy được an ủi khi nói về bản thân mình ở ngôi thứ ba trong thì quá khứ.
Thỉnh thoảng Ned cho tôi nghỉ ngơi. Cậu ta thay tôi cho bố uống nước và nhận nhiệm vụ vờ lắng nghe màn độc thoại đều đều không dứt của ông. Những lúc đó tôi bò qua thân người nửa tỉnh nửa mê của những kẻ đồng hành để lên boong tàu hít thở chút khí trời. Phía trên tôi bầu trời mở ra như một cái sọ bị nứt. Những ngôi sao đang lấp lánh như những hạt mồ hôi. Tôi tỉnh táo, nhưng những giác quan của tôi đang mơ ngủ. Mồ hôi của tôi có vị xoài, rồi chocolate, rồi quả bơ. Đây là một thảm họa! Bố chết quá chậm và chịu quá nhiều đau đớn. Tại sao ông không tự vẫn cho rồi? Tại sao những kẻ vô thần tuyệt đối lại chịu đựng quá nhiều khổ sở không đáng như vậy? Ông đang đợi điều gì?
Đột nhiên tôi nhớ ra. Thuốc độc!
Tôi chạy xuống và leo qua tấm đệm người rồi sốt sắng thì thầm vào tai ông. “Bố có muốn thuốc độc không?”
Bố ngồi dậy nhìn tôi với đôi mắt sáng rực. Cái chết có thể được kiểm soát, đôi mắt ấy nói. Sức lực sinh tồn của chúng tôi phần nào được nạp nhiên liệu, nhờ có thuốc độc.
“Sáng mai vào lúc bình minh,” ông nói. “Chúng ta sẽ cùng nhau làm việc đó.”
“Bố - con sẽ không uống thuốc độc đâu.”
“Không, đương nhiên là không. Ý bố không phải là con sẽ uống nó. Ý bố là bố sẽ uống còn con sẽ nhìn.”
Tội nghiệp bố. Ông luôn ghét sự cô đơn, và giờ đây ông đang đối mặt với hình thái cô đơn sâu sắc nhất, tập trung nhất trên cõi đời này.
Nhưng vào lúc bình minh trời đổ mưa, và ông không muốn tự tử trong mưa.
Khi mưa tạnh, trời lại quá nóng không thể chấm dứt sự sống.
Vào ban đêm bố lại muốn trút hơi thở cuối cùng trong ánh nắng ấm áp của mặt trời.
Nói tóm lại, ông chưa bao giờ sẵn sàng. Ông không ngừng do dự. Ông luôn tìm ra được cớ mới để thoái thác: mưa nhiều quá, mây nhiều quá, nắng quá, sóng to quá, sớm quá, muộn quá.
Hai hoặc ba ngày khổ sở đã trôi qua như thế.
***
Cuối cùng nó xảy ra ngay sau hoàng hôn vào khoảng tuần thứ hai hoặc thứ ba trên biển. Một cơn sóng bọt trắng xóa ập vào dưới boong tàu. Chúng tôi bị nhấn chìm một nửa. Tiếng kêu rít chẳng giúp được gì. Khi đại dương lặng sóng, bố ngồi dậy trong bóng tối. Ông bỗng dưng không thở được. Tôi cho ông uống ít nước.
“Jasper, bố nghĩ đã đến lúc.”
“Làm sao bố biết?”
“Bố chỉ biết thế thôi. Bố luôn nghi ngờ kiểu của mấy người trong phim biết rằng đã đến lúc ra đi, nhưng đúng là thế. Thần chết biết gõ cửa. Hắn thực sự gõ cửa.”
“Con có thể làm được gì không?”
“Đưa bố lên trên, đợi đến khi bố chết, rồi đẩy bố xuống biển.”
“Con tưởng bố không muốn bị chôn dưới nước.”
“Bố nào muốn. Nhưng lũ khốn này đã nhìn bố như thể bố là một miếng thịt cừu to tướng.”
“Ung thư không hẳn đã làm bố trông ngon miệng đâu.”
“Đừng cãi bố. Khi bố chết rồi, bố không muốn trải qua một phút nào trên con tàu này nữa.”
“Con hiểu rồi.”
Những Kẻ trốn chạy không rời mắt khỏi chúng tôi. Họ nói với nhau bằng giọng thì thầm bí ẩn khi Ned giúp tôi đưa bố ra khỏi đó.
Lên đến boong tàu ông thở dễ hơn. Không khí Thái Bình Dương có vẻ làm ông khá hơn đôi chút. Chuyển động mênh mông của đại dương xoa dịu ông. À, ít nhất thì tôi cũng muốn nghĩ như thế. Đây là những khoảnh khắc cuối cùng của ông, và tôi muốn nghĩ rằng vào phút cuối ông đã thôi không còn thấy sự vô nghĩa vũ trụ của ông là điều nhục nhã, rằng cuối cùng ông đã cảm thấy có gì đó bất thường khi sống không ý nghĩa, rằng dù sao cũng thú vị khi đó là một tai nạn tại miền đất hoang đáng sợ của không-thời-gian. Tôi hi vọng rằng, khi đưa mắt nhìn màn trình diễn tuyệt diệu của đại dương trong màu xanh dâng tràn và đối mặt với cơn gió biển cuồng nộ, biết đâu ông đã thấu hiểu rằng màn trình diễn trên sân khấu vũ trụ là một vở kịch vĩ đại hơn mà ông khó lòng mơ tưởng được giao một vai chính. Nhưng không, ông không thèm nhìn lại sự tồn tại của mình - ông không mảy may đùa cợt về nó cho đến phút chót. Ông tiến về cái chết của mình như một người tử vì đạo tiến về lý tưởng bí mật của y, không muốn hạ nhục bản thân mình.
Tôi ghi chép lại phút cuối của ông trong trạng thái buồn bã của một người viết tiểu sử quá thân cận với chủ thể của mình.
Màn đêm tĩnh mịch, chỉ có tiếng kẽo kẹt của con tàu và tiếng nước vỗ nhè nhẹ. Mặt trăng treo sáng ngời trên đường chân trời. Chúng tôi đang tiến thẳng về phía nó. Thuyền trưởng đang xoay bánh lái hướng chúng tôi tiến vào mặt trăng. Tôi tưởng tượng một cánh cửa hầm mở ra. Tôi tưởng tượng chúng tôi trôi lững lờ bên trong. Tôi tưởng tượng cánh cửa đóng sầm lại sau lưng chúng tôi và âm thanh của tiếng cười điên dại. Tôi tưởng tượng ra những thứ này để làm bản thân quên đi cái chết của bố.
“Nhìn đi, ông Martin, nhìn mặt trăng xem,” Ned nói. “Nhìn xem nó được vẽ lên trời như thế nào. Thượng đế quả thật là một nghệ sĩ.”
Điều đó đem đến cho bố một cơn bùng phát năng lượng. “Tôi hi vọng không phải thế, vì sinh mạng của tất cả chúng ta,” ông đáp. “Thú thật, Ned ạ, cậu có bao giờ gặp một nghệ sĩ chưa? Họ chẳng phải người tử tế đâu. Họ là giống người ích kỉ, ngạo mạn, và độc ác, suốt ngày chỉ biết đắm chìm trong cơn trầm cảm tự sát. Kể cho cậu ta nghe đi, Jasper.”
Tôi thở dài, thuộc bài diễn văn này nằm lòng. “Nghệ sĩ là loại người lừa dối nhân tình, từ bỏ những đứa con hợp pháp của họ, và khiến những kẻ xui xẻo quen biết họ phải chịu đựng khủng khiếp vì cố gắng thể hiện lòng tốt với họ,” tôi nói.
Bố ngẩng đầu lên để nói thêm, “Vậy mà cậu tự hào gọi Thượng đế là nghệ sĩ và hi vọng ông ta quan tâm đến cậu ư? Chúc cậu may mắn!”
“Ông thiếu niềm tin.”
“Cậu có bao giờ tự hỏi tại sao Thượng đế của cậu lại đòi hỏi niềm tin? Có phải vì thiên đường chỉ có số chỗ ngồi hạn chế và sự cần thiết của đức tin là cách mà Thượng đế hạn chế số lượng?”
Ned nhìn ông vẻ thương hại, lắc đầu và không nói gì.
“Bố, thôi chuyện đó đi.”
Tôi cho ông uống vài viên thuốc giảm đau nữa. Sau khi nuốt, ông há mồm và bất tỉnh. Mười phút sau ông bắt đầu nói lảm nhảm điên loạn.
“Hàng trăm...hàng triệu...tín đồ Cơ đốc giáo chảy nước dãi...thiên đường là một khách sạn hào nhoáng mà...sẽ không va phải người Hồi giáo và Do Thái ở máy lấy đá...người Hồi giáo và Do Thái...không tốt hơn...không nhúc nhích...người hiện đại...răng tốt...tập trung không được lâu...ngỡ là...sự náo loạn của cảm giác xa lánh...không có thế giới quan về tôn giáo...loạn thần kinh chức năng...bệnh điên...không đúng...luôn là tôn giáo giữa các sinh vật...kẻ...chết.”
“Hãy để dành sức,” Ned nói. Cậu ta có thể nói “Im đi” và tôi sẽ không phiền lòng vì chuyện đó.
Đầu bố lại ngả xuống đùi tôi. Ông chỉ còn lại không quá vài chục phút, vậy mà ông vẫn không tin điều đó.
“Chuyện này thật khó tin,” ông nói, và hít một hơi sâu. Nhìn mặt ông tôi có thể biết rằng thuốc giảm đau đang phát huy tác dụng.
“Con biết.”
“Nhưng đúng là vậy! Chết! Cái chết của bố!”
Ông chìm vào giấc ngủ trong vài phút, rồi mắt ông vụt mở với một ánh nhìn trống rỗng trong đó, hờ hững như ánh nhìn của một viên quan chức. Tôi nghĩ ông đang cố thuyết phục bản thân rằng ngày ông chết không phải là ngày tồi tệ nhất cuộc đời ông mà chỉ là một ngày như mọi ngày. Dù vậy, ông không thể cố lâu hơn, và rên rỉ một lần nữa qua hàm răng nghiến chặt.
“Jasper.”
“Con đây.”
“Chekhov tin rằng con người sẽ trở nên tốt đẹp hơn nếu con cho anh ta thấy anh ta là người thế nào. Bố không nghĩ rằng điều đó lại đúng. Nó chỉ khiến anh ta buồn hơn và cô đơn hơn.”
“Nghe này, bố - đừng để bị áp lực phải thốt ra những lời trăng trối sâu sắc. Bố hãy thoải mái đi.”
“Bố đã nói nhiều câu ngớ ngẩn trong đời mình phải không?”
“Cũng không hẳn tất cả đều ngớ ngẩn.”
Bố thở khò khè trong khi hai con mắt đảo tròn trong đầu ông tựa như chúng đang tìm kiếm cái gì đó trong góc hộp sọ.
“Jasper,” ông thều thào, “bố phải thừa nhận một chuyện.”
“Chuyện gì?”
“Bố đã nghe được con,” ông đáp.
“Bố nghe được gì?”
“Trong rừng. Khi bọn họ đến. Bố nghe tiếng con cảnh báo bố.”
“Bố nghe được con à?” tôi thét lên. Tôi không thể tin nổi. “Bố nghe thấy ư? Sao bố không làm gì? Bố đã có thể cứu dì Caroline!”
“Bố không tin đó là thật.”
Chúng tôi không nói gì một lúc lâu. Cả hai im lặng nhìn những làn nước nhấp nhô trên biển.
Rồi cơn đau tái phát. Ông gào lên đau đớn. Tôi cảm thấy sợ. Rồi nỗi sợ biến thành cơn hoảng loạn. Tôi nghĩ: Đừng chết. Đừng bỏ con. Đừng bỏ chúng ta. Bố đang phá vỡ một quan hệ đối tác đấy. Bố không thấy sao? Làm ơn, bố ơi. Con hoàn toàn phụ thuộc vào bố, ngay cả khi làm kẻ đối lập của bố, đặc biệt khi làm kẻ đối lập của bố - vì nếu bố chết đi rồi thì con sẽ thành cái gì đây? Phần đối lập của không gì cả có phải là tất cả không? Hay là không là gì cả?
Và tôi cũng không muốn nổi giận với một hồn ma. Cơn giận đó sẽ không bao giờ chấm dứt.
“Bố, con tha lỗi cho bố.”
“Về chuyện gì?”
“Về tất cả.”
“Tất cả cái gì? Bố đã làm gì không phải với con?”
Người đàn ông cáu bẳn này là ai? “Việc đấy không quan trọng.”
“Thôi được.”
“Bố, con yêu bố.”
“Bố cũng yêu con.”
Đấy. Chúng tôi đã nói ra điều đó. Tốt.
Mà có thể không tốt lắm - lạ thay, thật thất vọng. Chúng tôi vừa mới nói “Con yêu bố” và “Bố yêu con.” Bố và con trai, vào phút lâm chung của bố, lại nói chúng tôi yêu thương nhau. Tại sao chuyện đó không tốt? Đây là lý do: bởi vì tôi biết một điều mà không ai từng biết hoặc sẽ biết - ông mới kì lạ và tuyệt vời làm sao. Và đó là điều mà tôi thực lòng muốn nói.
“Bố.”
“Lẽ ra bố nên tự tử,” ông nói giữa hai hàm răng nghiến chặt; rồi ông lặp lại câu đó, tựa như nó là câu thần chú của riêng ông. Ông sẽ không bao giờ tha thứ bản thân mình vì đã không tự vẫn. Theo suy nghĩ của tôi, việc đó là hợp lẽ. Tôi nghĩ tất cả mọi người vào phút lâm chung không nên tha thứ cho bản thân họ vì đã không tự sát, dù chỉ một ngày trước khi chết. Để bản thân mình bị sát hại bởi bàn tay của Tạo hóa chính là sự lãnh đạm có thật duy nhất trên cõi đời này.
Cái chết thật của bố diễn ra rất nhanh - thậm chí rất đột ngột. Cơ thể ông khẽ run lên, rồi co giật hốt hoảng, ông thở hổn hển, hàm răng cắn chặt giống như muốn cắn cái chết, ánh sáng trong mắt ông lóe lên rồi tắt ngóm.
