Ắt hẳn cái mê cung bên ngoài đã làm nhiễm độc mọi thứ bên trong nó. Còn lý do nào khác khiến bố để lại những mẩu giấy khắp nhà với những lời nhắn vô nghĩa trên đó, chẳng hạn như “Can’t love ear and not your open ugly raw room onto old maps[37]!”? Dễ giải mã những lời nhắn này bằng cách sử dụng hệ thống mật mã cơ bản nhất, chữ cái đầu tiên của mỗi từ trong câu ghép lại thành lời nhắn thật sự.
“Can’t love ear and not your open ugly raw room onto old maps!”
trở thành
“Clean your room!”[38]
Rồi ông bắt đầu với trò đảo chữ, những chữ cái bị xáo lên và thứ tự thông thường của chúng được sắp xếp lại.
“Egon ot het sposh. Kabc ralet.”
trở thành
“Gone to the shops. Back later.”[39]
Rồi một đêm nọ, vài tuần sau ngày sinh nhật thứ mười sáu của tôi, tôi tìm thấy lời nhắn sau đây gắn trên tấm gương phòng tắm:
rezizsl ta ta ixs em teme
Mất một lúc tôi mới giải mã được nó, vì ông đã sắp xếp lại thứ tự các từ cũng như các chữ cái. Sau vài phút nghiền ngẫm, tôi đã giải được nó:
“Meet me at Sizzler at six.”[40]
Sizzler là nơi chúng tôi thích đến để ăn mừng chuyện vui - nói cách khác, chúng tôi đã đến đấy một lần, vào năm năm trước, sau khi bố trúng số 46 đô la. Tôi đạp xe qua mê cung đến đường cái rồi đón xe buýt vào thành phố đến Khách sạn Carlos. Nhà hàng Sizzler này nằm ở tầng trên cùng, dù bạn không cần ở tại khách sạn mới được ăn ở đó. Đương nhiên, bạn có thể ở đó nếu bạn muốn, nhưng thật ra mà nói, một khi bạn đã ăn xong và thanh toán hóa đơn, họ quả thực chẳng bận tâm bạn ngủ ở đâu.
Khi tôi đến nơi, bố đã ngồi ở một bàn cạnh cửa sổ, tôi đoán là để chúng tôi có thể nhìn ra cảnh phố xá trong những quãng lặng khó tránh khỏi của buổi nói chuyện.
“Thế chuyện học hành của con sao rồi?” ông hỏi khi tôi ngồi xuống.
“Không tệ lắm.”
“Hôm nay học được gì không?”
“Mấy thứ thông thường ấy mà.”
“Chẳng hạn như?”
“Bố biết đấy,” tôi nói, và trở nên hồi hộp khi nhận ra ông đang không nhìn tôi. Có lẽ ông đã nghe ai đó nói rằng ta không nên nhìn thẳng vào mặt trời để khỏi trông gà hóa cuốc.
“Bố có cái này cho con xem,” ông nói. Ông đặt một chiếc phong bì lên bàn và gõ ngón tay lên nó.
Tôi cầm chiếc phong bì đã bóc lên và lấy lá thư bên trong ra. Phần in đầu thư là của trường tôi. Trong lúc đọc, tôi vờ làm ra vẻ lúng túng, nhưng tôi nghĩ kết quả lại thành ra vẻ tự thú.
Kính thưa ông Dean,
Thư này nhằm chính thức thông báo với ông rằng con trai của ông, Jasper Dean, có dính líu đến một vụ tấn công trên một chuyến tàu vào buổi chiều ngày hai mươi hai tháng Tư, sau giờ tan trường. Chúng tôi có bằng chứng không thể chối cãi rằng con trai của ông, trong lúc mặc đồng phục nhà trường, đã tấn công một người không gây hấn gì với cậu ta. Ngoài ra, chúng tôi viết thư này để thông báo với ông rằng con trai ông đã tự nguyện bỏ học.
Michael Silver
Hiệu trưởng
“Tại sao họ lại viết là con mặc đồng phục nhà trường? Sao việc đấy lại quan trọng nhỉ?”
“Thì họ là vậy mà.”
Bố tặc lưỡi.
“Con sẽ không quay lại trường đâu,” tôi nói.
“Tại sao?”
“Con đã nói tạm biệt cả rồi.”
“Mà con tấn công người ta à? Có thật không?”
“Bố phải ở đấy mới hiểu.”
“Có phải lúc đấy con đang tự vệ không?”
“Chuyện phức tạp hơn nhiều. Bố xem, mọi thứ mà con cần biết thì con đều có thể tự dạy cho mình. Con có thể tự đọc sách. Lũ ngốc ấy cần có người lật sách cho chúng. Con thì không.”
“Con sẽ làm gì?”
“Con sẽ nghĩ ra thứ gì đó,” tôi đáp. Làm sao tôi có thể nói với ông rằng giờ đây tôi muốn thứ mà ông đã từng muốn - du lịch trên những chuyến tàu và phải lòng những cô gái môi cong mắt trầm? Tôi chẳng bận tâm nếu cuối hành trình tôi không có gì để khoe ngoài cặp đùi đau đớn. Tôi chẳng có lỗi gì nếu cuộc đời của kẻ lang thang, của kẻ lữ hành, lại không còn được thế gian đoái hoài đến. Sẽ ra sao nếu người ta không thể chấp nhận được nữa cuộc đời cuốn theo chiều gió, hỏi xin một mẩu bánh mì và một mái nhà, ngủ trên những đống cỏ khô và tận hưởng thú yêu đương với những cô thôn nữ chân trần, rồi sau đó trốn chạy trước mùa gặt? Đây là cuộc sống mà tôi mong muốn, bay bổng khắp nơi như chiếc lá đầy lòng khát khao.
Nhưng rủi thay, bố lại không thích ý tưởng đứa con trai duy nhất của ông lông bông không mục đích qua không gian và thời gian, bởi ông bắt đầu mô tả kế hoạch cuộc đời tôi. Ông dựa lưng vào ghế và nói, “Con phải học hành đến nơi đến chốn.”
“Bố đâu có học hành đến nơi đến chốn.”
“Bố biết. Con không muốn theo chân bố, phải không nào?”
“Con không theo chân bố. Bố không có quyền can thiệp chuyện bỏ học của con.”
“Ái chà, vậy con định làm gì?”
“Con sẽ đi phiêu bạt giang hồ. Để xem chuyện gì xảy ra.”
“Bố sẽ cho con biết chuyện gì xảy ra. Phong ba bão táp.”
“Con sẽ liều mạng.”
“Nghe đây, Jasper. Bố biết quá rõ con đường chính xác dẫn đến những bữa ăn tối đông lạnh và quần áo bẩn. Bố đã bỏ học. Bố đã đi lang thang phiêu bạt khắp thế gian. Bố không cho mình lựa chọn nào khác ngoài việc tiếp tục xa rời xã hội. Nhưng bố đã đưa con trở lại trường học vì một lẽ: để con có thể đặt một chân vào cả hai thế giới: của chúng ta và của họ. Chẳng có lý do để bỏ đi vào lúc này như thể bỏ trốn khỏi hiện trường án mạng. Hãy ở lại. Hãy học đến nơi đến chốn. Rồi làm những gì con muốn. Con muốn học đại học? Con muốn tìm việc làm và ổn định cuộc sống? Con muốn đi du lịch đến những xứ độc tài hay ho nhất thế giới? Con muốn bị nhấn chìm trong một dòng sông ở nước ngoài vào mùa mưa lũ? Gì cũng được. Chỉ cần cho bản thân mình một lựa chọn. Vào lúc này hãy ở yên trong hệ thống, được chứ?”
“Bố có làm thế đâu. Đã bao nhiêu lần con nghe bố nói, ‘Đ. mẹ cái hệ thống này’? Thì, đấy chính là việc con đang làm. Đ. nó.”
Tội nghiệp chúng tôi, những đứa con nổi loạn. Cũng như bạn, chúng tôi có quyền nổi loạn chống lại cách hành xử của bố mình, chúng tôi cũng có tình trạng bất phục tùng và những cuộc cách mạng bùng nổ trong lòng. Nhưng làm sao bạn có thể nổi loạn chống lại sự nổi loạn? Liệu điều đó có nghĩa là quay trở lại sự phục tùng không? Thế thì không tốt. Nếu tôi làm thế, thì một ngày nào đó con trai tôi, nổi loạn chống lại tôi, sẽ trở thành bố tôi mất.
Bố chồm về trước như để tự thú một vụ giết người mà ông rất chi tự hào.
“Xem nào, nếu con định đi phiêu bạt giang hồ, thì bố muốn cho con một lời cảnh báo,” ông nói, chân mày cong lên trông thật chướng mắt. “Cứ gọi đấy là một biển báo đường. Bố cũng không chắc nên gọi nó là gì.”
Bố làm ra vẻ nghĩ ngợi. Hơi thở của ông trở nên gấp gáp. Ông xoay vòng vòng và động vào đôi nam nữ ngồi tại chiếc bàn sau lưng chúng tôi. Đột nhiên ông nói tiếp lời cảnh báo của mình.
“Người ta luôn than phiền mình không có giày cho đến khi họ nhìn thấy một người cụt chân, rồi họ than phiền mình không có xe lăn điện. Tại sao? Điều gì khiến họ tự động chuyển đổi bản thân từ một hệ thống tẻ nhạt này sang một hệ thống chán ngắt khác, và tại sao ý chí tự do lại chỉ được sử dụng theo chi tiết chứ không phải theo những phác thảo chung chung - không phải ‘Tôi có nên làm việc không?’ mà là ‘Tôi nên làm việc ở đâu?’ và không phải ‘Tôi có nên lập gia đình không’ mà là ‘Khi nào thì tôi nên lập gia đình?’ Tại sao chúng ta không đột nhiên hoán đổi đất nước để mọi người ở Pháp chuyển đến Ethiopia và mọi người ở Ethiopia chuyển đến Anh và mọi người ở Anh chuyển đến vùng Caribbe và cứ như thế cho đến khi cuối cùng chúng ta chia sẻ trái đất như chúng ta lẽ ra phải làm và rũ bỏ lòng trung thành điên cuồng, khát máu, ích kỉ và đáng xấu hổ của mình? Tại sao lại hao tốn ý chí tự do cho một sinh vật có vô vàn những lựa chọn song lại giả vờ chỉ có một hoặc hai sự lựa chọn?
“Nghe đây. Con người cũng giống như những cái đầu gối bị gõ bằng búa cao su tí hon. Nietzche là cây búa. Schopenhauer là cây búa. Darwin là cây búa. Bố không muốn là búa, bởi vì bố biết các đầu gối sẽ phản ứng thế nào. Biết ra thì chán lắm. Bố biết vì bố biết rằng người ta có lòng tin. Người ta hãnh diện với lòng tin của họ. Lòng kiêu hãnh bán đứng họ. Đó là lòng kiêu hãnh vì được sở hữu. Bố đã có những ảo ảnh bí ẩn và nhận thấy chúng quá ư ồn ào. Bố đã nhìn thấy những ảo ảnh đã nghe thấy những tiếng động đã ngửi thấy những mùi hương nhưng bố mặc kệ chúng như bố sẽ luôn mặc kệ chúng. Bố mặc kệ những điều bí ẩn này vì bố đã nhìn thấy chúng. Bố đã thấy nhiều hơn hầu hết mọi người, vậy mà họ lại tin còn bố thì không. Mà tại sao bố không tin? Bởi vì có một tiến trình đang diễn ra và bố có thể nhìn thấy nó.
“Nó xảy ra khi người ta nhìn thấy Cái chết, thứ vẫn luôn hiện diện. Họ thấy Cái chết nhưng lại ngộ nhận là Ánh sáng. Họ cảm thấy cái chết của chính họ và họ gọi đấy là Chúa trời. Việc này cũng xảy đến với bố. Khi bố cảm thấy từ thẳm sâu trong đáy lòng mình rằng cuộc sống này có ý nghĩa, hoặc có Chúa, bố biết đó thực sự là Cái chết, nhưng vì bố không muốn nhìn thấy Cái chết giữa thanh thiên bạch nhật, nên tâm trí bố bèn lập mưu và nói Nghe đây mày sẽ không chết đừng lo mày rất đặc biệt mày có ý nghĩa cuộc đời này có ý nghĩa mày không cảm nhận được nó sao? Và bố vẫn thấy Cái chết và cảm nhận được cả nó. Rồi tâm trí bố nói Đừng nghĩ về cái chết lalalala mày sẽ luôn luôn đẹp đẽ và đặc biệt và mày sẽ không bao giờ chết không bao giờ không bao giờ không bao giờ mày có nghe nói về linh hồn bất tử chưa ồ mày có một linh hồn bất tử thật đẹp đấy. Rồi bố nói Chắc là vậy và tâm trí bố nói Hãy nhìn cảnh hoàng hôn chết tiệt kia hãy nhìn những dãy núi chết tiệt kia hãy nhìn cái cây hùng vĩ chết giẫm kia chúng còn đến được từ đâu khác ngoài bàn tay của Chúa bàn tay sẽ bồng bế nâng niu mày suốt đời suốt kiếp. Và bố bắt đầu tin vào Những vũng nước sâu thẳm. Ai lại không tin cơ chứ? Chuyện bắt đầu như thế đấy. Nhưng bố hoài nghi. Và tâm trí bố nói Đừng lo. Mày sẽ không chết. Về lâu dài thì không. Bản chất của mày sẽ không tàn phai, những thứ đáng giữ lại thì không tàn phai. Một lần bố nhìn thấy toàn thế giới từ giường mình, nhưng bố đã khước từ nó. Lần khác bố thấy một ngọn lửa và trong ngọn lửa ấy bố nghe một tiếng nói bảo với bố rằng mình sẽ được tha mạng. Bố cũng khước từ điều đó, bởi vì bố biết rằng mọi tiếng nói đến từ bên trong ta. Năng lượng nguyên tử là một sự lãng phí thời gian. Người ta nên đi thu hoạch năng lượng của tiềm thức khi nó đang thực hiện việc phủ nhận Cái chết. Chính trong Tiến trình khắc nghiệt ấy mà Lòng tin được sản sinh, và nếu lửa thực sự nóng, chúng sẽ sản sinh ra Sự chắc chắn - đứa con trai xấu xí của Lòng tin. Cảm nhận được rằng con biết tỏng Ai tạo ra vũ trụ, Ai điều hành nó, Ai trả tiền cho nó, vân vân, về bản chất là thoát ly khỏi nó. Cái gọi là những kẻ tu hành, cái gọi là người theo chủ nghĩa tâm linh, những hội nhóm nhanh nhảu phản đối truyền thống ‘chủ nghĩa tiêu dùng hủy-diệt-linh-hồn’ của phương Tây và chỉ ra rằng sự sung túc là cái chết, họ nghĩ rằng điều đó chỉ đúng đối với sở hữu vật chất. Nhưng nếu sự sung túc là cái chết, thì chân lý ấy sẽ đúng nhất đối với mẹ của mọi sự sung túc, sự chắc chắn của lòng tin - êm ái hơn nhiều so với một chiếc ghế sofa bằng da mềm mại hay một bồn tắm Jacuzzi trong nhà, và đảm bảo sẽ hạ gục một tinh thần hăng hái nhanh hơn cả chiếc điều khiển điện để mở cửa garage. Nhưng rất khó cưỡng lại sức cám dỗ của sự chắc chắn, vì thế con cần để mắt đến Tiến trình giống như bố đã làm để khi bố nhìn thấy những ảo ảnh bí ẩn của toàn bộ cuộc sống và nghe những giọng nói nửa như thì thầm, bố có thể khước từ chúng thẳng tay và cự tuyệt sự thôi thúc muốn được cảm thấy đặc biệt và tin tưởng vào sự bất tử của mình, vì bố biết nó chỉ là tác phẩm do Cái chết tạo ra. Vậy con đã thấy chưa? Chúa là tư tưởng tuyên truyền đẹp đẽ tạo ra từ ngọn lửa tưởng tượng của con người. Và nếu con yêu Chúa vì cảm kích nghệ thuật sáng tạo của ông ta thì cũng được thôi, nhưng con không cần phải tin một nhân vật chỉ vì con có ấn tượng với tác giả. Cái chết và Con người, hai đồng tác giả của Chúa, chính là những nhà văn sáng tác khỏe nhất hành tinh. Sản phẩm của họ thật xuất chúng. Cái chết bất khả kháng và Tiềm thức của Con người đã chấp bút nên Jesus, Muhammad, và Đức Phật, vài ví dụ thế. Và đấy chỉ là những nhân vật. Họ tạo ra thiên đường, địa ngục, vườn lạc viên, chốn u minh, và luyện ngục. Và đó chỉ mới là bối cảnh. Và còn gì nữa? Mọi thứ, có lẽ thế. Sự hợp tác thành công này đã tạo ra mọi thứ trong cuộc đời ngoại trừ chính cuộc đời, mọi thứ đang tồn tại ngoại trừ thứ ngay từ đầu đã ở đây khi chúng ta tìm thấy nó. Con hiểu chưa? Con có hiểu Tiến trình không? Hãy đọc Becker! Hãy đọc Rank! Hãy đọc Fromm! Họ sẽ nói cho con biết! Loài người độc nhất vô nhị trên đời này ở chỗ, trái với tất cả các loài động vật khác, họ đã phát triển một ý thức quá tiến bộ đến nỗi nó có một phụ phẩm đáng sợ: họ là sinh vật duy nhất nhận thức được cái chết của mình. Sự thật này đáng sợ đến nỗi từ thuở hồng hoang loài người đã chôn giấu nó sâu bên trong tiềm thức của họ, và điều này đã biến con người thành những cỗ máy cường tráng, những nhà máy bằng xương bằng thịt sản xuất ra ý nghĩa. Ý nghĩa mà họ cảm thấy bắt đầu được rót vào các dự án bất tử của họ - như con cái của họ, hoặc thần thánh của họ, hoặc các tác phẩm nghệ thuật của họ, hoặc công việc kinh doanh của họ, hoặc đất nước họ - mà họ tin rằng sẽ trường thọ hơn họ. Và vấn đề là đây: con người cảm thấy họ cần những lòng tin này để sống nhưng lại vô tình tự giết mình vì lòng tin của họ. Vì thế mà khi một người hi sinh cuộc đời vì động cơ tôn giáo, anh ta đã lựa chọn cái chết không phải vì một vị thần, mà để phục vụ cho một nỗi sợ hãi nguyên thủy tiềm thức. Vậy là chính nỗi sợ này đã khiến anh ta chết vì chính điều mà anh ta sợ nhất. Con hiểu chưa? Điều trớ trêu trong các dự án bất tử của họ chính là, trong khi chúng được tiềm thức tạo ra để đánh lừa con người, khiến họ có cảm giác mình là đặc biệt và nỗ lực tìm kiếm một cuộc sống bất tử, thì thái độ bực bội của họ đối với những dự án bất tử này chính là điều giết chết họ. Đây là lúc con cần phải cẩn thận. Đây là lời cảnh báo của bố dành cho con. Biển báo đường của bố. Sự chối bỏ cái chết đẩy nhanh con người đến huyệt mộ, và nếu con bất cẩn, họ sẽ lôi con theo.”
Bố trở nên bất động, và khuôn mặt dữ dội của ông truyền đến tôi những làn sóng bất an vô tận trong lúc đợi tôi thốt lên lời ca ngợi và phục tùng. Tôi nín thinh. Đôi khi chẳng có gì mỉa mai cho bằng sự im lặng.
“Vậy, con nghĩ sao?”
“Con chẳng hiểu bố vừa nói gì.”
Ông thở to, tựa như vừa cõng tôi trên lưng chạy vài vòng marathon. Thực ra thì, bài diễn thuyết của ông gây ấn tượng rất sâu sắc trong tâm trí tôi, đến độ một bác sĩ phẫu thuật có thể nhận ra những khe sâu trên đó. Và không chỉ vì nó đã cấy một hạt giống khiến tôi rốt cuộc nghi ngờ bất kì cảm giác hay ý nghĩ nào có thể xem là tâm linh của mình, mà vì không gì ức chế hoặc khó chịu hơn cảnh một triết gia tự dồn bản thân đến đường cùng bằng suy nghĩ. Và tối hôm ấy, lần đầu tiên tôi nhìn thấu vào cái góc khuất của ông, bước đường cùng kinh khủng của ông, ngõ cụt buồn bã của ông, nơi bố đã tự chủng ngừa để tránh bất kì điều kì bí hay tín ngưỡng nào xảy đến với ông, để nhỡ Chúa có xuống trần và dọa vào mặt ông, ông sẽ không bao giờ cho phép mình tin vào điều đó. Đó là đêm tôi hiểu ông không chỉ là một kẻ hoài nghi không tin vào giác quan thứ sáu, mà là một kẻ hoài nghi-cực đoan, không chịu tin vào cả năm giác quan còn lại.
Bố đột ngột ném chiếc khăn ăn vào mặt tôi và làu bàu, “Con biết gì không? Bố rũ sạch duyên nợ với con rồi.”
“Đừng quên dùng xà phòng nhé,” tôi đáp.
Tôi nghĩ chuyện này cũng chẳng có gì bất thường - bố và con trai, hai thế hệ người, lớn lên xa rời nhau. Dẫu vậy, tôi vẫn nhớ về thuở mình còn ấu thơ, khi ông vác tôi trên vai đến trường, thỉnh thoảng vào thẳng trong lớp. Ông thường ngồi ở bàn giáo viên và vác tôi nằm ngang trên vai ông rồi hỏi những đứa trẻ đang mắt chữ o mồm chữ i, “Có ai thấy con trai tôi không?” Nếu so sánh những thời điểm như thế với những thời điểm lúc này, nó chỉ khiến ta thêm buồn mà thôi.
Người phục vụ đi qua. “Quý khách có cần thêm gì không ạ?” anh ta hỏi. Bố dùng ánh mắt đâm thủng anh ta. Người phục vụ lui lại.
“Đi nào,” bố đột ngột lên tiếng.
“Được thôi.”
Chúng tôi gỡ áo khoác khỏi ghế. Một đám những đôi mắt tò mò nhìn theo chúng tôi đến tận cửa. Chúng tôi bước vào tiết trời đêm lạnh lẽo. Những đôi mắt ở lại trong nhà hàng, nơi ấy thật ấm áp.
Tôi biết tại sao ông bực dọc. Theo kiểu hời hợt đầy mâu thuẫn của riêng mình, ông luôn dùng hết sức lực nhằm nhào nặn tôi. Đây là đêm đầu tiên ông thấy rõ rằng tôi không hề muốn dính dáng gì đến cái khuôn đúc của ông. Ông trông thấy tôi nhổ nước bọt vào đó, và ông tự ái. Vấn đề là, chuyện học hành là trận chiến lớn đầu tiên trong mối quan hệ của hai chúng tôi, cuộc chạm trán liên tục của chúng tôi, vì lẽ đó mà ông luôn dao động giữa đe dọa phóng hỏa hệ thống trường học công với bỏ mặc tôi cho nó. Với việc tự ý bỏ học, tôi đã thực hiện một quyết định mà ông không thể làm được. Đó là lý do vì sao ông giảng cho tôi nghe bài diễn thuyết đó: sau tất thảy những bài giảng rối như canh hẹ và mâu thuẫn mà bố đã giội bom tôi trong nhiều năm qua, trên những chủ đề từ sự sáng tạo đến nước xốt đến sự sám hối đến khoen xỏ vú, ở đó bố thử nghiệm những ý tưởng như thể ông đang ở trong phòng thay quần áo thử những chiếc áo sơ mi, cuối cùng ông đã cho tôi nghe ý tưởng nòng cốt làm nền tảng cho cuộc đời ông.
Điều mà cả hai chúng tôi đều không biết vào lúc đó, dĩ nhiên rồi, là chúng tôi đang ở bên bờ vực của một chuỗi thảm họa khó tin khác, có thể truy ngược lại từ những sự kiện đơn lẻ. Người ta nói nhìn điểm khởi đầu thì biết kết cục. Chà, điểm khởi đầu của sự kết thúc này chính là việc tôi bỏ học.
***
Vậy thì tại sao tôi lại bỏ học? Bởi vì tôi thể nào cũng bị xếp ngồi cạnh đứa bé bị nổi mẩn ngứa? Hay vì hễ tôi đi học muộn là y như rằng thầy giáo lại làm vẻ mặt như đang đại tiện? Hay đơn giản vì mọi người có thẩm quyền lúc nào cũng bị xúc phạm trước hành vi của tôi? Không, ngẫm lại thì thấy, tôi đã thích thú trước điều đó; những tĩnh mạch đập trong cổ một ông thầy giáo: cao trào của hài kịch. Một ông thầy khác giận tím người: quá đã! Hồi ấy tôi thấy chẳng có gì buồn cười hơn sự nổi nóng, chẳng có gì khiến tôi cảm thấy nhẹ nhõm hơn hoặc hoạt bát hơn.
Không, nếu tôi phải trung thực, thì tất cả những trò chọc giận ấy chỉ làm tôi sa lầy vào địa ngục nghiền nát của lòng bất mãn; không có lý do gì để bỏ đi khỏi nó, đó chỉ là sự bất hạnh đều đặn mà một người may mắn có được. Động cơ bỏ học thực sự của tôi bắt đầu bằng tất cả những vụ tự tử quái ác này.
Trường của chúng tôi bị dồn hết mức đến sát bờ biển phía đông, chỉ chưa chìm hẳn xuống nước mà thôi. Chúng tôi phải đóng cửa sổ lớp học để tránh bị phân tâm trước tiếng biển gầm gào bên dưới, nhưng vào những ngày hè, cái nóng ngột ngạt buộc chúng tôi không còn lựa chọn nào khác ngoài mở cửa sổ, và tiếng nói của giáo viên khó lòng át nổi tiếng sóng vỗ ì ầm. Các tòa nhà của trường, một dãy những khối nhà gạch màu đỏ gắn kết với nhau, tọa lạc phía trên cao mặt nước, trên bờ vực của Vách Chán nản (Tên “Vách Tuyệt vọng” đã được đặt cho một mặt vách núi hoang vắng khác nằm quanh mũi biển). Từ cuối sân bóng của trường, những lối đi khúc khuỷu dẫn xuống bãi biển. Nếu bạn không thích đi trên các lối đi này, nếu bạn thiếu kiên nhẫn hay bạn không muốn liều đi trên con dốc dựng đứng, hoặc nếu bạn khinh bỉ bản thân và cuộc đời mình và không nhìn thấy hi vọng nào về một tương lai tươi sáng hơn, bạn có thể nhảy xuống bất cứ lúc nào. Nhiều người đã làm thế. Cứ trung bình chín, mười tháng lại có một vụ tự tử ở trường tôi. Dĩ nhiên, nạn tự tử ở giới trẻ không phải là không phổ biến; những cô gái chàng trai vẫn hắt hơi đến chết do nhiều chứng cảm cúm khác nhau của tâm hồn. Nhưng hẳn phải có một tiếng gọi thôi miên bí ẩn nào đó trôi qua những cánh cửa sổ mở he hé kia, bởi không ít trẻ con trường chúng tôi đã đẩy mình qua cổng trời đó. Việc những đứa trẻ vị thành niên từ bỏ cuộc sống chẳng phải là chuyện gì quá bất thường, như tôi đã nói, nhưng chính những cái đám tang làm ta suy sụp. Chúa ơi, tôi nên biết mới phải. Thậm chí bây giờ tôi vẫn nằm mơ thấy một chiếc quan tài mở toang, một sự việc hẳn đã không xảy ra nếu tôi không buộc phải viết một bài tập làm văn về Hamlet cho môn tiếng Anh của mình.
Tình trạng tê liệt của Hamlet
Tác giả: Jasper Dean
Câu chuyện của Hamlet là một lời cảnh tỉnh rõ ràng về những hiểm họa của sự thiếu quyết đoán. Hamlet là một hoàng tử Đan Mạch, anh ta không thể quyết định liệu có nên báo thù cho cái chết của vua cha, tự sát, không tự sát, vân vân và vân vân. Bạn sẽ không thể tin nổi cách anh ta lải nhải về chuyện này. Không thể tránh khỏi, hành vi chán ốm này đã khiến Hamlet hóa điên, và khi vở kịch kết thúc mọi người đều chết cả, thật không hay cho Shakespeare nếu sau đó ông ta quyết định muốn viết phần tiếp theo. Bài học xương máu từ sự thiếu quyết đoán của Hamlet chính là bài học cho toàn nhân loại, mặc dù nếu chú của bạn đã ám sát bố của bạn và cưới mẹ của bạn, thì bạn có lẽ sẽ cảm thấy chuyện này có mối tương đồng đặc biệt.
Tên của Hamlet cũng giống tên bố anh ta, cũng là Hamlet. Ông ấy đã chết thật vật vã khi em trai rót thuốc độc vào tai ông ấy. Trong tai ông ấy! Chẳng hay chút nào. Rõ ràng, tính đố kị anh em chính là thứ đã mục ruỗng trong đất nước Đan Mạch.
Sau này, khi hồn ma của bố Hamlet ra hiệu cho anh ta đi theo, Horatio đã khuyên anh ta đừng làm thế đề phòng trường hợp hồn ma tìm cách làm cho Hamlet hóa điên, mà quả đúng là như thế, và Horatio cũng lưu ý rằng mọi người nhìn xuống từ một vị trí không có gì ngăn cản ở tít trên cao sẽ nghĩ đến chuyện nhảy xuống cho chết, điều đó làm tôi nghĩ, Tốt, vậy là không chỉ có mình.
Nói tóm lại, vở Hamlet nói về sự thiếu quyết đoán. Thực ra thì, sự do dự ảnh hưởng đến tất cả chúng ta, ngay cả khi chúng ta thuộc tuýp người chẳng gặp khó khăn gì khi ra quyết định. Nói cách khác, tính thiếu kiên nhẫn là điều chó chết. Chúng ta cũng chịu đựng khổ sở. Ví dụ như, chờ đợi người nào khác ra quyết định ở một nhà hàng trong lúc người phục vụ đứng ngay đấy là một trong những nỗi kinh hoàng lớn nhất cuộc đời, nhưng chúng ta phải học cách kiên nhẫn. Giật phăng thực đơn khỏi tay cô gái mình đang hẹn hò và quát lên “Cô ta sẽ ăn thịt gà” không phải là cách để chiến đấu với nỗi khổ sở này, và đương nhiên bạn đừng hòng ngủ được với cô nàng.
Thế đấy. Tôi cho rằng mình không nên ngạc nhiên khi bị thầy giáo tiếng Anh của tôi, thầy White, đánh rớt. Tôi còn có thể trông đợi gì hơn ở ông ta, hay ở bất cứ nhà giáo dục chậm chạp nào khác đã ám ngôi trường ấy? Thậm chí đến giờ tôi vẫn có thể nhìn thấy họ. Một thầy giáo có vẻ ngoài trông như tất cả các cơ quan nội tạng quan trọng của ông ta không chỉ đã bị cắt bỏ mà còn đang bị cất giữ để đòi một khoản tiền chuộc mà ông ta không có khả năng đáp ứng. Một ông thầy khác trông như đã bước vào một buổi tiệc hai phút sau khi tất cả đã ra về và vẫn nghe được tiếng cười tra tấn ông ta từ phía cuối con đường. Một người thì ngồi đấy đầy thách thức, như một con kiến đơn độc từ chối mang một mẩu vụn bánh mì. Một số thì hớn hở như những tên bạo chúa, số khác lại lơ tơ mơ như những gã khờ.
Rồi lại còn thầy White nữa: đó là ông thầy có một mảng tóc bạc nhỏ nằm trên đầu tựa như tàn thuốc lá, người luôn có vẻ như vừa thoáng thấy tương lai của mình trong một nhà dưỡng lão nam. Nhưng tệ hơn là, ông ta là thầy giáo có con trai học trong lớp chúng tôi. Được thôi, bạn không thể lập kế hoạch cho hạnh phúc trong đời, nhưng bạn có thể thận trọng nhất định trước sự bất hạnh, phải không nào? Mỗi lần bắt đầu giờ học, thầy White lại điểm danh. Ông ta phải gọi tên con trai của mình. Bạn có thể tưởng tượng được chuyện gì lố bịch hơn thế? Một ông bố biết con trai mình có ở trong căn phòng hay không, đương nhiên rồi.
“White,” ông ta thường gọi.
“Có ạ,” Brett thường đáp. Thật là một trò hề.
Tội nghiệp Brett!
Tội nghiệp thầy White!
Làm sao bất kì ai trong hai người họ có thể chịu đựng nổi khi phải kiềm nén sự thân mật của họ đến mức độ mà một người ngày nào cũng giả vờ cả đến việc không nhận ra khuôn mặt người nhà của mình? Và khi thầy White chì chiết về sự ngu dốt của lũ học trò, Brett cảm thấy ra sao khi bị chính bố mình đối xử thô bạo như thế? Đấy có phải là một trò chơi đối với họ không? Nó có thật không? Trong những lần ta thán của thầy White, khuôn mặt Brett quá ư vô cảm, quá ư bất động - tôi phải nói rằng nó biết cũng như chúng tôi biết là bố nó là một kẻ bạo chúa nhỏ mọn đối xử với chúng tôi như thể chúng tôi đã tước đoạt của ông ta những năm tháng quan trọng và, để báo thù, đã dự đoán những thất bại trong tương lai của chúng tôi, và đánh rớt chúng tôi để chứng tỏ ông ta có tài tiên tri. Vâng, thầy White, không cần bàn cãi nữa, thầy là giáo viên ưa thích nhất của em. Sự đáng sợ của thầy là điều dễ hiểu nhất đối với em. Thầy là người để lộ cơn tức giận đau đớn, và thật trơ trẽn thầy đã làm việc đó trước mặt con của thầy.
Thầy White trả bài tập làm văn Hamlet cho tôi với khuôn mặt giận tím tái. Ông ta thực tình đã cho tôi ăn điểm không. Với bài văn của mình, tôi đã biến một thứ thiêng liêng đối với ông thành trò cười: William Shakespeare. Trong thâm tâm, tôi biết rằngHamlet là một tác phẩm xuất sắc, nhưng khi bị ra lệnh phải hoàn thành một bài tập, tôi lại chẳng đào đâu ra hứng thú để thực hiện nó. Viết những thứ rác rưởi là hình thức thể hiện cơn nổi loạn vặt vãnh của tôi.
Đêm hôm ấy tôi đã phạm phải sai lầm là đưa bài văn cho bố xem. Ông vừa đọc vừa nheo mắt, làu bàu, gật gù - về cơ bản, trông như ông đang nâng một khối gỗ nặng trịch. Tôi đứng cạnh ông, chờ đợi sự đồng tình của ông, tôi cho là thế. Tôi không hiểu nổi. Ông đưa nó lại cho tôi và nói, “Hôm nay bố đọc được một chuyện rất thú vị trong Từ điển triết học của Voltaire. Con có biết trước khi người Ai Cập ướp xác pharaoh, họ lấy não ông ta ra không? Ấy vậy mà họ trông chờ ông ta sống lại sau nhiều thế kỉ. Con nghĩ họ tưởng tượng ông ta sẽ làm gì ở đó, khi mà trong đầu không có não?”
Đã khá lâu bố không tìm cách tự dạy dỗ tôi. Để bù đắp việc đã bỏ mặc tôi cho một hệ thống mà ông không có gì khác ngoài sự khinh bỉ, bố thường xuyên thảy hàng đống sách vào phòng tôi với những lời nhắn nho nhỏ ghi trên mẩu giấy ghi chú (“Đọc quyển này đi!” hoặc “Tay này quả là một ông thần giỏi khiếp đảm!”) dán trên các bìa sách: Plato, Nietzsche, Cioran, Lawrence, Wittgenstein, Schopenhauer, Novalis, Epictetus, Berkeley, Kant, Popper, Sartre, Rousseau, vân vân. Ông có vẻ đặc biệt thích bất kì tác giả nào là người bi quan, theo thuyết hư vô, hay một người hoài nghi, trong đó có Céline, Bernhard, và nhà thơ theo chủ nghĩa bi quan cực đoan, James Thomson, với bài thơ u ám đáng sợ của ông ta “Thành phố đêm kinh sợ.”
“Nữ giới đâu cả rồi?” tôi hỏi bố. “Họ không nghĩ ra được cái gì đáng để viết à?”
Tối hôm sau tôi thấy Virginia Woolf, George Sand, Ayn Rand, Gertrude Stein, Dorothy Parker, Simone de Beauvoir, Simone Weil, Mary McCarthy, Margaret Mead, Hannah Arendt, và Susan Sontag đang đợi mình trên gối.
