Bạn chẳng đời nào nghe nói đến một vận động viên bị mất khứu giác trong một tai nạn giao thông thảm khốc, và theo lẽ thường tình; để vũ trụ dạy những bài học xương máu mà chúng ta không thể áp dụng vào cuộc sống sau này, vận động viên phải mất chân, triết gia mất trí, họa sĩ mất mắt, nhạc sĩ mất tai, đầu bếp mất lưỡi. Bài học của tôi? Tôi đã mất tự do, và nhận ra mình ở trong cái nhà tù xa lạ này, nơi mà sự thích nghi khó chịu nhất, ngoài chuyện làm quen với việc nhẵn túi và bị đối xử như một con chó đái bậy vào ngôi đền thiêng, chính là sự nhàm chán. Tôi thừa sức đối phó với thói thô bạo thái quá của đám quản ngục, những lần cương dương uổng phí, kể cả cái nóng ngột ngạt. (Rõ ràng máy điều hòa nhiệt độ xúc phạm đến khái niệm của xã hội về sự trừng phạt - như thể mát mẻ một tí là chúng tôi thoát được tội giết người vậy.) Nhưng tôi làm được gì ở đây để giết thời gian chứ? Yêu đương chăng? Có một nữ quản ngục mà ánh mắt dửng dưng của ả mới hớp hồn làm sao, nhưng tôi không có khiếu tán gái - tôi luôn chọn cách thoái thác. Ngủ suốt ngày chăng? Khi nhắm mắt, tôi lại thấy khuôn mặt đe dọa đã ám ảnh tôi suốt cuộc đời. Thiền định chăng? Sau tất cả những gì đã xảy ra, tôi biết não mình chẳng đáng hưởng điều đó. Ở đây chẳng có việc gì gây rối trí - dù gì cũng chưa đủ rối trí - để có thể lảng tránh một cuộc tự vấn lương tâm nghiêm khắc. Tôi cũng không thể dùng gậy đập lại kí ức của mình.
Tất cả những gì còn lại để làm là phát rồ; diễn lại cảnh tận thế hai tuần một lần trong nhà hát là chuyện dễ như không ấy mà. Tối qua là một sô đặc biệt đình đám. Tôi đang thiu thiu ngủ thì tòa nhà bắt đầu rung chuyển và một trăm giọng nói giận dữ đồng loạt thét lên. Tôi co cứng. Một vụ bạo động, nhưng lại là một cuộc cách mạng yếu-kém-từ-trong-trứng-nước khác. Chỉ chưa đầy hai phút sau, cửa phòng tôi bị đá tung và một hình nhân cao lớn bước vào, mang trên mặt nụ cười kiểu cách.
“Đệm của mày. Tao cần,” hắn nói.
“Để làm gì?” tôi hỏi.
“Bọn tao đốt hết đệm,” hắn huênh hoang, giơ ngón tay cái lên, như thể cử chỉ ấy là viên đá quý trên vương miện của thành tựu nhân loại.
“Vậy tao phải ngủ trên cái gì? Sàn nhà ư?”
Hắn nhún vai rồi nói bằng ngôn ngữ mà tôi chả hiểu nổi. Có những cục u mang hình thù kì dị trên cổ hắn; rõ ràng có thứ gì đấy kinh khủng đang diễn ra dưới da hắn. Những người ở đây thảy đều chẳng ra làm sao và vận đen dai dẳng đã làm cơ thể bọn họ trở nên dị dạng. Cơ thể tôi cũng thế; mặt tôi trông giống quả nho héo, còn mình mẩy thì giống thân cây nho.
Tôi phẩy tay xua gã tù nhân đi và tiếp tục lắng nghe sự hỗn loạn quen thuộc của đám đông. Đó là khi tôi nảy ra ý tưởng có thể giết thời gian bằng cách viết câu chuyện của mình. Dĩ nhiên, tôi phải viết lén lút, nấp sau cánh cửa, và chỉ về đêm, rồi sau đó giấu nó ở cái chỗ ẩm thấp giữa bồn cầu và bức tường và hi vọng đám cai ngục không phải loại người thích bò toài ra đất. Tôi vừa vạch xong kế hoạch thì vụ bạo động rốt cuộc cũng làm đèn điện tắt ngóm. Tôi ngồi trên giường và đâm ra mê mẩn trước ánh sáng chói lòa từ những chiếc đệm bốc cháy soi sáng hành lang, chợt bị hai gã tù nhân sừng sộ, râu tóc lởm chởm xen ngang. Chúng bước vào phòng giam của tôi và nghệt mặt ra nhìn như thể tôi là phong cảnh núi non.
“Mày là thằng không chịu giao đệm phải không?” gã cao hơn gầm ghè, trông như mới tỉnh rượu sau cơn váng vất đều đặn suốt ba năm qua.
Tôi nói phải.
“Tránh ra nào.”
“Chẳng qua là khi nãy tao sắp đi nằm,” tôi phản kháng. Cả hai gã tù nhân phát ra tiếng cười bí hiểm đáng sợ, nghe như tiếng xé vải jeans. Gã cao hơn đẩy tôi sang một bên rồi giật mạnh tấm đệm khỏi giường tôi trong khi gã còn lại đứng như bị đóng băng và đang chờ rã đông. Có những thứ mà tôi sẽ liều mình giành lại, nhưng một tấm đệm cồng kềnh thì không. Hai tên tù nhân khiêng tấm đệm giữa chúng, dừng lại tại cửa.
“Đi không?” gã thấp hơn hỏi tôi.
“Để làm gì?”
“Cái này là đệm của mày,” gã đáp rạch ròi. “Mày có quyền làm người đốt nó.”
Tôi rên lên. Phép với chả tắc! Ngay cả trong chốn địa ngục hỗn mang, con người ta vẫn phải cho mình chút danh dự, tuyệt vọng rứt mình ra khỏi bầy thú vật.
“Thôi khỏi.”
“Tùy mày,” gã đáp, hơi thất vọng. Gã càu nhàu gì đấy bằng tiếng nước ngoài với đồng bọn, tên này cười to khi chúng bỏ đi.
Luôn có chuyện ở đây - nếu không bạo động thì cũng là kẻ nào đấy tìm cách vượt ngục. Nỗ lực uổng phí ấy giúp tôi nhận ra những điểm tích cực của việc bị cầm tù. Khác với những kẻ vò đầu bứt tóc trong xã hội tử tế, ở đây chúng tôi không cần cảm thấy hổ thẹn về sự bất hạnh ngày qua ngày của mình. Ở đây chúng tôi có một kẻ nào đấy trong tầm mắt để trách cứ - kẻ nào đấy mang bốt bóng lộn. Thế cho nên, xét kĩ mà nói, tự do khiến tôi ớn lạnh. Bởi vì ngoài đấy trong thế giới thực, tự do có nghĩa là anh phải thừa nhận mình là tác giả, ngay cả khi chuyện của anh chướng tai gai mắt.
***
Bắt đầu câu chuyện của tôi từ đâu? Đàm phán với kí ức là việc không dễ: làm sao để chọn giữa những kí ức thiết tha được kể, những kí ức vẫn đang chín muồi, những kí ức đã quắt queo, và những kí ức sinh ra là để ngôn ngữ giày xéo cho đến lúc nát như tương? Chắc chắn một điều: không viết về bố tôi sẽ là việc đòi hỏi một nỗ lực tinh thần quá mức của tôi. Tất cả những ý nghĩ không-về-bố của tôi đều giống như cố tình tạo ra để tránh nghĩ về ông. Mà tại sao tôi phải tránh né điều đó cơ chứ? Bố trừng phạt tôi vì tôi đã tồn tại, và bây giờ đến lượt tôi trừng phạt ông vì ông đã tồn tại. Công bằng quá còn gì.
Nhưng khó khăn thực sự là, tôi cảm thấy mình trở nên nhỏ bé trước cuộc đời của chúng tôi. Chúng lù lù hiện ra lớn một cách phi cân xứng. Chúng tôi đã làm những chuyện ngoài tầm với, xuyên qua ba châu lục, từ vô danh tiểu tốt đến nổi đình nổi đám, từ thành phố đến rừng rú, từ nghèo mạt đến lên đời, bị tình nhân và cơ thể mình phản bội, và bị nhục mạ từ cấp quốc gia đến cấp toàn cầu, mà chẳng có nổi một sự ôm ấp nào để an ủi chúng tôi. Chúng tôi là những kẻ lười biếng trong một chuyến thám hiểm, tán tỉnh cuộc đời nhưng quá e dè không dám tiến tới. Vậy thì nên bắt đầu kể lại cuộc phiêu lưu ghê gớm của chúng tôi như thế nào đây? Hãy kể đơn giản, Jasper ạ. Nhớ đấy, người ta hài lòng - à không, sướng run - bởi việc đơn giản hóa những sự kiện phức tạp. Vả lại, chuyện của tôi là một câu chuyện hay hết xẩy và có thật. Tôi chả biết tại sao, nhưng hình như điều đó quan trọng với mọi người. Bản thân tôi nghĩ, nếu có người bảo tôi, “Tôi có chuyện này hay lắm muốn kể anh nghe, và từng câu từng chữ đều là láo toét!”, tôi sẽ nhổm khỏi ghế ngay.
Tôi nghĩ mình cứ thừa nhận thế này: chuyện này kể về tôi bao nhiêu thì cũng kể về bố tôi bấy nhiêu. Tôi ghét cái kiểu ai kể chuyện đời mình cũng lăng xê kẻ thù của mình lên, nhưng đời là vậy. Sự thật là, toàn thể nước Úc khinh miệt bố tôi có lẽ hơn bất kì người nào khác, cũng như họ thần tượng em trai ông ấy, chú tôi, có lẽ hơn bất kì người nào khác. Tôi cũng có thể đi thẳng vào chuyện bằng cách nói về cả hai người, dù tôi không định làm giảm tình yêu của bạn dành cho chú tôi hay đảo ngược sự căm ghét của bạn đối với bố tôi, nhất là khi đó là một sự căm ghét thấu tim gan. Tôi không muốn làm hỏng việc nếu bạn dùng sự thù ghét của mình để hiểu biết nhanh hơn về người bạn yêu mến.
Tôi cũng nên nói điều này để mọi chuyện đâu ra đó:
Xác bố tôi sẽ không bao giờ được tìm thấy.
***
Gần trọn cuộc đời tôi chưa bao giờ xác định được liệu nên thương hại, bỏ mặc, thần tượng, phán xét hay giết quách bố tôi. Hành vi khó hiểu của ông khiến tôi lưỡng lự đến phút chót. Ông có những ý tưởng mâu thuẫn nhau về đủ thứ chuyện, đặc biệt là chuyện học hành của tôi: sau tám tháng ở trường mẫu giáo, ông quyết định không muốn tôi đến đấy nữa vì hệ thống giáo dục thật “vô dụng, hủy hoại tâm hồn, cũ rích và chán phèo”. Tôi chả hiểu sao lại có người gọi môn vẽ bằng ngón tay là cũ rích và chán phèo. Bừa bãi, có. Hủy hoại tâm hồn, không. Ông đưa tôi ra khỏi trường với ý định tự mình dạy dỗ tôi, và thay vì để tôi vẽ bằng ngón tay, ông đọc cho tôi nghe những lá thư Vincent van Gogh viết cho em trai Theo ngay trước khi cắt tai mình, và cả những đoạn từ quyển Người, tất cả quá người[1] để cùng nhau chúng tôi có thể “giải cứu Nietzsche khỏi Đức quốc xã”. Rồi bố mất tập trung với một việc tốn thời gian là nhìn trân trối vào khoảng không, còn tôi ngồi lê lết khắp nhà, vờn hai ngón tay cái vào nhau, ước gì có sơn trên đấy. Sau sáu tuần ông ném tôi trở lại trường mẫu giáo, và ngay khi mọi sự trông có vẻ như cuối cùng tôi có thể sống một cuộc đời bình thường, đột nhiên, trong tuần thứ hai của lớp một, ông bước thẳng vào lớp học và lôi tôi ra lần nữa, vì bị khuất phục trước nỗi sợ rằng ông đã để bộ não nhạy cảm của tôi “trong nếp gấp quần lót quỷ Satan”.
Lần này ông làm thật, và từ chiếc bàn ăn xiêu vẹo của chúng tôi, trong lúc gạt tàn thuốc lá vào một đống đĩa chưa rửa, ông dạy tôi văn học, triết học, địa lý, lịch sử, cùng những môn học không tên cần đến việc đọc những tờ nhật báo, quát tháo với tôi rằng truyền thông làm cái việc mà ông gọi là “quất vào sự bấn loạn tinh thần”, và yêu cầu tôi nói với ông tại sao người ta cho phép tinh thần mình bị đánh đến nỗi bấn loạn lên như thế. Những lúc khác ông dạy học từ phòng ngủ của ông, giữa hàng trăm quyển sách cũ, di ảnh những nhà thơ quá cố nghiêm trang, những cổ chai bia rỗng dài, những tập báo cắt ra, những tấm bản đồ cũ, những vỏ chuối đen cứng, những hộp xì gà chưa hút, và những gạt tàn đầy những đầu mẩu thuốc lá đã hút.
Đây là một bài học điển hình:
“Được rồi, Jasper. Là thế này: thế giới chẳng còn sụp đổ một cách lặng lẽ nữa, thời nay nó gây ra một tiếng nghiền nát đinh tai! Ở mỗi thành phố trên thế giới, mùi bánh hamburger dung dăng dung dẻ xuống phố tìm kiếm bạn cũ! Trong các câu chuyện cổ tích truyền thống, mụ phù thủy là kẻ xấu xí; trong truyện cổ tích hiện đại, mụ ta có xương gò má cao và ngực bơm silicone! Con người không còn bí ẩn vì họ chẳng bao giờ câm miệng! Lòng tin soi sáng theo kiểu của mảnh vải bịt mắt! Con có nghe không đấy, Jasper? Đôi khi con đi bộ trong thành phố vào đêm hôm khuya khoắt, và một cô nàng đi trước mặt con sẽ ngoái đầu ngó nghiêng rồi sau đó băng qua đường chỉ đơn giản vì vài kẻ thuộc giới tính của con cưỡng hiếp phụ nữ và làm trò đồi bại với trẻ con!”
Mỗi giờ lên lớp đều có mức độ gây hoang mang như nhau, bao gồm một loạt chủ đề đa dạng. Ông cố lôi kéo tôi tham gia vào các cuộc đối thoại Socrate, nhưng lần nào kết cục cũng là mình ông kiêm cả hai vai. Khi nhà bị cúp điện do bão, bố lại cầm nến đưa tới phía dưới cằm để cho tôi thấy với góc độ ánh sáng thích hợp, khuôn mặt con người có thể biến thành mặt nạ quỷ ra sao. Ông dạy tôi nếu có hẹn với ai, phải từ chối tuân theo “thói quen ngớ ngẩn của con người” trong việc nhất định chọn giờ dựa trên những khoảng cách mười lăm phút. “Đừng bao giờ gặp người ta lúc 7:45 hay 6:30, Jasper ạ, mà hãy chọn những giờ như 7:12 và 8:03!” Nếu điện thoại reo, ông thường nhấc máy rồi im thin thít - sau đó, khi người bên kia nói xin chào, ông lại cất tiếng run run léo nhéo nói, “Bố không có nhà.” Ngay từ khi còn bé tôi đã biết một người lớn giả giọng đứa con trai sáu tuổi của mình để lẩn trốn thế gian là việc làm hết sức lố bịch, nhưng nhiều năm sau tôi thấy mình cũng làm điều tương tự, chỉ có điều là tôi giả làm ông ấy. “Con trai tôi không có nhà. Có việc gì không?” tôi thường nói oang oang như thế. Bố hay gật đầu tán thành. Ông tán thành việc lẩn trốn hơn bất cứ điều gì.
Những bài học này cũng tiếp diễn ra đến thế giới bên ngoài, nơi bố cố gắng dạy tôi nghệ thuật đổi chác, mặc dù chúng tôi không sống trong xã hội kiểu đó. Tôi nhớ ông nắm tay dẫn tôi đi mua báo, rồi quát vào mặt người bán báo bị ông làm cho mất vía, “Không chiến tranh! Không thị trường sụp đổ! Không sát nhân lẩn trốn! Tính tiền đắt thế vì cái gì? Cóc có gì xảy ra cả!”
Tôi cũng nhớ ông đặt tôi ngồi lên chiếc ghế nhựa màu vàng rồi cắt tóc cho tôi; với ông, đấy là một trong những việc quá đơn giản, chứ không như phẫu thuật não, đến nỗi ông không chịu tin rằng nếu một người có đôi tay và cây kéo lại không thể cắt tóc được. “Bố sẽ không phí tiền cho những tay thợ cắt tóc, Jasper ạ. Cần phải biết gì nào? Rõ ràng, con phải dừng tay khi chạm đến da đầu.” Bố tôi là kẻ ưa lý sự - ông thậm chí không thể đơn giản chỉ cắt tóc mà không nghĩ ngợi đến ý nghĩa của nó. “Tóc, biểu tượng của dũng khí và sức sống, dù vài kẻ rất chi ẻo lả lại có tóc dài và nhiều kẻ đầu trọc oai vệ vẫn sống sờ sờ ra đấy. Mà tại sao ta phải cắt nó chứ? Ta có ác cảm gì với nó?” ông thường nói thế, rồi thả cho tóc bay đi với những cú vẩy mạnh tay. Bố cũng tự cắt tóc mình, thường không cần dùng đến gương. “Chả cần đoạt giải gì cả,” ông thường bảo vậy, “chỉ cần ngắn hơn thôi.” Chúng tôi là hai bố con với mái tóc tưng tửng lởm chởm như thế - biểu tượng của một trong những ý tưởng bố tâm đắc nhất mà tôi chỉ thực sự nghiệm ra mãi rất lâu sau này: tự do nằm trong chính bộ dạng điên khùng.
Khi đêm xuống, những bài học trong ngày được đúc kết bằng một chuyện kể trước giờ đi ngủ do ông tự sáng tác. Khiếp! Chúng toàn là những câu chuyện tối tăm và khiến người nghe sởn tóc gáy, mỗi chuyện lại có một nhân vật chính rõ ràng là đại diện cho tôi. Đây là một chuyện tiêu biểu: Ngày xửa ngày xưa có một cậu bé tên là Kasper. Bạn bè của Kasper đều có cùng suy nghĩ về một đứa bé mũm mĩm sống ở cuối phố. Chúng ghét nó. Kasper muốn được tiếp tục chơi với đám bạn, thế là nó cũng đâm ra ghét đứa bé. Rồi một sáng nọ Kasper tỉnh giấc và phát hiện não của nó bắt đầu thối rữa cho đến khi chảy ra khỏi mông nó qua sự bài tiết hậu môn đau đớn. Tội nghiệp Kasper! Nó đã phải chịu nhiều đau khổ. Trong loạt truyện đêm khuya này, nó bị bắn, bị đâm, bị nện dùi cui, bị nhúng vào nước biển sôi sùng sục, bị lôi xềnh xệch trên bãi kính vỡ, bị rút móng tay, nội tạng bị thú dữ ăn; nó biến mất, nổ banh xác, nổ thủng ruột, thường bỏ mạng vì những cơn co giật dữ dội và mất thính giác. Bài học lúc nào cũng thế: nếu nghe theo ý kiến đám đông mà không nghĩ cho bản thân, ta sẽ đón lấy cái chết bất đắc kì tử và rùng rợn. Suốt nhiều năm trời, tôi đã khiếp sợ không dám đồng ý với ai về bất kì điều gì, kể cả về giờ giấc.
Kasper chưa bao giờ chiến thắng vẻ vang. Dĩ nhiên, nó thắng vài ba trận lẻ tẻ và được thưởng (hai đồng tiền vàng, một nụ hôn, sự tán thành của bố nó), nhưng chưa bao giờ, dù chỉ một lần, nó thắng cuộc chiến. Bây giờ thì tôi nhận ra đó là vì triết lý của bố đã chẳng đem lại cho ông thắng lợi nào trong cuộc sống: không tình yêu, không bình yên, không thành công, không hạnh phúc. Đầu óc của bố không thể hình dung ra một sự bình yên dài lâu hoặc một chiến thắng ý nghĩa; nó không có trong kinh nghiệm sống của ông. Đó là lý do vì sao Kasper từ đầu đã phải chịu số phận bi thảm. Nó chẳng có lấy một cơ hội, tội nghiệp thằng bé.
***
Một trong những giờ lên lớp đáng nhớ nhất bắt đầu khi bố bước vào phòng ngủ của tôi với một chiếc hộp đựng giày màu xanh ô liu cặp dưới cánh tay, và nói, “Bài học hôm nay là về con.”
Ông đưa tôi đến công viên đối diện tòa nhà chung cư của chúng tôi, một công viên buồn bã hoang phế của thành phố mà thoạt trông như bãi chiến trường giữa lũ trẻ con với đám nghiện ngập và kết quả là lũ trẻ bị đá đít đi. Cỏ chết héo, cầu tuột gãy, vài ba chiếc bánh xe cao su làm xích đu đong đưa trong gió trên những sợi xích gỉ sét, quấn vào nhau.
“Nghe đây, Jasper,” bố nói khi chúng tôi ngồi xuống một băng ghế. “Đã đến lúc con tìm hiểu xem ông bà mình đã thảm bại thế nào, để con biết mình đã làm gì với những thất bại của các bậc tiền bối: con đã chạy cùng họ hay là nẩy bật ra khỏi những sai lầm của họ, thay vào đó tự tạo ra những sai lầm to lớn cho mình trong một quỹ đạo trái ngược? Tất cả chúng ta đều bò yếu ớt ra khỏi những nấm mồ của ông bà, trong tai văng vẳng âm thanh về cái chết buồn bã của họ, còn trong miệng ta là dư vị của sự xúc phạm đáng tởm nhất đối với chính họ: nỗi ô nhục về cuộc đời chưa được sống. Chỉ có sự tích lũy những hối tiếc, thất bại, sự hổ thẹn của ta hoặc cuộc đời chưa được sống của ta mới có thể mở ra cánh cửa thấu hiểu họ. Nếu nhờ sự run rủi của số phận mà ta sống một cuộc đời may mắn, hăng hái tiến từ thành công vang dội này đến thắng lợi vẻ vang khác, thì ta sẽ không bao giờ hiểu được họ! Không bao giờ!”
Ông mở hộp giày ra. “Bố muốn con xem cái này,” bố nói, lôi ra một xấp ảnh rời. “Đây là ông nội con,” ông nói tiếp, cầm lên một tấm ảnh trắng đen của một thanh niên có râu quai nón đứng dựa vào cột đèn đường. Người đàn ông không cười; trông như ông đang dựa vào cột đèn vì sợ ngã.
Bố chuyển sang ảnh của một phụ nữ với khuôn mặt trái xoan giản dị và nụ cười yếu ớt. “Đây là bà của con,” ông nói, trước khi lật những tấm ảnh như thể đang bị tính giờ. Những cái nhìn lướt qua về quá khứ đơn sắc mà tôi bắt gặp thật là kì lạ. Biểu hiện của họ trước sau như một; ông thì mang một vẻ ưu buồn cáu kỉnh thường trực, còn nụ cười của bà thì trông còn phiền muộn hơn cả cái nhíu mày buồn bã nhất.
Bố lôi ra một tấm ảnh khác. “Đây là bố số hai của bố. Bố thật sự của bố. Người ta cứ nghĩ người bố sinh học thì “ruột rà” hơn người thực sự nuôi lớn mình, nhưng một giọt tinh dịch khỏe mạnh đâu có nuôi con lớn khôn, phải không nào?”
Ông chìa tấm ảnh trước mắt tôi. Tôi không biết những khuôn mặt có thể đối lập nhau như hai địa cực không, nhưng trái với khuôn mặt nghiêm trang của người ông thứ nhất, người này cười toe toét như thể được chụp ảnh trong ngày vui nhất không phải của cuộc đời ông ấy mà của toàn thể cuộc đời trên thế gian. Ông ấy mặc một chiếc quần yếm lấm lem sơn trắng, mái tóc vàng hoe rối bời, và đang đổ mồ hôi như tắm.
“Thực tình mà nói, bố không thường xuyên xem những tấm ảnh này đâu, vì tất cả những gì bố thấy khi xem ảnh người chết là họ đã chết cả rồi,” bố nói. “Bất kể là Napoleon hay mẹ ruột của bố, họ chỉ đơn giản là Người chết.”
***
Ngày hôm đó tôi biết được rằng bà nội tôi chào đời ở Ba Lan đúng vào thời khắc đen đủi khi Hitler tiêu diệt ảo tưởng quyền lực của mình bằng cách biến nó thành hiện thực - y nổi lên như một nhà lãnh đạo uy quyền có thiên tài làm tiếp thị. Khi quân Đức tràn đến, bố mẹ của bà nội tôi trốn khỏi Warsaw, kéo bà băng qua Đông Âu, và sau mấy tháng nằm gai nếm mật, cuối cùng đặt chân đến Trung Quốc. Đó là nơi bà nội lớn lên - trong Khu người Do Thái Thượng Hải suốt thời gian chiến sự xảy ra. Bà được dạy nói tiếng Ba Lan, tiếng Đức cổ của người Do Thái, và tiếng Quan thoại, chịu đựng những chứng bệnh ẩm ướt khó chịu của mùa mưa, khẩu phần ăn khắc nghiệt, và các cuộc không kích của Mỹ, nhưng vẫn sống sót.
Sau khi binh lính Mỹ vào đến Thượng Hải đem theo tin dữ về nạn diệt chủng, và nhiều người trong cộng đồng Do Thái bỏ Trung Quốc tản đi khắp các ngóc ngách của thế giới, ông bà cụ cố tôi quyết định ở lại, bởi lúc này họ đã làm ông bà chủ một hộp đêm đa ngôn ngữ phát đạt và một tiệm bán thịt cho người ăn kiêng[2]. Việc này hoàn toàn hợp ý bà nội tôi, vì bà đã đem lòng yêu ông nội, một diễn viên trong đoàn nghệ thuật hộp đêm của ông bà cụ cố. Sau đó, năm 1956, khi mới mười bảy tuổi, bà nội tôi có mang, buộc bà và gia đình ông nội tôi phải cấp tốc chuẩn bị lễ cưới như người ta vẫn phải làm trong thời phong kiến nếu không muốn thiên hạ xì xầm tính tháng đếm ngày. Tuần lễ tiếp theo sau lễ cưới, gia đình quyết định trở về Ba Lan, để nuôi dưỡng đứa bé sắp chào đời, chùm tế bào sẽ trở thành bố tôi, ở quê nhà của họ.
Họ không được nhiệt liệt chào đón ở quê nhà, nói nhẹ nhất là thế. Ai mà biết đấy là cảm giác tội lỗi hay nỗi sợ bị trả thù hoặc đơn thuần là sự ngạc nhiên không mong đợi từ một gia đình nhấn chuông cửa rồi nói, “Ông bà đang ở trong nhà của tôi,” chỉ biết rằng chưa đầy mười phút sau khi họ về nhà, ngay trước mặt bà nội tôi, ông bà cụ cố bị đánh chết bằng ống sắt. Bà nội tôi bỏ chạy nhưng ông nội ở lại, và ông đã bị bắn vì cầu nguyện bằng tiếng Hebrew trên thi thể họ, dù ông chưa kịp nói “Amen”, vì thế thông điệp vẫn chưa được truyền đi. (“Amen” giống như nút Gửi trong email.)
Đột nhiên trở thành góa phụ và con mồ côi, bà trốn khỏi Ba Lan lần thứ hai trong cuộc đời niên thiếu của mình, lần này trên một chiếc tàu nhổ neo đến Úc, và sau hai tháng nhìn trân trối vào đường chu vi mờ mịt của chân trời, bà lâm bồn đúng vào lúc một ai đó thét lên, “Nó kia rồi!” Mọi người chạy dồn về mạn tàu và chồm khỏi lan can. Những vách đá thẳng đứng đội vương miện cây xanh um tùm nằm ven bờ biển. Nước Úc! Những hành khách trẻ tuổi phát ra tiếng kêu mừng rỡ. Những hành khách già hơn thì biết rằng chiếc chìa khóa hạnh phúc nằm ở việc không kì vọng quá cao. Họ kêu “boo”.
***
“Nãy giờ con có theo kịp bố không?” Bố hỏi, tự ngắt lời mình. “Đây là những thành phần đúc nên bản sắc của con. Ba Lan. Do Thái. Kẻ bị ngược đãi. Người tị nạn. Đây chỉ là một vài loại rau để làm thành món súp Jasper. Hiểu chưa?”
Tôi gật đầu. Con hiểu rồi. Bố tiếp tục.
***
Dù một chữ tiếng Anh cũng không nói nổi, nhưng bà nội vẫn cưa đổ ông nội số hai của tôi chỉ sau sáu tháng. Liệu đây là nguồn gốc của niềm tự hào hay nỗi hổ thẹn vẫn là điều đáng tranh cãi, nhưng ông là người mà gốc gác gia đình có thể truy đến chuyến tàu cuối cùng chở những người Anh bị kết án tù đem bỏ lên đất Úc. Dù đúng là một số tội phạm bị chuyển xuống đây vì những tội danh nhỏ nhặt như ăn cắp một ổ bánh mì, nhưng tổ tiên bố tôi lại không phải một người trong số đó - hoặc giả ông cũng là một trong số đó, nhưng ông còn cưỡng hiếp ba phụ nữ, và liệu sau khi cưỡng hiếp những người phụ nữ này, ông có khoắng ổ bánh mì nào trên đường về nhà không thì không ai biết.
Thời gian tìm hiểu của họ rất chóng vánh. Dường như chẳng bận tâm đến việc có một đứa con không phải do mình sinh ra, trong vòng một tháng, trang bị cho mình một quyển từ điển tiếng Ba Lan và một quyển sách văn phạm tiếng Anh, ông hỏi cưới bà nội tôi. “Anh chỉ là một thằng giỏi đấm đá, điều đó nghĩa là chúng ta sẽ chống chọi với cuộc đời, và cuộc đời có thể sẽ lần nào cũng thắng, nhưng chúng ta sẽ không bao giờ bỏ cuộc, bất kể ra sao, em thấy thế nào?” Bà không trả lời. “Thôi nào. Chỉ cần nói, ‘Em đồng ý’,” ông van nài. “Nhắc đến từ động từ “đồng ý”. Bây giờ em chỉ cần biết thế. Sau đó chúng ta sẽ học tiếp đến ‘Em đã đồng ý’.”
Bà tôi cân nhắc tình hình. Bà không có ai giúp trông đứa trẻ nếu bà phải ra ngoài làm lụng, mà bà cũng chẳng muốn con mình lớn lên không cha và nghèo khổ. Bà nghĩ, “Mình có đủ bỉ ổi để cưới một người mà mình không thực sự yêu vì lợi ích của con trai mình? Có, mình có.” Rồi, nhìn vào khuôn mặt vô phước của ông, bà nghĩ, “Mình còn làm được những việc tồi tệ hơn ấy chứ,” một câu nói nghe có vẻ hiền hòa song lại gây ớn lạnh nhất trong bất kì ngôn ngữ nào.
Lúc họ kết hôn, ông đang thất nghiệp, và khi bà dọn vào căn hộ của ông, bà đã phát nản khi phát hiện nó chứa tả pín lù các món đồ chơi đàn ông đáng sợ: súng trường, súng lục giả, mô hình máy bay chiến đấu, những quả cân và quả tạ. Khi mải mê tập thể hình, luyện võ, hoặc lau chùi súng, ông thường huýt sáo vui vẻ. Trong những khoảnh khắc lặng lẽ khi nỗi bực dọc vì thất nghiệp xâm chiếm và ông chìm đắm trong giận dữ và trầm uất, ông lại huýt những giai điệu buồn rầu.
Rồi sau đó ông tìm được một việc làm tại Cơ quan quản lý trại giam New South Wales cạnh một thị trấn nhỏ ở cách đấy bốn giờ. Ông không làm việc trong nhà tù - ông sẽ giúp xây dựng nó.
Vì một nhà tù sẽ sớm xuất hiện lừng lững ở ngoại ô thị trấn, một tờ báo thiếu tử tế ở Sydney đã gọi khu định cư này (nơi mà bố tôi sẽ lớn lên) là nơi chán sống nhất ở New South Wales.
Đường vào thị trấn nằm trên một con dốc đi xuống, và khi ông bà tôi lái xe đến, họ trông thấy phần nền của trại cải tạo trên đỉnh một ngọn đồi. Nằm giữa những cái cây khổng lồ câm nín, trong mắt bà nội tôi, nhà tù đang xây dang dở đó giống như đang bị phá dở dang, và ý nghĩ ấy khiến bà giật mình cho là điềm gở. Nó cũng khiến tôi giật mình, nghĩ đến việc ông tôi dọn đến thị trấn này để xây nhà tù còn tôi bây giờ đang viết từ một trại giam. Quá khứ quả thực là một cái u nhọt không thể cắt bỏ và lây lan đến hiện tại.
Họ dọn đến một căn nhà hình hộp bằng ván lá sách, và ngày hôm sau, khi bà đang thăm thú thị trấn, vô tình làm cư dân ở đó hoảng vía với hơi hướm của một kẻ sống sót qua nạn diệt chủng, thì ông nội tôi bắt đầu công việc mới. Tôi không rõ ông có vai trò gì, nhưng rõ ràng trong nhiều tháng sau đó ông không ngừng nói về những cánh cửa khóa, những gian phòng lạnh lẽo, số đo phòng giam, và những cửa sổ bọc lưới. Khi tòa nhà sắp xây xong, ông trở nên bị ám ảnh với mọi thứ liên quan đến nhà tù, thậm chí còn mượn sách từ một thư viện mới mở trong vùng để đọc về quá trình xây dựng và lịch sử của chúng. Trong khi đó, bà tôi dồn hết sức lực cho chuyện học tiếng Anh, và đây là khởi đầu cho một tai họa mới. Khi khả năng hiểu tiếng Anh của bà tăng lên, bà bắt đầu hiểu chồng mình.
Những câu nói đùa của ông trở nên ngớ ngẩn và đậm tính kì thị chủng tộc. Hơn nữa nhiều chuyện chẳng phải đùa mà chỉ là những câu chuyện dài lê thê vô nghĩa kết thúc bằng một câu nói của ông đại loại như “Thế là anh nói, ‘Ô vậy ư?’” Bà nhận ra ông luôn mồm bốc phét về chuyện đời mình, và khi không khó chịu, ông lại là một kẻ sáo rỗng; khi không hoang tưởng, ông lại chán bỏ xừ. Chẳng bao lâu sau, những cuộc nói chuyện khiến khuôn mặt điển trai của ông trở nên xấu xí; vẻ mặt ông nhuốm nét ác độc; cái miệng ông, nửa há ra, trở thành biểu hiện của sự ngu dốt. Kể từ đó, mỗi ngày trở nên tồi tệ hơn bởi rào cản ngôn ngữ mới mọc lên giữa họ - rào cản của việc nói cùng một thứ tiếng.
***
Bố đặt những tấm ảnh trở lại hộp với vẻ mặt ủ dột, tựa như ông muốn đi một chuyến vào con ngõ kí ức nhưng khi đến nơi mới nhớ ra đó là con đường mà ông ít muốn đi nhất.
“Được rồi, đấy là ông bà con. Những gì con cần biết về ông bà là họ cũng từng có một thời tuổi trẻ. Con phải biết họ không cố ý trở thành hiện thân của sự mục ruỗng hoặc là muốn ôm khư khư những suy nghĩ của mình cho đến ngày cuối đời. Con phải biết họ không muốn bị tận số. Con phải biết họ chết rồi và người chết thì hay mơ bậy bạ. Họ mơ thấy chúng ta.”
Ông nhìn tôi trân trối một lúc, chờ tôi nói gì đấy. Bây giờ, dĩ nhiên, tôi biết mọi chuyện ông kể cho tôi nghe chỉ đơn giản là một lời mở đầu. Lúc đó tôi không hiểu rằng sau một màn độc thoại hùng hồn trôi chảy, bố không mong gì hơn là tôi khích ông nói sang một đề tài khác. Tôi chỉ chĩa tay vào chiếc xích đu và nhờ ông đẩy tôi.
“Con biết gì không?” ông bảo. “Có lẽ bố sẽ thảy con vào vòng đấu cho một trận nữa.”
Ông sẽ đưa tôi trở lại trường học. Có lẽ ông biết chỉ ở đó tôi mới biết được phần thứ hai của câu chuyện, rằng tôi không chóng thì chầy sẽ phát hiện ra một nguyên liệu khác, một nguyên liệu quan trọng cho món súp bản sắc độc đáo của mình.
***
Một tháng sau ngày đi học ở trường mới, tôi vẫn đang tìm cách thích nghi lần nữa với bọn trẻ con, và tự nhủ mình sẽ không bao giờ hiểu được vì sao bố lại chuyển từ ra lệnh cho tôi khinh bỉ những đứa này sang hòa nhập với chúng.
Tôi chỉ có duy nhất một đứa bạn, nhưng tôi cũng cố tìm thêm đứa nữa, vì để sống sót anh cần ít nhất hai người bạn, trong trường hợp một đứa nghỉ ốm. Một ngày nọ vào giờ ăn trưa, tôi đang đứng sau căng-tin nhìn hai đứa con trai đánh nhau giành một cây súng nước màu đen.
Một trong hai đứa nói, “Cậu làm cảnh sát đi. Tớ muốn làm Terry Dean.”
Đứa kia đáp, “Không, cậu làm cảnh sát. Tớ làm Terry Dean.”
Tôi cũng muốn chơi. Tôi nói, “Hay là để tớ làm Terry Dean cho. Dù sao đấy cũng là họ của tớ mà.” Chúng nhìn tôi bằng ánh mắt ác cảm vênh váo mà những đứa bé tám tuổi thường có. “Tớ là Jasper Dean,” tôi nói thêm.
“Có bà con họ hàng gì không?”
“Tớ không nghĩ vậy.”
“Vậy thì cút đi.”
Thật đau lòng.
Tôi bảo, “Thôi, thế thì tớ sẽ làm cảnh sát.”
Câu nói lập tức khiến chúng chú ý. Mọi người đều biết rằng trong trò cảnh sát và ăn cướp, kẻ cướp lúc nào cũng là anh hùng còn cảnh sát là đồ bỏ đi. Không thể có quá nhiều đồ bỏ đi cùng một lúc.
Chúng tôi chơi suốt giờ ăn trưa và khi nghe tiếng chuông reo, tôi đã phản bội sự ngây thơ của mình bằng cách hỏi, “Ai là Terry Dean?” - một câu hỏi khiến các bạn chơi của tôi phát ốm.
“Mẹ kiếp! Mày còn không biết ông ta là ai!”
“Ông ta là người xấu xa nhất trần đời.”
“Ông ta là cướp nhà băng.”
“Và là kẻ giết người!” đứa kia nói, trước khi chúng bỏ chạy không lời từ biệt, giống như khi anh đi đến một hộp đêm với đám bạn và chúng gặp may.
Chiều hôm ấy tôi về nhà, thấy bố đang cầm một quả chuối đập vào cạnh tủ, tạo ra tiếng gõ mạnh.
“Bố đã làm đóng băng một quả chuối,” ông nói với vẻ phờ phạc. “Cắn một miếng đi... nếu con dám.”
“Con có họ hàng với kẻ cướp nhà băng khét tiếng Terry Dean không?” tôi hỏi.
Quả chuối rơi xuống như một khúc xi măng. Bố bặm môi, và từ nơi nào đó thẳm sâu bên trong, một giọng nói trống rỗng nhỏ xíu mà tôi phải căng tai để nghe cất lên, “Đấy là chú của con.”
“Ai của con? Chú của con? Con có chú á?” tôi ngờ vực hỏi. “Và chú ấy là một tay cướp nhà băng khét tiếng?”
“Đã từng. Nó chết rồi,” bố đáp, trước khi nói thêm, “nó là em trai bố.”
Đấy là lần đầu tiên tôi nghe về ông ấy. Terry Dean, kẻ giết cảnh sát, tên cướp nhà băng, anh hùng của quốc gia, niềm tự hào của kẻ chiến đấu - ông ấy là chú của tôi, em trai của bố tôi, và ông ấy sẽ phủ một cái bóng thuôn dài lên cuộc đời cả hai chúng tôi. Trong suốt một thời gian dài, cái bóng ấy đã khiến chúng tôi chẳng ai có được màu da rám nắng tử tế.
Nếu bạn là người Úc, bạn ít nhất sẽ từng nghe nói về Terry Dean. Nếu không, bạn sẽ chưa từng nghe, vì mặc dù Úc là một nơi đầy ắp sự kiện, nhưng chuyện gì xảy ra ở đây cũng đều có thể trở thành đề tài cho báo chí thế giới, chẳng hạn như “Ong chết ở New Guinea sau khi đâm nhầm một cái cây.” Đấy không phải lỗi của chúng tôi. Chúng tôi ở xa quá. Đó chính là điều mà một nhà sử học người Úc nổi tiếng từng gọi là “sự chuyên chế của khoảng cách.” Ý ông ta là, nước Úc giống như một bà già cô đơn chết mục trong căn hộ của mình; nếu mọi người sống trên mảnh đất này đột nhiên bị vỡ động mạch vào chính xác cùng một thời điểm và nếu sa mạc Simpson chết khô còn những rừng mưa chìm trong lũ lụt và rặng san hô chảy máu đến chết, thì phải mất nhiều ngày sau, mùi hương phảng phất băng qua đại dương đến các bạn láng giềng Thái Bình Dương của chúng tôi mới có thể buộc ai đó gọi điện báo cảnh sát. Bằng không chúng tôi sẽ phải chờ đợi đến khi Bắc bán cầu phàn nàn về việc thư gửi đi không có người nhận.
Bố không chịu nói gì với tôi về em trai ông. Mỗi khi tôi hỏi chi tiết, ông lại thở dài rũ rượi, tựa như đấy là một sự thất bại nữa mà ông không cần, vì thế tôi bắt tay vào tự tìm hiểu.
Đầu tiên tôi hỏi các bạn cùng lớp, nhưng tôi nhận được những câu trả lời khác nhau một trời một vực đến nỗi tôi đành phải bỏ lửng chúng. Sau đó tôi kiểm tra bộ ảnh tẻ nhạt của gia đình mà tôi chỉ mới kịp liếc sơ trước đây, những bức ảnh nằm trong hộp giày màu xanh nhét trong tủ quần áo. Lần này tôi nhận thấy có ba tấm ảnh đã bị hành quyết để bỏ đầu của một người nào đấy. Khó mà gọi đó là một vụ mổ xẻ tươm tất. Tôi vẫn thấy được cổ và vai trong hai tấm ảnh, còn tấm thứ ba chỉ là hai miếng băng dính màu nâu, loại dùng để đóng gói, dán cẩu thả vào nhau với những đường mép không ngay ngắn. Tôi kết luận rằng bố đã cố xóa bỏ mọi hình ảnh về em trai mình để có thể quên đi chú ấy. Nỗ lực này rõ ràng là vô ích; khi anh dành ra ngần ấy công sức để quên một ai đó, bản thân công sức ấy sẽ trở thành một kí ức. Sau đó anh phải quên việc cần quên, và điều đó cũng lưu vào bộ nhớ. May sao, bố không thể xóa những bài báo mà tôi tìm thấy ở thư viện bang, trong đó tường thuật các cuộc phiêu lưu của Terry, vụ thảm sát của chú ấy, cuộc săn lùng chú ấy, phi vụ bắt chú ấy, và cái chết của chú ấy. Tôi photocopy các bài báo và dán chúng lên tường phòng ngủ của mình, đến tối tôi tưởng tượng mình là chú, tên tội phạm táo tợn nhất từng giấu một thi thể trong đất và chờ cho nó mọc lên.
Trong một nỗ lực nhằm khuếch trương sự nổi tiếng của mình, tôi nói với mọi người ở trường về mối liên hệ của tôi với Terry Dean, làm mọi thứ để tin được truyền đi mà không cần thuê người phát ngôn. Nó trở thành tin chấn động trong một thời gian, và là một trong những sai lầm tệ hại nhất mà tôi từng phạm phải. Thoạt đầu, tôi đem đến cảm giác khiếp đảm trên khuôn mặt những đứa bạn trạc tuổi. Nhưng rồi lũ trẻ con mọi lứa tuổi ùn ùn kéo đến muốn đánh nhau với tôi. Vài đứa muốn được nổi tiếng vì đã đánh cháu trai của Terry Dean. Những đứa khác hăm hở xóa nụ cười kiêu hãnh khỏi mặt tôi; lòng kiêu hãnh hẳn đã phóng đại nét mặt tôi lên một cách xấu xí. Tôi lựa lời thoái thác được một số cuộc ẩu đả, nhưng một ngày nọ trước giờ lên lớp, những kẻ tấn công đã chơi khăm tôi bằng cách phá quy tắc giờ giấc cho các vụ đánh nhau: luôn xảy ra sau giờ học, không bao giờ vào buổi sáng, trước khi một đứa bé tám tuổi uống xong cà phê. Tóm lại là, có bốn đứa cả thảy, bốn võ sĩ nhà nghề mặt mũi bặm trợn, tay giơ nắm đấm. Tôi không có lấy cơ hội nào. Tôi bị dồn vào góc. Chính là nó đây: trận đánh nhau đầu đời của tôi.
Một đám đông đã tụ tập xung quanh để theo dõi. Bọn chúng gân cổ gào thét bằng giọng điệu man rợ nhất. Tôi tìm kiếm gương mặt đồng minh. Không may rồi. Tất cả bọn chúng đều muốn chứng kiến cảnh tôi kêu gào lúc bị hạ gục. Tôi không để bụng chuyện đó. Đã đến lượt tôi, thế thôi. Tôi nói bạn nghe, không thể nào mô tả được niềm vui của trẻ con khi xem một trận đánh nhau. Đấy là một cơn cực khoái mùa Giáng sinh làm đê mê một đứa trẻ. Và đây là bản chất của con người không bị đánh mất bởi tuổi tác và kinh nghiệm! Đây là nhân loại tinh khiết mới bóc tem! Người nào nói cuộc sống biến con người ta thành quái vật nên xem lại bản chất nguyên sơ của trẻ con, nhiều đứa chưa kịp nếm mùi thất bại, hối tiếc, thất vọng và phản bội, nhưng vẫn hành xử như những con chó hoang. Tôi không có ác cảm với trẻ con, tôi chỉ không tin là một đứa bé sẽ không bật cười nếu tôi vô tình giẫm phải mìn.
Kẻ thù của tôi áp sát. Trận đánh chỉ còn vài giây nữa là bắt đầu, và có lẽ còn nhiều giây nữa mới kết thúc. Tôi không còn nơi nào để đi. Chúng đến gần hơn. Tôi đưa ra một quyết định vĩ đại: Tôi sẽ không đánh đấm gì hết. Tôi sẽ không xử sự như nam nhi chi chí. Tôi sẽ không đánh nhau như một chiến binh. Nghe này, tôi biết người ta thích đọc về những kẻ bị thua thiệt về sức mạnh bù đắp điều ấy bằng tinh thần, như chú Terry của tôi. Những kẻ được kính trọng chính là những kẻ xông vào đánh nhau, đúng không? Nhưng những sinh vật cao quý ấy vẫn bị đánh cho tơi bời hoa lá, mà tôi gì thì gì không muốn bị nện cho te tua. Vả lại, tôi nhớ điều bố từng dạy tôi trong một lần lên lớp ở bàn ăn nhà bếp. Ông bảo, “Nghe đây, Jasper. Lòng kiêu hãnh là thứ đầu tiên con cần gạt bỏ trong cuộc sống. Nó sinh ra là để làm cho con cảm thấy tự mãn về bản thân. Giống như mặc đồ cho củ cà rốt quắt queo rồi dắt nó đi đến nhà hát, vờ như nó là một người quan trọng. Bước đầu tiên trong quá trình giải phóng bản thân là thoát khỏi lòng tự trọng. Bố hiểu vì sao nó có ích cho một số người. Khi người ta không có gì, họ vẫn có thể có lòng tự trọng. Bởi vậy mà người nghèo được gieo vào đầu chuyện thần thoại về tinh thần cao thượng, vì tủ thức ăn của họ trống rỗng. Con có đang nghe bố không đấy? Điều này rất quan trọng, Jasper ạ. Bố không muốn con can dự gì đến lòng cao thượng, kiêu hãnh, hay tự trọng cả. Chúng là công cụ để con đúc đồng cái đầu của mình.”
Tôi ngồi bệt xuống đất khoanh hai chân lại. Tôi thậm chí không thèm giữ thẳng lưng. Tôi thõng vai xuống. Chúng phải cúi xuống mới đấm được vào hàm tôi. Một đứa quỳ gối xuống để ra tay. Chúng thay phiên nhau. Chúng cố buộc tôi đứng dậy; tôi để cơ thể mình mềm rũ ra. Một đứa phải dựng tôi lên, nhưng tôi đã trở nên trơn chuồi chuội và trượt gọn qua kẽ tay chúng xuống dưới đất. Tôi vẫn đang hứng trận đòn, và đầu tôi váng vất bởi những cú đấm mạnh nện vào nó, nhưng trận đánh trở nên lọt chọt, lúng túng. Cuối cùng kế hoạch của tôi có tác dụng: chúng bỏ cuộc. Chúng hỏi tôi bị làm sao. Chúng hỏi sao tôi không đánh trả. Có lẽ sự thật là tôi mải ngăn cho nước mắt đừng rơi ra nên chẳng còn hơi sức đâu mà đánh trả bọn chúng, nhưng tôi vẫn im thin thít. Chúng nhổ nước bọt vào tôi rồi bỏ mặc tôi ngắm nghía màu máu của mình. Trên nền áo sơ mi trắng, nó có màu đỏ dạ quang.
Khi về nhà, tôi thấy bố đứng cạnh giường tôi, nhìn khinh khỉnh vào những bài báo mà tôi cắt dán trên tường.
“Chúa ơi. Chuyện gì xảy ra với con vậy?”
“Con không muốn nói về nó.”
“Đi lau người cho sạch nào.”
“Không, con muốn xem chuyện gì xảy ra với máu khi để nó qua đêm.”
“Đôi khi nó chuyển thành màu đen.”
“Con muốn thấy thế.”
Tôi vừa định bóc những tấm ảnh của chú Terry xuống thì bố bảo, “Bố muốn con tháo mấy cái này ra,” vì vậy dĩ nhiên tôi giữ chúng nguyên chỗ cũ. Rồi bố nói, “Đây không phải là con người thật của nó. Người ta đã biến nó thành một anh hùng.”
Đột nhiên tôi thấy mình lại yêu mến người chú hư hỏng của mình, vậy là tôi nói, “Chú ấy là anh hùng.”
“Bố của một đứa trẻ mới là anh hùng của nó, Jasper ạ.”
“Bố có chắc thế không?”
Bố quay lưng lại, khịt mũi trước những dòng tiêu đề.
“Con không biết thế nào là anh hùng đâu, Jasper ạ. Con lớn lên vào thời đại mà hai chữ ấy bị làm xấu đi, tước mất mọi ý nghĩa. Chúng ta đang nhanh chóng trở thành quốc gia đầu tiên mà dân số chỉ rặt một lũ anh hùng chẳng làm gì ngoài chuyện tung hô nhau. Dĩ nhiên chúng ta luôn tôn làm anh hùng những nam nữ vận động viên xuất sắc - nếu con thi đấu tốt cho đất nước với tư cách là vận động viên chạy đường dài, con vừa anh hùng vừa chạy nhanh - nhưng bây giờ tất cả những gì con cần làm là xuất hiện đúng nơi đúng lúc, như thằng cha tội nghiệp nọ bị chôn vùi trong tuyết lở. Từ điển sẽ gắn cho hắn cái mác người sống sót, nhưng nước Úc thì sẵn lòng gọi hắn là anh hùng, vì quyển từ điển thì biết cái gì chứ? Và giờ đây ai trở về từ một vụ xung đột vũ trang cũng được gọi là anh hùng tuốt. Ngày xưa con phải có hành động dũng cảm cụ thể trong chiến tranh, ngày nay con chỉ cần có mặt. Thời nay khi chiến tranh diễn ra, chủ nghĩa anh hùng dường như mang nghĩa “sự có mặt”.”
“Việc này liên can gì đến chú Terry?”
“Thì, nó rơi vào phân nhóm cuối cùng của chủ nghĩa anh hùng. Nó là một tên sát nhân, nhưng những nạn nhân của nó được lựa chọn kĩ.”
“Con không hiểu.”
Bố quay người về phía cửa sổ, và cứ xem đôi tai ông ngọ nguậy lên xuống, tôi biết ngay ông đang tự nói chuyện với mình bằng một cách kì lạ là cử động môi nhưng giữ lại hết mọi âm thanh. Cuối cùng ông nói như người bình thường.
“Người ta không hiểu bố, Jasper ạ. Mà như vậy cũng không sao, nhưng đôi khi nó gây khó chịu, vì họ cứ tưởng là họ hiểu. Song tất cả những gì họ thấy là vẻ bề ngoài của bố trong quan hệ xã giao, và thực ra, bố hiếm khi điều chỉnh tư cách của Martin Dean trong nhiều năm nay rồi. Ồ hẳn nhiên, chỉnh chỗ này một chút, sửa chỗ kia một tẹo, con biết đấy, để mà tiến lên với đời, nhưng nó thực chất vẫn nguyên vẹn như ngày đầu. Người ta luôn bảo tính cách một con người là không thể thay đổi, nhưng đa phần chính tư cách mới không thay đổi, chứ không phải con người, và bên dưới cái mặt nạ không đổi ấy là một sinh vật đang tiến hóa như điên, biến thể ngoài vòng kiểm soát. Bố bảo con, con người nhất quán nhất mà con biết thật ra lại là một người hoàn toàn xa lạ với con, nở hoa đâm chồi đủ thể loại hoa lá cành và con mắt thứ ba. Con có thể ngồi cạnh người ấy trong một văn phòng nhỏ suốt mười năm trời mà không nhận thấy sự bộc phát tăng trưởng diễn ra ngay trước mắt mình. Nói thật, kẻ nào mà nói một người bạn của mình đã không thay đổi trong nhiều năm chẳng qua là không phân biệt được một cái mặt nạ với một khuôn mặt thật.”
“Bố đang nói chuyện quái quỷ gì thế?”
Bố đi đến giường tôi, và sau khi gấp đôi chiếc gối, thong thả nằm xuống.
“Bố đang nói bố luôn có một giấc mơ cỏn con là sẽ có người được nghe trực tiếp về tuổi thơ bố. Chẳng hạn như, con có biết những khiếm khuyết hình thể của bố suýt khiến bố mất mạng không? Con có nghe câu thành ngữ “Khi nặn nó ra, người ta ném cái khuôn đi”? Chà, có vẻ như ai đó nhặt được một cái khuôn bị ném đi, và dù nó bị nứt nẻ cong queo dưới ánh mặt trời, kiến bò vào trong và một gã bợm già đã tiểu tiện lên nó, họ vẫn dùng lại nó để nặn ra bố. Chắc con cũng không biết rằng người ta luôn chèn ép bố vì bố thông minh. Họ bảo, “Mày khôn quá, Martin, quá ư là thông minh, khôn quá hóa phiền đấy.” Bố mỉm cười và nghĩ chắc họ nhầm lẫn rồi. Làm sao một người có thể quá thông minh được? Có giống như người ta quá xinh đẹp? Hay quá giàu có? Hay quá hạnh phúc? Điều bố không hiểu là người ta không suy nghĩ; họ nhắc đi nhắc lại. Họ không xử lý; họ nhai lại. Họ không tiêu hóa; họ sao chép. Lúc đó bố chỉ có mỗi một mẩu nhận thức rằng bất kể người ta nói gì, lựa chọn giữa những phương án có sẵn không đồng nghĩa với việc nghĩ cho bản thân ta. Cách đúng đắn duy nhất để nghĩ cho bản thân mình là tạo ra phương án cho riêng mình, những phương án chưa có sẵn. Đó là điều mà tuổi thơ bố dạy cho bố và nó sẽ dạy cho con, Jasper ạ, nếu con nghe lời bố. Rồi sau đó, khi người ta đang nói về bố, bố sẽ không phải là người duy nhất biết họ sai, sai, sai. Hiểu chưa? Khi người ta nói về bố trước mặt chúng ta, con và bố sẽ có thể trao nhau ánh nhìn kín đáo, bí mật trong căn phòng, tha hồ mà cười khúc khích, và có thể một ngày, sau khi bố chết, con sẽ nói với họ sự thật, con sẽ tiết lộ mọi thứ về bố, mọi thứ bố đã kể với con, và có thể họ sẽ cảm thấy như những kẻ ngốc, hoặc có thể họ sẽ nhún vai rồi nói, ‘Ồ thật sao, hay nhỉ,’ rồi quay lại với chương trình trò chơi trên truyền hình mà họ đang xem. Nhưng trong trường hợp nào, thì mọi chuyện cũng tùy thuộc vào chúng ta, Jasper ạ. Bố chắc chắn không muốn gây áp lực buộc con rò rỉ bí mật của con tim linh hồn bố, trừ phi con cảm thấy điều đó làm con giàu có hơn, về tinh thần hoặc tài chính.”
“Bố, bố có định kể về chú Terry hay không?”
“Bố có không ư - con nghĩ bố vừa mới nói gì?”
“Con chả biết.”
“Thôi, ngồi xuống và câm miệng lại, bố sẽ kể cho con nghe một chuyện.”
Nó là đây. Đã đến lúc bố mở lòng và trút ra phiên bản của ông về biên niên kí gia đình nhà Dean, phiên bản của ông trái ngược với những lời đồn đại thần thoại hóa của cả nước. Vậy là ông bắt đầu nói. Ông nói và nói không ngừng đến tám giờ sáng, và nếu ông có thở dưới những lời nói ấy, tôi chẳng thể trông thấy hay nghe được nó nhưng tôi chắc ngửi được nó. Khi ông kết thúc, tôi có cảm tưởng như vừa đi du lịch xuyên qua đầu bố và bước ra có phần bị thu nhỏ, chỉ là giảm đi tí chút tâm trạng chắc chắn về bản sắc của mình hơn so với lúc bước vào. Tôi nghĩ, để công bằng cho màn độc thoại không dừng của ông, tốt hơn là bạn tự nghe lấy - những lời ông để lại cho tôi đã trở thành của riêng tôi, những lời tôi không bao giờ quên. Bằng cách ấy bạn sẽ biết được hai người mà chỉ tốn phí cho một người. Bằng cách ấy bạn nghe được nó như tôi đã nghe, chỉ một phần là biên niên kí của Terry Dean, còn phần lớn là câu chuyện về tuổi thơ đau ốm bất thường của bố tôi, những lần suýt chết, những ảo giác bí ẩn, sự tẩy chay, và lòng hận người, tiếp theo sát đó là thời trai trẻ bị bỏ mặc, danh tiếng, bạo lực, nỗi đau, và cái chết.
Dù sao, bạn biết rồi đấy. Mỗi gia đình đều có một câu chuyện như thế này.
Tận số
Người ta đã hỏi đi hỏi lại bố một câu hỏi duy nhất. Mọi người đều muốn biết cùng một điều: Thời thơ ấu của Terry Dean như thế nào? Họ trông chờ những câu chuyện về thói hung hăng trẻ con và sự hư hỏng trong trái tim một đứa bé sơ sinh. Họ hình dung một tên tội phạm thu nhỏ bò quanh trong nôi làm những hành động vô đạo đức giữa những lần được bú mớm. Thật lố bịch! Thế Hitler có nhảy tưng tưng đến bầu vú của mẹ ông ta không? Thôi được, đúng thế, có những dấu hiệu nếu con cố tình vạch lá tìm sâu. Năm bảy tuổi, khi Terry đóng vai cảnh sát trong trò cảnh sát và tên cướp, nó sẽ để cho con đi nếu con bôi trơn tay nó bằng một cây kẹo mút. Trong trò trốn tìm, nó như một kẻ đào tẩu. Nhưng thế thì sao? Điều đó đâu có nghĩa là bản chất bạo lực được in lên ADN của một người nào đó. Đúng, người ta luôn thất vọng khi bố bảo với họ rằng theo những gì mà bố biết thì Terry là một đứa trẻ bình thường, nó ngủ và khóc và ăn và ị và tè và dần dần nhận thức được mình là thực thể khác biệt với, để xem, bức tường chẳng hạn (đấy là bài học đầu tiên trong đời con: con không phải là bức tường). Khi còn bé nó chạy lăng quăng la hét bằng giọng the thé mà trẻ con thường phát ra khi la hét. Nó thích với lấy những vật độc hại cho vào mồm (bản năng tự sát của một đứa bé sắc bén như dao cạo), và nó có khả năng kì lạ là cứ nhè lúc bố mẹ chợp mắt mà khóc. Nói tóm lại, nó cũng giống như bất kì đứa trẻ nào khác. Bố mới là đứa trẻ đáng chú ý, nếu chỉ nói về những điều bố không thể làm.
Trước khi Terry chào đời, cuộc sống của bố bị bao trùm bởi bệnh tật. Giờ đây bố cảm thấy kinh ngạc là mình đã biết quá ít về tình trạng của mình, và cũng muốn biết quá ít về nó. Điều duy nhất khiến bố bận tâm là những triệu chứng (những cơn đau dạ dày kinh khủng, những cơn đau cơ, nôn mửa, chóng mặt); những nguyên nhân lẩn khuất có vẻ như hoàn toàn chẳng liên quan. Chúng chẳng dính dáng gì đến bố. Viêm não? Máu trắng? Suy giảm miễn dịch? Đến tận bây giờ bố cũng không biết. Cho tới lúc bố có được câu trả lời thì những người có thể từng mắc bệnh này đã chết từ lâu. Bố biết các bác sĩ có những giả thuyết, nhưng bố cũng nhớ là họ không thể ra quyết định. Bố chỉ nhớ được vài cụm từ, như “chứng dị cơ,” “rối loạn hệ thần kinh,” và “cái chết êm ái,” nó chẳng có tác động gì đến bố vào thời điểm đó. Bố nhớ bị đâm kim tiêm và ép uống những viên thuốc có kích thước và hình dạng của những ngón tay cái sưng múp. Bố nhớ là khi họ chụp X quang, các bác sĩ lủi ra ngoài rất nhanh, như thể họ mới châm ngòi pháo hoa vậy.
Tất cả chuyện này xảy ra trước khi Terry chào đời.
Rồi một ngày bệnh tình bố chuyển biến trầm trọng hơn. Hơi thở bố gấp gáp và mệt nhọc. Mỗi lần nuốt nước bọt dài hơn thế kỉ; cổ họng bố là một vùng đất hoang, và bố sẵn sàng bán linh hồn mình để có được một chút nước bọt. Bàng quang và ruột bố tự tung tự tác. Một ông bác sĩ mặt mũi nhợt nhạt đến khám bố hai lần mỗi ngày, nói với người mẹ lo âu của bố ở chân giường, lần nào cũng như thể bố đang nằm ở phòng khác, “Chúng ta có thể đưa nó đến bệnh viện,” ông ta thường bảo vậy. “Nhưng mà thật tình, có ích gì? Nó ở đây thì tốt hơn.”
Chính vào lúc đó bố tự hỏi có phải mình sắp chết và liệu họ có chôn mình ở nghĩa trang mới của thị trấn hay không. Họ vẫn còn đang đốn cây trong lúc bố đứng trước cửa tử. Bố tự hỏi: Liệu nó có xong kịp không nhỉ? Nếu bố toi đời trước khi nó hoàn thành, người ta sẽ phải gửi thi hài bố đến một thị trấn xa xôi mà bố chưa sống một ngày ở đó, nơi ấy dân chúng sẽ đi qua mộ bố mà chẳng buồn bận tâm, “Ta nhớ cậu bé ấy.” Không thể chịu nổi! Vì vậy bố nghĩ có lẽ nếu bố cầm cự cái chết thêm một vài tuần nữa, có lẽ nếu bố chọn đúng thời điểm, thì bố có thể là thi thể đầu tiên biến cánh đồng trơ trọi ấy thành một nghĩa trang hoạt động, là xác chết khai trương. Khi đó bố sẽ không bị lãng quên. Đúng, bố đã lên kế hoạch trong lúc nằm chờ chết. Bố nghĩ đến tất cả lũ sâu bọ trong cánh đồng ấy và cách chúng thưởng thức buổi chiêu đãi. Đừng ăn qua loa, lũ giòi bọ! Thịt người tươi sắp dọn đến đây! Đừng làm hỏng bữa tối của chúng mày!
Nằm trên giường khi mặt trời trôi qua kẽ hở tấm màn, bố chẳng nghĩ đến gì khác. Bố chồm lên giật mở toang tấm màn. Bố gọi to những người đi ngang qua. Cái nghĩa trang ấy sao rồi? Tiến triển thế nào? Bố theo dõi sát sao. Và đó là tin tốt. Hàng cây đã được phát quang. Những cánh cổng sắt gắn chặt vào các khối đá được dựng lên tại lối vào nghĩa trang. Những phiến đá granite đã được chuyển đến từ Sydney; tất cả những gì họ cần là một cái tên! Những chiếc xẻng đang được cắm sẵn. Tất cả đã sẵn sàng!
Rồi bố nghe thấy một tin động trời. Bố mẹ của bố đang nói chuyện trong nhà bếp. Theo lời bố dượng, bà già chủ quán rượu địa phương vừa bị đột quỵ tối hôm qua. Không phải cơn đột quỵ nhẹ, là một ca nghiêm trọng! Bố gượng dậy. Chuyện này là thế nào? Phải, bố dượng bảo, bà ta chỉ còn thoi thóp. Bà ta không phải đứng trước cửa tử, mà là đang nện ầm ĩ lên đó! Ôi không! Một thảm họa! Đó sẽ là một cuộc chạy nước rút về đích! Ai sẽ là người đầu tiên? Bà già đã gần tám mươi, vì thế bà ta đã luyện tập chết lâu hơn bố rất nhiều. Bà ta có tạo hóa đứng về phe mình. Bố chẳng có gì ngoài vận may để mà bấu víu. Bố còn quá bé để chết vì tuổi già nhưng lại quá lớn để chết vì chứng tử vong sơ sinh. Bố bị kẹt ở lưng chừng, mạch thời gian kinh khủng nơi mà người ta không biết làm gì hơn là hít thở.
Hôm sau, khi bố dượng vào phòng để thăm chừng bố, bố hỏi tình hình bà già thế nào rồi. “Không tốt,” ông đáp. “Người ta dự đoán bà ấy không qua khỏi cuối tuần này.” Bố biết mình còn sống ít nhất một tuần nữa, có thể là mười ngày. Bố đạp giường. Bố xé drap giường. Ông ấy phải giữ bố lại. “Mày bị cái quái gì thế này?’ ông hét lên. Bố tiết lộ với ông, giải thích rằng nếu có chết, bố muốn là người đầu tiên được chôn ở nghĩa trang. Ông ấy cười vào mặt bố, lão khốn. Ông gọi mẹ bố vào. “Đoán xem con của bà mới nói gì với tôi?” Rồi ông kể cho bà nghe. Bà nhìn bố với ánh mắt thương hại vô bờ bến rồi ngồi xuống mép giường và ôm lấy bố như thể đang giữ cho bố đừng ngã. “Con sẽ không chết đâu, cục cưng ạ. Con sẽ không chết đâu.”
“Nó ốm khá nặng rồi,” ông nói.
“Im đi!”
“Tốt nhất là chuẩn bị đón nhận điều tồi tệ nhất đi.”
Ngày hôm sau ông bố lắm chuyện của bố kể lại điều bố nói cho đám đàn ông ở chỗ làm. Bọn họ cũng cười ngặt nghẽo, lũ khốn kiếp. Đến tối cánh đàn ông kể cho vợ của họ. Bọn họ cũng phá ra cười, đám đàn bà khốn kiếp. Bọn họ nghĩ như thế thật là đáng yêu. Trẻ con nói chuyện mới đáng yêu làm sao? Chẳng bao lâu sau toàn thị trấn đã cười rần rần. Rồi sau đó họ thôi cười và bắt đầu thắc mắc. Họ ngộ ra, đấy là một câu hỏi hay: ai sẽ là người đầu tiên? Chẳng phải nên có một buổi lễ tưởng niệm xác chết khai trương sao? Không chỉ là một buổi tang lễ thông thường. Một chương trình thực sự ấy! Thật đông người đến viếng! Có thể có một ban nhạc chăng? Cuộc mai táng đầu tiên là thời điểm trọng đại đối với một thị trấn. Thị trấn tự chôn người của mình là một thị trấn sống. Chỉ những thị trấn chết mới xuất khẩu người chết thôi.
Những lời hỏi han về tình hình sức khỏe đổ về từ mọi hướng. Người ta đùng đùng kéo đến để xem triển lãm. “Nó sao rồi?” bố nghe bọn họ hỏi mẹ. “Cháu nó khỏe!” bà căng thẳng đáp. Bọn họ đẩy bà sang bên để ập vào phòng bố. Bọn họ phải nhìn tận mắt. Hàng chục khuôn mặt lướt qua phòng bố, thò vào nhìn bố đầy hi vọng. Bọn họ đến để xem bố nằm đấy kiệt sức, bất động, sắp chết. Ấy vậy mà, ai nấy đều nói chuyện tíu ta tíu tít. Khi người ta nghĩ con sắp tận số, họ đều thực sự rất tốt với con. Chỉ khi nào con cố gắng bám trụ với đời thì họ mới thò móng vuốt ra.
Đấy chỉ là người lớn thôi, đương nhiên rồi; lũ trẻ con trong thị trấn không ở nổi trong cùng một căn phòng với bố. Việc ấy dạy bố một điều đáng lưu ý: người khỏe mạnh và kẻ ốm yếu không phải là bạn đồng trang lứa, bất kể họ có giống nhau ở điểm nào chăng nữa.
Rõ ràng mọi người cũng quấy rối cả bà già nữa. Bố nghe nói bọn họ tụ tập quanh giường bà ấy và xem đồng hồ của mình. Bố không hiểu nổi tại sao bọn họ lại quan tâm đến như thế. Sau này bố biết người ta đã đặt cược. Bà già nằm ở kèo trên. Bố là kèo dưới. Tỉ lệ cược của bố là 1 ăn 100. Hầu như chẳng có ai cược bố. Bố đồ rằng chẳng có ai, ngay cả trong trò chơi bệnh hoạn Đoán Xem Ai Chết Trước, thích dự đoán cái chết của một đứa trẻ. Chẳng ai chấp nhận điều đó cả.
“Chết rồi! Chết rồi!” một giọng nói hét lên vào một buổi chiều. Bố rờ mạch của mình. Vẫn đập. Bố nhổm dậy và nói vọng ra qua cửa sổ với già George Buckley, hàng xóm gần nhất của nhà bố.
“Ai? Ai chết?”
“Frank Williams! Ông ấy ngã từ mái nhà!”
Frank Williams. Ông ấy sống dưới phố cách bốn căn nhà. Từ cửa sổ phòng mình bố có thể thấy toàn thể thị trấn đều chạy về nhà ông để xem. Bố cũng muốn xem nữa. Bố lê người ra khỏi giường rồi trườn đi như con sên nhớt trên sàn căn phòng, xuống hành lang, ra cửa trước dưới ánh nắng chói chang. Giữ cho cái quần pijama khỏi tuột lúc ấy là cả một vấn đề, nhưng mà nó vẫn luôn là vấn đề. Lắc lư di chuyển băng qua bãi cỏ tơi tả, bố nghĩ về Frank Williams, ứng viên phút chót và là người chiến thắng bất ngờ của cuộc thi nhỏ. Bố của bốn đứa con. Hay là năm nhỉ? Toàn con trai cả. Ông lúc nào cũng cố dạy con mình đi xe đạp. Hết đứa con trai này đến đứa con trai khác của ông loạng choạng qua cửa sổ phòng bố với vẻ mặt nhăn nhó căng thẳng tột độ. Bố đã rất ghét lũ con trai nhà Williams vì học hành chậm chạp. Giờ thì bố thấy thương hại chúng. Không ai đáng phải chịu cảnh mồ côi bố vì sự vụng về. Suốt đời chúng, lũ con trai ấy sẽ phải nói, “Ừ. Bố tao ngã từ mái nhà xuống. Bị mất thăng bằng. Sao? Ông ấy đang làm gì trên đấy thì có gì quan trọng?” Đám nhóc tội nghiệp. Lau máng xối không phải là lý do để chết. Chẳng có một chút danh dự gì cả.
Đám đông tò mò xúm xít quanh người chết không để ý gì đến con sâu ốm yếu đang bò về phía họ. Bố bò qua hai chân của Bruce Davis, ông hàng thịt của thị trấn. Ông ta nhìn xuống đúng lúc bố ngước lên. Mắt chạm mắt. Bố nghĩ ai đó nên bảo ông ta tránh xa cái xác bất động của người hàng xóm ra. Bố chẳng ưa gì tia nhìn lóe lên trong mắt tay đồ tể ấy.
Bố nhìn gần hơn. Cổ Frank bị gãy. Đầu ông đã ngả ra sau trong một vũng máu đen và nằm rũ rượi trên vai. Khi một chiếc cổ bị gãy, nó gãy thật. Bố nhìn gần hơn không chớp. Đôi mắt ông ta mở to nhưng chẳng có gì trong đó, chỉ là một hang thẳm u mê. Bố thầm nghĩ: Mình cũng sẽ sớm thế này. Sự trống rỗng sẽ bao phủ lấy bố cũng như đã bao phủ lấy ông ấy. Vì cuộc thi và thành phần của bố trong đó, bố thấy cái chết này không chỉ là màn duyệt trước cho bản thân, mà còn là một ám hiệu. Frank và bố cùng có mặt trong vụ này, xích vào nhau trong cuộc hôn nhân ma quỷ nào đấy vì toàn bộ cõi vô biên - sự tận số, bây giờ bố gọi như thế, là mối thân thuộc mà người sống có với kẻ chết. Không phải ai cũng cảm được. Hoặc là con cảm nhận được nó, hoặc không. Bố đã từng cảm nhận khi ấy và bây giờ cũng vậy. Bố cảm thấy nó một cách sâu sắc: mối ràng buộc thiêng liêng, âm ỉ này. Bố cảm thấy chúng đang đợi bố nhập bọn với chúng trong sự tận số linh thiêng.
Bố ngả đầu lên đùi Frank và nhắm mắt lại, để cho những tiếng nói của dân chúng ru mình vào giấc ngủ.
“Tội nghiệp Frank,” một người nói.
“Anh ấy đã có một cuộc sống êm đềm.”
“Nó làm gì trên mái nhà mới được chứ?”
“Cậu ấy mới có bốn mươi hai tuổi.”
“Đấy có phải thang của tôi không?”
“Bốn mươi hai là còn trẻ. Nó làm gì có cuộc sống êm đềm. Nó sống như cứt thì có.”
“Tuần sau tao bốn mươi tư.”
“Mày đang làm gì đấy?”
“Buông ra nào!”
“Đây là thang của tôi. Tôi cho anh ấy mượn năm ngoái, vậy mà khi tôi đòi, anh ấy thề là đã trả lại cho tôi rồi.”