Thế là hết.
Bố chết rồi.
Bố chết rồi!
Không thể tin nổi!
Và tôi chưa bao giờ nói tôi quý ông. Tại sao tôi lại không nói ra? Con yêu bố - quá đơn giản. Nói “Con yêu bố” khó lắm sao? Nó là lời bài hát cơ mà. Bố biết tôi yêu ông. Ông không hề biết tôi quý ông. Thậm chí tôn trọng ông nữa.
Nước bọt chưa nuốt đọng lại trên môi bố. Đôi mắt ông, vô tri vô giác, vẫn cố tỏ ra vẻ bất mãn. Khuôn mặt ông, bị cái chết làm biến dạng, nguyền rủa toàn thể nhân loại với cái miệng xoắn lại. Thật khó tin rằng cơn náo động dai dẳng, nhục nhã trong đầu ông đã kết thúc.
Vài Kẻ trốn chạy tiến đến để giúp tôi ném ông khỏi tàu.
“Đừng đụng vào ông ấy!” tôi gào lên.
Tôi quyết tâm tự tay mình tiến hành lễ thủy táng, không cần trợ giúp. Đó là một ý nghĩ vô dụng, nhưng tôi lì lợm cố làm cho được. Tôi quỳ xuống cạnh xác ông, khuỳnh cánh tay luồn dưới người ông. Ông trở nên gân guốc trên đôi tay tôi. Tứ chi dài thượt, đung đưa của ông lắc lư qua vai tôi. Sóng biển cuồn cuộn dâng lên, tựa như đang liếm môi. Tất cả những khuôn mặt phục tùng, chùng xuống của những Kẻ trốn chạy nhìn theo kính cẩn. Buổi lễ không lời dựng họ dậy từ cái chết uể oải của họ.
Tôi đưa vai ra, hất thi thể bố qua mạn tàu và mai táng ông trong tiếng gầm gào của sóng biển. Ông nhấp nhô trên mặt nước, trồi lên sụt xuống như một củ cà rốt bị ném vào nồi nước hầm đang sôi. Rồi ông chìm xuống, như thể bị đôi tay vô hình túm lấy, và hối hả lên đường để chào đón ông trong những góc khuất kì lạ của biển khơi.
Thế là hết.
Vĩnh biệt, bố. Mong là bố biết con đã cảm thấy thế nào.
Ned đặt tay lên vai tôi. “Ông ấy đã về với Thượng đế rồi.”
“Đó thật là một điều kinh khủng.”
“Bố cậu không bao giờ hiểu cảm giác trở thành một phần của một cái gì đó lớn hơn bản thân mình là như thế nào.”
Điều đó khiến tôi phát cáu. Người ta luôn nói, “Thật tốt được làm một phần của cái gì đó lớn hơn bản thân bạn,” nhưng bạn vốn dĩ đã là thế. Bạn đã là một phần của một thứ lớn lao. Toàn thể nhân loại. Nó rất vĩ đại. Nhưng bạn không thấy được nó, vì thế bạn chọn, cái gì nhỉ? Một tổ chức? Một nền văn hóa? Một tôn giáo? Thứ đó không to lớn hơn bạn. Nó nhỏ, nhỏ hơn rất nhiều!
***
Mặt trăng và mặt trời vừa bắt đầu chia nhau bầu trời thì con tàu tiến đến đường bờ biển. Tôi đưa mắt nhìn Ned và quơ hai tay đầy phấn khích, chỉ vào vùng đất rừng rậm bao quanh vịnh biển. Ned nhìn tôi ngơ ngác, không hiểu rằng tôi vừa đột ngột bị một cảm giác khó chịu xâm lấn, đó là khi tôi nhận ra tôi sẽ là chủ nhà đón tiếp cậu ta, và, suýt nữa thì khóc thét vì hãnh diện, muốn dẫn cậu ta đi xem chỗ này chỗ nọ.
Gã thuyền trưởng bước ra từ bóng tối và bảo mọi người đi xuống khoang tàu. Trước khi tôi biến mất, tôi dừng lại tại bậc thang đầu tiên. Có những bóng người trên đường bờ biển. Họ đứng bất động thành từng nhóm ven biển, những bóng người lèn chặt như những cây cột đóng xuống cát ẩm. Ned đến lan can tàu với tôi và nắm cánh tay tôi.
“Chắc họ là ngư dân,” tôi nói.
Chúng tôi lặng lẽ nhìn. Những bức tượng người ngày một lớn dần. Họ có quá nhiều người, không thể là ngư dân được. Họ cũng có cả đèn pha, và đang rọi đèn thẳng vào mặt chúng tôi. Con tàu đã đến được đất liền, nhưng chúng tôi thì đã chìm.
V.
Cảnh sát liên bang và lính tuần tra bờ biển đứng đầy trên bãi biển. Họ chẳng mất nhiều thời gian để bao vây chúng tôi. Lính tuần tra bờ biển đi khệnh khạng và quát vào nhau như những ngư dân đánh cá hồi vô tình vớ được một con cá nhà táng. Sự lố lăng của họ khiến tôi phát ốm, và tôi biết những người đi cùng tôi sắp rơi vào một cơn ác mộng nhũng nhiễu mà họ có thể không đời nào tỉnh lại nổi. Nghèo túng và là người nước ngoài và phi pháp và trông chờ vào lòng nhân từ của một dân tộc người phương Tây giàu có đồng nghĩa với việc đứng trên một thế rất bấp bênh.
Giờ thì bố đã ra đi vĩnh viễn, không còn ở đó để biến cuộc đời tôi thành địa ngục sống, tôi tự động đảm trách vai trò ấy. Hệt như tôi đã luôn lo sợ và như Eddie đã dự báo, khi bố chết đi, giờ đây việc đối xử bạc bẽo với tương lai mình phụ thuộc cả vào tôi. Đó là lý do vì sao, trên bờ biển ấy vào lúc bình minh, tôi đã làm một chuyện hoàn toàn ngược đời.
Tôi có rất nhiều dịp để lên tiếng, để giải thích rằng tôi là một người Úc và có toàn quyền tự do ra đi. Lẽ ra tôi nên tách bạch mình khỏi những Kẻ trốn chạy. Ý tôi là, chẳng có luật nào cấm một người Úc trở về nước Úc trên một con tàu thủng lỗ. Về lý thuyết, tôi có thể trở về từ họng một cây súng cao su khổng lồ ở châu Á nếu nó bắn tới, nhưng vì lý do nào đó tôi đã lựa chọn im lặng. Tôi chỉ đơn giản là ngậm miệng và để cho mình bị bao vây cùng những người khác.
Nhưng làm sao mà họ lại nhầm tôi thành một Kẻ trốn chạy? Mái tóc đen và làn da ô liu di truyền trong gien của bố tôi đã phối hợp tuyệt vời với sự bất lực của những gã người Úc đồng hương để loại bỏ ý tưởng rằng bố con chúng tôi quá ư Anglo-Saxon. Mọi người đều cho rằng tôi đến từ Afghanistan, Libăng, hoặc Iraq, và chẳng ai buồn hỏi xem tôi là người nước nào. Vậy là chúng tôi bị dẫn đi.
***
Và tôi đã đến cái nhà tù kì lạ bao bọc bằng một dải sa mạc tưởng chừng vô tận ở khắp mọi phía như thế đấy. Họ gọi nó là trại tạm giam, nhưng thử bảo một tên tù nhân rằng y chỉ là một kẻ bị tạm giam xem y có cảm thấy được an ủi vì sự khác biệt ấy hay không.
Họ gặp khó khi phải phân loại tôi, mà tôi lại không chịu nói chuyện với họ. Họ chỉ muốn trục xuất tôi từ ngày đầu tiên cho khuất mắt, nhưng lại không biết trục xuất đi đâu. Nhiều người thông dịch khác nhau đã thúc giục tôi bằng nhiều thứ tiếng khác nhau. Tôi là ai, và tại sao tôi không chịu nói với họ? Họ đoán hết quốc gia này đến quốc gia khác, chỉ trừ một quốc gia - không ai đoán rằng điểm khởi đầu và đích đến của tôi chỉ là một.
Trong nhiều tuần lễ, khi tôi không phải ngồi trong lớp học tiếng Anh giả vờ đánh vật với bảng chữ cái, tôi lại viết câu chuyện của mình, trên những trang giấy ăn cắp từ lớp học. Thoạt đầu tôi khom lưng viết trên sàn sau cửa phòng giam, nhưng tôi nhanh chóng nhận ra rằng giữa những đợt tuyệt thực và tìm cách tự tử và những cuộc bạo loạn lặp đi lặp lại, tôi ít khi bị để ý. Họ tưởng tôi bị trầm cảm; bạn được phép, nếu không muốn nói là được khuyến khích, quậy phá trong phòng giam của mình. Theo những gì mà tôi được biết, tôi chỉ là một câu đố âu sầu, thừa thãi không được giải đáp.
Khi Ned nhận được tấm thị thực bảo hộ tạm thời[66] đáng mơ ước, cậu ta không ngừng giục tôi thừa nhận quốc tịch của mình. Ngày ra trại, cậu ta van nài tôi đi cùng. Và tại sao tôi lại không đi? Tôi đang làm gì trong cái chốn đáng ghét này? Có lẽ tôi chỉ ảo tưởng - bạn không bao giờ biết khi nào một người tự cắt cổ mình, hoặc nuốt xà phòng hoặc sỏi vào bụng. Và có ba vụ bạo động dữ dội trong thời gian tôi ở trong trại; một cơn kịch phát khiến những Kẻ trốn chạy cố làm những điều không thể như giật sập hàng rào, trước khi họ bị túm lấy lôi đi bằng những đôi tay rắn chắc của lính canh. Sau khi cơn bạo động cuối cùng lắng dịu, ban quản lý xây những bức tường vững chắc hơn và một hàng rào điện thế cao hơn. Tôi nhớ đến điều chú Terry nói, rằng những kẻ vô sản đang hợp sức hành động. Tôi ước gì họ ra tay nhanh lên.
Thỉnh thoảng tôi lại thuyết phục mình rằng tôi ở trong nhà tù này như một sự phản kháng tột độ trước chính sách của chính phủ, nhưng tôi biết đấy chỉ là lý do lý trấu. Sự thật là, việc bố không còn tồn tại khiến tôi khiếp sợ. Đây là sự cô độc cần phải có thời gian để thích nghi. Tôi đang ẩn nấp trong đó, né tránh đối mặt với bước tiếp theo. Tôi biết ở lại là ngoan cố, lì lợm, và hèn hạ. Song, tôi vẫn không thể đi.
Như thường lệ, Thượng đế xuất hiện trong nhiều cuộc trò chuyện. Với lính canh, những Kẻ trốn chạy đưa ra vô vàn lời tuyên bố: “Thượng đế thật vĩ đại!,” “Thượng đế sẽ trừng phạt các người,” và “Hãy đợi đến khi Thượng đế nghe thấy điều này.” Phát ốm vì sự đối xử của những Kẻ trốn chạy ở đây và ở quê nhà họ, cộng thêm nỗi kinh sợ về lòng nhân từ ảm đạm trên thế gian, một đêm nọ tôi nói với vị Thượng đế này của họ. Tôi nói, “Này! Tại sao ông không bao giờ nói, ‘Nếu có thêm một người nữa chịu đựng dưới tay của một kẻ khác, mọi chuyện sẽ kết thúc. Ta sẽ chấm dứt nó.’ Tại sao ông không bao giờ nói, ‘Nếu có thêm một người nữa khóc trong đau đớn vì một kẻ khác đang đứng trên đầu trên cổ anh ta, ta sẽ ra tay.’ Tôi ước gì ông nói thế, và thực tâm muốn thế. Cơ chế quá tam ba bận thực sự là thứ mà nhân loại cần để tập hợp lực lượng. Đã đến lúc vùng lên, hỡi Thượng đế. Không còn những giải pháp nửa vời nữa. Không còn những trận lũ lụt mơ hồ và những trận lở bùn không rõ ràng nữa. Không còn chịu đựng nữa. Ba bận. Chúng tôi hành động đây.”
Tôi nói tất cả những điều này với Thượng đế, nhưng có quá nhiều sự im lặng sau đó, một sự im lặng lạnh lùng có vẻ như đã chẹt lấy cổ họng tôi, và tôi nghe bản thân mình bỗng dưng thì thầm, “Đến lúc rồi.” Đủ là đủ. Chuyện xảy ra tại lớp tiếng Anh, trong một căn phòng nhỏ, sáng trưng với một dãy bàn dài xếp thành hình chữ U. Thầy giáo Wayne, đang đứng trước bảng đen hướng dẫn lớp học sử dụng mệnh đề câu. Những học viên đang im lặng, dù không hẳn là kính cẩn; đó là sự im lặng dữ dội của một nhóm người không biết rõ mình đang được dạy cái gì.
Tôi đứng dậy. Thầy Wayne nhìn tôi như thể chuẩn bị tư thế tháo thắt lưng ra và dùng nó đánh tôi. Tôi nói, “Tại sao thầy lại bận tâm dạy chúng tôi về mệnh đề câu? Chúng tôi sẽ không cần chúng đâu.”
Khuôn mặt ông ta tái nhợt, và ông ta ngả đầu ra sau tựa như tôi vừa cao thêm một mét. “Anh nói tiếng Anh,” ông ta ngờ nghệch nói.
“Đừng nghĩ đấy là bằng chứng cho năng lực giảng dạy của ông,” tôi nói.
“Anh nói giọng Úc,” ông ta đáp.
“Phải đấy, ông bạn, tôi nói giọng Úc đấy. Giờ thì hãy bảo đám chó chết ấy vào đây. Tôi có việc cần nói với bọn chúng.”
Mắt Wayne mở to; rồi ông ta lao bắn ra khỏi phòng như con cọp trong truyện tranh. Con người phản ứng như trẻ con khi bị bất ngờ, và những kẻ khốn cũng không ngoại lệ.
Mười phút sau bọn họ chạy vào, hai lính canh mặc quần ôm sát. Bọn họ cũng lộ vẻ ngạc nhiên, nhưng sự ngạc nhiên ấy đã bắt đầu tan biến.
