Một mảnh trò đời

Lượt đọc: 9621 | 6 Đánh giá: 8,7/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
i.

Trên báo chí và các bản tin truyền hình đăng tải ngay sau cái chết của bố tôi, hầu hết đều nói về những năm từ đầu đến giữa thập niên 1990, giai đoạn diễn ra sự đi quá giới hạn tồi tệ nhất của cái gọi là cơn điên của ông ấy. Giai đoạn này không chỉ đáng lưu ý vì sự xuất hiện của Anouk Furlong (như cô ta được biết đến lúc đó) - người đàn bà giữ vai trò không nhỏ trong việc kích động sự suy sụp tinh thần của ông ấy - mà đây còn là những năm đầy ắp sự kiện, bao gồm các câu lạc bộ thoát y, nhà thương điên, phẫu thuật thẩm mỹ, các vụ bắt bớ, và những chuyện xảy ra khi bố tôi tìm cách giấu ngôi nhà.

Mọi việc đã diễn ra như thế này đây:

Một hôm không dưng không rằng bố phang một cú trời giáng vào tình trạng nghèo khổ yên ổn của chúng tôi: ông có việc làm. Ông làm thế vì tôi và không bao giờ thôi nhắc tôi nhớ đến điều này. “Bố có thể hút cạn bầu sữa phúc lợi xã hội nếu chỉ vì bản thân bố, nhưng như thế thì không đủ cho hai người. Con đã buộc bố gia nhập lực lượng lao động, Jasper ạ. Bố sẽ không bao giờ tha thứ cho con!”

Lại là Eddie tìm việc cho bố. Một năm sau khi bố trở về từ Paris, Eddie xuất hiện ở cửa căn hộ chúng tôi, điều đó làm bố ngạc nhiên, bởi đời ông chưa bao giờ có được một tình bạn keo sơn, càng không phải là tình bạn vượt qua các châu lục. Eddie đã rời khỏi Paris ngay sau khi chúng tôi đi và trở về Thái Lan trước khi dọn đến Sydney.

Giờ đây, mười một năm sau, ông ta đã lần thứ hai tìm cho bố tôi một việc làm. Tôi không biết công việc mới này có u ám và nguy hiểm tương tự như việc trước hay không. Thực ra thì, tôi chả quan tâm. Tôi mười hai tuổi, và lần đầu tiên trong đời tôi, bố ra khỏi nhà. Sự có mặt nặng trịch của ông đột nhiên được nhấc khỏi cuộc đời tôi, và tôi cảm thấy được tự do ăn bánh bột ngô nướng của mình mà không bị nghe lải nhải tại sao đàn ông là điều tồi tệ nhất từng xảy ra với nhân loại.

Bố làm việc suốt ngày, và không phải vì ông ở xa tôi nhiều giờ làm tôi thấy cô đơn (tôi đã cô đơn sẵn rồi), mà có gì đó không ổn trong chuyện này. Dĩ nhiên, chẳng có gì lạ khi các ông bố làm việc suốt ngày vì họ đem tiền lương về nhà, mà tiền lương thì không thể giấu trong phòng làm việc, mỏ than, hay công trường xây dựng, nhưng trong nhà chúng tôi có một điều bí ẩn liên quan đến số tiền này. Tôi bắt đầu nghĩ đến nó mỗi ngày. Tiền lương của chúng tôi nằm ở chỗ quái nào nhỉ? Tôi nghĩ thế vì các bạn tôi sống trong nhà riêng, không phải căn hộ, và tủ lạnh của bọn chúng lúc nào cũng đầy ắp thức ăn trong khi tủ lạnh của chúng tôi lại đầy ắp khoảng trống. Ngày nào bố cũng làm việc suốt ngày, kể cả cuối tuần, nhưng chúng tôi dường như chẳng có thêm nhiều tiền hơn so với lúc ông thất nghiệp. Không một xu. Một hôm tôi hỏi ông, “Tiền đâu hết cả rồi ạ?”

Ông đáp, “Tiền nào?”

Tôi bảo, “Tiền bố kiếm được từ chỗ làm ấy.”

Ông nói, “Bố đang dành dụm.”

Tôi hỏi, “Để làm gì?”

Ông nói, “Đó là một bất ngờ.”

Tôi nói, “Con ghét bất ngờ.”

Ông nói, “Con còn quá bé để ghét những chuyện bất ngờ.”

Tôi nói, “Thôi được, con thích những chuyện bất ngờ, nhưng con cũng thích được biết.”

Ông nói, “Ái dà, con không thể có cả hai được.”

Tôi đáp, “Con có thể, nếu bố nói cho con nghe rồi con quên đi.”

Ông nói, “Bố bảo cho con biết nhé. Bố sẽ cho con lựa chọn. Con có thể có sự bất ngờ, hoặc bố có thể nói với con bố đang dành dụm vì việc gì. Tùy con.”

Thật là nghiệt ngã. Cuối cùng, tôi quyết định chờ đợi.

Khi tôi chờ đợi, Eddie tiết lộ rằng bố đang quản lý một câu lạc bộ thoát y tên là Fleshpot ở King Cross. Một động thoát y? Bố tôi? Làm sao chuyện này xảy ra được? Và làm một nhà quản lý? Bố tôi? Làm thế nào mà Eddie có thể thuyết phục được các mối quen biết mờ ám của ông ta để thuê bố vào một vị trí như thế? Vị trí đòi hỏi trách nhiệm? Bố tôi? Tôi phải thấy tận mắt mới được.

Một buổi tối tôi len lỏi qua khu Cross, đi vào những con hẻm chẳng khác gì những bô tiểu công cộng dài thườn thượt, ngang qua những du khách Anh say khướt, vài gã nghiện mặt mày đờ đẫn, và một gã đầu trọc trông chừng mệt mỏi với chính tính cách của mình. Khi tôi bước vào quán bar, một mụ gái điếm sồn sồn đang la ó gì đấy về chuyện bú mút, chất giọng ỉ ôi của mụ ta đem lại cho chuyện đó hình ảnh buồn nôn của những đôi môi héo úa. Một tay bảo kê túm áo sơ mi tôi lên và siết cổ áo cho đến khi tôi nói với hắn rằng tôi đến đây để tìm bố tôi. Hắn để tôi vào.

Lần đầu tiên tôi vào một câu lạc bộ thoát y mà mục đích là để thăm người nhà.

Nó không như những gì tôi tưởng tượng. Những vũ công thoát y đang lắc lư thân hình của họ, không chút hào hứng, tưng lên nảy xuống theo điệu nhạc nhảy lặp đi lặp lại dưới ánh đèn lắp kính trước những người đàn ông mặc complet im thin thít với đôi mắt dâm đãng. Dĩ nhiên, tôi cảm thấy kích thích khi nhìn thấy quá nhiều thịt da mịn màng, mềm mại cùng một lúc, nhưng tôi không nổi hứng như tôi tưởng. Trong đời thật, hầu hết những cô gái khỏa thân ôm cột đều không khêu gợi như bạn nghĩ.

Tôi trông thấy bố đang quát vào điện thoại phía sau quầy bar. Khi tôi bước đến, ông cau mày chặn tôi lại.

“Con đang làm gì ở đây, Jasper?”

“Chỉ ngó nghiêng chút thôi.”

“Có thích những gì con thấy không?”

“Con đã thấy những thứ hay hơn.”

“Trong mơ à.”

“Không, trong phim.”

“Thôi con không được ở đây. Con chưa đủ tuổi.”

“Thực ra bố làm gì ở đây vậy?” tôi hỏi.

Ông cho tôi xem. Thật không dễ. Phải điều hành quán bar, và mặc dù có những cô gái khỏa thân lượn lờ ở phía trước, nó vẫn phải hoạt động như một quán bar thông thường. Ông cũng tuyển chọn các cô gái; họ đến và biểu diễn trước mặt ông. Cứ như ông biết rành về nhảy nhót lắm vậy! Hay là về phụ nữ! Và làm sao ông có thể chịu nổi, tất cả những sinh vật hấp dẫn dẻo quẹo cúi xuống, khoe ra những núi đồi và đường cong ám ảnh của họ ngày này qua ngày khác? Sinh lực tựa như một củ khoai tây nóng hổi, và trong khi những suy nghĩ vấy bẩn có thể khiến anh bị thiêu đốt trong địa ngục suốt đời suốt kiếp khi anh chết, thì ở đây trong cuộc đời này thứ khiến anh bị nướng chín rán vàng là sự bất lực của anh khi đứng trước chúng.

Dĩ nhiên, tôi không biết được tất cả. Biết đâu bố đã hưởng thụ thỏa thuê những dục vọng tưởng tượng của mình. Biết đâu ông đã ngủ với mọi vũ công ở đấy. Tôi không thể hình dung được nó, nhưng mà, đứa con trai nào lại làm được điều đó?

Hóa ra làm việc trong cái sào huyệt tội lỗi đáng yêu này là cách ông chọn để nuôi sống gia đình - tôi - và dành dụm. Nhưng để làm gì? Để giúp ngăn chặn sự tò mò của tôi, bố rút tài khoản ngân hàng của ông để mua cho tôi một món quà nhỏ: bốn con cá húp híp trong một cái chậu bé tí bẩn thỉu. Chúng trông giống như cá vàng, nhưng lại có màu đen. Chúng sống sót trong nhà chúng tôi được vỏn vẹn ba ngày. Rõ ràng chúng chết vì được cho ăn quá nhiều. Rõ ràng tôi đã cho chúng ăn quá nhiều. Rõ ràng cá là những con vật háu ăn khủng khiếp, tuyệt không có chút kiểm soát bản thân, không biết khi nào mình đã ăn đủ và sẽ nhồi nhét những mảnh tí xíu màu be vô hại được dán nhãn một cách giàu tưởng tượng là “thức ăn cho cá” vào mồm cho đến chết.

Bố không tham gia thương khóc cái chết của lũ cá với tôi. Ông quá bận rộn với các vũ công thoát y của mình. Với một người đã dành phần lớn cuộc đời lao động của mình không làm lụng gì cả, ông thực sự đang làm quần quật. Hóa ra tôi phải đợi hơn một năm để biết ông dành dụm tiền làm gì. Đôi khi thắc mắc về việc đó khiến tôi phát điên lên, nhưng tôi có thể kiên nhẫn ghê gớm khi tôi nghĩ rằng phần thưởng có lẽ đáng để được chờ đợi.

Nó thực sự không đáng để chờ đợi. Thực sự, không hề đáng.

***

Năm đó tôi mười ba tuổi. Một hôm tôi về nhà thì thấy bố đang giơ lên một tấm ảnh to tướng bóng lộn, chụp hình một cái tai. Đây, ông giải thích, chính là lý do ông dành dụm. Một cái tai. Một cái tai mới để thay thế cái bị sẹo trong trận hỏa hoạn đã thiêu rụi thị trấn và gia đình ông. Ông sắp đi đến một bác sĩ thẩm mỹ để tút lại bản thân. Vì cái này mà chúng tôi hi sinh? Thật là thất vọng. Một vụ thay da thì có gì hay ho đâu.

Bố nằm lại một đêm trong bệnh viện. Áp lực đối với tôi là phải mua hoa dù tôi biết ông sẽ không ngó ngàng đến chúng. Dù sao đối với tôi hoa lá luôn là món quà không phù hợp cho một người đang chịu đau đớn (sao không là một lọ thuốc giảm đau?), nhưng tôi cũng tìm mua một vài đóa hướng dương to. Ông chẳng ngó ngàng gì đến chúng. Tôi không quan tâm. Điều quan trọng là cuộc phẫu thuật đã thành công. Vị bác sĩ rất hài lòng, ông nói. Đấy là bí quyết cho anh: đừng bận tâm hỏi han bệnh nhân; chỉ phí thời giờ. Điều quan trọng là tìm hiểu xem bác sĩ cảm thấy thế nào. Và ông bác sĩ của bố thì đang ở trên chín tầng mây.

Tôi đã có mặt khi lớp băng được tháo ra. Thành thật mà nói, sự kì vọng đã lên đến mức độ khiến tôi trông đợi một thứ gì đấy to tát hơn: một cái tai khổng lồ có hai lớp như cái mở nút chai, hay một cái tai du hành thời gian góp nhặt những mẩu đối thoại trong quá khứ, hay là một cái tai chung lắng nghe cho tất cả những người đang sống, hay một cái tai của Pandora, hoặc một cái tai với một cái đèn đỏ nhỏ xíu sáng lên khi nó đang thu âm. Căn bản là, một cái tai kết thúc mọi cái tai. Nhưng nó không hề giống như vậy một chút nào. Nó chỉ là một cái tai bình thường.

“Nói vào đấy xem,” bố bảo. Tôi đi vòng qua phía bên thành giường và rướn người về kẻ mới đến.

“Xin chào. Kiểm tra. Kiểm tra. Hai. Hai. Hai.”

“Tốt. Nghe được rồi,” bố nói.

Khi xuất viện, bố đánh bạo ra ngoài đường để tự ngắm mình. Thế giới liền đáp ứng. Bố mất khả năng đi trên một đường thẳng. Từ A đến B giờ đây luôn phải qua kính chiếu hậu gắn ngoài trên những chiếc xe đang chạy qua, cửa sổ gian hàng, và những chiếc ấm bằng thép không gỉ. Khi bạn bị ám ảnh với ngoại hình của mình, bạn nhận ra có bao nhiêu bề mặt phản chiếu tồn tại trong vũ trụ này.

Một đêm nọ ông đến cửa phòng tôi và đứng đó, thở lớn tiếng.

“Có thích nghịch máy chụp ảnh của bố không?”

“Bố định chụp ảnh khiêu dâm à?”

“Tại sao bố lại chụp ảnh khiêu dâm chứ?”

“Đấy là chuyện giữa bố và người viết tiểu sử bố.”

“Bố chỉ muốn con chụp vài tấm ảnh cái tai của bố, để cho vào album.”

“Album tai á?”

“Thôi quên đi.” Bố đi thẳng đến hành lang.

“Đợi đã.”

Tôi cảm thấy tội nghiệp cho ông. Bố dường như không thể nhận ra bản thân mình. Bề ngoài của ông có thể dễ nhìn, nhưng bên trong đã thu nhỏ một kích cỡ. Tôi cảm thấy có chuyện chẳng lành trong việc này, như thể gắn thêm một cái tai mới thì ông sẽ thực sự phá vỡ một phần cơ bản của bản thân ông.

***

Ngay cả sau khi phẫu thuật, ông vẫn làm việc hằng ngày. Một lần nữa lại không có tiền. Một lần nữa cuộc sống chúng tôi lại không thay đổi.

Tôi nói, “Thôi được. Giờ thì bố đang làm gì với tiền nong đây?”

Ông đáp, “Bố lại dành dụm.”

Tôi nói, “Dành dụm để làm gì?”

Ông bảo, “Đó là một bất ngờ.”

Tôi nói, “Sự bất ngờ lần trước làm con tức chết.”

Ông bảo, “Cái này thì con sẽ thích.”

Tôi nói, “Nó nên xứng đáng.”

Nó không xứng đáng. Đó là một chiếc xe ô tô. Một chiếc xe thể thao màu đỏ bóng loáng. Khi tôi đi ra để xem xe, ông đang đứng cạnh nó, vỗ vỗ nó như thể nó vừa biểu diễn một trò hay. Thực lòng, nếu ông có vung tiền để quyên góp cho chính trị thì tôi cũng còn đỡ choáng hơn. Bố tôi? Một chiếc xe thể thao? Điên rồ quá! Đấy không chỉ là nông nổi, mà là nông nổi hết sức. Liệu có phải là để đánh lạc hướng không nhỉ? Có phải ông đang tuyên bố về sự tan rã không? Đó là một sự đầu hàng hay một sự chinh phục? Việc này sẽ chỉnh đốn phần nào trong con người ông? Có một điều đã rõ: ông đang phá vỡ những điều cấm kị của chính ông.

Thật khôi hài, cách ông bước vào chiếc xe thể thao đó, một chiếc MGB mui trần đời 1979. Sau đó, thắt dây vào ghế ngồi, ông tỏ vẻ sợ hãi như vị phi hành gia đầu tiên của thế giới.

Giờ thì tôi nghĩ đấy là một nỗ lực dũng cảm, một hành động mưu trí để tự vệ trước bản thân ông và những tiếng nói bên trong đang tìm cách phân loại ông. Bố trong chiếc xe thể thao đó là một người đang tái tạo bản thân từ bên ngoài. Một sự tái sinh có nguy cơ sảy thai.

“Con có đi không?”

“Đi đâu?”

“Ta đánh một vòng nào.”

Tôi lên xe. Tôi còn bé. Tôi không phải là người máy móc. Dĩ nhiên tôi thích chiếc xe. Tôi chết mê chết mệt nó. Nhưng có gì đó không ổn với chiếc xe này, như khi bạn vừa bước vào thì bắt gặp giáo viên nhà trẻ của mình đang thưởng thức một tiết mục nhảy khiêu dâm trên đùi.

“Tại sao bố lại mua cái này?” tôi hỏi ông.

“Tại sao?” Ông lặp lại, tăng tốc. Ông đang cố gắng bỏ lại bản thân mình phía sau trong bụi mù, tôi nghĩ, và ở mức độ nào đó tôi có thể nghe thấy gân khớp của sự tỉnh táo của ông đứt rời và rách toạc. Công việc của ông, những giờ làm việc đều đặn của ông, bộ complet của ông, cái tai mới của ông, và giờ là chiếc xe của ông: ông đang tạo ra căng thẳng không thể chịu nổi giữa các nhân cách. Sẽ phải trả giá bằng cái gì đó, tôi nghĩ, và nó sẽ không đẹp đẽ đâu.

II.

Rồi cái giá đã được trả. Nó không đẹp đẽ.

Chúng tôi đang ngồi trong một nhà hàng Trung Hoa đông đúc và bố đang gọi món gà nấu chanh.

“Gì nữa không ạ?” người phục vụ hỏi.

“Ít cơm và hóa đơn.”

Bố luôn muốn trả tiền trước khi ăn để ngay khi vừa nuốt xong, ông có thể đứng dậy đi. Ông không thể chịu nổi cảnh ngồi trong nhà hàng mà không ăn uống gì. Sự thiếu kiên nhẫn bủa vây ông. Thật không may, một số nhà hàng bất luận thế nào vẫn buộc anh phải trả tiền vào cuối bữa ăn. Khi rơi vào tình huống như vậy, bố lại đứng cạnh bàn ăn để cho thấy ông không còn muốn dính dáng gì với nó nữa. Rồi ông gọi hóa đơn như cầu xin được dung thứ vậy. Đôi khi ông mang đĩa của mình vào nhà bếp. Đôi khi ông vẫy tiền trước mặt người phục vụ. Đôi khi ông mở cửa quầy thu ngân, thanh toán hóa đơn, rồi tự lấy tiền thừa. Họ ghét như vậy.

Tối hôm nay bố ngồi tại một chiếc bàn cạnh cửa sổ và đang nhìn ra ngoài, khuôn mặt ông đặt ở chế độ “hiện thân của buồn chán”. Tôi ngồi đó, nhưng ông ăn một mình. Tôi đang tuyệt thực vì một nghĩa cử anh hùng nào đó mà giờ đây tôi không nhớ nổi, nhưng đây có thể là giai đoạn chúng tôi đi ăn ở ngoài trong liên tiếp tám mươi bảy đêm. Trước đây bố thường tự nấu ăn, nhưng đó là những ngày xưa cũ đã qua.

Cả hai chúng tôi đều nhìn ra ngoài đường vì nhìn thì cần ít nỗ lực hơn rất nhiều so với nói chuyện. Xe chúng tôi ở ngoài đấy, đỗ sau một chiếc xe tải trắng, và cạnh nó một đôi tình nhân đang vừa đi vừa cãi nhau. Cô gái đang kéo đuôi tóc của chàng trai còn gã thì cười. Họ đi thẳng đến chỗ cửa sổ và cãi cọ ngay trước mặt chúng tôi, như là đang diễn xuất vậy. Đó là một tiết mục trơ trẽn. Gã cúi người xuống với nụ cười toe toét trên mặt, cố làm cho cô ả thả tóc mình ra. Trông thật đau, khi tóc mình bị kéo như thế, nhưng gã không nín cười được. Dĩ nhiên, giờ thì tôi đã lớn hơn, tôi biết tại sao gã cứ phải cười sằng sặc như thế; tôi biết gã phải tiếp tục cười ngay cả khi cô ả kéo đứt cái đầu gã và ném nó vào rãnh nước rồi tiểu tiện lên nó và châm lửa đốt. Ngay cả khi nước tiểu cay xè chảy vào đôi mắt đã chết của gã, gã sẽ vẫn tiếp tục cười tủm tỉm, và tôi biết tại sao.

Món gà nấu chanh đã đến.

“Chắc là con không muốn ăn chút gì chứ?” bố hỏi, giọng cất cao vẻ châm chọc.

Mùi chanh nóng biến dạ dày và đầu óc tôi thành hai kẻ thù tinh thần. Bố ném cho tôi cái nhìn tự mãn và đắc thắng còn tôi tặng lại ông cái nhìn kiêu hãnh và ngạo nghễ. Sau năm giây căng thẳng, cả hai cùng nhanh chóng xoay đầu qua cửa sổ, như để lấy không khí.

Trên đường, cuộc cãi vã đang tạm dừng. Cô gái đang ngồi trên nắp đậy một chiếc Valiant đen; chàng trai đang đứng cạnh cô ta, hút thuốc. Tôi không nhìn thấy hai bàn tay cô ta vì cô ta đã kẹp chúng dưới hai cánh tay, nhưng tôi tưởng tượng chúng đang nắm những mảnh da đầu của gã. Sau đó tôi nghe thấy tiếng kim loại va leng keng. Có một bóng người ở phía sau, sau lưng đôi tình nhân, một người mặc áo trùm mũ màu đỏ, lom khom trên xe của bố. Áo mũ choàng đỏ chậm rãi di chuyển dọc theo chiếc xe. Thật khó xác định hắn định làm gì, nhưng có vẻ như hắn đang cào tróc sơn bằng một chiếc chìa khóa.