“Còn lũ trẻ thì sao?”
“Ôi trời... lũ trẻ.”
“Chuyện gì sẽ xảy ra với chúng?”
“Chúng sẽ không sao đâu. Chúng vẫn còn có mẹ mà.”
“Nhưng chúng sẽ không có cái thang này. Nó là của tôi.”
Rồi bố ngủ thiếp đi.
Bố tỉnh dậy trên giường, ốm nặng hơn bao giờ hết. Bác sĩ bảo với việc bò nửa cây số để nhìn thấy xác chết đầu tiên trong đời mình, bố đã chỉnh lùi sức khỏe mình lại, như nó là cái đồng hồ đã được bố chỉnh lại giờ mùa hè. Sau khi ông bác sĩ về, mẹ ngồi ở mép giường, khuôn mặt chùng xuống của bà cách mặt bố hai centimet, và bà bảo với bố bằng một giọng gần như tội lỗi rằng bà có mang. Bố quá yếu không nói nổi lời chúc mừng, và bố cứ nằm đấy khi bà gõ vào trán bố, cử chỉ mà bố rất thích cho đến tận bây giờ, dù chuyện gõ vào trán thì chẳng êm dịu tẹo nào.
***
Trong những tháng tiếp theo, khi tình trạng bố ngày càng tệ hơn, người mẹ có mang của bố ngồi xuống cạnh bố và để bố chạm vào bụng bà, nó đang lớn lên một cách kinh dị. Thỉnh thoảng bố cảm nhận được cái đạp hoặc có lẽ là cú cụng đầu của bào thai bên trong. Có lần, khi bà tưởng bố đã ngủ say, bố nghe bà thì thầm, “Thật đáng tiếc con không được nhìn mặt em.”
Rồi sau đó, đúng vào lúc bố yếu nhất và thần chết đang thè lưỡi liếm láp, thì một chuyện ngoài dự đoán xảy ra.
Bố đã không chết.
Nhưng bố cũng không sống.
Thật tình cờ, bố chọn giải pháp thứ ba: bố rơi vào hôn mê. Tạm biệt cuộc sống, tạm biệt sự tỉnh táo, tạm biệt ánh sáng, cái chết quá tệ, xin chào thinh không. Đấy là một địa ngục thực sự. Bố lẩn trốn ở chính giữa vòng tay dang rộng của cái chết và cánh tay khép lại của sự sống. Bố ở chốn hư không, tuyệt đối hư không. Thực tình, con thậm chí không thể rơi vào tình trạng lấp lửng từ một cuộc hôn mê được.
Hôn mê
Tình trạng hôn mê của bố không giống bất kỳ những gì mà bố từng đọc: bố đã nghe nói người ta bị hôn mê trong lúc đang kể chuyện tiếu lâm và bốn mươi hai năm sau tỉnh dậy kể nốt câu cuối. Đối với họ, hàng chục năm quên lãng chỉ là một tích tắc của sự hư không, tựa như họ đã đi qua một cái lỗ sâu của Sagan[3], thời gian cuộn mình lại, và họ bay xuyên qua nó trong một phần mười sáu giây.
Mô tả những suy nghĩ, ảo giác, và sự xúc động mà bố đã có trong cơn hôn mê ấy là điều hầu như không thể. Nó không phải là sự hư không, vì đã có một chút gì (khi con bị hôn mê, ngay cả bất cứ gì cũng là tốt), nhưng bố còn quá nhỏ để hiểu tường tận sự việc này. Dù sao, bố có thể nói là mình nằm mơ và thấy rất nhiều ảo giác, cứ như đã nốc quá nhiều thuốc gây ảo giác làm từ xương rồng Mexico vậy.
Không, bố sẽ không cố mô tả điều không mô tả được, chỉ có thể nói rằng bố đã nghe được những âm thanh mà lẽ ra bố không thể nghe và thấy những thứ mà lẽ ra bố không thể thấy. Điều bố sắp nói nghe có vẻ điên rồ - hay tệ hơn, là huyền bí, và con biết bố không thiên về hướng đó - nhưng nó là thế này: nếu con xem tâm trí bất tỉnh như một chiếc thùng to, thông thường nắp thùng mở ra và những cảnh tượng, âm thanh, sự việc, rung động xấu, và sự xúc động đổ ào ào vào đấy trong những giờ tỉnh táo, nhưng khi không có giờ tỉnh táo nào cả, không hề có, trong nhiều tháng hay thậm chí nhiều năm, và nắp thùng đóng lại, thì rất có khả năng tâm trí không yên ấy, khát khao được hoạt động, sẽ với sâu xuống thùng, tít xuống dưới đáy của sự bất tỉnh, vét lên cơ man nào là những thứ bị các thế hệ trước bỏ lại đấy. Đây là cách lý giải của Jung[4] và bố còn không biết mình có thích Jung hay không, nhưng chẳng còn thứ gì khác trên kệ sách có thể lý giải được những thứ bố đã thấy mà lẽ ra không thấy được, để đánh giá những thứ bố nghe mà lẽ ra không nghe được.
Để bố thử giải thích theo cách khác nhé. Có một truyện ngắn của Borges tựa đề “Aleph”. Trong truyện, Aleph, ẩn dưới bậc thứ mười chín của chiếc thang trong hầm rượu, là một cánh cửa bí ẩn từ ngàn xưa dẫn đến mọi điểm trong vũ trụ - bố không đùa đâu, từng điểm đơn lẻ một - và nếu con nhìn vào nó, con sẽ thấy, ái chà, tất tần tật mọi thứ. Bố đang đưa ra một giả thuyết rằng ở nơi nào đấy trong những phần cổ xưa của bản thân chúng ta có thể tồn tại một cánh cửa như vậy, nằm lặng lẽ trong một khe nứt hay kẽ hở hoặc trong những nếp gấp trí nhớ về sự ra đời của ta, chỉ có điều, thông thường ta không bao giờ chạm đến nó hoặc nhìn thấy nó vì sự sống thường ngày đã chất đống hàng núi phân lên trên nó. Bố không nói là mình tin vào chuyện này, bố chỉ đưa ra lời giải thích tốt nhất mà bố nghĩ ra được cho tới nay về cội rễ của món hổ lốn hình ảnh và âm thanh chớp tắt quay cuồng chóng cả mặt trước chính con mắt và lỗ tai của tâm trí bố. Nếu tâm trí có mắt được thì tại sao lại không có tai được? Không biết chừng con cũng nghĩ là làm gì có những thứ như lỗ mũi của tâm trí. Nói thật nhé, có đấy. Và cũng như Borges trong câu chuyện của ông ta, bố không thể mô tả chính xác nó vì những ảo giác của bố xảy ra cùng lúc, còn ngôn ngữ, mang tính liên tiếp, đồng nghĩa với việc bố phải ghi chép lại theo cách đó. Vì thế hãy dùng trí tưởng tượng của con, Jasper ạ, khi bố kể con nghe một phần tỉ tỉ tỉ những gì bố thấy:
Bố thấy tất cả những buổi bình minh đến quá sớm, những buổi trưa nhắc người ta nhớ phải nhanh lên, những buổi hoàng hôn thì thầm “Tôi không tin anh sẽ làm xong” và những buổi đêm nói “Chúc may mắn hơn vào ngày mai”. Bố thấy tất cả những bàn tay từng vẫy với một người lạ nghĩ rằng đấy là bạn. Bố thấy những con mắt từng nhấp nháy để cho người khác biết sự xúc phạm của họ chỉ là một trò đùa. Bố thấy cánh đàn ông lau sạch bàn cầu trước khi tiểu tiện nhưng không bao giờ làm thế sau đó. Bố thấy bọn đàn ông cô đơn nhìn những con manơcanh ở cửa hàng và nghĩ ngợi “Mình mê một con manơcanh. Ôi buồn thay.” Bố thấy những chuyện tình tay ba, dăm chuyện tình tay tư và cả một chuyện tình tay sáu điên khùng ở gian phòng đẫm mồ hôi nằm phía sau một quán cà phê Paris. Bố thấy hết thảy những chiếc bao cao su bị đeo sai cách. Bố thấy những tài xế lái xe cấp cứu trong giờ tan ca bị mắc kẹt giữa dòng xe cộ, ước gì có một người sắp chết ở băng ghế sau. Bố thấy tất cả những người làm từ thiện nháy mắt ở thiên đường. Bố thấy những Phật tử bị lũ nhện mà họ không nỡ giết cắn cho. Bố thấy lũ ruồi đập đầu mù quáng lên những cánh cửa chống muỗi và những con bọ chét cười cợt khi cưỡi trên các con vật cưng. Bố thấy những bát đĩa bị vỡ trong mọi nhà hàng Hy Lạp và mọi người Hy Lạp đều nghĩ “Văn hóa là một chuyện, nhưng điều này đang ngày càng gây tốn kém.” Bố thấy những kẻ cô đơn bị chính con mèo của họ làm cho khiếp vía. Bố thấy những chiếc xe nôi, và kẻ nào nói mọi trẻ em đều đáng yêu thì chưa thấy những đứa bé mà bố đã thấy. Bố thấy những đám tang và những người quen của kẻ quá cố hưởng thụ buổi chiều được nghỉ làm. Bố thấy những cột chiêm tinh trên báo dự đoán một phần mười hai dân số thế giới sẽ được một người họ hàng muốn vay tiền ghé thăm. Bố thấy những sản phẩm làm giả của các bức tranh kiệt tác nhưng không thấy sản phẩm làm giả của những quyển sách kiệt tác. Bố thấy mọi bảng hiệu cấm vào hoặc cấm ra nhưng không cấm phóng hỏa hoặc giết người. Bố thấy những tấm thảm với vết cháy thuốc lá và những cái đầu gối với vết trầy xướt do trượt té thảm. Bố thấy những con sâu bị phanh thây bởi lũ trẻ tò mò và những nhà khoa học kiệt xuất. Bố thấy những con gấu bắc cực và gấu xám Bắc Mỹ và gấu koala được dùng để mô tả những người béo mà con chỉ muốn ôm lấy. Bố thấy những người đàn ông xấu xí tán tỉnh những người phụ nữ vui vẻ đã phạm phải sai lầm là mỉm cười với họ. Bố thấy bên trong tất cả những cái miệng và trong đấy thực sự đáng tởm. Bố thấy hình ảnh nhìn từ trên cao của lũ chim nghĩ rằng loài người trông khá năng động khi cả đám ngồi trên bồn cầu...
Bố phải làm gì với những thứ này? Bố biết đa số mọi người sẽ xem nó như ảo giác tâm linh. Họ thậm chí có thể tìm thấy Thượng đế ở trong đấy, nhảy xổ ra trước mặt họ như món đồ chơi thánh thần bật ra từ chiếc hộp. Bố thì không. Tất cả những gì bố thấy là con người và mọi âm thanh cũng như sự giận dữ tầm thường của y. Những gì bố thấy định hình nên viễn cảnh của bố về cuộc sống, chắc chắn là như vậy, nhưng bố không nghĩ đấy là một năng khiếu siêu phàm. Một cô gái từng bảo bố rằng với suy nghĩ này bố đã vờ không thấy thông điệp từ Thượng đế và bố sẽ sống qua ngày đoạn tháng với suối nguồn tâm linh tràn ngập tâm hồn mình. Nghe có vẻ hay, nhưng bố có thể làm gì được cơ chứ? Bố không có năng khiếu đó. Nếu Thượng đế có ý định nhắn nhủ với bố điều gì đó qua tất cả những âm thanh tượng hình ấy, thì ngài đã chọn nhầm người. Sự bất tài của bố khi không làm được cú nhảy về đức tin đã khắc vào ADN của bố rồi. Xin lỗi, Thượng đế. Bố nghĩ bụi cây cháy bừng của người này chỉ là đốm lửa của kẻ khác[5].
Sáu tháng hẳn đã trôi qua trong tình trạng ấy. Ở thế giới bên ngoài, bố được tắm rửa và cho ăn bằng ống dẫn; ruột và bàng quang của bố trống rỗng, tay chân bố được xoa bóp, còn cơ thể bố bị vặn vẹo thành bất kì dáng hình nào tiêu khiển được những người chăm sóc bố.
Rồi sau đó một sự thay đổi xảy ra: Aleph, nếu tình trạng này chính là nó, bị hút ngược trở lại nơi ẩn nấp của nó một cách đột ngột và thô bạo, mọi ảo giác ra đi trong nháy mắt. Ai mà biết cơ chế nào đằng sau việc tháo nắp khỏi thùng, nhưng nó hé mở một khe đủ rộng cho một luồng âm thanh dồn dập ùa vào; thính giác của bố hồi phục và bố hoàn toàn tỉnh táo song vẫn mù lòa, câm nín và bại liệt. Nhưng bố nghe được. Và những gì bố nghe thấy là giọng một người đàn ông mà bố không nhận ra xuyên qua tai thật to và rõ ràng, những lời của ông ấy thật mạnh mẽ, cũ kĩ và đáng sợ:
Phải chi tinh tú ban mai thành tăm tối mịt mờ, và ban mai uổng công chờ ánh sáng, không hề thấy bình minh xuất hiện. Vì đêm ấy đã không đóng kín lòng dạ cưu mang tôi, khiến mắt tôi khỏi nhìn thấy đau khổ. Sao tôi không chết đi lúc vừa mới chào đời, không tắt thở ngay khi lọt lòng mẹ?[6]
Bố có thể đã bị bại liệt, nhưng bố vẫn cảm nhận được lục phủ ngũ tạng run lẩy bẩy. Giọng nói tiếp tục:
Sao Người lại ban ánh sáng cho kẻ khốn cùng, ban sự sống cho ai nuốt cay ngậm đắng? Họ là những người mong chết mà không được, tìm cái chết hơn cả tìm kho báu. Họ phấn khởi mừng vui, hân hoan vì tìm thấy phần mộ. Sao lại ban ánh sáng và sự sống cho kẻ chẳng biết mình đi đâu, cho kẻ bị Thiên Chúa giam hãm tứ bề?[7]
(Sau này bố phát hiện đấy là giọng của Patrick Ackerman, một trong những hội viên hội đồng thị trấn, và ông ấy đang đọc Kinh thánh, từ đầu đến cuối. Như con biết rõ đấy, Jasper, bố chả tin vào số má vận mạng, nhưng quả thực bố thấy thật thú vị khi ngay giây phút hai lỗ tai bố bắt đầu cảm giác nghe được, thì những lời trong kinh thánh ấy chính là những thứ đầu tiên chào đón chúng.)
Khi tri giác và thính giác hồi phục, bản năng mách bảo bố ngay rằng thị giác sẽ sớm trở lại, tiếp đó là xúc giác. Nói ngắn gọn, sự sống. Bố đang trên đường trở lại.
Nhưng trước khi bố trở về, vẫn còn một con đường dài phải đi, và con đường ấy được lát bằng những giọng nói. Một đoàn kị binh thực sự - những giọng nói quyến rũ già cả, những giọng nói gợi cảm trẻ trung, những giọng nói lạo xạo như ung thư cổ họng - chúng chất chứa từ ngữ, còn từ ngữ thì kể chuyện. Chỉ rất lâu sau này bố mới biết thị trấn đã xem bố như một dạng dự án cộng đồng. Một ông bác sĩ nào đó đã tuyên bố rằng bố cần được nói cho nghe, và với thị trấn mới toanh đang rệu rã vì nạn thất nghiệp, toàn thể những con người bán-vị tha chẳng còn gì khác để làm cho hết ngày hết tháng ùn ùn kéo đến. Điều nực cười là, bố có hỏi một vài người sau đó và chẳng ai nghĩ rằng bố thực sự nghe được. Nhưng quả tình bố đã nghe. Hơn cả nghe, bố đã hấp thu. Và hơn cả hấp thu, bố đã ghi nhớ. Bởi chi tiết kì quặc của toàn bộ chuyện này là, có lẽ do tình trạng bại liệt, không thị giác giam hãm bố bên trong mà những quyển sách được đọc cho bố khi bố hôn mê đều cháy tan vào trong trí nhớ bố. Đây là sự học siêu phàm của bố: bố có thể trích dẫn từng chữ một những từ ngữ của các quyển sách được đọc cho bố nghe trong lúc hôn mê.
Khi tình hình trở nên rõ ràng là bố sẽ chưa chết vội mà có thể ở trong trạng thái lửng lơ này mãi mãi, những giọng nói trở nên thưa thớt dần, cho đến khi chỉ còn lại một giọng duy nhất: giọng của mẹ bố. Toàn thị trấn bỏ bố vì một khúc củi, nhưng mẹ của bố thì vẫn tiếp tục đọc cho bố nghe. Mẹ của bố, một phụ nữ mới mấy năm trước bỏ quê hương xứ sở ra đi lúc chưa từng đọc một quyển sách tiếng Anh nào trong đời, bây giờ đang lật tung hàng trăm quyển sách. Và kết quả ngoài mong đợi là, khi bà nhồi nhét vào đầu bố những chữ nghĩa, suy nghĩ, ý tưởng, và cảm xúc, thì bà cũng làm thế với chính mình. Cứ như thể những chiếc xe tải chất đầy chữ chạy vào đầu hai mẹ con bố và đổ những gì chúng chở theo thẳng vào não hai mẹ con bố vậy. Toàn bộ trí tưởng tượng được cởi trói ấy thắp sáng và kéo duỗi tâm trí hai mẹ con bố với các câu chuyện kể về những nghĩa cử hào hiệp, những chuyện tình đau khổ, những đoạn miêu tả lãng mạn về các vùng đất xa xăm, những triết lý, truyền thuyết và lịch sử của các quốc gia trồi lên sụt xuống, cọ xát và rơi xuống biển, những cuộc phiêu lưu của các chiến binh, thầy tu, nông dân, quái vật, kẻ chinh phục, cô gái phục vụ ở quán bar và những người Nga, chúng kích thích thần kinh đến nỗi con muốn nhổ cả răng của mình. Đó là một mớ bòng bong kì lạ những huyền thoại mà mẹ bố và bố khám phá cùng một lúc, và những nhà văn, triết gia, người kể chuyện và đấng tiên tri ấy trở thành thần tượng của cả hai mẹ con bố.
Mãi rất lâu sau này, khi sự tỉnh táo của bà bị giám sát chặt chẽ, bố mới ngộ ra điều gì đã xảy đến với đầu óc đơn độc và chán nản của bà trong lúc đọc to lên tất cả những quyển sách lạ lùng ấy cho đứa con trai bất động của mình. Những từ ngữ ấy có ý nghĩa gì với bà trong căn phòng im lặng đau đớn với cốt nhục của bà nằm đấy như một cái chân cừu? Bố tưởng tượng đầu óc bà đau nhức những vết thương lớn dần như một cơ thể bị tra tấn duỗi mình trên một chiếc giá. Bố tưởng tượng bà nghĩ đi nghĩ lại những gì mình đã đọc. Bố hình dung bà đập nát những biên giới ý nghĩ bị đè chặt bằng xi măng của mình với tất cả những sự thật đẹp đẽ, ác nghiệt đó. Đó hẳn phải là một sự giày vò chậm rãi và bào mòn. Khi bố nghĩ đến tình trạng mà bà chuyển sang một thời gian lâu sau đó, đến bi kịch mất trí xảy ra vào cuối quãng đời tươi trẻ của bà, bố có thể nhìn thấy trong người mẹ của mình niềm hân hoan khổ ải của người đọc sách, lần đầu tiên nghe thấy hết những huyên náo của tâm hồn, và nhận ra chúng chính là tiếng huyên náo của tâm hồn mình.
Trò chơi
Không lâu sau sinh nhật lần thứ tám của mình, bố tỉnh dậy. Cứ như thế. Bốn năm bốn tháng kể từ ngày chìm vào hôn mê, bố lại thoát ra khỏi nó. Không chỉ mắt bố nhìn thấy được, mà bố còn có thể dùng mi mắt để chớp. Bố há miệng ra và xin uống nước quả ép - bố muốn nếm thứ gì có vị ngọt. Chỉ những người tỉnh lại sau hôn mê trong phim mới đòi uống nước. Trong đời thực ta nghĩ đến những ly cocktail với quả thơm xắt hạt lựu và những cây dù be bé.
Có rất nhiều khuôn mặt hân hoan trong phòng bố vào tuần lễ bố trở lại với đời. Mọi người tỏ ra vui mừng chân thật khi thấy bố, và tất cả đều nói “Chào mừng cháu trở lại”, như thể bố đã ra đi trên một chuyến du hành dài ngày và chỉ chốc lát nữa thôi bố sẽ lôi quà ra. Mẹ của bố ôm bố và hôn lên bàn tay bố những cái hôn đẫm nước mà giờ đây bố đã có thể dụi lên bộ pijama của mình. Cả bố dượng cũng phấn khởi, không còn là gã đàn ông khốn khổ với đứa con ghẻ đồng bóng, Đứa Bé Ngủ Li Kì nữa. Nhưng còn chú bé Terry bốn tuổi: nó lẩn trốn. Sự tái sinh đột ngột của bố quả thực là một cú sốc lớn. Mẹ của bố hụt hơi gọi nó đến gặp anh trai mình, nhưng Terry trốn biệt tăm. Bố vẫn còn quá mệt và yếu nên cũng chẳng lấy đấy làm điều. Sau này, khi mọi việc đã trôi qua, bố buộc phải nghĩ đến điều mà bộ não đang lớn của Terry hẳn đã trải qua khi phải lớn lên cạnh một xác chết rồi được bảo rằng “Cái xác ướp ớn lạnh đằng kia là anh của con”. Chắc phải đáng sợ lắm, đặc biệt là vào ban đêm khi ánh trăng chiếu vào khuôn mặt đóng băng của bố và hai nhãn cầu bất động của bố dán chặt vào thằng bé tội nghiệp, như thể chúng đã cố ý cứng đờ kiểu ấy, chỉ để nhìn chòng chọc.
Ngày thứ ba sau khi bố phục sinh, bố dượng đùng đùng đi vào và nói, “Hãy dựng mày dậy thẳng thớm nào.” Ông ta và mẹ nắm cánh tay bố giúp bố ra khỏi giường. Đôi chân bố uể oải chẳng còn chút sinh khí nào, vì thế họ lôi bố đi quanh căn phòng, cứ như bố là một ông bạn nhậu đang được họ dìu khỏi quán bar. Rồi bố dượng nảy ra sáng kiến. “Ê! Chắc mày quên mất mình trông như thế nào rồi nhỉ!” Đúng là vậy. Bố đã quên. Một hình ảnh mờ ảo về khuôn mặt một đứa bé trai trôi nổi đâu đó trong tâm trí, nhưng bố không chắc đấy có phải là mình hay là một người nào đó từng ghét mình. Để đôi chân trần của bố kéo lê phía sau, bố dượng lôi bố vào nhà tắm cho bố soi gương. Đó là một cảnh tượng đau lòng. Ngay cả người xấu cũng biết thế nào là đẹp dù không nhìn thấy.
***
Terry không thể tránh bố cả đời. Đã đến lúc bọn bố được giới thiệu một cách đàng hoàng. Không lâu sau khi mọi người chẳng còn hứng thú chúc mừng bố tỉnh lại, nó đi vào phòng rồi ngồi trên giường của mình, nhún nhịp nhàng, hai tay ấn xuống đầu gối như để chúng khỏi bay đi.
Bố nằm lại trên giường nhìn không chớp lên trần nhà và kéo drap giường qua khỏi đầu. Bố có thể nghe được em trai mình đang thở. Bố cũng nghe được chính mình đang thở - cũng như bất kì ai; không khí réo rắt ầm ĩ qua cổ họng bố. Bố cảm thấy kì cục và lố bịch. Bố nghĩ: Nó sẽ nói khi nào nó sẵn sàng. Mí mắt bố nặng cả tấn, nhưng bố không cho chúng hưởng sự thỏa mãn được nhắm lại. Bố sợ cơn hôn mê đang chờ đợi.
Mất một giờ để Terry rút ngắn khoảng cách giữa hai đứa.
“Anh ngủ ngon nhỉ,” nó nói.
Bố gật đầu nhưng chẳng nghĩ ra được gì để nói. Hình ảnh đứa em khiến bố thật khó mà cưỡng lại. Bố cảm thấy âu yếm một cách lạ lùng và muốn một cái ôm, nhưng quyết định tốt hơn cứ giữ khoảng cách. Hơn bất kì thứ gì khác, bố chỉ không thể chấp nhận sự thật là hai đứa trông chả có điểm nào giống nhau. Bố biết hai đứa có bố đẻ khác nhau, nhưng trông cứ như mẹ không có một gene trội duy nhất nào trong toàn cơ thể bà. Trong khi bố có nước da vàng nhờn, cái cằm nhọn, tóc nâu, răng hơi hô, và đôi tai ép sát vào đầu như thể đang chờ cho ai đó đi qua, thì Terry lại có tóc vàng hoe dày, mắt xanh, nụ cười như bưu thiếp nha sĩ và làn da sáng lấm tấm tàn nhang màu cam xinh xắn; những đặc điểm của nó cân đối hoàn hảo, như một đứa bé manơcanh.
“Anh có muốn xem cái lỗ của em không?” nó đột ngột nói. “Em đã đào một cái lỗ ở sau vườn.”
“Để sau đi, nhóc. Anh hơi mệt.”
“Xem nào,” bố dượng cau có nói. Ông ấy đang đứng ở cửa trừng mắt nhìn bố. “Mày cần không khí trong lành.”
“Bây giờ con không đi được,” bố đáp. “Con thấy yếu lắm.”
Thất vọng, Terry vỗ chiếc chân bị teo của bố và chạy ra ngoài chơi. Bố nhìn nó từ cửa sổ, một quả bóng năng lượng nhỏ giẫm đạp lên các luống hoa, một vệt lửa nhỏ nhảy vào nhảy ra khỏi cái lỗ mà nó đã đào. Trong lúc bố nhìn nó, bố dượng cứ lượn lờ ở cửa phòng, với đôi mắt rực lửa và nụ cười nhếch mép của một ông bố.
***
Vấn đề là thế này: bố đã ghé mắt nhìn xuống vực thẳm, đã nhìn thẳng vào đôi mắt vàng khè của tử thần, và giờ đây bố đã trở lại với mảnh đất của người sống, liệu bố có muốn ánh sáng mặt trời không? Bố có muốn hôn những bông hoa không? Bố có muốn chạy nhảy chơi đùa và la hét, “Được sống! Được sống!” không? Thực tình mà nói, không. Bố muốn ở trên giường. Thật khó giải thích tại sao. Tất cả những gì bố biết là một cơn lười biếng khủng khiếp đã ngấm vào người mình trong suốt thời gian hôn mê, một sự lười biếng chạy qua huyết quản và cô đặc vào xương tủy.
Chỉ sáu tuần sau khi bố hồi tỉnh yếu ớt - dù cho nỗi đau đớn từ việc bước đi khiến hình thù cơ thể bố trông như một cây bạch đàn bị lửa làm cong queo - bố mẹ bố và các bác sĩ vẫn quyết định đã đến lúc bố đi học trở lại. Họ nghĩ đứa bé đã ngủ li bì qua phần lớn tuổi thơ của nó sẽ bước vào xã hội mà không gây bất kì sự chú ý nào. Thoạt đầu lũ trẻ chào đón bố bằng sự tò mò: “Cậu có nằm mơ không?” “Cậu có nghe người ta nói với mình không?” “Cho chúng tớ xem vết loét! Cho chúng tớ xem vết loét!” Nhưng có một điều mà cơn hôn mê không dạy con, đó là làm thế nào để hòa nhập với ngoại cảnh (trừ khi mọi người xung quanh con đang ngủ). Bố chỉ có vài ngày để tìm ra cách. Rõ ràng, bố đã thất bại thảm hại, bởi vì chưa đầy hai tuần sau, các cuộc tấn công bắt đầu xảy ra. Những trò xô đẩy, đánh đập, dọa nạt, lăng mạ, chế nhạo, túm quần lót kéo lên, thè lưỡi, và, tệ nhất là, sự im lặng khó chịu: có gần hai trăm học sinh ở trường, và chúng dành hai trăm sự lạnh nhạt cho bố. Đó là kiểu lạnh nhạt rát bỏng như lửa.
Bố mong mỏi cho giờ học kết thúc để được nằm trên giường. Bố muốn dành hết thời gian của mình ở đấy. Bố thích nằm xuống, ngọn đèn đọc sách chiếu sáng, cách trên bố chỉ một tấm drap giường, những chiếc chăn dồn đống ở dưới giường như những bọng mỡ. Bố dượng lúc ấy đang thất nghiệp (nhà tù đã được xây xong và có buổi khánh thành hoành tráng lúc bố đang hôn mê), và ông ấy suốt ngày nhào vào phòng bố rồi hét lên, “ĐI RA KHỎI GIƯỜNG! CHÚA ƠI! HÔM NAY Ở NGOÀI TRỜI RẤT ĐẸP!” Cơn giận dữ của ông được nhân lên gấp mười lần khi nhắm vào Terry, nó cũng nằm trên giường. Con xem, giờ đây thật khó ai tin nổi, nhưng chẳng hiểu sao, dù bố tàn tật như thế, bố vẫn theo kiểu nào đấy trở thành anh hùng đối với Terry. Nó ngưỡng mộ bố. Nó thần tượng bố. Khi bố nằm cả ngày trên giường, Terry cũng nằm cả ngày trên giường. Khi bố nôn, Terry nhét ngón tay vào cổ họng nó. Hễ bố nằm dưới tấm drap giường cuộn mình thành quả bóng, run lập cập không kiểm soát vì sốt, thì Terry cũng cuộn mình và run lập cập. Thật dễ thương biết bao.
Bố dượng tỏ ra thật đáng sợ với nó, đứa con trai độc nhất của ông, và ông dồn hết sức lực tinh thần để dự đoán ra những chuyện tương lai hãi hùng, tất cả là tại bố.
Một ngày nọ ông nảy ra một ý, đối với một người làm bố mà nói thì đó không phải là ý tồi. Nếu con của anh có một nỗi ám ảnh bệnh hoạn, cách duy nhất để dứt nó ra là thay thế bằng một nỗi ám ảnh lành mạnh. Nỗi ám ảnh bố dượng chọn để dụ dỗ Terry khỏi ước mơ được trở thành người tàn tật mang rặt phong cách Úc, hệt như vết cắn của nhện funnel-web[8] ở đầu gối.
Thể thao.
***
Hôm ấy là Giáng sinh. Terry được tặng một quả bóng. Bố dượng nói với nó, “Chà, bố con ta đi chơi trò ném bóng, nhé?” Terry không muốn đi vì nó biết bố sẽ ở trong phòng. Bố dượng kéo bàn chân nó xuống và lôi nó vừa quẫy đạp vừa la hét ra ngoài ánh mặt trời. Bố xem họ qua cửa sổ. Terry giả vờ khập khiễng. Mỗi khi bố dượng ném bóng, Terry chạy tập tễnh trên sân để bắt lấy.
“Con thôi cái kiểu đi khập khiễng ấy đi!”
“Con không làm thế được!”
“Chân con có bị làm sao đâu!”
“Có mà!”
Bố dượng bực dọc nhổ nước bọt rồi làu bàu đi vào nhà, tính toán và lên kế hoạch theo kiểu các ông bố thường làm, xuất phát từ lòng yêu thương. Ông quyết định rằng trong một thời gian ngắn cần phải cách li đứa con ghẻ bệnh hoạn xa khỏi thằng con ruột khỏe mạnh; ông xem bệnh tật như một sự kết hợp giữa thói lười biếng và sự yếu đuối, như một sự khuất phục, và trong nhà này con khó lòng bật ho mà không khiến ông xem đó là biểu hiện bản chất đáng khinh của con. Ông không phải là người thiếu thông cảm, và bản thân ông cũng đã trầy vi tróc vẩy với đời, nhưng ông là dạng người chưa từng đau ốm lấy một ngày trong đời (chỉ trong những lần buồn nôn do trông thấy xấp hóa đơn chưa thanh toán) và chưa từng biết bất kì ai bị bệnh. Ngay cả bố mẹ ông cũng chết không phải vì một chứng bệnh nào (tai nạn xe buýt). Bố biết bố đã nói điều này rồi: nếu tuổi thơ bố dạy dỗ bố được gì thì đấy chính là, sự khác biệt giữa người giàu và người nghèo chẳng có ý nghĩa gì. Chính vực sâu giữa người khỏe mạnh và kẻ ốm đau mới là thứ con không thể xóa bỏ.
Sáng hôm sau, bố dượng lôi hai chiếc va li còn Terry lê lết chân, họ leo lên chiếc xe của gia đình và biến mất giữa đám bụi tung mù mịt. Hai tháng sau, khi họ quay về, Terry bảo với bố rằng họ đã theo đội bóng đá[9] địa phương đi khắp tiểu bang, đến xem mọi trận đấu. Sau vài tuần đội bóng bắt đầu chú ý họ, và, cảm động trước lòng nhiệt tình của một đứa trẻ trông có vẻ què quặt, họ bầu chọn đứa em trai khập khiễng bé bỏng của bố làm linh vật không chính thức. Chớp cơ hội đầu tiên, bố dượng giãi bày tâm tư với các cầu thủ, kể cho họ nghe tất tần tật về bố và sự ảnh hưởng âm ỉ mà bố gây ra cho Terry, rồi van nài họ giúp nó khôi phục tinh thần Úc khỏe mạnh đã từ bỏ chiếc chân trái của đứa con út ông. Toàn đội hăng hái trước dịp này và hãnh diện đáp lại lời kêu gọi của ông. Họ công kênh Terry lên mặt sân xanh không tì vết và, trong ánh nắng chói chang, huấn luyện nó những tinh hoa của môn bóng đá, truyền cảm hứng để nó vì mong mỏi gây ấn tượng với họ mà khập khiễng ít dần ít dần. Sau hai tháng lên đường, nó không còn tập tễnh nữa và đã trở thành một vận động viên nhí thực thụ. Bố dượng thật chẳng phải tên ngốc. Terry đã trúng kế.
Ngày trở về, Terry gia nhập câu lạc bộ bóng đá địa phương. Hồi đó người ta chơi hăng lắm - các ông bố nhìn những cái đầu móp méo của con mình húc vào nhau trong ánh chiều tà mùa thu lạnh lẽo, và họ nhói đau trong phấn khích. Những đứa con của họ đang chứng tỏ bản thân, và ngay cả khi chúng rời sân bóng với những cái đầu đầy máu khô, chẳng có ai là không hả hê ngây ngất. Ở Úc, cũng như bất kì đâu, nghi thức trưởng thành là chuyện không nhỏ.
Terry ngay lập tức tỏ ra là một cầu thủ ngoại hạng tự nhiên, một ngôi sao trên sân cỏ. Xem nó cản bóng, chuyền bóng, lừa bóng, né mình và luồn lách qua đám vận động viên nhỏ thó gầy gò, mắt con sẽ hoa lên. Nó chạy như một người tự chủ, sự tập trung của nó là tuyệt đối. Thực ra, trên sân bóng Terry đã trải qua một sự chuyển đổi về tính cách và tâm lý. Dù nó làm thằng hề trong bất kì tình huống nào có thể tưởng tượng được, nhưng nó chẳng có một chút óc hài hước nào dành cho môn thể thao này; một khi tiếng còi nổi lên, nó trở nên nghiêm túc về quả bóng hình bầu dục thô ráp ấy cũng như một bác sĩ phẫu thuật tim mạch nghiêm túc về những quả tim hình bầu dục mềm mại vậy. Như bố và có thể là hầu hết người Úc, Terry có thái độ phản kháng bẩm sinh đối với thói áp đặt. Kỉ luật là điều không chấp nhận nổi trong tính cách của nó. Nếu ai đó bảo nó ngồi xuống lúc nó đang định với lấy một chiếc ghế, nó hẳn sẽ ném luôn cái ghế ra khỏi khung cửa sổ gần nhất. Nhưng trong lĩnh vực tự kỉ luật thì nó là một bậc thầy. Con không thể ngăn nó lại. Terry sẽ làm vườn ngay cả khi mặt trăng khuếch đại mọc lên như bọt xà phòng. Trong bão tố nó sẽ tăng cường thể lực bằng động tác bật bụng và chống đẩy, và khi mặt trời lặn xuống sau trại giam, đôi ủng của nó giẫm rào rào qua những bụi cỏ dày ướt sũng và những cái hồ ngập bùn.
Vào mùa hè Terry gia nhập đội cricket[10] địa phương. Một lần nữa nó tỏa sáng từ ngày đầu tiên. Ở vị trí ném bóng, nó rất nhanh và chính xác; ở vị trí vợt bóng, nó mạnh mẽ đáng gờm, ở vị trí chặn bóng, mắt nó chuẩn xác và phản xạ nhạy bén. Cái vẻ tự nhiên của nó trông thật bất tự nhiên. Mọi người đều nói về nó. Và khi họ mở một hồ bơi mới, đoán xem ai là người đầu tiên nhảy xuống nước nào? Là người xây hồ bơi! Và đoán xem ai là người thứ hai? Terry! Bố hỏi con: Liệu cơ thể của một người có thể trở thành thiên tài không? Cơ bắp được không? Thịt gân được không? Xương xẩu được không? Con phải nhìn thấy nó trong hồ bơi. Và nó mới bình tĩnh làm sao chứ! Lúc cuộc đua bắt đầu, khi lũ con trai run lẩy bẩy ở điểm xuất phát, thì Terry đứng đấy như đang chờ xe buýt. Nhưng đột nhiên súng nổ! Nó nhanh đến nỗi con không nhớ là mình đã nhìn thấy nó lao xuống nước; nó ào ào lao trong nước cứ như được kéo bằng một chiếc môtô nước. Để Terry được người anh hùng của nó cổ vũ, bố đến xem, lúc nào cũng lén giấu mình ở phía sau khán đài, hò hét to hơn bất kì ai. Trời ơi, những buổi hội hè bơi lội ấy! Cứ như bố đang ở đấy ngay lúc này: tiếng vang của những thân người làm tóe nước và những đôi chân ướt chạy lon ton dọc sàn gạch sũng nước lạnh lẽo của hồ bơi trong nhà, mùi chlorine hôi nồng khiến người ướp xác chợt thấy bâng khuâng, tiếng rút chiếc mũ bơi ra khỏi đầu, tiếng nước chảy tong tong trút từ kính bơi. Và lũ con trai thích điều ấy. Như thể một người nào đó bảo chúng, “Loài người cần nước để sống, vì thế hãy vào hồ đi!” Và chúng vào hồ. Và chúng sung sướng.
Terry là đứa sung sướng nhất bọn. Tại sao lại không chứ? Ngôi sao bóng đá, ngôi sao cricket, ngôi sao bơi lội. Lần đầu tiên trong thị trấn có một người nổi tiếng, làm cho mọi chuyện càng đặc biệt hơn vì nó chỉ là một đứa bé trai bảy tuổi. Bảy tuổi! Chỉ bảy tuổi! Nó là Mozart của thể thao, một thần đồng không giống bất kì thần đồng nào người ta từng thấy. Thị trấn ngưỡng mộ nó, tất cả những đôi mắt tương tư nhìn nó âu yếm và khích lệ. Không thể phủ nhận đó là một sự sùng bái tuyệt đối. Tờ báo địa phương cũng đăng bài rùm beng về cậu bé Terry Dean tuyệt vời. Khi một tờ báo thành phố viết bài về những vận động viên trẻ có khả năng làm nên lịch sử thể thao và Terry được liệt kê trong số đó, bố dượng suýt chết vì sướng.
Nếu con đang thắc mắc thì đây, không hề có sự đố kị nào giữa hai anh em bố, không một chút ganh tị nào từ phía bố, và dù cho bố cảm thấy mình bị quên lãng như những chiếc xe ô tô bị thiêu rụi ở vùng ngoại ô hoang tàn, thì bố vẫn rất tự hào về cậu em trai của mình, người anh hùng thể thao. Nhưng bố cũng lo lắm; bố là người duy nhất nhận ra ở Terry và thể thao, không chỉ có đơn thuần kĩ năng và tinh thần điền kinh.
Bố chú ý đến điều đó không phải vì cách Terry chơi, mà là cách nó theo dõi khi ngồi trên ghế khán giả. Đầu tiên là, con đừng hòng cạy răng nó được một lời trước khi trận đấu diễn ra. Đó là lần duy nhất trong đời bố có thể nói mình nhìn thấy nó biểu lộ một điều gì đó giống như nỗi lo âu. Và bố đã nhìn thấy nó đứng trước phiên tòa chuẩn bị tuyên án chung thân, nên bố biết mình đang nói gì.
Mỗi khi bọn bố đến xem một trận bóng, một cơn phấn khích cao độ sẽ bao trùm lấy nó - với Terry, một sân bóng bầu dục vắng người là một chốn đầy bí ẩn và mờ ảo. Trận đấu bắt đầu, và nó sẽ ngồi thẳng lưng háo hức, miệng hé mở còn mắt dán chặt vào từng cử động. Nó di chuyển thực sự. Như thể nó nghe thấy một ngôn ngữ mà chỉ có nó mới hiểu. Nó ngồi với một sự căng thẳng lặng lẽ, giống như đang xem một điều gì thần thánh lắm - như thể ghi một bàn thắng trong ba mươi giây cuối cùng là một hành động bất tử. Sau một trận đấu, thắng hay thua, toàn thể tâm hồn nó dường như được lấp đầy sự thỏa mãn. Nó được sống trong sự nhiệt tình mê muội! Khi đội bóng nó ủng hộ ghi bàn, nó rùng mình. Bố đã tận mắt trông thấy nó làm thế, và bố cóc cần biết người ta nói gì, một đứa bé trai rùng mình trong cơn phấn khích mê muội là điều khiến người ta nổi da gà. Nó không chấp nhận kết quả hòa. Con sẽ không nói chuyện được với nó sau một trận hòa. Những lần phạt của trọng tài cũng khiến nó trở nên kích động. Bố thường nói, “Chúng ta về nhà được chưa?” và nó sẽ từ từ quay sang nhìn bố, ánh mắt tràn ngập nỗi đau, hơi thở ngắn; trông như đang chịu nhiều đau đớn. Ở nhà, sau những trận đấu làm nó không hài lòng, tất cả mọi người đều phải đi rón rén (một việc chẳng dễ dàng nếu con đi bằng nạng).
Như bố đã nói, Terry và bố khác nhau về cơ thể. Cử động của nó rất thả lỏng, nhẹ như không, thành thật, và nhanh nhẹn, trong khi của bố thì khó nhọc, đau đớn, ngập ngừng, và lạc lõng. Nhưng sự khác nhau của hai đứa có thể được cảm nhận rõ nhất ở nỗi ám ảnh, và những nỗi ám ảnh trái ngược có thể là sự chia rẽ thực sự. Ví dụ như, nếu con có một đứa bạn cứ lải nhải suốt ngày về chuyện chưa tìm thấy tình yêu còn một đứa bạn khác là diễn viên, cả đời chỉ nói được mỗi chuyện Thượng đế đã cho nó chiếc mũi đẹp thế nào, thì sẽ có một bức tường nhỏ chặn giữa hai đứa ấy và cuộc trò chuyện sẽ tan rã thành những cuộc độc thoại giành giật. Nói cách khác, đây là điều bắt đầu xảy ra giữa Terry và bố. Terry chỉ nói về những người hùng thể thao. Bố cũng quan tâm một chút, nhưng một phần quan trọng của việc thần tượng một người hùng là tưởng tượng những nghĩa cử anh hùng đó là của chính mình. Thực tế thì, bố chỉ có niềm vui đơn sơ khi tưởng tượng bản thân ghi một bàn thắng hoặc chạy 1.600 mét mất bốn phút. Những cơn mơ mộng hão huyền kiểu như đám đông cuồng nộ hò hét, “Cậu ta chạy nhanh nhỉ?” không khiến bố thỏa mãn đến vậy. Rõ ràng bố cần một dạng anh hùng khác hẳn.
Nỗi ám ảnh của Terry cuối cùng đã chiếm lĩnh cuộc đời nó; mọi việc từ ăn uống đến đi nhà vệ sinh trở thành những lần gián đoạn ngoài ý muốn giữa thời gian nó chơi, tập luyện, hoặc nghĩ về thể thao. Trò chơi bài làm nó chán, sách vở làm nó chán, ngủ nghê làm nó chán, Thượng đế làm nó chán, thức ăn làm nó chán, tình cảm làm nó chán, bố mẹ làm nó chán, và cuối cùng bố cũng làm nó chán. Bọn bố bắt đầu cãi nhau về những chuyện vớ vẩn, hầu hết là về cách cư xử của bố: giờ thì nó đã ra ngoài tận hưởng cuộc sống với những đứa trẻ không nằm trên giường rên rỉ, sự tiêu cực lấn át của bố và sự bất lực trước thú vui của bố trở nên chán ngắt với nó. Nó bắt đầu trách móc bố vì mọi chuyện nhỏ nhặt: nó không thích cách bố dùng nạng vỗ nhẹ lên vai người khác khi bố muốn đi qua họ, nó không thích cách bố phát hiện ra rất nhanh chóng điều khiến người ta tự hào nhất rồi ngay lập tức chế giễu điều ấy để khiến họ bẽ mặt, nó mệt mỏi trước sự nghi ngờ sâu xa của bố đối với mọi người và mọi việc, từ cánh cửa nhà thờ đến những nụ cười.
Buồn thay, chỉ trong vài tháng, Terry cuối cùng đã nhìn thấy con người thật của bố: một ông cụ non mười một tuổi, một đứa bé chua chát, trầm cảm, hung hãn, hợm hĩnh, xấu xí, thô lỗ, cận thị, hận đời - con biết loại người đấy. Những tháng ngày bám theo bố, bắt chước kiểu ho của bố, và giả vờ chia sẻ những cơn đau dạ dày như dao đâm của bố chỉ còn là kỉ niệm ngọt ngào xa xăm. Đương nhiên, khi hồi tưởng lại, rất dễ nhận ra sự bực bội và những lời trách móc của Terry xuất phát từ sự bất mãn và lòng yêu thương; nó không hiểu tại sao bố lại không thể thoải mái vui vẻ trong cuộc sống như nó. Nhưng vào lúc ấy những gì bố thấy là sự phản bội. Có vẻ như mọi bất công trên thế gian đang xông vào bố như một trận cuồng phong.
***
Giờ thì bố đã mất đồng minh duy nhất của mình, tất cả những gì bố muốn làm là lẩn trốn, nhưng khốn nạn một nỗi, trong một thị trấn nhỏ, không có cái gọi là sự vô danh. Sự không rõ ràng, có. Sự vô danh, không. Thật bực khi con không thể đi bộ trên phố mà không có người chào và mỉm cười với con. Cách tốt nhất con có thể làm là tìm những nơi mà mọi người ghét rồi đi đến đấy. Và đúng là, ngay cả trong một thị trấn nhỏ cũng có những khu vực người ta tránh kéo nhau đến - hãy lập một danh sách trong đầu, và ở đó con có thể sống cuộc đời không bị quấy rối mà không cần nhốt mình trong phòng ngủ. Có một nơi trong thị trấn mới được Lionel Potts khai trương. Chưa có ai từng đặt chân đến vì Lionel là kẻ bị khinh bỉ nhất ở quận. Mọi người đều ghét ông ta, nhưng bố không hiểu tại sao. Họ bảo vì ông ta là “thằng nhà giàu khốn kiếp.” Họ nghĩ, “Lão nghĩ lão là ai chứ, chẳng cần vật vã với tiền thuê nhà? Thật là bố láo!”
Bố nghĩ hẳn Lionel Potts phải có gì đó bí mật và nham hiểm lắm. Bố không tin nổi người ta ghét ông ta vì ông ta giàu, bởi bố để ý thấy hầu hết những người khác cũng đau đớn khổ sở để trở nên giàu có đấy thôi; nếu không thì sẽ chẳng còn vé số, những trò lừa làm giàu mau lẹ và trò đua ngựa. Bố chẳng hiểu nổi tại sao người ta lại ghét đúng cái thứ mà họ thiết tha được trở thành.
Quán cà phê của ông ta được thắp sáng mờ ảo, những chiếc bàn gỗ tối màu và những băng ghế gỗ dài khiến nó trông giống như một quán rượu Tây Ban Nha hay một cái chuồng ngựa trong mắt mọi người. Ở đấy có dương xỉ trồng trong nhà, tranh vẽ những người đàn ông ăn mặc bảnh bao trên lưng ngựa, và một bộ ảnh đen trắng chụp một cụm những cây cổ thụ hùng vĩ ở nơi giờ đây là nhà thuốc tây. Chốn này vắng khách từ sáng đến tối; bố là khách hàng duy nhất. Lionel thường than phiền với cô con gái mình rằng sẽ không bao lâu nữa ông ta phải đóng cửa và sập tiệm, trong lúc liếc nhìn bố đầy tò mò, rõ ràng đang tự hỏi tại sao bố lại là kẻ duy nhất ở thị trấn không nhập hội tẩy chay. Thỉnh thoảng con gái ông ta cũng chăm chăm nhìn bố.
Caroline mười một tuổi, cao và gầy, và cô nàng luôn đứng dựa vào quầy với cái miệng hé mở như thể đang ngạc nhiên. Cô có mắt xanh lục, còn tóc thì màu quả táo vàng thơm phức. Cô ấy có bộ ngực phẳng, cánh tay và hai vai săn chắc; bố nhớ mình từng nghĩ cô ấy có thể đánh bại bố trong một trận đánh và nếu quả thực chuyện ấy có xảy ra thì sẽ là điều vô cùng nhục nhã. Ở tuổi mười một, cô nàng sở hữu một thứ mà sau này sẽ thật hoàn hảo trên sàn trình diễn thời trang Paris - cặp môi nũng nịu. Lúc đấy bố chưa biết, nhưng những đôi môi nũng nịu có tác dụng thế này: chúng thể hiện một sự không hài lòng tạm thời khiến con phải đáp ứng. Con nghĩ: Giá mà ta có thể làm hài lòng đôi môi nũng nịu ấy, ta sẽ hạnh phúc. Nó chỉ là một nét chấm phá gần đây trong tiến hóa, đôi môi nũng nịu. Người thời đồ đá chưa từng nghe nói đến nó.
Bố ngồi trong góc tối nhất của quán cà phê và nhìn cô ấy bê những cái thùng đựng chai lọ lên từ dưới hầm. Cả cô ấy lẫn bố cô ấy đều không làm phiền hay săn đón bố quá mức, xem bố như vị khách duy nhất của họ, còn bố uống món sữa lắc và Coca Cola, đọc sách và suy nghĩ. Với một quyển sổ trắng trơn trước mặt, bố vò đầu bứt tóc tìm cách lý giải bằng lời cho những ảo giác đến với bố trong lúc hôn mê. Mỗi ngày cô nàng đem nước đến cho bố, nhưng bố quá nhút nhát không dám bắt chuyện. Khi cô ấy nói, “Xin chào,” bố đáp “OK.”
Một ngày nọ cô ấy ngồi xuống đối diện bố với khuôn mặt trông như sắp phá ra cười ngặt nghẽo. “Mọi người nghĩ em trai cậu là hàng nóng nhỉ,” cô bé nói.
Bố suýt nữa thì ngã, bố không quen được người khác bắt chuyện với mình. Bố lấy lại tư thế rồi nói một cách đầy hiểu biết, “Ừm, cậu biết người ta thế nào rồi.”
“Tớ nghĩ nó chỉ là thứ khoe mẽ.”
“Ừm, thì cậu biết người ta thế nào rồi đấy.”
“Lại còn chảnh nữa chứ.”
“Ừm,” bố đáp.
Chuyện là thế. Người duy nhất trong thị trấn không mê mệt đứa em trai bố là cô gái bố chọn để yêu. Tại sao lại không? Ngay cả nhà Kennedy cũng phải có ít nhiều sự đố kị giữa anh em mà. Caroline đến xem trận đấu cũng như những người khác, nhưng bố có thể thấy cô ấy thực sự ghét nó, vì mỗi lần đám đông nhảy lên và vỗ tay vì Terry, cô ấy lại ngồi trơ như kệ sách thư viện và chỉ nhúc nhích để đưa tay lên che miệng như thể bị bất ngờ trước tin xấu. Và lúc Terry ào vào quán cà phê để đưa bố về ăn tối, con phải nhìn thấy cô ấy! Cô ấy không thèm nói chuyện, thậm chí là nhìn Terry lấy một cái, và bố thật xấu hổ khi thấy cảnh tượng ấy mới sướng làm sao, vì trong năm phút Terry đã nếm mùi ghê tởm của con ếch nhớt nhợt mà bố buộc phải ngậm đắng nuốt cay đầy khổ sở ngày này qua ngày khác.
Đây là lý do vì sao Caroline Potts đi vào lịch sử khi trở thành người bạn đầu tiên của bố. Bọn bố nói chuyện trong quán cà phê tăm tối đó mỗi ngày, và bố cuối cùng đã có thể giải phóng những suy nghĩ chôn chặt của mình, cho nên bố nhận thấy trạng thái tinh thần mình đã cải thiện rõ rệt. Bố gặp cô ấy với hai lòng bàn tay ướt đẫm mồ hôi và ham muốn tính dục tiền dậy thì, và ngay cả khi bố bước chầm chậm về phía cô ấy, nụ cười của cô ấy, khuôn mặt hơi ái nam ái nữ làm bố ruột gan lộn tùng phèo như vừa bị cô ấy hù một phát. Dĩ nhiên bố biết cô ấy kết bạn với bố vì cô ấy cũng không có bạn, nhưng bố nghĩ cô ấy thực sự xem trọng những lời bình phẩm cạnh khóe của bố, và cả hai hoàn toàn đồng tình khi thảo luận hào hứng về sự ngu dốt vô biên của thói tôn sùng ngốc xít mà thị trấn dành cho em trai bố. Bố tự nguyện kể cho cô một bí mật mà bố biết về Terry: sự tôn sùng mê muội, ma quái của nó dành cho thể thao. Thật thích khi bố không phải là người duy nhất biết rằng có điều gì đó không ổn với Terry Dean, nhưng không lâu sau khi Caroline và bố gặp nhau, một chuyện khủng khiếp xảy ra, và sau đó mọi người đều biết.
Chuyện xảy ra tại một buổi tiệc sinh nhật. Đứa đãi tiệc vừa tròn năm tuổi, một sự kiện trọng đại. Bố đã lỡ mất sinh nhật năm tuổi của mình vì bị hôn mê, nhưng bố cũng không trông mong đến ngày đó vì bố đã lường trước một sự việc ảm đạm, con biết đấy, khi sự ngây thơ của một đứa trẻ bộc lộ những dấu hiệu căng thẳng, và đứa bé lên năm, với nỗi buồn và sự hoảng sợ, bắt đầu thắc mắc tại sao nó bỗng nhiên bị giằng xé giữa tham vọng và nỗi khát khao được ngủ lâu hơn. Trầm cảm! Nhưng giờ đây bố đã được giải phóng khỏi đôi nạng và không thể sử dụng bệnh tình của mình làm cái cớ để trốn tránh cuộc sống. Terry thì ngược lại, rất phấn khích, trời vừa hửng sáng nó đã ăn mặc quần áo dự tiệc chỉnh tề đứng đợi ở cửa trước. Đến giờ thì con đã biết được câu trả lời cho câu hỏi khó chịu đó, Terry Dean lúc nhỏ như thế nào? Nó có phải là một đứa bị ruồng bỏ không? Một kẻ ngốc bướng bỉnh phản kháng sự áp đặt? Không, kẻ đó chính là bố.
Khi bọn bố đến buổi tiệc, tiếng cười dẫn bọn bố đi qua căn nhà mát lạnh, sáng choang đến phía sau, nơi toàn thể lũ trẻ con được đặt ngồi trong khu vườn rộng không có hàng rào, trước nhà ảo thuật mặc bộ áo choàng cộc tay sặc sỡ hai màu đen và vàng. Ông ta đang biểu diễn đủ loại trò rẻ tiền. Khi đã làm lũ chim bồ câu kiệt sức, ông ta đi vòng quanh rồi xem chỉ tay. Tin bố đi, nếu con chưa từng trải qua chuyện này, chẳng có gì xuẩn ngốc hơn cho bằng một ông thầy bói xuất hiện tại một buổi tiệc của trẻ con. “Sau này cháu sẽ trở nên to lớn và khỏe mạnh,” bố nghe lão nói, “nhưng chỉ khi nào cháu ăn hết chỗ rau của mình.” Rõ ràng vụ này được thực hiện theo sự gợi ý của các ông bố bà mẹ để lừa phỉnh lũ trẻ bằng những tương lai giả tạo. Thật đau lòng khi thấy những mặt dối trá và hủ hóa tại sinh nhật của một đứa trẻ, nhưng điều đó chẳng có gì đáng ngạc nhiên.
Sau đó bọn bố chơi trò chuyền quà, mọi người ngồi thành vòng tròn rồi chuyền đi một món quà gói trong giấy báo như một con cá chết, và mỗi khi nhạc dừng lại, ai đang cầm gói quà sẽ bóc ra một lớp. Đó là trò chơi của lòng tham và sự thiếu kiên nhẫn. Bố gây náo loạn khi dừng trò chơi lại để đọc báo. Có một dòng tiêu đề về một vụ động đất ở Somalia: bảy trăm người chết. Lũ trẻ la ó buộc bố chuyền gói quà đi, những tiếng vòi vĩnh gay gắt của chúng léo nhéo trong tai bố. Bố bảo với con, những trò chơi của trẻ con chẳng phải trò đùa. Con không ăn gian được đâu. Bố chuyền gói quà cho thằng nhóc cạnh bên, nhưng mỗi lần một lớp giấy bị bóc ra, bố lại nhặt lên với hi vọng đọc được thêm về trận động đất. Những đứa trẻ khác chẳng đoái hoài gì đến sinh mạng của bảy trăm đồng loại; chúng chỉ muốn món quà. Cuối cùng nó cũng lộ ra: một cây súng nước dạ quang màu xanh lục. Đứa thắng reo hò. Những đứa thua reo hò qua hàm răng nghiến chặt.
Mặt trời tháng mười một làm cả bọn đẫm mồ hôi, thế là một vài đứa trẻ nhảy xuống hồ bơi xanh trong veo để chơi trò Marco Polo. Trong trò này một đứa nhắm mắt bơi vòng quanh, cố bắt những đứa mở mắt. Nó la lên “Marco!” còn chúng la lên “Polo!”. Nếu nó nói “Cá trên cạn!” và mở mắt mà nhìn thấy một đứa bé ở ngoài hồ bơi thì đứa bé ấy trở thành đứa ngốc tội nghiệp phải bơi với đôi mắt nhắm tịt. Bố chả biết nó liên hệ kiểu gì với cuộc đời và thời đại của Marco Polo, nhưng hình như có người phê phán trò chơi này ở đâu đó thì phải.
Khi Terry chơi cùng những đứa khác trong hồ, bố nộp mình cho một thứ đáng sợ gọi là ghế nhạc, một trò chơi tàn nhẫn khác. Thiếu một chiếc ghế, và khi nhạc dừng lại con phải chạy đi tìm chỗ ngồi. Bài học cuộc sống không bao giờ dừng lại ở một buổi tiệc của trẻ con. Tiếng nhạc vang inh ỏi. Con không biết nó dừng lúc nào. Con ở trong tình thế nguy hiểm suốt trò chơi; sự căng thẳng khiến con không chịu nổi. Mọi người nhảy nhót thành hình tròn xung quanh một vòng tròn ghế, nhưng đó không phải là điệu nhảy vui vẻ. Mọi người dán mắt vào bà mẹ đứng cạnh chiếc radio, bàn tay bà sẵn sàng trên nút điều khiển âm thanh. Đôi lúc một đứa trẻ tưởng nhầm động tác của bà ta và lao vào một chiếc ghế. Nó bị la mắng. Nó lại nhảy khỏi chỗ ngồi. Nó là kẻ phá bĩnh. Âm nhạc lại tiếp tục vang lên. Khuôn mặt những đứa trẻ méo xệch vì sợ. Không đứa nào muốn bị loại. Bà mẹ trêu lũ trẻ bằng cách giả vờ chạm vào nút điều khiển. Lũ trẻ ước gì bà chết quách đi. Trò chơi là một mối tương quan với cuộc đời: không có đủ ghế hoặc thời cơ tốt để mà lượn lờ, không đủ thức ăn, không đủ niềm vui, hoặc giường hoặc công việc hoặc tiếng cười hoặc bạn bè hoặc nụ cười hoặc tiền bạc hoặc không khí sạch để thở... vậy mà tiếng nhạc vẫn vang lên.
Bố là một trong những đứa thua đầu tiên, và bố đang nghĩ ngợi trong cuộc sống ta phải luôn đem theo ghế của mình để khỏi phải chia sẻ những tài sản chung đang teo tóp dần, thì chợt nghe thấy tiếng huyên náo ở hồ bơi. Bố đi lại đấy. Hai cánh tay của Terry thọc sâu xuống nước và hai bàn tay nhỏ bé đang vươn lên từ đáy nước trong vắt, cố cào cấu mắt Terry. Cảnh tượng thật khó lý giải: Terry đang cố nhận chìm một ai đó.
Những đứa trẻ khác bấy giờ đã đứng trên bãi cỏ, tất cả đều là cá trên cạn. Một ông bố đau khổ nhảy xuống nước, lôi Terry ra khỏi đứa bé kia, và lôi cả hai ra khỏi hồ bơi, nơi bà mẹ hốt hoảng của đứa trẻ suýt chết đuối giáng một cái tát vào mặt Terry. Buổi chiều hôm đó, giữa đám đông cha mẹ giận dữ, Terry tự bào chữa cho mình, giải thích rằng nó thấy nạn nhân chơi ăn gian.
“Tao không có!” thằng bé khóc lóc.
“Tao thấy mày rồi! Mắt trái mày mở!” Terry quát lên.
“Mà có thế đi nữa, con ạ,” bố dượng lên tiếng, “đấy cũng chỉ là một trò chơi thôi mà.”
Điều mà bố dượng không biết là cụm từ “chỉ là một trò chơi” sẽ không có bất kì một ý nghĩa gì với Terry Dean. Với Terry, đời là trò chơi và mọi trò chơi sẽ luôn là đời, và nếu bố không phát hiện ra điều đó, bố đã không điều chỉnh thông tin cho cuộc trả thù tưởng tượng đáng buồn của mình, một sự việc vô tình làm biến đổi cuộc đời em trai bố.
Đây là một trong những kí ức làm cho bố trở nên mù quáng khi nghĩ về nó- khi toàn thể những điều tồi tệ nhất thuộc về cơn bốc đồng của bố hội tụ lại cho một khoảnh khắc vô cùng đáng hổ thẹn. Chỉ một tháng sau đó, khi mà sau nhiều năm trời học tại gia giữa những buổi luyện tập thể thao, Terry cuối cùng cũng đến trường (một sự kiện mà bố nghĩ đến là sợ, vì bố đã quá thành công trong việc giữ kín như bưng việc mình bị ghét với gia đình). Dave và Bruno Browning, hai anh em sinh đôi, đã trói bố vào cành to của một cái cây nằm phía sau phòng tập thể dục. Chúng không chỉ là bọn trùm bắt nạt của trường, mà còn là kẻ trộm, tội phạm tương lai, lũ đầu đường xó chợ, và bố luôn nghĩ chúng thuộc về nhà tù hoặc trong những ngôi mộ đào nông đến nỗi khi người ta bước qua chúng, họ sẽ thực sự bước lên trên khuôn mặt chết chóc lạnh tanh của Bruno và Dave. Khi chúng cột xong nút thắt, bố bảo, “Làm sao chúng mày biết đây là cái cây tao thích nhất? Ôi trời ơi, cảnh mới đẹp làm sao! Thật là đẹp!” Bố tiếp tục nói nhăng nói cuội khi chúng leo xuống. “Nói thật nhé, các cậu,” bố hét to, “các cậu không biết mình đang bỏ lỡ cái gì đâu!” Bố làm dấu giơ hai ngón cái với một đám đông nhỏ đang tụ tập ở gốc cây.
Nụ cười đóng băng của bố tan ra khi nhìn thấy khuôn mặt Terry trong đám đông, ngước nhìn lên bố. Vì nó là một anh hùng thể thao được ngưỡng mộ nên đám đông mở đường cho nó đi vào. Bố kiềm nước mắt nhưng vẫn lên giọng. “Ê, Terry, trò này vui ghê. Rảnh rỗi nhớ lên đây thăm anh nhé!”
Nó trèo lên cây, ngồi trên cành đối diện bố, và bắt đầu tháo các nút thắt.
“Có chuyện gì thế?”
“Ý em là sao?”
“Ai cũng ghét anh!”
“Được rồi. Anh không được yêu mến. Thì sao nào?”
“Vậy tại sao mọi người lại ghét anh?”
“Chúng phải ghét một ai đó. Chúng còn ghét ai được nữa, nếu không phải là anh?”
Bọn bố ngồi trên cái cây đó suốt buổi chiều, trong năm giờ, trong đó có hai giờ bố bị chóng mặt cấp. Tiếng chuông thỉnh thoảng vang lên, và bọn bố nhìn theo lũ trẻ con đi từ lớp học này sang lớp học khác, phục tùng nhưng tùy tiện, như những binh lính trong thời bình. Bọn bố nhìn chúng cả ngày, không ai lên tiếng. Giữa lặng thinh mọi sự khác biệt của hai đứa đột nhiên như không còn quan trọng nữa. Sự cân bằng của Terry trên cành cây cạnh bố là một cử chỉ quan trọng to lớn của tình đoàn kết. Sự có mặt của nó nói với bố: Anh cô đơn nhưng không cô độc. Chúng ta là anh em, và không gì có thể thay đổi điều đó.
Mặt trời lướt ngang qua bầu trời. Những đám mây mỏng manh được chở đi trên những cơn gió mạnh. Bố nhìn các bạn cùng lớp của mình như nhìn qua một cửa sổ chống đạn hai lớp kính và nghĩ: Cơ hội giao tiếp giữa hai anh em chẳng hơn cơ hội giao tiếp giữa một con kiến với một hòn đá là bao.
Ngay cả đến sau ba giờ, khi ngày học đã kết thúc, Terry và bố vẫn ngồi bất động, lặng lẽ nhìn khi một trận cricket diễn ra bên dưới hai đứa. Bruno và Dave cùng năm hoặc sáu đứa trẻ khác được xếp thành vòng bán nguyệt, chạy nhảy, lao đầu vào đất bẩn cứ như cơ thể con người chẳng có chút gì dễ vỡ. Chúng phát ra những tiếng gầm rú, ngày càng mạnh dần, và thỉnh thoảng hai đứa sinh đôi lại nhìn lên cây và gọi tên bố bằng giọng như hát. Bố nhăn mặt khi nghĩ đến những sự đánh đập mà bố sẽ phải đối mặt sắp tới, và nước mắt bắt đầu tuôn. Đó là những giọt nước mắt sợ hãi. Làm sao bố thoát được khỏi tình cảnh này? Bố nhìn hai thằng bắt nạt bên dưới và ước gì mình có những khả năng nguy hiểm, bí ẩn mà chúng cảm nhận được trong ruột gan chúng. Bố tưởng tượng chúng hát những lời chế giễu với cái miệng đầy máu.
Bỗng nhiên bố nảy ra một ý.
“Bọn chúng đang chơi ăn gian,” bố nói với Terry.
“Thật à?”
“Ừ. Anh ghét trò ăn gian lắm, em có vậy không?”
Hơi thở của Terry trở nên chậm và đứt quãng. Đó là một cảnh tượng kì lạ; mặt nó thở phì phì như mỡ nóng trong chảo.
Nói không ngoa rằng toàn khuôn mặt của gia đình họ Dean được quyết định trong buổi chiều hôm ấy trên cây. Bố chẳng lấy gì làm tự hào về bản thân vì đã kích động em trai mình tấn công những kẻ tấn công bố, và nếu như bố có cách gì để biết rằng với việc lợi dụng sự cuồng tín của nó dành cho thể thao, bố đã đặt mua hàng tá bao đựng tử thi trực tiếp từ nhà sản xuất, thì bố sẽ không làm thế.
Bố không thể kể cho con nghe nhiều về chuyện xảy ra sau đó. Nhưng bố có thể nói rằng Terry đã leo xuống, giật lấy cây gậy vợt bóng từ thằng Bruno đang sững sờ, rồi nện vào đầu nó. Bố có thể kể với con rằng màn đánh nhau diễn ra chỉ mới khoảng mười lăm giây thì Dave, đứa xấu hơn trong cặp sinh đôi khác trứng, lôi ra một con dao hồ điệp rồi đâm mạnh vào chân Terry. Bố có thể cho con biết tiếng thét nghe giống cái gì, vì đó là tiếng thét của bố. Terry không phát ra một tiếng động. Ngay cả khi máu bắn ra từ vết thương và bố leo xuống chạy đến đám đông để lôi nó đi, nó vẫn im lặng.
***
Ngày hôm sau, trong bệnh viện, một ông bác sĩ dửng dưng thản nhiên nói với Terry rằng nó sẽ không bao giờ chơi bóng đá được nữa.
“Còn bơi thì sao ạ?”
“Không hẳn.”
“Cricket?”
“Có thể.”
“Thật không?”
“Tôi không biết. Cậu có chơi cricket mà khỏi cần chạy không?”
“Không.”
“Vậy thì không.”
Bố nghe Terry nuốt nước bọt. Tất cả mọi người đều nghe thấy. Tiếng nuốt khá lớn. Sự mềm mại trên khuôn mặt tám tuổi của nó đanh lại trong phút chốc. Bọn bố chứng kiến khoảnh khắc chính xác khi nó bị buộc giã từ những giấc mơ của mình. Một khắc sau, nước mắt tuôn trên mặt nó và nó tạo ra những âm thanh khó nghe ở yết hầu. Bố không may đã nghe thêm âm thanh ấy một hoặc hai lần sau hôm đó, những âm thanh tàn khốc đi cùng với sự xuất hiện đột ngột của nỗi tuyệt vọng.
Triết lý
Điều ước năm xưa của Terry đã thành hiện thực, nó đã trở thành một đứa què quặt, giống hệt ông anh nó. Chỉ khác là giờ đây bố đã phục hồi sức khỏe, còn Terry đơn thương độc mã. Nó dùng đôi nạng cũ của bố để đi từ điểm A đến điểm B, nhưng đôi khi nó muốn ở lì tại điểm A trong nhiều ngày liền, và sau đó khi không cần dùng đến nạng nữa, nó chuyển sang dùng một cây gậy gỗ sẫm màu đánh vẹc ni. Nó dọn sạch những món đồ liên quan đến thể thao ra khỏi phòng mình: những tấm áp phích, tranh ảnh, bài báo, quả bóng, gậy cricket, và cặp kính bơi. Terry muốn quên đi. Nhưng làm sao mà quên được? Con không thể bỏ chạy khỏi cái chân của chính mình, nhất là khi cái chân ấy mang trên nó sức nặng của những giấc mơ tan vỡ.
Mẹ của bố cố gắng dỗ dành đứa con trai (và chính bà) bằng cách nuông chiều nó hết mực - nấu món nó thích (xúc xích với đậu đút lò) mỗi ngày, cố ôm ấp nó vào lòng, làm giọng nựng nịu trẻ con khi nói chuyện với nó, và liên tục vuốt tóc nó. Nếu nó chịu, không chừng bà sẽ gõ lên trán nó đến khi da bong ra. Bố dượng cũng bị trầm cảm - hờn dỗi, ăn quên nghỉ, nốc bia như suối, và đung đưa những chiếc cúp thể thao của Terry trong vòng tay như những đứa bé đã chết. Đây là giai đoạn bố dượng phát phì. Trong cơn điên loạn, ông ngốn mỗi bữa ăn như thể đó là lần cuối cùng. Trong mấy tháng đầu mặt ông bị đẩy phình ra và thân hình gầy gò tự nhiên của ông co giật với sự biến chuyển đột ngột, nhưng cuối cùng nó oằn lại khiến eo và hông của ông cũng phình ra tương ứng, nở ra đến một bề ngang lớn hơn cửa ra vào trung bình chính xác 0,6 centimet. Việc đổ lỗi cho bố vì đã gây ra thảm họa giúp ông tươi tỉnh hơn một chút. Mà cũng không cần phải đi điều trị tâm lý mới moi được điều ấy từ ông. Ông chẳng giấu giếm lời trách cứ của mình mà sổ toẹt nó ra, trong bữa ăn tối, huơ chiếc nĩa đầy dọa nạt về phía bố như cây thánh giá của thầy trừ tà.
May là ông sớm bị sao nhãng bằng cách quay trở lại nỗi ám ảnh cũ của ông: nhà tù trên ngọn đồi. Ông và viên quản ngục là bạn nhậu, và trong suốt nhiều năm, đêm nào cũng chơi bida với nhau, đặt cược mỗi ván 100.000 đô la cho vui. Viên quản ngục thiếu bố dượng một khoản tiền ghi nợ kếch sù. Một ngày nọ bố dượng khiến ông ta bất ngờ bằng cách đòi trả hết, nhưng thay vì đòi trả nợ bằng tiền, bố dượng lại đưa ra một đòi hỏi lạ lùng và thâm hiểm: ông sẽ quên khoản tiền nợ 27 triệu đô la, đổi lại viên quản ngục phải lên phòng đem những bản sao hồ sơ phạm nhân xuống. Với tương lai đứa con trai đã tan theo mây khói, điều duy nhất bố dượng tự hào là đã góp tay xây nên nhà tù đó, một thành tựu vững chắc mà ông có thể nhìn thấy khi đứng từ hiên nhà mình. Vì vậy dĩ nhiên ông cảm thấy mình có quyền biết các vị khách trọ trong đấy là ai. Viên quản ngục photocopy các hồ sơ, và đêm này qua đêm khác bố dượng nghiền ngẫm tiền án của những kẻ giết người, hiếp dâm và trộm cắp, rồi tưởng tượng ra cảnh họ khua khoắng những song sắt mà chính ông đã hàn. Nếu con hỏi bố, thì đây chính là điểm khởi đầu của mọi kết thúc đối với bố dượng, dù sự trượt dài hẵng còn chưa đến. Đây cũng là thời gian ông bắt đầu nổi trận lôi đình với mẹ của bố ở chốn công cộng, đến mức bà không thể chịu đựng nổi cảnh đi cùng ông ra khỏi nhà; và bà làm thế thật, không bao giờ đi cùng nữa, và trong những dịp hiếm hoi hai người chạm mặt trên phố, sự lúng túng xâm chiếm họ và họ trở nên lịch sự một cách kì lạ. Chỉ đến khi về nhà, con người bình thường của họ mới tái xuất hiện và họ lại lồng lộn lên lăng mạ nhau.