“Nghe nói mày đã chịu mở miệng,” một gã nói.
“Nói nghe xem nào,” gã kia ra lệnh.
“Tên tao là Jasper Dean. Bố tao là Martin Dean. Chú tao là Terry Dean.”
Nét mặt ngạc nhiên của bọn họ tươi tỉnh trở lại. Bọn họ lôi tôi đi, dọc theo những dãy hành lang dài xám xịt vào một căn phòng trống trải có duy nhất một cái ghế. Nó dành cho tôi, hay là tôi sẽ bị buộc phải đứng trong lúc một tay thẩm tra khảo hạch tôi với hai chân nhấc lên trời?
Tôi sẽ không kể chi tiết bảy ngày lấy khẩu cung đó. Tất cả những gì tôi sẽ kể với bạn là tôi đã giống như một diễn viên lỡ kí hợp đồng diễn một vở kịch dở tệ trong một thời gian dài. Tôi nói đi nói lại nói tới nói lui những lời thoại của mình. Tôi kể cho họ toàn bộ câu chuyện, dù đã loại ra tất cả những chi tiết nhắc đến việc chú Terry còn sống. Làm cho chú ấy sống lại sẽ chẳng đem đến ích lợi gì cho tôi. Chính quyền dựa rất nhiều vào tôi để khai thác về hành tung của bố. Họ cũng có đối trọng: tôi đã phạm hai tội, xuất cảnh bằng hộ chiếu giả và thông đồng với tội phạm, dù việc thứ hai không hẳn là một tội mà chỉ là một thói quen xấu, cho nên họ xí xóa nó. Tôi bị lấy cung bởi những nhóm thanh tra, và những đặc vụ từ ASIO, cơ quan tình báo chẳng mấy ấn tượng của chúng tôi, cơ quan mà người Úc biết rất ít vì chưa bao giờ là chủ đề của phim ảnh hay chương trình truyền hình. Trong nhiều ngày tôi phải chịu đựng những trò cũ mèm nằm trong tiết mục của họ: việc thẩm vấn ngắt quãng, thông lệ cớm tốt/cớm xấu và những biến thể của nó (cớm xấu/cớm xấu hơn, cớm xấu hơn/Satan thắt cà vạt kẹp ghim), những màn biểu diễn quá kinh khủng đến nỗi tôi chỉ muốn la ó. Chúng tôi không tra tấn người khác trong đất nước chúng tôi, đó là một điều tốt trừ khi bạn muốn làm một nhà thẩm tra bị sức ép phải thu được kết quả khả quan. Tôi có thể nhận thấy một người trong số họ sẵn lòng làm bất cứ việc gì để có thể rút hết móng tay của tôi. Tôi bắt gặp một kẻ khác đau khổ nhìn vào háng tôi khi mơ tưởng đến các điện cực. Chà, họ thật là khốn khổ. Dù sao thì, họ cũng chả cần tra tấn tôi. Tôi diễn tung hứng theo. Tôi nói đến khản cả giọng. Họ nghe đến điếc cả tai. Chẳng bao lâu sau chúng tôi không còn gì để nói. Đôi lúc họ để tôi đi đi lại lại trong phòng và quát ra những thứ như “Tôi còn phải nói điều đó bao nhiêu lần nữa?” Thật là xấu hổ. Tôi cảm thấy thật ngu ngốc. Tôi nói ra những điều nghe thật ngu ngốc. Mọi việc thật sướt mướt. Phim ảnh đã làm cho cuộc đời thật trở nên sướt mướt.
Họ lục soát phòng giam của tôi và tìm thấy những gì tôi viết, hai trăm trang về cuộc đời chúng tôi; tôi chỉ mới viết đến thời thơ ấu của mình, khi tôi biết được chuyện về Terry Dean. Họ săm soi kĩ càng những trang viết, đọc cẩn thận để tìm ra manh mối, nhưng họ muốn tìm những tội ác của bố, không phải sai lầm của ông, và cuối cùng họ nghĩ nó chẳng qua chỉ là hư cấu, một câu chuyện cường điệu về bố và chú tôi được dựng lên như một lời bào chữa thông minh; họ kết luận rằng tôi đã mô tả ông như một người điên để không ai có thể kết luận ông phạm bất kì tội gì vì lý do điên loạn. Họ tuyệt nhiên không thể tin ông là một nhân vật, nói rằng một con người không thể vừa mắc chứng hoang tưởng tự đại vừa là kẻ thất bại. Tôi chỉ có thể phỏng đoán rằng họ không hiểu gì về tâm lý con người.
Cuối cùng họ trả những trang viết lại cho tôi; rồi họ thẩm vấn toàn bộ những người đi cùng tôi để xem chuyện về cái chết của bố có đúng sự thật hay không. Những Kẻ trốn chạy xác nhận điều đó. Tất cả họ đều kể câu chuyện giống nhau. Martin Dean đã ở trên tàu, ông ta ốm rất nặng, và ông ta đã chết. Tôi đã ném xác ông xuống biển. Tôi có thể nói rằng tin này là một sự thất vọng tột độ đối với chính quyền - họ đã không bắt quả tang tôi nói dối. Bố có thể đã là phần thưởng tuyệt đối dành cho họ. Người Úc sẽ vô cùng thích thú khi thấy bố tôi bị dọn trên đĩa dâng lên cho họ. Cái chết của bố để lại một lỗ trống to tướng trong đời họ, một khoảng trống quan trọng cần được lấp đầy. Giờ đây còn tên khốn nào để họ căm ghét nữa?
Cuối cùng họ quyết định thả tôi ra. Không phải là họ không thực lòng muốn truy tố tôi, họ chẳng qua chỉ muốn tôi câm mồm. Tôi đã tận mắt chứng kiến những Kẻ trốn chạy bị đối xử thế nào trong trại tạm giam, và chính phủ không muốn tôi nói về sự ngược đãi có hệ thống dành cho đàn ông, đàn bà, và trẻ con, vì thế họ mua sự im lặng của tôi bằng cách hủy bỏ các cáo trạng chống lại tôi. Tôi cứ thế thuận theo. Tôi cũng chẳng cảm thấy cắn rứt về sự toa rập của mình. Tôi không thể tin rằng những sự thật đó sẽ tạo ra khác biệt gì với đám cử tri. Tôi không thể tưởng tượng nổi tại sao chính phủ lại nghĩ rằng sẽ có khác biệt. Tôi đoán rằng họ tin tưởng vào dân chúng nhiều hơn tôi.
Để đổi lấy sự im lặng của tôi, họ cấp cho tôi một căn hộ có một phòng ngủ bé tí bẩn thỉu trong một khu chung cư chính phủ bé tí bẩn thỉu ở một vùng ngoại ô bé tí bẩn thỉu. Cảnh sát liên bang chở tôi bằng máy bay từ sa mạc vào Sydney và thả tôi ở đây, và, cùng với chìa khóa vào căn hộ bẩn thỉu, bé tí của tôi, họ đưa tôi một thùng giấy tờ tịch thu được từ căn hộ cũ của tôi khi chúng tôi trốn khỏi đất nước: hộ chiếu thật của tôi, giấy phép lái xe của tôi, và vài hóa đơn điện thoại mà họ gợi ý là tôi nên thanh toán. Khi họ để tôi lại một mình, tôi ngồi trong phòng khách và nhìn ra ngoài cửa sổ có chấn song vào căn hộ đối diện. Có vẻ như tôi đã không khai thác triệt để chính phủ của mình. Tôi đã gây áp lực lên họ để có được chỗ ở như cứt này và một khoản trợ cấp 350 đô la mỗi hai tuần. Tôi cảm thấy lẽ ra mình đã làm được tốt hơn thế.
Tôi bắt gặp hình ảnh mình trong gương phòng tắm. Hai má tôi xệ xuống; hai hốc mắt thụt sâu vào trong đầu. Tôi đã gầy rộc đi đến nỗi trông như một cây lao. Tôi cần vỗ béo mình lần nữa. Ngoài việc đó ra, tôi có kế hoạch gì? Tôi sẽ làm gì bây giờ?
Tôi cố gọi điện thoại cho Anouk, người duy nhất trên trái đất này tôi còn có liên hệ, nhưng việc này hóa ra khó hơn tôi tưởng nhiều. Không dễ liên lạc được với người đàn bà giàu nhất đất nước, ngay cả khi cô ta từng kì cọ bồn cầu cho bạn. Số điện thoại nhà cô ta, chẳng có gì ngạc nhiên, không có trong danh bạ, và chỉ sau khi gọi đến Tập đoàn truyền thông Hobbs và nói chuyện với vài thư kí, cuối cùng tôi mới nghĩ ra nên yêu cầu được nói chuyện với Oscar thay vì Anouk. Tôi bị từ chối vài lần cho đến khi một cô gái nói, “Đây có phải là một cuộc điện thoại chơi khăm không?”
“Không, đây không phải cuộc điện thoại chơi khăm. Tại sao tôi lại không được nói chuyện với anh ta?”
“Anh thật tình không biết à?”
“Biết gì?”
“Anh đã sống ở đâu trong sáu tháng qua, trong hang à?”
“Không, trong một cái nhà tù ở giữa sa mạc.”
Câu nói đó đem lại cho tôi một sự im lặng kéo dài. “Ông ấy chết rồi,” cuối cùng cô ta nói. “Cả hai đều đã chết.”
“Ai?” tôi hỏi, tim tôi đóng băng.
“Oscar và Reynold Hobbs. Máy bay riêng của họ bị rơi.”
“Thế còn bà Hobbs?” tôi hỏi, run rẩy. Xin đừng để cô ấy chết. Xin đừng để cô ấy chết. Trong khoảnh khắc đó tôi nhận ra rằng trong tất cả những người mà tôi biết trong cuộc đời mình, Anouk là người ít đáng chết nhất.
“Tôi e là thế.”
Tôi cảm thấy mọi thứ chảy ra khỏi người tôi. Tình yêu. Hi vọng. Tinh thần. Chẳng còn lại gì.
“Anh còn ở đó không?” cô gái hỏi.
Tôi gật đầu. Không còn gì để nói. Không còn ý để nghĩ. Không còn khí để thở.
“Anh ổn chứ?”
Lần này tôi lắc đầu. Làm sao mà tôi có thể ổn cho được?
“Đợi đã,” cô ta nói. “Anh muốn nói bà Hobbs nào?”
Tôi nuốt ực.
“Vợ của ông Reynold, Courtney, đã có mặt trên máy bay, không phải người kia.”
“Vậy còn Anouk?” tôi hổn hển.
“Không, bà ấy không đi cùng họ.”
Tôi hút một hơi thật sâu mọi tình yêu, hi vọng, và tinh thần trở lại phổi. Cám ơn!
“Việc này xảy ra khi nào?”
“Khoảng năm tháng trước.”
“Tôi phải nói chuyện với cô ấy. Bảo cô ấy là Jasper Dean đang cố gắng gọi cho cô ấy nhé.”
“Jasper Dean à? Con trai của Martin Dean.”
“Phải.”
“Không phải anh đã bỏ trốn rồi sao? Anh trở lại khi nào thế? Bố anh có về với anh không?”
“HÃY ĐỂ CHO TÔI NÓI CHUYỆN VỚI ANOUK!”
“Tôi xin lỗi, Jasper. Bà ấy hiện không thể liên lạc được.”
“Tại sao?”
“Bà ấy đang đi du lịch.”
“Cô ấy ở đâu?”
“Chúng tôi nghĩ bà ấy ở Ấn Độ.”
“Cô nghĩ á?”
“Thành thật mà nói, không ai biết bà ấy ở đâu cả.”
“Ý cô là sao?”
“Sau khi máy bay rơi, bà ấy đã biến mất. Có nhiều người muốn nói chuyện với bà ấy, chắc anh cũng có thể hình dung.”
“Vậy thì, nếu cô ấy gọi về, cô có thể nhắn với cô ấy là tôi đã về nhà và cần nói chuyện với cô ấy được không?”
Tôi để lại số điện thoại và gác máy. Tại sao Anouk lại đến Ấn Độ? Tôi cho rằng cô muốn than khóc ở ngoài tầm chú ý của công chúng. Dễ hiểu thôi. Sự chú ý công chúng là nơi cuối cùng bất kì ai muốn đến để than khóc. Anouk hẳn đã nhận ra rằng khi trở thành góa phụ, nếu không làm ra vẻ đau đớn khổ sở với khuôn mặt lem luốc phấn son, thì công chúng sẽ cho rằng cô là kẻ sát nhân.
Tôi cảm thấy buồn rũ rượi. Bố chết rồi, Eddie chết rồi, giờ đây ngay cả những người không thể bị hủy diệt là Oscar và Reynold cũng đều đã chết, và chẳng có cái chết nào trong số đó khiến tôi cảm thấy đặc biệt sống động. Thật ra, tôi không cảm thấy gì hết. Giống như tôi đã bị gây mê từ đầu đến chân, để tôi không còn cảm thấy sự đối lập giữa sống và chết nữa. Sau đó, trong phòng tắm, tôi thậm chí còn không biết chắc mình nhận ra sự khác biệt giữa nóng và lạnh.
Một ngày sau cuộc sống mới của tôi và tôi đã ghét nó rồi. Ở trong căn hộ đáng tởm này, tôi sớm muộn cũng sẽ trở thành một thứ đáng tởm vĩnh viễn. Tôi quyết tâm xa rời nó. Mà đến đâu mới được? Xem nào, nước ngoài. Tôi nhớ kế hoạch ban đầu của mình - phiêu bạt vô định qua không gian và thời gian. Để làm thế, tôi cần tiền. Vấn đề là, tôi chẳng có xu nào và chẳng biết làm cách nào để làm ra tiền thật nhanh. Tất cả những gì tôi có thể rao bán cũng giống như mọi người khác, những kẻ không có danh phận nào: tôi có thể bán thời gian của mình hoặc tôi có thể bán câu chuyện của mình. Không có kĩ năng tiếp thị, tôi biết thời gian của mình sẽ không đem về cho tôi nổi một đô la tiền lương tối thiểu, song với không chỉ một mà hai kẻ tai tiếng trong gia đình, câu chuyện của tôi có thể đem về cho tôi mức giá cao hơn hết thảy. Dĩ nhiên tôi có thể chọn con đường dễ đi, chấp nhận một cuộc phỏng vấn trên ti vi, nhưng tôi chưa bao giờ tóm gọn được toàn bộ câu chuyện thành hai mươi phút cho một chương trình truyền hình dài nửa giờ. Không, tôi phải tiếp tục viết nó ra để đảm bảo câu chuyện được kể lại một cách chính xác, không để lọt bất kì chi tiết nào. Cơ hội duy nhất của tôi là hoàn thành quyển sách mà tôi đã bắt tay viết, tìm một nhà xuất bản, và lên đời với một khoản tiền tạm ứng đáng kể. Kế hoạch của tôi là thế. Tôi lôi ra mớ giấy tờ mà những người thẩm tra tôi đã đọc và phẩy tay cho là hư cấu. Tôi định đi đến đâu? Tôi chưa đi được xa lắm - tôi còn phải viết rất nhiều.