“Này, nhìn kìa!” tôi la lên, và chỉ cho bố cảnh ấy, nhưng thân hình lêu nghêu của ông đã bật dậy, chạy ra cửa. Tôi phóng ra khỏi ghế chạy theo ông. Đây sẽ là cảnh rượt đuổi đầu tiên của tôi trên đường phố Sydney. Đã có thêm nhiều cuộc như thế qua nhiều năm sau, và tôi không phải lúc nào cũng là kẻ đuổi theo, nhưng đây là cuộc đầu tiên, vì thế nó mãi đặc biệt trong trí nhớ của tôi.

Dáng chạy của chúng tôi không được đẹp, dĩ nhiên rồi; đúng hơn là chúng tôi chạy lảo đảo hết tốc lực, xuống con đường chính, suýt ngã nhào, đâm vào những đôi tình nhân đang rảo bước lơ đễnh về phía chúng tôi, đẩy bật họ ra. Tôi nhớ mình đã hát ư ử một điệu nhạc trong lúc chạy, một điệu nhạc tình báo. Chúng tôi tăng tốc xuyên qua thành phố như những kẻ bị bốc cháy. Mọi người nhìn theo tựa như họ chưa từng thấy người ta chạy bao giờ. Có lẽ họ chưa từng chạy bao giờ. Bên ngoài một rạp chiếu phim, các nam nữ doanh nhân chẳng phân biệt được ai với ai đứng như trời trồng khi chúng tôi chạy đến, như thể mét vuông vỉa hè này đã được tổ tiên của họ để lại cho họ vậy. Chúng tôi đẩy họ sang một bên trong lúc chạy qua. Vài người bọn họ la lên. Có lẽ họ cũng chưa từng bị chạm vào người bao giờ.

Gã mặc áo mũ đỏ có đôi chân nhanh như gió. Hắn bay qua một con đường đông đúc, luồn lách qua dòng xe cộ dày đặc. Tôi chỉ mới rời một chân khỏi vỉa hè thì tay bố đã chụp lấy cổ tay tôi và suýt chút nữa thì giật phăng nó ra.

“Cùng nhau nào,” ông nói.

Hãy cẩn thận trước hai bố con đang đuổi theo tên du côn bí ẩn mặc áo trùm mũ đỏ. Hãy cẩn thận trước hai kẻ nắm tay nhau trong lúc rượt đuổi. Chúng tôi rẽ qua một góc vào một con đường vắng. Sự có mặt của chúng tôi phần nào khơi sâu thêm sự vắng vẻ của nó. Tịnh không bóng người. Cảm giác như chúng tôi đã sẩy chân đến một vùng xa xôi hẻo lánh của thành phố. Chúng tôi ngừng một chút để thở. Tim tôi dội lên lồng ngực như một cái vai đang tìm cách quật đổ một cánh cửa gỗ.

“Trong đấy,” bố nói.

Ở giữa đường có một quán bar. Chúng tôi đi đến phía trước. Trên cửa sổ không có bảng hiệu. Rõ ràng quán bar này không có tên. Cửa sổ tối om và chúng tôi không thể nhìn thấy bên trong. Ánh sáng lờ mờ bên trong biến nó thành nơi nguy hiểm. Từ bên ngoài ta có thể nhận ra. Đó là nơi những kẻ bất chính lụi dao vào bất kì người nào hỏi thăm lúc ấy là mấy giờ, nơi những tên giết người hàng loạt đến để quên đi những rắc rối của chúng, nơi gái điếm và những đầu nậu ma túy trao đổi số điện thoại và lũ người tâm thần cười cợt về những khi bị nhầm lẫn với những người theo liệu pháp tự nhiên.

“Con có muốn chờ bên ngoài không?”

“Con sẽ vào.”

“Tình hình có thể trở nên tồi tệ đấy.”

“Con chẳng bận tâm.”

“Vậy thì được.”

Chỉ vài bước chân sau chúng tôi đã đến phòng treo áo khoác - chúng tôi thấy chiếc áo mũ đỏ treo lủng lẳng trên một cái móc, đung đưa như một điệu nhạc.

Có một ban nhạc trên sân khấu. Giọng ca sĩ nghe như cảm giác cắn vào giấy thiếc. Nhạc cụ máng trên tường, phía trên các chai rượu ở quầy bar - một chiếc violin, một chiếc accordion, một chiếc đàn guitar Hawaii. Trông giống như ở một cửa hiệu cầm đồ. Hai nhân viên pha chế rượu uể oải thỉnh thoảng dừng lại để rót cho mình một ly tequila. Bố gọi một ly bia cho ông, một ly nước chanh cho tôi. Tôi cũng muốn uống bia, nhưng chỉ được uống nước chanh. Cả cuộc đời tôi đều như thế cả.

Bố và tôi canh chừng phòng để áo khoác và mất vài giờ đoán xem gã đàn ông ấy là ai, nhưng anh không thể tìm ra một kẻ thủ ác trong căn phòng đầy những khuôn mặt cũng như không thể tìm ra một kẻ ngoại tình hay một kẻ ấu dâm. Người ta giữ bí mật của mình ở những nơi được che đậy, không phải trên khuôn mặt họ. Họ mang nỗi khốn khổ trên mặt. Cả sự cay đắng nữa, nếu có chỗ. Dù sao chúng tôi vẫn đoán nhăng đoán cuội, dựa trên cái gì, tôi cũng chả biết. Bố chọn một gã lùn vạm vỡ với chòm râu dê. Chính là hắn, bố chắc như đinh đóng cột. Tôi không đồng ý và chọn một gã có tóc dài màu nâu với cái miệng thâm tím xấu xí. Bố nghĩ gã trông giống như sinh viên, không phải người xấu. Vậy thì gã học cái gì nào?

“Kiến trúc,” bố đáp. “Mai này gã sẽ xây nên một cây cầu và nó sẽ sập.”

“Sẽ có người chết chứ?” tôi hỏi.

“Có, một nghìn người.”

Trong lúc tôi còn trầm ngâm trước con số một nghìn người chết, bố gọi một ly bia nữa và chú ý một phụ nữ có mái tóc vàng hoe và hàm răng lem son môi đang dựa lên quầy bar. Ông dành cho cô ả nụ cười số ba, kiểu cười thường dành riêng cho những lúc cần né bị phạt vì lái xe quá tốc độ. Cô ả nhìn sang bố mà không xoay đầu.

“Chào,” bố nói.

Như để trả lời, cô ta mồi một điếu thuốc lá, và bố nhích qua một chiếc ghế đẩu để tiến đến gần hơn.

“Cô thấy ban nhạc thế nào?” Ông hỏi. “Tôi không thích loại nhạc này lắm. Tôi mời cô một ly nhé? Cô thấy ban nhạc thế nào?”

Cô ta phá ra cười, nghe giống như giọng cười khùng khục vì nó không rời khỏi cổ họng cô ta. Sau tròn một phút mà chẳng có gì xảy ra, bố bắt đầu phát chán với việc nhìn cô ta, vì thế ông lỉnh về ghế của mình. Ông nốc một hơi cạn ly bia.

“Bố có nghĩ mình sẽ kết hôn không?” tôi hỏi.

“Bố không biết, anh bạn ạ.”

“Bố có muốn thế không?”

“Bố không chắc. Một mặt, bố không muốn suốt đời vò võ một thân một mình.”

“Bố không một thân một mình đâu. Có con đây.”

“Ừ, đúng vậy,” ông nói, mỉm cười.

“Còn mặt kia thì sao?” tôi hỏi.

“Cái gì?”

“Bố nói, ‘Một mặt, bố không muốn suốt đời cô đơn’.”

“À, ừ. Mẹ kiếp. Bố không nhớ nữa. Mất tiêu rồi.”

“Có lẽ chẳng có gì ở mặt kia.”

“Ừ, có lẽ.”

Tôi quan sát đôi mắt bố dõi theo cô ả tóc vàng khi cô ta rời quầy bar đến một bàn toàn phụ nữ. Cô ta hẳn đã nói gì đấy về chúng tôi, vì tất cả bọn họ đều nhìn sang, và trông có vẻ rõ ràng họ đang thầm nhổ nước bọt lên bố tôi. Bố giả vờ uống cái ly rỗng. Toàn bộ cảnh tượng này khiến tôi thấy phát ốm, vì vậy tôi xoay một mắt trở lại phòng treo áo khoác và mắt còn lại đến cái miệng giết người màu thâm tím thô lỗ của gã sinh viên kiến trúc. Tôi tưởng tượng gã ở trong một phòng làm việc trên cao, nhìn xuống một nghìn thi thể và những cánh tay màu bạc của cây cầu gãy.

Chiếc áo trùm mũ vẫn treo ở đấy, giết thời gian. Trời đã tối muộn. Tôi mệt mỏi. Mi mắt tôi muốn sụp xuống.

“Ta đi được chưa ạ?”

“Mấy giờ quán bar này đóng cửa?” bố hỏi các nhân viên pha chế rượu.

“Khoảng sáu giờ.”

“Đ. mẹ,” bố nói với tôi, và gọi thêm ly nữa. Rõ ràng ông sẽ không về nhà cả đêm nếu cần. Mà tại sao lại không chứ? Chẳng có ai ở nhà thức đêm để chờ đợi chúng tôi. Chẳng có vầng trán nào nhăn lại vì lo lắng. Chẳng có đôi môi nào chờ đợi để hôn chúng tôi trước khi đi ngủ. Chẳng có ai nhớ chúng tôi nếu chúng tôi không về nữa.

Tôi ngả đầu lên quầy bar. Có gì đó ẩm ướt và dinh dính dưới má tôi, nhưng tôi quá mệt mỏi không buồn nhúc nhích. Bố ngồi thẳng lưng trên ghế quầy bar, cảnh giác, nhìn phòng treo áo khoác. Tôi chìm vào giấc ngủ. Tôi mơ thấy một khuôn mặt trôi ra từ bóng đêm. Chẳng có gì ngoài một khuôn mặt. Khuôn mặt đang gào thét, trừ giấc mơ vẫn im lặng. Thật rùng rợn. Tôi tỉnh giấc với một chiếc khăn ẩm ở mũi.

“Làm ơn nhích cái đầu đi cho.”

Đó là nhân viên pha chế rượu đang lau quầy.

“Có chuyện gì vậy?”

“Tôi sắp đóng cửa.”

Tôi nếm thấy vị mặn. Tôi đưa tay lên lau mắt. Tôi đã khóc trong lúc ngủ. Điều này khiến tôi bối rối. Tôi không nhớ khuôn mặt đó có buồn bã hay không, chỉ nhớ nó rất đáng sợ. Nhân viên pha chế rượu ném cho tôi ánh nhìn như muốn nói hễ còn khóc trong lúc ngủ thì tôi chẳng thể làm đàn ông chân chính. Tôi biết gã nói thật, nhưng tôi có thể làm được gì chứ?

“Mấy giờ rồi?”

“Năm rưỡi.”

“Anh có thấy...”

“Ông ta ở đằng kia.”

Bố đang đứng cạnh phòng treo áo khoác, nhún đầu ngón chân. Tôi rướn cổ và thấy chiếc áo mũ đỏ vẫn treo ở đấy. Chỉ còn một nhúm người trong quán bar: gã có cái miệng thâm tím, một cô gái đầu trọc với gương mặt cau có, một gã có râu với khuôn mặt đầy những khoen móc, một cô gái người Hoa mặc bộ áo liền quần, và một gã có cái bụng phệ to nhất mà tôi từng thấy.

“Tôi đóng cửa đây,” nhân viên quán bar hét lên với họ. “Về nhà với vợ con các người đi.”

Câu nói đó khiến mọi người bật cười. Tôi chẳng thấy có gì hài hước trong câu nói ấy cả. Tôi đi đến và đứng chờ với bố.

“Con ngủ ngon không?” ông hỏi.

“Con thấy phát ốm.”

“Con bị sao vậy?”

“Bố định làm gì khi bố tìm thấy hắn?”

Bố ra dấu bằng chân mày của ông rằng ông thấy câu hỏi của tôi thật ngớ ngẩn. Những người khách bắt đầu ra về từng người một. Cuối cùng cô gái trọc đầu dựa vào quầy ở phòng treo áo khoác.

“Cái đấy của tôi,” cô ta nói, chỉ tay. “Cái màu đỏ.”

Đây chính là gã của chúng tôi - hay tôi nên nói là cô ả của chúng tôi. Thủ phạm. Kẻ phá hoại. Người trông coi đưa chiếc áo cho cô ta. Giờ thì sao đây?

“Xin chào,” bố nói.

Cô ta quay mặt sang bố. Chúng tôi có thể nhìn rõ cô ta. Cô ta có đôi mắt sáng màu xanh lục nằm trên khuôn mặt xương xẩu nhất mà tôi từng thấy. Tôi nghĩ cô ta nên tạ ơn Chúa vì đôi mắt đó; chúng là thứ xinh đẹp duy nhất trên người cô ta. Đôi môi cô ta mỏng, gần như không tồn tại. Khuôn mặt cô ta hốc hác và xanh xao. Nếu không có đôi mắt đó thì trông cô ta chẳng khác gì một lớp da màu trắng căng ra trên một chiếc xương sọ dài. Đôi mắt như lớp kính trong mờ. Bố lại nói xin chào lần nữa. Cô ta phớt lờ bố, dùng chân đá mở cửa, rồi đi bộ ra đường.

Bên ngoài, một cơn mưa phùn đang rơi xuống từ bầu trời màu vàng kim loại. Tôi không thể nhìn thấy nhưng tôi biết mặt trời đang ở quanh quẩn đâu đấy - cái ngáp của nó đã thắp sáng không khí. Tôi hít một hơi sâu. Chẳng còn nghi ngờ gì nữa, bình minh có mùi khác hẳn những thời khắc còn lại trong ngày; có một sự trong lành nhất định vào lúc bình minh, như lúc bạn cắn một cái vào đầu bó rau diếp rồi đặt nó vào tủ lạnh trở lại với đầu bị cắn nằm ở dưới để không ai phát hiện ra.

Cô gái đang đứng dưới mái hiên, mặc chiếc áo mũ trùm đỏ nổi tiếng của cô ta.

“Chào đằng ấy.” Giọng nói của bố chẳng ảnh hưởng gì đến cô ta. Tôi nghĩ hay là mình đằng hắng một tiếng, biết đâu có tác dụng. Quả thực thế. Đôi mắt sáng màu xanh của cô ta chiếu một đốm sáng lên bố và tôi.

“Ông muốn gì?”

“Cô cào xe tôi,” bố nói.

“Xe nào?”

“Xe của tôi.”

“Khi nào?”

“Tối nay, khoảng chín giờ kém mười lăm.”

“Ai bảo thế?”

“Tôi bảo thế,” bố nói, rồi bước một bước gần hơn đến chiếc áo mũ trùm đỏ với hai bóng đèn pha màu xanh lục. “Tôi biết đó là cô.”

“Cút xa tôi ra trước khi tôi gọi cảnh sát.”

“Hô hô, cô muốn gọi cảnh sát, phải không?”

“Phải đấy, có thể tôi sẽ làm thế, đồ trọc phú ạ.”

“Cô vừa gọi tôi là gì cơ?”

“Tôi gọi ông là đồ trọc phú, đồ trọc phú.”

“Mỗi lần cô mở miệng ra là cô đang buộc tội chính mình đấy. Tại sao cô nghĩ tôi là đồ trọc phú nếu cô chưa nhìn thấy xe tôi?”

Lý luận hay lắm, bố ạ, tôi thầm nghĩ. Cô ta đang chối tội đây mà.

“Bộ quần áo của ông trông như thứ mà một gã khốn nhà giàu thường mặc.”

Nói hay lắm, Mắt Xanh ạ. Cô ta chẳng kém cạnh bố đâu.

“Nói cho cô biết, tôi không phải đồ trọc phú,” bố nói.

“Tôi không quan tâm ông là cái gì.”

Buổi tối lố lăng này dường như đang đến hồi bế tắc. Bố đã khoanh tay lại và đang cố nhìn chòng chọc vào Mắt Xanh, nhưng cô ta cũng đã khoanh tay cô ta và đang nhìn trừng trừng lại bố với đôi mắt mở to đến độ chúng trăm phần trăm không có mí mắt. Thế là xong phải không? Ta về nhà bây giờ được chưa?

“Cô bao nhiêu tuổi?”

“Cút xéo đi.”

“Tôi chỉ muốn có hai điều từ cô.”

“Vậy thì, ông sẽ không có được chúng.”

“Tôi muốn một lời thú tội và một lời giải thích. Thế thôi.”

Đây chính xác là điều mà một người đàn ông độc thân có thể làm vào lúc năm giờ ba mươi sáng, tôi nghĩ - đây chính xác là lý do vì sao người ta có vợ chồng bạn gái bạn trai, để họ không cho phép mình trở nên lố lăng. Nhưng hãy để một gã đàn ông cô đơn trong một thời gian đủ lâu và sẽ chẳng có gì quái đản mà gã không làm. Một cuộc sống cô đơn sẽ làm suy yếu hệ miễn dịch của đầu óc, và não anh trở nên dễ bị tổn thương trước một cuộc tấn công của những ý nghĩ kì lạ. “Tôi muốn một lời thú tội và một lời giải thích,” bố lặp lại, và đặt tay lên vai cô ta như thể ông là một nhân viên an ninh đang làm giật mình một kẻ ăn cắp hàng hóa. Cô ta bắt đầu tru tréo, “Cứu tôi với! Cảnh sát đâu! Cưỡng hiếp!”

Rồi bố lại nảy ra một ý khó hiểu: ông cũng bắt đầu hét to gọi cảnh sát. Ông lấy cùi chỏ huých tôi. Ông muốn tôi tham gia. Tôi la hét cùng với hai người họ, la toáng lên cưỡng hiếp, la toáng lên gọi cảnh sát. Nhưng tôi không dừng ở đó. Tôi gọi cả đội Đặc nhiệm phản ứng nhanh nữa. Tôi gọi trực thăng. Tôi gọi Satan. Tôi gọi mặt đất nuốt chửng bầu trời. Điều đó khiến cô ta im lặng. Cô ta bước khỏi vỉa hè ra ngoài trời mưa. Bố và tôi bước xuống đường cạnh cô ta mà không nói gì. Thỉnh thoảng Mắt Xanh lại liếc nhìn tôi.

“Cậu đang làm gì với gã khốn kiếp này?” cô ta hỏi tôi.

“Tôi không biết.”

“Ông ta là bố cậu à?”

“Ông ta bảo thế.”

“Điều đó chẳng có ý nghĩa gì cả.”

“Này, kẻ phá hoại. Cô không được nói chuyện với nó. Cô còn phải thú tội đấy.”

“Ông không thể chứng minh được điều gì đâu, gã trọc phú ạ.”

“Tôi không thể á? Tôi không thể á? Ái chà, kẻ phá hoại, cô giấu trong túi một chiếc chìa khóa, phải không nào? Chỉ cần vài giây là một chuyên gia giám định pháp y có thể so sánh vết sơn trên chìa khóa của cô với vết sơn bị mất trên thành xe tôi thôi.”

Mắt Xanh lôi một chiếc chìa khóa từ túi ra và thả nó xuống một vũng nước.

“Ối, tôi hậu đậu quá,” cô ta nói, quỳ xuống cạnh vũng nước, chà chiếc chìa khóa, rồi lau nó trên tay chiếc áo khoác trùm mũ của cô ta. Cô ta cho chiếc chìa khóa vào túi trở lại. “Xin lỗi nhé, trọc phú,” cô ta líu lo.

Chúng tôi băng qua công viên Hyde Park trong lúc nó diễn ra quá trình chuyển đổi ánh sáng và màu sắc. Bình minh đang tan chảy thành những bóng râm của cây cối. Khi Mắt Xanh bước nhanh, bố nắm tay tôi và hối tôi nhanh chân lên. Lúc ấy tôi không hiểu được chuyện gì đang xảy ra. Giờ đây, nhìn lại quyết tâm của ông trong việc đuổi theo cô gái lạ này, có vẻ như ông đã phần nào hiểu được rắc rối mà cô ta sẽ gây ra cho tương lai chúng tôi, và ông sẽ không để cho cô ta luồn lách ra khỏi nó.

Khi chúng tôi đến đoạn đầu của công viên, đoán xem chúng tôi trông thấy ai đang lang thang ở Quảng trường Taylor? Mặt trời cam rực sáng sâu thẳm vĩ đại, chính là nó. Mắt Xanh mồi một điếu thuốc. Ba chúng tôi nhìn mặt trời mọc trong im lặng, và tôi nghĩ: Một ngày nào đó trái đất sẽ bị hút vào mặt trời ghê gớm đó, và tất cả những nhà hàng Trung Hoa và những cô gái tóc nhuộm vàng hoe và những quán bar tồi tàn và những người đàn ông độc thân và những kẻ phá hoại và những chiếc xe thể thao sẽ bị xóa sạch trong ánh sáng trắng xóa cực mạnh và mọi chuyện sẽ như thế. Đủ để nói, đó là một địa ngục bình minh. Tôi cảm thấy mình như một nhãn cầu trần trụi đang đứng đấy, một nhãn cầu có kích thước bằng một đứa bé trai, một nhãn cầu có hai tai và một mũi và một lưỡi và một nghìn sợi thần kinh thò ra ngoài như những sợi tóc chưa cắt chạm vào mọi thứ. Tôi cảm thấy tất cả các cảm giác cùng một lúc, và đó là một cảm giác thật tuyệt.

