Một mảnh trò đời

Lượt đọc: 9624 | 6 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
i.

Tại sao, ôi tại sao tôi cũng chạy trốn? Tại sao tôi lại muốn cùng chia sẻ số phận với bố, sau tất cả những gì đã xảy ra giữa hai chúng tôi? Vì tôi là đứa con trai hiếu thảo? Bạn không thể biết được. Tôi yêu bố tôi, bất kể tình yêu ấy khiếm khuyết ra sao. Đó có phải là lý do không? Ý tôi là, lòng trung thành là một chuyện, nhưng nói cho cùng, bố, người đã hủy hoại cuộc đời tôi. Thế lẽ ra đã đủ cho tôi có quyền để mặc ông lao vào thế giới hoang dã mà không có tôi. Việc ông can thiệp vào chuyện tình cảm của tôi là không thể tha thứ. Thôi được, chuyện tôi yêu một người con gái không phải là một cô gái mà là một tòa nhà bốc cháy, đấy không phải lỗi của bố. Và cũng không phải lỗi của ông khi cô ta chọn một người đàn ông khác chứ không phải tôi. Tôi chẳng có cớ gì để kêu ca; tôi tôi, và thật đáng xấu hổ như thế. Không phải lỗi của bố khi tôi không thể dùng vũ lực đối với tình cảm của cô ấy, khi tôi chẳng nghĩ ra được một lời đề nghị mà cô ấy không thể khước từ. Vậy là cô ấy khước từ tôi, thế thôi. Có phải là lỗi của bố khi cái dinh thự bốc cháy này yêu gã bạn trai cũ thất bại của cô ấy và hi sinh chúng tôi trên bệ thờ của tình yêu đó? Không, không phải. Nhưng tôi vẫn trách ông. Đó là cái hay khi trách móc; tôi thích đưa cô ấy đi đâu thì đưa, miễn bàn.

Việc Eddie gian lận trong quá trình chọn triệu phú và đẩy bố vào chỗ chết là một cú đâm lén nóng hổi mà tôi tha thiết muốn kể cho bạn gái của mình nghe trước khi tin tức xì ra, dù nghiêm túc mà nói, cô ấy không còn là bạn gái tôi nữa. Có lẽ đó chỉ là một cái cớ hay để gặp lại cô ấy - tiết lộ bí mật gia đình. Và tôi thì cần một cái cớ. Hỏa ngục đã bỏ tôi, mà việc giữ liên lạc với người đã bỏ bạn là chuyện nan giải, thật sự rất, rất khó để không lộ vẻ thảm hại. Tôi đã hai lần tìm cách gặp cô ấy, và cả hai lần tôi đều trông rất thảm hại. Lần đầu tiên tôi trả lại cái áo ngực mà cô ấy để quên trong chòi của tôi, còn lần thứ hai tôi trả lại cái áo ngực của cô ấy mà thực ra tôi mới mua buổi sáng hôm đó trong một cửa hàng bách hóa. Chẳng có lần nào cô ấy vui vẻ gặp tôi - cô ấy nhìn tôi tựa như tôi chả là cái đinh gì trong mắt cô ấy.

Lần thứ ba tôi đến nhà cô ấy và đặt ngón tay lên chuông điện. Tôi nhớ đó là một ngày rất đẹp, với những dải mây gân guốc xoáy trong gió mới, không khí có mùi nước hoa nồng nàn, đậm đặc như loại nước hoa đắt tiền mà các quý bà giàu có xức lên lũ mèo của họ.

“Anh muốn gì?” cô ấy sốt ruột hỏi.

“Không có gì. Anh chỉ muốn nói chuyện thôi.”

“Em không thể nói chuyện về chúng ta được nữa bởi vì chẳng còn chúng ta nữa. À, có một chúng ta, nhưng không phải là anh và em. Đó là em và Brian.”

“Chúng ta chỉ làm bạn thôi, không được sao?” tôi hỏi (thảm hại rồi đây).

“Bạn,” cô ấy chậm rãi trả lời, với ánh mắt bối rối, cứ như tôi vừa hỏi cô ấy rằng chúng tôi có thể làm cá được không.

“Thôi nào,” tôi nói. “Chúng ta đi dạo nhé.”

“Em không muốn đi.”

“Chỉ đi vòng quanh tòa nhà thôi mà.”

Cô ấy xiêu lòng, và trên đường đi tôi kể với cô ấy mọi chuyện xảy ra về các triệu phú, chuyện Eddie đã lừa bố trắng trợn để biến gần hết bạn bè của ông ta thành người trúng giải, và chuyện nếu có ai phát hiện ra, ông ta sẽ bị hành quyết.

Tôi nhớ lúc ấy tôi chỉ đơn giản là muốn thân thiết với cô ấy trở lại, dù chỉ trong một khoảnh khắc, và tiết lộ điều bí mật có khả năng hủy diệt cuộc đời của chúng tôi dường như là cách để đạt được điều đó. Nó chẳng đem lại điều gì cả. Thực tế, khi đã trút cạn bầu tâm sự, cảm giác khi ấy lại cực kì bất mãn. “Nói gì đi nữa, bố của anh cũng bị điên mà,” cô ấy nói, như thể việc này có liên quan phần nào. Khi chúng tôi trở lại khu nhà của cô ấy, cô ấy trở nên nghiêm túc. Tôi biết thế vì cô ấy nắm tay tôi. “Em vẫn còn cảm giác với anh,” cô ấy nói. Tôi định nói gì đó. Tôi biết thế vì tôi đã mở miệng, nhưng cô ấy cắt ngang tôi. “Nhưng em có cảm giác mạnh hơn dành cho anh ấy.” Vậy là tôi hiểu ra, đó là một cuộc cạnh tranh về sức mạnh trong cảm giác của cô ấy. Brian sẽ nhận được toàn bộ những phần mạnh; tôi sẽ nhận những gì còn lại, những tình cảm hờ hững, thoi thóp, nhạt nhòa. Thảo nào tôi chẳng cảm nhận được chúng.

Dĩ nhiên tôi buộc cô ấy thề không được kể cho bất kì ai về bí mật mà tôi vừa kể. Và dĩ nhiên cô ấy đã kể cho người đàn ông mà cô ấy yêu, vì vô tình tôi đã cho cô ấy một tin sốt dẻo để cứu vãn sự nghiệp báo chí tiêu điều của ông ta.

Vậy đó có phải là lý do tôi cùng với Eddie, bố và Caroline chạy trốn? Tôi đi theo để tìm kiếm sự tha thứ? Có lẽ, mà tại sao tôi phải ở lại? Tôi đã có một năm tồi tệ nhất đời mình. Khi Hỏa ngục Cao vút bỏ tôi, tôi đã dọn từ cái mê cung rộng rãi của bố đến một căn hộ dài và hẹp chẳng hơn gì một cái hành lang được tô vẽ, với một phòng tắm và một khoảng trống hình chữ L ở cuối để đặt một cái giường đơn và bất cứ thứ gì hình chữ L tình cờ vớ được quanh đó. Việc chuyển chỗ từ rừng vào phố đã có tác động bất ổn nghiêm trọng nằm ngoài dự đoán đối với tôi. Trong căn chòi của mình, tôi được ở gần tiếng nói của trái đất và không bao giờ phải cố gắng để cảm thấy thoải mái. Giờ đây, trong thành phố, tôi thấy mình bị cắt đứt khỏi mọi ảo giác mà tôi ưa thích. Tôi đã bỏ bản thân ở lại. Bị trục xuất khỏi nguồn cội, tôi cảm thấy hoàn toàn lênh đênh.

Rồi, khi bố trở thành người của công chúng được cả quốc gia ngưỡng mộ, tôi sẽ phải thừa nhận điều này - danh vọng của ông đã tác động mạnh đến tôi. Làm sao hai mươi triệu con người có thể thích người đàn ông cáu bẳn ấy? Ý tôi là, mới sáu tháng trước ông còn không kiếm đủ mười người bạn vào một căn phòng để ăn tối! Dù sao thì thế giới vẫn chưa rơi khỏi bản lề; vào một buổi chiều êm dịu, bố đến chỗ làm thăm tôi, mặc complet, nom ông cứng nhắc như không thể gập được gối. Ông đứng lóng ngóng trong góc làm việc khép kín của tôi, trông tựa một cái nhà được dựng lên bằng ván ép, và cuộc đối đầu buồn bã, lặng lẽ của chúng tôi đạt đến đỉnh điểm khi ông nói với tôi về cái tin đáng sợ đó. Ông cũng chẳng cần phải nói ra. Tôi không rõ tại sao, nhưng tôi đã biết. Ông bị ung thư. Ông không thấy được là tôi đã biết ngay khi ông đến ư? Thực tình tôi phải che mắt mình trước cái nhìn trừng trừng của tử thần.

Đây là những ngày lạ lùng, đầy biến động; bố cưới bạn gái cũ của em trai mình, Anouk cưới con trai của một triệu phú, bố bị bạn thân phản bội, tôi bị tình yêu đích thực của mình phản bội, còn ông thì bị cả một quốc gia căm ghét. Trên truyền thông, có muôn hình vạn trạng lời mô tả về ông: một doanh nhân, một kẻ lừa đảo, một người Do Thái. Tôi nhớ ông thường bị ám ảnh với việc không thể xác định được bản thân mình. Nghe bản thân bị phân chia theo cách này chỉ càng nhắc ông nhớ mình không phải là ai.

Mọi việc trở nên không ổn. Tôi bị người lạ dọa giết. Tôi phải xin nghỉ phép ở chỗ làm. Tôi cô đơn. Tôi đi lang thang trên đường vô định và cố giả vờ như nhìn thấy Hỏa ngục khắp nơi, nhưng ở Sydney chẳng có mấy người tóc đỏ cao trên mét tám, và tôi cuối cùng lại nhầm cô ấy với những người thay thế buồn cười nào đó. Thúc thủ về căn hộ của mình, tôi trở nên trầm cảm đến mức khi tới giờ ăn, tôi nghĩ: Có gì cho mình? Buổi tối tôi cứ mơ thấy một khuôn mặt duy nhất, khuôn mặt mà tôi từng mơ thấy khi còn bé, khuôn mặt xấu xí méo mó trong tiếng thét lặng câm, khuôn mặt mà đôi khi tôi nhìn thấy cả trong lúc thức. Tôi muốn bỏ chạy, nhưng tôi không biết chạy đi đâu, và, tệ hơn nữa, tôi không còn tha thiết cả đến việc mang giày. Đó là lúc tôi bắt đầu nghiện thuốc lá và thuốc phiện nặng, ăn ngũ cốc từ trong hộp, nốc vodka từ trong chai, nôn mửa cho đến khi ngủ, khóc không lý do, độc thoại bằng giọng nghiêm khắc, và đi tới đi lui trên đường sá đông nghịt người, không giống tôi, họ rõ ràng không gào thét bên trong và không bị tê liệt vì thiếu quyết đoán và không bị từng người một trên châu lục đảo đê tiện này căm ghét.

Tôi nằm bẹp trên giường, dưới tấm drap, và cứ nằm đấy, cho đến khi bị lay dậy khỏi giấc ngủ say bí tỉ vào một buổi chiều và thấy đôi mắt xanh lục của Anouk nhìn tôi.

“Tôi gọi cho cậu suốt mấy hôm nay.”

Cô ta mặc một cái áo ba lỗ cũ và quần ống rộng. Cú sốc của việc cưới được triệu phú rõ ràng đã khiến cô ta ăn mặc xấu đi.

“Lạ quá, Jasper ạ. Tôi có cảm giác giống hệt như khi tôi lần đầu bước vào căn hộ của bố cậu sau khi chúng ta gặp nhau. Nhớ không? Hãy nhìn nơi này mà xem! Thật kinh tởm. Chuyện này phải tin ở tôi - gạt tàn thuốc vào lon bia là dấu hiệu mà cậu không thể bỏ qua!”

Cô ta chạy quanh căn hộ, lăng xăng dọn dẹp, chẳng màng chỗ thức ăn mốc meo và rác rến vương vãi từ cuộc sống hàng ngày của tôi. “Cậu cần phải sơn lại bức tường này để tẩy mùi đi,” cô ta nói. Tôi chìm vào giấc ngủ khi nghe giọng cô ta lúc bổng lúc trầm. Điều cuối cùng tôi nhớ đã nghe cô ta nói là cụm từ “Giống hệt bố cậu.”

Vài giờ sau tôi thức dậy, phát hiện toàn bộ căn hộ sạch sẽ và tỏa mùi nhang khói. Anouk ngồi khoanh đôi chân dài trên sàn, giày đá ra tự lúc nào, một tia nắng phản chiếu trên chiếc lắc chân của cô ta. “Quá nhiều việc đã xảy ra. Cậu đã bị kích động thái quá. Xuống đây nào,” cô ta nói.

“Thôi khỏi, cảm ơn.”

“Tôi đã dạy cậu cách thiền, đúng không?”

“Tôi không nhớ.”

“Bố cậu không bao giờ chịu dập tắt suy nghĩ của ông ta - đó là lý do vì sao ông ta luôn suy sụp. Nếu không muốn chịu cảnh suy sụp tinh thần giống như vậy, cậu cần phải đạt được sự tĩnh tâm thông qua thiền định.”

“Hãy để tôi yên, Anouk.”

“Jasper. Tôi chỉ đang cố gắng giúp cậu. Cách duy nhất để cậu sống sót qua cơn thù hận này là cậu phải đạt được bình an nội tại. Và để tìm thấy bình an nội tại, trước tiên cậu phải đạt đến một con người cao hơn, cậu phải tìm thấy ánh sáng nội tại. Rồi cậu đi cùng ánh sáng đó.”

“Đi cùng ánh sáng. Đến cái gì?”

“Không - cậu và ánh sáng hòa thành một.”

“Khi đó tôi sẽ cảm thấy thế nào?”

“Hạnh phúc.”

“Vậy là nó tốt nhỉ.”

“Rất tốt.”

Cứ thế, Anouk tiếp tục nói, về bình yên nội tại, về thiền định và sức mạnh của trí tuệ không phải để bẻ cong thìa mà để phá tan thù hận. Không phải cô đang lừa phỉnh tôi. Cô chỉ tập tành làm quân sư -trình độ xa nhất mà cô đã đạt đến là hóng hớt những lời đồn đại về khả năng giác ngộ. Dù vậy, chúng tôi vẫn cố gắng tìm kiếm bình an, ánh sáng, con người cao hơn và thấp hơn của mình, và tất cả những thứ nằm ở giữa. Anouk nghĩ tôi hẳn là có khiếu thiền, vì tôi giãi bày với cô rằng tôi nghi ngờ mình có thể đọc được suy nghĩ của bố và thường nhìn thấy những khuôn mặt không có thật. Cô sốt sắng chộp lấy những tiết lộ này, và giọng nói điên loạn của cô trở nên quả quyết hơn. Hệt như ngày xưa, tôi không chống đỡ nổi trước lòng trắc ẩn điên cuồng của cô ta. Tôi để cô mua hoa và chuông gió. Tôi để cô mua cho tôi sách về các phương pháp thiền khác nhau. Tôi thậm chí còn để cho cô lôi tôi đến một buổi tái sinh. “Cậu không muốn nhớ về sự ra đời của chính mình ư?” cô ta ngắt lời, như vừa phát hiện tôi còn có thêm bản tính hay quên. Cô ta đưa tôi đến một trung tâm có tường sơn màu nướu răng bà già, và chúng tôi nằm trong một căn phòng ánh sáng mờ ảo hình bán nguyệt, cầu kinh và giật lùi và gắng gượng nhớ lại khoảnh khắc chào đời của mình giống như đang cố nhớ lại số điện thoại của một ai đó. Tôi cảm thấy mình giống một thằng ngốc. Nhưng tôi thích lại được ở bên cạnh Anouk, nên lần đó tôi cứ làm theo, và từng ngày sau đó, khi chúng tôi ngồi khoanh chân trong công viên và trên bãi biển, lặp đi lặp lại các câu thần chú như những kẻ mắc chứng rối loạn ám ảnh cưỡng chế. Trong những tuần đó tôi chẳng làm gì ngoài việc nhìn mình hít thở và cố gắng tịnh tâm, nhưng tâm tôi như một con thuyền thủng đáy; mỗi lần tôi tát ra ngoài một xô suy nghĩ, những suy nghĩ mới lại đổ vào. Và khi tôi nghĩ có lẽ đã đạt được sự hư không ở cấp nhẹ nhất, thì tôi lại đâm ra sợ hãi. Sự hư không của tôi không vui vẻ, mà có phần hiểm ác. Tiếng thở của tôi mang mầm mống tai họa. Tư thế tôi trông như đóng kịch. Đôi khi tôi nhắm mắt lại chỉ để nhìn thấy khuôn mặt lạ đáng sợ đó, hoặc giả tôi không thấy gì nhưng lại nghe thấy tiếng của bố tôi, yếu ớt và nghèn nghẹt, tựa như ông đang nói chuyện với tôi từ trong một cái hộp. Rõ ràng thiền định không thể giúp tôi. Không gì có thể giúp được tôi. Tôi nằm ngoài tầm cứu giúp, và kể cả một cơn mưa nắng bất ngờ cũng không thể cứu vãn được tôi. Thật sự, tôi bắt đầu tự hỏi tôi đã nhìn thấy gì trong thiên nhiên suốt thời gian tôi sống trong mê cung. Sự việc bỗng nhiên trở nên kinh khủng và phô trương, và tôi tự hỏi liệu có phải là báng bổ không khi nói với Chúa rằng cầu vồng là thứ vô vị.

Tôi đã ở trong trạng thái tinh thần đó khi bố, Eddie, và Caroline xuất hiện ở khu chung cư của tôi và bấm còi cho đến khi tôi đi xuống đường. Chiếc xe cứ nằm đó, nổ máy rì rì. Tôi đi đến cửa xe. Tất cả họ đều đeo kính râm, giống như đang cùng nhau ngất ngây sau một đêm say bét nhè.

“Họ sẽ đến bắt bố vào ngày mai,” bố nói. “Bọn bố sẽ chạy trốn.”

“Bố sẽ không bao giờ trốn được.”

“Để xem. Dù sao thì, bọn bố chỉ đến để chào từ biệt,” bố nói.

Eddie lắc đầu. “Cậu nên đi với chúng tôi.”

Đó có vẻ là một lý do hay để lắc đầu của tôi, vì vậy tôi lắc đầu, và hỏi, “Những kẻ chạy trốn điên rồ các người định làm gì ở Thái Lan?”

“Tim Lung đã đề nghị sẽ chứa chấp bọn bố một thời gian.”

“Tim Lung?” tôi hét to, rồi thì thầm, “Chúa ơi.”

Chính lúc ấy một ý nghĩ ngớ ngẩn và nguy hiểm len lỏi vào đầu tôi kèm theo một tiếng nổ đánh tách suýt thành tiếng. Tôi yêu điên yêu cuồng Hỏa ngục bao nhiêu thì tôi ghét cay ghét đắng Tim Lung bấy nhiêu.

Tôi nghĩ: mình sẽ giết lão. Giết lão với một viên đạn lạnh lùng vào đầu.

“Con không sao chứ?” bố hỏi.

Vào khoảnh khắc ấy tôi biết mình chưa biến được ảo tưởng khát máu thành hiện thực. Trong nhiều tháng tôi đã chất chứa những suy nghĩ xấu xa về con người (tôi mơ cảnh nhét đầy lòng cừu nấu kiểu Scotland vào miệng họ), và giờ đây tôi biết rằng dùng bạo lực là bước hợp lý tiếp theo. Sau nhiều năm chứng kiến sự suy sụp theo mùa của bố, tôi từ lâu đã quyết tâm không mất cả đời căng óc nghĩ ngợi; một vụ ra tay giết người đột ngột xem ra là cách để giải quyết chuyện này. Đúng, bỗng dưng tôi không còn chìm trong tăm tối, sờ soạng dọc những hành lang bất tận của tháng ngày nữa. Lần đầu tiên sau một thời gian dài, con đường trước mặt tôi được soi sáng và xác định rõ ràng.

Vì thế khi bố nói câu từ biệt ráo hoảnh của ông lần cuối, tôi nói, “Con sẽ đi với bố.”

II.

Hãy tin tôi: cảm giác lạnh gáy và đề phòng về chuyến đi trở nên trầm trọng hơn khi phải dùng hộ chiếu giả. Và chúng tôi sẽ bay bằng máy bay tư nhân - khuôn mặt nổi tiếng của bố đừng hòng ra khỏi nước Úc nếu không chi một khoản hối lộ lớn. Nấp dưới lớp mũ và cặp kính râm, chúng tôi đến sân bay và đi qua cổng an ninh thẳng ra đường trải nhựa. Eddie nói chiếc máy bay thuộc về một “người bạn của một người bạn,” và ông ta đưa những phong bì chứa tiền mặt cho một số quan chức hải quan vô liêm sỉ, số tiền này sẽ được chia chác với đám nhân viên mặt đất và tổ xử lí hành lí. Nói thật, trông tất cả những người chúng tôi gặp đều vô cùng thoải mái với giao dịch này.

Khi chúng tôi chờ Eddie phát xong tiền hối lộ và hoàn tất mớ giấy tờ giả mạo, Caroline xoa lưng bố trong khi ông vuốt căng những nếp nhăn trên trán mình. Không ai muốn nhìn hoặc nói chuyện với Eddie. Tôi không khỏi cảm thấy tội nghiệp cho ông ta. Tôi biết ông ta đáng chuốc lấy cơn tức giận và sự ghẻ lạnh mà ông ta đáng nhận, nhưng nụ cười nửa miệng cố hữu khiến Eddie trông sao mà đen đủi, sao mà không chút giảo quyệt, đến nỗi tôi hẳn sẽ đứng dậy bảo vệ hành vi không thể biện hộ của ông ta nếu bồi thẩm đoàn khi đó không quá thiên về một hình phạt chặt đầu. “Chừng nào ta ở trên trời, ta sẽ ổn thôi,” bố nói, để trấn an chính ông. Vế câu kì quặc đó mắc kẹt trong đầu tôi: “Chừng nào ta ở trên trời.” Không ai nói gì; tất cả chúng tôi đều chìm vào suy nghĩ, có lẽ cùng một suy nghĩ giống nhau. Suốt buổi chúng tôi tránh nói về tương lai, vì đó là điều không thể tưởng tượng ra.

Chúng tôi lên máy bay không gặp sự cố nào (nếu bạn không tính cơn vã mồ hôi bất thường của bố là một sự cố), đến cả ho cũng không dám để không thổi bay lớp ngụy trang của mình. Tôi tranh với Eddie ghế ngồi cạnh cửa sổ, vì đây là lần đầu tiên tôi rời khỏi Úc và tôi muốn vẫy chào tạm biệt. Động cơ được khởi động. Chúng tôi cất cánh trong tiếng gầm rú. Chúng tôi leo lên trời. Rồi chúng tôi thăng bằng lại. Chúng tôi đã ở trên trời. Chúng tôi đã an toàn.

“Thoát trong gang tấc,” tôi nói.

Eddie có vẻ ngạc nhiên, tựa như đã quên béng rằng tôi ở đấy. Tôi đã ở đấy. Ánh mắt của ông ta lướt qua tôi ra cửa sổ.

“Tạm biệt, nước Úc,” ông ta nói, pha chút kinh tởm.

Chuyện là thế đấy - chúng tôi đã bị tống cổ ra khỏi nước Úc. Giờ đây chúng tôi là những kẻ chạy trốn. Tất cả chúng tôi có lẽ sẽ để râu, trừ Caroline thì phải nhuộm tóc; chúng tôi sẽ học ngôn ngữ mới và ngụy trang khi đến bất kì đâu, màu xanh đậm cho rừng già, màu đồng sáng loáng cho sảnh chờ khách sạn. Mọi việc được vạch sẵn cho chúng tôi.

Tôi nhìn sang bố. Caroline đang ngả đầu lên vai ông. Mỗi khi bắt gặp tôi nhìn ông, bố lại dành cho tôi ánh mắt “Chuyện này tuyệt quá nhỉ?”, như thể ông đang đưa tôi đi chơi trong một kì nghỉ thắt chặt tình cha con. Ông đã quên mất rằng chúng tôi vốn dĩ đã âm thầm gắn bó, như các tù nhân bị xích chung với nhau. Bên ngoài, bầu trời phẳng lì; mang một màu ảm đạm, mộc mạc. Tôi nhìn Sydney biến mất khỏi tầm mắt với một cảm giác từa tựa nỗi buồn.

Năm giờ sau chúng tôi vẫn đang bay trên nước Úc, trên phong cảnh tẻ nhạt và ảm đạm đến mức không hình dung nổi của đất nước điên loạn của chúng tôi. Bạn không thể tin được cảnh vật cứ tiếp diễn như thế. Để thưởng thức vẻ đẹp đau khổ của nội địa, bạn phải ở ngay giữa nó, với một chiếc xe vượt địa hình được trang bị đầy đủ. Về mặt địa hình nơi ấy thật đáng sợ và khó hiểu. Thế đấy, đó là trung tâm của đất nước chúng tôi. Nó không phải là Vườn Địa Đàng.

Rồi chúng tôi bay qua mặt nước. Vậy là xong, tôi nghĩ. Sân khấu nơi đã diễn ra cuộc đời không thể tin nổi của chúng tôi đã lùi xa, dưới những đám mây. Cảm xúc chạy sâu vào cơ thể tôi đến khi tôi cảm thấy nó tụ lại và trở nên thoải mái. Chỉ còn phải nghĩ đến tương lai mà thôi. Tôi rất sợ nó; nó không giống như kiểu tương lai tồn tại dài lâu.

“Lão muốn gì ở chúng tôi?” tôi đột ngột hỏi Eddie.

“Ai?”

“Tim Lung.”

“Tôi không biết. Ông ấy đã mời các người làm khách của ông ấy.”

“Tại sao?”

“Tôi không biết.”

“Vậy thì, lão muốn chúng tôi ở trong bao lâu?”

“Tôi không biết.”

“Ông biết cái gì?”

“Ông ấy nóng lòng gặp các người.”

“Tại sao?”

“Tôi không biết.”

“Chúa ơi, Eddie!”

Chúng tôi bỏ cuộc trước lão Tim Lung bí ẩn này. Lợi dụng bố để trộm hàng triệu đô la từ người dân Úc, phải chăng giờ đây lão muốn cám ơn bố vì đã đóng vai gã khờ thật dễ thương? Phải chăng vì tò mò - lão muốn gặp để xem một người có thể ngốc đến mức nào? Hay là còn có một âm mưu đen tối nào khác mà không ai trong chúng tôi nghĩ đến?

Đèn trong máy bay tắt hết, và khi chúng tôi bay qua hành tinh trong bóng đêm, tôi nghĩ về người mà tôi sẽ giết. Từ tin tức truyền thông tôi biết rằng những điều tra viên tuyệt vọng ở Thái Lan, do không thể xác định được nơi ở của lão, đã quả quyết rằng lão là hiện thân của cái ác, một con quái vật thật sự. Nếu vậy thì, rõ ràng, thế giới sẽ tốt đẹp hơn nếu vắng lão. Dẫu sao thì, tôi vẫn cảm thấy buồn phiền khi nhận ra giết người là ý tưởng thiết thực duy nhất mà tôi có.

III.

“Chẳng có ai đến đây đón chúng ta,” Eddie nói trong lúc đưa mắt nhìn đám đông.

Bố, Caroline và tôi nhìn nhau - chúng tôi không biết rằng lẽ ra phải có người đến đón.

“Đợi ở đây nhé,” Eddie nói. “Tôi sẽ đi gọi điện thoại.”

Tôi nhìn mặt Eddie khi ông ta nói chuyện với người mà tôi cho là Tim Lung. Ông ta gật đầu lia lịa, gập mình trong một tư thế phục tùng kì lạ và mang một kiểu cười hối lỗi trên mặt.

Eddie gác máy và gọi tiếp một cuộc nữa. Bố, Caroline và tôi lặng lẽ nhìn ông ta. Thỉnh thoảng chúng tôi đưa mắt nhìn nhau ngầm nói, “Mọi chuyện nằm ngoài tầm tay của chúng ta nhưng chúng ta phải làm một việc gì đấy, và ánh mắt tỏ vẻ hiểu biết này chính là việc đó.” Eddie lại gác máy và nhìn cái điện thoại chăm chú một lúc. Rồi ông ta đi đến chỗ chúng tôi, xoa tay vẻ lo lắng.

“Chúng ta phải nghỉ đêm trong khách sạn. Chúng ta sẽ đến chỗ ông Lung vào ngày mai.”

“Được thôi. Hãy đón một chiếc taxi nào,” bố nói.

“Không - sẽ có người đến chở chúng ta đi.”

Hai mươi phút sau, một người phụ nữ Thái Lan nhỏ bé tiến đến, đôi mắt to đến nỗi trông như không có mi mắt. Bà ta bước chậm rãi về phía chúng tôi, run rẩy. Eddie chỉ đứng trời trồng như một con bò cái đang nhai lại thức ăn. Người đàn bà vòng tay qua người ông ta, và khi họ ôm nhau, từ miệng bà ta phát ra những tiếng nấc khẽ. Tôi biết lúc đó Eddie bối rối vì ông ta đột nhiên không còn vẻ láu cá nữa. Họ cứ ôm riết lấy nhau cho đến khi việc đấy trở nên nhàm chán. Tất cả chúng tôi cảm thấy ngượng nghịu đầy khổ sở.