Tôi đi ra cửa hàng để mua vài ram giấy A4. Tôi thích những trang giấy trắng - chúng khiêu khích lòng xấu hổ của tôi, buộc tôi phải viết lên chúng. Bên ngoài, mặt trời như bàn tay sáng lòa tát vào mặt tôi. Nhìn mọi người, tôi nghĩ: Thật là một cuộc đời vất vả. Giờ thì tôi chẳng còn ai thân thích, tôi sẽ phải học cách hòa đồng trong khả năng có thể với vài ba người trong số những kẻ xa lạ này, biến vài người trong số họ thành bạn hoặc người tình. Có trăm công nghìn việc phải làm trong đời khi bạn luôn phải bắt đầu từ vạch xuất phát.
Đường phố trong thành phố của tôi giống như một đất nước xa lạ. Những ảnh hưởng độc hại của việc ở trong trại tạm giam vẫn còn đeo bám tôi dai dẳng, vì tôi phát hiện ra rằng dù tôi cần đến những cá nhân, nhưng tôi lại sợ đám đông, với cảm giác lo âu căng thẳng trong cơ thể khiến tôi phải ôm lấy cột điện. Tôi sợ điều gì? Họ không hề có ý hãm hại tôi. Tôi nghĩ mình sợ sự dửng dưng của họ. Tin tôi đi, bạn không muốn ngã trước mặt con người đâu. Hắn ta sẽ không đỡ bạn dậy.
Tôi đi ngang qua một sạp báo và tim tôi chùng xuống - mọi thứ đã trở nên công khai. Bố được chính thức tuyên bố đã chết. Tôi quyết định sẽ không đọc bất kì bài điếu văn nào trên báo. “Tên khốn chết rồi!” “Hu ra! Hắn chết rồi!” và “Đoạn kết của một kẻ bỉ ổi!” có vẻ không đáng để tôi bỏ ra 1,20 đô la. Dù sao thì tôi cũng đã nghe những điều này trước đó rồi. Khi tôi bỏ đi, tôi chợt nhận ra những dòng tiêu đề ấy có gì đó phi thực tại, như một cảm giác quen quen kéo dài vậy. Tôi không biết phải giải thích thế nào. Tôi cảm thấy như mình đang ở hồi kết của một điều gì đó mà tôi ngỡ là vô tận, hoặc đang ở khúc dạo đầu của một điều gì đó mà tôi thề là đã khởi đầu từ rất lâu.
Vài ngày sau đó tôi ngồi bên ô cửa sổ có chấn song và viết suốt ngày suốt đêm, trong lúc viết, tôi nhớ đến cái đầu xấu xí, hợm hĩnh của bố và phá ra cười sặc sụa cho đến khi những người hàng xóm đập thình thình lên tường. Điện thoại réo không dứt - đám nhà báo. Tôi phớt lờ nó và viết không ngừng nghỉ trong ba tuần liền, mỗi trang là một sự chuyển tải tươi mới những cơn ác mộng, tống khứ được chúng là một sự nhẹ nhõm lớn.
***
Một buổi tối tôi đang nằm trên ghế sofa, cảm thấy bị dịch chuyển, như mi mắt bị kẹt trong con mắt, thì chợt nghe thấy tiếng hàng xóm cãi cọ qua bức tường. Một người đàn bà hét lên, “Anh làm thế để làm gì?” và một người đàn ông quát lại, “Tôi xem được trên ti vi! Cô không có chút óc hài hước nào sao?” Tôi đang tận dụng đến cái dường như là tế bào não cuối cùng còn sót lại của mình, cố gắng hiểu xem ông ta đã làm gì, thì có tiếng gõ cửa. Tôi ra mở cửa.
Đứng đấy trong tư thế đáng thèm thuồng là một tay thanh niên bị hói đầu sớm mặc bộ complet kẻ sọc vạt chéo. Y xưng tên là Gavin Love, và tôi chấp nhận cái tên ấy theo giá trị bề ngoài của nó: tôi không thể nghĩ ra được lý do gì để một người nào đó tự gọi mình là Gavin Love nếu đấy không phải là tên của y. Y nói y là luật sư, điều đó khiến cho câu chuyện Gavin Love của y thêm sức nặng. Y nói y có một số giấy tờ cho tôi kí tên.
“Loại giấy tờ gì?”
“Đồ đạc của bố anh đang được giữ trong một phòng chứa đồ. Tất cả chúng là của anh. Anh chỉ cần kí tên là lấy được.”
“Và nếu tôi không muốn chúng thì sao?”
“Ý anh là sao?”
“Nếu tôi không muốn chúng, tôi đoán rằng chẳng cần kí kiếc làm gì.”
“À...” Mặt y ngẩn ra. “Tôi chỉ cần chữ kí của anh,” y ngập ngừng nói.
“Tôi hiểu rồi. Tôi không biết mình có muốn cho anh chữ kí hay không nữa.”
Ngay lập tức sự tự tin của y biến mất. Tôi đoán biết rằng y sẽ gặp rắc rối vì chuyện này.
“Thưa ông Dean, ông không muốn của thừa kế của mình sao?”
“Ông ấy có tiền không? Đó là thứ tôi thật sự cần đấy.”
“Không, tôi e là không. Tài khoản ngân hàng của ông ấy sạch trơn. Và mọi thứ có giá trị đều đã được bán hết rồi. Thứ còn lại trong gia sản của ông ấy có thể là, ái chà...”
“Vô giá trị.”
“Nhưng đáng xem cho biết mà,” y nói, cố tỏ vẻ tích cực.
“Có thể,” tôi nghi hoặc đáp. Dù sao thì, tôi cũng không biết tại sao mình lại đi hành hạ gã đần tội nghiệp này. Tôi cứ thế kí tên luôn. Chỉ sau đó tôi mới nhận ra mình đã kí “Kasper.” Y dường như chẳng nhận ra điều đó.
“Vậy cái phòng chứa đồ này ở đâu?”
“Địa chỉ đây,” y nói, đưa tôi một mảnh giấy. “Nếu anh muốn đi bây giờ, tôi có thể cho anh đi nhờ xe.”
***
Chúng tôi lái xe đến một tòa nhà chính phủ trông có vẻ cô độc thò ra cạnh những kho hàng nội thất và những hãng bán sỉ thực phẩm đóng hộp. Một viên lính gác trong căn phòng nhỏ sơn trắng nắm toàn quyền điều khiển nâng lên hạ xuống thanh gỗ chắn ngang lối vào bãi đỗ xe. Gavin Love hạ cửa kính xe.
“Đây là Jasper Dean. Anh ấy đến đây để nhận tài sản của bố mình.”
“Tôi chẳng đến đây để nhận gì hết,” tôi nói. “Chỉ để nhìn một lần cho biết.”
“Giấy tờ tùy thân,” tay lính gác nói.
Tôi lôi giấy phép lái xe ra và đưa nó cho gã. Gã săm soi nó và cố gắng so sánh gương mặt trên giấy phép với gương mặt dính vào đầu tôi. Chúng không khớp nhau lắm, nhưng gã chọn cách tin tôi.
Chúng tôi lái xe đến trước tòa nhà.
“Chắc anh sẽ ở lâu trong đấy,” Gavin Love nói.
“Đừng lo, tôi sẽ không bắt ông phải chờ đâu.”
Tôi rời khỏi xe, và Gavin Love chúc tôi may mắn, hành động mà y cho rằng là một việc khá tử tế. Một người đàn ông nhỏ thó, béo lùn mặc đồng phục màu xám mở cửa. Cái quần của ông ta được kéo lên cao hơn mức mà tôi cho là quy định bắt buộc.
“Tôi có thể giúp gì cho cậu?”
“Tên tôi là Jasper Dean. Đồ đạc của bố tôi được nhét trong một cái phòng bít khí nào đấy của ông. Tôi đến để ngó nghiêng một chút.”
“Tên ông ấy?”
“Martin Dean.”
Mắt người đàn ông mở to ra một chút, rồi thu nhỏ lại. Ông ta đi vào văn phòng và đi ra với một quyển sổ cái to màu xanh.
“Dean, Dean... đây rồi, Phòng -”
“Một lẻ một?” tôi hỏi, nghĩ đến Orwell[67].
“Chín mươi ba,” ông ta đáp. “Lối này.”
Tôi theo ông ta đến một cái thang máy. Ông ta vào thang máy với tôi. Chúng tôi chẳng có gì nhiều để nói với nhau, vì thế cả hai cùng nhìn số tầng lần lượt sáng lên và tôi bắt gặp ông ta đọc thầm từng số. Đến tầng thứ tư chúng tôi ra khỏi thang máy và đi dọc theo một hành lang dài sáng choang. Được khoảng nửa đường, ông ta nói, “Đến rồi,” và dừng lại tại một cánh cửa.
“Chẳng có số trên mấy cánh cửa này. Làm sao ông biết đây là chín mươi ba?”
“Nghề của tôi mà,” ông ta đáp.
Đấy không hề là một câu nói đùa. Ông ta móc ra một xâu chìa khóa và mở khóa rồi đẩy cửa mở hé.
“Cậu có thể đóng cửa lại nếu muốn.”
“Được rồi,” tôi đáp. Nó không giống như nơi mà bạn muốn bị đóng bên trong.
Gian phòng tối om và bừa bộn, tôi chẳng thể nhìn thấy điểm cuối của nó - tôi tưởng tượng nó kéo dài vô tận đến bờ vực của sự tồn tại. Tôi không thể nghĩ ra người ta làm cách nào mà cho hết mọi thứ vào đây được: sách, đèn bàn, bản đồ, ảnh, đồ nội thất, khung ảnh trống, một cái máy chụp X-quang xách tay, áo phao, kính hiển vi, máy ảnh cũ, kệ sách, ống tẩu, và bao bố nhét đầy quần áo. Không gian bị những vật dụng của bố chiếm lĩnh toàn bộ, mọi thứ trộn lẫn với nhau, lộn xộn tứ tung - giấy tờ nằm trên sàn nhà, hộc tủ rỗng bị lật úp. Rõ ràng nhà chức trách đã lục soát để tìm kiếm manh mối về tung tích của bố và nơi ông cất giấu tiền. Mọi mét khối bụi bẩn đều bị choán chỗ bởi những món đồ vô giá trị của bố. Tôi cảm thấy như đang bị một cơn đau tim nhẹ khi lần mò qua mê hồn trận của những món đồ đồng nát. Nỗi lo lắng bất an mà ông thổi vào từng món đồ vẫn không mai một. Tôi có thể ngửi thấy mùi nỗi bất mãn căng thẳng của ông khắp mọi nơi. Tôi có ảo giác như mình đang đi loanh quanh trong đầu của bố.
Đó thực sự là một bãi đất hoang. Tôi cảm thấy như mình vừa đặt chân lên những lục địa chưa được khám phá - ví dụ như, một quyển sổ to màu xanh dùng để vẽ phác thảo khiến tôi cắm cúi xem hàng giờ liền. Bên trong là những thiết kế và bản vẽ nháp cho những loại máy kì quặc không thể tin nổi: một cái máy chém tự chế, một cái bong bóng bằng nhựa lớn có thể xếp lại dùng để đeo trên đầu để bạn có thể hút thuốc trong phòng vệ sinh của máy bay, một cái quan tài hình dấu chấm hỏi. Tôi cũng tìm thấy một cái hộp chứa khoảng ba mươi đến bốn mươi tiểu thuyết học trò cũng như tự truyện dang dở của ông, và dưới đó là một bản thảo do ông viết tay có nhan đề “Tình yêu giờ cơm trưa,” một câu chuyện buồn nôn về tình yêu không được đáp lại viết cho những bé gái mười ba tuổi. Tôi cảm thấy hoàn toàn lạc lối. Tôi cảm thấy mình đang lần đầu tiên gặp thêm một vài con người che giấu kĩ của ông. Ngay cả trước khi ý tưởng viết một quyển sách về ông nảy đến với tôi, ngay cả trước khi tôi đặt bút viết một dòng, tôi đã nhận ra mình là kẻ ghi chép kém nhiệt tình của ông. Điều duy nhất mà tôi là am tường chính là bố tôi. Giờ đây dường như có một cuộc đời của ông mà tôi chưa hề biết. Bằng cách này ông đã chế giễu tôi cả sau khi chết.
Người bảo vệ xuất hiện ở khung cửa và hỏi, “Cậu làm ăn trong đấy sao rồi?” Tôi không biết nên trả lời kiểu đặt câu hỏi ấy như thế nào, dù tôi đáp rằng tôi vẫn đang xem.
“Nếu thế thì tôi sẽ để cậu ở đấy,” ông ta nói, và để tôi ở đấy.
Tôi phải làm gì với những thứ rác rưởi này? Những quyển nhật kí thì đáng giữ lại, hẳn rồi. Không có chúng, tôi có thể sẽ chẳng bao giờ chứng minh được với ai rằng cuộc đời của tôi sống cùng ông đã điên cuồng như tôi nhớ. Và không chỉ cho người ngoài - cho cả bản thân tôi nữa. Tôi lấy chúng cùng với tự truyện của ông, đặt chúng cạnh cửa, rồi tiếp tục lục lọi.