Đột nhiên tôi thấy vui vì chẳng có ai ở nhà thức khuya để chờ chúng tôi. Những ông bố và những thằng con trai bình thường không thể la cà cả đêm ngoài đường để ngắm mặt trời mọc nếu có một bà vợ và người mẹ nhăn nhó bên cánh cửa sổ mở toang, ngón tay xương xẩu dài ngoằng lơ lửng trên nút quay số nhanh đến cảnh sát. Tôi quay sang bố và nói, “Thật tốt là bố sống một mình.”

Không nhìn vào tôi, ông nói, “Bố đâu có một mình. Con ở đây mà.”

Tôi cảm thấy Mắt Xanh đang nhìn tôi chòng chọc, trước khi cô ta dán mắt vào bố. Rồi cô ta bước đi. Chúng tôi theo cô ta lên đường Oxford rồi vào đường Riley. Chúng tôi theo cô ta đến một ngôi nhà có mái hiên ở Surry Hills. “Cám ơn đã tiễn tôi về nhà nhé trọc phú. Giờ thì ông biết tôi sống ở đâu rồi. Giờ ông cũng biết bạn trai tôi sống ở đâu rồi. Anh ấy sẽ sớm về nhà và sẽ nấu chín ông. Vì vậy khôn hồn mà biến đi!” cô ta hét to. Bố ngồi dưới mái hiên trước và đốt một điếu thuốc.

“Chúng ta về nhà bây giờ được chưa ?” tôi nài nỉ.

“Chưa đâu.”

Khoảng hai mươi phút sau, Mắt Xanh quay trở ra, mặc quần thể thao và một chiếc áo ba lỗ màu màu vàng. Cô ta đang cầm một bình nước có một thứ gì nổi trong đó. Nhìn kĩ, đó là một miếng băng vệ sinh dạng ống đã dùng xong, đang nổi trong bình nước. Một dòng máu mỏng đan qua nước, tan thành những lớp màu đỏ huyền bí.

“Cô định làm gì với thứ đó?” bố hỏi, kinh ngạc.

“Bình tĩnh đi nào trọc phú. Tôi chỉ định tưới cây thôi.”

Cô ta lắc chiếc nút trong bình nước rồi đổ nước đỏ lên những thứ giống như cây cần sa trồng trên đường ray.

“Thật bệnh hoạn,” bố nói.

“Từ cơ thể này tôi đem lại sự sống,” cô ta đáp.

“Tại sao cô cào xe của tôi?”

“Bực mình,” cô ta nhổ nước bọt; rồi, quay sang tôi, “Cậu có muốn uống gì không?”

“Không, nếu nước lấy từ bình đó.”

“Không phải, từ tủ lạnh kia.”

“Chị có gì?”

“Nước lọc hoặc nước cam ép.”

“Cho tôi nước cam ép.”

“Đừng cho bố cậu uống nhé. Cho ông ta chết khát luôn.”

“Tôi hiểu mà.”

Tay của bố vỗ vào phía sau đầu tôi. Này! Tại sao tôi lại không được nói những điều ngu ngốc chứ? Tôi mệt mỏi và xấu hổ và chán ốm. Tại sao bố không mệt mỏi và xấu hổ và chán ốm? Chúng tôi đang làm một chuyện quái đản, la cà bên ngoài mái hiên của một người lạ chờ đợi một lời thú tội.

Cánh cửa trước lại mở ra. “Giờ thì nhớ điều chúng ta đã nói nhé,” cô ta nói, đưa tôi một ly nước cam ép.

“Tôi sẽ không cho ông ấy một giọt,” tôi hứa.

Cô ta mỉm cười thân thiện. Tay kia của cô ta đang cầm một chiếc túi thể thao màu đen. Cô ta quỳ xuống cạnh bố rồi mở túi ra. Bên trong là những phong bì và thư từ. “Nếu ông định bám theo tôi, thì cũng có thể làm cho bản thân trở nên có ích. Cho mấy cái này vào phong bì.”

Bố nhận lấy những chiếc phong bì không nói một lời. Ông tỉnh khô và bắt đầu liếm các phong bì như thể đó là việc tự nhiên nhất trên thế giới, liếm phong bì ở mái hiên của một người lạ, lưỡi ông làm việc như đó là lý do để một cái lưỡi tồn tại, lý do để chúng tôi đi cả một chặng đường đến đây, lúc sáu giờ sáng.

“Còn cậu thì sao, cậu bé, cậu có muốn giúp bọn tôi không?”

“Tên tôi là Jasper.”

“Cậu muốn liếm vài cái phong bì không, Jasper?”

“Không hẳn, nhưng được thôi.”

Ba chúng tôi ngồi trên thềm nhà, nhét thư vào những chiếc phong bì với sự khéo léo và chuẩn xác. Thật không thể giảng giải chính xác chuyện gì đang xảy ra ở đây; cứ như tất cả chúng tôi đều là sinh viên điện ảnh đang ngẫu hứng một vở kịch sinh viên, và không ít lần chúng tôi nhìn nhau không giấu được cảm giác tức cười.

“Cô được trả bao nhiêu tiền để làm việc này?” Bố hỏi.

“Năm đô la cho một trăm cái phong bì.”

“Thế cũng không tốt lắm nhỉ.”

“Ừ, không tốt.”

Khi cô ta nói câu này, tôi để ý thấy khuôn mặt nghiêm trọng, căng thẳng của cô ta đã trở nên thanh bình và dịu dàng.

Tôi hỏi, “Tại sao chị lại ghét người giàu như vậy?”

Cô ta nhíu đôi mắt xanh và nói, “Vì họ có tất cả những giờ phút thư giãn. Vì người nghèo đang vật vã trong khi người giàu than phiền về nhiệt độ trong hồ bơi của họ. Vì khi người bình thường gặp rắc rối, luật pháp xử đẹp bọn họ, và khi người giàu gặp rắc rối, họ dễ dàng thoát được.”

“Có thể tôi không giàu,” bố nói. “Có thể tôi có một chiếc xe thể thao màu đỏ nhưng đó là thứ có giá trị duy nhất mà tôi sở hữu.”

“Ai thèm quan tâm đến ông chứ?”

“Con trai tôi.”

“Thật thế không?” cô ta hỏi tôi.

“Chắc vậy.”

Có cái gì đó không suôn sẻ lắm về cuộc đối thoại này. Dường như ngôn ngữ đã từ bỏ chúng tôi đúng vào lúc chúng tôi cần nó nhất.

“Chúng tôi cần một người trông nhà,” bố đột nhiên nói. Lưỡi của Mắt Xanh đóng băng lại giữa chừng trong lúc đang liếm.

“Thế à?”

“Ừ, thế đấy.”

Mắt Xanh đặt những chiếc phong bì xuống và khuôn mặt cô ta lại đanh lại. “Tôi không biết mình có muốn làm việc cho một gã khốn nhà giàu hay không.”

“Tại sao không?”

“Vì tôi ghét ông.”

“Thì sao?”

“Thì như thế sẽ là đạo đức giả.”

“Không, không có đâu.”

“Không có à?”

“Không, như thế sẽ là nực cười.”

Mắt Xanh nghĩ ngợi một lúc về việc đó, và đôi môi cô ta bắt đầu mấp máy, để cho chúng tôi biết cô ta đang suy nghĩ về chuyện này. “Tôi có bạn trai rồi, ông biết đấy.”

“Điều đó có khiến cô không lau nhà được không?”

“Vả lại ông quá già và quá xấu đối với tôi. Tôi sẽ không ngủ với ông.”

“Nghe đây. Tôi chỉ đang tìm một ai đó để lau dọn căn hộ của chúng tôi và thỉnh thoảng nấu ăn cho Jasper và tôi. Mẹ của Jasper chết rồi. Tôi làm việc suốt ngày. Tôi không có thời gian nấu ăn. Vả lại, nói cho rõ, tôi không quan tâm đến cô theo nghĩa tình dục đâu. Cái đầu trọc của cô khiến cô trông có vẻ hơi giống đàn ông. Vả lại khuôn mặt của cô hình trái xoan. Tôi chỉ thích mặt tròn thôi. Mặt trái xoan làm tôi mất hứng. Cứ hỏi bất kì người nào mà xem.”

“Có thể tôi sẽ làm.”

“Vậy cô muốn công việc đó chứ?”

“Được thôi.”

“Tại sao cô cào xe của tôi?”

“Tôi không cào xe của ông.”

“Cô là một kẻ nói dối.”

“Ông là một gã dị hợm.”

“Cô đã được nhận vào làm.”

“Tốt.”

Tôi nhìn bố với ánh mắt kì lạ trên mặt ông, như thể chúng tôi đã đi rừng suốt đêm để đến một thác nước bí mật và nó là đây. Chúng tôi tiếp tục với những chiếc phong bì khi bình minh chuyển thành buổi sáng.

***

Đêm đầu tiên Anouk đến để nấu ăn và dọn dẹp, cô ta bối rối đến nực cười; cô ta cứ nghĩ đó là một căn nhà rộng rãi của một người giàu có, không ngờ lại bước vào căn hộ nhỏ bé và đáng tởm của chúng tôi, nó đang thối rữa như đáy một con tàu cũ. Sau khi nấu bữa tối cho chúng tôi, cô ta hỏi, “Làm sao hai người sống như thế này được? Hai người là lợn. Tôi đang làm việc cho lợn,” và bố bảo, “Có phải vì vậy mà cô nấu cho chúng tôi thứ tởm lợm này không?” Cô ta nổi điên, nhưng vì những nguyên nhân mà tôi không bao giờ hoàn toàn hiểu nổi (lúc đó những việc khác để làm mà), cô ta quay lại tuần này sang tuần khác, trở lại với chúng tôi luôn luôn kèm theo nỗi mệt mỏi và sự bất đồng nóng nảy và một khuôn mặt trông như vừa mới mút một rổ chanh. Cô ta đi vào, kéo rèm ra và ném ánh sáng vào góc nhà xó xỉnh của chúng tôi, và khi cô ta bước lên những quyển sách mượn thư viện quá hạn trả lại của bố, đang nằm phủ một lớp trên sàn nhà, cô ta nhìn tôi dò xét, như thể tôi là một con tin mà cô ta đang cân nhắc thả ra.

Thoạt đầu Anouk đến trong vài giờ vào các ngày thứ hai và thứ sáu, song thời khóa biểu dần dần thay đổi và cô ta bắt đầu đến vào bất cứ khi nào cô ta thích, không chỉ để nấu ăn và dọn dẹp mà thường còn để ăn và bày bừa. Cô ta thường xuyên ăn với chúng tôi, tranh luận với chúng tôi liên tục, và giới thiệu cho tôi biết một loại người mà tôi chưa từng gặp trước đó: một người cánh tả, yêu nghệ thuật, tự nhận là “con người tâm linh”, kẻ chọn cách truyền đạt những ý nghĩ hiền lành về hòa bình, lòng yêu thương và thiên nhiên bằng cách hét vào mặt bạn.

“Ông biết vấn đề của ông là gì không, Martin?” cô ta hỏi bố vào một đêm nọ sau khi ăn tối. “Ông chọn sách thay vì cuộc sống. Tôi nghĩ sách không thể làm vật thay thế cho cuộc sống được, ông biết đấy. Chúng giống như một phần bổ sung hơn.”

“Cô biết cái gì về nó chứ?”

“Tôi biết khi tôi thấy có người không biết cách sống.”

“Chứ cô thì biết à?”

“Tôi có vài nhận xét.”

Theo quan điểm của cô ta, bố và tôi là những vấn đề cần được giải quyết, và cô ta bắt đầu bằng cách cố gắng biến chúng tôi thành người ăn chay, diễu hành những hình ảnh về các con vật bị cắt xẻo đang kêu gào trước mặt chúng tôi trong khi chúng tôi đang chén ngon lành món thịt nướng thơm ngon. Khi việc đó bất thành, cô ta lén lút cho chất thay thế thịt vào món ăn của chúng tôi. Và không chỉ có thức ăn; Anouk bày biện mọi hình thức tâm linh như một gã người Đức: liệu pháp nghệ thuật, tái sinh, massage liệu pháp, các loại dầu có mùi kì lạ. Cô ta đề nghị chúng tôi đi massage bằng hương liệu. Cô ta lôi chúng tôi đến những vở kịch mơ hồ đáng ngờ, trong đó có một vở mà các diễn viên quay lưng ra khán giả trong suốt buổi diễn. Sự thể giống như một kẻ điên đang nắm giữ chìa khóa vào bộ não của chúng tôi, nhồi nhét mọi thứ vào trong, như pha lê, ống khói và những tờ rơi quảng cáo bài giảng của một chuyên gia Gucci cánh tả bí ẩn đang lên, hết thứ này đến thứ khác. Đó là khi cô ta bắt đầu, với sự khẩn cấp tăng dần, đánh giá bằng giọng phê phán lối sống của chúng tôi.

Mỗi tuần cô ta kiểm tra một góc mới trong cuộc sống ngột ngạt của chúng tôi rồi cho chúng tôi một bản nhận xét. Đó chưa bao giờ là một lời khen. Chúng tôi chưa bao giờ được tặng cho biểu tượng “số một” bằng ngón cái. Các ngón cái luôn chĩa xuống ống cống. Sau khi cô ta phát hiện ra rằng bố đang quản lý một câu lạc bộ thoát y, các bản đánh giá trở nên nghiêm trọng, bắt đầu từ bên ngoài và xoáy vào bên trong. Cô ta chỉ trích thói quen của chúng tôi khi giả giọng nói của nhau trên điện thoại, và cái cách mà, mỗi khi có tiếng gõ cửa, cả hai chúng tôi đều sợ hãi đến cứng người như thể chúng tôi đang sống dưới chế độ độc tài và điều hành một tờ báo hoạt động bí mật. Cô ta chỉ ra rằng sống như những sinh viên nghệ thuật trong khi bố có một chiếc xe thể thao đắt tiền là điên rồ hết chỗ nói; cô ta bắn hạ thói quen của bố là hôn sách mà không hôn tôi, cũng như cái cách mà ông có thể đi hàng tuần lễ mà không đoái hoài gì đến sự tồn tại của tôi, rồi đến những tuần mà ông không cho tôi lấy một giây phút bình yên. Cô ta xổ tung mọi thứ, từ cách bố ngồi rũ rượi trên ghế, đến việc ông dành ra một giờ đồng hồ để cân đo đong đếm mặt lợi và mặt bất lợi của việc đi tắm, đến cách ăn mặc dị hợm của ông (Anouk chính là người đầu tiên phát hiện ra bố mặc pijama bên trong bộ complet), đến cách cạo râu lười nhác của ông, làm cho những chùm râu mọc thành những cụm lung tung trên mặt.

Có lẽ vì giọng nói lạnh lùng, xem thường của cô ta, nhưng thường thì bố chỉ ủ rũ nhìn vào ly cà phê của ông trong lúc cô ta công bố bản báo cáo chết tiệt mới nhất của mình từ những dòng đầu tiên. Dù vậy, kiểu trách mắng gây hoang mang và tổn thương nhất của cô ta chính là khi cô ta chỉ trích kiểu chỉ trích của bố; điều đó khiến ông điên lên. Bạn xem, ông đã dành gần trọn cuộc đời mài giũa sự khinh khi của ông dành cho người khác và đã gần như hoàn thiện bản kết án “có tội” với cuộc đời thì Anouk bước vào và san bằng nó. “Ông biết vấn đề của ông là gì không?” cô ta thường nói thế (đó luôn là cách cô ta mở đầu câu chuyện). “Ông ghét bản thân mình và do đó ông ghét những người khác. Chẳng qua chỉ là ghen ăn tức ở thôi. Ông quá bận bịu đọc sách và suy nghĩ về những chuyện lớn lao. Ông không quan tâm đến những điều nhỏ nhặt trong cuộc sống, và như thế nghĩa là ông coi thường bất kì ai quan tâm đến những điều nhỏ nhặt ấy. Ông chưa bao giờ phấn đấu như họ đã phấn đấu, bởi vì ông chưa bao giờ quan tâm như họ đã quan tâm. Ông đâu có biết người ta trải qua chuyện gì.” Thường khi cô ta lý sự, bố lại im lặng một cách kì lạ, và ông hiếm khi đứng dậy bào chữa cho mình.

“Ông biết vấn đề của ông là gì không?” cô ta hỏi bố sau khi bố kể cho cô ta nghe chuyện đời ông vào một buổi chiều nọ. “Ông đang xào lại những suy nghĩ cũ rích của mình. Ông có nhận ra điều đó không? Ông đang trích dẫn lại chính ông, người bạn duy nhất của ông là một kẻ bợ đỡ bẩn thỉu” - Eddie - “kẻ đồng ý với mọi thứ ông nói, và ông không bao giờ trình bày những suy nghĩ của ông tại một diễn đàn nơi chúng có thể bị thách thức, ông chỉ nói chúng với chính mình và sau đó tán thưởng bản thân khi ông đồng tình với điều ông nói.”

Cô ta huyên thuyên không ngừng như thế, và trong những tháng tiếp theo, khi tôi khó nhọc gượng ép mình vào tuổi trưởng thành và mối quan hệ giữa tôi với bố suy yếu đi mỗi ngày, như thể nó bị bệnh loãng xương, Anouk không chỉ đổ axit vào toàn bộ suy nghĩ, hi vọng, và lòng tự tôn của ông ấy, cô ta cũng nhằm cả vào tôi. Cô ta chính là người bảo tôi rằng tôi chỉ đủ trông được mắt để hấp dẫn khoảng 22% dân số nữ. Tôi nghĩ đó là một con số ảm đạm, thật sự rất tồi tệ. Chỉ đến khi tôi có khả năng nhận diện sự cô đơn trên khuôn mặt bọn đàn ông, tôi mới nhận ra rằng hấp dẫn với 22% phụ nữ là một câu chuyện thành công vượt bậc. Có vô số kẻ tâm thần xấu xí, cô đơn cùng cực, lạc lõng một cách vô vọng ở ngoài kia nằm trong nhóm 0-2% - hàng đội quân những người như thế - và từng người một sẵn sàng giết người để được 22% của tôi.

Ồ, và cô ta cũng nhiếc móc tôi vì đã phớt lờ mẻ cá thứ hai.

Bạn biết đấy, tài khoản ngân hàng của bố lại phình ra rồi, và không nản lòng trước vụ án giết cá (hay tự sát?) lần trước, ông lại mua thêm ba con cá nữa, lần này chỉ là cá vàng, như thể ông nghĩ rằng việc nuôi cá trải qua những cấp độ khó khăn tùy thuộc vào loại cá, và thảm họa lần trước xảy đến là vì ông đã mua phải những con cá quá khó so với trình độ của tôi. Với ông, cá vàng là giống cá đã trải bao phen trầy vi tróc vẩy: bất tử, không thể tiêu diệt.

Ông đã sai. Cuối cùng tôi cũng đã tống khứ lũ cá đó khá dễ dàng, dù lần này là vì cho ăn quá ít. Chúng chết đói. Nhưng chúng tôi đã tranh cãi với nhau tận đến lúc và kể cả ngày bố chết về chuyện đó là lỗi của ai. Tôi đến ở nhà đứa bạn tên Charlie một tuần, và tôi thề có Chúa, lúc rời khỏi căn hộ tôi đã nói với bố, “Đừng quên cho cá ăn.” Bố nhớ khác hẳn, và trong phiên bản của ông, khi rời khỏi căn hộ thực ra tôi đã nói, “Được rồi, tạm biệt.” Dù gì đi nữa, vào thời điểm nào đó trong sự vắng mặt dài cả tuần của tôi, lũ cá lăn ra chết vì đói và, không như con người trong cùng hoàn cảnh, chúng lại không nghĩ đến cách ăn thịt đồng loại. Chúng chỉ để phí bản thân chúng.

Anouk đứng về phe bố trong việc này, và tôi chú ý thấy thời điểm duy nhất bố tận hưởng được lợi ích của việc đình chiến là khi ông có thể lập thành một phe với Anouk chống lại tôi. Tôi phải công nhận, mối quan hệ của họ làm tôi rối trí. Họ là một đôi đũa lệch, tựa như một giáo sĩ và một người nuôi chó bull cùng bị bỏ lại trên hoang đảo; những kẻ xa lạ lệch pha bị ném vào nhau trong thời buổi khủng hoảng, chỉ có điều cuộc khủng hoảng của bố và Anouk là một cuộc khủng hoảng vô danh không có mở đầu hay kết thúc.

***

Một năm sau khi cô ta làm việc cho chúng tôi, bố nhận được một cuộc điện thoại bất ngờ.

“Anh đùa đấy à,” ông nói. “Chúa ơi, không. Tuyệt đối không. Trừ phi anh cưỡng hiếp và tra tấn tôi. Bao nhiêu tiền một vụ? Chà, thế thì được thôi. Vâng, vâng, tôi đã bảo vâng rồi phải không? Khi nào thì tôi bắt đầu?”

Đó là tin tốt! Một công ty làm phim Mỹ đã nghe nói đến chuyện của Terry Dean và muốn dựng nó thành một phim bom tấn Hollywood. Họ muốn bố giúp đỡ để đảm bảo tính chính xác, dù họ lấy bối cảnh ở Mỹ với cốt truyện là một cầu thủ bóng chày trở về từ địa ngục để trả thù những đồng đội của mình vì đã đánh gã đến chết.