“Từ lâu tôi đã mong được gặp các bạn,” bà ta nói, quay sang chúng tôi.

“Vậy à?” tôi hồ nghi hỏi.

Rồi Eddie nói, “Ling là vợ tôi.”

“Không, không phải,” bố nói.

“Vâng, tôi là vợ anh ấy,” bà ta trả lời.

Bố và tôi bị sốc. Eddie đã có vợ?

“Eddie, ông lập gia đình bao lâu rồi?”

“Gần hai mươi lăm năm.”

“Hai mươi lăm năm!”

“Nhưng ông sống ở Úc mà,” bố nói.

“Giờ thì hết rồi.”

Bố không hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao. “Eddie,” ông nói, “hai mươi lăm năm. Như vậy có phải là ông đã có vợ khi chúng ta gặp nhau ở Paris?”

Eddie mỉm cười, như thể đó là một câu trả lời chứ không phải một câu hỏi.

Chúng tôi rời khỏi sân bay trong trạng thái bấn loạn. Chúng tôi không chỉ ở trong một đất nước khác mà là một dải thiên hà khác, nơi mà Eddie đã lấy vợ hai mươi lăm năm. Bên ngoài, cái nóng dội mạnh vào chúng tôi. Tất cả chúng tôi leo lên một chiếc Mercedes cũ màu xanh ô liu và tăng tốc về khách sạn. Vì đó là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài, nên mắt tôi hút hết mọi thứ - nhưng tôi sẽ dành phần mô tả du lịch cho bạn. Đó là Thái Lan. Bạn biết những phong cảnh, bạn biết những mùi hương. Bạn đã đọc sách, bạn đã xem phim. Nóng nực, nhớp nháp, nhễ nhại, có mùi thức ăn cay, và ở đâu cũng lấp ló một dấu hiệu ma túy và mại dâm, vì như hầu hết các du khách, chúng ta đã đem theo định kiến này trong chuyến đi và không khai báo chúng, như chúng ta phải khai báo, khi làm thủ tục nhập cảnh, vì đó là những vật liệu độc hại thích hợp nhất để cách ly.

Trong xe, Eddie và Ling nói chuyện khe khẽ với nhau bằng tiếng Thái. Chúng tôi nghe tên của mình được nhắc đến vài lần. Bố không thể rời mắt khỏi Eddie và vợ ông ta. Vợ ông ta!

“Này, Eddie. Ông có con không?” bố hỏi.

Eddie lắc đầu.

“Thật không?”

Eddie quay trở lại Ling và tiếp tục nói chuyện nhẹ nhàng.

Khi chúng tôi làm thủ tục nhận phòng ở khách sạn, cẩn thận kí tên mới chứ không phải tên cũ, tôi chợt nhận ra điều lạ lùng nhất không phải là đi du lịch, đột ngột trót lọt và thực sự ra khỏi nước Úc, mà là đi du lịch theo nhóm. Tôi đã luôn tưởng tượng việc đi khỏi nước Úc sẽ là biểu tượng tối thượng cho sự độc lập của tôi, vậy mà giờ đây tôi đứng đây, với tất cả mọi người. Tôi biết ta không bao giờ thoát khỏi được chính mình, rằng ta đem theo quá khứ với ta, nhưng tôi thực sự đã thoát. Một chút an ủi cho tôi khi được ở một phòng riêng, trông xuống xác một con chó chết bị moi mất ruột.

Đêm hôm đó tôi đi đi lại lại trong phòng khách sạn. Tất cả những gì tôi có thể nghĩ đến là giờ đây, tin tức về vụ đào tẩu của chúng tôi đã xuất hiện trên toàn nước Úc, trong từng nơi tụ tập công cộng, và mặc cho sự ra đi lén lút của chúng tôi, một ai đó chắc chắn sẽ lần ra dấu vết chúng tôi không mấy khó khăn. Tôi có thể dễ dàng hình dung ra phản ứng của nước Úc trước tin chúng tôi đã bỏ trốn, và vào khoảng ba giờ sáng tôi cảm thấy bị một thứ phang trúng, một thứ mà tôi tin chắc là làn sóng căm thù nóng rực đã di chuyển cả một chặng đường từ quê hương đến những phòng khách sạn có điều hòa nhiệt độ của chúng tôi trên đường Khe Sahn.

Tôi rời khỏi khách sạn đi vào Bangkok, tự hỏi làm cách nào để mua súng. Tôi không hề nghĩ rằng việc đó sẽ quá khó khăn; trong đầu tôi nơi này là một đô thị nhớp nhúa, một thành phố mang dáng dấp Sodom và Gomorrah[58], chuyên phục vụ thức ăn ngon hết xẩy. Tôi đang ở trong một đất nước gần như cuồng điên, chỉ nhìn vào những khuôn mặt, và cụ thể hơn là vào những cặp mắt. Hầu hết những cặp mắt tôi thấy đều ngây thơ đến điên lên được; chỉ một vài cặp đốt cháy người khác khi nhìn. Đó là những cặp mắt tôi muốn. Tôi nghĩ về việc giết người và những kẻ sát nhân. Nạn nhân của tôi cũng là một tên tội phạm; ai sẽ khóc cho lão? Chà, có lẽ là nhiều người. Có thể lão cũng đã lập gia đình! Tôi nghĩ mà há hốc mồm. Tôi chẳng biết sao mình lại ngạc nhiên đến thế; cớ gì lão không được lập gia đình chứ? Lão đâu có khét tiếng là xấu xí và khó gần, chỉ khét tiếng là ác độc thôi. Như thế cũng được xem là hấp dẫn trong một số giới rồi.

Lúc đó là bốn giờ sáng, trời vẫn nóng bức ngột ngạt, và tôi vẫn chưa tìm được khẩu súng nào. Tôi đi tiếp, suy nghĩ, “Tim Lung - tao có nên giết mày thẳng tay, khỏi cần mời rượu khai vị đúng không?” Trong lúc đi, tôi thắp một điếu thuốc lá. Sao lại không? Đâu phải không dưng không rằng nó là nguyên nhân tử vong có thể phòng ngừa số một thế giới.

Tôi thấy mệt và dựa lưng vào một cái cột đèn. Tôi cảm thấy một đôi mắt dán vào mình. Đôi mắt này có gì đó đáng sợ nhưng lại gây phấn khích một cách kì lạ. Đây là đôi mắt mà tôi đang tìm kiếm.

Tôi tiến đến gã trai và chúng tôi nói cùng một lúc.

“Anh biết tôi có thể mua súng ở đâu không?”

“Anh có muốn xem biểu diễn sex không?”

“Có, hãy dẫn tôi đi.”

Gã lùa tôi đi vào một con đường và đưa tôi đến Patpong. Những tốp đàn ông phương Tây đang đi vào các câu lạc bộ thoát y và tôi nghĩ ngay đến Freud, triết gia tin rằng văn minh phát triển ngày càng đối lập với nhu cầu của con người. Rõ ràng Freud chưa bao giờ đến Patpong. Ở đây nhu cầu của đàn ông được đáp ứng hết sức chu đáo, từng nhu cầu một, ngay cả những nhu cầu khiến hắn trở nên bệnh hoạn.

Tôi đi vào quán bar đầu tiên, ngồi xuống một cái ghế đẩu và gọi một ly bia. Một cô gái trẻ đi đến và ngồi lên đùi tôi. Cô ả chắc không quá mười sáu tuổi. Cô ta thọc tay vào giữa hai chân tôi và tôi hỏi cô ta, “Cô biết tôi có thể mua súng ở đâu không?” Ngay lập tức tôi biết mình đã phạm sai lầm. Cô ả nhảy ra khỏi đùi tôi như thể nó vừa đớp cô ta một cái. Tôi thấy cô ta nói chuyện đầy kích động với vài gã sừng sỏ ở phía sau quầy bar. Tôi bỏ chạy, nghĩ rằng mình đã rơi vào một nơi không có thực, một nơi có thể làm hại mình, và sau khi chạy qua vài dãy nhà, tôi dừng lại. Thực tế, những người Thái này cũng tội ác đầy mình chẳng kém những kẻ mà bạn tìm thấy tại bất kì tiệm thức ăn nhanh ở góc đường nào tại Sydney, và đơn thuần mua một khẩu súng từ họ là việc bất khả thi. Trong trường hợp này, khi gặp Tim Lung, tôi sẽ phải tùy cơ ứng biến.

Khi tôi đi xuống phòng điểm tâm của khách sạn vào buổi sáng, tôi suy đoán từ nét mặt của bố và Caroline rằng họ cũng không hề chợp mắt. Đó là những khuôn mặt khổ sở, mất ngủ. Những khuôn mặt bị nỗi lo lắng cấu véo. Tại bữa ăn sáng quen thuộc gồm thịt hun khói, trứng, và bánh sừng trâu cũ, chúng tôi nói những câu đùa nhạt nhẽo và vô nghĩa, cố vượt qua tâm trạng u ám. Bất kể chuyện gì đang chờ đợi chúng tôi, chúng tôi muốn đón nó với cái dạ dày no căng.

Eddie bước vào, không còn giữ thái độ nhã nhặn thường thấy.

“Các người xong chưa?”

“Vợ ông đâu?” bố hỏi.

“Câm mồm đi, Martin. Tôi đã chịu đựng ông đủ rồi. Tôi thực sự chịu hết nổi rồi.”

Câu nói đó khiến chúng tôi im lặng.

IV.

Để đến chỗ Tim Lung, chúng tôi phải bắt một chiếc xuồng đuôi tôm, đi xuôi theo một con kênh bẩn thỉu, hôi hám. Khi băng qua những chiếc ghe gỗ chất đầy rau quả đủ màu sắc, tôi che mặt trước những đợt nước bẩn bắn lên. Những ấn tượng đầu tiên của tôi về Thái Lan rất tốt, nhưng tôi biết hệ miễn dịch của mình chưa đủ sức chống lại đám vi khuẩn ở xứ này. Khi đã vượt qua đoàn ghe thuyền bừa bộn này, chúng tôi chỉ còn lại một mình trên con kênh, tiến về phía trước. Ở hai bên bờ, nằm sóng soài trên những con đường bụi bặm là những ngôi nhà trông như xây dở dang hoặc sắp sập. Chúng tôi băng qua những người đàn bà đội mũ rơm rộng vành đang giặt giũ bằng nước sông màu nâu, rõ ràng chẳng màng đến ý nghĩ vi khuẩn viêm não đang ẩn náu trong đồ lót của họ. Rồi đến những con đường dài, hoang vắng, bụi bặm, và những cái cây khổng lồ với tán cây ngả rạp. Những ngôi nhà, giờ đã là những dinh thự to và hào nhoáng, nằm cách xa nhau. Tôi có cảm giác chúng tôi sắp đến nơi. Tôi cố đoán khuôn mặt của Eddie. Nó thật khó đoán. Bố nhìn tôi ngầm nói “Chúng ta đã thoát, nhưng thoát vào cái gì?”

Chiếc xuồng dừng lại. Chúng tôi lên bờ và đi lên một con đê nhỏ đến một cánh cổng sắt lớn. Trước khi Eddie kịp nhấn chuông điện, một giọng the thé từ chiếc máy liên lạc nội bộ bé xíu đã nói câu gì đó bằng tiếng Thái và Eddie trả lời, nhìn về phía tôi, khiến tôi cảm thấy chúng tôi đang ở trên một con đường mà quay lại là tự sát còn đi tới cũng có thể là tự sát. Tôi nổi hết gai ốc. Caroline nắm tay tôi. Cánh cổng mở ra. Chúng tôi tiến vào. Bố nói gì đấy về tình trạng ruột của ông mà tôi không hiểu lắm.

Nhà của Tim Lung có chữ “tập đoàn ma túy” viết lên ở khắp nơi. Nó rất rộng, với những bức tường sơn trắng khổng lồ và những cây cột chạm trổ bao bọc xung quanh, mái lợp ngói màu xanh lục và cam óng ánh, và một bức tượng Phật nằm khổng lồ ẩn náu trong một khu rừng tre dày đặc. Tôi củng cố ý nghĩ rằng chúng tôi đang dạo bước vào một sào huyệt của bọn trộm cắp khi trông thấy những gã đàn ông nấp dưới tán cây với những khẩu súng trường bán tự động, nhìn chúng tôi tựa như chúng tôi đến để bán một sản phẩm mà họ biết sẽ chẳng có công dụng gì sất. Những gã này mặc áo sơ mi cộc tay và quần dài. Tôi chỉ đám người vũ trang cho bố và nhận được câu trả lời dễ đoán của ông. “Bố biết,” ông nói. “Quần dài, trong thời tiết thế này!”

“Lối này,” Eddie nói.

Chúng tôi đi xuống một dãy cầu thang vào một cái sân hình chữ nhật. Vài cái thủ lợn móc trên những ngọn giáo, trên trán chúng thò ra mấy nén hương. Thật hay. Trên một bức tường ở cái sân là một bức bích họa trải dài vẽ cảnh một thành phố đang bốc cháy. Thật triển vọng. Ở cuối sân, những cánh cửa trượt to tướng đã mở sẵn. Tôi không biết mình đang trông đợi điều gì - những con chó Doberman[59] gầm gừ, những cái bàn chất cao cocaine và các túi tiền, gái điếm nằm ườn trên ghế sofa bọc da màu trắng, và một vệt máu dài dẫn đến những thi thể không nguyên vẹn của các cảnh sát. Điều tôi không ngờ đến chính là thứ cuối cùng trên thế gian này mà tôi có thể trông đợi.

Bố nhìn thấy đầu tiên. Ông thốt lên, “Cái quái gì thế này?”

Ở hai bên tường, lồng trong những khung ảnh hoặc dán lên bằng băng keo màu nâu, là hàng trăm hàng nghìn tấm ảnh của bố và tôi.

Tôi cũng thốt lên: “Cái quái gì thế này?”

V.

“Marty! Đấy là ảnh của anh!” Caroline nói.

“Anh biết!”

“Và của con nữa, Jasper ạ!”

“Con biết!”

“Đây có phải là ảnh của con lúc còn bé không? Con kháu quá!”

Những khuôn mặt của chúng tôi qua các thời kì khác nhau thò ra từ khắp nơi trong căn phòng. Cuộc triển lãm dị hợm này trưng bày toàn bộ những tấm ảnh mà Eddie đã chụp chúng tôi trong hai mươi năm qua. Có những ảnh của bố thời trẻ ở Paris, gầy và cao, tóc tai bù xù, một chòm râu kì lạ nằm ở cằm và cổ ông, những sợi râu không thể và không thèm mọc ngược lên mặt; bố, trước khi bắt đầu sưu tập tế bào mỡ, đang hút những điếu thuốc mỏng dính trong căn hộ đầu tiên của chúng tôi. Và cũng có ngần ấy tấm ảnh chụp tôi, bé xíu và dò dẫm lối đi suốt thời thơ ấu và niên thiếu. Nhưng chính những tấm ảnh ở Paris khiến tôi thích thú hơn cả: hết ảnh này đến ảnh khác chụp bố cùng một người phụ nữ trẻ đẹp, da xanh tái, với một nụ cười hoang hoải.

“Bố, đó có phải là...?”

“Astrid,” ông xác nhận.

“Đây có phải là mẹ của con không, Jasper? Chị ấy đẹp quá!” Caroline thì thầm.

“Chuyện này là thế nào?” bố hét lên, tiếng của ông vang dội khắp căn nhà. Bố tôi, một gã tâm thần hoang tưởng ngay thật, cuối cùng đã phát hiện ra, sau ngần ấy năm, rằng quả thực một âm mưu chống lại ông.

“Đi nào,” Eddie nói, dẫn chúng tôi tiến sâu hơn vào căn nhà.

Bố và tôi thấy ớn lạnh. Chuyện này có liên quan gì đến vụ tự tử của mẹ Astrid không? Đến việc mẹ của tôi chết trên một con tàu của Tim Lung? Chúng tôi bị đẩy vào vai thám tử tư, buộc phải điều tra cuộc sống của chính mình, nhưng những chuyến đi tinh thần của chúng tôi vào quá khứ đều vô ích. Chúng tôi chẳng hiểu gì cả. Chúng tôi vừa nhụt chí vừa phấn khởi. Một cơn ác mộng của người mắc bệnh tâm thần hoang tưởng! Một giấc mơ của kẻ mắc bệnh tự yêu mình! Chúng tôi không biết nên cảm thấy thế nào: được tôn vinh hay bị cưỡng bức. Có lẽ cả hai. Chúng tôi quay cuồng trong hoang mang. Rõ ràng Eddie đã truyền cho tên lãnh chúa tội phạm này một nỗi ám ảnh về bố và tôi, nhưng ông ta đã nói gì? Ông ta có thể nói những gì? Tôi tưởng tượng cảnh ông ta trong một chầu rượu nửa đêm với sếp của mình: “Ông sẽ không tin nổi những con người này. Bọn chúng mất trí rồi. Bọn chúng không nên được phép sống!”

“Ông Lung đang chờ các người trong đó,” Eddie nói, chỉ vào những cánh cửa hai lớp bằng gỗ ở cuối lối đi. Ông ta phải có dây thần kinh bằng thép để nở nụ cười tự mãn ấy.

Bố đột ngột tóm mạnh cổ áo ông ta; trông như ông định lột cái áo qua khỏi đầu Eddie - hành động bạo lực chính thức đầu tiên của bố. Caroline gỡ các ngón tay ông ra. “Mày đã đẩy chúng tao vào chuyện gì thế hả, thằng khốn nạn?” ông quát lên, dù nghe không có vẻ hăm dọa như ý muốn của ông. Cơn thịnh nộ hòa với sự tò mò chân thật đem lại kết quả thật lạ.

Một tay lính gác có vũ trang xuất hiện ở cửa để xem xét vụ ầm ĩ. Eddie giải tán gã bằng một cái gật đầu. Thất vọng, gã lính gác lui lại vào bóng râm. Rõ ràng Eddie có một cái gật đầu không thể chối từ. Đó là chuyện mới đối với chúng tôi. Chúng tôi tiếp tục lần theo lối đi đến những cánh cửa hai lớp bằng gỗ với tâm trạng sửng sốt, xem thêm nhiều ảnh nữa trên lối đi. Cho đến lúc này, tôi chưa bao giờ nhận ra bố trông thật giống một con chó bị ép đẩy xuống hồ bơi. Còn tôi -bản sắc của tôi dường như bỗng trở nên kém vững chắc hơn. Tôi cảm thấy hầu như không thể kết nối với quá khứ bằng ảnh của chúng tôi. Chúng tôi trông như những phế tích đổ nát của một nền văn minh đã sụp đổ. Thật chẳng hiểu nổi chúng tôi một chút nào.

Và mẹ của tôi! Tim tôi gần như vỡ tung khi nhìn thấy bà. Trong các tấm ảnh nom bà thật lặng lẽ và bất động; mọi hành động diễn ra sau đôi mắt, kiểu mắt như vừa trở về từ những góc xa xôi nhất của trái đất chỉ để nói với bạn rằng đừng bận tâm đi đến đó. Nụ cười của bà như một chiếc cầu thang dẫn đến chốn vô định. Xuất hiện mờ ảo trong các góc khung hình là nhan sắc buồn của bà, bà đang tựa đầu lên tay, đôi mắt mệt mỏi tối sầm. Có lẽ chỉ là trùng hợp, nhưng trong mỗi tấm ảnh trông bà có vẻ như ngày càng xa dần ống kính máy ảnh, giống như đang thu nhỏ lại. Những hình ảnh này đem đến tôi một lòng tôn trọng mới với bố - trông mẹ như một người phụ nữ xa cách và trang nghiêm mà không một người tỉnh táo nào muốn quan hệ tình cảm. Tôi tháo một tấm ảnh của bà trên tường và gỡ nó ra khỏi khung. Đó là ảnh trắng đen, chụp trong một tiệm giặt tự động. Mẹ tôi đang ngồi trên một chiếc máy giặt, chân đung đưa, nhìn trực diện vào ống kính với đôi mắt to ấn tượng. Đột nhiên tôi biết chuyện bí ẩn này có liên quan gì đấy đến bà - ở đây tôi sẽ nhận được manh mối đầu tiên cho biết bà là ai, bà đến từ đâu. Có một điều đã rõ ràng với tôi: câu đố về sự tồn tại của mẹ tôi có thể được giải đáp đằng sau cánh cửa đó.

Bố mở nó ra, và tôi theo sát phía sau.

VI.

Chúng tôi bước vào một gian phòng hình vuông với rất nhiều gối trên sàn nhà đến độ một phần trong tôi chỉ muốn nằm xuống để được đút nho. Những cây dương xỉ to trong nhà khiến tôi cảm thấy chúng tôi lại được ở ngoài trời. Các bức tường không chạm hẳn trần nhà và ánh nắng chiếu xuyên vào phía trên, trừ bức tường ở phía xa, làm bằng kính và nhìn ra tượng Phật đồ sộ trong vườn. Ở đó, tại bức tường kính, là một người đàn ông, quay lưng về phía chúng tôi, nhìn ra tượng Phật. Họ có kích cỡ giống nhau. Trong ánh sáng xuyên qua cửa sổ, chúng tôi chỉ có thể thấy được cái bóng khổng lồ của người đàn ông ấy. Ít nhất, tôi nghĩ đó là một người đàn ông. Trông ít nhiều giống thế, chỉ có điều to hơn.

“Thưa ông Lung,” Eddie nói, “tôi xin phép được giới thiệu Martin và Jasper Dean. Và Caroline Potts.”

Người đàn ông quay lại. Ông ta không phải là người Thái Lan, Trung Quốc, hay người châu Á gì cả. Ông ta có mái tóc xộc xệch màu vàng hoe và một bộ râu rậm phủ trên làn da mềm nhão, đầy tàn nhang, và ông ta đang mặc quần cộc với áo sơ mi giả flanen cắt ngắn. Ông ta trông như một nhà thám hiểm mới trở về từ chốn hoang dã, thưởng thức hương vị đầu tiên của nền văn minh. Tuy nhiên, đó chỉ là mô tả ngoài lề, bỏ qua chi tiết quan trọng khổng lồ, vì trên hết ông ta chính là chi tiết khổng lồ ấy, người đàn ông béo nhất mà tôi từng thấy hoặc sẽ thấy trong đời, một biến dị kinh ngạc của tạo hóa. Ông ta hoặc là bị rối loạn nội tiết hoặc là đã ăn quá nhiều trong hàng thập niên với tham vọng trở thành người to nhất thế giới còn sống. Hình hài cơ thể ông ta trông không giống thật chút nào - sự gớm guốc của ông ta khiến tôi ngạt thở. Tôi chẳng thể nào giết gã quái nhân này bằng một viên đạn, cũng như không thể làm móp một quả núi bằng một cái tát.

Ông ta nhìn chúng tôi chòng chọc không chớp mắt, ngay cả khi ông ta dụi điếu thuốc đang hút và châm một điếu mới. Rõ ràng ông ta định nhìn chòng chọc cho đến khi chúng tôi khuất phục. Nó có tác dụng. Tôi cảm thấy mình phục tùng khôn tả, đồng thời gầy gò kinh khủng. Tôi nhìn sang bố xem ông có cũng cảm thấy phục tùng không. Ông thì không. Ông đang nheo mắt nhìn người đàn ông khổng lồ tựa như đó là một trong những câu đố màu nhiệm tiết lộ hình ảnh bị che giấu.

Bố nói trước, như thể đang nói mớ. “Quỷ thần thiên địa ơi,” ông nói, và tôi hiểu ngay.

Caroline thốt lên đầu tiên. “Terry,” dì ấy nói.

Terry Dean, chú của tôi, nhìn chúng tôi lần lượt từng người một rồi nở một nụ cười hoang dại nhất mà tôi từng thấy.

VII.

“Ngạc nhiên chưa? Dĩ nhiên là mọi người ngạc nhiên rồi,” chú ấy nói, cười ha hả. Giọng nói vang dội, mạnh mẽ của chú nghe như đến từ sâu bên trong một cái hang. Chú đi khập khiễng về phía chúng tôi. “Mọi người nên nhìn thấy khuôn mặt của mình lúc này. Thật là đáng xem. Mọi người có muốn tôi lấy cho một cái gương soi không? Không à? Có chuyện gì vậy, Marty? Anh bị sốc hả? Dễ hiểu thôi, rất dễ hiểu. Chúng ta cứ chờ ở đây cho đến khi cơn sốc qua đi, nhường chỗ cho cơn giận và sự oán thán. Tôi không mong có ai ngậm bồ hòn làm ngọt về chuyện này. Đây không phải là chuyện làm ta cười ngay tắp lự, ngay từ đầu, mà sau đó, khi tất cả đã lắng dịu. Đừng lo - nó sẽ lắng xuống. Trong vài ngày tới mọi người sẽ phải khổ sở nhớ lại từng ngày mà tôi không còn sống. Nhưng hãy cho tôi biết, mọi người có nghi ngờ việc này không? Dù chỉ một tí ti? Tôi đang nghĩ gì? Anh ở đây, nhìn thấy thằng em trai chết từ đời tám hoánh của mình sau ngần ấy năm, và nó không chỉ mặt dày khi còn sống và hít thở, mà thậm chí nó còn không thèm mời anh một ly bia! Eddie, lấy cho chúng tôi ít bia được không, anh bạn? Và Jasper! Ta đã chờ đến ngày gặp cháu từ lâu rồi. Cháu biết ta là ai không?”

Tôi gật đầu.

“Cháu trai của ta! Cháu có cái mũi giống hệt của bà nội, bố cháu có bao giờ cho cháu biết điều đó chưa? Chú rất vui khi gặp được cháu. Eddie đã kể tất cả về cháu cho chú nghe. Cháu phải thuộc dạng sắt đá lắm đây, sống với bố cháu mà không bị nát vụn thành triệu mảnh. Nhưng trông cháu có vẻ ổn phết nhỉ. Trông cháu bình thường, khỏe mạnh và thích nghi tốt lắm. Làm sao mà cháu không bị điên được? Thật điên rồ khi cháu không phát điên! Dù biết đâu là cháu có. Đó là điều ta nóng lòng muốn tìm hiểu. Và Caroline! Gặp lại em là một chuyện khá sốc, anh phải thừa nhận. Dĩ nhiên Eddie kể với anh là em đã có chồng...”

Terry nhìn Caroline một lúc lâu trước khi hoàn hồn trở lại.

“Tôi biết, mọi người đều bất ngờ. Hãy uống bia đi, mọi người sẽ thấy khá hơn. Tôi sẽ chờ đến khi mọi người bình tĩnh lại. Có thời gian mà. Chúa ơi, nếu có một thứ mà tất cả chúng ta đều có, thì đó chính là thời gian. Marty, anh đang làm em sợ hãi với ánh mắt ấy. Cả em nữa, Caroline ạ. Nhưng cháu thì không, Jasper, nhỉ? Có lẽ vì cháu hẵng còn trẻ. Khi cháu già hơn, cháu sẽ bất ngờ nếu vẫn còn bị bất ngờ. Tôi thắc mắc, cái gì là bất ngờ lớn nhất, chuyện tôi còn sống một cách khó tin, hay chuyện tôi béo lên một cách khó tin? Mọi người cứ nói đi, tôi chẳng chấp nhặt đâu. Tôi thích béo mà. Tôi là Henry đệ Bát phốp pháp. Ông Phật phốp pháp. Cứ nói huỵch toẹt ra đi để chúng ta khỏi mắc mứu về chuyện này. Tôi là một thằng chó chết béo ị. Tôi sẽ cởi áo ra để mọi người thấy mức độ của nó. Thấy chưa? Được chứ? Tôi là một con cá voi. Cái bụng của tôi là vô đối! Không thể địch nổi!”

Mà đúng thật. Terry thật khổng lồ đến nỗi tạo ra một ấn tượng rằng chú không thể bị phá hủy, rằng chú có thể sống sót qua bất kì thảm họa nào. Cái vườn thú những hình xăm con vật mà bố đã mô tả cho tôi nhiều năm trước giờ đã kéo căng ra thành những vòng xoáy màu mè không hình dạng.

Bố đứng như trời trồng. Trông ông như muốn nói gì đó nhưng cái lưỡi lại không chịu hợp tác. “Còn sống... béo,” là tất cả những gì ông chật vật thốt lên.

Tôi phát hiện ra rằng Terry dường như đang lúng túng. Chú không biết nên nhìn vào ai. Thỉnh thoảng chú quay sang và nhìn tôi dò xét. Tôi có lẽ là cơ hội yêu mến và chấp nhận lập tức tốt nhất của chú. Chú không nhận được nó, vì cho dù thật khó tin khi một thành viên gia đình được thần thoại hóa toàn diện vẫn còn sống và khỏe mạnh, nhưng trên hết, tôi cảm thấy một sự thất vọng cay đắng khi việc này chẳng liên quan gì đến mẹ tôi cả.

“Không ai định ôm tôi một cái à?”

Chẳng ai động đậy.

“Vậy Tim Lung là ai?” cuối cùng bố cũng lên tiếng.