Theo cách này tôi không buộc phải tự học quá nhiều như tôi đã từng bị ép ăn, và thú thực tôi cũng thích tất cả những quyển sách ấy. Ví dụ như, các tác giả người Hy Lạp có những ý tưởng rất hay về cách thức điều hành xã hội vẫn có giá trị đến ngày nay, nhất là trong trường hợp bạn nghĩ rằng chế độ nô lệ là tuyệt vời. Về phần những người còn lại, toàn những thiên tài không cần bàn cãi, tôi phải thừa nhận rằng sự hào hứng của họ dành cho và sự ăn mừng của họ đối với một loại người (chính họ) và nỗi khiếp đảm cùng sự lo sợ của họ đối với loại người kia (mọi người còn lại) mài xát lên dây thần kinh của tôi. Không hẳn vì họ đã kêu gọi chấm dứt chương trình giáo dục phổ cập do e sợ chúng sẽ “hủy hoại suy nghĩ” hay vì họ đã làm mọi việc có thể để biến nghệ thuật của họ thành thứ không thể hiểu được với đa số mọi người, mà chính là họ luôn nói những điều thiếu thân thiện chẳng hạn như “Chúc mừng ba lần cho những người phát minh ra khí độc!” (D.H. Lawrence) và “Nếu chúng ta mong mỏi một nền văn minh và văn hóa nào đó, chúng ta phải triệt tiêu loại người không thích ứng được với nó” (G.B. Shaw) và “Sớm muộn gì chúng ta cũng phải hạn chế gia đình của những giai cấp không trí thức” (Yeats) và “Đa số con người không có quyền tồn tại, nhưng lại là nỗi bất hạnh đối với những người giai cấp cao hơn” (Nietzche). Mọi người khác, hay nói cách khác là mọi người mà tôi biết, đều chẳng hơn gì một tử thi đang thối rữa, bật dậy chủ yếu vì thích xem bóng đá hơn là đọc sách Virgil. “Giải trí đại chúng là sự cáo chung của nền văn minh,” những trí thức ấy làu bàu, nhưng tôi thì nói, nếu một người cười khúc khích trước một việc vặt vãnh và toàn thân anh ta ửng đỏ lên vì niềm vui đó, thì liệu có quan trọng không nếu điều đó không xuất phát từ một công trình nghệ thuật sâu sắc mà từ một buổi chiếu lại bộ phim Bewitched? Thực lòng thì, ai mà quan tâm? Người đó chỉ vừa có một khoảnh khắc tuyệt vời trong lòng, và quan trọng hơn là, anh ta có được nó với giá rất rẻ. Tốt cho anh ta, kẻ lù đù! Về cơ bản họ nghĩ sẽ thật đáng yêu nếu những đám người mất nhân tính, những kẻ đã khiến họ phát ốm theo nghĩa đen, lại sẵn lòng chìm vào quá khứ hoặc trở thành nô lệ và quyết định rất nhanh việc đó. Họ muốn tạo ra một giống người siêu phàm dựa trên những cái tôi trưởng giả, mắc bệnh giang mai của họ, những gã ngồi trên đỉnh núi cả ngày liếm láp thần thánh trong con người họ đến phát rồ. Cá nhân tôi nghĩ điều họ ghét cay ghét đắng không phải là “niềm ham muốn tầm thường về hạnh phúc” của số đông, mà chính là sự công nhận bí mật, chua chát rằng quần chúng đôi khi lại tìm thấy nó.
Vì thế mà, như cách bố đã bỏ rơi tôi, tôi bỏ rơi những người bạn có học của ông, tất cả những thiên tài tuyệt vời, cay đắng ấy, và ở trường tôi đã đi vào nề nếp và làm những việc tối thiểu đơn thuần một cách thoải mái. Thường tôi hay tự cho mình nghỉ học và đi lang thang trong thành phố sôi động để xem nhịp đập của nó hoặc đến đường đua để xem những con ngựa gồng mình chịu đựng sự tồn tại bất hạnh của chúng dưới cặp mông những con người nhỏ bé. Thỉnh thoảng ban giám hiệu lại gửi cho bố những lá thư nghiêm trọng, hài hước một cách không chủ ý về sự chuyên cần của tôi.
“Mới nhận được thư nữa,” bố thường nói, vẫy vẫy nó trong không khí như một tờ 10 đô la mà ông vừa tìm thấy trong một chiếc quần cũ.
“Thì sao?”
“Thì con có gì để nói không?”
“Năm ngày một tuần là quá nhiều. Nó vắt kiệt sức con.”
“Con không cần phải là đứa giỏi nhất xứ, con biết chứ. Chỉ cần học làng nhàng. Đó chính là điều con nên nhắm đến.”
“Ôi, thì đấy chính là việc con đang làm. Con đang làng nhàng đây.”
“Tuyệt. Chỉ cần đảm bảo rằng con đến trường đủ số buổi để có được mảnh giấy mang tên con trên đó.”
“Để làm cái quái gì chứ?”
“Bố đã bảo con hàng nghìn lần rồi. Con cần làm cho xã hội nói rằng con đang hòa nhập. Chuyện gì con thích thì để sau này hẵng làm, nhưng con cần làm cho họ nghĩ rằng con là một người trong số họ.”
“Có thể con chính là một người trong số họ.”
“Ừ, còn bố thì sẽ đi làm lúc bảy giờ sáng mai.”
Nhưng không phải lúc nào ông cũng để yên chuyện này. Thực ra thì, tôi đã có một tiếng tăm nhất định trong các thầy cô vì những chuyến thăm đáng sợ nói chung và đáng xấu hổ nói riêng của bố mình. Khuôn mặt ông thường bất thình lình xuất hiện, dán chặt vào lớp kính lạnh buốt của cửa lớp học.
Một ngày sau khi tôi cho bố xem bài văn Hamlet, ông đến lớp học tiếng Anh của tôi và ngồi vào ghế ở cuối lớp, co rúm người cho lọt vào chiếc ghế gỗ. Thầy White vừa viết chữ “sự liên văn bản” lên bảng thì bố đi vào, vì thế khi ông quay lại và nhìn thấy một người đàn ông trung niên giữa đám đần độn măng sữa chúng tôi, ông trở nên lúng túng. Ông quắc mắt nhìn bố vẻ không đồng tình, tựa như đã sẵn sàng trừng phạt một đứa học trò của mình vì cái tội tự ý già đi ngay trong giờ học.
“Trong này hơi uể oải, nhẩy?” bố nói.
“Xin hỏi ông nói gì cơ!”
“Tôi bảo, ở trong này thì hơi khó suy nghĩ, phải không?”
“Tôi xin lỗi, ông là...”
“Một phụ huynh quan tâm.”
“Ông là phụ huynh của một học sinh trong lớp này?”
“Có thể từ ‘quan tâm’ là nói nhẹ bớt. Khi tôi nghĩ đến con trai mình dưới sự dạy dỗ của thầy, tôi bắt đầu chảy máu mắt.”
“Trò nào là con ông?”
“Tôi không xấu hổ khi phải thừa nhận đâu. Con trai tôi là sinh vật được gọi là ‘Jasper’.”
Thầy White phóng ánh mắt lạnh lùng về phía tôi đúng vào lúc tôi đang cố ngồi lọt vào cái ghế của mình. “Jasper? Đây có phải là bố em không?”
Tôi gật đầu. Tôi còn lựa chọn nào khác?
“Nếu ông muốn nói chuyện với tôi về con trai ông, chúng ta có thể sắp xếp một cuộc hẹn,” ông ta nói với bố.
“Tôi không cần nói chuyện với thầy về con trai tôi. Tôi biết con trai tôi. Thầy có biết không?”
“ Đương nhiên. Jasper đã học trong lớp tôi suốt năm nay.”
“Còn những đứa khác? Dạy để chúng biết đọc biết viết: làm tốt lắm. Như thế đã đáp ứng những đòi hỏi của đời người rồi.Nhưng thầy có biết chúng không? Thầy có biết bản thân mình không? Vì nếu thầy không biết về mình, thầy không thể giúp chúng biết về bản thân chúng, và thầy có lẽ đang lãng phí thời gian của mọi người ở đây khi chỉ đơn thuần đào tạo ra một đội quân sao chép khiếp nhược như những gì mà toàn bộ đám giáo viên ngờ nghệch các người trong cái hố xí của nhà nước này sẽ làm, bảo lũ học sinh phải nghĩ gì thay vì nghĩ như thế nào, cố gắng gò chúng vào khuôn mẫu một công dân đóng thuế tương lai hoàn hảo thay vì bận tâm tìm hiểu chúng là ai.”
Những học sinh khác bật cười, vì bối rối.
“Yên lặng!” thầy White quát lên, tựa như đó là Ngày đền tội và ông ta giữ vai trò quan trọng trong việc lọc ra toàn bộ linh hồn. Chúng tôi im lặng. Chẳng có tác dụng gì. Sự im lặng bị áp đặt vẫn rất ồn ào.
“Tại sao chúng phải tôn trọng thầy? Thầy chẳng tôn trọng chúng tẹo nào,” bố nói tiếp, và bảo đám học sinh, “Hạ mình trước một kẻ uy quyền là tự nhổ nước bọt vào mặt mình.”
“Tôi buộc phải mời ông ra khỏi đây.”
“Tôi đang trông chờ giây phút ấy.”
“Xin vui lòng đi ra cho.”
“Tôi để ý thấy thầy có một hình thập ác quanh cổ.”
“Việc gì đến nó?”
“Tôi có cần giải thích rõ ràng cho thầy không?”
“Simon.” Thầy White gọi một đứa học sinh đang ngớ ra. “Em vui lòng chạy xuống phòng hiệu trưởng, thưa với thầy ấy rằng chúng ta bị quấy nhiễu trong lớp học và nên gọi cảnh sát đến.”
“Làm sao thầy có thể khuyến khích học sinh của mình nghĩ cho bản thân chúng với thái độ cởi mở nếu thầy cứ để hệ thống niềm tin lạc hậu nghiền nát đầu thầy như một chiếc mặt nạ sắt? Thầy không thấy ư? Sự linh hoạt trong chuyển động tinh thần của thầy bị giới hạn bởi những nguyên tắc máy móc cứng nhắc, vì thế thầy có thể sẽ nghĩ rằng thầy đứng đó dạy chúng về Hamlet, nhưng điều chúng thực sự nghe được là một người đàn ông sợ bước ra khỏi cái vòng thít chặt đã được vẽ quanh ông ta bởi những kẻ chết từ lâu rồi, những kẻ đã bán cho tổ tiên ông ta một đống lời nói dối để họ có thể quấy rối tất cả những đứa bé trai mà họ muốn trong những căn phòng thú tội kín đáo của họ!”
Tôi đưa mắt nhìn Brett. Nó ngồi im trong ghế của mình; khuôn mặt nó mảnh dẻ và trông thật thanh tú, và tôi nghĩ nếu không có tóc, mắt, mũi, và miệng, thì khuôn mặt nó có thể là một bàn tay của nghệ sĩ dương cầm. Brett bắt gặp tôi đang nhìn nó chăm chăm, nhưng tôi không nghĩ rằng nó biết tôi đang chơi trò ví von khuôn mặt của nó, vì nó mỉm cười với tôi. Tôi cười đáp lại. Nếu tôi biết rằng hai tháng sau đó Brett tự tử, thì tôi đã khóc thay vì cười.
***
Thực ra chúng tôi đã nói chuyện với nhau vào buổi sáng ngày nó chết.
“Này, Brett, cậu trả năm đô la mà cậu còn nợ tớ được không?”
“Ngày mai tớ trả cậu được chứ?”
“Cũng được.”
Con người thật giỏi ngụy tạo hạnh phúc một cách đáng kinh ngạc. Đó gần như là khả năng bẩm sinh của họ, giống như lục lọi điện thoại công cộng tìm xu lẻ sau khi gọi điện. Brett là bậc thầy về chuyện đó, cho đến tận phút chót. Quỷ tha ma bắt, tôi đã nói chuyện với một đứa con gái từng tán gẫu với Brett mười phút trước khi nó nhảy xuống vực, và con bé bảo bọn chúng nói về chuyện thời tiết!
“Này, Kristin, c-cậu có nghĩ đấy là gió nam không?” Brett bị tật nói lắp nhẹ, thường xuất hiện và biến mất tùy theo những dao động của áp lực xã hội.
“Làm thế quái nào mà tớ biết được?”
“Nó h-h-hơi mạnh, nhỉ?”
“Tại sao cậu lại nói chuyện với tớ, đồ mặt mụn?”
Tôi không muốn quan trọng hóa cái chết của Brett hơn mức thực tế đối với tôi. Nó chẳng phải bạn thân hay tri kỉ gì của tôi. Chúng tôi là đồng minh, về mặt nào đó việc này làm chúng tôi thân thiết hơn bạn bè bình thường. Chuyện xảy ra như sau:
Một lần vào giờ ăn trưa, một đám đông nhỏ quây tròn tại sân trong của trường, đứng gần nhau đến nỗi trông chúng như được kết dính vào nhau thành một tấm chăn xấu xí. Tôi nhăn mặt chờ đợi. Không hề có chuyện hạ nhục kín đáo trên sân trường; tất cả đều công khai không thương xót. Tôi tự hỏi ai là kẻ bị mất mặt lần này. Tôi hé mắt nhìn qua mái tóc húi cua của mắt xích lùn nhất thì thấy Brett White đang ở trên mặt đất, máu nhỏ xuống từ miệng. Theo một vài khán giả nhiệt tình, Brett đã ngã trong lúc chạy trốn một đứa học sinh khác, Harrison. Giờ đây, toàn thể đám học sinh đang nhìn xuống Brett và cười ha ha vì thủ lĩnh của bọn chúng đang cười. Đây chẳng phải là những đứa trẻ vốn dĩ độc ác; chúng chỉ từ bỏ cái tôi của chúng vì thằng Harrison, thế thôi, giao nộp ý chí của chúng cho ý chí của Harrison, một lựa chọn tồi. Tại sao các băng nhóm không bao giờ tuân theo một đứa trẻ hiền lành dễ mến là chuyện ai cũng biết, nhưng tôi ước gì điều đó xảy ra chỉ một lần thôi. Con người, như Freud đã lưu ý, có một niềm đam mê tột độ đối với uy quyền. Tôi nghĩ nỗi khao khát âm thầm bị thống trị của con người thực ra có thể thành hiện thực, chỉ cần anh ta cho phép mình bị thống trị một lần duy nhất bởi một gã thật dễ thương. Bởi vì sự thực là, trong cơn hăng tiết tập thể, tên thủ lĩnh có thể gào lên, “Tất cả hãy hôn thằng khốn một cái lên má nào!” và bọn chúng sẽ chạy đến đứa bé tội nghiệp với đôi môi mím chặt.
Vào lúc đó, mấy chiếc răng cửa của Brett đang nằm trên nền bê tông. Trông chúng như những viên kẹo Tic Tac. Nó nhặt mấy chiếc răng lên. Bạn có thể thấy nó đang cố kiềm nước mắt.
Tôi nhìn những đứa học sinh khác và tuyệt vọng khi thấy không đứa nào có đủ lòng trắc ẩn để đứng ra. Thật đau lòng khi chứng kiến tất cả những tâm hồn nghèo nàn ấy bạo hành Brett theo cách này. Tôi cúi xuống cạnh nó và nói, “Hãy cười to giống như cậu nghĩ chuyện này tức cười lắm ấy.”
Nó làm theo lời khuyên của tôi và bắt đầu cười. Nó thì thầm vào tai tôi, “Người ta có gắn chúng lại được không?” và tôi cũng cười to, như thể nó vừa nói đùa. Khi tôi đã đỡ nó đứng dậy, màn nhục mạ vẫn tiếp diễn. Một quả bóng bay thẳng vào mặt nó.
“Mở to miệng ra, tao muốn nó đi qua khung thành!” một ai đó la lên.
Đúng là hàm răng nó trông như khung thành.
“Có cần phải thế không?” tôi quát lên vu vơ.
Harrison bước ra khỏi đám đông và, sừng sững đứng trước mặt tôi, nói, “Mày là người Do Thái, phải không?”
Tôi gầm lên. Tôi chỉ mới kể với một người rằng ông nội tôi bị Đức quốc xã sát hại, và tôi chưa bao giờ nghe nói đến đoạn kết câu chuyện. Nói chung, không có nhiều kẻ bài Do Thái ở trường, chỉ là những lời bông phèng về chuyện tiền và mũi, mũi và tiền, những chiếc mũi to tướng có tiền rơi ra từ đấy, những bàn tay Do Thái bẩn thỉu nhét tiền vào những chiếc mũi Do Thái to tướng của họ. Đại loại thế. Sau một khoảng thời gian, bạn chẳng còn quan tâm đến những ác ý nằm sau những câu đùa nữa, bạn chỉ ước gì chúng hài hước hơn.
“Tao nghĩ cái mặt mày trông ngốc ơi là ngốc, thằng Do Thái ạ.”
“Đã thế tao còn lùn nữa chứ,” tôi nói, nhớ rằng bố có lần bảo tôi cách để làm kẻ thù lúng túng là đáp trả những lời sỉ nhục của chúng bằng những lời sỉ nhục của mình.
“Tại sao mày ngốc thế hử?” nó hỏi.
“Tao không biết. Tao sẽ trả lời câu đó sau khi giải thích được tại sao tao lại xấu xí vậy.”
Brett nhanh chóng hiểu ra và nói với tôi, “Tớ xấu hơn cậu, và tớ kết hợp tay-mắt rất tệ.”
“Tớ không thể chạy mà không vấp ngã,” tôi đáp lại.
“Tớ chưa bao giờ hôn một đứa con gái và có lẽ sẽ không bao giờ.”
“Tớ có mụn trên lưng. Tớ nghĩ nó sẽ để lại sẹo suốt đời.”
“Thật không? Tớ cũng thế.”
Charlie Mills tách đám đông bước ra và cũng bắt đầu lên tiếng. “Như thế chẳng là gì,” nó nói. “Tớ béo, xấu xí, bốc mùi, ngu ngốc, và là con nuôi.”
Harrison lúng túng đứng đấy, cố nghĩ ra một câu để nói. Tất cả chúng tôi đều nhìn nó và phá ra cười. Đó là một khoảnh khắc thật hả hê. Rồi Harrison bước về phía tôi với sự tự tin của kẻ được tạo hóa ưu đãi. Nó đẩy tôi, còn tôi cố dồn trọng lực của mình lên chân trước, nhưng chẳng ích gì. Rốt cuộc tôi bị hạ úp mặt xuống nền bê tông. Lần thứ hai tôi về nhà với chiếc áo sơ mi trắng vấy máu.
Eddie, bố, và Anouk đang uống trà ở hàng hiên, trông có vẻ kiệt sức. Bầu không khí trĩu nặng sự bất động. Linh tính mách bảo tôi đã bỏ lỡ một cuộc tranh cãi nảy lửa. Khói từ điếu thuốc rê của Eddie lơ lửng trong không khí. Khi tôi tiến đến, vết máu trên áo tôi làm họ sống động trở lại. Tất cả họ nhảy dựng lên vì chú ý, như thể họ là ba nhà hiền triết thông thái đã chờ đợi mười năm ròng mới có người đặt một câu hỏi.
Anouk hét lên đầu tiên. “Cậu bị thằng nào bắt nạt à? Sao không cho nó số điện thoại của tôi rồi bảo nó gọi cho tôi? Tôi tin chắc ngồi thiền sẽ giúp nó bình tâm.”
“Hãy trả tiền cho nó,” Eddie nói. “Cứ quay lại nói chuyện với nó đem theo một túi giấy nhét đầy tiền.”
Không thua chị kém em, bố quát lên từ chiếc ghế bành, “Lại đây nào, con trai, bố muốn kể con nghe chuyện này!” Tôi đi lên bậc tam cấp mái hiên. Ông vỗ lên đầu gối để ra dấu nó đã thông thoáng, có thể ngồi lên. Tôi muốn đứng hơn. Bố nói, “Con biết còn ai nữa cũng từng bị xem thường không? Socrates. Đúng thế. Socrates. Đúng thế. Một lần nọ ông ta đang nói chuyện triết lý với vài người bạn thì một gã nhà quê không ưa điều ông ta nói bước đến trước mặt rồi đá vào mông ông ta mạnh đến nỗi chính gã ngã nhào xuống đất. Socrates ngước nhìn gã đàn ông và mỉm cười nhân hậu. Ông ta đón nhận sự việc với một sự bình tĩnh kinh ngạc. Một người thấy vậy hỏi, ‘Tại sao ông không làm gì, hoặc nói gì đi?’ và Socrates trả lời, ‘Nếu ông bị một con la đá vào mình, ông có quở trách nó không?’”
Bố phá ra cười hô hố. Người ông lắc lư mạnh đến nỗi tôi thấy mừng vì đã quyết định không ngồi lên đầu gối ông. Nó đang nẩy lên như con bò tót. “Hiểu chưa? Hiểu chưa?” bố hỏi tôi qua tràng cười.
Tôi lắc đầu, dù trong thâm tâm đã hiểu ra. Nhưng, thành thực mà nói, tôi nhất định sẽ quở trách con la vì đã đá tôi. Thậm chí có thể tôi còn vật nó xuống đất. Nó là con la của tôi, tôi muốn làm gì thì làm. Tuy vậy, mấu chốt của vấn đề là tôi đã hiểu được mấu chốt của vấn đề, song nó cũng chẳng thể giúp ích được gì cho tôi hơn so với những đề xuất bất khả thi của Eddie hay Anouk. Phải nói là, bố và Eddie và Anouk, những ánh sáng tôi có để dẫn dắt mình qua thời thơ ấu, chẳng làm được gì ngoài dẫn tôi đến những bức tường gạch.
***
Vài tuần sau tôi đến nhà của Brett. Nó đã dụ khị tôi đến đó với lời hứa hẹn sẽ cho tôi ăn bánh chocolate. Nó nói muốn thử răng mới. Khi chúng tôi rời sân trường, nó giải thích làm thế nào mà, bằng cách bắc những chiếc răng trở lại vào nướu, nha sĩ đã giúp dây thần kinh không bị chết. Để hoàn tất, ông ấy đã tiến hành xử lý chân răng, bơm rất nhiều khí gas nhưng vẫn chẳng thấm vào đâu.
Khi đến nhà Brett, tôi rất thất vọng phát hiện ra chẳng có cái bánh nào sất, và bị choáng khi nó nói chúng tôi sẽ tự làm bánh. Tôi nghĩ tốt hơn hết nên nói rõ với nó.
“Nghe này, Brett. Cậu cũng được đấy, nhưng tớ cảm thấy hơi buồn cười khi làm bánh với cậu.”
“Đừng lo. Thật ra chúng ta chẳng phải làm bánh biếc gì đâu. Chỉ cần làm bột nhào rồi ăn luôn. Chẳng cần dùng đến cả lò nướng.”
Thế nghe cũng được, nhưng thực tình thì cuối cùng cũng chẳng khác làm một cái bánh tử tế là bao, và khi nó bắt đầu rây bột, tôi suýt bỏ chạy. Nhưng tôi đã không làm thế. Tôi chịu đựng. Chúng tôi trộn xong hỗn hợp và vừa mới dùng thìa gỗ to thọc vào đấy thì nghe tiếng cửa trước mở ra và một giọng nói cất lên, “Bố về rồi đây!”
Người tôi hóa đá và cứ đứng đơ ra như thế cho đến khi cửa nhà bếp hé mở, đầu của thầy White ló vào.
“Có phải Jasper Dean đấy không?”
“Em chào thầy, thầy White.”
“Chào bố,” Brett nói, câu nói ấy khiến tôi thấy kì cục. Tôi cứ ngờ nghệch cho rằng ở nhà nó gọi bố nó là thầy White.
Thầy White đẩy cửa mở hẳn rồi bước vào nhà bếp. “Hai đứa đang làm bánh à?” ông hỏi, và, nhìn vào chỗ bột nhào, nói thêm, “Chừng nào xong cho bố biết nhé, bố có thể ăn một miếng.”
“Bố sẵn sàng chưa? Gần xong rồi đấy,” Brett nói, tươi cười với bố mình.
Thầy White bật cười. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy răng ông. Chúng không xấu. Ông đi đến và thọc ngón tay vào cái bát rồi nếm lớp chocolate dày.
“Thế nào, Jasper, bố em khỏe không?”
“Thầy biết đấy ạ, bố em vẫn thế mà.”
“Ông ta đúng là đã ăn thua đủ với tôi đấy,” ông nói, cười khì.
“Em mừng là thầy nghĩ thế ạ,” tôi đáp.
“Thế giới cần những người nồng nhiệt,” thầy White nói, cười mỉm.
“Em nghĩ vậy,” tôi nói, và khi thầy White đi lên lầu, tôi nghĩ đến tất cả những giai đoạn rối loạn tâm lý kéo dài của bố, đó là những khi mà nồng nhiệt đồng nghĩa với nhớ giật nước bồn cầu.
Phòng của Brett trông chẳng khác gì phòng của một đứa trẻ vị thành niên điển hình, trừ mỗi chuyện nó quá ngăn nắp đến độ tôi cảm thấy hơi thở của mình có thể làm xáo trộn mọi thứ. Có vài bức ảnh đóng khung trên bàn, trong đó có một bức chụp Brett và thầy White đang đứng khoác tay lên vai nhau trên một sân vận động - trông họ như hai diễn viên trong một bộ phim truyền hình ủy mị về tình cha con. Thậm chí trông nó chẳng đời thật tí nào. Đầu giường của Brett có một cây thập tự rất to treo trên tường.
“Cái đó để làm gì?” tôi sợ hãi hỏi.
“Nó là của mẹ tớ.”
“Bà ấy bị làm sao?”
“Ung thư dạ dày.”
“Ôi.”
Brett chậm rãi bước đến cửa sổ, những bước ngập ngừng, tựa như đang băng qua địa hình lạ lẫm trong đêm tối.
“Cậu cũng không có mẹ, phải không? Chuyện gì xảy ra với mẹ cậu?”
“Mafia người Arab.”
“Được rồi, đừng kể với tớ.”
Tôi nhìn gần hơn tượng Chúa Jesus treo ở đó, khuôn mặt dài thống khổ của ông nhìn xuống tạo thành góc chếch. Trông như ông đang nghiền ngẫm những bức ảnh đầy tình cảm của Brett và bố nó. Đôi mắt vô tư lự của ông trông có vẻ như đang nghĩ ngợi về chúng với một nỗi buồn nào đó. Có lẽ nó khiến ông nhớ đến bố của mình, hoặc đến những lần ông bị phục sinh khi ông ít mong đợi nhất.
“Vậy bố con cậu có đạo à?” tôi hỏi.
“Chúng tớ theo đạo Công giáo. Còn cậu?”
“Vô thần.”
“Cậu có thích trường học không?” Brett đột ngột hỏi.
“Cậu nghĩ sao?”
“Nó không phải là vĩnh viễn. Đó là điều mà tớ nghĩ mãi. Nó không vĩnh viễn.”
“Cũng may là cậu không bị béo. Một khi cậu vào đời rồi thì cậu sẽ ổn thôi. Chẳng ai ghét một người mảnh mai.”
“Ừ, có lẽ thế.”
Brett ngồi ở mép giường, cắn móng tay. Tôi phải thừa nhận lúc này, rằng hẳn đã có một đám sương mù bủa vây tâm trí của tôi ngày hôm ấy. Tôi bỏ lỡ mọi dấu hiệu. Tôi đã không diễn giải được việc cắn móng tay thành một lời kêu cứu hay thành một tín hiệu rằng Brett sẽ sớm thối rữa một cách xuẩn ngốc trong lòng đất. Sau cái chết của Brett, tôi mổ xẻ buổi chiều hôm đó vô số lần trong đầu mình. Tôi nghĩ: Giá mà mình biết, thì mình đã có thể nói gì đó, hoặc làm gì đó, bất cứ điều gì, để thay đổi ý định của nó. Giờ thì tôi tự hỏi, tại sao chúng ta lại muốn những người thân yêu của mình trở lại với cuộc sống nếu họ rõ ràng đã quá khốn khổ? Chúng ta có thực sự ghét họ đến thế?
***
Ngày Brett tự tử, một ngày thứ hai.
Lúc đó là giờ giải lao và mọi người đang vui vẻ nhắc lại một buổi tiệc tối thứ bảy. Tôi đang mỉm cười vì cảm thấy cô đơn và bị bỏ rơi, có vẻ như mọi người trong danh bạ điện thoại từ A. Aaron đến Z. Zurichman đều được mời trừ tôi. Tôi tưởng tượng cảm giác được mọi người quý mến trong một buổi chiều sẽ như thế nào, và kết luận điều đó có nghĩa là tôi phải đập lòng bàn tay với mọi người khi tôi đi dọc các hành lang. Tôi đang nghĩ mình không thích làm thế, thì nghe một tiếng thét, “Có người nhảy rồi! Có người nhảy rồi!”
“Một vụ tự tử nữa!”
Chuông nhà trường vang lên và không chịu dừng lại. Tất cả chúng tôi đều băng qua sân bóng chạy đến vách núi. Một giáo viên ra lệnh cho chúng tôi quay lại, nhưng chúng tôi quá đông. Bạn đã nghe nói đến hội chứng kích động tập thể - sự tò mò tập thể còn dữ dội hơn thế. Không thể làm chúng tôi quay lại. Chúng tôi đến bờ vực và hé mắt nhìn xuống. Sóng biển đang quật vào những tảng đá, như đang tiêu hóa: có một xác người ở dưới đó, thôi rồi, một học sinh. Bất kể đó là ai, toàn bộ xương xẩu hẳn đã nát bấy do sự va đập. Trông như chúng tôi đang nhìn một bộ đồng phục học sinh bị hất tung trong chiếc máy giặt.
“Ai thế? Ai thế?”
Mọi người gào khóc, thương xót cho một ai đó. Nhưng là ai? Chúng tôi đang thương xót ai? Nhiều học sinh đã leo xuống dốc để xem.
Tôi không cần phải xem. Tôi biết đó là Brett. Làm sao tôi biết? Vì Charlie đang đứng cạnh tôi trên bờ vực, và đứa bạn duy nhất còn lại của tôi là Brett. Tôi đã cá nhân hóa bi kịch này; tôi biết sự việc có liên quan gì đó với mình - và tôi đã đúng.
“Là Brett White!” một giọng nói xác nhận từ phía dưới.
Thầy White đang đứng ở ngay đấy, nhìn xuống như tất cả chúng tôi. Ông đứng thẳng dậy và chân lảo đảo. Trước khi ông chạy xuống lối mòn, lội xuống biển và ôm đứa con trai đã chết trong tay và khóc nức nở cho đến khi cảnh sát lấy Brett đi từ đôi tay lạnh ướt sũng của ông, có một khoảnh khắc dài mọi người đã há mồm nhìn ông và ông chỉ đứng đấy trên bờ vực, sụp đổ như một tàn tích La Mã.
II.
Thư tuyệt mệnh của Brett vào tay nhầm người. Mấy đứa học sinh thọc mạch tìm thấy bức thư trong tủ khóa của Brett, và trước khi được chuyển đến người có thẩm quyền, lá thư đã bị chuyền qua tay toàn trường. Nó như thế này:
Đừng buồn vì tôi trừ phi bạn đã chuẩn bị tinh thần để buồn cả đời. Nếu không thì hãy quên chuyện này đi. Vài ba tuần khổ sở rơi lệ và tiếc nuối thì có ích gì nếu một tháng sau bạn lại cười nói như trước? Không, hãy quên chuyện này đi. Cứ việc quên nó đi.
Cá nhân tôi nghĩ thư tuyệt mệnh của Brett khá hay. Nó đi thẳng vào trọng tâm vấn đề. Brett đã đo lường chiều sâu của cảm xúc con người, phát hiện ra rằng nó rất nông cạn, và nói lên điều đó. Làm tốt lắm, Brett, cho dù giờ này cậu đang ở đâu! Brett đã không rơi vào cái bẫy thường gặp ở hầu hết những lá thư tuyệt mệnh khác - người ta lúc nào cũng tìm cách đổ lỗi hoặc cầu xin tha thứ. Hiếm có người nào để lại những chỉ bảo có ích về việc nên làm gì với các con vật cưng của anh ta. Tôi cho rằng thư tuyệt mệnh thành thật và dễ hiểu nhất mà tôi từng nghe nói là của diễn viên người Anh George Sanders, ông đã viết rằng:
Cuộc đời thân mến, ta sắp rời xa mi vì ta buồn chán. Ta cảm thấy ta đã sống đủ lâu rồi. Ta sẽ bỏ mi lại với những muộn phiền của mi trong cái chốn ô uế ngọt ngào này. Chúc may mắn.
Thật xuất sắc đúng không nào? Ông ấy nói quá đúng. Nó đúng là một chốn ô uế ngọt ngào. Và với việc viết thư cho cuộc đời, ông ấy chẳng cần lo bỏ sót một ai. Ông ấy trình bày súc tích và rõ ràng những lý do khiến ông ấy kết thúc cuộc sống của mình, thể hiện trí tuệ thi vị lần cuối, rồi thật rộng lượng và ân cần, chúc chúng ta may mắn. Tôi phải nói rằng, đây là kiểu thư tuyệt mệnh mà tôi sẽ chọn. Nó hay hơn hẳn lá thư tuyệt mệnh dở tệ mà tôi từng viết. Nó như thế này:
Vậy nếu cuộc đời là một món quà thì sao? Bạn chưa bao giờ trả quà lại à? Người ta làm thế suốt mà.
Như vậy đấy. Tôi nghĩ: tại sao không làm một kẻ vênh váo khó gần cho đến hết đời? Nếu tôi bỗng dưng cao thượng thì nghe chẳng thật chút nào. Nhưng thú thật, tôi không thuộc mẫu người thích tìm đến cái chết. Tôi có thói quen ngu ngốc là nghĩ rằng mọi việc sẽ trở nên tốt đẹp hơn, ngay cả khi mọi bằng chứng đều chỉ ra sự thật ngược lại, ngay cả khi chúng trở nên tồi tệ hơn, tồi tệ hơn, tồi tệ hơn, tồi tệ hơn.
***
Brett được mai táng trong trang phục quần tây áo sơ mi xanh biển. Kiểu trang phục lịch sự. Thầy White đã mua bộ quần áo hai ngày trước. Chúng được bán hạ giá, nhưng tôi nghe nói ông ấy muốn trả đủ. Tôi nghe nói người bán hàng đã cãi nhau với ông. “Giảm mười phần trăm,” người ấy nói, và thầy White từ chối được giảm giá còn người bán hàng cười ha hả khi ông ném đủ số tiền lên quầy rồi chạy ra ngoài, khổ sở phát điên.
Brett nằm duỗi chân trong quan tài, tóc chải ngược ra sau. Hương thơm? Gel vuốt tóc. Nét biểu cảm đóng khuôn trên gương mặt tái bợt của cậu ấy? Giấc ngủ bình yên. Tôi nghĩ: Đây chính là khoảnh khắc thiên thực không chớp mắt của cậu. Cú lao xuống đóng băng dài thiên thu. Chứng nói lắp nhẹ của cậu được sự lãng quên chữa khỏi. Vậy thì có gì mà buồn?
Buổi sáng hôm cử hành tang lễ, trời quang đãng và chói chang. Một làn gió mỏng tang, nhẹ bẫng làm cho mọi thứ trông thật phù du, vô tư lự, dường như muốn nói đau khổ là phản ứng quá cường điệu. Toàn khối lớp được nghỉ buổi sáng; học sinh những khối lớp khác cũng có thể đến dự, nhưng không bắt buộc. Nghĩa trang tọa lạc ở địa điểm thuận tiện cách trường chỉ một kilomet, vì thế chúng tôi cùng nhau đi bộ đến, khoảng một trăm học sinh và vài giáo viên đến đó để tưởng nhớ hoặc để giám sát - cả hai, nếu nhiệm vụ của họ là thế. Phần lớn những người này sẽ không thèm chào Brett khi nó còn sống, nhưng giờ đây họ lại đang xếp hàng để nói lời từ biệt.
Tất cả chúng tôi tập trung quanh mộ, chờ đợi linh mục bắt đầu buổi lễ, đứng trong sự im lặng phăng phắc đến độ chỉ một tiếng hắng giọng cũng khiến bạn sợ vỡ mật. Tôi nghĩ đồng phục học sinh khiến chúng tôi trông như những nhân viên bưu tá tề tựu về đây để gửi trả một đồng nghiệp lại cho Chúa. Tôi tưởng tượng dòng chữ “Trả lại Người gửi” đóng dấu ngay ngắn trên quan tài.
Linh mục bắt đầu. Bài điếu văn của ông chạm đến tôi như đã được lọc qua một tấm phin cà phê. Tôi nhận được những lời nhỏ giọt. Ông ta mô tả Brett là một người “chán nản cuộc sống” (đúng thế), “chết chóc và yếu đuối” (đúng luôn), và “sẵn sàng về với Chúa, Đấng cứu rỗi” (chưa hẳn). Cuối cùng ông ta nói một cách thống thiết rằng “tự tử là một trọng tội.”