Thế là xem ra bố có thể kiếm khối tiền từ trí nhớ của ông, nhưng tại sao lại là lúc này? Đã từng có một vài bộ phim sai be bét của Úc dựa trên câu chuyện này, và bố đã từ chối hợp tác với bất kì ai trong số bọn họ. Tại sao lần này lại đầu hàng, lại đột nhiên sẵn sàng bóc lột cái chết riêng tư của ông? Đó lại là một dấu hiệu nữa trong hồi chuông cảnh báo về sự thay đổi thái độ đột ngột, cho phép một nhà biên kịch đưa ra tờ ngân phiếu đẹp đẽ, đổi lại được bóc những lớp vảy khỏi não của bố để xem bên dưới là gì. Anouk, với biệt tài phi thường nhìn ra chân tướng sự việc, nói, “Ông biết vấn đề của ông là gì không? Ông đang sống trong cái bóng của em trai mình,” và khi nhà biên kịch hai mươi ba tuổi nhai kẹo cao su vui vẻ bước vào căn hộ vào tuần sau đó, gã chỉ mới nói, “Vậy, hãy kể cho tôi nghe Terry Dean lúc bé như thế nào,” bố đã túm lấy tay áo gã và nhiệt tình tống gã ra khỏi cửa với chiếc laptop nối gót theo sau. Sau một lần hầu tòa, “việc làm” mới này khiến ông mất trắng 4.000 đô la và bị lên báo ngoài ý muốn. “Ông biết vấn đề của ông là gì không?” Anouk nói đêm hôm ấy. “Ông là một gã cuồng tín, nhưng ông cuồng tín về mọi thứ. Ông không thấy sao? Ông đang dàn trải sự cuồng tín của ông ra quá mỏng.”

Nhưng bạn có muốn biết vấn đề thực sự của chúng tôi là gì không? Bạn không thể thả trôi một cách sung sướng theo đám bụi mù khi có người đứng cạnh bên bạn và quát tháo: Đó là tham lam! Đó là tự cao! Đó là lười biếng! Đó là thói quen! Đó là bi quan! Đó là ghen ăn tức ở! Đó là đố kị! Anouk đang lấp lại cho đầy thói quen thâm căn cố đế của bố con chúng tôi là đi lững thững và thở khò khè một cách miễn cưỡng quanh căn hộ khép kín của mình. Cách tiến lên duy nhất mà chúng tôi biết là nặng nhọc bước về phía những tham vọng nhỏ mọn của mình và thở hổn hển để gây chú ý. Còn Anouk lạc quan bất tận thì muốn biến những sinh vật như chúng tôi thành những kẻ siêu phàm! Cô ta khát khao muốn chúng tôi trở nên ân cần, tốt bụng, chu đáo, có đạo đức, mạnh mẽ, có lòng trắc ẩn, yêu thương, không ích kỉ, và can đảm, và cô ta không chịu bỏ cuộc, cho đến khi chúng tôi rơi từ từ vào thói quen đáng tiếc là để ý việc mình làm và điều mình nói.

Sau nhiều tháng trời cô ta làm chúng tôi phát chán và lây cái chán cho chúng tôi, chúng tôi không còn dùng túi nhựa nữa, và hiếm khi ăn cái gì có máu; chúng tôi kí vào các đơn thỉnh nguyện, tham gia các cuộc biểu tình không kết quả, hít khói nhang, bẻ cong người trong những tư thế yoga khó khăn - đều là những bước tiến đáng giá lên ngọn núi mang tên cải thiện bản thân. Nhưng cũng có những thay đổi nhố nhăng, những quả chì ném sâu xuống hẻm núi. Vì Anouk, chúng tôi sống trong nỗi sợ hãi chính bản thân mình. Kẻ nào là người đầu tiên cho rằng hiểu biết bản thân đồng nghĩa với thay đổi thật là chẳng biết tôn trọng điểm yếu của con người tí nào, và nên bị tìm ra và cắn cho đến chết. Tôi sẽ nói với bạn tại sao: Anouk nêu bật những vấn đề của chúng tôi song lại chẳng có khả năng hay tài nghệ nào để giúp chúng tôi sửa chữa chúng. Chúng tôi dĩ nhiên càng không biết. Vậy là nhờ Anouk, chúng tôi không chỉ mắc kẹt vào mớ bòng bong rắc rối nan giải vốn có của mình, mà giờ đây chúng tôi còn nhận thức cao độ về chúng. Điều này, đương nhiên, đã dẫn đến những rắc rối mới.

III.

Có điều gì đó thực sự không ổn với bố tôi. Ông đang khóc; ông ở trong phòng của mình và khóc. Tôi nghe được tiếng ông nức nở qua bức tường. Tôi nghe được tiếng ông đi đi lại lại trong phòng. Tại sao ông lại khóc? Tôi chưa bao giờ nghe ông khóc trước đây; tôi nghĩ ông không biết khóc. Giờ thì nó diễn ra mỗi buổi tối sau giờ làm việc và mỗi buổi sáng trước khi đi làm. Tôi cho đó là điềm xấu. Tôi cảm thấy tiếng khóc của ông mang tính tiên tri - không phải cho chuyện đã xảy ra mà cho chuyện sắp tới.

Trong lúc nức nở ông nói chuyện với mình. “Căn hộ chết tiệt. Nhỏ tí ti. Chẳng thở nổi. Đúng là nhà mồ. Phải gây chiến thôi. Mình là ai? Làm sao mình định nghĩa được bản thân? Lựa chọn là vô biên và vì thế bị giới hạn. Sự tha thứ được mô tả dài dòng trong Kinh thánh, nhưng không có đoạn nào nói ta phải tha thứ cho bản thân. Terry không bao giờ tha thứ bản thân nó, và ai cũng yêu thích nó. Mình tha thứ bản thân mỗi ngày, và chẳng có ai yêu thích mình. Tất thảy chuyện này thật đáng sợ và khiến mình mất ăn mất ngủ. Mình không thể dạy cho não mình ngủ được. Sự bối rối của mày dạo này thế nào? Nó đang tăng cân.”

“Bố?”

Tôi đẩy cửa hé mở, và trong bóng tối khuôn mặt ông trông thật dữ dội, đầu ông trông như một chiếc bóng đèn trơ trọi treo trên trần nhà.

“Jasper. Giúp bố một việc nhé. Hãy giả vờ con là trẻ mồ côi.”

Tôi đóng cửa, đi về phòng mình, và giả vờ là một đứa trẻ mồ côi. Cũng không đến nỗi tệ.

Rồi, cũng đột ngột như lúc bắt đầu, tiếng khóc nín bặt. Bỗng nhiên ông bắt đầu đi ra ngoài vào buổi tối. Việc này thật mới lạ. Ông đi đâu? Tôi bám theo ông. Ông đi như nhún trên đường và vẫy tay với mọi người khi đi ngang qua họ. Họ không vẫy đáp lại. Ông dừng lại tại một quán rượu nhỏ, đông đúc. Tôi nhìn trộm qua cửa sổ và thấy ông ngồi tại quầy bar, uống bia. Và ông cũng không mút bia một mình trong cái góc đó; ông đang trò chuyện với mọi người, cười vui vẻ. Đó là một việc mới toanh. Sắc mặt ông hồng hào, và sau khi nốc cạn vài ly bia, ông đứng lên chiếc ghế đẩu ở quầy bar, tắt chương trình bóng đá rồi nói gì đó với đám đông trong lúc cười hì hì và lắc lắc nắm đấm như một nhà độc tài nói chuyện đùa tại buổi lễ hành quyết kẻ bất đồng chính kiến mà y thích nhất. Sau khi kết thúc ông cúi chào (dù chẳng có ai vỗ tay) và đi đến một quán rượu khác, hét lên “Chào đằng ấy!” lúc bước vào, rồi “Để xem tôi làm được gì nào!” khi bước ra. Sau đó ông vọt vào một quán bar có ánh đèn mờ ảo và đi vòng vòng trong đó rồi bỏ đi mà không gọi món gì. Rồi lại một hộp đêm! Chúa ơi! Anouk đã biến ông thành như thế này ư?

Ông biến mất khi đi lên chiếc thang cuốn của Fishbowl, một vũ trường theo chủ đề thiết kế như một chiếc bát thủy tinh khổng lồ với một cái bệ nằm vòng quanh chu vi chiếc bát. Tôi leo lên cái bệ và lén nhìn vào trong cái bát. Tôi không thấy ông. Thoạt đầu tôi chẳng thấy gì nhưng có những người đẹp như chạm trổ hoàn hảo phát sáng trong những giây phút ngắn ngủi dưới ánh sáng nhấp nháy. Rồi tôi nhận ra ông. Ông đang nhảy tưng bừng. Ông đẫm mồ hôi và thở hổn hển, di chuyển vụng về và tạo những cử động tay kì cục, gà gật, như một người đốn gỗ đang chặt cây giữa khoảng trống, nhưng ông đang vui vẻ. Mà có phải không nhỉ? Nụ cười của ông rộng gấp đôi những kiểu cười bình thường và ông đang nhìn thèm thuồng vào khe ngực thuộc tất cả các kích cỡ và tôn giáo. Nhưng cái gì thế này? Ông không nhảy một mình! Ông đang nhảy với một cô gái! Mà có phải không nhỉ? Ông đang nhảy phía sau cô ta, xoay tròn ở lưng cô ta. Cô ta đang phớt lờ chẳng mấy khó khăn để được yên thân, vì vậy ông xoay vòng quanh để ra phía trước và cố gây ấn tượng với cô ta bằng nụ cười rộng cả cây số. Tôi thắc mắc liệu ông có mời cô ta về căn hộ buồn bã và bẩn thỉu của chúng tôi không. Nhưng không, cô ta không bị cưa đổ. Vậy là ông lại tiến đến một cô gái khác, một người thấp hơn, tròn trịa hơn. Ông lao vào và tháp tùng cô nàng đến quầy bar. Ông mời cô ta một ly và đưa ra tiền mặt như đang trả tiền chuộc. Trong lúc họ nói chuyện, ông quàng tay qua lưng cô ta và kéo cô ta xích lại gần mình. Cô ta kháng cự rồi bỏ đi và nụ cười của bố lại nở ra rộng hơn nữa, khiến ông trông như con tinh tinh với vết bơ đậu phộng dính trên nướu răng trong một đoạn phim quảng cáo truyền hình.

Một tay bảo vệ mũi tẹt, không có cổ, mặc áo thun màu đen tiến đến. Bàn tay hộ pháp của hắn chộp lấy gáy bố, và hắn dùng vũ lực tháp tùng bố ra khỏi hộp đêm. Trên đường, bố nói với hắn đ. mẹ mày đi nếu mày chưa làm thế. Như thế đã đủ cho tôi. Tôi đã nhìn đủ rồi. Đã đến lúc về nhà.

Khoảng năm giờ sáng ông đập cửa ầm ầm. Ông đã làm mất chìa khóa. Tôi mở cửa và trông thấy ông mồ hôi mồ kê nhễ nhại, da dẻ vàng vọt, đang nói dở câu gì đấy. Tôi quay lại giường mà không cần nghe nốt đoạn kết. Đó là đêm duy nhất tôi bám theo ông, và khi tôi kể lại chuyện này với Anouk, cô ta nói đó hoặc là “một dấu hiệu khá tốt” hoặc là “một dấu hiệu rất tồi.” Tôi không biết ông làm gì suốt thời gian còn lại đêm hôm ấy ở ngoài phố. Tôi chỉ có thể cho rằng chúng là những biến thể của cùng một chủ đề không có kết quả.

Một tháng sau ông lại ở nhà, khóc lóc. Nhưng tệ hơn là, ông bắt đầu nhìn tôi ngủ. Đêm đầu tiên làm thế, ông đi vào phòng đúng vào lúc tôi đang lơ mơ ngủ và ngồi xuống cạnh cửa sổ.

“Chuyện gì vậy?” tôi hỏi.

“Không có gì. Con ngủ đi.”

“Gì cơ, trong khi bố ngồi ở đây á?”

“Bố sẽ đọc sách trong này một chốc,” ông nói, giơ lên một quyển sách.

Ông bật đèn lên và bắt đầu đọc. Tôi nhìn ông trong một phút, rồi hạ đầu xuống trở lại và nhắm mắt. Tôi nghe thấy ông lật trang sách. Vài phút sau tôi hé mở một mắt và suýt giật bắn lên. Ông đang nhìn tôi chằm chằm. Mặt tôi nằm trong bóng tối, vì vậy ông không thể thấy tôi đang nhìn cảnh ông nhìn tôi. Rồi ông lại giở trang sách. Tôi phát hiện ra ông đang giả vờ đọc, như cái cớ để nhìn tôi ngủ. Điều này xảy ra đêm này qua đêm khác, bố giả vờ đọc sách trong phòng tôi trong lúc tôi nằm nhắm mắt tỉnh như sáo, cảm nhận đôi mắt ông đang nhìn mình và nghe tiếng giở trang sách trong yên lặng. Nói thật nhé, đó là những đêm không ngủ kì quái.

Rồi ông bắt đầu ăn cắp vặt trong cửa hiệu. Chuyện diễn ra khá suôn sẻ. Bố về nhà, giỏ của ông nhét đầy quả bơ và táo và súp lơ. Rau củ quả, chẳng có gì để phàn nàn. Rồi ông ăn cắp lược, thuốc trị đau họng, và băng keo cá nhân - hàng hóa dược phẩm. Hữu dụng. Rồi ông ăn cắp những món hàng vớ vẩn trong các cửa hàng lưu niệm: một miếng gỗ cũ với dòng chữ “Nhà tôi là lâu đài của tôi” khắc lên một tấm bảng, một cái vỉ ruồi hình nhánh, và một chiếc tách với dòng chữ “Bạn không bao giờ biết mình có bao nhiêu người bạn cho đến khi bạn có một căn nhà ở bờ biển,” một món có thể thú vị để đặt trong một ngôi nhà bờ biển, nếu bạn có một cái. Chúng tôi không có.

Rồi ông lại nằm trên giường khóc lóc.

Rồi ông lại nhìn tôi ngủ.

Rồi ông đến bên cửa sổ. Tôi không biết chính xác ông đến đấy lúc nào, hay vì sao, nhưng ông rất thận trọng về vai trò mới của mình. Nửa mặt ông nhìn ra ngoài cửa sổ, nửa kia vùi trong tấm rèm dồn lại. Lẽ ra chúng tôi nên dùng loại cửa lá sách, phụ liệu hoàn hảo cho những cơn bộc phát hoang tưởng cấp đột ngột; chẳng có gì sinh động hơn những khe hở ấy, với những thanh bóng râm mỏng rơi ngang qua mặt ta. Nhưng ông đang nhìn vào cái gì ở ngoài cửa sổ mới được chứ? Toàn là phía sau các căn hộ chết tiệt của người ta. Toàn là phòng tắm và nhà bếp và phòng ngủ. Chẳng có gì hấp dẫn. Đàn ông với đôi chân xanh xao gầy gò mặc quần lót đứng đấy ăn táo, đàn bà vừa trang điểm vừa cãi nhau với người nào đấy không thấy rõ, cặp vợ chồng già chải răng cho con chó săn cừu Đức bướng bỉnh, đại loại như thế. Nhìn ra ngoài, bố sa sầm nét mặt. Đó không phải là ganh tỵ, tôi biết như thế. Với bố, cỏ ở bên kia hàng rào không bao giờ xanh hơn. Nếu có thì cũng chỉ nâu hơn mà thôi.

Mọi thứ đã chuyển biến sang một hướng tăm tối hơn. Tâm trạng của ông tối tăm. Khuôn mặt ông tối tăm. Từ vựng của ông, tối tăm và chối tai.

“Đồ chó đẻ,” một hôm ông thốt lên khi đứng bên cửa sổ. “Con đĩ khốn nạn.”

“Ai?” tôi hỏi.

“Con đĩ ở bên kia đường đang nhìn chúng ta.”

“Chà, bố đang nhìn ả ta mà.”

“Thì có nhìn mới biết ả đang nhìn bố chứ.”

“Có không?”

“Bây giờ thì không.”

“Vậy thì vấn đề ở đây là gì?” tôi hỏi.

Vấn đề là thế này. Ông từng là người vui tính. Ý tôi là, tôi biết mình đã than phiền về ông cả cuộc đời mình, nhưng tôi nhớ ông bố cũ. Điều gì đã xảy ra với sự vô thần thư thái của ông ấy? Như thế thật buồn cười. Sự ẩn dật thật nực cười. Sự nổi loạn, gây cười gấp nghìn lần! Nhưng khóc lóc thì không cười nổi, và cơn nóng giận mất trí không bao giờ khiến ta bật cười - nói gì đi nữa thì cũng không phải từ tôi. Giờ thì ông lại đóng rèm kín mít suốt ngày đầy vẻ nghiêm trọng. Chẳng có ánh sáng thâm nhập vào căn hộ. Chẳng còn buổi trưa hay buổi sáng hay sự dao động mùa bất kể kiểu gì. Sự thay đổi duy nhất là ở bóng đêm. Có những thứ nảy sinh trong đó. Không cần biết loại nấm nào tồn tại trong cơn điên của ông, chúng đang sinh sôi nảy nở trong cái chốn tối tăm, ẩm thấp ấy. Chẳng buồn cười.

Một đêm nọ tôi làm đổ cà phê trên giường. Tôi thề rằng đó là cà phê thấm qua các lớp drap giường và ngấm vào đệm, nhưng trông nó giống như nước tiểu. Tôi nghĩ: Anouk sẽ nghĩ rằng đó là nước tiểu. Tôi lột tấm drap khỏi giường rồi giấu chúng đi. Tôi đi đến tủ quần áo để lấy drap giường sạch. Chẳng có tấm nào ở đó cả.

Các tấm drap giường biến đi đâu mất rồi?

Tôi hỏi bố.

“Ở bên ngoài,” ông đáp.

Chúng tôi không có chỗ bên ngoài. Chúng tôi sống trong một căn hộ. Tôi thắc mắc về bí ẩn này một lúc trước khi đi đến kết luận kinh hoàng. Tôi đi để kiểm tra. Tôi kéo rèm ra. Không có thế giới bên ngoài. Những gì tôi thấy là những tấm drap giường; ông đã treo chúng lên cửa sổ từ bên ngoài, có thể để làm tấm chắn bay phấp phới để che giấu chúng tôi khỏi những đôi mắt tọc mạch. Nhưng không, chúng không có màu trắng. Chúng cũng không phải là tấm chắn. Chúng là một dấu hiệu. Có thứ gì đó được viết lên ở mặt kia của các tấm drap giường, màu đỏ. Dòng chữ “Con đĩ khốn kiếp.”

Thế này thật tệ. Tôi biết thế này thật tệ.

Tôi kéo các tấm drap giường xuống và giấu chúng cùng những tấm khác, những tấm có nước tiểu trên đó. Chết tiệt, tôi đã viết như thế, phải không? Thôi được, tôi thừa nhận. Đó chính là nước tiểu (trẻ con đái dầm không phải vì để gây chú ý, mà vì sợ bố mẹ chúng).

Nói để bạn biết, bạn không cần có tín ngưỡng mới được cầu nguyện. Lời cầu nguyện không còn là một tín điều nữa vì nó là thứ được thừa hưởng về mặt văn hóa từ phim ảnh và truyền hình, như hôn nhau trong mưa. Tôi cầu nguyện bố tôi sẽ phục hồi như một đứa diễn viên nhí hay làm: quỳ gối, chắp tay, cúi đầu, nhắm mắt. Tôi thậm chí còn thắp một ngọn nến cho ông, không phải trong nhà thờ - chỉ có thể đạo đức giả đến mức đấy là cùng - mà trong nhà bếp vào một buổi tối muộn, khi tình trạng bất bình về đêm của ông sốt đến đỉnh điểm. Tôi hi vọng ngọn nến sẽ tháo gỡ bất cứ thứ gì đang trói buộc ông thật chặt.

Anouk có mặt trong nhà bếp với tôi, dọn dẹp nó từ trên xuống dưới, lầm bầm rằng cô ta không chỉ muốn được trả lương mà còn được khen ngợi, và, viện dẫn phân chuột cùng tổ gián làm bằng chứng, cô ta ám chỉ rằng nhờ lau dọn nhà bếp mà cô ta đang cứu mạng chúng tôi.

Bố đang nằm duỗi thẳng chân trên ghế sofa, hai tay che mặt.

Cô ta dừng lau dọn và đứng ở cửa. Bố cảm nhận được cô ta đang nhìn ông chằm chằm và ấn bàn tay mạnh hơn vào mắt mình.

“Chuyện quái gì đang xảy ra với ông vậy, Martin?”

“Không có gì.”

“Ông có muốn tôi nói cho ông biết không?”

“Chúa ơi, không.”

“Ông đang đắm chìm trong sự thương hại bản thân, tôi nghĩ vậy đấy. Ông đang bất mãn, được thôi. Những khát vọng của ông không được thành hiện thực. Ông nghĩ mình là người đặc biệt, xứng đáng được đối xử đặc biệt, chỉ có điều ông bắt đầu nhận ra rằng chẳng có ai trên cõi đời này đồng ý với mình. Và để làm tình hình tệ hại hơn, em trai của ông đang được tung hô như vị thần mà ông nghĩ mình mới là vị thần đó, và điều đó cuối cùng đã ném ông vào cái hố trầm cảm không đáy này, nơi toàn thể những suy nghĩ đen tối đang gặm nhấm ông, ăn thịt lẫn nhau. Chứng hoang tưởng, chứng phức cảm bị hành hạ, có lẽ cả sự bất lực nữa, tôi không biết. Nhưng để tôi nói cho ông nghe. Ông phải làm một điều gì đó để giải quyết việc này trước khi làm chuyện mà ông sẽ hối tiếc.”

Thật khó chịu chẳng khác nào xem một người nào đó đốt pháo, rồi vừa hé mắt nhìn vừa nghĩ nó bị tịt. Khác chăng bố không phải là pháo tịt ngòi.

“Hãy thôi phỉ báng linh hồn tôi, đồ đàn bà ưa chõ mũi vào chuyện người khác!”

“Nghe tôi đây, Martin. Bất kì ai cũng sẽ biến quách khỏi nơi này. Nhưng phải có người nào đó nói chuyện phải quấy với ông. Vả lại, ông đang làm thằng bé sợ đây này.”

“Nó không sao đâu.”

“Nó không ổn. Nó đái dầm trên giường!”

Bố nhấc đầu lên trên ghế sofa vì thế tôi chỉ thấy đường chân tóc của ông đang lùi lại.

“Jasper, lại đây.”

Tôi đi đến chỗ đường chân tóc.

“Con có bao giờ bị trầm cảm chưa?” ông hỏi tôi.