Bên dưới một cái áo khoác bằng vải len thô bị mọt ăn, tôi tìm thấy một thùng gỗ to, bị mòn vẹt ở các góc. Nom như nó đã bị nước và thời gian phá hỏng. Một cái ổ khóa móc bên ngoài, và một cái nạy nắp thùng nằm dưới đất. Nhà chức trách, trong lúc tìm kiếm hàng triệu đô la thất lạc, đã bẻ khóa mở cái thùng này và sục sạo bên trong. Tôi nhìn gần hơn. Nằm ở cạnh thùng là một bộ tài liệu ngả vàng viết bằng tiếng Pháp, có tên bố và, phía dưới, một địa chỉ ở Úc.
Tôi mở nó ra.
Phía trên là một bức tranh. Trong ánh sáng lờ mờ, thoạt đầu tôi không nhìn ra được nó, nhưng sau đó khi đã nhìn rõ, tôi bị sốc đến nỗi hẳn đã thốt lên câu gì đó đại loại như “Cái khỉ gì...?”
Đó là bức tranh mà tôi đã vẽ trong chuồng gà ở Thái Lan. Bức tranh vẽ khuôn mặt quái gở đã ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Bức tranh đã bị phá nát.
Đầu óc tôi quay cuồng. Tôi nhìn lại lần nữa. Nó chính xác là bức tranh của tôi. Sao lại có chuyện này?
Tôi lôi nó lên để xem bên dưới là cái gì. Có thêm nhiều tranh vẽ nữa, vẽ cùng khuôn mặt đó. Thật kì lạ. Tôi chỉ vẽ có một bức thôi mà. Rồi tôi hiểu ra.
Chúng không phải là tranh của tôi. Chúng là của mẹ tôi!
Tôi hít một hơi thật sâu và suy nghĩ đầu đuôi sự tình. Tôi nhớ quyển sổ màu xanh lục của bố, quyển nhật kí Paris của ông. Bố đã mua cho mẹ Astrid sơn, cọ, vải bạt và bà đã bị ám ảnh với chuyện vẽ vời. Những từ trong quyển nhật kí của ông khắc sâu trong tâm trí tôi: Mỗi bức tranh là một sự tái hiện địa ngục - cô ta có quá nhiều địa ngục & cô ta vẽ tất cả chúng ra. Nhưng địa ngục chỉ là một khuôn mặt - và chỉ là cái khuôn mặt mà cô ta vẽ. Một khuôn mặt. Một khuôn mặt kinh dị. Vẽ đi vẽ lại nhiều lần.
Một khoảnh khắc hoảng sợ kéo dài thành một phút kinh hoàng và tiếp diễn. Tôi nhìn lại khuôn mặt lần nữa, trông nó như một vết bầm to, tím ngoét và dấy bẩn. Rồi tôi cẩn thận xem hết toàn bộ tranh. Thật không thể chối cãi. Làn mi dưới; cong vút như những ngón tay; lông mũi như những sợi thần kinh; đôi mắt trong trạng thái như bị thôi miên; sự khít chặt đè nén của cái mũi dẹt; ánh nhìn khó chịu. Trông như khuôn mặt đang đe dọa thoát ra khỏi bức tranh và thực sự bước vào căn phòng. Tôi cũng có cảm giác khó chịu rằng tôi có thể ngửi được nó - mùi của nó ào ào lớp lớp đổ ra từ khung vải bạt.
Mẹ của tôi và tôi đã vẽ một khuôn mặt giống nhau, cái khuôn mặt ghê tởm ấy! Điều đó có nghĩa gì? Tôi đã từng thấy những bức tranh này khi tôi còn nhỏ chưa? Chưa. Quyển nhật kí nói rằng bà đã từ bỏ chuyện vẽ tranh sau khi sinh tôi, và kể từ khi bố và tôi rời Paris ngay sau cái chết của bà, tôi tuyệt nhiên chưa từng thấy chúng. Vậy là mẹ Astrid đã nhìn thấy một khuôn mặt và vẽ nó ra. Và tôi cũng đã nhìn thấy khuôn mặt đó và cũng đã vẽ nó ra. Tôi xem lại các bức tranh một lần nữa. Với những cạnh dứt khoát và những đường ngang đứt đoạn khiến cái đầu khó nhìn về mặt hình học, được vẽ bằng màu xanh lá cây gớm guốc và sẫm đậm, những đường lượn sóng màu đen và đỏ và nâu, khuôn mặt mẹ tôi đã vẽ không phải là một khuôn mặt thụ động, nó là một khuôn mặt đang cử động - cử động để đe dọa bạn.
Tôi ngoảnh mặt khỏi những bức tranh và cố suy nghĩ cho ra đầu ra đuôi. Hoàn toàn có lý để phỏng đoán rằng (a) mẹ tôi bị khuôn mặt này ám ảnh giống hệt kiểu tôi đã bị nó ám ảnh hoặc (b) mẹ tôi không nhìn thấy nó trôi lềnh bềnh trên mây nhưng đã thực sự biết người sở hữu khuôn mặt đó.
Đi đi lại lại trong nhà kho, tôi dò dẫm qua đống đồ đồng nát và phát hiện một cái tủ cũ bị vỡ. Ở hộc tủ dưới cùng tôi tìm thấy nửa gói Malboro và một cái bật lửa hình nửa thân trên người phụ nữ. Tôi châm một điếu thuốc nhưng đầu óc suy nghĩ quá nhiều chuyện đến nỗi chẳng còn tâm trí nào mà hút vào. Tôi đứng đấy, hoàn toàn bất động bởi suy nghĩ cho đến khi điếu thuốc làm bỏng ngón tay tôi.
Mắt tôi vụt mở ra. Tôi không biết chúng đã nhắm lại. Một ý tưởng xuất hiện trong não tôi. Nhưng nó mới là một ý tưởng điên rồ làm sao! Tại sao tôi không nghĩ đến nó ngay từ đầu? Tôi đi vòng quanh căn phòng hét toáng lên, “Ôi trời ơi, ôi trời ơi,” như một thí sinh trong một chương trình game show. Điều này chưa từng xảy ra với tôi - một khoảnh khắc sét đánh! Thật kì diệu! “Tại sao lại cho rằng mình đang trở thành bố,” tôi hét lên, “trong khi có khả năng ngang ngửa là mình đang trở thành mẹ?” Tôi giậm chân thình thình để khuấy động cả tòa nhà. Suy nghĩ ấy giải phóng tất cả. Tôi đã lo lắng về điều gì suốt thời gian qua? Và ngay cả nếu như tôi đang trở thành bố, thì cũng không phải là toàn bộ con người tôi mà chỉ là một bộ phận hoặc một tiểu bộ phận - có thể một phần tư con người tôi trở thành ông, một phần tư trở thành mẹ, một phần tám thành Terry, hoặc thành khuôn mặt, hoặc thành tất cả những cái tôi khác mà tôi chưa gặp. Sự tồn tại của những bức tranh này gợi ra một tầm vóc cuộc đời tôi mà trước đây tôi chưa từng hình dung đến. Tôi nghĩ bạn có thể hiểu nỗi vui sướng khôn tả của tôi. Giai đoạn mà bố dọa sẽ thống trị nhân cách của tôi - thời Chiếm đoạt - chỉ là ảo tưởng. Đây chưa bao giờ là chuyện của riêng tôi và ông. Tôi là một thiên đường chết tiệt của nhiều nhân cách! Tôi ngồi xuống một cái ghế sofa và nhắm mắt lại rồi hình dung ra bản thân mình. Tôi không nhìn thấy cái gì rõ ràng cả. Tuyệt vời! Nên là như thế! Tôi là một hình ảnh mờ ảo liên tục cố gắng trở nên rõ nét qua ống ngắm, và ngay khi, chẳng hạn như, tôi nhìn thấy bản thân mình rõ mồn một, thì tôi lại trở thành một hình ảnh trong chính cái nền của mình, mờ mờ như lông tơ quả đào.
Tôi chợt hiểu điều đó có nghĩa là gì. Sứ mệnh của tôi đã rõ: bay đến châu Âu và tìm gia đình của mẹ tôi. Khuôn mặt là điểm khởi đầu. Đây là manh mối đầu tiên. Tìm khuôn mặt, tôi nghĩ, và tôi sẽ tìm thấy gia đình bên ngoại của mình.
Trong cơn choáng váng, tôi vơ lấy hết những bức tranh mà tôi có thể ôm rồi đón một chiếc taxi và đem chúng về nhà. Tôi nhìn chúng chòng chọc suốt đêm. Tôi cảm thấy một sự trộn lẫn cảm xúc mâu thuẫn kịch liệt về tính chất đến nỗi tôi sợ rằng sẽ bị chúng xé xác: một nỗi buồn sâu sắc vì mất mẹ, một cảm giác ấm cúng dễ chịu khi thấy chúng tôi gần gũi nhau về suy nghĩ, tinh thần, và tâm lý, một sự ghê tởm và khiếp sợ đối với khuôn mặt, một niềm hãnh diện vì tôi đã phát hiện ra một bí mật, và một sự bất mãn tức tối vì tôi không hiểu nổi bí mật mà tôi vừa phát hiện ra.
Tầm nửa đêm, điện thoại reo. Tôi không muốn nhấc máy. Đám nhà báo thật chẳng chịu để tôi yên. Điện thoại ngừng reo và tôi phát ra một hơi thở dài nhẹ nhõm. Nhưng tiếng thở dài của tôi chỉ được một chốc. Một phút sau điện thoại lại reo. Lần này nó reo suốt đêm. Tôi nhấc máy.
“Có phải ông Dean không ạ?” một giọng đàn ông cất lên.
Tôi cho rằng tốt hơn hết nên làm quen với việc đó. “Nghe này,” tôi nói, “tôi sẽ không nhận phỏng vấn, không đưa ra câu nói, bình luận, hoặc giới thiệu gì cả, vậy tại sao ông không đi mà hỏi một cầu thủ bóng đá hiếp dâm tập thể ấy.”
“Tôi không phải là nhà báo.”
“Vậy ông là ai?”
“Tôi đang tự hỏi không biết chúng ta có thể gặp nhau được không.”
“Còn tôi thì không biết ông là ai.”
“Tôi không thể nói. Điện thoại của ông có thể bị nghe lén.”
“Tại sao điện thoại của tôi lại bị nghe lén?” tôi hỏi, nghi ngờ nhìn cái điện thoại. Tôi không thể xác định được liệu nó có bị nghe lén hay không.
“Ông có thể đến đợi bên ngoài Ga tàu trung tâm vào chín giờ sáng mai không?”
“Nếu điện thoại bị nghe lén, vậy thì liệu kẻ nào đó đang nghe lén có cũng đến đấy không?”
“Ông không cần lo về việc đó.”
“Tôi đâu có lo. Tôi nghĩ là ông sẽ lo ấy chứ.”
“Vậy ông có đến được không ạ?”
“Thôi được rồi. Tôi sẽ đến đó.”
Ông ta gác máy. Tôi nhìn cái điện thoại một lúc, hi vọng nó sẽ bắt đầu tự nói, giải thích cho tôi tất cả những việc mà tôi không hiểu. Nhưng nó lặng thinh.
***
Vào chín giờ sáng hôm sau tôi có mặt ở Ga trung tâm, chờ đợi người mà Chúa mới biết là ai. Tôi ngồi trên một băng ghế và quan sát những người vội vã đi vào ga để đón những con tàu và những kẻ vội vã rời khỏi ga để tránh xa những con tàu. Trông họ như cùng một người.
Một chiếc xe ô tô bấm còi tin tin. Tôi quay lại thì thấy một chiếc Mercedes đen với cửa kính nhuộm màu. Người tài xế rướn mình ra khỏi cửa xe, dùng ngón tay ra hiệu cho tôi. Tôi không nhận ra anh ta. Khi tôi không nhúc nhích, anh ta thôi không ngoắc ngón tay nữa mà bắt đầu ra hiệu cho tôi bằng cả bàn tay. Tôi đi đến đó. Ngay cả khi đứng đối diện với chiếc xe, tôi vẫn không nhìn thấy ai ngồi ở băng ghế sau.
“Thưa ông Dean, ông vui lòng vào ngồi ở băng sau được không ạ?”
“Sao tôi phải làm thế?”
“Jasper! Vào đây!” một giọng nói gọi vọng ra từ băng sau. Tôi lập tức mỉm cười, có cảm giác thật lạ lùng vì tôi đã lâu không cười. Tôi mở cửa sau và lao vào trong, và khi chiếc xe lăn bánh, Anouk và tôi ôm nhau suốt mười phút mà không nói lời nào và không buông nhau ra.
Khi chúng tôi buông ra, chúng tôi nhìn nhau trân trối, miệng hé mở. Đơn giản là có quá nhiều điều để nói đến nỗi không biết phải nói ra thế nào. Nom Anouk không giống một góa phụ giàu có. Cô ta đang mặc một cái áo sari lụa màu đỏ sậm và đã lại cạo trọc đầu. Đôi mắt xanh to tròn của cô điên dại nhìn ra khỏi hộp sọ như biểu tượng của một thảm họa cổ đại. Khuôn mặt cô trông vừa già vừa trẻ, vừa lạ vừa quen.
“Cậu hẳn phải nghĩ rằng tôi đã trở thành tâm thần hoang tưởng trước mọi sự việc bí ẩn này,” cô nói. “Nhưng thật lạ lùng, Jasper ạ. Mọi người đều muốn tôi mang một khuôn mặt kiên cường, nhưng tôi không có kiểu mặt đó. Tôi chỉ có một khuôn mặt đau khổ mà thôi. Sau khi Oscar và giờ là bố cậu, nó là khuôn mặt duy nhất mà tôi còn có.”
Tôi ngồi đấy cố nghĩ ra cách để mở lời. Thay vào đó, tôi siết chặt tay cô ta.
“Tôi đã sở hữu tất cả, Jasper ạ. Tôi không biết chuyện này xảy ra như thế nào. Tôi là người phụ nữ giàu nhất nước Úc.”
“Người phụ nữ giàu nhất thế giới,” người tài xế nói.
“Đừng dỏng tai nghe nữa!”
“Xin lỗi, Anouk.”