Mọi thứ ở trường cũng lạ lẫm trong một thời gian. Như con biết, bố không bao giờ hòa nhập được; bố thậm chí còn không thể ép mình vào khuôn khổ. Terry, ngược lại, đã được chấp nhận và chào đón từ ngày đầu tiên, nhưng giờ đây, sau khi nó mất khả năng sử dụng chân cho mục đích thể thao, nó lại ép mình ra khỏi tập thể. Bố để mắt đến nó khi nó đi tập tễnh quanh sân trường, đè đầu nạng lên ngón chân các bạn học rồi dồn hết sức lực ấn xuống. Cá nhân bố nghĩ không chỉ sự bất mãn của Terry làm nó trở nên lạnh lùng và cộc cằn như vậy. Đó còn là phản ứng trước lòng trắc ẩn vô hạn mà nó phải đối mặt. Con thấy đấy, mọi người đều rất thông cảm trước mất mát của nó, cư xử tử tế với nó hết mực. Đó là điều tệ hại nhất đối với nó. Một số người kịch liệt chống đối chuyện trở thành kẻ bị thương hại. Những người khác, như bố chẳng hạn, lại thèm thuồng nhận lấy nhận để sự thương hại đó, chủ yếu là vì sau khi đã tự thương hại mình quá lâu, thì việc ai nấy cuối cùng cũng đồng hội đồng thuyền xem ra có vẻ hợp lý.
Bruno và Dave trừng mắt đầy hăm dọa với Terry mỗi lần chúng đi ngang qua nhau. Terry giữ bình tĩnh và dành cho chúng nụ cười láu cá nhất của nó. Điều đó dẫn đến một vụ “đấu mắt”, một kiểu đánh nhau của đám con trai khiến người đi qua thấy rất ư ngớ ngẩn. Sau đó, khi bố bám đuôi Terry đi suốt hành lang, bố phát hiện nó tò tò theo Bruno và Dave bất kể chúng đi đâu. Nó muốn làm gì với bọn ấy? Trả thù? Đấu lại? Bố van nài nó để chúng yên. “Cút đi, Marty!” nó phập lại bố.
Bố leo trở lại lên cây. Bây giờ bố sẽ để mình ở đó. Nó đã trở thành nơi ẩn náu bí mật của bố. Bố đã học được một bài học quý giá: người ta hầu như chẳng bao giờ nhìn lên. Ai biết tại sao chứ? Có lẽ họ nhìn xuống đất để xem trước những lực hút sắp đến. Mà họ nên làm thế. Bố nghĩ kẻ nào nói mình nhìn về tương lai mà không dán một mắt xuống đất là kẻ thiển cận.
Một hôm bố thấy một cơn chấn động phía dưới: đám học sinh đang chạy lao nhao khắp sân trường, chạy vào chạy ra lớp học, gọi to lên. Bố căng hai tai theo kiểu kì lạ mà con người có thể căng tai khi họ muốn. Chúng đang gọi tên bố. Bố ôm cành cây chặt đến nỗi toàn thân muốn vỡ vụn. Mọi đứa học sinh trong trường đều nhằm vào bố vì một điều gì đó. Nhưng giờ là cái gì? Giờ là cái gì? Hai đứa học sinh dừng lại dưới cây để thở và bố nghe được tin: Bruno và Dave yêu cầu bố có mặt ở phía sau phòng tập thể dục. Đã đến lúc rồi, bố nghe hai đứa học sinh nói. Nếu đâm em trai bố là một lời tuyên bố, thì bố có lẽ là dấu chấm than. Chúng đã đạt được sự đồng thuận là sẽ xé bố thành trăm mảnh. Mọi người đều muốn dự phần.
Rồi một đứa con gái trông thấy bố, và hai phút sau một đám đông đã vác bố trên vai như bố là người anh hùng, nhưng rõ ràng chúng đang chuyển thịt đến tay đồ tể. Chúng nhảy chồm chồm như lũ cún con khi chuyền bố cho Bruno và Dave, lúc bấy giờ đang đứng đợi sau phòng tập. “Nó đây này!” lũ trẻ gào to, thả bố đánh phịch xuống đất. Bố từ từ đứng dậy, chỉ để đón nhận điều tồi tệ nhất. Con có thể bán cả vé - đó là sô hút khách nhất thị trấn.
“Martin,” Dave hét lên, “nếu ai... bất kì ai... đụng vào mày... hoặc đánh mày... hoặc đẩy mày... hay chỉ cần nhìn mày chọc ghẹo, mày cứ đến gặp tao và tao sẽ HỦY DIỆT chúng nó! Mày hiểu không?”
Bố không hiểu. Đám đông cũng không.
“Bây giờ mày đã nằm dưới sự bảo kê của bọn tao, OK?”
Bố nói OK.
Đám đông lặng như tờ. Dave rảo một vòng nhìn vào mặt chúng. “Có ai thắc mắc gì không?”
Không ai có thắc mắc gì. Chúng vặn vẹo như bị mắc câu.
“Được rồi.” Sau đó Dave quay sang bố nói, “Hút thuốc không?”
Bố không nhúc nhích. Nó phải nhét điếu thuốc vào miệng bố rồi châm lửa.
“Giờ hít vào đi.”
Bố hít vào và ho dữ dội. Dave vỗ lưng bố vẻ thân thiện. “Mày ổn mà, anh bạn,” nó nói, cười nhăn răng. Rồi nó bỏ đi. Đám đông quá sửng sốt đến nỗi đứng trơ như phỗng. Bố cố hết sức giữ thăng bằng. Bố nghĩ mình sắp sửa bị đánh, chứ không phải được cứu. Giờ bố đã là một sinh vật được bảo kê. Nó làm bố phồng lên như con cá nóc. Bố quay sang đám đông đang chẳng hiểu đầu cua tai nheo ra làm sao, dùng mắt thách thức chúng. Tất cả chúng đều nhìn lảng đi, từng con mắt cuối cùng.
Terry Dean tám tuổi đã thỏa thuận với quỷ dữ vì đứa anh trai mười hai tuổi của nó, đó là điều đã cứu vớt bố. Nó trông thấy bố hôm thì ngồi rúm ró sau thùng rác, hôm thì chịu đựng sự lánh mặt tẻ nhạt, vì thế - là một đứa em trung thành - Terry đưa ra lời đề nghị: nếu bọn chúng bảo kê bố, thì nó sẽ gia nhập băng nhóm điên loạn của bọn chúng. Nó đề nghị làm thực tập sinh của bọn chúng, một tên du côn tập sự. Ai mà biết tại sao chúng lại nhận lời? Có thể chúng thích tinh thần của nó. Có thể chúng lúng túng trước yêu cầu táo tợn của nó. Dù lý do là gì đi nữa, khi chúng buộc nó lấy máu mình viết bản ghi nhớ nêu chi tiết thỏa thuận, Terry đã không do dự lấy một con dao Stanley cắt một nhát rồi viết ra thỏa thuận rành rành giấy trắng mực đỏ.
Em trai bố đã gia nhập sớm vào cuộc sống tội ác như vậy đấy. Trong vài năm tiếp theo, nó dành hết thời gian sau giờ học với Bruno và Dave, và vì Terry còn quá nhỏ để một mình làm hết những sai bảo của bọn chúng, bố phải lẽo đẽo theo cùng. Thoạt đầu hai đứa sinh đôi định dụ bố làm chân sai vặt cho chúng, nhưng với sự cương quyết của Terry, bố được phép ngồi ở gốc cây và đọc sách, ngay cả trong lúc đánh nhau ngoài đường. Mà lúc nào cũng có đánh nhau. Băng nhóm này không ngủ ngon nếu chúng chưa đấm vào mặt ai đó vào thời điểm nào đó trong ngày. Khi đã đánh nhau với mọi ứng cử viên tiềm năng trong thị trấn, Bruno trộm chiếc xe Land Rover của bố nó rồi chở bọn chúng đến thị trấn bên cạnh để tiếp tục trò đấm vào mặt. Có cả đống trẻ con để đánh. Mỗi thị trấn đều có những đứa khó nhằn, một thế hệ mới những kẻ lấp đầy trại giam chờ đến ngày xộ khám.
Chiều nào chúng cũng dạy Terry đánh nhau. Chúng đã xây dựng cả một hệ thống triết lý dựa trên bạo lực và trận mạc, và khi nắm đấm của Terry trở thành thỏi gạch xương xẩu, Bruno và Dave làm thành cặp đôi tung hứng, đứa này hỏi còn đứa kia trả lời.
“Tay mày để làm gì?”
“Co lại thành nắm đấm.”
“Chân mày để làm gì?”
“Đá.”
“Còn bàn chân?”
“Đạp vào mặt.”
“Ngón tay?”
“Móc.”
“Răng?”
“Cắn.”
“Đầu?”
“Húc.”
“Cùi chỏ?”
“Ấn vào hàm.”
Vân vân.
Chúng ca ngợi cơ thể con người không chỉ như một vũ khí mà còn là một kho thuốc nổ, và khi xem chúng tụng cẩm nang này vào đầu Terry, bố ngầm so sánh cơ thể mình - một kho thuốc nổ chĩa vào bên trong, vào chính mình.
Khi không đánh nhau, chúng trộm cắp - thượng vàng hạ cám chẳng chừa món nào. Do không biết phân biệt hàng tốt hàng xấu, chúng vét sạch những chiếc xe bị vứt bỏ, những phụ tùng xe bị hỏng, vật tư trường học, đồ thể thao; chúng đột nhập vào tiệm bánh lấy trộm bánh mì, và nếu không có bánh mì thì lấy bột nhào; chúng đột nhập vào cửa hiệu đồ gia dụng rồi ăn cắp búa, thang, bóng đèn và vòi hoa sen; chúng lẻn vào hàng thịt và rinh đi xúc xích, móc treo thịt và xương ống cừu; chúng cướp tem và thư chưa nhận trong bưu điện; chúng đột nhập vào nhà hàng Trung Hoa rồi vơ luôn đũa, xì dầu và bánh bói[11]; và ở trạm dịch vụ chúng chôm nước đá rồi tìm cách bán tống bán tháo trước khi đá tan.
Nếu con xui xẻo có mặt sau một chuyến trộm cắp của chúng, con sẽ phải chuẩn bị sẵn sàng để đi mua sắm. Kĩ năng bán hàng của chúng thật ấn tượng. Với Bruno và Dave, việc làm ăn lúc nào cũng phát đạt, vì chúng đã tìm thấy một kẽ hở của thị trường: đám trẻ con khiếp vía.
Terry cũng hăng hái tham gia, bò qua cửa sổ và ống thông gió, vào những nơi khó đến trong khi bố chờ bên ngoài và thầm khẩn khoản mong chúng nhanh lên. Bố van nài nhiều đến nỗi toàn thân đau đớn. Trải qua nhiều tháng, trong khi Terry có được cơ bắp, sự nhanh nhạy và kĩ năng đánh đấm tay đôi, thì bố lại èo uột lần nữa. Bố mẹ của bố, do lo lắng bệnh cũ của bố tái phát, đã mời bác sĩ đến. Ông này bối rối. “Trông giống như bị căng thẳng thần kinh,” ông ta phán, “nhưng một đứa bé mười hai tuổi thì lo lắng chuyện gì mới được chứ?” Ông bác sĩ tò mò nhìn da đầu bố. “Chuyện gì xảy ra với tóc cháu thế?” ông ta hỏi. “Trông như một ít tóc bị rụng rồi.” Bố nhún vai và nhìn khắp phòng như thể tìm những sợi tóc. “Thế này là sao?” Bố dượng quát lên. “Nó bị rụng tóc á? Ôi trời ơi, con nít gì mà!” Một chiếc hộp cuồng nộ Pandora mở ra mỗi khi bố chứng kiến em trai mình đang tiến hành một vụ trộm cướp, nhưng khi không có đánh nhau ngoài đường, bố dồn hết tinh thần cho sự buồn bực. Mỗi ngày khi đi bộ về nhà, bố đều van nài Terry trốn đi. Bố hoàn toàn tin rằng bố sẽ chứng kiến em trai bố chết ngay trước mắt mình. Vì tuổi tác và kích cỡ của Terry, Bruno và Dave trang bị cho nó một chiếc gậy cricket, vũ khí mà nó vẫy lên không trung khi hét lên một tiếng xung trận rồi ném bay là đà về phía kẻ thù. Hiếm khi một đối thủ ở yên để nhìn nó làm gì với chiếc gậy, dù có một vài đứa đứng yên, và trong một lần đánh nhau, Terry bị chém bằng dao. Há hốc mồm vì kinh ngạc, bố chạy bổ vào trận chiến để lôi nó đi. Bruno và Dave vỗ lên mặt nó để nó lấy lại sức, rồi đưa nó vào trở lại trong khi máu vẫn chảy. Bố kêu gào chống đối cho đến khi tắt tiếng, rồi sau đó bố la không ra hơi.
Đây không phải là những trận đánh nhau ở sân trường, đây là một cuộc chiến băng nhóm. Bố thường nhìn vào khuôn mặt gầm gừ của những đứa trẻ khi chúng ném mình vào cuộc chiến, đánh nhau thừa sống thiếu chết. Sự dửng dưng của chúng trước bạo lực và đau đớn khiến bố hoang mang. Bố chẳng thể hiểu nổi những sinh vật này, phát rồ phát dại trong sung sướng, nện nhau túi bụi xuống nền đất. Và cái cách chúng thích thú trước những vết thương của mình - thật chẳng hiểu làm sao. Chúng nhìn vào những vết thương hở của chúng như những tình nhân gặp lại nhau sau bao tháng ngày xa cách. Thật là điên hết chỗ nói.
Caroline cũng không hiểu nổi chúng. Cô ấy giận bố vì đã để em trai mình nhập bọn đám du côn này, dù cô ấy rất vui vì băng nhóm này bảo vệ bố. Những lời lẽ giận dữ của cô ấy để lại ánh ráng chiều trên gò má bố: sự quan tâm của cô ấy là tất cả những gì bố cần. Bố vẫn còn ngưỡng mộ bản thân về tình bạn giữa bố với Caroline. Những cuộc trò chuyện của bọn bố là những điều tốt nhất về bố và là điều duy nhất bố yêu thích trong cuộc sống, đặc biệt là từ khi chiều nào Bruno và Dave cũng châm thuốc lá cho bố và dọa dẫm bố với đủ mọi kiểu tra tấn tài tình, trong đó lời đe dọa bố thích nhất là chúng sẽ chôn sống bố trong nghĩa trang dành cho vật cưng. Dù vậy, chúng chẳng bao giờ thực hiện cả, vì Terry đã nói rõ rằng chỉ cần bố bị một vết xước thôi là nó sẽ ra khỏi nhóm ngay. Rõ ràng hai đứa sinh đôi biết nhìn người. Chúng nhận ra nó là thần đồng tội phạm; còn lý do nào khác khiến hai thằng khốn này nghe lời Terry chứ? Nếu con hỏi, chúng có thể sẽ nói rằng đó là sự tổng hợp của sức lực, óc hài hước, tinh thần sẵn sàng thực hiện mọi mệnh lệnh, và sự gan dạ của nó. Dù gì đi nữa, chúng thích thú có nó bên cạnh, ngay cả khi điều đó đồng nghĩa với việc phải chịu đựng thằng anh trai ủ rũ chẳng làm gì ngoài đọc sách của nó. Những quyển sách ấy của bố thực sự khiến chúng cáu tiết. Thật nực cười, chúng nghĩ bố là kẻ xấu xa vì cái kiểu bố xem lướt qua những quyển sách ở thư viện.
“Làm sao mày biết cách chọn sách? Ai bảo mày?” Dave có lần hỏi bố.
Bố giải thích rằng có một sợi dây dẫn dắt. “Nếu mày đọc Dostoyevsky, ông ấy có nhắc đến Pushkin, vậy là mày đi đọc Pushkin, và ông này nhắc đến Dante, cho nên mày đi đọc Dante, và...”
“Được rồi!”
“Mọi quyển sách đều theo cách nào đó nói về những quyển sách khác.”
“Tao hiểu rồi!”
Đó là một cuộc kiếm tìm bất tận, và thành công bất tận; những người quá cố đưa bố đi ào ào theo thời gian, qua hàng thế kỉ, và trong khi Bruno tức tối trước lòng tôn sùng ngây thơ của bố dành cho một thứ lề mề và thiếu nam tính như một quyển sách, thì Dave lại bị hấp dẫn. Thỉnh thoảng nó ngồi phịch xuống cạnh bố sau một trận đánh nhau, máu chảy ròng ròng xuống mặt, rồi nói, “Kể cho tao nghe mày đang đọc gì đi.” Và bố kể cho nó nghe, một mắt canh chừng Bruno, đang bốc hỏa vì lòng căm ghét mù quáng sục sôi. Hơn một lần nó xé nát sách của bố. Hơn một lần bố ngồi khiếp đảm khi một quyển sách bay xuống bờ vực. Đi đời Tội ác và hình phạt! Đi tong Cộng hòa của Plato! Những trang sách có thể đã giang rộng cánh khi chúng rơi xuống, nhưng chúng không bay.
Lũ con trai yêu cầu khi đọc sách, bố phải canh chừng cảnh sát và du khách. Terry húc khủy tay bố như ngầm nói, “Hãy làm việc bé cỏn con này để được yên,” vì thế bố mặc nhiên thực hiện, dù bố là một đứa canh gác tồi. Bố quá bận rộn theo dõi bọn chúng, và bố đi đến kết luận rằng mình nóng lòng muốn góp ý. Bruno, Dave và Terry đã đánh nhau đến mức đạt thế thượng phong trong vùng, giờ đây chúng đã bất khả chiến bại và đâm ra chán nản. Chúng có những kế hoạch to tát cho bản thân; chúng muốn leo lên nấc thang thế giới ngầm - mà theo bố là một sự đi xuống - nhưng chúng lại mất phương hướng và chìm đắm trong sự buồn tẻ mà không biết tại sao. Bố biết tại sao, và bố không chịu nổi khi chẳng đứa nào chịu hỏi bố cả. Sau khi lục lọi nhà kho của bố dượng, bố thậm chí còn vạch ra cả một giải pháp.
Hôm ấy, dù thân phận như thế, bố đã lên tiếng, và đẩy em mình vào một hướng mới tồi tệ hơn.
“Tao biết bọn mày chán,” bố bảo.
“Nó nói chuyện kìa!” Dave hét lên.
“Ừ,” Bruno nói. “Giờ thì câm mồm đi!”
“Đợi đã,” Dave nói, “Tao muốn nghe xem nó muốn nói gì. Nói đi, cái bao phân tội nghiệp, nói cho bọn tao biết tại sao bọn tao lại chán nào.”
“Bọn mày không học nữa,” bố đáp. Không đứa nào trả lời, vậy là bố thu hết can đảm vượt qua sự im lặng và đánh thẳng vào đấy. “Bọn mày đạt đến đỉnh cao rồi. Bọn mày biết cách đánh nhau. Bọn mày biết cách trộm cắp. Bọn mày cứ làm đi làm lại một việc hết ngày này qua ngày khác. Bọn mày không còn có động lực nữa. Cái bọn mày cần là một người hướng dẫn. Bọn mày cần một người trong giới tội phạm chỉ bảo cách để đạt đến trình độ tiếp theo.”
Mọi người tiếp thu lời khuyên của bố. Bố quay lại quyển sách của mình, nhưng chỉ giả vờ đang đọc. Bố quá phấn khích! Có một dòng sông ấm áp nhỏ giọt qua mạch máu bố. Cảm giác này là thế nào? Nó thật tươi mới.
Bruno ném một viên đá trúng vào cái cây cách phía trên đầu bố chỉ vài centimet.
“Nhìn quanh xem, thằng đần. Đây đâu phải là thành phố. Bọn tao tìm một người như thế ở chỗ chó nào?”
Không rời mắt khỏi sách, và kiềm nén ngọn lửa trong lòng, bố chỉ về phía thành tích đáng tự hào nhất của bố dượng - nhà tù ở trên đồi.
Sự sáng tạo
“Vậy làm sao chúng ta biết hỏi người nào để hướng dẫn mình?” Dave hỏi.
“Tao đã biết rồi,” bố đáp.
Nhà kho của bố dượng trang bị đầy đủ từng chi tiết về nhà tù và cuộc sống trong tù, kể cả hồ sơ tù nhân, nhờ ông moi được từ viên quản ngục sau trò chơi bida. Sau khi nảy ra sáng kiến, bố đã nghiên cứu từng hồ sơ của toàn thể đám người cặn bã trên đấy và trộm hồ sơ của kẻ thắng cuộc.
“Đầu tiên tao loại những tên tội phạm hành chính, những kẻ bạo hành gia đình, và bất kì ai từng một lần phạm tội vì ghen tuông,” bố nói.
“Và?”
“Và tao cũng loại luôn mấy tên cưỡng dâm.”
“Tại sao?”
“Vì tội đấy chẳng dính dáng gì đến tiền bạc cả.”
“Mày có chọn được một người rồi hay chưa?” Bruno hét toáng lên.
Bố đặt sách xuống và lục tìm tập hồ sơ trong giỏ. Tim bố đập loạn xạ đến nỗi bố có thể cảm thấy nó dội vào lồng ngực mình. Bố đẩy tập hồ sơ qua bãi cỏ đến chỗ Bruno và, với cái mồm khô khốc như chiếc khăn mới, nói, “Đây là người của mày.”
Bruno xem tập hồ sơ. Những đứa khác xúm lại xung quanh. Tên của tù nhân đó là Harry West; đang chịu án chung thân. Nếu có tội gì thì lão ta đã phạm tội ấy: ăn cắp trong cửa hàng, tấn công và hành hung, phá cửa và đột nhập, sở hữu vũ khí trái phép, cố ý gây thương tích, gây tổn thương nghiêm trọng cho cơ thể người khác, tàng trữ ma túy, sản xuất ma túy, cố ý hối lộ một viên chức tòa án, hối lộ thành công một viên chức tòa án, trốn thuế, nhận hàng ăn cắp, tiêu thụ hàng ăn cắp, phóng hỏa, trộm cắp, ngộ sát, giết người - tất tần tật. Lão đã phóng hỏa đốt các nhà chứa. Lão bắn một người đàn ông trên sàn nhảy của một quán bar vì nhảy điệu fox-trot khi đang khiêu vũ điệu van. Lão đâm một con ngựa trên đường đua. Lão làm người ta gãy tay, cẳng chân, bàn chân, ngón chân, làm đứt dây chằng, mảnh vỡ, phân tử, vật chất; bản cáo trạng của lão liệt kê những tội ác từ năm mươi năm trước.
“Tại sao lại là lão ta?”
Bố đứng bật dậy. “Tội phạm xã hội đen điều hành ngành công nghiệp đánh bạc và mại dâm. Nhà chứa, câu lạc bộ thoát y, quán bar - đấy là những địa điểm mà tội ác diễn ra. Bọn mày cần tìm một người nào có liên hệ với tất cả những thứ này. Và ai đó hành nghề tội phạm chuyên nghiệp. Bọn mày không cần một kẻ non kém.”
Bọn mày phải giao việc đấy cho tao, tao biết mình đang nói gì. Bọn con trai bị ấn tượng. Bọn chúng xem lại lần nữa cuộc đời và những giai đoạn của Harry West. Hình như lão ta đã dành hơn nửa cuộc đời mình trong phòng giam. Đó là một cuộc đời không có nhiều sự kiện.
Bố nói tiếp: “Không thể biết lão ta cao thấp thế nào trong thế giới xã hội đen, nhưng cho dù lão chỉ là kẻ trực điện thoại, thì lão cũng đã vào nghề đủ lâu để biết toàn hệ thống vận hành thế nào. Tao cho bọn bây biết, đây chính là người ta cần!”
Bố bị kích điện. Chưa có ai từng trông thấy bố như thế. Mắt chúng nhìn bố dò xét. Một giọng nói nho nhỏ trong đầu tặc lưỡi bảo bố phải khuyến khích bọn chúng, nhưng bố đã dành gần như toàn bộ cuộc đời lúc thức của mình để ấp ủ những ý tưởng kì quặc, và không ai ngoài Caroline từng nghe được một ý nào, cho đến lúc này.
“Cứ làm thế đi,” Bruno lên tiếng, và ngay lập tức dạ dày bố co chặt. Tại sao? Một phản ứng vật lý lạ lùng đang diễn ra bên trong bố. Ngay khi ý tưởng của bố được đón nhận, bố chẳng còn thích nó nữa. Giờ thì nó đã trở thành một ý tưởng ngu ngốc, thật là kì cục. Bố thích nó hơn khi nó chỉ nằm trong đầu bố. Giờ thì nó đã ra đời, bố sẽ phải chịu trách nhiệm về một thứ mà bố không còn tí quyền kiểm soát nào.
Đây là cuộc chiến ý tưởng đầu tiên trong cuộc đời bố: cuộc chiến giữa những ý tưởng nên nói ra và những ý tưởng phải được chôn vùi, đốt cháy, phá hủy.
***
Vì Bruno và Dave có tiền án, bọn chúng quyết định rằng an toàn hơn hết là để Terry đến gặp Harry West rồi báo cáo lại kết quả với đồng bọn. Một buổi sáng sớm giữa mùa đông, trước giờ vào lớp, bố cùng đi với Terry lên nhà tù. Bố rất nóng lòng muốn đi, không phải vì đấy là ý tưởng của bố, mà vì bố chưa từng được đến Cung điện (tên gọi thường được nhắc đến trong nhà bố) mà bố dượng đã xây nên.
Con không thể trông thấy nó từ thị trấn trong ngày hôm ấy. Một lớp sương mù xám xịt dày đặc đã nuốt chửng một nửa ngọn đồi, kể cả nhà tù, và trườn xuống gặp bọn bố khi bọn bố lần tìm đường lên đó. Khi đặt chân đến cột mốc nửa đường, bọn bố có thể trông thấy bức tường sương mù bồng bềnh trước mặt mình. Nó cuộn lại thành những nút thắt. Bọn bố bước thẳng vào trong nó, thẳng vào trong nồi súp. Suốt hai mươi phút bọn bố chẳng nhìn thấy gì. Để làm cho chuyến leo đồi khó khăn hơn, trời trút mưa rả rích và con đường nhếch nhác ngoằn ngoèo dẫn lên đỉnh đồi biến thành dòng sông bùn. Suốt đường đi lên bố không ngừng nguyền rủa đầu óc mình. Đúng là đồ thùng rỗng kêu to.
Khi trông thấy cánh cổng nặng trịch của nhà tù hiện ra trong sương mù, một cơn ớn lạnh quét qua cơ thể bố. Terry mỉm cười đầy lạc quan. Tại sao nó không lo lắng? Làm sao mà cùng một tình huống lại có thể khiến người này thắt cổ vì sợ trong khi người kia tươi tỉnh và phấn khởi?
Ở bên kia cánh cổng, một lính gác đơn độc đang đứng thẳng người. Anh ta liếc nhìn bọn bố đầy tò mò khi bọn bố dựa vào chấn song cổng.
“Bọn em muốn gặp Harry West,” bố nói.
“Tôi nên nói ai đang yêu cầu đây ạ?”
“Martin và Terry Dean.”
Đôi mắt người lính gác đầy vẻ hoài nghi: “Các em có phải là người nhà không?”
“Không.”
“Vậy thì các em muốn gặp ông ta làm gì?”
“Dự án học đường,” Terry đáp, lén nháy mắt với bố. Phía sau cánh cổng, một cơn gió thổi sương mù bay bảng lảng, và lần đầu tiên bọn bố trông thấy ở cự li gần cái nhà tù đã khiến tờ tạp chí cuối tuần gọi thị trấn bọn bố là “Nơi chán sống nhất ở New South Wales.” Trông nó không giống lắm với một tòa lâu đài tường rào kiên cố như lúc nhìn từ thị trấn. Thực ra, nó không phải một mà là bốn khối nhà bằng gạch màu đỏ to đồ sộ với cùng kích thước, tẻ nhạt và xấu xí hệt như ngôi trường của bọn bố vậy, và nếu không có hàng rào kẽm gai ở mặt tiền thì trông nó cũng bình thường như khu tòa nhà chính phủ.
Viên lính gác chồm về trước, áp đầu vào cánh cổng lạnh buốt. “Dự án học đường à? Đề tài gì?”
“Địa lý,” Terry đáp.
Viên lính gác gãi nhẹ đầu. Bố nghĩ sự chà xát da đầu đã kích thích não anh ta hoạt động giống như máy đuôi tôm gắn ở đuôi thuyền.
“Vậy thì được.”
Anh ta mở khóa cổng và nó tạo ra một tiếng động rùng mình khi mở ra. Bố cũng phát ra một tiếng rùng mình khi Terry và bố đi vào trong khuôn viên nhà tù.
“Cứ đi theo lối này đến khi các em gặp chốt kế tiếp,” viên lính gác nói sau lưng bọn bố.
Bọn bố di chuyển chậm rãi. Hai hàng rào kẽm gai cao vút được trang trí bằng dây thép gai chạy dọc theo lối đi ở mỗi bên. Sau hàng rào về phía bên phải là một khoảng sân bê tông, nơi các tù nhân đang đi tới đi lui, uể oải quệt vào sương mù. Bộ đồng phục bằng vải jean khiến họ trông như những bóng ma màu xanh lơ lửng trong cõi âm ti.
Bọn bố đến một chốt gác thứ hai. “Bọn cháu đến đây để gặp Harry West.”
Người lính gác có râu mang nét mặt chán chường, buồn bã như muốn nói ông ta đã bị trả lương thấp, bị xem thường, và không được ôm trong hơn một chục năm rồi. Ông ta thọc tay vào những chiếc túi trên người bố rồi sờ soạng, chẳng tỏ ra vẻ thăm hỏi bạn khỏe không gì cả. Đôi tay ông ta cũng thò vào túi Terry. Nó cười nắc nẻ.
Khi đã lục soát xong, người lính nói, “Được rồi, Jim, đưa bọn chúng vào.”
Một người bước ra khỏi sương mù. Jim. Bọn bố theo anh ta vào trong tù. Sương mù cũng vào theo. Nó có mặt ở khắp nơi, lững lờ trôi qua những ô cửa sổ có chấn song và trườn thành những dòng mỏng manh dọc các hành lang hẹp. Bọn bố được dẫn qua một khung cửa để mở vào trong phòng thăm viếng.
“Chờ ở đây.”
Căn phòng chẳng có gì ngoại trừ một chiếc bàn dài với mấy cái ghế ở hai bên. Bọn bố ngồi xuống cạnh nhau, hi vọng Harry West sẽ ngồi vào ghế phía đối diện, nhưng rồi bố bắt đầu lo lắng. Ngộ nhỡ lão ấy không làm thế như mong đợi mà đến ngồi xuống cạnh bọn bố và cả bọn ngồi nhìn vào bức tường thì sao?
“Mình biến khỏi đây đi,” bố lên tiếng.
Trước khi Terry kịp trả lời, Harry West đã bước vào và đứng ở cửa nhìn bọn bố chằm chằm. Cái mũi của lão trông như đã bị nghiền nát, rồi kéo lên, rồi lại nghiền nát lần nữa. Đây là khuôn mặt có chuyện để kể, chuyện về những cái nắm đấm. Khi lão tiến đến gần hơn, bố để ý thấy giống như Terry (và bố cũng từng như thế), Harry có dáng đi khập khiễng đáng sợ. Lão mang cái chân như mang một túi hành lý. Con biết một số loài động vật lê hậu môn của chúng đi vòng vòng để đánh dấu chứ? Chà, bố có cảm tưởng như Harry cũng đang làm trò tương tự, đào những đường rãnh trong căn phòng đầy bụi với chiếc chân đó. May phước, lão ta ngồi xuống một chiếc ghế ở phía đối diện, và khi bố nhìn lão trực diện, bố nhận ra đầu lão bị biến dạng kinh khủng, như một quả táo bị ngoạm mất một miếng.
“Tao giúp được gì cho chúng mày nào?” Lão hồ hởi hỏi.
Terry mất một lúc lâu mới lên tiếng được, nó nói, “Thưa ông, cháu và các bạn cháu, bọn cháu có một băng nhóm trong thị trấn, và bọn cháu đã vài lần phá cửa, đột nhập, và đánh nhau trên đường, dù có vài lần đánh nhau trong rừng, và ờ...” Nó bỏ lửng câu nói.
Bố nói, “Băng này còn trẻ. Bọn chúng thiếu kinh nghiệm. Bọn chúng cần được dẫn dắt. Bọn chúng cần nghe lời khuyên từ một người nào đó có thâm niên trong nghề. Nói tóm lại, bọn chúng đang tìm một người hướng dẫn.”
Harry ngồi im một chốc, nghĩ ngợi. Lão gãi hình xăm của mình. Nó không bong ra. Lão đứng dậy và đi về phía cửa sổ.
“Sương mù chết tiệt. Chẳng nhìn thấy gì. Chúng mày có một thị trấn nhỏ đẹp đẽ đấy nhỉ? Mà tao cũng chẳng có hứng nhìn nó.”
Bọn bố chưa kịp nói gì, Harry đã quay lại và mỉm cười nhìn bọn bố, để lộ hàm răng chiếc còn chiếc mất.
“Kẻ nào nói trẻ con không có sáng kiến thì kẻ đó có đầu nằm ở mông! Chúng mày đã phục hồi lòng tin của tao! Tao đã gặp vô số đứa chân ướt chân ráo vào nghề trong hàng chục năm qua, và chưa có đứa nào từng hỏi xin tao lời khuyên. Không một đứa nào. Tao chưa từng nghe thấy đứa nào có gan nói, ‘Tao muốn kiến thức. Cho tao một ít nào.’ Không, mấy thằng khốn ở ngoài đấy, bọn chúng là một lũ lười nhác. Bọn chúng làm theo mệnh lệnh để sống qua ngày đoạn tháng. Bọn chúng biết cách đập gãy chân, chắc chắn luôn, nhưng phải bảo cho chúng biết đập gãy cái chân nào. Bọn chúng cũng biết cách đào huyệt chôn người, nhưng nếu không đứng đấy canh chừng, chúng sẽ ra tay ở ngay giữa công viên thành phố, cách đồn cảnh sát chỉ hai dãy nhà. Mẹ kiếp, bọn chúng sẽ ra tay giữa ban ngày ban mặt nếu mày không đứng đấy canh chừng và quát lên, ‘Ban đêm, đồ ngu! Làm chuyện này ban đêm!’ Bọn chúng là loại tệ nhất trong những kẻ lười biếng. Lại còn không trung thành nữa chứ! Chúng mày không tin nổi đâu! Bao nhiêu đứa đồng bọn cũ đã đến thăm tao kể từ khi tao bị nhốt trong cái chốn khốn nạn này? Không có ai! Không một lá thư! Không một lời! Và chúng mày phải trông thấy bọn chúng trước khi chúng gặp tao! Chúng ăn cắp tiền lẻ trong cốc của đám ăn xin! Tao thâu nạp bọn chúng, cố chỉ cho chúng đường đi nước bước. Nhưng chúng đếch cần biết đường đi nước bước. Chúng chỉ muốn nhậu nhẹt rồi bài bạc rồi nằm cả ngày với gái gú. Chuyện đó chỉ cần một hai giờ là đủ rồi, phải không? Ê, chúng mày có súng không?”
Terry lắc đầu. Harry trông có vẻ nhiệt tình với nhiệm vụ; lão ta đã dồn nén nhiều lắm. Nút chai đã được tháo.
“Ái chà, vậy thì đấy là nhiệm vụ đầu tiên của chúng mày. Liệu mà tìm súng đi! Chúng mày cần súng! Chúng mày cần nhiều súng! Và đây là bài học đầu tiên của chúng mày. Khi đã có súng rồi, hãy tìm những nơi ẩn náu ở khắp thị trấn rồi giấu chúng đi - phía sau quán rượu, trên cây, dưới lỗ cống, trong hòm thư. Vì nếu chúng mày sắp bước vào cuộc đời tội phạm, thì chúng mày sẽ không bao giờ biết khi nào kẻ thù của mình sẽ tấn công. Chúng mày không thể yên ổn sống mà không nhìn trước ngó sau. Chúng mày hiểu chưa? Cổ chúng mày phải luyện tập nhiều, học tao đây này. Đi đến đâu - quán rượu, rạp phim, ngân hàng, nha sĩ - khi vừa bước vào phòng, chúng mày nên tìm một bức tường rồi đứng dựa lưng vào đấy. Hãy sẵn sàng. Hãy cảnh giác. Đừng để bất kì ai đến sau lưng, nghe tao không? Ngay cả khi đi cắt tóc: lúc nào cũng bắt thợ cắt tóc cắt từ phía trước.”
Harry đập tay xuống bàn rồi nhìn xuống bọn bố.
“Đời với chúng ta là vậy đấy các chàng trai. Nó sẽ làm lung lay nền tảng của người bình thường, nhưng chúng ta phải rắn rỏi và sẵn sàng dựa lưng vào tường với đôi mắt rực cháy và những ngón tay siết chặt. Sau một thời gian nó trở thành cử chỉ vô thức, chúng mày biết đấy. Chúng mày sẽ có giác quan thứ sáu. Thật thế. Tính đa nghi khiến con người tiến hóa mà. Nhưng người ta không dạy chúng mày điều đó trong lớp học. Thấy trước tương lai, tri giác ngoại cảm, thần giao cách cảm - tội phạm chúng ta có linh hồn biết tiên tri. Chúng ta biết chuyện gì sắp xảy ra trước khi nó đến. Chúng mày cũng phải như thế. Đó là cơ chế sống sót. Dao, đạn, nắm đấm, chúng xuất hiện bất thình lình. Ai cũng muốn tên của chúng mày trên bia đá, vì vậy hãy luôn trong tư thế sẵn sàng, các chàng trai! Đời nó chó đẻ thế đấy! Nhưng mà cũng có phần thưởng. Bọn mày đâu có muốn làm một thằng Joe quèn nào đấy. Chỉ cần nhìn ra cửa sổ là thấy. Tao nói cho chúng mày biết ngoài đấy có gì: một lũ nô lệ đắm đuối với sự tự do chúng tưởng chúng có. Nhưng chúng đã ràng buộc mình vào một công việc hay gì đó, hoặc vào một đám phản phé. Chúng cũng là tù nhân vậy, chỉ có điều chúng không biết mà thôi. Và thế giới tội phạm đang biến thành như thế đấy. Một chu trình thường lệ! Một cuộc đua ngựa nhảy rào! Quả bóng sáp thiếu bóng bẩy! Óc tưởng tượng! Hỗn loạn! Nó bị dán từ bên trong. Nó bị xích vào bánh xe. Chẳng có thứ gì đột xuất xảy ra. Bởi vậy cho nên, nếu chúng mày nghe lời khuyên của tao thì chúng mày sẽ nắm dao đằng cán. Bọn chúng không chuẩn bị điều đó. Điều thông minh nhất chúng mày làm được là khiến chúng giật mình - đấy chính là tấm vé. Tinh ranh, lực lưỡng, gan dạ, khát máu, tham lam: ổn hết, những đặc tính cần thiết. Nhưng còn óc tưởng tượng! Đó là thứ mà thế giới tội phạm còn thiếu! Cứ nhìn vào danh mục mà xem: ăn cắp, trộm cướp, phá nhà đột nhập, cờ bạc, hút chích, mại dâm. Những cái đấy mà gọi là sáng tạo đổi mới à?”
Terry và bố nhìn nhau bất lực. Chẳng có gì ngăn được sự phun trào ngôn từ này.
“Trời ơi, gặp được hai đứa mày thật hay biết mấy. Chúng mày thực sự đã bơm đầy nhiệt huyết cho tao đây này! Cả thói chua ngoa nữa! Ngay khi mọi chuyện trở nên nhạt phèo thì chúng mày cho tao hi vọng! Tổ chức xã hội này đổ nát rồi. Chẳng còn ai muốn sáng kiến mới nữa. Bọn chúng chỉ cần những gì quen thuộc thôi. Chúng chính là kẻ thù tồi tệ nhất của bản thân mình. Chính là lòng thèm khát của chúng - không thể thỏa mãn nổi! Điều đó dẫn tao đến bí quyết thứ hai. Hãy kiềm chế lòng thèm khát và chúng mày sẽ sống sung sướng hết đời. Hãy tích lũy những gì chúng mày cần để thấy thoải mái rồi đi tận hưởng cuộc sống một thời gian. Hãy bốc cháy như lò lửa, rồi giấu ánh sáng của mày khỏi cuộc đời. Dồn sức để ủ ngọn lửa của chúng mày. Chúng mày hiểu chưa? Hãy rút lui và tấn công! Rút lui và tấn công! Đó là điểm mấu chốt! Mà nhớ trong một băng chỉ cần ít người thôi, đó lại là một bí quyết nữa. Càng đông thì càng có nguy cơ một trong số bọn chúng phản phé rồi bỏ chúng mày chết mốc chết meo trong một cái mương cạn nào đấy. Chúng mày biết tại sao không? Bởi vì ai cũng muốn leo lên hàng đầu! Mọi người! Ái chà, đây là bài học tiếp theo của chúng mày: đừng đứng trên đầu. Hãy đứng bên cạnh! Đúng thế. Chúng mày nghe đúng rồi đấy. Hãy để những đứa khác ngốn ngấu thì giờ tấn công nhau như một lũ bò tót. Chúng mày cứ việc cúi đầu thấp xuống và nương theo đó mà sống. Không có gì, lũ con hoang tuyệt vời chúng mày, chẳng có gì tao có thể nói với chúng mày quan trọng hơn điều mà tao đã nói: hãy tránh xa cái thang bấp bênh! Đó là lời khuyên tốt nhất tao có thể cho chúng mày. Ước gì có ai đó nói với tao như thế khi tao ở độ tuổi chúng mày. Nếu vậy thì giờ này tao đã không ở đây. Giá mà tao biết rằng chính cái thang đó dẫn tao đến con đường cùng. Cái thang đó có những nấc thang làm bằng lưỡi dao!”
Bố cố hết sức để theo kịp lời lão. Bố đang làm gì ở đây, nói chuyện với lão điên này, trong khi lẽ ra phải ở trong lớp học?
“Nghe đây. Làm theo tao này, đừng có xưng danh xưng tánh, càng ẩn danh càng tốt. Mọi người sẽ bảo chúng mày danh tiếng là quan trọng nhất - đó là cái bẫy đấy! Mọi người đều muốn trở thành Capone[12] hoặc Netti hoặc Squizzy Taylor[13]. Chúng muốn tên tuổi mình lưu danh thiên cổ, như Ned Kelly[14]. Chà, tao nói cho mà nghe, cách duy nhất để lưu danh thiên cổ kiểu ấy là bị thảm sát trong một trận mưa đạn. Đó có phải là cái chúng mày muốn không? Dĩ nhiên là không. Một câu hỏi mới đây: chúng mày đã sẵn sàng cho chuyện đó chưa? Đừng cho đời biết ai làm sếp. Sẽ khiến chúng lồng lộn lên! Chúng sẽ cấu xé tim gan. Hãy là một băng đảng không có thủ lĩnh. Hãy tạo ấn tượng là chúng mày thuộc một liên doanh tội phạm dân chủ! Như vậy sẽ làm chúng quay như chong chóng. Chúng sẽ chẳng biết phải hạ đứa nào. Đây là lời khuyên không thể phản bác được, các chàng trai ạ. Đừng khoe mẽ! Hãy là một thực thể vô diện! Mẹ nó, hãy là một phi thực thể. Chúng mày sẽ cho bọn hề ấy thấy! Hãy để chúng đoán mò, nhưng đừng cho chúng biết. Nghịch lý của thế giới tội phạm là mày cần phải có tên tuổi mới giải quyết được công chuyện, nhưng có tiếng tăm thì sẽ khiến cho mày bị mất mạng. Nhưng nếu tiếng tăm của mày bí ẩn, nếu mày ở trong một tổ chức bí mật, như Hội Hiệp sĩ dòng Đền... chúng mày biết các Hiệp sĩ dòng Đền là ai không? Đương nhiên chúng mày không biết rồi. Ái chà chà...”
“Hiệp sĩ dòng Đền là một hội quân quốc tế thành lập năm 1118, trong thời kì diễn ra các cuộc thập tự chinh,” bố đáp.
Harry dán mắt vào bố.
“Mày bao nhiêu tuổi?”
“Mười bốn.”
“Một thằng có học! Tuyệt vời! Đấy chính là cái mà tầng lớp tội phạm còn thiếu! Một chút trí thông minh chết tiệt!”
“Tôi đến đây chỉ để ủng hộ tinh thần thôi. Phạm tội là việc của Terry.”
“À, đáng tiếc, đáng tiếc. Xem nào, mày phải đảm bảo em mày học hành tử tế. Chúng tao không cần thêm những thằng đầu óc rỗng tuếch chạy lăng quăng trong giới này, đó là điều chắc chắn. Terry, nghe lời anh mày nghe chưa?”
“OK.”
“Thế này thì ổn rồi. May là hai đứa mày đến gặp tao. Kẻ khác thế nào cũng bảo chúng mày những điều rác rưởi nhào đi nặn lại, khiến chúng mày không mất mạng thì cũng vào đây chung với tao.”
“Hết giờ!” một viên cai ngục nói to từ hành lang.
“Ái chà, xem như giờ học hôm nay đến đây là hết. Hãy quay lại vào tuần sau và tao sẽ bảo chúng mày làm sao để có được và duy trì sự trung thành từ các tay cớm.”
“Tôi bảo hết giờ!” viên cai ngục hét to. Bấy giờ ông ta đang đứng ngay cửa, chớp mắt đầy tức tối.
“Được rồi, các chàng trai. Chúng mày nghe ông ấy rồi đấy. Đi ra khỏi đây. Nhưng mà nhớ quay lại, tao còn nhiều thứ lắm. Và chúng mày không bao giờ biết, có thể một ngày nào đó chúng ta sẽ hợp tác với nhau thì sao. Tao ở đây chung thân không có nghĩa là ngày nào đó tao sẽ không ra trại. Cuộc sống không thực sự có nghĩa là cuộc sống. Đó chỉ là nghĩa bóng. Nó có nghĩa là một sự vĩnh viễn ngắn hơn cuộc sống, nếu chúng mày hiểu tao muốn nói gì.”
Harry vẫn còn say sưa nói khi bọn bố được dẫn ra khỏi căn phòng.
***
Bruno và Dave nghĩ rằng những lời khuyên của Harry là rác rưởi. Một tay xã hội đen vô danh? Một liên doanh tội phạm dân chủ? Cục cứt gì thế? Đương nhiên tên tuổi chúng sẽ lưu danh hậu thế! Tạo dựng tiếng tăm dẫn đầu danh sách những việc cần làm của chúng. Không, phần duy nhất trong bài độc thoại của Harry thu hút Bruno và Dave chính là đoạn nhắc đến sự tích lũy và giấu súng. “Chúng ta chẳng là cái đếch gì nếu không có súng. Chúng ta cần tiến lên một cấp độ mới,” Bruno nói. Bố giật mình trước suy nghĩ về việc cấp độ tiếp theo sẽ liên quan đến công việc gì, và bố không biết làm sao nói lý lẽ với chúng, chung quy cũng bởi bố chính là đứa đề nghị đi gặp Harry. Bố cũng không thể đưa em trai mình ra khỏi cuộc sống bạo lực. Việc đó giống như thuyết phục một người lùn hãy cao lên. Tuy nhiên bố biết Terry không độc ác, chỉ liều lĩnh thôi. Nó không quan tâm đến sức khỏe bản thân, và nó mở rộng sự dửng dưng đó sang cơ thể những người khác.
Nó đến thăm Harry mỗi tháng một lần, luôn luôn một mình. Dù nó tha thiết muốn bố đi cùng, và dù những lời nói sáo rỗng của lão tù nhân thường có vẻ có lý, nhưng bố vẫn từ chối quay lại nhà tù. Bố nghĩ Harry là một lão gàn nguy hiểm và/hoặc một lão ngốc không thể chịu nổi. Bố có thể sống mà không cần nghe lại lão ấy một lần nào nữa.
Nói là vậy, nhưng khoảng sáu tháng sau lần gặp đầu tiên, bố lại đi trở lên nhà tù, lần này không có Terry. Tại sao? Harry đã yêu cầu bố có mặt. Bố miễn cưỡng chấp nhận vì Terry van nài bố đi, và khi Harry khập khiễng bước vào phòng thăm viếng, bố để ý thấy trên mặt lão có những vết cắt và bầm tím mới.
“Mày nên gặp gã kia. Thực tình mà nói, gã trông khá bảnh,” Harry nói, hạ mình xuống ghế. Lão nhìn bố tò mò. Bố bồn chồn nhìn lại. Hai cái nhìn hoàn toàn khác nhau về tính chất.
“Chà, Martin này, mày có biết tao thấy gì khi nhìn mày không? Tao thấy một thằng nhóc muốn lẩn trốn. Nhìn xem. Mày che một phần bàn tay bằng tay áo. Mày rũ người xuống. Đây, tao nghĩ, là một đứa bé muốn được tàng hình.”
“Đây là lý do ông muốn gặp tôi à?”
“Terry nói rất nhiều về mày. Nó đã kể hết cho tao nghe về mày rồi. Mày bắt đầu kích thích trí tò mò của tao đấy.”
“Thật dễ thương.”
“Nó kể tao nghe chuyện mày chẳng có đứa bạn nào.”
Bố không biết phải nói gì.
“Nhìn cái kiểu mày nghiến răng kìa! Rất nhẹ. Hầu như không có gì. Chỉ ở trong mắt. Mày đang phán xét tao, phải không? Ái dà, cứ tiếp tục đi, kẻ hận người bé bỏng của tao. Hiển nhiên trước đây tao cũng đã bị phán xét rồi, bị phán xét và xét xử và bỏ tù! Lạy Chúa, tao chưa từng gặp thứ nào khó chịu như vậy ở độ tuổi còn vắt mũi. Mày già khá sớm đấy, phải không?”
“Ông muốn gì?” bố hỏi. “Tôi đã bảo tôi chẳng hứng thú gì với tội ác.”
“Nhưng tao có hứng thú với mày. Tao muốn thấy mày xoay xở thế nào trong thế giới rộng lớn xấu xa ngoài đấy. Chắc chắn là không giống em trai mày rồi. Nó là con tắc kè, đặc biệt giỏi thích nghi, và là một con chó, rất trung thành, vui vẻ như chim chiền chiện. Em trai mày có tính cách rất tuyệt, cho dù...” Harry chồm đến và nói. “Có cái gì đó bất ổn ở nó. Dĩ nhiên mày đã để ý thấy điều đó.”
Bố đã thấy điều đó.
“Chẳng có thứ gì qua mắt được mày, tao cá là vậy. Không, tao sẽ không dùng cách nói cũ rích rằng mày làm tao nhớ đến bản thân mình khi tao còn bé, bởi vì, thực tình mà nói, điều đó không đúng. Mày làm tao nhớ đến bản thân mình lúc này, như một người đàn ông, trong tù, và thật đáng sợ khi tao lại có thể so sánh kiểu đó, Martin nhỉ? Nghĩ mà xem, ái dà, mày chỉ là một thằng nhóc thôi mà.”
Bố hiểu được ý lão ấy, nhưng giả vờ như mình không hiểu.
“Mày và em trai mày rất đặc biệt. Cả hai chúng mày không bị những kẻ xung quanh ảnh hưởng theo cách nào hết. Chúng mày không cố bắt chước chúng nó. Chúng mày khác biệt, kể cả khác biệt lẫn nhau. Kiểu đặc tính cá nhân mạnh mẽ này rất hiếm gặp. Cả hai chúng mày đều là những thủ lĩnh bẩm sinh, mày biết không.”
“Terry thì chắc là vậy.”
“Cả mày nữa, Marty! Vấn đề là, anh bạn à, mày nhà quê bỏ bố! Loại người bảo gì nghe nấy như mày không trưởng thành ở đây được. Nói tao nghe xem - mày không thích người khác lắm, đúng không nào?”
“Họ cũng được.”
“Mày có nghĩ mày giỏi hơn họ không?”
“Không.”
“Vậy tại sao mày không thích họ?”
Bố tự hỏi không biết có nên mở lòng với lão điên này hay không. Bố nhận ra chưa có ai từng quan tâm đến suy nghĩ hay cảm nhận của bố trước đây. Không một ai từng quan tâm đến bố.
“Thì, vì một lẽ,” bố nói, “tôi ganh tị với hạnh phúc của họ. Thứ hai là, tôi thấy bực mình khi họ hình như quyết định mà chẳng suy nghĩ gì cả.”
“Tiếp đi.”
“Hình như họ cứ làm cho mình bận bịu với bất kì công việc nào có thể làm họ xao nhãng khỏi động lực suy nghĩ về sự tồn tại của bản thân. Còn lý do nào khác khiến họ đập đầu những người hàng xóm vào nhau vì các đội bóng khác nhau, nếu không phải nhằm mục đích giúp họ tránh được ý nghĩ về cái chết cận kề của chính họ?”
“Mày biết mày đang làm gì không?”
“Không.”
“Mày đang triết lý.”
“Không, không phải đâu.”
“Phải đấy. Mày là một triết gia.”
“Không, tôi không phải thế!” bố hét toáng lên. Bố không muốn làm một triết gia. Tất cả những gì họ làm là ngồi thừ ra nghĩ ngợi. Họ bị béo lên. Họ chẳng biết làm bất kì việc thực tế nào như nhổ cỏ dại trong khu vườn của mình.
“Đúng, Martin, mày là triết gia. Tao không nói mày là triết gia giỏi, mà mày là một triết gia tự nhiên. Đấy không phải là một sự xúc phạm, Marty à. Nghe này. Tao đã nhiều lần bị gán cho danh hiệu tội phạm - một kẻ vô chính phủ, một kẻ nổi loạn, đôi khi đồ rác rưởi của nhân loại, nhưng chưa bao giờ là một triết gia, mà như vậy thì thật là đáng tiếc vì tao đúng là một triết gia. Tao chọn một cuộc đời khác với dòng đời thường lệ, không chỉ vì dòng đời thường lệ làm tao phát ốm, mà vì tao nghi ngờ tính logic của dòng đời, và không chỉ có thế - thậm chí tao còn không biết cái dòng đời ấy có tồn tại không nữa! Tại sao tao lại trói đời mình vào bánh xe khi mà chính cái bánh xe ấy có thể là một khái niệm, một phát minh, một giấc mơ tầm thường hòng biến chúng ta thành nô lệ?” Harry chồm về trước và bố có thể ngửi thấy hơi thở nồng nặc mùi thuốc lá của lão. “Mày cũng đã cảm thấy như thế, Marty ạ. Như mày nói, mày không biết tại sao người ta hành động mà không suy nghĩ. Mày thắc mắc tại sao. Đấy là một câu hỏi quan trọng với mày. Bây giờ tao hỏi mày - sao là sao?”
“Tôi không biết.”
“Mày có biết. Không sao đâu, Martin ạ. Nói cho tao nghe - tại làm sao nào?”
“Ừm, như tôi còn nhớ thì trong những buổi chiều, mẹ tôi đem đến cho tôi những ly sữa lạnh. Tại sao không là sữa ấm? Tại sao lại là sữa? Tại sao không là nước dừa hay sinh tố xoài? Tôi từng hỏi bà một lần. Bà bảo đấy là thứ mà con nít tuổi tôi uống. Rồi một lần khác, trong bữa tối, bà phạt tôi vì tội gác cùi chỏ lên bàn trong lúc ăn. Tôi hỏi tại sao. Bà bảo, “Như thế là khiếm nhã.” Tôi đáp, “Khiếm nhã với ai? Với mẹ à? Như thế nào?” Một lần nữa bà không biết trả lời thế nào, và khi tôi đi ngủ ‘vì bảy giờ tối là giờ đi ngủ đối với trẻ em dưới bảy tuổi,’ tôi nhận ra rằng mình đang mù quáng tuân theo mệnh lệnh của một người phụ nữ mà chính bản thân bà cũng đang mù quáng làm theo những lời đồn đại. Tôi nghĩ: Có thể mọi việc không cần phải như thế này. Chúng có thể được làm theo một cách khác. Bất kì cách nào khác.”
“Vậy là mày cảm thấy người ta chấp nhận những thứ có thể không có thật?”
“Nhưng họ phải chấp nhận chúng, nếu không họ không thể sống cuộc đời thường lệ được. Họ phải nuôi sống gia đình, có nhà có cửa. Họ không có thú vui xa xỉ là ngồi trơ ra nghĩ ngợi và thắc mắc tại sao.”
Harry vỗ tay khoái chí. “Và bây giờ mày đứng ở phía ngược lại để nghe phản biện! Mày đang tranh luận với chính mình! Đấy cũng là dấu hiệu của một triết gia!”
“Tôi cóc phải là triết gia triết giáo gì sất.”
Harry đến ngồi xuống cạnh bố, khuôn mặt bị ăn đòn đáng sợ của lão kề sát mặt bố.
“Nghe đây, Marty, để tao nói với mày điều này. Cuộc đời của mày sẽ không khá hơn chút nào đâu. Mà thực ra, hãy nghĩ đến thời khắc tồi tệ nhất của đời mày. Mày có đang nghĩ đến nó không? Ái chà, để tao nói cho mày nghe. Từ đấy trở đi toàn là xuống dốc.”
“Có thể.”
“Mày biết mày không có cơ hội trong địa ngục của sự hạnh phúc.”
Đó là một tin thật đáng buồn, và bố cay đắng chấp nhận nó, có lẽ vì bố có cảm giác khó chịu rằng Harry hiểu bố. Nước mắt chực trào, nhưng bố cố ngăn lại. Rồi bố bắt đầu nghĩ đến nước mắt. Quá trình tiến hóa có dụng ý gì khi nó làm cho cơ thể con người không thể che giấu nỗi buồn? Chẳng lẽ việc chúng ta không thể che giấu nỗi muộn phiền của mình có ý nghĩa quan trọng đối với sự tồn tại của nhân loại? Tại sao? Lợi ích về mặt tiến hóa của việc khóc là gì? Để khơi gợi lòng cảm thông chăng? Sự tiến hóa có đặc tính xảo quyệt không? Sau một trận khóc lóc, người ta luôn cảm thấy cạn kiệt và rã rời và đôi khi xấu hổ, nhất là nếu nước mắt chảy ra sau khi xem một đoạn quảng cáo truyền hình về trà túi lọc. Đấy có phải là ý đồ của quá trình tiến hóa để hạ thấp chúng ta không? Để làm bẽ mặt chúng ta?
Mẹ kiếp.
“Mày biết tao nghĩ mày nên làm gì không?” Harry hỏi.
“Làm gì?”
“Tự tử.”
“Hết giờ!” viên cai ngục gọi.
“Hai phút nữa!” Harry lớn tiếng đáp lại.
Bọn bố ngồi đấy nhìn nhau trân trối.
“Ừ, tao khuyên mày tự tử. Đó là điều tốt nhất cho mày. Thể nào chẳng có một vách núi hay cái gì đấy quanh đây để mày nhảy xuống.”
Đầu bố khẽ di chuyển, dù đấy không phải cái gật đầu hay lắc đầu. Đó là một phản ứng dội lại rất khẽ.
“Hãy đi một mình. Khi không có ai với mày. Đừng viết thư tuyệt mệnh. Nhiều kẻ tự sát tiềm năng tốn quá nhiều thời gian viết những lời trăng trối đến nỗi cuối cùng chết vì tuổi già! Đừng để điều này trở thành sai lầm của mày. Một khi đã muốn ra đi, sự chuẩn bị chính là điều làm trì hoãn. Đừng nói tạm biệt. Đừng chuẩn bị hành lý. Cứ đi một mình đến vực vào một buổi chiều muộn - buổi chiều là tốt nhất vì nó nằm yên ở cuối ngày khi mà không còn thứ gì trong cuộc đời mày thay đổi theo hướng tốt hơn, cho nên mày sẽ không phải chịu đựng ảo ảnh dịu dàng về khả năng và điều có thể mà buổi sáng thường đem lại. Vậy là, đấy, mày đang ở mép vực rồi, và mày chỉ có một mình, và mày không đếm lùi từ mười hoặc một trăm, và mày không làm gì ầm ĩ, mày chỉ lên đường, đừng nhảy, đây không phải đại hội Olympic, đây là một vụ tự sát, do đó cứ bước khỏi mép vực như mày đang leo lên bậc thang trên xe buýt. Mày có đi xe buýt bao giờ chưa? Tốt rồi. Vậy thì mày biết tao đang nói gì.”
“Tôi bảo hết giờ!” viên cai ngục quát to, lần này từ bậc cửa.
Harry trao cho bố cái nhìn đủ gây phản ứng dây chuyền trong ruột gan phèo phổi. “Ái chà,” lão nói, “tao đoán đây chắc là lời tạm biệt rồi.”
***
Không thiếu điểm nhảy xuống để tự sát khi con sống trong một thung lũng. Thị trấn của bọn bố được bao bọc bởi những vách núi. Bố đi lên vách núi dốc nhất mà bố tìm thấy, một chuyến leo lên mệt lử, gần như thẳng đứng lên một dải đất có những cây cao mọc lởm chởm. Sau khi rời khỏi nhà tù, bố phải thừa nhận rằng Harry đã đúng: có thể bố là một triết gia, hay chí ít cũng là một dạng kẻ ngoài cuộc vĩnh viễn, và đời sẽ không dễ dàng hơn chút nào với bố. Bố sẽ tách mình ra khỏi dòng đời, phóng mình ra khỏi vỏ bọc của tàu mẹ. Giờ đây bố đang vượt qua khoảng không gian nằm lù lù bất tận phía trước.
Tâm trạng của buổi sáng rạng rỡ thật không thích hợp để tự tử, nhưng có lẽ nó muốn bố nghĩ như thế. Bố nhìn quanh lần cuối. Bố nhìn thấy, ở phía xa xa mờ mịt, những dãy đồi nhấp nhô bao bọc, và phía trên, bầu trời, có vẻ như rất cao, là một cửa sổ gắn kính dày không thể chạm tới. Một làn gió nhẹ đem theo từng đợt hương hoa ấm áp, và bố nghĩ: Hoa thật sự rất đáng yêu nhưng không đáng yêu đến mức biện hộ cho một số lượng lớn ngạt thở những bức họa và bài thơ lấy cảm hứng từ chúng trong khi chúng chẳng là gì so với những bức họa và bài thơ về những đứa trẻ lao mình xuống vực.
Bố bước một bước đến bờ vực. Tít trên cây bố nghe thấy tiếng chim. Chúng không hót, chúng chỉ đang di chuyển làm mọi thứ xao xác. Bên dưới gần mặt đất nâu những chú bọ cánh cứng đang lục tung đất cát, chẳng nghĩ gì đến cái chết. Bố không cảm thấy mình sẽ lưu luyến gì nhiều. Sự tồn tại dù sao cũng đã nhục nhã. Nếu Ai Đó đang theo dõi chúng ta xây dựng, mục nát, tạo mới, thoái hóa, tin tưởng, và lụi tàn như chúng ta đang trải qua, ông ta sẽ không thôi nhịn được cười. Vậy thì tại sao không? Bố biết gì về tự tử? Chỉ biết đấy là một hành động thống thiết, đồng thời là một sự thừa nhận rằng nhiệt độ quá nóng đến nỗi tôi phải ra khỏi cái nhà bếp điên rồ này thôi. Và tại sao một đứa mười bốn tuổi không nên tự tử? Mấy đứa mười sáu tuổi làm thế đầy ra đấy thôi. Có lẽ bố chỉ đi trước thời đại mình.
Bố bước ra khỏi bờ vực của vách núi. Bố nghĩ khi Caroline nhìn thấy bố sau đó, cô ấy sẽ khóc, “Tôi đã yêu cái đống thịt người nát bét kia.” Bố nhìn xuống vực sâu đáng sợ và dạ dày bố lộn tùng phèo, tất cả các khớp co lại và bố có suy nghĩ kinh khủng sau đây: Anh trải nghiệm cuộc sống một mình, anh có thể thân thiết với bất kì ai bao nhiêu tùy thích, nhưng vẫn luôn có một phần con người anh và sự tồn tại của anh không thể nói ra được; anh chết một mình, trải nghiệm đó thuộc về một mình anh, anh có thể có một tá khán giả yêu thương anh, nhưng sự cô lập của anh, từ lúc sinh đến lúc tử, không bao giờ bị xâm lấn toàn diện. Sẽ ra sao nếu cái chết cũng là nỗi cô đơn bất diệt tương tự? Một sự cô đơn không thốt nên lời, nhẫn tâm, và bất tử. Chúng ta không biết cái chết là gì. Có lẽ nó là thế.
Bố bước tránh khỏi vực và chạy theo hướng ngược lại, chỉ dừng lại khi vấp phải một tảng đá to.
***
Bố quay trở lại gặp Harry West để cho lão biết suy nghĩ của mình. Lão không tỏ vẻ ngạc nhiên khi trông thấy bố.
“Vậy là mày không làm việc đó, hả? Mày nghĩ mày sẽ đợi đến khi rơi xuống đáy rồi mới tính sổ sinh mạng mình? Ái dà, để tao tiết kiệm chút thời gian cho mày. Chẳng có cái đáy nào hết. Sự tuyệt vọng là không có đáy. Mày sẽ không bao giờ đến được đó, và đó là lý do vì sao tao biết mày sẽ không bao giờ tự sát. Không phải mày. Chỉ những kẻ khư khư với những điều vụn vặt mới tự tử, còn mày thì không bao giờ. Mày biết không, một người tôn thờ cuộc sống và gia đình và những thứ đại loại thế sẽ là kẻ đầu tiên đưa cổ vào tròng, còn những kẻ không nghĩ nhiều đến những người thân yêu và của cải, những kẻ biết quá rõ chúng chẳng có ích lợi gì, đấy là những kẻ không làm được việc đó. Mày biết điều nực cười là gì không? Chà, mày vừa mới nghe xong đấy. Nếu mày tin vào sự bất tử, mày có thể giết chính mình, nhưng nếu mày cảm thấy rằng đời chỉ là sự thoáng qua ngắn ngủi giữa hai khoảng trống khổng lồ ở đó nhân loại bị lên án một cách bất công, mày sẽ không dám. Nghe này, Marty, mày đang ở trong một tình huống khó xử. Mày không có tài nguyên để sống một cuộc đời viên mãn, nhưng mày lại không thể đưa mình đến chỗ chết. Vậy thì mày làm gì?”
“Tôi không biết! Tôi chỉ mới mười bốn tuổi!”
“Mày và tao, chúng ta đồng cảnh ngộ. Ở đây trong nhà tù này một người đàn ông không được sống đàng hoàng. Y không thể gặp những cô gái hay tự nấu bữa ăn cho mình hay kết bạn hay đi khiêu vũ hay làm bất cứ việc-bình-thường-của-cuộc-sống nào như gom góp lá rơi và những kỉ niệm đẹp. Vì vậy tao, cũng như mày, không sống nổi. Và như mày, tao không chết được. Tao hỏi mày lần nữa, một người đàn ông thì phải làm gì?”
“Tôi không biết.”
“Mày sáng tạo!”
“Ồ.”
“Mày biết vẽ không?”
“Không hề.”
“Mày biết nghĩ ra truyện rồi viết lại không?”
“Không.”
“Mày biết diễn xuất không?”
“Không.”
“Mày biết làm thơ không?”
“Không.”
“Mày biết chơi nhạc không?”
“Một nốt cũng không.”
“Mày thiết kế các tòa nhà được không?”
“E là không.”
“Chà, một thứ gì đó sẽ đến với mày. Thực ra, tao nghĩ mày đã biết rồi.”
“Không tôi không biết.”
“Có, mày biết.”
“Thật mà, tôi không biết.”
“Mày biết mà. Giờ thì nhanh lên. Biến khỏi đây đi. Tao chắc chắn mày đang nóng lòng bắt đầu.”
“Không, tôi không biết vì tôi chả biết ông đang nói gì!”
Bố rời khỏi nhà tù với tâm trạng hoàn toàn mụ mẫm và kiệt sức, ở bờ vực của hoặc là một cơn đau điếng người hoặc là một phát hiện tuyệt vời. Sáng tạo, lão già đã nói thế.
Sáng tạo cái gì?
Bố phải nghĩ. Bố cần một ý tưởng. Cảm thấy nặng nhọc, bố lê bước vào thị trấn rồi đi đi lại lại trên năm con đường đáng ghét ở đấy. Khi bố đi hết một con đường và suýt đi tiếp vào rừng, bố xoay người và đi trở lại con đường đó. Tại sao bố lại không đánh liều đi vào rừng cây bao bọc bốn phương tám hướng xung quanh thị trấn? Chà, bố ước gì mình có thể tìm cảm hứng từ giếng nước của Mẹ Thiên Nhiên, nhưng nói thật với con, mụ ấy để bố khát khô họng. Đã như thế và sẽ luôn như thế. Bố chẳng nghĩ ra nổi một ý tưởng hay ho nào khi nhìn vào những cái cây hay những con thú ôpôt làm tình. Chắc chắn, thiên thần yên ngủ trong lồng ngực bố xao động như bất kì thiên thần của người nào khác khi chứng kiến một cảnh hoàng hôn đẹp mê hồn hay một dòng suối róc rách, nhưng nó chẳng đưa bố đi đến đâu. Một ngọn cỏ run rẩy thật đáng yêu, nhưng nó để lại cho bố một sự trống rỗng đầu óc. Socrates hẳn đã nghĩ tương tự khi ông ấy nói, “Những cái cây ở miền đồng quê chẳng dạy cho tôi điều gì.” Bản năng mách bảo bố chỉ có thể lấy cảm hứng từ con người và những vật nhân tạo. Thật không lãng mạn, nhưng bố đã được tạo ra như thế đấy.
Bố đứng ở ngã tư đường và nhìn người ta lê bước đi giải quyết công việc của họ. Bố nhìn vào rạp chiếu phim. Bố nhìn vào cửa hàng bách hóa. Bố nhìn vào tiệm cắt tóc. Bố nhìn vào nhà hàng Trung Hoa. Toàn bộ những điều này bắt nguồn từ món xúp cơ bản, điều đó quả là một bí ẩn sâu xa và khó tin. Với bố, một bụi cây tiến hóa từ vụ nổ big bang là điều không khó hiểu, nhưng việc một bưu điện tồn tại vì carbon nổ ra từ một thiên thể lại là một hiện tượng quá bất bình thường đến nỗi nó khiến đầu bố co giật.
Rồi bố nghĩ ra.
Họ gọi đấy là cảm hứng: những ý tưởng bất chợt nổ tung trong não anh ngay khi anh thừa nhận rằng mình là một thằng khùng.
Bố nảy ra một ý, và đó là một ý tưởng to tát. Bố vừa chạy về nhà vừa nghĩ Harry đã hướng dẫn cho cả hai bọn bố, Terry và bố, những bài học khác nhau, nhưng thành thật mà nói, bố không nghĩ rằng Terry rút ra được bài học gì từ Harry cả. Ồ, một vài luận điểm thực tế, hẳn rồi, nhưng không một triết lý nào, không một tinh hoa nào!
Dự án đầu tiên
Bố bẩm sinh không phải là người khéo tay. Số vật dụng do chính bố làm ra tồn tại rất hãn hữu trên cõi đời này; nằm rải rác trong các bãi rác trên khắp đất nước là một chiếc gạt tàn thuốc biến dạng, một chiếc khăn choàng dang dở, một cây thánh giá cong queo chỉ đủ to cho một con mèo hi sinh cuộc đời nó vì tất cả tội lỗi trong tương lai của những con mèo chưa chào đời, một chiếc lọ méo mó, và vật bố làm ra sau đêm thăm Harry trong nhà tù hôi hám của lão ta: một hộp thư góp ý.
Bố làm nó với một tinh thần lạc quan; nó là một chiếc hang thực sự, ngang 50 centimet, dày 30 centimet, theo nghĩa đen đủ chỗ để chứa hàng nghìn thư góp ý. Chiếc hộp trông như một cái đầu vuông vức khổng lồ, và sau khi đánh vecni xong, bố lấy cưa làm cho miệng hộp thư rộng thêm một chút, mở rộng hai góc ra thêm vài centimet về phía trên để tạo thành cái miệng cười. Điều đầu tiên bố nghĩ đến là buộc nó vào một cây gậy và cắm nó xuống đất ở nơi nào đấy trong thị trấn, nhưng khi con làm ra một thứ gì đấy vì mục đích công cộng, con phải tính đến mấy kẻ phá hoại; nơi nào trên trái đất cũng có chúng, và hơn thế nữa.
Hãy hình dung thiết kế của thị trấn: một con đường rộng trồng cây hai bên với bốn cái cây nhỏ mọc lệch hàng ở giữa. Tại giao điểm này chính là tâm điểm - tòa thị chính. Không ai đi giải quyết công việc của mình mà không đi ngang qua nó. Đúng, phải là tòa thị chính mới đem lại cho hộp thư góp ý cảm giác đường đường chính chính. Nhưng để tồn tại lâu dài, để không kẻ nào dời nó đi dễ dàng, nó phải trở thành một phần của kiến trúc đó, một phần của tòa thị chính. Nó phải được hàn, chuyện đó là rõ ràng rồi, nhưng cứ thử hàn gỗ vào bê tông mà xem! Hay là vào gạch!
Bố bới tung sân sau nhà để tìm những mảnh vụn tôn múi chưa bị đưa lên lợp mái nhà kho của bố dượng. Bố dùng máy mài của ông ấy để cắt chúng thành bốn mảnh rồi dùng thanh hàn gắn chúng lên phía trên, phía sau, và hai bên chiếc hộp. Bố lắp một ổ khóa lên đấy, và vào lúc ba giờ sáng, khi người cuối cùng của thị trấn đã đi ngủ và ánh đèn trong các ngôi nhà đã tắt, bố hàn nó vào phần dưới của tay vịn lan can chạy dọc lên các bậc tam cấp đến cánh cửa vào tòa thị chính. Bố đặt chìa khóa để mở ổ khóa vào một chiếc phong bì rồi để nó tại cửa trước của Patrick Ackerman, ông hội đồng mắt mũi kèm nhèm của thị trấn. Ngoài bì thư bố viết tên ông ta, còn bên trong là những từ sau:
Tôi tín cẩn giao cho ngài chiếc chìa khóa để mở ra tiềm năng của thị trấn chúng ta. Ngài là người nắm giữ chìa khóa. Đừng lạm dụng quyền hạn của mình. Đừng lề mề hay lười biếng hay thờ ơ. Thị trấn của ngài đang trông cậy vào ngài.
Bố nghĩ đấy là một lời nhắn ngắn gọn lịch sự. Khi bình minh đến trên dãy đồi và nhà tù được chiếu sáng từ phía sau với vầng hào quang màu cam rực rỡ, bố ngồi trên bậc thang thảo ra những góp ý mở hàng. Chúng cần phải đẹp đẽ, phải truyền cảm hứng, gây phấn khích, và cần phải hợp lý. Vì thế bố hạn chế đưa thêm vào những góp ý kì lạ và không khả thi, chẳng hạn như cần di dời toàn thị trấn ra khỏi thung lũng buồn tẻ này và đến gần hơn với chỗ nào có nước - một ý kiến hay, nhưng vượt quá quyền hạn của hội đồng ba thành viên của thị trấn, trong đó có một người mà không ai còn gặp lại kể từ sau trận mưa to vừa qua. Không, những góp ý đầu tiên cần phải xác lập thái độ và khuyến khích mọi người làm theo. Chúng là:
Chuyển cái tên lôi thôi “Nơi chán sống nhất ở New South Wales” sang lợi thế. Chúng ta nên tuyên truyền nó. Dựng các bảng hiệu. Thậm chí có thể phóng đại nó lên để biến nó thành điểm thu hút du lịch độc đáo.