“Tim Lung không tồn tại. Cũng như chả có Pradit Banthadthan hay Tanakorn Krirkkiat gì sất.”

“Chú mày đang nói cái gì vậy?”

“Em đang thực hiện nó, Marty. Cuối cùng em cũng đã thực hiện nó.”

“Thực hiện cái gì?”

“Liên doanh tội phạm dân chủ.”

Bố lên cơn co giật như vừa mới dùng dây cáp kích điện khởi động xe ô tô. “Chú mày là cái gì?!” ông gào lên. Đây là phản xạ xúc động đầu tiên mà ông thể hiện.

“Chà, ông anh ơi, lần đầu tiên thằng em này làm nên trò trống đấy. Dù sao thì lão Harry cũng có lý đấy chứ. Vụ này diễn ra thuận lợi như là có ơn trên phù hộ ấy.”

“Tao thật không tin nổi! Tao thật đ. thể nào tin nổi!”

Điều này rõ ràng còn gây sốc cho bố mạnh hơn cả cái tin Terry vẫn còn sống sờ sờ suốt thời gian qua.

Caroline nói, “Cái gì dân chủ...”

“Đừng hỏi,” bố ngắt lời. “Ôi trời ơi.”

Terry khoái trá vỗ đôi tay múp míp và nhảy choi choi trên đôi chân béo ngắn ngủn. Tôi đang nghĩ ngợi làm sao mà chú ấy lại khác một trời một vực so với hình ảnh gã trai trẻ nổi loạn thường xuất hiện trong tâm trí tôi. Người đàn ông phì lũ này chính là người anh hùng thể thao đó, kẻ chạy trốn đó, tên du đãng được cả đất nước tôn sùng đó ư?

Bỗng dưng hai chân chú dừng lại và chú bối rối trông thấy.

“Eddie nói với em rằng anh bị ốm,” Terry nói.

“Đừng đánh trống lảng,” bố nói, giọng của ông bấn loạn vì xúc động. “Tao đã rải tro của chú mày, chú mày biết không.”

“Thật không? Ở đâu?”

“Tao cho chúng vào mấy chai ớt bột trong một siêu thị nhỏ. Số còn lại tao đổ xuống một vũng nước bên đường.”

“Hà, em không thể nói rằng mình xứng đáng được hơn thế!” Terry cười to và đặt tay lên vai bố.

“Đừng động vào tao, quân cô hồn phì lũ!”

“Ông anh ơi. Đừng như thế chứ. Anh nổi cáu vì cái vụ triệu phú ấy à? Đừng như vậy. Em không thể dằn lòng được, thế thôi. Vừa nghe tin anh đang làm gì ở Úc, Marty ạ, là em biết ngay mình phải làm gì. Em đã cứu anh khỏi hết bi kịch này đến bi kịch khác. Và cứu anh đã làm cho em trở thành em như ngày nay. Em không hối tiếc việc ấy. Em yêu thích bản thân mình lúc này, và chỉ cần lấy đi mấy triệu đô la trong một âm mưu rõ mười mươi như vậy là cách dễ nhất để em cứu anh một lần cuối. Anh thấy đấy, ông anh ạ, em muốn anh đến đây. Em nghĩ đã đến lúc chúng ta lại gặp nhau, và em đã quá hạn phải gặp Jasper từ lâu rồi.”

Tôi có thể nhìn thấy cơn tức giận bên trong người bố sắp tìm được lối ra. Một cơn bão hiểm ác đang cuồn cuộn bên trong ông, và nó chắc chắn có liên quan đến Caroline. Ông đã nhận ra rằng dì ấy không hề biểu lộ một chút tức giận; dì đang lặng thinh, vẫn nhìn Terry trân trối với nỗi khiếp sợ và kinh ngạc. Terry, trong khi đó, lại hướng những nụ cười của chú ấy về phía tôi.

“Này, cháu trai. Sao cháu không nói gì đi?”

“Làm sao chú thoát khỏi phòng biệt giam?”

Khuôn mặt Terry trở nên thất thần trong chốc lát, rồi chú lên tiếng, “Trận hỏa hoạn! Phải rồi! Và Marty ạ, anh đã kể cho cu cậu này nghe toàn bộ câu chuyện. Tốt thôi! Câu hỏi hay đấy, Jasper, ngay từ đầu.”

“Mà chú mày có thật là bị biệt giam không?” bố hỏi.

Tất cả chúng tôi chồm về trước với sự chăm chú cao độ khi Terry bắt đầu kể.

“Chắc chắn là em có! Đấy là một vụ hút chết. Em suýt tí nữa thì bị nướng chín - trong phòng biệt giam không có cửa sổ, đương nhiên, nhưng em nghe thấy nhiều tiếng la hét, đám cai ngục quát tháo ra lệnh cho nhau, và khi khói luồn vào dưới cửa, em biết em sẽ bị nấu chín. Trong cái chuồng xi măng ấy tối đen như mực, nóng còn hơn địa ngục và khói mịt mù. Em hoảng sợ. Em bắt đầu gào lên, ‘Thả tôi ra! Thả tôi ra!’ Nhưng chẳng có ai đến. Em đập lên cửa và cánh tay suýt bị bỏng. Em chẳng thể làm được gì, và em phải vận hết mọi nỗ lực tâm lý mới có thể trấn an mình để sẵn sàng cho một cái chết không hề dễ chịu. Rồi em nghe thấy tiếng bước chân ở hành lang. Đó là một viên cai ngục, Franklin. Em nhận ra giọng của ông ta: ‘Ai ở trong đấy?’ ông ta quát to. “Terry Dean!’ em đáp. Franklin già tốt bụng. Ông ấy là một người tốt, rất yêu môn cricket và hâm mộ cuồng nhiệt vụ nổi loạn của em. Ông ấy mở cửa và nói, ‘Đi nào!’ và trong cơn bấn loạn cứu em, ông ấy đã mất cảnh giác. Em đánh ông ấy bất tỉnh, lấy quần áo của ông ấy, ném ông ấy vào phòng giam, rồi đóng cửa.”

“Chú mày giết người đã đến để cứu chú mày.”

Terry dừng lại một chốc và nhìn bố một cách kì lạ, như một người đang quyết định có nên giải thích một hiện tượng thiên nhiên phức tạp với một đứa bé hay không, rồi tiếp tục. “Sau đó thì dễ rồi. Cả nhà tù đang bốc cháy, và em thậm chí chẳng cần dùng đến mấy cái chìa khóa mà em đã trộm được - mọi cánh cửa đều mở. Bằng cách nào đó em đã lần tìm được đường đi qua các hành lang mịt mù khói và ra khỏi nhà tù, em nhìn thấy thị trấn chìm trong lửa và biến mất trong những làn khói. Thế đấy.”

“Vậy là Franklin đã chết cháy trong ngục của chú mày.”

“Ừ, em đoán là anh đã hốt tro của ông ấy.”

“Chuyện gì xảy ra sau đó?”

“À ừ - em trông thấy anh trong lửa. Em gọi to tên anh, nhưng anh không nhìn thấy em. Rồi em thấy anh đang chạy vào một cái bẫy. Em hét lên, ‘Trái, rẽ trái!’ và anh rẽ rồi mất hút.”

“Tao có nghe thấy chú mày! Tao cứ nghĩ đấy là hồn ma máu me của chú mày chứ, quân vô phúc!”

“Trải qua vài ngày ẩn nấp rất kĩ ở Sydney. Bắt một chuyến tàu chở hàng đến Indonesia. Bôn ba bốn phương tám hướng, thăm thú các lục địa khác để xem họ có gì hay ho, và kết thúc ở đây tại Thái Lan. Đó là khi em bắt đầu gầy dựng cái liên doanh tội phạm dân chủ.”

“Còn Eddie thì sao?”

“Eddie làm việc cho em ngay từ lúc đầu. Em đã cố gắng truy tìm tung tích của anh, Marty ạ, nhưng anh đã đi khỏi nước Úc rồi. Vì vậy việc tốt nhất em có thể làm là cử Eddie đến và cắm chốt gần chỗ Caroline. Em có địa chỉ của cô ấy từ một lá thư mà cô ấy gửi cho em lúc còn ở trong tù, và Eddie thuê một phòng cạnh phòng cô ấy rồi chờ anh đến.”

“Làm sao chú mày chắc ăn là tao sẽ đến tìm Caroline?”

“Em có chắc đâu. Nhưng mà em đã đúng, phải không nào?”

“Sao chú mày không bảo Eddie nói với tao rằng chú mày còn sống?”

“Đến lúc đó em cảm thấy mình đã gây quá nhiều rắc rối cho anh. Hồi đó thực tình anh đã để mắt đến em, Marty ạ, và có thể anh nghĩ rằng em chẳng bận tâm gì, nhưng em biết anh lo lắng cho em đến phát ốm lên được. Em nhận thấy anh đã quá khổ sở rồi.”

“Chú mày bảo Eddie biến Caroline thành triệu phú!”

“Dĩ nhiên!” Quay sang Caroline, chú ấy nói, “Khi anh nghe về con trai của em, anh đã rất lấy làm tiếc.”

“Kể tiếp đi, Terry,” bố nói.

“Thế thôi. Em bảo Eddie để mắt sát sao đến anh. Khi anh ta kể với em rằng anh đang sống với một bà điên bị anh làm cho có bầu mà anh thì lại không một xu dính túi, em bảo anh ta đưa anh ít tiền. Nhưng anh không chịu nhận. Em không biết giúp anh cách nào, nên em tạo một việc làm cho anh. Thật xúi quẩy, đó là thời điểm bất lợi - anh lớ ngớ thế nào lại dính ngay vào một trận chiến băng đảng nho nhỏ. Em không biết là cô bạn gái bị điên của anh lại nhảy lên tàu và nổ tung. Thật là một cách điên rồ để kết liễu cuộc đời, phải không? Xin lỗi cháu, Jasper.”

“Gì nữa?”

“Dù sao thì, khi anh đưa Jasper về Úc, em bảo Eddie đi theo. Anh ta quay về với vài báo cáo điên rồ. Em lại cho anh việc làm, điều hành một trong những câu lạc bộ thoát y của em, và anh quậy nát chỗ ấy rồi kết cục vào bệnh viện. Rồi em đưa anh ít tiền để anh xây cái mê cung của anh, và chuyện là thế. Sau đó anh làm toàn thể nước Úc sa đọa với những ý tưởng kì quặc của anh và giờ thì chúng ta ở đây. Nói tóm lại là chuyện đó đã đưa chúng ta đến ngày nay.”

Khi bố lắng nghe câu chuyện của em trai mình, toàn thân ông nom như một cái ảnh nền Hollywood, như thể nếu tôi bước một bước vòng qua người ông, tôi sẽ thấy ông chỉ rộng có hơn 2,5 cm.

“Khi em ở trong phòng giam đó,” Terry nói, “và nghĩ rằng cái chết của mình chỉ còn cách vài giây, em phát hiện mọi thứ mà em đã cố gắng làm, để trong sạch hóa đạo đức thể thao, là chuyện hết sức vô nghĩa. Em nhận ra rằng, nếu không bị tai nạn, em có thể sống tới tám mươi, chín mươi tuổi, vậy mà em đã phá hỏng nó. Em nổi cáu với chính mình! Thật điên tiết! Em cố lý do lý trấu tại sao em làm việc đó, em đã nghĩ gì, và em thấy em đã cố gắng để lại dấu vết của chính mình để sau khi ra đi, em vẫn như còn ở lại đây. Mọi thứ tóm gọn trong cái “đại loại là” lý tưởng ấy. Và anh biết em nhận ra điều gì khi ở bên bờ vực cái chết không? Đó là em đếch sợ. Em không muốn dựng tượng cho mình. Em chợt ngộ ra chân lý. Anh đã ngộ ra chân lý bao giờ chưa? Tuyệt lắm! Đây là sự giác ngộ của em: em phát hiện rằng em đã tự giết chết mình vì em muốn được trường tồn. Em đã ném cuộc đời mình đi vì danh nghĩa một sự dở hơi nào đấy mà em không biết...”

“Dự án,” tôi nói. Bố và tôi nhìn nhau.

“Dự án. Phải. Dù sao thì, em đã thề rằng nếu thoát khỏi nơi đó, em sẽ sống trong hiện tại, chơi xỏ mọi người, để ông anh của mình làm bất kì điều gì ông ấy muốn, và em thề rằng em sẽ làm theo lời khuyên của Harry và sống ẩn danh đến hết đời.”

Terry bất thình lình quay sang Caroline với đôi mắt trong suốt, nghiêm trang.

“Anh đã muốn gọi cho em, nhưng mỗi lần định gọi, anh lại nhớ đến cái nhà ngục ấy, cái xà lim chết chóc ấy, và anh hiểu rằng anh đã yêu em theo kiểu chiếm hữu, và cũng như cơn nổi loạn thể thao của anh, nó là một cách để ngăn bản thân anh khỏi, anh không biết nữa... cái chết. Vì vậy mà anh đã chọn chỉ yêu mấy ả gái điếm. Không có cửa để trở lại thói quen ghen tuông chiếm hữu ngày xưa ấy nữa. Anh loại mình ra khỏi cuộc cạnh tranh, như Harry nói. Anh tự do, và anh đã tự do kể từ ngày ấy. Và em biết anh làm gì không? Khi anh tỉnh dậy mỗi ngày, anh tự nói với mình mười lần, ‘Ta là một con vật hấp hối không linh hồn với tuổi thọ ngắn ngủi nhục nhã.’ Rồi sau đó anh đi ra ngoài, trong khi cuộc đời chìm lỉm hoặc vùng vẫy, và làm cho bản thân thoải mái hơn một chút. Trong liên doanh, lợi nhuận của bọn anh chẳng lớn lắm, nhưng bọn anh cũng kiếm được kha khá, và bọn anh có thể sống như những ông hoàng vì Thái Lan rẻ như bèo!”

Một sự im lặng kéo dài sau đó, chẳng ai biết phải nhìn đi đâu.

“Nước Úc yêu quý chú mày,” cuối cùng bố lên tiếng.

“Và họ ghét anh,” Terry đáp.

Dù đường đời rẽ hai lối - hai con đường ít người đi đối ngược nhau - nhưng hai anh em bố đã cùng đi đến một đoạn kết, Terry, theo lẽ thường, thông qua sự giác ngộ và khúc nhau tẩy sạch của cơn sang chấn tinh thần suýt chết, còn bố thông qua hồi tưởng, suy nghĩ và ám ảnh một cách lý trí về cái chết. Terry vô học, người đàn ông mà bố từng mô tả là không thể viết được cả tên mình trên tuyết bằng nước tiểu, đã bằng cách nào đó biết trước những cái bẫy của nỗi sợ chết và thong dong tránh sang một bên, như thể chúng là những cục phân chó trên đường phố thắp đèn sáng choang. Ngược lại, bố đã lý trí nhận ra những cái bẫy nhưng vẫn tìm cách rơi vào từng cái một. Phải, tôi có thể nhìn thấy ngay điều đó trên mặt ông. Bố đã tiêu đời! Terry đã sống theo chân lý của cuộc đời bố, còn bố thì chưa bao giờ, dù nó là chân lý của ông.

“Vậy bây giờ chuyện gì xảy ra?” bố hỏi.

“Mọi người ở với tôi. Tất cả mọi người.”

Chúng tôi nhìn nhau, biết rằng đó là một ý nghĩ tồi tệ nhưng chúng tôi không còn lựa chọn nào khác. Chẳng ai cử động. Chúng tôi giống như một bộ lạc ăn lông ở lỗ và cái hang của chúng tôi vừa mới sập. Khi mắt tôi nhìn từ bố sang em trai ông, tôi nghĩ: Những tội phạm và triết gia chuyên nghiệp đều có một số lượng điểm chung đáng ngạc nhiên - họ đều không hòa hợp với xã hội, đều sống theo luật lệ của riêng mình chứ quyết không thỏa hiệp, và đều là những hình mẫu phụ huynh bê bối. Vài phút trôi qua, và dù không ai di chuyển về bất kì hướng nào, tôi cảm thấy như hai anh em họ đã xé tôi làm đôi.

VIII.

Cuộc sống ở Thái Lan rất dễ chịu. Họ gọi nó là vùng đất của những nụ cười. Đó không phải là khẩu hiệu suông: người Thái không bao giờ thôi cười nhe răng, quá nhiều đến nỗi thoạt đầu tôi ngỡ chúng tôi đã đáp máy bay xuống xứ sở rộng lớn của những kẻ dở hơi. Dù sao thì, nhìn chung, sự hỗn loạn của Bangkok lại hòa hợp với trạng thái tinh thần của tôi. Chỉ có một điều tôi phải cảnh giác ngoài nước máy và những nụ cười đáng ngờ đó: Người Thái quá coi trọng cái đầu và xem nhẹ đôi chân đến nỗi ai cũng bảo tôi không nên gí bàn chân của mình vào đầu người khác. Ắt hẳn họ nghĩ tôi định làm thế.

Một hướng dẫn viên du lịch nói với tôi rằng người nước ngoài có thể xuất gia làm nhà sư Phật giáo, và tôi nghĩ chuyện này nghe có vẻ như là một phần bổ sung ấn tượng vào sơ yếu lý lịch của mình, nhưng tôi phát hiện sư sãi phải kiêng giết rận rệp (ngay cả khi chúng chui vào bộ pijama của bạn), trộm cắp, nói dối, tà dâm, xa hoa, và rượu chè, kể cả bia và espresso suất đúp, và tôi thấy như vậy thì chả còn chừa chuyện gì, ngoại trừ ngồi thiền và thắp hương. Triết lý của họ dựa trên cách lý giải rằng đời là bể khổ, mà đời đúng là bể khổ, nhất là khi bạn phải kiêng trộm cắp, nói dối, tà dâm, xa hoa, bia bọt, và espresso suất đúp. Mà nói gì đi nữa, tôi hận thù nhiều quá, không thể trở thành nhà sư được; trong suy nghĩ của mình, tôi đã soạn những lá thư gửi cho Hỏa ngục Cao vút với những từ ghép như “con đĩ xấu xa” và “con điếm đê tiện” cùng những lời nguyền rủa như “tôi mong cô ho văng cả tử cung ra khỏi mồm.” Phật tử thường không suy nghĩ kiểu đó.

Tôi kể với Terry kế hoạch ám sát Tim Lung của mình và chúng tôi cười sặc sụa đến khi toàn thân ê ẩm. Đó là một cách mở đầu câu chuyện tuyệt vời. Sau đó, chúng tôi trải qua nhiều ngày đêm với nhau, và tôi thường đi ngủ với hai cái tai mệt lử nhưng kêu ong ong. Giống anh trai của mình, Terry dễ sa đà vào những câu chuyện liên tu bất tận, những màn độc thoại điên rồ về mọi chủ đề có thể nghĩ ra. Đôi khi chúng bị phá vỡ bởi những khoảnh khắc trầm tư, khi chú ấy giơ lên một ngón tay giống như để làm cho vũ trụ tắt tiếng; chú thường lắc lư trên đôi chân múp míp ngắn ngủn trong sự im lặng kinh ngạc, hai đồng tử nhíu lại tựa như tôi vừa soi một ngọn đuốc vào mặt chú, và vài phút trôi qua như thế trước khi chú hạ ngón tay xuống rồi tiếp tục nói. Chú làm việc này khi chúng tôi đi bất kì đâu: trong nhà hàng và tại chợ rau, trên cánh đồng hoa anh túc và ở buổi biểu diễn sex. Càng dành nhiều thời gian với Terry, tôi càng nhận thấy sau nụ cười ranh mãnh của chú ấy là một nội công thâm hậu và một điều gì đấy không có tuổi. Ngay cả mẩu vụn cá chiên lăn bột trên râu chú trông cũng chẳng nhuốm màu thời gian, như chúng đã luôn ở đấy.

Terry có những thói quen thật khó tin. Chú thích lang thang trên đường để xem có ai muốn trấn lột chú không. Chú thường để bọn chúng móc túi, rồi cười cợt về món đồ bị lấy cắp. Thỉnh thoảng chú chặn đứng bọn móc túi và bảo chúng làm sai chỗ nào. Đôi lúc chú thuê phòng trong một nhà nghỉ dành cho dân du lịch bụi rồi tham gia tiệc tùng bằng giọng Đức. Và chú ấy không bao giờ bỏ lỡ một buổi bình minh hay hoàng hôn nào. Một buổi chiều nọ chúng tôi ngắm mặt trời màu cam sẫm chảy máu vào đường chân trời. “Đây là một buổi hoàng hôn được sự ô nhiễm của thành phố đông đúc này làm cho rực rỡ. Ai đó phải nói ra điều này và người đó có thể là chú - tác phẩm của tạo hóa nhạt nhòa hơn hẳn. Tương tự như sự hủy diệt hàng loạt. Một ngày nào đó toàn thể chúng ta sẽ tắm mình trong ánh sáng chói lòa của một mùa đông nguyên tử và Chúa ơi, đó không phải là thiên đường trong mắt sao!”

Ngoài buôn ma túy và mại dâm, giao dịch chính của liên doanh tội phạm là cá cược trên những trận đấu quyền Thái, môn thể thao quốc gia của Thái Lan. Terry thường dẫn tôi theo khi chú đi đút lót cho các tay võ sĩ để họ đánh cuội. Tôi nhớ đã nghĩ đến di sản của chú ở Úc, chú đã bị ám ảnh với việc chống tham nhũng trong thể thao như thế nào, và tôi thật ấn tượng trước cách mà giờ đây chú đang sỉ nhục lên tất cả những chuyện đó như thế này. Mỗi lần đi đến các trận đấu, Terry thường cố bắt một xe tuk-tuk để dọa mấy người lái xe - chẳng ai dám chở ông chú hộ pháp của tôi, nên chúng tôi thường buộc phải đi bộ. Chú ấy chưa một lần nổi giận; chú rất thích có cơ hội dừng lại ở chợ rau để mua một bó rau mùi tươi rồi đeo lên cổ (“Thơm hơn bất kì loại hoa nào!”) Trong suốt trận đấu, chú thường hỏi tôi tất tần tật về bản thân tôi: tôi thích gì, không thích gì, tôi hi vọng gì, sợ gì, tham vọng gì. Dù mại dâm, cờ bạc, và ma túy là nồi cơm của Terry, nhưng chú lại thuộc tuýp người khiến bạn muốn nói thật. Tôi tiết lộ bản thân với chú ấy như chưa từng tiết lộ với bất kì người nào khác. Chú lắng nghe lời tự thú của tôi một cách nghiêm túc, và khi tôi kể lại câu chuyện kinh dị/chuyện tình của Hỏa ngục Cao vút, chú nói chú nghĩ rằng tôi đã “chân thành yêu cô ấy, dù không hết mình.” Tôi không thể tranh luận điều đó.

Nhưng điều khiến tôi thích mê về chú tôi là chú nói về thế giới thật - về nhà tù, những trận tắm máu, những xưởng lao động tồi tàn, nạn đói, những lò mổ, các cuộc nội chiến, những ông vua, những tay cướp biển thời hiện đại. Thật khoan khoái biết bao khi được tách khỏi lĩnh vực triết lý một lúc, khỏi cái vũ trụ áp đặt, ngột ngạt của bố về những điều được cho là đường cùng và những điều được cho là nhà vệ sinh công cộng. Terry kể về kinh nghiệm của chú ấy ở Trung Quốc, Mông Cổ, Đông Âu, và Ấn Độ, những chuyến thâm nhập vào các lãnh thổ xa xôi và nguy hiểm, những kẻ giết người mà chú đã gặp trong các hộp đêm cờ bạc bẩn thỉu, cách chú chọn bọn họ gia nhập vào liên doanh tội phạm dân chủ. Chú kể về việc đọc sách của mình và việc chú đã bắt đầu thế nào với toàn bộ những quyển sách ưa thích nhất của bố, đã vất vả ra sao để tiêu hóa chúng lúc đầu, đã phải lòng con chữ như thế nào, và cách chú đọc ngấu nghiến giữa sa mạc và rừng rú, trên tàu hỏa và lưng lạc đà. Chú kể cho tôi nghe khoảnh khắc chú quyết định bắt đầu thói quen ăn uống phi thường (chuyện xảy ra tại Cộng hòa Czech, một món xúp bánh bao khoai tây lạnh). Chú xem thức ăn như mối liên hệ giữa chú với loài người, và trong lúc đi đây đi đó, ở đâu chú cũng được mời đến các bữa ăn tối gia đình; chú đã ăn uống đúng nghi thức với mọi loại người, nếm mọi nền văn hóa và phong tục trên toàn cầu. “Béo tốt là yêu đời,” chú nói, và tôi nhận ra cái bụng của chú không phải là một pháo đài bất khả xâm phạm chống lại thế giới mà là một sự vươn ra để ôm lấy nó.

Hầu như đêm nào cũng có gái điếm đến nhà, thỉnh thoảng họ đi thành nhóm hai, ba người. Sự chuyên nghiệp của họ tan biến ngay khi cơ thể phì lũ của chú Terry xuất hiện, những nụ cười Thái Lan nổi tiếng của họ biến dạng thành những nụ cười gượng gạo trên khuôn mặt trẻ trung mơn mởn. Tất thảy chúng tôi đều lấy làm tiếc cho những cô gái điếm này khi họ dẫn Terry vào phòng ngủ như những người giữ vườn thú lập kế dỗ dành một con tinh tinh bị chọc giận. Vậy mà khi họ trở ra, chú được minh oan, các cô gái vui vẻ, phấn khởi hẳn. Họ đi ra trông như được tiếp thêm sức mạnh sau tiết mục ấy - thậm chí, có phần trẻ lại. Và chú cũng có những cô gái điếm mà chú yêu thích nhất, những cô này đêm nào cũng trở lại. Họ thường ăn với chúng tôi, và họ không bao giờ thôi cười đùa. Bạn không thể phủ nhận rằng chú ấy yêu họ nồng nàn. Chú thể hiện tình cảm và sự quan tâm dành cho họ, và tôi thực sự tin rằng chú không hề cảm thấy khó chịu về việc họ ra về để làm tình và ngậm mút những gã đàn ông khác. Tình yêu của chú quả thật chẳng có gì phức tạp. Đó là yêu mà không chiếm hữu. Đó là tình yêu thực sự. Và tôi không thể dằn lòng so sánh tình yêu của chú ấy dành cho mấy ả gái điếm với tình yêu của tôi dành cho Hỏa ngục Cao vút, một tình yêu bị sa lầy vào vấn đề sở hữu, đến nỗi có thể dễ dàng lập luận rằng cảm giác mà tôi có với cô ấy thậm chí chẳng giống tình yêu chút nào.

***

Bố trải qua vài tháng đầu ở Thái Lan trong tâm trạng xa lánh và cáu kỉnh. Trong những dịp hiếm hoi chúng tôi đánh liều đi ra ngoài và ngồi trong những nhà hàng có nhiều du khách Úc, tên của ông thường phọt ra trong cuộc nói chuyện của họ, và nghe bản thân mình bị miệt thị ở ngôi thứ ba khiến ông buồn nôn. Ông thường mua báo Úc để đọc trong lúc nghiến răng kèn kẹt, và cuối cùng ông viết những lá thư dài cho các tổng biên tập, những lá thư mà tôi van nài ông đừng gửi. Về phần mình, tôi tránh xa mấy tờ báo hơn một cây số và thề sẽ làm thế suốt đời. Tôi đã rút ra kết luận là đọc báo giống như uống nước tiểu của chính mình. Có người nói việc đó tốt cho ta, nhưng tôi không tin.

Có lẽ làn sóng căm thù ở Úc cuối cùng đã gây tổn thất, vì bố bắt đầu sắp chết lần nữa. Rõ ràng bệnh ung thư đã tái phát trong phổi ông và đang lây lan. Trong vòng vài tháng, cơ thể ông trở thành tâm điểm của một nhà hát kinh dị. Nom ông như đang bị ăn thịt từ trong ra ngoài. Ông chuyển từ có da có thịt sang xương xẩu một cách đáng sợ. Ông trở nên nhợt nhạt và con người ông có vẻ như đã tràn ngập khí methane. Cuối cùng ông tránh tiệt những tấm gương. Ông thôi cạo râu và đi lững thững quanh nhà Terry như một kẻ cù bơ cù bất, gầy tong teo đến nỗi như bơi trong quần áo. Rồi, cũng bất thình lình như thế, đường đi của bố đến cái chết trở nên bình ổn. Ông không khỏe lên, nhưng cũng không yếu đi. Tôi cảm nhận rõ ông đang chờ đợi điều gì đó, chờ đợi làm điều gì đó, và ông sẽ không chết chừng nào ông chưa làm việc đó. Còn khối chuyện phải bàn về sức mạnh của sự ngoan cố. Người ta thường quyết tâm để được sống; những kẻ què quặt thì bước đi còn người chết thì dựng đứng lên. Hãy nhìn quanh mà xem. Chuyện này vẫn thường xảy ra.