Chờ một giây đã!
Đúng vậy, Brett đã kết liễu cuộc đời, nhưng nó cũng đã trả lời câu hỏi của Hamlet mà không bị lương tâm giằng xé, và cho dù tự tử là tội lỗi đi chăng nữa, thì rõ ràng sự dứt khoát đáng được tưởng thưởng. Ý tôi là, ai giỏi người nấy phải được khen. Brett đã trả lời được tình thế khó xử của Hamlet thẳng thắn như đánh dấu vào ô trống vậy.
Tồn tại
Không tồn tại
Tôi biết bài giảng đạo này là chiến thuật hù dọa xưa như trái đất, nó đã sống sót nguyên vẹn qua nhiều thời đại trong khi những tục lệ như dùng đỉa hút máu khi người ta bị sổ mũi từ lâu đã bị bài xích là cổ hủ. Nếu có Chúa, tôi không tin ông ta lại là người cứng rắn đến vậy. Tình thật, tôi hình dung cảnh ông ta chào đón những người đàn ông đàn bà đã tự kết liễu cuộc đời họ như một cảnh sát trưởng cảm thấy bất ngờ khi một tên tội phạm đến đầu thú. “Con!” ông ta có thể nói thế, không quá giận dữ mà chỉ thoáng thất vọng vì mất dịp lập công hoặc cảm giác hài lòng khi bắt được tội phạm.
Quan tài được hạ xuống, và tiếng những nắm đất cứng chạm vào nắp áo quan khiến nó nghe như rỗng tuếch. Brett rất gầy. Tôi từng nói với nó rằng chẳng ai ghét người gầy. Giờ thì tôi nghĩ, không một ai, trừ lũ sâu bọ háu đói.
Thời gian trôi qua. Mặt trời như viên thuốc hình thoi tan chảy trong lúc lướt ngang bầu trời. Tôi nhìn thầy White suốt buổi. Trông ông nổi bật như được tô điểm bằng ánh sáng huỳnh quang màu vàng. Ông đang chịu đựng sự bẽ bàng cùng cực trước công chúng: vì bỏ bê hoặc sơ sót trong lúc làm cha mà ông đã mất đứa con trai, một việc rõ ràng như ông đã đặt nó lên nóc xe rồi lái đi mà quên đưa nó xuống.
Sau buổi lễ, thầy hiệu trưởng Silver bước đến và đặt một tay lên vai thầy White. Ông co rúm lại và né người khỏi bàn tay ấy. Khi thầy White bỏ đi, tôi nghĩ: Ôi, Brett, bố cậu đi rồi đấy, ông ấy đi để gói ghém những chiếc áo trống quần rỗng của cậu đấy.
Tôi đã thực sự nghĩ như thế.
Trở về trường, một buổi sinh hoạt đặc biệt được tổ chức trên sân. Một chuyên viên tư vấn đứng ra nói về vấn nạn giới trẻ tự tử. Ông ta đề nghị tất cả chúng tôi chìa tay ra với những bạn đang chao đảo và luôn để mắt đến các dấu hiệu. Lời mô tả của ông ta về một trẻ vị thành niên tự tử truyền xung động đến đám đông. Ông ta đã mô tả mọi người ở đó. Điều đó làm cho các học sinh suy nghĩ. Chuông vang lên và mọi người tản vào các lớp học, trừ khối chúng tôi. Theo quyết định của cấp trên, chúng tôi quá đau buồn nên không thể học môn làm tính được. Tôi cảm thấy bứt rứt một cách dễ hiểu. Tôi có thể cảm nhận được sự hiện diện của Brett. Tôi trông thấy nó ở trên bục phát biểu, rồi thấy khuôn mặt nó trong đám đông. Tôi biết chắc rằng không lâu nữa tôi sẽ nhìn thấy đầu nó nằm trên cổ mình. Tôi biết tôi phải rời bỏ nơi đó, cứ bỏ nó lại sau lưng và không ngoái đầu nhìn lại. Tôi nhìn thấy cổng trường mở rộng đầy mời gọi. Giả sử tôi bỏ chạy thì sao? Hoặc thậm chí hay hơn là: giả sử tôi bước đi thì sao?
Tâm trạng mơ màng của tôi bị gián đoạn bởi tiếng đổ lỗi mơ hồ nào đó. Vài đứa học sinh đang bàn tán về khả năng Brett đang ở đâu lúc này. Bây giờ nó đang ở đâu? Vài đứa nói nó đang ở trên thiên đường; những đứa khác cho rằng nó đã trở lại nơi nó bắt đầu, trong sự tăm tối cận Bắc cực, tự hỏi khi nào thì nó sẽ tiến lên trong hàng người xếp hàng chờ đầu thai. Rồi một đứa tin vào Công giáo nói, “Cậu biết không, linh hồn cậu ấy sẽ bốc cháy mãi mãi,” và tôi không thể để một suy nghĩ ác ý như thế ngồi yên mà không nhổ vào nó, vì vậy tôi lên tiếng, “Tôi nghĩ cậu nên đi tìm kẻ nào suy nghĩ giúp cậu rồi bảo họ cập nhật thông tin đi.”
“Nếu vậy thì cậu nghĩ điều gì đã xảy ra với linh hồn của Brett nào?”
“Chẳng gì cả. Vì cậu ta chẳng có linh hồn gì sất. Tôi cũng không. Cậu cũng không.”
“Tôi có đấy!”
“Không, cậu không có.”
“Có mà!”
“Cóc có!”
“Cậu không tin vào linh hồn à?”
“Sao phải tin?” tôi hỏi.
Bạn phải nhìn thấy những ánh mắt mà tôi nhận được! Khi bạn nói bạn không tin vào linh hồn, điều đó thật nực cười! Người ta nhìn vào bạn như thể linh hồn, giống như nàng tiên Tinker Bell, cần phải được tin thì mới tồn tại. Ý tôi là, nếu tôi có linh hồn, liệu đó có thực sự là kiểu linh hồn cần được tinh thần tôi ủng hộ không? Nó có mỏng manh đến thế? Người ta dường như tin là vậy; họ nghĩ rằng hoài nghi linh hồn đồng nghĩa với việc ta là Kẻ vô hồn, sinh vật cô độc duy nhất lang thang trên vùng đất hoang không đượcsự vĩnh cửu lấp đầy...
III.
Vậy thì có phải tôi đã bỏ học vì một bổn phận cao thượng nào đó với đứa bạn quá cố không? Một cuộc biểu tình tượng trưng do con tim thôi thúc? Tôi ước là thế.
Sự việc hoàn toàn không phải như vậy.
Tôi nghĩ mình nên nói rõ.
Vào buổi chiều hôm tang lễ, tôi nhận được một gói bưu phẩm. Nó chứa duy nhất một cành hoa hồng đỏ và một lá thư ngắn. Nó được gửi từ Brett, đứa bạn đã lìa trần của tôi.
Jasper thân mến,
Có một cô gái xinh đẹp, cao dong dỏng, với mái tóc dài màu đỏ rực học trên chúng ta một năm. Tớ không biết tên cô ấy. Tớ chưa bao giờ nói chuyện với cô ấy. Tớ đang nhìn cô ấy trong lúc viết thư này. Tớ đang nhìn chằm chằm vào cô ấy! Cô ấy đang đọc sách. Cô ấy lúc nào cũng đắm đuối đọc sách, đến nỗi chẳng thèm nhìn lên, ngay cả khi tớ ngồi đây và cởi đồ cô ấy trong tưởng tượng.
Bây giờ tớ đã cởi xuống đến quần lót của cô ấy! Thật dễ phát điên khi cô ấy cứ tiếp tục đọc sách như thế, đọc dưới ánh mặt trời. Khỏa thân hoàn toàn. Trong ánh mặt trời.
Làm ơn tặng cành hoa này cho cô ấy và bảo cô ấy rằng tớ đã yêu cô ấy, và sẽ yêu cô ấy, mãi mãi.
Bạn của cậu,
Brett
Tôi gấp lá thư lại và nhét nó dưới đáy một hộc tủ. Sau đó tôi quay lại mộ của Brett và đặt cành hoa hồng xuống rồi để nó ở đó. Tại sao tôi không tặng nó cho cô gái mà Brett yêu? Tại sao tôi không thực hiện ước nguyện cuối cùng cho người đã chết? Vì một lẽ, tôi chưa bao giờ khoái ý tưởng chạy đông chạy tây làm cái này cái nọ cho một người chết. Thứ hai là, tôi cảm thấy thật tàn nhẫn vô lý khi lôi kéo cô gái tội nghiệp này vào một vụ tự tử, cô gái thậm chí chưa từng biết nó đã sống trên đời. Bất kể cô ấy là ai, tôi chắc chắn rằng cô ấy đã chịu đựng quá đủ, không cần phải gánh thêm tội lỗi về cái chết của một kẻ mà cô ấy không thể phân biệt được giữa một đám đông hai người.
Ngày hôm sau tôi đi lên đồi đất cao phía trên trường học - mảnh đất khô cằn bằng phẳng, không cây cối, nơi những đứa học sinh cuối cấp thường la cà với vẻ hợm hĩnh. Bọn chúng là thế. Bọn chúng chẳng coi học sinh các cấp khác ra gì, cứ như học được đến năm cuối có thể sánh ngang với việc sống sót sau chuyến đi nghĩa vụ thứ ba đến Việt Nam. Tôi đi đến đấy vì tò mò. Brett đã tự tử trong lúc đang phải lòng một cô gái cao, tóc đỏ. Cô ấy có phải là nguyên nhân không? Cô ấy là ai? Có phải thực sự nó đã chết, không phải vì nỗi khổ bị bắt nạt, mà vì một ham muốn không được thỏa mãn? Tôi đã thầm mong như thế, vì mỗi lần tôi nhìn thấy Harrison lảng vảng trong trường, tôi lại cảm thấy buồn nôn khi nghĩ rằng Brett đã chết vì tên ấy. Tôi sẵn sàng thay thế Harrison bằng một lý do chết đáng giá hơn. Đó là điều tôi đang tìm kiếm. Một cô gái đáng để ta chết.
Thật không may cho tôi, tôi đã tìm thấy cô ấy.
***
Dù tôi có trí nhớ khá tốt, nhưng tôi là người đầu tiên thừa nhận rằng một vài kí ức của mình cần phải được triệu tập thẩm vấn. Sự thật là, tôi không thích tự dối lòng rồi mù quáng tin vào điều đó, vì vậy mà khi hình dung những đứa con gái ở trường phổ thông, tôi chỉ có thể đoán rằng mình đang lãng mạn hóa. Trong tâm trí tôi, bọn nó trông như những nữ sinh trong-phim-ca-nhạc-có-gái-điếm-khêu-gợi-nổi-tiếng. Như thế thật không phải. Tôi trông thấy lũ con gái mặc áo sơ mi trắng mở nút với áo ngực ren màu đen lồ lộ, váy ngắn xanh đậm với tất dài màu kem và giày có khóa màu đen. Tôi thấy bọn chúng lả lướt trên những đôi chân nhợt nhạt dọc những hành lang hẹp, tóc cuồn cuộn phía sau như lửa trong gió lớn. Như thế cũng thật không phải.
Chuyện này thì tôi biết chắc: cô nàng mà Brett yêu rất cao và có làn da xanh tái, với mái tóc đỏ rực lửa xõa xuống lưng, đôi vai mượt mà như trứng mỏng, đôi chân dài như đường ống dưới hầm. Nhưng đôi mắt nâu sẫm, thường giấu sau hàng tóc mái cắt tỉa không đều, chính là vũ khí bí mật của cô ấy: cô ấy có ánh mắt có thể lật đổ cả một chính phủ. Cô ấy cũng có thói quen xoay lưỡi trên đầu cây bút. Như thế rất gợi tình. Một hôm tôi trộm hộp đựng bút chì của cô ấy và hôn lên từng cây bút còn lại trong hộp. Tôi biết điều đó nghe như thế nào, nhưng đó là một buổi chiều rất riêng tư, chỉ có tôi và những cây bút. Khi bố về nhà, ông muốn biết tại sao môi tôi lại lấm lem mực xanh. Vì cô ấy viết mực màu xanh, tôi muốn nói với bố. Luôn luôn là màu xanh.
Cô ấy cao hơn tôi những 15 cm, và với mái tóc đỏ rực lửa ấy, trông cô như một tòa nhà chọc trời đang bốc cháy. Vì thế tôi gọi cô ấy là Hỏa ngục cao vút, nhưng không nói thẳng với cô ấy. Làm sao tôi nói được? Khuôn mặt đẹp ấy và tôi chưa được giới thiệu với nhau. Thật không thể tin nổi tôi chưa gặp cô ấy trước đó - có thể bởi vì tôi cứ học hai hôm thì nghỉ một hôm. Có thể cô ấy cũng làm như vậy, chỉ khác ngày mà thôi. Tôi lẽo đẽo theo cô ấy quanh sân trường từ một cự li nhất định, cố nhìn ngắm cô ấy ở mọi góc có thể để có được hình ảnh tưởng tượng ba chiều mà trí tưởng tượng của tôi xứng đáng được thấy. Thỉnh thoảng, khi cô ấy di chuyển nhẹ nhàng qua sân trường, trông như chỉ nặng hơn cái bóng của mình một chút, cô ấy linh cảm thấy tôi ở đó, nhưng tôi nhanh như cắt. Mỗi lần cô ấy ngoái lại, tôi vờ như đang nhìn trời đếm mây.
Nhưng chết tiệt! Đột nhiên tôi nghe thấy tiếng nói rít tai của bố bảo rằng tôi đang tìm cách sùng bái con người vì tôi chả tin gì vào Chúa. Ừ, có thể. Có thể tôi đang nỗ lực tự tôn bản ngã, tưởng tượng mình thông qua cô gái cao kều mọng nước này để giải thoát bản thân khỏi cơn tuyệt vọng cô độc. Được thôi. Đấy là quyền của tôi. Tôi chỉ ước gì tôi mù tịt về những động cơ tiềm thức của mình. Tôi chỉ muốn được thưởng thức những lời nói dối của mình như mọi người khác.
Tôi chẳng thể nghĩ đến gì khác ngoài cô ấy và những đặc điểm của cô ấy. Ví dụ như, mái tóc đỏ của cô ấy. Nhưng chẳng lẽ tôi nhà quê đến độ để bản thân mình bị mái tóc ấy làm cho mê muội? Ý tôi là, thực đấy. Tóc! Nó chỉ là tóc thôi mà! Ai mà chẳng có tóc! Cô ấy buộc nó lên, cô ấy xõa nó xuống. Vậy thì sao? Và tại sao mọi bộ phận khác của cô ấy đều khiến tôi lên cơn hen suyễn trong vui sướng? Ý tôi là, ai mà chẳng có lưng, hay bụng, hay nách? Toàn bộ cơn ám ảnh đến từng chi tiết này góp phần sỉ nhục tôi ngay cả khi tôi viết nó ra, thật thế, nhưng tôi cho rằng nó không bất thường đến vậy. Mối tình đầu đều là thế mà. Chuyện xảy ra là ta gặp một đối tượng để yêu và ngay lập tức một lỗ hổng trong người ta bắt đầu lên cơn đau, cái lỗ lúc nào cũng ở đấy nhưng ta không nhận ra cho đến khi có người xuất hiện, cắm phích vào, và rồi bỏ chạy với phích cắm.
Suốt một khoảng thời gian, vị trí trong mối quan hệ của chúng tôi rất dễ định nghĩa. Tôi là kẻ si mê, đứa bám đuôi, người tôn thờ mặt trời. Cô ấy là người được yêu, bị bám đuôi, được tôn thờ.
Vài tháng đã trôi qua như thế.
***
Sau khi Brett tự tử, thầy White đi dạy lại ngay. Ở hoàn cảnh của ông, đó là một quyết định tồi. Ông đã không làm điều mà mọi người lẽ ra nên làm sau một bi kịch cá nhân lớn lao - bỏ trốn, để râu, ngủ với một cô gái nhỏ hơn mình nửa số tuổi (trừ khi bạn hai mươi tuổi). Thầy White chẳng làm gì giống như thế cả. Ông chỉ đến lớp, hệt như lúc trước. Ông thậm chí còn không màng yêu cầu đem bàn của Brett đi - nó cứ nằm đó, hiu quạnh, dốc ngược cán cân khổ đau của ông.
Vào những ngày khá hơn, trông thầy White như tỉnh dậy sau một giấc ngủ sâu. Phần lớn thời gian trông như ông vừa bị khai quật từ nấm mồ của chính mình. Ông không còn quát mắng nữa. Chúng tôi chợt nhận ra mình đang căng tai lắng nghe ông, tựa như đang cố gắng tìm nhịp của một mạch đập yếu ớt. Dù ông rõ ràng đang khổ sở đến mức trở thành một bức tranh biếm họa về sự khổ sở, ông lại nhận được (chẳng hề bất ngờ) rất ít sự thông cảm từ các học sinh. Chúng chỉ nhận thấy rằng trước đây ông thường nổi trận lôi đình còn bây giờ ông lại tuyệt nhiên xa cách. Một lần nọ ông làm mất những bài tập làm văn mà lớp tôi đã viết. Ông thẫn thờ chỉ tay vào tôi. “Chúng ở đâu đó trong xe đấy, Jasper, đi tìm đi,” ông nói, ném chùm chìa khóa cho tôi. Tôi đi đến xe của ông. Một chiếc Volkswagen phủ đầy bụi. Tôi tìm thấy bên trong những hộp thức ăn rỗng, quần áo ẩm, và một con tôm, nhưng chẳng có bài tập làm văn nào. Khi tôi trở về tay không, ông chỉ gượng gạo nhún vai trước lớp. Ông là như vậy đấy. Và khi tiếng chuông vừa vang lên, khi lũ học trò nhanh tay nhét sách vào cặp, chẳng phải thầy White là người dọn dẹp nhanh hơn bất kì ai sao? Nó gần giống như một cuộc thi, và giờ đây ông luôn luôn thắng. Song vì lý do nào đó, ông vẫn tiếp tục công việc, khổ sở ngày này qua ngày khác.
Một hôm sau giờ tan lớp, ông bảo tôi nán lại. Những đứa học sinh khác nháy mắt với tôi, ra hiệu chúng nghĩ rằng tôi gặp rắc rối và khoái chí khi biết điều đó. Nhưng thầy White chỉ đơn giản muốn biết công thức món bánh chocolate mà Brett và tôi đã làm hôm nọ. Tôi nói với ông rằng tôi không biết. Thầy White gật đầu suốt một lúc lâu bất thường.
“Em có tin vào Kinh thánh không, Jasper?” đột nhiên ông hỏi.
“Cũng tương tự như em tin vào truyện ‘Con chó của dòng họ Baskerville’[41] ạ.”
“Tôi nghĩ tôi hiểu ý em.”
“Vấn đề là trong hầu hết trường hợp khi Chúa được xem là anh hùng, ông ta hóa ra lại là kẻ tội đồ. Ý em là, hãy nhìn xem ông ta đã làm gì với vợ của Lot. Thần thánh kiểu gì mà lại biến vợ người ta thành cột muối?[42] Bà ấy có tội gì? Quay đầu lại ư? Thầy phải thừa nhận đây chính là vì Chúa đã tuyệt vọng do bị nhốt trong thời gian, không phải được tự do trong đó; nếu không ông ta đã làm người xưa sửng sốt bằng cách biến bà ta thành ti vi màn hình phẳng hoặc chí ít cũng là một cột Velcro[43] rồi.”
Từ ánh mắt trên mặt thầy White, tôi có thể nhận ra ông đang không lắng nghe lập luận dễ hiểu mà tôi, chẳng đáng tự hào cho lắm, đang xào lại từ một bài giảng đạo nửa đêm của bố. Cơ mà, tôi đang nói gì nào? Tại sao tôi lại lý do lý trấu với một người trông như đống cây già cỗi mục ruỗng? Hình như tôi có thể làm bất kì điều gì cho một con người đang đau khổ trừ việc tỏ ra tử tế với Chúa trời của người ấy.
Lẽ ra tôi nên nói thế này: “Tại sao thầy không bỏ việc? Hãy bỏ đi khỏi nơi này! Hãy thay đổi trường! Hãy thay đổi công việc! Hãy thay đổi cuộc sống!”
Nhưng tôi đã không nói.
Tôi để cho thầy White tiếp tục giãy giụa trong chiếc lồng của ông.
“À mà, dù sao thì, tôi nghĩ em nên vào lớp kế tiếp đi,” ông nói, và kiểu mân mê cà vạt của ông khiến tôi muốn òa khóc. Đó là vấn đề của những kẻ đau khổ ngay trước mặt bạn. Họ không thể chỉ gãi mũi mà không làm nó đau buốt.
***
Không lâu sau đó, bố đến trường đón tôi. Việc này không đến nỗi hiếm hoi như bạn nghĩ. Sau khi mệt lả với những hoạt động thường nhật của ông - thức dậy (mất một giờ), ăn sáng (nửa giờ), đọc sách (bốn giờ), đi bộ (hai giờ), nhìn chằm chằm (hai giờ), chớp mắt (bốn mươi lăm phút), ông đến đón tôi để “có việc mà làm”.
Khi tôi đến cổng trường, bố đã đứng đấy đợi tôi trong bộ quần áo chưa giặt, khuôn mặt cạo râu cẩu thả.
“Thằng cha mặt mũi khó ưa đang há mồm nhìn bố là ai thế?” ông hỏi khi tôi đến nơi.
“Ai ạ?”
Tôi ngoái lại thì thấy thầy White đang nhìn chúng tôi chăm chú như bị thôi miên từ cửa sổ phòng học, như thể chúng tôi đang làm chuyện kì lạ bắt mắt, và tôi chợt cảm thấy mình giống con khỉ đi thu tiền thưởng cho nghệ sĩ organ đường phố của bố.
“Đấy là thầy giáo tiếng Anh của con. Con trai ông ấy mới chết.”
“Trông ông ta quen quá.”
“Quen là phải. Hôm nọ bố đã quấy rầy ông ấy suốt bốn mươi lăm phút đấy thôi.”
“Thật không? Ý con là sao?”
“Bố vào lớp học rồi vô cớ nhục mạ ông ấy. Bố không nhớ ư?”
“Thú thực là - không. Nhưng ai lại đi nhớ những chuyện như thế nhỉ? Con nói ông ta mới mất con trai hả?”
“Brett. Nó là bạn của con.”
Bố nhìn tôi ngạc nhiên. “Con không kể cho bố chuyện đấy.”
“Nó cũng không thân với con lắm,” tôi đáp. “Bọn con chỉ là, bố biết đấy, bị cùng một đám ghét.”
“Thế nó sao mà chết? Chơi thuốc quá liều à?”
“Tự tử.”
“Tự tử bằng cách chơi thuốc quá liều?”
“Nó nhảy xuống một vách núi.”
Bố quay lại khuôn mặt rầu rĩ của thầy White đang nhìn qua cửa sổ. “Bố nghĩ mình nên đi đến nói chuyện với ông ấy.”
“Đừng bố.”
“Sao lại đừng? Ông ấy đang đau khổ.”
“Chính xác.”
“Chính xác,” bố đồng tình, dù với một ý kiến hoàn toàn khác với tôi, vì nhoáng cái ông đã sải bước về phía cửa sổ lớp học. Hai người bọn họ nhìn nhau chăm chú qua lớp kính. Tôi chứng kiến toàn bộ sự việc. Tôi thấy bố gõ lên cửa sổ. Tôi thấy thầy White mở cửa sổ. Tôi thấy họ ban đầu nói chuyện hòa nhã, sau đó nghiêm trọng, rồi thầy White khóc còn bố thì quàng cánh tay qua cửa sổ, đặt nó lên vai thầy White, dù góc độ trông rất kì và không tự nhiên. Rồi bố quay lại chỗ tôi, môi chu lên như thể đang huýt sáo dù thực ra thì không. Ông chỉ chu môi mà thôi.
Sau cuộc hội ý khó hiểu này, thầy White hóa điên trong lớp học. Dĩ nhiên, sau cơn bộc phát của ông, dù các cán bộ trong trường ngỡ ngàng kêu lên và nói những câu như “Tôi không tin nổi!”, chẳng có ai thực sự ngạc nhiên, và họ thậm chí còn không thể nhìn thấy điều tôi đã nhìn thấy, thứ bao trùm lên sự bùng nổ đột ngột của thầy White: ảnh hưởng của bố tôi.
Nó xảy ra thế này: Một buổi sáng nọ thầy White vào lớp với khuôn mặt như ngón tay cái bị ngâm lâu ngày trong bồn tắm. Rồi ông bắt đầu bài học bằng cách mở to mắt nhìn trừng trừng đầy soi mói, dùng mắt không ngừng điểm mặt từng đứa học sinh một, rồi chuyển sang đứa kế tiếp. Không ai dám nhìn ông. Bạn không thể chịu nổi khi nhìn vào một đôi mắt như thế. Bạn chỉ có thể cụp mắt xuống và chờ ông lướt qua mình, như Thiên sứ của Thần chết. Ông đang dựa vào bàn, con người rỗng với đôi mắt tia X. Lúc đó là buổi sáng và tôi nhớ các cửa sổ đều mở; một làn sương yếu ớt thoảng len vào, không khí đặc quánh mùi biển đến độ bạn gần như nếm được cả phiêu sinh vật. Sự im lặng dồn nén bao trùm, chỉ có tiếng đại dương dâng lên và rơi xuống bờ biển. Các học sinh nhìn ông trong trạng thái chờ đợi nín thở.
“Thật buồn cười khi các em cần được đào tạo để trở thành bác sĩ hoặc luật sư nhưng không cần để làm cha mẹ. Bất kì thằng ngu nào cũng làm được, chẳng cần gì nhiều ngoài một buổi hội thảo. Em, Simon, em có thể làm bố vào ngày mai nếu em muốn.”
Mọi người bật cười, và cười là phải. Chúng tôi không thể tưởng tượng cảnh Simon ngủ với bất kì ai trong suốt đời nó.
“Tại sao các em ở đây? Không chỉ trong lớp học này, mà trong cuộc đời? Các em có nghĩ bố mẹ mình đã thắc mắc vì sao họ lại có các em không? Hãy nghe xem người ta nói gì khi họ mới sinh em bé: ‘Đó là điều tuyệt vời nhất mà tôi từng làm trong đời,’ ‘Thật kì diệu, blahblahblahblah.’ Họ đã làm việc đó vì sở thích của họ, để thỏa mãn nhu cầu cảm xúc của họ. Các em có bao giờ nhận ra điều ấy? Rằng các em là kết quả của những ham muốn của người khác? Điều đó khiến các em cảm thấy thế nào?”
Không ai nói gì. Điều thầy White nói hoàn toàn đúng. Ông đi qua các dãy bàn đến cuối lớp. Chúng tôi không biết liệu nên nhìn thẳng, hay ngoái nhìn theo hướng ông, hay là nên xé toạc đôi mắt mình ra.
“Bố mẹ các em muốn gì ở các em?” Ông hét lên từ cuối lớp. Chúng tôi ngoái lại để nhìn. “Họ muốn các em học hành. Vì sao? Họ trở nên tham vọng vì các em. Vì sao? Họ xem các em như tài sản cá nhân chết tiệt của họ, vì thế đấy! Các em và xe ô tô của họ, các em và máy giặt của họ, các em và ti vi của họ. Các em thuộc về họ. Và tất cả các em đối với họ chẳng hơn gì cơ hội thực hiện những tham vọng từng thất bại của hắn! Ha-ha-ha! Bố mẹ các em không yêu các em đâu! Đừng để họ lừa bịp với câu nói ‘Bố mẹ yêu con!’ Thật đáng tởm! Thật dối trá! Nó chỉ là lời biện hộ cho việc đã nhào nặn các em! ‘Bố mẹ yêu con’ là cách khác để nói, ‘Mày nợ tao, nhóc ranh ạ! Mày đại diện cho ý nghĩa cuộc sống của tao vì tao không thể tự đem lại điều đó cho mình, vì thế đừng làm mọi chuyện hỏng bét cho tao nhờ!’ Không, bố mẹ các em không yêu các em - họ cần các em! Và hơn rất nhiều so với các em cần họ, tôi có thể đảm bảo như thế!”
Các học sinh chưa bao giờ nghe được điều gì như vậy. Thầy White đứng đó thở khò khè, giống như thở qua một cái ống bị tắc.
“Chúa ơi, tôi biến khỏi lớp đây,” đột nhiên ông nói, rồi bỏ đi khỏi lớp học.
Không mấy ngạc nhiên, trong vòng vài giờ sau, toàn trường đã xôn xao bàn tán về xì căng đan này, chỉ có điều sự thật bị bóp méo hết cả: vài người nói rằng ông đã tấn công các học sinh; những người khác nói ông đã tìm cách dùng thắt lưng quất đám học sinh ấy. Và không ít người thì thầm cái từ không thể nhắc đến ấy, từ mà dạo này người ta ghét (hãy đọc là “thích”) đề cập đến: kẻ ấu dâm!
***
Tôi ước gì chuyện như thế là hết. Tôi ước gì mình có thể kết thúc ở phần ghi chép vui vẻ đó. Vui vẻ? So với chuyện sắp xảy ra sau đó, thì đúng là vậy. Chuyện xảy ra vào buổi chiều hôm đó ngự trị trong lịch sử như sự hối tiếc chính thức đầu tiên của tôi, cho đến nay vẫn là sự hối tiếc số một. Bất cứ chuyện tốt đẹp gì tôi đã làm cho đến trước buổi chiều hôm ấy đều sắp sụp đổ, và bất cứ chuyện tốt đẹp gì tôi đã làm sau đó đều là nỗ lực để bù đắp cho việc tôi đã gây ra.
Đây là việc tôi đã làm: Tôi bám theo Hỏa ngục Cao vút suốt ngày. Tôi ngắm cô ấy đọc sách trong nắng, như Brett đã mô tả, giật mạnh đôi tất với những móng tay sơn màu xanh côban. Tôi bám theo cô ấy băng qua sân trường trong lúc cô ấy nắm tay một đứa con gái có khuôn mặt trông như cái mai. Vào giờ ăn trưa, tôi đứng sau lưng cô ấy trong căng-tin khi cô ấy gọi món bánh thịt, và khi bà bán hàng lơ đãng, cô ấy chộp một nắm gói sốt cà chua rồi nhét vào túi mình, đoạn ung dung bỏ đi, sau khi đã ăn cắp một cách tài tình những món đồ miễn phí.
Vào buổi chiều tôi theo dấu thầy Smart, giáo viên sinh học, trong lúc ông đuổi cô ấy chạy qua những hội trường mốc meo. Khi ông tóm được cô ấy, cô ấy ôm đầu như thể nó là một báu vật gia truyền.
“Giờ này sao em không ở trong lớp?” ông hỏi.
“Em đang hành kinh,” cô ấy đáp đầy thách thức, với ánh mắt ngầm nói, “Thử chứng minh là tôi không có xem.” Hay thật! Ông thầy bị bẽ mặt dán mắt xuống đất, thầm ước mình đang ở nhà với bộ sưu tập rêu mốc kì lạ mà ông từng đem đến lớp một lần.
Sau khi tan trường, chúng tôi thường la cà tại ga tàu trong hàng giờ liền (hãy thử làm thế cho đến khi bạn sang tuổi đôi mươi - bao hứng thú tan biến hết, tin tôi đi). Các nhân viên gác tàu luôn miệng bảo chúng tôi về nhà, nhưng thực tình làm gì có luật nào cấm đứng trên thềm ga mà không đón tàu. Chiều hôm đó tôi bám theo Hỏa ngục Cao vút như hình với bóng đến tận cuối ga tàu. Cô ấy đang đứng cùng đám bạn thường đi chung, còn tôi đang há hốc từ phía sau một cây cột, miên man với những suy nghĩ ám ảnh quen thuộc của mình: ước gì cô ấy rơi vào cảnh nguy hiểm nào đó để tôi có thể cứu cô ấy, nhổ nước bọt vào bản thân mình vì thần tượng hóa một cô gái mà tôi chưa bao giờ gặp gỡ, khao khát có được một vật lưu niệm từ cô ấy như một di vật thiêng liêng, chìm đắm trong ảo giác tính dục mà ở đó chúng tôi giao nhau đúng góc, và lên kế hoạch cho một sự khám phá có hệ thống thánh đường của cô ấy.
Cô ấy và đám bạn tiếp tục tiến xuống cuối thềm ga, vì thế để nhìn thấy cô ấy tôi phải bước ra khỏi nơi ẩn nấp của mình. Một đứa bạn của cô ấy - Tony, một đứa hơi khòm mà tôi biết vì hắn có lần đã trấn lột một bao thuốc lá của tôi vì thấy hai mắt tôi nằm gần nhau quá - mở dây kéo quần của hắn rồi xoay tròn mông về phía Hỏa ngục Cao vút. Cô ấy ngoảnh mặt đi đầy kinh tởm và phát hiện ra tôi đang nhìn cô ấy chằm chằm. Cả hai chúng tôi đều bị bất ngờ. Rồi một chuyện kì lạ xảy ra: cô ấy nhìn lại tôi. Đôi mắt cô ấy, trân trối và đầy hoang dại, thách thức tôi dám nhìn lảng nơi khác. Khoảnh khắc ấy kéo dài ra đến vô tận, rồi bật lại thành một tích tắc và nảy lên, tổng cộng nó kéo dài khoảng tám giây rưỡi.
Tôi quay đi và tiến vào một buồng điện thoại công cộng. Tôi cho vài xu vào khe rồi bấm bừa một số.
“Xin chào?”
“Xin chào.”
“Ai đấy?”
“Là tớ đây. Có phải cậu đấy không?”
“Ai đấy? Anh muốn gì?”
“Đừng bận tâm,” tôi nói. “Cậu khỏe không?”
“Ai thế nhỉ?”
“Đã bảo rồi. Là tớ đây mà.”
Tôi vẫn cảm thấy ánh mắt Hỏa ngục Cao vút đang nhìn mình. Tôi biết phải làm gì: tôi lắc đầu nguầy nguậy và cười ha hả, tiếng cười không được tự nhiên, rồi ngưng lại để gật đầu nghiêm túc, như thể người ở đầu dây bên kia vừa nói một câu buồn cười đầy xúc phạm nhưng khi nghĩ lại thì thấy thật uyên thâm. Tôi làm như tình cờ quay người lại để nhìn cô ấy, nhưng lưng cô ấy đã xoay lại. Tôi cảm thấy một cái gai tí hon chích vào thể diện của mình.
Trời tối dần. Mọi người đều ngầm nhất trí rằng việc lảng vảng ở thềm ga tàu đã trở nên chán ngấy - cho đến ngày hôm sau - và khi chuyến tàu kế tiếp trờ tới, tất cả chúng tôi bước lên.
Ở cuối một toa chen kín người có một vụ lộn xộn, một đám đông nhỏ đã đứng thành vòng tròn - tin xấu cho một người nào đây. Mọi vòng tròn người đều là tin xấu. Thú thực, thỉnh thoảng tôi lại nghĩ con người nên bị cấm thành lập nhóm. Tôi không phải phát xít, nhưng tôi sẽ không hề phiền lòng nếu chúng ta phải đứng thành hàng một trong suốt cuộc đời mình.
Tôi nghe thấy những tiếng hò reo vui vẻ và tiếng cười rộn rã. Điều đó có nghĩa là ai đó đang chịu khổ sở. Lòng tôi chùng xuống khi nghĩ đến kẻ xấu số. May là Charlie đang bị ốm còn Brett thì đã chết, vì thế bất kì ai đang bị bọn chúng làm nhục lần này, tôi cũng không bận tâm. Dù vậy, tôi vẫn chen qua đám đông để xem đó là ai.
Thầy White.
Đám học sinh đã giật chiếc mũ trên đầu ông và đang vẫy nó trong không khí, ra oai với ông. Thầy White đang cố lấy lại chiếc mũ. Bình thường kể cả đứa cứng đầu nổi loạn nhất cũng không thể tấn công thầy giáo - về mặt tinh thần và tâm lý thì còn được; chứ về mặt bạo hành thân thể thì không - nhưng thầy White là một thầy giáo đã bị tin đồn biến thành ác quỷ, và điều đó khiến ông bị trêu chọc.
“Này!” tôi hét lên.
Mọi người nhìn sang tôi. Đây là lần đầu tiên tôi đương đầu với bọn bắt nạt, chống lại sự độc ác của lũ súc sinh, và tôi quyết tâm không làm bản thân thất vọng. Nhưng rồi bốn việc nối tiếp nhau nhanh chóng xảy ra.
Việc đầu tiên là tôi nhận ra người đang cầm chiếc mũ chính là Hỏa ngục Cao vút.