Gửi Jack Hill, người cắt tóc của thị trấn. Dù ông thật đáng ngưỡng mộ khi tiếp tục cắt tóc cho chúng tôi bất chấp chứng viêm khớp hành hạ, nhưng kết quả là thị trấn này đã có nhiều kiểu tóc tệ hại, lởm chởm, và hết sức kì dị hơn bất kì thị trấn nào trên thế giới. Ông đang biến chúng tôi thành những kẻ dị hợm. Làm ơn - hãy cho cây kéo lắc lư của ông về hưu và thuê một người học việc.
Gửi Tom Russell, chủ cửa hàng bách hóa Russell và Các con trai. Trước tiên, Tom à, ông không có con trai. Mà không chỉ có vậy, ông còn chả có vợ, và vì ông đã sống cảnh ấy suốt nhiều năm qua, xem ra ông sẽ không bao giờ có con trai. Đúng, ông có bố và chính ông có thể là đứa con trai mà tên cửa hàng nhắc đến, nhưng theo tôi hiểu, bố ông chết lâu rồi, hàng chục năm trước khi ông dọn đến thị trấn này, vậy tên cửa hàng đã được dùng sai. Thứ hai, Tom à, ai đang phụ trách danh mục hàng hóa của ông vậy? Tôi mới đến cửa hàng ông hôm qua và có những món hàng ở đấy mà con người có thể chẳng dùng vào mục đích gì. Những chiếc thùng rỗng, những chiếc ly bằng hợp kim to quá khổ, những chiếc vỉ đập ruồi hình cái kẹp, và thề có Chúa những món quà lưu niệm của ông thật gây tò mò: người ta thường mua mô hình Tháp Eiffel ở Pháp, tại Tháp Eiffel, chứ không phải tại những thị trấn nhỏ của Úc. Tôi biết nó là một cửa hàng bách hóa, nhưng ông đã đi quá lố rồi. Cửa hàng của ông mơ hồ nhiều hơn là bách hóa.
Gửi Kate Milton, giám đốc Paramount, rạp chiếu phim yêu thích của chúng ta. Khi mà một bộ phim được chiếu trong tám tháng liền, Kate à, bà có thể chẳng quan tâm lắm rằng chúng tôi đã xem hết cả rồi. Vì Chúa, hãy nhập vài bộ phim mới đi. Mỗi tháng một lần là được rồi.
Bố đọc lại các góp ý của mình và quyết định cần thêm một cái nữa. Một góp ý to tát.
Không thể giải thích rõ ràng điều mà bố cho là bất ổn ở những người trong thị trấn của mình ở cấp độ sâu sắc hơn những kiểu tóc xấu xí và siêu thị mơ hồ - đó là các vấn đề thâm thúy hơn, các vấn đề về sự tồn tại. Bố không thể nghĩ ra một góp ý đề cập đến chúng trực tiếp. Đơn giản là không thể trỏ vào hòn đá tảng của sự tồn tại, chỉ ra vết nứt, và hi vọng toàn thể mọi người có thể nghiền ngẫm về tầm quan trọng của nó mà không manh động. Thay vào đó bố nghĩ ra một ý tưởng để đề cập đến nó một cách gián tiếp. Bố đồ rằng những vấn đề của họ có liên quan đến các ưu tiên cần được hoán đổi vị trí, và nếu vậy, nguyên nhân nằm ẩn bên dưới của việc đó hẳn phải có mối liên hệ đến tầm nhìn, đến những phần nào của thế giới họ đang tiếp nhận và phần nào họ đang loại bỏ.
Ý tưởng của bố là thế này: bố muốn điều chỉnh viễn cảnh của họ, nếu được. Điều đó dẫn bố đến góp ý số năm.
Trên Đồi Nông dân, xây một đài thiên văn nhỏ.
Bố không giải thích gì, nhưng bố đưa vào câu nói sau đây của Oscar Wilde và Spinoza, theo thứ tự: “Tất cả chúng ta đều ở dưới bùn lầy nhưng một vài người trong chúng ta đang nhìn lên các vì sao” và “Hãy nhìn sự việc dưới ánh sáng vĩnh hằng.”
Bố đọc lại các góp ý và, trong tâm trạng hài lòng lớn lao, đút chúng vào cái miệng chờ đợi của vật dụng mới được bố tạo ra cho thị trấn.
***
Hộp thư góp ý trở thành kênh đối thoại của thị trấn. Patrick Ackerman tổ chức một cuộc họp đột xuất và ở đó đọc to những góp ý của bố bằng giọng nghiêm trang, như thể chúng đến từ bên trên, không phải bên dưới, nơi bố đang ngồi. Không ai biết kẻ nào đã đặt cái hộp ở đấy. Họ đoán mò, nhưng họ không thể thống nhất. Người dân thị trấn loại trừ bạn bè và hàng xóm của họ cho đến khi còn một danh sách chung khảo với khoảng tám khả năng, nhưng chẳng có người nào là chắc chắn cả. Họ đương nhiên không ngờ đến đứa con nít ranh như bố. Dù bố đã không còn hôn mê nhiều năm rồi, họ vẫn làm như bố còn ngủ.
Thật kinh ngạc, Patrick Ackerman rất hào hứng với toàn bộ ý tưởng này. Ông ta thuộc kiểu nhà lãnh đạo thèm muốn được trở nên mới mẻ và tiến bộ, nhưng thiếu động lực và ý tưởng, và có vẻ như ông ta nhận hộp thư góp ý của bố làm bộ não thay thế của mình. Ông ta kịch liệt bác bỏ mọi lời chế giễu và phản đối, và bởi cơn nhiệt tình bộc phát đột xuất của ông ta, hội đồng, chủ yếu vì bị sốc, chấp thuận từng đề nghị một của bố. Thật điên rồ! Bố thực tình không mong đợi kết quả đó. Chẳng hạn như, họ quyết định rằng Paul Hamilton, đứa con trai mười bảy tuổi bị thọt chân thất nghiệp của Monica và Richard Hamilton, sẽ ngay lập tức trở thành thợ cắt tóc học việc của Jack Hill. Họ quyết định rằng Tom Russell có một năm để bỏ chữ “và Các con trai” ra khỏi bảng hiệu, bằng không phải kết hôn rồi sinh hoặc nhận con nuôi, với điều kiện đứa trẻ phải là người da trắng và đến từ Anh hoặc Bắc Âu. Họ quyết định rằng Kate Milton, người điều hành rạp chiếu phim địa phương, phải chịu khó mua ít nhất một bộ phim mới mỗi hai tháng. Thật không thể tin nổi! Nhưng đấy chưa phải là cú chấn động thực sự. Họ quyết định rằng phải soạn ngay các kế hoạch xây đài thiên văn trên Đồi Nông dân, và dù ngân sách rót xuống chỉ có vỏn vẹn 1.000 đô la, nhưng lòng quyết tâm thì ngùn ngụt. Bố không tin nổi. Họ thực sự sẽ làm thế.
Patrick quyết định rằng hộp thư chỉ được mở mỗi tháng một lần, do chính tay ông ta. Ông ta sẽ đọc trước các góp ý để đảm bảo không sơ ý đọc to lên bất cứ điều gì mang tính phỉ báng hay xúc phạm, và tại cuộc họp công khai, ông ta sẽ công bố chúng với thị trấn, sau đó họ sẽ tranh luận, phản biện và biểu quyết điều gì nên được thực hiện còn điều gì nên bỏ qua.
Đấy là một cơn sung sướng tột đỉnh! Bố có thể nói với con, đời bố từ bấy đến nay đã có một hai lần thành công, nhưng chưa có lần nào đem lại cho bố cảm giác hài lòng tuyệt đối như thắng lợi đầu tiên đó.
Trong khi đài thiên văn phải mất một thời gian mới được dựng nên, thì ý tưởng sử dụng tên gọi tối nghĩa “Nơi chán sống nhất ở New South Wales” làm điểm thu hút du lịch lại được thực thi lập tức. Các bảng hiệu được dựng lên trên con đường dẫn vào thị trấn, và ở phía bên kia, nơi nó chạy ra khỏi thị trấn.
Rồi bọn bố chờ đợi du khách đến.
Thật kinh ngạc, họ đến thật.
Khi xe của họ đổ xô vào các con đường, người dân thị trấn làm vẻ mặt khổ sở và bước đi lết thết.
“Này, cuộc sống ở đây thế nào? Tại sao lại tệ vậy?” khách du lịch hỏi.
“Nó như vậy mà,” câu trả lời ngán ngẩm.
Những người đi dã ngoại trong ngày lang thang trên phố và trông thấy trên mọi khuôn mặt nét tuyệt vọng và cô đơn. Trong quán rượu, những người địa phương làm ra vẻ khốn khổ.
“Thức ăn ở đây thế nào?” du khách thường hỏi.
“Kinh khủng.”
“Vậy cho tôi một ly bia nhé?”
“Chúng tôi rót ra rồi tính thêm tiền. Chịu không?”
“Này - đây đúng là nơi chán sống nhất ở New South Wales!”
Khi du khách ra đi, nụ cười trở lại và toàn thị trấn cảm thấy như vừa chơi khăm được một vố to.
Mọi người nóng lòng chờ đợi buổi mở hộp thư góp ý hàng tháng, và nó thường xuyên đầy ngập thư. Các cuộc họp diễn ra công khai, và thường chỉ còn chỗ để đứng. Thông thường các cuộc họp bắt đầu bằng việc ông hội đồng Ackerman tuyên bố sự thất vọng của ông ta về những thứ không phải là góp ý tìm thấy trong hộp thư - vỏ cam, chim chết, báo, vỏ bim bim, và kẹo cao su - rồi sau đó ông ta đọc to lên các góp ý, một danh sách đáng kinh ngạc các kế hoạch khả thi. Hình như mọi người đều bị trúng phải thứ bùa mê mang tên ý tưởng. Tiềm năng để thị trấn này vươn lên một tầm cao hơn, cải thiện chính nó, và tiến hóa, đã được đón nhận. Người ta bắt đầu đem theo sổ tay nhỏ bên mình khi đi bất kì đâu; con sẽ thấy họ đột ngột dừng lại giữa đường, hoặc dựa vào cột đèn, hoặc ngồi bẹp xuống vỉa hè, bị một ý tưởng xâm chiếm. Ai nấy viết ra những ý tưởng của mình, và cứ bí mật mà làm! Tính ẩn danh của hộp thư góp ý cho phép người ta trình bày những mong mỏi và khát khao của mình, và quả thật, họ nghĩ ra những điều lạ lùng nhất.
Đầu tiên là những góp ý thực tế gắn liền với các vấn đề về cơ sở hạ tầng và đô thị nói chung: xóa bỏ toàn bộ những hạn chế về việc đỗ xe, giảm thuế và giá xăng dầu, quy định giá bia ở mức 1 xu. Có những góp ý nhằm vào việc chấm dứt sự lệ thuộc của thị trấn vào thành phố bằng cách xây bệnh viện riêng, tòa án riêng, và đường chân trời riêng. Có những đề nghị về các hoạt động giải trí như tiệc nướng tập thể, đêm pháo hoa, và tiệc rượu La Mã, và có vô số góp ý để xây những thứ như: đường sá tốt hơn, một kho bạc của thị trấn, một sân bóng đá, một đường đua ngựa, và, dù thị trấn nằm trong đất liền, một cầu cảng. Danh sách cứ dài mãi dài mãi với những đề nghị hoàn toàn vô bổ mà hội đồng thị trấn đơn giản là không đủ dư dả để đáp ứng.
Rồi, khi các vấn đề đô thị làm họ phát ngấy, người ta bắt đầu quay sang chĩa mũi dùi vào nhau.
Có người đề nghị bà Dawes không nên đi đứng như thể “bà ta giỏi hơn hết thảy người khác vậy”, và rằng ông French, chủ cửa hàng tạp phẩm trong thị trấn, thôi đi cái trò giả vờ “không giỏi tính toán” khi bị bắt quả tang thối tiền thiếu cho mọi người, và rằng bà Anderson chấm dứt ngay việc khoe khoang cháu trai mình quá nhiều bằng cách gí những tấm ảnh của thằng bé vào mũi mọi người, vì tuy nó chỉ mới ba tuổi, nhưng “chúng tôi đã bắt đầu làu bàu mỗi khi trông thấy nó.” Mọi việc chuyển biến quá nhanh vì Patrick Ackerman bị chứng viêm phổi đốn ngã và nhân vật số hai, Jim Brock, đã tiếp quản công việc. Jim đã già, chán đời, nhỏ nhen và đọc to hầu hết những góp ý mang tính phỉ báng, cá nhân, dốt nát, và khiêu khích bằng một giọng vô can, nhưng con có thể nghe thấy lão cười mỉm, ngay cả khi con không trông thấy nụ cười. Jim gây xào xáo cả lên, và bởi tính ẩn danh đảm bảo cho sự trung thực (như Oscar Wilde nói, “Hãy đưa một người chiếc mặt nạ và anh ta sẽ nói sự thật”), mọi người trong thị trấn thực sự sổ toẹt ra hết.
Một góp ý viết: Linda Miler, đồ đĩ điếm. Hãy thôi ăn nằm với bọn đàn ông của chúng tao đi, nếu không chúng tao sẽ huy động lực lượng đè mày ra cắt béng cặp vú phì nộn của mày.
Và có cả cái này: Maggie Steadman, lão dơi già. Người ta không nên cho ông đỗ xe bất kì đâu gần thị trấn nếu ông không ước lượng được kích thước đồ vật.
Và một cái khác: Andrew Christianson, mày không có cổ! Tao không có ý sửa lại nó, tao chỉ muốn chỉ ra nó.
Và cái này: Bà Kingston, đừng làm phiền chúng tôi với những lo lắng ghen tuông về tính chung thủy của chồng bà nữa. Hơi thở ông ta hôi như trứng thối sau khi được ỉa ra từ cái mông nhớt dãi lòng thòng. Bà chẳng có gì phải lo cả.
Và cái này: Geraldine Trent, dù bà hứa “Tôi sẽ không kể với ai,” nhưng bà bép xép kinh khủng và bà đã phản bội sự tin cậy của hầu hết mọi người trong thị trấn. Tái bút. Con gái bà nghiện ma túy và là đồng tính nữ đấy. Nhưng đừng lo, tôi sẽ không kể với ai đâu.”
Người ta bắt đầu sợ đọc góp ý vì nhỡ đâu chính họ đang bị nhắc đến. Họ bắt đầu cảm thấy bị tổn thương, bị lột trần, và nhìn nhau nghi kị trên đường phố cho đến khi họ giảm thời gian giao tiếp xã hội và tăng thời gian trốn tránh trong nhà. Bố điên tiết. Chỉ trong vài tháng, hộp thư góp ý của bố đã thực sự biến thị trấn thành nơi chán sống nhất ở New South Wales, hay bất kì nơi nào khác.
***
Trong khi đó, hai thằng sinh đôi đã mười sáu tuổi và mừng sự kiện này bằng cách bỏ học. Bruno và Dave đang dành dụm tiền mua súng và lên kế hoạch dọn đến thành phố, và Terry muốn đi cùng bọn chúng. Về phần mình, cuối cùng bố đã xoay xở được để thoát khỏi băng nhóm này. Chẳng có lý do gì để bố giả vờ mình đang làm điều có ích khi trông chừng Terry, Bruno cuối cùng đã đạt đến ngưỡng muốn “ói ngược dạ dày lên” khi trông thấy bố, và thực tình mà nói, bố chịu đựng quá đủ lũ khốn kiếp ấy rồi. Lợi ích bố có được từ việc tham gia băng nhóm này là được bảo kê chắc chắn; đám bạn cùng trường để yên cho bố. Bố không thức dậy với nỗi sợ hãi mỗi ngày, vì thế bây giờ tâm trí bố đã được tự do để làm những việc khác. Chỉ đến khi nó biến mất con mới nhận ra nỗi sợ hãi gây phí thời gian thế nào.
Bố dành từng giây từng khắc với Caroline. Bố bị mê hoặc không chỉ bởi thân hình ngày càng nở nang của cô ấy mà còn vì phong cách của cô ấy. Cô ấy bị ám ảnh rằng người ta giấu giếm cô ấy. Cô ép họ kể ra chuyện của họ; cô ấy nghĩ người già, do đã sống qua nhiều nơi và nhiều thành phố, đã kinh qua tất cả mọi chuyện mà cuộc sống mang lại và cô muốn nghe về nó. Cô ấy không quan tâm đến lũ con nít trong thị trấn; chúng chả biết gì. Rất dễ khiến người lớn nói chuyện. Hình như họ lúc nào cũng tìm kiếm chỗ chứa để xả hết nước cống chưa qua xử lý chất chứa trong đời mình. Nhưng sau khi nghe họ xong, cô ấy thường thiêu đốt họ với cái nhìn vô cảm mang một thông điệp rõ ràng, “Chỉ vậy thôi ư?”
Cô ấy cũng đọc sách nữa, chỉ có điều cô ấy lượm lặt được những điều rất khác với bố. Cô ấy bị ám ảnh với cuộc đời các nhân vật, họ trông như thế nào, ăn mặc, uống nước, du lịch, khám phá, hút thuốc, làm tình, tiệc tùng và yêu đương ra sao. Cô ấy đam mê những thứ ở nước ngoài. Cô ấy muốn đi du lịch vòng quanh thế giới. Cô muốn làm tình trong lều tuyết của người Eskimo. Cách mà Lionel Potts động viên con gái mình mới thật tức cười. “Một ngày nào đó, con sẽ uống champagne treo ngược trên xà treo,” cô ấy thường nói. “Tốt thôi con! Bố biết con sẽ đạt được điều ấy! Quan trọng là phải có mục tiêu! Phải nghĩ lớn!” ông ta huyên thuyên không dứt. Cô quả thực đã “dò đúng kênh” ông ta.
Nhưng Caroline không hoàn toàn bất mãn với ngoại cảnh như bố. Cô ấy nhận thấy vẻ đẹp trong những sự việc mà bố không thể thấy. Những bông tulip trong chậu hoa, những ông bà già nắm tay nhau, một mái tóc giả rành rành - thứ nhỏ nhặt nhất có thể khiến cô ấy kêu ré lên vì vui sướng. Và các chị em trong thị trấn ngưỡng mộ cô ấy. Cô ấy luôn chỉnh lại nón cho họ và hái hoa cho họ. Nhưng khi cô ấy ở một mình với bố, cô ấy khác hẳn. Bố nhận ra rằng sự ngọt ngào của cô ấy, cách mà cô ấy giao tiếp với mọi người trong thị trấn, chỉ là chiếc mặt nạ của cô ấy. Nó rất tốt, loại mặt nạ tốt nhất trên đời: lời nói dối chân thật. Mặt nạ của cô ấy được dệt nên từ những mảnh vỡ tơi tả của những phần đẹp đẽ nhất trong bản thân cô ấy.
Một buổi sáng bố đến nhà Caroline và bất ngờ khi thấy Terry đang đứng ngoài nhà cô ấy, ném những hòn đá xuống mảnh vườn nằm dưới cửa sổ mặt tiền.
“Em đang làm gì đấy?” bố hỏi.
“Chả làm gì.”
“Terry Dean! Ngừng ngay trò ném đá vào vườn nhà tôi đi!” Caroline thét lên từ cửa sổ trên lầu.
“Đây là thế giới tự do mà, Caroline Potts!”
“Nhưng ở Trung Quốc thì không!”
“Có chuyện gì thế?” bố hỏi.
“Không có gì. Em có thể ném đá ở đây nếu em muốn.”
“Anh nghĩ vậy.”
Caroline quan sát từ cửa sổ. Cô vẫy tay với bố. Bố vẫy lại. Rồi Terry cũng vẫy, chỉ có điều đó là cái vẫy tay giễu cợt, nếu con có thể tưởng tượng ra nó. Caroline vẫy tay lại một cách châm biếm, với một thái độ khác hoàn toàn. Bố thắc mắc không biết Terry có ân oán gì với Caroline.
“Về nhà thôi,” bố nói.
“Chút nữa. Em muốn ném đá tiếp.”
“Để cô ấy yên,” bố bực bội nói. “Cô ấy là bạn anh.”
“Chuyện lớn quá nhỉ.” Terry nhổ nước bọt, ném những hòn đá xuống, rồi bỏ đi. Bố nhìn nó đi. Như thế nghĩa là sao? Bố không thể giải thích được. Dĩ nhiên, vào lúc đó bố chả biết gì về tình yêu tuổi mới lớn. Bố chẳng biết là, ví dụ như, người ta có thể biểu hiện tình cảm bằng thái độ gây hấn và sự bực tức trẻ con.
Vào khoảng thời gian này bố đến gặp Harry, và lúc đấy thì bố không biết, nhưng đó là chuyến thăm cuối cùng của bố. Lão đã ngồi sẵn trong phòng tiếp khách, chờ đợi và há hốc mồm nhìn bố đầy kì vọng, như thể lão đã đặt cái túi hơi tạo thành tiếng đánh rắm dưới nệm của bố ở nhà và muốn biết nó kêu chưa. Khi bố không nói gì, lão bảo, “Mày đúng là quậy tưng mọi chuyện lên ở dưới đó!”
“Ông đang nói gì chứ?”
“Cái hộp thư góp ý. Bọn họ phát rồ rồi, phải không nào?”
“Làm sao ông biết được?”
“Ồ, mày có thể nhìn thấy khá nhiều chuyện từ trên này,” lão đáp, giọng ngắt quãng ba-bốn. Không đúng. Ông chả thấy cái mẹ gì hết. “Mọi chuyện sẽ kết thúc một cách tệ hại, dĩ nhiên rồi, nhưng mày không được ghét bản thân mình vì chuyện đó. Đó là lý do tao gọi mày lên đây hôm nay. Tao muốn nói với mày đừng hành hạ bản thân về chuyện đó.”
“Ông đâu có gọi tôi.”
“Tao không gọi à?”
“Không.”
“Ừm, tao cũng đâu có gọi mấy đám mây, nhưng chúng kia kìa,” lão nói, chỉ vào cửa sổ. “Những gì tao muốn nói là, Marty, đừng để nó phá hủy mày. Không thứ gì giằng xé linh hồn con người tàn bạo hơn tội lỗi.”
“Tôi phải thấy mình tội lỗi về điều gì chứ?”
Harry nhún vai, nhưng đấy là cái nhún vai nặng nề nhất mà bố từng thấy.
Hóa ra cái nhún vai ấy đã đúng; với việc tạo ra một thứ vô thưởng vô phạt như cái hộp rỗng, bố đã một lần nữa huých vận mệnh gia đình mình sang một hướng thực sự không hay.
***
Chuyện bắt đầu khoảng một tháng sau, khi tên của Terry lần đầu tiên xuất hiện trong hộp thư góp ý.
Ông Dean nên học cách kiểm soát đứa con trai của mình. Terry Dean đã rơi vào vòng thao túng của những thằng không có khải năng cải tạo. Nhưng Terry còn nhỏ. Vẫn chưa quá muộn. Tất cả những gì cậu ấy cần là sự hướng dẫn của bố mẹ, nếu họ không làm được, chúng tôi sẽ tìm người có thể làm việc đấy.
Mọi người trong tòa thị chính vỗ tay. Người dân thị trấn xem cái hộp như một loại sấm truyền; bởi lời đề nghị không đến trực tiếp từ những cái miệng của người hàng xóm mà viết trên giấy và được lấy ra một cách trang trọng từ chiếc hộp rồi đọc bằng giọng điệu chuyên quyền của Jim Brock, những lời lẽ được tiếp nhận một cách nghiêm túc hơn chúng thực sự đáng được như thế, và thường được dõi theo với một sự phục tùng mê muội đáng sợ.
“Không phải lỗi của tôi khi tốn công phí sức nuôi lớn con cái với những lời dạy dỗ đạo đức nghiêm ngặt trong khi lũ trẻ bị ảnh hưởng quá nhiều bởi các bạn đồng trang lứa của chúng,” bố dượng nói trong bữa ăn tối đêm hôm ấy. “Chỉ cần chọn lầm một đứa bạn để chơi thôi là con các người có thể hư hỏng vĩnh viễn.”
Tất cả bọn bố đều lo lắng ngồi nghe ông, theo dõi những suy nghĩ xoay tít quanh đầu ông như bụi trong gió.
Ngày hôm sau ông đến sân chơi vào giờ ăn trưa. Cả Terry và bố đều chạy trốn, nhưng ông không đến tìm bọn bố. Đặt quyển sổ lên đùi, ông ngồi trên xích đu nhìn bọn trẻ chơi đùa; ông lên danh sách những đứa con trai mà ông nghĩ là thích hợp để làm bạn với các con mình. Lẽ dĩ nhiên lũ trẻ nghĩ ông bị hâm (đây là những ngày trước khi chúng sẽ đơn giản nghĩ rằng ông là một tên tội phạm ấu dâm), nhưng nhìn những nỗ lực nhiệt tình của ông để đưa bố và Terry vào con đường khuôn phép khiến bố cảm thấy vừa tội nghiệp vừa ngưỡng mộ ông ấy. Thỉnh thoảng ông lại gọi một đứa bé đến để nói chuyện với nó, và bố nhớ mình đã rất ấn tượng trước quyết tâm của ông dành cho cái mà, nói nghiêm túc là, một ý tưởng kì quặc.
Chẳng ai biết họ nói chuyện gì trong những cuộc phỏng vấn không chính thức này, nhưng sau một tuần, danh sách của bố dượng đã bao gồm mười lăm ứng viên: những đứa trẻ ngoan ngoãn, thật thà, xuất thân từ các gia đình nề nếp. Ông cho bọn bố xem kết quả cuộc nghiên cứu toàn diện của mình. “Đây là những đứa bạn thích hợp,” ông nói. “Đi mà kết bạn với chúng.”
Bố nói với ông rằng mình không thể kết bạn kiểu đó.
“Đừng nói thế với tao,” ông nạt lại. “Tao biết kết bạn là thế nào. Mày cứ việc đi đến nói chuyện với chúng.”
Ông không chịu bỏ ngang. Ông muốn thông tin cập nhật. Ông muốn kết quả. Ông muốn thấy những tình bạn bền lâu diễu qua trước chính mắt mình, và đấy là mệnh lệnh! Cuối cùng Terry nhờ băng nhóm của nó “thuyết phục” một vài đứa trẻ con khờ khạo trong danh sách đến chơi ở sân sau nhà sau khi tan học. Chúng đến, nô đùa suốt buổi chiều, và trong một khoảng thời gian bố dượng được xoa dịu.
Nhưng hộp thư góp ý thì không. Những cặp mắt khắp thị trấn đều thấy được Terry vẫn tiếp tục chơi với Bruno và Dave như trước.
Góp ý tiếp theo được gửi đến là như thế này: Tôi đề nghị rằng tuy bố mẹ Terry không theo đạo, nhưng cậu ấy có thể cần đến một sự dẫn dắt tinh thần. Chưa muộn đâu. Terry còn cải tạo được.
Một lần nữa bố dượng lại nổi đóa, dù ông vẫn phục tùng một cách quái lạ. Đây sẽ là một tấm gương điển hình, và khi số lượng thư góp ý về kiểu cư xử giang hồ của Terry tăng lên và gia đình bố trở thành đối tượng thường xuyên bị để ý và giám sát, thì bố dượng nguyền rủa cả hộp thư lẫn “kẻ ác ôn” đã đặt nó ở đấy, song ông vẫn phục tùng.
Sau khi từ tòa thị chính về nhà, bố dượng cãi nhau với mẹ. Bà muốn mời một giáo sĩ Do Thái đến nói chuyện với Terry. Ông nghĩ một mục sư sẽ làm việc này tốt hơn. Cuối cùng mẹ thắng. Một giáo sĩ đến nhà và nói chuyện với Terry về bạo lực. Các giáo sĩ biết rất nhiều về bạo lực vì họ làm việc cho một vị thần nổi tiếng là nóng tính. Vấn đề là, người Do Thái không tin vào địa ngục, vì thế họ không có một chốn sợ hãi hiện diện sẵn mà các tín đồ Công giáo dùng đến để đầu độc hệ thần kinh của lớp trẻ. Người ta không thể quay sang một đứa bé Do Thái rồi nói, “Cháu thấy hỏa ngục đấy không? Cháu sẽ đến đó.” Người ta phải kể cho nó những câu chuyện báo thù của Đấng toàn năng và hi vọng nó hiểu được ẩn ý.
Terry thì không, và chẳng còn góp ý nào xuất hiện nữa, nhưng đừng nghĩ rằng hộp thư ấy chỉ nhằm vào em trai bố. Một tối thứ hai giữa mùa hè, tên của bố được nhắc đến.
Ai đó nên nói với cậu bé Martin Dean rằng thật thô lỗ khi nhìn người khác chằm chằm, lời góp ý bắt đầu như thế, khiến toàn căn phòng bật lên tràng pháo tay. Nó là một thằng bé cáu kỉnh khiến mọi người khó chịu bằng cách nhìn chòng chọc vào họ. Và nó không để cho Caroline Potts một giây phút bình yên nào. Bố bảo con, bố chẳng lạ gì các trò hạ nhục, nhưng không gì có thể vượt qua được thời khắc nhục nhã đó.
Một tháng sau, một góp ý khác dành cho nhà họ Dean được lấy ra từ hộp thư, lần này nhằm vào mẹ của bố, trong tất cả những người ta có thể hình dung ra.
Bà Dean nên thôi lãng phí thời gian của chúng tôi với những lời bào chữa dài dòng cho việc tại sao chồng con bà là những kẻ hết hi vọng. Terry không chỉ “lêu lổng”, nó là đứa thoái hóa. Martin không “hợp với nhịp sống riêng của nó,” nó là một thằng hâm, còn bố chúng không có “trí tưởng tượng lành mạnh,” ông ta là kẻ nói dối trơ trẽn.
Chẳng còn nghi ngờ gì nữa. Gia đình bố là đích ngắm của số đông, và xem ra người dân thị trấn thực tình chĩa mũi dùi vào Terry. Mẹ của bố trở nên lo sợ cho nó, còn bố lại đâm ra sợ nỗi sợ của bà. Nỗi sợ ấy thật khủng khiếp. Bà thường ngồi trên giường của Terry và thì thầm “Mẹ yêu con” khi nó đang ngủ, từ giữa đêm tới rạng sáng, như thể đang cố gắng thay đổi hành vi của nó trong tiềm thức, trước khi hành vi ấy bị cải tạo vì nó. Bà nhận ra người dân thị trấn xem việc cải tạo con trai bà là một trong những ưu tiên hàng đầu của họ; nó đã từng là niềm tự hào số một của họ và giờ đây sự thất vọng số một của họ, và trong khi rõ ràng Terry vẫn tiếp tục giao du với băng nhóm ấy, trộm cắp và đánh nhau, một góp ý khác được đưa ra để giải quyết vấn đề: Tôi đề nghị đưa thằng Terry Dean hư hỏng lên nhà tù để nói chuyện với một tù nhân ở đây và nghe kể câu chuyện kinh dị về cuộc sống trong tù. Có lẽ chiến thuật gây sợ hãi sẽ có tác dụng.
Để an toàn, bố dượng ép bố đi cùng, đề phòng bố nảy sinh ý nghĩ nối bước đứa em trai mình vào vòng đời tội phạm. Bọn bố đi lên đồi đến nhà tù, trường học thực sự của bọn bố, trên con đường dơ bẩn chạy xuống đồi như một vết thương hở.
Người ta sắp xếp để bọn bố gặp tên tội phạm xấu xa nhất nhà tù. Tên hắn là Vincent White. Hắn đã chịu nhiều điều tồi tệ trong tù: bị đâm bảy lần bằng mảnh kính vỡ, bị rạch mặt, bị làm mù một mắt và cái môi lòng thòng trên mặt như một miếng nhãn mác gắn trên đồ vật mà ta chỉ muốn giật ra. Ba người nhà bố ngồi xuống trước mặt hắn trong phòng thăm viếng. Terry từng gặp Vincent một lần trước đây, với Harry. “Hơi ngạc nhiên là chúng mày lại muốn gặp tao đấy,” Vincent nói thẳng toạc. “Mày và Harry là vợ chồng à?” Terry khẽ lắc đầu, cố ra hiệu cho hắn, nhưng con mắt duy nhất còn nhìn thấy của Vincent đang tia khắp phòng, dò xét bố dượng. “Bọn mày đi với ai đây? Ông già của bọn mày hả?”
Bố dượng lôi bọn bố ra khỏi nhà tù như thể nó đang bốc cháy, và kể từ ngày ấy những đứa trẻ nhà họ Dean bị cấm đến gặp bất kì ai bên trong tù. Bố có thử quay lại một, hai lần để gặp Harry, nhưng đều bị đá trở lại. Đó là một cú trời giáng. Bây giờ hơn lúc nào hết, bố tuyệt vọng cần lời khuyên của lão. Bố biết sự việc đã tích tụ đến một đỉnh điểm không có lợi cho bọn bố. Có lẽ nếu bố sáng suốt hơn, bố đã khuyến khích đứa em trai mình rời bỏ thị trấn khi, ngay sau sự cố nhà tù, nó có cơ hội thoát khỏi cảnh lộn xộn mà bố đã tạo ra này.
Hôm đó là chiều thứ sáu, Bruno và Dave đến trên chiếc xe Jeep ăn cắp chất đầy đồ đạc của chúng và của người khác. Chúng bấm còi inh ỏi. Terry và bố đi ra gặp chúng.
“Đi nào, anh bạn, chúng ta sẽ biến khỏi thị trấn chết tiệt này,” Dave gọi to với Terry.
“Tao không đi đâu.”
“Tại sao?”
“Không thì không thôi.”
“Đồ thỏ đế!”
“Mày sẽ không bao giờ chơi con bé ấy, mày biết không,” Bruno nói.
Terry không đáp trả câu ấy.
Bruno và Dave thong thả rồ máy trước khi rú ga vọt đi. Bọn bố nhìn chúng biến mất. Bố đờ đẫn nghĩ làm thế nào mà, sau tất cả những đau đớn, khổ sở, bi kịch và lo lắng mà người ta gây ra, họ rời bỏ cuộc sống của ta không kèn không trống. Terry nhìn theo con đường vắng không một cảm xúc.
“Em sẽ không chơi ai?”
“Không ai hết,” nó đáp.
“Anh cũng không.”
Cuộc họp tòa thị chính tiếp theo diễn ra vào thứ hai, và bọn bố đều sợ đến ngày đó. Bọn bố biết hộp sấm truyền có thêm một góp ý nữa cho Terry Dean. Khi bước vào, bọn bố tránh ánh mắt của tất cả những khuôn mặt thiếu thiện cảm ấy, những khuôn mặt trông như vừa trải qua một cơn thịnh nộ thời thơ ấu, rồi đóng khuôn nó suốt cuộc đời họ. Họ mở lối đi cho bọn bố khi bọn bố bước qua. Bốn chiếc ghế được chừa trống ở hàng trên, bố mẹ của bố và bố ngồi vào ba ghế. Terry ở nhà, tẩy chay cuộc họp theo lẽ thường. Bố ngồi trên chiếc ghế gỗ kém thoải mái với hai mắt nhắm hờ, liếc nhìn dưới mi mắt mình tấm hình Nữ hoàng trong ngày sinh nhật lần thứ hai mươi mốt treo trên tường. Trông bà cũng đang ở trong tình trạng sợ hãi. Nữ hoàng và bố sốt ruột chờ đợi khi lắng nghe những góp ý khác. Họ giữ góp ý về Terry lại để đọc cuối cùng. Rồi nó cũng đến.
Tôi đề nghị đưa Terry Dean đến Viện tâm thần Portland và được đội ngũ bác sĩ tâm lý chữa trị cho hành vi bạo lực, khó gần của nó.
Bố vội vã đi ra khỏi tòa nhà để bước vào ánh sáng rỡ ràng của đêm. Bầu trời đêm đã được thắp sáng bằng một mặt trăng to tướng, không đến nỗi tròn vành vạnh, treo lơ lửng trên những con đường vắng lặng. Bước chân của bố là tiếng động duy nhất trong thị trấn, ngoài tiếng sủa của một con chó lẽo đẽo theo bố một đoạn, thích thú trước sự bấn loạn của bố. Bố cứ chạy mãi không dừng cho đến lúc về đến nhà - không, bố không dừng lại ở đó. Bố chạy qua cửa trước rồi chạy hộc tốc qua hành lang đến phòng mình. Terry đang ngồi trên giường đọc sách.
“Em phải đi khỏi đây!” bố thét lên. Bố tìm một chiếc túi thể thao và ném quần áo nó vào đấy. “Họ sắp đến! Họ sẽ đưa em vào viện tâm thần!”
Terry ngước lên lặng lẽ nhìn bố. Nó nói, “Mấy thằng ngu. Tối nay Caroline có ở đó không?”
“Có, nhưng mà -”
Bố nghe tiếng bước chân vội vã chạy dưới lối đi. “Nấp đi!” bố thì thầm. Terry không nhúc nhích. Những bước chân đã gần đến cửa. “Quá muộn rồi!” bố hét lên vô vọng. Cửa phòng bật mở và Caroline chạy vào.
“Anh phải đi khỏi đây!” cô ấy la lên.
Terry nhìn cô ấy không chớp với đôi mắt sáng long lanh. Chúng khiến cô ấy mất bình tĩnh. Họ đứng nhìn nhau trân trối, bất động, trông như những bức tượng manơcanh bị sắp đặt một cách kì quặc. Bố bị tách biệt hoàn toàn khỏi năng lượng của căn phòng. Đây là một cú sốc đối với bố. Caroline và Terry có cảm tình với nhau? Chuyện này xảy ra khi nào? Bố cưỡng lại cơn kích động muốn moi mắt mình ra đưa cho hai người ấy xem.
“Anh đang giúp nó thu dọn đồ,” bố lên tiếng, phá tan khoảnh khắc ấy. Giọng của bố không còn nhận ra được nữa. Caroline đã thích Terry, thậm chí có thể còn yêu nó nữa. Bố nổi cáu! Bố cảm thấy bị ướt sũng bởi hết thảy nước mưa trên thế gian. Bố sốt ruột ho lên. Không ai nhìn bố, hay cho một manh mối rằng bố đang đứng đấy giữa họ.
Cô ấy ngồi xuống mép giường nó và nhịp những ngón tay trên mấy chiếc chăn. “Anh phải đi,” cô ấy nói.
“Chúng ta sẽ đi đâu?”
Bố nhìn Caroline để xem câu trả lời của cô ấy là gì. “Em không đi được,” cuối cùng cô ấy nói. “Nhưng em sẽ đến thăm anh.”
“Ở đâu?”
“Em không biết. Sydney. Hãy đến Sydney.”
“Và nhanh lên dùm cho!” bố hét to đến nỗi bọn bố không nghe thấy những tiếng bước chân thứ hai.
Hai người đàn ông bước vào, những thành viên năng nổ nhanh nhạy của một toán cưỡng chế. Họ đảm nhiệm vai trò của một dịch vụ taxi mạnh tay. Terry chống đối vô vọng trong lúc nhiều người nữa đổ vào nhà bọn bố, tất cả đều mang khuôn mặt đằng đằng sát khí. Họ lôi nó ra ngoài, khuôn mặt nó chảy máu trắng dưới ánh trăng.
Caroline không khóc nhưng lấy tay bịt cái miệng há ra suốt hai mươi phút trong khi bố gào thét đến khản cả giọng với bố mẹ mình, những người đang đứng đấy nhìn bất lực.
“Bố mẹ làm gì vậy? Đừng để họ đưa nó đi!”
Bố mẹ của bố co rúm lại như những con chó khiếp đảm. Họ sợ chống lại mệnh lệnh của sấm truyền và ý chí không gì ngăn cản nổi của người dân thị trấn. Ý kiến đám đông đã dồn họ đến bước đường cùng.
Bố dượng nói, “Như thế là tốt nhất. Nó mất trí rồi. Họ biết cách cải tạo nó.”
Ông nói câu này trong lúc kí tên vào giấy tờ, còn mẹ của bố thì đứng nhìn cam chịu. Cả hai mang nét mặt rầu rĩ cố hữu mà con dùng búa cũng không tháo ra được.
“Nó không cần được cải tạo! Con nghĩ nó đã cải tạo rồi! Nó đang yêu!”
Không ai nghe bố. Caroline và bố đứng đó với nhau khi họ lôi Terry đến viện tâm thần. Bố nghi hoặc nhìn bố mẹ mình, nhìn vào lương tâm lãnh đạm không thể lay chuyển của họ. Tất cả những gì bố có thể làm là hoài công lắc lắc nắm đấm và nghĩ rằng thật không thể tin nổi khi con người quá ư sẵn sàng trở thành nô lệ. Chúa ơi. Đôi khi họ ném phứt sự tự do của mình nhanh đến nỗi con tưởng như nó đang thiêu đốt họ.
Sự siêu nghiệm
Không phải sự quẫn trí có khả năng lây lan, dù lịch sử nhân loại có đầy rẫy những câu chuyện về chứng kích động tập thể - như cái thời mọi người ở phương tây đều mang giày mà không mang vớ - nhưng Terry vừa biến mất đến nhà thương điên, ngôi nhà của bố cũng trở thành một nơi tăm tối, bắt đầu từ bố dượng, người tỉnh táo trở lại một tuần sau và làm mọi thứ trong quyền hạn của mình để lôi Terry ra khỏi bệnh viện, chỉ để phát hiện ra rằng một khi anh đã đưa ai vào sự chăm sóc tâm lý bắt buộc thì những người thừa hành sẽ thực hiện nó một cách nghiêm túc đúng như số tiền mà chính quyền trả họ để làm công việc săn sóc ấy. Em trai của bố bị nhận định là mối nguy hiểm cho chính nó và người khác - người khác ở đây chủ yếu là nhân viên bệnh viện mà nó chống trả để thoát ra. Bố dượng nộp đơn thỉnh cầu lên tòa án và đến tư vấn với nhiều luật sư nhưng ông sớm nhận ra ông đã để mất đứa con trai của mình trong một mớ bòng bong thủ tục quan liêu. Ông bế tắc. Kết quả là, ông bắt đầu uống rượu ngày càng nhiều, và dù hai mẹ con bố cố gắng giảm nhịp sự suy sụp của ông, nhưng con không thể ngăn một người biến thành một ông bố nghiện ngập chỉ đơn giản bằng cách nói với họ đó là điều sáo rỗng. Đã hai lần sau khi Terry bị bắt đi, ông mất bình tĩnh và đánh mẹ của bố, đốn bà ngã xuống sàn, nhưng làm nản chí một người đóng vai Kẻ đánh vợ không dễ bằng thuyết phục một người phụ nữ bỏ trốn khỏi chính nhà mình bằng cách đảm bảo với bà rằng bà đã mắc Hội-chứng-vợ-bị-đánh. Làm thế chẳng ích gì.
Giống như bố dượng, mẹ của bố bị dao động giữa giận dữ và buồn đau. Vài đêm sau khi Terry bị đưa đi, bố đang chuẩn bị đi ngủ và nói to, “Chắc là tao sẽ không đánh răng. Sao phải làm thế chứ? Dẹp mẹ răng đi! Tao chán răng của mình rồi. Tao chán răng của những kẻ khác. Răng là một gánh nặng, và tao chán phải đánh bóng chúng mỗi tối như thể chúng là báu vật hoàng cung.” Khi bố ném bàn chải đánh răng của mình xuống một cách khinh bỉ, bố thấy một bóng người đẫy đà ngoài phòng tắm. “Ai đó?” bố nói với cái bóng. Mẹ của bố đi vào phòng và đứng sau lưng bố. Hai mẹ con nhìn nhau qua kính nhà tắm.
“Con độc thoại với mình,” bà nói, đặt tay lên trán bố. “Con có bị sốt không?”
“Không.”
“Hơi ấm một chút,” bà nói.
“Con là động vật có vú,” bố làu bàu. “Chúng ta là thế mà.”
“Mẹ sẽ đi nhà thuốc tây, mua cho con ít thuốc,” bà nói.
“Nhưng con đâu có ốm.”
“Con sẽ không ốm nếu con bắt nó sớm.”
“Bắt cái gì sớm?” bố hỏi, dò xét khuôn mặt buồn bã của bà. Bà phản ứng trước việc có một đứa con trai ở trong nhà thương điên bằng cách trở thành một người điên cuồng vì tình trạng sức khỏe của bố. Nó không xảy ra từ từ mà đùng một phát, khi bố nhận ra không thể chạy ngang qua bà trên cầu thang mà không bị bà vồn vập nhào đến ôm một cái. Cũng như bố không thể rời khỏi nhà khi bà chưa cài áo cho bố đến nút cuối cùng, và khi làm thế rồi mà vẫn còn hở ra một phần cổ, bà đính thêm một chiếc nút nữa để bố luôn được che chắn đến tận môi dưới.
Bà đi đến thành phố gần như mỗi ngày để thăm Terry và luôn về nhà với tin tốt nhưng lại nghe có vẻ rất tệ.
“Nó biểu hiện khá hơn một chút,” bà nói bằng giọng thẫn thờ.
Bố nhanh chóng phát hiện ra đấy chỉ toàn là lời nói dối. Bố bị cấm đến bệnh viện vì người ta nghĩ rằng tinh thần yếu ớt của bố sẽ không chịu đựng nổi sự hành hạ. Nhưng Terry là em trai bố, vì thế một buổi sáng bố làm mọi động tác của một đứa bé chuẩn bị đến trường, và khi chiếc xe buýt ầm ầm lao qua, bố nấp sau một bụi gai mà sau này bố đốt phứt nó đi vì đã đâm gai vào bố. Rồi sau đó bố tìm đường đến bệnh viện tâm thần bằng cách đi nhờ xe một thợ sửa máy lạnh. Suốt đường đi ông ta cứ cười ha hả đầy đắc ý về những người không rã đông.
Thật sốc khi nhìn thấy em trai bố. Nụ cười của nó hơi rộng, tóc nó rối bù, mắt nó lơ mơ, da nó tái nhợt. Họ bắt nó mặc bộ quần áo bệnh viện để nó luôn nhớ rằng nó quá thiếu ổn định để được mặc quần áo có dây kéo và cài nút. Chỉ đến khi nó nói đùa về hóa đơn tiền điện trả cho liệu pháp sốc điện của nó, bố mới tin rằng việc này sẽ không hủy hoại nó. Bọn bố cùng ăn trưa trong một căn phòng ấm cúng kì lạ, có những chậu cây và một cửa sổ lớn nhìn ra cảnh bên ngoài, hoàn hảo cho một đứa trẻ vị thành niên mắc chứng lo cuồng bị ngược đãi.
Terry sa sầm nét mặt khi nhắc đến hộp thư góp ý. “Thằng chó nào để nó ở đó, em muốn biết,” nó gầm gừ.
Đến cuối buổi thăm, nó nói với bố rằng mẹ chưa một lần đến thăm nó và rằng tuy không trách bà, nhưng nó nghĩ các bà mẹ lẽ ra phải tốt hơn thế.
Khi bố về nhà, mẹ của bố đang ở sân sau. Trời mưa suốt buổi chiều, và bố thấy bà đã cởi giày ra, đang xắn ngón chân vào bùn. Bà giục bố làm giống như vậy vì bùn lạnh luồn qua ngón chân là cảm giác thích thú hơn bất kì điều gì ta có thể hình dung. Bà không nói dối.
“Mẹ đi đâu mỗi ngày vậy?” bố hỏi.
“Đi thăm Terry.”
“Con thăm nó hôm nay. Nó nói nó không gặp mẹ.”
Bà không nói gì và vùi bàn chân sâu vào bùn hết mức. Bố cũng làm thế. Một tiếng chuông vang lên. Hai mẹ con bố nhìn lên nhà tù và dõi theo một lúc lâu, như thể tiếng chuông đã dệt nên một đường hữu hình xuyên qua nền trời. Cuộc sống trên đó được điều tiết bằng những tiếng chuông có thể nghe được tại từng ngôi nhà trong thị trấn. Tiếng chuông này báo hiệu đã đến giờ thể dục buổi chiều của các tù nhân. Sẽ có một tiếng chuông khác vang lên không lâu sau đó để kết thúc.
“Con không được nói với bố.”
“Nói gì cơ ạ?”
“Nói là mẹ đã đến bệnh viện.”
“Terry nói mẹ đâu có đến.”
“Không, một bệnh viện thông thường.”
“Sao vậy?”
“Mẹ nghĩ mẹ bị bệnh gì đó.”
“Cái gì?”
Trong giây phút im lặng tiếp sau đó, bà úp đôi mắt vào tay. Hai bàn tay nhăn nheo trắng bệch, gân xanh dày bằng sợi dây điện thoại. Bà thở hắt ra. “Mẹ có đôi tay giống mẹ của mình!” bà đột ngột nói với sự bất ngờ xen lẫn khinh bỉ, cứ như đôi tay của mẹ bà thực ra chẳng phải là tay mà là hai đống phân có hình bàn tay.
“Mẹ bị ốm à?” bố hỏi
“Mẹ bị ung thư,” bà đáp.
Khi bố mở miệng, những lời không nên nói bật ra. Đó là những lời thực tế, dù bố thật sự chẳng muốn nói tẹo nào.
“Nó là thứ người ta có thể lấy ra được bằng một con dao sắc à?”
Bà lắc đầu.
“Mẹ bị lâu chưa?”
“Mẹ không biết.”
Đó là khoảnh khắc đáng sợ và mỗi giây trôi qua càng trở nên đáng sợ hơn. Nhưng chẳng lẽ bố và mẹ của mình chưa từng nói chuyện như thế này trước đây? Bố có cảm giác quen quen. Không phải kiểu cảm giác khi con thấy như mình đã trải qua một sự việc, mà là cảm giác con đã trải qua cảm giác quen quen về sự việc đó.
“Bệnh tình sẽ nặng hơn,” bà nói.
Bố không nói gì, và bố bắt đầu cảm thấy một thứ gì đó lạnh buốt đã tiêm vào máu mình. Bố dượng mặc pijama bước ra từ cửa sau và đứng ủ rũ với chiếc ly rỗng trong tay. “Tôi muốn uống bia lạnh. Bà có thấy đá không?”
“Thử tìm trong tủ đông xem,” bà đáp, rồi thì thào với bố, “Đừng bỏ mẹ lại một mình.”
“Cái gì?”
“Đừng bỏ mẹ lại, với ông ấy, một mình.”
Đó là khi bố làm một việc không thể tin nổi mà cho đến ngày hôm nay bố vẫn chưa thể lý giải được.
Bố nắm lấy tay mẹ mình và nói, “Con thề con sẽ ở bên mẹ đến ngày mẹ nhắm mắt.”
“Con thề chứ?”
“Con thề.”
Vừa nói ra câu đó, bố đã cảm thấy đây là một ý rất tệ, thậm chí là dối trá, nhưng khi người mẹ sắp chết của con van nài con cam kết luôn hết lòng với bà, con sẽ nói gì? Nói không ư? Nhất là khi bố biết rằng tương lai của bà là sự đối lập chính xác với sự sống phơi phới. Nó sẽ gây ra những gì? Những đợt hủy hoại dần mòn, bị phá vỡ bởi sự gián đoạn của những niềm hi vọng hão huyền và thời kì phục sức, rồi sau đó tình trạng xuống sức tái diễn, tất cả dưới sức nặng của cơn đau đớn ngày một tăng và nỗi khiếp đảm trước cái chết cận kề, cái chết không lẳng lặng mò đến mà thẳng tiến cùng tiếng thanh la não bạt ầm ĩ từ rất xa.
Vậy thì tại sao bố lại đưa ra lời hứa này? Không phải vì bố thấy thương hại hay bị cảm xúc lấn át. Chỉ là hình như trong sâu thẳm bố có một nỗi khiếp sợ trước ý nghĩ về một người bị bỏ cho đau đớn một mình đến chết, vì chính bố rất ghét bị bỏ cho đau đớn một mình đến chết, và nỗi sợ này hằn sâu trong lòng bố đến nỗi bố thấy thật không phải khi hứa sẽ hết lòng với mẹ của mình, vì nó tạo ra không phải một sự lựa chọn tinh thần, mà đúng hơn là một phản xạ tinh thần. Nói tóm lại, bố là một đứa con ngoan, nhưng bố lại thấy ớn lạnh vì điều đó.
“Con lạnh à?” đột nhiên bà hỏi. Bố nói không. Bà chỉ vào da gà nổi trên cánh tay bố. “Chúng ta vào nhà nào,” bà nói, rồi khoác tay qua vai bố như thể hai ông bạn nhậu già sắp sửa làm một ván bida. Khi hai mẹ con bố đi lên về phía nhà và tiếng chuông nhà tù vang lên lần nữa trên khắp thung lũng, bố cảm thấy hoặc là một bức tường đã xuất hiện giữa bố và mẹ mình, hoặc là một bức tường đã được dỡ bỏ, và bố chả biết cái nào đúng.
***
Sau khi Terry nhập viện, bố dành gần như tất cả các buổi chiều với Caroline. Chẳng có gì ngạc nhiên khi bọn bố nói say sưa không dứt về Terry. Chúa ơi, nghĩ lại bố thấy, chưa có lúc nào trong đời mà bố không nói về thằng khốn ấy. Thật khó để tiếp tục yêu thương một người, ngay cả sau khi họ chết, nếu con phải huyên thuyên nói về người đó.
Hễ Caroline nhắc đến tên Terry là các phân tử trong tim bố lại vỡ ra và tan vào máu - bố có thể cảm nhận được lõi cảm xúc của mình đang ngày càng teo lại. Tình thế khó xử của Caroline là thế này: cô ấy có nên làm bạn gái của một tay anh chị điên rồ không? Dĩ nhiên bi kịch và sự lãng mạn của nó khiến cô ấy ửng hồng đôi má, nhưng cũng có một tiếng nói lý trí trong đầu Caroline, tiếng nói vô liêm sỉ đòi đi tìm hạnh phúc của cô ấy, và đó chính là tiếng nói đang làm cô ấy thất vọng. Nó khiến cô ấy khốn khổ. Bố lắng nghe mà không xen vào. Chẳng lâu sau bố đã hiểu được ẩn ý sau những câu nói; Caroline chẳng khó khăn gì hình dung ra viễn cảnh phiêu lưu mang phong cách Bonnie và Clyde[15], nhưng cô ấy rõ ràng không đặt nhiều hi vọng vào vận may của Terry. Nó đã ở sau song sắt rồi và đấy là nó còn chưa bị bắt. Việc này không thuận lợi cho kế hoạch của cô ấy.
“Em phải làm sao bây giờ?” cô ấy than vãn, sải bước đi đi lại lại.
Bố rơi vào thế khó xử. Bố muốn có được cô ấy. Bố muốn em trai mình được hạnh phúc. Bố muốn nó được an toàn. Bố muốn nó không vướng vào vòng tội ác và nguy hiểm. Nhưng hơn hết bố muốn có được cô ấy.
“Sao em không viết cho nó một tối hậu thư?” bố nói trong lo lắng, không thực sự biết mình đang trợ giúp vì ai. Đó là đề nghị chắn chắn đầu tiên bố đưa ra, và cô ấy vớ ngay lấy nó.
“Ý anh là sao? Bảo anh ấy chọn giữa tội ác và em ư?”
Tình yêu có sức mạnh lớn lao, bố phải thừa nhận, nhưng sự nghiện ngập cũng thế. Bố cược rằng cơn nghiện quái dị của Terry dành cho tội ác mạnh hơn tình yêu của nó dành cho cô ấy. Đó là một ván cá cược cay đắng, hoài nghi mà bố đặt ra với mình, một ván cược mà bố không có khả năng thắng.
Vì bố dành quá nhiều thời gian ở nhà của Caroline, Lionel Potts trở thành đồng minh duy nhất của gia đình bố. Trong một nỗ lực để đưa Terry ra khỏi viện, ông đã đại diện gia đình bố gọi điện thoại đến nhiều hãng luật, và khi việc đó thất bại, ông thu xếp thông qua một người quen để một bác sĩ tâm lý danh tiếng ở Sydney đến tán gẫu với Terry. Đấy là một kiểu làm việc của bác sĩ tâm lý: họ đến ăn mặc bình thường và nói chuyện như những người bạn cũ. Viên bác sĩ tâm lý này, một người đàn ông trung niên với khuôn mặt mệt lử, mềm nhẽo, thậm chí còn đích thân đến nhà để thông báo kết quả. Tất cả mọi người uống trà trong phòng khách khi ông ấy công bố tìm thấy gì từ ca của Terry.
“Terry đã tạo điều kiện dễ dàng cho tôi, dễ hơn hầu hết các bệnh nhân của tôi, không hẳn là vì tính tự giác của cậu ấy, vốn thật tình mà nói chẳng có gì đặc biệt, mà chính tính bộc trực và đầy thiện chí của cậu ấy trong việc trả lời không đắn đo hoặc vòng vo bất kì câu hỏi nào tôi đặt ra. Thực ra, cậu ấy có lẽ là bệnh nhân thẳng thắn nhất mà tôi từng gặp trong đời. Tôi muốn nói ở điểm này, quý vị đã làm được một việc vĩ đại khi dạy dỗ được một con người thực sự chân thành và cởi mở.”
“Vậy nó không bị điên?” bố dượng hỏi.
“Ồ, đừng hiểu nhầm. Cậu ấy điên quá đi chứ. Nhưng mà cởi mở!”
“Chúng tôi không phải loại người ưa bạo lực,” bố dượng nói. “Tất cả những chuyện này thật khó hiểu với chúng tôi.”
“Chẳng có cuộc đời nào là khó hiểu cả. Tin tôi đi, bên trong cái hộp sọ trông có vẻ hỗn loạn nhất vẫn có trật tự và cấu trúc mà. Hình như có hai sự kiện lớn trong đời Terry đã định hình cậu ta nhiều hơn bất kì sự kiện nào. Sự kiện đầu tiên tôi sẽ không tin nổi nếu không có lòng tin sắt đá vào sự chân thành của cậu ta.” Vị bác sĩ chồm về trước rồi nói, gần như thì thầm, “Có thực là trong bốn năm đầu đời cậu ấy đã ngủ cùng phòng với một đứa bé trai hôn mê không?”
Bố mẹ của bố giật mình nhìn nhau.
“Như thế không ổn à?” mẹ hỏi.
“Chúng tôi không còn phòng nào,” bố dượng nói, vẻ bực bội. “Thế chúng tôi phải cho Martin vào đâu bây giờ? Vào nhà kho ư?”
“Terry mô tả cảnh tượng quá sống động đến nỗi nó thực tình khiến tôi rùng mình. Tôi biết rùng mình không phải là một phản ứng chuyên nghiệp, nhưng ta cứ rùng mình như vậy. Cậu ấy nói về những con mắt đảo lùi rồi lại đảo tới và nhìn chòng chọc. Những cú sốc và co giật bất thình lình, nước mũi chảy ròng ròng...” Vị bác sĩ tâm lý quay sang bố và hỏi, “Cậu hẳn là đứa bé trai bị hôn mê phải không?”
“Là tôi đấy.”
Ông ta chỉ một ngón tay vào bố rồi nói, “Theo ý kiến chuyên môn của tôi thì cái xác chết hít thở yếu ớt này đã gây ra cho Terry Dean căn bệnh mà tôi chỉ có thể chẩn đoán là chứng sợ hãi dài hạn. Điều này, hơn bất kì điều nào khác, khiến cậu ấy rút vào thế giới tưởng tượng riêng của mình, trong đó cậu ta là người giữ vai chính. Các vị thấy đấy, có những sang chấn tâm lý làm ảnh hưởng đến con người, những sang chấn đột ngột, nhưng cũng có những sang chấn dai dẳng, kéo dài, và thông thường đó là loại bệnh âm ỉ nhất, vì những tác hại của chúng song hành với mọi thứ khác và là một bộ phận gắn liền với bệnh nhân như hàm răng của cậu ấy.”
“Còn việc thứ hai?”
“Chấn thương của cậu ấy, việc cậu ấy mất khả năng chơi thể thao. Sâu thẳm bên trong, dù còn rất nhỏ, Terry vẫn tin rằng chơi thể thao giỏi là lý do cậu ấy có mặt trên cõi đời này. Và khi bị tước đoạt điều ấy, cậy ấy biến từ một người sáng tạo thành một kẻ hủy diệt.”
Không ai lên tiếng - tất cả đều nuốt lấy từng lời.
“Tôi nghĩ thoạt đầu, khi Terry nhận ra mình không thể chơi bóng đá hoặc cricket hoặc bơi lội, cậu ấy đón nhận bạo lực như một kiểu bóp méo điều mà cậu ấy biết - thể hiện kĩ năng. Cậu ấy ra đời chẳng để làm gì khác ngoài chuyện khoe tài, thuần túy và đơn giản. Các vị thấy đấy, cái chân què quặt vô dụng của cậu ấy là một sự sỉ nhục đối với hình tượng bản thân cậu ấy, và cậu ấy không thể chấp nhận tình trạng không sức mạnh mà không khôi phục khả năng hành động. Vì thế cậu ấy đã hành động, một cách bạo lực, sự bạo lực của một người bị chối từ khả năng thể hiện,” ông bác sĩ tâm lý nói với một giọng tự hào nghe chẳng có vẻ gì thích hợp trong trường hợp này.
“Ông đang nói cái quái gì thế?” bố dượng hỏi.
“Vậy nó sẽ thôi không còn làm đứa khập khiễng nữa như thế nào?” bố hỏi.
“Ái chà, bây giờ các vị đang nói về sự siêu nghiệm.”
“Sự siêu nghiệm đó có thể được tìm thấy, ví dụ như, trong biểu hiện của tình yêu?”
“Đúng, tôi cho là thế.”
Cuộc nói chuyện này thực sự rất rối rắm đối với bố mẹ của bố, vì họ chưa bao giờ nhìn thấy bộ não của bố. Họ đã thấy vỏ bọc, nhưng không thấy món hàng bên trong. Câu trả lời cho tất cả những điều này đã rõ với bố: một ông bác sĩ không thể lay chuyển Terry, một linh mục hay giáo sĩ Do Thái hay thánh thần hay bố mẹ hay một nỗi sợ hay một hộp thư góp ý hoặc thậm chí là bố cũng không thể. Không, hi vọng duy nhất cho sự cải tạo của Terry là Caroline. Hi vọng của nó là tình yêu.
Sự vĩnh cửu
Bố không để ý đến sự xuất hiện của nó. Con không thể nhìn thấy nó từ thị trấn, do bức tường cao nghệu những hàng cây xum xuê trên đỉnh Đồi Nông Dân, nhưng vào tối thứ bảy mọi người đều đi lên lối mòn dẫn đến nó để dự lễ khánh thành. Con có thể trông thấy mọi người, tất cả đổ ra thị trấn như thể đang tham gia một cuộc diễn tập chữa cháy mà chẳng ai tin đang xảy ra. Không ai đưa ra những lời bông đùa thường ngày; có một thứ gì rất khác thường trong không khí. Tất cả đều cảm thấy nó - sự chờ mong. Một số người thậm chí còn không biết đài thiên văn trông ra làm sao, còn những người đã biết thì đương nhiên đều phấn khích. Thứ kì lạ nhất trong các thị trấn chốn rừng rú chính là món điểm tâm ở các nhà hàng Trung Hoa nhan nhản khắp nơi. Đây là một thứ khác hẳn.
Rồi bọn bố nhìn thấy nó, một mái vòm lớn.
Tất cả cây cối đã bị phát quang từ trực diện phía trước, vì đã là kính thiên văn thì chỉ một chiếc lá của một cành cây bắc ngang cũng có thể làm mờ dải thiên hà. Đài thiên văn được sơn trắng; tường lát gạch 2x4 và được che bằng mái kim loại. Chiếc kính thiên văn thì bố không biết nhiều, chỉ biết nó dày, dài, và màu trắng, có một gương hình cầu đơn giản, dựng trên một cái trụ rời để làm bệ đỡ ổn định, nhằm ngăn sự lan truyền của rung động, được thiết kế để có thể mở rộng ra, nặng hơn 113 kg, nghiêng 10 độ so với đường chân trời phía nam, không thể chĩa xuống phòng tắm nữ trong phòng tập thể dục của nhà trường, được bao bọc bằng một mái vòm sợi thủy tinh, và có trần bằng kính nhấc lên bằng bản lề. Để di chuyển kính thiên văn, nếu con muốn ngó nghiêng một góc khác của dải thiên hà hay lần theo sự dịch chuyển của các thiên thể qua bầu trời, ý tưởng gắn động cơ xoay đã bị bỏ đi, thay vào đó là “tự mà xoay xở lấy.”
Tất cả mọi người đều bước lên, từng người một, đến con mắt to đó.
Con phải leo lên nó trên một chiếc thang nhỏ. Từng người dán mắt vào lỗ kính, và khi thời gian của họ đã hết, họ bước xuống trong trạng thái bị thôi miên, như thể đã bị sự bao la của vũ trụ làm cho đần độn. Đó là một trong những đêm kì lạ nhất của bố ở thị trấn đó.
Đến lượt bố lên kính thiên văn. Nó vượt quá sự mong đợi của bố. Bố nhìn thấy hằng hà sa số ngôi sao: mờ nhạt, già cỗi và vàng vọt. Bố thấy những ngôi sao nóng sáng rực, những chùm sao trẻ màu xanh dương. Bố thấy những vệt hạt lấm tấm và bụi, những đường sẫm ngoằn ngoèo uốn lượn quanh hơi đốt lập lòe và ánh sao rải rác, gợi nhớ lại tất cả những ảo giác bố đã thấy khi còn hôn mê. Bố nghĩ: Các ngôi sao là những điểm chấm. Rồi bố nghĩ đến cảnh mỗi người cũng là một điểm chấm, nhưng buồn bã nhận ra rằng hầu hết chúng ta khó lòng thắp sáng nổi một căn phòng. Chúng ta quá nhỏ bé để làm những điểm chấm ấy.
Tuy vậy, bố vẫn trở lại kính thiên văn đêm này qua đêm khác, quen thuộc dần với bầu trời phương nam, và sau một thời gian bố hiểu rằng ngắm vũ trụ mở rộng ra cũng giống như ngắm cây cỏ lớn dần lên, vì thế bố chuyển sang ngắm người dân thị trấn. Sau khi họ bước lên lặng lẽ, dò dẫm đến những điểm xa nhất của dải thiên hà, cất lên một tiếng huýt sáo, và bước xuống, thì họ ra ngoài hút thuốc lá và nói chuyện. Có lẽ sự thiếu hiểu biết của họ về thiên văn học giúp đẩy cuộc trò chuyện sang những thứ khác; đây là một trong những lĩnh vực mà việc thiếu hụt kiến thức vặt vãnh, vô bổ - trong trường hợp này là tên của các vì sao - lại là một lợi thế lớn. Điều quan trọng không phải là các ngôi sao được gọi là gì mà chúng có ý nghĩa gì.
Người ta bắt đầu bằng những câu nói đao to búa lớn về vũ trụ, chẳng hạn như “To quá nhỉ?” Nhưng bố nghĩ họ cố tình nói ngắn gọn. Họ bị tràn ngập cảm xúc kinh ngạc và bàng hoàng, và như kẻ nằm mơ mới tỉnh dậy song vẫn còn nằm bất động trên giường cố tìm cách trở lại giấc mơ của mình, họ không muốn đột ngột làm chính mình tỉnh giấc. Nhưng rồi, từ từ, họ bắt đầu nói, và câu chuyện không chỉ về các ngôi sao hay vị trí của chúng trong vũ trụ. Bố lắng nghe đầy kinh ngạc khi họ nói những chuyện như:
“Tôi nên dành nhiều thời gian hơn với con trai mình.”
“Khi còn bé tôi cũng từng nhìn lên các vì sao.”
“Tôi không cảm thấy được người ta yêu. Tôi cảm thấy được người ta thích.”
“Tôi không biết tại sao mình không còn đi nhà thờ nữa.”
“Con tôi trở nên khác hẳn với những gì mà tôi mong đợi. Cao hơn, có thể.”
“Tôi muốn đi nghỉ với Carol, như chúng tôi từng làm khi mới kết hôn.”
“Tôi không muốn cô đơn nữa. Quần áo tôi bốc mùi hết rồi.”
“Tôi muốn đạt được một điều gì đó.”
“Tôi ngày càng lười. Tôi chẳng học được gì kể từ hồi còn ngồi trên ghế nhà trường.”
“Tôi sẽ trồng một cây chanh, không phải cho tôi mà là cho con của con tôi. Chanh chính là tương lai.”
Thật là những chuyện hay ho. Vũ trụ vô biên đã khiến họ nhìn lại chính mình, nếu không phải từ góc nhìn của sự vĩnh cửu, thì ít nhất cũng rõ ràng hơn một chút. Trong một vài phút họ bị khuấy động tâm can, và bố bỗng cảm thấy được tưởng thưởng và đền đáp cho tất cả những thiệt hại mà hộp thư góp ý của bố đã gây ra.
Nó cũng khiến bố nghĩ ngợi.
Một đêm nọ sau khi đi xuống từ đài thiên văn, bố nhận thấy mình bất động trong vườn lúc giữa đêm, miên man nghĩ về tương lai của gia đình mình, cố gắng nghĩ ra những ý tưởng để cứu tất cả họ. Thật không may, ngân hàng ý tưởng lại trống rỗng. Bố đã rút ý tưởng quá nhiều lần. Bên cạnh đó, làm sao để con cứu một người mẹ sắp chết, một ông bố nghiện rượu, và một đứa em trai điên rồ phạm pháp? Sự sốt ruột đe dọa hủy hoại lớp lót dạ dày bố và cả niệu đạo của bố nữa.
Bố khiêng một xô nước từ nhà ra rồi đổ nó vào con mương cạn ở cuối khu vườn. Bố nghĩ: mình chắc là không thể đem lại cuộc sống tốt hơn cho những người mình yêu thương, nhưng mình có thể làm ra bùn. Đất gặp nước và sánh lại vừa phải. Bố thọc chân xuống đấy. Thật lạnh và nhớp nháp. Gáy bố nhồn nhột. Bố lớn tiếng cám ơn mẹ của mình vì đã giới thiệu bố làm quen với niềm hạnh phúc của bùn. Thật hiếm khi người ta cho con lời khuyên có thật và thực tế. Thông thường họ nói những câu như “Đừng lo,” và “Mọi thứ sẽ ổn,” những câu nói không chỉ phi thực tế, mà còn chọc tức khiến con phải đợi đến khi họ bị chẩn đoán mắc bệnh giai đoạn cuối để có thể lặp lại những câu ấy với họ bằng bất kì kiểu gì.
Bố nhấn sâu hơn vào bùn, dùng hết sức lực, lên đến tận bên trên mắt cá chân. Bố muốn đi sâu hơn nữa vào bùn lạnh đặc quánh. Sâu hơn nhiều. Bố nghĩ đến việc lấy thêm nước. Thêm nhiều nước. Ngay lúc ấy bố nghe thấy tiếng bước chân chạy qua rừng cây và thấy những cành cây lay động như bị giật lại. Một khuôn mặt thò ra và nói, “Marty?”
Harry bước vào ánh trăng. Lão đang mặc bộ đồng phục nhà tù, xây xát khắp mình và chảy máu.
“Tao thoát rồi! Mày đang làm gì đấy? Làm mát chân trong bùn à? Đợi đã.” Harry bước đến và nhúng đôi chân trần của lão vào cái rãnh cạnh chân bố. “Thế tốt hơn. Ái chà chà, tao đang ở đấy. Nằm trong phòng giam, trầm ngâm nhớ về những năm tháng tươi đẹp nhất của cuộc đời đã trôi qua như thế nào và sao chúng lại không tốt đẹp đến thế. Rồi sau đó tao nghĩ đến việc tại sao tất cả những gì tao trông đợi là chết mục xương trong tù. Mày đã thấy cái nhà tù rồi đấy - nó chẳng phải là một nơi chốn gì ráo. Tao nghĩ: Nếu mình không ít nhất tìm cách trốn thoát khỏi nó, mình sẽ không bao giờ tha thứ cho bản thân. Được thôi. Nhưng làm cách nào? Trong phim, tù nhân lúc nào cũng vượt ngục bằng cách trốn vào xe chở đồ giặt ủi. Liệu nó có thành công không? Không. Mày biết tại sao không? Vì có thể ngày xưa mấy cái nhà tù gửi đồ ra ngoài để giặt ủi, còn chúng tao tự giặt giũ trong tù! Vì thế cách đó bị loại. Phương án hai, đào một đường hầm. Giờ thì, tao đã đào đủ huyệt mộ trong thời của mình để biết đó là một công việc chán ngắt và nặng nhọc, vả lại, kinh nghiệm của tao toàn là đào xuống một mét tám đầu tiên, đủ để giấu một cái xác. Ai mà biết còn gì nằm sâu hơn bên dưới? Dung nham nóng chảy à? Hay là một vỉa quặng sắt không phá vỡ được?”
Harry nhìn xuống chân mình. “Tao nghĩ bùn đang cứng lại. Giúp tao ra khỏi đây nào,” lão nói, nắm lấy cánh tay bố như thể nó là hàng để bán. Bố giúp lão ra và lão ngã nhào xuống một đụn cỏ.
“Lấy cho tao cái gì để mặc, và một lon bia nếu mày có. Nhanh lên,” lão nói.
Bố đi vào trong và lẻn vào tủ quần áo của bố dượng; ông ấy đang nằm ngủ úp mặt xuống giường, kiểu ngủ say khướt với tiếng ngáy long trời lở đất khiến bố suýt dừng lại để kiểm tra mũi ông xem đó có phải là máy khuếch đại và dây dẫn hay không. Bố chọn ra một bộ đồ cũ, rồi đến tủ lạnh lấy bia. Khi bố quay lại, Harry lại đang nhúng chân vào bùn sâu đến mắt cá.
“Việc đầu tiên tao làm là giả ốm: những cơn đau dạ dày như dao đâm. Tao còn dùng được kế nào khác cơ chứ? Đau lưng? Nhiễm trùng tai giữa? Liệu tao có nên than phiền rằng mình thấy một giọt máu trong nước tiểu của mình? Không, họ cần phải nghĩ đó là một căn bệnh nguy hiểm đến tính mạng. Vậy là tao làm thế và được chuyển đến bệnh xá, lúc ba giờ sáng, khi chỉ có một tay lính gác. Trong bệnh xá, tao tăng gấp đôi cơn đau giả vờ. Vào khoảng năm giờ tay lính gác bỏ đi tiểu. Ngay lập tức tao nhảy ra khỏi giường và phá ổ khóa tủ thuốc rồi ăn cắp mọi loại thuốc an thần bằng chất lỏng mà tao có thể. Tao đâm vào tên lính gác khi hắn quay lại và rảo một vòng tìm tên lính kia để giúp đưa tao ra khỏi đó. Tao biết tao sẽ không bao giờ thoát được nếu không có sự giúp đỡ của một tên lính canh, nhưng lũ khốn này là đồ chẳng thể mua chuộc, đa phần là vậy. Không phải chúng không hủ hóa, chúng chỉ không thích tao. Nhưng vài tuần trước, tao cầu viện toàn thể đám chiến hữu thân cận của mình và được một thằng bạn nối khố cung cấp thông tin về gia đình một tay lính gác nọ. Tao chọn một trong những đứa mới nhất - Kevin Hastings là tên nó, nó mới về gác chúng tao được hai tháng, vì thế nó là đứa ít có khả năng biết đầu cua tai nheo ra sao. Thật nực cười lũ khốn này lại nghĩ chúng là những kẻ ẩn danh trong tù. Mày có thể thực sự khiến chúng phát cáu khi kể cho chúng làm sao mày biết chính xác tư thế nào chúng làm với vợ, trong thời gian bao lâu, vân vân. Dù sao thì, Hastings quả là một đứa hoàn hảo. Hắn có một đứa con gái. Lẽ ra tao đã không làm gì, nhưng tao phải dọa cho thằng đó sợ vãi mật. Và ngay cả khi nó không cắn câu, tao có mất gì đâu? Liệu chúng có bận tâm cho tao một án chung thân khác? Tao đã có sáu án rồi!” Harry dừng lại ở đây một chốc, hồi tưởng, rồi nói khẽ, “Tao sẽ nói với mày điều này, Marty à, tự do nằm trong sự vĩnh viễn đấy.”