“Tôi không để cho ai gọi mình là bà Hobbs. À mà, đấy lại là chuyện khác. Nhưng chẳng phải thật là buồn cười khi tôi lại giàu có đến thế sao?” Còn hơn là buồn cười ấy chứ. Và còn hơn cả châm biếm nữa. Tôi chưa quên chúng tôi đã gặp nhau như thế nào - cô ta cào một chiếc chìa khóa dọc thân xe thể thao của bố vì cô ta căm ghét người giàu. “Nhưng cậu gầy quá!” cô thốt lên. “Chuyện gì đã xảy ra với cậu? Tôi chỉ nghe được những mẩu chuyện rời rạc thôi.”
Tôi bảo tài xế dừng xe và anh ta cho xe đỗ lại trong một ngõ cụt. Anouk và tôi leo ra khỏi xe, đứng trong con ngõ cạnh một gã say xỉn đang ngủ tay ôm chặt một cái ti vi bị vỡ, tôi kể cho cô ta nghe mọi chuyện về Eddie và Terry, về cái liên doanh dân chủ, Thái Lan, thuốc độc, đám đông cuồng sát, Caroline, và những kẻ buôn người. Khi tôi kể đến chuyến hải hành, Anouk cắn môi dưới, và khi tôi mô tả cái chết của bố, cô ta mút nó. Phần còn lại của câu chuyện cô nhắm nghiền mắt và để lại một nụ cười buồn bã, cay đắng trên mặt. Tôi không đề cập đến tranh vẽ của mẹ tôi, vì tôi cần phải giữ chút gì đó cho riêng mình.
“Về phần tôi,” cô ta nói, “tôi đang lẩn trốn. Mọi người muốn tôi quyết định phải làm gì. Liệu tôi có điều hành cái tập đoàn khổng lồ này hay không?”
“Cô có muốn không?”
“Một vài công việc trong số đó có thể thú vị. Có lẽ sẽ rất hay ho nếu tôi điều hành một xưởng phim. Tôi từng làm một phim ngắn, cậu có nhớ không?”
Tôi nhớ. Đó là một mạng lưới đáng sợ của những hình ảnh trừu tượng và biểu tượng rõ ràng về một gã nhà giàu thuyết phục một cô gái nghèo bán cho gã bộ ngực của cô ta, và khi đã mua được nó, gã ngồi với bộ ngực trong cái ghế bành mà gã ưa thích, mân mê nó, hôn hít nó, cố gắng làm cho núm vú dựng đứng lên, và khi núm vú không đứng lên, trong bất mãn và tuyệt vọng gã đã ném bộ ngực vào bếp nướng và ăn nó với sốt cà chua.
“Cậu nghĩ sao, Jasper? Cậu nghĩ tôi có thể điều hành một xưởng phim được không?”
“Dĩ nhiên là được.”
“Tôi sẽ tặng rất nhiều thứ cho bạn bè mình - công ty âm nhạc, hiệu sách, nhà hàng, hệ thống khách sạn, những chiếc du thuyền - và bố tôi luôn muốn một hòn đảo, nhưng tôi đang chờ đến sinh nhật của ông.”
“Cô không giữ lại thứ gì à?”
“Dĩ nhiên. Tôi không phải một con ngốc. Tôi sẽ giữ lại những tờ báo, tạp chí, đài phát thanh, đài truyền hình phát sóng miễn phí và truyền hình cáp, và xưởng phim cho riêng mình. Cậu tin được không, Jasper? Những cỗ máy truyền thông quyền lực nhất trong lịch sử văn minh nhân loại, và chúng đã rơi vào tay của chúng ta!”
“Ý cô là sao, của chúng ta?”
“Đó là điều tôi muốn nói với cậu đấy. Bây giờ cậu định làm gì?”
“Tôi muốn đi châu Âu để tìm kiếm gia đình của mẹ tôi. Nhưng tôi cần tiền. Anouk à, tôi có thể mượn ít tiền không? Tôi sẽ không trả lại đâu.”
Anouk bất chợt nhìn tới nhìn lui con ngõ, và tôi nghĩ dù bạn có là người nổi tiếng hay là tội phạm bị truy nã, sự chú ý thái quá đều khiến bạn mắc bệnh tâm thần hoang tưởng. Cô ta chồm về trước và trịnh trọng nói, “Dĩ nhiên rồi, Jasper. Tôi sẽ cho cậu bất cứ thứ gì cậu muốn.”
“Thật không?”
“Với một điều kiện.”
“Ố ồ.”
“Cậu phải giúp tôi một tay.”
“Không.”
“Cậu sẽ có rất nhiều quyền hành.”
“Quyền hành? Eo ơi.”
“Làm ơn đi mà.”
“Nghe này. Tôi thật tình chỉ muốn bỏ đi khỏi đất nước này và sống phần đời còn lại trôi nổi trong một đám sương mù ẩn danh. Tôi không muốn giúp cô một tay - cô muốn tôi giúp gì mới được?”
“Phụ trách mảng truyền thông.”
“Truyền thông gì?”
“Tất cả.”
“Tôi sẽ đi châu Âu. Tôi không muốn chết gí trong một văn phòng nào đó.”
“Đây là thế kỉ hai mươi mốt, vì vậy nếu cậu muốn...”
“Tôi biết đây là thế kỉ bao nhiêu. Tại sao mọi người cứ nói với tôi nó là thế kỉ bao nhiêu?”
“...vì vậy nếu cậu muốn xê dịch, cậu có thể. Cậu sẽ có một chiếc máy tính xách tay, một trợ lý, một cái điện thoại di động. Cậu có thể làm việc trên đường. Làm ơn mà, Jasper. Tôi chẳng còn tin ai khác nữa. Cậu chưa bao giờ thấy trên thế gian này lại có nhiều người công khai thèm muốn nhiều thứ đến như vậy đâu. Tất cả họ đều chìa tay ra, kể cả những người bạn cũ của tôi. Và sẽ không có ai cho tôi được một ý kiến trung thực. Cậu là người duy nhất mà tôi có thể tin tưởng. Vả lại, tôi nghĩ bố cậu đã chuẩn bị cho cậu cả đời để làm một việc như thế này. Có lẽ là cho chính công việc này. Có lẽ ông ấy đã biết ngay từ đầu rồi. Giống như là số phận vậy, cậu có nghĩ thế không? Cậu và tôi, chúng ta hoàn toàn là những kẻ không thích hợp cho vị trí này - đó chính là điểm tuyệt vời về nó.”
“Anouk, chuyện này thật điên rồ. Tôi có biết gì về báo chí với cả truyền hình đâu!”
“Và tôi cũng có biết khỉ gì về việc làm một bà trùm truyền thông đâu, vậy mà tôi lại trở thành thế này đây! Làm sao có thể xảy ra chuyện tôi ở vào vị trí này chứ? Và tại sao? Tôi đâu có nằm gai nếm mật để đạt được đến đây. Tôi đã rơi tõm vào nó. Tôi cảm thấy mình phải làm một điều gì đó.”
“Như là gì?”
Cô ta làm vẻ mặt rất đau khổ và nghiêm túc, vẻ mặt khiến cho mặt của bạn cũng trở nên đau khổ và nghiêm túc khi nhìn thấy nó.
“Jasper ạ, tôi tin rằng cuộc đời này dựa trên tình yêu. Và cái tình yêu có trật tự đó chính là luật nền tảng của vũ trụ.”
“Vũ trụ nào và nó ở đâu? Tôi rất muốn ghé qua và chào một cái.”
Anouk ngồi lên mép của một két bia rỗng. Cô ta đang tỏa ra niềm sung sướng và phấn khởi tinh khôi. Đúng, cô ta có thể đang giả vờ ghét sự biến chuyển tình tế lạ lùng này, sự biến chuyển đã làm cho cô trở thành người phụ nữ giàu có và quyền lực, nhưng tôi không tin.
“Tôi nghĩ rằng suy nghĩ của một người thường biểu thị thành hành động thực tế - rằng chúng ta dùng suy nghĩ để biến những sự việc thành hiện thực. Đúng không? Vậy thì, hãy nghĩ về việc này: một trong những căn bệnh đã trở thành dịch ở thế giới phương Tây là nghiện tin tức. Báo chí, tin trên mạng, những kênh tin tức hai mươi bốn giờ. Mà tin tức là gì? Tin tức là lịch sử trong quá trình hình thành. Vậy nghiện tin tức chính là nghiện kết quả của lịch sử. Cậu có theo kịp tôi không?”
“Tôi hiểu rồi. Nói tiếp đi.”
“Trong vài thập niên qua, tin tức đã được sản xuất như phương tiện giải trí. Vì thế cơn nghiện tin tức của thiên hạ chính là cơn nghiện chức năng giải trí của nó. Nếu cậu kết hợp sức mạnh của suy nghĩ với cơn nghiện tin giải trí này, thì khán giả, một bộ phận trong hàng trăm triệu con người vốn mong mỏi hòa bình trên trái đất, sẽ bị lấn lướt bởi một bộ phận những kẻ muốn chương tiếp theo của câu chuyện. Mỗi một người khi mở tin lên và thấy không có diễn biến mới thì sẽ thất vọng. Họ kiểm tra tin tức hai ba lần mỗi ngày - họ muốn bi kịch, và bi kịch có nghĩa không chỉ chết chóc mà là chết chóc hàng nghìn người, vì thế trong những ngóc ngách bí mật của mình, mỗi kẻ nghiện tin đều hi vọng có thảm họa lớn hơn, nhiều xác chết hơn, nhiều cuộc chiến oanh liệt hơn, nhiều cuộc tấn công kẻ thù đáng sợ hơn, và những mong muốn này đang phát ra thế giới mỗi ngày. Cậu không thấy sao? Ngay lúc này, hơn bất cứ lúc nào trong lịch sử, mong muốn của đại chúng là một mong muốn đen tối.”
Gã đàn ông vô gia cư nhếch nhác đã tỉnh dậy và đang lén lút đưa cặp mắt nửa nhắm nửa mở nhìn từ Anouk sang tôi, một nụ cười chán nản trên mặt gã, như muốn đáp trả lý thuyết của Anouk rằng trước đây gã đã nghe hết chuyện này rồi. Mà có lẽ gã đã nghe thật.
“Vậy cô định làm gì?”
“Chúng ta phải làm cho thiên hạ giảm dần cơn nghiện của họ, nếu không ta sẽ phải trả giá bằng địa ngục.”
“Chúng ta.”
“Phải, Jasper ạ.”
Tôi nhìn gã say rượu trong con ngõ để đảm bảo rằng mình không phải đang tưởng tượng ra toàn bộ chuyện này. Tôi có muốn giúp Anouk thực hiện kế hoạch của cô ta không? Chắc chắn rồi, tôi có thể kiểm soát những tờ báo và đăng những tiêu đề tếu táo như “Tờ báo này vô hiệu hóa suy nghĩ độc lập” và theo đuổi mục tiêu của Anouk trong việc chống lại cơn nghiện “tin tức” này bằng cách viết những bản tin nhàm chán, khô như ngói - phát sóng hạn chế và tường thuật những sự kiện tầm thường mà tích cực (các cụ bà trồng vườn mới, những ngôi sao bóng đá ăn tối với gia đình họ) và không cho những kẻ giết người hàng loạt cơ hội lọt vào guồng quay nổi tiếng.
Tuy nhiên, đảm nhận một vai trò công chúng là điều cuối cùng mà tôi muốn làm. Công chúng vẫn còn có khuynh hướng dễ nổi cơn thịnh nộ khi nghe nhắc đến bố tôi, và vì vậy mà người ta sẽ ghét tôi bất kể tôi làm gì. Tất cả những gì tôi muốn là tan chảy vào trong đám đông rộng lớn của những người không nói tiếng Anh và nếm hương vị của những cô gái mặc áo thun bó sát ở mọi thành phố trên thế giới. Vậy mà Anouk lại muốn giao tôi quyền kiểm soát bộ phận tin tức?
“Anouk, thế này nhé. Cô hãy bắt đầu mà không có tôi. Tôi sẽ gọi điện cho cô sau sáu tháng nữa, để xem cô làm ăn ra sao, và khi đó có thể tôi sẽ đến và giúp cô. Nhưng xin nhấn mạnh là có thể thôi nhé.”
Cô ta phát ra một âm thanh kì lạ trong cổ họng và bắt đầu thở khó nhọc. Đôi mắt cô ta chẳng hiểu sao lại tròn hơn. Tôi gần như suy sụp. Làm thất vọng bản thân mình ngày này qua ngày khác suốt cuộc đời đã khổ sở lắm rồi, nhưng làm thất vọng người khác cũng khiến ta đau khổ chẳng kém. Đó là lý do vì sao bạn không nên trả lời điện thoại hoặc ra mở cửa. Để bạn khỏi phải nói không với bất kì ai ở đầu bên kia.
“Thôi được, Jasper. Nhưng tôi muốn cậu làm một việc trước khi đi.”
“Việc gì?”
“Viết cáo phó cho bố cậu và tôi sẽ đăng nó lên báo.”
“Để làm gì? Người ta không quan tâm đâu.”
“Tôi quan tâm. Và cậu cũng thế. Tôi hiểu cậu mà - cậu có lẽ chưa cho bản thân mình để tang bố cậu theo bất kì cách nào. Tôi biết ông ấy là chuyên gia phá bĩnh, nhưng ông ấy yêu cậu và đã biến cậu thành người như ngày hôm nay và cậu nợ ông ấy cũng như nợ bản thân mình việc viết gì đấy về ông. Thứ cậu viết ra tô hồng hay bôi đen không quan trọng. Chỉ cần nó trung thực và xuất phát từ con tim chứ không phải từ bộ não.”
“Được rồi.”
Chúng tôi leo lên xe, và gã đàn ông vô gia cư nhìn chúng tôi với đôi mắt mỉm cười như nói rằng gã đã nghe lỏm cuộc trò chuyện của hai con người đã làm ra vẻ quá nghiêm trọng.
***
Chiếc xe dừng lại ngoài khu chung cư của tôi và chúng tôi ngồi ở băng ghế sau mặt đối mặt, không chớp mắt, không một cử động dù là nhỏ nhất.
“Chắc chắn là tôi không thể thuyết phục cậu ở lại Úc thêm vài tháng nữa à?”