Thứ hai, tiếng kêu của tôi “Này!” không phải được hiểu như tiếng “Này!” anh hùng mà là “Này, ném cái mũ cho tôi.”
Cô ấy ném nó cho tôi.
Tôi đón nó bằng má mình. Nó lăn trên sàn, về phía cửa. Thầy White lê bước theo nó qua toa tàu.
Việc thứ ba xảy ra là Hỏa ngục Cao vút hét lên, “Nhặt nó đi, Jasper!”
Cô ấy biết tên tôi. Ôi trời ơi. Cô ấy biết tên tôi. Tôi chạy đi nhặt cái mũ như một thằng điên. Tôi chộp lấy nó. Thầy White dừng lại ở giữa toa tàu.
Rồi việc thứ tư, sự kiện đau đớn cuối cùng, chính là tiếng nói lanh lảnh của cô ấy ra lệnh cho tôi lần nữa: “Ném nó ra ngoài đi!” Tôi bị bỏ bùa. Tôi mở cửa tàu ra một nửa, đủ để thò tay ra khỏi toa. Vành mũ nhảy điệu van trong gió. Khuôn mặt thầy White đã đóng băng với một sự lãnh đạm miễn cưỡng. Tôi cảm thấy bệnh hoạn.
Bệnh. Bệnh. Bệnh. Sự căm ghét bản thân cao hơn bao giờ hết. Tại sao tôi lại làm việc này? Đừng làm thế, Jasper. Đừng làm thế. Đừng.
Tôi đã làm.
Tôi thả chiếc mũ ra. Gió đẩy nó lên và ném nó ra khỏi tầm mắt. Thầy White chạy về phía tôi. Tôi lao về cánh cửa ở cuối toa. Mưa quất vào mặt tôi. Tôi mở cửa toa kế tiếp, chạy vào, và đóng nó lại sau lưng. Ông cố đuổi theo, nhưng tôi đã dùng chân chặn cửa lại. Ông thầy đứng dưới mưa trên cái thềm bé xíu lắc lư giữa hai toa tàu, cố gắng mở cửa ra. Tôi buộc quai túi xách của mình lên tay nắm cửa, dùng chân kia đè nó xuống, rồi ra sức giữ lại. Người ông ướt sũng. Ông chửi thề qua lớp kính. Cuối cùng ông bỏ cuộc và quay lại. Đám học sinh nọ đã chặn cánh cửa ở đầu kia. Trời mưa to hơn. Ông quay lại phía tôi, đập lên cửa kính một lần nữa. Tôi biết nếu tôi để ông vào, ông sẽ biến tôi thành bữa ăn trưa. Ông bị mắc kẹt. Trời mưa to hơn, một trận tầm tã. Thầy White thôi la hét và chỉ đứng nhìn tôi với đôi mắt như một con chó già. Tôi cảm thấy trong lòng có gì đó chùng xuống, nhưng tôi không thể làm gì khác. Ở trạm dừng kế tiếp hai chúng tôi đều nhìn Hỏa ngục Cao vút bước lên thềm ga. Qua khung cửa sổ bụi bặm, cô ấy mỉm cười với tôi, nụ cười như nói, “Tôi sẽ không bao giờ quên điều cậu đã làm cho tôi, Jasper Dean, Kẻ cướp mũ ạ.”
***
Sáng hôm sau tôi đi bộ băng qua những lối đi dài, bít bùng và những cầu thang im lặng để vào sân trong trường dự một buổi nói chuyện đặc biệt. Thầy hiệu trưởng bước lên bục. “Chiều hôm qua, thầy White, giáo viên tiếng Anh của chúng ta, đã bị các học sinh của trường này khủng bố!” Tiếng rì rầm len lỏi qua đám đông. Thầy hiệu trưởng tiếp tục bài công kích. “Tôi muốn các em học sinh có liên quan vui lòng bước lên phía trước.” Mọi người nhìn dáo dác để xem có ai nhận tội không. Tôi cũng nhìn dáo dác. “Được thôi. Chúng tôi chỉ việc tìm các em. Và chúng tôi sẽ tìm thấy các em. Bây giờ tất cả giải tán.”
Tôi bước đi, nghĩ rằng thời gian của mình ở ngôi trường này sắp hết, và sau khi tôi ở trong phòng thí nghiệm khoa học được hai mươi phút, chuông báo động reo vang, reng reng reng, tôi nghe thấy tiếng kêu vui sướng quen thuộc ấy “Có người nhảy rồi! Có người nhảy rồi!” Tôi chạy ra khỏi lớp học trong lúc tiếng chuông vẫn còn reo. Đó là chiếc chuông tự tử - tôi nghĩ chúng tôi là trường đầu tiên ở nước này có một cái chuông như thế; giờ thì ở đâu cũng có. Như bầy cừu tò mò, toàn thể học sinh chạy đến bờ vực để xem, và tôi không chỉ cảm thấy tồi tệ mà là vô cùng tồi tệ, cảm giác đáng sợ ấy, vì tôi biết lần này là ai và chính tôi đã đẩy người ấy đến chỗ đó.
Tôi liếc nhìn xuống bờ vực và thấy cái xác trồi lên hụp xuống của thầy White, bị sóng xô đẩy lên các tảng đá.
Buổi chiều hôm ấy với tôi như cuộc đời nhìn qua một tờ báo cuộn lại. Tôi đã trút cạn chút cặn ngây thơ còn sót lại trong tim mình. Tôi đã đẩy một con người đến đường cùng, hay ít nhất đã góp phần vào sự suy sụp của ông ta, và tôi ghê tởm bản thân mình mãi về sau và lâu hơn nữa. Tại sao lại không chứ? Ta không nên tha thứ cho mọi tội lỗi của mình. Ta không thể lúc nào cũng dễ dãi với bản thân được. Thực ra, trong vài trường hợp, tha thứ cho bản thân là một việc làm không thể tha thứ.
Tôi đang ngồi sau phòng tập thể dục, tay ôm đầu, thì một đoàn viên sao đỏ, một dạng thanh niên Hitler ôn hòa, bước đến và nói với tôi rằng thầy hiệu trưởng muốn gặp tôi. Thôi rồi, vậy là xong, tôi thầm nghĩ. Tôi bước vào phòng hiệu trưởng và nhận thấy khuôn mặt đầy nếp nhăn của ông ta đã đanh lại thành một bức tranh mệt mỏi.
“Thưa thầy Silver,” tôi nói.
“Tôi được biết em là bạn của Brett.”
“Vâng ạ.”
“Tôi phân vân liệu em có thể đọc bài thánh thi tại tang lễ thầy White không?”
Tôi? Kẻ giết người đọc bài thánh thi tại tang lễ nạn nhân của y? Khi thầy hiệu trưởng nói tiếp về vai trò của tôi trong buổi lễ, tôi tự hỏi liệu đây có phải là một kiểu trừng phạt khéo léo hay không, bởi vì tôi cảm thấy mình trở nên trong suốt khi ngồi ở đấy, thậm chí có thể còn trong suốt hơn cả thế nữa - tôi cảm thấy mình như một địa điểm khảo cổ bị đào xới, những suy nghĩ của tôi như bình gốm cũ kĩ tiết lộ toàn bộ về nền văn minh đã thống trị ở đó một cách xuẩn ngốc và vô vọng.
Tôi nói rằng mình thấy rất vinh dự được đọc bài thánh thi tại tang lễ.
Tôi còn biết nói gì hơn?
***
Đêm hôm đó tôi đọc hết một lượt. Nó có mọi thứ mà ta trông chờ trong một bài thánh thi: những lời ẩn dụ nặng kí, giáng mạnh vào đầu, và lối nói tượng trưng của Thế giới cũ. Tôi xé nó ra khỏi quyển Kinh thánh và nghĩ: mình sẽ không đọc thứ vớ vẩn gây bức bối này. Thay vào đó tôi chọn một đoạn từ một quyển sách ưa thích của bố, đoạn mà ông đã làm tôi khiếp sợ vài năm trước đó, đoạn thơ đã làm khô héo đầu óc tôi. Đó là đoạn thơ của James Thomson từ tập thơ của ông ta, Thành phố đêm kinh sợ.
Vào buổi sáng hôm tang lễ, tôi được gọi lên phòng hiệu trưởng lần nữa. Tôi vừa đi vừa nghĩ ông ấy muốn duyệt lại trình tự buổi lễ. Tôi đã ngạc nhiên khi thấy Hỏa ngục Cao vút đứng đợi ngoài phòng, dựa vào tường. Vậy là cuối cùng chúng tôi đã bị nhận diện cho tội ác đó. Thà rằng như thế, tôi nghĩ.
“Chúng ta toi đời rồi,” cô ấy nói.
“Chúng ta đáng bị thế mà,” tôi đáp.
“Tớ biết. Có ai ngờ ông ấy lại phản ứng kém như vậy chứ?”
“Không được nói chuyện,” thầy Silver ngắt lời trong lúc mở cửa và ra hiệu cho chúng tôi vào. Hỏa ngục Cao vút tần ngần như vừa bị tát, còn tôi tự hỏi ở độ tuổi nào cô ấy nhận ra mình sở hữu uy lực có thể thuyết phục cánh đàn ông ném mũ ra khỏi tàu. Nếu tôi hỏi cô ấy lúc này, liệu cô ấy sẽ nhớ ngày hôm ấy không? Khoảnh khắc ấy? Sự kiện ấy? Tôi sẽ không tiếc gì để đổi câu chuyện về sự mạnh mẽ của cô cho truyện dài kì về sự yếu đuối của tôi.
Trong văn phòng có một người đàn bà trung niên gầy gò đang ngồi, đặt hai tay lên đùi. Cứ mỗi bước tôi tiến vào phòng, đôi mắt hí của bà ta lại thu hẹp nửa centimet.
“Xem nào, hai em,” thầy hiệu trưởng nói, “các em có gì để nói không?”
“Bạn ấy không liên quan gì đến việc này,” tôi nói. “Em làm đấy ạ.”
“Thật thế không?” ông ta hỏi Hỏa ngục.
Cô ấy gật đầu vẻ tội lỗi.
“Không đúng,” người đàn bà nói, chỉ vào tôi. “Cậu ấy làm, nhưng cô này đã ra lệnh cho cậu ấy.”
Tôi bị bẽ mặt, vì đó chính là sự thật. Tôi đứng dậy và đặt tay lên bàn thầy hiệu trưởng. “Thưa thầy, xin hãy dành một giây nhìn cô gái mà thầy đang buộc tội. Thầy có đang nhìn bạn ấy không?” Ông ta đang nhìn cô ấy. “Bạn ấy là một nạn nhân của nhan sắc của chính mình. Vì sao? Vì nhan sắc là quyền lực. Và như chúng em đã học trong giờ lịch sử, quyền lực thường tha hóa. Vì vậy, nhan sắc tuyệt đối thì tha hóa tuyệt đối.”
Hỏa ngục Cao vút tròn mắt nhìn tôi. Thầy Silver hắng giọng.
“Jasper này, việc em đã làm là không thể tha thứ được.”
“Em đồng ý. Và thầy không cần phải cấm túc em, vì em sẽ bỏ học.” Ông ta cắn môi. “Thầy vẫn muốn em đọc cái này tại tang lễ chứ?”
“Tôi nghĩ em nên đọc,” ông ta đáp, bằng giọng lạnh lùng, trịnh trọng.
Mẹ kiếp. Tôi biết ông ta sẽ nói thế mà.
***
Buổi lễ tang có phần giống như sự lặp lại tang lễ của Brett: mọi người đứng đấy làm ra vẻ trang nghiêm, nụ cười bóng loáng của linh mục khiến bạn phải nheo mắt, hình ảnh quan tài đi vào tâm trí bạn. Hỏa ngục Cao vút đang nhìn tôi chằm chằm, dù tôi không muốn bị nhìn vào lúc ấy. Tôi muốn được ở một mình với tội lỗi của mình. Dù vậy, tôi vẫn nhìn cô ấy, Thiên sứ của Thần chết với đôi chân dài miên man. Cô ấy không hề hay biết rằng mình là nhân vật trung tâm làm sụp đổ một gia đình.
Tôi liếc nhìn thi thể lạnh giá của thầy White và âm thầm cầu khẩn: Xin hãy tha thứ cho em vì đã ném mũ của thầy ra khỏi tàu! Em không biết đầu của thầy vẫn còn ở bên trong nó! Tha lỗi cho em! Xin tha lỗi em vì đã ném thầy ra khỏi đoàn tàu đang lăn bánh!
Linh mục gật đầu với tôi, cái gật đầu của một người gắn cuộc đời với Chúa.
Tôi bước lên để đọc.
Tất cả họ đều nghĩ sẽ được nghe bài thánh thi. Thay vào đó, đây là thứ tôi đọc:
Ai người bất hạnh nhất nơi đây?
Ta nghĩ chính ta; song ta thà
Làm kẻ khốn khổ, hơn Ông ấy
Tạo những con người hổ thẹn thay
“Ghê gớm sao bằng Chúa trời kia
Từ đó mà ra sự sống này
Kẻ tạo khổ đau cùng tội lỗi!
Ghê tởm, lạnh lùng, tàn bạo thay!
“Ta thề chẳng vì quyền dựng xây
Đền đài khắp chốn thế gian này
Mà ta nhận lấy điều ô nhục
Tạo người như thế ở nơi đây.”
Tôi kết thúc và ngước lên. Linh mục đang nghiến răng giống hệt như chi tiết được mô tả trong quyển sách ưa thích của ông ta.
IV.
Sau khi về nhà từ Sizzler, tôi đứng một mình trong mê cung, ngước nhìn mặt trăng, bấy giờ trông như một ụ đá trống rỗng, bị thiêu rụi, như Chúa đã làm chuyện đó để đòi tiền bảo hiểm.
“Bố lo lắm,” bố nói, đi đến sau lưng tôi.
“Về chuyện gì?”
“Tương lai con trai mình.”
“Con thì không.”
“Bây giờ con định làm gì?”
“Đi nước ngoài.”
“Con làm gì có tiền.”
“Con biết mình không có tiền. Con biết cháy túi là như thế nào. Con sẽ làm ra tiền.”
“Bằng cách nào?”
“Con sẽ tìm việc.”
“Việc gì? Con làm gì có kĩ năng.”
“Vậy thì con sẽ kiếm một nghề không cần kĩ năng.”
“Nghề gì không cần kĩ năng? Con làm gì có kinh nghiệm.”
“Con sẽ có.”
“Bằng cách nào? Muốn tìm việc con phải có kinh nghiệm.”
“Con sẽ tìm việc gì đấy.”
“Ai sẽ thuê con? Chẳng ai thích một đứa bỏ học.”
“Không phải vậy.”
“Thôi được. Ai thích một đứa bỏ học nào?”
“Những kẻ bỏ học khác.”
Bố bỏ đi với một tiếng thở dài não nề kéo lê theo ông như một mùi hương. Tôi không biết mình đã đứng dưới trời lạnh bao lâu, cố gắng nhìn xuyên lớp màn bao phủ tương lai mình. Tôi nên làm một thợ nướng bánh hay một nam vũ công thoát y? Một nhà hảo tâm hay một nhân viên hậu kì của nhóm ca? Một kẻ chủ mưu tội ác hay một bác sĩ chuyên khoa da liễu? Đó không phải chuyện đùa. Tôi mắc kẹt trong một buổi động não, và các ý tưởng la hét giành giật nhau chen lên đầu. Phát thanh viên truyền hình! Nhân viên đấu giá! Thám tử tư! Nhân viên bán xe ô tô! Người soát vé tàu! Chúng không mời mà đến, trình bày bài thuyết trình, rồi nhường chỗ cho những đứa khác. Một số ý tưởng kiên trì hơn tìm cách lẻn trở lại. Người soát vé tàu! Phát thanh viên truyền hình trên tàu! Nhân viên bán xe ô tô! Nhân viên bán tàu!
Tôi dành cả ngày hôm sau nhìn vào khoảng không. Tôi tìm thấy rất nhiều niềm vui từ không khí, và nếu ánh mặt trời chạm vào những hạt bụi lơ lửng là để bạn có thể xem điệu nhảy xoay vòng của các nguyên tử, thì càng thích hơn. Suốt ngày hôm ấy bố thoắt vào thoắt ra phòng tôi và tặc lưỡi, trong gia đình tôi điều đó có nghĩa là “Con đúng là thằng ngốc.” Buổi chiều ông lại vào phòng với nụ cười bí hiểm. Ông có một sáng kiến và nóng lòng nói cho tôi biết. Đột nhiên ông muốn tống tôi ra khỏi nhà, và tôi nghĩ gì về ý kiến hay đột xuất của ông? Tôi bảo tôi lo lắng việc ông phải ăn một mình, vì tiếng leng keng của dao nĩa va vào đĩa vang vọng trong căn nhà vắng là một trong năm tiếng ồn gây trầm cảm nhất mọi thời đại.
“Đừng lo. Bố có kế hoạch cho việc tống con đi. Chúng ta, bố và con, sẽ dựng cho con một cái chòi để nương náu. Ở đâu đó trong khu đất này.”
Một cái chòi? “Làm thế quái nào chúng ta dựng chòi được? Ta có biết gì về xây dựng với cả nhà chòi đâu?”
“Mạng Internet,” ông đáp.
Tôi rên rỉ. Mạng Internet! Kể từ khi có Internet, những kẻ ngốc đã dựng chòi, chế tạo bom, sản xuất động cơ xe ô tô và thực hiện những thao tác phẫu thuật phức tạp trong bồn tắm.
Chúng tôi chọn một khu đất trống trong mê cung cạnh một hàng cây bạch đàn gân guốc, chỉ cách một nhánh sông nước ngọt vài mét, và sáng hôm sau, dưới bầu trời màu đồng cam, chúng tôi bắt đầu đốn cây như thể mình là những sinh vật Đức thần thoại trong một bộ phim đầu tay của Leni Riefenstahl[44].
Tôi không thể dập tắt ý nghĩ rằng cuộc đời mình đã bước sang một ngã rẽ đáng thất vọng - tôi chỉ vừa mới nghỉ học mà đã phải lao động khổ sai. Mỗi lần lưỡi rìu chạm vào gỗ, tôi lại cảm thấy cột sống mình nhích sang trái vài milimet, và suốt ngày đầu tiên ấy tôi không ngừng than vãn. Ngày thứ hai còn tệ hơn - tôi bị trật vai. Ngày thứ ba tôi nói tôi cần tìm việc làm và do đó tôi đi vào thành phố rồi xem liền một lúc ba phim, tất cả đều dở tệ, và khi trở về tôi choáng váng nhận ra một lượng lớn công việc ở cái chòi đã được hoàn tất.
Bố đang dựa vào cây rìu, lau mồ hôi ở lông mày rồi quẹt vào quần. “Hôm nay bố đã làm như một thằng khốn nạn,” ông nói. Tôi nhìn thật lâu vào mắt ông và biết ngay rằng ông đã gọi người ngoài đến giúp.
“Chuyện tìm việc thế nào rồi?” ông hỏi.
“Con sắp tìm được rồi.”
“Cừ lắm.” Rồi ông bảo, “Ngày mai con thử bắt tay xây dựng xem sao? Bố định dành cả ngày ở thư viện.”
Và thế là tôi moi tiền tiết kiệm mà ông giấu trong quyển sách đã bị khoét rỗng nhan đề Những lời thú tội của Rousseau và tự gọi một thợ xây đến.
“Cứ làm hết sức có thể,” tôi bảo.
Và cái chòi đã được dựng lên theo cách này. Chúng tôi làm cách nhật. Ngày hôm trước tôi giả vờ một tay dựng nó lên, ngày hôm sau bố giả vờ một tay dựng nó lên, và tôi không biết chuyện này có ý nghĩa gì, chỉ biết rằng nó chứng tỏ cả hai chúng tôi đều có tính thối nát, lừa lọc. Kết quả là, cái nhà chòi đã định hình. Nền đất đã được dọn sạch. Bộ khung được dựng lên. Sàn được trải ra. Các thanh xà trên nóc chòi được nâng lên. Cửa được bắt vào bản lề. Nơi nào cần cửa sổ nơi đó có cửa sổ. Kính lắp vào đấy. Ngày tháng trở nên dài hơn và ấm áp hơn.
Trong thời gian này tôi quyết định đến xin việc làm ở một công ty quảng cáo, dù họ có vẻ chiếu cố khi đăng quảng cáo tìm một “nhân viên cấp thấp”. Tôi bước vào một khu nhà xi măng tồi tàn, bước chân qua những dãy hành lang tăm tối, ảm đạm, nơi một đội quân những người sinh sản vô tính lướt qua tôi, mỉm cười vội vã. Trong buổi phỏng vấn, một gã tên Smithy bảo rằng tôi sẽ được nghỉ bốn tuần một năm để đi phẫu thuật thẩm mỹ. Việc của tôi là làm nhân viên nhập dữ liệu. Tôi bắt đầu làm vào ngày hôm sau. Mẩu quảng cáo quả không nói dối - tôi làm công việc nhập dữ liệu. Các đồng nghiệp của tôi có một gã phì phèo những điếu thuốc dính son môi một cách bí ẩn từ trong bao thuốc và một người đàn bà nghiện rượu luôn cố hết sức để thuyết phục tôi rằng tỉnh dậy ở cánh cửa xoay của khách sạn Hyatt là một điều rất đáng tự hào. Tôi căm ghét công việc đó. Những ngày đẹp trời trôi qua như hàng thập kỉ, những ngày tầm tầm như nửa thế kỉ, nhưng đa phần có cảm giác như tôi đã đóng băng trong mắt của một cơn bão thời gian bất tận.
Vào buổi tối cái chòi hoàn tất, bố và tôi, hai kẻ nói dối giả tạo, ngồi ở hiên nhà và cụng ly chúc mừng thành quả không phải của chúng tôi. Chúng tôi nhìn thấy sao băng xé một dải mỏng dài màu trắng trên nền trời đen.
“Con có thấy không?” bố hỏi.
“Sao băng.”
“Bố đã ước một điều,” ông nói. “Có nên nói với con đó là gì không?”
“Tốt hơn là không.”
“Có lẽ con đúng. Con có ước không?”
“Con sẽ ước sau.”
“Đừng chờ lâu quá.”
“Chừng nào con chưa chớp mắt thì hiệu lực của ngôi sao vẫn còn mà.”
Các ngón tay tôi giữ cho mi mắt mở to trong lúc suy nghĩ về những lựa chọn cho điều ước của mình. Đó là một sự lựa chọn dễ dàng. Tôi muốn có một người đàn bà. Tôi muốn có tình yêu. Tôi muốn tình dục. Cụ thể là, tôi muốn Hỏa ngục Cao vút. Tôi gom tất cả những thứ này vào một điều ước.
Bố hẳn đã đọc được suy nghĩ của tôi, hoặc là ông có điều ước tương tự, vì ông nói, “Chắc là con đang thắc mắc tại sao bố lại sống vò võ một mình suốt ngần ấy năm.”
“Chuyện đó quá rõ rồi còn gì,” tôi đáp.
“Con có nhớ bố từng kể với con về cô gái mà bố yêu không?”
“Caroline Potts.”
“Bố vẫn nghĩ đến cô ấy.”
“Cô ấy hiện ở đâu?”
“Có thể là châu Âu,” ông nói. “Cô ấy là tình yêu của đời bố.”
“Còn chú Terry là tình yêu của đời cô ấy.”
Chúng tôi nốc cạn bia và lắng nghe tiếng nhánh sông chảy ồng ộc.
“Hãy nhớ là phải yêu thật lòng, Jasper ạ. Đó là một trong những lạc thú tuyệt vời nhất trên đời.”
“Một lạc thú? Ý bố là giống như tắm nước nóng trong mùa đông á?”
“Đúng thế.”
“Còn gì nữa không?”
“Nó khiến con cảm thấy tràn đầy sức sống, thực sự sống.”
“Nghe có vẻ hay nhỉ. Gì nữa?”
“Nó làm con lúng túng vì thế con chả biết đâu là mông đâu là cùi chỏ tay.”
Tôi nghĩ về việc đó. “Bố,” tôi nói, “nãy giờ bố mô tả tình yêu như một lạc thú, một men kích thích, và một sự quẫn trí. Còn gì nữa không?”
“Con còn muốn gì nữa?”
“Con không biết. Điều gì đấy cao cả hơn hoặc sâu sắc hơn?”
“Cao cả hơn hoặc sâu sắc hơn?”
“Điều gì đấy có ý nghĩa?”
“Như là gì?”
“Con chả biết.”
Chúng tôi đã đi đến một ngõ cụt, và đưa mắt nhìn lại thiên đường. Bầu trời đêm gây thất vọng sau khi một ngôi sao băng rơi khỏi tầm mắt. Buổi diễn kết thúc rồi, bầu trời nói. Về nhà thôi.
***
Đêm hôm ấy tôi viết một bức thư tống tình nhỏ xinh gửi Hỏa ngục Cao vút.
Tớ đang nghĩ đến việc thay đổi câu chuyện và kể với thầy hiệu trưởng rằng chính đằng ấy là người đạo diễn vụ cướp mũ trên tàu. Nếu đằng ấy muốn thuyết phục tớ đổi ý, thì cứ đến nhà tớ lúc nào cũng được. Hãy đi một mình.
Bạn không nghĩ rằng có thể tống tình một cô gái để cô ta yêu mình ư? Chà, có thể bạn không làm được, nhưng đó là lá bài cuối cùng của tôi và tôi phải đi nó. Tôi đọc lại bức thư. Nó giống như bất kì một bức thư đe dọa nào: cô đọng và đòi hỏi. Nhưng... cây bút vặn vẹo trong tay tôi. Nó muốn bổ sung thêm một thứ. Thôi được, tôi nhượng bộ, nhưng tôi vẫn nhớ rằng tính khúc chiết chính là linh hồn của sự dọa dẫm. Tôi viết: Tái bút: Nếu đằng ấy không đến, thì đừng nghĩ tớ sẽ đợi như một thằng ngốc. Nhưng nếu đằng ấy đến, tớ sẽ chờ. Và rồi tôi viết thêm một ít; tôi viết về tính chất của sự chờ đợi và sự thất vọng, về dục vọng và kí ức; và về những người xem thời hạn chót như những mệnh lệnh thần thánh. Đó là một bức thư hay. Yếu tố đe dọa thì ít, chỉ có ba dòng. Phần tái bút dài hai mươi tám trang.
Trên đường đi làm tôi nhét nó vào hộp thư bên ngoài bưu điện và năm phút sau suýt làm gãy tay mình khi cố lấy nó ra. Thú thực, người ta có ý đồ rất rõ khi thiết kế những cái hộp thư ấy - bạn thực sự không thể thò tay vào trong được. Tôi phải nói rằng, những cái pháo đài nhỏ màu đỏ ấy, chúng là vật bất khả xâm phạm!
Hai ngày sau tôi đang ngủ say, kẹt trong một giấc mơ khó chịu trong đó tôi đang có mặt tại một lễ hội bơi lội và khi đến lượt tôi bơi thì họ tháo nước hồ. Tôi đứng ở khu hồ bơi và đám đông la ó với tôi vì tôi chẳng mặc gì và họ không thích cảnh tượng ấy chút nào. Rồi bỗng dưng tôi đang nằm trên một chiếc giường. Giường của tôi. Trong chòi của tôi. Tiếng nói của bố lôi tôi về thực tại, ra khỏi những đôi mắt phản đối. “Jasper! Con có khách!”
Tôi kéo tấm drap giường qua đầu. Tôi không muốn gặp ai cả. Bố lại lên tiếng. “Jasper! Con có trong đó không, con trai?” Tôi ngồi dậy. Giọng của ông nghe thật buồn cười. Mới đầu tôi chẳng biết ất giáp gì, nhưng rồi tôi nhận ra. Ông nói năng có vẻ lịch sự. Hẳn phải có chuyện gì đây. Tôi quấn một cái khăn quanh người rồi bước ra.
Tôi nheo mắt vì chói. Có phải tôi vẫn còn mơ không? Một hình ảnh hút lấy mắt tôi với sự dễ chịu mát mẻ. Cô ấy đang ở đây: Hỏa ngục Cao vút, trong nhà tôi, cạnh bố tôi. Tôi chết điếng. Tôi không thể dung hòa hai hình nhân đang đứng cạnh nhau. Thật không hợp tình hợp cảnh.
“Chào, Jasper,” cô ấy nói, giọng nói luồn lách xuống xương sống tôi.
“Chào,” tôi đáp. Bố vẫn đang đứng đó. Tại sao ông còn đứng đó? Sao ông không đi cho?
“Ái chà, nó đây rồi,” ông nói.
“Vào đi,” tôi nói, và thấy ánh mắt lưỡng lự của cô ấy tôi mới nhớ ra mình chỉ đang quấn một chiếc khăn trên người.
“Cậu có định mặc quần áo vào không?” Hỏa ngục hỏi.
“Tớ nghĩ tớ có thể lục tìm vài chiếc tất.”
“Đang có cháy rừng ở trên núi,” bố nói.
“Bọn con sẽ tránh xa nơi đó. Cám ơn đã nhắc,” tôi thô lỗ đáp, quay lưng lại với ông. Khi chúng tôi vào chòi, tôi liên tục ngoái đầu để đảm bảo bố không đi theo chúng tôi. Ông đã không làm thế, nhưng ông nháy mắt với tôi vẻ nham hiểm. Nó khiến tôi phát cáu, cái nháy mắt ấy. Ông chẳng cho tôi lựa chọn nào. Người ta không thể không chấp nhận một cái nháy mắt. Rồi tôi thấy bố nhìn đôi chân cô ấy. Ông liếc lên và bắt gặp tôi trông thấy ông đang nhìn chân cô ấy. Đó là một khoảnh khắc kì cục dù có xảy ra kiểu nào đi nữa. Tuy phát bực, nhưng tôi vẫn phải mỉm cười. Bố cũng cười. Rồi Hỏa ngục ngước lên và bắt gặp chúng tôi đang mỉm cười với nhau. Một khoảnh khắc kì cục nữa.
“Vào đi,” tôi nói.
Khi cô ấy bước vào trong chòi, tiếng sột soạt, lê, nhấc của bước chân cô tiến về trước trên ván gỗ khiến tôi muốn uống rượu nếu có một quầy bar trong phòng ngủ của tôi, và nếu nó mở cửa. Tôi đi vào phòng tắm rồi khoác lên người quần jeans áo phông, và khi tôi đi ra cô ấy vẫn đang đứng ở lối vào. Cô ấy hỏi tôi có đúng là sống ở nơi này không.
“Sao lại không? Tớ xây nó mà.”
“Thật á?”
Tôi chỉ cô ấy xem những chỗ trầy xước trên người trong lúc giúp thợ xây lắp cửa sổ. Tôi cảm thấy thích thú khi khoe những vết sẹo của mình với cô ấy. Đó là những vết sẹo nam tính.
“Bố cậu trông có vẻ tử tế nhỉ.”
“Không hẳn vậy đâu.”
“Vậy cậu đang làm gì nào?”
“Tớ tìm được việc làm rồi.”
“Cậu sẽ không đi học nữa à?”
“Tại sao tớ phải đi?”
“Mảnh bằng tú tài cũng có ích đấy.”
“Chỉ khi nào cậu thích bằng cấp.”
Cô ấy mỉm cười gượng gạo. Chính cái phần chưa cười hết khiến tôi lo lắng.
Cô ấy nói, “Vậy thì, cảm giác là người đi làm thế nào?”
“Tớ chả biết,” tôi đáp. “Cũng giống như đằng ấy bắt gặp tớ trong một bãi đỗ xe bảy tầng và hỏi tớ tầng bốn thế nào khi trước đó tớ ở tầng ba.”
“Tớ đã nhận được thư của cậu.”
“Chúng ta đã đẩy một người đến chỗ tự sát.”
“Cậu đâu biết được.”
Cô ấy chỉ cách tôi vài centimet. Tôi không thở nổi. Tôi đang trải qua cái cảm giác kinh khủng đẹp đẽ đáng sợ tởm lợm lạ lùng điên rồ chưa từng có thư thái tế nhị khó chịu rùng mình gớm ghuốc siêu thực buồn nôn ngoại lệ ấy, thứ cảm giác thật khó diễn đạt trừ khi bạn tình cờ tìm đúng từ để nói.
“Đằng ấy có muốn đi tham quan mê cung của tớ không?” tôi hỏi.
“Thực tình tớ không có nhiều thời gian.”
“Tớ sẽ dẫn đằng ấy đi xem những phần chính thôi.”
Bên ngoài, cảnh vật bừng sáng trong ánh mặt trời và bầu trời xanh không một gợn mây trừ một đám hình như cái đầu dê, một đám mây lẻ loi như thể Chúa đã lau sạch nền trời và để sót một điểm. Chúng tôi đi đến nhánh sông rồi bước men theo nó và ngắm nhìn diện mạo những hòn đá nhô lên mặt nước. Tôi bảo cô ấy chúng được gọi là những hòn đá kê bước vì con người thích nghĩ rằng mọi thứ trong thiên nhiên đều được sắp đặt riêng cho bước chân của họ.
Chúng tôi lần theo nhánh sông cho đến nơi nó ào ào đổ vào con sông. Mặt trời đang rọi ánh nắng chói chang vì thế không thể nhìn vào mặt nước mà không nheo mắt. Hỏa ngục quỳ xuống cạnh con sông và thọc tay xuống nước.
“Ấm quá,” cô ấy nói.
Tôi nhặt lên một viên đá dẹt rồi ném nó ra khỏi con sông. Lẽ ra tôi nên ném lia thia nó xuống nước, nhưng cảnh ấy thì dễ thương quá. Tôi đã qua thời đó rồi. Tôi đang ở lứa tuổi mà những đứa con trai ném mình xuống sông, không phải một viên đá.
Chúng tôi đi tiếp. Cô ấy hỏi tôi làm sao tìm được lối đi trong mê cung. Tôi bảo cô ấy tôi từng đi lạc suốt một thời gian dài, nhưng giờ thì giống như định hướng qua hệ tiêu hóa của người bạn cũ vậy. Tôi bảo cô ấy tôi biết từng nếp nhăn trên từng hòn đá. Tôi cao hứng nói cho cô ấy tên của các loài thực vật và hoa và cây, nhưng tôi không thuộc hết tên các loài hoa. Dù sao tôi cũng chỉ cho cô ấy những loài tôi yêu thích. Tôi nói, Đấy là cây bụi xám bạc với những chùm hoa hình cầu màu vàng rực rỡ như những chiếc micro có lông rực rỡ, và cái cây bụi màu đồng nhỏ có quả hình cầu màu trắng mà tôi liều mấy cũng không dám ăn, còn cây này có lá bóng loáng như được bọc bằng giấy kính, và một bụi cây khép nép trông hoang dại và rối nùi và có mùi như chai nhựa thông mà ta uống lúc hai giờ sáng khi tất cả các tiệm rượu đã đóng cửa.
Cô ấy nhìn tôi lạ lẫm, đứng đấy như cái cây ưa thích nhất của tôi: thẳng và cao, thân mảnh và duyên dáng.
“Tớ phải đi thôi. Chỉ cần chỉ cho tớ hướng đi đúng,” cô ấy nói, đặt một điếu thuốc lên môi.
“Hóa ra đằng ấy vẫn còn hút thuốc như một gã tử tù chờ chết nhỉ.”
Mắt cô ấy dán chặt vào mắt tôi khi cô ấy châm thuốc. Cô ấy mới phập một hơi thì một vật màu đen bẩn bẩn rơi xuống mặt cô ấy và đáp xuống má cô. Cô phủi nó đi. Cả hai chúng tôi nhìn lên trời. Tro đang rơi nhẹ, những tàn tro đen rơi xuống và xoay vòng điên cuồng trong không khí chói chang nóng bức.
“Trông kinh nhỉ,” cô ấy nói, nhìn vào ánh sáng rực màu cam ở đường chân trời.
“Chắc thế.”
“Cậu nghĩ nó có gần không?”
“Tớ không biết.”
“Tớ nghĩ nó gần đấy,” cô ấy nói.
Thôi được, vậy giả sử chúng tôi sống trên mảnh đất dễ cháy thì sao? Lúc nào chẳng có hỏa hoạn, lúc nào chẳng có nhà cửa bị mất, sinh mạng bị sơ tán. Nhưng chẳng có ai cuốn gói dọn đi đến những bãi cỏ an toàn hơn. Họ chỉ gạt nước mắt, chôn cất những người chết rồi sinh con đẻ cái và trước sau vẫn vậy. Tại sao? Chúng tôi có lý do của chúng tôi. Đó là gì? Đừng hỏi tôi. Đi mà hỏi đám tro nằm trên mũi cô đấy.
“Tại sao cậu lại nhìn tớ như thế?”
“Có tro dính trên mũi đằng ấy kìa.”