Bố gật đầu. Nghe có vẻ đúng.
“Thôi kể tiếp nào, vậy là tao đi thẳng đến chỗ Hastings rồi thì thầm vào tai nó, ‘Đưa tao ra khỏi đây ngay nếu không cô con gái Rachel bé bỏng của mày sẽ tận hưởng sự khoái lạc của một thằng đàn ông rất bệnh hoạn mà tao biết.’ Khuôn mặt nó trắng bệch và nó tuồn chìa khóa cho tao, cho tao nện nó một cú để nó không bị nghi ngờ, và mọi chuyện chỉ có thế. Tao không thấy tự hào về bản thân, nhưng đó chỉ là một lời đe dọa thôi. Khi tao đã trốn xa yên ổn rồi, tao sẽ gọi điện cho nó và trấn an nó rằng con gái nó an toàn.”
Bố nói, “Tốt đấy.”
“Vậy mày tính làm gì tiếp theo, Marty? Tao nghĩ mày hẳn không muốn đi với tao đâu nhỉ? Làm một kẻ tòng phạm. Mày thấy sao?”
Bố kể cho Harry nghe về mối ràng buộc của bố với mẹ mình khiến bố không thể rời khỏi thị trấn vào lúc này.
“Đợi đã, loại ràng buộc gì?”
“Ừm, giống như một lời tuyên thệ ấy mà.”
“Mày tuyên thệ với mẹ mày?”
“Thì sao, có gì lạ đâu?” bố hỏi, bực bội. Có gì mà ầm ĩ chứ? Đâu phải bố vừa tự thú đã ngủ với mẹ của mình, bố chỉ đơn thuần cam kết bổn phận của mình là sẽ không từ bỏ bà.
Harry không nói gì. Miệng lão hé mở và bố có thể cảm nhận thấy đôi mắt lão đang đào hầm sâu vào trong hộp sọ của bố. Lão vỗ tay lên vai bố. “Chà chà, tao không thể thuyết phục mày từ bỏ lời thề được, phải không?”
Bố đồng ý là lão ta không thể làm thế.
“Vậy thì, chúc may mắn, ông cụ non ạ,” lão nói trước khi quay người biến mất vào khu rừng tối. “Hẹn gặp mày lần sau,” giọng nói của lão vọng lại. Lão bỏ đi mà không thèm hỏi han gì đến Terry.
***
Một tuần sau mẹ bước vào phòng bố với một tin chấn động. “Em con sẽ về nhà hôm nay. Bố con đã đi đón nó,” bà nói, như thể nó là một kiện hàng được chờ đợi đã lâu. Terry đã trở thành một dạng nhân vật hư cấu đối với gia đình bố trong năm mà nó ra đi, và ông bác sĩ, với việc giảm thiểu nó thành một danh mục liệt kê những triệu chứng tâm lý, đã cướp đi cá tính của em trai bố. Đúng là sự phức tạp trong chứng rối loạn tâm thần của nó đã gây ấn tượng mạnh lên gia đình bố - Terry là một thiệt hại phụ trong cuộc chiến giữa những bản ngã sâu xa hơn của nó - nhưng việc đó đặt ra một câu hỏi làm gia đình bố đau hết cả đầu: Terry nào sẽ về nhà? Em trai bố, con trai của mẹ bố, hay là kẻ hủy diệt bất lực đang tuyệt vọng chờ đợi sự siêu nghiệm cho chính bản thân nó?
Cả nhà đều đứng ngồi không yên.
Bố không hề lường trước cảnh tượng nó bước qua cửa sau - trông nó quá vui vẻ đến nỗi con sẽ tưởng nó vừa đến Fiji nhâm nhi margarita đựng trong quả dừa. Nó ngồi ở bàn ăn và nói, “Vậy mọi người đã chuẩn bị tiệc tùng kiểu gì để chào đón đứa con thiên tài này nào? Một cái đùi bê béo trùng trục chăng?” Mẹ của bố xúc động tột độ đến mức bật khóc, “Đùi bê béo trùng trục ư? Mẹ biết lấy nó ở đâu ra?” và Terry nhảy xuống bàn rồi ôm chầm lấy bà và xoay bà vòng vòng khiến bà suýt hét lên vì sợ, bà đã quá ư khiếp đảm trước chính đứa con đẻ của mình.
Sau bữa trưa, Terry và bố đi bộ trên con đường hẹp đầy bụi bẩn dẫn vào thị trấn. Mặt trời dội lửa xuống đất. Toàn thể ruồi nhặng trong vùng bay ra chào đón Terry. Nó phủi tay hất chúng rồi nói, “Không làm được thế này lúc bị trói vào giường.” Bố liên tưởng câu chuyện vượt ngục xảo quyệt của Harry và diện mạo của lão đêm hôm ấy trong bùn.
“À mà anh có hay gặp Caroline không?” nó hỏi.
“Thỉnh thoảng.”
“Cô ấy sao rồi?”
“Ta đi gặp cô ấy nào.”
“Đợi đã. Trông em thế nào?”
Bố nhìn Terry một lượt rồi gật đầu. Như thường lệ, trông nó vẫn ổn. Không, hơn cả ổn. Terry đã ra dáng đàn ông, còn bố, về tuổi thì đàn ông hơn nó, nhưng lại trông giống như một đứa bé trai bị bệnh lão hóa hơn. Bọn bố lặng lẽ tiến về thị trấn. Biết nói gì với một người vừa mới trở về từ địa ngục? Chẳng nhẽ hỏi “Ở đấy có đủ nóng với em không?” Bố nghĩ cuối cùng bố bật ra một câu gì đấy đại loại như “Em có khỏe không?” nhấn mạnh ở chữ có, và nó lầm bầm rằng “Lũ chó tạp chủng không thể đánh bại em.” Bố biết nó đã chịu đựng một điều mà nó sẽ không thể nào diễn tả được.
Bọn bố đến thị trấn và Terry dành cho mọi người trên đường một cái nhìn thách thức. Trong ánh nhìn hằn lên nỗi cay đắng và lòng căm phẫn. Rõ ràng việc “điều trị” của bệnh viện đã chẳng làm nguôi ngoai nỗi oán hận của nó. Nó nuôi lòng căm phẫn với tất cả mọi người. Terry đã chọn cách không trách móc bố mẹ về bản án dành cho nó mà thay vào đó cố định lòng căm hờn lên tất cả những ai làm theo lời đề nghị từ hộp thư góp ý.
Trừ một người. Lionel Potts vồn vã chạy đến, vẫy tay nồng nhiệt. “Terry! Terry!” Ông ấy là người duy nhất trong thị trấn vui mừng khi gặp em trai bố. Thật nhẹ nhõm khi cảm nhận được sức mạnh từ sự phấn khích trẻ con của Lionel. Ông là dạng người mà con nói chuyện về thời tiết rồi đường ai nấy đi với nụ cười vẫn nở trên mặt. “Các chàng trai nhà họ Dean, lại cùng đi với nhau! Cậu khỏe không, Terry? Tạ ơn Chúa cậu đã thoát khỏi cái đáy địa ngục đó. Đúng là một nơi khốn kiếp hả? Cậu có cho cô y tá tóc vàng ấy số điện thoại của tôi không?”
“Xin lỗi ông bác,” Terry nói. “Bác phải tự nộp mình nếu muốn làm việc ấy.”
Hóa ra Lionel đã đến thăm Terry.
“Có thể tôi sẽ làm thế, Terry ạ. Trông cô nàng xứng đáng mà. À này, Caroline đang ở trong quán cà phê hút thuốc đấy. Nó giả vờ giấu tôi còn tôi giả vờ như mình bị mắc lừa. Cậu gặp nó chưa?”
“Bọn cháu đang trên đường đi đây,” Terry đáp.
“Tuyệt vời! Đợi chút!” Lionel móc ra một bao thuốc lá. “Lửa đây này. Thử xem cậu có kéo một hơi hết điếu Malboro thắng con bé không? Nếu cậu không phiền, thông đồng một tí nhé.”
“Không hề. Lưng của bác sao rồi?”
“Bố khỉ! Hai vai tôi nặng như chì ấy. Một người xoa bóp trong thị trấn, có thể là một đề nghị hữu hiệu đấy,” Lionel vừa nói vừa dùng hai tay tự xoa bóp đôi vai mình.
Terry và bố đến bên ngoài quán cà phê. Quán đóng cửa. Bây giờ lúc nào nó cũng đóng; cuộc tẩy chay cuối cùng đã giành phần thắng. Caroline đang nấp bên trong; quán cà phê này là nơi ẩn náu riêng tư của cô ấy cho đến chừng nào ông bố bán được nó. Bọn bố thấy cô ấy qua cửa sổ: cô ấy đang nằm trên quầy bar hút thuốc, cố nhả ra những vòng khói hoàn hảo. Thật đáng ngưỡng mộ. Những vòng khói tỏa ra thành hình bán nguyệt xoay tít. Bố gõ lên kính rồi rướn người để quàng tay lên vai Terry, thể hiện sự ủng hộ anh em, nhưng tay bố chẳng chạm đến gì ngoài không khí. Bố quay lại thì thấy lưng Terry đang di chuyển rất nhanh xa khỏi bố, và đến khi Caroline mở cửa bước ra đường, Terry đã mất dạng.
“Chuyện gì thế?” cô ấy hỏi.
“Không có gì.”
“Anh muốn vào không? Em đang hút thuốc.”
“Có lẽ để sau đi.”
Khi bố bỏ đi, bố để ý thấy một mùi rất tởm lợm trong không khí, như mùi chim chết rữa ra dưới ánh mặt trời.
Bố tìm thấy Terry dưới một gốc cây, tay cầm một xấp thư. Bố ngồi xuống cạnh nó và không nói năng gì. Nó nhìn xuống những lá thư.
“Của cô ấy gửi đấy,” nó nói.
Ra là vậy, thư của Caroline! Thư tình, chắc chắn rồi.
Bố duỗi chân nằm ườn trên cỏ và nhắm mắt lại. Trời đứng gió, và gần như tịnh không tiếng động. Bố có cảm tưởng như đang ở bên trong một hầm ngầm của ngân hàng.
“Anh xem được không?” bố hỏi.
Một chút dâm tính trong người bố thèm thuồng được đặt tay lên những lá thư bốc mùi đó. Bố điên cuồng muốn biết cô ấy thể hiện tình cảm của mình thế nào, ngay cả khi nó không phải dành cho bố.
“Chúng là thư riêng mà.”
Bố có thể cảm nhận thứ gì đấy đang bò trên cổ mình, có thể là một con kiến, nhưng bố không nhúc nhích - bố không muốn cho nó một chiến thắng tinh thần.
“Vậy thì, em tóm tắt được không?”
“Cô ấy nói chỉ có thể ở bên em nếu em từ bỏ tội ác.”
“Vậy em có làm không?”
“Ừ, em nghĩ là vậy.”
Bố cảm thấy mình như bị teo lại một chút. Dĩ nhiên bố thấy hài lòng rằng Terry sẽ được người con gái mà nó yêu cứu vớt, nhưng bố không thể vui sướng nổi. Thành công của người anh em này là thất bại của người anh em kia. Mẹ kiếp. Bố không nghĩ rằng nó lại có suy nghĩ đó.
“Chỉ có điều, vấn đề là...” nó nói.
Bố ngồi dậy nhìn nó. Đôi mắt nó trĩu nặng. Có lẽ cuối cùng bệnh viện cũng đã thay đổi nó. Chính xác là bố không biết bằng cách nào; có lẽ bên trong nó một thứ chất lỏng nào đó đã đông đặc lại, hoặc một thứ chất rắn nào đó đã tan chảy ra. Terry nhìn ra theo hướng trung tâm thị trấn. “Có một việc em cần làm trước đã,” nó nói. “Chỉ một việc phi pháp nho nhỏ.”
Một việc. Họ luôn nói thế. Chỉ một và rồi nó sẽ làm đến việc tiếp theo, và khi chưa kịp nhận ra thì nó đã như một quả bóng tuyết lăn xuống đồi, dính thêm tuyết màu vàng.
“Ừm, em cứ làm bất cứ việc gì em thích,” bố nói, không hẳn động viên nó, song cũng không khuyến khích nó.
“Có lẽ em không nên làm việc đó,” Terry nói.
“Có lẽ.”
“Nhưng em thực sự rất muốn.”
“Chà,” bố nói, thận trọng lựa chọn ngôn từ, “Đôi khi người ta cần làm những việc, em biết đấy, để loại những việc họ cần làm ra khỏi hệ thống của mình.”
Bố đang nói gì? Tuyệt đối chẳng có gì. Đơn giản là không thể đề xuất với Terry một kế hoạch hành động; đây là lời bào chữa của bố cho việc làm trái lương tâm mà kẻ làm anh như bố đang tiến hành.
“Ừ,” nó đáp, chìm đắm trong suy tư, và bố đứng đó như bảng hiệu dừng lại, dù bố đang nói, Đi!
Terry đứng dậy, phủi cỏ vương trên quần jeans. “Chốc nữa em sẽ gặp lại anh,” nó nói, rồi đi bộ chậm rãi về phía ngược hướng quán cà phê của Caroline. Nó thực tình đang do dự, bố nghĩ nó muốn bố cản nó lại. Bố đã không làm thế.
Sự phản bội đội dưới nhiều lốt mũ khác nhau. Con không cần đóng kịch như Brutus[16] đã làm, con không phải để lại cái gì đó nhìn thấy được lòi ra từ xương cụt người bạn thân nhất của con, và sau tất cả, con có thể đứng đấy dỏng tai nghe ngóng hàng giờ liền mà không nghe thấy một tiếng gà gáy nào. Không, những sự phản bội gian xảo nhất được thực hiện thuần túy bằng cách để chiếc áo phao treo trong tủ quần áo của con khi con nói dối với mình rằng có thể nó không vừa kích cỡ của người đang chìm. Đó là cách chúng ta trượt dài, và trong lúc trượt chúng ta đổ lỗi cho các vấn đề của thế giới về chủ nghĩa thực dân, chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa tư bản, chủ nghĩa tập đoàn, người da trắng ngu ngốc, và nước Mỹ, nhưng không cần phải nêu ra một cái tên để đổ lỗi. Lợi ích cá nhân: đó là cội nguồn cho sự xuống dốc của chúng ta, và nó không khởi nguồn từ những phòng họp hoặc những gian phòng chiến tranh. Nó bắt đầu từ chính trong nhà.
Vài giờ sau, bố nghe tiếng nổ. Ngoài cửa sổ bố trông thấy những cột khói dày cuộn lên màn đêm rời rợi ánh trăng. Dạ dày bố thắt lại khi bố chạy vào thị trấn. Bố không phải kẻ duy nhất. Toàn thể dân chúng đã có mặt trên con đường chính bên ngoài tòa thị chính. Tất cả đều lộ vẻ khiếp đảm, biểu hiện được ưa thích của một đám đông khán giả tập hợp lại để chứng kiến thảm kịch. Chiếc hộp góp ý độc hại của bố đã biến mất. Những mảnh vỡ của nó văng tung tóe khắp đường.
Một chiếc xe cấp cứu trờ đến, tuy nhiên không phải vì chiếc hộp vỡ. Một người đàn ông được đặt lên cáng nằm trên vỉa hè, khuôn mặt phủ mảnh vải trắng đẫm máu. Thoạt đầu bố tưởng ông ấy đã chết, nhưng ông ấy kéo tấm vải ra để lộ khuôn mặt đầy máu và những vết cháy vì thuốc súng. Không, ông ta chưa chết. Ông ta bị mù. Ông ta đang đến gần chiếc hộp để gửi thư góp ý thì vật ấy phát nổ vào mặt ông.
“Tôi không nhìn thấy gì! Tôi không thấy cái quái gì hết!” ông ta la toáng lên, hoảng loạn.
Đó là Lionel Potts.
Có hơn năm mươi người đàn ông và phụ nữ tại hiện trường, và trong mắt họ là một cảm giác giống như sự rùng mình, như thể họ đến để nhảy múa trên đường phố trong một đêm liên hoan. Qua đám đông bố thấy Terry ngồi trong máng xối, đầu kẹp giữa hai chân. Nỗi kinh hoàng từ hành động phá hoại tính toán sai giờ của nó thật quá sức chịu đựng đối với nó. Lionel từng là ánh sáng rực rỡ trong một thế giới đầy rẫy những kẻ lu mờ, vậy mà Terry đã cướp đi đôi mắt của ông ấy. Thật kì lạ khi chứng kiến những mảnh vỡ của chiếc hộp thư góp ý của bố vương vãi trên đường, và hình ảnh em trai bố ngồi sụp xuống trong máng xối, Lionel nằm thẳng cẳng trên đường, còn Caroline thì cúi xuống nhìn ông; với bố hình như tất cả những người thân yêu của mình cũng đã bùng nổ. Khói vẫn bốc lên trong không khí, cuộn lại trong ánh sáng xanh, tỏa ra mùi rất giống đêm pháo hoa.
Chỉ năm ngày sau gia đình bố đã khoác lên mình bộ trang phục ngày chủ nhật chỉnh tề nhất.
Phòng xử án vị thành niên cũng giống như những phòng xử án thông thường. Chính quyền truy tố Terry một loạt tội danh như một bà nhà giàu thử các bộ cánh lên người thằng đĩ đực của mình: cố ý giết người, cố ý ngộ sát, gây thương tích nghiêm trọng - các công tố viên không thể quyết định được. Họ lẽ ra cũng nên bắt cả bố. Bố không biết việc xúi giục một tội ác vì tình yêu có phải là hành động vi phạm bị pháp luật trừng trị hay không, nhưng nó nên bị như thế.
Cuối cùng, Terry bị kết án ba năm trong trại giam vị thành niên. Khi họ đưa nó đi, nó nháy mắt với bố. Rồi nó biến mất, chỉ như thế. Những người còn lại trong nhà đứng ôm nhau trong phòng xử án, hoang mang tột độ. Bố nói với con, bánh xe công lý có thể quay chậm, nhưng khi chính quyền muốn con biến khỏi đường phố, thì chiếc bánh xe làm nhiệm vụ đưa con đi sẽ xoay tít như sao chổi.
Dân chủ
Sau khi Lionel bị mù, bố phát hiện ra mình bị ám ảnh với những câu hỏi, và sau khi Terry bị tống giam, bố cảm thấy những câu hỏi ấy đè nặng xuống bố từ mọi hướng. Bố phải làm một điều gì đó. Nhưng gì mới được? Bố phải là một ai đó. Nhưng ai mới được? Bố không muốn bắt chước sự ngu dốt của những người xung quanh mình. Nhưng bố nên bắt chước sự ngu dốt của ai đây? Và tại sao bố cảm thấy phát ốm về đêm? Có phải bố bứt rứt không? Có phải nỗi sợ làm bố bứt rứt không? Làm sao bố suy nghĩ thông suốt nếu bố bứt rứt? Và làm sao bố hiểu bất cứ thứ gì nếu bố không thể suy nghĩ thông suốt? Và bố sẽ sống ra sao trên đời này nếu bố không thể hiểu bất cứ thứ gì?
Bố đến trường trong tình trạng bủa vây này, nhưng bố không thể đi qua cổng trường. Trong suốt một giờ liền bố dán mắt vào những tòa nhà bằng gạch xấu xí, những đứa học trò đần độn, những cái cây trong sân trường, những chiếc quần polyester màu nâu của các giáo viên tạo ra âm thanh sột soạt trên những cặp đùi béo núc ních của họ khi họ rảo bước qua các lớp học, và bố nghĩ: nếu mình học hành chăm chỉ, mình sẽ thi đỗ các kì thi, nhưng vậy thì sao? Mình sẽ làm gì giữa thời điểm ấy với thời điểm mình chết đi?
Khi bố về nhà, cả bố lẫn mẹ của bố đều hình như không quan tâm lắm đến việc bố bỏ học. Bố dượng đang đọc tờ báo địa phương. Mẹ của bố đang viết thư cho Terry, một lá thư dài, bốn mươi trang hoặc hơn. Bố đã lén đọc nhưng không thể đọc hơn đoạn thư đầu tiên khó chịu, trong đó bà viết: “Mẹ yêu con mẹ yêu con con trai yêu quý của mẹ cuộc đời mẹ tình yêu của mẹ con đã làm gì hở tình yêu của mẹ đứa con trai đáng yêu của mẹ?”
“Bố mẹ không nghe thấy con nói à? Con nói con bỏ học rồi,” bố lặp lại bằng một giọng thì thầm đầy tổn thương.
Họ không phản ứng. Điều hiển nhiên còn thiếu trong sự im lặng chính là câu hỏi, Con sẽ làm gì bây giờ? “Con sẽ gia nhập quân đội!” bố hét lên một cách lố bịch, để gây hiệu ứng.
Nó có tác dụng, dù theo kiểu một viên pháo hoa kêu xì xì và xẹt cháy trên mặt đất, rồi đột ngột tắt ngóm. Bố dượng thực ra đã nói, “Ha!” còn mẹ của bố hơi ngoảnh đầu về phía bố và nói bằng giọng nghiêm khắc, nhỏ nhẹ, “Đừng.” Và chỉ có vậy.
Hồi tưởng lại, bố thấy mình đã tuyệt vọng cần được chú ý thế nào sau khi cả đời làm những dòng chữ nhỏ cạnh những tiêu đề hoành tráng của em trai mình. Bố không thể nghĩ ra lý do nào khác cho quyết định lì lợm, dữ dội và tự hại mình của bố để thực hiện tiếp lời đe dọa ấy. Hai ngày sau, trong Phòng đăng kí nhập ngũ Úc, bố thấy mình đáp lại những câu hỏi ngu ngốc bằng những câu trả lời ngốc ngu. “Nói cho ta biết nào, con trai, cậu nghĩ điều gì làm nên tính chất quân đội tốt?” viên sĩ quan tuyển dụng hỏi. “Bông nhẹ?” bố đáp, và sau khi không cười trong mười giây liền, ông ta miễn cưỡng đưa bố xuống gặp bác sĩ. Thật không may, đó là đoạn kết cho cuộc phiêu lưu của bố. Bố đã dễ dàng trượt cuộc sát hạch sức khỏe bắt buộc. Ông bác sĩ dò xét bố với một ánh nhìn kinh ngạc trên gương mặt rồi kết luận rằng ngoài thời chiến ra ông ta chưa bao giờ trông thấy một cơ thể nào dị dạng như cơ thể bố.
Dù gì đi nữa, bố đau khổ nhận lấy sự từ chối và chìm vào cơn trầm cảm nặng. Những gì xảy ra tiếp theo là một khoảng thời gian bị đánh mất: ba năm, trong suốt thời gian đó bố cảm thấy mình quay cuồng với những câu hỏi đã xoay như chong chóng trong đầu bố, dù bố không thể nào tìm thấy những câu trả lời mình cần. Trong khi tìm kiếm, bố đi dạo. Bố đọc sách. Bố dạy cho mình nghệ thuật vừa đi vừa đọc. Bố nằm dưới những cái cây nhìn mây bò ngang bầu trời qua một lớp mạng lá cây. Bố trải qua nhiều tháng nghĩ ngợi. Bố phát hiện ra nhiều hơn về những đặc tính của nỗi cô đơn, cảm giác thế nào khi bóp chầm chậm tinh hoàn bằng bàn tay vừa mới cho vào tủ lạnh. Nếu bố không thể tìm ra cách để tồn tại một cách đích thực trên thế gian này, thì bố sẽ tìm ra cách siêu phàm để trốn tránh, và theo hướng đó bố thử nhiều loại mặt nạ khác nhau: rụt rè, duyên dáng, trầm ngâm, sôi nổi, vui vẻ, yếu đuối - đấy là những loại mặt nạ đơn giản mang một đặc tính xác định. Những lúc khác bố thử đeo những loại mặt nạ phức tạp hơn, ủ rũ và sôi nổi, dễ tổn thương nhưng hớn hở, kiêu hãnh mà ủ ê. Những cái này cuối cùng bố đã bỏ hết vì chúng đòi hỏi quá nhiều công bảo dưỡng. Hãy lấy bố làm gương: những cái mặt nạ phức tạp ăn sống con trong quá trình bảo dưỡng.
Nhiều tháng trôi qua trĩu nặng, biến thành nhiều năm. Bố đi lang thang lững thững, phát rồ với sự vô dụng của cuộc đời mình. Không có thu nhập, bố sống đời hèn hạ. Bố nhặt những đầu thuốc lá hút dở trong gạt tàn thuốc ở các quán rượu. Bố để các ngón tay mình trở nên vàng xỉn. Bố nhìn đờ đẫn vào những người trong thị trấn. Bố ngủ đầu đường xó chợ. Bố ngủ dưới mưa. Bố ngủ trong phòng mình. Bố học những bài học giá trị về cuộc sống, chẳng hạn như một người đang ngồi thì có khả năng cho con một điếu thuốc cao gấp tám lần một người đang đi và gấp hai mươi tám lần một người ngồi trong xe hơi giữa đám kẹt xe. Không tiệc tùng, không lời mời, không giao tiếp. Bố học được rằng tách rời ra thật là dễ. Rút lui? Dễ ợt. Lẩn trốn? Tan biến? Moi móc? Đơn giản. Khi con rút lui khỏi cuộc sống, cuộc sống cũng rút lui, theo kiểu tương đồng. Đó là kiểu bước song hành, con và cuộc sống. Bố không kiếm chuyện, và bị suy sụp khi chẳng có chuyện nào tìm bố. Với bố, không làm gì cả cũng đầy biến động như làm việc trên Sàn giao dịch chứng khoán New York vào buổi sáng ngày thị trường sụp đổ. Bố đã được tạo thành như thế đấy. Chẳng có gì xảy ra với bố và điều đó rất, rất gây căng thẳng.
Người dân thị trấn bắt đầu xem bố như một cái gì đấy gần giống với sự ghê rợn. Bố sẽ thừa nhận, bố đã tạo ra một nhân vật kì lạ trong những ngày ấy: nhợt nhạt, xồm xoàm, gầy giơ xương. Vào một đêm mùa đông bố hay tin mình đã được công nhận không chính thức là thằng điên vô gia cư đầu tiên của thị trấn, dù thực sự bố vẫn có một gia đình.
Vậy mà câu hỏi vẫn dai dẳng ở đó, và mỗi tháng nhu cầu phải có câu trả lời càng lớn tiếng và kiên quyết hơn. Bố trải qua một đợt ngắm sao nội tâm không bị quấy rầy, nơi những ngôi sao là những suy nghĩ, động lực, và hành động của riêng bố. Bố đi lang thang trong bụi bặm đất cát, nhồi nhét vào đầu văn chương và triết học. Dấu hiệu khuây khỏa thực sự đầu tiên đến từ Harry, người đầu tiên giới thiệu bố với Nietzche khi bố còn gặp lão trong tù. “Friedrich Nietzche, Martin Dean,” lão nói, làm cử chỉ giới thiệu trong lúc ném một quyển sách. “Người ta lúc nào cũng nổi giận với bất kì kẻ nào chọn lựa các tiêu chuẩn cá nhân cho cuộc đời mình; vì sự đối xử khác thường mà kẻ đó dành cho bản thân, họ cảm thấy mình trở nên thấp kém, như những người bình thường,” lão nói, trích lời thần tượng của mình.
Kể từ dạo đó bố đã đọc ngấu nghiến những quyển sách triết học mượn ở thư viện, và có vẻ như phần lớn triết học chủ yếu là tranh luận về những sự việc mà con không thể biết. Bố nghĩ: Tại sao phải lãng phí thời gian cho những vấn đề không thể giải quyết? Chuyện linh hồn được tạo thành từ những nguyên tử linh hồn tròn, mịn hay từ mảnh ghép Lego thì có nghĩa lý gì, đó là chuyện không thể biết được, vậy thì cứ bỏ mặc nó đi. Bố cũng nhận thấy rằng, là thiên tài hay không, đa số các triết gia đều đánh giá thấp triết lý của mình, từ Plato trở đi, bởi vì hầu như không ai có vẻ sẵn sàng bắt đầu từ đầu hoặc cam chịu sự không chắc chắn. Con có thể đọc thấy những định kiến, những mối tư lợi, và những tham vọng của từng người một. Và Thượng đế! Thượng đế! Thượng đế! Những trí tuệ thông minh nhất nghĩ ra toàn bộ những giả thuyết phức tạp này và rồi họ nói, “Nhưng hãy cứ giả định rằng có một Thượng đế và hãy giả định rằng ông ấy tài giỏi.” Tại sao phải giả định bất kì điều gì? Với bố, rõ ràng là con người đã tạo ra Thượng đế bằng hình ảnh của chính mình. Con người không có trí tưởng tượng để nghĩ ra một Thượng đế hoàn toàn không giống mình, vì thế mà trong các bức tranh vẽ thời Phục hưng, Thượng đế trông như phiên bản mảnh mai của Ông già Noel. Hume nói rằng con người chỉ biết cắt dán, chứ không biết phát minh. Chẳng hạn như các thiên thần là con người có cánh. Tương tự, Người-chân-to là con người với bàn chân to. Đây là lý do vì sao bố nhìn thấy được trong hầu hết các hệ tư tưởng “khách quan” những lo sợ, động cơ, định kiến, và khát vọng của con người, viết đầy lên trên đó.
Điều có ích duy nhất mà bố đã làm là đọc sách cho Lionel, đôi mắt hỏng của ông ấy đã không thể cứu chữa, và vào một buổi chiều mưa bố suýt đánh mất trinh tiết của mình với Caroline, một sự cố dẫn đến việc cô ấy rời khỏi thị trấn vào giữa đêm hôm ấy. Chuyện xảy ra như thế này:
Bọn bố đang cố cùng nhau đọc một quyển sách cho bố cô ấy, nhưng ông cứ xen ngang để thuyết phục mình rằng cuộc sống ông đã thay đổi theo chiều hướng tốt hơn. Lionel đang làm hết sức mình để vượt qua sự mù lòa. “Những khuôn mặt phán xét! Những đôi mắt ban ơn mà ta cảm nhận thấy trên mình kể từ ngày ta dọn đến thị trấn thối nát này! Ta sẽ không bao giờ phải nhìn chúng nữa! Tạ ơn Chúa - ta phát ốm khi nhìn thấy bọn chúng!” Lionel cuối cùng đã xả bỏ được ác cảm cố hữu của người khác dành cho ông như thể cá tính ông là phần nối dài thêm trong bản cân đối ngân hàng của ông vậy. Họ không muốn biết ông hoặc chuyện của ông. Họ chẳng quan tâm rằng hai năm trước ngày dọn đến thị trấn, mẹ của Caroline được phát hiện đang mang một rổ khối u không thể phẫu thuật đang lớn lên như những quả mận trong người bà. Họ không quan tâm rằng bà là một người phụ nữ có phần lạnh lùng, dễ kích động, và quá trình chết đi không biến bà thành người dễ thương hơn. Họ không tin một người có quá nhiều tiền lại sở hữu những phẩm chất con người đáng để được thông cảm. Ông ấy đối mặt với thứ ác cảm thối tha nhất trong sự tồn tại của loài người: những kẻ ghét nhà giàu. Ít nhất ông cũng là một kẻ phân biệt đối xử, chẳng hạn như, ông ghét người da đen - ít ra ông không che giấu niềm khát khao bí mật muốn trở thành người da đen. Ác cảm của ông, tuy xấu xí và ngu ngốc, nhưng chí ít cũng thấu đáo và chân thành. Lòng căm ghét sự giàu có, từ những kẻ sẵn sàng nhảy vào để hoán ngôi, là một ví dụ thực tế trong sách giáo khoa về tính đố kị.
“Ê - ta cũng sẽ không phải nhìn thấy một khuôn mặt thất vọng nào nữa! Bây giờ khi ta làm ai thất vọng, nếu họ không nói “Aaaaa,” ta sẽ không bao giờ nặng lòng với chuyện đó! Mẹ kiếp mấy đôi mắt thất vọng! Ta đã thoát rồi!”
Cuối cùng ông tự ru mình vào giấc ngủ trong lúc nói. Khi Lionel ngáy như thể toàn thân là chiếc mũi, bọn bố lặng lẽ mò vào phòng của Caroline. Cô ấy đã quyết định sẽ quên hết về Terry, nhưng cô ấy nói quá nhiều về việc quên nó đi, đến nỗi đó là thứ duy nhất trong đầu cô ấy. Cô ấy cứ lải nhải suốt, và tuy rất yêu cái giọng mềm mại của cô ấy, bố phải tắt nó đi. Bố châm một điếu thuốc đã hút một nửa mà bố tìm thấy trong một vũng nước và hong khô. Khi bố ngậm điếu thuốc, bố cảm thấy đôi mắt cô ấy đang nhìn bố, và khi bố ngước lên, bố thấy môi dưới của cô hơi cong lại, như một chiếc lá bị một giọt mưa chạm phải.
Đột nhiên cô ấy hạ giọng. “Chuyện gì sẽ xảy ra với anh, Martin?”
“Với anh? Anh không biết. Không phải chuyện xấu, anh hi vọng thế.”
“Tương lai anh!” cô ấy hổn hển. “Em không chịu nổi khi nghĩ đến nó!”
“Vậy thì đừng nghĩ.”
Cô ấy chạy đến ôm bố. Rồi cô ấy bỏ ra và bọn bố nhìn vào mắt nhau và thở vào mũi nhau. Rồi cô ấy hôn bố với đôi mắt nhắm nghiền - bố biết vì mắt bố đang mở thao láo. Rồi cô ấy cũng mở mắt, vì thế bố vội nhắm tịt mắt. Toàn bộ sự việc thật không thể tin nổi! Tay bố lần mò tìm ngực cô ấy, một việc mà bố muốn làm ngay cả trước khi cô ấy có chúng. Tay cô ấy, trong khi đó, đi thẳng đến thắt lưng bố, và cô ấy lóng ngóng mở nó. Trong một khắc bố nghĩ cô ấy sẽ dùng nó để đánh bố. Rồi bố hiểu ra, và mò lên váy cô ấy rồi kéo quần lót cô ấy xuống. Bọn bố lao lên giường như những binh sĩ ngã trận. Ở đấy bọn bố vật lộn nhau, dồn sức lột bỏ những thứ quần áo không mong muốn, đến khi cô ấy đột ngột đẩy mình ra khỏi bố và thét lên, “Chúng ta đang làm gì thế này!” Trước khi bố kịp trả lời, cô ấy đã chạy ra khỏi phòng và khóc.
Bố nằm bàng hoàng trên giường cô ấy trong nửa giờ, ngửi gối cô ấy với hai mắt nhắm lại, cảm nhận cảnh tượng một giấc mơ đời người đang trôi đi. Khi cô ấy không quay vào, bố mặc quần áo rồi đi đến ngồi dưới cái cây bố ưa thích để suy nghĩ những ý nghĩ chết chóc và bứt các cọng cỏ.
Bố tránh mặt Caroline trong tuần sau đó. Vì cô ấy là người bị kích động, nên việc đi tìm bố là tùy thuộc vào cô ấy. Rồi vào ngày thứ bảy, Lionel hoảng hốt gọi điện cho bố. Ông không tìm thấy bàn chải đánh răng của mình, và dù ông có thể bị mù, song điều đó không có nghĩa là ông không sợ chứng viêm nướu răng. Bố đến và thấy nó đang trôi lềnh bềnh trong bồn cầu, dính phân lốm đốm. Bố bảo với ông ấy mình rất tiếc, ông ấy phải hôn giã biệt chiếc bàn chải ấy thôi, nhưng không phải theo nghĩa đen.
“Nó đi rồi,” ông nói. “Sáng hôm qua tôi tỉnh dậy và có một người lạ thở trong phòng tôi. Tôi có thể nhận ra một người qua kiểu thở của người ấy, cậu biết không. Nó khiến tôi sợ chết khiếp. Tôi hét lên, ‘Mày là đứa chó nào thế?’ Shelly là tên cô ta, một y tá mà Caroline đã thu xếp để chăm sóc cho tôi. Tôi quát tháo đuổi Shelly đi, và cô ả đi thật, con quỷ cái. Tôi không biết phải làm gì bây giờ. Tôi sợ, Martin à. Bóng tối rất đáng chán và làm người ta phát ốm lên được.”
“Caroline đi đâu rồi?”
“Tôi mà biết tôi chết liền! Nhưng mà, tôi cá là con bé sẽ vui vẻ. Đó là điều cậu nhận được khi cậu dạy con mình lớn lên trong tự do, tôi cho là thế. Sự tự do.”
“Cháu chắc là cô ấy sẽ sớm trở về,” bố nói dối. Bố nghĩ cô ấy sẽ chẳng bao giờ quay về nữa. Bố luôn biết một ngày nào đó Caroline sẽ biến mất, và cuối cùng ngày đó đã đến.
Trong những tháng tiếp theo bọn bố nhận được bưu thiếp của cô ấy gửi từ khắp nơi. Tấm bưu thiếp đầu tiên là ảnh một con sông ở Bucharest, chữ “Bucharest” đóng dấu ngang qua nó, và ở mặt sau Caroline viết nguệch ngoạc, “Em đang ở Bucharest!” Bưu thiếp tương tự đến hai lần một tuần từ Ý, Vienna, Warsaw, và Paris.
Trong khi đó, bố thường xuyên đến thăm Terry. Đó là một chặng đường dài, từ thị trấn đi bằng xe buýt, đến thành phố bằng tàu hỏa, rồi bắt một chiếc xe buýt khác đến một vùng ngoại ô nghèo nàn. Trại giam trông giống như một khu nhà dân cư thấp tầng. Mỗi lần bố đăng kí vào thăm, người quản lý lại chào đón bố như một vị tộc trưởng của một gia tộc cao quý rồi đích thân dẫn bố đến phòng thăm viếng, qua một loạt những hành lang dài, nơi bố luôn cảm thấy bị đe dọa về mặt thân thể bởi những tên tội phạm trẻ với ánh mắt ngùn ngụt giận dữ, như thể bị bắt sau khi băng đèo lội suối vượt dãy Himalaya. Terry thường chờ đợi bố trong phòng thăm viếng. Đôi khi nó lại có những vết bầm tím mới xuất hiện quanh mắt. Một hôm bố ngồi xuống với nó và thấy dấu nắm tay trên má nó, dấu vết chỉ mới bắt đầu nhạt dần. Nó nhìn bố đầy căng thẳng. “Caroline đến thăm em trước khi cô ấy bỏ đi, và cô ấy nói rằng dù em đã làm mù mắt bố cô ấy, cô ấy vẫn sẽ luôn yêu em.” Khi bố không trả lời, nó nói tội ác làm mù mắt Lionel đã biến thành chiếc vé một chiều dẫn nó vào cuộc đời phạm pháp. “Anh không phóng hỏa mấy cây cầu trong xã hội thông thường,” nó nói. “Anh làm chúng nổ tung.” Nó nói nhanh, như đang ra lệnh trong tình huống khẩn cấp. Nó hào hứng bào chữa, trút bầu tâm sự, tìm kiếm sự chấp thuận từ bố cho kế hoạch mới của nó. Con thấy đấy, nó đã nhặt từng mảnh của chiếc hộp thư góp ý ấy và dùng nó xây nên câu chuyện đời mình. Nó lắp ghép những mảnh ấy lại với nhau thành một kiểu mẫu mà nó có thể chọn để sống.
“Em không thể kiềm chế mình và đăng kí đi học sao?” bố van nài.
“Em sẽ học, được rồi. Một vài đứa bọn em, chúng em có những kế hoạch lớn khi rời khỏi đây,” nó nói, nheo mắt. “Em đã gặp được vài ba thằng, chúng đang dạy cho em đôi điều hay ho đấy.”
Bố ra đi vặn vẹo đôi tay, nghĩ ngợi về các trại tạm giam, nhà mở cho trẻ em trai, nhà tù; chính qua những nơi trừng phạt này mà các tội phạm triển vọng tiến hành phần lớn việc trao đổi thông tin. Chính quyền lúc nào cũng đi làm cái việc giới thiệu những tội phạm nguy hiểm với nhau; họ móc nối chúng thẳng vào mạng lưới.
***
Nếu bố dượng biết cách nào để tăng tốc quá trình hủy hoại bản thân, thì nhận một công việc trong ngành kiểm tra sâu bọ chính là câu trả lời. Trong mấy năm qua ông đã trở thành thợ vặt của thị trấn, cắt cỏ, sửa hàng rào, xây vài công trình nhỏ, nhưng giờ đây, cuối cùng, ông đã tìm thấy công việc hoàn hảo cho mình: kiểm tra loài sâu hại. Ông hít khói độc cả ngày, xử lý những chất độc hại như bột diệt côn trùng và những viên thuốc độc nhỏ màu xanh, và bố có ấn tượng là ông rất hài lòng về sự độc hại của mình. Ông thường về nhà, giơ hai tay ra, và nói, “Đừng đụng vào tôi! Đừng đến gần tôi! Tay tôi có độc! Nhanh lên! Ai đó mở vòi nước đi!” Đôi khi nếu ông cảm thấy muốn đùa giỡn, ông sẽ chạy lao vào mẹ con bố với đôi tay độc hại giương ra và dọa chạm vào lưỡi bọn bố. “Tôi sẽ tóm lưỡi các người! Các người tàn đời rồi!”
“Sao ông không đeo găng tay vào?!” mẹ của bố thét lên.
“Găng tay là để cho mấy ông bác sĩ!” ông đáp lại khi đuổi theo hai mẹ con bố chạy vòng quanh nhà. Bố suy luận rằng đây là cách lạ lùng của ông để đối phó với căn bệnh ung thư của mẹ, giả vờ như bà là một đứa trẻ bị ốm còn ông là chú hề được mời đến để làm bà vui lên. Cuối cùng bà cũng đã báo tin dữ cho ông, và dù ông đã trở nên động lòng trắc ẩn đủ để thôi đánh bà khi ông say xỉn, nhưng cái vòng tuần hoàn bệnh ung thư, điều trị, thuyên giảm, rồi lại tái phát của bà khiến ông bất ổn. Bây giờ, khi bố dượng dọa bọn bố với đôi tay độc hại của ông ấy, mẹ của bố thường dán mắt vào bố rất lâu và chăm chú, khiến bố cảm thấy như một tấm gương phản chiếu thần chết từ một người sắp quy tiên.
Đó là những gì xảy ra trong nhà bố; mẹ thì ngày một yếu, bố dượng thì trở thành kẻ mang chất độc chết người, còn Terry chuyển từ bệnh viện tâm thần sang nhà tù, điều trước đây từng là môi trường độc hại về nghĩa bóng đã trở thành chính nó về nghĩa đen.
***
Khi Terry cuối cùng được thả khỏi trại giam, bố bỗng dưng phục hồi niềm hi vọng rằng nó sẽ cải tà quy chính, và biết đâu còn muốn về nhà để giúp đỡ người mẹ sắp chết của bọn bố. Bố đi đến địa chỉ mà nó cho bố qua điện thoại. Để đến đó bố phải đi bốn giờ đến Sydney, rồi đổi xe buýt đi thêm một giờ nữa đến một vùng ngoại ô ở phía nam. Đó là một khu yên tĩnh và có nhiều cây xanh; các gia đình ra ngoài dẫn chó đi dạo và rửa xe, một đứa bé giao báo kéo một chiếc xe đẩy màu vàng trên đường, thản nhiên ném báo để chúng rơi xuống với độ chính xác đáng ngưỡng mộ trên thảm chùi chân của từng căn nhà với tiêu đề trang nhất nằm ngửa lên. Căn nhà nơi Terry đang trú ngụ có một chiếc xe Volvo đỗ ở đường lái xe vào nhà. Một vòi nước uể oải phun nước lên đám cỏ được cắt tỉa gọn ghẽ. Một chiếc xe đạp màu bạc dành cho con trai dựa vào bậc tam cấp dẫn lên mái hiên trước nhà. Chuyện này có thật không nhỉ? Phải chăng Terry đã được một gia đình trung lưu nhận nhầm làm con nuôi?
Một người phụ nữ quấn ống cuốn trên mái tóc nâu và mặc một bộ áo ngủ màu hồng đi ra mở cửa. “Tôi là Martin Dean,” bố lắp bắp nói với vẻ không chắc chắn, như thể bố không phải là Martin Dean vậy. Nụ cười tử tế của cô ta nhanh chóng biến mất, bố tự hỏi chẳng nhẽ mình đã tưởng tượng ra nó. “Bọn họ ở phía sau,” cô ta đáp. Khi người phụ nữ dẫn bố đi qua lối đi tối tù mù, cô ta ném những ống cuốn tóc đi cùng với mái tóc - đó là bộ tóc giả. Tóc thật của cô ta, cột lên thành một búi chặt và cố định bằng kẹp xỉa, có màu đỏ rực. Cô ta cũng cởi bỏ chiếc áo ngủ màu hồng và để lộ bộ đồ lót đen ôm sát cơ thể với những đường cong mà bố muốn đem về nhà làm gối. Khi bố đi theo cô ta vào nhà bếp, bố thấy có những lỗ đạn trên tường, tủ bếp, rèm cửa; ánh nắng xuyên qua những cái lỗ nhỏ xíu hoàn hảo rồi quét xếch khắp căn phòng thành những đường màu vàng. Một cô ả bán khỏa thân mũm mĩm ngồi ở bàn, đầu vùi vào hai tay. Bố đi ngang qua cô ta rồi đi ra sân sau. Terry đang trở những cây xúc xích trên bếp nướng. Một khẩu súng săn dựa vào hàng rào gỗ cạnh nó. Hai gã đàn ông trọc đầu nằm trên ghế dựa và uống bia.
“Marty!” Terry thét lên. Nó sải bước đến ôm chầm lấy bố. Khoác một tay qua vai bố, nó giới thiệu hết sức nhiệt tình. “Tụi bây, đây là anh trai tao, Marty. Anh ấy giành hết phần khôn rồi. Tao chỉ nhận những phần sót lại. Marty, đây là Jack, còn thằng trông có vẻ nhút nhát ở đằng này là Thịt-Rìu.”
Bố mỉm cười sợ sệt trước những gã đàn ông vai u thịt bắp, nghĩ rằng người ta hiếm khi cần tới một chiếc rìu để chặt thịt. Nhìn đứa em trai hoạt bát, cơ bắp cuồn cuộn của mình, bố tự động thẳng lưng lên. Trong mấy năm qua bố đã ý thức được rằng mình hơi gù lưng, vì thế từ đằng xa trông như bố đã bảy mươi ba tuổi.
Terry nói, “Và bây giờ là tiết mục quan trọng nhất...”
Nó cởi áo ra và bố quay cuồng vì sốc. Terry đã phát rồ với hình xăm! Từ đầu đến chân, em trai bố là một mê cung những tác phẩm nghệ thuật điên rồ. Từ những ngày thăm viếng, bố đã thấy những hình xăm bò xuống cánh tay bên dưới ống tay áo nó, nhưng chưa bao giờ bố thấy nó đã làm gì với cơ thể nó. Giờ thì bố đã biết, từ trái khế đến rốn, một con cọp Tasmania đang nhe nanh, một con rái cá mỏ vịt gầm ghè, một con đà điểu sa mạc nhe răng đe dọa, một gia đình gấu koala tay nắm chặt dao, một con kangaroo nhỏ máu từ nướu răng, trong túi dắt một cái rựa. Tất cả những loài thú của Úc! Bố chưa bao giờ nhận ra rằng em trai mình lại yêu nước một cách khiếp đảm như vậy. Terry gồng các cơ bắp, và các con vật hung tợn kia trông như đang thở; nó đã học cách vặn vẹo cơ thể mình theo những tư thế đặc biệt để làm các con vật sống dậy. Nó tạo ra một hiệu ứng kì diệu, đáng sợ. Những sắc màu xoáy tít khiến bố chóng cả mặt.
“Cái sở thú cũ kĩ này đang trở nên đông đúc hơn rồi, nhỉ?” Terry nói, chờ đợi sự phản đối của bố. “Ồ, đoán xem còn ai ở đây!”
Trước khi bố kịp trả lời, một giọng quen thuộc thét toáng lên từ một nơi phía trên bố. Harry đang chồm ra khỏi khung cửa sổ trên lầu, mỉm cười toe toét khiến miệng dường như nuốt cả mũi. Một phút sau lão nhập bọn với mọi người trong sân. Harry đã già đi nhiều kể từ dạo bố gặp lão lần cuối. Từng sợi tóc đã ngả bạc, và những đường nét trên khuôn mặt mệt mỏi, nhăn nheo của lão trông như bị đè sâu xuống sát xương sọ. Bố để ý thấy cái chân khập khiễng của lão cũng tệ hơn: lão lôi cái chân sau mình như một bao gạch.
“Bọn tao đang làm chuyện đó, Marty ạ!” Harry cảm thán.
“Làm gì?”
“Liên doanh tội phạm dân chủ! Đó là một khoảnh khắc lịch sử! Tao rất mừng mày đến đây. Tao biết bọn tao không thể dụ mày tham gia, nhưng mày có thể làm nhân chứng, được không? Trời ơi, thật hết xẩy khi em mày được thả. Tao đang trải qua giai đoạn khó khăn. Làm một kẻ trốn chạy thật là cô đơn.” Harry giải thích đã trốn tránh cảnh sát bằng cách gọi điện thoại nặc danh báo tin nhìn thấy lão. Đã có những cuộc tuần tra tiến hành truy lùng trên từng đường phố ở Brisbane và Tasmania. Harry phá ra cười khi nghĩ đến việc đó. “Bọn cảnh sát thật dễ bị đánh lạc hướng. Mà kể tiếp nhé, tao chỉ biết sống qua ngày đoạn tháng cho đến khi Terry mãn hạn tù. Và bây giờ bọn tao ở đây! Giống như viện nguyên lão Hy Lạp vậy! Bọn tao họp mỗi buổi chiều lúc bốn giờ tại hồ bơi.”
Bố nhìn qua cái hồ bơi. Nó nằm trên bệ cách mặt đất, nước màu xanh lục. Một lon bia nổi lềnh bềnh trong hồ. Dân chủ rõ ràng chẳng có liên quan gì đến vệ sinh. Nơi này là một bãi cống. Cỏ mọc um tùm, những chiếc hộp pizza trống nằm lăn lóc và lỗ đạn khắp nơi, và trong nhà bếp bố có thể thấy một ả điếm ngồi bên bàn bơ phờ gãi sồn sột.
Terry mỉm cười với cô ả qua cửa sổ. Bố đặt tay lên vai nó. “Anh nói chuyện với em một chút được không?”
Bọn bố tản bộ ở phía bên kia của hồ bơi. Trên bếp nướng bằng gạch, những cây xúc xích đã cháy đen và đang héo quắt lại dưới ánh nắng.
“Terry,” bố nói, “em đang làm gì vậy? Sao em không từ bỏ tội ác, đi tìm một công việc bình thường ở nơi nào đó? Cái liên doanh này sẽ không nên trò trống gì đâu, em phải biết thế. Vả lại, Harry bị hâm,” bố nói thêm, dù bố biết mình cũng không tin. Sự thật là, khi bố nhìn vào đôi mắt hoang dại của Terry, bố bắt đầu nghi ngờ rằng em trai mình mới là một người điên chính cống, còn Harry chỉ là một con dê già có những ý tưởng kì khôi.
“Còn anh thì sao?” Terry hỏi.
“Còn anh thì sao?”
“Anh sẽ làm gì với cuộc đời của anh? Em không phải là đứa mắc kẹt trong lồng - mà chính anh. Em không phải đứa sống trong thị trấn mà mình căm ghét. Em không phải đứa bỏ mặc tiềm năng của mình. Định mệnh của anh là gì, anh trai? Sứ mệnh của anh trong cuộc đời là gì? Anh không thuộc về thị trấn đó. Anh không thể vất vưởng ở đó mãi. Anh không thể bảo vệ Mẹ khỏi Bố, hoặc khỏi cái chết. Anh phải dứt áo với họ. Anh phải thoát khỏi đó và sống cuộc đời của anh. Cuộc đời em đã được vẽ ra rồi, ít nhiều là vậy. Nhưng còn anh - anh là đứa ngồi vẩn vơ chẳng làm cái giống gì.”
Điều đó dội một gáo nước lạnh vào bố. Thằng nhóc láo toét này nói đúng. Bố chính là đứa bị mắc kẹt. Bố không biết phải đi đâu hoặc làm gì. Bố không muốn bị nhốt vào một cuộc sống tẻ nhạt, nhưng bố cũng không phải là tội phạm. Vả lại, bố đã tạo dựng mối quan hệ không thể phá vỡ với mẹ của mình, và bố đang bắt đầu phản kháng lại điều đó.
“Marty, anh có nghĩ đến chuyện học đại học không?”
“Anh sẽ không học đại học. Anh còn chưa học xong phổ thông mà.”
“Vậy thì chó chết, ông anh ạ, anh phải làm gì đó đi chứ! Sao anh không bắt đầu bằng cách bỏ đi khỏi cái thị trấn hố xí đó?”
“Anh không thể đi khỏi thị trấn.”
“Tại sao không?”
Bằng lý lẽ của mình, bố kể cho Terry nghe về lời hứa bố đã thực hiện. Bố giải thích rằng bố bị mắc kẹt vào thế khó xử. Bị mắc kẹt cứng ngắc không cục cựa. Bố có thể làm gì? Để mặc mẹ của mình chết với người bố không có tình cảm ấy ư? Người phụ nữ đã đọc sách cho bố nghe khi bố nằm hôn mê suốt ngần ấy năm? Người phụ nữ đã liều mạng tất cả chỉ vì bố?
“Mẹ thế nào?” Terry hỏi.
“Suy cho cùng, mẹ cũng ổn,” bố đáp, nhưng đó là lời nói dối. Cái chết cận kề đang gây ra những tác động kì lạ lên bà. Đôi lúc bà mò vào phòng bố và đọc sách cho bố nghe. Bố không chịu nổi điều đó. Âm thanh của giọng đọc sách nhắc bố nhớ đến một cái nhà tù khác, cái chết trong lúc sống ấy: cơn hôn mê. Thỉnh thoảng trong đêm khi bố đã ngủ say, bố bị đánh thức bởi một cú lắc người thô bạo. Đó là mẹ, muốn chắc chắn rằng bố không lại rơi vào một cơn hôn mê khác. Thật chẳng thể ngủ nổi.
“Anh sẽ làm gì?” Terry hỏi. “Ở đó đến khi mẹ chết à?”
Đó là một suy nghĩ đáng sợ, cả việc một ngày nào đó bà sẽ chết và rằng bố đã đưa ra một lời thề và lời thề đó giờ đây đang siết chặt lấy bố. Làm sao bố cứ như thế này mà không khuất phục trước ý nghĩ xấu xa nhất: “Này, mẹ ơi. Nhanh nhanh chết quách đi cho con nhờ!”
Terry không muốn bố đến thăm nhà nó lần nữa. Với sự kiên quyết của nó, bọn bố gặp nhau ở các trận đấu cricket hoặc bóng bầu dục, tùy theo mùa. Trong suốt những trận đấu này Terry kể cho bố nghe những trò hề của liên doanh dân chủ: cách mà chúng liên tục thay đổi lề lối làm việc, không bao giờ làm một việc hai lần, hoặc nếu có, không làm chúng theo cùng một cách. Ví dụ, có lần chúng thực hiện hai vụ cướp nhà băng liên tiếp. Vụ đầu tiên vào cuối ngày, cả bọn xông vào đội mũ trùm kín mặt màu đen rồi bắt khách và nhân viên cúi mặt xuống đất. Vụ thứ hai thực hiện vào giờ ăn trưa, và chúng đeo mặt nạ dã nhân, chỉ nói tiếng Nga với nhau, bắt khách và nhân viên nắm tay nhau đứng thành vòng tròn. Chúng rất nhanh. Chúng thành công. Và trên hết chúng ẩn danh. Ý tưởng các thành viên băng đảng phải học vài ba ngoại ngữ là của Harry - không cần học hết, chỉ là kiểu từ vựng cần xài đến trong tình huống một vụ cướp: “Lấy tiền đi,” “Bảo bọn chúng đưa tay lên,” “Đi thôi,” đại loại thế. Harry thật sự là bậc thầy trong việc đánh lạc hướng người khác. Thật khó hiểu tại sao lão lại ở trong tù quá lâu như vậy. Lão cũng tìm thấy vài kẻ chỉ điểm cho cảnh sát và cho họ những thông tin sai lệch. Và có một hai kẻ thù mà chúng phải đối phó từ thời trước của Harry, những kẻ ấy tấn công khi chúng dễ tổn thương nhất: khi chúng có hơn hai vụ cần giải quyết.
Vấn đề duy nhất chính là sự thành lập liên doanh dân chủ, việc biến ước mơ của Harry thành hiện thực, hình như đã thổi phồng chứng hoang tưởng mang đẳng cấp quốc tế của lão. Con không thể bám sau lưng lão được! Lão sẽ trượt xuống tường, và hễ lão ở ngoài khoảng trống là lão lại quay cuồng như con vụ. Lão phát rồ trong đám đông, và khi bị kẹt trong đám đông, lão thực sự trải qua cơn kích động bạo lực. Buồn cười nhất là khi lão phải đi tiểu tiện ở bên ngoài. Lão không chịu đi sau gốc cây, vì như vậy thì lưng lão sẽ lộ ra. Harry dựa lưng vào cây quay mặt ra ngoài, một tay cầm con giống, tay kia cầm một khẩu A.45. Trong nhà lão bố trí chuông và dây thừng để con không thể vào phòng lão mà không gây báo động. Lão đọc báo mỗi ngày để xem lão có bị nhắc đến không. Lão lật các trang báo điên cuồng, hai mắt trợn tròn.
“Đừng xem thường giá trị các bản tin hằng ngày,” Harry có lần nói với bố. “Nó đã cứu nhiều tay đang bị truy nã. Cảnh sát lúc nào cũng cố chứng tỏ chúng đang có tiến triển: ‘Ồ, chúng tôi đã trông thấy ở đằng này, chúng tôi đã có được manh mối nọ dấu vết kia.” Kết hợp tất cả những thứ đó lại với cơn đói thông tin không biết mệt mỏi của công chúng trong khi tin tức ấy chả liên quan gì đến họ, và mày sẽ có được tin tức hết xẩy cho một kẻ đào tẩu trong cơn điên cuồng phạm tội. Mày nghĩ tao bị hoang tưởng à? Hãy kiểm tra lại đám đông công chúng kìa. Họ đòi tin tức cập nhật về các vụ điều tra bởi vì họ tưởng chính quyền đang giấu giếm họ, ém nhẹm thông tin về những tên tội phạm đang ở sau sân nhà của họ giương súng ống ra, sẵn sàng nhập tiệc.”
Lão cáo buộc những người khác trong liên doanh ấp ủ tư tưởng hám lợi. Lão nói có thể ngửi được mùi lòng tham từ tất thảy bọn chúng; lão nói nó bám vào chúng như những giọt mồ hôi. “Một nghìn đô la trong tay mày vẫn chưa đủ hay sao?” lão hét lên. Harry dự báo rằng cái viện nguyên lão Hy Lạp nhỏ của lão sẽ cháy thành tro bụi. Sự dân chủ trong thế giới tội ác hóa ra cũng chẳng khác gì sự dân chủ ở bất kì đâu: một ý tưởng cao siêu về mặt lý thuyết, bị vấy bẩn bởi thực tế là sâu thẳm trong lòng, không một ai thực sự tin rằng mọi người sinh ra đều bình đẳng như nhau. Liên doanh đang dính vào ngày càng nhiều cuộc cãi cọ về chuyện chia chác lợi nhuận và phân công những việc dơ bẩn như dán số serie lên hàng nghìn chiếc máy quay phim ăn cắp được. Các thành viên nhận ra rằng, giống như biểu hiện ở các quốc gia, những nền dân chủ vị lợi nhuận tạo ra sự mất cân bằng, kích thích lòng tham và tính thiếu kiên nhẫn, và bởi vì không ai bỏ phiếu để trở thành người lau dọn nhà vệ sinh công cộng, chúng dẫn dến sự chia bè kéo cánh ở những thành viên yếu kém nhất và ít được có cảm tình nhất của băng đảng. Ngoài ra, Harry đã phát hiện ra mọi thứ, qua hai lỗ mũi của lão. “Mày là đứa tồi nhất!” lão nói, chỉ tay vào Terry.
“Ông này, tôi có nói gì đâu,” Terry nói.
“Mày không cần phải nói! Tao có thể ngửi thấy nó!”
Và chắc là lão có thể ngửi được thật. Harry đã từng nói gì về việc chứng hoang tưởng dài hạn giúp đem lại cho người ta những khả năng ngoại cảm? Có thể lão đã thực sự đánh hơi được điều gì ở đó. Có thể Harry đã nhìn thấy tương lai. Hoặc có lẽ lão chỉ nói ra điều hiển nhiên: rằng em trai bố có những ý tưởng, và những ý tưởng đó sẽ hủy diệt lão và những người cùng đi với lão. Dù vậy, thật tình mà nói, lúc đó sự việc chưa hiển nhiên với bố. Bố chỉ không nhìn thấy nó sắp đến. Chà, có lẽ Bob Dylan đã sai. Có lẽ con phải là một nhà dự báo thời tiết để biết gió thổi hướng nào[17].
Dự án thứ hai
Thông thường, cuộc đời của con là thế, con bật ti vi lên và ở đó có bản tin, và bất kể tin tức nghiêm trọng thế nào, hoặc thế giới đã đổ nhào xuống bồn cầu sâu bao nhiêu, hoặc thông tin đó liên can đến sự tồn tại của con ở mức độ nào, thì cuộc đời con vẫn là một thực thể tách rời khỏi tin tức đó. Con vẫn phải giặt đồ lót của mình trong chiến tranh, phải không nào? Và chẳng phải là con vẫn cãi cọ với những người mình thân yêu rồi xin lỗi họ dù không thực lòng hối lỗi ngay cả khi có một cái lỗ trên bầu trời đang thiêu rụi mọi thứ thành tàn tro? Dĩ nhiên là con vẫn phải làm thế. Theo nguyên tắc thì chẳng có cái lỗ nào đủ to để can thiệp vào chuyện sinh sống vô cùng tận này, nhưng có những ngoại lệ, những tình huống tàn nhẫn trong mảnh đời của một vài tên khốn xui xẻo khi tin tức trên báo chí và tin tức trong phòng ngủ của chúng giao nhau. Bố nói với con, cái khoảnh khắc khi con phải đọc báo để tìm hiểu về cuộc chiến của chính mình mới thật nản chí và đáng sợ làm sao.
Chuyện bắt đầu ở rất xa nhà. Vào một buổi sáng, những dòng tiêu đề trên báo hét ầm lên rằng các cầu thủ chủ chốt của đội tuyển cricket Úc đã bị bắt quả tang nhận hối lộ từ bọn cá độ để thi đấu cuội trong các trận đấu quốc tế. Đó là tin chấn động, có lẽ ầm ĩ hơn nó đáng phải thế, chủ yếu là vì nếu thể thao là quốc giáo của Úc, như người ta thường nói, thì sự việc này giống như toàn thể những người chính thống thuộc Cơ đốc giáo phát hiện Chúa đã tạo ra cây cối và núi non mà quên rửa tay trước khi làm. Nó làm chấn động nhiều giá trị cốt lõi. Đã xuất hiện sự phản đối của công chúng, thái độ thất vọng tập thể, những lời đe dọa, và đâu đâu người ta cũng gọi đó là sự sỉ nhục, thối nát, băng hoại và vết nhơ không thể gột rửa của thể thao. Những tiếng nói trên đài phát thanh kêu gào nợ máu. Họ muốn nghe tiếng cổ kêu răng rắc: cổ của bọn cá độ và cổ của những kẻ phản bội thật sự, chính là những cầu thủ. Các chính trị gia kêu gọi công lý thực thi và cam kết sẽ giải quyết đến chân tướng sự việc, và ngay cả thủ tướng cũng hứa hẹn “một cuộc điều tra toàn diện và thấu đáo về tình trạng tham nhũng trong thể thao.”
Với bố, vụ bê bối thể thao này chỉ đơn thuần là tiếng ồn ào ở hậu cảnh. Bố quá bận tâm với những vấn đề riêng của mình: mẹ của bố sắp chết và cô lập mình lại như một nữ hoàng điên loạn, bố dượng chìm vào men rượu, còn em trai thì xé toạc cuộc sống với một tay cầm súng một tay cầm rìu.
Ngày thứ bảy tiếp theo mà bố và Terry gặp nhau ở một trận đấu là hôm đội Úc đấu với đội Pakistan. Người ta đã thắc mắc liệu nó có diễn ra hay không, vì vụ bê bối vừa qua, nhưng về mặt kĩ thuật còn-vô-tội-đến-khi-bị-chứng-minh-có-tội đồng nghĩa với việc nó sẽ diễn ra như kế hoạch. Bầu trời tươi sáng và không khí đẫm hương vị mùa xuân - kiểu thời tiết ru ngủ con vào một cảm giác an toàn giả tạo, nhưng bố vẫn luôn cảm nhận nỗi sợ trong lòng khi đứng trong những tập thể ba mươi lăm nghìn con người dễ nổi trận lôi đình bất chợt.
Khi các cầu thủ bước vào sân, đám đông bắt đầu la ó như điên, vì đây chính là những kẻ dính vào vụ bê bối. Một vài cầu thủ phớt lờ đám đông, trong khi những người khác giơ ra ngón tay “thối”[18], mà dùng đến cả hai tay ấy. Thật là một cảnh tượng huyên náo. Bố thích la ó. Ai mà không thích chứ? Một vài tiếng la ó tức nghẹn cơn giận, trong khi những tiếng khác lại chỉ là những tiếng la ó vu vơ lẫn với tiếng cười. Bên cạnh bố, Terry không tạo ra tiếng động gì.
Khi đội trưởng bước ra để ném bóng thì không chỉ có tiếng la ó mà còn có tiếng huýt sáo, và mọi người bắt đầu ném đồ vật, như lon bia và giày - giày của chính họ! Một khán giả nhảy qua hàng rào, chạy vào sân, và cố vật đội trưởng xuống. Rồi đám đông cũng túa ra. Một người nào đó thổi còi, và trận đấu rõ ràng đã kết thúc khi Terry quay sang bố và nói, “Đi thôi.” Bố nghĩ ý nó là “Đi về nhà thôi,” nên bố đồng ý, nhưng trước khi bố kịp nhận ra chuyện gì đang xảy ra, Terry đã lao xuống khán đài về phía sân cỏ. Bố cố đi theo, nhưng lâu sau bố vẫn không thấy Terry ở đâu giữa cơn điên loạn của đám đông bấy giờ đã đến từ mọi phía và chặn lối ra của đội cricket. Tất cả thật hoang dã và đinh tai nhức óc. Con biết đám đông nổi loạn là như thế nào rồi đấy.
Rồi bố nghe thấy tiếng thét về bản chất rất khác với tiếng rì rầm to nhỏ của đám đông cuồng loạn. Bố thấy họ đang nhìn vào cái gì, một hình ảnh đến nay chưa bao giờ rời khỏi phía trong mi mắt bố: Terry đã rút ra một khẩu súng và đang chĩa nó vào đội trưởng đội Úc. Đôi mắt Terry hoang dại và trong suốt, khuôn mặt tươi tỉnh, như thể nó vừa tắm bằng nước trong như pha lê. Nó mang một nét mặt khác thường của sự tự mãn. Đám đông nhìn theo, bất động. Họ muốn chạy, nhưng trí tò mò muốn họ ở lại. Trí tò mò đã thắng. Cảnh sát đang tìm đường xuống bậc thang khán đài thì em trai bố nổ súng bắn vào bụng đội trưởng đội cricket Úc.
***
Bố không biết mình đã thoát khỏi đấy thế nào. Bố nhớ Terry nhìn thấy bố trong đám đông và vẫy tay. Bố nhớ mình bỏ chạy. Bố nhớ Terry phá ra cười và đề nghị bọn bố tách ra trước khi biến mất vào đám đông kèm câu nói, “Để xem nó có chơi cuội được trước cái chết của chính nó không!”
Chẳng còn chuyện nào lớn hơn ở Úc, trước đó hoặc sau đó. Thậm chí cả Liên đoàn cũng không được báo chí quan tâm đến vậy. Và điều tồi tệ nhất là, họ có ảnh. Ai đó đã chụp cảnh Terry đứng đó, hai mắt sáng rực, tay vươn ra, khẩu súng chĩa ra trước nó và một nụ cười thân thiện trên mặt nó, như thể nó sắp sửa cho tay đội trưởng một lời khuyên hòa nhã. Mọi tờ báo và đài truyền hình phát tấm ảnh đó. Kể từ đó, nó là kẻ bị truy nã. Đây là khởi đầu thực sự cho cuộc sống ngoài vòng pháp luật của Terry.
Thị trấn nhỏ của bố tràn ngập cảnh sát và nhà báo. Cánh nhà báo thật là phiền toái. Họ không xem “Cút mẹ mày đi” là câu trả lời. Cảnh sát cũng nổi điên. Họ hỏi bố đủ loại câu hỏi, và suốt một thời gian bố bị tình nghi. Bố thừa nhận có đi đến trận đấu với em trai mình nhưng nói rằng đã lạc nó ngay khi nó chạy vào đám đông. Không, bố nói, tôi không nhìn thấy cảnh bắn súng. Không, bố nói, tôi không nghe được tin gì của nó từ lúc ấy. Không, bố nói, tôi không biết nó sống ở đâu. Không, chúng tôi không thân thiết. Không, tôi không biết bạn nó là ai hoặc nó giao du với ai. Không, tôi không biết nó lấy khẩu súng ở đâu. Không, tôi thậm chí còn không biết nó có súng. Không, tôi không nghĩ sẽ nghe được tin gì từ nó trong thời gian sắp tới. Không, nếu tôi có nghe tin về nó tôi cũng sẽ không báo cảnh sát, vì dù gì, nó vẫn là em trai tôi. Vâng, tôi đã nghe nói đến tội cản trở công lý. Vâng, tôi biết thế nào là tòng phạm. Vâng, tôi sẽ sẵn sàng vào tù, nhưng tôi thà không vào đấy thì hơn.
Cảnh sát cũng tra hỏi mẹ của bố, nhưng bà chẳng trả lời được cả những câu hỏi đơn giản nhất - khi giám đốc điều tra hỏi, bà thậm chí còn không nói được lúc đấy là mấy giờ.
Terry không thể nào về nhà được nữa. Đó là điều làm cõi lòng mẹ tan nát. Bà khóc rấm rứt, và từ đó hầu như đêm nào cũng ngủ trên giường cũ của Terry. Mỗi bữa ăn bà làm một món mà Terry thích ăn nhất, và, có lẽ để trừng phạt chính mình, bà dán bài báo với tấm ảnh Terry lên tủ lạnh dưới một miếng nam châm hình quả thơm. Bà bị ám ảnh với bức hình đó, còn làm quá đến mức dùng thước để đo nó. Một buổi sáng bố đi xuống và thấy mẹ của mình đang nhìn nó chăm chú. Bố nói, “Để con ném nó đi.” Bà không nói gì, nhưng khi bố với tới để lấy nó, bà huých vào bụng bố. Mẹ ruột của bố! Sau đó, tầm bốn giờ sáng, bố tỉnh dậy thấy bà đang ngồi trên mép giường mình.
“Có chuyện gì vậy?”
“Con có nhớ truyện William Wilson của Poe không? Và Bản sao của Dostoyevsky?”
Đây là những quyển sách bà đã đọc cho bố nghe trong thời gian bố bị hôn mê. Bố nhớ chúng rõ mồn một, gần như từng chữ.
“Mẹ nghĩ Terry có bản sao,” bà nói.
Bố lắc đầu và nói, “Con không nghĩ vậy.”
“Nghe mẹ đây. Mỗi người đều có bản sao ở đâu đó trên thế giới. Đó là điều đã xảy ra ở đây. Terry không bắn ai cả. Chính là nó, đứa bản sao!”
“Mẹ, con đã ở đó. Đó chính là Terry.”
“Mẹ công nhận nó trông giống Terry. Bản sao là vậy mà. Những kẻ giống như đúc. Những kẻ giống từng li từng tí. Không phải những kẻ chỉ giống một chút.”
“Mẹ...”
Bố chưa kịp nói thêm gì nữa thì bà đã bỏ đi.
Vậy Terry ở đâu? Ở chỗ Harry? Sáng hôm sau, trong bữa điểm tâm, bố quyết định đích thân đến gặp. Khi bước ra, bố thấy đám nhà báo đã về nhà, nhưng trên xe buýt đến thành phố, bố nhận ra hình như mình đang bị theo dõi. Bố liếc nhìn những chiếc xe ô tô trên đường. Chắc chắn rồi, bố đã thấy nó: một chiếc Commodore đang bám theo. Bố xuống ở trạm kế tiếp rồi đi vào rạp chiếu phim. Đó là một phim hài về người chồng đã chết nhưng trở về ở dạng hồn ma và ám ảnh vợ mình mỗi lần cô ta nhìn người đàn ông khác. Mọi người đều cười trừ bố; bố thấy thật lố bịch, và nó làm cho bố thực tình ghét người đã chết, những kẻ ích kỉ ưa thọc gậy bánh xe. Hai giờ sau, khi bố bước ra ánh sáng, chiếc xe vẫn ở đó. Bố biết mình phải đánh lạc hướng họ, phải “cắt đuôi”, vì thế bố lỉnh vào một cửa hàng. Đấy là một tiệm may. Bố thử một chiếc vest dạ tiệc màu đen, trông rất đẹp nhưng tay áo hơi ngắn quá. Ngoài cửa sổ, qua cặp đùi manơcanh, bố nhìn thấy con chó săn màu xanh của mình. Bố hỏi xem họ có cửa vào phía sau không, dù bố muốn dùng nó làm lối thoát. Họ có một cái. Ở đường hẻm có một chiếc Commodore khác, chỉ có điều chiếc này màu trắng với ghế bọc da mà bố gần như ngửi được mùi. Bố đi nhanh xuống phố và tìm một cửa hiệu khác để chui vào.