Thoạt đầu Terry và Caroline không làm gì, chỉ van nài ông đi khám bệnh và bắt đầu một đợt hóa trị mới, nhưng bố từ chối. Tôi biết mình khó mà thuyết phục được bố làm gì, nhưng tôi cứ nghĩ đến Anouk và niềm tin ám ảnh của cô ta về sức mạnh của thiền định. Tôi cố thuyết phục ông rằng bằng những nỗ lực tập trung tuyệt đối, ông vẫn có thể tự chế ngự được bệnh ung thư. Để chiều lòng tôi, ông đã thử một lần vào một buổi chiều. Chúng tôi ngồi cùng nhau ở chân tượng Phật. Tôi hướng dẫn ông rằng cần phải nỗ lực tột đỉnh để kiểm soát trí tuệ một cách mãnh liệt nhất, nhưng bố không bao giờ xóa được những suy nghĩ hoài nghi ra khỏi đầu. Vào giữa buổi thiền, ông mở một mi mắt và nói, “Con biết Mecken nói gì về cơ thể con người không? Ông ta nói thế này: ‘Mọi sai sót và bất lực của Đấng tạo hóa đạt đến cực điểm trong con người. Là một phần trong cơ chế, nhưng con người lại kém hơn tất cả; đặt cạnh con người, ngay cả một con cá hồi hoặc một tụ cầu khuẩn cũng là một cỗ máy ổn định và hiệu quả hơn. Con người có những quả thận kém nhất được biết đến trong ngành động vật học so sánh, những lá phổi kém nhất, và quả tim kém nhất. Mắt người, xét công việc mà nó được giao trọng trách để làm, còn kém hiệu quả hơn cả mắt giun; một người tạo ra dụng cụ để nhìn, lại làm ra một dụng cụ quá vụng đến nỗi bị khách hàng bâu vào chửi mắng.’”

“Nghe cũng đúng đấy chứ,” tôi nói.

“Vậy thì - điều gì khiến con nghĩ việc ngồi thiền có thể khắc phục sự yếu ớt bẩm sinh của cơ thể bố?”

“Con không biết. Đó chỉ là một ý tưởng thôi.”

“Đó là một ý tưởng vô dụng. Có nhớ Heraclitus nói tính cách của một người là số phận của người ấy không? Nói thế không đúng. Cơ thể một người mới là số phận của người ấy.”

Bố đứng dậy, dùng những ngón chân Phật làm điểm tựa, và loạng choạng đi về phía ngôi nhà. Caroline đang đứng ở bậu cửa, nhìn chúng tôi.

“Thế nào rồi anh?” tôi nghe dì ấy hỏi.

“Rất tuyệt. Anh đã được chữa khỏi. Anh sẽ sống thêm vài tỉ năm nữa. Anh không biết tại sao trước đây anh chưa bao giờ thử làm thế.”

Caroline mệt mỏi gật đầu, rồi cùng bố trở vào trong nhà.

Tội nghiệp Caroline. Ngoài vai trò là người chăm sóc chính, dì ấy cũng có những nỗi khổ của riêng mình. Dì đã bất ngờ với chính mình khi đầu hàng trước những cơn bộc phát cảm xúc và những màn khóc lóc. Dì đã bị chấn động mạnh trước những sự kiện ở Úc. Dì vốn lúc nào cũng xem mình là một người phụ nữ trơ lì, vô ưu, tự do tự tại, một người yêu đời và chẳng bao giờ nghiêm trọng hóa vấn đề gì, nhất là chẳng màng dư luận. Nhưng sự thù ghét dồn dập tập trung vào dì đã gây ra một tác động bất ổn nghiêm trọng và lâu dài. Dì trở nên thận trọng và thu mình lại; dì thấy sự khác biệt này và không còn thích bản thân mình nữa. Trên tất cả, sự tái xuất hiện của Terry, tình yêu thời thơ ấu của dì, đã khiến dì đặt câu hỏi về cuộc hôn nhân của dì với bố. Tôi ngủ không ngon, vì vậy tôi thường trở thành nhân chứng của những màn phim truyền hình dài tập lâm li bi đát lúc nửa đêm của họ. Caroline thường uể oải đi vào nhà bếp để pha một tách trà. Bố thường nấp ở lối đi sau lưng dì và ló đầu ra ở khúc quanh bậu cửa. Hơi thở lõng bõng của ông lúc nào cũng tố giác ông.

“Anh đang làm gì vậy?” dì thường hỏi.

“Không có gì. Duỗi chân duỗi tay tí mà.”

“Anh đang theo dõi em đấy à?”

“Anh không theo dõi. Anh nhớ em, thế thôi. Như thế không lãng mạn sao?”

“Anh nghĩ em sẽ làm gì? Anh nghĩ em sẽ chờ cho đến khi anh ngủ rồi... cái gì nữa?”

“Ý em là sao?”

“Anh biết ý em là sao mà!”

Nói thật, trong đời tôi chưa bao giờ nghe phiếm chỉ nhiều đến thế!

Phòng ngủ của Caroline và bố ở cạnh phòng tôi. Tôi hay nghe tiếng cửa trượt mở ra lúc ba giờ sáng. Tôi thường ngồi dậy trên giường nhìn ra cửa sổ và thấy dáng hình mảnh mai của Caroline băng qua bãi cỏ đến tượng Phật nằm. Dưới ánh trăng tôi có thể nhìn thấy mọi thứ. Đôi khi dì tựa đầu lên vai Phật, và nếu đêm thanh tĩnh và lũ chim đã ngủ, tôi có thể nghe thấy âm điệu nhẹ nhàng của giọng nói dì trôi vào phòng tôi. “Anh ấy béo và kinh tởm. Và là một tên tội phạm. Anh ấy là một tên tội phạm béo, kinh tởm. Và anh ấy chết rồi. Anh ấy béo và anh ấy chết rồi và anh ấy thích gái điếm.” Có lần tôi nghe dì nói, “Còn mình là ai? Nhìn cơ thể của mình xem. Mình mất giá rồi.”

Những khoảnh khắc đau đớn nhất xảy đến vào giờ đi ngủ. Chúng tôi thường nằm ườn ra trên mấy tấm đệm trên sàn nhà, no căng và bét nhè sau bữa ăn tối. Đột nhiên những cuộc trò chuyện trở thành những cuộc độc thoại chết yểu.

Bố: “Tôi mệt rồi.”

Caroline: “Vậy thì đi ngủ đi.”

Bố thường nhìn Terry, thoáng vẻ gian xảo.

Bố: “Chốc nữa.”

Caroline: “Thôi, em đi ngủ đây.”

Terry: “Tôi cũng thế.”

Bố: “Tôi cũng thế.”

Bố làm mọi việc có thể để không cho Caroline và Terry chỉ ở hai người với nhau. Chuyện này thật quái đản, dù tôi ngờ rằng ông thầm thích thú ý tưởng bị em trai phản bội. Bị em trai phản bội là một kiểu nói rẻ tiền của chuyện kinh thiên động địa, và nó sẽ là một quà tặng cho kẻ sắp chết - một món quà cho thấy cuộc sống đã không quên đưa ông ta vào những vở hài kịch luộm thuộm của nó. Rồi một đêm nọ tôi thấy Caroline lẻn ra khỏi phòng của Terry, tóc rối bời, áo sơ mi cài cúc một nửa. Dì điếng người khi trông thấy tôi. Tôi nhìn dì mệt mỏi - chứ tôi phải làm sao, chẳng lẽ nháy mắt à? Dù vậy, tôi vẫn không thể trách dì vì hành động phụ bạc. Tình hình này khó mà làm khác. Tôi chỉ ước gì dì có thể chờ đợi; chuyện bố ra đi sẽ chẳng còn bao lâu. Bệnh ung thư thường tung hoành trên những con tim tan vỡ; nó là một con kên kên đang chờ ta từ bỏ hơi ấm con người. Bố thường nói về nỗi hổ thẹn của cuộc đời không được sống, nhưng chính nỗi hổ thẹn của cuộc đời không được yêu thương của ông mới là thứ thực sự giết chết ông.

Tôi không rõ Terry có nhận thức được vai trò của chú ấy trong chuyện tình tay ba này hay không, và tôi nghĩ tóm lại chú không hề biết rằng mình đã thực hiện thành công điều mà bố chỉ mới mơ đến, mà khi làm thế, chú đã thẳng tay cắt đứt bố khỏi cuộc đời chú. Bằng không, chú hẳn đã không quấy rối bố tơi bời như chú đã làm.

Vài tháng sau ngày chúng tôi đến, Terry bắt đầu tin rằng chú có khả năng biến những ngày cuối đời của bố thành sự kì diệu và niềm vui bất tận, và chú tuyển tôi để giúp một tay. Chú lôi cả ba người chúng tôi đi tắm tiên trên sông, rồi ngắm nghía sự hình thành những đám mây, rồi cá cược trong một trận đấu chó, rồi đắm mình trong thịt thà và rượu chè tại một cuộc say sưa trác táng. Bố sôi sùng sục trước những trò can thiệp kiểu này vào cái chết yên ổn của ông và ném cho Terry những ánh mắt hận thù, hằn học. Về phần tôi, tôi cảm thấy nhẹ lòng khi có chuyện để làm. Có lẽ vì sự tự do bất chợt khi có người khác lo lắng cho bố, nhưng kể từ khi đến Thái Lan, tôi thấy trong người dồi dào năng lượng. Tôi cũng cảm thấy khỏe hơn, tựa như có thể vật cả một con thú xuống đất. Tôi dậy sớm mỗi ngày, dành cả ngày để đi dạo từ đầu bên này sang đầu bên kia của Bangkok, và đi ngủ muộn. Dường như tôi cần ngủ rất ít. Tôi sung sức lên hẳn nhờ những hoạt động mà Terry tạo ra cốt để làm cho bố sung sức.

Vào một buổi chiều nóng bức, sau khi đi bộ vài giờ, tôi leo lên võng nằm, nhìn chăm chú vào tượng Phật đồ sộ đó, và lập ra một danh mục những kinh nghiệm đời mình để xem chúng có đúng là đã đan quyện vào nhau không, có đường nối mà tôi không nhận ra vào lúc ấy hay không. Tôi nghĩ nếu mình có thể giải mã trật tự của quá khứ, tôi có thể suy luận ra điều gì sắp đến.

Tôi không làm được. Một cái bóng trùm lên tôi. Tôi nhìn lên thấy nửa thân người ở trần của Terry. Cảnh chú ấy không mặc áo lúc nào cũng để lại ấn tượng sâu sắc. Nó khiến tôi tự hỏi phải chăng chú đã đảo lộn trật tự giác ngộ thông thường và đạt được thế an nhiên như Phật từ bên ngoài vào trong.

“Cháu sẵn sàng chưa?” Terry hỏi.

“Để làm gì?”

“Chúng ta sẽ thử khởi động máy cho bố cháu lần nữa.”

Tôi quàng chân qua võng rồi đi theo Terry đến phòng bố. Ông đang nằm sấp trên giường. Ông không nhận ra sự có mặt của chúng tôi.

“Nhìn xem, Marty, anh nằm sấp mặt như thế không thấy nặng à?”

“Xem ai đang nói kìa.”

“Chẳng nhẽ anh không muốn làm một chiếc lá bay trong không khí, hay một hạt mưa, hay một làn mây?”

“Có thể tao muốn. Mà cũng có thể không.”

“Anh cần được tái sinh. Anh cần phải chết đi rồi đầu thai lại.”

“Tao già khú đế rồi, còn tái sinh thế nào nữa. Mà chú mày nghĩ chú mày là ai mới được chứ? Chú mày là một tên giết người trăm lần, chú mày là một kẻ bán ma túy, một gã chăn dắt gái, một thằng buôn lậu súng, vậy mà chú mày cho mình là một người nhìn xa trông rộng và một nhà hiền triết! Làm sao mà thói đạo đức giả của chú mày không làm chú mày phát ốm được?”

“Câu hỏi hay lắm. Đó chỉ là một sự tương phản nhỏ thôi.”

Chúa ơi, những cuộc đối thoại bất phân thắng bại kiểu này cứ tiếp diễn như thế đấy.

Terry lôi bố ra khỏi giường và lôi chúng tôi vào một trường bắn nơi người ta có thể dùng súng lên đạn bằng tay để bắn vào bia. Cả bố lẫn tôi đều chẳng có hứng thú gì với súng ống, và độ giật của súng khiến bố ngã ngửa, đập lưng xuống đất. Terry cúi xuống bố, còn bố nhìn lên, mồm há hốc, toàn thân run rẩy.

“Marty, hãy cho em biết một chuyện - những suy ngẫm về cái chết này đã đưa anh đi đến đâu?”

“Tao mà biết thì tao chết ngay.”

“Jasper nói anh là một triết gia tự huyễn hoặc mình vào góc đường cùng.”

“Nó nói thế à?”

“Hãy cho em biết về cái góc đó. Nó nom như thế nào? Làm sao anh đến đó? Và anh nghĩ cái gì có thể đưa anh ra khỏi đó?”

“Đỡ tao dậy,” bố đáp. Khi đã đứng dậy, ông nói, “Tóm lại, là thế này. Vì con người chối bỏ cái chết của họ đến mức họ biến thành những cỗ máy sống, nên khi có một chuyện siêu nhiên hoặc mang màu sắc tôn giáo trong tự nhiên xảy ra, tao không thể biết liệu tao có vì tuyệt vọng mà tạo ra mối liên hệ với nó để tin vào sự đặc biệt của chính mình và tham vọng được sống tiếp của mình.”

“Có lẽ vì anh chưa bao giờ có những trải nghiệm bí ẩn.”

“Nhưng bố đã có,” tôi nói. “Có lần bố đã thấy mọi thứ trong vũ trụ cùng lúc. Nhưng ông không bao giờ theo đuổi nó.”

“Vậy bây giờ chú mày đã hiểu bản chất của cái góc ấy chưa? Nếu con người liên tục tạo ra ý nghĩa để chối bỏ cái chết, thì làm sao tao biết được tao đã không tự tạo ra sự tồn tại của mình? Tao không thể biết được, vì vậy tao phải nghĩ rằng mình đã làm thế.”

“Nhưng cả đời anh, anh chưa hề thực sự suy nghĩ nghiêm túc về linh hồn.”

“Đừng nói về linh hồn nữa. Tao không tin vào nó, Jasper cũng không tin.”

Terry quay sang tôi. Tôi nhún vai. Thú thật, tôi chỉ đơn giản là không thể xác định có hay không sự tồn tại của nó. Bố đã đúng - linh hồn bất tử không thấm nhuần tôi. Vòng đời của nó có vẻ được đánh giá quá cao. Thay vào đó tôi tin vào linh hồn hữu hạn hơn, linh hồn mà từ lúc sinh ra đã không ngừng phôi pha và sẽ chết khi tôi chết. Dù có khuyết điểm nào đi nữa, một linh hồn hữu hạn vẫn có vẻ tuyệt vời hoàn hảo với tôi, mặc cho ai có nói gì.

“Nghe này, Marty. Hãy xả bỏ nó đi - cái tâm trí muốn giải đáp những bí ẩn của vũ trụ. Kết thúc rồi. Anh đã thua.”

“Không, mày nghe đây, Terry,” bố ngán ngẩm nói. “Nếu quả thực tao đã sống sai, nếu tao phạm lỗi lầm và vẫn còn có những sai lầm xuất hiện, thì tao nghĩ việc giữ nguyên hiện trạng nhân cách khiếm khuyết của tao sẽ ít bi kịch hơn rất nhiều so với thay đổi ở giờ thứ mười một. Tao không muốn làm một kẻ hấp hối học cách sống như thế nào năm giây trước khi chết. Tao hài lòng làm một kẻ lố bịch, nhưng tao không muốn cuộc sống mình khoác lên những đặc điểm của một bi kịch, cảm ơn.”

Tôi nạp đạn vào khẩu súng của mình rồi nhắm vào tấm bia và, lần đầu tiên trong ngày hôm ấy, bắn trúng hồng tâm. Tôi đi trở về chỗ bố và Terry, nhưng chẳng ai trông thấy. Cả hai đều bất động, hai anh em đứng cạnh nhau nhưng sống trong những thế giới rất khác nhau.

***

Tối hôm đó tôi chôn mình dưới những tấm drap giường. Những cú bắn mà Terry nhằm vào bố dường như đã trượt mục tiêu, thay vào đó lại trúng tôi. Tôi chợt nhận ra vị trí mà bố đang đứng trước mặt cái chết có thể một ngày nào đó sẽ là vị trí của tôi. Dù tôi khao khát làm ảnh ngược trong gương của ông, tôi phải thừa nhận rằng có những sự giống nhau khó chịu giữa hai chúng tôi. Tôi cũng có cái đầu liên tục thắc mắc nhằm giải mã những bí ẩn của tạo hóa, và cũng như ông, tôi không biết làm thế nào để tìm được sự nghỉ ngơi từ cuộc điều tra vô vọng, không hồi kết này. Tôi không chắc lắm rằng Terry không phải đang cố tình phá đám tôi. Chú ấy hẳn phải biết bố sẽ không thay đổi dù chỉ một nguyên tử trong nhân cách của ông, và vì thế mà chú cố tình lôi tôi theo trong những chuyến dã ngoại này. Chú đang nhắm vào tôi và giải quyết sòng phẳng với tôi. Tôi biết rằng ở đâu đó trong lòng mình có một khuynh hướng tín ngưỡng mà bố còn thiếu, nhưng nó vẫn rất mỏng manh và không quyết liệt. Không khó để một hôm thức giấc và nhận ra tôi đã trôi xa khỏi trọng tâm của mình và giờ đây đang theo dấu chân bố như một thây ma.

Có tiếng gõ cửa. Tôi không nói gì, nhưng cửa vẫn cứ mở ra. Terry lạch bạch đi vào phòng theo chiều ngang.

“Mấy cái khung cửa chết tiệt này. Ê, Jasper, chú cần cháu cho ý kiến. Chúng ta có thể làm gì để biến những ngày cuối đời của bố cháu thành những ngày tuyệt vời?”

“Mẹ kiếp, chú Terry. Chúng ta không làm được gì cả. Hãy để ông ấy yên.”

“Chú biết! Có lẽ chúng ta nên đi một chuyến.”

“Tất cả chúng ta á? Đi cùng nhau?”

“Ừ! Về miền quê! Chúng ta có thể đi thăm Eddie, xem anh ta sinh sống ra sao.”

“Cháu nghĩ đấy không phải là một ý tưởng hấp dẫn.”

“Bố cháu không được khỏe. Chú nghĩ được bầu bạn với người bạn lâu năm nhất của mình có thể là điều ông ấy cần. Vả lại, chốn thôn quê có thể làm ông ấy tươi tỉnh hơn.”

“Chú không thể làm ông ấy tươi tỉnh hơn. Bố đang thối rữa.”

“Chú sẽ báo cho mọi người.”

“Đợi đã - còn liên doanh thì sao? Chú không phải chăn dắt gái, trồng thuốc phiện, buôn bán súng à?”

“Những người khác có thể trông nom công việc cho đến khi chú quay lại.”

“Nghe này, chú Terry. Bố không mất hồn trước vẻ đẹp thiên nhiên đâu. Những hiện tượng tự nhiên chỉ khiến ông chìm vào cảnh trầm tư tồi tệ nhất. Điều ông ấy cần là sự phân tâm, không phải là một hành trình tìm về nội tại của ông ấy. Hơn nữa, chú đang ngủ với vợ ông ấy và ông ấy biết chuyện đó.”

“Chú không có!”

“Thôi nào, chú Terry. Cháu thấy dì ấy đi ra khỏi phòng chú.”

“Nghe này. Caroline rất phiền não. Bố cháu không biết cách âu yếm, chỉ vậy thôi. Ông ta chỉ dùng có một cánh tay!”

Thật vô ích khi nói chuyện với Terry. Chú ấy đã quyết. Tất cả chúng tôi sẽ đi đến một ngôi làng sơn cước hẻo lánh và ở với Eddie trong vài tuần. Tôi vò đầu bứt tóc, nghe trộm khi chú ấy nôn nóng báo tin này với bố và Caroline, và dù cho mọi người đều đồng lòng ghét ý tưởng ấy, sáng hôm sau, Terry vẫn lùa tất cả chúng tôi lên xe Jeep.

IX.

Trong suốt chuyến đi tôi trầm tư trước lời kể của Terry về quá khứ của Eddie. Bố ông ta là bác sĩ duy nhất của ngôi làng miền núi nơi họ sinh sống, và từ thời trai trẻ Eddie đã được kì vọng sẽ nối bước cha. Bố mẹ Eddie có một giấc mơ là cậu con trai sẽ tiếp quản công việc khi người bố về hưu, và ý chí của họ mãnh liệt đến nỗi nó cũng trở thành giấc mơ của Eddie. Trong nhiều năm họ đã giật gấu vá vai để gửi con trai đi học trường y, và ông ta đi học, lòng tràn ngập niềm biết ơn và sự phấn khởi.

Rủi thay, mọi việc trở nên chua chát trong ngày đầu tiên Eddie mở quyển giáo trình y khoa. Tuy rất muốn theo đuổi giấc mơ “của mình” và làm hài lòng bố mẹ, nhưng Eddie nhận ra mình kinh tởm thức ăn lỏng trong cơ thể người. Vậy là Eddie trải qua phần lớn thời gian thực tập để nôn khan. Thực tình chẳng có bộ phận nào trong môn giải phẫu người mà ông ta chịu đựng nổi: phổi, tim, máu, ruột không chỉ đơn giản là những biểu tượng ghê tởm của tính động vật trong con người, mà chúng còn mỏng manh và dễ mắc bệnh cũng như dễ phân hủy đến độ ông chẳng thể hiểu làm sao con người có thể sống sót qua một phút.

Ở năm hai đại học, Eddie cưới một cô sinh viên báo chí xinh đẹp mà ông chiếm được tình cảm một cách không trung thực khi ba hoa về tương lai làm bác sĩ của mình và dự báo về một cuộc sống sung túc của hai người. Chuyện lẽ ra nên là một sự kiện hạnh phúc với Eddie lại là một cực hình khó nói nên lời. Ông ta nghi ngờ sâu sắc về quyết định bước vào ngành y, nhưng lại không tin rằng mình vốn dĩ đáng yêu “như cam kết”. Giờ đây ông ta có thêm một việc khác để bối rối và cắn rứt: ông đã bắt đầu một cuộc hôn nhân dựa trên lời nói dối.

Rồi Eddie gặp người đàn ông sẽ làm thay đổi cuộc đời ông. Lúc đó là hai giờ sáng, Terry Dean đi loạng choạng vào phòng cấp cứu với một con dao nhíp đâm vào chỗ thắt lưng, tại một góc bất tiện đến nỗi bản thân không thể gỡ nó ra. Khi Eddie rút con dao ra, thái độ cởi mở và bộc trực của Terry, kết hợp với sự tĩnh mịch về khuya của ca trực đêm, đã khiến Eddie trút bầu tâm sự với bệnh nhân về lòng dạ rối bời của mình - cảm giác giữa kinh tởm và nghĩa vụ, giữa trách nhiệm và nỗi sợ thất bại. Về cơ bản, Eddie than thở: ông ta có muốn trở thành một tay bác sĩ ra trò hay không? Ông ta thú nhận rằng mình ghê tởm trước ý nghĩ ấy và sớm muộn nó cũng sẽ đẩy ông đến chỗ tự sát, nhưng làm sao để ông thoát ra khỏi nó bây giờ? Ông còn cách nào khác để làm ra tiền? Terry lắng nghe vẻ cảm thông, và đề nghị ngay một công việc lương cao nhưng bất bình thường: đi khắp thế giới và trông chừng người anh trai của mình nhằm giúp đỡ ông ấy khi cần. Tóm lại, làm bạn và người bảo vệ của Martin Dean.

Dù việc này làm tan nát con tim của hai đấng sinh thành và gây căng thẳng không thể tưởng tượng nổi lên mối quan hệ của ông với cô dâu trẻ, Eddie vẫn nhận công việc và lên đường đến Paris để chờ đợi bên cạnh Caroline đến ngày bố xuất hiện. Sự thật kinh ngạc nhất được tiết lộ với chúng tôi là trong suốt những năm tháng đó, từ lúc Eddie gặp bố ở Paris trở đi, ông ta không thể chịu đựng nổi bố. Suốt những năm đó ông ta ghét bố tôi, và lòng thù ghét này chưa một lần vơi bớt. Thật không thể tin nổi. Càng nghĩ về sự lừa dối của Eddie, giả vờ thích một người trong hai mươi năm, tôi càng nghĩ nó gần giống như sự điêu luyện. Rồi tôi kết luận rằng người ta còn có thể giả vờ thích gia đình, bạn bè, hàng xóm, và đồng nghiệp của họ cả đời, thì hai mươi năm chẳng có nghĩa lý gì.

Lúc rời khỏi Bangkok xe cộ thật đông đúc, nhưng giờ thì chúng tôi đã ra ngoại thành, đường sá đã thông thoáng hơn. Chúng tôi đi trên một con đường rộng thênh thang với những ruộng lúa ở hai bên đường. Terry lái xe rất nhanh. Chúng tôi băng qua những chiếc xe mobylete bé tí chở cả một gia đình vài thế hệ và những chiếc xe buýt nom như sắp sửa lạc tay lái. Có lúc chúng tôi bị kẹt sau một chiếc máy kéo rề rề do một người nông dân điều khiển, ông ta đang uể oải vấn một điếu thuốc bằng cả hai tay. Rồi chúng tôi bắt đầu đến vùng núi non. Như để kết thúc câu chuyện hẵng còn chảy trong đầu tôi, Terry cập nhật cho chúng tôi về chuyện gì xảy đến với Eddie từ ngày ông ta quay lại Thái Lan.

Nỗi hân hoan của Eddie lúc kết thúc sứ mệnh hai mươi năm tan biến khi mọi việc gần như đảo lộn. Sau hai trăm bốn mươi tháng xa cách vì công việc của Eddie, chỉ sáu tuần đoàn tụ đã phá hủy cuộc hôn nhân của ông ta. Eddie dọn khỏi căn hộ của vợ ông ta ở Bangkok để đến sống trong một căn nhà tại ngôi làng hẻo lánh nơi ông đã lớn lên. Đó là một sai lầm khủng khiếp - bóng ma của bố mẹ ông ta ở khắp nơi, chì chiết ông ta vì đã làm tan nát trái tim họ. Vậy gã ngốc này đã làm gì? Ông ta nối lại sợi dây của giấc mơ cũ. Những giấc mơ có thể nguy hiểm như bất kì thứ gì khác. Nếu bạn sống qua nhiều năm, thay đổi theo thời gian và kinh nghiệm sống, và bạn quên trùng tu những giấc mơ của mình, bạn có thể sẽ thấy mình ở trong tình thế khó tin của Eddie: một gã bốn mươi bảy tuổi theo đuổi những giấc mơ của một người hai mươi tuổi. Trong trường hợp của Eddie, tình hình còn tồi tệ hơn. Ông ta quên mất rằng ngay từ đầu chúng thậm chí không phải là giấc mơ của ông ta; ông ta nhận lấy những giấc mơ đã qua sử dụng. Và giờ đây ông ta đã trở về cái cộng đồng cô lập đến phát sợ này, với ý định mở một phòng mạch, để rồi phát hiện ra một người thay thế bố ông ta, nay đã sáu mươi lăm tuổi, đã dàn xếp công việc đâu ra đấy.

Chúng tôi đến chỗ Eddie tầm chiều tà, một căn nhà xập xệ nằm trong một khu đất hoang nhỏ. Những ngọn đồi bao quanh phủ rừng rậm rạp. Khi Terry tắt máy xe, tôi nghe được tiếng sông chảy. Chúng tôi thực sự đã đến chốn đồng không mông quạnh. Sự cô lập của nơi này khiến tôi khẽ rợn người. Từng sống trong một cái chòi ở góc tây bắc của một mê cung, tôi không còn lạ gì sự mộc mạc và cô quạnh, nhưng đây lại là chuyện khác. Căn nhà khiến tôi rùng mình. Có lẽ tôi đã đọc quá nhiều sách hoặc xem quá nhiều phim, nhưng khi bạn nhìn cuộc đời ở góc độ kịch tính của nó, như tôi đã làm, mọi thứ lập tức mang ý nghĩa. Một căn nhà không chỉ là một căn nhà - nó là nơi mà một chương trong cuộc đời bạn diễn ra, và tôi nghĩ căn nhà hẻo lánh này là bối cảnh hoàn hảo cho một điềm gở đáng sợ và có thể, nếu chúng tôi nán lại đủ lâu, sẽ là một cao trào bi kịch.

Terry bấm còi xe, và Eddie bước ra vẫy cánh tay với thái độ rất cáu bẳn.

“Cái gì thế này? Ông muốn gì?”

“Chú không nói với ông ta là chúng ta đến à?” tôi hỏi Terry.

“Để làm gì? Dù sao thì, bây giờ anh ta đã biết. Eddie! Chúng tôi đến để xem anh sinh sống ra sao. Dọn mấy cái phòng trống giúp tôi nhé? Anh có khách đấy.”

“Tôi không còn làm việc cho ông nữa, Terry. Ông không thể bảo tôi... ông không thể cứ đến đây rồi muốn là... Nghe này, tôi giờ là bác sĩ. Tôi không muốn có chuyện gì nhặng xị ở đây.”

“Các mật thám của tôi nói rằng anh không có nổi một bệnh nhân.”