“Con không biết.”

“Con lúc nào cũng trầm tĩnh. Đó là cái mã bề ngoài, phải không?”

“Có thể.”

“Nói cho bố nào, điều gì đang giày vò con, Jasper?”

“Bố đấy!” tôi hét lên, rồi chạy về phòng. Điều mà tôi chưa hiểu được chính là tình trạng mất phương hướng của bố có tiềm năng đưa tôi đến con đường bấp bênh tương tự.

Không lâu sau buổi tối hôm đó, Anouk đưa tôi đến Hội chợ Royal Easter để làm tôi vui lên. Sau những chuyến tàu lượn và kẹo bông và túi hàng khuyến mãi, chúng tôi đi lang thang đến xem cuộc thi gia súc. Khi nhìn vào bầy gia súc, tôi chợt giả vờ đang bị chứng mất thăng bằng kinh niên, một thú tiêu khiển mới của tôi bằng cách va vào người ta, vấp chân, ngã vào các bảng trưng bày cửa hiệu, đại loại thế.

“Có chuyện gì thế?” cô ta ré lên, chộp lấy vai tôi.

“Tôi không biết.”

Tay cô ta siết chặt tay tôi. “Cậu đang run rẩy kìa.”

Đúng vậy, tôi đang run. Thế giới đang quay cuồng, hai chân tôi cong gập lại như cọng rơm. Toàn thân tôi rung bần bật không kiểm soát. Tôi đã làm cho mình rơi vào trạng thái kích động như thế, căn bệnh giả tạo đã chiếm lĩnh, và trong một phút tôi quên mất rằng mình chẳng bị gì cả.

“Cứu tôi với!” tôi gào lên. Một đám đông hiếu kì đổ xô đến, trong đó có cả vài quan chức của hội chợ. Họ lơ lửng trên đầu tôi, trố mắt nhìn (trong tình huống khẩn cấp thực sự, một nghìn con mắt đè vào sọ anh quả thực chẳng có ích gì).

“Cho nó chút không khí nào!” một giọng nói cất lên.

“Nó đang bị ngất!” một giọng khác khẳng định.

Tôi cảm thấy bấn loạn và buồn nôn. Nước mắt chảy ràn rụa trên mặt. Rồi tôi chợt nhớ ra mình chỉ đang đùa cợt. Cơ thể tôi thả lỏng, và cơn buồn nôn thay bằng nỗi sợ bị phát hiện. Những đôi mắt đã lùi lại vài mét, nhưng sức lực của ánh mắt họ thì không hề giảm bớt. Anouk đang ôm tôi trong tay cô ta. Tôi cảm thấy thật lố bịch.

“Buông tôi ra!” tôi thét lên, đẩy cô ta ra. Tôi quay lại lũ gia súc. Chúng đang được một ban giám khảo da dẻ dúm dó đội mũ Akubra[35] chấm điểm. Tôi chồm qua hàng rào. Tôi nghe Anouk nói thì thầm điên cuồng sau lưng tôi, nhưng tôi không buồn nhìn. Một phút sau cô ta đến cạnh tôi.

“Bây giờ cậu ổn rồi chứ?” cô ta hỏi.

Câu trả lời của tôi không thể nghe được. Chúng tôi đứng cạnh nhau, im lặng. Một phút sau một con bò màu nâu với một cái bớt màu trắng trên lưng thắng giải nhất vì là miếng thịt trông ngon lành nhất trong bầy. Tất cả chúng tôi đều vỗ tay tựa như chẳng có gì ngớ ngẩn khi vỗ tay cho những con bò.

“Cậu và bố cậu đúng là một đôi,” Anouk nói. “Tôi đã sẵn sàng đi nếu cậu cũng thế.”

Tôi cảm thấy khủng khiếp. Tôi đang làm gì thế này? Vậy giả sử đầu của ông là một vỏ sò rỗng mà ta nghe được nỗi dằn xé của biển cả thì sao? Điều đó có liên hệ gì với tình trạng lành mạnh của tinh thần tôi? Hành vi của ông đã trở thành những con chim điên rồ đập đầu vào cửa sổ. Liệu điều đó có đồng nghĩa với việc những hành vi của tôi cũng sẽ như thế?

Vài tuần sau, bố và tôi chở Anouk đến sân bay. Cô ta sẽ ra đi trong vài tháng để được massage trên bãi biển ở Bali. Ngay trước khi bước qua cổng khởi hành, cô ta dẫn tôi ra riêng và bảo, “Tôi cảm thấy hơi tội lỗi khi bỏ cậu đi vào lúc này. Bố của cậu sắp rơi xuống vực rồi.”

Tôi nghĩ cô ta muốn tôi nói, “Không, chúng tôi sẽ ổn. Chị cứ đi chơi vui vẻ nhé.”

“Xin đừng đi,” tôi nói.

Rồi cô ta đi, và một tuần sau ông rơi xuống vực.

***

Bố trải qua chu kỳ kéo dài một tháng trời khóc lóc, đi đi lại lại, gào thét, nhìn tôi ngủ, và ăn cắp vặt trong cửa hiệu, dù đột nhiên làm tất cả chỉ trong một tuần. Rồi sự thể bị nén lại hơn nữa và ông trải qua toàn bộ chu kỳ đó trong một ngày, mỗi giai đoạn diễn ra trong khoảng một giờ. Rồi ông trải qua chu kỳ đó trong một giờ, thở dài và rên rỉ và lẩm bẩm và trộm cắp (từ sạp báo ở góc đường) trong lúc ràn rụa nước mắt, chạy về nhà và xé quần xé áo rồi trần như nhộng đi đi lại lại trong căn hộ, cơ thể ông trông như những linh kiện được lắp ráp vội vã.

Eddie đến gõ rầm rầm lên cửa. “Tại sao bố của cháu không đi làm? Ông ấy bị ốm à?”

“Cũng có thể cho là như vậy.”

“Chú gặp ông ấy được không?”

Eddie đi vào phòng ngủ của bố và đóng cửa lại. Nửa giờ sau, ông ta vừa đi ra vừa gãi cổ, như thể bố đã khiến ông ta bị bệnh mẩn ngứa và nói, “Chúa ơi. Mọi việc bắt đầu từ lúc nào thế?”

Tôi không biết. Một tháng trước? Một năm trước?

“Chúng ta sẽ khắc phục cho ông ấy thế nào đây?” Eddie tự vấn. “Thực tình chúng ta cần phải động não. Để xem nào. Để chú nghĩ nào.”

Chúng tôi đứng trong sự im lặng ngập ngụa tròn hai mươi phút. Eddie đang động não. Tôi phát ốm trước cách ông ta thở qua lỗ mũi, chúng đang bị thứ gì đó mà tôi nhìn thấy được chặn mất một phần. Mười phút sau, Eddie nói, “Chú sẽ suy nghĩ thêm về việc này tại nhà.” Và rồi ông bỏ đi. Tôi không nghe nói gì từ ông ta sau đó. Nếu ông ta có nghĩ ra được ý gì sáng sủa, thì chúng cũng không đến ngay được.

Một tuần sau có tiếng gõ cửa. Tôi đi vào nhà bếp để nướng bánh mì và bắt đầu run bần bật. Tôi không rõ bằng cách nào tôi biết được rằng vũ trụ đã nôn ra một thứ gì đấy đặc biệt dành cho mình; tôi chỉ biết thế thôi. Tiếng đập cửa vẫn không dứt. Tôi không muốn gây áp lực cho trí tưởng tượng của mình, vì vậy dù nghĩ rằng làm thế là sai lầm, tôi vẫn đi ra mở cửa. Một người đàn bà với khuôn mặt chảy xệ và hàm răng nâu xỉn to cộ đứng ở cửa, mặt nhuốm vẻ thương hại. Có một cảnh sát đi cùng bà ta. Tôi đoán bà ta không phải đang thương hại người cảnh sát.

“Cháu có phải là Kasper Dean không?” bà ta hỏi.

“Có chuyện gì?”

“Chúng tôi vào được không?”

“Không.”

“Tôi rất tiếc phải nói với cháu điều này. Bố của cháu đang nằm trong bệnh viện.”

“Ông ấy có làm sao không? Chuyện gì đã xảy ra?”

“Ông ấy không khỏe. Ông ấy sẽ ở lại một thời gian. Tôi muốn cháu đi với chúng tôi.”

“Bà đang nói gì vậy? Ông ấy bị làm sao?”

“Chúng tôi sẽ nói cho cháu biết ở trong xe.”

“Tôi không biết các người là ai và các người muốn gì ở tôi, nhưng các người có thể biến khỏi đây được rồi.”

“Thôi nào, con trai,” người cảnh sát nói, rõ ràng không hề có tâm trạng làm theo đề nghị của tôi.

“Đi đâu?”

“Có một mái ấm cho cháu ở vài ngày.”

“Đây là nhà tôi.”

“Chúng tôi không thể để cháu một mình ở đây được, nếu cháu chưa đủ mười sáu tuổi.”

“Ôi, lạy Chúa tôi. Tôi đã tự chăm sóc mình từ đó đến giờ.”

“Đi nào, Kasper,” người cảnh sát quát lên.

Tôi không nói với ông ta tên tôi là Jasper. Tôi không nói với ông ta rằng Kasper là một nhân vật hư cấu do bố tôi sáng tạo ra và rằng Kasper đã bị giết chết nhiều năm trước rồi. Tôi quyết định cứ đóng kịch cho đến khi tôi nắm rõ tình hình. Tôi biết được chừng này: tôi chưa mười sáu tuổi, và điều đó có nghĩa là tôi chẳng có quyền gì cả. Người ta luôn nói về quyền trẻ em, nhưng nó chẳng bao giờ là quyền bạn cần khi đụng chuyện.

Tôi đi với họ vào trong xe cảnh sát.

Trên đường đi họ giải thích rằng bố đã lái xe đâm vào cửa sổ của Fleshpot. Hành động đó có thể được xem như một tai nạn không may, nếu ông không đâm qua cửa sổ, khóa vô lăng một vòng chặt và xoay chiếc xe quanh sàn nhảy, lao vào bàn ghế, làm vỡ tung nơi ấy, phá hỏng quầy bar. Cảnh sát phải lôi ông ra khỏi xe. Rõ ràng ông đã phát điên. Và giờ đây ông đang ở trong nhà thương điên. Tôi không ngạc nhiên. Văn minh xuống cấp sẽ gây thiệt hại nếu anh tiếp tục tồn tại trong nó. Đứng trên đỉnh núi thì không sao, nhưng bố đã bị đập te tua ở lưng chừng, và những mâu thuẫn nảy lửa của bố cuối cùng đã phản pháo nhau.

“Tôi thăm ông ấy được không?”

“Hôm nay thì không,” người đàn bà nói. Xe chạy đến một căn nhà ở vùng ngoại ô. “Cháu sẽ ở đây vài ngày, đến khi chúng ta xem liệu người thân nào của cháu có thể đến đón cháu.”

Người thân? Tôi không có người nào cả.

Đó là một căn nhà trệt bằng gạch, trông hệt như một mái ấm gia đình thông thường. Từ ngoài bạn không thể nhận ra đây là nơi họ cất giữ những mảnh vỡ của các gia đình tan nát. Người cảnh sát bấm còi khi xe dừng lại. Một người đàn bà với bộ ngực vĩ đại bước ra cùng nụ cười mà tôi tiên liệu mình sẽ còn thấy đi thấy lại trong một nghìn cơn ác mộng kinh hoàng nữa. Nụ cười ấy nói, “Bi kịch của mi là chiếc vé đến thiên đường của ta, vì vậy hãy đến đây và ôm ta một cái nào.”

“Cháu hẳn là Kasper,” bà ta nói, đứng cạnh bà ta là một lão hói không ngừng gật đầu như thể lão mới là Kasper.

Tôi chẳng nói gì.

“Bác là bác French,” người đàn bà có bộ ngực phì nộn nói như khoe, như thể làm bác French là một thành tựu nỗ lực hết mình mới đạt được.

Khi tôi không trả lời, họ dắt tôi vào nhà. Họ chỉ cho tôi một lũ trẻ đang xem truyền hình trong phòng khách. Theo thói quen, tôi quan sát những khuôn mặt con gái trong phòng. Tôi làm việc này cả ở những mảnh vỡ. Tôi làm thế để xem có một nhan sắc hữu cơ nào mà tôi có thể mơ mộng hay thèm khát; tôi làm thế trên xe buýt, trong bệnh viện, và tại đám tang của những người bạn thân; tôi làm thế để xả bớt sự dồn nén; tôi sẽ làm thế trong lúc tôi nằm chờ chết. Vậy mà, mọi người ở đó đều xấu xí, ít nhất là ở vẻ bề ngoài. Toàn bộ lũ trẻ liếc nhìn tôi như thể tôi là vật đang được chào bán. Một nửa trong số chúng trông có vẻ cam chịu với bất kì thứ gì cuộc sống dọn ra cho chúng; nửa kia gầm ghè thách thức. Chỉ có điều lần này tôi không quan tâm đến chuyện của bọn chúng. Tôi chắc chắn tất cả bọn chúng đều có những bi kịch cực kì khủng khiếp có thể khiến tôi khóc thương hàng thế kỉ, nhưng tôi còn mải bận già đi mười tuổi cho mỗi phút trôi qua trong nhà tù trẻ em này.

Cặp vợ chồng tiếp tục chuyến tham quan của họ. Họ chỉ cho tôi nhà bếp. Họ chỉ cho tôi sân phía sau. Họ chỉ cho tôi phòng của tôi, một cái tủ được sơn phết. Những người này có thể tử tế, tốt bụng và ăn nói nhỏ nhẹ, nhưng tôi vẫn muốn đề phòng và cứ cho rằng họ là những kẻ biến thái đang chờ đêm xuống.

Khi tôi thả cái túi của mình lên chiếc giường đơn, bà French nói, “Cháu sẽ hạnh phúc ở đây.”

“Bà nói đùa chắc,” tôi đáp trả. Tôi không thích người ta bảo tôi nên hạnh phúc khi nào và ở đâu. Việc đó chính tôi còn chưa quyết định được nữa là.

“Vậy bây giờ thì sao? Cháu có được gọi một cú điện thoại không?”

“Đây không phải nhà tù, Kasper ạ.”

“Để rồi xem.”

Tôi gọi điện cho Eddie để xem tôi có thể ở cùng ông ta không. Ông ta thừa nhận đã ở quá hạn thị thực và đang cư trú bất hợp pháp, vì thế không thể nộp bất kì đơn thư nào để trở thành người giám hộ hợp pháp của tôi. Tôi gọi điện thoại đến nhà Anouk và nghe bạn cùng nhà của cô ta nói điều mà tôi đã biết - cô ta vẫn đang phơi nắng trong một trung tâm thiền Phật giáo ở Bali và sẽ chưa về nhà cho đến khi nào tiêu hết tiền. Tôi bế tắc. Tôi gác máy và quay về chốn tăm tối của mình rồi khóc. Tôi chưa bao giờ suy nghĩ tiêu cực về tương lai của mình cho đến lúc đó. Tôi nghĩ đó là sự đánh mất ngây thơ thật sự: lần đầu tiên bạn nhìn thấy những ranh giới hạn chế tiềm năng của chính mình.

Cửa không có khóa, nhưng tôi cố tìm cách chèn ghế dưới tay nắm cửa. Tôi ngồi thao láo suốt đêm, chờ đợi tiếng lách cách đáng sợ. Vào khoảng ba giờ sáng tôi ngủ thiếp đi, vì thế tôi chỉ có thể đoán rằng họ đã đến để lạm dụng tình dục tôi khi tôi đang say giấc, mơ thấy những đại dương và đường chân trời mà tôi sẽ không bao giờ chạm đến.

IV.

Ngày hôm sau, với sự hộ tống của bà French, tôi đến thăm bố. Tôi thừa nhận, thật xấu hổ, rằng khi chúng tôi chui vào xe, tôi đã rất phấn khích. Tôi chưa bao giờ vào một bệnh viện tâm thần - nó có giống trong phim ảnh không, với bản giao hưởng những tiếng gào thét điên loạn âm vực cao? Tôi thậm chí còn hi vọng rằng các bệnh nhân không bị cho dùng thuốc an thần quá nặng đến mức không còn sức nện muỗng gỗ lên đít chảo.

Lúc ngồi trong xe trên đường đi, tôi không nói gì. Bà French cứ sốt ruột nhìn tôi, cáu tiết vì tôi không chịu trút bầu tâm sự với bà ta. Sự im lặng bám riết lấy chúng tôi suốt trên đường đến bệnh viện. Bà ta dừng xe tại một đại lý báo và nói, “Sao cháu không mua cho bố vài quyển tạp chí để đọc nhỉ?” rồi đưa cho tôi 10 đô la. Tôi đi vào trong và nghĩ: Một người đàn ông đã rơi khỏi bờ vực thì muốn đọc cái gì chứ? Sách báo khiêu dâm? Tin tức giải trí? Tôi cầm lên một quyển tạp chí về cưỡi ngựa nhưng lại đặt nó xuống. Nó không phù hợp. Cuối cùng tôi quyết định mua một quyển sách gồm các trò đố vui, tìm đường trong mê cung, trò đảo chữ, và những câu đố để não ông có thứ mà suy nghĩ.

Bên trong bệnh viện, chúng tôi nghe thấy những tiếng gào thét điên loạn thường khiến ta liên tưởng đến những dòng sông máu sôi sùng sục. Bước ra khỏi thang máy, tôi thấy những bệnh nhân bước đi vô định qua hành lang, hai chân líu quíu, lưỡi thè ra, miệng há to như đang đi khám nha sĩ. Tôi nhìn thấy thứ gì đó màu vàng trong mắt họ. Tôi ngửi được mùi không giống bất kì mùi nào mà tôi đã ngửi qua. Đây là những người đã bị ném vào bóng tối, những đồ thừa thãi của loài người nhìn trừng trừng vào cơn ác mộng của chính họ, che chắn bằng những chiếc áo choàng trắng mỏng manh, cơn điên của họ thúc ra ngoài qua xương sườn họ. Họ là những tàn tro của một đám lửa đang tắt. Họ có thể đi đâu trong đời này để trở nên tỉnh táo?

Các bác sĩ bước vội đến để tước đi tiếng cười từ các bệnh nhân. Tôi quan sát những gương mặt y tá: làm sao họ có thể làm việc tại đây? Họ hẳn phải là những kẻ ác ôn hoặc là những vị thánh. Họ chẳng thể là gì khác, nhưng liệu họ có thể là cả hai được không? Họ và các bác sĩ trông thật mệt mỏi: tháo cạn những suy nghĩ lệch lạc ra khỏi mấy cái đầu này rõ ràng là một việc kiệt sức.

Tôi nghĩ: Loại người nào có thể xuất hiện từ tổng hành dinh của những cơn ác mộng dữ dội này và nói, “Thế nhé, bây giờ quay lại công việc đi!” nhỉ?

Người y tá tại quầy tiếp tân ngồi yên một cách kì quái với nét mặt đau khổ, như đang sẵn sàng bị đấm vào mặt.

“Jasper Dean đến gặp Martin Dean,” tôi nói.

“Có phải người nhà không?”

Khi tôi chẳng trả lời trả vốn gì suốt một lúc, cô ta nói, “Tôi sẽ gọi bác sĩ Greg.”

“Hi vọng đó là họ của ông ta.”

Cô ta nhấc điện thoại lên và gọi bác sĩ Greg. Tôi dò xét khuôn mặt bà French xem bà ta có nhận ra rằng tôi đã không xưng là Kasper không. Nếu nghe thấy, bà ta sẽ chẳng giúp đỡ gì nữa.

Vài phút sau, bác sĩ Greg đến, trông có vẻ nhanh nhẹn, mỉm cười như thể cho rằng mình luôn được yêu mến, đặc biệt ngay từ cái nhìn đầu tiên.

“Thật mừng vì cậu đến đây. Bố của cậu không chịu nói chuyện với chúng tôi,” ông tuyên bố.

“Thì sao?”

“Thì tôi đang tự hỏi liệu cậu có thể đi vào phòng và giúp chúng tôi không.”

“Nếu ông ấy không muốn nói chuyện với ông, thì có nghĩa là ông ấy không quan tâm ông nghĩ gì. Sự có mặt của tôi sẽ không thay đổi điều đó.”

“Tại sao ông ấy không quan tâm tôi nghĩ gì?”

“Thì, chắc là ông đã nói với ông ấy những thứ như ‘Chúng tôi đứng về phía ông, ông Dean ạ,’ và ‘Chúng tôi ở đây để giúp ông.’”

“Nói thế thì có gì sai?”

“Xem này, ông là bác sĩ tâm thần phải không?”

“Thì sao?”

“Ông ấy đã đọc sách do những bậc tiền bối của ông viết: Freud, Jung, Adler, Rank, Fromm, và Becker. Những tay ấy. Ông phải thuyết phục ông ấy rằng ông cũng từ cùng một lò mà ra.”

“Ái chà, tôi không phải là Freud.”

“Và đó chính là rắc rối của ông.”

Bà French đợi ở quầy tiếp tân trong lúc tôi đi theo ông bác sĩ qua những hành lang u ám và những đợt mở rồi đóng của vô số cánh cửa bị khóa. Chúng tôi đến phòng của bố và ông bác sĩ dùng chìa khóa mở nó ra. Bên trong là một chiếc giường đơn, một cái bàn, một cái ghế, và một mẩu dang dở thức ăn không thể gọi tên nằm sóng soài trên đĩa. Bố đứng quay lưng về phía chúng tôi, nhìn ra ngoài cửa sổ. Trông ông như một cái cây trần trụi trong mùa đông.

“Xem này, Martin. Con trai anh đến thăm anh này,” bác sĩ Greg nói.

Khi ông quay lại, tôi khẽ thốt lên. Trông như toàn bộ xương và cơ trên mặt ông đã bị lấy đi mất.