Cả ngày hôm đó trôi qua như thế. Tình hình rất, rất khó chịu. Bố không thể cắt đuôi họ được. Dường như họ lúc nào cũng đoán được nhất cử nhất động của bố. Nản chí, bố đón xe buýt quay về nhà và quyết định sẽ thử lần nữa khi câu chuyện Terry Dean đã lắng dịu đôi chút, khi nó không còn mới nữa. Trước sau gì nó cũng phải chìm xuồng thôi, bố suy luận. Giới cảnh sát mắc chứng rối loạn thiếu tập trung. Họ nổi tiếng vì chuyện này. Nhưng điều bố không nhận ra là chuyện của Terry Dean sẽ không dừng lại ở đó bởi vì Terry Dean sẽ không dừng lại ở đó.
Ngày hôm sau có thêm tin tức, và thêm cảnh sát, thêm nhà báo. Người ta tìm thấy hai tay cá độ có tên trong vụ nghi án bị bắn chết trong căn hộ của chúng. Các nhân chứng đã trông thấy một thanh niên có hình dạng giống Terry rời khỏi hiện trường. Trên báo và đài phát thanh, ngôn ngữ dùng để mô tả Terry Dean cho thấy một sự thay đổi tinh tế trong quan điểm của dư luận - nó không còn là “gã gàn cô đơn” nữa. Nó giờ là “kẻ thủ ác”.
Trong khi đó, toàn bộ cặp mắt của đất nước đang dán chặt vào cuộc điều tra tệ tham nhũng trong thể thao, vốn đang được thực hiện với tốc độ khác thường. Chẳng có ai là không mang trong đầu ý nghĩ rằng bất kì tay cá độ hoặc cầu thủ cricket nào có tên trong báo cáo sẽ trở thành mục tiêu tiềm năng của Terry Dean, Kẻ thủ ác Ngoài vòng pháp luật.
Báo cáo về cuộc điều tra tệ tham nhũng trong thể thao được công bố và xử lý như một vấn đề thuộc phạm vi công chúng. Nó nêu ra những cái tên. Thêm ba cầu thủ cricket bị điểm danh: người vì tội bán độ, người vì tội tuồn thông tin trận đấu. Cũng có thêm nhiều tay cá độ bị chỉ điểm. Tất cả đều được canh gác. Bọn họ được đặt dưới sự kiểm soát hai tư trên hai tư của cảnh sát. Cảnh sát nghĩ họ đã sẵn sàng để bắt Terry, vì nếu họ suy luận ra được điều gì thì đó chính là nó đã bắt đầu cho một việc mà nó cảm thấy phải kết thúc. Nhưng Terry đã đi trước họ một bước.
Vấn đề là, không ai thực sự để ý đến cuộc điều tra về nạn tham nhũng trong thể thao. Họ đọc tin về các cầu thủ cricket và háo hức chờ đợi Terry ra tay. Nhưng thủ tướng đã hứa hẹn một cuộc điều tra toàn diện, và họ đã công bố một báo cáo toàn diện trong đó cũng chứa những chương mục nêu chi tiết tình trạng tham nhũng trong môn đua ngựa, trong liên đoàn bóng bầu dục, hiệp hội bóng bầu dục, những luật lệ của Úc, môn bóng đá, Thế vận hội Khối thịnh vượng chung, môn lawn bowl[19], bida, đua xe đạp, chèo thuyền, quyền anh, đấu vật, đua thuyền buồm, hockey, bóng rổ... Nếu liên quan đến môn thể thao mà người Úc phải chạy hoặc đổ mồ hôi hoặc xử lý quả bóng không phải của mình, thì đều có tên trong đó cả.
Lần đầu tiên Terry thể hiện đam mê phóng khoáng của nó là trong vụ ám sát một vận động viên cưỡi ngựa tên là Dan Wonderland; người ta tìm thấy anh này bị đánh và ép uống một lượng thuốc an thần dành cho ngựa đủ để giết chết một đám đông hỗn loạn. Bố nhìn chăm chú vào tấm hình người đàn ông mà cuộc đời đã bị em trai bố tước đoạt này với hi vọng nhìn thấy điều gì đó độc ác, điều gì đó nổi lên từ tấm hình cho thấy một cách dứt khoát rằng tên khốn này đáng chết. Tấm hình được chụp sau khi thắng một cuộc đua, trong đó Dan Wonderland đang cười toe toét và vung cao tay trong thế chiến thắng. Ngay cả nếu như bố không biết em trai mình đã giết anh ta, bố vẫn nhìn thấy một nét buồn vô hạn trên gương mặt vận động viên đua ngựa này, nét nhìn của một người đàn ông vừa đạt được giấc mơ cả cuộc đời chỉ để nhận ra rằng giấc mơ của mình thực ra chẳng có gì đặc biệt.
Ngày hôm sau có thêm một vụ giết người nữa: nhà vô địch hạng trung Charlie Pulgar, người đã thực hiện cú bổ nhào trên sàn đấu, ngã xuống khi tiếng chuông vừa cất lên, đối thủ của ông ta vỗ găng tay vào nhau. Với sự giúp đỡ của Terry, Charlie Pulgar đã thực hiện cú bổ nhào cuối cùng - bay từ nóc tòa chung cư mười bảy tầng của ông ta xuống dòng chảy xe cộ đều đều bên dưới.
Khi các nhà điều tra vừa bắt đầu tính toán đường đi nước bước tiếp theo của Terry, nó đã lại thay đổi chiến thuật lần nữa. Cuộc điều tra về tình hình tham nhũng trong thể thao cũng đã phát hiện một hiện tượng đang thẩm thấu vào thể thao chuyên nghiệp: các loại thuốc nâng cao thành tích. Với một chút điều tra, Terry nắm được ai đang mua và quản lý chúng: những huấn luyện viên. Những người luôn lao động không mệt mỏi ở khâu hậu cần được chuyển từ tuyến sau ra tuyến trước; những cái hàm bạnh và khuôn mặt hốc hác của họ xuất hiện ngày càng nhiều trên báo chí, khi từng người một lần lượt qua đời.
Nhưng khía cạnh nguy hiểm nhất trong cuộc thập tự chinh của Terry chính là, cũng thật dễ hiểu, bọn cá độ không chịu lép vế. Những mối liên hệ của chúng với xã hội đen giúp chúng có được súng ống và bảo kê, và những bài tường thuật về các vụ đọ súng phía sau nhà hàng và quán bar xuất hiện nhan nhản trong các bản tin. Terry đã phá vỡ nguyên tắc cuối cùng của Harry - nó không chỉ tránh xa khỏi sự vô danh càng nhiều càng tốt, mà còn chọc giận giới giang hồ. Nó không chỉ đứng trên thang, mà còn rung thang. Cùng với cảnh sát bang và liên bang, những tay đàn anh giang hồ đều muốn nó chết.
Bố mẹ của bố xử lý tình hình theo cách riêng của họ. Thay vì đối mặt với sự thật đáng sợ, họ lại tăng thêm những hi vọng hão huyền về con trai mình. Trong khi mẹ kiên trì theo đuổi giả thuyết bản sao của bà, thì bố dượng lại định ra một chuyển biến tích cực trong toàn bộ đống lùng nhùng này, biến sự giải thích hợp lý thành một nghệ thuật. Nếu Terry bắn vào chân một cảnh sát, bố dượng khen ngợi lòng từ tâm của nó vì đã không bắn vào tim; nếu Terry bắn vào tim một cảnh sát, bố dượng khen ngợi nó nhắm trúng. Nghe ông nói, thấy như sự trốn tránh cảnh sát của con trai ông là minh chứng cho đầu óc của ông, sự láu cá của ông, và tính ưu việt bao trùm của ông.
Lionel Potts gọi cho bố năm lần mỗi ngày, van nài bố đến nhà để cập nhật tình hình cho ông. Khi bố đọc cho ông ta nghe từng bản tin, ông thường tháo cặp kính mát ra. Đôi mắt đã chết của ông dường như nhìn thấy hàng dặm, và ông thường ngả người về sau, lắc đầu nguầy nguậy. “Tôi biết một luật sư rất giỏi - ông ta sẽ bào chữa cho Terry. Tôi chỉ tiếc là lần trước tôi đã không đề nghị ông này. Lần đó tôi hơi cáu. Dù gì nó cũng đã làm tôi bị mù. Nhưng mà, chọn luật sư này cho nó là quá chuẩn.” Bố ngồi nghe Lionel nói liên tu bất tận, nghiến răng mình. Bố không chịu nổi. Nghe có vẻ điên cuồng, nhưng bố bị sự ganh tị quật ngã. Terry đang làm một điều gì đó với cuộc đời nó. Nó đã tìm thấy tiếng gọi; dẫu quẫn trí và khát máu, đó vẫn là một tiếng gọi, và nó đang theo đuổi tiếng gọi ấy một cách thận trọng.
Sáng nào bố cũng chạy đến cửa hiệu ở góc đường để mua báo và đọc về hành động tàn bạo của nó. Không phải tất cả nạn nhân của nó đều chết cả. Tay cơ thủ bị cáo buộc đánh bi trắng vào lỗ sau khi nó chạm vào bi đen vô tình một cách cố ý đã bị đánh gãy tay phải, và lạ một điều, hắn, cùng với một số nạn nhân khác của Terry, lại đứng ra ủng hộ cuộc thập tự chinh của Terry. Qua sự mơ hồ đầy cảm xúc của công chúng, bọn họ thú nhận tội lỗi của mình và nói rằng Terry Dean đang thanh tẩy thể chế một thời từng trong sạch nhưng đã trở nên nhớp nhúa trước hấp lực của đồng tiền. Bọn họ không phải là những kẻ duy nhất.
Các vận động viên, nhà bình luận, nhà trí thức, người dẫn chương trình trò chuyện, nhà văn, học giả, chính trị gia, và những người dẫn chương trình phát thanh - ai nấy đều nói về đạo đức thể thao, lý tưởng, những người anh hùng, và tinh thần Úc. Terry đã phát động một cuộc đối thoại trong toàn quốc, và tất cả những vận động viên nam nữ đều thể hiện tác phong tốt nhất.
***
Một hôm giữa tình trạng rối như canh hẹ này, Caroline trở về thị trấn, kéo theo một chiếc va li. Bố đang ngồi trên bậc tam cấp tòa thị chính đếm số đường vân trên ngón tay trỏ của mình thì trông thấy cô ấy đi bộ xuống đường. Cô ấy thấy bố, lôi chiếc va li chạy đến, và giang hai tay vòng qua bố, dán tới tấp lên má bố những nụ hôn thuần khiết. Bố biết ngay lúc ấy ở đấy rằng bọn bố sẽ không bao giờ nhắc lại chuyện đêm hôm trước trong phòng của cô ấy. Bố ngắm cô ấy. Cô ấy quả thực đã nảy nở thành một phụ nữ, nhưng cũng có những thay đổi kì lạ: tóc cô ấy có màu nhạt hơn, gần như vàng hoe, và dù khuôn mặt đầy đặn hơn với môi dưới mọng hơn, song hình như một điều gì đó đã rời bỏ cô ấy, một ánh sáng hay một sự rạng rỡ. Bố nghĩ có lẽ trên đường chu du cô ấy đã nhìn thấy cái gì đó làm nó sợ quá biến mất.
“Em nghe nói về Terry chưa?” bố hỏi.
“Thật không tin nổi.”
“Có phải vì vậy mà em về nhà không?”
“Không, em chỉ mới biết khi đọc báo ở sân bay, và người lái xe buýt kể cho em nghe những phần còn lại. Người ta không nghe nói về nước Úc ở châu Âu, Marty à. Thật là lạ. Chẳng ai biết tí gì về chúng ta cả.”
Đó là lần đầu tiên bố phát hiện ra rằng sống ở Úc giống như có một phòng ngủ rất xa trong một căn nhà rất to. Tất cả là để tốt hơn cho bọn bố thôi, bố nghĩ.
“Em chỉ về để đón bố đi. Em sẽ đưa ông ra nước ngoài.”
“Đi đâu?”
“Paris.”
Bố dùng que cây viết tên mình lên mặt đất. Martin Dean. Những đụn đất nhỏ nằm thành từng đống màu nâu xung quanh nó.
“Anh có tin tức gì từ anh ấy không?”
“Không.”
“Anh ấy sẽ bị giết chết mất.”
“Có thể lắm.”
Cạnh tên mình bố viết tên cô ấy trên đất. Tên của hai người nằm cạnh nhau.
“Anh ấy đang làm một việc quan trọng,” cô ấy nói.
“Nó là kẻ giết người.”
“Nhưng anh ấy có niềm tin.”
“Thì sao?”
“Thì chẳng sao hết. Anh ấy tin vào một điều gì đấy, thế thôi.”
“Những kẻ cưỡng hiếp và ấu dâm cũng tin vào một điều gì đấy. Hitler tin vào một điều gì đấy. Mỗi khi Henry VIII cắt đầu một người vợ, ông ta tin vào điều gì đấy. Không khó để tin vào một điều gì đấy. Ai cũng tin vào một điều gì đấy.”
“Anh thì không.”
“Ừ, anh thì không.”
Lời lẽ đã vụt ra khỏi miệng bố trước khi bố kịp nhận ra mình nói gì. Nghĩ lại, bố thấy chuyện này hoàn toàn đúng. Bố không thể nêu ra được một thứ gì mà bố tin tưởng. Với bố, 1 phần trăm hoài nghi có tác dụng tương tự như 100 phần trăm. Nếu vậy thì, làm sao bố có thể tin vào bất cứ thứ gì khi cái gì đã không đúng thì là không đúng?
Bố vẽ một trái tim xung quanh hai cái tên trên mặt đất.
“Nếu anh nhận được tin của Terry, nhớ báo cho em biết, nhé?”
Bố nhanh chóng lấy đất lấp tên hai đứa lại. Bố đang trở thành thằng ngốc. Cô ấy không yêu bố. Cô ấy yêu nó. Bố bỗng đỏ mặt vì xấu hổ.
“Anh có tin tức của anh ấy.”
Cô ấy chộp lấy cổ tay bố, nhưng bố giật mạnh ra.
“Không có.”
“Có, anh có!”
“Anh đã nói là anh không có mà!”
Cô ấy kéo bố về phía mình và ôm lấy mặt bố bằng hai tay rồi hôn bố thật lâu, thật lâu trên môi. Cô ấy buông ra, để bố sững sờ và không nói nên lời. Bố không thể mở mắt.
“Nếu anh gặp Terry, gửi nó cho anh ấy giúp em.”
Câu nói đó khiến bố mở mắt. Bố mỉm cười để ngăn mình sùi bọt mép. Bố ghét cô ấy. Bố muốn vật cô ấy xuống đất. Bố nói câu gì đó đại loại là “Anh ghét em và sẽ ghét em suốt thời gian anh còn nhớ” rồi bỏ đi, về nhà, dù nhà là nơi cuối cùng bố muốn đi đến. Nó đã biến thành một nơi ít quan trọng về mặt lịch sử, như nhà vệ sinh trong nhà hàng mà Hitler từng dùng trước khi xảy ra vụ hỏa hoạn tại tòa nhà quốc hội, và vậy là đám nhà báo quay trở lại với kiểu hành xử tồi tệ, không chút cảm thông, hét toáng lên những câu hỏi ngớ ngẩn về phía cửa sổ mặt tiền.
Khi bố về nhà, rõ ràng bố dượng đã chịu đựng hết xiết. Ông đang đứng tại cửa, lắc lư, say bét nhè. Khuôn mặt ông đanh lại, như mắc chứng khít hàm.
“Bọn mày muốn vào phải không, lũ chó chết? Vậy thì, vào đi!” ông quát to.
Đám nhà báo nhìn nhau trước khi dè dặt bước vào trong nhà. Họ nghĩ đó là cái bẫy. Nhưng không phải. Đó chỉ đơn thuần là một người đàn ông đang lảo đảo rơi khỏi vách đá lý trí của mình.
“Đây. Chụp cái này đi,” bố dượng nói, mở cửa tủ bếp. Ông lật ván sàn lên. Ông để họ vào phòng ngủ. Ông dứ một chiếc quần lót của Terry vào mũi họ. “Ngửi đi! Ngửi đi!” Ông lột trần tất tần tật. “Các người cần thấy nó xuất xứ từ đâu.” Bố dượng cởi nút quần, lôi con giống của mình ra, rồi lúc lắc nó tứ phía. “Đây này, lũ sâu bọ! Nó là một con tinh trùng lơ đễnh! Đánh bại những con tinh trùng khác đến chỗ trứng! Nó ra từ đây này! Quay phim đi! Quay phim đi, lũ kí sinh trùng dơ dáy!” Đám nhà báo cười ha hả khi mẹ bố đuổi bọn họ vòng quanh nhà. Nhưng họ không muốn đi. Bọn họ đang khoái trá và hí hửng gấp đôi trong tiếng cười. Sự tuyệt vọng say khướt đáng thương của người đàn ông này là điều hay ho nhất mà họ từng chứng kiến trong hàng thập kỉ qua. Họ không thấy mẹ của bố khóc sao? Ồ, có, họ có thể thấy hết; họ có thể thấy qua những ống kính phóng to mà.
Khi đã đẩy bọn họ trở ra bãi cỏ trước nhà, bố cố nói lý lẽ với họ.
“Làm ơn về nhà đi,” bố nài nỉ.
“Em trai anh đâu?” họ hỏi.
“Nó kìa!” Bố la lên, chỉ về phía sau họ. Họ xoay đầu lại như những kẻ ngốc. Khi họ quay lại bố, bố nói, “Làm các người nhìn rồi nhé.”
Một chiến thắng nhỏ mọn.
***
Bố không nói dối Caroline. Suốt thời gian này bố bặt tin từ Terry hoặc Harry và bố vẫn chưa tìm được cách đến chỗ ẩn náu ở vùng ngoại ô đó. Bố cảm thấy bị cắt đứt, và sự tò mò tự nhiên của bố bốc cháy âm ỉ trong lòng bố. Bố phát chán với việc dựa vào những bản tin không đáng tin cậy trên báo chí và những tin đồn nhảm truyền miệng. Bố muốn tin sốt dẻo trong lò. Bố cho rằng có một phần trong người bố cũng muốn tham gia, nếu không phải vào màn giết người thật, thì chí ít cũng làm một nhân chứng. Mọi thứ xảy ra trong đời Terry đến thời điểm này đều có dính líu đến bố cách này hay cách khác. Bố muốn được gia nhập trở lại. Bố biết rằng giây phút bố bước vào cuộc đời nó, cuộc đời của bố sẽ thay đổi vĩnh viễn.
Và bố đã đúng.
Đã đến lúc thử lần nữa. Bố không thể cho rằng cảnh sát đã chán theo dõi bố. Bố dành buổi chiều dệt nên một mê cung qua cánh rừng, rồi sau đó đi bộ băng qua một khoảnh đất trống rất rộng, cứ vài phút lại ngoái đầu một lần để kiểm tra phía sau lưng. Không có gì. Không có ai ở đó. Chỉ để an toàn, bố đi bộ thêm tám cây số để đến thị trấn kế tiếp và đón xe buýt từ đó.
Bố ngạc nhiên khi thấy bãi cỏ phía trước chỗ ẩn náu vùng ngoại ô không còn được cắt tỉa chỉn chu nữa. Chiếc xe nhà ga ở lối chạy vào nhà đã biến mất. Những tấm mành sáo được kéo lên. Trông như cái gia đình bình thường dễ thương mà bọn chúng tạo ra đã lâm vào cảnh khó khăn.
Cánh cửa mở ra khi bố vừa đi vào lối chạy xe. Harry hẳn đã theo dõi từ cửa sổ.
“Nhanh! Vào! Vào!”
Bố vội vã bước vào trong, và Harry đóng sầm cửa sau lưng bố.
“Nó có ở đây không?” bố hỏi.
“Không, nó đ. có ở đây, mà nó khôn hồn thì đừng bén mảng đến địa bàn của tao nếu không muốn ăn một viên đạn vào đầu!”
Bố đi theo Harry vào phòng khách, ở đó lão ngả phịch xuống ghế sofa. Bố cũng ngồi phịch xuống. “Marty, em trai mày là một đứa thích gây chú ý. Tao không cản nó được. Liên doanh đổ nát rồi! Thật là lộn xộn! Giấc mơ của tao! Toàn bộ chuyện này là một thất bại thảm hại. Terry đã quậy banh hết. Nó muốn nổi tiếng, phải không? Nó đã quay lưng trước mọi lời khuyên của tao. Tao cứ xem nó như con trai mình. Nhưng không có đứa con trai nào lại đái vào mặt tao như thế. Ý tao là, tao không có con cái, nhưng khi mày có con mày đâu có muốn bị đái vào mặt! Vài năm đầu, chắc chắn có, nhưng sau đó mày không còn cảnh giác nữa. Và nhìn mà xem nó quậy như thế vì cái gì! Nó tấn công vận động viên, cầu thủ bóng đá, bọn cá độ! Nó thậm chí không thèm cướp của bọn chúng, nó chỉ phanh thây họ chẳng vì cái gì! Tiền nằm ở đâu trong chuyện đó? Và mày biết gì nữa không? Mày đọc báo chưa? Thế giới này nghĩ rằng đó là băng đảng của nó! Không phải của tao, của nó. Mà có phải của nó đâu. Là của tao mà! Của tao, mẹ kiếp! OK, đúng là tao muốn bọn tao vô danh, nhưng tất cả chúng ta đều phải vô danh, và nếu không làm được, thì tao muốn sự ghi nhận công lao mà tao xứng đáng được hưởng! Giờ thì quá muộn rồi. Nó đã lấn lướt tao. Và đám tội phạm mà tao quen biết năm mươi năm qua nghĩ rằng tao đang làm việc cho nó! Có khác gì một cái tát vào mặt? Thật là sỉ nhục! Nhưng tao có một kế hoạch. Tao cần mày giúp. Lại đây, tao muốn cho mày xem cái này.”
Harry đứng dậy và tập tễnh đi về hướng phòng ngủ của lão. Bố theo lão vào trong. Đây là lần đầu tiên bố vào phòng của Harry. Ngoài cái giường, chẳng có gì trong đó. Tuyệt không một thứ gì. Lão vô danh ngay cả trong phòng riêng của mình.
Lão luồn tay xuống đệm rồi lôi ra một xấp giấy dày cộp.
“Tao nghĩ biết đâu cái liên doanh tội phạm dân chủ vô danh lại là một món quà độc nhất vô nhị tao dành cho cuộc đời. Nhưng bây giờ tao thấy nó đã ngủm từ bước đầu. Nó sẽ không bao giờ hoạt động được. Mày không thể giúp đỡ nhân loại. Người ta nghĩ họ cần ánh hào quang để phát triển. Không ai có thể sống đời vô danh. Vì vậy đây là Kế hoạch B, một kế hoạch dự phòng mà tao đã tính toán trong mười năm. Nó là kế hoạch chưa từng được thực hiện. Không ai từng nghĩ đến nó. Đây sẽ là di sản của tao. Chính là nó, Marty ạ. Nhưng tao cần giúp đỡ. Tao không tự làm một mình được. Đó là khi mày bước vào.”
Lão cầm đống giấy đập vào ngực bố.
“Đây là gì?”
“Đây, con trai, là tác phẩm nghệ thuật của tao. Một cẩm nang dành cho tội phạm! Tất cả những gì đã học được tao đều ghi vào đây cả. Nó sẽ là một quyển sách! Một quyển giáo trình! Tao đã viết nên giáo trình tội ác! Một tác phẩm mang tính xác lập!”
Bố cầm lấy bộ sưu tập những trang giấy viết tay và lấy ngẫu nhiên một trang.
Bắt cóc
Nếu cánh truyền thông đánh hơi được chuyện này, anh sẽ gặp rắc rối to nếu không lựa chọn nạn nhân kĩ lưỡng. Đừng bao giờ chọn một người còn trẻ và hấp dẫn, điều cuối cùng một kẻ bắt cóc cần là sự lên án của công luận...
... tìm một địa điểm thích hợp để giấu nạn nhân của anh... tránh cơn cám dỗ được ở trong phòng trọ hay khách sạn đề phòng trường hợp nạn nhân trốn thoát đủ lâu để yêu cầu dịch vụ phòng hoặc khăn tắm mới.
“Như mày thấy đấy, Marty, tao cần mở rộng những ý tưởng này và sắp xếp thành chương...”
Bố nhặt lên một trang khác.
Hãy đốt đi cưng: Phóng hỏa và anh
Ai cũng thích nhìn một đám cháy, kể cả anh. Hãy tránh sự cám dỗ! Sau khi phóng hỏa một tòa nhà, đừng nhìn trộm từ góc đường để thưởng thức đám cháy... Đó là một cái bẫy thường gặp... hầu hết những kẻ đốt nhà đều bị bắt trong vòng vài mét gần hiện trường và cảnh sát luôn để mắt đến những nhân vật khả nghi đứng lượn lờ và nói với những người đứng xem, “Cháy nhà, hả?”
Kiệt tác của lão được viết trên giấy nháp, ở mặt sau hóa đơn, trên khăn ăn, khăn giấy, báo, giấy vệ sinh, và hàng trăm trang giấy tháo rời, hàng tập như thế. Có những hướng dẫn, biểu đồ, bảng biểu tiến trình, ý tưởng, hồi kí, châm ngôn, và những câu cách ngôn về mọi lĩnh vực trong cuộc đời tội phạm. Mỗi suy nghĩ có một tựa đề gạch dưới, là dấu hiệu duy nhất cho thấy người ta có thể sắp xếp một chút đống tả pín lù này.
Đột nhập vào nhà
Đừng vào một ngôi nhà nếu anh không chắc chắn rằng chủ nó không chỉ đi ra ngoài để mua một hộp sữa... hãy nhanh tay... đừng dừng lại để xem qua kệ sách...
“Dĩ nhiên đã có vô số những quyển sách viết về chủ đề tội ác, nhưng chúng hoặc là những nghiên cứu xã hội học hoặc là viết ra để giúp các nhà tội phạm học và cảnh sát. Căn bản là chống tội phạm. Chưa có quyển sách nào được viết bởi và vì chính những tay tội phạm.” Lão nhét xấp giấy vào một chiếc cặp màu nâu rồi đung đưa nó như một đứa trẻ. “Tao tín cẩn giao nó cho mày.”
Bố đón lấy cái cặp. Nó rất nặng, sức nặng của ý nghĩa cuộc đời Harry.
“Tao làm chuyện này không phải vì tiền, do đó tao sẽ chia tiền lời với mày năm mươi-năm mươi, sòng phẳng đâu ra đấy.”
“Harry, tôi không biết mình có muốn làm chuyện này không.”
“Ai quan tâm mày muốn gì chứ? Tao có rất nhiều kiến thức để truyền đạt! Tao phải đưa nó ra với đời trước khi tao chết! Nếu không cuộc sống của tao chẳng còn ý nghĩa gì nữa! Nếu mày đang nghĩ đến chuyện tiền nong thì quên vụ năm mươi phần trăm đi. Lấy hết đi! Tao chẳng quan tâm đâu! Thực sự không đấy. Đây này.”
Harry chạy đến giường chộp lấy một cái gối rồi giũ nó đến khi tiền rơi ra từ bao gối, đổ la liệt xuống sàn. Trên một chiếc chân lành lặn của mình, lão ngồi xổm và nhảy tưng tưng khắp phòng, nhặt tiền lên. “Mày muốn tiền hả? Mày muốn lột áo của tao hả? Mày muốn moi tim từ ngực tao hả? Cứ nói ra. Nó là của mày. Chỉ vì Chúa, hãy giúp tao! Giúp tao! Giúp tao!” Lão ném tiền vào mặt bố. Làm sao bố từ chối được? Bố nhận tiền và tác phẩm nghệ thuật của lão nhưng nghĩ: Luôn có thời gian để đổi ý sau này.
Tối hôm đó, trong nhà kho của bố dượng, bố đọc những dòng chữ nguệch ngoạc của Harry trong kinh ngạc. Một vài ghi chú rất ngắn và trông như được viết với suy nghĩ của một đứa trẻ trong đầu.
Trộm xe
Nếu anh chỉ biết lái xe tự động, đừng ăn cắp loại xe điều khiển bằng tay.
Những ghi chú khác chi tiết hơn và không chỉ tập trung vào cách tiến hành tội ác mà còn kèm phân tích tâm lý nội tại của nạn nhân được chọn.
Cướp giật
Hãy sẵn sàng! Bất kể lẽ thường có mách bảo chúng ta thế nào, người ta sẽ liều mạng đuổi theo vì hai đô la trong ví hoặc xắc tay của họ... và nếu vụ cướp giật xảy ra giữa thanh thiên bạch nhật, thì họ đặc biệt dễ nổi cáu... Sự cả gan của một tên tội phạm cướp giật khi mặt trời mọc cao trên đầu chọc tức họ đến nỗi họ sẽ chạy theo anh như một anh hùng hành động, ngay cả khi anh đang cầm một con dao hay một khẩu súng... Ngoài ra, có vẻ như những phiền toái trong việc hủy một thẻ tín dụng và ý nghĩ xin giấy phép lái xe mới là không thể chịu nổi với đa phần công chúng, họ còn hơn cả sẵn sàng thí mạng để tránh điều đó... trong đầu họ, một cái chết khổ sở từ từ vì vết thương do dao gây ra còn đỡ hơn nhiều so với việc giải quyết nạn quan liêu của cơ quan đăng kí xe ô tô... vì thế anh cần phải sung sức như một vận động viên chạy đường trường.
Tác phẩm này hoặc là đồ rác rưởi, hoặc là một công trình xuất sắc, và bố không quyết định được nó là cái nào. Bố đứng dậy khỏi bàn, định nghỉ giải lao, nhưng cuối cùng lại đứng gập lưng trước những ghi chú của Harry và đọc chúng say sưa. Có cái gì đó trong sự điên cuồng này ngấm vào da thịt bố. Những thứ này giống như một đặc tính đang hình thành: bố dượng xây một nhà tù; Terry trở thành một tên tội phạm bị ảnh hưởng bởi một lão tù nhân trong nhà tù mà bố dượng xây cất. Còn bố? Có lẽ đây chính là vai trò của bố. Có lẽ quyển sách này cuối cùng là điều gì đó mà bố có thể đánh cược cuộc đời mình vào đó, một thứ gì đó đưa bố vào cuộc thử thách lạnh lẽo, bị chối bỏ của cái chết. Bố không thể lôi mình đi được. Những trang giấy đang vẫy tay ra hiệu cho bố như tia sáng từ một đồng xu ở dưới đáy hồ bơi. Bố biết mình phải lặn xuống để xem đồng xu đó có giá trị hay nó chỉ là một lá nhôm bị gió thổi bay.
Bố châm một điếu thuốc và đứng ở cửa nhà kho, nhìn lên trời. Đó là một đêm tối đen như mực, chỉ nhìn thấy ba ngôi sao, và không phải là những ngôi sao nổi tiếng. Bố đút một tay vào túi quần và cảm thấy những cuộn tiền đang bị nghiến lại. Sau tất cả những bài thuyết giảng mà bố dành cho Terry về tội ác, làm sao bố có thể làm chuyện này? Điều đó sẽ không biến bố thành một kẻ đạo đức giả sao? Mà nếu có thì đã sao? Làm một kẻ đạo đức giả thì có gì là ghê gớm? Không phải thái độ đạo đức giả thực sự chứng tỏ tính linh hoạt trong một con người sao? Nếu con khư khư theo nguyên tắc của mình, chẳng phải con cứng nhắc và ấu trĩ sao? Đúng, bố có những nguyên tắc của mình, nhưng thế thì đã sao? Điều đó có nghĩa là vì chúng mà bố phải sống cuộc đời mình một cách cứng nhắc không? Bố đã chọn những nguyên tắc một cách vô thức để định hướng hành vi của mình, nhưng không lẽ một người không thể bổ sung tâm trí tỉnh táo để gạt thứ không tỉnh táo đi ư? Mà ở đây ai là chủ chứ? Và liệu bố có phải tin cậy bản thân trẻ người non dạ của mình để chỉ đạo những tiêu chuẩn của hành vi mình trong suốt cả cuộc đời? Liệu bố có không sai về mọi thứ? Tại sao bố lại nên ràng buộc đời mình vì nỗi sợ mơ màng của chính bộ não mình? Không phải là bố, chính lúc này, đang lý sự vì bố muốn số tiền đó? Và tại sao bố lại không nên lý sự? Chẳng phải lợi ích của sự tiến hóa chính là chúng ta sở hữu một đầu óc lý trí sao? Chẳng phải con gà sẽ hạnh phúc hơn nếu nó cũng có một đầu óc như vậy? Khi đó nó có thể nói với loài người, “Làm ơn đừng cắt nhỏ đầu tôi để xem tôi có thể chạy vòng vòng mà không có đầu có được không? Chuyện đó sẽ làm các người khoái trá bao lâu?”
Bố xoa đầu. Bố cảm thấy một cơn đau nửa đầu đang đến, một cơn đau tối tăm mặt mũi.
Bố đi ra ngoài và thả bộ dọc theo con đường tối vào thị trấn. Với sự nổi tiếng mới tìm được, Terry đã cho thế giới tội phạm một gương mặt. Với quyển sách này, Harry và bố sẽ cho nó một bộ óc. Thật thú vị khi trở thành một phần của một cái gì đó to lớn hơn chính bản thân mình. Những ánh đèn từ thị trấn đang tắt lịm, từng cái một. Bố có thể thấy bóng nhà tù trên đồi. Nó sừng sững to lớn và kệch cỡm, như một cái đầu bằng đá khổng lồ của một vị thần chết đã lâu đang ăn mòn trên vách núi. Bố hét lên: “Sao mình không làm điều mình muốn? Cái gì đang ngăn cản mình?”
Bố cảm thấy một cục nghẹn trong cổ họng mình to bằng nắm đấm. Đó là lần đầu tiên bố tự vấn mình một cách nghiêm khắc như thế, và có vẻ như những câu hỏi đang được đọc lên bởi một người nào đó già hơn bố.
Bố tiếp tục hét to: “Người ta quá cả tin vào chính họ. Điều gì họ cho là chân lý, họ để nó thống trị cuộc sống của họ, và nếu mình bắt tay vào tìm một con đường để sống sao cho mình sẽ kiểm soát cuộc đời mình, thì thực ra khi đó mình lại mất tự chủ, vì cái điều mà mình đã quyết định, chân lý của mình, trở thành kẻ thống trị còn mình thì trở thành tôi tớ của nó. Làm sao mình có thể tự do để tiến hóa nếu mình nạp mạng cho một kẻ thống trị, bất cứ kẻ thống trị nào, ngay cả khi kẻ thống trị đó là mình?”
Bố sợ hãi trước chính lời lẽ của mình, vì những ẩn ý của chúng bắt đầu ngấm vào. “Sự vô kỉ luật, sự mất phương hướng, sự hỗn loạn, bối rối, giập nát,” bố nói, chẳng với ai cả, mà với đêm đen. Bố đang độc thoại loạn cả lên. Đầu bố đập thình thịch. Bố đang có những suy nghĩ khiến đầu co thắt.
Đột nhiên, với một sự sáng tỏ chói lòa, bố biết rằng Harry là một thiên tài. Một nhà tiên tri, có lẽ thậm chí là một kẻ tử vì đạo - chuyện đó để hạ hồi phân giải, tùy thuộc xem lão chết thế nào. Lão đang cách tân. Đó là lý do vì sao lão chọn bố để đem những bí kíp ngu xuẩn của lão xuống núi. Lão đang chỉ đường cho bố. Với minh họa thực tế, lão đang cho bố thấy rằng chẳng cần đến thượng đế mới có thể đổi mới, sáng tạo, đảo lộn, phá hủy, nghiền nát, và tạo cảm hứng; một con người cũng có thể làm được công việc này tốt như thế, và có thời gian để làm việc đó. Không phải trong sáu ngày, như Người-Mà-Con-Biết-Là-Ai-Đấy. Đây là việc không cần vội vã. Và ngay cả khi, lúc kết thúc công việc vất vả của mình, bố rốt cuộc chỉ tạo cảm hứng cho lòng thù hận hoặc sự vô cảm, thì bố biết rằng bố có nghĩa vụ phải cố gắng, vì đây là sự thức tỉnh của bố, và đó chính là bản chất của sự thức tỉnh: ngồi dậy. Chẳng ích lợi gì nếu thức tỉnh rồi bấm nút báo thức lần nữa và nằm xuống ngủ tiếp.
Đây là những ý nghĩ to tát, thực sự khổng lồ. Bố tìm thấy một điếu thuốc lá hút dở trên mặt đất. Bố nhặt nó lên. Bố có cảm giác nó rất mạnh mẽ trong tay mình, như ngọn đuốc Olympic. Bố châm lửa rồi đi bộ quanh thị trấn. Trời lạnh. Bố giậm chân và kẹp hai bàn tay dưới nách để giữ ấm. Quyển sách này của Harry là bước tiến nhỏ đầu tiên trong một cuộc cách mạng không tên sắp sửa diễn ra, và bố đã được chọn vì đầu óc xuất sắc của mình. Bố muốn ca ngợi bản thân mà không cảm thấy tội lỗi. Bố muốn hôn lên bộ óc của mình. Bố cảm thấy mình già hàng nghìn tuổi. Bố cảm thấy mình già hơn đất đá. Bố bị sức mạnh của từ ngữ và ý tưởng nhấn chìm. Bố nghĩ về người bố đầu tiên của mình, người bố số một, ở Ba Lan, và bố nghĩ về sự mất trí của ông: chết vì một ông thánh. Thật là một lý do ngu xuẩn để chết: vì một ông thánh, một ông thánh trời đánh! Bố thét to với một cái cây, “Tao muốn chết vì tao là một sinh vật có hạn sử dụng! Tao muốn chết vì tao là con người và con người thì phải thế; họ ngã quỵ, thối rữa, biến mất!” Bố đi tiếp, nguyền rủa sự ngu ngốc mù quáng của bố mình. Bố gào lên, “Chết vì một lý tưởng! Ăn đạn vì một ông thánh! Đúng là đồ ngốc!”
Thị trấn chỉ còn đèn đường thắp sáng trên những con đường chính - những con đường dẫn vào và ra thị trấn được để mặc cho lòng trắc ẩn của mặt trăng và những vì sao, và khi không có trăng cũng chẳng có sao, chúng tối đen như mực. Những cành cây xào xạc trước cơn gió thổi từ hướng tây. Bố đi vào nhà, ngồi trên hiên, và chờ đợi. Chờ cái gì? Không phải cái gì: ai. Bố đang ở nhà của Caroline. Bố chợt nhận ra những kẻ lãng mạn là những kẻ dở hơi. Tình yêu không được đáp lại thì chẳng có gì hay ho. Bố nghĩ nó thối hoắc, thối thực sự. Yêu một người không đáp lại tấm chân tình của con có thể là chuyện rất lý thú trong sách vở, nhưng ngoài đời nó chán không chịu nổi. Bố sẽ nói với con cái gì mới lý thú: những đêm đê mê, ướt át. Nhưng ngồi trên hiên ngoài ngôi nhà của một người con gái đang ngủ mà không nằm mơ thấy con là một việc ngán ngẩm và đáng buồn.
Bố đợi Caroline tỉnh dậy và đi ra ngoài hiên rồi quàng tay ôm lấy bố. Bố nghĩ ý chí của mình mạnh đến nỗi có thể điều khiển tinh thần cô ấy thức dậy từ trong giấc ngủ và lôi cô ấy đến cửa sổ. Bố sẽ nói cho cô ấy biết những suy nghĩ của mình và cô ấy cuối cùng sẽ biết bố là ai. Bố nghĩ mình cũng giỏi như đầu óc của mình và cô ấy sẽ thích mê tơi cả hai; bố quên béng đi cơ thể và khuôn mặt mình, những thứ vốn không hấp dẫn lắm. Bố bước về phía cửa sổ mặt tiền và nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của mình rồi đổi ý. Bố bước ra xa và đi bộ về nhà. Đây chính là sự thức tỉnh của bố, Jasper ạ! Harry, Harry tội nghiệp, lão có ý nghĩa quan trọng to lớn đối với bố: một đầu óc được giải phóng. Cho đến khi gặp lão, mọi đầu óc mà bố biết đều bị trói buộc, trói buộc một cách khó tin. Sự tự do của đầu óc Harry thật gây phấn khởi. Đó là một đầu óc tuyệt đối sống thật với chính nó, hoạt động bằng chính năng lượng của nó. Trước đó bố chưa từng gặp một đầu óc nào bất diệt, không bị ảnh hưởng trước sự tác động của ngoại cảnh.
Bố về nhà và nghiền ngẫm thêm những ghi chú của Harry. Chúng ngốc nghếch không chịu nổi! Quyển sách này, quyển cẩm nang dành cho tội phạm của lão, nó là một sự loạn trí. Nó không nên tồn tại. Nó không thể tồn tại. Đó là lý do vì sao bố phải giúp lão đưa nó đến với đời. Bố phải làm thế! Bố chia quyển sách thành hai phần chính: Tội ác và Sự trừng phạt. Rồi trong những phần này bố lập chương mục, phụ lục, và bổ sung những chú giải, giống như một quyển sách giáo khoa thực sự. Bố hoàn toàn tin tưởng vào những ghi chép của Harry. Thỉnh thoảng trong lúc đánh máy bố bắt gặp một đoạn và bố phá ra cười, cười đau cả bụng. Thật tuyệt vời! Những từ ngữ của lão thật kì diệu! Chúng bám sâu vào óc bố.
Về các vụ đột nhập
Khi đã vào trong, hãy nhanh tay và cẩn thận. Đeo găng tay và giữ chúng trên tay. Không bao giờ cởi chúng ra trong bất kì tình huống nào. Anh sẽ ngạc nhiên khi biết nhiều tên trộm đã cởi găng tay ra để ngoáy mũi. Tôi muốn nhấn thật mạnh điều này: Đừng để dấu vân tay lại bất kì đâu! Ngay cả trong mũi của anh!
Bố đánh máy tất cả chúng, từng từ một. Bố không bỏ bất cứ thứ gì ra. Bố làm tất cả không cần ngủ. Có một dòng điện chạy trong người bố, bố không thể ngắt nó. Đây là một bí kíp khác mà bố còn nhớ:
Về việc hối lộ
Khi hối lộ các nhân viên làm luật, một kĩ thuật phổ biến là đánh rơi tiền trên sàn trước mặt nhân viên cần hỏi rồi nói bằng giọng bình thản, “Ông đánh rơi nó à?” Chuyện này rất rủi ro vì có khả năng tay nhân viên ấy nói, “Ừ, tao đánh rơi đấy. Hoan hô,” rồi bắt anh sau khi đã bỏ tiền vào túi. Tuy không có kế hoạch đút lót nào được đảm bảo, tôi đề nghị chỉ cần đi đến rồi nói, “Vậy. Ông có nhận hối lộ không?” Cách này, nếu hắn ta không nhận, và buộc tội anh cố ý đưa hối lộ nhân viên làm luật, anh có thể bào chữa bằng cách giải thích rằng anh chưa bao giờ thực sự đưa hối lộ, mà quả thật anh đâu có làm thế; anh chỉ hỏi về tính trung thực của kẻ bắt anh và chỉ đơn thuần đang đề phòng thói đạo đức giả mà thôi.
Lập luận của lão không thể sai vào đâu được. Ngay cả những tiêu đề của từng chương cũng khiến bố khoái chí điên đảo:
Những tội ác không động cơ: Tại sao?
Cướp có vũ trang: Cười suốt trên đường từ nhà băng
Tội ác và Thời trang: Mũ trùm đầu luôn hợp mốt
Cảnh sát và anh: Làm thế nào để nhận diện một tên cớm biến chất qua đôi giày của hắn
Chương có tiêu đề “Móc túi: Một tội riêng tư” có một dòng viết rằng, “Nếu anh phải kéo dây khóa xuống thì đấy không phải là túi quần. Hãy rút tay lại ngay!” Con có cãi lại được không? Không, con không thể. Bố còn nhớ một vài tiêu đề chương khác nữa. Có những cái như:
Tấn công: Làm bầm dập kẻ thù của anh
Đổ lỗi: Mưu hại bạn bè của anh
Ngộ sát: Ối!
Vượt ngục: Hãy đi, đừng bỏ chạy
Tình yêu: Kẻ chỉ điểm chính cống
Những tội ác do ghen tuông: Sát nhân máu nóng
Những tội ác trụy lạc: Chỉ dành cho các tình nhân
Đó là một bộ sách toàn diện. Lão không chừa một cái gì. Không tội ác nào là quá nhỏ bé, như được đề cập trong Chương 13: “Những tội nhẹ và những tội ác phi lợi nhuận khác: Băng qua đường sai luật, Đi lang thang, Viết vẽ lên tường, Xả rác, Lén đi chơi bằng ô tô người khác, và Khỏa thân nơi công cộng.” Khi Harry nói đây sẽ là một tác phẩm mang tính xác lập, lão đã không nói đùa!
Bố rời khỏi nhà lúc bình minh, quay cuồng với những suy đoán. Liệu Harry có thể xuất bản được quyển sách này không? Ai sẽ xuất bản nó? Công chúng sẽ phản ứng thế nào?
Khi bố bước ra ngoài, bố để ý thấy một đống lửa đang nhả khói trong buổi sáng lạnh lẽo và, bên cạnh nó, bốn nhà báo đang ngủ cắm trại ngoài trời dưới những tán cây. Họ đến đấy từ bao giờ? Một cơn ớn lạnh chạy qua người bố. Sự có mặt của họ mang một trong ba ý nghĩa: hoặc Terry đã phạm một tội khác, hoặc nó đã bị bắt, hoặc nó đã chết. Bố muốn lay họ dậy và hỏi họ xem điều nào đúng, nhưng bố không dám, không nên làm thế khi đang trên đường đến chỗ Harry - một kẻ đào tẩu ít nổi hơn, chắc rồi, nhưng dù gì đi nữa vẫn là một tên đào tẩu. Bố để cánh nhà báo ngủ, chúc họ gặp ác mộng, rồi đi đến trạm xe buýt.
Bố nghe tiếng bước chân sau lưng. Bố nhăn mặt, nghĩ đấy là cảnh sát hoặc một đám nhà báo. Nhưng chẳng phải. Đó là mẹ của bố đang mặc áo ngủ màu be và đi chân trần. Trông bà như đã không ngủ hàng chục năm rồi. Có lẽ bà cũng đã lén đi ngang qua lũ nhà báo.
“Con đi đâu giờ này lúc sáng sớm? Con định đi gặp Terry phải không?”
“Không, mẹ ạ, con không biết nó ở đâu.”
Bà túm tay bố lại. Bố nhìn thấy điều gì đó kinh khủng trong mắt bà. Trông như chúng đã khóc, rút hết muối và những khoáng chất cần thiết khác trong người bà. Bệnh tình của bà đang bắt đầu ăn mòn. Bà đã gầy hơn, già xọp đi. Bà rầu rĩ nói, “Lại có một vụ tấn công nữa. Người ta nói trên đài phát thanh. Lần này là một cầu thủ cricket khác - họ tìm thấy anh ta với cái đầu bị đập và một quả bóng cricket nhét vào mồm. Họ nói em con làm việc đó. Tại sao, tại sao họ lại nói nó làm việc đó?”
“Vì có thể nó đã làm thế.”
Bà giáng một cái tát vào mặt bố. “Không được nói vậy! Đó là nói dối! Đi tìm Terry và bảo nó đầu thú cảnh sát đi. Nếu nó trốn, thì chỉ càng khiến nó giống như có tội.”
Xe buýt đến trong lúc bà vẫn đang lải nhải đầy kích động. “Và nếu con không tìm được Terry, thì vì Chúa, hãy tìm đứa bản sao ấy!”
Bố bước lên xe buýt và tìm một ghế ngồi. Khi nó chạy đi, bố nhìn mẹ mình qua cửa sổ. Bà chống một tay vào thân cây, còn tay kia đang nhặt sỏi ra khỏi gót chân.
Bố đến nhà Harry thì thấy lão đang nhìn bố trừng trừng qua cửa sổ phía trước. Khi bố bước vào, bố kiềm nén cơn cảm xúc mãnh liệt muốn ôm lão.
“Mày đang làm gì ở đây?” Harry quát vào mặt bố. “Tao cứ nghĩ sẽ không gặp mày cho đến khi mày làm xong kia mà! Mày đã đổi ý, phải không? Thằng chó! Quân phản phúc! Mày đã bị lương tâm cắn rứt! Sao mày không cút khỏi đây rồi đi vào tu viện mà sống đi, thằng đạo đức giả chó chết!”
Cố nén nụ cười, bố lôi bản thảo từ chiếc cặp màu nâu ra và vẫy nó trước mặt lão. Mắt lão trợn tròn.
“Đây có phải là...”
Nụ cười của bố không thể kiềm nén được nữa. Bố để nó bùng nổ.
“Nhanh vậy á?”
“Tôi đã được làm việc cùng những câu chữ tuyệt vời.”
Harry chộp lấy bản thảo và lật nhanh đầy phấn khích. Khi lão lật đến trang cuối, lão quay lại trang đầu. Bố đứng đó một chốc trước khi nhận ra rằng lão sẽ đọc hết đến cuối. Bố đi ra sân sau nhà đang ngập tràn ánh nắng. Cái hồ bơi giờ đây là một đầm lầy hôi thối khổng lồ. Bãi cỏ um tùm cỏ dại. Khung kim loại của những chiếc ghế dựa đổi sang màu nâu vì gỉ sét. Bố ngả người lên một chiếc ghế và nhìn lên trời. Những đám mây có hình dạng như những cái bụng bầu đang trôi. Mắt bố nhắm lại và bố trôi uể oải vào giấc ngủ. Trước khi bố đến đó, trong thế giới nửa thực nửa mộng, bố nghĩ mình trông thấy Terry nấp trong một đám mây trên đó. Bố thấy nó kéo tấm màn mềm mại bồng bềnh che mặt mỗi khi có một chiếc máy bay bay ngang qua. Rồi bố chìm vào giấc ngủ.
Bố tỉnh dậy vã mồ hôi. Mặt trời đang đứng bóng phía trên bố. Nheo mắt nhìn qua ánh sáng chói lòa, bố có thể thấy bóng cái đầu của Harry. Trông nó thật đồ sộ. Khi lão ngả người vào bóng râm, bố thấy lão cười với bố. Lão ngồi trên mép chiếc ghế của bố và ôm siết chặt lấy bố, hôn tới tấp lên bố. Lão còn hôn cả môi bố, một nụ hôn đáng tởm, nhưng bố đón nhận nó theo tinh thần mà nó được trao đi.
“Mày đã làm cho tao một việc tuyệt vời, Martin à. Còn sống ngày nào tao sẽ không bao giờ quên ơn mày ngày đó.”
“Có thêm một vụ tấn công nữa,” bố nói.
“Ừ, nghe trên đài phát thanh rồi. Thằng ngu.”
“Nghe nói gì về nó không? Biết nó có thể ở đâu không?”
Harry lắc đầu buồn bã. “Nó đã trở thành một kẻ nổi tiếng mê muội. Nó không tránh bọn cớm được bao lâu nữa đâu. Những gương mặt nổi tiếng tạo ra những kẻ đào tẩu dốt nát.”
“Ông có nghĩ, nếu họ đuổi kịp nó, nó sẽ lặng lẽ ra đi không?”
“Không hẳn thế,” lão đáp, cầm bản thảo lên rồi vỗ phét một cái như thể đấy là một cái đùi. “Đi nào. Hãy tạo ra chút ồn ào cho riêng ta.”
***
Tìm một nhà xuất bản là việc không hề dễ dàng, không chỉ vì nội dung liều lĩnh. Harry là một kẻ đào tẩu. Nếu bọn bố đi đến một nhà xuất bản với tên của Harry dán khắp bản thảo, bọn bố có thể nhận được không chỉ là một sự từ chối. Rất có thể một nhà xuất bản sẽ gọi cảnh sát. Một sự từ chối nhân đôi! Sau nhiều tranh luận, bố tìm cách thuyết phục Harry rằng nên giữ bí mật danh tính lão đến phút cuối cùng có thể - đến ngay trước thời điểm in sách, bọn bố sẽ giấu tên tác giả. Nhưng Harry vẫn muốn đi cùng để chọn nhà xuất bản xứng đáng nhất với quyển sách của lão. Việc đó dường như là không thể. Lão là kẻ bị truy nã - không phải trong băng đảng của Terry, nhưng cảnh sát cũng không quên tìm kiếm những tên tội phạm vượt ngục chỉ vì báo chí không ưu ái chúng. Hơn hết, chân của Harry đã quá yếu đến nỗi lão khó lòng bước đi được. Không may là, chẳng gì bố nói có thể làm chùn bước lão trong việc phải đích thân hướng dẫn cách in ấn di sản của mình. Quá nguy hiểm nếu đặt nó vào đôi tay thiếu kinh nghiệm của bố.
Bọn bố đi ra ngoài vào ngày hôm sau. Với dáng đi khập khiễng và râu ria lởm chởm, trông lão như một gã đầu đường xó chợ. Bố đề nghị lão cạo râu và làm ra vẻ chỉnh tề hơn, nhưng lão một mực cho rằng các tác giả lúc nào cũng trông có vẻ khác thường so với xã hội vì vậy thật ra bộ dạng gớm ghiếc như thế của lão có lợi cho bọn bố. Lão khoác lên mình một chiếc áo choàng cũ dù trời nóng như thiêu đốt, rồi giấu một khẩu súng trường đã cưa báng vào túi trong. Bố chẳng nói gì. “Ta lên đường, nhỉ.” Bố đưa mình ra làm nạng và lão dựa toàn bộ sức nặng cơ thể vào bố, luôn miệng xin lỗi. Có cảm giác như bố đang kéo lê một xác chết.
Nhà xuất bản đầu tiên nằm trong một tòa nhà trông giống như nó sẽ tính tiền con cho việc đặt chân vào, và bên trong, sảnh đợi lắp đầy kính để chứng tỏ con là một kẻ nhếch nhác. Bọn bố lên tầng hai mươi, đi chung thang máy với hai bộ đồ vest có người bị nhốt bên trong. Các văn phòng của nhà xuất bản này chiếm hết tầng lầu. Phần đỉnh đầu của cô tiếp tân hỏi bọn bố có hẹn không. Khuôn mặt của cô ta mà bọn bố chẳng thấy được gì nhiều mỉm cười cay nghiệt khi bọn bố lóng ngóng nói không. “Ái chà, ông ấy rất bận không thể gặp hai người hôm nay,” cô ta nói bằng giọng không thể thương lượng. Harry xuất chiêu.
“Nghe này. Đây là một trong những cơ hội mà cô sẽ hối tiếc nếu không chộp lấy. Giống như cái nhà xuất bản đã từ chối quyển sách nổi tiếng nọ mà sau đó đã bán được hàng tỉ tỉ cuốn. Tên quyển sách đó là gì, Martin nhỉ? Anh biết không, quyển mà bị từ chối rồi sau đó bán được cả tỉ cuốn ấy?”
Bố không biết nhưng nghĩ tốt hơn hết là cứ hùa theo. Bố tham gia bằng cách nêu tên quyển sách bán chạy nhất mọi thời đại.
“Kinh thánh, ấn bản King James[20].”
“Đúng, vì Chúa, chính là nó. Kinh thánh! Cô tiếp tân không để cho tông đồ của Chúa đi vào, ngay cả khi anh ta cầm một mỏ vàng trong tay.”
“Ôi lạy Chúa tôi,” người tiếp tân nói, thở dài. Cô ta liếc xuống quyển sổ hẹn của mình. “Ông ta có một cuộc hẹn vào cuối ngày, và nếu nó kết thúc sớm, hai người có thể gặp ông ta trong năm phút trước khi ông ấy về nhà.”
“Thế đủ rồi, thưa quý cô tốt bụng,” Harry nói, nháy mắt. Bố dìu lão đến một chiếc ghế trong phòng đợi.
Bọn bố chờ đợi.
Harry run cầm cập và hai tay lão đang giấu sâu trong áo choàng, điều đó khiến bố hồi hộp, vì biết trong đó còn có thứ gì nữa. Hai hàm răng lão nghiến chặt như thể có người đã ép lão cười để chụp hình mười hai giờ trước và đến giờ vẫn chưa chụp.
“Ông có ổn không?” bố hỏi.
Bố có thể thấy thói đa nghi của lão đang bắn đi khắp nơi. Đôi mắt lão đảo khắp phòng trong khi cổ lão lắc lư cái đầu từ lối vào đến lối đi. Tầm giờ ăn trưa bố để ý thấy Harry nhét ngón tay vào lỗ tai. Khi bố hỏi lão, lão lầm bầm gì đấy về tiếng ồn. Bố không nghe thấy gì cả. Một giây ngắn ngủi sau có một tiếng ầm lớn. Bố rướn cổ ra và qua một trong những lối vào thấy một thanh niên đang đá cật lực vào một chiếc máy photocopy. Bố nhìn Harry đầy ngờ vực, và nhớ lại lúc Terry và bố lần đầu đến nhà tù gặp lão, Harry đã nhắc đến cái gọi là thần giao cách cảm được phát triển cao trong trí não của những tên tội phạm chuyên nghiệp. Sự hoang tưởng dài hạn đem lại cho con người một mức độ tri giác ngoại cảm nhất định, lão đã nói thế, hoặc một cái gì đó đến mức ấy. Nó có thật không? Khi đó bố đã không tin lão, nhưng còn bây giờ? Bố không biết nên nghĩ gì. Bố nhìn chăm chú gương mặt của Harry. Lão gật đầu với bố với một vẻ tự mãn khó nhận ra.
Lúc năm giờ kém năm phút bọn bố được dẫn vào phòng của giám đốc xuất bản. Mọi thứ về căn phòng khiến con cảm thấy nhỏ bé và tầm thường. Nó là một căn phòng rộng rãi, yên tĩnh, có gắn máy điều hòa nhiệt độ và mới trải thảm, thay vì có cửa sổ, nó có một bức tường kính mà con không thể mở ra và nhảy xuống, dù con muốn làm thế; cùng lắm con chỉ có thể đè mặt mình lên đó và mơ đến cảnh rơi xuống. Giám đốc nhà xuất bản trông như bị ai đó bảo rằng nếu mỉm cười ông ta sẽ đánh mất toàn bộ mọi thứ mà ông ta đã nỗ lực đạt được.
“Ông viết một quyển sách. Tôi xuất bản sách. Ông nghĩ điều này có nghĩa là chúng ta là một đôi trời sinh. Không có đâu. Tôi phải bị thuyết phục bởi những gì ông viết, và tôi không dễ bị thuyết phục,” ông ta nói.
Harry yêu cầu giám đốc nhà xuất bản xem sơ qua trong lúc bọn bố chờ đợi. Ông ta cười to mà không nhe răng. Harry lại xuất chiêu về cơ hội vàng bị bỏ lỡ đánh thẳng vào tim người, thứ nằm ở trong túi sau của ông ta. Ông ta cầm bản thảo lên rồi xem lướt qua, chắc lưỡi như đang gọi con chó của mình. Ông ta đứng dậy và đi về phía bức tường kính rồi đọc trong lúc dựa lưng vào đấy. Bố lo bức tường sẽ nứt ra khiến ông ta ngã nhào xuống đường. Một phút sau, ông ta ném bản thảo về phía bọn bố như thể nó đã làm bẩn tay ông ta.
“Đây là một trò đùa hả?”
“Tôi cam đoan với ông là không phải.”
“Xuất bản cái này sẽ đồng nghĩa với tự sát. Các người đang hướng dẫn người ta cách phạm luật.”
“Tại sao ông ta lại nói với tôi quyển sách của tôi viết về cái gì?” Harry hỏi bố.
Bố nhún vai.
“Biến khỏi đây ngay trước khi tôi gọi cảnh sát!” ông giám đốc xuất bản quát vào mặt bọn bố.
Trong thang máy trên đường đi xuống, Harry run lên vì giận. “Thằng khốn đó,” lão lầm bầm.
Bố cũng cảm thấy bị tổn thương tương tự, bố không biết nhiều về giới xuất bản, nhưng bố đã cố gắng giải thích với lão rằng phải chuẩn bị tinh thần đón nhận vài ba lần từ chối. “Chuyện này bình thường mà. Sẽ là hơi quá nếu hi vọng nơi đầu tiên nhận lời ngay.”
Ở tầng thứ hai thang máy dừng lại. “Chúng ta dừng lại làm gì đây?” Harry quát vào mặt bố.
Cánh cửa mở ra và một người đàn ông bước vào. “Mày không đi bộ xuống nổi một tầng lầu chó chết hả?” Harry quát ầm lên, và người đàn ông phóng ngay ra ngoài vừa kịp lúc trước khi cánh cửa đóng lại.
Chẳng thể bắt taxi trên đường. Thực sự không nên lang thang ngoài đường thế này với một tên đào tẩu được biết đến, nhưng chẳng ai trong số bọn bố có vẻ như hô biến ra được một chiếc taxi chỉ bằng cách ước nguyện.
“Chúng ta tiêu rồi!” lão thì thầm.
“Cái gì?”
“Chúng đang theo dõi tao!”
“Ai?”
“Tất cả bọn chúng!”
Lão đã bị mất kiểm soát. Lão đang cố nấp sau lưng bố, nhưng đám đông có ở tứ phía. Lão lượn vòng tròn quanh người bố như con cá mập. Lão đang gây quá nhiều chú ý đến bản thân trong nỗ lực hoảng loạn nhằm giữ cho mình không bị nhận ra.
“Kia kìa!” lão thét lên, và đẩy bố vào dòng xe cộ, vào một chiếc taxi. Những chiếc xe phanh lại và bấm còi inh ỏi khi bọn bố nhảy vào xe.
Bố thực sự hạ quyết tâm sau đó. Harry sẽ phải ở nhà. Bố chỉ đơn giản từ chối giúp lão nếu lão cứ nằng nặc đòi đi cùng. Lão phản kháng, nhưng một cách yếu ớt. Sự cố cuối cùng đã cộng thêm mười bảy năm lên khuôn mặt lão. Cả bản thân lão cũng thấy điều đó.
***
Những tuần tiếp theo là một cơn ác mộng. Bố đi từ văn phòng này đến văn phòng khác trong trạng thái mơ hồ. Tất cả đều như nhau. Bố không thể chịu nổi sự im lặng của họ. Mọi người nói thì thào, và cái kiểu họ đi đâu cũng nhón gót khiến con nghĩ mình đã bước lạc vào một ngôi đền thiêng nếu không nhờ có tiếng chuông điện thoại. Những cô tiếp tân đều mang kiểu cười nhếch mép chiếu cố như nhau. Thường bố ngồi trong phòng đợi với các tác giả khác. Họ cũng giống nhau. Tất cả họ đều mang dáng vẻ sợ hãi, tuyệt vọng và trông đói khát đến độ họ sẽ kí tên đồng ý giao quyền nuôi con của họ để đổi lấy một viên thuốc, những tên khốn tội nghiệp.
Tại một nhà xuất bản, nơi bố đợi suốt ngày trong hai hôm liên tiếp mà vẫn chưa được diện kiến nhà vua, một tay nhà văn và bố trao đổi bản thảo cho nhau để giết thời gian. Truyện của anh ta diễn ra ở một thị trấn đồng quê nhỏ, nói về một bác sĩ và một giáo viên có thai đi ngang qua nhau trên đường mỗi ngày nhưng quá nhút nhát không dám nói câu chào hỏi. Thật không thể đọc nổi. Hầu như chỉ toàn là mô tả. Tinh thần bố thoải mái hơn khi, ở trang 85, anh ta quyết định đưa một đoạn đối thoại lõm bõm giữa hai nhân vật vào truyện. Thật sự phải đấu tranh tư tưởng để đọc hết tiểu thuyết của anh ta, nhưng vì anh ta ngồi ngay cạnh bên nên bố phải cố gắng, để tỏ ra lịch sự. Thỉnh thoảng bọn bố lại liếc nhìn nhau để xem tiến triển thế nào. Cuối cùng, tầm giờ ăn trưa, anh ta quay sang bố và nói, “Đây là một quyển sách kì lạ. Là tiểu phẩm hài phải không?”
“Không hề. Truyện của anh cũng thú vị lắm. Các nhân vật bị câm à?”
“Không hề.”
Bọn bố trả lại bản thảo cho nhau và nhìn vào đồng hồ.
Mỗi buổi sáng bố chịu trận bốn giờ ngồi xe buýt đến Sydney, nơi bố dành ra cả ngày để đi từ nhà xuất bản này đến nhà xuất bản khác. Đa số cười ngay vào mặt bố. Một ông phải đi ra khỏi bàn làm việc của mình để làm thế vì mặt bố ở xa quá. Thật sự rất nản. Ngoài ra, các nhà xuất bản không thích ý định của bố về việc giấu họ tên tác giả cho đến ngày in sách. Nó khiến họ nghi ngờ. Nhiều người nghĩ đó là âm mưu để đẩy họ vào thế nguy hiểm. Con chưa từng gặp đám lái buôn hoang tưởng, thiếu đầu óc tưởng tượng, chậm hiểu nào mồm mép như bọn này đâu. Những kẻ có thái độ nghiêm túc với bản thảo, những kẻ không nghĩ đấy là một vố chơi khăm hoặc một trò xỏ lá hoặc một âm mưu, thì gọi bố bằng những cái tên tệ hại nhất có thể nghĩ ra. Bọn họ nghĩ tác phẩm đó là một sự kinh tởm còn bố là một kẻ theo chủ nghĩa vô chính phủ nguy hiểm, thiếu trách nhiệm vì đã tìm cách chào hàng nó. Trước khi ném bố ra đường, họ đều nói cùng một câu: quyển sách này sẽ không bao giờ được xuất bản, không phải trong thời đại của họ. Bố nghĩ điều đó đồng nghĩa với việc rằng một khi họ chết, thì toàn thể thế gian sẽ đổ nhào vào bồn cầu vì những gì họ quan tâm.
Harry đón nhận tin này một cách hằn học. Lão nổi trận tam bành, buộc tội bố lười biếng hoặc phá hoại các cuộc gặp vì thiếu khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Điều đó khiến bố sôi máu. Bố đã trầy vi tróc vẩy chào bán quyển sách ấy của lão, nhưng chính quyển sách là thứ họ không thích, đâu phải bố. Rồi, sau lần từ chối thứ mười, lão bắt đầu nguyền rủa ngành công nghiệp xuất bản Úc thay vì nguyền rủa bố. “Có lẽ chúng ta phải đem nó đến Mỹ. Ở đó bây giờ người ta tha hồ tự do thể hiện ý kiến. Họ có cái gọi là quyền tự do báo chí. Họ có những tu chính án để thực thi quyền này. Ý tưởng được khuyến khích sinh sôi nảy nở. Ở đây ngành công nghiệp này cũ rích như những mẩu vụn bánh mì để lâu cả tuần. Đất nước này bảo thủ chó chết đến nỗi làm mày muốn ói. Ai mà có cái gì xuất bản được ở đây mới lạ.” Có thể lão có lý. Có thể những nhà xuất bản địa phương chỉ đơn giản là quá sợ sệt. Lão bắt đầu nói về việc mua cho bố một vé máy bay đi New York, nhưng bố quyết liệt bác bỏ ý tưởng ấy. Bố không muốn đi New York. Bố không thể bỏ người mẹ đau ốm của mình hoặc Terry, dù cho nó ở đâu. Bố tin rằng một ngày nào đó, sớm thôi, Terry sẽ cần đến bố, có thể để cứu mạng nó. Bố phải sẵn sàng.
Caroline không cảm thấy nghĩa vụ đó. Cô ấy và Lionel đến trước cửa nhà bố vào lúc sẩm tối của buổi chạng vạng để chào tạm biệt. Họ đã bán nhà và sẽ dọn đi nơi khác. Lionel ôm bố trong khi Caroline đứng đó lắc đầu. “Em sẽ không ở quanh quẩn đây và chứng kiến Terry bị giết,” cô ấy nói. “Không ai bảo em làm thế,” bố đáp, dù bố thực tình có nghĩ đến chuyện đó. Trời bắt đầu lất phất mưa. Cô ấy cũng ôm bố, dù đó không phải là cái siết chặt bố cần, và khi bố dõi theo bóng cô ấy dẫn người bố mù lòa vào trong đêm tối, bố cảm thấy như mình đã từ bỏ nhân tính của mình. Bố gọi với theo, “Tạm biệt!” khi cô ấy biến mất vào màn đêm, nhưng nghe giống như bố nói, Em cứ đi đi, dù gì anh cũng chẳng phải là con người. Anh chẳng có tình người một chút nào, cho nên em cứ đi đi.
Một tuần sau bố đang ở nhà Harry xem truyền hình thì Terry gọi điện đến. Sau khi giảng đạo nó một tràng, Harry ném điện thoại cho bố.
“Tình hình em sao rồi?” bố điên cuồng hỏi. “Người ta nói em bị bắn.”
“Ở mắt cá chân! Ai lại đi bắn mắt cá chân chứ? Nghe đây, đừng lo gì cho em hết, ông anh ạ. Em có một cô em biết dùng thuốc iốt hay lắm. Em mệt, chỉ có vậy thôi, chứ em vẫn ổn.”
“Em nổi tiếng rồi.”
“Như thế chẳng điên rồ sao?”
“Như thế sẽ khiến em bị bắt.”
“Em biết.”
“Vậy em định làm gì?”
“Nghe đây, có lẽ em đã bắt tay vào việc này mà không suy nghĩ nhiều, nhưng em đã nhanh chóng nhận ra em đang làm một điều gì đó, một điều em cảm thấy là quan trọng. Mọi người đều cư xử rất phải phép. Không còn ai gian lận nữa. Không còn ai chơi bẩn nữa. Không còn ai lấy trộm của ai. Không còn ai phá hoại ai. Thể thao đang trải qua một cuộc cải cách. Mọi người đều nghiêm túc trước vấn đề đạo đức.”
“Làm sao em có thể nói về đạo đức! Em là một kẻ sát nhân máu lạnh! Anh nghĩ em nên tự thú.”
“Anh điên à? Đây chính là con người em! Đây là chuyện em sinh ra để làm!”
“Caroline có về nhà.”
Có một tiếng hít vào mạnh. Bố có thể nghe Terry di chuyển, kéo một chiếc ghế dọc sàn nhà. Rồi bố nghe nó ngồi xuống.
“Cô ấy đâu? Cô ấy có biết không? Anh chuyển lời cho cô ấy được không?”
“Cô ấy lại đi rồi.”
Nó lại hít một hơi, lần này sâu hơn, và bố đợi suốt ba mươi giây mới nghe nó thở ra. Nó mở một lon gì đó, rồi qua âm thanh nó tạo ra, bố đoán nó uống hết một nửa. Nó vẫn không nói gì. Sự vắng mặt của Caroline hình như đè nặng lên cả hai anh em bố hơn so với chuyện giết người.
“Vậy em có định dừng tay hay không?” bố hỏi.
“Nghe đây, Marty, một ngày nào đó anh sẽ hiểu ra tất cả những chuyện này. Đó là ngày anh tin vào một điều gì đó. Ối. Phải đi đây. Pizza đến rồi.”
“Này, anh tin vào -”
Cộp.
Bố bỏ điện thoại xuống và đá vào tường. Cũng là chuyện bình thường khi nghĩ rằng luật vật lý không áp dụng lúc con giận dữ, rằng bàn chân tức tối của con sẽ đá xuyên qua gạch. Xoa ngón chân bị thương của mình, bố cảm thấy cực kì kích động. Âm thanh của sự hài lòng sâu sắc trong giọng nói của Terry đủ để khiến bố lên cơn. Nó không cho bố một cơ hội để nói với nó bố đã tìm thấy niềm tin của mình. Bố cũng đang làm một việc quan trọng vậy. Nó không biết bố đã bị quyển sách của Harry hấp dẫn không thể cưỡng nổi và đang giữ vai trò chủ chốt trong việc đem nó đi xuất bản. Mà tại sao lại không? Terry đang làm mọi thứ có thể để giết những vận động viên thể thao đó, còn bố có thực sự làm mọi thứ có thể cho quyển sách? Suy nghĩ ấy bắt đầu giày vò bố bởi bố đã không có quyết tâm đó để đi đến cùng, để toàn tâm toàn ý đặt chân lên con đường mà trên đó không thể quay đầu lại. Terry đang thể hiện sự độc ác và tính ngoan cố tuyệt đối trong việc theo đuổi mục tiêu của nó, và bố cần phải áp dụng sự lì lợm không khoan nhượng tương tự để không ngừng đi theo con đường của mình; bằng không bố sẽ chỉ là một thằng đạo đức giả vô dụng nhát như thỏ đế, không dám đặt mình vào thử thách vì mục tiêu của đời mình.
Bố đưa ra một quyết định đột phá.
Nếu nhà xuất bản kế tiếp khước từ quyển sách, bố sẽ đơn giản không chấp nhận lời từ chối của ông ta. Bố sẽ từ chối lời từ chối này. Bố sẽ không chấp nhận câu trả lời không. Bố sẽ không chấp nhận câu trả lời không bao giờ. Bố sẽ yêu cầu ông ta xuất bản nó, và nếu điều đó đồng nghĩa với việc phải bắt ông ta làm con tin cho đến khi nó được đưa ra kệ sách, thì bố sẽ làm thế. Bố sẽ dễ dàng lấy được một khẩu súng thôi. Chỉ cần mở tủ của Harry hoặc thọc sâu tay vào chậu đựng đường để tìm một khẩu bán tự động. Đương nhiên, bố căm ghét súng ống và mọi thứ phụ trợ đi kèm với chúng, như vết thương do đạn hoặc cái chết, nhưng mặt khác, bố thích ý tưởng vi phạm thêm một điều nữa trong Mười điều răn, nhất là khi bố cũng không tôn trọng bố của mình. Họ không thể ép con chịu đựng hai lần thiên thu được, phải không?
Đêm đó trước khi về nhà, trong lúc Harry nằm ngoài trời lạnh nốc vodka và thuốc ngủ, bố thọc tay vào chậu đựng đường. Khẩu súng lục bên trong được bọc một lớp đường dính chặt. Bố phủi chúng vào một tách trà và uống sạch. Bố có thể nếm được mùi vị khẩu súng.
Ngày hôm sau bố rời nhà khi trời vẫn còn tối. Terry không gây xao động gì trong ít nhất một tuần và không có nhà báo nào cắm trại trong sân nhà bố, dù những đầu thuốc lá của họ đẫm sương. Bố đi xe buýt vào thành phố. Tòa văn phòng của nhà xuất bản kế tiếp trong danh sách nằm ở phía bên kia đường từ Nhà ga trung tâm. Trước khi bước vào, bố nghiên cứu lịch tàu chạy đề phòng trường hợp có thể cần khẩn trương bỏ trốn. Có một chuyến tàu khởi hành cách mỗi ba phút, nếu bố không có đích đến cụ thể. Bố mua một nắm vé, cửa ngõ đến khắp mọi nơi.