“Làm sao ông... Họ khá dè chừng người ngoài. Và tôi đã không sống ở đây trong nhiều, nhiều năm rồi. Cần có thời gian để tạo dựng tên tuổi, thế thôi. Mà dẫu sao thì, việc đấy can hệ gì đến ông? Ông không được ở lại. Vị thế tôi ở đây đã chông chênh lắm rồi. Không cần ông phải gây thêm điều tiếng cho tôi nữa.”

“Chúa ơi, Eddie, chúng tôi có mặc đồ lót chạy tung tăng trong làng đâu nào, chúng tôi chỉ muốn một chút bình an và yên tĩnh, ngắm cảnh này nọ, và dù sao thì, chuyện bác sĩ tiếp nhận một người sắp chết cùng gia đình ông ta trong vài ba tuần thì có gì lạ đâu?”

“Vài tuần? Các người định ở đây vài tuần ư?”

Terry cười to và vỗ lưng Eddie.

“Cả hắn nữa?” Eddie hỏi khẽ, nhìn về phía bố. Bố ném lại một cái nhìn vô hồn và lạnh tanh. Rồi Eddie nhìn tôi với nụ cười nửa miệng giông giống như sự ấm áp nhưng không hẳn là thế. Gần đây tôi đã rút kinh nghiệm từ người Úc khái niệm thù ghét lây và do đó có thể nhận ra kích cỡ cũng như mùi vị của nó. Terry quơ cái túi của mình rồi đi vào nhà. Chúng tôi thận trọng nối gót. Tôi dừng lại ở cửa và quay lại nhìn Eddie. Ông ta không cử động. Ông ta đang đứng cạnh chiếc xe Jeep, hoàn toàn bất động. Trông như ông ta không thể chịu đựng bất kì ai trong số chúng tôi. Và ai có thể trách ông ta được? Về cá nhân tất cả chúng tôi đều là những người khá dễ chịu, nhưng kết hợp lại thì chúng tôi là một tập thể khó ưa.

Tôi không biết cơ thể mình có gì mà lại thu hút muỗi thuộc mọi chủng tộc và tôn giáo, tôi chỉ biết là tôi đã tắm mình trong thuốc chống côn trùng và thắp một nghìn ngọn nến hương sả, nhưng vì lý do nào đó chúng cứ kéo đến. Tôi gỡ cái màn ngăn muỗi ra khỏi giường và bọc chúng quanh người mình như một tấm vải liệm. Qua làn lưới trong mờ, tôi quan sát cảnh vật xung quanh. Nói vật dụng trong phòng chỉ có tối thiểu là còn nhẹ: bốn bức tường trắng, một cái ghế cọt kẹt gãy mất một chân, một cái bàn lắc lư, và một tấm đệm mỏng dính. Một ô cửa sổ nhìn ra cánh rừng rậm rạp. Tôi đã nằng nặc đòi một phòng ngủ ở cách xa mọi người nhất. Có một cánh cửa hậu - tốt cho việc ra vào mà không bị ai phát hiện, tôi nghĩ.

Tôi cảm thấy một con muỗi trên cánh tay. Chúng đang đào hầm chui qua màn lưới. Tôi kinh tởm phủi mạnh nó ra và nghĩ: Mình đang làm gì ở đây? Tại Bangkok, giữa những buổi biểu diễn sex và chùa chiền, có khối thứ khiến tôi bận rộn. Còn ở đây, sự ra đi của bố có thể khiến mọi suy nghĩ khác ngoài cái chết của ông trở nên gần như không thể. Còn gì khác để làm ngoài chuyện chứng kiến con người ấy tàn tạ dần?

***

Sau một bữa ăn tối im lặng mà ở đó tất cả chúng tôi đều nhìn nhau ngờ vực, nơi không khí đặc quánh với những ham muốn thầm kín và không ai nói ra những điều không thể nói nên rốt cục chẳng có gì nhiều để nói, Eddie dẫn tôi đi tham quan căn nhà.

Chẳng có gì nhiều để xem. Bố của Eddie làm bác sĩ nghiệp dư đã đành, làm họa sĩ cũng nghiệp dư nốt, và bất hạnh thay, ông đã tìm ra một cách để kết hợp hai sở thích ấy. Trên tường treo những tranh tả thực về ruột, tim, phổi, thận và một cái bào thai bị bỏ mà, dù mang số phận hẩm hiu, nó vẫn nom như đang mỉm cười ma quái. Tôi chẳng buồn giả vờ như mình thích các bức tranh này, và Eddie cũng chẳng mong là tôi sẽ thích. Tôi theo ông ta vào phòng mạch, một gian phòng rộng, không một tì vết, với cửa chớp bằng gỗ. Nó mang một vẻ gọn gàng và ngăn nắp mà người ta có thể tìm thấy ở những người cực kì kĩ tính và ở những người tuyệt không có gì để làm với thời gian của mình. Vì tôi biết Eddie đã đợi ở đây nhiều tuần liền mà chẳng có bệnh nhân nào đến, nên đã rõ nó thuộc trường hợp nào.

“Đây là phòng mạch của bố tôi. Đây là nơi ông khám bệnh cho bệnh nhân, thực hiện nghiên cứu y học, và lánh mặt mẹ tôi. Mọi thứ y nguyên như ông để lại. Thực ra thì, sao tôi lại nói thế nhỉ? Không phải vậy đâu. Khi ông chết, mẹ tôi đã đóng gói mọi thứ vào những cái hộp, nên tôi đã bố trí lại mọi thứ đúng theo những gì tôi nhớ.”

Đó là một phòng mạch chuẩn mực: một cái bàn làm việc quá khổ, một cái ghế đệm dễ chịu dành cho bác sĩ, một chiếc ghế thẳng lưng không thoải mái dành cho bệnh nhân, một cái bàn khám bệnh được nâng lên, một kệ sách với những quyển sách hướng dẫn y thuật nghìn trang, và, trên một cái bàn nhỏ, những dụng cụ giải phẫu được sắp xếp chỉn chu không chỉ từ thế kỉ này mà từ cả hai thế kỉ trước. Đáng tiếc là, lại có thêm nhiều bức tranh thiếu thẩm mỹ về các bộ phận cơ thể người treo trên tường, những bức tranh dường như để bôi nhọ con người, một sinh vật danh giá. Không khí trong phòng rất nặng nề, bởi cái chết lay lắt của ông bố hoặc bởi những nỗi chán chường hiện tại của người con.

“Khi tôi nhận lời đề nghị của chú cậu, bố mẹ tôi đã cắt đứt mọi liên lạc với tôi. Giờ thì, họ ở đây.”

“Ai?”

“Bố mẹ tôi.” Eddie chỉ về hai cái lọ bằng đất nung mà tôi tưởng là vật chặn sách.

“Tro của họ?”

“Không, linh hồn của họ.”

“Thế thì đỡ phiền toái hơn.”

Vậy ra linh hồn song thân quá cố của Eddie được giữ trên một cái kệ cao. Tránh xa tầm tay trẻ em.

“Tôi chờ ở đây mỗi ngày. Không một bệnh nhân nào ghé qua. Tôi đã đi giới thiệu bản thân khắp vùng rồi, nhưng họ hoàn toàn chẳng hứng thú gì với việc thử tài bất kì người mới nào. Tôi thậm chí còn không biết họ làm ăn kiểu gì nữa. Mấy người này không đi gặp bác sĩ khi mắc bệnh nhẹ, cả bệnh nặng cũng không. Nhưng tôi quyết tâm đeo bám đến cùng. Nói gì đi nữa, tôi cũng đã học trường y mà, phải không? Vậy tại sao tôi không làm bác sĩ? Ý tôi là, tôi còn có thể làm gì khác? Xem năm năm ngồi ở giảng đường như là kinh nghiệp học tập thôi ư?”

Rõ ràng Eddie đã quên bẵng mâu thuẫn mười mươi trong quan điểm của ông ta về quãng thời gian bị lãng phí. Ông ta đã chọn cách tập trung vào năm năm ở trường y hơn là hai mươi năm đi làm cái việc giám sát bố và tôi.

Ông ta ngồi lên mép bàn và dùng ngón tay cạy cái gì đó ở kẽ răng. Ông ta nhìn tôi nghiêm nghị, như thể nhặt thức ăn từ răng là một việc ông ta được học ở trường y.

“Có quá nhiều điều tôi muốn nói với cậu trong những năm qua, Jasper ạ. Những điều tôi không thể nói vì chúng xung đột với các yêu cầu trong công việc của tôi.”

“Chẳng hạn như?”

“À, như cậu hẳn đã nhận ra, tôi ghét bố cậu. Và cái việc người Úc tin vào những thứ rác rưởi của ông ta dù chỉ trong một phút đã làm băng hoại cả một quốc gia, và làm băng hoại tất cả mọi người ở khắp mọi nơi.”

“Tôi nghĩ vậy.”

“Dù sao thì, vấn đề là, tôi ghét bố cậu. Không, tôi căm thù ông ta.”

“Đó là quyền của ông.”

“Nhưng điều cậu có lẽ không biết là, tôi cũng chẳng thích cậu cho mấy.”

“Không, tôi không biết chuyện đó.”

“Cậu thấy chưa? Cậu thậm chí còn không hỏi tôi tại sao. Đó là điều tôi không thích ở cậu. Cậu hợm hĩnh và trịch thượng. Thực ra, cậu đã hợm hĩnh và trịch thượng từ khi mới lên năm.”

“Và đó là quyền của tôi.”

Eddie liếc mắt nhìn tôi hằn học. Giờ thì ông ta không còn giả vờ thích chúng tôi nữa, có cảm giác như ông ta đã trở nên hiểm ác chỉ sau một đêm.

“Thấy chưa? Hợm hĩnh và trịch thượng. Tôi đã quan sát cậu cả cuộc đời cậu. Có lẽ tôi hiểu cậu nhiều hơn cậu hiểu bản thân mình. Cậu tự hào là mình hiểu người khác và biết họ đang nghĩ gì. Nhưng cậu không hiểu mình, có phải không nào? Cậu có biết cậu đặc biệt không hiểu mình ở điểm nào không? Đó là cậu là phần nối tiếp của bố cậu. Khi ông ta chết, cậu sẽ trở thành ông ta. Tôi chẳng nghi ngờ gì chuyện này. Người ta có thể thừa hưởng ý nghĩ - họ thậm chí có thể thừa hưởng toàn bộ lối tư duy. Cậu có tin không?”

“Không hẳn. Có thể.”

“Khi tôi gặp bố cậu, ông ta chỉ nhỉnh hơn vài tuổi so với cậu hiện nay. Và cậu biết tôi thấy gì ở cậu không? Chính xác con người đó. Nếu có lúc nào đó cậu không thích ông ta, ấy là vì cậu không thích bản thân mình. Cậu nghĩ cậu khác biệt với ông ta từ xương tủy. Đó là khi cậu không hiểu bản thân mình. Tôi đoan chắc mỗi khi cậu nói ra điều gì đó lặp lại của bố cậu, cậu nghĩ đó chỉ là thói quen. Nhưng không phải vậy. Đó chính là ông ta ở bên trong cậu, chờ đợi được thoát ra. Và đó là điểm mù của cậu, Jasper ạ.”

Tôi nuốt nước bọt, dù lòng không muốn. Điểm mù. Cái điểm mù chết tiệt. Mỗi người đều có một cái. Kể cả các thiên tài. Kể cả Freud và Nietzche cũng có những điểm mù rộng hơn một cây số và chúng cuối cùng đã phá hỏng yếu tố nào đó trong tác phẩm của họ. Vậy đấy có phải là điểm mù của tôi không? Rằng tôi giống bố tôi một cách bệnh hoạn, rằng tôi đang trở thành ông ấy, rằng tôi sẽ thừa hưởng không chỉ hành vi thù ghét xã hội của ông mà còn cả cái quá trình suy nghĩ bệnh hoạn của ông? Tôi đã bắt đầu lo lắng rằng chứng trầm cảm của tôi hồi còn ở Úc là sự lặp lại của chứng trầm cảm của ông.

Eddie ngồi trên bàn khám bệnh và đá chân vào không khí.

“Thật sảng khoái khi được nói lên suy nghĩ của mình. Thật mệt bã người khi phải giữ bí mật. Tôi muốn kể với cậu sự thật, không chỉ về cậu, mà còn về tôi và chuyện mà cậu, bố cậu và chú cậu đã gây ra cho cuộc đời tôi. Để cậu biết. Quan trọng là cậu phải biết. Bởi vì khi tôi kể xong, cậu sẽ hiểu tại sao cậu phải thuyết phục mọi người rời khỏi ngôi nhà này ngay lập tức. Tôi không cần biết cậu làm thế nào, nhưng cậu phải buộc mọi người rời khỏi đây. Trước khi quá muộn.”

“Quá muộn chuyện gì?”

“Cứ nghe đi đã. Khi Terry đề nghị tôi công việc trông chừng bố cậu, tôi đã nhận nó như một cách để trốn khỏi cái tương lai mà tôi không biết chắc. ‘Giúp đỡ họ khi họ cần giúp đỡ, đảm bảo họ không gặp phiền toái gì, và chụp ảnh họ, càng nhiều càng tốt,’ Terry dặn. Đó là sứ mệnh của tôi. Nghe không quá khó. Làm sao tôi biết nó sẽ hủy hoại cuộc đời tôi? Dẫu sao, đó cũng là lỗi của tôi, tôi thừa nhận. Tôi đã chấp nhận một sự đổi chác của quỷ. Cậu có để ý là trong sách vở và phim ảnh, Quỷ dữ thường được mô tả một cách hài hước còn Chúa thì nghiêm túc phát sợ không? Tôi nghĩ trong đời thật nó sẽ là ngược lại, cậu có nghĩ vậy không?”

“Có thể.”

“Tôi không thể nói với cậu đã bao nhiêu lần tôi muốn nghỉ việc. Nhưng theo dõi cuộc sống của hai người giống như theo dõi một tai nạn quay chậm. Nó rất lôi cuốn. Khi tôi đi khỏi nước Úc, xa khỏi bố cậu và cậu, tôi cảm thấy mình đang bỏ lỡ những tập phim trong chương trình truyền hình ưa thích nhất của mình. Việc đó thật điên rồ. Tôi thường làm tình với vợ mình trong lúc nghĩ, ‘Bây giờ họ đang làm gì? Họ đang gặp rắc rối gì? Mình nhớ chuyện đó, mẹ kiếp!’ Và tôi nhận ra mình viện cớ để trở lại ngày một sớm hơn. Và tôi lại quay lại để nghe những bài chỉ trích nhạt phèo không có hồi kết của bố cậu, nhưng tôi không thể dứt mình ra khỏi đó. Tôi bị dính chặt. Tôi là một con nghiện, đơn giản rõ ràng. Tôi nghiện các người một cách tuyệt vọng.”

Eddie lúc này đang đá chân điên loạn và chồm lên chồm xuống. Tôi không thể ngăn ông ta lại nếu tôi muốn. Tôi chỉ còn nước chịu trận cơn bộc phát này.

“Trong hai mươi năm tôi đã cố gắng rứt ra, để cai bản thân khỏi thứ thuốc phiện của gia đình cậu. Nhưng tôi không thể. Khi không ở cạnh các người, tôi không biết mình là ai. Tôi không phải là người, tôi không là gì cả. Khi tôi quay lại Úc và trông thấy cả hai người dính vào một chương lố lăng nào đó, tôi cảm thấy mình tràn đầy sức sống. Tôi cảm thấy sáng sủa đến nỗi nó phát ra từ mắt tôi. Vợ tôi muốn sinh một đứa con, nhưng tôi làm sao có thể khi tôi đã có hai đứa con rồi? Đúng, tôi ghét các người bao nhiêu thì cũng yêu thương các người bấy nhiêu, nhiều hơn những gì mà hai người có thể biết. Tôi có thể nói với cậu rằng, sau khi tôi đặt hai người trở lại lên đùi Terry, lòng dạ tôi tan nát. Sứ mệnh hoàn thành. Vừa về đến nhà tôi đã biết mình sẽ không thể sống cùng vợ được nữa. Và tôi đã đúng. Cô ấy không hiểu tại sao tôi lại dễ nổi đóa, tại sao tôi lại thấy trống vắng. Tôi không thể chia sẻ sự trống vắng với cô ấy và tôi không yêu cô ấy đủ để cô ấy lấp đầy nó bằng tình yêu, vì thế tôi rời xa cô ấy và lên đây. Cậu thấy chưa? Tôi hoàn toàn trống vắng, và tôi đến đây cố để lấp đầy mình. Giờ thì cậu hiểu tại sao các người phải ra đi chưa? Tôi đến đây để tìm lại mình, để tìm xem mình là ai. Tôi đang làm lại từ đầu. Bố cậu lúc nào cũng nói đến các dự án. Các người là dự án của tôi. Và giờ đây tôi cần một dự án khác. Vì vậy mà tôi cần bệnh nhân. Tôi tiếp tục cuộc đời mình ở nơi nó bị đứt đoạn, và rõ ràng tôi không thể làm thế nếu hai người ở đây. Vì vậy mà cậu phải thuyết phục chú của cậu để đưa tất cả ra khỏi đây.”

“Sao ông không tống cổ chúng tôi ra ngoài cho xong?”

“À, thưa ông Hợm hĩnh, ngài Trịch thượng, tôi không thể. Cậu có thể nghĩ rằng chú của cậu vui vẻ phóng túng, nhưng tôi đã thấy sự hung ác mà ông ta có thể làm.”

“Chú Terry khá ương bướng. Tôi không nghĩ là tôi đủ may mắn để thuyết phục chú ấy làm bất cứ điều gì.”

“Làm ơn đi, Jasper. Làm ơn đi. Bố cậu sắp chết. Và ông ta sẽ làm thêm một việc điên rồ nữa, và nó sẽ là một việc tày đình. Chắc cậu cũng biết điều đấy rồi. Cậu có thể cảm nhận được nó sắp đến, phải không? Nó giống như một cơn bão sắp đổ bộ. Nó sẽ là một thứ gì đó hoang dại và bất ngờ và nguy hiểm và ngu ngốc. Tôi đã thức nhiều đêm nghĩ về nó. Ông ta sẽ làm gì? Cậu có biết không? Nó là gì? Tôi phải biết. Nhưng tôi chịu. Cậu thấy chưa? Các người phải đi!”

“Tôi sẽ cố nói với Terry.”

“Cậu không cố, cậu phải làm. Cậu nghĩ chuyện gì sẽ xảy ra khi bố cậu chết? Chính cậu là người sẽ thừa hưởng di sản của ông ta, cái di sản làm những việc điên rồ, không thể tin nổi. Và cậu sẽ trở thành cảnh tượng còn hùng vĩ hơn cả bố cậu. Và vì lẽ đó mà tôi cam đoan với cậu, nếu cậu không đi ngay bây giờ, tôi sẽ bám theo cậu cả đời cho đến khi cậu có con trai, và rồi tôi sẽ đẻ con trai chỉ để cho nó bám theo con trai cậu. Cậu thấy chưa? Đây là sự nghiện ngập có thể tiếp diễn trong nhiều thế hệ! Trong nhiều thế kỉ! Chúng ta đang ở thời điểm quan trọng, Jasper ạ. Nếu lúc này tôi không dứt bỏ được cậu, thì tôi sẽ dính chặt vào cậu mãi mãi.”

Đó là một suy nghĩ không dễ chịu.

“Dù sao thì. Chuyện là thế. Hãy đi nói chuyện với chú của cậu. Nếu cậu ở lại, tôi không biết mình sẽ làm gì. Cắt cổ cậu trong lúc ngủ, có thể lắm.” Với suy nghĩ đó ông ta bật ra tiếng cười, kiểu cười mà bạn không nhìn thấy cái răng nào. “Giờ hãy để tôi được một mình. Tôi phải cầu nguyện với bố mẹ.”

Eddie đặt một ít bông hoa màu sắc tươi tắn lên sàn nhà và quỳ xuống trước chúng rồi bắt đầu rì rầm. Ông ta cầu nguyện mỗi ngày để được thành công, mà đó quả thật là một tin dữ - khi một ông bác sĩ gần nhà bạn cầu nguyện cho công việc làm ăn của ông ta, bạn nên hi vọng là các thần linh đã không nghe thấy.

***

Trên đường về phòng mình, tôi thò đầu vào phòng Terry. Dù tôi đã gõ cửa và chú ấy nói vào đi, nhưng chú lại chẳng buồn mặc quần áo vào. Chú đứng đấy trần như nhộng ở giữa phòng.

“Này, Jasper! Có chuyện gì đấy?”

“Không có gì. Chúc chú ngủ ngon.”

Tôi đóng cửa. Tôi không có tâm trạng nói chuyện với một gã béo khỏa thân vào lúc này. Nhưng mà, tôi cũng không có tâm trạng muốn bị cắt cổ trong lúc ngủ. Tôi lại mở cửa. Terry không cử động.

“Chúa ơi, cháu không gõ cửa được sao?”

“Eddie điên rồi. Ông ta dọa sẽ cắt cổ chúng ta trong lúc ngủ.”

“Như thế thì chẳng hiếu khách lắm, nhỉ?”

“Cháu không nghĩ là ông ta muốn giết chúng ta, cháu chỉ nghĩ là với sự có mặt của mình ở đây, bố cháu và cháu có thể đẩy ông ta vượt quá giới hạn chịu đựng.”

“Thì sao?”

“Thì chúng ta có nên đi khỏi đây không?”

“Có thể.”

“Tốt.”

“Nhưng chúng ta sẽ không đi.”

“Tại sao không?”

Lông mày Terry nhướn lên, miệng chú mở ra như sắp sửa nói gì đó. Nhưng lại không nói.

“Terry. Chú có sao không?”

“Đương nhiên là không. Chú chỉ hơi bực mình, thế thôi. Chú không quen bị chọc tức. Cháu biết đấy, chú đã ở xa gia đình mình quá lâu đến nỗi nó đang gây hiệu ứng ngộ nghĩnh lên chú khi có hai bố con cháu ở đây. Chú cảm thấy mình không còn là chính mình nữa. Chú không cảm thấy được... tự do nữa. Chú đã bắt đầu thấy khó chịu về hai bố con cháu, nếu cháu muốn biết sự thật. Mà chú thì lâu rồi không khó chịu về bất cứ việc gì hay bất kì ai.”

“Còn Caroline? Chú có khó chịu với dì ấy luôn không?”

Khuôn mặt Terry chuyển thành màu tím trong một tích tắc. Rồi đôi mắt chú lại ánh lên vẻ khoái trá. Tôi có cảm tưởng như mình đang đứng bên ngoài một ngôi nhà và nhìn một ai đó tắt rồi mở đèn.

“Cháu là một tay có trực giác khá nhạy đấy, Jasper ạ. Trực giác của cháu đang mách bảo điều gì? Trực giác của chú đang nói rằng một điều gì đó sẽ xảy ra trong ngôi nhà này. Chú không biết là gì. Nó có thể là một chuyện tốt, dù chú nghi ngờ lắm. Nó có thể là một chuyện xấu. Nó cũng có thể là một chuyện rất xấu. Và có lẽ chúng ta nên đi khỏi đây, nhưng chú tò mò phát điên lên được. Cháu có thế không? Trí tò mò là một trong những điều ưa thích của chú. Trí tò mò cực điểm giống như kiểu khoái cảm mật giáo vậy, một sự thỏa mãn kéo dài, mãnh liệt, trì hoãn. Nó là thế đấy.”

Tôi nói chúc ngủ ngon, đóng cửa, rồi để chú lại một mình trong tình trạng khỏa thân, nghĩ đến các gia đình bình thường với những rắc rối bình thường như cờ bạc, rượu chè, đánh vợ, và nghiện ngập. Tôi ganh tị với họ.

***

Tôi tỉnh dậy rất sớm vào sáng hôm sau. Cổ tôi vẫn chưa bị cắt. Mặt trời lúc sáu rưỡi sáng đã nóng hừng hực. Từ cửa sổ phòng mình tôi có thể thấy sương mù tỏa ra từ cánh rừng. Chúng tôi đang ở địa hình cao, và sương mù che khuất những đỉnh núi. Tôi ngủ không ngon giấc, nghĩ đến mọi chuyện Eddie đã nói với tôi. Tôi biết ông ta đã đúng. Bố đang lập kế hoạch gì đấy, cho dù ông làm thế theo tiềm thức. Nhưng chẳng phải tôi đã biết tỏng nó là gì rồi ư? Tôi có cảm giác như mình biết, nhưng lại không hẳn nhìn thấy nó. Nó bị che giấu ở nơi nào đó trong tâm trí tôi, nơi nào đó tối tăm và xa xôi. Thật ra, đột nhiên tôi cảm thấy mình biết mọi chuyện sẽ xảy ra trong tương lai nhưng vì lý do nào đó đã quên bẵng đi, không những thế, tôi nghĩ mọi người trên hành tinh này đều biết trước tương lai, chỉ có điều họ cũng đã quên, và những thầy bói không phải là người có năng lực siêu nhiên gì cả, họ chỉ là những người có trí nhớ tốt mà thôi.

Tôi mặc quần áo rồi đi ra ngoài bằng cửa hậu để không phải chạm mặt ai.

Ở phía sau nhà, tại bìa rừng, có một cái nhà kho. Tôi đi vào. Ở đó, trên những cái kệ gỗ ọp ẹp bày sơn và cọ. Vài tấm vải bạt trắng nằm dựa vào tường. Thì ra đây là nơi bố của Eddie đã vẽ những tác phẩm nghệ thuật kinh tởm của ông ta. Trông như nơi này từng được dùng làm chuồng gà, dù giờ đây không còn con gà nào nữa. Tuy nhiên, có nhiều lông gà, và vài cái vỏ trứng vỡ cũ mốc. Trên sàn nhà có một bức tranh vẽ dang dở hai quả thận, bố của Eddie rõ ràng đã rất công phu khi dùng lòng đỏ trứng để pha được đúng màu vàng ấy.

Tôi nhặt một cây cọ lên. Lông cọ dính sơn khô, cứng như gỗ. Bên ngoài chuồng gà có một cái máng ăn chứa đầy nước mưa đục ngầu, giống như nước rơi từ trên trời xuống đã như thế, nâu và nhớp nhúa. Tôi rửa sạch cây cọ trong máng nước, dùng ngón tay búng mấy cọng lông cọ. Trong lúc rửa cọ, tôi thấy Caroline đi từ nhà xuống đồi. Dì ấy đang đi nhanh, dù cứ vài bước lại dừng chân và đứng yên bất động rồi lại đi tiếp, giống như đang trễ một cuộc hẹn mà dì sợ phải có mặt. Tôi nhìn theo đến khi dì khuất vào trong rừng.

Tôi quay vào cái chuồng gà, mở một hộp sơn, nhúng cọ vào, rồi bắt đầu tấn công khung vải bạt. Tôi để cây cọ trôi khắp trên nó, nhìn xem nó muốn vẽ gì. Có vẻ như nó rất thích những con mắt. Những con mắt rỗng, những con mắt như những quả mận mọng nước, những con mắt như những con vi trùng nhìn qua kính hiển vi, những con mắt nằm trong những con mắt, những con mắt đồng tâm, những con mắt chồng lên nhau. Khung vẽ phát ốm với chúng. Tôi phải nhìn đi chỗ khác; những con mắt vẽ chằng chịt này đang đào hang vào trong tôi theo kiểu không chỉ đơn giản là gây khó chịu: hình như chúng đang lay chuyển cái gì đó trong tôi. Phải mất một phút sau tôi mới nhận ra chúng là mắt của bố. Thảo nào chúng khiến tôi buồn nôn.

Tôi đặt khung tranh xuống và nhấc một cái khác đặt lên. Cây cọ lại bắt đầu. Lần này nó vẽ cả một khuôn mặt. Một khuôn mặt hợm hĩnh, tự mãn với đôi mắt to mỉa mai, một bộ ria rậm, một cái miệng màu nâu bị xoắn, và hàm răng vàng khè. Khuôn mặt của một gã chủ nô lệ da trắng hoặc của một quản ngục. Tôi nhìn bức tranh chằm chằm và cảm thấy một cơn bồn chồn nhói lên, nhưng tôi không lý giải được tại sao. Giống như một sợi dây trong não tôi vừa bị chùng xuống, nhưng tôi lại sợ không dám kéo nó lên, nhỡ đâu sẽ làm toàn thân sổ tung. Rồi tôi nhận ra: bức tranh - nó là khuôn mặt đó. Khuôn mặt mà tôi đã mơ thấy khi còn bé. Khuôn mặt trôi lững lờ không thể tiêu diệt được mà tôi đã thấy suốt cuộc đời mình. Trong lúc vẽ, tôi đã nhớ lại những chi tiết mà tôi không biết là mình đã thực tình nhìn thấy trước đây: những cái bọng dưới mắt, một cái khe nhỏ giữa hai răng cửa, những nếp nhăn ở khóe miệng đang mỉm cười. Tôi linh cảm rằng một ngày nào đó khuôn mặt này sẽ từ trên trời rơi xuống để đâm vào đầu tôi. Đột nhiên nhiệt độ trong chuồng gà trở nên không chịu nổi. Tôi cảm thấy ngạt thở. Thật khó thở khi đứng bên trong một cái chuồng gà ẩm thấp với khuôn mặt ngạo mạn ấy và một nghìn kiểu mô phỏng đôi mắt của bố tôi.