“Bố khỏe không?” tôi hỏi, như thể chúng tôi mới gặp nhau lần đầu. Ông bước về trước với nét mặt bần thần như một bà mẹ sau khi sinh con.

Bất cứ lời thề im lặng nào bố đã thực hiện, ông phá vỡ ngay lập tức khi trông thấy tôi. “Jasper. Nghe này. Con không bao giờ có thể giết được những nhân cách cũ của mình. Chúng nằm đó trong một nấm mộ tập thể, bị chôn sống, đứa này chồng lên đứa kia, chờ đợi cơ hội phục sinh, và rồi, vì chúng đã từng chết, nên chúng điều khiển con như xác chết sống lại, vì bản thân chúng là những xác chết sống lại. Con có hiểu bố muốn nói gì không? Tất cả những thất bại cũ của con đang quằn quại sống lại!”

Tôi nhìn qua bác sĩ Greg và nói, “Ông muốn ông ấy nói. Thế thì, ông ấy đang nói đây.”

Bố mút môi ra vẻ thách thức. Tôi đi đến bên ông và thì thầm, “Bố, bố phải ra khỏi đây. Họ đã bắt con vào một mái ấm của nhà nước. Nó thật khủng khiếp.”

Ông không nói gì. Bác sĩ Greg cũng không nói gì. Tôi nhìn quanh phòng và nghĩ đó là môi trường tệ hại nhất cho một người bị suy sụp tinh thần, vì nó sẽ cho người ấy nhiều thời gian hơn để hồi tưởng, và nếu bệnh của bố tôi có nguyên nhân, thì đó chính là hồi tưởng quá liều; việc suy nghĩ quá độ đã phá hỏng não ông. Tôi quay lại nhìn bác sĩ Greg: ông ta đang dựa vào bàn, trông như đang xem một vở kịch mà không diễn viên nào biết đến lượt ai lên tiếng.

“Đây, con mua cho bố thứ này,” tôi nói, đưa cho bố quyển sách đố vui. Ông buồn bã nhìn tôi khi nhận lấy nó rồi bắt đầu nghiên cứu quyển sách và phát ra những tiếng “hừm” nho nhỏ.

“Bút chì,” ông nói thì thầm bằng giọng khàn khàn, chìa bàn tay ra mà không ngước nhìn lên.

Tôi nhìn bác sĩ Greg đến khi ông ta cuối cùng cũng miễn cưỡng lục trong túi áo và đưa cho tôi một cây bút chì một cách thận trọng như thể nó là một cây rựa. Tôi đưa nó cho bố. Ông mở quyển sách ra và bắt đầu tìm đường đi qua mê cung đầu tiên. Tôi cố tìm chuyện để nói, nhưng chẳng nghĩ ra được gì ngoài câu “Không có chi,” dù ông còn chưa nói cám ơn.

“Xong,” ông tự nó với mình khi chơi xong.

“Martin,” bác sĩ Greg lên tiếng. Bố lưỡng lự, lật trang sách, và bắt đầu với mê cung thứ hai. Từ chỗ tôi đứng, quyển sách đang để ngược, và tôi bị chóng mặt khi nhìn ông chơi.

Một phút sau ông nói, “Quá dễ,” lật sang trang, và lại bắt đầu giải mê cung thứ ba. “Càng chơi sẽ càng khó hơn đấy,” ông nói trống không.

Lúc này ông đang tấn công các câu đố một cách kịch liệt. Bác sĩ Greg nhìn tôi như ngầm nói, “Cậu nghĩ sao mà lại tặng cho một người bị loạn trí quyển sách tập hợp câu đố hóc búa thế này?” và tôi phải đồng ý rằng mình lẽ ra nên làm theo bản năng mách bảo, mua tạp chí khiêu dâm.

“Chú Eddie nói bố có thể quay lại làm việc khi đã sẵn sàng,” tôi nói.

Không nhìn lên, bố nói, “Thằng chó đẻ.”

“Con nghĩ chú ấy khá tốt với bố mà, nhất là khi bố đã phá banh hộp đêm của chú ấy.”

“Ngày đầu tiên bố gặp gã ở Paris gã đề nghị cho bố tiền, rồi gã giới thiệu việc làm cho bố. Rồi gã tìm giúp bố một công việc. Rồi sau đó gã theo bố đến nước Úc này và cho bố tiền để nuôi con. Không nhiều, khi này một trăm, khi khác một trăm, nhưng gã cứ giúp bố mãi.”

“Nghe như anh có một người bạn rất tốt,” bác sĩ Greg nói.

“Ông biết cái gì chứ?” bố vặc lại.

Nói chuyện phiếm thế này đủ rồi, tôi nghĩ. Tôi đi đến gần bố và cố gắng thì thầm vào tai ông lần nữa. “Bố, con cần bố phải ra khỏi đây. Họ tống con vào một mái ấm.” Ông chẳng nói gì, và lật đến mê cung cuối cùng trong quyển sách rồi bắt đầu tìm đường đi. “Nguy hiểm lắm. Có gã đã giở trò bỉ ổi với con,” tôi nói điêu.

Ông vẫn không nói gì, chỉ chun mặt lại bực bội, không phải vì lời nói dối chối tai của tôi, mà vì câu đố ông giải không ra.

“Martin,” bác sĩ Greg xen vào, “anh không muốn nhìn con trai mình à?”

“Tôi biết mặt mũi nó thế nào rồi,” bố đáp.

Rõ ràng sự tầm thường vụn vặt của bác sĩ Greg đang làm bố ngạt thở. Ông bác sĩ đang giẫm lên lãnh địa tối tăm của tinh thần bố với đôi ủng lấm bùn, đạp lên mọi thứ, chẳng hiểu được gì. Như tôi đã nói, bố muốn được một người học về Freud hoặc Jung thăm khám, và nếu không có thêm chứng cứ gì về đầu óc loạn trí của ông, thì chuyện cứ chờ một thiên tài chưa được phát hiện sẽ chết dần chết mòn ở đây trong cái chốn tồi tàn do nhà nước quản lý này đã đủ làm bằng chứng rồi.

Ông vẫn đang vò đầu bứt tóc với cái mê cung cuối cùng. Cây bút chì của ông vẽ xuyên qua nó, nhưng ông cứ đi đến ngõ cụt. “Cái khốn kiếp gì thế này?” ông nói. Ông nghiến răng to đến nỗi chúng tôi cũng nghe được.

“Martin, sao anh không dẹp quyển sách đi và nói chuyện với con trai anh?”

“Câm mồm!”

Đột nhiên bố bật dậy và giậm chân. Ông chụp một cái ghế rồi giơ nó lên trên đầu, hít vào sâu đến độ toàn thân ông căng phồng. “Đưa tôi ra khỏi đây ngay!” ông gào thét, huơ cái ghế trong không khí.

“Đặt nó xuống!” bác sĩ Greg la lên. “Jasper, đừng sợ.”

“Tôi không sợ,” tôi nói, dù tôi có hơi sợ một chút. “Bố,” tôi nói, “đừng làm trò cười nữa.”

Rồi lực lượng khống chế đến, giống như họ thường làm trong phim. Một người hộ lý chạy vào túm lấy bố rồi đè ông nằm xuống bàn. Một người khác tóm lấy tôi và đẩy tôi ra khỏi phòng. Tôi vẫn có thể nhìn thấy bố qua ô cửa sổ nhỏ trên cánh cửa. Các nhân viên hộ lý đã ghim được ông lên bàn và đang đâm mũi kim vào cánh tay ông. Ông đang đá loạn xạ và la hét; cái thứ trong xi lanh đang cần thời gian để phát huy tác dụng. Hệ trao đổi chất bướng bỉnh bị kích động của bố phản ứng rất chậm, sự chống đối của ông không đủ mạnh. Rồi tôi không nhìn thấy mặt ông nữa vì một người hộ lý đứng chắn tầm nhìn, và tôi nghĩ tại sao đang lúc cấp bách thì lại có một gã lông lá đứng chắn trước mặt tôi. Cuối cùng người hộ lý di chuyển sang một bên, và tôi nhìn thấy bố đang đờ đẫn, gà gật, và chìm vào cơn nửa tỉnh nửa mê do ngấm thuốc. Khi, sau vài cơn co giật, ông đã dịu lại, bác sĩ Greg đi ra để nói chuyện với tôi. Khuôn mặt ông ta đỏ bừng và nhễ nhại mồ hôi, và tôi nhận ra một thoáng hân hoan trong mắt ông ta, như thể ông ta đang tự nhủ với mình, “Tình hình là như thế đấy!”

“Các người không thể giữ ông ấy ở đây!” tôi gào lên.

“Thực ra thì, chúng tôi có thể đấy.”

Ông ta đưa cho tôi xem một số giấy tờ. Có rất nhiều thuật ngữ chuyên ngành trong đó. Tôi không hiểu gì cả. Nó khá tối nghĩa. Thậm chí kiểu chữ nhìn cũng rất tẻ nhạt.

“Nghe đây. Phải làm gì mới đưa được ông ấy ra khỏi đây?”

“Ông ấy cần khỏe mạnh hơn hiện nay.”

“Trời, mẹ kiếp, ông có thể nói rõ hơn được không?”

“Cân bằng hơn. Chúng tôi phải đảm bảo rằng ông ấy sẽ không gây hại cho bản thân ông ấy, cho cậu, và cho những người khác.”

“Và ông định làm gì để đạt được điều đó? Hãy nói cụ thể ngay đi.”

“Bằng cách làm cho ông ấy nói chuyện với tôi. Và bằng cách điều trị thuốc men để duy trì sự ổn định của ông ấy.”

“Những việc này nghe chừng tốn thời gian quá.”

“Đâu thể làm trong một sớm một chiều được.”

“Vậy thì bao lâu? Đại khái thôi.”

“Tôi không biết, Jasper ạ. Sáu tháng? Một năm? Hai năm? Nhìn ông ấy xem - bố của cậu đã bệnh khá nặng rồi.”

“Vậy tôi nên làm cái quái gì bây giờ? Sống trong một cái mái ấm chết tiệt của nhà nước ư?”

“Cậu không có bất kì bà con họ hàng nào để chăm sóc cậu à?”

“Không.”

“Chú bác hoặc là cô dì?”

“Chết rồi.”

“Ông bà?”

“Chết rồi! Chết rồi! Mọi người đều chết hết cả rồi!”

“Tôi rất tiếc, Jasper. Đây không phải là bệnh có thể chữa khỏi nhanh chóng.”

“Nó phải thế.”

“Tôi không nghĩ ra được cách nào.”

“Đó là vì ông là một thằng ngốc,” tôi nói, và chạy thục mạng xuống hành lang, chẳng thèm dừng lại để nghe ngóng tiếng rên rỉ điếc tai ở hai bên. Tại khu tiếp tân, bà French đang say sưa ngắm nghía móng tay như một kẻ không thích bị bỏ lại với suy nghĩ của mình. Những chiếc móng tay là lối giải thoát. Tôi để bà ta lại với chúng và rón rén lẻn vào thang máy. Trên đường xuống, tôi nghĩ tất cả những người mà tôi nghe thấy đều đang đắc chí gọi họ là người điên và tôi chúc họ rất nhiều rất nhiều rất nhiều điều xui xẻo.

Tôi đón xe buýt về nhà. Các hành khách khác trông thật mệt mỏi và rã rời như tâm trạng của tôi vậy. Tôi nghĩ về rắc rối của mình: bệnh viện này, thay vì là con đường dẫn đến sức khỏe, lại chỉ đẩy nhanh tiến trình hủy hoại cơ thể, trí óc, và tinh thần của bố, và nếu muốn khỏe lại, ông phải ra khỏi nơi đó, nhưng để ra khỏi nơi đó, ông cần phải khỏe lại. Để làm ông khỏe lại, tôi cần khám phá ra chính xác điều gì đã khiến ông lâm bệnh, phương cách ông đã dùng để biến mình thành kẻ vô dụng.

***

Trở về căn hộ, tôi lục tìm những quyển sổ tay gần đây của bố. Tôi cần một sáng kiến, và không có quyển sách giáo khoa nào hỗ trợ tôi tốt hơn quyển sách do chính ông viết. Nhưng tôi không tìm thấy chúng. Chúng không có trong tủ quần áo của bố, hoặc dưới giường ông, hoặc gói bằng túi nylon và giấu trong tủ trên của toilet - những chỗ giấu đồ quen thuộc của ông đều không có. Sau một giờ lục soát chung chung, tôi phải thừa nhận chúng không hề có trong căn hộ. Ông đã làm gì với chúng? Tôi lật tung phòng ngủ của ông lên một lần nữa, nhưng chỉ biến nó từ cảnh hỗn loạn này sang cảnh bừa bãi khác. Kiệt sức, tôi nằm lên giường ông. Không khí nồng nặc mùi suy sụp của bố, và tôi cố hết sức để tránh ý nghĩ khó chịu rằng đây không phải là khởi đầu của sự kết thúc mà là sự kết thúc cuối cùng thực sự, kết thúc của kết thúc.

Trên chiếc tủ đầu giường có một tấm bưu thiếp của Anouk. Chữ “Bali” in đậm màu đỏ nằm vắt ngang hình những người nông dân trên cánh đồng. Ở mặt kia cô ta viết “Bố con ông cần một kì nghỉ,” và chỉ có thế. Chúng tôi chắc chắn là cần rồi.

Tôi lăn người. Có cái gì đó trong bao gối đâm vào đầu tôi. Tôi lắc cái gối - một quyển sổ màu đen rơi ra! Có 140 trang, tất cả đều được đánh số. Được rồi, tôi là người duy nhất có thể giải thoát bố, và quyển sách này sẽ cho tôi biết làm cách nào. Vấn đề là, bước vào tình trạng tinh thần của bố tôi đồng nghĩa với việc đối diện với một mối nguy hiểm nhất định, vì kiểu suy nghĩ của ông sẽ vây kín lấy tôi, không phải chầm chậm hay len lén, mà nhanh như một cú sập của chiếc bẫy gấu gỉ sét. Vậy thì, lời biện hộ của tôi là sẽ đọc nó với một thái độ mỉa mai, cùng với suy nghĩ này, tôi sửa soạn tư thế và nhập cuộc.

Không quá ngạc nhiên, đó là một trải nghiệm cực kì khó chịu, như tất cả những hành trình tìm đến sự hủy hoại và điên loạn khác. Tôi đọc đi đọc lại hai lần. Có những sự bất mãn, như trên trang 88:

Mình có quá nhiều thời gian rỗi. Thời gian rỗi làm cho người ta nghĩ ngợi; nghĩ ngợi làm cho người ta chỉ quan tâm đến bản thân một cách bệnh hoạn; nếu người ta không vững chãi và hoàn thiện thì sự quan tâm thái quá đến bản thân sẽ dẫn đến trầm cảm. Chính vì vậy mà trầm cảm là căn bệnh số hai trên thế giới, sau chứng đau mắt do xem ảnh khiêu dâm trên internet.

Và những quan sát khó chịu gắn liền với tôi, như trên trang 21:

Japser đáng thương. Nhìn nó ngủ trong khi mình giả vờ đọc sách, mình không nghĩ nó nhận ra rằng mỗi ngày quỹ thời gian của nó lại vơi đi. Có lẽ nó nên chết khi mình chết?

Và những quan sát về bản thân ông:

Vấn đề của mình là mình không thể tóm tắt về mình trong một câu. Tất cả những gì mình biết là kẻ không phải mình. Và mình vừa nhận ra rằng hầu hết mọi người đều ngầm thỏa thuận họ chí ít sẽ cố gắng thích nghi với hoàn cảnh. Mình luôn cảm thấy bị thôi thúc phải nổi loạn chống lại nó. Vì thế cho nên khi mình ở trong rạp chiếu phim và màn hình tối đi mình lại không cưỡng nổi ham muốn đọc sách. May là, mình có đem theo một chiếc đèn pin bỏ túi.

Những suy nghĩ lặp đi lặp lại nhiều nhất chính là khao khát của bố được lẩn trốn, được ở một mình, được cách ly, không bị quấy rầy bởi tiếng ồn và người khác. Kiểu càm ràm quen thuộc của bố. Nhưng ngạc nhiên thay, cũng có những manh mối về chứng hoang tưởng tự đại mà tôi chưa từng nghe ông nói đến trước đây, những đoạn trong quyển sổ của ông nói đến nỗi khát khao được thống trị và thay đổi thế giới - đây dường như là một cuộc cách mạng trong những suy nghĩ ám ảnh của ông - nó rọi ánh sáng mới lên niềm khát khao thường trực của ông là được ở một mình. Giờ thì tôi đã hiểu đó là nỗi khát khao được có một tổng hành dinh biệt lập, nơi ông có thể hoạch định cuộc tấn công của mình. Chẳng hạn, có đoạn thế này:

Chẳng thể nào làm một chuyến đi biểu tượng trong căn hộ này. Chẳng có gì mang tính ẩn dụ về một chuyến đi vào nhà bếp. Chẳng có gì để đi lên! Chẳng có gì để đi xuống! Chẳng có không gian! Chẳng có chiều thẳng đứng! Chẳng có tính vũ trụ! Bọn mình cần một căn nhà rộng rãi, thoáng khí. Bọn mình cần những góc yên tĩnh và vết nứt nẻ và ngóc ngách và lỗ rỗng và gác xép và cầu thang và hầm chứa và gác mái. Bọn mình cần một cái toilet thứ hai. Cái ý tưởng tối quan trọng sẽ biến mình từ một Người suy tư sang Người hành động thì lại không thể triển khai ở đây được. Các bức tường quá gần đầu mình, và quá nhiều sự phân tâm - tiếng ồn của đường phố, tiếng chuông cửa, tiếng điện thoại. Jasper và mình cần dọn đến vùng rừng rậm ở ngoại ô để mình có thể lên kế hoạch cho nhiệm vụ lớn lao đang hình thành ở giai đoạn trứng nước của mình. Mình cũng đang nằm trong tư thế quả trứng. Mình là kẻ nửa vời, và mình cần một nơi tập trung cao độ nếu mình muốn thì thầm vào chiếc tai vàng và thay đổi bộ mặt đất nước này.

Và thế này:

Emerson[36] hiểu! “Khoảnh khắc ta gặp bất kì một người nào đó, mỗi người trở thành một phân số,” ông ta nói thế. Đó là vấn đề của mình. Mình là ¼ của con người lẽ ra mình phải làm! Thậm chí có khi chỉ 1/8. Rồi ông ta nói, “Những giọng nói mà chúng ta nghe được trong chốn tĩnh mịch sẽ yếu dần và không còn nghe được nữa khi chúng ta bước chân vào đời.” Đây chính xác là vấn đề của mình: mình không thể nghe được chính mình! Ông ta cũng nói, “Ở đời rất dễ sống theo ý kiến của số đông; ở trong sự cô độc rất dễ sống theo ý kiến cá nhân mình; nhưng người vĩ đại là kẻ giữa đám đông vẫn giữ được tính độc lập của sự cô độc một cách hoàn hảo.” Mình không thể làm thế!

Và rồi, trong lần đọc thứ hai, tôi tìm thấy một câu trích dẫn đáng sợ đến nỗi tôi đã thực sự la lên “A ha!”, kiểu cảm thán mà tôi chưa từng nói trước đó và cũng không hề nói sau đó. Nó là cái này, trên trang 101:

Pascal lưu ý rằng trong cuộc Cách mạng Pháp, toàn bộ nhà thương điên đều vắng hoe. Các bệnh nhân đột nhiên tìm thấy ý nghĩa cuộc sống.

Tôi đóng quyển sổ lại, đi đến cửa sổ rồi nhìn xuống những mái nhà quanh co, phố xá và đường chân trời của thành phố, rồi đưa mắt lên trời, đến những đám mây nhảy múa trên đó. Tôi cảm thấy như mình vừa hút một nguồn sức lực tươi mới vào cơ thể. Lần đầu tiên trong đời, tôi biết chính xác mình phải làm gì.

***

Tôi đón xe buýt đến nhà Eddie và bước lên con đường mòn hẹp uốn lượn giữa những cánh rừng dương xỉ đắt tiền đến trước căn nhà bằng sa thạch của ông ta. Tôi rung chuông. Không thể nghe được tiếng chuông từ bên ngoài. Eddie hẳn đã tự mình kiếm được khối tiền từ các câu lạc bộ thoát y - chỉ người giàu mới có đủ tiền để im thin thít như thế; sự im lặng là do độ dày của cánh cửa, và anh càng có nhiều tiền thì cửa của anh càng dày. Đó là quy luật trong cuộc đời này. Người nghèo ngày càng gầy gò trong khi kẻ giàu ngày càng béo tốt.

Eddie mở cửa, đang chải mái tóc mỏng. Gel nhỏ giọt từ chiếc lược thành những hạt lớn mà tôi ngửi được cả mùi. Tôi đi thẳng vào vấn đề.

“Tại sao chú lúc nào cũng đối xử tốt với bố cháu?”

“Ý cháu là sao?”

“Chú luôn cho tiền và sẵn lòng ra tay giúp đỡ. Tại sao? Bố nói nó đã bắt đầu từ ngày chú gặp ông ấy ở Paris.”

“Ông ấy nói thế à?”

“Vâng.”

“Vậy thì chú không hiểu - cháu muốn biết cái gì nào?”

“Sự hào phóng này của chú. Đằng sau nó là gì?”

Khuôn mặt Eddie căng ra. Ông ta chải xong đầu trong lúc tìm kiếm từ ngữ thích hợp để trả lời tôi.

“Và trong lúc chú sắp trả lời câu đó, thì hãy trả lời câu này: tại sao chú lúc nào cũng chụp hình bố con cháu? Chú muốn làm gì với bố con cháu?”

“Chú chẳng muốn gì cả.”

“Vậy chỉ là tình bạn đơn thuần thôi à.”

“Dĩ nhiên!”

“Vậy thì chú có thể cho bố con cháu một triệu đô la không?”

“Thế thì nhiều quá.”

“Vậy, chú có được bao nhiêu?”