Sảnh đợi có một tấm bảng đen nằm dưới lớp kính liệt kê những người sống trong tòa nhà bằng chữ màu trắng. Ở đó, trên tầng bốn, là tên niềm hi vọng cuối cùng của bố. Strangeways Publicati ns. Chữ “o” bị mất. Không quá khó để nhận biết tại sao. Ở tầng sáu là một công ty tên Voodoo Cooperative Clothing, còn ở tầng hai tọa lạc một công ty khác tên Ooooops! Stain Remover Inc.
Bố đi thang máy lên tầng bốn. Có một phòng tắm ở cuối hành lang. Bố vào trong và gác đầu mình lên bồn cầu trong suốt hai mươi phút, lập chiến lược, trước khi quay trở ra hành lang và tiến vào cánh cửa của Nhà xuất bản Strangeways. Trước khi gõ cửa, bố sờ chiếc giỏ. Khẩu súng vẫn ở đó, nhưng đường thì không còn. Chẳng còn gì ngọt ngào ở nó nữa cả.
Bố gõ cửa. Bố nghe một giọng nói cất lên, “Vào đi.”
Một người đàn ông đang ngồi sau bàn, đọc sách. Không nhìn lên, ông ta ra hiệu cho bố ngồi xuống. Bố hồi hộp đến nỗi không ngồi được. Hai đầu gối bố không chịu gập lại. Chúng cứng đơ. Bố nhìn quanh phòng. Nó không rộng hơn một cái tủ quần áo là bao, và bừa bãi kinh khủng. Những tờ báo được chất từ sàn nhà đến trần nhà. Một đống quần áo và một chiếc va li nâu nằm ở một góc. Cửa sổ đóng chặt và không có không khí trong phòng. Giám đốc xuất bản khoảng bốn mươi tuổi. Cái thứ ông ta đang đọc khiến ông ta nhe răng cười như một con dê già. Có một chiếc bàn chải đánh răng và một cái bát đựng nước màu xanh lục trên bàn. Chiếc bàn chải làm bố phát ốm. Nó dính tóc trên đó.
“Tôi có thể giúp gì cho anh?” ông ta hỏi, nhìn lên.
Bố chạm vào giỏ mình, cảm nhận khẩu súng, và lôi ra tập bản thảo. Bố thảy nó lên bàn ông ta rồi lặp lại công việc thường lệ của mình. Tác giả, bố bảo, lúc này tạm giấu tên, đang tìm kiếm một nhà xuất bản phù hợp cho kiệt tác đột phá của mình, và vì tính chất nhạy cảm của chủ đề này, bố không thể để bản thảo lại cho ông ta, nhưng nếu ông ta có một gram trí tò mò và không muốn bỏ lỡ cơ hội tuyệt diệu nhất trong đời người, thì ông ta thực sự cần phải xem qua bản thảo ngay bây giờ, trong lúc bố chờ đợi. Bố đã đọc bài diễn văn này quá nhiều lần đến nỗi bố nói mà không cần nghĩ. Ông ta nhìn bố chăm chú suốt buổi, với đôi mắt nửa tỉnh nửa say, nở nụ cười dê-già đó như thể đang nghĩ đến bể tắm bọt xà phòng.
“Vậy thì chúng ta hãy xem qua một cái, nhỉ?”
Ông ta lật ra trang đầu tiên. Qua cửa sổ sau lưng ông ta, bố có thể thấy một chuyến tàu đang trườn vào nhà ga. Ông giám đốc lật đến giữa bản thảo, cười khúc khích trước điều gì đó, rồi đặt nó xuống.
“Một tiểu phẩm hài, hả? Tôi thích một tiểu phẩm hài hay. Nó được viết rất tốt và khá hài hước đấy, nhưng thật tình mà nói, không thực sự thuộc sở trường của tôi.”
Tay bố, nắm chặt khẩu súng, mướt mồ hôi.
“Dù sao cũng cám ơn anh đã đến đây.”
Bố đứng bất động. Một phút trôi qua. Ông ta ra dấu bằng mắt hướng bố đến cánh cửa. Bố phớt lờ chúng.
“Nghe đây,” ông ta nói. “Tình hình hiện nay hơi khó khăn đối với tôi. Tôi không đủ khả năng xuất bản cả tin cáo phó cho mình nếu muốn, vì vậy sao anh không cút xéo đi cho.”
Bố trơ như phỗng. Như thể không khí trong phòng đã biến thành chất rắn và nhốt bố vào nơi bố đang đứng.
“Anh biết tôi đang đọc gì khi anh vào không? Không à? Chả có gì hết - thế đấy! Tôi đang giả vờ đọc để làm ra vẻ bận rộn. Buồn, hử?” Khi bố vẫn không có biểu hiện đang thở, ông ta nói, “Nhìn cái này đi.”
Một chồng sách chất thành hình tháp cạnh bàn làm việc của ông ta, và ông ta cầm quyển ở trên cùng lên rồi đưa cho bố. Bố xem qua. Đó là một quyển sách giáo khoa sinh học.
“Hồi còn ở London tôi từng làm cho các tạp chí khổ nhỏ. Đó là chuyện lâu lắm rồi.” Ông ta đi vòng qua và ngồi lên mép bàn, phóng tầm mắt quanh phòng. “Đây là một công ty xuất bản nhỏ. Chẳng có gì quá nổi trội. Chúng tôi xuất bản sách giáo khoa khoa học. Vật lý, sinh học, hóa học, những nghi vấn thông thường. Tôi và vợ tôi, chúng tôi chia phần doanh nghiệp này năm mươi-năm mươi. Tiền của cô ta, thừa hưởng từ bố cô ta, và tiền của tôi, dành dụm từ máu và mồ hôi. Vậy là trong mười năm chúng tôi đã điều hành công ty nhỏ này, và chắc chắn, chúng tôi đã có những trận cãi vã nội bộ, và tôi đã có những sơ suất của bản thân, nhưng tôi đã thận trọng về chúng, vậy thì có hại gì? Hãy nhìn đây. Hãy chiêu đãi đôi mắt anh với công cụ của sự hủy diệt tôi đây!” Ông ta chỉ về quyển sách giáo khoa sinh học trong tay bố và nói, “Trang chín mươi lăm.”
Bố giở trang 95 ra. Đó là một bức tranh vẽ cơ thể người, với tất cả các bộ phận có nhãn tên và giải thích chức năng của chúng. Trông nó giống như một quyển sách nhỏ in các hướng dẫn với hình ảnh nổi. “Có thấy cái gì bất thường không?” ông ta hỏi.
Bố không thấy gì. Nó giống như một cơ thể người khá chuẩn mực. Dĩ nhiên, nó thiếu một vài yếu tố cơ bản như mỡ bụng, nếp nhăn, và những dấu vết kéo căng, nhưng ngoài những điều đó ra thì nó tương đối đầy đủ.
“Cô ta cố tình làm thế. Cô ta biết tôi sẽ say bí tỉ đến nỗi không kiểm tra hết trước khi in.”
“Tôi không thấy gì hết.”
“Bộ não! Nhìn xem cô ta gọi bộ não là gì!”
Bố nhìn. Nó nói “Tinh hoàn.” Và ở chỗ tinh hoàn, nó được gắn nhãn không chỉ là “Não” mà là “Não của Stanley”. Thực sự, giờ thì ông ta đã chỉ ra, gần như mọi bộ phận trong người đàn ông này đều nhằm chỉ trích thói nhậu nhẹt, bài bạc, và gái gú của Stanley: tim, thận, phổi, ruột, con cứ gọi tên chúng, cô ta đã kèm những ghi chú mô tả việc tiêu thụ chất cồn thái quá của ông ta, thói ăn uống xấu của ông ta, tính hung hãn và hoạt động tình dục yếu kém của ông ta. Nó nói mãi nói mãi. Bố có thể thấy chuyện này sẽ không thích hợp cho những học sinh nhất định.
“Cô ta đã phá hoại tôi. Tất cả là vì chuyện tôi ngủ với một nhân viên quán bar ở địa phương chúng tôi. Được thôi, lẽ ra tôi không nên làm thế, nhưng phá hủy kế sinh nhai của tôi! Mười nghìn quyển sách tôi không bán được! Và tôi không kiện được ai cả vì tôi đã kí đơn duyệt. Tôi đích thân gửi quyển sách đến nhà in. Dĩ nhiên cô ta cũng mất tất cả, nhưng cô ta không bận tâm. Đàn bà hận thù đều vậy. Làm thế cũng đáng, cô ta nói, chỉ cần hạ bệ được tôi. Anh có bao giờ nghe nói đến loại nọc độc như thế chưa? Anh thì chắc là chưa. Bây giờ tôi đang đợi các chủ nợ đến gõ cửa. Tôi thậm chí không trả nổi tiền thuê văn phòng này. Vì thế tuy rằng rất muốn xuất bản tiểu phẩm hài thú vị của anh...”
“Nó không phải là tiểu phẩm hài.”
“Không phải ư?”
“Không.”
Ông ta nhìn xuống bản thảo và lật nhanh qua nó.
“Cái này nghiêm túc à?”
Bố gật đầu.
“Vậy thì đây sẽ là sách giáo khoa cho các tội phạm trẻ?”
Bố lại gật đầu.
“Anh có thể khiến cả hai chúng ta bị bắt vì xuất bản thứ này.”
“Tôi sẵn sàng liều mạng nếu ông cũng thế.”
Ông ta ngả người ra ghế và nói, “Xem nào.” Ông ta nhìn vào bản thảo lần nữa, và một chốc sau lên tiếng, “Chà, chà.”
Ông ta nhắm mắt một lúc rồi mở ra. Khoảnh khắc ấy dường như vô tận, nhưng có lẽ nó chỉ diễn ra bằng nửa thời gian đó.
“Điều gì khiến anh tìm đến tôi?” ông ta hỏi.
“Những người khác đều từ chối cả.”
“Dĩ nhiên họ làm thế,” ông ta đáp, cười khùng khục. Việc đó hình như làm cho ông ta khoái trá lắm.
Miệng ông ta mở rộng thành một nụ cười, và ông ta nhảy lên như thể đang đáp lại tiếng gọi làm nhiệm vụ, nụ cười ấy cứ mở rộng ra và rộng ra, đến khi miệng bố bị đau.
***
Bố chạy thục mạng đến nhà Harry và luống cuống leo lên các bậc tam cấp. Bố quá phấn khích đến nỗi suýt quên kiểu gõ cửa bí mật. Nó quá phức tạp. Gõ bốn cái, dừng, gõ một cái, dừng, gõ ba cái, rồi bố nói, “Này, Harry. Là tôi, Martin đây.” Nếu con hỏi bố, ta có thể làm thế mà không cần gõ cửa, nhưng Harry rất cứng nhắc về việc đó. Bố gõ loạn xị cả lên: hai... dừng... ba - không, nên gõ lại từ đầu... Bố nghe âm thanh đáng sợ của khẩu súng săn chuẩn bị sẵn sàng. “Là tôi đây, Harry!” bố bối rối nói. Nhận ra sai lầm của mình, bố hạ người xuống, chờ một tràng đạn. Chúng không đến. Một loạt những tiếng lách cách và kéo cửa. Harry đang thực hiện quy trình lê thê để mở những cái chốt cửa chết giẫm. Mất lâu hơn thường lệ. Hẳn lão đã lắp thêm vài cái mới. Cánh cửa hé mở. Harry đứng đó mặc quần lót, một tay cầm súng một tay cầm rìu. Đôi mắt lão rực lửa và nỗi sợ. Bố không thể chờ. Bố báo tin cho lão.
“Tôi đã tìm được một nhà xuất bản! Ông ta thích nó lắm! Ông ta đến từ Anh, vì vậy ông ta đã lớn lên bằng những vụ xì căng đan! Ông ta không sợ đặt mình vào thế nguy hiểm. Ông ta thích mê quyển sách của ông! Ông ta sẽ dồn tất cả vào nó! Quyển sách sẽ được in ra ngay!”
Harry quá bất ngờ không nói nên lời. Lão cứng đờ như đóng băng. Con có bao giờ thấy một người bị đóng băng vì tin tốt chưa? Thật là buồn cười.
“Waa - mày nói gì cơ?”
“Chúng ta đã thành công! Sách của ông sẽ được in!”
Sự nhẹ nhõm và sợ hãi và yêu thương và khiếp sợ và phấn chấn chồng chất trên mặt lão. Ngay cả những kẻ tự cao tự đại nhất cũng có một phần bí mật trong người nghi ngờ mọi chuyện sẽ diễn ra suôn sẻ. Phần đó trong người Harry đang trải qua sự xáo động. Việc này quá ư bất ngờ. Tri giác ngoại cảm của Harry có một điểm mù vì tiếng nói bi quan đó, vang lên to hơn hẳn những tiếng thì thầm tiên tri trong con mắt thứ ba của lão. Lão cười và khóc và giương súng lên rồi bắn. Trần nhà rơi xuống những mảnh thạch cao lớn. Nó đang khiếp sợ. Lão ôm bố. Bọn bố nhảy nhót quanh hành lang, nhưng rất khó để thưởng thức điều đó vì Harry vẫn còn cầm súng và rìu. Lão lại tìm cách hôn lên môi bố, nhưng lần này bố đã chuẩn bị sẵn. Bố chìa má của mình ra. Lão hôn tai bố. Khi bọn bố tiếp tục xoay vòng, cái chân chết của Harry quay vòng vòng và đá vào chiếc bàn cạnh bên. Vậy là xong. Sách của lão! Đứa con của lão! Di sản của lão! Sự bất tử của lão!
***
Những tuần tiếp theo đó trôi qua trong mờ mịt. Những thời khắc sung sướng! Bố đi đến văn phòng của Stanley hầu như mỗi ngày. Bọn bố làm mọi việc cùng nhau: chọn kiểu chữ, tổ chức lại các chương mục. Ông ta yêu cầu bố nói với tác giả bí ẩn viết lời giới thiệu và Harry bắt tay vào việc đó, ngày lẫn đêm, giấu không cho bố xem. Stanley đã bán mọi thứ ông ta có để trả tiền cho nhà in. “Họ không biết quyển sách này là gì đâu,” ông ta nói đi nói lại. “Họ sẽ ì xèo lên khi nó được bày lên kệ sách. Rồi nó sẽ bị cấm. Quảng cáo miễn phí! Chẳng có gì kích doanh thu bán sách lên bằng việc kiểm duyệt. Sẽ có vi phạm đạo đức! Những quyển sách bị cấm sẽ được lén lút chuyền tay nhau! Quyển sách sẽ sống trong bóng tối, sinh sôi như nấm trong đêm đen và nơi ẩm thấp! Rồi một tiếng nói đơn độc, một ai đó sẽ nói, “Hô! Đây là thiên tài!” Rồi những cái đầu khác đang lắc nguầy nguậy đầy khinh bỉ sẽ bắt đầu gật gù tán thành! Nhà vô địch của chúng ta sẽ là kẻ có thể không tin lấy một lời trong những gì mình đang nói ra. Chuyện đó không quan trọng đối với chúng ta. May mắn là, một vài nhà phê bình chỉ biết phản đối, không cần biết nó là cái gì. Nó có thể là ‘Hãy yêu thương hàng xóm của bạn’ và nhà phê bình sẽ nói, ‘Không! Hãy ghét hắn ta, đồ sâu bọ!’”
Ngày nào Stanley cũng lải nhải chuyện này. Ông ta nói đi nói lại mỗi một chuyện. Ông ta dự báo những điều to tát xảy ra với sách của Harry, dù ông ta liên tục ép bố tiết lộ tên tác giả. “Không nói gì hết,” bố luôn đáp. “Vào ngày in sách, tất cả sẽ được tiết lộ.” Stanley đập bàn. Ông ta làm mọi thứ có thể để moi tin từ bố. “Tôi đang đặt mình lên thớt đây, Marty ạ - làm sao tôi biết tác giả không phải là một kẻ ấu dâm? Ý tôi là, xì căng đan là một chuyện, anh biết tôi không sợ gì nó, nhưng sẽ không có ai đụng vào quyển sách nếu bàn tay của tác giả đã sờ soạng khắp mình đứa trẻ nào đó.”
Bố cam đoan với ông ta rằng Harry chỉ là một kẻ trộm giết người xoàng xĩnh bình thường.
***
Một hôm vợ của Stanley đến để xem ông ta đang bận rộn với chuyện gì. Đó là một người phụ nữ mảnh mai hấp dẫn với cái mũi nhọn, trông không được đẽo gọt khéo lắm đến nỗi giống như vừa bị mài bằng máy xay. Cô ta lượn lờ khắp phòng và cố xem trộm bản thảo trên bàn, nhưng ông ta đã ném một tờ báo lên trên đó.
“Cô muốn gì, mụ phù thủy?”
“Anh đang làm chuyện gì đó.”
Ông ta không trả lời, chỉ mỉm cười với cô ta rồi nói, “Chắc là vậy đấy, đồ đàn bà hư hỏng, nhưng nó chẳng việc đ. gì đến cô hết.”
Cô ta quay sang bố và bắt đầu dò xét. “Tôi biết cậu ở đâu đó.”
“Tôi không nghĩ vậy.”
“Cậu đã có lần xin tiền tôi trên tàu đúng không?”
Bố nói bố chưa bao giờ xin tiền ai trên tàu, nhưng điều đấy không đúng, vì bố đã có lần xin tiền một người nào đó trên tàu.
“Được rồi, chuyến thăm kết thúc,” Stanley nói, túm vai cô ta đẩy ra khỏi văn phòng.
“Được rồi, được rồi! Tôi chỉ đến để yêu cầu anh li dị!”
“Lúc nào cũng được. Dù tôi thích được làm một thằng góa vợ hơn.”
“Đi chết đi, đồ khốn nạn!”
Khi đã tống cô ta ra hành lang, ông ta sập cửa vào mặt cô ta rồi nói với bố, “Gọi thợ sửa khóa đi. Chúng ta cần thay ổ khóa, rồi sau đó hãy trở lại công việc.”
Stanley đã giao cho Harry một vài việc nhỏ. Việc đầu tiên là tiêu đề, và Harry đã đưa cho bố một tờ giấy với những đề nghị của lão. Bố ngồi xuống đọc hết danh sách. Một cẩm nang cho tội phạm, Một cẩm nang cho tội phạm trẻ, Cẩm nang tội ác cho tội phạm trẻ và trẻ mới biết đi, Tội ác: Cách thức thực hiện, Những con số về phạm luật, Trọng tội dành cho những kẻ khờ, Hướng dẫn từng bước về tội ác, Tình trạng vô luật pháp thật dễ dàng!... Danh sách cứ tiếp diễn.
Sau đó đến vấn đề lời giới thiệu. Harry đã đưa cho bố bản thảo đầu tiên của lão và nhờ bố đưa nó nguyên vẹn cho Stanley. Bố không thể động vào nó mặc dù bố rất muốn. Đó là lời thổ lộ của một người đang bồn chồn. Nó có nội dung như sau:
Có những kẻ có mặt trên đời này để lập ra các luật lệ nhằm phá hoại tinh thần của con người. Lại có những kẻ có mặt ở đây để tinh thần bị phá hoại bởi những kẻ có mặt ở đây để phá chúng. Lại có những người ra đời để phá vỡ những luật lệ vốn để phá hoại những kẻ chuyên phá hoại tinh thần của những kẻ khác. Tôi là một trong số đó.
- tác giả
Stanley gửi trả lại và bảo lão thử lần nữa. Nỗ lực lần thứ hai của Harry cũng chẳng khá hơn.
Họ để mắt đến anh. Họ đưa anh vào danh sách. Họ muốn biến sản phẩm của dòng máu tinh dịch anh thành động cơ tạo ra điện thắp sáng cuộc đời họ. Tôi có mặt ở đây là để nói cho anh biết rằng nếu anh đọc quyển sách này và làm theo lời khuyên của nó thì anh có thể lấp vàng đầy túi mình và để con cái của một kẻ khác vác đá cho những tay đốc công Ai Cập to béo. Tôi nói, sao không xử chúng trước?
- tác giả
Stanley không tin rằng bất kì thứ gì nghe có vẻ cay đắng hoặc điên rồ lại có thể giúp sách bán chạy. Bố hiểu được ý ông ta. Bố nhẹ nhàng yêu cầu Harry thử thêm lần nữa. Nỗ lực lần thứ ba của lão bố mở ra đọc ngay khi xe buýt lăn bánh về hướng thành phố. Nó viết đơn giản:
À ha! Sùng bái ta đi! Lũ chó chết!
- tác giả
Bố xé nó và soạn một lời giới thiệu của riêng bố rồi viết tên Harry vào.
Thế giới là một nơi màu mỡ, màu mỡ đến nỗi anh nghĩ sẽ có đủ mọi thứ cho tất cả mọi người. Thực ra đâu có đủ. Vì vậy một vài người phải chụp giật những gì họ có thể mà không cần theo luật lệ vì luật lệ nói rằng họ chẳng được gì sất. Đa số sẩy chân vào con đường này không định hướng, không bài bản. Với việc viết quyển sách này, tôi không phải đang cố gắng tạo ra một cuộc cách mạng, chỉ là giới thiệu một vài sự trợ giúp dọc đường cho những kẻ thiếu lợi thế trên con đường ít có người đi, bằng cách soi sáng nó một chút, chỉ ra những ổ gà và cạm bẫy, dựng lên những bảng hiệu lối vào và lối ra và giới hạn tốc độ.
Hãy vững tay lái, hỡi những bạn tội phạm trẻ tuổi, hãy vững tay lái...
- tác giả
Cuối cùng ngày in sách cũng đến. Bố phải đi đến văn phòng của Stanley và tiết lộ tên tác giả. Harry và bố ngồi ở sân sau hút thuốc thay cho bữa sáng. Lão đã đạt đến tình trạng bồn chồn ngoài tầm kiểm soát; hai bàn tay lão run bần bật. Cả hai đều cố không để ý đến nó, và khi bố phải mồi thuốc cho lão, cả hai giả vờ như đó là vì bố là thằng bé giúp việc lâu năm của lão. Bố nói, “Được rồi đấy, thưa ông,” và lão đáp, “Cám ơn, nhóc.”
Phía trên bầu trời có màu kì lạ, màu xanh rêu giống như trong hồ bơi của lão.
“Tay giám đốc xuất bản này. Ta có thể tin cậy hắn không?” Harry hỏi.
“Hoàn toàn.”
“Liệu hắn có phá bĩnh chúng ta không?”
“Không.”
“Lần tiếp theo mày nói chuyện với hắn, bảo hắn tao đã giết mười bảy người đàn ông, hai người đàn bà, và một đứa con nít.”
“Ông giết trẻ con à?”
“Ừm - một thiếu niên.”
Harry đưa cho bố một mảnh giấy. Trên đó là danh sách những lời cảm ơn. Bố cầm lấy và lên đường để hoàn thành số mệnh của hai người, đặt chân lên đường với hai cánh tay vung vẩy hai bên. Đó là dáng đi của con khi con đang làm công việc khổ nhọc của số mệnh.
Bố gặp Stanley tại văn phòng của ông ta. Ông ta quá phấn khích đến nỗi không ngồi yên. Hai phút đầu sau khi bố đến, ông ta đi từ cửa chính đến cửa sổ ba lần, dùng tay tạo những cử chỉ kì lạ như đang siết cổ gà.
“Là nó đây, anh bạn - những chiếc máy in đang ở chế độ chờ. Tôi đã sẵn sàng nghe cái tên ấy rồi.”
“Được rồi, nó đây. Người viết quyển Cẩm nang tội ác là Harry West.”
Miệng Stanley há ra và giữ như thế khi ông ta bật ra một tiếng thở dài khàn khàn.
“Ai?”
“Harry West!”
“Chưa bao giờ nghe nói đến ông ta.”
Bố liệt kê những tội ác mà lão đã phạm phải, không sót một chi tiết. “Harry West,” Stanley nói trong lúc viết cái tên xuống, nghe có vẻ hơi thất vọng. Rồi, khi bố cung cấp thông tin cho ông ta, Stanley soạn một tiểu sử cho mục “về tác giả”. Nó thế này:
Harry West chào đời tại Sydney năm 1922. Trong năm mươi năm sau đó ông ta đã phạm mọi điều luật ở Nam Bán cầu. Ông ta đã trốn thoát trong lúc bị giam giữ và hiện là kẻ lẩn trốn pháp luật.
“Và Harry đã viết một danh sách cảm ơn mà ông ta muốn được in ở đầu sách,” bố nói.
“Được thôi.”
Stanley nhìn lướt qua. Đó chỉ là một trang cảm ơn thông thường xuất hiện trước tác phẩm của một đời người.
Tôi muốn gửi lời cảm ơn đến bố tôi, người đã cho tôi nếm mùi bạo lực, ông nội tôi, người đã cho bố tôi nếm mùi bạo lực và sau đó truyền nó cho tôi. Tôi không có con, vì thế tôi phải truyền nó cho người quen biết và người qua đường. Tôi cũng muốn cảm ơn hệ thống tư pháp hình sự New South Wales đã dạy tôi về sự bất công, lực lượng cảnh sát New South Wales vì sự thoái hóa và tính độc ác không mệt mỏi của họ, bạo lực trong phim ảnh vì đã gây tê các nạn nhân của tôi, để họ mất lâu hơn mới thốt ra được tiếng oái, những nạn nhân của tôi vì đã thất bại, những kẻ chiến thắng của tôi vì đã cho tôi thấy viên đạn trong đùi thì chẳng có lương thiện gì ráo, và cuối cùng biên tập viên, người bạn và người anh em bị cô lập của tôi, Martin Dean.
“Anh có chắc anh muốn để tên mình trên đó?” Stanley hỏi bố.
“Tại sao không?” bố hỏi ngớ ngẩn, biết rõ lý do tại sao không. Bố đang về mặt thực tế thừa nhận một tội: bao che một kẻ đào tẩu và biên tập công trình nghệ thuật của y. “Tôi nghĩ vậy,” bố nói.
“Dành một giây nghĩ về nó đi.”
Bố nghĩ về nó. Bố có đang phạm phải một sai lầm không? Rõ ràng không có lý do nào để cần phải nhắc đến sự dính líu của bố trong vụ này. Nhưng đây cũng là công trình của bố. Bố đã gãy cả lưng để đưa quyển sách đi xa nhường này, và bố muốn cả thế giới biết điều đó.
“Ừ, để nó ở đó.”
“Được thôi, xem nào, chúng ta đã sẵn sàng lên đường rồi. Tôi sẽ đem nó xuống nhà in. Sau đó, tôi có thể gặp ông ta được không?”
“Tôi không biết đó có phải là ý kiến sốt dẻo vào lúc này hay không.”
“Tại sao?”
“Lúc này ông ta không khỏe lắm. Ông ta hơi... bồn chồn. Có lẽ khi nào sách lên kệ đã. Mà nhân tiện, đó là khi nào nhỉ?”
“Ba tuần sau.”
“Tôi không tin nổi nó thực sự đang xảy ra.”
“Chứ còn gì nữa,” ông ta nói, và ngay trước khi rời khỏi văn phòng, Stanley quay sang bố với một ánh nhìn xa xăm kì lạ trên gương mặt và nói, “Bảo Harry tôi nghĩ ông ta là một thiên tài.”
Bố nói bố sẽ làm thế.
***
“Hắn nói gì khi mày nói ra tên tao? Mặt hắn trông thế nào? Nói hết cho tao nghe. Không được bỏ sót điều gì,” Harry nói hụt hơi từ cửa trước khi bố tiến đến lối vào.
“Ông ta có vẻ ấn tượng lắm,” bố nói dối. “Ông ta đã nghe nói đến ông.”
“Đương nhiên hắn đã nghe nói đến tao. Một kẻ giết người đều đặn trong năm mươi năm mà không bị lộ danh tánh. Vậy chừng nào nó ra kệ sách?”
“Ba tuần nữa.”
“Ba tuần! Đ. mẹ!”
Chẳng còn gì để làm ngoại trừ chờ đợi. Mọi thứ đều đã đâu vào đấy. Bố có cảm giác hài lòng và thả lỏng mà ta thường thấy khi hoàn thành một công việc. Giờ thì bố biết những nô lệ Ai Cập đó cảm thấy thế nào khi viên đá nhọn được đặt lên đỉnh kim tự tháp Giza và tất cả bọn họ phải đứng đợi xung quanh để xi măng khô lại. Bố cũng cảm thấy bất an. Bố đã can dự vào một việc có ý nghĩa lần thứ hai trong đời, sau chiếc hộp thư góp ý; giờ thì bố sẽ làm cái quái gì đây? Tham vọng trào dâng trong ngực bố không còn chỗ để thỏa mãn. Thật khó chịu.
Sau vài giờ dự đoán sự thành công vang dội trong một phút rồi sự thất bại thảm hại phút tiếp theo của bọn bố, bố lê mình về nhà và chăm sóc cho mẹ. Đợt hóa trị và dội bom chiếu xạ khiến bà mệt mỏi luôn, bà đã sụt cân và rụng tóc, đi đứng quanh nhà bằng cách mò mẫm trên tường. Rõ ràng cơ thể mà bà đang trú ngụ đang nhanh chóng trở nên không thể nương náu được nữa. Điều ngạc nhiên làm an lòng duy nhất chính là bố dượng, hóa ra ông ấy cũng không đến nỗi khác người, lại còn là một người rất tử tế nữa. Ông ấy trở nên tốt bụng với mẹ, yêu thương, và ủng hộ ở một mức độ sâu sắc hơn và tận tụy hơn mà hai mẹ con bố tưởng. Vậy thì bố có thực sự cần thiết phải quanh quẩn ở đó suốt ngày không? Giờ thì bố đã vào đời, mỗi sợi tơ sự sống của bố đều nổi dậy phản kháng trước ý nghĩ dành thêm một giây ở cái thị trấn khốn nạn đó. Đó là lý do vì sao con không bao giờ nên tạo ra mối ràng buộc không thể phá vỡ. Con không bao giờ biết những sợi tơ của con sẽ muốn làm gì khi con bước chân trên đường đời sau này.
Những tuần lễ chờ đợi đó là một sự tra tấn phức tạp và rắc rối. Bố luôn biết có 1.440 phút trong một ngày, nhưng trong suốt ba tuần đó bố đã cảm thấy chúng, một cách sâu sắc. Bố bồn chồn như những sợi dây điện bóc vỏ. Bố nhai được, nhưng không ăn được. Bố nhắm mắt được, nhưng không ngủ được. Bố có thể đứng dưới vòi hoa sen, nhưng không làm ướt mình được. Những ngày ấy đứng yên như những tượng đài trước sự vĩnh cửu.
Dù sao thì, kì diệu thay, ngày xuất bản cũng đến. Vào lúc ba giờ sáng, bố đón xe buýt đi vào thành phố. Trên đường bố có cảm giác tự mãn rằng mình là một người nổi tiếng đã ngồi xuống một nơi công cộng và chỉ đang chờ đợi ai đó quay sang thét lên, “Ê! Anh-gì-đó kìa!” Chính là bố: Bố là Anh-gì-đó. Thật là thích.
Thành phố lúc bình minh là nơi thật kì lạ. Mặt trời dường như không thể tìm được lối trên những con đường lạnh lẽo, và mất hai giờ mới có nắng. Bố đi bộ xuống đường George, ngang qua một đám người đi chơi tiệc thâu đêm ngả ngớn với nhau và hôn hít và nguyền rủa sự có mặt không trông đợi của ban ngày. Họ hát vào mặt bố khi họ đi qua, một bài hát say mèm, và bố nhảy nhót theo một chút. Hẳn là bố nhảy không đến nỗi tệ vì tất cả họ đều hoan hô bố. Bố hoan hô họ lại. Thật là vui vẻ.
Nhà sách Dymocks đã hứa sẽ trưng một quyển ở cửa sổ. Bố đến sớm hai giờ. Bố làm vài điếu thuốc. Bố mỉm cười, chỉ để có việc gì đó để làm. Bố ấn móng tay xuống ngón tay. Một sợi chỉ từ chiếc áo bố mặc giúp bố giải khuây từ tám giờ đến tám giờ rưỡi. Rồi, khi chỉ còn vài phút đến chín giờ, một người phụ nữ xuất hiện trong nhà sách. Bố không biết cô ta đã vào bằng cách nào. Có thể có cửa sau. Có thể cô ta ngủ qua đêm ở đó. Nhưng cô ta đang làm gì trong đó chứ? Cô ta chỉ dựa người lên quầy, như thể cô ta là một khách hàng vậy. Và rồi, tại sao cô ta lại rị mọ với cái máy tính tiền? Tại sao nó lại quan trọng vào lúc này? Khi các hiệu sách có một quyển sách mới để trưng ở cửa sổ, đó nên là ưu tiên hàng đầu. Rõ quá còn gì!
Cô ta quỳ xuống và dùng dao rọc để mở nắp một chiếc thùng bằng giấy bồi. Cô ta lôi ra một đống sách và đi về phía cửa sổ. Nó đây rồi! Bước lên cái bục nhỏ, cô ta đặt những quyển sách lên một cái kệ trống. Khi bố nhìn thấy những quyển sách, tim bố rớt ra ngoài.
Đây là cái bố thấy:
Cẩm nang tội ác, của Terry Dean
Cái gì thế này? Cái gì thế này? Bố phải nhìn kĩ hơn. Terry Dean? Terry Dean! Làm thế quái nào mà chuyện này lại xảy ra được? Bố chạy đến cửa. Chúng vẫn còn khóa. Bố đập lên kính. Người phụ nữ bên trong hiệu sách liếc nhìn bố từ bên kia.
“Anh muốn gì?”
“Quyển sách! Quyển Cẩm nang tội ác! Tôi phải xem nó!”
“Mười phút nữa chúng tôi mới mở cửa.”
“Tôi cần nó ngay bây giờ!” bố thét lên trong lúc đập binh binh vào cửa. Cô ta lẩm nhẩm một tiếng chửi không nghe rõ. Bố nghĩ cô ta nói “đồ mê sách.” Bố không thể làm được gì. Cô ta không chịu mở cửa. Bố chạy lại cửa sổ và dán nhãn cầu vào kính. Bố nhìn thấy bìa sách. Nó viết, bằng chữ màu với một ngôi sao bao quanh,
Một quyển sách của kẻ đào tẩu Terry Dean - viết trong lúc bỏ trốn!
Bố không lý giải được. Không có chỗ nào trên bìa nhắc đến Harry. Chết tiệt! Harry! Lão sẽ... Một cánh cửa thép đóng sầm lại trong đầu bố. Não bố không cho bố nghĩ về Harry. Thật quá nguy hiểm.
Lúc chín giờ nhà sách mở cửa và bố lao vào trong, chụp lấy một quyển Cẩm nang tội ác, lật điên cuồng. Mục “về tác giả” khác hoàn toàn. Đó là chuyện đời của Terry, và lời tri ân nói đơn giản, “Tặng Martin, anh trai và người biên tập của tôi.”
Stanley đã qua mặt bọn bố! Nhưng bằng cách nào? Bố chưa bao giờ nhắc đến việc mình là anh trai của Terry! Bố để ít tiền tại quầy tính tiền rồi chạy ra khỏi hiệu sách mà không đợi trả tiền thừa. Bố chạy một mạch đến văn phòng Stanley. Khi bố lao qua cửa trước, ông ta đang đứng tại bàn mình, nói chuyện trên điện thoại, “Không, anh ta không trả lời phỏng vấn được. Không được thì không được thôi. Anh ta là kẻ đào tẩu, đó là lý do.”
Ông ta gác máy và nở nụ cười chiến thắng với bố. “Điện thoại reo không kịp nhấc máy! Đã có một cơn bão lớn! Thật hơn cả những gì tôi mong đợi!”
“Ông đã làm gì?”
“Tôi đảm bảo tất cả sách sẽ bán hết sạch trong chiều nay. Tôi vừa yêu cầu in thêm năm mươi nghìn bản nữa. Ngày đầu tiên mà đã đắt như tôm tươi!”
“NHƯNG TERRY ĐÂU CÓ VIẾT SÁCH NÀY!”
“Được rồi, thôi nào, Martin. Giấu đầu lòi đuôi rồi. Tôi biết anh là anh trai của Terry. Anh cố giữ bí mật với tôi, anh chàng bướng bỉnh này. Thực ra mà nói, tin hay không tùy anh, anh biết cái gì khiến tôi nghĩ ra ý đó không? Là bà vợ cũ khốn nạn của tôi! Cô ta nhận ra anh từ mấy tờ báo. Cô ta chợt nhớ ra vài giờ sau khi rời khỏi văn phòng tôi ngày hôm đó và cô ta gọi cho tôi, đòi được biết tôi đang xuất bản cái gì về Terry Dean. Rồi tôi nhận ra. Dĩ nhiên! Quá rõ ràng còn gì! Harry West là bút danh của Terry Dean! Không thông minh như phép đảo chữ hay gì đó, nhưng nó chẳng là cái đếch gì. Vấn đề là, bút danh sẽ không giúp bán được sách đâu, anh bạn ạ. Nhất là khi tác giả là người nổi tiếng như em của anh!”
Bố tiến lại gần hơn bàn của Stanley, tự hỏi mình có đủ mạnh để nhấc nó lên và dùng nó nghiền nát ông ta.
“Nghe tôi đây, tên khốn đần độn,” bố gầm gừ. “Terry không viết nó! Harry viết! Ôi trời ơi! Harry sẽ nổ tung!”
“Thật à. Và Harry này là ai?”
“Lão là sư phụ của Terry.”
Stanley nhìn bố tò mò một lúc lâu. “Thôi nào, anh bạn, chịu thua đi.”
“Tôi đang nói với ông đây. Ông mạt vận rồi! Harry sẽ nổi điên lên! Lão sẽ xé xác chúng ta thành trăm mảnh, đồ ngốc!”
Khuôn mặt Stanley trông như đang lưỡng lự giữa mỉm cười và nhăn nhó rồi cuối cùng kết thúc bằng một sự kết hợp ngượng nghịu của cả hai. “Anh nghiêm túc chứ?”
“Cực kì nghiêm túc.”
“Vậy thì, ý anh nói là Terry không viết quyển sách này?”
“Terry còn không viết được tên mình trên tuyết bằng nước tiểu của nó!”
“Thật không?”
“Thật.”
“Ôi,” Stanley nói, trước khi vùi mặt vào đống giấy tờ. Ông ta cầm lên một cây bút chì và bắt đầu viết nghuệch ngoạc gì đó. Bố đi đến giật nó khỏi tay ông ta. Đây là cái ông ta đã viết: “Chết cha!”
“Chết cha! Chết cha? Ông không biết đâu! Ông không biết Harry! Lão sẽ giết tôi! Rồi lão sẽ giết ông! Rồi lão sẽ giết Terry và rồi tự sát!”
“Tại sao ông ta không giết mình trước tiên?” Stanley đột ngột rên rỉ. Ông ta đứng đó, cài nút áo, cởi nút áo, rồi ngồi xuống. Ông ta cuối cùng đã có cảm giác phát hoảng.
“Ông có nghĩ đến việc ít ra kiểm tra lại câu chuyện của tôi? Ông có nghĩ đến việc tìm hiểu về Harry?”
“Bây giờ, gượm đã...”
“Gọi lại cho họ!”
“Ai?”
“Báo chí! Các nhà xuất bản! Tất cả mọi người!”
“Bây giờ, đợi một chút!”
“Làm đi!”
“Tôi không thể!”
“Nhưng đó là một lời nói dối!”
“Ngồi xuống. Bình tĩnh lại. Chúng ta phải nghĩ về chuyện này. Chúng ta có đang suy nghĩ không? Hãy nghĩ đi. OK. Nghĩ. Anh có nghĩ không? Tôi thì không. Tôi không có một suy nghĩ nào trong đầu mình. Đừng nhìn tôi trong một giây. Tôi không nghĩ được khi có người nhìn tôi. Quay lại đi. Tôi nói đấy, Martin, quay lại đi.”
Miễn cưỡng, bố xoay nửa người để đối mặt với bức tường. Bố muốn đập đầu vào đó. Bố không thể tin được! Lại là Terry! Thu hút sự chú ý một lần nữa! Còn bố thì sao? Khi nào mới là lúc của bố?
Stanley nói liến thoắng những suy nghĩ làm thối um cả phòng. “OK. OK. OK. Vậy... cái chúng ta có, với quyển Cẩm nang tội ác, là một vụ bê bối văn chương. Ngoạn mục. Gây tranh cãi. Khiêu khích. Cái đó chúng ta đã có rồi. Nhưng bây giờ hóa ra tác giả lại thực ra không phải là tác giả. Thế có nghĩa là... cái chúng ta có bây giờ, ngoài vụ bê bối... là một cú chơi khăm văn chương.”
“Một gì?”
“Được rồi. Anh có thể quay lại.”
Khi bố xoay lại, Stanley đang mỉm cười chiến thắng với bố. “Hai trong một!” ông ta thét lên vui sướng.
“Stanley -” bố mở miệng.
“Chuyện này thật tuyệt diệu! Nó sẽ giúp chúng ta. Bảo Harry hãy kiên nhẫn - sau một hoặc hai năm, chúng ta sẽ tiết lộ sự thật. Ông ta sẽ nổi tiếng.”
“Một hoặc hai năm!”
“Hẳn rồi, việc gì phải vội?”
“Ông vẫn không hiểu! Harry sẽ nghĩ tôi bày ra vụ này. Lão sẽ nghĩ tôi đã phản bội lão. Đây là di sản lão để lại cho đời! Ông phải nói với lão! Ông phải nói với lão đó là lỗi của ông, rằng ông đã phạm sai lầm! Đồ ngốc - lão sẽ giết chúng ta!”
“Vậy thì sao? Cứ để ông ta tới. Tôi cóc sợ! Nếu tôi phải chết, thì hãy để tôi chết vì một quyển sách. Đúng, tôi thích thế! Hãy để nó vì quyển sách này. Đúng! Đưa ông ta đến đây!”
Stanley giơ nắm đấm lên như thể đó là giải thưởng ông ta vừa giành được. Con có chịu nổi không? Đây là cuộc khủng hoảng tồi tệ nhất mà người ta có thể tưởng tượng ra, và bố đang có mặt cạnh một người đúng vào lúc ông ta tìm thấy động cơ để chết. Trông ông ta thật đáng khinh bỉ, an lạc một cách không hợp lý chút nào. Bố muốn xé toạc đôi môi của ông ta.
***
Bố đón taxi đến nhà Harry, trong đầu nghĩ mình sẽ phải đi đứng cực kì thận trọng. Harry quý bố, và bố cũng quý lão, nhưng như thế không có nghĩa là lão sẽ không cho một viên đạn vào giữa hai mắt bố. Cuối cùng thì, tình yêu chính là như vậy đấy. Bố hạ kính cửa xe taxi. Bên ngoài, không khí im phăng phắc một cách dị thường, như trong một căn phòng không có cửa sổ. Không thứ gì khuấy động. Như thể cánh cửa sập trên thế giới đã bị niêm phong kín mít và chúng ta, tất cả chúng ta, bị nhốt bên trong.
Bố thực hiện kiểu gõ bí mật và rồi kiểu gõ không bí mật lắm, kiểu mà ai cũng có thể gõ được. Bố kêu gào tên lão. Bố lớn tiếng xin lỗi. Thật là nhọc công tốn sức la hét - lão không có ở nhà. Bố nên làm gì? Một chiếc taxi chạy qua, bố đón xe và quay trở lại thành phố, ở đó bố đi lang thang không định hướng qua những con đường, chìm trong trạng thái xáo động. Mức độ của hành động này khiến đầu bố quay cuồng, và bố cảm thấy bực tức khi chẳng còn ai khác trông có vẻ như đang mất phương hướng. Hơi buồn và cô đơn, có lẽ, nhưng họ biết họ đang đi đâu. Bố cố tình lủi vào người khác, trong cơn hi vọng khó chịu rằng sẽ moi được chút phản ứng đồng cảm. Những gương mặt của thành phố mang một vẻ cực kì độc ác và vô cảm khi con đi lang thang qua nó trong làn sương mù của cơn hoảng loạn cá nhân. Thật ức chế khi không có ai dừng lại để nắm tay con.
Bố đi vào một quán rượu, quán Góc nhìn Công viên, chọn ghế ngồi ở quầy bar, và chẳng bận tâm đến việc thiếu một công viên hay một góc nhìn. Bố gọi một cốc bia. Đài phát thanh đang phát một ca khúc, một bản tình ca vui vẻ đáng yêu, trái ngược với tâm trạng của bố. Bố nốc cạn cốc bia. Quán vắng khách, trừ hai lão già say xỉn đang cãi cọ nhau về một người nào đó tên Gazza; một trong hai lão nghĩ rằng Gazza đang bị cô vợ mới xỏ mũi, trong khi lão kia lại nghĩ Gazza đang nắm quyền điều khiển cô ả. Dù thế nào đi nữa, kết cục là Gazza sẽ không đến quán rượu thường xuyên như trước đây nữa, mà thiếu lão thì mọi chuyện sẽ không còn được như xưa. Bố gật đầu buồn bã, và nhìn chăm chú vào chiếc cốc trống rỗng của mình như thể nó vừa làm chuyện xấu với bố.
Sau đó bản tin được phát trên radio và hai tai bố báo động cao. Kẻ đào tẩu Terry Dean đã viết một quyển sách gây xôn xao dư luận, hướng dẫn những tên tội phạm tương lai cách phạm luật. Diễn tiến mới nhất trong câu chuyện: giám đốc xuất bản quyển Cẩm nang tội ác đã bị bắt.
Ra vậy! Stanley đã bị bắt! Phải thế thôi, bố nghĩ. Ít ra việc đó sẽ giúp ông ta an toàn trước Harry trong một thời gian. Bố cho rằng họ không thể giữ ông ta lâu. Khi cảnh sát săn lùng người mà họ không thể tìm thấy, việc bắt một kẻ có liên quan đến người đó cho họ cảm giác nhẹ nhõm.
Khi bố đang suy ngẫm về Stanley sau song sắt, và khả năng là với tư cách biên tập viên được cám ơn, bố có thể là người họ sẽ bắt tiếp theo, thì phần cuối cùng của bản tin xuất hiện: kẻ đào tẩu Harry West đã leo lên nóc Cầu Harbor, vũ trang tận răng và đang dọa nhảy xuống. Bản tin thêm một lời giải thích nhỏ giúp nối tất cả thành một viễn cảnh: nếu Harry West nhảy xuống và chết, lão sẽ là người đầu tiên tự tử từ cầu Sydney Harbor trên sóng truyền hình trực tiếp. Đúng, điều đó hoàn toàn có lý. Terry đã cướp đi của lão liên doanh dân chủ, và Stanley đã đột ngột giật Cẩm nang tội ác khỏi tay lão. Harry tuyệt vọng để lại di sản của mình, bất cứ di sản gì. Người đầu tiên được truyền hình cảnh tự tử trên cầu Sydney, và là ti vi màu hẳn hoi. Chẳng trách Harry đã đem theo cả thuốc nổ lên đó. Bất kì ai cố gắng nhảy xuống trước, Harry sẽ bắn kẻ đó trước khi kịp đặt ngón chân đến gần mép cầu.
Bố chạy ra khỏi quán rượu, nhảy vào một chiếc taxi đang chạy, rồi chỉ nó chạy về phía cây cầu. Nếu lão có vũ trang, bố cho rằng có khả năng lão sẽ bắn bố, nhưng bố phải giải thích rằng đây là một nhầm lẫn có thể sửa chữa trong một hoặc hai ngày. Bố có cảm giác buồn nôn rằng một việc gì đó khủng khiếp sẽ xảy ra trên cây cầu đó. Lão sẽ ném mình xuống dòng nước; việc đó xem ra khó tránh khỏi. Nhưng bố biết quá rõ Harry, lão muốn lôi kéo càng nhiều người xuống địa ngục với lão càng tốt. Lão muốn nhuộm máu cầu Harbor, bố biết mà.
Mặt trời buổi trưa chói chang trong mắt bố, và qua ánh sáng bố thấy cây cầu ở đằng xa. Cảnh sát đã chặn lối vào ở hai đầu cầu và đang gãi đầu bứt tóc không biết xử trí ra sao với những người đi đường bị kẹt ở khúc giữa. Các cảnh sát hoảng loạn đang hướng dẫn đường đi cho mọi người ở khắp nơi, nhưng tất cả cứ náo loạn cả lên. Một trong những cảnh sát luống cuống hình như còn chỉ tay về phía mặt nước.
Khi bố rời khỏi taxi đến chỗ kẹt xe, tay tài xế nói rõ là gã không thích bố dừng xe quá đột ngột. Những người mặc sắc phục đang đổ dồn về từ mọi phía. Thêm nhiều cảnh sát, lính cứu hỏa, xe cứu thương, và xe của giới truyền thông chạy như mắc cửi len qua những chiếc xe đang đỗ. Dịch vụ cấp cứu đang cực kì lộn xộn. Không ai trong số họ biết mình phải làm gì. Nạn nhân dự kiến cũng chính là kẻ thủ ác. Thật là khó xử. Một mặt, lão ta có súng, mặt khác, lão ta chỉ dọa dùng nó để thủ tiêu chính lão. Họ muốn bắn hạ lão, nhưng con có thể bắn một người đang đe dọa tự sát không chứ? Đó chính là điều lão muốn.
Bố chạy qua lối đi hẹp giữa những chiếc xe bị chặn đứng và nhanh chóng nhận ra mình đã đến đường biên của cảnh sát. Bố chạy qua dải băng màu vàng của họ và giải thích với viên cảnh sát đang quát bố rằng bố là bạn thân của Harry West và có thể thuyết phục được lão. Trong lúc bối rối, họ để bố qua.
Bố có thể nhìn thấy lão, ở tít trên đỉnh. Lão chỉ là một đốm nhỏ trên đó, như một chú rể bằng nhựa tí hon trên chiếc bánh cưới. Đường đi lên rất xa, nhưng bố phải đi lên chỗ lão.
Một cơn gió cực mạnh đang thổi. Thật khó để bám chắc. Khi bố leo lên, dạ dày bố trở thành cơ quan chủ đạo, và bố không cảm thấy gì ngoài tiếng nghiến của nó. Bên dưới bố có thể thấy biển, những khu ngoại ô xanh rì, một cụm nhà rải rác. Gió khiến cả cây cầu kêu kẽo kẹt và nó làm hết sức để khiến bố mất thăng bằng. Bố nghĩ: Mình đang làm gì ở đây? Đây đâu phải là việc của mình! Bố tự hỏi tại sao mình không chỉ việc để lão thực hiện cú nhảy đó. Bố cảm thấy đây là lỗi của mình, lão ta là trách nhiệm của bố, cũng như những người mà lão có thể sẽ giết. Nhưng tại sao? Bố chen vào thế nào đây? Bố đâu phải là Chúa. Bố không có tâm trạng cứu rỗi. Những gì bố quan tâm là toàn thể nhân loại có thể bị chứng viêm họng cấp.
Những suy tưởng như thế này, cùng với việc nhận ra rằng những người trong cuộc đời bố, Harry và Terry và Stanley, với những dự án nhỏ của họ, đang kéo bố cùng họ xuống lỗ chân không, nên được giữ lại cho đến sau sự kiện này, để nghĩ đến lúc nhâm nhi một tách chocolate nóng, chứ không phải trong lúc diễn ra sự kiện, ở bên rìa của một bờ vực hãi hùng. Bố đã dừng leo lên để suy nghĩ về ý nghĩa sống còn của nó. Như thường lệ, bố không thể ngăn mình. Trên cái thang gấp kim loại lắc lư ấy, bố nghĩ: Giấc mơ của người này là cái neo của kẻ kia. Người này bơi, kẻ kia chìm, và nó xảy ra trong hồ bơi của người bơi nữa chứ - một sự sỉ nhục gấp đôi. Trong khi đó, gió đang đe dọa sẽ ném bố xuống bến tàu. Bố biết ngay tại đó vào lúc đó rằng tính toán tầm quan trọng của một hành động đúng vào lúc hành động ấy đang diễn ra thật là việc không nên.
Bố leo tiếp. Giờ thì bố có thể nghe thấy lão. Harry đang gào thét, gió đưa giọng nói của lão đến bố trước cả khi bố nhìn thấy được mặt lão. Ít nhất thì bố cũng nghĩ đó là Harry. Hoặc lão hoặc là cơn gió vừa mới gọi bố là thằng khốn.
Bố trượt chân. Bố nhìn xuống nước và run từ đầu đến chân. Nó trông giống như một phiến bê tông màu xanh thẳm.
“Cám ơn vì đã đâm sau lưng nhé anh bạn!”
Harry đang dựa vào một thành cầu bằng thép, cái mà bố đang bám chặt để khỏi ngã. Lê chân được lên đến tận cây cầu ấy hẳn phải là một cơn ác mộng với lão. Có lẽ vì kiệt sức mà lão để thân mình lắc lư, và gần như đổ nhào, với gió.
Khuôn mặt lão nhăn nhúm. Lão nhăn mặt quá nhiều đến nỗi đã thực sự làm gãy khuôn mặt của mình. Những nếp nhăn lo âu đã gãy phựt.
“Harry, đó là một sự nhầm lẫn!” bố thét lên.
“Chẳng còn ý nghĩa gì nữa.”
“Nhưng chúng ta có thể khắc phục nó! Hãy xuống đây và mọi người sẽ biết quyển sách là của ông!”
“Quá muộn rồi, Martin! Tao đã nhìn thấy nó!”
“Nhìn thấy gì?”
“Thời khắc cái chết của tao!”
“Khi nào?”
“Bây giờ là mấy giờ?”
“Harry, đừng nhảy!”
“Tao sẽ không nhảy! Tao sẽ ngã xuống! Mày không thể bảo một người đừng ngã! Đó là chuyện của trọng lực, không phải của tao!” Lão đang cười vì sợ, vì kích động. Mắt lão dán vào tất cả những khẩu súng đang chĩa về lão từ phía dưới. Chứng hoang tưởng của lão cuối cùng đã chạm đến cảnh giới đắc đạo. Những ảo giác hoang tưởng và thực tế đang trải qua phút hợp nhất.
“Tao ngã... Tao chết... có một cuộc chiến khác... một trận động đất...và sự trở lại của Madonna... chỉ có điều giờ đây cô ta là ca sĩ... nhưng vẫn là một trinh nữ...và bây giờ là cuộc cách mạng tình dục... và vải jeans bạc thếch...”
Tri giác ngoại cảm của lão đang chạm đến điểm vô cực, làm lão mù lòa trước hiện thực. Đôi mắt nhỏ, sợ hãi của lão, vốn thường phóng cái nhìn tứ phía bên trong hốc mắt, cuối cùng đã đông cứng lại; chúng đang du hành, khám phá và nhìn thấy mọi thứ. Mọi thứ.
“Máy vi tính... mỗi người có một cái... trong nhà họ... và họ béo lên... mọi người đều béo quá...”
Lão đã bị mất kiểm soát, tiên đoán như điên! Lão có thể nhìn thấy toàn bộ tương lai nhân loại được vạch ra. Lão đang giở nhanh các trang sách! Nó quá nhiều đối với lão. “Cô ta chết rồi! Cô ta chết rồi!” Ai? Lão không thể giải thích những gì lão đang thấy. “Một cuộc chiến tranh thế giới thứ ba! Một cái thứ tư! Một cái thứ năm! Một cái thứ mười! Nó không bao giờ kết thúc! Họ đã chết!” Ai chết? “Phi hành gia! Tổng thống! Công chúa! Một tổng thống khác! Vợ của mày! Giờ đến mày! Giờ đến con trai mày! Mọi người! Mọi người!” Nó xảy ra trong hàng trăm năm, có lẽ hàng nghìn năm. Vậy là cuối cùng nhân loại sẽ chết hết. Mắt lão đang lướt qua không gian và thời gian. Lão không bỏ sót một thứ gì.
Dòng trao đổi thông tin của Harry với vô tận bị cắt đứt bởi tiếng hụ còi inh hỏi vừa phát ra lần nữa. Bọn bố nhìn xuống và thấy cảnh sát cùng những chiếc xe của giới truyền thông tháo chạy. Mọi người đang bỏ đi.
“Bọn mày đi cái chỗ quái nào thế?” Harry gào lên với thế giới bên dưới.
“Hãy bám vào,” bố nói. “Tôi sẽ đi xem.”
Xuống được nửa đường bố gặp một nhà báo đang sợ chết điếng, người này bị mất thăng bằng trong lúc leo và không thể leo lên hoặc leo xuống thành cầu.
“Có chuyện gì thế?”
“Anh chưa nghe à? Họ cài bẫy được Terry rồi! Nó đang bắt cóc con tin! Sẽ có một trận chiến cuối cùng!”
Giọng của tay nhà báo rất phấn khích, nhưng y có kiểu khuôn mặt ngây ra bất động mà con thường thấy sau tay lái xe tang. Bố leo trở lên chỗ Harry.
“Chuyện gì vậy?” lão hỏi.
“Terry,” bố đáp, lo sợ trước phản ứng của lão.
Harry cúi đầu xuống, nuối tiếc nhìn theo những nhà báo cuối cùng bỏ chạy.
“Ông bạn à,” bố nói, “tôi phải đi để xem có giúp gì được cho Terry không.”
“Được. Cứ đi.”
“Tôi xin lỗi, tôi -”
“Đi!”
Bố leo xuống, hai mắt tập trung vào tay vịn và chân mình, và trước khi bố xuống dưới đất thì bố nghe thấy một tiếng súng nổ, tiếng thân người vút qua không khí, và tiếng tóe nước bên dưới nghe giống như một tiếng ngã phịch.
Thế là hết.
Đó là Harry.
Vĩnh biệt, Harry.
***
Cảnh sát đã dồn Terry vào một góc ở một sàn bowling. Bố biết toàn thể nước Úc sẽ đổ xô đến đó như thể họ là nước còn em trai bố là cái ống xả, vì thế bố nhảy lên taxi và hứa sẽ trả hậu hĩnh cho tài xế nếu ông ta có thể chạy gần bằng vận tốc ánh sáng như xe V6. Khi con đang vội vã đến cứu mạng em trai mình, con không bận tâm đến một hai xu lẻ, vì thế mỗi lần chân ông ta chạm vào phanh, bố lại ném tiền lên đùi ông ta. Khi ông ta đến chỗ chỉ dẫn đường, bố đã bứt chính xác một phần ba số tóc của mình. Thật là một điềm gở khi tài xế của con ngoái đầu ra sau để nhìn vào bảng chỉ đường mà ông ta vừa mới chạy lố qua.
Dù vậy, chẳng cần chỉ dẫn gì cả; một đoàn xe và người đang ùn ùn kéo đến từ mọi ngả đường về cùng một hướng: xe cảnh sát, xe cứu thương, động cơ chữa lửa, xe Jeep quân đội, xe của truyền thông, xe bán kem, khán giả, người làm vườn, giáo sĩ Do Thái, bất kì ai ở Sydney có một chiếc radio và muốn dự phần vào một sự kiện lịch sử.
Ai cũng muốn có chỗ ngồi hàng đầu để chứng kiến lịch sử được hình thành. Ai lại từ chối cơ hội nhìn phía sau đầu của Kennedy nổ tung nếu được tặng một vé đến Dallas vào năm 1963, hay sự sụp đổ của bức tường Berlin? Những người từng ở đó kể giống như quần áo của họ vấy não của JFK, như thể Bức tường Berlin ngã từ chính khủy tay chắc khỏe của họ. Không ai muốn bỏ lỡ điều gì, như hắt hơi trong một trận động đất nhỏ và thắc mắc tại sao ai cũng la thét. Vụ bắt bớ, và có thể là tiêu diệt Terry Dean, chính là trận động đất lớn nhất nước Úc trong năm mươi năm qua, thế cho nên họ đến sàn bowling đó bằng bất kì cách gì có thể.
Bố nhảy từ chiếc taxi và trượt qua các nắp thùng xe, va hông vào kính chiếu hậu bên ngoài của một chiếc Ford. Bố có thể nhìn thấy nó: sàn bowling. Trông như toàn thể lực lượng cảnh sát New South Wales đã tề tựu về đó. Các tay bắn tỉa đã vào vị trí trên các nóc nhà và thân cây trong công viên trẻ em ở đối diện. Một tay bắn tỉa đang leo lên khung tập thể dục ngoài trời, hai người khác đang giữ thăng bằng trên một cái bập bênh.
Bố không thể chen qua đám đông. Bố bị mắc kẹt. Bố la lên, “Tôi là Martin Dean! Anh trai của Terry Dean!” Họ chú ý. Họ mở lối và để bố đi qua, rồi bố lại bị mắc kẹt. Một vài người quanh bố cho cái việc đưa bố vào trong là sứ mệnh cuộc đời họ, nhấc bố lên trên đám đông - bố cưỡi qua hàng trăm đôi vai như một thần tượng nhạc rock. Bố đã đến gần, nhưng thỉnh thoảng đám đông lại đẩy bố theo hướng khác. Có lúc bố đã đi ngang, không phải đi tới. Bố thét toáng, “Phía trước! Phía trước!” như thể bố là Thuyền trưởng Ahab còn sàn bowling ấy là con cá voi trắng khổng lồ của bố vậy.
Rồi bố nghe thấy đám đông thét lên một câu mới: “Để bà ta qua! Để bà ta qua!” Bố ngoái đầu tứ phía. Bố không thấy được họ đang nói đến ai. “Đó là mẹ của nó! Mẹ của Terry Dean!” họ gào to. Rồi bố trông thấy bà: mẹ của bố, đến từ hướng ngược lại, trồi lên sụt xuống trong biển người. Bà vẫy tay với bố. Bố vẫy lại. Cả hai đều đang bị đẩy về phía vận mệnh của gia đình mình. Giờ thì bố đã nghe được bà. Bà đang hét lên: “Nó là bản sao! Đứa bản sao! Chúng ta đã dồn nó vào góc!” Bà đã mất trí! Và đám đông đang đẩy hai mẹ con bố nhanh đến nỗi cả hai suýt đâm sầm vào nhau. Họ hạ hai mẹ con bố xuống đất trước mặt cảnh sát, những người đang cố gắng đẩy lùi đám đông lẫn giới truyền thông. Cả hai nhóm này đều đang la ó giận dữ. Hai mẹ con bố phải ép mình vào vòng vây cảnh sát và bắt đầu trả lời các câu hỏi. Bọn bố trình thẻ chứng minh nhân dân với họ. Bố chỉ muốn vào trong, nhưng mẹ của bố chẳng giúp được gì với những câu nói điên rồ về con ma của một người đang sống. Bà là mẹ của Terry Dean, bà nói, nhưng người trong đó không phải con trai bà. Họ không hiểu được. Bố phải thét to lên với bà: “Con có thể đưa nó ra ngoài bình yên! Hãy cho con một cơ hội!” Nhưng những tay cảnh sát lại nghĩ khác. Bố bắt đầu nhận ra rằng bọn họ không muốn nó còn sống rời khỏi khu vực chơi bowling đó. Bố phải hành động khẩn trương. Bố nói, “Thì sao, các người muốn biến nó thành kẻ tử vì đạo ư? Các người muốn tên nó lưu vào sử sách như một kẻ ngoài vòng pháp luật nữa bị cảnh sát thảm sát ư? Nếu các người giết nó, sẽ không có ai nhớ đến tội ác của nó! Các người sẽ biến nó thành một anh hùng! Như Ned Kelly! Và các người sẽ trở thành người xấu. Hãy để nó ra tòa, nơi toàn bộ sự độc ác của nó bị đưa ra ánh sáng. Khi đó những anh hùng chính là những người đã bắt sống nó! Ai cũng có thể bắn một con người, như ai cũng có thể bắn một con lợn rừng, rồi chạy khắp nơi la hét, “Tao hạ được nó rồi! Tao hạ được nó rồi!” Nhưng bắt một con lợn rừng bằng tay không - việc đó đòi hỏi sự gan dạ!”
Bố phải nói toàn bộ bài diễn văn này trong lúc lấy tay bịt miệng mẹ, còn bà đang cắn bố điên cuồng. Bà thực sự đã phát điên. “Bắn chết đi!” bà la lên khi bố thả tay ra. “Bà không phải mẹ hắn à?” họ lúng túng hỏi. Họ không thể hiểu được vụ ác quỷ sinh đôi này.
Giữ vận mệnh em trai bố ở thế thăng bằng, những cảnh sát bàn bạc với nhau, nhỏ to đầy bí mật, gần như cãi nhau.
“Được, anh có thể vào,” họ nói với bố, và không may là, họ cũng để mẹ của bố vào.
Sàn bowling nằm ở tầng hai. Mỗi bậc thang bộ có một cảnh sát đứng quắc mắt. Bố nghĩ: Những người này nguy hiểm không thể tả, như những diễn viên đóng thế chờ đợi được gọi lên làm ngôi sao, cái tôi giận dữ của họ đã quyết định không được để cho bề ngoài lo lắng làm hỏng chuyện. Trên đường đi lên, một thanh tra cho bọn bố biết thêm thông tin. Theo những gì ông ta biết, Terry đã vào sàn bowling khi Kevin Hardy, vô địch thế giới ba lần, đang ném bóng. Có những lời đồn đại không căn cứ rằng trong lúc thi đấu, Hardy đã trả tiền cho ai đó phía sau dùng cán chổi lấy những chai bowling mà anh ta ném hụt ra. Vì lời cáo buộc không vững chắc, nên Terry không đến đó để giết anh ta, mà chỉ bẻ mấy ngón tay ném bowling của anh ta, kể cả ngón út, chỉ để đề phòng trường hợp anh ta là một trong những cầu thủ bowling hiếm hoi dùng ngón út để ném bóng. Cuối cùng, Terry bị hai cô gái xinh đẹp làm việc sau quầy hớp hồn. Hiện tượng những cô nàng hâm mộ, đặc quyền không thể phủ nhận của sự nổi tiếng, luôn quá nhiều khiến Terry không cưỡng lại nổi. Không may là, khi nó chọn một trong hai cô gái, ả bị bỏ rơi gọi cảnh sát gần như ngay lập tức, vì thế đến thời điểm Terry bẻ xong tay của Kevin, làm tình xong với cô nàng hấp dẫn, và chuẩn bị bỏ đi, thì nó đã mắc bẫy.
Bây giờ Terry đang quỳ gối giữa đường lane cuối cùng, tay cầm súng, dùng bốn con tin làm lá chắn. Cảnh sát được bố trí ở khắp nơi trong sàn bowling; con có thể thấy cả họng súng trường đen ngòm của cảnh sát bắn tỉa thò ra giữa những chai bowling. Họ đã bao vây nó, và bố biết ngay rằng nếu bắn được, họ đã bắn rồi, nhưng nó đang nấp kĩ đằng sau một hàng những khuôn mặt biến dạng vì khiếp đảm.
“Mày!” mẹ của bố thét lên. Cảnh sát lôi bà lại. Họ không tin Terry sẽ không bắn mẹ ruột của nó, nhất là với câu chuyện điên khùng của bà rằng nó không phải con ruột mà là một đứa bản sao quỷ quyệt nào đó.
“Terry,” bố hét to, “là anh đây, Martin đây.” Bố chẳng còn cơ hội nói thêm gì nữa trước khi mẹ của bố lên tiếng.
“Mày là ai?” bà khóc lóc.
“Mẹ? Chết tiệt, Martin, đưa mẹ ra khỏi đây, được không?”
Nó đã đúng, đương nhiên. Khi một người đang tiến hành cuộc đụng độ đẫm máu cuối cùng, anh ta không muốn mẹ của mình bén mảng ở đó.
Bố cố gắng thuyết phục bà đi về, nhưng bà không chịu nghe.
“Đừng có nấp đằng sau những con người tội nghiệp đó, đồ mạo danh!” bà gào thét.
“Mẹ, đi khỏi đây đi!” Terry quát to.
“Đừng gọi tao là Mẹ! Tao không biết mày là ai hay mày đã lấy khuôn mặt con trai tao như thế nào, nhưng mày không lừa được tao đâu!”
“Terry, đầu hàng đi!” bố la lên.
“Tại sao?”
“Họ sẽ giết em!”
“Thì sao? Nghe này, ông anh, điều duy nhất khiến em phát cáu là toàn thể cảnh tượng này bắt đầu hơi nhàm chán rồi. Đợi một giây nào.”
Có tiếng xì xào hoảng loạn trong lá chắn người. Đột nhiên họ bắt đầu di chuyển. Họ tiến về phía giá để bóng bowling, rồi quay lại đường lane. Rồi nó diễn ra! Một quả bóng lăn ở giữa đường lane. Terry đang chơi bowling! Những cặp mắt của cảnh sát nhìn theo quả bóng lăn đến chỗ mấy cái chai. Một sự im lặng tuyệt đối gần kề với sự mộ đạo. Một cú đánh trúng! Terry đã thành công! Nó đánh ngã cả mười chai! Đám đông dường như hò hét bằng cùng một giọng, nhắc bố nhớ đến chuyện con người thường ngu ngốc khi ở một mình, nhưng trong bầy đàn thì họ tuyệt đối đần độn. Họ có thể là cảnh sát đang ở đoạn kết của một cuộc săn người ròng rã, nhưng họ cũng là những người Úc yêu thể thao - và không có gì làm cho trái tim đập nhanh hơn là một chiến thắng, bất kể kẻ thắng cuộc là người khát máu thế nào.
Đúng vào lúc quả bóng chạm vào những cái chai, một viên đạn găm vào Terry. Quả bóng đó là âm mưu của Terry để bỏ chạy, nhưng không phải tay cảnh sát nào cũng cả tin như thế hay thậm chí là thích bowling.
Nó nằm trên đường lane, dính máu của chính mình, la ó, “Mắt cá chân tao! Lại là ở chỗ mắt cá! Đúng ngay chỗ đó, đồ chó tạp chủng! Nó sẽ không bao giờ lành được!” và nó nằm đó trong lúc bị bốn mươi cảnh sát bao vây, tất cả đều tranh nhau là người dẫn nó ra trước ánh sáng chói lòa của paparazzi, để được hưởng một liều nho nhỏ của sự bất tử.
Tạm biệt
Bố không phải chuyên gia về ngôn ngữ hoặc từ nguyên học, vì thế bố chả biết từ “chuối” liệu có phải là tập hợp nghe hay nhất của các âm tiết có sẵn để mô tả một loại quả dài màu vàng hình cung hay không, nhưng bố có thể nói rằng bất kì kẻ nào đã nghĩ ra cụm từ “đạo quân báo chí” quả thực biết rõ mình đang nói về cái gì. Đơn giản là không còn cách nào hay hơn để mô tả một đám nhà báo loạn xị cả lên hòng có được câu trả lời và những tấm ảnh, dù “động vật linh trưởng báo chí”, “đám đông báo chí làm loạn”, hoặc “sự bùng nổ của một sao băng báo chí” đều nói lên được đúng vấn đề. Bên ngoài trụ sở tòa án nơi phiên tòa của Terry sẽ diễn ra, có hàng trăm người bọn họ - những nam nữ phóng viên mặt nhễ nhại mồ hôi, mắt láo liên, xô đẩy, thúc chỏ, cười cợt, và với hành vi kinh hãi ấy, họ đã vô hình chung hạ thấp phẩm giá loài người, nhân danh sự quan tâm của công luận.
Bên trong, phòng xử án không còn chỗ ngồi. Vì Terry không phủ nhận bất kì tội danh nào, nên phiên tòa giống như một thủ tục hơn là một phiên xét xử, còn tay luật sư do tòa án chỉ định cho Terry thì ở đấy để chỉ dẫn nó tiến hành cơ chế thủ tục hơn là giúp nó bào chữa thực sự. Terry không bào chữa. Nó thừa nhận tất cả; nó buộc phải thế - tai tiếng của nó đã đi đôi với việc đó. Phủ nhận điều mà nó đang cố thực hiện cũng giống như các hiệp sĩ thập tự chinh giải thích rằng hành trình của họ đến thế giới Hồi giáo chẳng qua chỉ là một chuyến bách bộ trường kì.
Terry ngồi với thái độ thách thức cạnh luật sư của mình, và khi thẩm phán bắt đầu luận tội, nó xoa hai bàn tay vào nhau như thể sắp bị tuyên phạt ăn hai viên kem vani. Nói một cách chậm rãi và nghiêm trang, như một diễn viên dày dạn kinh nghiệm đón lấy cơ hội ngàn năm có một được diễn màn độc thoại của Hamlet, vị thẩm phán tuyên bố rành rọt đến tận cuối phòng xử án, “Tòa tuyên phạt bị cáo án tù chung thân.” Đó là một màn trình diễn xuất sắc. Mọi người bật ra những lời xì xầm thường thấy sau khi nghe tuyên án, dù chỉ để cho có. Chẳng ai ngạc nhiên. Sự việc không thể diễn ra theo một cách nào khác. Điều thực sự gây bất ngờ - dù con sẽ nghĩ rằng đến lúc này bố đã quen thuộc với hương vị mỉa mai vắt ra từ chiếc máy ép hoa quả của tạo hóa - là việc nhà tù mà Terry sẽ bị giam chính là nhà tù ở quê nhà bọn bố.
Đúng vậy.
Nhà tù của bọn bố. Trong thị trấn của bọn bố.
Bất giác, bố ngước nhìn bố dượng. Terry đã bị tuyên án phải trải qua phần đời còn lại của nó trong nhà tù mà bố nó đã xây nên, nhà tù nằm cách cửa chính nhà bố 2,5 km.
***
Nay thì đứa con thần đồng của họ được về quê nhưng không về nhà, bị giam giữ trong một tòa nhà mà bọn bố có thể nhìn thấy từ cả hành lang phía trước lẫn cửa sổ nhà bếp, sự kìm nén khó nhọc của bố mẹ bố nhằm tỏ ra luôn tỉnh táo bắt đầu bục phát ở tốc độ báo động. Mặc dù có một chút an ủi là con trai họ sẽ được an toàn trước những cảnh sát bắn tỉa háo hức làm nhiệm vụ, song việc nó nằm xa tầm tay một cách trêu ngươi như thế quả là một cực hình khiến bố không thể xác định được ai trong bố mẹ bị đẩy xa hơn khỏi ánh sáng và sự sống; họ tan rã quá nhanh, mỗi người theo một cách âu sầu buồn bã riêng, đến nỗi con sẽ tưởng đấy là một cuộc thi. Thật chẳng khác nào sống với hai hồn ma vừa chấp nhận cái chết của mình, những kẻ đã từ bỏ nỗ lực để hòa nhập với người sống. Họ cuối cùng đã nhìn thấu bản chất vấn đề.