Cô ấy lau nó đi. Nó để lại một vết lem màu đen.
“Hết chưa?”
Tôi gật đầu. Tôi không muốn nói với cô ấy về vết lem màu đen. Một sự im lặng sống sượng, đói khát bao trùm, nuốt chửng nhiều phút.
“Ôi, tớ thực sự phải đi đây.”
“Sao đằng ấy không cởi quần ra và ở lại một chốc?” tôi muốn nói như thế nhưng đã không mở lời. Hiển nhiên là khi những thời khắc quyết định nổi lên đúng lúc tính cách được định hình, thì tốt hơn hết là nên có quyết định đúng đắn. Cái khuôn sẽ khô lại và tạo hình nhanh chóng.
Chúng tôi băng qua một khoảng đất trống nhỏ, cỏ ở đấy ngắn đến nỗi trông như đất có màu xanh, và tôi dẫn cô ấy vào một cái hang. Tôi đi vào và cô ấy đi theo tôi. Bên trong tối om và mát lạnh.
“Chúng ta làm gì ở trong này?” cô ấy nghi ngờ hỏi.
“Tớ muốn cho đằng ấy xem cái này. Nhìn xem. Đây là những tranh vẽ hang động.”
“Thật không?”
“Thật. Tớ vẽ chúng tuần trước đấy.”
“Ồ.”
“Sao nghe như đằng ấy thất vọng vậy? Tớ không hiểu tại sao phải là những người năm mươi nghìn năm tuổi thì mới được vẽ trên tường hang động.”
Đó là khi cô ấy chồm về trước và hôn tôi. Và chuyện là như thế đấy.
V.
Vài tuần sau Hỏa ngục Cao vút và tôi đang nằm trên giường và tôi cảm thấy an toàn tựa như hai đứa chúng tôi đang ở trong một cái hầm lớn. Cô ấy đang nằm nghiêng, chống người trên cái cùi chỏ không biết mệt, như một cái cột thép. Cô ấy đang cầm bút lơ lửng trên một quyển sổ, nhưng không viết gì.
“Em đang nghĩ gì?” tôi hỏi.
“Em đang nghĩ đến điều anh đang nghĩ đến.”
“Đấy không phải là câu trả lời.”
“Vậy thì anh đang nghĩ gì nào?”
“Điều mà em đang nghĩ.”
Cô ấy khịt mũi. Tôi không ép nữa. Cô ấy rất bí mật, giống như tôi - không muốn ai biết mọi suy nghĩ của cô ấy để đề phòng trường hợp họ dùng nó chống lại cô ấy. Tôi hình dung cô ấy đã phát hiện ra, như tôi đã phát hiện, rằng điều người ta muốn ở bạn là lời xác nhận bạn đang phục tùng, sống với những nguyên tắc tương tự như họ, và rằng bạn sẽ không đánh lẻ hoặc tự ban cho mình bất kì đặc quyền nào.
“Em đang viết thiệp sinh nhật,” cô ấy nói. “Là sinh nhật của Lola. Anh có nhớ Lola, học cùng trường không?”
“À, Lola,” tôi nói, chẳng biết Lola là ai.
“Anh có muốn viết gì cho nó không?” cô ấy hỏi.
“Có chứ,” tôi nói dối.
Trước khi tôi đặt bút xuống tấm thiệp, Hỏa ngục nói, “Hãy viết cái gì tử tế vào.” Tôi gật đầu rồi viết: “Lola thân mến, tôi hi vọng bạn sống mãi mãi.” Tôi trả tấm thiệp lại. Hỏa ngục xem xét nó nhưng chẳng nói gì. Nếu cô ấy biết dòng chữ của tôi là một lời nguyền chứ không phải lời chúc, thì cô ấy sẽ không để yên.
Rồi Hỏa ngục nói, “Ô, suýt tí nữa thì quên. Brian muốn nói chuyện với anh.”
“Ai?”
“Anh ấy tên là Brian.”
“Có thể là thế, nhưng anh chả biết em đang nói đến ai.”
“Anh ấy đại loại là bạn trai cũ của em ấy mà.”
Tôi ngồi dậy và nhìn cô ấy. “Đại loại?”
“Bọn em có quen nhau một thời gian ngắn.”
“Và em vẫn nói chuyện với anh ta à?”
“Không, ý em là, hôm nọ em tình cờ gặp anh ấy,” cô ấy nói.
“Em tình cờ gặp anh ấy,” tôi lặp lại. Tôi không thích chuyện này. Dù ai có nói gì, tôi biết người ta không chỉ đơn giản tình cờ gặp nhau.
“Vậy, tại sao anh ta muốn nói chuyện với anh?”
“Anh ấy nghĩ anh có thể giúp anh ấy xin lại công việc.”
“Công việc của anh ta? Anh? Làm sao?”
“Em không biết, Jasper ạ. Sao anh không gặp anh ấy và tìm hiểu xem.”
“Thôi, cám ơn.”
Cô ấy trông có vẻ bực dọc, lăn người qua, và quay lưng về phía tôi. Tôi dành mười phút sau đó ngắm tấm lưng trần của cô ấy, mái tóc đỏ tuôn chảy trên hai bờ vai nhô ra như hai cái vây trên ván lướt sóng.
“Anh sẽ suy nghĩ chuyện đó,” tôi nói.
“Đừng miễn cưỡng,” cô ấy đáp.
***
Khoảng thời gian trăng mật của chúng tôi chủ yếu gồm những lúc ngắm nhìn khuôn mặt nhau hàng giờ liền. Đôi khi đó là việc duy nhất chúng tôi làm trong ngày. Đôi khi khuôn mặt cô ấy lúc rõ lúc mờ. Đôi khi trông nó như khuôn mặt người ngoài hành tinh. Đôi khi nó không giống một khuôn mặt chút nào, mà giống một tập hợp kì lạ những đặc điểm trên một phông nền trắng mờ ảo. Vào lúc ấy tôi nhớ mình đã nghĩ rằng chúng tôi dính vào nhau chặt đến mức không thể tách chúng tôi ra mà không khiến một trong hai đứa bị mất một cái tay hay một cái môi.
Đương nhiên, mọi chuyện không hoàn toàn êm thấm. Cô ấy ghét việc tôi chưa bỏ thói quen ghi chú lại một cách bệnh hoạn tất cả những nữ diễn viên nổi tiếng mà tôi muốn ngủ cùng khi tôi trở nên giàu có và thành đạt.
Tôi ghét việc cô ấy quá cởi mở và tin vào thuyết sáng tạo mà Chúa đã rất hãnh diện reo lên “Xem này!”
Cô ấy ghét việc tôi không ghét những bộ ngực giả.
Tôi ghét mỗi khi cô ấy giận hoặc bực tức, cô ấy lại hôn tôi với đôi môi khép chặt.
Cô ấy ghét mỗi khi tôi cố dùng mọi thứ để mở nó ra - môi, lưỡi, ngón cái và ngón trỏ.
Mỗi khi tôi nghe ai đó nói “Các mối quan hệ là công việc,” tôi thường cười nhạo, vì tôi nghĩ các mối quan hệ nên phát triển hoang dại như những khu vườn hoang, nhưng giờ đây tôi biết chúng là công việc, lại là công việc không lương - công việc tự nguyện.
***
Vào một buổi sáng vài tuần sau khi chúng tôi hẹn hò nhau, bố chạy vào chòi tôi như thể đang tránh bão.
“Đã lâu không gặp con. Chuyện yêu đương hẳn là khá tốn thời gian, nhẩy?”
“Đúng thế.”
Ông trông như sắp xổ ra một tràng tin xấu mà ông không thể giấu được nữa.
“Chuyện gì?” tôi hỏi.
“Không có gì. Con cứ tận hưởng nó khi nó còn diễn ra.”
“Con sẽ làm thế.”
Ông đứng đấy như nước ao tù rồi nói, “Jasper, chúng ta chưa bao giờ nói về chuyện tình dục.”
“Và ơn trời là thế.”
“Bố chỉ muốn nói một điều.”
“Bố nói nhanh đi.”
“Dù xài bao cao su là một điều sỉ nhục đối với khả năng thưởng thức giống như đeo một cái ống gió lên lưỡi trước khi ăn chocolate, nhưng hãy nhớ xài nó.”
“Một cái ống gió.”
“Một cái bao cao su.”
“Được rồi.”
“Để tránh kiện tụng nhận cha.”
“Được rồi,” tôi đáp, dù tôi không cần nói chuyện về tình dục. Không ai muốn. Con hải ly biết xây đập, con chim biết làm tổ, con nhện biết giăng tơ ngay từ lần thử đầu tiên mà không hề lóng ngóng. Làm tình cũng giống như thế. Chúng ta được sinh ra để làm chuyện đó.
“Con muốn đọc sách về tình yêu không?” bố hỏi.
“Không, con chỉ muốn thực hành thôi.”
“Tùy con. Quyển Symposium của Plato chắc cũng chẳng có ích lợi gì cho con đâu, trừ khi bạn gái con là một thằng bé Hy Lạp mười ba tuổi. Bố cũng sẽ tránh Schopenhauer. Ông ta muốn con tin rằng con đã được tạo ra bởi ham muốn tiềm thức nhân giống chủng loài.”
“Con chả muốn nhân giống cái gì cả. Nhất là chủng loài.”
“Cừ lắm.” Bố đút hai tay vào hai chiếc túi rách bươm trên chiếc quần thể thao cũ của ông rồi nhanh nhảu gật đầu với tôi kèm cái miệng hé mở.
“Bố,” tôi nói, “bố có nhớ bố từng nói tình yêu là một lạc thú, một sự kích thích, và một sự xao lãng không?”
“Ừ hử.”
“À, còn một điều nữa mà bố chưa nói đến. Đó là nếu bố có thể bảo vệ một người không bao giờ bị dằm xóc ngón tay, thì bố sẽ chạy khắp thế gian để san bằng mọi khu rừng thành những bề mặt phẳng, trong suốt, chỉ để cứu cô ấy khỏi mảnh dằm đó. Đó là tình yêu.”
Bố nói, “Hơ. Bố sẽ ghi nhớ điều đó.”
Đêm hôm sau khi đi ngủ, tôi thấy có vật cồm cộm dưới gối. Đó là mười ba quyển sách, từ Shakespeare đến Freud, và sau khi thức trắng đêm để đọc lướt một nửa số sách, tôi nghiệm ra rằng, theo các chuyên gia, bạn không thể “đang yêu” mà không sợ hãi, nhưng tình yêu không sợ hãi là một tình yêu chân thật, chín chắn.
Tôi nhận ra mình đã tuyệt đối lý tưởng hóa Hỏa ngục Cao vút, nhưng mà nếu có thế thì đã sao? Sớm hay muộn chúng ta đều sẽ lý tưởng hóa một điều gì đó - lãnh đạm với mọi thứ thì không phải là con người. Vì vậy tôi lý tưởng hóa cô ấy. Nhưng tôi có yêu cô ấy hay không? Đó có phải là một tình yêu chín chắn hay một tình yêu non nớt? Hà, tôi có phương pháp riêng để tìm ra lời đáp. Tôi quyết định: tôi biết mình yêu và đang yêu khi bỗng dưng tôi cảm thấy sợ cái chết của cô ấy cũng rõ ràng như sợ cái chết của mình. Sẽ thật đáng yêu và lãng mạn khi nói tôi sợ cái chết của cô ấy hơn cả của tôi, nhưng đấy sẽ là nói dối, và dù sao đi nữa, nếu bạn biết rằng khát khao duy trì mãi mãi qua các thời đại với từng phần tử nguyên vẹn của tôi sâu sắc và tuyệt đối đến chừng nào, bạn sẽ đồng ý rằng đó là một nỗi sợ đã đủ phần lãng mạn, nỗi khiếp đảm trước cái chết của người thân yêu.
***
Thế là tôi gọi điện cho người đại-loại-là-bạn-trai-cũ của cô ấy, Brian.
“Là Jasper Dean đây,” tôi nói khi hắn ta trả lời điện thoại.
“Jasper! Cám ơn đã gọi.”
“Có chuyện gì?”
“Không biết chúng ta có thể đi làm một ly không?”
“Để làm gì?”
“Để nói chuyện phiếm thôi. Anh có biết Royal Batsman, gần Ga trung tâm không? Mai ta gặp nhau lúc năm giờ được chứ?”
“Năm giờ hai mươi ba,” tôi nói, để tăng mức kiểm soát tình hình.
“Được.”
“Chuyện tôi giúp anh lấy lại việc làm nghĩa là thế nào?” Tôi hỏi.
“Tôi muốn nói chuyện trực tiếp với anh hơn,” hắn ta đáp, và tôi gác máy, thầm nghĩ gã này ta hẳn là đánh giá quá thấp tiếng nói của hắn hoặc đánh giá quá cao khuôn mặt của hắn.
Trong hai mươi bốn giờ sau đó toàn thân tôi rung động vì tò mò; ý nghĩ tôi có thể giúp hắn ta lấy lại việc làm khiến tôi bối rối. Dù nó có khả thi đi nữa, thì tại sao lại cho rằng tôi muốn làm thế? Điều tồi tệ nhất bạn có thể nói về một ai đó trong xã hội như xã hội của chúng tôi là họ không thể giữ nổi một việc làm. Nó gợi nhớ đến hình ảnh của những kẻ thất bại tóc tai luộm thuộm tay chân yếu ớt rầu rĩ nhìn những việc làm lướt qua và trôi tuột đi mất. Chẳng có gì chúng ta tôn trọng hơn công việc, và chẳng có gì chúng ta gièm pha hơn sự uể oải không muốn làm việc, và nếu ai đó muốn dành cả đời mình cho hội họa hoặc thơ ca, người đó nên tìm một công ăn việc làm tại một nhà hàng hamburger nếu anh ta biết đâu là điều tốt cho anh ta.
Tôi vừa bước qua cửa của Royal Batsman thì trông thấy một người đàn ông trung niên tóc bạc vẫy tay ra hiệu cho tôi. Ông ta tầm bốn mấy năm mươi tuổi và mặc một bộ complet sọc nhuyễn bóng bẩy, bóng tựa mái tóc của ông ta. Ông ta mỉm cười với tôi. Nụ cười ấy cũng bóng bẩy.
“Xin lỗi, tôi có biết ông không?”
“Tôi là Brian.”
“Ông là người bạn trai cũ?”
“Ừ.”
“Nhưng ông già quá!”
Câu nói đó khiến ông ta mỉm cười gượng gạo. “Tôi nghĩ cô ấy có vẻ thích người nổi tiếng.”
“Người nổi tiếng? Ai là người nổi tiếng?”
“Anh không biết tôi là ai à?”
“Không.”
“Anh không xem truyền hình ư?”
“Không.”
Ông ta nhìn tôi, lúng túng, như thể tôi vừa nói không với câu hỏi “Anh không ăn, không đại tiện và không thở à?”
“Tên tôi là Brian Sinclair. Tôi từng làm ở đài truyền hình Channel Nine vài năm. Là nhà báo thời sự. Hiện giờ tôi đang tạm nghỉ.”
“Vậy thì sao?”
“Uống bia nhé?” ông ta hỏi.
“Cám ơn.”
Ông ta đi đến quầy bar rồi lấy cho tôi một cốc bia, còn tôi thì đang bị cảm giác khủng hoảng chế ngự, hoa mắt trước mái tóc bạc và bộ complet hợp màu của ông ta. Tôi phải nhắc mình nhớ rằng ông ta cần sự giúp đỡ của tôi, và điều đó đặt tôi vào một vị trí quyền lực mà tôi có thể thoải mái lợi dụng vào bất cứ lúc nào.
“Ông có xem trận tối qua không?” tôi hỏi khi ông ta quay lại.
“Không. Trận nào?”
Tôi không trả lời. Tôi không biết trận nào - tôi chỉ bắt chuyện thôi. Và ông ta còn phải hỏi trận nào ư? Ai thèm quan tâm là trận nào? Trận nào cũng được. Lúc nào mà chẳng có trận đấu.
“Vậy tôi có thể giúp gì cho ông?” tôi hỏi.
“À, Jasper này, như tôi đã nói, tôi từng là nhà báo thời sự của Channel Nine. Và tôi đã bị sa thải.”
“Vì chuyện gì?”
“Có thật là anh không biết chuyện này không? Nó một dạo là tin chấn động đấy. Tôi đang phỏng vấn một ông bố hai mươi sáu tuổi có hai con, tay này không những quỵt tiền cấp dưỡng nuôi con, mà còn dùng tiền trợ cấp để có thể kéo dài nỗi ám ảnh của anh ta với truyền hình ban ngày. Tôi vừa mới hỏi anh ta một câu đơn giản, và ngay giữa cuộc phỏng vấn...”
“Anh ta rút súng ra và tự sát.”
“Ê - tôi tưởng anh không xem truyền hình chứ.”
“Câu chuyện chỉ có thể diễn ra theo cách đó,” tôi đáp, dù sự thật là, tôi thỉnh thoảng có xem truyền hình, và tôi đột nhiên nhớ đã xem cảnh quay chậm lại vụ tự tử đó. “Chuyện này rất thú vị đấy,” tôi nói, “nhưng nó thì có liên quan gì đến tôi?”
“À, nếu tôi có một bản tin mà không ai khác có được, thì nó sẽ lại trở thành một món hàng có giá.”
“Và?”
“Và bố anh chưa bao giờ dành một cuộc phỏng vấn sâu về em trai ông ấy.”
“Chúa ơi.”
“Nếu tôi có được tin sốt dẻo từ người trong cuộc về chuyện Terry Dean...”
“Bây giờ ông đang làm gì? Ông có đi làm không?”
“Bán hàng qua điện thoại.”
Oạch. “Nghề đấy cũng tốt như mọi nghề khác mà, phải không?”
“Tôi là nhà báo, Jasper ạ.”
“Nghe này, Brian. Nếu có một chuyện mà bố tôi không muốn nói đến, thì đấy chính là em trai ông ấy.”
“Nhưng chẳng lẽ anh không thể...”
“Không. Tôi không thể.”
Đột nhiên Brian trông như đã bị cuộc đời bào mòn, theo nghĩa đen, bằng một cây giũa móng tay khổng lồ. “Được thôi.” Ông ta thở dài. “Còn anh thì sao? Anh có lẽ cũng biết dăm ba chuyện mà chúng tôi không biết.”
“Có lẽ.”
“Anh có nhận lời phỏng vấn không?”
“Xin lỗi.”
“Hãy tiết lộ cho tôi chuyện gì đó. Cẩm nang tội ác.”
“Nó thì sao?”
“Có giả thuyết nói rằng chú của anh không viết quyển sách đó.”
“Tôi quả thật không biết,” tôi nói, và nhìn khuôn mặt ông ta đanh lại thành nắm đấm.
***
Khi tôi về nhà, bố đang cuộn mình trên ghế sofa, đọc và thở nặng nhọc. Thay vì nói “Chào con trai, có gì vui không?” thì ông lại giơ lên quyển sách đang đọc: nó có nhan đề Một lịch sử của sự nhận thức. Thay vì nói “Chào bố, con yêu bố,” tôi lại nhếch mép và bắt đầu tìm trên kệ sách một quyển để đọc.
Trong lúc tôi xem lướt, tôi có thể nhận ra mùi hương ngọt ngào, bải hoải của thuốc rê. Eddie đã đến đây ư? Tôi nghe thấy những tiếng nói tắc nghẹn trong nhà bếp. Tôi mở cửa thì thấy Anouk và Eddie đang đứng sát vai nhau, nói nhỏ giọng. Họ tỏ vẻ bất ngờ khi thấy tôi, và khi Eddie nở nụ cười tươi rói với tôi, thì Anouk lại ra hiệu cho tôi đến bằng cách đặt ngón tay lên môi.
“Chú vừa đi Thái Lan về,” Eddie thì thào nói.
“Cháu không biết là chú đã đi,” tôi thì thào đáp lại.
Ông ta đột ngột nhíu mày - cái nhíu mày làm chính khuôn mặt ông ta bất ngờ.
“Jasper, tôi có một tin xấu,” Anouk nói bằng giọng khó nghe.
“Nói ngay xem nào.”
“Bố cậu lại bị trầm cảm rồi.”
Tôi nhìn bố qua cánh cửa. Ngay cả khi có người trong nhà, ông vẫn tỏ ra là một người hoàn toàn biệt lập.
“Làm sao chị biết?” tôi hỏi.
“Ông ấy hay khóc. Nhìn trân trối vào không trung. Nói chuyện một mình.”
“Bố lúc nào chả nói chuyện một mình.”
“Bây giờ ông ấy chính thức gọi mình là Ông Dean.”
“Chỉ vậy thôi à?”
“Cậu muốn lịch sử lặp lại ư? Cậu muốn ông ấy quay lại nhà thương điên ư?”
“Ông già bị trầm cảm rồi. Chúng ta có thể làm được gì?”
“Tôi nghĩ đó là vì cuộc sống ông ấy quá trống vắng.”
“Và?”
“Và chúng ta cần giúp ông ấy lấp đầy.”
“Tôi không làm đâu,” tôi nói.
“Jasper, cháu nên nói chuyện với bố mình nhiều hơn,” Eddie nói với một thái độ cứng rắn đáng ngạc nhiên.
“Lúc này thì không,” tôi nói, bỏ ra khỏi phòng.
Cơn trầm cảm của bố có thể chờ đấy vài ba ngày. Hiện giờ tôi bỗng có hứng thú với việc đọc quyển Cẩm nang tội ác, của Terry Dean (Harry West). Tôi nhận ra rằng vì mối quan hệ giữa tôi và Hỏa ngục Cao vút bắt nguồn từ chuyện tống tình, biết đâu quyển sách có thêm những lời khuyên khác cho mối quan hệ. Tôi tìm thấy nó trong một chồng sách trên sàn nhà, ở giữa một cái lều tuyết lung lay phủ bằng giấy in chữ. Cầm quyển sách trong tay, tôi đi ngoằn ngoèo qua mê cung về chòi của mình.
Nằm trên giường, tôi đọc lướt qua phần mục lục. Chương 17 khiến tôi chú ý. Nó có tên gọi: “Tình yêu: Kẻ chỉ điểm chính cống.” Nếu có một điều kẻ phạm luật cần, thì đó là các bí mật, và nếu có một kẻ thù của bí mật, thì đó chính là tình yêu,chương này bắt đầu như vậy.
Tên tuổi các nguồn tin của anh, chiến dịch đâm sau lưng mà anh sắp tiến hành, nơi anh cất giấu súng ống, thuốc, tiền, nơi ẩn náu của anh, danh sách bạn bè và kẻ thù của anh có thể dùng để trao đổi, các mối liên lạc, nơi tàng trữ của gian, kế hoạch trốn thoát của anh - tất cả những thứ đó anh cần giữ cho riêng mình, và anh sẽ làm bại lộ tất cả nếu anh đang yêu.
Tình yêu là Kẻ chỉ điểm chính cống bởi sự thuyết phục mà nó tạo ra, rằng tình yêu của anh là bất tử và không hề thay đổi - anh không thể tưởng tượng nổi ngày tàn của tình yêu mình mà không tưởng tượng đến ngày tàn của cái đầu anh. Và bởi vì tình yêu chẳng là gì nếu không có sự thân mật, và sự thân mật chẳng là gì nếu không có sẻ chia, và sẻ chia chẳng là gì nếu không có sự thành thật, nên anh không thể tránh khỏi cảnh phải kể tất tần tật, đến chuyện cuối cùng, vì không thể thân mật mà không trung thực và nó sẽ từ từ đầu độc tình yêu quý giá của anh.
Khi nó kết thúc - và nó sẽ kết thúc (ngay cả những tay đánh bạc ưa mạo hiểm nhất cũng không dám đụng đến những xác suất rủi ro này) - anh ta hoặc cô ta, đối tượng được yêu, đã có được bí mật của anh. Và có thể dùng đến chúng. Và nếu mối quan hệ này kết thúc trong cay đắng, anh ta hoặc cô ta sẽ sử dụng chúng - một cách hằn học và nham hiểm - chống lại anh.
Hơn nữa, rất có thể những bí mật mà anh tiết lộ khi tâm hồn anh đã tự lột trần sẽ là nguyên nhân dẫn đến dấu chấm hết cho tình yêu của anh. Những tiết lộ riêng tư của anh sẽ là ngọn lửa châm ngòi cho khối thuốc nổ sẽ làm nổ tung tình yêu của anh sang thế giới bên kia.
Không, anh nói. Cô ấy hiểu thói bạo lực của tôi. Cô ấy hiểu rằng mục đích có thể lý giải cho phương tiện.
Hãy nghĩ về chuyện này. Yêu đương là một quá trình lý tưởng hóa. Giờ hãy hỏi bản thân anh, ta có thể hi vọng một người đàn bà lý tưởng hóa trong bao lâu một gã đàn ông khi kẻ đó đạp chân lên đầu của một người đang chìm? Không lâu lắm đâu, hãy tin tôi. Và những đêm giá lạnh trước lò sưởi, khi anh đứng dậy và cắt thêm một miếng phó mát nữa, anh chẳng mảy may nghĩ rằng cô ta đang trầm ngâm về khoảnh khắc thành thật không do dự ấy khi anh tiết lộ rằng đã đưa chân ra đạp chết kẻ thù của mình? Ồ, cô ta có nghĩ đấy.
Nếu có thể tin cậy một người đàn ông rũ bỏ bạn tình của mình vào thời điểm mối quan hệ chấm dứt, thì sẽ chẳng cần đến chương này. Nhưng không thể tin đàn ông trong chuyện đó. Hi vọng nối lại tình xưa đã giúp nhiều người tình cũ sống sót thay vì lao mình xuống đáy vực sâu.
Vì thế, hỡi những kẻ phạm luật, bất kể anh là ai, anh cần giữ bí mật vì sự sống sót của chính mình, để tránh xa kẻ thù của anh và giữ tấm thân anh an toàn trước hệ thống pháp lý. Đáng buồn thay - và đây là trách nhiệm cô đơn mà tất cả chúng ta phải chấp nhận - cách duy nhất để làm được điều này là sống độc thân. Nếu cần giải tỏa nhu cầu tình dục, hãy đi tìm một ả gái điếm. Nếu cần một cái ôm gần gũi, hãy đi tìm mẹ của mình. Nếu anh cần một thứ để làm ấm chiếc giường trong suốt những tháng mùa đông lạnh lẽo, hãy kiếm một con chó không thuộc giống chó Chihuahua hoặc chó Bắc Kinh. Nhưng hãy biết rằng: để lộ bí mật là từ bỏ sự an toàn, tự do, cuộc sống của chính mình. Sự thật sẽ giết chết tình yêu của anh, rồi nó sẽ giết chết anh. Điều này thật khó nghe, tôi biết. Nhưng tiếng gõ búa xuống bàn gỗ gụ của viên thẩm phán cũng thế mà thôi.
Tôi gấp sách lại và nằm trên giường nghĩ ngợi về sự trung thực và tính dối trá rồi đi đến quyết định là những cảm giác của tôi đều thành thật nhưng tôi đã kín như bưng trước những chuyện bí mật và suy nghĩ bí mật, tôi chưa hề hé môi chuyện nào với Hỏa ngục Cao vút. Tại sao tôi lại làm theo lời khuyên của quyển sách một cách bản năng như vậy, quyển sách được viết ra cho tội phạm? Chà, làm sao tôi có thể tiết lộ tất cả những chuyện thiếu ấn tượng mà tôi đã làm, như cái lần tôi bị lũ bắt nạt dồn vào góc và giả vờ ngủ trong thời gian chúng đánh tôi? Hay cái lần, chỉ một tuần sau khi chúng tôi hò hẹn, tôi quá ghen với suy nghĩ rằng Hỏa ngục Cao vút lẻn ra ngủ với kẻ khác đến độ tôi đã đi ra và ngủ với người khác để tôi không còn quyền gì mà ghen tuông nữa? Không, kể cả chuyện tốt đẹp tôi cũng không kể với cô ấy, chẳng hạn như một buổi sáng nọ tôi đi ra khỏi mê cung đến đại lộ và phát hiện ra những ngọn đèn đường vẫn còn chiếu sáng trên đầu tôi, một ngọn gió sớm mai trêu đùa hàng cây, và hương hoa nhài quen thuộc khiến các giác quan trở nên lúng túng thân thiện, như thể mũi của tôi ngập tràn mùi hương mềm mại, nồng nàn của một bờ mi màu hồng phớt. Tôi cảm thấy thật thích thú khi tung tăng nhảy nhót trong không khí buổi sáng ấm áp đến độ đã nhặt lên một bức tượng thần lùn giữ vườn từ bãi cỏ nhà ai đó và đặt nó lên bãi cỏ ở phía bên kia đường. Sau đó tôi tháo ống nước từ bãi cỏ gia đình đó và đặt nó lên hiên trước nhà hàng xóm của họ. Tôi nghĩ: Này mọi người, hôm nay chúng ta chia sẻ với nhau nào! Của ông ta là của anh! Chỉ sau đó tôi mới thấy chuyện này có vẻ kì khôi, vì vậy tôi giấu nhẹm để nó không lọt vào màng nhĩ người yêu của tôi.
Và bởi vì rõ ràng tôi đã nhiễm toàn bộ sự hồ nghi mọi thứ của bố, kể cả những suy nghĩ, cảm giác, quan điểm, và linh cảm của chính ông - khiến tôi hồ nghi những suy nghĩ, cảm giác, quan điểm, và linh cảm của mình - tôi cũng không thể kể với cô ấy rằng có đôi khi tôi rơi vào trạng thái mơ màng mà ở đó mọi lực đối lập nhau của vũ trụ cam kết ngừng bắn đột ngột và không lí giải nổi, và cùng nhau tan chảy cho đến khi tôi cảm thấy có một mẩu của sự tạo hóa mắc kẹt trong răng mình. Có thể tôi đang đi dạo trên đường hoặc đơn giản là đang xóa các trang web khiêu dâm từ mục Lịch sử trên trình duyệt Internet của mình, thì bất chợt giống như tôi bị bao bọc trong một lớp sương mù vàng óng mềm mại. Chính xác nó là gì? Một giai đoạn siêu nhận thức, ở đó cái Tôi của Tôi trở thành cái Ta của Chúng ta, nơi Chúng ta là Tôi và một Đám mây hoặc Tôi và một Cái cây và đôi lúc Tôi và một buổi Hoàng hôn hoặc Tôi và Đường chân trời nhưng rất ít khi là Tôi và Bơ hoặc Tôi và Men sứ mẻ. Làm sao tôi có thể giải thích điều đó với cô ấy? Cố gắng trình bày những ý tưởng không thể lý giải là mạo hiểm đơn giản hóa chúng quá mức, và cơn rùng mình hữu cơ sẽ xuất hiện nghe như một cơn rùng mình hữu cơ rẻ tiền, và cô ấy sẽ nghĩ gì về những ảo giác mê mải không thể hiểu nổi này mới được? Cô ấy có thể vội vã đi đến kết luận rằng tôi thực sự hòa hợp với vũ trụ trong khi những người khác thì không. Giống như bố nói: những khoảnh khắc vũ trụ tâm[45] có thể chỉ đơn giản là một phản ứng tự nhiên trước một ý niệm tiềm thức bất chợt về cái chết của chính chúng ta. Chúng ta chỉ biết rằng, cảm giác hợp nhất có thể là bằng chứng lớn nhất cho thấy có sự chia li. Ai mà biết được? Chỉ vì chúng có cảm giác như sự giác ngộ Chân lý không có nghĩa chúng là chân lý. Ý tôi là, nếu bạn hồ nghi một giác quan, bạn phải hồ nghi tất cả chúng. Chẳng có lý do gì giác quan thứ sáu lại có thể không gây nhầm lẫn như khứu giác hoặc thị giác. Đó là bài học tôi đã học được từ bố tôi, tin hàng đầu từ cái ngõ cụt mà ông đã đẩy mình đến bằng suy nghĩ: những linh cảm trực tiếp vừa không đáng tin vừa vô cùng thuyết phục.
Vậy bạn hiểu chưa? Làm sao tôi có thể kể cho cô ấy về những chuyện này khi mà tôi còn không chắc liệu mình có tự đánh lừa bản thân? Tôi cũng không thể nói với cô ấy rằng đôi khi tôi tin chắc mình có thể đọc được suy nghĩ của bố và những lần khác tôi ngờ rằng ông đọc được suy nghĩ của tôi. Đôi khi, tôi cố nói với ông một chuyện gì đấy bằng cách nghĩ đến nó, và tôi sẽ cảm thấy nghe được ông trả lời ở thể phủ định; tôi cảm nhận được một câu “Mẹ mày” di chuyển qua thinh không. Tôi cũng không thể kể với Hỏa ngục rằng tôi đã hơn một lần có ảo giác về một khuôn mặt bị phanh thây. Tôi mơ thấy khuôn mặt ấy lần đầu tiên khi tôi còn bé, một khuôn mặt rám nắng, có ria mép, môi dày, mũi to lững lờ trôi ra từ chốn thinh không tăm tối, đôi mắt hình viên đạn của ông ta bắn ra mùi hương của sự bạo hành tình dục, cái miệng ông ta vặn vẹo thành một tiếng thét lặng câm. Tôi đoan chắc điều này đã xảy ra với tất cả mọi người. Rồi một ngày nọ bạn nhìn thấy khuôn mặt ấy ngay cả khi bạn tỉnh táo. Bạn nhìn thấy nó trong mặt trời. Bạn nhìn thấy nó trong những đám mây. Bạn nhìn thấy nó trong gương. Bạn nhìn thấy nó rõ ràng, ngay cả khi nó không có ở đó. Rồi bạn cũng cảm nhận được nó. Và bạn đứng lên rồi nói, “Ai đấy?” Và khi bạn không nhận được câu trả lời, bạn nói, “Tôi gọi cảnh sát đấy.” Và sự hiện diện này là gì mới được nếu thực sự đó không phải là một hồn ma? Lời giải thích khả dĩ nhất: một ý tưởng ngoại hiện và tạo dựng hoàn toàn. Có những thứ đang bò lúc nhúc trong não tôi, ngứa ngáy đòi thoát ra, và, tệ hơn nữa là, chúng đang thoát ra và tôi không thể kiểm soát được khi nào và ở đâu.
Không, tại sao phải nói ra mọi suy nghĩ xấu xí, tiêu cực, điên rồ, ngốc nghếch đang trôi nổi trong đầu? Chính vì vậy mà khi bạn đứng bên bến tàu và người yêu của bạn nói, với một cái ôm dịu dàng, “Anh đang nghĩ gì?” bạn không trả lời “Anh nghĩ là anh ghét mọi người và ước gì họ gục ngã và không bao giờ đứng lên.” Để tôi nói cho mà nghe. Bạn không thể nói thế được. Tôi không biết nhiều lắm về phụ nữ, nhưng tôi biết như vậy.
***
Tôi chìm vào giấc ngủ, và lúc bốn giờ sáng, tôi giật mình dậy nhận ra một điều kinh hoàng: tôi chưa bao giờ nói với Hỏa ngục Cao vút rằng Terry Dean là chú của tôi.
Tôi nhìn chằm chằm vào đồng hồ đến tám giờ sáng, không rời mắt lấy một giây, rồi gọi điện cho Brian.
“Ai đấy?”
“Làm sao ông biết tôi là cháu của Terry Dean?”
“Jasper?”
“Làm sao ông biết?”
“Bạn gái của cậu cho tôi biết.”
“Ừ, tôi biết rồi, tôi chỉ hỏi thử vậy thôi. Vậy, ừm... ông và cô ấy, thì...”
“Chúng tôi thì sao?”
“Cô ấy nói hai người chỉ hò hẹn một thời gian ngắn thôi.”
Ông ta không nói gì. Trong tĩnh lặng tôi nghe ông ta thở như một người biết rằng mình ở thế thượng phong, còn tôi thì rốt cuộc lại thở như một kẻ nằm ở thế dưới, rồi ông ta bắt đầu kể cho tôi nghe không chỉ về ông ta và cô ấy mà còn những điều về cô ấy mà cô ấy đã giữ bí mật - cả đời, hình như thế: chuyện cô ấy đã bỏ nhà đi từ năm mười lăm tuổi và đến ở hai tháng với một gã buôn ma túy ở Chippendale tên là Freddy Luxembourg và chuyện cô ấy về nhà sau một lần phá thai rồi chuyển nhiều trường, chuyện năm mười sáu tuổi cô ấy bắt đầu một mình đến các quán bar và đó là nơi họ gặp nhau và cô ấy lại bỏ nhà đi và sống với ông ta một năm đến khi cô ấy bắt quả tang ông ta với người đàn bà khác và tức điên tiết và về nhà lần nữa và bố mẹ cô ấy đưa cô ấy đi tư vấn bác sĩ tâm lý và bác sĩ tuyên bố cô ấy là một quả bom hẹn giờ, rồi chuyện cô ấy cứ gọi điện cho ông ta và để lại những tin nhắn kì lạ trên máy trả lời tự động của ông ta về người bạn trai mới của cô ấy, người này sẽ giết ông ta nếu ông ta xuất hiện trong đời cô ấy một lần nữa. Tôi đã rất ngạc nhiên khi biết người bạn trai sát nhân đó chính là tôi.