Rõ ràng điều mà cô ta cần hơn bất cứ thứ gì là có một gương mặt thân thiết cạnh bên, và tôi cảm thấy ray rứt vì tôi sắp đem gương mặt của mình đi châu Âu.
“Xin lỗi, Anouk. Tôi phải làm việc này thôi.”
Cô ta gật đầu, rồi viết cho tôi một ngân phiếu 25.000 đô la. Tôi mang ơn vô cùng, nhưng chưa đến mức khiến tôi không ước gì nó nhiều hơn.
Chúng tôi hôn tạm biệt, và tôi gần như tan nát cõi lòng khi nhìn theo bóng chiếc Mercedes đen khuất khỏi tầm mắt, nhưng tôi xốc lại tinh thần, như thói quen vẫn làm. Tôi đi đến ngân hàng và nạp tờ ngân phiếu vào tài khoản của mình. Tôi có thể phải đợi đến ba ngày mới có thể rút được số tiền này để mua cho mình tấm vé một chiều đi đến một nơi nào khác. Những ngày này dường như quá dài.
Khi về đến nhà, tôi nằm trên sofa nhìn lên trần nhà và cố gắng không nghĩ gì đến việc trên ghế sofa có những sợi lông mèo mà ngày hôm qua không có. Vì không nuôi mèo nên tôi không lý giải được việc này. Chỉ là một bí mật khó hiểu và vô nghĩa khác của cuộc đời mà thôi.
Tôi cố ngủ, và khi không tài nào chợp mắt được, tôi cố đưa giấc ngủ đến với mình. Việc đó cũng không thành công. Tôi ngồi dậy uống hai lon bia và nằm xuống ghế sofa lần nữa. Tâm trí tôi bắt đầu đào xới lên một ít hình ảnh mong manh có vẻ như sẽ vỡ bất cứ lúc nào nếu tôi nghĩ đủ nhiều về chúng. Tôi quyết định thôi thì nghĩ về tương lai. Ba ngày nữa tôi sẽ ngồi trên chuyến bay đến châu Âu, hệt như bố tôi đã từng làm, ở độ tuổi tương tự, khi mà hầu hết những người ông biết đều đã chết. Ôi, đôi khi bạn cũng phải đi theo vết chân của người khác. Bạn không thể hi vọng rằng mọi tiếng ho, cái gãi, và cú hắt hơi đều là của bạn.
Khoảng nửa đêm tôi bắt đầu viết cáo phó cho bố mình để Anouk đăng báo. Sau khi dán mắt vào tờ giấy trắng trong hai ngày, tôi bắt đầu.
Martin Dean, 1956-2001
Bố tôi là ai?
Đồ bỏ đi của vũ trụ.
Lớp màng béo ngậy.
Vết loét trên miệng thời gian.
Ông đã rất tiếc khi không được mang một cái tên lịch sử vĩ đại như Giáo hoàng Vô tội Đệ bát hay Lorenzo Vĩ đại.
Ông là người đầu tiên nói với tôi rằng không ai mua bảo hiểm nhân thọ nếu nó được gọi là bảo hiểm tổn thọ.
Ông nghĩ định nghĩa hay nhất của sự thấu đáo chính là đem chôn tro cốt của ta.
Ông nghĩ những người không đọc sách thì không biết có bất kì thiên tài quá cố nào đang chờ đợi họ viếng thăm.
Ông nghĩ rằng dường như không có đam mê sống, chỉ có lối sống.
Về Chúa - ông nghĩ rằng nếu bạn sống trong một ngôi nhà, thì việc biết tên của kiến trúc sư đã thiết kế nó chỉ là một mối quan tâm mang tính danh nghĩa.
Về sự tiến hóa - ông nghĩ rằng thật bất công khi con người nằm ở trên cùng của chuỗi thức ăn trong khi y vẫn tin vào những tiêu đề báo chí.
Về sự đau đớn và khổ sở - ông nghĩ rằng bạn có thể chịu đựng được tất cả. Chỉ có nỗi sợ trước sự đau đớn và khổ sở mới là không thể chịu nổi.
Tôi nghỉ một chút và đọc lại những gì mình đã viết. Tất cả đều đúng. Không tệ. Việc này đang diễn ra tốt đẹp. Nhưng tôi nên thể hiện theo hướng riêng tư hơn. Dẫu sao thì, ông không chỉ là một bộ não trong cái lọ phun ra những ý tưởng, ông cũng là một con người với những cảm xúc khiến ông phát ốm.
Ông chưa bao giờ đạt được sự cô đơn không lẻ loi. Nỗi cô đơn của ông vô cùng kinh khủng đối với ông.
Ông không thể nghe một người mẹ gọi đứa con của mình trong công viên mà không cất tiếng gọi theo, bấn loạn với cảm giác rằng có chuyện chẳng lành đã xảy ra với Hugo bé nhỏ (hay bất kì cái tên nào khác).
Ông luôn tự hào về những thứ khiến cho người khác phải xấu hổ.
Ông mắc chứng mặc cảm về Chúa khá phức tạp.
Thế giới quan của ông dường như là một thứ gì đó giống như “Nơi này chán ốm. Hãy tân trang nó nào.”
Ông là người thừa năng lượng một cách khó tin nhưng lại thiếu những sở thích thực sự cần đến năng lượng, vì thế ông thường đọc sách trong lúc đi bộ và xem ti vi trong lúc đi đi lại lại các phòng.
Ông có thể đồng cảm với bất kì ai, và nếu biết ai đó trên đời đang chịu khổ sở, ông sẽ phải về nhà và nằm xuống.
Được rồi. Còn gì nữa?
Tôi đọc lại những gì mình đã viết và quyết định đã đến lúc đi vào trọng tâm của bố.
Khái niệm về cái chết của bố đã hủy hoại toàn bộ cuộc đời ông. Chính ý nghĩ về nó đã hạ gục ông như một cơn sốt nhiệt đới kịch độc nào đó.
Chúa ơi. Đề tài này khiến toàn thân tôi cảm thấy thật nặng nề. Hệt như Terry đã nhận ra rằng nỗi sợ chết đã gần như giết chết ông, bố thường lặp đi lặp lại lời kết tội của ông rằng nỗi sợ chết là nguyên cớ nền tảng của mọi đức tin nhân loại. Giờ đây tôi nhận thấy mình đã hình thành một biến thể đáng ghét của căn bệnh này, đó là nỗi sợ đối với nỗi sợ chết. Đúng, khác với bố và khác với Terry, tôi không sợ chết nhiều bằng sợ hãi nỗi sợ dành cho nó. Nỗi sợ khiến con người tin tưởng, và giết nhau, và giết chính họ; tôi sợ nỗi sợ này bởi nó có thể khiến tôi tạo ra trong vô thức một lời nói dối dễ chịu hoặc khó hiểu mà tôi có thể sẽ lấy đó làm nền tảng cuộc đời.
Chẳng lẽ tôi sẽ không lên đường để truy đuổi khuôn mặt từ những cơn ác mộng của mình?
Chẳng lẽ tôi sẽ không bắt đầu một chuyến đi để biết rõ hơn về khuôn mặt đó? Và về mẹ tôi? Và về bản thân tôi?
Hay là tôi sẽ làm thế?
Bố luôn nói rằng con người chẳng hề thực hiện những hành trình mà dành cả đời tìm kiếm và thu thập bằng chứng để lý giải những niềm tin mà họ cất giữ trong lòng từ thuở ban sơ. Họ đã có những phát hiện mới, hẳn rồi, nhưng những phát hiện này hiếm khi lay chuyển cấu trúc lòng tin cốt lõi của họ - họ chỉ bồi đắp nó thêm mà thôi. Ông tin rằng nếu nền tảng được giữ nguyên vẹn, thì xây cái gì trên nó không quan trọng, đó chẳng phải là một hành trình gì cả. Nó chỉ là công việc đắp lớp. Ông không tin rằng trên đời này lại có ai khởi đầu từ con số không. “Thiên hạ không tìm kiếm lời giải đáp,” ông thường nói. “Họ chỉ tìm kiếm những sự thật để chứng minh luận điểm của họ.”
Ý này khiến tôi nghĩ đến hành trình của ông. Toàn bộ nó có ý nghĩa gì? Ông có thể đã đi vòng quanh thế giới, nhưng dường như ông đã không đi xa lắm. Ông có thể đã nhúng mình xuống những biển hồ trải nghiệm khác nhau, nhưng tinh thần ông vẫn vẹn nguyên hương sắc. Toàn bộ kế hoạch, mưu đồ, và dự định của ông đều tập trung vào con người trong mối quan hệ với xã hội, hoặc lớn hơn - với nền văn minh, hoặc nhỏ hơn - với cộng đồng. Ông khao khát thay đổi thế giới quanh ông, nhưng ông nhận thấy bản thân mình lại vững chắc và không thể thay đổi. Ông không có hứng thú với việc kiểm tra những giới hạn trong bản thân ông. Con người có thể mở rộng đến đâu? Liệu bản chất của anh ta có thể được phát hiện và mở rộng hay không? Liệu trái tim có thể dựng đứng hay không? Liệu linh hồn bạn có thể trút ra ngoài miệng bạn không? Liệu một ý nghĩ có thể lái xe không? Dường như điều đó đã không nảy ra trong đầu ông.
Cuối cùng tôi biết làm thế nào để chống lại cách sống của bố! Tính chất của sự vô tổ chức trong tôi đã rõ. Như chú Terry, tôi sẽ sống tựa như đang ở bên bờ vực của cái chết, như trái đất đã chìm hoặc vùng vẫy. Văn minh? Xã hội? Ai quan tâm chứ. Tôi sẽ quay lưng với sự phát triển, và khác với bố, tôi sẽ tập trung không phải vào bên ngoài mà là vào bên trong.
Để đạt đến tận cùng của bản thân tôi. Để đạt đến tận cùng của suy nghĩ. Để vượt lên trên thời gian. Như mọi người, tôi bị bão hòa trong thời gian, tôi đang thấm vào nó, tôi đang chìm trong nó. Việc tiêu diệt mắc mứu sâu thẳm, khái quát, mang tính tâm lý này sẽ là con át trong quân bài của tôi.
Tôi đã giao tiếp ý nghĩ của mình thành công với bố từ khu rừng ở Thái Lan, dù ông đã lựa chọn không tin nó. Điều đó có nghĩa là việc biến ý nghĩ thành hiện thực có tồn tại. Vì vậy mà bạn phải cẩn thận trước những gì bạn nghĩ. Vì vậy mà hầu hết bác sĩ thường âm thầm thừa nhận rằng sự trầm cảm, chứng căng thẳng, và nỗi buồn thương ảnh hưởng đến hệ miễn dịch của chúng ta, cũng giống như sự cô đơn. Thực tế cho thấy, sự cô đơn có liên quan đến tỉ lệ tử vong cao hơn thông qua bệnh tim mạch, ung thư, và tự tử, và thậm chí đến cả cái chết do tai nạn, có nghĩa là cảm thấy cô đơn có thể dẫn đến sự vụng về chết người. Hãy đến gặp bác sĩ nếu thấy cô đơn kéo dài.
Chúng ta khờ dại đắm mình trong những suy nghĩ tiêu cực, không hề biết rằng nghĩ đi nghĩ lại “Mình thật khốn kiếp” có thể gây ung thư không thua kém việc hút một thùng thuốc lá Camel không dùng đầu lọc. Vậy thì, tôi có nên tạo một thiết bị để làm cho mình bị điện giật nhẹ mỗi khi tôi có những tư tưởng tiêu cực không? Liệu nó có hoạt động không? Còn tự thôi miên thì sao? Ngay cả trong những ảo tưởng, niềm tin, những suy nghĩ, và ảo giác của tôi, tôi có thể ngăn tâm trí mình không chạy vào đường cũ không? Tôi có thể giải phóng bản thân không? Làm mới bản thân? Thay thế bản thân như tế bào da cũ? Việc đó có tham vọng quá không? Sự nhận thức bản thân có nút tắt không? Tôi chả biết nữa. Novalis nói rằng vô thần là khi bạn không tin tưởng vào chính mình. Thôi được, xét về phương diện này thì tôi có lẽ là một kẻ theo thuyết bất khả tri, nhưng nói gì thì nói, đây có phải là dự án của tôi không? Để kiểm tra giới hạn của sức mạnh lý trí và để xem thế giới vật chất thực sự trông như thế nào? Vậy thì sao? Tôi có thể thuộc về thế giới và ở trong thế giới ngay cả khi tôi đã đâm sầm qua không gian và thời gian? Hay là tôi phải sống trên một đỉnh núi? Tôi thực tình không muốn thế. Tôi muốn sống ở dưới đáy và hối lộ những đứa trẻ bảy tuổi để chúng mua cho tôi những tấm vé xem phim bằng nửa giá. Tôi giải quyết thế nào với những tham vọng xung khắc đó? Và tôi biết rằng để đạt đến giác ngộ tôi cần phải chứng kiến sự phân hủy những ham muốn của bản thân, nhưng tôi thích những ham muốn đó, vậy thì con người phải làm sao?
***
Tôi sắp xếp đồ đạc và bản thảo vào giỏ xách, cho vào một tấm ảnh của mẹ Astrid. Bà mới đẹp làm sao. Tôi tâm niệm điều đó. Xã hội thè lưỡi ra trước một khuôn mặt đẹp; tất cả những gì tôi phải làm là bước lên cái lưỡi và đi vào trong cái miệng sẽ kể cho tôi mọi thứ tôi cần biết. Người đàn bà này đã chạm vào nhiều cuộc đời, và đó không chỉ là cuộc đời của bố tôi. Vài người hẳn đã chết. Vài người hẳn đã già khú đế. Nhưng ở nơi nào đó vẫn còn những người bạn thời thơ ấu, bạn trai, người yêu. Ai đó sẽ phải nhớ bà. Ở nơi nào đó.