Với một nét hân hoan phát cuồng khó hiểu trên mặt, mẹ của bố bắt tay vào một dự án mới: bà đóng khung từng tấm ảnh của Terry và bố khi còn bé rồi đóng đinh chúng lên mọi khoảng tường còn trống trong nhà. Không có một tấm ảnh nào trong nhà chụp bọn bố lúc lớn hơn mười ba tuổi, như thể với việc lớn lên, anh em bố đã phản bội bà. Và giờ đây bố cũng có thể nhìn thấy bố dượng, ngồi ở tít góc bên phải của hành lang, nơi có thể nhìn thấy nhà tù mà không bị vướng các ngọn cây, ống nhòm dán chặt vào mắt, cố bắt cho được một hình ảnh thoáng qua về con trai mình. Ông dành quá nhiều giờ trong ngày để nhìn qua ống nhòm đến nỗi cuối cùng, khi ông đặt nó xuống để nghỉ ngơi, đôi mắt ông phải căng ra để nhìn mẹ con bố. Thỉnh thoảng ông lại hét lên, “Nó kia kìa!” Bố chạy ra để xem, nhưng ông luôn gạt phắt không cho bố dùng đến cặp ống nhòm quý giá của ông. “Mày phá hoại đủ rồi,” ông thường nói một cách khó lý giải, tựa như ánh mắt của bố giống ánh mắt của một lão phù thủy Hy Lạp xấu xí vậy. Sau một thời gian bố thôi không xin xỏ nữa, và khi bố nghe bố dượng hét lên, “Lại là nó kìa! Nó đang ở trong sân! Nó đang kể chuyện tếu với đám bạn tù! Bọn chúng đang cười! Trông như nó đang rất vui vẻ!” thì bố không thèm nhúc nhích. Tất nhiên, bố có thể sắm một cặp ống nhòm cho riêng mình, nhưng bố không dám. Thực tình mà nói, bố nghĩ ông ấy chả nhìn thấy gì hết.
Thị trấn của bố trở thành địa điểm hành hương cho các nhà báo, nhà sử học, sinh viên, và rất nhiều cô nàng với đường cong gợi cảm, tóc đánh bồng, trang điểm đậm, tìm đến cổng nhà tù để thăm Terry. Đa số bị từ chối và cuối cùng đành đi lảng vảng trong thị trấn, nhiều người cầm chặt bản in đầu tiên và duy nhất quyển Cẩm nang tội ác. Quyển sách đã bị bóc khỏi kệ vào ngày xuất bản và nhanh chóng bị cấm tiệt vĩnh viễn. Nó đã trở thành một món đồ sưu tập. Những fan cuồng lùng sục thị trấn để tìm kẻ mà con đoán xem là ai? Bố! Họ muốn bố, với tư cách là biên tập viên được vinh danh, kí tên vào đó! Thoạt đầu việc này khiến bố sướng run vì cuối cùng mình cũng đã trở thành tâm điểm chú ý, nhưng rồi bố nhanh chóng chịu hết xiết. Mọi con nghiện chữ kí đều săn lùng bố với những câu hỏi bất tận về Terry.
Lại là Terry.
Chính trong đám đông những kẻ dở hơi mê muội này mà bố gặp lại Dave! Nó mặc complet nhưng không đeo cà vạt, tóc được chải ngược ra sau gọn gàng. Nó quả thực đã tẩy uế bản thân. Nó đang bước vào một cuộc đời mới. Rõ ràng nó đã tìm thấy Chúa, điều đó khiến nó ít bạo lực hơn song không vì thế mà giảm tính nôn nóng. Bố không thoát nổi nó; nó nằng nặc đòi cứu vớt bố. “Anh thích đọc sách mà, Martin. Anh lúc nào mà chả thích đọc sách. Nhưng anh đã đọc quyển này chưa? Hay lắm. Thực ra, đó chính là quyển Kinh thánh[21].” Nó gí một quyển Kinh thánh sát vào mặt bố đến nỗi bố chẳng biết nó muốn bố đọc sách hay là ăn sách.
“Tôi gặp em trai anh sáng nay,” nó nói. “Đó là lý do vì sao tôi quay lại. Tôi đã dẫn dắt anh ta vào vòng cám dỗ và giờ đây tôi phải dẫn anh ta ra.” Cuộc nói chuyện kinh thánh này khiến bố phát bực, vì thế bố đổi đề tài và hỏi về Bruno. “Tôi e đấy là tin dữ,” Dave buồn rầu nói. “Anh ấy bị bắn chết trong một trận đọ dao. Martin, gia đình anh thế nào? Thành thật mà nói, gặp Terry mới chỉ là một nửa sứ mệnh của tôi thôi. Tôi đến để gặp bố mẹ anh và cầu xin họ tha thứ.”
Bố cố hết sức khuyên nó đừng làm thế, nhưng nó là người không thể lay chuyển. Nó bảo đó là ý Chúa, và bố không thể nghĩ ra một lập luận thuyết phục nào chống lại việc đó, trừ việc nói rằng bố lại nghe nói ngược lại cơ. Những kẻ sùng đạo điên rồ! Tin vào Chúa thôi chưa đủ, bọn họ phải đi đến tận cùng, sục sạo vào trí tuệ bao la của ông ta. Bọn họ nghĩ rằng đức tin cho họ quyền tiếp cận danh mục vinh quang những việc cần làm của Chúa.
Cuối cùng Dave cũng không đến nhà bố; nó tình cờ gặp bố dượng bên ngoài bưu điện, và nó chưa kịp lôi quyển Kinh thánh từ túi sau ra, thì hai bàn tay của bố dượng đã tóm lấy cổ họng của tên khốn tội nghiệp. Dave không kháng cự. Nó nghĩ việc nó bị siết cổ trên bậc tam cấp bưu điện là ý Chúa, và khi bố dượng đẩy nó xuống đất rồi đá vào mặt nó, nó nghĩ đấy là ý mà Chúa mới nảy ra.
Con xem, bố dượng quả thực lập hẳn một danh sách, và Dave có tên trong đó. Bản danh sách rơi ra khỏi túi ông giữa cuộc ẩu đả. Bố nhặt nó lên. Có sáu cái tên.
Những người làm hỏng con trai tôi
(không theo thứ tự cụ thể)
1. Harry West
2. Bruno
3. Dave
4. Kẻ phát minh ra hộp thư góp ý
5. Thẩm phán Phillip Krueger
6. Martin Dean
Ngẫm ra trong phần lớn cuộc đời bố, ông ấy chưa hề e dè khi đổ lỗi cho bố qua mọi ánh mắt và cử chỉ, nên bố chẳng hề ngạc nhiên khi thấy tên mình trong danh sách đó, mà cũng may là bố dượng không nhận ra bố thực sự xuất hiện hai lần trên đó.
Sau trận đánh, bố dượng nhảy vào chỗ tối, lầm bầm những lời đe dọa. “Tao sẽ xử từng đứa cuối cùng trong bọn mày!” ông hét lên vu vơ, vào bóng đêm. Cảnh sát rảo bước đến như họ luôn làm thế, giống như những người dọn rác sau một buổi tiệc đường phố, và ngay khi hơi thở Dave trở lại, nó đã hét lên, “Tôi không muốn truy tố gì cả! Hãy để ông ta quay lại! Các người đang cản trở ý Chúa!”
Bố cau mày, hi vọng cho Dave rằng Chúa không nghe thấy những lời nói ngạo mạn của nó. Bố không hình dung được Chúa lại thích một kẻ nịnh hót hơn bất kì ai khác.
Nói thật với con là, diễn biến giai đoạn này cứu bố khỏi chết vì buồn chán. Nay thì quyển Cẩm nang tội ác đã hoàn thành và ngay lập tức bị chôn vùi, Caroline bỏ đi, Terry bị nhốt, còn Harry đã chết, thị trấn chẳng còn gì để mời chào bố nữa. Những người thân yêu của bố đều ở ngoài tầm với và chẳng có việc gì để bố bận tâm. Nói tóm lại, bố chẳng còn dự án nào nữa.
Nhưng bố cũng không thể bỏ đi. Thật, bố không thể chịu nổi phải chung sống với những người chết di động thêm một chút nào nữa, nhưng còn lời thề đáng tiếc của bố rằng sẽ không bỏ rơi mẹ trong bất kì tình cảnh nào thì sao? Đương nhiên khi bà đang sa sút một cách vật vã, việc đó dường như là không thể.
Bố chẳng thể làm gì để giúp bà hoặc xoa dịu nỗi đau khổ về thể xác của bà bằng bất cứ cách nào, nhưng bố nhận thức rõ sự có mặt của bố trong nhà đem lại cho bà sự bình an đáng kể về mặt tinh thần. Jasper, con có biết gánh nặng của việc có thể làm vui lòng một người nào đó chỉ đơn giản bằng sự hiện diện của ta không? Không, có lẽ là không. Ôi, mẹ của bố luôn bị những đứa con trai của bà ảnh hưởng rõ rệt - ánh sáng trong mắt bà hiện rõ, mỗi khi Terry hoặc bố bước vào phòng. Thật là một gánh nặng đối với anh em bố! Bọn bố cảm thấy mình phải bước vào căn phòng đó, nếu không sẽ phải chịu trách nhiệm về nỗi muộn phiền của bà. Thật là phiền phức! Đương nhiên, khi một ai đó cần con đến mức sự tồn tại của con có vai trò như một nguồn duy trì sự sống, thì thực ra việc đó cũng chưa đến nỗi nào đối với lòng tự trọng của con. Nhưng rồi, Jasper ạ, con có biết sẽ cảm thấy thế nào khi chứng kiến cũng chính người mà con yêu thương ấy chết dần chết mòn trước mắt con? Con có bao giờ cố gắng nhận ra một người nào đó bên kia đường trong cơn mưa nặng hạt? Mọi việc trở nên như thế. Cơ thể bà trở nên quá đỗi gầy gò không thể duy trì sự sống nổi nữa. Và cùng với cái chết cận kề của bà là cái chết cận kề về nhu cầu cần có bố. Nhưng nó không lặng lẽ ra đi. Còn lâu lắm. Cuộc đời bà đã sản sinh ra hai thứ: bố và Terry. Terry không những đã trôi tuột qua kẽ tay bà từ lâu rồi, mà giờ đây nó đang úa tàn vô định, ở ngoài tầm với của bà. Vậy là chỉ còn mỗi bố. Trong hai đứa con trai của bà, những đứa mà bà từng nói là muốn “ghim vào da bà để không bao giờ mất chúng”, bố là đứa duy nhất còn lại, thứ duy nhất đem lại cho bà ý nghĩa sống. Bố sẽ không bỏ rơi bà, bất kể sự thật đáng sợ rằng bố chỉ đang ở trong căn nhà bụi bặm đó để chờ ngày bà quy tiên.
Vả lại, bố đã cháy túi. Bố không đi đâu được.
Rồi một lá thư gửi bằng đường bưu điện làm mọi chuyện phức tạp lên. Nó đến từ Stanley.
Martin thân mến,
Ái chà! Thật là xui tận mạng!
Quyển sách đã bị rút khỏi nhà in, khỏi kệ sách, khỏi vòng lưu hành. Chính quyền đang kiện tôi, lũ khốn nạn. Anh thì thoát rồi, trong khoảng năm phút. Nếu tôi là anh, tôi sẽ lặn đi một thời gian. Hãy đi nước ngoài, Martin ạ. Tôi đã nghe rất kĩ những tên hề này. Chưa yên với bọn chúng đâu. Bọn chúng sẽ tìm đến anh. Tôi đã bảo anh đừng có đưa cái tên chết tiệt của anh lên sách! Bây giờ bọn chúng tóm anh vì đã chứa chấp một kẻ đào tẩu và chỉnh sửa văn phong cho lão ta. Nhưng anh còn chút thời gian để thở. Lũ cớm không biết rõ lắm về xuất bản. Bọn chúng đang tìm cách bác lại lời bào chữa rằng toàn bộ sự việc được tiến hành qua thư từ. Thêm nữa, xem có làm cớ để phản kháng được không này, bọn chúng không muốn biết về Harry. Bọn chúng vả vào mặt tôi mỗi khi tôi nhắc đến lão ta. Bọn chúng không chịu tin rằng Terry không viết quyển sách đó. Tôi đoán bọn chúng cho rằng như thế thì sẽ làm cho vụ này nặng kí hơn. Chả trách thế gian này loạn xạ. Làm sao anh còn tin được ai sẽ cư xử tử tế nữa khi mà tất cả những gì họ muốn là đẩy anh sang một bên để họ có thể thành tâm điểm chú ý? Chao ôi.
Thực tình, Martin à, hãy nghe lời tôi về chuyện này. HÃY BIẾN KHỎI ĐẤT NƯỚC NÀY. Bọn chúng sắp tìm đến anh với một chiếc cặp táp đầy những cáo buộc nhảm nhí.
Tôi sẽ cho anh tất cả số tiền từ doanh thu ban đầu. Đừng nghĩ tôi hào phóng. Sự thật là, tôi có khư khư ôm lấy nó thì cũng chả ích gì, dù sao tòa án cũng sẽ tịch thu tất cả. Nhưng tôi biết anh đã đầu tư biết bao vào đó. Tôi biết nó có ý nghĩa nhường nào với anh. Vả lại, tôi muốn cám ơn anh vì chuyến phiêu lưu của cuộc đời này. Chúng ta đã làm ăn ra trò! Chúng ta đã gây chút ầm ĩ! Lần đầu tiên tôi cảm thấy mình đang dự phần vào một việc có ý nghĩa. Vì lẽ đó, tôi xin cám ơn anh.
Đính kèm theo đây là tấm séc 15.000 đô la. Hãy nhận nó và đi đi. Bọn chúng sắp đến bắt anh, Martin. Bọn chúng sẽ chóng đến thôi.
Thân ái,
Stanley
Bố giũ chiếc phong bì cho đến khi một vật dễ thương rơi ra. Tấm séc. Nó đây rồi: 15.000 đô la. Không phải là một số tiền lớn, nhưng với chuẩn của một gã đang có thói quen tái chế các mẩu thuốc lá cũ thì nó rất đáng giá.
Vậy là thế đấy. Bố sẽ đi. Địa ngục với mối ràng buộc không thể phá vỡ của bố - bố sẽ phá vỡ nó. Bố nghĩ mình sẽ chẳng giúp ích được gì cho mẹ nếu bố chết mục trong nhà tù cạnh đứa con trai đang chết mục khác của bà. Vả lại, ở tù là việc của Terry, bố thì một lần tắm tù cũng không vượt qua nổi.
Bố thậm chí còn không lên thăm nó kể từ khi nó bị tống giam. Nghe có vẻ lạ, sau tất cả những cơn bực dọc và khổ ải mà bố trải qua sau chuyện của nó, nhưng nói thật với con nhé, bố đã ngán ngẩm muốn chết trước mọi thứ liên quan đến Terry Dean. Cuối cùng, vinh hạnh quần chúng đã chạm đến bố. Và giờ đây bố chẳng thể làm được gì cho Terry nữa cả. Bố cần được thở. Dù vậy, bố đã nhận được một bức thư ngắn, và bố nhớ mình đã nghĩ rằng đó là lần đầu tiên bố nhìn thấy chữ viết tay của nó.
Marty thân mến,
Có chuyện chó gì với quyển sách này vậy? Không ai chịu câm miệng về nó cả. Nếu anh rỗi, hãy làm cho ra lẽ, được không? Em không muốn bị người ta biết đến như một nhà văn. Em muốn được biết đến như một hiệp sĩ đường phố đã giải phóng ngành thể thao khỏi những bàn tay biến chất bẩn thỉu. Không phải nhờ viết ra quyển sách ngu ngốc nào đó.
Nhà tù - nói mãi chẳng hết. Nhưng, em vẫn có thể nhìn thấy nhà mình từ trên này. Cai tù đối xử với em rất tốt vì em cũng thuộc dạng người nổi tiếng và hôm nọ ông ta cho em mượn ống nhòm, đoán xem em đã thấy gì nào? Bố nhìn em qua một cặp ống nhòm! Kì cục!
Dù sao thì, đừng quên biến quách khỏi thị trấn và làm một điều gì đó cho cuộc đời anh. Chính trị đi, ông anh. Em đoan chắc thứ đó dành cho anh. Anh là kẻ duy nhất có đầu óc trong toàn bộ gánh xiếc dốt nát này.
Thương mến,
Terry
Tái bút: Thỉnh thoảng lên đây thăm em nhé.
Bố bắt đầu thu dọn ngay lập tức. Bố moi ra một chiếc va li cũ màu nâu và ném một ít quần áo vào đấy, rồi nhìn quanh phòng ngủ của mình để ghi lại những gì cần nhớ nhưng đã dừng lại khi bố nhớ ra mục đích của việc ghi lại những gì cần nhớ là để kích thích trí nhớ. Mẹ kiếp. Bố không muốn kéo lê trí nhớ của mình đi khắp mọi nơi. Chúng nặng quá.
“Con đang làm gì đấy?” mẹ hỏi. Bố quay ngoắt lại, tẽn tò, như thể bị bà bắt quả tang mình đang thủ dâm.
“Con sắp đi,” bố đáp.
“Đi đâu?”
“Con không biết. Có thể là Paris,” bố nói, tự thấy ngạc nhiên. “Con sẽ lần ra Caroline Potts và hỏi cưới cô ấy.”
Bà không nói gì, chỉ lắc lư trên đôi chân mình.
“Nửa giờ nữa ăn trưa nhé.”
“Vâng ạ,” bố nói, và khi bà đã đi, cái miệng mở toang hoác của chiếc va li đang nhìn lên bố đầy vẻ tố cáo.
Sau một bữa trưa lặng lẽ, bố đi bộ lên đồi lần cuối để chào tạm biệt Terry. Đó là ngày nóng nhất của mùa hè, nóng đến độ con có thể rán thịt xông khói trên lá cây. Gió cũng nóng lắm, và có cảm giác như bố đang bước vào một chiếc máy sấy tóc. Mồ hôi chảy vào mắt bố. Khi bố đi qua cổng, đôi tay phồng rộp của lòng hoài niệm siết chặt tim bố và bố nhận ra ta nhớ những thời điểm chết tiệt lẫn những thời điểm tốt đẹp, bởi vì đến cuối ngày điều ta thực sự nhớ chính là thời gian.
Viên lính gác không cho bố vào.
“Không thăm viếng gì cả. Terry đang bị biệt giam,” gã nói.
“Tại sao?”
“Đánh nhau.”
“Thế, nó sẽ ở trong đấy bao lâu?”
“Tôi chả biết. Một tháng?”
“Một tháng! Trong phòng biệt giam! Thế có hợp pháp không?”
“Tôi chả biết.”
Chúa ơi! Bố không thể đợi một tháng chỉ để nói tạm biệt. Bố sợ phải đạp phanh động lực của mình.
“Chà, vậy anh có thể nhắn với nó anh trai nó đến để chào từ biệt không?”
“Nhưng anh trai gã đâu có đến đây.”
“Tôi là anh trai nó.”
“Ô. Vậy anh muốn nhắn gì?”
“Bảo nó tôi đã đi nước ngoài rồi.”
“Nhưng bây giờ anh về rồi, phải không nào. Anh đi nước ngoài bao lâu?”
“Tôi không biết. Có lẽ là vài năm. Nhưng khi anh nói với nó, dùng thì tương lai nhé?”
“Tại sao?”
“Chuyện đùa cá nhân ấy mà.”
“Được thôi. Tôi sẽ nói anh trai gã sắp đi nước ngoài trong vài năm,” gã nói, nháy mắt với bố.
“Chuẩn không cần chỉnh,” bố đáp, và xoay lưng lại nhà tù, bố lần theo con đường dốc xuống ngọn đồi trọc, nhìn toàn cảnh thị trấn mà không bị khuất tầm mắt. Thị trấn xinh xắn. Thị trấn bé nhỏ xinh xắn.
Đ. mẹ mày, thị trấn bé nhỏ xinh xắn.
Mong cho mày bị thiêu cháy.
Bố băng qua các con đường, khoái trá trước những kiểu trả thù tưởng tượng khác nhau về một ngày trở về giàu có và thành đạt, nhưng bố nhanh chóng dẹp suy nghĩ đó. Thật ra, tất cả những gì bố hằng mong muốn là được mọi người yêu mến, mà trở về chốn cũ trong bộ dạng giàu có và thành đạt thì chả bao giờ chiếm được tình cảm của ai.
Trong lúc bố đang có những suy nghĩ vẩn vơ này, bố nhận thấy một cảm giác lạ lùng trong người mình, và một âm thanh kì quái nghe như một người tí hon đang súc miệng trong bụng bố. Cảm giác ấy nhanh chóng biến thành một cơn đau kì dị. Bố gập người xuống và chống tay vào cột đèn đường. Cái gì thế này? Có cảm giác như các tuyến trong cơ thể bố đã bắt đầu tiết ra axít.
Ngay khi cơn đau đột ngột lắng dịu, và cảm thấy muốn mê sảng, bố dò dẫm đường về nhà.
Khi bố vào đến phòng ngủ, cơn đau trở lại còn tệ hơn trước đó. Bố nằm xuống nhắm mắt lại với suy nghĩ rằng một giấc ngủ hai mươi phút là những gì bố cần để vượt qua lúc này.
Nhưng đó chỉ mới là phần mở đầu.
Đến sáng bố vẫn thấy khó chịu. Một căn bệnh điên rồ nào đó đã đột ngột tấn công bố, với những cơn co thắt dạ dày làm mệt lả, nôn mửa, rồi sốt. Lúc đầu bố được chẩn đoán là mắc cúm, nhưng mẹ con bố rất lo; đây là những triệu chứng bố đã từng bị khi còn bé, chính chúng đã đưa bố đến vòng tay đen đúa của cơn hôn mê đáng sợ. Một lần nữa bố bị giam vào giường, và bố sợ rằng tia sáng le lói ngắn ngủi của bố đang mờ đi quá sớm, và mỗi lần bố phọt phân ra quần từ những cơn co thắt dạ dày, thì chính là bố phọt phân vì sợ. Bố không nói điêu. Bệnh tật và sợ hãi khiến bố không còn kiểm soát bản thân được nữa. Chính trong lúc nằm trên giường mà bố nhận ra rằng bệnh tật là một trạng thái tự nhiên của chúng ta. Chúng ta lúc nào cũng ốm yếu, chỉ có điều chúng ta không biết điều đó mà thôi. Nói sức khỏe là khi ta không còn nhận ra được sự xuống sức liên tục của mình nữa.
Bây giờ bố muốn con biết, bố không đồng tình với thuyết cho rằng mọi bệnh tật được tạo ra từ trong suy nghĩ. Mỗi khi có người nói điều đó với bố, và đổ thừa mọi bệnh tật cho “những suy nghĩ tiêu cực”, trong đầu bố lại nảy ra một trong những ý nghĩ xấu xa nhất, ác tâm nhất, giận dữ nhất trong vốn suy nghĩ xấu xa, ác tâm, giận dữ của mình. Bố nghĩ: tôi hi vọng gặp anh tại tang lễ con anh để anh có thể giải thích cho tôi cô con gái sáu tuổi của anh đã giả vờ chứng bệnh máu trắng của con bé như thế nào. Như bố đã nói, tuy không lọt tai lắm, nhưng cái thuyết đó đã làm bố tức giận như thế đấy. Tuổi già chẳng có nghĩa lý gì với những nhà lý luận ấy cả. Họ nghĩ vật chất mục nát vì nó yếm thế.
Vấn đề của con người là họ quá cuồng si với tín ngưỡng của mình đến độ những buổi lễ hiển linh của họ phải hoặc là thuần túy và toàn diện hoặc không là gì hết. Họ không thể chấp nhận việc những chân lý của họ có thể chỉ có một yếu tố sự thật trong đó. Vì vậy, tiếp theo đó là có thể các chứng bệnh được sinh ra trong ý nghĩ, và bởi vì sự tuyệt vọng khiến con người càng tuyệt vọng hơn, bố thậm chí đã sẵn lòng nghĩ đến một nguyên nhân siêu phàm gây ra tình trạng đau yếu của mình.
Lúc con nằm đó trong tức tối, con sẽ cảm thấy chút an ủi khi tự chẩn đoán cho mình; đôi chút ảo tưởng về sức mạnh xuất hiện trở lại. Nhưng nếu con hiểu về sự rối rắm của cơ thể con người cũng lơ mơ như hiểu về động cơ máy bay, thì con phải sáng tạo. Thoạt đầu, bố suy ngẫm về mối băn khoăn đơn giản trước đây. Nhưng ngoài nỗi lo đến kiệt sức về mẹ của mình và cảm giác bất an khi nghĩ đến khả năng bị truy tố trong một vụ điều tra của cảnh sát, thì bố thực sự không đến nỗi quá bồn chồn. Thực ra, việc đóng sầm cánh cửa phòng giam trước mặt Terry là một sự giải tỏa to lớn đối với bố. Cánh cửa phòng giam đó đại diện cho lời cáo chung những ngày phiền muộn của bố. Bố thấy nhẹ nhõm khi nó bị tống giam.
Bậc thứ hai của cuộc chẩn đoán đưa bố đến thế giới tâm linh. Suy nghĩ của bố là thế này: bố đã tìm cách phá vỡ mối ràng buộc mình tạo ra với mẹ, và nếu đây là lý do bố mắc bệnh, thì bố có thể chọn giữa nguyên nhân mang tính tâm lý và siêu nhiên để giải thích. Có thể bố đã làm mình phát ốm vì chuyện đó một cách vô thức. Có thể cơ thể bố phản kháng lại trước hành động phản bội. Hoặc là, nói một cách siêu nhiên, có thể mối liên kết với mẹ quá mạnh đến nỗi mối ràng buộc này đã đọa đày bố phải giữ lời hứa. Có thể bố đã bị dính phải lời nguyền của một bà mẹ Ba Lan mà không hề hay biết.
Dù gì đi nữa, bố thực sự ốm. Cứ kể tên một triệu chứng bất kì, bố đều có cả: nôn mửa, tiêu chảy, co thắt dạ dày, sốt, chóng mặt, khó thở, mờ mắt, đau khớp, đau cơ, đau ngón chân, răng run lập cập, lưỡi trắng. Mọi thứ từ nhãn cầu trở đi đều gần như chảy máu, và bố biết nó là chuyện không thể tránh khỏi. Bố quá yếu đến nỗi không thể đứng dậy để đi vào nhà tắm. Cạnh giường bố có hai cái bát màu trắng, một cái để nôn, một cái để đái ỉa. Bố nằm trong tình trạng lơ tơ mơ, dán mắt vào chiếc va li đóng gói dang dở của bố và nhìn qua một lớp sương mờ cuộc diễu hành của những kí ức tuổi thơ độc hại trôi qua trước mắt. Bố đã trở về đúng vạch xuất phát! Đó là điều đau đớn nhất của việc bị ốm lần nữa, nhận ra mình đã đi một vòng tròn, và tất cả những gì bố có thể nghĩ đến là mình đã lãng phí những năm tháng khỏe mạnh trong đời thế nào khi cứ sống ơ thờ thay vì đi leo núi Everest.
Mẹ của bố vào phòng, khệ nệ bê theo sách và bắt đầu đọc cho bố nghe lần nữa, cứ như những ngày xưa cũ. Bản thân cũng không còn tươi tỉnh, bà ngồi trong ánh đèn mỏng manh và đọc cho bố nghe, bắt đầu bằng một lựa chọn mang điềm gở, Người đàn ông mang mặt nạ sắt. Nằm trong tình trạng mê mụ đó, bố chẳng mấy khó khăn khi hình dung một bộ máy kim loại tương tự đang siết cái đầu tội nghiệp của chính mình. Bà đọc từ sáng đến tối, và lát sau bắt đầu nằm ngủ trên giường cũ của Terry cạnh giường bố, vì thế hiếm có lúc nào hai mẹ con bố không ở bên nhau.
Cuộc trò chuyện của bà thường đưa bà trôi về những ngày ấu thơ ở Thượng Hải, trước khi bà mang thai bố, khi bà có thể đã mang thai. Bà thường xuyên nói về Bố số một và nhớ lại những khoảnh khắc gần gũi của hai người khi ông vỗ về tóc bà trong lúc gọi tên bà như thể đó là một điều rất thiêng liêng. Đó là thời điểm duy nhất bà thích tiếng gọi tên của mình. Bà bảo bố rằng bố có giọng nói nghe tương tự như vậy, và một đêm nọ bà bảo bố gọi tên của bà. Điều đó khiến bố rất khó chịu, vì bố đã quen thuộc với tác phẩm của Freud, nhưng bố làm thế để làm đẹp lòng bà. Rồi bà bắt đầu trút bầu tâm sự bên giường bố với rất nhiều lời thú tội như thế này:
“Mẹ cảm thấy mình đã rẽ sai đường nhưng đã đi quá xa trên con đường đó đến nỗi chẳng còn sức lực để quay lại. Xin con đấy, Martin, con phải ghi nhớ điều này. Không bao giờ là quá muộn để quay trở lại nếu con rẽ sai đường. Dù cho phải mất một thập niên để quay lại, con cũng phải làm. Đừng để mình mắc kẹt vì đường quay về có vẻ như quá dài hoặc quá tối. Đừng lo sợ mình sẽ không có gì.”
Và thế này:
“Mẹ đã chung thủy với bố con trong ngần ấy năm nay, dù mẹ không hề yêu ông ấy. Giờ mẹ nhận thấy lẽ ra mình nên lăng nhăng. Đừng để đạo đức xen vào lối sống của con. Terry giết những kẻ ấy vì đó là điều nó muốn làm trong đời. Nếu con cần phải lừa đảo, cứ lừa đảo. Nếu con cần giết, cứ giết.”
Và thế này:
“Mẹ cưới bố con vì sợ. Mẹ ở lại vì sợ. Nỗi sợ đã thống trị cuộc đời mẹ. Mẹ không phải là một người phụ nữ dũng cảm. Thật tệ hại khi đến cuối đời ta phát hiện ra ta không dũng cảm.”
Bố không biết phải nói gì khi mẹ của bố giải tỏa bản thân theo cách này. Bố chỉ mỉm cười trước mặt bà, nơi từng là một khu vườn được chăm sóc chu đáo, và vỗ về đôi tay gầy guộc của bà, thoáng chút ngượng ngập, bởi không ngượng ngập sao được khi chứng kiến một cuộc đời tự kiểm nó vào phút cuối và nhận ra tất cả những gì nó đem theo qua thế giới bên kia là nỗi hổ thẹn vì đã không sống trọn vẹn.
Một ngày nọ bố tưởng tượng ra bố tại buổi hành hình của mình sau một phiên xét xử kéo dài và tốn kém. Bố nghĩ: Vào một ngày trời trong xanh các người có thể thấy tôi chết. Bố cũng nghĩ đến Caroline nữa, rằng bố có thể sẽ không bao giờ gặp lại cô ấy, rằng cô ấy sẽ không bao giờ hiểu được những sâu xa trong cảm xúc của bố. Bố nghĩ về việc mình sẽ chết vẫn còn là trai tơ. Mẹ kiếp. Bố hít một hơi sâu. Có mùi ghê tởm, bệnh hoạn trong không khí. Đó là bố.
Bố đang nằm mơ chăng? Bố không nghe thấy họ bước vào. Đứng trước bố là hai người đàn ông mặc complet nâu, áo khoác cởi ra, tay áo xăn cao, mồ hôi chảy xuống mắt. Một người có hàm dưới nhô ra quá mức đến độ bố không biết nên bắt tay ông ta hay cằm ông ta. Người kia có cặp mắt nhỏ ti hí nằm trên một cái đầu nhỏ, và một chiếc mũi nhỏ ngự trên một cái miệng nhỏ với đôi môi quá mỏng đến nỗi trông như được vẽ bằng bút chì, loại 2B.
“Chúng tôi muốn nói chuyện với ông, ông Dean,” cái cằm nói, và câu đó rất đáng chú ý vì lần đầu tiên trong đời bố được gọi là ông Dean. Bố không thích thế. “Ông có nghe tôi nói không? Ông bị làm sao thế?”
“Bệnh trẻ con,” mẹ bố nói.
“Chẳng phải ông ta đã quá già để mắc bệnh đó?”
“Nghe đây, ông Dean. Chúng tôi muốn lời tuyên bố của ông về tính chính xác của việc ông biên tập quyển sách.”
“Quyển sách nào?” bố rên rỉ một cách ngờ nghệch.
Người nhỏ con lau mồ hôi trên mặt rồi chùi vào quần. “Đừng giở trò nữa, ông Dean. Ông đã làm một khối lượng công việc đáng kể khi biên tập quyển Cẩm nang tội ác cho Terry Dean.”
“Harry West,” bố nói.
“Cái gì?”
“Cẩm nang tội ác là do Harry West viết, không phải Terry Dean.”
“Kẻ đã nhảy xuống cầu cảng,” cái cằm nói với đôi môi mỏng.
“Đổ lỗi cho một người chết vì ông ta không thể chứng thực câu chuyện của ông nghe có vẻ không thích hợp lắm. Tôi không thích thế.”
“Ông có cần phải thích thứ gì trước khi nó trở thành sự thật không?” bố hỏi, và trước khi họ trả lời, bố nói, “Xin thứ lỗi cho tôi một phút.” Bố cảm thấy bữa trưa đang đến trong không khí. Bố chộp lấy một cái bát và nôn vào đấy. Một sợi nước bọt dài màu bạc nối môi dưới của bố với thành bát.
“Nghe đây, Dean. Ông có nói hay không?”
Bố ra hiệu về phía chiếc bát và nói, “Tôi vừa mới làm rồi đấy thôi.”
“Nghe đây. Không cần phải sừng sộ. Chúng tôi không truy tố ông tội gì cả, chúng tôi chỉ đang làm vài cuộc thẩm tra sơ bộ thôi. Ông có thể cho chúng tôi biết chính xác ông đã biên tập quyển sách như thế nào? Ông và Terry gặp nhau khi nào?”
“Em trai ông không phải là người có học nhất thế giới, ông Dean ạ. Hẳn phải có rất nhiều lỗi chính tả, sai ngữ pháp, đại loại như thế.”
Bố nhìn sang mẹ của mình, bà đang nhìn trân trối ra ngoài cửa sổ như bị thôi miên.
“Chúng tôi đã điều tra rồi. Các biên tập viên thường làm việc mật thiết với tác giả.”
“Em trai ông có đồng phạm nào không? Chúng tôi đang điều tra vài vụ án mới.”
Bố không nói gì, nhưng bố cũng đã đọc tin trên báo. Cũng như nghệ sĩ, những kẻ sát nhân bị mê hoặc bởi sự kết hợp bất ngờ đầy kinh ngạc của tính độc đáo và sự thành công, và một hai tên tội phạm tương lai đã thực hiện những vụ giết người bắt chước trong những tháng sau khi Terry bị bắt, nhưng bọn chúng thiếu sắc sảo và đổi mới. Khi nhà vô địch cờ vua Úc được tìm thấy với quân tượng và hai quân tốt nhét trong họng, cả nước chẳng mấy bận tâm đến vụ đó, không một mảy may, vì những kẻ anh hùng rơm đã không nhận ra rằng cờ vua là một trò chơi, không phải một môn thể thao.
Quan sát thấy bố không có tâm trạng trả lời các câu hỏi của họ, một trong hai ông thanh tra nói, “Chúng tôi sẽ trở lại khi ông cảm thấy khá hơn một chút, ông Dean.”
Sau khi họ đi, bố dượng lê bước xuống hành lang trong bộ quần áo pijama và dừng lại ở cửa, nhìn từ bố sang mẹ bố rồi nhìn lại bố, với một ánh mắt mà bố không thể hiểu nổi, trước khi cất bước đi. Nói luôn rằng, bố không xem ánh mắt ấy là điềm báo, và với tất cả sự cay đắng và thù hằn ông ấy dành cho bố, về phương diện nào đó, bố vẫn là con trai ông ấy. Bố chưa bao giờ bận tâm quá nhiều đến cái danh sách bỉ ổi của ông ấy, hay đến khả năng rằng sự điên rồ đã dẫn ông ấy đến mức có thể thực sự, sẵn lòng làm hại bố.
Sáng hôm sau, bố nghe giọng mẹ gọi mình nửa thì thầm, nửa ríu rít, và khi mở mắt ra, bố thấy chiếc va li của mình đã được đóng gói đâu ra đấy và nằm ở cửa ra vào với đôi bốt màu nâu của bố bên cạnh, phần mũi chĩa về phía hành lang. Mẹ của bố, với khuôn mặt trắng bệch như giấy, đang nhìn xuống bố. “Nhanh lên. Con nên đi ngay bây giờ,” bà nói, nhìn chằm chằm vào bố, nhưng không vào mắt - mà vào một điểm nào đó trên mặt, có lẽ là mũi. “Chuyện gì đang xảy ra vậy?” bố rên rỉ, nhưng bà chỉ kéo tấm ga ra khỏi giường và lôi cánh tay bố với một sức mạnh đáng ngạc nhiên. “Đến lúc đi rồi, Marty. Con mau đón xe buýt đi.” Bà hôn lên vầng trán đẫm mồ hôi của bố. “Mẹ yêu con rất nhiều, nhưng đừng quay lại đây,” bà nói. Bố cố ngồi dậy, nhưng không thể. “Chúng ta đã đi một chặng đường dài cùng nhau, Marty ạ. Mẹ đã mang con đi, nhớ chứ? Nhưng lần này mẹ không thể mang con được nữa. Con phải tự đi. Xem nào, động đậy đi. Con sẽ lỡ chuyến xe buýt mất.” Bà úp bàn tay lên phía sau đầu bố và nhẹ nhàng đỡ bố ngồi thẳng dậy.
“Con không hiểu,” bố nói.
Mẹ con bố nghe thấy tiếng bước chân ở hành lang, ván lót sàn kêu kèn kẹt. Mẹ bố ném tấm ga lên bố trở lại và nhảy vào giường của Terry. Khuôn mặt bố dượng xuất hiện tại cửa, và ông trông thấy bố vẫn còn chống tay ngồi trên giường.
“Thấy khỏe hơn không?” ông hỏi.
Bố lắc đầu, khi ông bỏ đi, bố quay đầu sang và trông thấy hai mắt mẹ của bố nhắm nghiền; bà đang giả vờ ngủ.
Sau này bố chỉ còn một kí ức mờ ảo, lướt nhanh qua về việc này, nhưng dư cảm thì vẫn đọng lại, một cảm giác giống như bước vào giữa một vở kịch của Harold Pinter và ngay lập tức bị một tòa án yêu cầu giải thích sự việc nếu không sẽ bị hành quyết. Về phần mình, mẹ của bố dường như không nhớ gì về việc đó cả, và khi bố nhắc lại chuyện, bà bảo rằng bố đã nằm đấy cả đêm, bị sốt như điên, nói lảm nhảm như gã khùng. Bố không biết nên tin vào đâu.
Rồi mọi chuyện chuyển từ tệ hại sang thảm kịch.
Trời rất nóng, 40 độ C. Một cơn gió nam nóng ran thổi qua cánh cửa sổ đang mở. Bố cố ăn ít xúp rau mà bố dượng nấu. Mẹ của bố đem nó vào. Bố chỉ húp hai thìa, nhưng bố không thể nuốt nổi. Bố với lấy cái bát và nôn hết ra. Đầu bố gác lên cái bát và bố để nó ở đó, đờ đẫn nhìn vào khuôn mặt kính vạn hoa của chất nôn của chính mình. Ở đấy, trong đống chất nhổ, bố nhìn thấy thứ có lẽ là kinh dị nhất mà bố từng thấy trong cả cuộc đời mình, dù rằng sau đó bố từng thấy cả những con chó bị cưa làm đôi.
Đây là thứ bố thấy:
Hai. Viên. Màu xanh dương.
Đúng thế, thuốc diệt chuột.
Đúng thế, thuốc diệt chuột.
Bố vò đầu bứt tóc mất một lúc để nhớ xem mình có thể đã vô tình nuốt chúng ra sao. Nhưng vì đã không đặt dù chỉ một chân ra khỏi giường kể từ khi bị ốm, nên bố chỉ việc làm phép loại trừ. Như thế chỉ còn lại một câu trả lời. Dạ dày bố thắt lại như cái mỏ cặp. Bố nghĩ, mình đang bị đầu độc. Ông ta, bố dượng của bố, đang đầu độc bố.
***
Hãy đừng nói dông nói dài: cảm giác của con người có thể rất lố bịch. Nghĩ lại giây phút ấy, nghĩ đến lúc bố đã cảm thấy thế nào khi nhận ra bố dượng mình đang giết dần giết mòn mình, bố không hề cảm thấy giận dữ. Bố không cảm thấy phẫn nộ. Bố cảm thấy đau đớn. Đúng thế. Việc người đàn ông này, người mà bố đã sống cùng trong suốt cuộc đời mình, người đã cưới mẹ bố, và trên hết, người làm bố của bố, lại đang tâm đầu độc bố đến chết, khiến bố bị tổn thương. Thật lố bịch!
Bố thả cái bát xuống để chất nôn chảy lên thảm và thấm xuống các khe ván sàn. Bố nhìn rồi lại nhìn, mỗi lần nhìn đều xác nhận rằng không phải mình đang bị ảo giác, như mẹ của bố đã trấn an bố đêm hôm trước.
Mẹ của bố! Vai trò của bà là gì trong tất cả chuyện này? Rõ ràng bà đã biết - vì thế bà muốn bố bỏ trốn, niềm mong mỏi ấy đột ngột kết thúc khi bà sợ rằng nếu kẻ giết người biết bố sắp bỏ trốn, y sẽ lập tức hủy bỏ kế hoạch và chỉ việc lụi dao vào ruột bố hoặc đè gối lên mặt bố.
Chúa ơi! Thật là chua xót!
Giữ thái độ bình tĩnh trong khi bố dượng đang tìm cách giết mình là việc bất khả thi. Nhìn kẻ ám sát mình nhăn mặt đầy kinh tởm trong lúc lẳng lặng thu dọn chỗ nôn mửa của mình có thể là việc thật khôi hài, nhưng đồng thời cũng thật ớn lạnh, đến nỗi con chỉ muốn cuộn mình vào tư thế bào thai và nằm như thế cho đến kỉ băng hà tiếp theo.
Bố không thể rời mắt khỏi ông ấy. Bố bị một cơn tò mò ngoan cố xâm chiếm để xem ông ấy sẽ làm gì. Bố nghĩ mình nên nói gì đó, nhưng gì mới được? Đối mặt với kẻ ám sát ta là một việc đầy thách thức; ta không muốn kích động kẻ giết người chỉ để dỡ bỏ điều đang đè nặng lồng ngực mình.
“Lần sau, cố mà nôn vào trong cái bát nhé,” ông ấy ôn tồn bảo.
Bố không nói gì, chỉ nhìn ông ấy trừng trừng như thể ông ấy đã làm tim bố tan nát.
Khi ông ấy đi rồi, lý trí của bố trở về. Bố sẽ làm cái quái gì đây? Với tư cách là một nạn nhân đang bị nhắm đến, có vẻ như việc bố rút khỏi hiện trường vụ án là một việc có lý, cũng là để tránh vụ án xảy ra. Đúng, đã đến lúc kiểm tra thuyết về sức mạnh siêu phàm ban cho con người trong những tình huống đe dọa tính mạng. Vì cơ thể bố đã trở nên vô dụng, bố đành dựa vào ý chí của mình để sống, để thoát khỏi bi kịch gia đình Shakespeare này. Bố đung đưa chân xuống cạnh giường và đứng lên chân mình, dùng chiếc bàn ở đầu giường làm điểm tựa. Bố nhăn mặt vượt qua nỗi đau khi dạ dày co thắt và xoắn lại dữ dội. Bố đi đến chỗ chiếc va li và để ý thấy nó vẫn được đóng gọn gàng từ đêm hôm trước. Chân bố khó nhọc xỏ vào đôi bốt, và với nỗ lực lớn lao, bố cố gắng bước đi: khi con không mang giày dép trong một thời gian, ngay cả giày xăng đan cũng nặng như khối xi măng. Cố gắng lẻn ra ngoài không gây tiếng động, bố bò trườn trên lối đi. Bố nghe thấy tiếng cãi nhau từ phòng khách. Cả hai đều đang la hét, mẹ bố đang khóc. Có tiếng kính vỡ. Họ đang đánh nhau. Có lẽ mẹ bố đã cật vấn ông ấy về âm mưu của ông ấy! Ở cửa, bố đặt chiếc va li xuống và tiến về nhà bếp. Bố còn có thể làm được gì? Bố không thể phó mặc mẹ bố vào đôi tay điên loạn của bố dượng. Kế hoạch của bố đã rõ ràng. Bố phải giết người đã trở thành bố của mình (qua một cuộc hôn nhân).
Bố nói với con, bố mất nhiều thời gian để chọn món ăn trong thực đơn hơn cả khi quyết định kết liễu cuộc đời bố dượng. Và vì là kẻ đã luôn phải tranh đấu với chứng bệnh ác tính mang tên “thiếu quyết đoán” - bắt đầu từ thời điểm mẹ của bố lúc lắc núm vú trên hai bầu vú căng sữa trước mặt bố và nói, “Chọn một cái đi” - bố nhận ra rằng đột ngột đưa ra một lựa chọn nhanh, bất kể đáng sợ thế nào, đã cho bố cảm giác hài lòng tột đỉnh về năng lực của mình.
Trong nhà bếp, bố chụp lấy con dao thái thịt. Nó có mùi hành tây. Qua khe cửa, bố có thể thấy bố mẹ mình đang cãi nhau. Họ đang rất hăng máu. Ông ta đã đánh mẹ nhiều lần trước đây, luôn vào ban đêm, trong phòng ngủ của họ, nhưng đã dừng tay kể từ khi bà nói với ông bà bị ung thư. Mẹ của bố, trong tình trạng sống dở chết dở, đang ra sức cào cấu ông, và để đáp trả, ông tát bà một cái trời giáng, bà ngã ụych xuống sàn nhà.
Sức lực của bố tuôn trào, bố loạng choạng lao qua cửa nhưng vẫn nắm chặt cán dao. Họ trông thấy bố - đầu tiên là mẹ, rồi đến bố dượng - nhưng chẳng để ý đến con dao trên tay bố. Bố có thể chỉ đang cầm một cọng lông, họ đơn giản đang chìm quá sâu vào cơn ác mộng riêng của mình.
“Martin! Đi ra khỏi đây!” mẹ của bố khóc lóc.
Vừa trông thấy bố, khuôn mặt bố dượng đã làm một việc mà bố chưa từng thấy trên một khuôn mặt nào trước đây. Nó co rúm lại bằng nửa kích thước bình thường. Ông nhìn lại mẹ bố, cầm một cái ghế lên, rồi đập nó nát vụn xuống sàn nhà khiến các mảnh vỡ văng tung tóe xung quanh bà.
“Tránh xa bà ấy ra!” bố thét lên, giọng bố vừa vỡ vụn vừa run rẩy.
“Martin...” bố dượng nói bằng một giọng kì lạ.
Mẹ của bố đang khóc tức tưởi.
“Tôi nói tránh ra!” bố nhắc lại.
Rồi ông ấy nói, với giọng như lựu đạn nổ, “Bà mẹ điên khùng khốn nạn của mày đã cho thuốc diệt chuột vào thức ăn của mày!”
Bố đứng đấy trơ như phỗng.
“Chính là ông,” bố nói.
Ông ấy chỉ lắc đầu buồn bã.
Bố bối rối quay sang mẹ mình, bà đang dùng tay che một phần mặt. Đôi mắt bà đẫm lệ; cơ thể bà nhấp nhô theo tiếng nấc. Ngay lập tức bố biết đó là sự thật.
“Tại sao?” bố dượng thét lên, đấm vào bức tường cạnh bà. Bà hét toáng. Ông nhìn bố một cách dịu dàng và bối rối, rồi nức nở. “Martin, tại sao?”
Mẹ của bố đang run bần bật. Bàn tay còn lại của bà nắm chặt quyển Ba người lính ngự lâm, của Alexandre Dumas. Đó là quyển sách tiếp theo bà dự định đọc cho bố nghe. “Để bà có thể chăm sóc tôi,” bố đáp, gần như không thành tiếng.
Ông ấy bần thần nhìn bố. Ông ấy không hiểu. Ông ấy chẳng hiểu gì hết.
“Ta xin lỗi, con trai ạ,” ông nói, với biểu hiện tình cảm đầu tiên ông dành cho bố.
Tất cả thật quá sức chịu đựng. Bố loạng choạng đi qua nhà bếp men theo lối đi và, nắm chặt chiếc va li, chạy băng ra cửa chính.
Nếu bố đủ tỉnh táo, bố đã có thể nhận ra ngay có điều gì đó không ổn trong cuộc sống quanh mình. Bố bước đi trong sững sờ, cảm nhận sức nóng của ngày phả trên mặt mình. Bố bước đi bước đi, thật nhanh, như thể đang bị một luồng điện mạnh cuốn đi. Suy nghĩ của bố vỡ đôi, rồi nhân đôi - cơn giận chia thành nỗi khiếp đảm và phẫn nộ, rồi lại hợp thành sự thương hại và khinh bỉ, và cứ như thế. Suốt buổi bố cứ bước đi không ngừng, cảm thấy mình khỏe hơn lên qua từng bước chân. Bố đi lên đỉnh Đồi Nông dân.
Rồi bố nhìn thấy nó.
Bầu trời.
Những cuộn khói dày đặc xoắn ốc thành những vệt dài mỏng mảnh. Hàng hàng lớp lớp ngón tay màu xám chồng chéo màu cam mờ đục vươn ra từ chân trời.
Rồi bố cảm thấy nó. Sức nóng. Bố nhăn mặt. Mặt đất đang bốc cháy.
Một vụ cháy rừng!
Một vụ lớn!
Đứng trên đỉnh đồi, bố nhìn thấy thêm một loạt hình ảnh hỏa hoạn mà bố biết ngay lập tức rằng sẽ không bao giờ rời khỏi tâm trí mình. Bố nhìn thấy ngọn lửa tách ra. Một nửa chạy về phía nhà bố mẹ bố, nửa kia về phía nhà tù.
Bố không biết thứ gì đang khống chế mình trong lúc nhìn ngọn lửa bao vây thị trấn - nhưng bố chợt tin rằng mình có đủ sức lực để cứu ít nhất một phần gia đình mình. Bố biết rằng có thể bố không giúp được gì cho Terry, và việc nó chịu đựng một cái chết dữ dội, bức bối trong cái nhà tù mà bố dượng góp phần xây nên đã gút lại vấn đề một cách gọn gàng, lựa chọn của bố đã rõ. Bố sẽ đi cứu mẹ của mình, dù bà đã tìm cách giết bố, và bố dượng, dù ông đã không định giết bố.
Mùa cháy rừng đến sớm hơn vào năm đó. Nhiệt độ tăng cao và gió mạnh làm cho những ngọn lửa nhỏ cháy dọc chu vi phía tây bắc New South Wales suốt mùa hè. Chỉ cần một cơn gió mạnh bất ngờ là thổi bùng lên những đám cháy riêng lẻ, đẩy nhanh chúng vào hỏa ngục sục sôi không thể kiểm soát. Chuyện luôn xảy ra như thế. Cơn hỏa hoạn có hẳn vài chiến thuật xảo quyệt: Nó ném than hồng vào không khí. Than hồng sau đó được gió đưa đến một điểm nằm ở phía trước vài dặm, nhằm châm ngòi cho những đám lửa mới, vì thế đến thời điểm mà ngọn lửa chính lan đến nơi, thì đứa con của nó đã hoành hành và cướp đi nhiều sinh mạng. Ngọn lửa không hề ngu ngốc. Nó sinh sôi như điên.
Khói trườn qua thị trấn trong hình dạng một đám mây đục ngầu. Bố chạy về phía nhà bố mẹ mình, ngang qua những cái cây, cột điện ngã và đường dây điện đứt. Những đám lửa bò dọc theo hai bên đường. Khói liếm láp mặt bố. Tầm nhìn bằng không. Bố vẫn không chạy chậm lại.
Con đường bị cây đổ phong tỏa. Bố chọn một lối đi qua rừng cây. Bố không nhìn thấy bầu trời; một màn khói dày đã được giăng lên đó. Xung quanh bố chỉ có một tiếng động, tiếng lốp bốp, như ai đó đang nhảy trên giấy báo cũ. Những mảnh vụn bị đốt cháy bay tứ tung trên các ngọn cây. Không thể biết phải đi đường nào nữa. Bố cứ đi bừa cho đến khi nghe thấy một tiếng gọi vọng ra, “Dừng lại!”
Bố dừng lại. Giọng nói đó đến từ đâu? Thật khó để xác định nó đến từ xa hay từ trong đầu bố.
“Sang trái,” giọng nói lên tiếng. “Trái!”
Thông thường, những giọng yêu cầu mà không giới thiệu là của ai sẽ làm bố đi theo hướng ngược lại, song bố cảm thấy giọng nói này xuất phát thực tâm vì lợi ích tốt nhất của bố. Terry đã chết rồi, bố biết, và giọng nói đó là của nó, những lời cuối cùng của nó với bố trong lúc nó trên đường sang thế giới bên kia.
Bố đi sang trái, và vào lúc đó, bố nhìn thấy lối đi bên phải bị nhấn chìm trong lửa.
Gần đến khúc rẽ tiếp theo, bố gặp một nhóm người đang phun nước vào cây cối. Họ cầm những con trăn hoang dã phình to lòi ra từ bụng của hai chiếc xe chữa cháy và bịt miệng bằng khăn ướt. Bố muốn một cái. Rồi bố nghĩ: Trong hầu hết tình huống mà ta vướng vào, chẳng có khi nào ta lại không muốn cái mà những kẻ khác có.
“Martin!” một giọng nói cất lên.
“Đừng đi đường đó!” một giọng khác hét lên.
“Bố và mẹ tôi đang ở đấy!” bố hét to lại, và khi bố chạy tiếp, bố nghĩ mình đã nghe ai đó gọi to, “Gửi lời chào hộ em nhé!”
Bố nhìn thấy lửa khi nhảy qua một cái mương cạn. Bố đi qua xác một con cừu đang bốc cháy. Bố phải giảm tốc. Khói đã dày lên thành một bức tường xám; đột nhiên bố không thể xác định được lửa ở đâu nữa. Phổi của bố khô khốc. Bố biết nếu mình không hít một hơi không khí ngay thì đây sẽ là phút cuối. Bố ọe và nôn ra khói. Có cà rốt trong đấy.
Khi bố đến con đường dẫn đến nhà mình, một bức tường lửa lởm chởm đã chặn lấy lối vào. Qua nó bố nhìn thấy một nhóm người đứng ở phía bên kia. Bức tường lửa sừng sững như cổng pháo đài. Bố nheo mắt trước ánh lửa chói chang trong lúc khói màu vàng đen cuồn cuồn trên đầu mọi người.
“Các người có thấy bố mẹ tôi không?” bố hỏi.
“Anh là ai?”
“Martin Dean!”
“Marty!” bố nghĩ mình nghe thấy giọng của mẹ. Rất khó để xác định. Lửa nuốt chửng từ ngữ. Rồi không khí trở nên lặng như tờ.
“Gió!” ai đó gào lên. Họ đứng như trời trồng. Họ đều đang chờ xem hướng lan tiếp theo của lửa. Một ngọn lửa cuộn lên từ phía sau họ, cao sừng sững, đang chuẩn bị xông tới. Bố cảm thấy mình như một người sắp sửa bị chém đầu đang hi vọng rằng đầu của gã sau đó sẽ gắn lại được. Một cơn gió nóng chạm vào mặt bố.
Trước khi bố kịp thét lên, những đám lửa đã nhảy bổ lên bố. Trong một tích tắc, đầu bố bốc cháy. Rồi sau đó, nhanh như chớp, gió đổi chiều và những đám lửa nhảy về phía đám người nọ. Lần này nó tiếp tục tiến tới.
Dù ngọn lửa đã đi qua, hai mắt và phổi bố vẫn còn ngập khói còn tóc bố thì bốc cháy. Bố rên rỉ vì đau. Bố xé quần áo ra, lao xuống đất, dúi đầu vào cát. Mất vài giây mới dập tắt được lửa trên người, và khi đó nó đã thiêu rụi một cái tai và làm cháy sém môi bố. Qua đôi mắt sưng húp, bố nhìn thấy cơn cuồng phong lửa quét qua nhóm người, trong đó có bố mẹ bố, rồi nuốt chửng họ. Trần truồng và bị bỏng, bố lồm cồm bò dậy, gào thét trong nỗi căm phẫn tuyệt vọng, cuồng nộ.
***
Đa số các tù nhân đều thoát được ra ngoài, trừ những người bị biệt giam. Họ bị nhốt trong tầng thấp hơn của nhà tù, và không có thời gian để cứu họ.
Như bố dự đoán, Terry đã ra đi.
Trong khi những đám lửa nhỏ vẫn còn cháy bập bùng trong thị trấn, truyền thông đã không bỏ phí thời gian tường thuật rầm rộ về cái chết trong tù của Terry Dean. Nó chẳng còn là gì ngoài một nhúm tro tàn. Sau khi các cảnh sát nhiếp ảnh đã chụp hình xong phòng giam, bố đi vào. Trong đấy có cả xương. Nhưng toàn bộ những gì tốt đẹp đã thành tàn tro. Với một cây chổi, một đồ hốt rác, và một hộp giấy bồi nhỏ, bố hốt em trai mình. Thật chẳng dễ. Một ít tro của Terry lẫn vào tro của những chiếc giường đôi bằng gỗ. Tội nghiệp Terry. Không thể phân biệt được nó với một cái giường. Thật buồn biết bao.
Bố chừa những khúc xương lại. Để chính quyền chôn cất chúng. Bố lấy những thứ còn lại. Như bố đã nói, mọi thứ tốt đẹp đều đã thành tro bụi.
Bên ngoài nhà tù, than đen xoay tít điên cuồng trong không khí, leo lên bầu trời, và khi gió lặng, chúng rơi xuống đất, lên trên xe cộ, trên đám nhà báo. Những tia lửa đỏ rực nằm trên nhựa đường nóng ran. Bố nhìn những mảnh đất cỏ bị cháy và những ngọn đồi bị thiêu rụi đang bốc khói đen. Khắp nơi là tro tàn âm ỉ. Mọi căn nhà đều lấm lem tro bụi và những mảnh vỡ cháy rụi. Mọi mùi vị đều cay sè. Mọi màu sắc đều kì quái.
Mẹ chết. Bố chết. Em trai chết. Harry chết. Caroline ra đi. Lionel ra đi. Thị trấn ra đi. Lời thề cũng ra đi nốt; mối liên hệ thiêng liêng cuối cùng đã bị phá vỡ.
Tự do.
Nghe nói có một người đàn ông đang nướng thịt trên than hồng của chính ngôi nhà mình. Cánh phóng viên đã tụ tập xung quanh ông ta. Họ nghĩ chuyện đó rất buồn cười. Bố nghĩ vậy.
Một tiếng sấm ngắn rền vang. Một nhóm người sống sót đứng giữa những tàn tích của thị trấn đang nói chuyện về nguyên nhân hỏa hoạn. Lần này cái gì đã gây ra nó? Bố chỉ phỏng đoán đó là những kẻ đốt rừng. Hầu như lúc nào cũng là những kẻ đốt rừng. Lũ đốt rừng chó chết này bị cái quái gì vậy? Bố đồ rằng chúng chẳng phải ác độc gì cho cam, mà chẳng qua là đần độn và buồn chán: một sự kết hợp chết người. Và bất kể chuyện gì xảy ra khi chúng lớn lên, chúng đã trưởng thành mà không có một chút lòng trắc ẩn nào. Những con người đần độn, buồn chán, thiếu lòng trắc ẩn này đầy rẫy quanh ta. Chúng ta chẳng thể tin tưởng một ai cư xử cho đàng hoàng. Chúng ta luôn phải cảnh giác. Đây là ví dụ điển hình: chuyện này không xảy ra hằng ngày, nhưng thỉnh thoảng, người ta đại tiện trong bể bơi công cộng. Chuyện đó giải thích tất cả với bố.
Nhưng không, những người sống sót đang nói, lần này không phải là những kẻ đốt rừng.
Đó chính là đài thiên văn.
Máu bố trở lạnh.
Bố tiến đến gần hơn. Đây là những gì bố nghe được:
Năm tháng trôi qua, sự mới lạ của đài thiên văn dần mai một; toàn bộ công trình này đã xuống cấp, bị bỏ mặc cho hư hỏng ở đấy trên ngọn đồi, phó mặc cho thiên nhiên. Mái của đài thiên văn bị nhấc lên khỏi bản lề. Ai đó đã mở nó ra. Ống kính đã hội tụ những tia sáng mặt trời thành một tia sáng nóng và kích hoạt công trình này, ngọn gió góp phần vào một chút, và cuối cùng chúng ta rơi vào thảm họa này.
Chính là cái đài thiên văn.
Đài thiên văn của bố!
Đài thiên văn mà bố đề xuất xây nên là nguyên nhân trực tiếp gây ra cái chết của mẹ, bố dượng, và em trai bố. Nó đã đặt dấu chấm hết cho cái hộp thư góp ý chết tiệt của bố, cái hộp thanh mảnh đã khiến thị trấn chống đối gia đình bố, đẩy em trai bố vào viện tâm thần, rồi vào trại cải tạo thanh niên, và giờ đây xuống mồ (đấy là nói một cách bóng bẩy; còn về nghĩa đen mà nói thì vào một cái hộp giấy bồi từng dùng để đựng nho không hạt). Bố từng nghĩ rằng với đài thiên văn bố có thể thay đổi tâm hồn người ta theo hướng tốt đẹp hơn, nhưng thay vào đó bố lại chỉ thành công trong việc đẩy nhanh sự tàn phá ở họ. Khi em trai bố vào bệnh viện, bố lẽ ra nên phá hủy cái hộp thư góp ý khiến nó phải vào đấy; và khi nó phá hỏng cái hộp thư góp ý, khiến người bạn duy nhất của gia đình bố bị mù, thì chính vào lúc đấy, lẽ ra bố nên phá hủy mọi thứ có liên quan đến cái hộp thư ấy. Cái hộp bất chợt nhắc bố nhớ đến chiếc hộp giờ đây đang nằm trong tay bố, chiếc hộp có em trai bố bên trong.
Bố bước đi.
Bố không quên lời cảnh báo của Stanley, hay những điều tra viên và quyết tâm của họ trong việc truy tố bố. Đã đến lúc ra đi mãi mãi. Vả lại, chẳng còn gì để học hỏi ở đây cả. Đã đến lúc đi đến những vùng đất mới để thực hiện những thói quen cũ. Những khát khao mới! Những nỗi thất vọng mới! Những lần thử sức và thất bại mới! Những câu hỏi mới! Liệu kem đánh răng có mùi vị giống nhau ở khắp mọi nơi không? Liệu nỗi cô đơn có ít cay đắng hơn tại Rome không? Liệu nỗi thất vọng về tình dục có đỡ đè nén hơn tại Thổ Nhĩ Kì không? Hay là tại Tây Ban Nha?
Bố nghĩ đến những điều này khi bố di chuyển qua sự im lặng của thị trấn chết, thị trấn không có ước mơ, thị trấn đã bị hóa thành than và đen ngòm như miếng bánh mì cháy khét. Đừng chà sạch nó! Đừng cứu vớt nó! Hãy ném thị trấn của tôi vào thùng rác. Nó thành mầm mống ung thư rồi.
Than hồng của tuổi thơ bố đang lụi tàn thành những hòn lạnh lẽo, khô cứng. Giờ đây không cơn gió nào có thể thổi bùng nó sống trở lại. Nó đã chết. Bố không còn một người thân nào trên đời. Úc vẫn là một hòn đảo, nhưng bố không còn bị bỏ hoang trên đó. Cuối cùng bố đã trôi đi. Và biển ở phía trên là vô tận. Không đường chân trời.
Ở nơi bố đang đến, không ai biết bố, không ai biết chuyện của bố, chuyện của em trai bố. Cuộc đời bố bị tinh giản đến mức chẳng còn gì ngoài một giai thoại bí mật mà bố có thể tiết lộ hoặc giữ kín suốt đời. Điều đó tùy thuộc vào bố.
Bố bước đi trên con đường dài, đầy gió bụi, ra khỏi thị trấn.
Bố có cảm giác như đang rời khỏi một công viên giải trí mà chưa được đi một chuyến tàu lượn nào. Tuy bố luôn ghét thị trấn, con người ở đó, cuộc sống của họ, nhưng dù gì bố cũng đã tồn tại bên cạnh họ, vậy mà bố vẫn không hòa nhập được vào dòng chảy cuộc sống, và điều đó thật đáng tiếc, bởi vì ngay cả khi đó là công viên giải trí tệ nhất thế gian, nếu con chuẩn bị tinh thần nhận lấy rắc rối để trải qua hai mươi hai năm ở đó, chí ít con sẽ có động lực để đi tàu lượn. Vấn đề là, mọi chuyến tàu lượn đều sẽ khiến bố phát ốm. Bố biết phải làm sao?
Rồi bố nhớ ra bố vẫn đang giữ Terry trong một chiếc hộp giấy bồi.
Bố chắc chắn sẽ không bị suy sụp tinh thần khi phải quyết định làm gì với tàn tro của đứa em trai bị thu gọn của mình: bố chỉ cần tống khứ chúng, một cách bí mật, khỏi cần lễ nghi. Nếu một đứa trẻ đi ngang qua bố trên đường, bố sẽ đưa chiếc hộp cho nó. Nếu bố thấy một bậu cửa thích hợp, bố sẽ đặt nó lên bậu cửa. Bố tiếp tục mạch suy nghĩ này đến khi bố trở nên quá hào hứng với toàn bộ ý tưởng về tro bụi đến nỗi cảm thấy khát nước.
Ở phía trước bố trông thấy một trạm xăng và một cửa hiệu bách hóa. Bố đi vào trong. Tủ lạnh nằm ở phía cuối dãy. Bố đi dọc theo lối đi và lấy một lon Coca. Khi quay lại, bố thấy bên cạnh mình là một cái kệ bày những lọ nhỏ chứa gia vị Ấn Độ, ớt caynen, và thảo mộc Ấn Độ. Khuất khỏi tầm nhìn của người trông cửa hiệu, bố mở những chiếc lọ này ra, lần lượt từng cái một và đổ nửa lọ xuống sàn. Rồi bố trút tro của Terry vào những chiếc lọ, không được chính xác lắm, làm đổ phần lớn xuống chân mình, vì vậy khi làm xong, bố bước ra ngoài với em trai trên giày mình. Và rồi - bố lưu hình ảnh này trong đầu mình suốt đời - bố lau em trai khỏi giày mình bằng tay và kết thúc bằng cách rửa nó trong một vũng nước nhỏ cạnh bên, và như thế bố đã để những tàn dư cuối cùng của em trai mình nổi trên một vũng nước mưa cạn bên vệ đường.
Thật khôi hài.
Người ta luôn hỏi bố, “Khi còn bé Terry Dean trông như thế nào?” nhưng không có ai từng đặt ra câu hỏi thẳng vào vấn đề hơn, Là một vũng nước, trông nó như thế nào?
Câu trả lời: tĩnh lặng, màu nâu đồng, và ngầu đục một cách đáng ngạc nhiên.
Đoạn kết!
Ngoài cửa sổ tôi trông thấy bình minh màu hồng đang bao trùm khoảng sân sau nhà và có lẽ xa hơn, ít nhất đến cái nhà kho trong góc. Lũ chim dậy sớm, không có khái niệm ngủ nướng, đang líu lo những giai điệu bình minh quen thuộc của chúng. Bố và tôi ngồi trong im lặng. Nói trong mười bảy giờ đồng hồ và kể lại hầu hết từng phút của hai mươi hai năm đầu đời đã khiến ông kiệt sức. Lắng nghe cũng khiến tôi bị như thế. Tôi không biết ai trong chúng tôi mệt hơn. Bỗng nhiên bố tươi tỉnh hẳn và nói, “Này, con biết gì không?”
“Gì ạ?”
“Máu đã đông lại rồi!”
Máu? Máu nào? Ồ, đúng rồi - tôi đã đánh nhau, phải không nào? Tôi đã bị lũ bạn đánh một cách vô lý, đúng không? Tôi đưa tay lên và cảm nhận khuôn mặt mình. Có một vật cứng, giòn nằm trên môi dưới của tôi. Tôi chạy đến chỗ kính nhà tắm để soi. Hu ra! Đúng vậy, vào lúc nào đó trong câu chuyện của bố, máu trên mặt tôi đã chuyển thành màu đen và đông lại. Trông tôi thật đáng sợ. Tôi mỉm cười trở lại, lần đầu tiên kể từ trước khi câu chuyện bắt đầu rất lâu.
“Con có muốn bố chụp một tấm ảnh trước khi rửa nó đi không?” bố gọi vọng ra từ phòng ngủ của tôi.
“Thôi khỏi, máu sẽ còn đổ dài dài mà.”
“Quá đúng.”
Tôi lấy một góc khăn, cầm nó dưới nước nóng và thấm máu khô đi. Khi tôi lau mặt sạch sẽ và nước biến thành màu đỏ bầm của máu, làm bẩn chiếc khăn trắng, tôi nghĩ về chuyện của bố. Hình như tôi đã không biết thêm được nhiều về chú Terry như ta vẫn nghĩ ta sẽ biết sau một cuộc độc thoại dài mười bảy giờ, nhưng tôi đã biết thật nhiều điều về bố mình.
Tôi có cảm giác bất an rằng có thể từng lời ông nói đều là thật. Dĩ nhiên ông tin vào tất cả những điều đó. Có gì đó thật khó chịu khi một người đàn ông ba mươi hai tuổi đặt tâm hồn ba mươi hai tuổi của ông ta vào miệng của một đứa bé, ngay cả khi đứa bé đó chính là ông ta lúc còn nhỏ. Bố tôi có phải là một đứa bé tám tuổi vô chính phủ không? Một đứa bé chín tuổi ghét người? Hay đứa bé trong câu chuyện là một sự tái tạo vô thức, một con người với kinh nghiệm sống của người ấy cố gắng lý giải tuổi thơ mình, trong quá trình đó xóa sạch mọi suy nghĩ hoặc quan điểm mà ông ta đã thực sự trải qua trong quãng thời gian đó? Có thể lắm. Dẫu sao, kí ức có lẽ là thứ duy nhất trên trái đất mà chúng ta có thể thực sự nhào nặn để phục vụ chúng ta, để chúng ta không phải nhìn lại bản thân mình trong quá khứ đang lùi xa và nghĩ, “Thật là một thằng khốn nạn!”
Nhưng bố không phải loại người xóa sổ kí ức của mình. Ông thích bảo quản mọi thứ trong trạng thái tự nhiên của chúng, từ tóc đến quá khứ của ông. Vì thế mà tôi biết mọi lời ông nói đều là thật, và tại sao tôi vẫn cảm thấy phát ốm khi nhớ lại tiết lộ chấn động được đưa ra sau chuyện kể này, quả bom điên rồ về người đàn bà quan trọng nhất chưa bao giờ có mặt trong cuộc đời tôi: mẹ của tôi.
[1] Tựa gốc: Human, all too human - tác phẩm của triết gia người Đức Friedrich Nietzsche, sống vào cuối thế kỉ 19 (tất cả các chú thích trong cuốn sách là của người dịch).
[2] Thịt đáp ứng yêu cầu về ăn kiêng theo luật lệ của người Do Thái.
[3] Lỗ sâu của Sagan: Lỗ sâu, được các nhà vật lý tưởng tượng ra trên mặt phẳng không-thời-gian (spacetime), được cho là “đường đi tắt” xuyên qua không gian và thời gian. Khái niệm lỗ sâu từng được sử dụng cho một thiết bị tưởng tượng trong tiểu thuyết Contact của nhà thiên văn Carl Sagan.
[4] Jung (Carl Gustav Jung, 1875-1961): nhà tâm lý học người Thụy Sĩ, người sáng lập môn tâm lý học phân tích. Trong tác phẩm “Hồi ức, Giấc mơ và Suy tưởng” (1961), Jung nhận xét về những “sự quan sát đáng kinh ngạc” của bản thân trong các trường hợp bị hôn mê sâu sau chấn thương não và tổn thương chức năng não nghiêm trọng. Dù hoàn toàn mất tỉnh táo nhưng não lại có những “ý niệm về thế giới bên ngoài và những giấc mơ sống động”. Jung gọi những nhận thức hiện hữu trong trạng thái hôn mê là “sự nhận thức nội tại”.
[5] “Bụi cây cháy bừng” mang ý nghĩa một dấu hiệu của Chúa. Hình ảnh này được đề cập trong sách Xuất hành, Kinh thánh Cựu ước, kể việc Moses đang chăn chiên qua bên kia sa mạc thì nhìn thấy một bụi cây cháy bừng nhưng không bị thiêu rụi. Thiên sứ của Đức Chúa hiện ra từ bụi cây để báo với Moses rằng ông đang đứng trên Đất Thánh. Sau đó Thiên Chúa giao cho Moses làm thủ lĩnh của Israel để đưa dân tộc này ra khỏi Ai Cập đến Đất Hứa.
[6] Kinh thánh Job câu 3:9.
[7] Kinh thánh Job câu 3:20-23.
[8] Nhện funnel web: một loài nhện cực độc chỉ có ở Úc.
[9] Môn bóng đá trong truyện là bóng đá Úc, luật chơi giống như môn bóng bầu dục, sử dụng bóng hình bầu dục. Trong trận đấu, mỗi đội có 18 cầu thủ, thi đấu trên sân hình bầu dục và cũng có những vị trí gần giống như đội bóng đá.
[10] Cricket: Môn thể thao dùng gậy đánh bóng.
[11] Bánh bói (fortune cookies): loại bánh bột có nhét tờ giấy đoán vận mệnh bên trong.
[12] Al Capone (1899-1947): tội phạm khét tiếng người Mỹ, trùm đường dây buôn lậu trong thập niên 1920 và 1930.
[13] Squizzy Taylor (1888-1927): tội phạm khét tiếng người Úc.
[14] Edward “Ned” Kelly (1854 hoặc 1855-1880): một nhân vật “lục lâm thảo khấu” người Úc được một số người xem là anh hùng dân tộc vì thái độ phản kháng chính quyền thực dân.
[15] Bonnie và Clyde: tên một bộ phim Mỹ kể về cặp đôi cướp nhà băng Bonnie Parker và Clyde Barrow.
[16] Marcus Junius Brutus (85 trCN - 42), sống vào cuối thời Cộng hòa La Mã, giữ vai trò chủ đạo trong âm mưu ám sát Julius Ceasar nhằm giành quyền kiểm soát nền cộng hòa.
[17] Nhân vật nhắc đến bài hát Blow with the wind (Theo gió cuốn đi) của ca sĩ Bob Dylan, trong đó có câu hát “Câu trả lời, bạn ơi, theo gió cuốn đi rồi”.
[18] Ngón tay “thối”: Ngón tay giữa chĩa về phía người khác thay cho lời chửi tục.
[19] Môn thể thao ngoài trời, chơi trên cỏ, có nguồn gốc từ nước Anh. Người chơi cố thảy quả bóng của mình lăn nhẹ đến gần một quả bóng nhỏ màu trắng.
[20] Năm 1604, vua James I của Anh ra lệnh chuyển dịch pho Kinh Thánh mới và hoàn hảo hơn bằng Anh ngữ. Ông đã chọn lựa một số dịch giả và các nhà nghiên cứu chuyên môn cho công việc này. Pho Kinh Thánh mới này được chuyển dịch trực tiếp từ bản văn Hy Lạp và Do Thái. Kết quả bản dịch Anh Ngữ này có tầm quan trọng nhất và được những người Tin lành sử dụng thường xuyên nhất. Người ta gọi đó là ấn bản King James.
[21] Nguyên văn: the Good Book, đồng nghĩa với “Quyển sách hay”.