***

Chiều hôm đó tôi nằm trên giường nghe tiếng mưa rơi. Tôi cảm thấy chơi vơi. Đi du lịch bằng một tấm hộ chiếu giả gần như đồng nghĩa với việc tôi sẽ không thể quay lại Úc. Nó biến tôi thành kẻ không quốc gia. Và, tệ hơn nữa, cái tên giả trên quyển hộ chiếu của tôi là tên tôi không thích, nó thực sự khiến tôi phát ốm, và nếu tôi không làm một cái hộ chiếu giả khác, thì tôi có thể phải làm Kasper suốt đời.

Tôi nằm trên giường suốt buổi chiều, không thể tống những lời nói của Eddie ra khỏi đầu, giả thuyết của ông ta rằng tôi đang trở thành bố tôi. Nếu có lúc nào đó cậu không thích ông ta, ấy là vì cậu không thích bản thân mình. Cậu nghĩ cậu khác với ông ta quá. Đó là khi cậu không hiểu mình. Đó là điểm mù của cậu, Jasper ạ. Liệu điều đó có thể là thật không? Liệu nó có trùng hợp với ý nghĩ khi xưa của bố rằng tôi thực ra là ông ấy được đầu thai non không? Và giờ đây khi tôi nghĩ về chuyện đó, biết đâu đã có bằng chứng đáng sợ nào đó về việc này? Kể từ khi bố bắt đầu chết lần nữa, không phải tôi đã trở nên khỏe mạnh hơn sao? Có phải chúng tôi đang ở trên một thứ giống như cái bập bênh - ông đi xuống, tôi đi lên?

Có tiếng gõ cửa. Đó là Caroline. Dì bị mắc mưa và ướt sũng từ đầu đến chân.

“Jasper - con không muốn bố của con chết, phải không?”

“Ừm, con không biết ngày cụ thể trong đầu, nhưng con không thích cái ý tưởng ông ấy sống mãi. Vậy nên vâng, nếu dì nói như thế, con cho rằng con quả thật muốn ông ấy chết.”

Dì đi đến ngồi trên mép giường tôi. “Dì mới vào làng về. Người dân quanh đây cực kì mê tín, và có lẽ không phải là không có lý do. Vẫn có cách để chúng ta chữa được bệnh cho ông ấy.”

“Dì muốn làm ông ấy trễ hẹn với định mệnh à?”

“Dì muốn bố con thoa cái này lên toàn thân ông ấy.” Dì đưa tôi một cái lọ nhỏ với một chất dinh dính, có màu trắng sữa bên trong.

“Cái gì vậy?”

“Dầu chiết xuất từ mỡ cằm của một người đàn bà chết trong lúc sinh con.”

Tôi nhìn cái lọ. Tôi không biết liệu nó có thực sự chứa cái mà dì nói hay không, và tôi cũng không nghĩ đến người đàn bà tội nghiệp chết trong lúc sinh; tôi chỉ nghĩ đến người đã làm chảy mỡ từ cằm bà ta.

“Dì lấy thứ này ở đâu, và, quan trọng hơn là, dì trả bao nhiêu cho nó?”

“Dì lấy nó từ một bà lão trong làng. Bà ấy nói nó chữa ung thư rất tốt.”

Chữa ung thư rất tốt?

“Sao dì không tự làm?”

“Bố con không chịu nghe lời dì lúc này. Ông không muốn dì giúp ông ấy. Dì thậm chí còn không thể đưa cho ông ấy một cốc nước. Con cần làm cho ông ấy thoa cái này lên khắp người.”

“Làm sao con có thể kích thích bố để bôi mỡ cằm của một người lạ lên mình ông ấy?”

“Việc đấy con phải tự nghĩ ra thôi.”

“Tại sao lại là con?”

“Con là con trai của ông ấy.”

“Còn dì là vợ ông ấy.”

“Chuyện giữa bố con và dì không được tốt đẹp lắm vào lúc này,” dì nói, không giải thích gì thêm. Mà dì cũng không cần làm thế - tôi đã quá quen với kiểu chuyện tình tay ba sắc lẹm có nguy cơ cắt rời chúng tôi thành mảnh nhỏ này.

Tôi chần chừ ở lối đi một lúc, nhưng cuối cùng tôi cũng đi vào phòng bố. Ông đang gập mình trên bàn, không phải đang đọc hay viết gì, chỉ gập người.

“Bố,” tôi gọi.

Ông chẳng tỏ dấu hiệu gì cho thấy ông biết tôi ở đó. Nến hương sả nằm rải rác khắp phòng. Ông mắc một cái màn ngăn muỗi trên giường, và một cái trên chiếc ghế bành ở góc phòng.

“Lũ côn trùng đang quấy rầy bố à?” tôi hỏi.

“Con nghĩ bố chào đón chúng như những người bạn cũ sao?” ông nói, không quay lại.

“Chẳng qua là con có ít thuốc bôi chống côn trùng nếu bố muốn dùng.”

“Bố đã bôi rồi.”

“Thứ này là loại mới. Xem ra người dân ở đây toàn dùng loại này.”

Bố quay sang tôi. Tôi bước tới và đặt cái lọ mỡ cằm vào tay ông.

“Bố phải bôi nó lên toàn thân đấy.”

Bố vặn mở nắp lọ và ngửi bên trong. “Nó có mùi ngộ quá.”

“Bố - bố có nghĩ chúng ta giống nhau không?”

“Theo cách nào - về ngoại hình á?”

“Không, con chả biết nữa. Theo kiểu con người ấy.”

“Nó sẽ là cơn ác mộng tồi tệ nhất của con, phải không?”

“Con còn có một hai cơn ác mộng tệ hơn ấy chứ.”

Chúng tôi nghe tiếng vo ve. Cả hai chúng tôi nhìn quanh nhưng không biết nó đến từ đâu. Bố cởi áo ra và moi một nắm tay thứ mỡ cằm tan chảy từ cái lọ rồi bắt đầu bôi nó lên ngực và bụng.

“Con muốn bôi không?”

“Thôi, con không cần.”

Tôi bắt đầu cảm thấy buồn nôn, vì giờ đây tôi đang nghĩ đến người đàn bà chết trong lúc sinh con. Tôi thắc mắc liệu con bà ấy còn sống không, và liệu một ngày nào đó nó có phiền lòng vì nó không phải là người thừa hưởng mỡ từ cằm của mẹ nó.

“Eddie hóa ra lại thuộc dạng người khác với những gì chúng ta nghĩ, nhỉ?” bố nói, bôi vào nách.

Tôi nóng lòng muốn kể lại bài độc thoại bệnh hoạn và những lời đe dọa đáng sợ của Eddie, nhưng tôi không muốn gây thêm căng thẳng cho cái cơ thể đã bị căng như dây đàn của bố.

“Dù sao thì vẫn còn may cho bố là bố đã có một người bạn tốt, ngay cả khi tất cả chỉ là lời nói dối.”

“Bố biết.”

“Eddie là người đầu tiên nói cho con biết một chuyện có ích về mẹ Astrid.”

“Thế à?”

“Ông ta đã dẫn con đến quyển nhật kí Paris của bố.”

“Con đã đọc nó ư?”

“Từ đầu chí cuối.”

“Có khiến con phát ốm không?”

“Cực kì.”

“Đấy, đáng đời cái tội đọc lén.”

Khi nói câu này, ông gỡ đôi dép có quai hậu ra và thoa mỡ cằm vào giữa các ngón chân. Nó phát ra tiếng nhèm nhẹp.

“Trong đó bố nói bố nghĩ rằng con có thể là sự đầu thai non của chính bố.”

Bố ngoẹo đầu qua một bên, nhắm mắt một lúc, rồi lại mở ra. Ông nhìn tôi như thể ông vừa mới biểu diễn một trò ảo thuật khiến tôi biến mất và bực bội vì nó không thành công. “Ý con là gì?”

“Bố có còn tin vào điều đó không?”

“Bố nghĩ chuyện đó rất có khả năng, ngay cả khi con cho rằng bố không tin chuyện đầu thai.”

“Việc đấy chẳng có ý nghĩa gì.”

“Chính xác.”

Tôi cảm thấy một cơn giận quen thuộc bùng lên trong lòng. Người đàn ông cáu kỉnh này là ai? Tôi đi ra ngoài và đóng sầm cửa. Rồi tôi lại mở nó ra.

“Đấy không phải là thuốc bôi côn trùng đâu,” tôi nói.

“Bố biết rồi. Con tưởng bố không nhận ra nó là mỡ cằm nấu tan khi bố nhìn thấy nó à?”

Tôi đứng đó, đầu óc trống rỗng.

“Bố đã nghe trộm hai người, tiểu tử ngốc ạ,” ông thừa nhận.

“Vậy thì bố bị làm sao thế? Tại sao bố lại bôi cái thứ tởm lợm đó lên người mình?”

“Bố sắp chết rồi, Jasper ạ! Con không hiểu sao? Việc quái gì bố phải quan tâm mình bôi cái gì lên người? Mỡ cằm, mỡ bụng, phân dê. Thì sao? Khi con sắp chết, ngay cả sự tởm lợm cũng mất đi ý nghĩa của nó.”

***

Bố đang vội vã tiến đến chỗ chết, không thể phủ nhận chuyện đó. Mỗi ngày trông ông càng tiều tụy hơn. Tiều tụy cả về mặt tinh thần nữa - ông không thể giũ bỏ nỗi sợ rằng Caroline muốn quay lại với Terry, hoặc rằng tất cả chúng tôi đang bàn về khả năng này sau lưng ông. Ông hoang tưởng nghĩ rằng chúng tôi không ngừng nói về ông. Nỗi sợ này nhanh chóng trở thành một chủ đề nóng bỏng trong cuộc nói chuyện của những người còn lại. Đó là cách ông thổi sự sống vào những ảo tưởng của mình và thả chúng tự do.

Những bữa tối của chúng tôi tiếp tục diễn ra trong im lặng như bữa đầu tiên; tiếng động duy nhất là tiếng bố thở dài rất lớn xen kẽ giữa những thìa xúp cay. Tìm hiểu qua những tiếng thở dài ấy, tôi biết rằng ông đang ngày càng bực bội vì không nhận đủ sự thương hại từ mọi người. Ông không muốn nhiều. Chỉ cần một lượng tối thiểu là đủ. Terry chẳng giúp được gì trong việc này - chú ấy vẫn còn mắc kẹt với ý tưởng làm cho bố sung sướng và phấn khích; trong khi Caroline thậm chí còn giúp được ít hơn - dì giả vờ như dì đã thôi không còn tin vào cái chết của bố nữa. Dì nhận lãnh nhiệm vụ chẳng mong muốn là cố gắng cản trở quá trình phát bệnh ung thư của bố; dì lôi về nhà đủ các loại bùa phép - kiểu chữa trị tinh thần, thuật tưởng tượng, hóa giải nhân quả. Một dạng ghê tởm của chủ nghĩa thực chứng bao vây quanh bố, lời nguyền đối với một kẻ sắp chết. Và có lẽ vì Caroline bị ám ảnh với việc cố gắng cứu bố còn Terry cố gắng cứu linh hồn bố mà ông trở nên ám ảnh với chuyện tự tử, nói rằng chết vì nguyên nhân tự nhiên là quá lười biếng. Họ càng cố cứu ông bằng các phương pháp kì dị, ông càng nằng nặc đòi để tự mình giải quyết cái chết.

Một đêm nọ tôi nghe tiếng thét của bố. Tôi đi ra khỏi phòng mình và thấy Terry đang đuổi bố chạy vòng quanh phòng khách với một cái gối.

“Có chuyện gì vậy?”

“Nó đang định giết bố!”

“Em không muốn anh chết. Anh muốn anh chết. Em chỉ cố gắng giúp anh thôi.”

“Tránh xa tao ra, thằng chó chết! Tao nói tao muốn tự tử. Tao đâu có nói tao muốn bị giết chết.”

Tội nghiệp bố. Không phải ông không suy nghĩ sáng suốt, chỉ có điều ông suy nghĩ quá nhiều, và những suy nghĩ đó mâu thuẫn nhau, cuối cùng cái này hủy bỏ cái kia. Bố không muốn bị em trai làm chết ngạt, nhưng ông lại không thể tự tay làm ngạt mình.

“Để em làm cho,” Terry nói. “Em đã luôn có mặt vì anh, và em sẽ luôn như thế.”

“Chú mày đâu có mặt khi mẹ tìm cách giết tao.”

“Anh đang nói gì vậy?”

Bố nhìn Terry một lúc lâu. “Không có gì,” cuối cùng ông nói.

“Anh biết sao không? Anh không biết phải chết như thế nào vì anh không biết anh là ai.”

“Ồ, vậy thì tao là ai?”

“Anh nói đi.”

Sau một lúc đắn đo, bố mô tả ông là một người “nhìn thấy những sự giác ngộ hạn chế.” Tôi nghĩ như thế cũng khá hay rồi, nhưng Terry nghĩ ông lại là một kẻ hoàn toàn khác: một kiểu Chúa không đủ can đảm để hi sinh, một Napoleon không đủ gan chiến đấu, và một Shakespeare không có khiếu văn chương. Rõ ràng chúng tôi cũng chẳng tiến gần hơn đến việc xác định bố là ai.

Bố bật ra tiếng rên rỉ và nhìn xuống sàn nhà. Terry đặt bàn tay to bè, múp míp của mình lên vai ông anh.

“Em muốn anh thừa nhận rằng cho dù đã sống rất lâu trên cõi đời này, anh vẫn không biết mình là ai. Và nếu anh không biết mình là ai, thì làm sao anh sống như kẻ đó được?”

Bố không trả lời mà bật ra một tiếng rên khác, như một con thú mới đến thăm bố mẹ nó trong một hàng thịt.

Tôi quay về giường tự hỏi, Mình có biết mình là ai không? Có, tôi biết: tôi là Kasper. À không, ý tôi là Jasper. Trên hết, tôi không phải là bố tôi. Tôi sẽ không trở thành bố tôi. Tôi không phải là sự đầu thai non của bố tôi. Chính là tôi, thế thôi. Không hơn, không kém.

Suy nghĩ này khiến tôi buồn nôn, và có cảm giác như cơn buồn nôn đang làm biến dạng khuôn mặt tôi. Tôi bò ra khỏi giường và nhìn vào gương. Trông tôi không khá hơn cũng không tệ hơn, chỉ đơn giản là khác đi. Tôi sẽ sớm không còn nhận ra cả chính mình, tôi thầm nghĩ. Một điều lạ lùng đang xảy ra với mặt tôi, một điều gì đó không chỉ đơn giản là quá trình lão hóa. Tôi đang biến thành một ai đó không phải là tôi.

Có một tiếng động lớn bên ngoài. Có người hay thứ gì đó trong chuồng gà. Tôi nhìn ra cửa sổ nhưng không thấy gì cả, chỉ là hình ảnh phản chiếu của gương mặt hơi lạ của chính tôi. Tôi tắt đèn, nhưng dù trời có trăng, bên ngoài vẫn tối om. Tiếng động tiếp tục phát ra. Tôi chắc chắn sẽ không đi ra ngoài để xem xét. Ai mà biết những sinh vật gì tồn tại trong rừng rậm Thái Lan, và ai mà biết chúng đói khát cỡ nào? Tất cả những gì tôi có thể làm là nhắm tịt mắt và cố ngủ.

Sáng hôm sau tôi ngồi dậy nhìn ra ngoài cửa sổ. Cái chuồng gà vẫn đứng đấy - tôi những mong nó bị treo lơ lửng trên một cái miệng chảy nước dãi khổng lồ. Tôi tiến ra khỏi cửa hậu.

Cỏ dưới chân tôi rất lạnh và ẩm ướt. Không khí có vị ngồ ngộ, giống như lá bạc hà cũ đã mất gần hết hương vị. Tôi bước thận trọng, sẵn sàng quay đầu chạy về nhà nếu con thú ấy nhảy bổ ra trước mặt tôi. Bên trong, chuồng gà thật bề bộn. Các lọ sơn đã bị mở nắp, sơn bị trút hết lên sàn và lên tranh vẽ khuôn mặt trôi lững lờ của tôi, bấy giờ đã bị xé tan tành. Ai đã phá nát bức tranh của tôi? Và tại sao? Chẳng còn gì để làm ngoài việc quay về giường.

Tôi nằm trên giường chưa được năm phút thì nghe tiếng người thở. Tôi nhắm mắt và giả vờ ngủ. Chẳng ích gì. Tiếng thở đến ngày một gần hơn, cho đến khi tôi cảm nhận nó trên cổ mình. Tôi hi vọng đó không phải là Eddie. Nhưng đúng là ông ta. Tôi quay lại và nhìn thấy ông ta đang cúi xuống tôi. Tôi nhảy phắt dậy.

“Ông muốn gì?”

“Jasper, hôm nay cậu định làm gì?”

“Nằm ngủ, hi vọng là vậy.”

“Tôi sẽ lái xe một vòng để xem có thể lôi kéo được dăm ba khách hàng không.”

“Được thôi, nếu thế thì - chúc một ngày tốt lành.”

“Ừ. Cậu cũng thế nhé.”

Thế nhưng Eddie vẫn đứng trơ như phỗng. Tôi cảm thấy tội nghiệp cho ông ta, dù điều đó thật mệt mỏi. Không còn cách nào khác để nói ra. Ông ta nom có vẻ tương tư. Đó là một ánh mắt mang điềm gở.

“Tôi không biết là cậu có muốn đi cùng không. Hãy đi với tôi.” Eddie thỉnh cầu.

Đó là một lời đề nghị nhàm chán. Ngồi trên xe cả ngày với Eddie không phải là việc đặc biệt hấp dẫn với tôi, đến thăm người bệnh thì lại càng kém hấp dẫn hơn nữa, nhưng tình thế cho thấy tôi không thể tưởng tượng ra được việc gì khác hay hơn để làm so với việc ở lại trong nhà cùng cái chết lập cập của bố.

***

Chúng tôi chạy xe xuôi ngược khắp vùng quê dưới ánh nắng như thiêu như đốt. Tôi tưởng Úc đã nóng lắm rồi! Độ ẩm ở miền núi nằm ngoài tầm kiểm soát - tôi có thể cảm thấy những hạt mồ hôi hình thành trên túi mật của mình. Chúng tôi cứ cho xe chạy, chẳng nói năng nhiều. Khi Eddie im lặng, tôi cảm thấy như mình là người còn sống duy nhất trên cõi đời này - dù tôi cũng có cảm giác đó cả khi ông ta nói chuyện. Chúng tôi đi đến đâu, người ta cũng nhìn chúng tôi. Họ không thể hiểu một con người ở tuổi ngoài bốn mươi lại muốn trở thành bác sĩ - đó là sự vi phạm trật tự tự nhiên. Eddie cố gắng chấp nhận sự nghiệt ngã của tạo hóa, nhưng rõ ràng nó đang đánh gục ông ta. Ông ta chỉ có những từ cay độc, thiếu thân thiện để nói về những cư dân khỏe mạnh, hiền hòa của ngôi làng tĩnh lặng này. Ông ta không thể chịu đựng nổi sự mãn nguyện của họ. Ông ta còn cưỡng lại cả phong tục mỉm cười duyên dáng của người Thái như người hâm trong mọi tình huống, dù ông ta phải làm vậy nếu muốn chiêu dụ bệnh nhân. Nhưng nụ cười của ông ta chỉ nhấc lên một bên khuôn mặt bị chia đôi. Tôi đã nhìn thấy khuôn mặt thật, với đôi môi trễ xuống hằn học và cơn cuồng sát kiềm nén trong cái chớp mắt của ông ta.

Chúng tôi ăn trưa bên vệ đường. Tôi không cảm thấy cơn gió nào, nhưng những nhánh cây không ngừng lay động. Sau bữa trưa Eddie nói, “Cậu có nói với Terry về chuyện đưa mọi người ra khỏi đây chưa?”

“Chú ấy muốn chúng tôi ở lại. Chú nghĩ sẽ có chuyện chẳng lành xảy ra trong nhà ông và chú muốn xem nó là gì.”

“Ông ấy nghĩ như vậy, phải không? Đó là tin dữ cho chúng ta.”

Eddie chưa kịp nói thêm gì thì chúng tôi đã nghe thấy tiếng gầm rú của một chiếc xe gắn máy đang lao ở tốc độ tối đa.

“Xem ai kìa,” Eddie nói.

“Ai?”

“Lão bác sĩ già. Xem lão hợm hĩnh chưa.”

Chiếc xe máy gào lên về phía chúng tôi, tung bụi mù mịt. Thật khó tin một người già nào lại có thể lái xe máy nhanh đến thế. Khi lão bác sĩ dừng phắt lại, Eddie chỉnh lại tư thế. Rất khó để trông như một người chiến thắng khi rõ ràng bạn là kẻ thua, nhưng dù sao thì tư thế cũng giữ vai trò quan trọng.

Lão bác sĩ có lẽ ở tuổi lục tuần, nhưng có một thân hình của vận động viên bơi lội Olympic. Tôi chẳng tìm thấy vẻ hợm hĩnh nào ở lão. Lão và Eddie trao đổi vài lời với nhau. Tôi không biết họ đang nói gì, nhưng tôi thấy mắt Eddie mở to theo kiểu làm tối sầm gương mặt ông ta và khiến tôi có phần nhẹ nhõm vì tôi không hiểu họ nói gì. Khi lão bác sĩ đã rồ ga vọt đi, tôi hỏi Eddie, “Lão nói gì? Lão sẽ sớm nghỉ hưu chứ?”

“Có tin xấu. Mẹ kiếp! Tin khủng khiếp! Lão bác sĩ đã có một tay học việc trẻ, sẵn sàng thế chỗ lão.”

Chao ôi, vậy là hết. Cộng đồng này tuyệt đối chẳng có ích gì cho Eddie, và ông ta biết điều đó.

***

Tôi chỉ muốn ngủ, nhưng vừa về đến phòng mình, tôi biết ngay đó là việc không thể, vì Caroline đang ngồi trên mép giường tôi.

“Hôm nay dì đã vào làng,” dì ấy nói.

“Làm ơn đi, đừng có thêm mỡ cằm nữa.”

Dì ấy đưa tôi một cái túi da nhỏ có dây rút. Tôi cầm lấy và lôi ra một sợi dây chuyền với ba vật thể lạ treo trên đó.

“Một miếng ngà voi và loại răng gì đây,” tôi đoán.

“Răng cọp.”

“Phải rồi. Vậy còn cái thứ ba là gì?”

“Mắt của con mèo chết khô.”

“Hay thật. Và con đoán con sẽ bảo bố đeo cái này.”

“Không, nó dành cho con.”

“Cho con?”

“Nó là một cái bùa,” dì nói, và đeo nó quanh cổ tôi rồi ngả người ra sau nhìn tôi, làm như tôi là một con cún con mắt buồn trong cửa hàng thú cưng.

“Nó có công dụng gì?”

“Bảo vệ con.”

“Khỏi cái gì?”

“Con cảm thấy thế nào?”

“Con á? Con ổn, chắc vậy. Hơi mệt tí.”

“Dì ước gì con gặp được con trai của dì,” dì nói.

“Con cũng vậy.”

Tội nghiệp Caroline. Trông như dì muốn nói vài chuyện nhưng lại không biết chọn chuyện nào.

Dì đột ngột đứng dậy. “Thôi, được rồi,” dì nói, và đi ra bằng cửa hậu. Tôi suýt tháo cái bùa ra nhưng vì lý do nào đó lại bị bao trùm với nỗi sợ hãi nếu không đeo nó. Tôi nghĩ: Điều khiến con người phát điên không phải là nỗi cô đơn hay sự thống khổ - mà là bị giam cầm trong trạng thái sợ hãi triền miên.

***

Tôi dành vài ngày tiếp theo đứng trước gương, xác nhận hình hài mình bằng cách chạm tay vào. Mũi? Đây! Cằm? Đây! Miệng? Răng? Trán? Đây! Đây! Đây! Trò điểm mặt gọi tên điên rồ này là cách có ích duy nhất tôi có thể nghĩ ra để giết thời gian. Ở nơi khác trong nhà, Caroline, bố và Terry đang vờn nhau như những con chó dại. Tôi tránh thật xa.

Tôi dành nhiều giờ ngồi với Eddie trong phòng mạch của ông ta. Có vẻ như chính ông ta, chứ không phải tôi, đang hoảng hốt vì một vụ tai nạn quay chậm, và tôi không muốn bỏ lỡ tiết mục này. Hơn nữa, món quà của Caroline đã làm dấy lên trong đầu tôi những nghi vấn về tình trạng sức khỏe của tôi, và tôi nghĩ tốt nhất là để Eddie khám bệnh cho mình. Ông ta kiểm tra tôi tổng quát. Ông ta kiểm tra nhịp đập uể oải của tim tôi, phản xạ lừ đừ của tôi; tôi thậm chí còn để cho ông ta lấy máu của mình. Trong vùng này chẳng có phòng xét nghiệm nào để ông ta có thể gửi mẫu đến. Ông ta chỉ cho máu vào ống nghiệm rồi cuối cùng đưa nó cho tôi như một vật kỉ niệm. Ông nói tôi chẳng bị làm sao cả.

Chúng tôi đang ngồi trong phòng mạch lắng nghe chương trình phát thanh thông qua cái ống nghe bác sĩ thì một việc phi thường và bất ngờ xảy ra - một bệnh nhân! Một phụ nữ đến khám bệnh, nom rất buồn bực và bối rối. Eddie làm vẻ mặt nghiêm trang mà theo tất cả những gì tôi biết, đấy có thể là vẻ mặt chân thành. Tôi ngồi ở mép ghế khi người phụ nữ nói lắp bắp. “Lão bác sĩ ốm nặng,” Eddie dịch cho tôi. “Có lẽ sắp chết,” ông ta nói thêm, và nhìn tôi chăm chú hồi lâu, chỉ để cho tôi thấy ông ta đang cười mỉm.

Ba người chúng tôi vào xe ô tô của Eddie rồi lái hết tốc lực đến nhà lão bác sĩ. Khi chúng tôi đến, chúng tôi nghe thấy một tiếng kêu thất thanh kinh khủng nhất mà tôi có thể hình dung ra.

“Quá muộn rồi. Lão đã chết!” Eddie nói.

“Làm sao ông biết?”

“Tiếng gào đó.”

Eddie nói đúng. Không có gì khó hiểu về tiếng kêu gào đó.

Ông ta tắt máy, chộp lấy túi đồ nghề bác sĩ, rồi dùng tay vuốt tóc.

“Nhưng lão chết rồi - ông sẽ làm gì?”

“Tôi sẽ tuyên bố ông ta đã chết.”

“Ông không nghĩ rằng tiếng rú kinh hoàng ấy đã nói lên phần nào điều đó sao?”

“Ngay cả ở một ngôi làng heo hút như thế này vẫn có luật lệ. Người chết phải được chính thức công bố là đã chết,” ông ta đáp. Tôi hít một hơi sâu rồi theo Eddie và người phụ nữ vào trong.

Khoảng chục người đang quây quần quanh giường của lão bác sĩ quá cố; họ đến đây hoặc là để than khóc cho lão hoặc là đến sớm hơn để xem lão chết. Lão bác sĩ mà tôi nhìn thấy cách đó vài ngày dọc ngang vùng thôn quê trên chiếc xe máy nay đã hoàn toàn bất động. Người đàn ông có thân hình đẹp như tượng mà tôi từng ganh tị nay đã lìa trần. Thi thể lão trông như một ai đó cầm máy hút bụi đã vào nhà và hút hết mọi thứ ra: tim, xương sườn, xương sống, mọi thứ. Nói thật, trông lão đến da bọc xương cũng không giống, chỉ có da thôi.

Tôi đưa mắt nhìn Eddie nhưng ông ta làm ra vẻ như vô hại và chân thành, một nỗ lực không hề nhỏ nếu xét những suy nghĩ đồi bại đang diễn ra trong đầu ông ta. Bác sĩ của làng đã chết - giờ là chuyện giữa Eddie và tay bác sĩ trẻ. Tôi có thể nhìn thấy Eddie nghĩ gì, Làm mất uy tín của tay bác sĩ ấy thì cũng chẳng quá khó khăn. Eddie đứng thẳng người, sẵn sàng thuyết phục những người đang than khóc. Đó là lần đầu tiên Eddie tuyên bố mình là bác sĩ.

Tất cả họ đều nói với Eddie bằng giọng mềm mỏng, cuối cùng ông ta quay sang tôi và tôi nhìn thấy lóe lên sự xao động, tàn nhẫn, bướng bỉnh, và nham hiểm. Thật kinh ngạc khi một khuôn mặt có thể tiếp nhận sự phức tạp vào thời điểm thích hợp trong ngày. Eddie kéo tôi ra và giải thích rằng tay tập sự đã có mặt lúc lão bác sĩ qua đời và đã tuyên bố cái chết của lão.

“Y chẳng để lỡ một phút nào, thằng ranh con ấy,” Eddie thì thầm.

“Bây giờ tay bác sĩ trẻ ấy đâu?”

“Y về nhà ngủ rồi. Rõ ràng y cũng bị ốm.”