“Có thể, chú không biết, một phần sáu khoản ấy.”

“Là bao nhiêu?”

“Chú không biết.”

“Ừm, bố đã dành dụm, và cháu không biết ông có bao nhiêu, nhưng sẽ không đủ.”

“Đủ cho việc gì?”

“Để giúp ông ấy.”

“Jasper, chú cam đoan với cháu. Bất kể việc gì chú có thể làm, hoặc có thể cho cháu.”

“Vậy chú sẽ cho bố con cháu một phần sáu của một triệu đô la chứ?”

“Nếu nó giúp được cháu và bố cháu.”

“Chú điên rồi.”

“Chú không phải là người ở trong bệnh viện, Jasper.”

Tôi chợt cảm thấy áy náy vì làm tình làm tội Eddie. Ông ta thực sự là một người hiếm thấy, và rõ ràng tình bạn của họ có ý nghĩa rất lớn đối với ông ta. Tôi thậm chí còn có ấn tượng rằng ông ta nghĩ nó thiêng liêng sâu sắc đến nỗi không thể nào bị mai một dù cho bố thỉnh thoảng lại ghét cay ghét đắng ông ta.

Khi tôi quay lại bệnh viện, bố đang bị cột vào giường trong căn phòng màu xanh ô liu lần trước. Tôi nhìn trộm ông. Mắt ông đảo tròng trong đầu như những viên bi bị ném vào tách trà. Tôi cúi xuống và thì thầm vào tai ông. Tôi không chắc ông đang nghe, nhưng tôi vẫn thì thầm đến khản giọng. Sau cùng, tôi kéo ghế lại gần chỗ ông và đặt đầu lên cái bụng nhô lên xẹp xuống của ông rồi ngủ thiếp đi. Khi tỉnh lại, tôi nhận ra ai đó đã đắp chăn cho tôi và một giọng ồm ộp đang nói. Tôi không biết bố bắt đầu độc thoại từ khi nào, nhưng ông đang nói đến nửa câu rồi.

“...và vì thế mà người ta nói rằng ngành kiến trúc cũng giống như công việc tái tạo vũ trụ, còn tất cả nhà thờ và tu viện cũ đang nỗ lực thực hiện sứ mệnh thiêng liêng là tái tạo thiên đường.”

“Cái gì? Chuyện gì đang xảy ra vậy? Bố có sao không?”

Tôi chỉ có thể nhìn thấy hình dáng kì lạ của cái đầu ông. Ông đang gồng mình để nâng nó lên. Tôi đứng dậy, bật đèn, và tháo dây cột giường. Ông ngoái đầu nhìn bên này rồi bên kia, cố ngọ nguậy cổ.

“Chúng ta sẽ xây dựng một thế giới, Jasper ạ, theo thiết kế của riêng chúng ta, nơi mà chẳng ai được vào nếu không được phép.”

“Chúng ta sẽ xây một thế giới của riêng chúng ta?”

“Ừm, một ngôi nhà. Tất cả những gì ta cần làm là thiết kế nó. Con nghĩ sao?”

“Con nghĩ nó thật tuyệt,” tôi nói.

“Và con biết gì nữa không, Jasper? Bố muốn đây cũng là giấc mơ của con. Bố muốn con giúp bố. Bố muốn sự đóng góp của con. Bố muốn ý kiến của con.”

“Được thôi. Vâng. Tuyệt lắm.” tôi đáp.

Nó đã có tác dụng. Trong cơn bão cát của mình, bố đã tìm ra một dự án mới. Ông đã quyết định xây một ngôi nhà.

V.

Theo chỉ dẫn của bố, tôi mua cho ông tất cả những quyển sách về lý thuyết và lịch sử kiến trúc mà tôi tìm được, gồm cả những bộ sách nặng trịch về xây dựng cho động vật như tổ chim, đập hải ly, tổ ong, và hang nhện. Ông đón nhận những quyển sách một cách sung sướng. Chúng tôi sẽ xây một kho chứa cho linh hồn mốc meo của mình!

Bác sĩ Greg đi vào và để ý thấy chồng sách văn học kiến trúc. “Chuyện gì đang xảy ra ở đây thế này?”

Đầy tự hào, bố nói cho ông ta nghe ý tưởng của mình.

“Giấc mơ Úc vĩ đại, hả?”

“Gì cơ?”

“Tôi nói, anh đang theo đuổi Giấc mơ Úc vĩ đại. Tôi nghĩ đó là một ý rất hay.”

“Ý ông là sao? Có giấc mơ tập thể nữa ư? Thế sao chẳng ai bảo cho tôi biết cả? Mà ông nói lại xem, nó là cái gì ấy nhỉ?”

“Sở hữu ngôi nhà của riêng anh.”

“Sở hữu ngôi nhà của riêng anh? Đó là Giấc mơ Úc vĩ đại?”

“Anh biết nó là thế mà.”

“Đợi đã. Có phải chúng ta chỉ dùng từ Giấc mơ Mỹ vĩ đại rồi thay thế tên quốc gia thôi không?”

“Tôi không nghĩ thế,” bác sĩ Greg nói, trông lo lắng.

“Ông nói gì cũng được,” bố nói, đảo tròng mắt để cả hai chúng tôi cùng nhìn thấy.

***

Một tuần sau tôi quay lại. Các quyển sách mở toang và những trang sách bị xé toạc vương vãi khắp phòng. Khi tôi bước vào, bố đang nâng đầu mình lên như một cánh buồm căng gió. “Hay quá con đến rồi. Con nghĩ thế nào về việc thể hiện thiên đường tượng trưng của tử cung, một căn nhà khổng lồ và lấp lánh, còn chúng ta sẽ chôn mình bên trong và có thể lẳng lặng chết dần chết mòn?”

“Nghe hay đấy,” tôi đáp, dời một chồng sách ra khỏi ghế để ngồi xuống.

“Nói cho bố nghe xem con quan tâm đến cái nào sau đây nhé: lâu đài kiểu Pháp, nhà dân dã kiểu Anh, villa kiểu Ý, lâu đài kiểu Đức, mộc mạc kiểu chân quê.”

“Chẳng có cái nào.”

“Nhưng đơn giản về mặt hình học, được không? Về cơ bản là đơn giản, gọn gàng, sặc sỡ, nổi trội, và lòe loẹt, mà không vô vị chán ngắt.”

“Miễn bố thích là được.”

“Trên hết, bố không muốn cái gì có góc cạnh, vì thế có thể nó nên là hình tròn.”

“Ý hay đấy.”

“Con nghĩ thế à? Con có thích sống trong một quả cầu không?”

“Vâng, nghe được đấy.”

“Điều chúng ta muốn là hài hòa với môi trường thiên nhiên xung quanh. Một tổ hợp hữu cơ, đó chính là điều chúng ta tìm kiếm. Và bên trong bố nghĩ nên có hai phòng ngủ, hai phòng tắm, một phòng khách, một nhà bếp, và một phòng tối, không phải để rọi ảnh, mà chỉ để chúng ta có thể ngồi trong bóng tối. Giờ, còn gì nữa? Ta hãy nói về ngưỡng cửa nào.”

“Về cái gì?”

“Lối vào nhà.”

“Ý bố là cửa chính á?”

“Thế bố phải nói thêm bao nhiêu lần nữa?”

“Một lần là đủ rồi.”

Đôi mắt bố nheo lại thành hai khe mảnh và khóe miệng ông trễ xuống. “Nếu con cứ như thế, thì chúng ta dẹp hết toàn bộ bản vẽ đi. Thế sống trong một cái hang được không?”

“Một cái hang?”

“Bố nghĩ chúng ta đã đồng ý là sẽ sống trong một tòa nhà tượng trưng cho tử cung mà.”

“Bố.”

“Chà, nếu ta sống trong thân một cái cây cũ thì sao, như loài chim cắt ấy? À mà đợi đã. Bố biết. Ta có thể xây các bệ đỡtrong những cái cây. Con nghĩ sao, Jasper - chúng ta có phải là cư dân sống trong cây không?”

“Không hẳn.”

“Từ khi nào con không còn muốn sống trong niềm đam mê hoa lá nữa vậy?”

Bác sĩ Greg đã vào phòng. Ông ta đang nhìn chằm chằm chúng tôi như vị thẩm phán Tòa án tối cao đang nhìn vài ba tên Tân phát xít rửa xe của ông ta tại chốt đèn giao thông.

“Bố, chúng ta cứ xây một căn nhà bình thường đi. Chỉ cần một căn nhà dễ thương, bình thường, giản dị.”

“Con nói đúng. Chúng ta không cần bày vẽ. Thôi được. Con thích cái nào hơn? Một căn nhà bình thường hình khối hay một căn nhà bình thường hình trụ?”

Tôi thở dài. “Hình khối.”

“Con có bao giờ thấy Tháp Samara ở Iraq chưa?”

“Chưa. Còn bố?”

“Được rồi. Đây chính là nghịch lý về mặt cấu trúc mà chúng ta cần phải vượt qua. Bố muốn nghe thấy tiếng vang của bước chân mình, nhưng bố không muốn nghe tiếng vang bước chân của con. Ta giải quyết việc đấy thế nào?”

“Con không biết.”

“Thôi thế vậy. Ta hãy nói về trần nhà. Con có muốn trần nhà cao không?”

“Đương nhiên. Sao lại có người muốn trần nhà thấp nhỉ?”

“Để treo cổ. Được chưa? Gượm đã. Để xem nào...” Bố lục lọi các quyển sách của ông. “Lều của người da đỏ nhé?”

“Thôi nào, bố, chuyện gì xảy ra với não bố thế? Bố đi lan man quá đấy.”

“Con nói đúng. Con nói đúng. Chúng ta cần tập trung. Chúng ta cần tỉnh táo. Chúng ta cần hợp lý. Vậy thì hãy hợp lý nào. Những mục tiêu cần có trong bản thiết kế của một căn nhà là gì? Để đáp ứng nhu cầu vật lý của con. Ăn, ngủ, đại tiện, và làm tình. Cái đó thể hiện ra ở sự tiện nghi, tiện dụng, hiệu quả. Nhưng còn nhu cầu tinh thần thì sao? Cũng giống thế mà thôi, thật đấy. Nói thật, bố không hiểu tại sao chúng ta lại tách mình ra khỏi con người ban sơ trong việc này. Mục tiêu của chúng ta nên là tồn tại trong môi trường nhất quán và đẩy xa những động vật săn mồi.”

“Tuyệt.”

“Chỉ cần nhớ rằng kiểu nhà ở của chúng ta sẽ gây ra ảnh hưởng không nhỏ lên thói quen của chúng ta. Chúng ta phải thông minh trong việc này. Thế một cái lều tuyết của người Eskimo thì sao?”

“Không.”

“Một căn nhà có bánh xe! Một cây cầu kéo! Một cái hào!”

“Không! Bố! Bố bị mất tự chủ khi ở chỗ này rồi!”

“Thôi được! Thôi được! Cứ làm theo ý con. Chúng ta sẽ xây một cái gì đấy đơn giản. Tuy vậy, điều duy nhất bố nhấn mạnh là lý tưởng đằng sau bản thiết kế căn nhà của chúng ta nên là một câu tục ngữ của Ý.”

“Câu tục ngữ nào?”

“Chiếc áo giáp tốt nhất chính là tự giữ cho mình ở ngoài tầm tấn công.”

Ý tưởng này rõ ràng đang phản tác dụng. Bác sĩ Greg lặng lẽ dõi theo buổi động não với đôi mắt khép hờ phán xét. Bố đã trở nên điên cuồng với các ý tưởng, nhưng ông đã thực hiện cú nhảy vọt không mong đợi từ một kẻ trầm cảm sang một kẻ rối loạn tâm thần.

Trong lúc đó tôi quyết định diễn hùa theo và làm một đứa trẻ mồ côi tạm thời ngoan ngoãn, vì vậy tôi trở về ngôi nhà cho những đứa trẻ lạc loài. Điều đó có lý, vì nếu tôi trốn đi họ sẽ mai phục tôi mỗi lần tôi đến thăm bố trong bệnh viện, mà đột nhập vào một nhà thương điên thì khó chẳng kém khi trốn ra. Tôi cũng phải đi học trở lại. Bà French lái xe chở tôi đi vào buổi sáng, và trong ngày học tôi thận trọng không kể với bất kì ai về cơn suy sụp của bố hoặc về nguồn cơn khiến hai bố con tôi giờ đây phải sống trong những mái nhà khác nhau dành cho những quả trứng nứt - nói về chuyện đó đồng nghĩa với việc đầu hàng bản thân tôi trước thực tế. Tôi cứ tiếp tục sống như bình thường. Lẽ dĩ nhiên, trở về nhà sau giờ tan trường mỗi buổi chiều là một cơn ác mộng, dù thực ra thì, tất cả mọi người trong ngôi nhà đó đều bỏ lơ chuyện lạm dụng tình dục tôi, và chẳng có gì đáng quan tâm xảy ra ở đó ngoại trừ việc tôi cuối cùng cũng đã nhượng bộ trước sự tò mò thôi thúc và lắng nghe câu chuyện của mọi người, mà chúng đều bi đát hơn chuyện của tôi. Bằng cách này tất cả những đứa trẻ bị bỏ rơi đã cướp đi sự thương hại bản thân của tôi. Đó là khi tôi thực sự bị rút cạn. Ngay cả cảm thấy tiếc cho bản thân cũng không thể, tôi chẳng còn lại gì.

Và tệ hơn nữa là, thỉnh thoảng những kẻ ngốc ở bệnh viện lại cho phép bố sử dụng điện thoại. Tôi thường nghe và chịu đựng một cuộc điện đàm như thế này:

Giọng của tôi: “Xin chào?”

Giọng của bố: “Đây là nghịch lý về không gian: sắp xếp căn nhà như thế nào để nó vừa thoải mái cho chúng ta nhưng vừa làm cho khách không muốn nán lại quá bốn mươi lăm phút.”

Giọng tôi: “Không biết.”

Giọng bố: “Jasper! Đây sẽ là bài tập khó khăn, thiết thực! Không được lộn xộn! Phải là cái gì đó phản ánh tính cách của bố, không, sự khó xử của bố, sự dối trá của bố, dĩ nhiên, nó là tính cách của bố. Và màu sắc. Bố muốn nó màu trắng! Trắng lòa cả mắt!”

Giọng tôi: “Làm ơn đi mà bố, chúng ta có thể làm cái gì đơn giản được không?”

Giọng bố: “Hoàn toàn nhất trí. Chúng ta muốn một cái gì đơn giản có thể bị thiên nhiên bào mòn. Chúng ta không muốn bất cứ thứ gì bền hơn chúng ta.”

Giọng tôi: “OK.”

Giọng bố: “Không gian sống mở. Không. Cái đó không khuyến khích sự riêng tư của con người. Không, đợi đã, bố muốn cái đó. Bố muốn...”

Im lặng kéo dài.

Giọng tôi: “Bố, bố còn ở đấy không?”

Giọng bố: “Trường đấu bò tót! Nhà thờ gothic! Nhà xây bằng bùn!”

Giọng tôi: “Bố có uống thuốc không?”

Giọng bố: “Và không có bệ lò sưởi! Chúng luôn khiến bố nghĩ đến những chiếc bình chứa tro cốt bên trong.”

Giọng tôi: “Được thôi! Chúa ơi!”

Giọng bố: “Con thích cái nào hơn, mái hiên hay hành lang? Mà có gì khác nhau đâu nhỉ? Đợi đã. Bố không quan tâm. Chúng ta sẽ xây cả hai. Và bố sẽ nói con nghe một chuyện nữa. Dẹp hết chi tiết trang trí đi. Chúng ta chính là chi tiết trang trí!

Rồi tôi gác máy và nguyền rủa mình vì đã đẩy bố đi vào cái mà tôi nghĩ là một con đường tai hại khác. Những cuộc chuyện trò thế này chắc chắn đã không giúp tôi chuẩn bị cho sự thay đổi đột ngột sắp sửa diễn ra.

***

Một hôm tôi đến bệnh viện và bị choáng khi thấy bố đã sắp xếp những quyển sách thành một chồng gọn gàng. Toàn bộ những trang sách về các thiết kế nửa vời đã bị ném đi, và khi tôi ngồi xuống trong căn phòng ngăn nắp một cách quái lạ đó, ông cho tôi xem một tờ giấy với một bản thiết kế bình thường đến kinh ngạc của một ngôi nhà gia đình bình thường. Không có hào nước, cầu bắc qua hào, lều Eskimo, hay nhũ thạch. Không có trường đấu bò tót, cầu trượt trong nhà, rãnh nước, hay hang động ngầm dưới nước. Nó chỉ là một ngôi nhà bình thường. Việc xây dựng rất rõ ràng và đơn giản: một cấu trúc hình hộp cổ điển với một khu sinh hoạt ở giữa và vài căn phòng nằm cách xa đó. Tôi thậm chí có thể buộc phải thừa nhận rằng nó đúc kết đặc trưng kiến trúc quốc gia, đến tận kiểu hành lang ở các mặt.

Cuối cùng ông đã nhìn thấy rõ tình huống của mình: để xây nhà ông phải rời khỏi đây, và để ra khỏi đây ông phải thuyết phục những người có thẩm quyền rằng ông đã tỉnh táo trở lại và thích nghi với xã hội. Vì thế ông đóng kịch. Đó hẳn phải là một giai đoạn hao hơi tổn sức đối với ông, tập trung toàn bộ sức lực vào việc giả vờ làm người bình thường; ông làm việc này một cách chuyên tâm, và nói về Giấc mơ Úc vĩ đại và lãi suất và việc hoàn trả tiền thế chấp và các đội thể thao và triển vọng việc làm của ông; ông thể hiện nỗi bức xúc trước những điều làm cho người dân đất nước ông bức xúc: những vụ bê bối tình dục cấp bộ trưởng bằng tiền của người đóng thuế, lòng tham của doanh nghiệp, những nhà bảo vệ môi trường cực đoan, các cuộc tranh luận lý lẽ, và những vị thẩm phán nhân từ. Ông đã thể hiện quá thuyết phục hình ảnh Ngài bình thường đến nỗi bác sĩ Greg nuốt ừng ực từng giọt nhảm nhí mà bố tôi thải ra, trương phồng cảm giác chiến thắng khi kết thúc mỗi buổi trị liệu.

Vậy là, bốn tháng sau khi vào bệnh viện, bố được thả ra. Bố và tôi đến nhà Eddie và có được khoản vay, cuộc vay mượn thực chất chỉ gồm câu nói của bố, “Vậy ông có tiền chứ?” và Eddie nói, “Ừ.”

“Tôi sẽ trả lại cho ông,” bố nói, sau một thoáng im lặng khó chịu. “Gấp đôi. Tôi sẽ trả cho ông gấp đôi.”

“Martin, đừng lo lắng về việc đó.”

“Eddie. Ông biết Nietzsche nói gì về lòng biết ơn không.”

“Không, Marty, tôi không biết.”

“Ông ta nói một kẻ mắc nợ muốn chủ nợ của mình chết quách đi.”

“Được rồi. Cứ trả lại cho tôi.”

Sau khi chúng tôi rời nhà Eddie, bố xé toạc bản thiết kế căn nhà mơ ước của ông thành trăm mảnh.

“Bố đang làm gì thế?”

“Nó chỉ là một trò bịp. Chỉ để làm cho lũ khốn ấy nghĩ rằng bố bình thường,” bố nói, cười hềnh hệch.

“Nhưng bây giờ bố đã khỏe hơn rồi, phải không ạ?”

“Ừ, bố cảm thấy rất tốt. Ý tưởng xây nhà này thực sự đã giúp bố lấy lại phong độ.”

“Vậy nếu đó là trò bịp, thì bản thiết kế thật cho căn nhà của chúng ta đâu?”

“Chẳng có cái nào hết. Nghe đây. Việc quái gì phải bận tâm đến việc xây nhà cho mình? Nghe như một cơn đau đầu khủng khiếp của kẻ hành hương vậy.”

“Vậy chúng ta sẽ không xây nhà?”

“Ừ. Chúng ta chỉ mua một căn nhà thôi.”

“Được thôi. Vâng. Nghe hay thật đấy, bố ạ. Chúng ta sẽ mua một căn nhà.”

“Và rồi chúng ta sẽ giấu nó đi,” ông nói, mỉm cười đầy tự hào đến nỗi cuối cùng tôi đã hiểu ra tại sao kiêu hãnh lại là một trong bảy tội lỗi chết người, và động lực đằng sau nụ cười của ông ghê gớm đến nỗi tôi tự hỏi tại sao kiêu hãnh không nên là toàn bộ bảy tội lỗi của con người.

VI.

Theo bố, đó là một ý tưởng xuất hiện nguyên vẹn, được định hình hoàn chỉnh: chúng tôi sẽ mua một căn nhà và giấu nó trong một mê cung. Ý tưởng nảy ra với ông trong một trò chơi tâm lý về từ ngữ với bác sĩ Greg.

“Sức khỏe.”

“Bệnh tật.”

“Quả bóng.”

“Tinh hoàn.”

“Ý tưởng.”

“Sự phức tạp.”

“Nhà.”

“Ngôi nhà. Giấu trong một mê hồn trận do tôi tự thiết kế và sẽ xây trên một cơ ngơi rộng lớn trong rừng.”

“Cái gì?”

“Không có gì. Tôi phải quay lại phòng tôi một chút. Chốc nữa chúng ta chơi tiếp được không?”