Cả bố lẫn tôi đều không dành quá nhiều tình yêu cho tôn giáo, vì chúng tôi thích điều bí ẩn hơn phép nhiệm màu, nhưng bố không thực sự yêu thích cả điều bí ẩn - nó giống như hòn sỏi trong giày ông. Chà, tôi sẽ không phớt lờ những điều bí ẩn như ông đã làm. Nhưng tôi cũng sẽ không cố gắng giải mã chúng. Tôi chỉ muốn xem điều gì xảy ra khi ta nhìn vào cốt lõi của nó. Tôi sẽ đi theo bằng những bước ngu ngốc, loạng choạng của mình. Tôi sẽ đi lang thang trên đời trong một thời gian và tìm gia đình của mẹ và người đàn ông có khuôn mặt trên trời và xem những mối quan hệ bí ẩn này sẽ đưa tôi đến đâu - đến gần hơn việc hiểu mẹ mình hay đến một tai ương không thể hình dung nổi nào đó.
Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ. Bình minh đang đến. Tôi pha một tách cà phê rồi đọc lại bản cáo phó lần cuối. Tôi cần một đoạn kết. Nhưng làm sao bạn có thể kết luận một cuộc đời như cuộc đời của ông? Mục đích của ông là gì? Ý tưởng nào có thể kết thúc chuyện này? Tôi quyết định rằng mình nên đề cập đến tất cả những kẻ dốt nát không biết suy nghĩ nọ, những kẻ đã gọi bố là tên khốn kiếp mà thậm chí không biết rằng ông quả là một người như thế.
Martin Dean là bố của tôi.
Việc viết ra câu này khiến tôi choáng váng. Đột nhiên tôi cảm thấy điều mà tôi chưa từng cảm thấy trước đây - vinh hạnh. Tôi chợt cảm thấy mình ngon lành hơn một tỉ đứa con trai khác, vinh hạnh vì tôi đã từng có may mắn được nuôi dạy bởi một nồi ý tưởng di động kì quặc, không có tương lai. Vậy nếu ông là một triết gia huyễn hoặc bản thân đến góc đường cùng thì sao? Ông cũng đã là một người biết đồng cảm từ khi mới sinh ra, một kẻ thà để bị chôn sống chứ không chịu để sự khiếm khuyết của mình gây tổn hại nghiêm trọng đến bất kì ai. Ông đã là bố tôi. Ông đã là một gã ngốc. Ông đã là gã ngốc của tôi.
Không có cách nào để tóm gọn ông lại. Làm sao tôi làm thế được? Nếu tôi chỉ là một phần của ông, làm sao tôi có thể biết được ông là một phần của ai?
Tôi viết tiếp:
Bố tôi từng bị những người ở đất nước này gọi bằng nhiều cái tên khủng khiếp. Thôi được, ông không phải là Gandhi hay Đức Phật, nhưng thành thật mà nói, ông cũng chẳng phải là Hitler hay Stalin. Ông nằm đâu đấy ở lưng chừng. Nhưng điều tôi muốn biết là, quan điểm của bạn về bố tôi nói lên điều gì về bạn?
Khi một kẻ đến với cuộc đời và chạm đến những cái đáy tồi tệ nhất mà con người có thể chìm tới, thì chúng ta luôn gọi người ấy là một con quái vật, hay kẻ xấu, hay hiện thân của cái xấu, nhưng không bao giờ có bất kì gợi ý hoặc đề nghị nghiêm túc nào về chuyện có gì đó thực sự siêu nhiên hoặc phi hiện thực về con người này. Người ấy có thể là một kẻ độc ác, nhưng anh ta cũng chỉ là một con người. Nhưng khi một người phi thường sống ở mặt bên kia của lăng kính, thì người tốt, nổi lên trên bề mặt, như Jesus hoặc Đức Phật, lập tức chúng ta nâng tầm anh ta lên thành Thượng đế, thành thánh, thành cái gì đó thiêng liêng, siêu thực, phi hiện thực. Đây là sự phản chiếu cách chúng ta nhìn bản thân mình. Chúng ta chẳng mấy khó khăn khi tin rằng sinh vật tồi tệ nhất gây hại nhiều nhất chính là một con người, nhưng chúng ta tuyệt đối không thể tin rằng sinh vật tốt nhất, kẻ cố gắng để khơi gợi trí tưởng tượng, tính sáng tạo, và lòng thương người, có thể là một người trong số chúng ta. Chúng ta đơn giản là không nghĩ tốt về bản thân mình, mà chỉ rất sẵn lòng nghĩ xấu như vậy.
Viết thế có lẽ được rồi. Một đoạn kết hay, khó hiểu, lạc đề. Làm tốt lắm, tôi ơi. Tôi bỏ nó vào bì thư gửi cho Anouk tại Bộ phận Tin tức Hobbs, đi đến ngân hàng để kiểm tra tiền trong tài khoản, rồi đón một chiếc taxi đi sân bay. Lần này tôi sẽ rời khỏi đất nước bằng chính tên của mình.
“Tôi muốn mua một vé đi châu Âu,” tôi nói với người phụ nữ không nở nụ cười tại quầy vé.
“Châu Âu chỗ nào?”
“Hỏi hay lắm. Tôi chưa nghĩ đến chuyện đó.”
“Vậy à,” cô ta nói, rồi dựa lưng vào ghế và nhìn lướt qua vai tôi. Tôi nghĩ cô ta đang tìm một ống kính truyền hình.
“Có chuyến bay kế tiếp nào đến châu Âu không?”
Cô ta nhìn tôi thêm vài giây nữa rồi bắt đầu gõ bàn phím với vận tốc ánh sáng. “Có một chuyến bay đến Cộng hòa Czech trong một giờ rưỡi nữa.”
Cộng hòa Czech ư? Vì lý do nào đó tôi đã nghĩ cô ta sẽ nói Paris, thế là tôi nói, “Tôi tin rằng Paris vào mùa này rất đáng yêu.”
“Anh có muốn lấy vé hay không nào?”
“Chắc chắn là có. Tôi tin rằng Cộng hòa Czech vào mùa này rất đáng yêu.”
Sau khi mua vé và gửi giỏ xách, tôi ăn món bánh gối nhân rau giá 10 đô la, có vị còn dở hơn cả món tem bảy món. Rồi tôi đi đến quầy điện thoại và tra trong những trang trắng để xem Nhà xuất bản Strangeways còn tồn tại hay không và xem Stanley còn điều hành nó hay không, cái tay đã xuất bản quyển Cẩm nang tội ác của Harry West nhiều năm trước.
Nó nằm đó rõ mười mươi. Tôi bấm số.
“Xin chào?”
“Chào. Đấy có phải là Stanley không?”
“Phải.”
“Ông vẫn còn xuất bản sách chứ?”
“Tạp chí cho đàn ông.”
“Tôi vừa viết một quyển sách mà theo tôi ông sẽ quan tâm.”
“Tôi đã bảo là tạp chí cho đàn ông mà. Cậu điếc rồi à? Tôi không xuất bản sách.”
“Đó là một tự truyện.”
“Tôi không quan tâm. Của ai?”
“Martin Dean.”
Tôi nghe thấy một tiếng hít vào rất rõ ở đầu dây bên kia. Nó rõ đến độ suýt hút tôi vào ống nghe.
“Cậu là ai?”
“Con trai ông ấy.”
Im lặng. Rồi tôi nghe thấy tiếng ai đó di chuyển một số giấy tờ quanh bàn, và tiếng ai đó đóng ghim cái gì đó nghe không giống như giấy.
“Là Jasper, phải không?” Stanley nói.
“Đúng vậy.”
“Cậu có muốn đến văn phòng tôi không?”
“Tôi sẽ gửi nó bằng đường bưu điện, nếu ông thấy việc đấy không thành vấn đề. Tôi sắp đi nước ngoài và tôi không biết tôi sẽ đi bao lâu hoặc là có trở về hay không nữa. Ông cứ tự nhiên làm những gì ông muốn với nó.”
“Thôi được. Cậu có địa chỉ của tôi chưa?”
“Tôi có rồi.”
“Tôi mong đến ngày được đọc nó. Này, tôi rất tiếc về chuyện bố cậu.”
Tôi gác máy mà không trả lời. Thực lòng, tôi không biết ông ta lấy làm tiếc về việc bố đã chết hay ông ta chỉ lấy làm tiếc rằng bố đã là bố tôi.
Lúc này tôi đang ngồi ở quầy bar của sân bay, uống một chai bia Nhật đắt vô lý. Ngồi ở bàn cạnh bên là một phụ nữ với con mèo nằm trong cái lồng mèo nhỏ. Bà ta đang nói chuyện với con mèo, gọi nó là John. Những kẻ đặt tên người cho con vật cưng của họ khiến tôi trầm cảm phát sốt. Tôi nghe bà ta gọi tiếp và việc này trở nên tệ hơn. Tên của con mèo không chỉ là John. Nó là John Fitzpatrick. Thế thì quá lắm.
Giờ thì tôi đã kể câu chuyện của chúng tôi đến từng chi tiết ăn đấm, thắt ruột, té ghế, gặm móng tay, kéo môi, nghiện thuốc, nghiến răng, tôi tự hỏi: liệu việc đó có đáng không? Không hẳn là tôi muốn bắt đầu một cuộc cách mạng hay kết thúc một cuộc khác đang diễn ra. Trước khi cầm bút, tôi không phải là nhà văn, nhưng viết một quyển sách khiến bạn trở thành nhà văn. Dù sao thì, tôi không biết mình có muốn trở thành một nhà văn hay không nữa. Herman Hesse từng nói, “Khả năng sáng tạo thực sự làm con người bị cô lập và đòi hỏi phải loại trừ một điều gì đó ra khỏi sự tận hưởng cuộc sống.” Điều đó đối với tôi nghe không vui vẻ lắm.
Một thông báo vừa nói chuyến bay của tôi sắp đến giờ lên máy bay. Tôi sẽ viết thêm vài từ cuối cùng trước khi cho cái này vào hộp thư gửi đến Stanley. Suy nghĩ nào sẽ thích hợp để kết thúc đây?
Có lẽ tôi nên kết thúc với một nhận định bán sâu sắc về cuộc đời tôi.
Hoặc về việc đôi khi mỏ neo có thể chạm trúng những con cá bơi chậm.
Hoặc về việc nuốt nước bọt thường xuyên thật ra là sự kiềm nén một cơn thèm khát bạo lực.
Hoặc về việc thiên hạ thường thương khóc kẻ mới chết chứ không bao giờ thương khóc kẻ chết đã lâu.
Hoặc về việc những nhà bác học ngu ngốc đã khiến bác sĩ của họ ngạc nhiên như thế nào, những kẻ thất bại đổ lỗi cho bố họ ra sao, và những kẻ thất bại đổ lỗi cho con cái của họ cách nào.
Hoặc về việc nếu bạn lắng nghe kĩ, bạn sẽ phát hiện rằng con người không thực sự ủng hộ cái gì mà chỉ phản đối sự trái ngược của điều đó.
Hoặc về việc khi bạn là đứa trẻ, để ngăn bạn làm theo số đông, bạn sẽ bị phủ đầu với câu “Nếu mọi người nhảy khỏi cầu, con cũng làm thế ư?” nhưng khi bạn là người lớn và sự khác người bỗng dưng trở thành một cái tội, thì người ta hình như hay nói, “Này. Mọi người đang nhảy khỏi cầu. Sao cậu không làm đi?”
Hoặc về việc khi đám phụ nữ phẫu thuật thẩm mỹ quá lố chết đi, Thượng đế chào đón họ trong tâm trạng bối rối, nói rằng, “Tôi chưa từng gặp người phụ nữ ấy trong đời.”
Hay là tôi nên kết thúc một cách tích cực và nói rằng ngay cả khi bạn thấy mình không còn người thương yêu để chôn cất, thì tốt nhất vẫn nên lạc quan và đem theo một cái xẻng bên mình, biết đâu đấy?
Không, chẳng điều nào có vẻ đúng cả. Mà dù sao thì tôi cũng không còn thời gian nữa. Tôi sẽ đến giờ lên máy bay trong mười phút nữa. Đoạn này sẽ phải là đoạn kết. Xin lỗi nhé, bất kể bạn là ai. Mà này - đó là câu hỏi đấy: ai có thể thực sự đọc cái này nếu Stanley quả thực có xuất bản nó? Có ai không? Chắc chắn phải có một kẻ vô tích sự nào đấy trong số sáu tỉ con người có được vài ngày rảnh rỗi. Một linh hồn buồn chán trong số người kinh hoàng chen chúc nhau trong quả bóng màu xanh lục và xanh biển này. Bạn biết không, tôi đọc được ở đâu đó rằng đến năm 2050 sẽ có thêm vài tỉ người nữa. Thật là một sự bùng nổ nhân loại khủng khiếp! Tôi bảo này, bạn không cần phải là một kẻ xa rời quần chúng mới có thể rùng mình trước ý nghĩ nhiều người đến thế đâm sầm vào nhau trên đường, nhưng nó cũng có ích đấy.
HẾT
[62] Laksa: một loại mì nước cay.
[63] Cà ri rừng (jungle curry): món cà ri không nấu kèm với nước cốt dừa, có xuất xứ từ miền bắc Thái Lan.
[64] Joseph Conrad (1857- 1924): tiểu thuyết gia người Anh sinh ở Ba Lan.
[65] George Orwell (1903-1950): bút danh của nhà báo, tiểu thuyết gia người Anh Eric Arthur Blair.
[66] Thị thực bảo vệ tạm thời (TPV): một loại thị thực được chính quyền của thủ tướng Howard áp dụng từ năm 1999, cấp cho những người được công nhận là người tị nạn sau khi đến Úc trái phép. Đây là loại thị thực chủ yếu được cấp cho người tị nạn sau khi họ được thả ra khỏi các trại tạm giam nhập cư của Úc. Người mang TPV không được phép xuất cảnh hoặc tìm việc làm ở Úc. Trong thời gian thị thực có hiệu lực, họ không được hưởng phúc lợi xã hội, và không được đứng ra hỗ trợ cho người nhà định cư ở Úc. Từ khi TPV bị chính quyền của thủ tướng Kevin Rudd bãi bỏ vào tháng 8-2008, số người nhập cư trái phép đến Úc đã giảm đáng kể.
[67] George Orwell (1903-1950): bút danh của nhà báo, tiểu thuyết gia người Anh Eric Arthur Blair (Sđd, tr. 427)