Lần này Eddie không thể giấu giếm vẻ hân hoan. Ông ta hỏi đường đến nhà tay bác sĩ trẻ và đi, tôi chắc chắn, để chữa trị cho tay ấy một cách càng cẩu thả và bất cẩn càng tốt.

Ông ta lái xe rất nhanh. Tôi bắt gặp ông ta luyện kiểu cười mỉm dễ thương khả dĩ nhất trong kính chiếu hậu, có nghĩa là ông ta đang tăng tốc để đóng vai tên bạo chúa.

Tay bác sĩ trẻ sống một mình trong một cái chòi ở tít trên núi. Eddie lao vào trong. Phải cố hết sức mới theo kịp ông ta. Tay bác sĩ trẻ đang nằm trên giường, mặc nguyên quần áo. Khi tôi bước vào, Eddie đang cúi xuống người y.

“Anh ta có bị làm sao không?” tôi hỏi.

Eddie đi vòng quanh giường giống như đang nhảy điệu nhảy chiến thắng.

“Tôi e là anh ta không qua khỏi.”

“Anh ta bị gì?”

“Tôi không rõ. Nó là một loại virus, nhưng là loại hiếm gặp. Tôi không biết chữa như thế nào.”

“Ôi, nếu lão bác sĩ mắc bệnh và giờ đây tay bác sĩ trẻ mắc bệnh, thì nó có thể truyền nhiễm. Tôi ra khỏi nơi này đây,” tôi nói, bịt miệng trong lúc bước ra.

“Có thể nó không truyền nhiễm.”

“Làm sao ông biết? Ông không biết nó là gì mà.”

“Có thể là con gì đó bò vào người họ rồi đẻ trứng trong ruột họ.”

“Ghê quá.”

“Nếu không thì là món gì đó mà họ đã cùng nhau ăn. Tôi nghĩ cậu không cần lo lắng.”

“Tôi sẽ quyết định mình lo lắng khi nào và ở đâu,” tôi nói, tiến ra ngoài.

Tay bác sĩ trẻ chết hai ngày sau đó. Eddie không rời khỏi giường bệnh của tay ấy suốt thời gian này. Dù Eddie quả quyết rằng loại virus này không lây lan, nhưng tôi vẫn không chịu đặt chân vào trong phòng có người chết. Dù vậy, tôi biết ngay thời điểm tay bác sĩ trẻ chết, cũng vì tiếng rú kinh dị nhói lòng như trước vang vọng khắp làng. Thú thật, tôi nghi ngờ cái kiểu khóc than lộ liễu này và cuối cùng quả quyết rằng đấy chỉ là một tật văn hóa, giống như những nụ cười ấy. Đó không hẳn là nỗi buồn không thể kiểm soát, tôi thầm nghĩ, đó là một màn trình diễn của nỗi buồn không thể kiểm soát. Một việc hoàn toàn khác.

***

Eddie đã trở thành bác sĩ của làng như thế đấy. Ông ta đã có thứ mình muốn, nhưng việc này cũng không xoa dịu được ông ta. Đó là một sai sót trong đánh giá về phía tôi khi hình dung nó sẽ xoa dịu được ông ta. Và nó cũng là một sai sót về phía Eddie khi hình dung rằng trở thành bác sĩ của làng theo kiểu đương nhiên thì sẽ làm những người dân làng thân thiện hơn với ông. Chúng tôi đi gõ cửa từng nhà. Vài người đóng sầm cửa trước mặt Eddie; họ nghĩ ông ta đã yểm bùa hai người bác sĩ nọ, ếm một chứng bệnh đậu mùa lên nhà của cả hai người. Eddie xuất hiện như một kẻ trộm mộ. Dù sao chúng tôi vẫn đi một vòng. Chẳng có cá nào cắn câu. Và đó không phải là chuyện nhỏ vì dân làng hình như chẳng bao giờ bị ốm.

Tôi không nghĩ chuyện ấy khả dĩ, nhưng Eddie đang ngày càng trở nên bức xúc hơn. Mọi sự khỏe mạnh này đang làm ông ta nổi cáu. “Chẳng có nổi một bệnh nhân! Tất cả những gì tôi muốn là một ai đó ngã bệnh! Bệnh nặng! Mấy người này là gì, người bất tử chắc? Họ có thể xong đời với một chứng bệnh nhỏ ở tế bào thần kinh vận động. Cho họ thấy cuộc sống thực sự là gì.” Eddie quả thật có ý xấu. Tim ông ta đã đặt nhầm chỗ rồi.

Cám ơn Chúa vì những tai nạn làm ruộng! Sau vài ca vô ý cắt cụt tay chân và những ca đại loại thế, ông ta cuối cùng đã xoay xở để nẫng lấy vài bệnh nhân. Người dân sợ đi bệnh viện, nên Eddie phải làm những việc này trên ruộng lúa mà bản thân tôi quyết chỉ chịu làm ở môi trường vô trùng. Nhưng họ thì dường như chẳng bận tâm.

Khi Eddie bắt đầu sự nghiệp bác sĩ chính thức, sau khi tốt nghiệp trường y ngần ấy năm, tôi trở về nhà để đối mặt với những bi kịch mà tôi biết chắc trong lúc tôi vắng mặt đã có tiến triển đến một điểm sôi sùng sục hấp dẫn.

***

“Dì phải lòng em chồng mình,” Caroline nói, như thể dì ấy đang tham gia một chương trình trò chuyện của Mỹ mà tôi không biết tên tuổi của những người có liên quan. Dì dựng thẳng cái ghế mà tôi đã dùng làm vật chắn cửa bất thành.

“Con biết việc ấy rất khó khăn, dì Caroline ạ. Nhưng dì có thể chờ thêm một chút được không?”

“Đến khi bố con chết ư? Dì thấy tội lỗi quá. Dì đang đếm từng ngày. Dì muốn ông ta chết.”

Điều này giải thích cho những nỗ lực không mệt mỏi của dì để kéo dài sự sống của ông: tội lỗi. Tôi có cảm giác rằng khi mà bố cuối cùng cũng chết, thì dì sẽ thương khóc bố hơn tất cả chúng tôi. Thực ra, cái chết của bố có thể sẽ hủy hoại người phụ nữ này. Tôi nghĩ tôi nên nói với ông về chuyện này, dĩ nhiên một cách thận trọng, và khẩn khoản xin ông nhường dì ấy cho Terry trong lúc ông còn sống. Cái chết của chồng có thể đẩy dì vượt quá ngưỡng chịu đựng vì đã mong muốn nó xảy ra. Tôi biết đây sẽ là việc đau đớn với ông, nhưng vì Caroline, vì hình ảnh đôi mắt buồn điên dại của dì ấy, tôi phải đề cập chuyện này.

Bố đang nằm trên giường, tắt hết đèn. Bóng tối giúp tôi có thêm dũng khí để thực hiện nhiệm vụ ngoài ý muốn của mình. Tôi vào thẳng vấn đề. Tôi giả vờ như Caroline chưa nói gì và tôi tự mình suy luận ra việc này. “Nghe này bố,” tôi nói, “con biết việc này sẽ rất đau đớn, và con biết bố đau thế nào - điều cuối cùng bố muốn làm trước khi chết là điều gì đó cao thượng - nhưng thực tế vấn đề là, Caroline sẽ tan nát vì cái chết của bố nếu như trong lúc bố chết, dì ấy thầm ước ao điều đó. Nếu bố thực sự yêu dì ấy, bố phải tặng dì ấy cho em trai bố như một món quà. Bố phải nhường lại dì ấy, khi bố vẫn còn sống.”

Bố không nói một lời. Khi tôi đọc bài diễn văn xúc động này, tôi nghĩ rằng nếu ai đó đọc nó với tôi, tôi có thể sẽ đâm một con dao gạt bơ xuyên qua lưỡi hắn.

“Hãy để bố yên,” cuối cùng ông lên tiếng, trong bóng tối.

Ngày hôm sau Terry muốn bố nhìn một con chim chết mà chú trông thấy khi đi dạo hồi sáng sớm, và chú kéo theo cả tôi. Chú nghĩ bố sẽ nhìn thấy con chim bất động và sẽ vui sướng vì ông vẫn còn cử động được. Đó là một suy nghĩ trẻ con. Bố tôi đã nhìn thấy nhiều thứ chết chóc rồi, và chúng chưa bao giờ khiến ông cảm thấy vui sướng vì được sống. Chúng lẳng lặng mời gọi bố gia nhập cái chết với chúng. Chuyện này thì tôi biết. Tôi tự hỏi tại sao Terry lại không biết.

“Tao nghĩ chú mày nên lấy Caroline khỏi tay tao,” bố nói, cúi xuống nhìn con chim bất động.

“Anh đang nói gì vậy?”

“Tao nghĩ cô ấy không thể kéo dài trò hề này lâu hơn tao được nữa,” bố rầu rĩ nói. “Bọn tao hẳn đã yên ấm nếu chú mày vẫn chết, như một đứa bé trai ngoan, nhưng chú mày đã tự sống lại mà, phải không?”

“Em không biết phải làm gì với việc ấy.”

“Đừng có cù lần thế. Chú mày sẽ nhận cô ấy, được chưa?”

Cơ thể Terry bỗng giật nảy một cái, giống như chú ấy mới đặt tay lên một hàng rào điện cao thế.

“Hãy tranh luận nào, cứ cho như là em đồng ý với cái chuyện ngớ ngẩn này đi. Điều gì khiến anh nghĩ cô ấy sẽ chấp thuận?”

“Thôi dẹp đi Terry. Chú mày đã luôn là một thằng khốn vị kỉ, vậy thì tại sao lại không tiếp tục cái truyền thống ấy và lại vị kỉ đi - giúp người phụ nữ mà chú mày yêu, mà cô ấy cũng thật không lý giải nổi khi yêu lại chú mày. Chú mày biết không, tao luôn lý giải cho sự thất bại với phụ nữ của mình bằng sự thiếu đối xứng trong cấu trúc khuôn mặt mình, vậy mà chú mày ở đây, người béo nhất thế giới còn sống, và chú mày lại có được cô ấy!”

“Vậy anh muốn gì?”

“Chỉ cần chăm sóc cô ấy thật tốt, được chứ?”

“Em không biết anh đang nói gì,” Terry nói, và miệng chú tạo thành vài hình thù kì dị, dù không phát ra âm thanh nào. Trông chú như đang cố gắng chuyển một phương trình dài và khó vào bộ nhớ.

***

Caroline đang ngồi dưới một cái cây trong mưa khi bố và tôi tiến đến. Tôi biết dì ấy đang lặng lẽ trừng phạt bản thân. Tôi nghĩ mình có thể nghe được ý nghĩ của dì, đọc rành rọt trong đầu tôi. Dì đang nghĩ đến cái ác, liệu dì vốn dĩ đã có nó hay bị nó chiếm hữu. Dì muốn làm người tốt. Dì không nghĩ là mình tốt. Dì nghĩ mình là nạn nhân của hoàn cảnh và rằng có lẽ tất cả những người làm điều ác cũng là nạn nhân của hoàn cảnh. Dì nghĩ bố không chỉ bị ung thư mà ông chính là bệnh ung thư. Dì mong ông phải lòng một người nào khác và sau đó ra đi thanh thản trong giấc ngủ. Dì cảm thấy bố đã làm chủ câu chuyện cuộc đời dì và đang viết lại nó bằng chữ viết tay cẩu thả đến nỗi nó trở nên không thể đọc được. Dì nghĩ cuộc đời dì đã trở nên khó đọc và rời rạc.

Đây là điều mà tôi chắc chắn mình nghe được dì đang nghĩ. Tôi cảm thấy quá thương cảm cho dì, đến nỗi tôi ước gì mặt đất nứt ra và nuốt chửng lấy dì.

Bố rảo bước đến và nói về chuyện ấy. Tôi lẽ ra phải đoán biết rằng lần đầu tiên thử làm nghĩa cử cao thượng của ông sẽ khiến ông nổ tung. Sự thật là, sự hào phóng của tinh thần ông đã mở rộng quá xa, và trong khi hi sinh bản thân mình một cách hào hiệp trên bệ thờ tình yêu của họ, bố đã không thể gạt bỏ ánh mắt tổn thương trên mặt ông, và nó đã giết chết toàn bộ màn tập dượt. Chính ánh mắt tổn thương này khiến dì bùng nổ.

“Không! Sao anh có thể nói vậy? Em yêu anh! Anh! Em yêu ANH!”

Bố bồi tiếp. “Nghe này. Terry là mối tình đầu của em, và anh biết em chưa bao giờ hết yêu nó. Đây chẳng phải là lỗi của ai cả. Khi em đồng ý lấy anh, em nghĩ nó đã chết hai mươi năm rồi. Tất cả chúng ta đều nghĩ thế. Vậy thì còn giả vờ làm gì nữa?”

Bố ra sức thuyết phục và đã chuẩn bị rất kĩ khi trình bày ý kiến của mình. Ông tin rằng điều thoạt có vẻ không thể chấp nhận bỗng dưng trở nên chấp nhận được - và điều đó khiến Caroline bối rối.

“Em không biết. Anh muốn em làm gì? Có phải anh không còn yêu em nữa không? Phải rồi, chắc là thế.” Và bố chưa kịp trả lời, dì đã nói, “Em sẽ làm bất cứ chuyện gì anh muốn. Em yêu anh, và anh muốn em làm gì thì em sẽ làm hết.”

Quyết tâm của bố bị thách thức ở đây. Tại sao dì ấy cứ làm khổ ông như thế? Làm sao bố có thể giữ vững được?

“Anh muốn em thừa nhận chuyện đó,” ông nói.

“Thừa nhận gì cơ?”

“Rằng em yêu nó.”

“Martin, chuyện đó...”

“Thừa nhận đi!”

“Thôi được! Em thừa nhận! Thoạt đầu em nghĩ, tại sao anh ấy nhất định phải còn sống? Tại sao anh ấy không tiếp tục chết đi? Và càng ở lâu bên Terry, em càng nhận ra mình vẫn yêu anh ấy. Rồi em bắt đầu nghĩ, tại sao anh phải sống? Tại sao anh chết chậm vậy? Thật bất công khi người yêu cuộc sống, như con trai em, lại chết quá đột ngột trong khi kẻ muốn chết, như anh, lại sống mãi. Mỗi lần anh nói đến chuyện tự tử là hi vọng của em lại nhảy nhổm lên. Nhưng anh chẳng bao giờ làm. Anh chỉ biết nói thôi! Tại sao anh cứ hứa hẹn sẽ tự tử trong khi anh sẽ không làm thế? Anh đang làm em phát điên lên với tất cả những lời hứa hẹn sẽ tự kết liễu này! Hãy làm đi nếu không thì câm miệng, nhưng đừng làm em nuôi hi vọng như thế!” Đột nhiên Caroline nín bặt và lấy tay che miệng, cả hai tay, rồi nôn thốc tháo. Chất nôn chảy qua các ngón tay. Khi dì đứng thẳng lưng, khuôn mặt dì méo mó vì xấu hổ. Mỗi bộ phận trên mặt dì đều phóng đại ra vì ngượng - mắt dì quá tròn, miệng dì quá rộng, lỗ mũi dì to bằng cái miệng lúc trước. Chưa ai kịp lên tiếng, dì đã bỏ chạy vào rừng.

Bố lắc lư trên đôi chân gầy nhom của ông, và làn da của ông trở thành thứ mà tôi chỉ có thể mô tả là lấm tấm hạt. Cuộc đời tôi đã là một chuỗi bất công và nhục nhã những lời đề nghị thất bại, khuôn mặt ông ta thán điều đó. Tình yêu là nỗ lực tự tử cao thượng của tôi.

Ngay lúc đó Terry bước ra khỏi nhà. “Tôi nghe thấy tiếng quát tháo phải không?” chú ấy hỏi.

“Cô ấy giờ đây hoàn toàn là của chú mày,” bố nói.

“Ý anh là gì?”

“Caroline - cô ấy là của chú mày. Chúng tao kết thúc rồi.”

“Anh nghiêm túc chứ?”

“Ừ. Bây giờ hai người có thể sống bên nhau. Tao không bận tâm.”

Mặt Terry cắt không còn giọt máu, trông chú như vừa được báo tin chiếc máy bay chở chú sắp hạ cánh khẩn cấp bằng phần mũi xuống một cái núi lửa.

“Ơ... nhưng mà... em không thể bỏ mấy cô gái điếm của em được. Em nói với anh rồi, không thể yêu mà không sở hữu. Không. Không đời nào. Giờ đây em không thể quay lưng với cuộc sống của mình, sau một thời gian quá dài. Không, em không thể ở bên Caroline.”

“Chú mày không yêu cô ấy sao?”

“Hãy để em yên! Anh đang định làm gì với em thế này?” chú ấy nói, rồi bỏ đi vào rừng, nhưng theo hướng ngược lại với Caroline.

Vậy là tam giác này đã chính thức đổ vỡ. Không ai ở bên cạnh ai. Ba điểm nối giờ đây lại là những đường đơn lẻ, song song, không chạm nhau.

Chết thật. Lỗi của tôi.

Tôi không chứng kiến cảnh diễn ra cuối ngày hôm đó giữa Terry và Caroline, nhưng sau đó tôi trông thấy Caroline, bước đi giống như bị thôi miên. “Dì có sao không?” tôi hỏi với theo. Thỉnh thoảng dì ấy dừng lại và nện thùm thụp vào đầu bằng nắm tay. “Dì Caroline!” tôi lại gọi to lần nữa. Dì ngước lên nhìn tôi với đôi mắt tuyệt vọng. Rồi Terry đi lững thững ngang qua cửa sổ phòng tôi, nom như bị san phẳng bằng xe ủi đất. Chú thông báo với tôi rằng chúng tôi sẽ quay về Bangkok vào sáng hôm sau. Cuối cùng thì, tin tốt cũng đến. Tôi phân vân liệu sự tò mò của Terry về sự cố khủng khiếp sắp xảy ra trong nhà Eddie có được thỏa mãn bằng cơn bùng nổ của chuyện tình tay ba này hay không. Dù sao đi nữa, tôi không thể chờ nổi đến lúc ra đi, cũng như không thể trải qua thời gian còn lại trong ngôi nhà đó. Tôi phải đi ra ngoài.

Không còn lựa chọn nào khác, tôi đi cùng Eddie bằng xe ô tô của ông ta khi ông ta đi công việc. Ông ta nom có vẻ vui sướng vì có tôi đi cùng và hào hứng trình bày một bài độc thoại so sánh các bác sĩ với các vị thần. Chúng tôi ghé thăm một vài nông dân và Eddie cuối cùng phát hiện ra họ có bệnh mãn tính. Sau khi khám bệnh xong, trước sự kinh tởm của tôi, ông ta tán tỉnh mấy cô con gái của họ ngay trước mặt các ông bố bà mẹ, các cô gái tuổi không thể quá mười sáu. Không hiểu biết đủ về văn hóa Thái Lan, nên tôi cũng chả rõ lắm về mối nguy hiểm của việc Eddie xử sự cách này, nhưng thật là dựng tóc gáy khi thấy cách ông ta giở trò ve vãn, dọa dẫm, và mua chuộc những cô gái tội nghiệp ấy. Tôi không còn thấy những điểm tốt để xí xóa cho ông ta nữa. Người đàn ông mà tôi đã lớn lên cùng đã biến mất. Khi chúng tôi đi khỏi nhà họ, ông ta nói những từ về các cô gái này, “chơi rất đã” và “đáng chơi” là những từ phổ biến nhất. Mỗi lời nói và cử chỉ của ông ta trông có vẻ thấm đẫm sự bất mãn và giận dữ. Khi trở lại trên đường, tôi nghĩ: Người đàn ông này là một quả lựu đạn chờ phát nổ, và tôi hi vọng tôi sẽ không bén mảng gần đó để chứng kiến.

Rồi ông ta bùng nổ.

Tôi bén mảng gần đó để chứng kiến.

Tôi tì trán trên cửa kính xe, và tôi đang ước gì khu rừng quanh chúng tôi thực ra là nội thất trong một khách sạn xa hoa trang trí kiểu rừng rậm và bất cứ khi nào tôi thích, tôi có thể lên lầu vào phòng tôi và bò giữa những tấm trải giường sạch sẽ và gọi phục vụ phòng và uống thuốc ngủ quá liều. Tôi sẽ không thích gì hơn thế.

“Cái gì thế này?” Eddie nói, đập tan cơn mơ mộng của tôi.

Đó là một cô bé khoảng chừng mười lăm tuổi, đang chạy xuống đường và vẫy tay, ra hiệu cho chúng tôi dừng lại. Rắc rối rồi đây, tôi thầm nghĩ.

Eddie cho xe dừng lại và cả hai chúng tôi cùng xuống xe. Cô bé ra hiệu cho Eddie đi theo. Từ những gì tôi có thể hiểu, bố cô bé bị ốm. Ốm nặng. Cô bé đang hoảng loạn. Cô muốn Eddie đến ngay. Eddie cố gắng làm ra vẻ chuyên nghiệp. Ông ta dịch cho tôi, lặp lại các triệu chứng khi cô bé mô tả: sốt, nôn mửa, co thắt ruột dữ dội, mê sảng, mất cảm giác ở tay và chân. Eddie vừa làu bàu vừa thở dài. Rồi ông ta lắc đầu ngao ngán. Cô bé bắt đầu hét to bằng giọng cầu khẩn.

Ông ta đang tính toán gì?

Cô bé quay sang nắm chặt cánh tay tôi. “Làm ơn, làm ơn.”

“Eddie, có chuyện gì vậy?”

“Tôi thực tình không nghĩ là mình có thể ra tay trong ngày hôm nay. Có thể đến mai, nếu tôi rảnh.”

“Không ông hiểu không?” cô bé nói bằng tiếng Anh. “Bố tôi. Ông ấy sắp chết.”

“Eddie,” tôi nói, “ông đang làm gì vậy?”

“Jasper, cậu đi dạo một chút được không?”

Chẳng cần phải là một thiên tài mới có thể nhận ra rằng tôi sắp trở thành tòng phạm trong một vụ đe dọa cưỡng bức dơ bẩn nhất trên đời.

“Tôi sẽ không đi đâu hết,” tôi đáp.

Eddie nhìn tôi với lòng căm ghét dồn dập, nghiền nát. Đó là một sự đối đầu. “Jasper,” ông ta nói trong lúc nghiến chặt răng, “tôi bảo cậu cút xéo khỏi đây mau.”

“Không đời nào.”

Eddie nổi khùng, quát tháo tôi với dung tích tối đa của phổi. Ông ta cố mọi cách để làm tôi biến đi, để ông ta một mình giở trò cưỡng hiếp và cướp bóc. Tôi không nhúc nhích. Nó đây rồi, tôi thầm nghĩ. Sự đối đầu thể lực đầu tiên của tôi với cái ác. Tôi đã sẵn sàng chiến thắng.

Nhưng tôi đã không thắng.

Ông ta đẩy tôi. Tôi đẩy lại. Ông ta lại đẩy tôi. Bắt đầu chán rồi. Tôi vung nắm đấm. Eddie né được. Rồi ông ta vung nắm đấm vào mặt tôi. Tôi cũng cố né, nhưng thay vì thoi vào cằm tôi, nắm đấm của ông ta kết nối với cái trán tôi. Tôi lảo đảo lùi lại một chút, và lợi dụng sự lưỡng lự của tôi, ông ta tung một cú đá bất ngờ vào cổ họng tôi. Tôi ngã ra sau, đập đầu xuống đất. Tôi nghe tiếng cửa xe đóng sầm lại, và đến khi tôi đứng lên được, tôi đã không thể làm gì ngoài việc nhìn chiếc xe chạy mất.

Eddie, thằng khốn ghê tởm ấy! Quân ăn cướp dẻo mồm, hôi hám ấy! Tôi cảm thấy tội lỗi vì đã không bảo vệ được cô bé tội nghiệp nọ, nhưng nếu một người mà bạn biết từ thuở còn thơ quyết tâm phạm tội ác đến mức y sẵn sàng đá vào cổ họng bạn, thì bạn còn làm được gì? Dù sao thì, lúc này đã là quá muộn rồi. Kẻ ác ôn đó đã tẩu thoát cùng với cô gái và bỏ tôi kẹt lại ở chốn đồng không mông quạnh. Mà dù sao thì, tôi đang ở cái chỗ quái quỷ nào, ngoài chính nơi mà mọi cơn nóng ở Thái Lan đều tụ tập lại để họp hành?

Tôi đi bộ trong vài giờ. Từng đàn muỗi phấn khích kiên trì bám theo tôi. Chẳng có một người nào trước mặt, chẳng một dấu hiệu nào của sự sống con người. Rất dễ tưởng tượng rằng tôi là người duy nhất tồn tại, và nó chẳng khiến tôi cảm thấy cô đơn chút nào. Thật hồ hởi khi tưởng tượng mọi người đã chết, khi ta có quyền bắt đầu một nền văn minh mới hoặc không. Tôi nghĩ mình sẽ chọn không. Có ai lại muốn nhận lấy sự nhục nhã khi làm cha của loài người? Tôi thì không. Tôi có thể thấy mình làm vua loài kiến, hay kẻ đứng đầu một xã hội loài cua - nhưng Eddie đã làm tắt ngóm mọi mong muốn làm người của tôi. Một người có thể làm được điều đó.

Tôi đi tiếp, đổ mồ hôi vì độ ẩm nhưng ít nhiều cảm thấy hài lòng với ảo tưởng người-cuối-cùng-trên-trái-đất của mình. Tôi thậm chí chẳng bận tâm lắm đến việc mình đã đi lạc vào rừng. Việc này sẽ xảy ra bao nhiêu lần trong đời tôi? Nhiều lần, tôi đoán. Lần này nó là khu rừng, lần tới nó sẽ là đại dương, rồi một bãi đỗ xe của khu mua sắm, cho đến khi cuối cùng tôi sẽ bị lạc không thể tìm thấy ở ngoài không gian. Hãy ghi nhớ lời tôi.

Nhưng sự đơn độc của tôi có tuổi thọ thật ngắn ngủi. Tôi nghe những giọng nói xôn xao vang lên từ dưới chân một ngọn đồi. Tôi đi lên sườn đồi và trông thấy một nhóm khoảng độ hai mươi người, chủ yếu là nông dân, đứng thành vòng tròn cạnh một chiếc xe cảnh sát. Cảnh tượng này cho thấy nó chẳng liên quan gì đến tôi, nhưng một điều gì đó mách bảo tôi rằng đừng đi xuống đó. Tôi cho rằng đây là chuyện xảy ra khi bạn lúc nào cũng cảm thấy tội lỗi chẳng vì lý do gì.

Tôi nhón chân lên để nhìn rõ hơn. Khi đó, tôi trông thấy một cái bóng bò về phía tôi. Tôi quay lại. Một người đàn bà trung niên xách một giỏ táo đang nhìn tôi chằm chằm. Không, không phải nhìn tôi. Bà ta đang nhìn trộm cái bùa quanh cổ tôi.

“Cúi xuống. Đừng để họ thấy cậu,” bà ta nói bằng giọng đặc quánh như khu rừng quanh chúng tôi.

Bà ta ấn tôi xuống đất với đôi cánh tay dài, vạm vỡ. Chúng tôi nằm cạnh nhau trên sườn đồi đầy cỏ.

“Tôi biết cậu.”

“Vậy à?”

“Cậu là bạn của bác sĩ, phải không?” bà ta hỏi.

“Có chuyện gì vậy?”

“Ông ta gặp rắc rối rồi,” bà ta đáp.

Vậy là họ đã biết ông ta đe dọa cô gái tội nghiệp để ngủ với ông ta. Chà, tốt thôi. Tôi chẳng cần quan tâm nếu họ tống ông ta vào tù để ông ta bị cưỡng hiếp trong đấy đến hết đời. Ông ta đáng bị vậy.

“Họ đào mấy cái xác lên rồi,” bà ta nói.

Bà ta đang nói về mấy cái xác nào nhỉ?

“Bà đang nói về mấy cái xác nào?”

“Ông bác sĩ già, và cả anh bác sĩ trẻ nữa.”

“Họ đào hai người ấy lên á? Tại sao họ lại làm một việc ghê rợn như thế?”

“Họ nghĩ đó có thể là bệnh dịch hay là một loại virus mới nào đó. Vài năm trước, chúng tôi đã có dịch cúm gia cầm. Giờ thì người ta cảnh giác rất cao khi nhiều người chết mà không rõ nguyên nhân.”

Thú vị thật, nhưng chuyện này có liên quan gì đến đe dọa với cả cưỡng hiếp? Tôi không khỏi thắc mắc.

“Và?”

“Họ đã khám nghiệm tử thi. Và tôi cho rằng cậu biết họ phát hiện gì.”

“Một đống ghê rợn những nội tạng thối rữa ư?”

“Chất độc,” bà ta nói, nhìn tôi thận trọng để xem phản ứng của tôi.

“Chất độc?” Chất độc? “Và vì vậy họ nghĩ...” tôi chẳng cần nói hết câu. Đã quá rõ họ nghĩ gì. Và hơn thế nữa, đã quá rõ là họ đúng. Eddie đã làm thế, gã khốn đê tiện. Để biến ước mơ trở thành bác sĩ của bố mẹ quá cố của ông ta thành hiện thực, ông ta đã giết lão bác sĩ và tay thực tập trẻ để loại họ.