Mà trước hết tại sao ông lại nảy ra ý tưởng này? Có lẽ vì mê hồn trận luôn là hình ảnh ẩn dụ dễ hiểu của linh hồn, hay trạng thái con người, hay sự phức tạp của quá trình, hoặc con đường dẫn đến Chúa. Tôi loại trừ những điều này vì chúng quá sâu sắc, và trong khả năng của mình, tôi chỉ biết rằng con người không làm mọi việc vì những lý do sâu sắc - những việc họ làm đôi khi sâu sắc, nhưng lý do của họ thì không. Không, tôi hẳn đã tạo cảm hứng cho toàn bộ kế hoạch lố bịch này khi chọn quà là quyển sách ma trận ngớ ngẩn đó. Việc không thể giải được một câu đố dành cho trẻ con đã khiến ông tức điên lên đến độ nó cắm vào não ông, và khi ý tưởng về việc thiết kế và xây dựng một ngôi nhà xuất hiện, nó đã hoặc là sáp nhập với ý tưởng về mê cung, hoặc là bao bọc xung quanh nó, bằng cách nào đó chúng hợp nhất lại khiến hai ý tưởng trở thành một.

“Bố. Chẳng lẽ chúng ta không thể có một căn nhà như mọi người khác và đừng giấu nó được sao?”

“Không.”

Không ai có thể thuyết phục được ông từ bỏ ý nghĩ đó, không phải tôi lẫn Eddie và càng không phải là bác sĩ Greg, người đã biết được sự thật khi bố trở lại để kiểm tra định kì. Ông ta quả quyết với bố rằng một mê hồn trận không phải là Giấc mơ Úc vĩ đại, mà điều đó lại khá đúng, thật tình là không phải, nhưng cuối cùng cũng chẳng ai cực lực phản đối, bởi vì không ai ngoài tôi thực sự nghĩ rằng ông quả thực sẽ xây nó.

Chúng tôi đi tìm nhà ở khắp nơi ngoài Sydney, và mỗi lần như vậy bố lại lao ra ngoài dọc theo căn nhà, kiểm tra khu đất rừng, gật đầu duyệt những cái cây và khoảng không gian và tiềm năng về một chốn cô quạnh. Bản thân ngôi nhà dường như không quan trọng đối với ông, và ông chỉ nhìn lướt qua chúng. Kiểu thuộc địa? Kiểu liên bang? Kiểu Victoria? Kiểu hiện đại? Ông chẳng quan tâm. Ông chỉ yêu cầu mọi phía xung quanh ngôi nhà phải được bao bọc bằng đất rừng rậm rạp. Ông muốn cây cối và bụi rậm và đất đá hòa quyện vào nhau, đất rừng rậm dày đặc đến nỗi ngay cả khi không có các bức tường mê cung thì khung cảnh tự nhiên đã khiến người ta gần như không thể vượt qua.

Trong lúc tìm kiếm địa điểm hoàn hảo, ông tích lũy hàng chục mê cung từ khắp mọi nơi, từ sách câu đố đến các bản thảo cũ những mê hồn trận đời xưa, từ Ai Cập đến Anh quốc trung cổ, chủ yếu dùng chúng làm cảm hứng, chứ không muốn đơn thuần sao chép một bản thiết kế có sẵn. Ông say sưa lao động bằng cây bút chì để phát minh ra một mẫu phức tạp do ông tự tưởng tượng mà ông sẽ thực sự xây dựng trên mảnh đất. Đây là bước đi quan trọng đầu tiên của ông trong việc can thiệp vào vũ trụ hiện hữu bằng trí não riêng của ông, vì thế ông ám ảnh với kết cấu của ngôi nhà: nó không chỉ cần được khóa lại trong sự bảo vệ của mê cung, mà còn phải đáp ứng nhu cầu làm cung điện để suy ngẫm, nơi bố có thể đi tha thẩn và vẽ bản đồ mà không bị quấy nhiễu - một căn cứ cho “các chiến dịch hành động” của ông, bất kể chúng là gì. Ông cũng muốn có những ngõ cụt và đường đi, nơi mà một kẻ đột nhập, hay “khách”, sẽ buộc phải đưa ra vài lựa chọn sinh tử nên đi lối nào, dẫn đến kết quả là bị mất phương hướng và/hoặc chết đói và điên loạn. “Đường không qua được!” trở thành phương châm mới của ông. “Chết tiệt!” trở thành phương châm của tôi. Tại sao? Những thiết kế đó rình rập theo các cơn ác mộng của tôi. Dường như toàn bộ các tai họa tương lai của chúng tôi đang hình thành trong chúng, và tùy vào bản thiết kế nào được ông chọn mà chúng tôi sẽ hứng chịu tai họa khác nhau. Vào buổi tối tôi tự nghiền ngẫm các bản thiết kế, cố gắng dự đoán những tai ương rình rập trong chúng.

Một buổi chiều nọ chúng tôi đến xem một khu đất ở cách thành phố nửa giờ đi đường về phía tây bắc. Để đến được khu đất này chúng tôi phải đi qua một con đường riêng, là một lối mòn dài quanh co bẩn thỉu, trên đó có đôi lần phải nhảy băng qua những cánh rừng cháy trụi, những thân cây bị thiêu thành than của chúng là một lời cảnh báo: sống trong rừng rậm đồng nghĩa với việc sống trong một vùng chiến sự suốt đợt ngừng bắn không đáng tin cậy.

Cơ ngơi này có vẻ như được tạo ra theo đúng ý đồ của ông: nó dày đặc, dày đặc, dày đặc. Những ngọn đồi vách dựng đứng và sườn dốc đột ngột, những khe nước chằng chịt, những lớp đá lớn trồi lên, những con lạch ngoằn ngoèo mà bạn phải lội để đi qua, một tán bụi cây dày đặc và cỏ cao đến thắt lưng đòi hỏi bạn phải mang loại giày đặc biệt. Khi chúng tôi xem xét khu đất này, chúng tôi bị lạc ngay, và bố xem đó là một dấu hiệu tốt. Đứng trên mặt đất hơi dốc xuống, ông nhìn những bụi bặm, cây cối, bầu trời. Vâng, ông xem xét cả mặt trời. Ông nhìn thẳng vào nó. Ông quay sang tôi và đưa ra hai ngón tay cái. Đây chính là cơ ngơi vàng!

Đáng tiếc là, ngôi nhà lại chẳng có gì để xem cả. Nếu là tôi, tôi sẽ đánh rớt nó không thương tiếc. Nó là một thứ cũ kĩ, ọp ẹp, sơ sài - không khá hơn chiếc hộp đựng giày hai ngăn cổ điển. Tấm thảm sợi thô rất dày và xấu xí, và đi qua sàn phòng khách cũng giống như đi trên một bộ ngực lông lá. Nhà bếp bốc mùi hôi như nhà vệ sinh. Nhà vệ sinh, phủ đầy rêu mốc, trông như khu vườn. Khu vườn là nghĩa trang của cỏ dại và cỏ chết. Cầu thang kêu cọt kẹt như bộ xương khô. Sơn trần nhà có bọt bong bóng. Mỗi căn phòng tôi vào đều nhỏ hơn và tối hơn căn phòng trước đó. Lối đi trên lầu thu hẹp lại khi bạn đi dọc theo nó, quá nhiều đến nỗi điểm kết thúc trông như một dấu chấm.

Điều tệ hại nhất là, để đến trường tôi phải cuốc bộ nửa kilomet qua mê cung, rồi đi xuống con đường riêng dài ngoằng của chúng tôi đến trạm chờ xe buýt gần nhất để có thể ngồi xe hai mươi phút đến trạm tàu, rồi ngồi tàu thêm bốn mươi lăm phút nữa để đến bờ biển, nơi trường học tôi tọa lạc, nhưng xe buýt chỉ đến ba lần một ngày, và buổi sáng chỉ đến duy nhất một lần, và nếu tôi lỡ xe thì coi như xong. Tôi phản đối đề nghị của bố là chuyển đến một ngôi trường mới trong vùng, vì tôi không thể chịu nổi những rắc rối của việc tạo ra một bè lũ kẻ thù mới. Tốt hơn hết nên làm kẻ bắt nạt bố ạ, tôi lý lẽ.

Bố ký giấy tờ chiều hôm đó, và tôi phải chấp nhận rằng hành động điên rồ này sẽ xảy ra. Tôi biết mình sẽ không sống sót trong tình trạng lưu vong quá lâu trên cơ ngơi này, và việc tôi dọn ra ngoài bỏ ông lại một mình chỉ còn là vấn đề thời gian, đó là một ý nghĩ khó xử khiến tôi cảm thấy tội lỗi thảm hại. Tôi tự hỏi liệu ông có nhận ra điều ấy không.

Ông lập tức bắt tay vào việc thuê thợ xây, và tuy bố không phải loại người dính dáng gì đến công trường xây dựng (ngay cả nếu nó là của ông), điều đó cũng không ngăn được bố làm họ tức chết. Họ nghiến răng kèn kẹt khi ông đưa ra những bố cục khổng lồ. Bố đã điều chỉnh thiết kế mê cung của ông để phù hợp với kết cấu của địa hình và nhấn mạnh rằng sẽ có rất ít cây bị tổn hại. Ông đã tối thiểu hóa các mê cung của ông xuống còn bốn cái, và thay vì giảm các phương án xuống còn một, ông lại phối hợp tất cả chúng với nhau thành một phần này hoặc phần khác của khu nhà, để cho bốn câu đố khó giải như nhau sẽ bị ép lên cùng một lô đất: mê cung trong mê cung, và ở giữa là ngôi nhà tương đối bình thường của chúng tôi.

Tôi sẽ không đi vào toàn bộ những chi tiết chán ngắt - những bố cục khoanh vùng, những mật mã xây dựng, phác họa các ranh giới, sự chậm trễ, những vấn đề chưa lường được như mưa đá và sự biến mất không có liên quan của bà vợ người thợ xây, nhưng tôi sẽ nói những bức tường mê hồn trận đã được xây nên từ các hàng rào cây, vô số đá, cùng những tảng đá lớn, đá cuội, những phiến sa thạch và đá hoa cương, và hàng nghìn hàng vạn viên gạch. Vì bố tuyệt đối không tin tưởng các công nhân, nên ông đã phá vỡ thiết kế và giao cho mỗi đội một phần để xây dựng. Bản thân các công nhân cũng thường xuyên bị lạc giữa hàng nghìn con ngõ và lối đi hiện ra, và Eddie thường tham gia cùng chúng tôi trong các cuộc tìm kiếm. Ông ta thường chụp hình những khuôn mặt cáu bẳn của họ khi chúng tôi tìm thấy họ.

Tuy vậy, dần dần những bức tường đá cao và những hàng rào bụi cây quá khổ lần lượt được dựng lên, và ngôi nhà bị che khuất tầm mắt. Một sự tổng hợp của ngôi nhà và lớp vỏ bọc. Phức tạp về mặt tâm lý. Hầu như không thể tiếp cận. Chúng tôi dọn vào bên trong, những nạn nhân tự nguyện của trí tưởng tượng bao la và độc hại của bố.

***

Khi Anouk trở về từ Bali, cô ta ngạc nhiên thì ít mà tức giận thì nhiều trước việc đã bỏ lỡ mọi thứ: vụ suy sụp, mái ấm cho trẻ em, bệnh viện tâm thần, và vụ xây ngôi nhà kỳ quặc của chúng tôi. Nhưng, thật không thể tin nổi, cô ta trở lại làm việc như thể chưa có gì xảy ra cả. Cô ta buộc bố phải lắp đặt hệ thống liên lạc nội bộ để khi cô ta hoặc bất kì vị khách nào được mời đến, chúng tôi có thể dẫn họ đi qua mê cung để đến ngôi nhà kiên cố của chúng tôi. Tôi sẽ không bao giờ hiểu được người phụ nữ này, tôi thầm nghĩ, nhưng nếu cô ta muốn nấu ăn và dọn dẹp ở một nơi thênh thang bất tận, thì đó là lựa chọn của cô ta.

Vậy đây chính là nơi mà chúng tôi sống.

Chúng tôi bị cắt đứt và chỉ có những âm thanh tự nhiên của rừng rậm để xoa dịu, kích thích, và gây hoảng sợ cho chúng tôi. Không khí ở đây khác hẳn, và tôi ngạc nhiên với chính mình: tôi yêu thích sự yên tĩnh (ngược lại với bố, ông bắt đầu có thói quen mở radio suốt cả ngày.) Lần đầu tiên tôi cảm thấy sự thật rằng bầu trời bắt nguồn từ điểm cách mặt đất chỉ khoảng 0,5 cm. Vào buổi sáng rừng rậm có mùi như loại sáp lăn nách thơm tho nhất mà bạn từng ngửi thấy, và tôi nhanh chóng làm quen với những chuyển động bí ẩn của cây cối, chúng phập phồng nhịp nhàng như một người bị gây mê. Đôi lúc bầu trời đêm trông có vẻ chông chênh, thu lại thành các điểm, rồi san phẳng ra, như một tấm khăn trải bàn bị cuộn lại thành búi, rồi đột ngột bị kéo căng. Tôi thường thức giấc và trông thấy những đám mây là đà vắt vẻo lơ đễnh trên các chóp cây. Đôi khi cơn gió thật nhẹ nhàng tựa như thổi từ lỗ mũi của một em bé, lại có lúc nó mạnh đến nỗi tất cả cây cối đều gồng mình bám trụ xuống đất với những bộ rễ yếu ớt tựa băng dính bị gấp đôi lại.

Tôi cảm thấy viễn cảnh tai ương suy yếu dần, thậm chí đã chấm dứt, và tôi đã dám suy nghĩ tích cực trở lại về những tương lai sôi nổi nhẹ nhàng của chúng tôi.

Trong một buổi tản bộ quanh khu đất ý nghĩ ấy chợt đến với tôi như một vụ lở bùn: sự khác biệt kinh ngạc nhất giữa bố tôi và tôi chính là tôi chuộng sự đơn giản còn ông chuộng sự phức tạp. Không phải để nói rằng tôi thường xuyên, hay luôn luôn, thành công trong việc đạt được sự đơn giản, mà để nói rằng tôi chuộng nó, cũng như ông thích làm vấy bùn mọi thứ khi có thể, làm rối tinh rối mù mọi thứ cho đến khi ông không còn nhìn thấy rõ trắng đen nữa.

***

Một buổi tối ông đang đứng trong vườn sau nhìn ra ngoài. Đó là một đêm ẩm ướt và mặt trăng chỉ là một đốm nhòe.

Tôi nói, “Bố đang nghĩ gì vậy?”

Bố nói, “Đó là một bất ngờ.”

Tôi nói, “Con không thích sự bất ngờ. Không còn thích nữa.”

Ông nói, “Con còn quá nhỏ để...”

Tôi nói, “Con không đùa đâu. Không thích bất ngờ nữa.”

Bố nói, “Bố sẽ không tìm việc làm khác.”

Tôi nói, “Chúng ta sẽ sống ra sao?”

Ông nói, “Chúng ta sẽ ổn thôi.”

Tôi nói, “Còn thức ăn và chỗ ở?”

Bố nói, “Chúng ta có chỗ ở. Eddie nói không cần bố trả nợ vội, và nhờ có gã, chúng ta sở hữu cơ ngơi này.”

Tôi nói, “Còn Anouk thì sao? Chúng ta làm sao trả tiền cho cô ta?”

Ông nói, “Bố sẽ cho cô ta căn phòng phía sau để dùng như một xưởng vẽ. Cô ta muốn có nơi để điêu khắc.”

Tôi nói, “Còn thức ăn? Còn thức ăn thì sao?”

Ông nói, “Chúng ta sẽ trồng trọt.”

Tôi nói, “Thịt ư? Chúng ta sẽ nuôi trồng thịt?”

Rồi ông nói, “Bố đang nghĩ đến việc dọn dẹp cái ao.”

Ở mảnh vườn phía sau, có một cái ao hình số tám với những hòn đá nhỏ màu trắng nằm quanh chu vi. “Và bố có thể thả ít cá vào đấy,” ông nói thêm.

“Chết tiệt, bố ạ, con không biết.”

“Nhưng lần này bố sẽ chăm sóc chúng, được chưa?”

Tôi đồng ý.

Như đã hứa, ông dọn sạch cái ao và thả vào đấy ba con cá Nhật Bản lạ. Chúng không phải cá vàng; chúng to và sặc sỡ đến nỗi chúng hẳn đã từng là hình thái tiến bộ nhất của loài cá trước khi có loài cá mập trắng, và bố cho chúng ăn mỗi ngày một lần, rắc thức ăn theo hình bán nguyệt vắt ngang qua ao như đang thực hiện một nghi lễ đơn giản, thiêng liêng.

Một hai tháng sau, tôi đang ở trong nhà bếp với Anouk và nhìn thấy bố ở khu vườn phía sau với một chiếc ống chứa đầy một chất màu trắng mà ông đang rải xuống ao bằng từng thìa lớn. Ông đang huýt sáo đầy mãn nguyện.

Anouk áp mặt vào cửa sổ, rồi quay sang tôi với ánh mắt kinh ngạc. “Đó là chlorine,” cô ta nói.

“Vậy thì nó không tốt cho lũ cá,” tôi nói.

“MARTIN!” Anouk gào lên qua cửa sổ. Bố quay ngoắt lại, lộ vẻ lúng túng. Bạn có thể trông thấy trên mặt ông, kể cả từ khoảng cách đó, rằng người đàn ông này đã nếm trải sự suy sụp tinh thần của chính bản thân, một dư vị hẵng còn chưa rời khỏi miệng ông ấy. “ÔNG ĐANG LÀM CÁI GÌ VẬY, ĐỒ ĐIÊN?” Anouk hét lên. Bố tiếp tục nhìn cô ta trừng trừng như thể cô ta là con rối mà ông tạo ra từ gỗ và khiến ông kinh ngạc vì biết nói.

Chúng tôi chạy ra ngoài. Đã quá muộn. Ba người chúng tôi đứng nhìn lũ cá chết đang nằm nghiêng, mắt lồi ra bàng hoàng.

“Ông biết vấn đề của ông là gì không?” Anouk hỏi.

“Biết,” bố khẽ đáp. “Tôi nghĩ tôi biết.”

Tối hôm đó tôi lạnh cóng. Lửa đã tắt, vì thế tôi lên lầu đi ngủ, mặc quần áo kín mít và trùm chăn lên đầu. Từ giường tôi có thể trông thấy ánh sáng mềm mại tỏa ra từ mảnh vườn phía sau. Tôi đi đến cửa sổ để nhìn ra. Bên dưới, bố mặc pijama, đang đứng cầm một ngọn đèn dầu hỏa lập lòe trong đêm tối.

Ông đang tưởng nhớ những con cá đó. Ông còn làm quá đến mức nhìn chằm chằm vào đôi tay mình với vẻ mặt tội lỗi rất kịch, trông như đang tham gia một vở Macbeth của sinh viên. Suốt một lúc tôi theo dõi ông đứng đấy trong khu vườn sau nhà, mảnh trăng non chiếu ánh sáng yếu ớt lên tiểu vương quốc của ông. Gió cắt ngang những thân cây. Lũ ve hát một bài hát đơn điệu. Bố ném đá xuống ao. Tôi cảm thấy kinh tởm, nhưng hình ảnh của ông trông thật bắt mắt.

Tôi nghe thấy một tiếng động phía sau mình.

Có cái gì đó trong phòng tôi: một con dơi, một con thú ôpôt, hay một con chuột. Tôi biết mình sẽ không thể chợp mắt cho đến khi nó chết hoặc đã bị đem đi; tôi biết tôi sẽ nằm trên giường trong bóng tối chờ đợi cảm giác hàm răng sắc lởm chởm gặm ngón chân mình. Đấy là ngôi nhà mới của chúng tôi. Nhà của chúng tôi, nơi từ mọi vết nứt và hang hốc nhỏ, mọi lỗ và khe hở, có một vật thể sống bò ra.

Tôi đi xuống nhà và ngả mình xuống ghế sofa đúng vào lúc bố đi từ ngoài vườn vào.

“Tối nay con sẽ ngủ dưới này,” tôi nói.

Ông gật đầu. Tôi nhìn ông lướt mắt qua kệ sách để kiếm gì đó để đọc. Tôi xoay người sang bên và nghĩ sự hoàn tất dự án của ông đã đem lại một mối nguy hiểm mới - ông có thể một lần nữa đặt mình vào thế dễ bị tổn thương trước sự vặn vẹo của hai ngón tay cái. Bây giờ ông định làm gì? Với tất cả những hoạt động trong đầu ông? Ngôi nhà và mê cung đã giúp ông duy trì một thời gian và sẽ tiếp tục duy trì ông thêm một thời gian nữa, nhưng chúng sẽ không thể làm thế mãi. Sớm muộn ông cũng sẽ cần đến một dự án mới, và nếu ai đó xem xét lại quy mô tiến triển của các dự án mà ông đã thực hiện - hộp thư góp ý, Cẩm nang tội ác, việc xây dựng mê cung - rõ ràng dự án kế tiếp sẽ phải thật vĩ đại. Một cái gì đó mà, mỉa mai thay, sẽ duy trì ông đến lúc chết và có thể là thứ sẽ giết chết ông.

Bố ngả lưng vào chiếc ghế dựa và giả vờ đọc. Tôi biết chính xác ông đang làm gì: ông đang nhìn tôi ngủ. Việc đó từng làm tôi khó chịu, cái thói quen quái gở này của ông. Giờ đây tôi thấy nó lại dễ chịu một cách kì lạ - âm thanh lật giấy trong sự im lặng, hơi thở khò khè của ông và sự có mặt ngột ngạt lấp đầy các góc phòng.

Ông lật các trang sách rất nhanh. Giờ thì ông không chỉ giả vờ đang đọc sách, ông còn giả vờ đọc lướt nữa chứ. Tôi cảm thấy đôi mắt ông như chiếc bao cát đè trên đầu mình, và tôi duỗi người trên ghế sofa, rên khẽ một tiếng, rồi sau một khoảng thời gian đáng tin, giả vờ nằm mơ.

[35] Một loại mũ rộng vành.

[36] Ralph Waldo Emerson (1803-1882) là nhà viết tiểu luận, nhà thơ, triết gia người Mỹ, và cũng là người đi đầu trong phong trào tự lực cánh sinh đầu thế kỷ 19.

« Lùi
Tiến »