Tôi nghe toàn bộ câu chuyện với một thái độ bình thản giả tạo, nói những câu như “Ừ hử” và cố gắng không tỏ vẻ hoảng hốt trước những kết luận đáng lo mà tôi đang rút ra. Việc cô ấy đã gọi điện thoại cho bạn trai cũ và để lại những lời nhắn gắt gỏng trên điện thoại của ông ta có nghĩa là cô ấy có thể vẫn còn lưu luyến ông ta, và việc ông ta nói với cô ấy về việc lấy lại công việc cũ có nghĩa là ông ta có thể vẫn còn lưu luyến cô ấy.
Tôi chẳng còn hiểu mô tê gì nữa. Cô ấy đã nói dối tôi! Cô ấy đã nói dối tôi! Tôi! Tôi lẽ ra mới là kẻ nói dối trong cuộc tình này!
Tôi cúp máy và tung chân ra hai bên thành giường như hai cái neo. Tôi không đứng dậy. Tôi ngồi trên giường hàng giờ liền, chỉ phá lời nguyền khi gọi điện thoại đến chỗ làm xin nghỉ ốm. Cuối cùng vào khoảng năm giờ tôi cũng rời giường và ngồi trên hành lang sau nhà trút thuốc lá từ điếu cho vào ống tẩu. Tôi nhìn trân trối vào ánh hoàng hôn vì tôi nghĩ mình đã trông thấy một khuôn mặt ở đó, một khuôn mặt trong mặt trời, khuôn mặt cũ quen thuộc ấy, khuôn mặt mà tôi đã lâu không thấy. Xung quanh tôi ve sầu đang kêu ra rả. Nghe như chúng đang bủa vây tứ phía. Tôi nghĩ đến việc bắt một con và nhét nó vào ống tẩu rồi hút. Tôi đang tự hỏi liệu hút nó có phê không thì trông thấy một chùm pháo sáng đỏ bắn lên trời. Tôi đặt ống tẩu xuống và đi về hướng làn hơi lơ lửng trên không trung. Đó chính là cô ấy. Tôi đã cho cô ấy một cây súng pháo sáng vì cô ấy thường đi lạc trong mê cung.
Tôi tìm thấy cô ấy cạnh một tảng đá mòn và đưa cô ấy về chòi. Khi chúng tôi vào trong, tôi kể với cô ấy mọi chuyện mà Brian đã kể cho tôi. Cô ấy nhìn tôi, đôi mắt vô hồn.
“Tại sao cô không nói với tôi rằng cô sống chung với ông ta trong một năm?” Tôi quát lên.
“À, anh cũng đâu có thành thật với tôi. Anh đã không hề kể với tôi rằng chú của anh là Terry Dean!”
“Tại sao tôi phải kể? Tôi đã gặp chú ấy đâu! Chuyện đã lâu lắm rồi. Khi chú ấy chết tôi mới có âm hai tuổi. Điều tôi muốn biết là, tại sao cô không nói với tôi rằng cô biết chuyện chú tôi?”
“Nghe đây. Từ giờ trở đi hãy thành thật với nhau.”
“Ừ, cứ vậy đi.”
“Thành thật tuyệt đối.”
“Chúng ta sẽ kể mọi chuyện cho nhau.”
Cánh cửa đang mở toang. Chẳng ai trong chúng tôi bước qua nó. Đó là thời điểm đặt câu hỏi và trả lời, như hai kẻ chỉ điểm vừa phát hiện ra rằng mỗi người đã tiến hành một thỏa thuận miễn trừ riêng với công tố viên.
“Em đi tắm đây,” cô ấy nói.
Tôi nhìn cô ấy đi ngang qua phòng, và khi cô ấy cúi xuống để nhặt một cái khăn từ sàn nhà, tôi nhìn thấy cạp quần jeans của cô ấy cong lại cách xa người cô, như một cái miệng cười quỷ quái.
VI.
Sau sự cố này tôi bắt đầu có thói quen xấu là đối xử với cô ấy hết sức lịch sự và tôn trọng. Lịch sự và tôn trọng là cần thiết khi đối đáp với một thẩm phán ngay trước khi ông ta tuyên án bạn, nhưng trong một mối quan hệ, chúng là dấu hiệu của sự bức bối. Và tôi không thoải mái vì cô ấy vẫn chưa dứt khoát với Brian. Đây cũng không phải là suy nghĩ hoang tưởng vô căn cứ. Cô ấy đã bắt đầu so sánh tôi với ông ta, theo kiểu bất lợi cho tôi. Chẳng hạn như, cô ấy nói tôi không lãng mạn bằng Brian, chỉ vì trong một lần gần gũi tôi đã nói, “Anh yêu em với tất cả bộ não của mình.” Chẳng lẽ là lỗi của tôi khi cô ấy không hiểu ra rằng trái tim đã cướp đoạt công sức của bộ não, những cảm xúc đê mê ngây dại ấy thực ra đến từ hệ bản tính[46] trong não, và rằng tôi chỉ đang cố gắng tránh nhắc đến trái tim như một cái nhà kho thực sự lưu chứa mọi cảm xúc của tôi trong khi nó hóa ra chỉ là một hệ thống bơm lọc ẩm ướt và máu me? Chẳng lẽ là lỗi của tôi khi người ta không thể thích thú với một biểu tượng mà không biến nó thành một sự thật theo nghĩa đen? Nhân tiện, vì lẽ đó mà, bạn đừng nên bao giờ lãng phí thời gian của mình kể cho con người nghe một câu chuyện ngụ ngôn - trong vòng chưa đến một thế hệ, họ sẽ biến nó thành dữ liệu lịch sử, có đầy đủ nhân chứng.
Ồ, và còn chuyện chiếc lọ nữa chứ.
Tôi đang ở chỗ cô ấy, trong phòng ngủ của cô ấy. Chúng tôi vừa mới làm tình rất khẽ vì mẹ cô ấy ở phòng cạnh bên. Tôi thích làm khẽ vì khi bạn có thể phát ra mọi tiếng động mà bạn thích thì có vẻ như bạn làm nhanh hơn. Tình dục âm thầm giúp bạn chậm lại.
Sau đó, khi tôi đang rị mọ trên sàn nhà để nhặt những đồng xu rơi ra từ túi quần jeans của mình, tôi trông thấy cái lọ ở dưới giường cô ấy, cỡ lọ đựng mù tạt, với một thứ chất lỏng nhờ nhờ lềnh bềnh bên trong, giống như nước sủi bọt chảy ra từ một cái vòi nước Mexico. Mở nắp lọ ra, tôi ngập ngừng ngửi, lòng khó chịu thầm nghĩ sẽ ngửi thấy mùi của sữa bị ôi. Nó chẳng có mùi gì. Tôi quay lại và nhìn cơ thể thanh mảnh của cô ấy nằm gọn trên giường. “Đừng làm đổ nó đấy,” cô ấy nói, trước khi ban cho tôi một nụ cười hoàn hảo cố hữu.
Tôi nhúng ngón tay vào chiếc lọ, quét nó ra, và liếm nó.
Mặn.
Tôi nghĩ mình đã biết đó là gì. Nhưng nó có thực sự là điều tôi nghĩ không? Tôi có thực sự, trong thực tế, đang cầm một chiếc lọ nước mắt? Nước mắt của cô ấy?
“Nước mắt, hả?” tôi nói, như thể mọi người mà tôi biết đều giữ lại nước mắt của họ, như thể toàn thế gian chẳng làm gì ngoài đúc nên những tượng đài để thỏa mãn nỗi buồn của họ. Tôi có thể tưởng tượng cảnh cô ấy áp chiếc lọ bé nhỏ vào má cô ấy, khi một giọt nước mắt mở đầu trông như hạt mưa đầu tiên trượt xuống một ô kính cửa sổ.
“Cái này để làm gì?” tôi hỏi.
“Chẳng có gì.”
“Ý em là sao, chẳng có gì?”
“Em chỉ giữ lại nước mắt của mình, thế thôi.”
“Thôi nào. Còn chuyện gì nữa mà.”
“Chẳng có gì. Anh không tin em à?’
“Hoàn toàn không.”
Cô ấy nhìn tôi trừng trừng một chốc. “Thôi được - em sẽ kể với anh, nhưng em không muốn anh hiểu lầm.”
“Được.”
“Hứa là anh sẽ không hiểu lầm đi?”
“Đó là lời hứa rất khó thực hiện. Làm sao anh biết anh sẽ hiểu lầm chứ?”
“Em sẽ nói cho anh biết.”
“Được.”
“Được rồi. Em giữ lại nước mắt của mình bởi vì... em sẽ bắt Brian uống chúng,” cô ấy nói.
Tôi nghiến răng và nhìn ra ngoài cửa sổ. Bên ngoài, những cái cây mùa thu ủ rũ trông như những cái nhún vai màu nâu vàng. “Cô vẫn còn yêu ông ta!” tôi hét lên.
“Jasper!” cô ấy gào lên. “Anh hiểu lầm rồi đấy!”
Khoảng hai tuần sau đó, cô ấy chất thêm một sự sỉ nhục nữa lên cái cũ. Chúng tôi đang ở trong chòi của tôi, làm tình, lần này làm đùng đùng, và như thể sổ toẹt ra để xác nhận mối nghi ngờ tồi tệ nhất của tôi, ngay giữa chừng cô ấy gọi to tên ông ta. “Brian!” cô ấy hổn hển rên rỉ.
“Ở đâu?” tôi hỏi, sửng sốt, và bắt đầu nhìn khắp phòng để tìm ông ta.
“Anh đang làm gì đấy?”
Tôi dừng lại khi nhận ra sai lầm ngớ ngẩn của mình. Cô ấy nhìn tôi với ánh mắt thầm kết hợp giữa sự dịu dàng với nỗi khiếp sợ. Đến ngày nay kí ức về ánh mắt ấy vẫn ghé thăm tôi như một Nhân chứng Jehovah[47], không mời mà đến và không biết mệt mỏi.
Cô ấy trần truồng bò ra khỏi giường và pha cho mình một tách trà, nhăn nhó vì tội lỗi.
“Em xin lỗi,” cô ấy nói, giọng run rẩy.
“Anh nghĩ em không nên nhắm mắt khi làm tình nữa.”
“Ừm.”
“Anh muốn em phải nhìn anh từ đầu đến cuối. Được không?”
“Anh hết sữa rồi,” cô ấy nói, ngồi xổm trước tủ lạnh quầy bar.
“Có mà.”
“Nó vón cục rồi.”
“Nhưng nó vẫn là sữa mà.”
Cô ấy chưa dứt tiếng thở dài thì tôi đã bước ra khỏi chòi, đi trong đêm tối đến nhà của bố. Chúng tôi vẫn đột nhập vào nhà nhau để trộm sữa luôn. Phải nói thế này: tôi là tay trộm cừ hơn. Bố luôn vào trong lúc tôi đang ngủ, nhưng vì ông luôn phát rồ về những thời hạn sử dụng, nên tôi luôn giật mình vì tiếng khịt mũi to như sấm của ông.
Màn đêm là một màu đen bốn bề dày đặc khiến những khái niệm như đông, tây, nam, bắc trở nên vô nghĩa. Sau khi tôi vấp phải mấy gốc cây và bị các nhánh cây đầy gai tát vào mặt, ánh sáng từ căn nhà của bố vừa chào đón tôi vừa khiến tôi đau khổ; có đèn có nghĩa là ông còn thức và tôi sẽ kẹt phải nói chuyện, thực tế là, lắng nghe ông. Tôi rên lên. Tôi nhận thức rõ sự xa rời ngày càng lớn của chúng tôi. Nó đã xuất hiện từ khi tôi bỏ học và càng ngày càng tệ hơn. Tôi không rõ tại sao, nhưng bố đột nhiên trở lại cách làm bố bình thường, đặc biệt trong việc dùng những đòn đe dọa tình cảm. Ông từng có lần nói cụm từ “Sau tất cả những gì bố đã làm cho con.” Rồi ông liệt kê tất cả những gì ông đã làm cho tôi. Nghe có vẻ rất nhiều, nhưng đa phần là những hi sinh nhỏ nhặt như “đã mua bơ dù bố thích magarine hơn.”
Sự thật là, tôi không thể nào chịu đựng ông được nữa: tính tiêu cực không dứt của ông, sự quấy quá của ông với cuộc sống cả hai chúng tôi, lòng tôn sùng phi nhân tính của ông với sách vở thay vì con người, sự thích thú điên loạn của ông dành cho thái độ thù ghét xã hội, tình yêu giả tạo của ông dành cho tôi, nỗi ám ảnh bệnh hoạn của ông với việc làm cho cuộc sống của tôi trở nên bức bối như cuộc sống của ông. Tôi chợt nhận ra rằng không phải ông làm cho cuộc đời tôi khốn khổ sau khi suy đi nghĩ lại, mà đã có chủ ý hủy hoại tôi một cách cần mẫn, như thể ông được trả tiền làm thêm giờ để làm việc đó. Ông có một cái đầu làm bằng bê tông cốt thép, và tôi không thể chịu nổi nữa. Tôi cảm thấy rằng, ta có thể nhìn vào những người trong cuộc đời ta và nói “Tôi nợ anh sự sống sót của tôi” và “Anh nợ tôi sự sống sót của anh,” và nếu ta không thể nói thế, thì ta đang làm cái quái gì với họ? Cứ như thế, tôi chỉ có thể nhìn bố rồi nghĩ, “Hơ, tôi sống sót bất chấp sự quấy rầy của ông, đồ khốn kiếp ạ.”
Đèn trong phòng khách còn sáng. Tôi đưa mắt nhìn qua cửa sổ. Bố đang đọc báo và khóc.
“Có chuyện gì vậy?” tôi hỏi, mở cánh cửa trượt.
“Con đang làm gì ở đây?”
“Ăn cắp sữa.”
“Hờ, đi mà ăn cắp sữa của con ấy!” ông nói.
Tôi bước vào và giật tờ báo khỏi tay ông. Đó là một tờ nhật báo lá cải. Bố đứng dậy và đi vào căn phòng cạnh bên. Tôi nhìn kĩ hơn tờ báo. Chuyện bố đang đọc là về Frankie Hollow, ngôi sao nhạc rock vừa mới bị ám sát, người này đang trở về nhà sau một chuyến biểu diễn thì giáp mặt một fan cuồng và bị y bắn hai phát vào ngực, một phát vào đầu, và một phát “ân huệ”. Kể từ đó câu chuyện này đã tìm cách lên trang nhất hằng ngày, dù chẳng có thêm phát hiện gì sau ngày đầu tiên. Có ngày các tờ báo đăng phỏng vấn những người chả biết gì và trong lúc trả lời phỏng vấn chả tiết lộ được gì. Rồi họ vắt từng giọt máu cuối cùng từ câu chuyện bằng cách moi móc quá khứ của ngôi sao xấu số, và khi tuyệt đối, chắc chắn chẳng còn gì để viết, họ lại viết thêm một ít nữa. Tôi nghĩ: Ai lại đi in thứ cặn bã này? Và rồi tôi nghĩ: Tại sao bố lại khóc trước cái chết của người nổi tiếng này? Tôi đứng đó với hàng nghìn cụm từ thu nhỏ bơi lội trong đầu, cố quyết định xem mình có nên xía mũi vào. Tôi quyết định không làm thế; chết là chết, thương khóc là thương khóc, và ngay cả khi người ta chọn rơi nước mắt vì sự mất mất của một người lạ nổi tiếng, thì bạn cũng không thể chế nhạo một trái tim đau buồn.
Tôi gấp tờ báo lại, hoang mang hơn trước. Từ phòng kế bên tôi có thể nghe thấy tiếng ti vi; nghe như bố đang thử volume để xem nó có thể lớn đến mức nào. Tôi bước vào. Ông đang xem một bộ phim khiêu dâm nhẹ đêm khuya về một nữ thám tử phá các vụ án mạng bằng cách khoe ra cặp đùi cạo nhẵn nhụi. Dù vậy, ông đang không nhìn lên màn hình; ông đang nhìn vào cái miệng bé tí hình oval của một lon bia. Tôi ngồi xuống cạnh ông, và chúng tôi chẳng nói gì suốt một lúc. Đôi khi không nói gì là việc thật dễ dàng, khi khác đó lại là việc vắt kiệt sức hơn cả nhấc những chiếc đàn dương cầm.
“Sao bố không đi ngủ?” tôi hỏi.
“Cảm ơn, bố,” ông đáp.
Tôi ngồi đấy cố nghĩ ra câu gì thật mỉa mai để đáp trả, nhưng khi bạn đặt hai câu chỉ trích mỉa mai cạnh nhau, chúng chỉ nghe khó chịu thêm thôi. Tôi quay trở lại mê cung và đến bên Hỏa ngục trên giường tôi.
“Sữa đâu?” cô ấy hỏi khi tôi bò vào bên cạnh.
“Nó bị vón cục,” tôi nói, nghĩ đến bố với những cục u bên trong người ông. Anouk và Eddie nói đúng - ông đã trượt trở lại vào một cơn trầm cảm. Tại sao lại là lần này? Tại sao ông lại thương tiếc cho ngôi sao nhạc rock này trong khi ông chưa từng nghe nói đến anh ta? Liệu ông có bắt đầu thương khóc cho mọi cái chết trên Trái đất này hay không? Liệu còn thú vui nào tốn kém thời gian hơn không?
Khi tôi thức dậy vào buổi sáng, Hỏa ngục đã bỏ đi. Đó là chuyện mới. Chúng tôi rõ ràng đã rơi vào một đợt thoái trào mới - ngày trước chúng tôi thường lay nhau ra khỏi cơn hôn mê để báo rằng sẽ đi. Giờ thì cô ấy lẳng lặng chuồn đi, có lẽ để tránh câu hỏi “Lát nữa em định làm gì?” Cái chòi của tôi chưa bao giờ trống vắng như thế. Tôi vùi đầu vào gối và hét lên, “Cô ấy hết yêu mình rồi!”
Để làm bản thân xao nhãng khỏi sự thật chua loét này, tôi nhặt tờ báo lên và đọc lướt qua, vừa đọc vừa rúm ró. Tôi luôn ghét những tờ báo của chúng tôi, chủ yếu vì kiểu sỉ nhục địa lý của chúng. Ví dụ như, ở trang 18, mắt bạn rơi vào câu chuyện về một trận động đất khủng khiếp xảy ra ở nơi nào đó như Peru với một sự sỉ nhục ẩn giữa các dòng chữ; hai mươi nghìn người bị chôn vùi dưới đống đổ nát, rồi lại bị chôn lần nữa, lần này dưới mười bảy trang của một tờ báo địa phương ba hoa. Tôi nghĩ: Ai lại in thứ báo bệnh nha chu này?
Rồi tôi nghe một giọng nói. “Cộc cộc,” giọng nói phát ra.
Giọng nói ngay lập tức khiến tôi bồn chồn. Tôi quát lại. “Đừng đứng ở cửa và nói ‘Cộc cộc’! Nếu tôi có chuông cửa, các người có đứng đó và kêu, ‘Brrrring’ không?”
“Cậu bị làm sao vậy?” Anouk hỏi khi bước vào.
“Chẳng sao hết.”
“Cậu có thể kể cho tôi nghe.”
Tôi có nên tin cậy cô ta? Tôi biết Anouk cũng gặp rắc rối với chuyện tình cảm của cô ta. Cô ta đang dính vào một cuộc chia tay rối ren. Mà thực ra thì, cô ta luôn dính vào một cuộc chia tay rối ren. Thực ra, cô ta lúc nào cũng đang chia tay với những người mà tôi không hề biết rằng cô ta từng hò hẹn. Nếu ai có con mắt nhìn trước kết cục sự việc, thì người đó phải là Anouk. Nhưng tôi quyết định không tìm lời khuyên của cô ta. Một vài người đánh hơi được khi bạn đang chìm, và lúc họ bước đến để nhìn rõ hơn, họ không thể kềm lòng đè chân lên đầu bạn.
“Tôi ổn mà,” tôi đáp.
“Tôi muốn nói chuyện với cậu về chứng trầm cảm của bố cậu.”
“Tôi thực không có hứng nói chuyện đó.”
“Tôi biết cách để lấp đầy sự trống trải của ông ấy. Những quyển sổ của ông ấy!”
“Tôi đã đọc trộm đủ sổ sách của bố để sống hết đời này rồi! Những trang viết của ông là vết loang của nước ép nhỏ ra từ tất cả những miếng thịt quấn vào nhau trong đầu ông ấy. Tôi sẽ không làm đâu!”
“Cậu không cần làm. Tôi đã làm rồi.”
“Chị làm rồi?”
Anouk lôi từ túi quần ra một quyển sổ màu đen của bố và vẫy vẫy nó như thể đó là một tờ vé số trúng thưởng. Hình ảnh quyển sổ gây hiệu ứng tương tự cho tôi như hình ảnh khuôn mặt bố: một sự rã rời tột độ.
“Được rồi,” Anouk nói, “nghe đây. Cậu có đang ngồi xuống không đấy?”
“Chị đang nhìn thấy tôi mà, Anouk!”
“Được rồi! Được rồi! Chúa ơi, cậu tâm trạng quá.”
Cô ta hắng giọng và đọc: “Trong cuộc đời, mọi người đang làm chính xác điều mà họ phải làm. Ý mình là, hãy nhìn thật kĩ khi ta gặp một nhân viên kế toán - trông ông ta giống hệt một nhân viên kế toán! Chưa hề có một nhân viên kế toán nào mà trông như lẽ ra ông ta phải là lính cứu hỏa, chưa có một nhân viên bán hàng trong cửa hàng quần áo nào trông giống như một thẩm phán, hay một cựu binh trông giống như nhân viên bán hàng ở McDonald’s. Có lần tại một buổi tiệc mình gặp tay này và mình nói, “Vậy, anh làm nghề gì?” và gã lớn tiếng đáp, để mọi người đều nghe thấy, “Tôi là nhà giải phẫu cây xanh,” cứ như thế, và mình lùi lại một bước để nhìn tay ấy từ đầu đến chân và mình sẽ chết quách đi nếu gã không giống hệt hình ảnh ấy - trông gã như một nhà giải phẫu cây xanh, dù trước nay mình chưa từng gặp người nào làm nghề này. Điều mình đang nói là - mọi người tuyệt đối là chính con người họ, và đây cũng là vấn đề. Ta không thể tìm thấy một ông trùm truyền thông nào có tâm hồn của một nghệ sĩ hay một nhà triệu phú nào có lòng trắc ẩn mạnh mẽ, cháy bỏng của một nhân viên xã hội. Nhưng điều gì sẽ xảy ra nếu ta có thể thì thầm vào tai của một tỉ phú và chạm đến lòng trắc ẩn mạnh mẽ, cháy bỏng đang lặng lẽ nằm im lìm nhàn rỗi, nơi lòng thương cảm được cất giấu, và ta có thể thì thầm vào tai ông ta và châm nhiên liệu cho lòng thương cảm ấy cho đến khi nó bắt sáng, rồi sau đó ta mớm ý tưởng cho lòng thương cảm ấy cho đến khi nó chuyển hóa thành hành động. Ý mình là, làm ông ta phấn khích. Thật sự làm ông ta phấn khích. Đó là điều mà mình hằng mong ước. Làm kẻ gây phấn khích cho những người giàu có và quyền lực bằng những ý tưởng của kẻ ấy. Đó là điều mình muốn - làm người thì thầm những ý tưởng hết xẩy vào một chiếc tai vàng khổng lồ.”
Anouk đóng quyển sổ lại và nhìn tôi tựa như đang chờ đợi khán giả đứng dậy tung hô. Cô ta phấn khích vì cái này ư? Chứng hoang tưởng tự đại của ông ấy đã là chuyện cũ rích đối với tôi. Tôi đã biết được điều tương tự khi tôi giúp ông ra khỏi bệnh viện tâm thần. Đương nhiên, lần ấy chỉ là một dịp ăn may - lấy những nội dung trong các quyển sổ điên rồ ấy theo đúng nghĩa rồi áp dụng lên chủ nhân của chúng là một việc làm cực kì độc hại - như điều mà chúng tôi sắp phát hiện ra.
“Vậy thì sao?” tôi nói.
“Vậy thì sao?”
“Tôi không hiểu.”
“Cậu không hiểu?”
“Đừng lặp lại những lời tôi nói nữa.”
“Đó là câu trả lời, Jasper ạ.”
“Thế à? Tôi quên mất câu hỏi rồi.”
“Làm cách nào để lấp đầy nỗi trống trải của bố cậu. Đơn giản lắm. Chúng ta đi ra ngoài và tìm một cái.”
“Tìm cái gì?”
“Một chiếc tai vàng,” cô ta đáp, mỉm cười.
VII.
Tối hôm ấy, trên đường đến nhà Anouk, tôi suy nghĩ về kế hoạch của cô ta. Chiếc tai vàng mà cô ta đã chọn thuộc về cái đầu của Reynold Hobbs, người mà, trong trường hợp bạn sống trong hang và không có truyền hình cáp để xem nên không biết, là người giàu nhất nước Úc. Ông ta sở hữu những tờ báo in, tạp chí, nhà xuất bản, xưởng phim, và đài truyền hình nơi ông ta thu hình các sự kiện thể thao và phát sóng qua mạng lưới cáp của ông ta. Ông ta sở hữu các câu lạc bộ bóng đá, hộp đêm, chuỗi khách sạn, nhà hàng, một đội xe taxi, và một chuỗi công ty thu âm sản xuất ra thứ âm nhạc mà ông ta bán trong các cửa hàng âm nhạc của ông ta. Ông ta sở hữu các resort, chính trị gia, khu chung cư, dinh thự, ngựa đua, và một chiếc du thuyền có kích thước bằng hòn đảo Nauru ở Thái Bình Dương. Một nửa thời gian Reynold sống ở New York, nhưng ông ta quá bí ẩn đến nỗi bạn không thể biết đó là nửa thời gian nào. Ông ta thuộc số hiếm những người nổi tiếng không phải bận tâm trước đám paparazzi vì ông ta sở hữu bọn họ. Tôi phải nói rằng, Reynold Hobbs có thể ngồi đại tiện trên cầu Harbor và bạn không bao giờ nhìn thấy một bức ảnh nào về nó trên báo.
Tôi không biết Anouk đã lên kế hoạch cho sứ mệnh ít triển vọng này từ bao lâu, nhưng cô ta đưa cho tôi xem một bài viết nói rằng Reynold và con trai ông ta, Oscar, sẽ đến sòng bạc Sydney đêm hôm ấy để ăn mừng việc mua lại nó. Theo kế hoạch của cô ta, chúng tôi sẽ đi vào sòng bạc và cố gắng thuyết phục Reynold Hobbs, người giàu nhất nước Úc, gặp mặt bố tôi, kẻ nghèo nhất nước Úc.
Vào lúc này Anouk đã về sống với bố mẹ cô ta trong một ngôi nhà xinh xắn ở một khu phố xinh xắn trong một ngõ cụt xinh xắn với một công viên xinh xắn bên cạnh và rất đông trẻ con chơi đùa trên đường phố và hàng xóm trò chuyện với nhau qua hàng rào và những bãi cỏ lớn trước nhà và những sân vườn rộng rãi và xích đu và một chiếc xe gia đình tiện nghi xinh xắn nằm ở mọi đường lái xe vào nhà và những chú chó biết đại tiện đúng chỗ và thành những đống đối xứng xinh xắn, như đống lửa trại của một hướng đạo sinh vậy. Đó là bề ngoài trung lưu mà người ta thích lột ra từng lớp để tìm sâu - và có những con sâu ở đó, dĩ nhiên rồi. Ở đâu mà chẳng có sâu cơ chứ? Và đúng thế, gia đình của Anouk có một con sâu. Họ có một con sâu to tướng. Một con sâu không chịu bỏ đi. Đó chính là Anouk. Cô ta là con sâu.
Bố cô ta đang làm vườn khi tôi đến. Ông là một người khỏe mạnh ở độ tuổi năm mươi, khỏe mạnh đến độ hễ trông thấy ông là tôi lập tức quyết tâm chống đẩy năm mươi cái mỗi buổi sáng. Cơ bắp cuồn cuộn, ông đang cúi người xuống thảm hoa để nhặt cỏ, và ngay cả phần mông lòi ra của ông trông cũng thật căng và hồng hào dưới lớp lông mông tua tủa.
“Chào, Jasper, đi đâu mà ăn mặc chải chuốt thế?”
“Anouk và cháu sẽ đi đến sòng bạc.”
“Để làm cái quái gì?”
“Để đốt tiền.”
Ông ta cười khùng khục. “Cậu không địch nổi mấy thằng khốn kiếp mục nát ấy đâu. Bọn chúng thao túng hết cả rồi.”
“Có tên khốn kiếp mục nát nào mà ta đánh bại nổi đâu ạ.”
“Đúng thế.”
Mẹ của Anouk, một người đàn bà đẹp với những lọn tóc bạc xen giữa mái tóc dày màu đen, bước ra với một ly nước mà bà hẳn là định đem cho chồng nhưng lại đưa cho tôi.
“Uống đi cháu. Mà này, bác đang teo nhỏ lại hay cháu vẫn đang lớn đấy hử?”
“Cháu nghĩ cháu vẫn đang lớn.”
“Vậy thì đừng dừng lại vội!”
“Vâng ạ.”
Tôi thích gia đình Anouk. Họ không cần lên gân lên cốt để khiến bạn cảm thấy được chào đón, họ chỉ nhìn bạn như thể bạn đã luôn ở đó. Họ chân thành và sốt sắng và nhiệt tình và vui vẻ và siêng năng và không bao giờ nói xấu một ai. Họ thuộc tuýp người mà bạn không thể không quý mến, và nhiều lần tôi cảm thấy muốn dẫn họ đi khắp phố phường, thách xem có ai dám không thích họ.
“Anouk đâu ạ?”
“Trong phòng nó. Cháu vào đi.”
Tôi bước qua ngôi nhà mát lạnh xinh xắn, lên lầu, vào phòng ngủ của Anouk. Anouk luôn trở về đây sau những chuyến vào đời thất bại - thường sau khi công việc hoặc tình cảm đổ vỡ. Họ giữ căn phòng cho cô ta. Thật lạ khi nhìn cô ta ở đây, trong mái ấm gia đình, và trong phòng ngủ của một bé gái mười lăm tuổi. Nói cho rõ - Anouk giờ đây đã ba mươi hai tuổi, và mỗi lần cô ta dọn ra ngoài, cô ta lại thề sẽ không bao giờ quay lại, nhưng mọi chuyện lại cứ trở nên chua chát với cô ta, và cô ta chưa bao giờ cưỡng lại nổi việc quay về một thời gian, để thở.
Tôi đã đến vài căn hộ của Anouk, và luôn vào lúc cô ta đang tống khứ một gã đàn ông khinh bỉ cô ta ra khỏi nhà, hoặc đang giặt drap giường vì một gã đàn ông từng ăn nằm cùng cô đang cặp kè với người khác, hoặc đang đợi điện thoại của một gã đàn ông, hoặc không trả lời điện thoại vì một gã đàn ông đang gọi. Tôi nhớ một gã không chịu bỏ đi, gã này đã một hai đòi ngồi lì trong phòng ngủ của cô ta. Cuối cùng cô ta tống khứ gã bằng cách ném chiếc điện thoại của gã ra khỏi cửa sổ, và gã vội bám ngay theo nó.
Khi tôi vào phòng, Anouk đang thay quần áo trong chiếc tủ quần áo lớn, loại có thể đi vào được.
“Một phút nữa tôi ra ngay.”
Tôi ngó nghiêng căn phòng. Cạnh giường ngủ đặt một tấm ảnh của một người đàn ông có cái đầu vuông vức và đeo kính đen với làn tóc mai dài ăn đứt Elvis[48].
“Thằng cha kinh dị nào đây?”
“Anh ta thuộc về dĩ vãng rồi. Cậu ném nó vào thùng rác giúp tôi được không?”
Tôi đã mãn nguyện khôn xiết khi ném tấm ảnh của gã vào thùng rác.
“Chuyện gì xảy ra với gã này?”
“Tôi sẽ kể cho cậu nghe. Tôi thật xúi quẩy. Chuyện tình cảm của tôi lúc nào cũng rơi vào một trong hai trường hợp: hoặc là tôi yêu anh ta và anh ta không yêu tôi, hoặc là anh ta yêu tôi và anh ta lùn hơn bà ngoại của tôi.”
Tội nghiệp Anouk. Cô ta không chấp nhận nổi cảnh độc thân suốt đời và cô ta không chấp nhận nổi việc mình không chấp nhận nổi điều đó. Tình yêu vắng bóng một cách đọa đày trong đời cô ta, và cô ta đang cố hết sức để không đi đến kết luận rằng ba phần tám trong quãng đời tám mươi năm của cô ta đã thất bại. Cô ta thấy nhục nhã khi phải gia nhập đội quân những người phụ nữ độc thân bị ám ảnh với việc cố gắng không ám ảnh về nỗi ám ảnh độc thân của họ. Mà cô ta không thể thôi ám ảnh. Cô ta nay đã bước sang hàng băm rồi mà vẫn còn độc thân. Nhưng chuyện này không liên quan gì đến đồng hồ sinh học. Nó liên quan đến chiếc đồng hồ đang chạy khác - chiếc đồng hồ, Chiếc Đồng Hồ Lớn. Và trong khi cô ta luôn nhìn sâu vào lòng để tìm câu trả lời, đúng như những nhà hiền triết đã khuyên bảo, điều cô ta tìm thấy không phải là một lý do đơn lẻ, và không phải là cô ta bị kẹt trong một cái vòng luẩn quẩn, mà thật ra là một tập hợp những cái vòng luẩn quẩn dính vào nhau. Nói chung, cô ta luôn chọn nhầm người - hoặc là “những tên khốn tư sản tuổi trẻ chí lớn” hoặc chỉ là “những tên khốn”, hay, thường gặp hơn, một “người-không-chịu-lớn”. Thực ra, có một dạo cô ta dường như gặp toàn kiểu đàn ông không chịu lớn dưới nhiều bộ dạng khác nhau. Cô ta cũng có thói quen trở thành một người đàn bà nào khác chứ không phải là chính mình. Cô ta thuộc dạng người mà đàn ông thích được ăn nằm nhưng không muốn giữ quan hệ tình cảm. Cô ta giống một đứa con trai, không giống một đứa con gái. Và tôi không hiểu đặc điểm tâm lý đằng sau chuyện này, nhưng bằng chứng thực tế chứng minh điều đó: cô ta ham muốn nó quá mức. Song bởi vì dường như chẳng ai biết phải làm thế nào, nên ta cứ phải thử đánh bại động lực bí ẩn này bằng cách giả vờ như mình không muốn điều mà mình thực sự muốn.
Anouk bước ra khỏi tủ quần áo, trông thật lộng lẫy. Cô ta mặc một chiếc đầm màu xanh lục trong mờ in hoa và một chiếc áo chẽn màu đen bên dưới. Trông như cô ta đã cố tình mua chiếc áo nhỏ hơn hai số; nó để lộ từng đường cong trên cơ thể cô ta. Đó là những đường cong gợi cảm. Chúa ơi, cô ta thật khêu gợi, và nếu bạn có một trí tưởng tượng bình thường, bạn không thể nghĩ đến bất cứ điều gì khác ngoài việc ngủ cùng cô ta, nếu việc đấy chỉ để làm cô ta biến khỏi tâm trí bạn. Tôi thừa nhận tôi đã tưởng tượng đến cô ta trong lúc thủ dâm từ khi tôi mười bốn tuổi trở đi, kể từ khi cô ta chán bị gọi là cô ả giận dữ xỏ khuyên đầu trọc, mặc đồ Doc Martens. Đôi mắt xanh lục vẫn long lanh, nhưng sau nhiều năm cô ta đã nuôi mái tóc màu đen nên nó rất dài và suôn. Cô ta đã tháo những vòng khuyên và từ gầy tong như que củi trở nên đầy đặn và giờ đây thong thả dạo bước như một đám mây ngẫu hứng trong chiếc đầm bó sát. Dù cho tôi ở đó để giúp chống lại cơn trầm cảm và nguy cơ tự tử đến gần của bố, tôi vẫn không thể không nghĩ: Có lẽ đã đến lúc Anouk và tôi nên ngủ với nhau. Tôi có nên quyến rũ cô ta không? Bạn có thể quyến rũ một người đã chứng kiến bạn trải qua tuổi dậy thì không?