“Vậy là cảnh sát sẽ bắt ông ta ư?”

“Không. Cậu nhìn thấy những người dưới kia không?” Bà ta có muốn tôi trả lời câu hỏi ấy không nhỉ? Họ ở ngay đấy mà.

“Họ thì sao?”

Khi bà ta nói ra điều này, hai người cảnh sát vào trong xe và lái đi. Đám đông lấp vào chỗ mà chiếc xe mới đỗ.

“Họ mới nói với cảnh sát rằng ông bạn bác sĩ của cậu đã chuyển đến Campuchia rồi.”

Tôi thực sự ước gì bà ta kìm nén không mô tả Eddie là “ông bạn bác sĩ” của tôi, dù tôi hiểu như vậy thì dễ phân biệt hơn, vì có đến ba bác sĩ trong câu chuyện này. Nhưng tôi có đần độn quá không nhỉ? Tại sao những nông dân này lại nói với cảnh sát là Eddie đã chuyển đến Campuchia? Và tại sao bà ta lại phấn khích vì chuyện đó?

“Cậu không thấy sao? Họ sẽ tự tay giải quyết chuyện này!”

“Nghĩa là sao?”

“Họ sẽ giết hắn ta. Và không chỉ hắn ta. Cả cậu nữa.”

“Tôi?”

“Và những người Úc khác đã đến đây để giúp hắn ta.”

“Đợi đã! Những người Úc ấy là gia đình tôi! Họ chẳng làm gì cả. Họ không biết gì về chuyện đó! Tôi không biết gì về chuyện đó!”

“Tốt nhất cậu nên về nhà đi,” bà ta nói.

“Nhưng tôi có làm gì đâu! Chính là Eddie! Đây là lần thứ hai Eddie đẩy chúng tôi vào cảnh hành hình đám đông. Chúa ơi - bố tôi đã đúng. Con người quá chuyên tâm vào các dự án bất tử của họ đến nỗi nó lôi họ xuống mồ và cả những người xung quanh họ nữa!”

Bà ta thừ ra nhìn tôi.

Tôi có thể làm gì? Tôi không thể lãng phí thời gian quý giá cố gắng đi tìm cảnh sát; tôi phải về nhà và cảnh báo mọi người rằng một đám đông cuồng nộ sắp đến để xé xác chúng tôi.

Chuyến đi này đã biến thành một bữa điểm tâm cho chó gì thế này!

“Này, tại sao bà lại giúp tôi?”

“Tôi muốn cái dây chuyền của cậu.”

Tại sao không? Tôi đã mê tín một cách mù quáng khi đeo nó. Tôi tháo cái bùa đáng ghét ra và đưa nó cho bà ta. Bà ta vội vã bỏ đi. Tôi đã đeo nó lên chỉ vì tuyệt vọng, tôi nghĩ. Nếu bạn không đề cao cảnh giác và có ai đó nói với bạn rằng nó có phép màu, thì bạn có thể tìm thấy an ủi trong lòng đất.

***

Nhóm người phía dưới bắt đầu đi bộ băng qua rừng. Tôi bám theo họ, nghĩ đến Eddie và gia đình tôi và những bất ngờ khác khi đám đông khát máu này xuất hiện để giết họ. Tôi phải đảm bảo nhóm người ấy và tôi không gặp nhau; vì tôi không phải người Thái Lan, nên khó có chuyện tôi trà trộn vào họ. Tôi sẽ bị nuốt chửng, như một món tráng miệng. Vì thế tôi giữ khoảng cách. Nhưng tôi lại không biết đường về nhà - tôi phải đi theo đám đông về nhà của Eddie. Tình thế nan giải rõ như ban ngày. Làm sao tôi có thể về đến trước và cảnh báo mọi người về một đám đông cuồng sát đang trên đường đến khi mà tôi phải đi theo đám đông ấy để đến nơi?

Lại một vấn đề sinh tử nữa. Ôi trời.

Khi nhóm người di chuyển, những người khác nhập vào, dần dần hình thành một đám đông chuyển động, rồi sau đó thành một hội, một kênh trả thù quyết liệt. Họ giống như một cơn sóng thần người, tăng dần tốc độ và quy mô. Không thể giải tán họ. Đó là một cảnh tượng kinh hồn táng đởm. Thật kì lạ, họ trông như đang tăng tốc cho một cơn thảm sát yên lặng. Đây không phải là một toán người với tiếng kêu gào chiến tranh, đây là một nhóm người câm như hến lăn tròn lặng lẽ về phía trước. Trong lúc chạy, tôi nghĩ mình ghét bất kì kiểu hội nhóm nào - tôi ghét những đám đông người hâm mộ thể thao, đám đông người biểu tình vì môi trường, tôi thậm chí ghét cả những nhóm siêu mẫu, tôi ghét các hội nhóm nhiều như thế đấy. Nói thật lòng, chỉ có thể chịu đựng nổi loài người khi bạn đối phó với một người nhất định.

Thú vị làm sao, đó là một đám đông dân chủ. Bất kì ai cũng có thể tham gia để tùng xẻo Eddie và gia đình tôi. Có cả vài đứa trẻ con. Điều đó khiến tôi ngạc nhiên. Và vài quý ông đứng tuổi nữa, những người này, dù rất rụt rè và yếu ớt, vẫn chẳng mấy khó khăn để bắt kịp. Tựa như họ đã bị cái đám đông ấy hấp thụ và được truyền năng lượng của nó, tựa như những thân mình gầy gò, yếu ớt của họ giờ đây là những ngón tay lanh lợi của một bàn tay mạnh mẽ. Nhưng chẳng phải những người này là Phật tử sao? À mà, việc đấy thì can hệ gì? Phật tử cũng có thể bị đẩy đến chỗ quẫn trí như bất kì ai, phải không? Nói cho sòng phẳng, Eddie đã làm bùng phát sự bình yên nội tại của họ với thuốc độc và giết người và đe dọa và cưỡng hiếp. Sự bình yên nội tại không trơ lì trước một cuộc tấn công tàn bạo như thế. Tiện thể, chẳng có ai trong số họ đang mỉm cười như Đức Phật cả. Họ đang mỉm cười như ác quỷ, như một con rồng có bốn mươi cái đầu.

Ngay cả mặt trời cũng tỏ vẻ đe dọa. Nó đang rơi nhanh. Theo lẽ thường, tôi nghĩ, đó sẽ không phải là một cảnh tàn sát dã man giữa thanh thiên bạch nhật. Nó sẽ diễn ra trong bóng tối.

Nhưng cái gì thế này? Đám người đang tăng tốc! Tôi đã kiệt sức rồi, vậy mà tôi phải chạy với vận tốc điên cuồng. Thật bực mình! Cuộc chạy đua marathon cuối cùng mà tôi có nhã ý tham gia là khi tôi đánh bại 200 triệu tinh trùng khác để giành trứng. Bây giờ tôi lại phải chạy. Thật ra, chuyện này cũng có phần hào hứng. Tôi nhận thức quá rõ mình là một kẻ suy nghĩ không ngừng vì thế hành động đem lại cảm giác thích thú đáng ngạc nhiên. Đám đông cuồng sát sắp đến - bạn sẽ làm gì với việc đó?

Ráng chiều nhuộm nền trời với một màu đỏ xi rô dịu nhẹ: một màu đỏ bị thương ở đầu. Trong lúc chạy, tôi ước gì mình có một cây rựa - thật khó khăn khi phải luồn lách qua đám cây cối rậm rạp đó. Tôi chạy trên những đoạn đường bí mật băng qua những bụi dương xỉ tua tủa, nơi tia sáng mặt trời cuối cùng chỉ chiếu vào thành những vệt thi thoảng. Khu rừng với những tiếng động đe dọa quen thuộc của nó có dàn âm thanh vòng của một hệ thống giải trí tại nhà đắt tiền.

Nửa giờ sau tôi lạc mất họ. Khỉ thật. Tôi phải làm gì bây giờ? Tôi có thể làm gì? Tôi chạy, tôi ngã. Tôi nôn, tôi lại đứng dậy. Tại sao chúng tôi lại đến đây? Lũ người Thái chó chết. Một đám đông người Úc có thể đá đít bạn te tua, nhưng sau đó bạn vẫn có thể lết về nhà. Đây là giết người! Không, tàn sát! Bố tôi! Và dì Caroline! Và chú Terry! Tất cả đều một mình ở trên đó, bị cô lập và không kịp trở tay. Tôi chạy đến khi kiệt sức. Và cơn nóng này. Và lũ muỗi này. Và nỗi sợ hày. Tôi sẽ không làm được. Tôi cảnh báo họ thế nào bây giờ?

Tôi ngỡ là mình có thể...

Không.

Trừ khi...

Tôi nảy ra một ý. Nhưng nó thật ngu ngốc, tuyệt vọng, bất khả thi. Chắc là tôi mất trí rồi. Hay chỉ là trí tưởng tượng của tôi đang đùa giỡn chính nó. Nhưng thật là một ý tưởng hay ho! Nó là thế này: bố và tôi kết nối với nhau theo một cách sâu sắc hơn chỉ là bố và con trai, và tôi từ lâu đã ngờ ngợ chuyện chúng tôi có thể nhiều lần đọc được suy nghĩ của nhau dù không cố ý, và do đó nếu tôi tập trung đủ cao độ, nếu tôi chỉ cần cố gắng tinh thần một chút, biết đâu tôi có thể gửi đến ông một thông điệp. Thật vô lý! Thật thông minh?

Vấn đề là, rất khó để lôi kéo sự tập trung kiểu như vậy trong lúc chạy, mà nếu tôi dừng lại và việc này không có kết quả, thì tôi có thể lạc mất không chỉ đám đông mà cả đường về nhà. Và mọi người sẽ chết!

Tôi có thực sự nghĩ rằng chúng tôi có thể đọc được suy nghĩ của nhau không? Tôi có nên đánh liều không? Việc chạy băng qua rừng đang trở nên ngày càng khó khăn; tôi đã đẩy một cành cây sang một bên chỉ để bị nó đánh trúng vào mặt. Khu rừng đang ngày càng hung hãn. Đám đông đang chạy xa dần tôi. Tôi đang kiệt sức vì nóng. Gia đình tôi sắp chết.

Tôi có nên đánh liều không?

Mẹ kiếp.

Tôi dừng lại. Đám đông cuồng sát biến mất sau một ngọn đồi. Tim tôi đang đau nhói trong lồng ngực. Tôi hít thở sâu để xoa dịu nó.

Để liên lạc được với bố, tôi cần phải đưa mình vào trạng thái tĩnh tâm sâu. Tôi cần phải khẩn trương, đương nhiên, nhưng bạn không thể thúc giục nội tâm yên tĩnh tuyệt đối. Bạn phải dỗ dành nó từ từ. Bạn không thể chuyển đổi những đặc tính quan trọng của tâm trí mình như kiểu đang chạy theo một chiếc xe buýt được.

Tôi tạo tư thế giống như trong sách hướng dẫn. Tôi ngồi khoanh chân trên mặt đất, tập trung vào hơi thở, và lặp lại câu thần chú của mình, “Wow.” Việc này đem lại một tâm trí tương đối yên tĩnh, nhưng thật lòng mà nói, tôi cảm thấy trong đầu có chút đần độn. Tôi cũng đạt được một ít rõ ràng, đủ để trôi đến rìa của sự nhận thức, nhưng không đi xa hơn. Tôi cũng cảm thấy lóe lên hạnh phúc - chà, vậy thì sao? Tôi cần phải đi xa hơn trước nay, vậy mà tôi ở đây, thực hiện các chuyển động. Từ những gì tôi đọc được về sự thiền quán, tôi biết rằng cần áp dụng một hệ thống - đây là cách bạn ngồi, đây là cách bạn thở, đây là cách bạn tập trung vào hơi thở của mình. Nhưng việc áp dụng hệ thống này là một thói quen hằng ngày, nó có vẻ đối lập với trạng thái thiền định mà tôi cần. Vì tôi đã thực tập kiểu thiền này vài lần, nên tôi cảm thấy cũng giống như đang làm việc trên một dây chuyền đóng nắp chai Coca-Cola. Tâm trí tôi đã bình lặng, bị thôi miên, mất cảm giác. Như thế không tốt.

Cố gắng làm dịu tâm trí phấn khích của tôi đồng nghĩa với việc trong đầu tôi diễn ra một cơn xung đột. Điều đó thiêu cháy năng lượng quan trọng mà tôi cần để tập trung vào việc giao tiếp ngoại cảm với bố. Vậy thì có lẽ tôi phải dừng tập trung, nhưng làm sao tôi đạt được một tâm trí tĩnh lặng nếu không tập trung?

Đầu tiên, thay vì ngồi bắt chéo chân, tôi đứng dậy và dựa lưng vào một cái cây giống như James Dean trong phim Nổi loạn vô cớ[60]. Sau đó tôi lắng nghe không phải hơi thở của mình, như Anouk khuyên, mà tiếng ồn xung quanh tôi. Tôi cũng không nhắm mắt lại. Tôi mở to mắt.

Tôi quan sát những cái cây ẩm ướt, xù xì trong ánh chiều tà mà không tập trung. Tôi khiến tâm trí mình trở nên tỉnh táo kinh ngạc. Tôi cũng không chỉ quan sát hơi thở của mình, mà để mắt đến những suy nghĩ của mình nữa. Chúng rơi xuống như một cơn mưa tàn lửa. Tôi nhìn chúng một hồi lâu. Tôi đuổi theo chúng, không phải đến nơi chúng đi, mà từ nơi chúng đến, trở về quá khứ. Tôi có thể thấy chúng gắn kết với tôi như thế nào. Tôi có thể thấy chúng định hình nên tôi ra làm sao, những suy nghĩ này - những thành phần thực sự của món xúp Jasper.

Tôi bắt đầu bước đi và sự im lặng trong tâm trí đi cùng tôi, dù nó không phải là kiểu im lặng vắng âm thanh. Đó là một sự im lặng đồ sộ, điếc tai, nhìn thấy được. Chưa ai kể với tôi về kiểu im lặng này. Nó thật sự rất đinh tai. Và trong lúc bước đi xuyên qua cánh rừng, tôi không cần dụng sức vẫn duy trì được sự rõ ràng này.

Rồi tâm trí tôi trở nên yên tĩnh. Thật sự yên tĩnh. Nó xảy ra ngay lập tức. Tôi đột nhiên được giải phóng khỏi sự va chạm nội tâm. Giải phóng khỏi nỗi sợ. Sự tự do ấy bằng cách nào đó đã giúp toàn thể những chướng ngại khó xơi của tôi tan biến mất. Tôi nghĩ: Thế giới đang phồng to, nó ở đây, nó đang nổ tung trong miệng tôi, nó đang chạy dọc xuống cổ họng tôi, nó đang lấp đầy mắt tôi. Lạ lùng thay, cái vật to lớn này đã vào trong người tôi, dù tôi không to ra vì nó. Tôi nhỏ hơn. Thật tốt khi được thu nhỏ. Này nhé, tôi biết việc này nghe như thế nào, nhưng hãy tin tôi, đây không phải là một trải nghiệm bí ẩn. Và tôi cũng không phải đang đùa với chính mình. Tôi không phải là một vị thánh. Dù có đổi lấy những bộ ngực ở California, tôi cũng sẽ không làm sạch vết thương của những người bị hủi bằng lưỡi mình như thánh Francis của xứ Assisi, dĩ nhiên là không, nhưng - và đây là điều tôi đang đạt đến - tôi cảm thấy một thứ mà trước đây tôi chưa từng cảm nhận: tình thương. Tôi biết việc này nghe có vẻ điên rồ, nhưng tôi nghĩ mình đã thực sự yêu thương kẻ thù của mình: Eddie, gia đình tôi, đám đông cuồng sát đang trên đường đến thảm sát gia đình tôi, thậm chí cả độc tính của cơn bộc phát thù hận mới đây của người Úc. Bây giờ, đừng đi lạc chủ đề; tôi không hề ngưỡng mộ kẻ thù của mình, và dù tôi yêu thương họ, tôi cũng không phải lòng họ. Nhưng dẫu sao, sự khiếp sợ theo bản năng của tôi đối với họ cũng đã vơi đi ít nhiều. Cảm xúc quá hớp này khiến tôi hơi phát hoảng - cơn điên yêu thương xé toạc lòng thù hận ngập ngụa của tôi. Vậy thì dường như Anouk đã sai; thành quả thực sự của thiền định không phải là bình yên nội tại mà là tình thương. Thật ra, khi bạn lần đầu tiên nhìn thấy cuộc sống trong tổng thể của nó và bạn cảm thấy tình thương chân thành cho sự tổng thể đó, thì bình yên nội tại có vẻ giống như một kiểu mục tiêu nhỏ nhặt, tầm thường.

Dù tất cả những việc này đẹp đẽ là thế, tôi nhận ra mình vẫn chưa liên lạc được với bố. Tôi đã gần như bỏ cuộc và bắt đầu tự hỏi đám đông điên loạn đó đã đi đến đâu thì đột nhiên, thậm chí không chút cố gắng, tôi nhìn thấy khuôn mặt của bố. Rồi tôi thấy cơ thể lom khom của ông. Ông đang ở trong phòng, gập người trên bàn. Tôi nhìn gần hơn. Ông đang viết một lá thư cho các tờ báo Úc. Tôi chỉ có thể nhìn thấy câu chào ở đầu thư. “Những kẻ đáng ghét thân mến” đã bị gạch ngang, thay bằng “Những kẻ đáng ghét thân mến của tôi.” Tôi tin rằng đây không phải là tưởng tượng mà là hình ảnh thật của bố ngay lúc này, trong hiện tại. Tôi nghĩ: Bố! Bố! Là con đây! Một đám đông nổi loạn đang đến để giết Eddie và mọi người trong nhà! Ra ngoài đi! Đưa mọi người ra ngoài! Tôi cố gắng gửi cho ông một hình ảnh của đám đông nổi loạn để ông biết họ trông như thế nào khi họ đến nơi. Tôi gửi cho ông hình ảnh của đám đông như một cơ thể bình thường đang tiến sát đến nhà, vũ trang với những nông cụ thời Thế giới cũ. Họ xách theo liềm cắt cỏ, lạy Chúa tôi!

Hình ảnh ấy tan biến đi mà không có sự cho phép của tôi. Tôi mở mắt ra. Đêm tối đen kịt mây, tối đến nỗi giống như tôi đang ở dưới lòng đất. Ở bốn phía xung quanh, rừng đang phát ra tiếng rên rỉ đáng sợ. Tôi đã ở đây bao lâu rồi? Tôi không cách nào biết được.

Tôi lại bước đi, đẩy những cành cây cản lối, mắt tôi vẫn còn tràn đầy hình ảnh, mũi tôi tràn ngập những mùi không hiện diện (quế và xi rô gỗ thích), lưỡi tôi mang những vị không hiện diện (kem đánh răng và Vegemite[61]). Tôi có cảm giác mới mẻ về cuộc sống mà trước đây chưa từng có.

Trong lúc đi, tôi tự hỏi, liệu họ có đến nơi và thấy ngôi nhà vắng hoe không? Bố có nghe thấy lời cảnh báo của tôi không? Hay là tôi vừa mới từ bỏ nỗ lực cứu mạng gia đình mình? Tôi bước đi mà không biết mình đang đi đâu. Tôi để bản năng dẫn lối qua khu rừng, giẫm lên những cái cây thơm ngát tỏa ra một mùi hương ngọt ngào, váng vất. Tôi dừng lại để uống ngụm nước mát lạnh, ngon lành của một dòng thác nhỏ. Rồi tôi lại đi tiếp, vấp váp trên những ngọn đồi và qua những tán lá xum xuê.

Tôi không hề thấy sợ. Tôi cảm thấy như mình đã trở thành một phần của khu rừng đến mức độ con thú nào đi ra để ăn thịt tôi đều sẽ là không phải phép. Rồi tôi tiến vào một khoảnh đất trống chạy xuống một ngọn đồi dài, ở đó tôi có thể thấy mặt trăng đang mọc. Mọi đôi mắt của hoa cỏ, miệng của cây cối và những cái cằm của đất đá hình thù kì lạ dường như đang nói với tôi rằng tôi đang đi đúng hướng. Thật là nhẹ nhõm, vì chẳng có lối mòn nào cả. Bằng cách nào đó đám đông những con người thù hận di chuyển trong im lặng đã giữ nguyên mọi thứ, tựa như họ đã trôi qua rừng như một vật chất cổ xưa không hình thù nào đó.

Khi tôi cuối cùng cũng tìm thấy nhà của Eddie, bên trong đang sáng đèn. Gió đang đập mạnh lên cửa sổ và cửa chính. Cảnh tượng căn nhà khiến trạng thái cô độc của tôi biến mất ngay lập tức. Thế giới đang sắp xếp lại trật tự một cách vô vọng lần nữa; sự kết nối tuyệt đối giữa tôi với vạn vật biến mất. Giờ đây tôi cảm thấy dửng dưng với mọi vật có sự sống. Tôi chẳng còn quan tâm gì đến chúng. Sự chia cách giữa chúng tôi dày như những cây cột làm từ xương và sụn. Tôi ở đây và chúng ở đó. Thằng ngốc nào cũng thấy thế.

Nấp sau một cái cây, tôi cảm thấy các tế bào máu của mình hối hả chạy qua tim. Tôi nhớ một chuyện mà bố từng hứa sẽ dạy tôi: làm sao để biến mình trở nên vô vị khi những bè lũ xông đến để ăn thịt ta. Tôi hi vọng ông thực sự biết kĩ năng sống còn này.

Dĩ nhiên tôi đã quá muộn. Cánh cửa mở toang, và đám đông đang rời khỏi nhà từng người một, cầm theo nào là liềm cắt cỏ, búa và cây chĩa rơm. Chẳng ích gì đối mặt với đám đông hoặc thể phân tán của nó, vì hình như nó đã làm xong việc mà nó đến đây để làm. Chẳng lợi lộc được gì trong việc để bản thân tôi bị phanh thây thành từng mảnh.

Máu dính bê bết trên tay và mặt của đám đông. Quần áo họ vấy nhiều máu đến nỗi họ chỉ còn cách ném chúng đi. Tôi đợi đến khi kẻ xâm nhập cuối cùng rời khỏi nhà và chờ thêm một chốc nữa. Tôi nhìn căn nhà và cố gắng không cảm thấy sợ. Ngay cả sau tất cả những gì mà bố dạy tôi, tôi vẫn không được chuẩn bị cho thời điểm như thế này. Không gì chuẩn bị cho tôi đi vào nơi mà gia đình tôi đã bị làm thịt. Tôi khó nhọc nhớ lại bất kì mẩu trí tuệ nào từ thời thơ ấu của mình có thể cho tôi lời khuyên làm sao để tiến tới, nhưng tôi không thể, vì vậy tôi tiến đến căn nhà, không được phòng bị về cảm xúc, tâm lý và tinh thần. Dĩ nhiên tôi đã nhiều lần tưởng tượng họ chết rồi (ngay khi tôi cảm thấy mối ràng buộc cảm xúc với ai, tôi lại tưởng tượng cái chết của người đó, để sau này khỏi thất vọng), nhưng trong tâm trí tôi họ vẫn luôn là những xác chết tương đối sạch sẽ, thật ra là khá gọn gàng, và cho đến lúc này tôi vẫn chưa chuẩn bị tinh thần để tưởng tượng não của những người thân yêu của tôi bắn tung tóe lên tường, thi thể họ nằm la liệt trong một vũng máu/phân/ruột, vân vân.

Xác chết đầu tiên tôi thấy là của Eddie. Ông ta trông như đã bị một nhà vô địch trượt băng chạy qua một nghìn lần. Mặt ông ta bị cắt nát đến nỗi tôi khó lòng nhận ra đó là ông ta, ngoại trừ đôi mắt, với ánh mắt hoảng hốt rất đặc trưng của người dùng Botox và cái chết đột ngột, nhìn lên hai lọ đất nung với linh hồn bố mẹ ông ta bên trong, những linh hồn đã cố dõi theo ông ta. Thật dễ nhận ra ánh nhìn nhục nhã trong mắt ông ta. Tạm biệt và chúc giải thoát, Eddie. Ông đã đưa sự đốn mạt của ông đến giới hạn của nó và nó đổ ập lên chính ông. Thật đen đủi.

Với nỗ lực siêu phàm, đôi chân tôi đưa tôi sang phòng cạnh bên. Ở đó tôi thấy chú Terry quỳ gối, và nhìn từ sau lưng trông chú ấy như phần đuôi của một chiếc VW Beetle sắp sửa đỗ quay đầu xe vào một điểm hẹp. Mồ hôi đổ ròng ròng từ những ngấn mỡ trên cằm chú. Tôi nghe tiếng chú khóc. Chú quay qua nhìn tôi, rồi quay lại và nhấc cánh tay mập mạp chỉ về phía phòng ngủ của bố.

Tôi đi vào.

Bố cũng đang quỳ gối, khẽ lắc lư trước thi thể bị cắt xẻo của Caroline. Đôi mắt ông mở to hết cỡ, giống như được chống lên bằng que diêm. Tình yêu của đời ông đang nằm ngửa, máu chảy ra từ hàng chục vết chém. Đôi mắt vô hồn của dì đóng băng trong một ánh nhìn vô định. Tôi phải nhìn đi chỗ khác. Đôi mắt ấy có vẻ gì đó thật lo lắng. Trông dì như một người vừa nói ra điều gì khiếm nhã và muốn rút lại. Sau này tôi biết dì đã chết trong lúc cố gắng bảo vệ Eddie, thay vì bảo vệ bất kì ai khác; dì bị giết không chủ ý, và chính cái chết của dì đã khiến đám đông quay sang tấn công nhau, chia rẽ thành nhiều nhóm - những kẻ nghĩ rằng giết một người phụ nữ trung niên là được và những kẻ nghĩ rằng như thế là không được. Việc đó cuối cùng đã làm chấm dứt cơn thịnh nộ của họ và giải tán họ về nhà.

Chúng tôi chôn cất Eddie và Caroline trong vườn. Trời lại mưa, và chúng tôi không còn lựa chọn nào khác đành phải dành cho họ một lễ mai táng ẩm ướt, sình lầy, kiểu mai táng có lẽ phù hợp với Eddie. Nhưng chứng kiến thi thể của Caroline biến mất trong đống nhơ nhớp đó khiến tất cả chúng tôi quặn lòng và ray rứt. Bố bị khó thở, tựa như có thứ gì đang chặn đường hô hấp của ông - có lẽ đó là trái tim ông.

***

Ba người chúng tôi lái xe về Bangkok trong im lặng, lạc trong một tâm trạng buồn thương có thể khiến mỗi nụ cười trong cuộc đời từ đó về sau trở nên ít chân thành hơn. Trên đường bố ngồi yên bất động, mặc dù ông tạo ra những tiếng động nho nhỏ để cho chúng tôi biết rằng từng phút còn lại trong cuộc đời ông sẽ là một cơn tra tấn không thể chịu đựng nổi. Tôi biết ông đang trách móc bản thân vì cái chết của dì, và không chỉ trách bản thân ông mà trách cả Terry nữa, vì ngay từ đầu đã phái Eddie đi, và không chỉ Terry mà còn vận mệnh, cơ hội, Chúa, nghệ thuật, khoa học, nhân loại, dải Ngân hà. Không thứ gì được miễn tội.

Khi chúng tôi trở về nhà Terry, chúng tôi rút về phòng của mình để suy ngẫm xem tim người có thể đóng sập lại nhanh thế nào và để tự hỏi làm cách nào chúng tôi có thể kéo nó mở ra trở lại. Chỉ hai ngày sau đó, bị khuấy động bởi vụ giết Caroline hoặc bởi con chó mực sủa inh ỏi trong đống phân của tim ông, hoặc vì thương khóc giúp làm bật ra suy nghĩ lý trí, hoặc có lẽ bởi vì ngay cả sau một đời suy ngẫm về cái chết, ông vẫn không hiểu nổi về sự không thể tránh khỏi của cái chết chính ông, mà bố đột ngột thoát khỏi tình trạng thôi miên do đau buồn và tuyên bố dự án cuối cùng của ông. Như Eddie đã dự báo, đó là dự án điên rồ nhất. Và sau một đời chứng kiến bố đưa ra hết quyết định bất khả thi này đến quyết định bất khả thi khác, và theo kiểu nào đó cũng là nạn nhân của từng quyết định, điều khiến tôi ngạc nhiên nhất là tôi vẫn còn có thể ngạc nhiên.

[58] Sodom và Gomorrah: Trong kinh thánh, đây là hai thành phố bị Chúa phá hủy vì những tội lỗi của cư dân ở đó.

[59] Doberman: một giống chó Đức.

[60] Rebel without a cause: Phim của đạo diễn Nicolas Ray, phát hành năm 1955. Vai chính là một thiếu niên nổi loạn do nam diễn viên James Dean đóng.

[61] Vegermite: Một loại thức ăn phổ biến của Úc, có màu nâu đậm, làm từ chiết xuất men, dùng để phết lên bánh mì.

« Lùi
Tiến »