“Có lẽ chị nên nghỉ yêu một thời gian,” tôi nói.
“Nhưng tôi cũng chả muốn sống độc thân đâu. Tôi thích tình dục. Tôi đã ngủ với nhiều đàn ông và tôi muốn tiếp tục ngủ với họ. Tôi bảo cho mà biết, kẻ nào nói về nhục dục của loài người mà loại trừ đàn bà ra thì nên đến chỗ tôi một đêm để xem tôi làm chuyện ấy.”
“Tôi không nói là chị nên sống độc thân. Chị có thể tìm được một người tình, như người ta vẫn làm ở Pháp đấy.”
“Cậu biết không, đó không phải là một ý tồi. Nhưng tôi biết tìm một người tình không ràng buộc ở đâu cơ chứ?”
“Thì - và đừng có nói không ngay nhé - tôi thì sao?”
“Không.”
“Tại sao không?”
“Vì cậu giống như là con trai tôi vậy.”
“Không, tôi không phải. Chúng ta giống như chị em họ xa bí mật khám phá nhau.”
“Tôi chưa bao giờ khám phá cậu.”
“Chị nên nghĩ đến chuyện đó.”
“Thế còn bạn gái cậu thì sao?”
“Tôi nghĩ cô ấy hết tình cảm với tôi rồi. Chị thấy đấy, tôi cần người khích lệ để tự tin, và tôi nghĩ nếu chúng ta trở thành tình nhân thì sẽ rất có ích đấy.”
“Jasper, tôi không muốn thế.”
“Có lý do nào không?”
“Có.”
“Chị chưa bao giờ ngủ với ai như một cử chỉ thiện chí à?”
“Dĩ nhiên.”
“Hoặc là vì thương hại?”
“Thường xuyên.”
“Tôi sẽ không ngại nếu đó là làm tình từ thiện.”
“Chúng ta ngừng chủ đề này được không?”
“Tôi không ngờ chị ích kỉ và nhỏ mọn đến thế. Không phải chị từng xung phong vào Đội quân cứu tế một năm sao?”
“Gõ cửa từng nhà để quyên góp tiền, chứ không phải làm chuyện bậy bạ.”
Chúng tôi rơi vào thế bí. Ừm, tôi rơi vào thế bí.
“Đi nào, ngốc xít,” cô ta nói, và với Anouk dẫn đầu, chúng tôi lên đường đến sòng bạc Sydney.
***
Nói toạc móng heo nhé: bên trong sòng bạc Sydney trông tựa như Vegas đã có một đứa con vụng trộm với cái quần lót của Liberace[49], và đứa con ấy đã ngã cầu thang rồi đập đầu vào cạnh cái thuổng. Ngồi ở các chiếu bạc và trước những cỗ máy đánh bạc là đám đàn ông đàn bà căng thẳng và tuyệt vọng, trông như những con robot, chẳng có vẻ gì là đánh bạc cho vui. Trong lúc quan sát họ, tôi nhớ rằng sòng bạc này nổi tiếng với những vụ khách nhốt con trong xe lúc đánh bạc. Tôi đã đọc một bản tin về việc này, và tôi hi vọng tất cả những con người buồn bã, tuyệt vọng này hạ kính xe xuống một chút trong lúc họ đặt cược số tiền vay mượn của mình vào túi chính quyền, kẻ đã thu về lợi nhuận khổng lồ rồi sau đó trích một nửa phần trăm lợi nhuận ấy trở lại cộng đồng cho các dịch vụ tư vấn dành cho con bạc.
“Họ kia rồi,” Anouk nói.
Cô ta chỉ vào một đám paparazzi, doanh nhân, và chính trị gia. Rõ ràng Reynold Hobbs, một ông già bảy mươi tuổi đeo kính gọng vuông và có cái đầu tròn trĩnh, nhẵn nhụi giống Charlie Brown[50], đã làm theo lời khuyên rằng có thể sẽ tốt cho hình ảnh của ông ta trước công chúng nếu ông ta cố gắng đánh lạc hướng bằng cách trở thành “một gã bình thường như bất kì ai”, bởi ông ta đang còm lưng trước một chiếu bạc có giá cược tối thiểu 10 đô la. Trông cái vai xệ xuống của ông ta, cứ ngỡ ông ta đã thua sạch tư thế của mình ở ván cuối cùng. Anouk và tôi tiến đến gần hơn. Ông ta có thể là người giàu nhất nước Úc, nhưng trông ông ta không giống như giàu lên nhờ đánh bạc.
Con trai ông ta, Oscar Hobbs, đang ở cách đấy vài mét, thử vận may tại máy đánh bạc, giữ thẳng lưng như kiểu chỉ người nổi tiếng mới làm được - một người có thể bị chụp ảnh bất cứ lúc nào, tức là, một người không ngoáy mũi hoặc sờ mó bộ phận sinh dục của y. Tôi nhanh chóng tự cảnh báo nghiêm khắc: Đừng so sánh cuộc đời của mày với cuộc đời của hắn! Mày không có cơ hội đâu! Tôi nhìn quanh phòng để tìm kiếm một sự so sánh khả dĩ. Đằng kia. Tôi trông thấy ông ta: một lão già khú, răng tóc lơ thơ, cổ nổi nhọt, mũi như vỏ ốc xà cừ; lão có thể làm nguồn nương tựa cho tôi. Bằng không tôi sẽ gặp rắc rối. Còn lâu tôi mới sánh được với Oscar Hobbs, vì thực tế đã thừa nhận rằng với nữ giới hắn là tên khốn may mắn nhất trên đời. Từ những lần đọc trộm tạp chí lá cải, tôi đã nhìn thấy cả đoàn bạn gái của hắn - một đoàn dài, xinh đẹp đáng mơ ước. Nếu bạn nhìn thấy một vài em út mà hắn từng cặp kè, bạn sẽ ăn cánh tay mình lên đến tận cùi chỏ. Mẹ kiếp. Tôi thậm chí chỉ nghĩ đến là không chịu nổi. Hắn không phải dạng hoàng thái tử thích giao du xã hội; bạn sẽ không bao giờ gặp hắn tại những buổi khai trương nghệ thuật hoặc những quán bar hạng A hay những buổi chiếu phim ra mắt. Ồ mà dĩ nhiên, thỉnh thoảng bạn sẽ thấy góc cằm của hắn trên những trang xã hội của các tờ báo chủ nhật, nhưng ngay cả từ cái cách mà cái cằm nhìn ra bạn, bạn sẽ biết ngay rằng hắn bị chộp bất thình lình, như một tên trộm bị máy quay phim an ninh trong nhà băng làm bất ngờ. Nhưng còn các em xinh đẹp! Sau khi nhìn thấy ảnh họ, tôi đã về phòng mình và xé nát cái gối. Hơn một lần tôi xé nó nát vụn, nát vụn theo nghĩa đen, trong khi thực tình rất khó xé được một cái gối.
“Vậy chị muốn xử lý vụ này thế nào?” tôi hỏi Anouk.
“Chúng ta nên tấn công trên hai mặt trận. Một người xử ông bố, người kia xử đứa con.”
“Việc này sẽ chẳng đi đến đâu.”
“Cậu muốn Reynold hay Oscar?”
“Chẳng ai hết, nhưng tôi nghĩ tôi sẽ xử Reynold. Dù sao tôi cũng muốn hỏi ông ta một chuyện.”
“Được rồi. Nhưng tôi nên nói gì với gã con trai? Cậu nghĩ kiểu mở đầu nào sẽ có tác dụng?”
“Tôi không biết. Hãy giả vờ như hai người đã gặp nhau rồi.”
“Hắn sẽ nghĩ rằng tôi cố tình tán tỉnh hắn.”
“Vậy thì làm bẽ mặt hắn đi.”
“Làm bẽ mặt hắn?”
“Mổ xẻ hắn như cách mà chị vẫn thường làm đấy. Nói cho hắn biết tâm hồn hắn đang gặp vấn đề gì.”
“Làm sao tôi biết tâm hồn hắn đang gặp vấn đề gì?”
“Bịa ra. Bảo hắn tâm hồn hắn đã bị vấy bẩn mà càng lau sạch thì nó càng nhoe nhoét ra.”
“Thôi, như thế chẳng hay.”
“Thôi được. Vậy thì bảo hắn là hắn quá giàu đến độ hắn đã bị cắt đứt khỏi thực tại. Câu đó sẽ khiến hắn bận tâm. Người giàu ghét điều đó.”
“Nhưng hắn quả thực quá giàu đến độ hắn cắt đứt khỏi thực tại.”
“Anouk, tin hay không thì tùy, sự khó khăn tài chính thực ra không phải là thực tại chính thức đâu.”
“Thôi đừng cãi nhau nữa. Ta bắt tay vào việc nào.”
“Được thôi. Chúc may mắn.”
Tôi tiến đến cái bàn nơi Reynold Hobbs đang ngồi còm lưng, nhưng chẳng còn chiếc ghế trống nào. Tôi đứng xớ rớ, thở vào cổ của những người đang chơi. Một tay bảo vệ nhìn tôi cảnh giác, mà cũng phải thôi. Tôi đang hành động khả nghi, lẩm bẩm với mình, “Mình sẽ nói cái quái gì với ông trùm truyền thông này? Làm sao mình thuyết phục được lão gặp bố mình? Như một nghĩa cử từ thiện? Reynold Hobbs là một nhà hảo tâm nổi tiếng, chắc chắn rồi, nhưng kiểu hảo tâm của lão là kiểu từ thiện mà bạn phải gọi điện thoại đến xin xỏ.”
Một nhà báo ngồi cạnh Reynold đã hoàn tất cuộc phỏng vấn, đứng dậy và lắc tay. Tôi chớp cơ hội, thu mình ngồi cạnh lão. Reynold mỉm cười thân thiện với tôi, nhưng tôi lập tức cảm thấy nỗi bực dọc của lão. Vài người không có khiếu nói chuyện với bất kì ai dưới hai mươi tuổi, và bạn càng gần không tuổi thì nỗi bực dọc trong họ càng lớn. Lão quay người đi chỗ khác và lập tức dấn vào cuộc trò chuyện với luật sư của lão về co chữ trung bình trong một hợp đồng pháp lý. Reynold muốn đưa thêm vào một điều khoản gì đấy với kiểu chữ Times New Roman nhưng thu nhỏ nó xuống bốn lần. Luật sư của lão đang tranh luận mặt đạo đức của ý định này, và lập luận rằng mọi kiểu chữ không được nhỏ hơn cỡ số bảy nếu muốn “chơi đúng luật”.
“Xin thứ lỗi, ông Hobbs?” tôi nói.
Lão chậm rãi quay lại, như để nói “Mọi thứ mà tôi hà hơi lên đều biến thành vàng, vì vậy tôi đang ban cho cậu một đặc ân chỉ với mỗi việc nhìn về phía cậu đấy,” và khi mắt ông ta chạm mắt tôi, chúng chạm với một sự yên lặng tuyệt đối, khiến tôi biết rằng dù muốn gì đi nữa, bất chấp trạng thái gần kề của chúng tôi, lão vẫn là người không thể tiếp cận.
“Có việc gì?”
“Ông làm chủ một số tờ báo của chúng ta, có phải không ạ?”
“Thì sao?”
“À, tôi nghĩ là quyền lực có thể tha hóa, thưa ông Hobbs. Nhưng điều ông làm không tha hóa - bán bệnh tiêu chảy không phải là tha hóa, nó chỉ là một sự lãng phí quyền lực đáng tiếc. Với tất cả tầm ảnh hưởng mà ông có, với những lựa chọn không giới hạn mà ông có, ông có thể xuất bản bất kì thứ gì, vậy mà ông lại chọn xuất bản mồ hôi nách. Tại sao?”
Reynold chẳng biết nói gì. Tôi ngó sang xem Anouk đang làm ăn thế nào. Trông cô ta có vẻ làm tốt hơn tôi nhiều. Oscar đang mang vẻ mặt lúng túng. Tôi thắc mắc cô ta đang nói gì.
Reynold vẫn phớt lờ tôi. Tôi nói, “Thôi được, ông muốn bán báo. Tôi hiểu rồi. Ông bán đờm dãi tươi vì công chúng có sở thích bất tận về đờm dãi tươi. Nhưng ông có thể làm cho mấy tờ báo của ông tự do hơn một chút được không? Thử dán lên một phần tư trang báo những bài học uyên bác của Tây Tạng xen giữa những dòng tiêu đề xào lại và mục chiêm tinh hằng ngày được không? Liệu nó có giết chết doanh số không?”
Bàn tay gã bảo vệ đặt trên vai tôi. “Đi nào,” gã nói. “Ra ngoài.”
“Không sao đâu,” Reynold nói, mắt vẫn dán vào tôi.
Tôi được nước làm tới. “Lấy ví dụ vụ xào lại bài viết về Frankie Hollow theo kiểu giật gân chẳng biết thẹn nhé. Ông chẳng có thêm tin tức nào sâu hơn những gì đã đăng trong ngày đầu tiên, nhưng ông vẫn ném nó ra trang nhất, nhằn tới nhằn lui, lúc thì theo quan điểm của thằng cha đáng ghét trong toilet khách sạn, lúc thì theo quan điểm của một con chim bay ngang cửa sổ. Nói thật nhé, ông Hobbs, giống như đọc phô mai thối hoắc vậy. Làm sao ông sống nổi với mình? Chắc ông phải thuê người để soi gương hộ ông.”
“Nghe ta đây, con trai, bất kể cậu là ai. Báo chí là để đưa tin, không phải để khai sáng tâm hồn con người. Báo lá cải là giật gân bởi vì cuộc sống con người chẳng có gì giật gân. Đó là điểm mấu chốt. Cái chết của một người nổi tiếng là tin bán báo chạy nhất mà chúng ta có. Cậu có biết tại sao không? Vì khi đó dòng tiêu đề giống như có nghĩa là: ‘Chúa Cũng Đã Chết.’ Cậu hiểu ý tôi không?”
“Vâng. Tôi vay ba mươi nghìn đô la được không?”
“Để làm gì?”
“Để đi phiêu bạt giang hồ khắp chốn. Mười nghìn là đủ để tôi khởi hành.”
“Cậu bao nhiêu tuổi?”
“Mười bảy.”
“Cậu không nên đi cầu xin của bố thí. Cậu nên có cảm hứng để tự làm điều đó.”
“Mức lương tối thiểu chẳng gây cảm hứng tẹo nào.”
“Ừ, thì, ta đã khởi đầu từ mức lương tối thiểu. Ta chưa bao giờ nhận của bố thí. Ta lao động để có những thứ mình muốn.”
“Đó là một bài diễn văn hay đấy. Thật tiếc ông không thể tự đọc điếu văn cho mình.”
“Được rồi. Sự kiên nhẫn của ta sắp cạn.”
Lão gật đầu với tay bảo vệ, gã này siết cổ tôi lôi ra ngoài.
“Còn một chuyện nữa!” tôi hét lên.
Reynold thở dài, nhưng tôi biết lão đang thắc mắc tôi định nói gì. “Nói nhanh đi,” lão bảo.
“Bố tôi muốn gặp ông.”
“Bố cậu là ai?”
“Martin Dean.”
“Ta chưa từng nghe nói đến ông ta.”
“Tôi đâu có nói ông ấy nổi tiếng. Tôi chỉ nói ông ấy muốn gặp ông.”
“Về việc gì?”
“Sao ông không để ông ấy đích thân nói với ông?”
“Vì ta không có thời gian. Lịch ta kín mít rồi.”
“Ông đủ giàu có mà. Hãy mua một cái lịch to hơn.”
Reynold lại gật đầu, và tay bảo vệ lôi tôi ra khỏi bàn. Có người chụp ảnh tôi trong lúc tôi được “hộ tống” ra ngoài. Tôi chờ Anouk ở bậc tam cấp sòng bạc trong suốt một giờ, và để giết thời gian, tôi lượn quanh bãi đỗ xe để xem có đứa trẻ nào bị chết ngạt không. Chẳng có đứa nào.
Tôi quay trở lại đúng vào lúc Anouk bước ra. Trước đó tôi chưa bao giờ sửng sốt, vì thế tôi không biết cảm giác sửng sốt là như thế nào và tôi thậm chí còn không tin rằng con người có thể sửng sốt ở thế giới ngoài sách vở. Dù vậy, tôi đã sửng sốt. Theo sát phía sau Anouk là Oscar và Reynold Hobbs.
“Và đây là Jasper,” cô ta nói.
“Chúng tôi gặp rồi,” Reynold nói, thoáng nhếch mép.
“Rất vui được gặp lại ông,” tôi lên tiếng, và tôi ném cho Oscar nụ cười ấm áp nhất trong kho nụ cười của mình, nhưng đôi mắt hắn nhận ra mặt tôi chẳng có gì đáng để lưu lại, vì thế hắn bỏ qua nó.
“Chuyện này là thế nào?” tôi thì thầm với Anouk.
“Họ sẽ đi cùng chúng ta,” cô ta đáp, ngọ nguậy đôi lông mày.
“Đến đâu?”
“Nhà.”
VIII.
Trong chiếc limousine dài màu đen, cả Reynold và con trai suốt buổi nhìn ra ngoài cửa sổ. Khuôn mặt nghiêng bảy mươi lăm độ của Oscar khiến tôi sững sờ gần suốt chuyến đi. Thật là một gánh nặng, tôi nghĩ. Hãy tưởng tượng giàu nứt đố đổ vách và đẹp trai một cách không tưởng. Mặc dù vậy, hắn ứa ra một nỗi buồn mà tôi không thể lý giải.
“Tôi đã nhìn thấy ảnh của anh trên tạp chí,” tôi nói.
“Vậy à?”
“Và anh luôn có cô người mẫu bốc lửa nào đó trong vòng tay.”
“Thì sao?”
“Thì tôi có thể kiếm đâu ra một vòng tay như thế?”
Oscar bật cười và lần đầu tiên nhìn tôi. Mắt hắn có màu cà phê và bất động.
“Tên cậu là gì ấy nhỉ?”
“Jasper.”
Hắn gật đầu, rõ ràng đồng tình rằng tên tôi là Jasper.
“Vậy cảm giác suốt ngày bị theo dõi là như thế nào?” tôi hỏi.
“Cậu quen với nó.”
“Nhưng anh không cảm thấy bị bó buộc sao?”
“Không hẳn.”
“Anh không nhớ sự tự do à?”
“Tự do?”
“Để tôi nói theo cách này nhé. Anh không thể moi của quý ra và vung vẩy nó trên một chuyến tàu công cộng mà không bị đưa lên tin trang nhất. Tôi thì có thể.”
“Tại sao tôi lại muốn vung vẩy của quý của mình trên một chuyến tàu công cộng?” Oscar hỏi tôi. Đó là một câu hỏi hay. Tại sao có người nào lại muốn làm thế?
Reynold Hobbs cất tiếng ho, nhưng đấy không đơn thuần là hành động thông phổi. Tiếng ho ấy có dụng ý kéo tôi xuống. Tôi mỉm cười. Tôi nghĩ, ông có thể có hết tiền của trên thế gian, ông Hobbs ạ, ông có thể sở hữu toàn bộ vũ trụ và các phần tử của nó, ông có thể quan tâm đến những ngôi sao và thu lợi từ mặt trăng, nhưng tôi thì trẻ còn ông thì già và tôi có thứ mà ông không có - tương lai.
***
“Tôi đã nghe nói đến nơi này. Nó là một mê cung, phải không?” Reynold nói trong lúc chúng tôi đi bộ băng qua rừng rậm.
“Làm sao ông nghe nói đến nó?” tôi hỏi, và lão nhìn tôi như thể tôi là một cái đầu teo tóp trong một cuộc triển lãm Amazon. Với lão, câu hỏi của tôi cũng giống như hỏi Chúa làm sao ông ta biết Adam và Eve đã ăn trái táo.
“Bố của cậu chắc chắn sẽ ngạc nhiên,” Anouk nói, mỉm cười nhìn tôi.
Tôi không mỉm cười đáp lại. Tôi đang sợ hãi trước cảnh đó. Thông thường bố không thích có khách đột xuất, vốn dĩ là chuyện bình thường bởi ông chưa từng có vị khách đột xuất nào, nhưng chẳng thể biết được ông sẽ phản ứng ra sao. Điều Anouk không hiểu là, việc bố từng viết vào sổ rằng ông muốn thì thầm những ý tưởng vào một cái tai vàng khổng lồ không có nghĩa là ông đã chẳng quên béng điều mình viết hai phút sau đó, hoặc là mười phút sau ông không viết trong một quyển sổ khác rằng tất cả những gì ông muốn là phóng uế vào một cái tai vàng khổng lồ. Chẳng thể nào biết.
Chúng tôi vào nhà. May mắn thay, nó không phải là một cái ổ quạ đáng tởm, chỉ hơi gớm ghiếc một chút: những quyển sách, những tờ báo vương vãi, thức ăn ôi thiu của vài ngày, không có gì quá khó chịu.
“Ông ta thực sự là một thiên tài,” Anouk nói, tựa như chuẩn bị tinh thần cho họ gặp kiểu thiên tài đi vệ sinh trên bàn uống cà phê.
“Bố!” tôi gọi to.
“Cút đi!” câu trả lời khàn khàn của ông cất lên từ phòng ngủ. Reynold và Oscar trao nhau mẩu đối thoại câm bằng mắt.
“Có lẽ cậu nên vào và đưa ông ấy ra,” Anouk nói.
Khi Reynold và Oscar loay hoay trên ghế sofa, không chịu ngồi xuống tấm đệm, tôi đi vào tìm bố.
Ông đang nằm trên giường, úp mặt xuống trong tư thế con sao biển.
Tôi nói, “Reynold Hobbs và con trai ông ta đến đây để gặp bố.”
Bố xoay đầu về phía tôi và nở nụ cười khinh khỉnh. “Con muốn gì?”
“Con không đùa đâu. Anouk nghĩ bố đang bước vào một giai đoạn trầm cảm tự sát và lo lắng cho bố vì thế cô ta đọc hết nhật kí của bố và tìm thấy đoạn mà bố muốn thì thầm những ý tưởng lớn vào cái tai vàng khổng lồ và vì thế cô ta thuyết phục con đi với cô ta để tìm cái tai to nhất, vàng nhất ở đất nước này và thật kinh ngạc cô ta đã lôi nó theo và giờ đây họ đang đợi gặp bố ở phòng khách.”
“Ai đang đợi?”
“Reynold Hobbs và con trai ông ta, Oscar. Họ đang đợi nghe những ý tưởng to tát của bố.”
“Con đang phóng uế vào người bố.”
“Không. Bố tự đi mà nhìn lấy.”
Bố nhấc mình khỏi giường và hé nhìn qua góc phòng. Nếu ông nghĩ làm thế mà không bị phát hiện, thì ông đã nhầm. Reynold chậm rãi xoay đầu về phía chúng tôi và gãi vu vơ- ai mà biết lão ngứa thật hay chỉ đơn giản là làm ra vẻ? - và khi chúng tôi tiến đến, lão lấy tay che mắt, cứ như bố và tôi là ánh sáng lân tinh chói lòa quá mức chịu đựng của mắt người.
“Chào,” bố nói.
“Chào,” Reynold đáp.
“Anouk nói với chúng tôi rằng ông có vài ý tưởng vĩ đại chưa được công nhận mà ông nghĩ chúng tôi sẽ quan tâm,” Oscar nói.
“Chúng tôi không lãng phí thời gian của mình ở đây, đúng không nhỉ?” Reynold hỏi.
“Không, ông không lãng phí thời gian của ông,” bố nói. “Tôi thề trên sinh mạng con trai mình.”
“Kìa bố,” tôi nói.
“Hãy cho tôi một phút để tôi gom các ghi chú của mình lại. Ừm, Anouk, cô vào đây một chốc được không?”
Bố và Anouk đi vào phòng ngủ của ông rồi đóng cửa lại. Tôi muốn đi theo họ vào trong, nhưng tôi không muốn Reynold và Oscar nghĩ rằng tôi sợ ở một mình với họ, dù tôi quả là sợ ở một mình với họ. Tất cả chúng tôi làm như gật đầu với nhau, nhưng sau vài ba giây thì việc gật đầu cũng trở nên nhàm chán. Vì thế tôi nói, “Chả biết họ làm gì ấy nhỉ?” và đi vào phòng ngủ, ở đấy Anouk đang ngồi trên giường bố trong khi ông đang quỳ gối trên sàn nhà, cúi xuống một bộ sưu tập những quyển sổ cũ màu đen, điên cuồng lật qua các trang. Đó là một cảnh tượng khó chịu. Tôi có thể nghe thấy tiếng ông rít lên: ông đang xì ra sự lo lắng. Anouk đưa mặt sang tôi, một khuôn mặt tràn ngập sợ hãi.
“Con đứng đấy làm gì?” bố mắng tôi mà không nhìn lên.
“Bố xong chưa?”
“Ông ấy chưa chọn được ý tưởng nào hết,” Anouk nói.
“Họ đang đợi.”
“Bố biết!”
“Bố đã thề trên sinh mạng của con, nhớ chứ?”
“Được rồi,” Anouk nói, “mọi người bình tĩnh lại nào.”
Có tiếng gõ cửa.
“Tắt đèn đi!” bố khẩn khoản thì thào với tôi.
“Bố, họ nhìn thấy chúng ta đi vào đây mà.”
“Tại sao bố phải quan tâm chứ? Chuyện này thật ngu ngốc.”
Bố nhặt lên một mớ sổ tay và đi vào phòng khách. Anouk và tôi đi theo. Bố ngồi xuống ghế bành, chậm rãi lật một quyển sổ, tặc lưỡi. “Vậy...vâng...cái ý tưởng... tôi có một vài ý tưởng mà tôi nghĩ rằng các ông sẽ quan tâm...”
Ông lật đến trang cuối rồi đóng sập lại - có vẻ như thật ra chẳng có ý tưởng nào trong đó cả, vì ông lôi ra một quyển sổ màu đen khác, giống quyển đầu tiên. Và một lần nữa, lật qua các trang, tặc lưỡi, nhãn cầu mướt mồ hôi. Quyển sổ ấy cũng chẳng giúp được gì. Một túi quần khác chứa một quyển sổ nhỏ màu đen thứ ba. “Tôi chỉ... ồ vâng, đây là thứ mà ông sẽ - không, có lẽ là không... Đợi đã... chỉ một giây nữa thôi...một giây nữa... Tôi xin thề... năm giây... - năm, bốn, ba, hai, một, và người thắng cuộc là...ừm, chỉ một giây nữa.” Một nụ cười sâu róm bé tí trườn lên mặt Reynold. Tôi muốn lấy một cái chân voi giày xéo nó. Ngay cả khi thoải mái nhất, tôi vẫn ghét nhìn cảnh bố lúng túng trong địa ngục thành quách của chính ông, nhưng trước sự chế nhạo của người ngoài, điều đó thật không thể chịu nổi. Bố đang điên cuồng vùng vẫy thoát khỏi trạng thái tê liệt của sự do dự này thì Reynold búng ngón tay. Hai lần. Đó hẳn là cách người giàu giải quyết mọi chuyện, tôi thầm nghĩ. Nó có tác dụng. Bố dừng lại và lập tức đọc lên những gì viết trên một trang giấy mà ông tình cờ mở ra vào đúng khoảnh khắc ấy.
“Ý tưởng cho một nhà hàng mang phong cách ăn thịt người - mọi món ăn đều mang hình dạng giống một phần của xác ướp.”
Ý tưởng ấy lơ lửng trong không khí. Nó thật ngu ngốc. Không ai phản ứng, vì chẳng có lý do gì để phản ứng. Mắt bố lại dán vào quyển sổ của ông và tiếp tục tìm kiếm. Reynold không búng ngón tay nữa. Lão không cần làm thế. Bố đã bắt đầu dè chừng những ngón tay này và dừng lại ngẫu nhiên ở một ý tưởng rồi đọc lớn lên.
“Giáo dục ma túy - buộc học sinh sống một tuần với một con nghiện trong một căn nhà hoang sắp bị giật sập. Đứa trẻ sẽ xem con nghiện tiêm thuốc, nôn mửa, trộm đồ nhà, quằn quại đau đớn, và cuối cùng chơi thuốc quá liều. Đứa trẻ sẽ viết báo cáo năm trăm chữ và đọc nó tại đám tang của con nghiện, đây là một phần trong chuyến tham quan hằng ngày của trường. Mỗi khi một con nghiện chết, lớp học phải chôn cất y, cho đến khi mối liên hệ giữa heroin và cái chết ăn sâu vào đầu óc non nớt của lũ trẻ.”
Ông chẳng suy nghĩ gì. Ông chỉ đang phun ra ý tưởng mà thôi. Mà chẳng có cái nào hay ho cả.
“Đưa ra chế độ cưỡng bách phục vụ cộng đồng theo đó chúng ta để người vô gia cư sống trong nhà của các chủ ngân hàng và đưa những người mắc bệnh tâm thần đi khỏi đường phố và cho họ đại tiện trong phòng tắm của những người làm trong ngành quảng cáo.”
“Tiếp,” Reynold khẽ nói.
“Gắn mác điện tử cho những người nổi tiếng giống như gắn cho gia súc, để khi họ xuống phố...”
“Tiếp.”
“Dựa trên lượng khí thải xe ô tô và việc dùng nước, bình phun, và các nguyên liệu không thể tái chế, tính toán xem mỗi cá nhân gây thiệt hại bao nhiêu cho môi trường và lưu lại theo đích danh tên người đó rồi kết án anh ta hoặc cô ta số giờ hoặc tiền tương đương để làm một việc khắc phục môi trường.”
Mắt của Reynold nhấp nháy chỉ đủ để bạn biết rằng ông ta đang suy nghĩ. “Làm sao anh kiếm tiền từ việc đó?”
“Ông không thể kiếm tiền từ việc đó.”
“Tiếp.”
“Biến mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con ở đất nước này thành triệu phú.”
Reynold không nói gì, và ông ta biểu lộ điều đó bằng đôi mắt. Sự khinh khỉnh của ông trở thành một chủ thể khác trong căn phòng. “Ngay cả khi ông làm được điều đó,” ông ta nói, “tại sao ông lại muốn thế?”
Đó là một câu hỏi hay. Bố vừa định trả lời thì Reynold nói, “Được rồi, Martin. Chúng tôi đã nghe ông. Giờ tôi muốn ông nghe chúng tôi - như thế có công bằng không?”
“Được thôi.”
“Chúng tôi muốn làm một chương trình truyền hình đặc biệt về Terry Dean. Chuyện thật, ông hiểu chứ? Những chuyện mà chúng tôi chưa từng nghe. Có thể là một chương trình nhiều kì. Trong hai đêm hoành tráng. Chuyện mà anh chưa từng nghe đến.”
Tên của em trai khiến bố trơ ra như bị đóng gói trong nước đá. “Vậy thì ai đang ngăn cản ông?” ông nói, đầy uất ức.
“Chính ông. Chúng tôi đã có các báo cáo của cảnh sát và truyền thông trong khoảng thời gian ấy, nhưng những người khác từng ở đó đều đã chết trong trận hỏa hoạn. Ông là người trong cuộc cuối cùng. Chúng tôi không thể làm thế nếu không có sự đóng góp của ông. Có quá nhiều điều chúng tôi không biết.”
“Có phải vì vậy mà ông đến đây?”
“Đúng.”
Vậy ra đây là cách Anouk thuyết phục hai đại gia truyền thông này đến nhà và lắng nghe những ý tưởng điên rồ của bố tôi. Thật là một bước tính toán sai lầm! Tất cả chúng tôi đều ngồi đấy trong khoảng thời gian dài vô tận của sự im lặng kinh khủng đáng sợ, suốt thời gian đó tôi e rằng bố có thể sẽ tìm cách siết từng cái cổ trong phòng. Ông nhắm mắt, rồi lại mở ra. Sau khi thêm vài phút trôi qua và bố rõ ràng sẽ không nói một lời nào nữa, Oscar lên tiếng, “Thôi, chúng tôi đi đây.”
Khi họ đã về, bố đứng dậy khỏi ghế giống như được nhấc lên, bước ra khỏi nhà, và biến mất vào mê cung. Anouk chạy theo ông. Tôi không nhúc nhích suốt một giờ, bất động trước viễn cảnh bố sẽ tự tử hoặc làm điều gì đấy dại dột khiến ông lại phải vào ở một thời gian trong bệnh viện tâm thần, và tôi cảm thấy xấu hổ khi nói rằng ý nghĩ về những điều đáng sợ này làm tôi hoảng hốt hoặc buồn phiền thì ít nhưng lại khiến tôi khóc thì nhiều. Tôi phát ốm vì bố đến như vậy đấy.
IX.
Tôi đã không gặp hoặc nghe tin gì từ Hỏa ngục trong gần một tuần. Tôi chơi trò chờ đợi với cái điện thoại và đã thua cuộc. Trong tâm trí tôi, tôi đã trở thành một người mang thai hộ kì lạ cho cô ấy, một đại diện bằng chất dẻo. Cái điện thoại im lặng vì cô ấy im lặng. Tôi bắt đầu ghét cái điện thoại, tựa như cô ấy đã gửi nó đến tôi làm phái đoàn đại diện cho cô ấy vì cô ấy quá quan trọng không thể tự đến được.
Nhẩn nha trong mê cung, tôi quyết định quấy rầy Anouk. Không lâu sau khi chúng tôi dọn về nhà này, bố đã cho cô ta một phòng trống để dùng làm xưởng điêu khắc. Không những vừa quyến rũ vừa phiền toái, Anouk còn là một nghệ sĩ, một nhà điêu khắc. Cô ta rất say mê khắc họa sự khuất phục của nữ giới, sự nhu nhược của nam giới, và sự thăng tiến liên tục của nữ giới lên một trình độ cao hơn về nhận thức. Điều đó có nghĩa là, căn phòng đầy ngập những âm đạo và dương vật bị cắt bỏ. Đó là một sự chắp vá lẻ mẻ những cơ quan sinh dục; có những dương vật mỏng ỉu xìu ăn mặc tả tơi, dương vật máu me thiếu sinh khí được làm giống như những người lính tử nạn trên một chiến trường ảm đạm, dương vật có nút thắt quanh thân, những bức tranh vẽ bằng than các dương vật hoảng hốt, dương vật rầu rĩ, dương vật khóc lóc tại tang lễ của những dương vật đã chết... nhưng chúng chẳng sánh vào đâu so với các âm đạo! Âm đạo có cánh, âm đạo bước lên vị trí cao hơn, âm đạo lấp lánh với ánh sáng vàng, âm đạo mọc trên cuống màu xanh với những cánh hoa màu vàng mọc ra ở nơi lông mu, âm đạo với những cái miệng cười toe toét; có những âm đạo bằng đất sét nhảy múa, âm đạo thạch cao hân hoan, âm đạo bằng nến hạnh phúc với bấc giống như một sợi dây tampon. Những từ kinh khiếp nhất mà bạn có thể nghe được trong nhà chúng tôi đến từ miệng Anouk khi ngày sinh nhật của bạn sắp đến. “Tôi sẽ làm cho cậu một món quà,” cô ta nói, và không nụ cười nào đủ rộng để che giấu đại dương sợ hãi đang sôi sùng sục bên dưới.
Khi tôi đến nơi, Anouk đang nằm trên sofa làm bảng hiệu CỨU LẤY RỪNG GIÀ. Tôi chẳng buồn bận tâm hỏi xem đó là khu rừng nào.
“Ê, tối nay cậu rảnh không?” cô ta hỏi.
“Hôm nay không phải ngày để bảo tôi cứu cái gì,” tôi đáp. “Cảm xúc của tôi lúc này là muốn nói về sự tàn phá hàng loạt hơn.”
“Không phải việc đấy. Tôi sẽ phụ trách ánh sáng cho một vở kịch.”
Đương nhiên cô ta đang làm thế. Anouk là người bận rộn nhất mà tôi biết. Cô ta bắt đầu mỗi ngày với việc lập một danh sách dài những điều cần làm, và đến cuối ngày thì đúng là làm xong thật. Cô ta lấp đầy từng phút trong đời bằng những cuộc hội họp, biểu tình, yoga, điêu khắc, tái sinh, reiki[51], các lớp khiêu vũ; cô ta gia nhập các tổ chức, cô ta từ bỏ các tổ chức trong lúc tức giận; cô ta phát tờ rơi và vẫn xoay xở được để nhét mình vào các mối quan hệ thảm họa. Hơn bất kì người nào tôi từng gặp, cô ta có một cuộc đời gắn chặt với hoạt động.
“Tôi không biết, Anouk à. Đó có phải là một vở kịch chuyên nghiệp không?”
“Ý cậu là sao?”
Ý tôi là sao? Ý tôi là tôi tôn trọng quyền của bất kì ai đứng trên sân khấu và nói bằng giọng điếc tai, nhưng điều đó sẽ không giúp làm cho đêm diễn suôn sẻ. Từ kinh nghiệm trước đây, tôi có thể nói mà không gây tổn thương ai rằng bạn bè của Anouk đã đẩy nhà hát nghiệp dư xuống một tầm thấp mới và không hiểu nổi.
“Bố có nói chuyện với chị không?” tôi hỏi.
“Dĩ nhiên.”
“Tôi nghĩ sau đêm hôm nọ ông phải có ý định giết quách chị đi chứ.”
“Không hề. Ông ấy ổn rồi.”
“Ông ấy ổn rồi á? Tôi cứ nghĩ ông ấy bị trầm cảm và muốn tự sát.”
“Vậy cậu có đến xem kịch hay không? Nói thật, không phải tôi đang cho cậu một lựa chọn đâu. Cậu sẽ đi, thế thôi.”
***
Trên đời có nhà hát, có nhà hát nghiệp dư, và rồi có một nhóm người đâm sầm vào nhau trong một gian phòng tối và buộc bạn trả tiền cho cái quyền được khúm núm trong hai giờ. Cái nhà hát này thuộc loại đó, và từng giây đều gây bức bách.
Anouk chịu trách nhiệm điều khiển một chiếc đèn pha, và cô ta chiếu nó quanh sân khấu như thể đang tìm kiếm một tù nhân trèo tường vượt ngục. Bốn mươi phút đã trôi qua và tôi đã làm kiệt sức mọi trí tưởng tượng của mình về một thảm họa bất ngờ, vậy là tôi ngọ nguậy trên ghế và nhìn sang khuôn mặt của khán giả. Những khuôn mặt tôi thấy xem chừng đang thưởng thức vở kịch. Tôi hoang mang không thể lý giải nổi. Rồi sau đó tôi thực tình nghĩ rằng đôi mắt tôi đang lừa bịp mình: ngồi ở dãy cuối của khán phòng, vắt vẻo trên cạnh ghế, cũng có vẻ như đang thưởng thức vở kịch, là Oscar Hobbs.
Một tiếng cười lớn không tin nổi từ một diễn viên khiến tôi phân tâm. Đó là tiếng cười giả tạo tệ nhất mà tôi từng nghe, và tôi phải xem kẻ nào chịu trách nhiệm. Trong hai mươi phút sau đó, tôi bị nhân vật phụ này mê hoặc - nụ cười giả tạo của y, vài màn cau mày trợn mắt buồn cười, rồi đến cả một cảnh khóc lóc không một giọt nước mắt - và khi vở kịch kết thúc, đèn bật lên, khán giả vỗ tay (có lẽ thật lòng) và tôi kịp nhìn lướt qua căn phòng để thấy Oscar Hobbs lẻn ra ngoài cửa hậu.
Ngày hôm sau trên tờ báo buổi sáng, thật ngạc nhiên khi có một bài phê bình vở kịch. Nó làm kinh ngạc tất cả những ai liên quan đến khâu sản xuất - một vở kịch nhỏ kém cỏi trong một nhà hát hôi hám bẩn thỉu thường không thu hút các cây bút bình luận chuyên nghiệp nhiều bằng thu hút người vô gia cư đến để được phát xúp, và vì có quá ít niềm tin vào tính chuyên nghiệp của tác phẩm của mình, ban tổ chức đã chẳng buồn thông báo cho giới truyền thông. Điều kì lạ và đáng ngờ nhất không phải là bản thân bài phê bình mà nội dung của nó: nó chỉ tập trung vào mỗi khâu ánh sáng của vở kịch: “vô cùng sinh động”, “đầy cảm xúc và lôi cuốn”, và “táo bạo và hư ảo”. Ai đọc xong cũng công nhận rằng đó là thứ ngớ ngẩn nhất mà họ từng xem. Dàn diễn viên, đạo diễn, và tác giả kịch bản đều không được nhắc đến. Anouk bị sốc vì là người duy nhất được đề cập đến trong bài viết lẫn vì phản ứng xấu xí và trẻ con của các đồng nghiệp, họ tấn công cô tới tấp, buộc tội cô đã mồi mớm cho bài bình luận, đút lót nhà báo, và “khoe mẽ với cái đèn pha”.
Anouk rất bối rối, còn tôi thì không. Tôi đã trông thấy Oscar Hobbs tại khán phòng, và không khó để nhận ra bàn tay của anh ta trong toàn bộ chuyện này. Tôi kết luận gì từ việc đó? Chẳng có gì ngoài cảm giác buồn cười. Các bậc thần linh có thể bước xuống và nhổ nước bọt lên đạo đức như tất cả chúng ta, phải không? Anouk sở hữu một thân hình khiến cho gã đàn ông nào cũng phải đắm đuối, và Oscar Hobbs dù gì cũng là con người. Như tôi đã nói, chuyện này thật buồn cười, chỉ thế thôi, và trong khi tôi khoái chí quan sát sự mụ mị của gia đình, bạn bè, và bạn đồng trang lứa của mình, thì tôi lại không thể giữ bí mật được quá lâu. Vì vậy đêm hôm ấy, sau khi Anouk gác điện thoại sau một cuộc cãi vã dài với nhà sản xuất vở kịch, tôi kể với cô ta.
“Sao cậu không nói cho tôi biết?” cô ta gào lên.
“Tôi vừa làm đấy thôi.”
Cô ta rúm ró mặt lại khiến cho mắt, mũi và miệng trông như quả cam.
“Hắn ta muốn cái quái gì nhỉ?” cô ta khẽ nói.
Tôi ra dấu chỉ vào người cô và nói, “Đoán thử xem.”
“Nhưng hắn có thể có được bất kì người nào hắn muốn!”
“Có lẽ vì chị đã nói gì đó với hắn ở sòng bạc. Chị nói gì?”
“Chả có gì.”
“Thôi nào.”
“Được rồi,” cô ta nói. “Tôi bảo hắn là tâm hồn hắn đã bị lấm bẩn mà càng lau sạch thì càng nhoe nhoét thêm.”
***
Hai ngày sau tôi đang ở chỗ làm, đứng bên ngoài tòa nhà hút thuốc với sếp tôi, Smithy, và tôi đang nghĩ đến chuyện sẽ chóng bỏ việc và sẽ không bao giờ tha thứ cho mình nếu không công bố những khuyết điểm của các đồng nghiệp lúc bỏ đi ra. Tôi đang tự hỏi liệu họ có tổ chức cho mình một buổi tiệc ăn mừng chuyện tôi bỏ việc chỉ vì một phút bực tức thì trông thấy một chiếc Porsche Spyder trờ tới khu cấm dừng xe và dừng lại ở đó. Đó là loại xe mà James Dean[52] đã chết trong đó. Chiếc xe rất đẹp. Tôi cũng sẽ chết trong đó, nếu tôi có đủ tiền mua nó.
Smithy nói, “Ngắm cho sướng mắt đi.”
“Tôi đang ngắm đây.”
Oscar bước ra khỏi xe và đi về phía chúng tôi.
“Jasper.”
“Anh là Oscar Hobbs!” Smithy sửng sốt nói.
“Đúng vậy,” hắn ta đáp lại.
“Chắc anh phải bực mình vì chuyện đó khi làm người nổi tiếng nhỉ,” tôi nói. “Mọi người nói cho anh biết tên của anh là gì.”
“Jasper. Tôi nói chuyện với cậu một phút được không?”
“Được chứ,” tôi đáp và, quay sang Smithy, nói xin thứ lỗi. Smithy nhiệt tình gật đầu với tôi, vẫn còn mang bộ mặt sửng sốt ấy, bộ mặt trông như ông ta vừa mới tìm ra một âm hộ giữa mớ bộ phận sinh dục của mình.
Oscar và tôi bước vào một khoảng đất nhỏ ngập nắng. Trông hắn có vẻ hồi hộp.
“Tôi cảm thấy khá buồn cười khi đến gặp cậu vì chuyện này.”
“Vì chuyện gì?” Tôi hỏi, dự đoán được câu trả lời.
“Anouk đã đến văn phòng của tôi và không tiếc lời xỉ vả tôi vì đã đăng bài phê bình đó.”
“Thật á?”
“Tôi cũng đã cam đoan rằng truyền thông sẽ đưa tin về một cuộc biểu tình bảo vệ môi trường mà cô ấy sắp tiến hành. Nhưng cô ấy rất bức xúc. Tôi không hiểu nổi. Cô ấy thực sự rất ghét tôi, phải không?”
“Không phải thù hằn cá nhân đâu. Chị ta ghét người giàu.”
“Làm sao để cô ấy thích tôi?”
“Nếu anh chứng minh được rằng anh chịu áp lực về mặt nào đó, thì có thể có tác dụng đấy.”
Hắn ta gật đầu nhịp nhàng, như theo một điệu nhạc.
“Mà anh thực sự muốn gì ở Anouk chứ? Xem ra anh đang dốc nhiều công sức vào chuyện này. Tôi đã nhìn thấy những cô nàng mà anh theo đuổi. Anouk rất xinh, và chị ta có kiểu đẹp riêng của chị ấy, nhưng nó chẳng giải thích được gì. Anh có thể vơ lấy những cô nàng đẹp đẽ nhất bất kể lúc nào anh muốn. Tại sao?”
“Vấn đề là, Jasper ạ, thế giới đầy rẫy những người bình thường. Có người xinh đẹp, có người không. Điều hiếm gặp là những người đặc biệt, thú vị, độc đáo, và sáng tạo, biết suy nghĩ. Bây giờ, trong lúc chờ đợi người phụ nữ đặc biệt này, nếu tôi phải dành thời gian với một người phụ nữ bình thường, thì cậu nghĩ tôi sẽ chọn người phụ nữ bình thường xinh đẹp hay là người phụ nữ bình thường thiếu hấp dẫn?”
Không cần phải trả lời câu hỏi đó, vì thế tôi im lặng.
“Phụ nữ như Anouk hiếm có hơn cậu nghĩ đấy.”
Sau khi hắn ta đi rồi, Smithy nói, với vẻ thờ ơ gượng ép:
“Làm sao cậu quen Oscar Hobbs vậy?” và tôi đáp, “Anh biết đấy, quen vòng vòng,” và bởi vì tôi tầm thường như gã đứng cạnh mình, với cái tôi lớn tương tự, nên cả ngày hôm ấy tôi cảm thấy như mình cũng là một nhân vật quan trọng lắm.
Dẫu vậy, tôi cảm thấy sôi ruột. Gã này không chỉ theo đuổi Anouk như một con rồng phun lửa, hắn thực sự mê cô ta tít thò lò, và cô ta đã hạ gục được hắn! Quyền lực có thể là chất men tình ái, nhưng định kiến của một người lại là yếu tố tác động, và rõ ràng có tính quyết định hơn trong hai thứ. Tôi còn nhớ cô ta từng lôi tôi đến một cuộc míttinh, ở đó diễn giả nói rằng những tay tư bản truyền thông đang nằm trong túi chính phủ, và rồi một tháng sau đến một cuộc míttinh khác, ở đó diễn giả nói chính phủ đang nằm trong túi những tay tư bản truyền thông (cô ta đồng ý với cả hai), và tôi nhớ mình đã cố gắng giải thích với cô ta rằng bề ngoài trông thì đúng như vậy, bởi vì tình cờ chính phủ và báo chí lại có chung một kế hoạch: làm cho người dân sợ mất mật và rồi khiến họ ở trong thế sợ hãi triền miên. Cô ta không quan tâm. Cô ta tuyên bố suốt đời căm ghét cả hai nhóm ấy, và không gì có thể lay chuyển được cô ta. Tôi bắt đầu nghĩ đến sự giàu có và khuôn mặt điển trai của Oscar như một bài kiểm tra thú vị đối với sức mạnh và sự bền bỉ của những định kiến của Anouk.
***
Tôi về nhà tầm hoàng hôn và mơ màng bước qua bóng râm đang tăng dần của mê cung. Đó là một trong những quãng thời gian ưa thích nhất của tôi ở trong rừng - thời điểm chuyển tối. Khi tiến đến chòi của mỉnh, tôi nhìn thấy Hỏa ngục Cao vút đang đợi tôi ở mái hiên. Chúng tôi vội vã vào trong chòi làm tình và tôi thận trọng quan sát khuôn mặt cô ấy trong suốt thời gian đó, để đảm bảo cô ấy không nghĩ đến ai khác ngoài tôi. Thành thật mà nói, tôi không thể biết được.
Nửa giờ sau một giọng nói cất lên ngoài cửa. “Cộc, cộc,” giọng nói bảo.
Tôi nhăn nhó. Lần này là bố. Tôi bò ra khỏi giường và mở cửa. Ông đang mặc áo choàng tắm mà ông đã mua nhiều tháng trước, miếng nhãn giá vẫn còn lủng lẳng trên tay áo.
“Này, nói cho bố nghe về bạn gái của con đi,” ông nói.
“Suỵt, cô ấy đang ngủ.” Tôi bước ra hiên và đóng cửa lại sau lưng. “Cô ấy thì sao nào?” tôi hỏi.
“Nó có uống thuốc ngừa thai không?”
“Việc đấy có liên quan gì đến bố chứ?”
“Có không?”
“Thực tình là không. Cô ấy bị dị ứng thuốc.”
“Hay thật!”
Tôi hít một hơi sâu, quyết tâm chịu đựng ông với tất cả sự kiên nhẫn mà tôi có trong lòng. Nụ cười của ông làm nó cạn sạch.
“Thôi được rồi. Bố đã thắng. Con tò mò đây. Tại sao bạn gái con không uống thuốc ngừa thai lại hay thật? Và bố nên giải thích đàng hoàng.”
“Vì như thế có nghĩa là con xài bao cao su.”
“Bố. Vậy thì chuyện đ. gì?”
“Vậy... bố có thể mượn vài cái được không?”
“Bao cao su á? Để làm gì?”
“Để đeo lên cái...”
“Con biết nó để làm gì! Ý con là... con tưởng gái mại dâm phải đem theo bao cao su chứ.”
“Con nghĩ bố chẳng ngủ với ai khác ngoài gái mại dâm à?”
“Đúng thế.”
“Con nghĩ bố không thể hấp dẫn một con người bình thường à?”
“Con đã nói, đúng thế.”
“Con với cái!”
“Bố,” tôi bắt đầu, nhưng không nghĩ ra được gì cho đoạn kết câu nói ấy.
“Mà dù sao thì,” ông nói, “con có cái nào không?”
Tôi đi vào phòng ngủ và chộp lấy vài cái bao cao su từ chiếc tủ đầu giường rồi đem ra đưa ông.
“Chỉ hai cái thôi à?”
“Được rồi, lấy hết cả hộp đi. Chúc bố vui vẻ nhá. Con không phải nhà thuốc, bố biết mà.”
“Cám ơn.”
“Đợi đã... người đàn bà này. Là đàn bà, phải không?”
“Dĩ nhiên là đàn bà.”
“Bây giờ cô ta có ở trong nhà không?”
“Có.”
“Cô ta là ai thế? Hai người gặp nhau ở đâu?”
“Bố thấy việc đấy chẳng liên quan gì đến con cả,” ông nói, rồi bỏ đi khỏi hiên với bước chân nhẹ bẫng.
Những chuyện kì lạ đang xảy ra. Anouk đang bị theo đuổi bởi một gã mà tạp chí Guess Who bình chọn là người đàn ông độc thân có giá nhất nước Úc, còn bố thì đang ngủ với một hoặc nhiều người lạ hoắc. Những bi kịch mới đang hình thành trong mê cung.
***
Lũ chim buổi sáng, những chiếc đồng hồ báo thức có lông vũ ấy, đánh thức tôi dậy vào khoảng năm giờ. Hỏa ngục Cao vút không còn nằm cạnh tôi trên giường. Tôi nghe thấy tiếng cô ấy khóc ngoài hiên. Tôi nằm trên giường, lắng nghe những tiếng thổn thức nức nở ấy. Nó giống như có nhịp điệu. Đột nhiên tôi biết cô ấy đang làm gì. Tôi nhảy ra khỏi giường và chạy ra ngoài. Tôi đã đúng! Cô ấy đang đè lọ mù tạt nhỏ vào má mình và đang đổ vào một đợt nước mắt mới. Bấy giờ nó đã gần đầy.
“Việc này không hay chút nào,” tôi nói.
Cô ấy chớp mắt ngây thơ. Điều đó khiến tôi bồn chồn. Tôi bước đến và giật cái lọ khỏi tay cô ấy.
“Trả lại đây!”
“Em sẽ không bao giờ buộc ông ta uống nó. Em sẽ bảo ông ta nó là gì - nước cốt chanh à?”
“Trả lại đây, Jasper!”
Tôi vặn mở nắp, nhìn cô ấy thách thức, rồi đổ lọ nước vào cổ họng.
Cô ấy hét lên.
Tôi nuốt.
Nó có vị thật ghê tởm. Tôi phải nói, đó là những giọt nước mắt cay đắng.
Cô ấy nhìn tôi với sự căm hờn tột độ khiến tôi nhận ra rằng mình đã làm một việc không thể tha thứ. Tôi nghĩ nó có thể nguyền rủa tôi suốt đời, giống như quấy rối một xác ướp trong lăng mộ của ông ta. Tôi đã uống những giọt nước mắt không dành cho tôi. Điều gì sẽ xảy ra với tôi bây giờ?
Chúng tôi mỗi người ngồi một góc nhìn mặt trời mọc và thời khắc hừng đông. Khu rừng bắt đầu náo động sự sống. Một ngọn gió cất lên và những cái cây tự thì thầm. Tôi nghe được Hỏa ngục đang nghĩ ngợi. Tôi nghe được mí mắt cô ấy run rẩy. Tôi nghe được nhịp tim của cô ấy. Tôi nghe được tiếng dây thừng và ròng rọc kéo mặt trời lên bầu trời. Vào lúc chín giờ, cô ấy đứng dậy không nói một lời và mặc quần áo. Cô ấy hôn vào trán tôi như thể tôi là đứa con trai mà cô ấy có nghĩa vụ phải tha thứ, và lặng lẽ bỏ đi.
Chưa đến mười phút sau tôi cảm nhận được một điều gì đó, một sự khó chịu. Tôi căng tai ra và nghe thấy những tiếng nói từ xa. Tôi khoác vội áo choàng tắm rồi rời khỏi căn chòi và tiến về phía họ.
Rồi tôi trông thấy họ đứng cùng nhau.
Bố đã giữ chân Hỏa ngục lại để nói chuyện. Bố, một mê cung trong một mê cung, đang nói chuyện với cô ấy như thể ông đang tham dự vào một hoạt động sôi nổi như cuộc thi đốn cây. Tôi có nên làm gì không? Tôi có nên ngăn ông lại? Tôi có nên dọa để ông bỏ đi? Làm thế nào?
Tốt hơn hết ông không nên hỏi cô ấy về chứng dị ứng thuốc ngừa thai của cô ấy hoặc về sở thích dùng bao cao su có mùi, tôi thầm nghĩ. Không, ông sẽ không dám. Nhưng dù ông đang nói gì đi nữa, tôi chắc chắn ông đang đem lại điều bất lợi cho tôi nhiều hơn là có lợi. Tôi lo lắng nhìn họ thêm vài phút nữa, rồi Hỏa ngục bỏ đi trong khi ông vẫn đang nói. Tốt cho cô ấy.
***
Tối hôm ấy chúng tôi đến một quán rượu. Khách khứa rất đông, và khi tôi đi lấy thức uống, tôi liên tục bị huých cùi chỏ. Mọi người chen chúc ở quầy bar, cố gắng thu hút sự chú ý của nhân viên pha rượu. Vài khách hàng sốt ruột vẫy tiền trong không khí tựa như muốn nói, “Nhìn đây! Tôi có đồng tiền mạnh này! Bán cho tôi trước đi! Bọn họ muốn trả bằng trứng!”
Khi tôi trở về chỗ Hỏa ngục, cô ấy nói, “Chúng ta cần nói chuyện.”
“Anh tưởng chúng ta đang nói chuyện chứ.”
Cô ấy chẳng trả lời trả vốn. Cô ấy thậm chí không thèm xác nhận hay phủ nhận rằng chúng tôi vừa mới nói chuyện khi nãy.
“Dù sao thì,” tôi nói, “tại sao em lại muốn mở đầu cuộc nói chuyện bằng cách nói chúng ta cần nói chuyện? Em muốn nói chuyện á? Nói đi!”
Tôi cảm thấy nóng mặt, vì tôi biết không ít thì nhiều chuyện gì sắp đến. Cô ấy sẽ chia tay tôi. Mùa đông đã đột ngột bước vào cơ thể tôi.
“Nói đi,” tôi bảo. “Anh đang nghe đây.”
“Anh sẽ không chịu để cho chuyện này dễ dàng với em, phải không?”
“Đương nhiên là không. Anh là cái gì, ông thánh chắc? Em tưởng anh là người đặc biệt không biết ích kỉ à? Anh có yêu kẻ thù của mình không? Anh có tình nguyện đi nấu ăn từ thiện không?”
“Im đi, Jasper, và để em suy nghĩ.”
“Ban đầu em muốn nói chuyện. Giờ em muốn suy nghĩ. Em chưa nghĩ ra à? Em không ít nhất cũng soạn sẵn một bài diễn văn trong đầu em trước khi đi ra ngoài tối nay ư? Đừng nói với anh là em sẽ tùy cơ ứng biến nhé! Đừng nói với anh đây là chuyện em mới nghĩ ra tức thì!”
“Chúa ơi! Im đi một phút cho tôi nhờ!”
Khi tôi cảm thấy người nào đó sắp làm tổn thương mình, rất khó để cưỡng lại lòng thôi thúc hành động như một đứa bé năm tuổi. Chẳng hạn như, ngay lúc ấy, đó là tất cả những gì tôi có thể làm để ngăn mình không lớn tiếng đếm lùi sáu mươi giây.
“Em nghĩ chúng ta cần dừng lại.”
“Dừng lại nghĩa là một khoảng dừng lâu, hay dừng lại nghĩa là chấm dứt?”
“Em nghĩ chúng ta nên ngừng gặp nhau.”
“Việc này có liên quan gì đến bố anh không?”
“Bố anh?”
“Anh thấy em nói chuyện với ông ấy sáng nay sau khi em đi khỏi chòi. Ông ấy nói gì?”
“Không có gì.”
“Ông ấy không thể không nói gì. Ông già chưa bao giờ không nói gì trong đời ông ấy. Vả lại, em đã nói chuyện với ông ấy gần như mười phút. Ông ấy có nói gì xấu về anh không?”
“Không... không có gì. Thật đấy.”
“Vậy thì việc này là thế nào? Có phải vì anh đã uống nước mắt của em?”
“Japser... Em vẫn còn yêu Brian.”
Tôi không nói gì. Không cần đến bác sĩ giải phẫu não để hiểu ra chuyện đó. Hay một nhà khoa học tên lửa. Hay một Einstein. Rồi tôi nghĩ: mình không nghĩ rằng bác sĩ giải phẫu não, nhà khoa học tên lửa, hay Einstein thông minh đến thế khi họ phải lập bản đồ cảm xúc con người. Mà tại sao cứ phải là bác sĩ giải phẫu não, nhà khoa học tên lửa và Einstein mới được chứ? Sao không phải là kiến trúc sư hay luật sư bào chữa tội phạm? Và tại sao, thay vì Einstein, không phải là Darwin hay Heinrich Boll?
“Anh không định nói gì sao?”
“Em còn yêu bạn trai cũ của em. Anh không cần phải là Heinrich Boll mới nhận ra điều đó.”
“Ai?”
Tôi lắc đầu, đứng dậy, và đi ra khỏi quán rượu. Tôi nghe cô ấy gọi tên tôi, nhưng tôi không quay đầu lại.
Ở bên ngoài, tôi òa khóc. Thật là rắc rối! Bây giờ tôi phải trở nên giàu có và thành công chỉ để cho cô ấy hối tiếc vì đã bỏ tôi. Đó là một việc khác cần làm trong cuộc đời ngắn ngủi, bận rộn này. Chúa ơi. Mọi việc cứ dồn dập đến.
Tôi không thể tin được mối tình này đã kết thúc. Cả tình dục nữa! Sự giao hoan tình cờ của cơ thể chúng tôi, hết rồi! Tôi cho rằng như thế này thì tốt hơn. Tôi thực tình chưa bao giờ muốn có ai hét vào mặt mình, “Tôi đã dành cho anh những năm tháng tốt đẹp nhất cuộc đời tôi!” Theo cách này, những năm tháng tốt đẹp nhất cuộc đời cô ấy vẫn còn ở phía trước.
Mà tại sao chứ? Có lẽ cô ấy đã nổi cáu vì tôi uống nước mắt của cô ấy và còn yêu bạn trai cũ của cô ấy, nhưng tôi biết bố đã nói gì đó khiến cô ấy tức nước vỡ bờ. Ông đã nói gì? Ông đã nói cái quái gì? Vậy đấy, tôi nghĩ. Tôi cóc cần biết ông làm gì - ông có thể viết một quyển cẩm nang tội ác, dựng một cái hộp thư góp ý, khiến một thị trấn bốc cháy, đập nát một hộp đêm, bị đưa vào một bệnh viện tâm thần, xây một mê cung, nhưng ông tuyệt đối không thể chạm đến một sợi tóc trên đầu đời sống tình cảm của tôi.
Ông là một dạng cô đặc bốc mùi của địa ngục và tôi không thể để ông tiếp tục hủy hoại cuộc sống của mình. Nếu Hỏa ngục có thể chia tay tôi, thì tôi cũng có thể chia tay ông. Tôi không quan tâm ai nói gì, bạn hoàn toàn có thể chia tay gia đình mình.
Tôi về nhà dự định thu thập toàn bộ những phần năng lượng mà tôi có thể tập trung và xả ra vào ngay cái mặt khốn kiếp của ông!
Tôi tiến thẳng vào trong nhà. Đèn đã tắt. Tôi mở khóa cửa và lẻn vào. Tôi nghe thấy một âm thanh lạ từ phòng ngủ của ông. Hẳn là ông lại đang khóc đây mà. Nhưng nghe không giống như chỉ có khóc. Nghe giống như nức nở. Vậy thì sao? Tôi gồng mình trước sức cám dỗ của lòng thương hại. Tôi đi đến mở cửa, và điều tôi thấy thật kinh hoàng, đến nỗi tôi không có đủ phép lịch sự tối thiểu để đóng cửa lại. Bố đang ngủ với Anouk.
“Đi ra!” ông thét lên.
Tôi không thể hiểu nổi việc này.
“Việc này diễn ra bao lâu rồi?” tôi hỏi.
“Jasper, cút xéo khỏi đây ngay!” bố lại gào lên.
Tôi biết mình nên làm thế, nhưng chân tôi dường như đã hóa đá cũng như đầu tôi vậy.
“Thật là nực cười!”
“Tại sao lại nực cười?” bố hỏi.
“Chị ta đang được gì từ việc này?”
“Jasper, hãy để chúng tôi yên!” Anouk hét lên.
Tôi bước lùi lại ra khỏi phòng và đóng sầm cửa. Điều này thật sự quá sỉ nhục. Anouk không muốn ngủ với tôi, vậy mà cô ta lại nhảy lên giường với bố tôi. Và eo ôi - với bao cao su của tôi! Và cô ta làm gì với bố trong khi Oscar Hobbs đang tìm cách đưa cô ta lên giường? Có phải một vở kịch sướt mướt đáng khinh bỉ đang diễn ra hay không? Bố là người đã dành phần lớn cuộc đời vắng mặt khỏi các mối quan hệ với con người, và cuối cùng đã khởi đầu nó với người bạn tri kỉ duy nhất của ông, thuần túy chỉ để nhận ra mình ở điểm tăm tối nhất của một chuyện tình tay ba mà ở đó, nếu hợp theo logic, thì ông sẽ mất cô ta.
Chà, việc này không còn là vấn đề của tôi nữa.
***
Sáng hôm sau tôi dậy sớm. Tôi quyết định rằng thực tế nhất là tìm một phòng trong một căn nhà ở chung với đám nghiện, nơi nào đó thật rẻ và vừa túi tiền để tôi không phải xài hết khoản tiết kiệm còm của mình cho chuyện trú ngụ. Tôi liên lạc với một đống quảng cáo trên báo. Chẳng có mấy mẩu quảng cáo mà không tìm, bằng chữ in hoa, một PHỤ NỮ. Dường như theo lẽ thường, đàn ông vẫn chưa có được bước nhảy vọt về tiến hóa, bước nhảy cho phép họ tự sắp xếp gọn ghẽ cuộc đời mình. Những căn hộ và nhà cho phép nam giới tồn tại thì không đến nỗi tồi, nhưng chúng đều có người sống bên trong. Dĩ nhiên tôi đã biết trước việc này, nhưng chỉ đến khi tôi mặt giáp mặt với những người khác tôi mới nhận ra rằng mình cần được ở một mình. Chúng ta được cho là phải có văn hóa với nhau, không chỉ thỉnh thoảng một lần, mà là mỗi ngày. Và giả sử tôi muốn mặc quần lót ngồi đấy nhìn ra ngoài cửa sổ nhà bếp trong sáu giờ thì sao? Không, sự đơn độc của cuộc sống trong chòi ở trung tâm một mê cung đã hủy hoại khả năng sống cộng sinh của tôi.
Cuối cùng tôi quyết định chọn một căn hộ cá nhân và đồng ý ngay với cái đầu tiên tôi thấy. Một phòng với một nhà tắm và một bức vách ngăn giữa khu vực chính và nhà bếp nhỏ chạy dọc theo bức tường. Chẳng có gì để hào hứng về căn hộ. Chẳng có một điểm đặc trưng nào của nó để bạn có thể thốt lên, “Nhưng nhìn cái này mà xem! Nó có một.....!” Nó chẳng có gì. Nó chỉ là một căn phòng. Tôi kí hợp đồng, trả tiền thuê nhà và tiền cọc dịch vụ bảo vệ, rồi nhận chìa khóa. Tôi đi vào trong và ngồi xuống sàn trong căn phòng trống trải, hút một điếu thuốc lá rồi lại một điếu nữa. Tôi thuê một chiếc xe tải nhỏ rồi lái về nhà đến căn chòi của tôi và ném toàn bộ tài sản đáng giữ lại của mình lên xe.
Rồi tôi đi đến ngôi nhà. Bố đang đứng trong nhà bếp, mặc bộ đồ ngủ vẫn còn nhãn giá trên đó. Ông đang huýt sáo vu vơ trong lúc làm món nui.
“Anouk đâu?” tôi hỏi.
“Không biết.”
Có lẽ đang ở với Oscar Hobbs, tôi nghĩ.
Nước sốt nui đang sôi xèo xèo, và trong một cái chảo khác ông có vẻ như đang luộc rau quá tay nhằm rút cạn từng giọt mùi vị khỏi chúng. Ông liếc nhìn tôi với ánh mắt đầy trìu mến hiếm thấy và nói, “Bố biết con hơi sốc. Lẽ ra bọn bố nên nói với con. Nhưng mà dù sao thì, bây giờ con cũng đã biết. Này - hay là hôm nào bốn người chúng ta đi chơi với nhau nhỉ?”
“Bốn người nào?”
“Anouk với bố và con với đồ chơi của con.”
“Bố, con sắp đi.”
“Bố không định nói là tối nay.”
“Không. Con sẽ ra đi.”
“Ra đi? Ý con là... bỏ đi?”
“Con đã tìm được một căn hộ trong thành phố. Một căn hộ cá nhân.”
“Con đã tìm được chỗ rồi à?”
“Vâng - đặt cọc dịch vụ bảo vệ và trả tiền thuê cho hai tuần đầu rồi.”
Ông bị lạnh sống lưng, tôi có thể nhìn thấy cơn ớn lạnh đó.
“Và con sẽ dọn ra khi nào?”
“Bây giờ.”
“Ngay bây giờ?”
“Con đến để chào từ biệt.”
“Còn đồ đạc của con thì sao?”
“Con thuê một chiếc xe tải. Con đã đóng gói mọi thứ con cần.”
Bố duỗi chân tay một cách kì lạ, và bằng một giọng vô cảm, nhân tạo, ông nói, “Con chẳng cho bố có ý kiến gì về chuyện này.”
“Con nghĩ là không.”
“Còn cái chòi của con thì sao?”
“Con sẽ không đem nó theo.”
“Không, ý bố là...”
Ông bỏ lửng câu nói. Ông không biết ông muốn nói gì. Bố bắt đầu thở nặng nhọc qua đường mũi. Ông đang cố gắng không tỏ ra khốn khổ. Tôi đang cố gắng không cảm thấy tội lỗi. Tôi biết rằng mất tôi là ông sẽ mất người duy nhất hiểu ông. Nhưng tôi cũng thấy tội lỗi vì những lý do khác nữa; tôi tự hỏi điều gì sẽ xảy ra với đầu óc của ông. Và làm sao tôi có thể bỏ ông mà đi với khuôn mặt đó? Khuôn mặt buồn bã, cô đơn và hoảng sợ đó?
“Con có cần giúp dọn đồ không?”
“Thôi khỏi, được rồi.”
Trông như chúng tôi đang chơi một trò chơi suốt cuộc đời mình và cuộc chơi đã kết thúc, chúng tôi sắp cởi mặt nạ và đồng phục của mình ra rồi bắt tay và nói, “Trò chơi rất tuyệt.”
Nhưng chúng tôi đã không làm thế.
Đột nhiên tất cả những nỗi cay đắng và lòng thù hận của tôi dành cho ông bốc hơi đi hết. Tôi cảm thấy vô cùng đáng thương cho ông. Tôi thấy ông như một con nhện thức dậy nghĩ rằng mình là con ruồi và không hiểu rằng mình đã mắc kẹt trong lớp lưới của chính mình.
“Thôi, con phải đi đây,” tôi nói.
“Con có số điện thoại không?”
“Chưa có. Con sẽ gọi khi nào lắp xong điện thoại.”
“Ừ. Thôi, chào.”
“Hẹn gặp lại bố.”
Khi tôi quay lưng bước ra, bố bật ra một tiếng cằn nhằn bực bội, như âm thanh của những đoạn ruột có vấn đề.
[37] Tạm dịch: Không thể yêu cái tai chứ không phải căn phòng rơm mở cửa xấu xí của bạn lên những tấm bản đồ cũ!
[38] Hãy lau phòng của con!
[39] Đi ra cửa hàng rồi. Sẽ quay lại sau.
[40] Gặp bố tại Sizzler lúc sáu giờ.
[41] Một tác phẩm trong bộ truyện về thám tử Sherlock Holmes, của nhà văn Sir Arthur Conan Doyle.
[42] Trong kinh thánh, vợ của Lot đã hóa thành tượng muối trong lúc di tản cùng gia đình vì quay lại nhìn thành Sodom khi thành này bị Chúa trời phá hủy.
[43] Velcro: loại băng nhám dính có một mặt nhám gồm nhiều móc nhỏ, một mặt bông, có thể bóc ra dính lại với nhau.
[44] Leni Riefenstahl (1902-2003): Nữ đạo diễn, diễn viên kiêm vũ công nổi tiếng người Đức.
[45] Vũ trụ tâm (Cosmic consciousness): Khái niệm do nhà tâm lý học người Canada Richard M. Bucke đưa ra, chỉ sự nhận thức của con người về ý thức của vũ trụ và sự hòa hợp của con người với ý thức đó. Trong quyển sách Cosmic consciousness: A study in the evaluation of the human mind (xuất bản năm 1901), Bucke cho rằng có ba giai đoạn phát triển ý thức: ý thức đơn giản của động vật, sự tự ý thức của con người, và ý thức vũ trụ - hay vũ trụ tâm, và ông cho rằng đây là giai đoạn phát triển tiếp theo của nhân loại.
[46] Hệ bản tính, hoặc hệ viền (limbic system) là hệ thống tạo ra sự sung sướng trong khi ăn uống và giao hợp để khuyến khích sinh vật sinh trưởng và gầy dựng giống nòi.
[47] Jehovah Witness: một giáo phái Cơ Đốc theo thuyết thượng đế cứu vớt mọi người.
[48] Elvis Presley (1935 - 1977), được mệnh danh là Vua nhạc rock and roll, là một ca sĩ và diễn viên người Mỹ.
[49] Liberace, tên đầy đủ là Wladziu Valentiono Liberace (1919-1987): nghệ sĩ piano lừng danh của Mỹ.
[50] Charlie Brown: một nhân vật bé trai trong truyện tranh Peanuts rất được yêu thích tại Mỹ.
[51] Reiki: một kĩ thuật thực hành tâm linh của Nhật, dùng để chữa bệnh.
[52] James Dean (1931-1955): ngôi sao điện ảnh huyền thoại người Mỹ, mất vì tai nạn xe hơi khi mới 24 tuổi.