MỘT NGÀY DÀI HƠN THẾ KỶ

Lượt đọc: 3263 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 9

Trên Thái Bình Dương, phía Nam quần đảo Aleut, trời đã ngả về chiều. Biển vẫn động, nhưng không dữ dội lắm. Những đợt sóng bạc đầu ngầu bọt, hết đợt này tới đợt khác xô đẩy nhau, lăn đi, chạy dài trên khắp mặt biển mênh mông, từ chân trời nọ đến chân trời kia - một thứ chuyển động duy nhất của biển khơi mà mắt nhìn thấy được - Tàu sân bay "Convention" khẽ đong đưa trên mặt sóng. Nó vẫn đậu tại chỗ cũ, cách San Francisco và Vladivostok theo đường chim bay những khoảng cách bằng nhau. Tàu sân bay đang tiến hành chương trình nghiên cứu khoa học quốc tế, mọi hoạt động tại đây vẫn ở trong tình trạng căng thẳng, sẵn sàng hành động bất cứ lúc nào.

Mãi đến lúc này, phiên họp bất thường của hai tiểu ban đặc mệnh toàn quyền, được lập ra để xem xét tình hình khẩn cấp, khác thường, do việc phát hiện được một nền văn minh ngoài trái đất, tại hệ thống thiên thể Chủ Nhân, mới kết thúc. Hai phi công vũ trụ song đôi 2-1 và 1-2 đã tự tiện rời vị trí, bỏ đi cùng với những vị sứ giả của hành tinh Ngực Rừng lúc này vẫn còn phải lưu lại trên đó. Họ đã bị Trung tâm điều khiển cảnh báo ba lần, thông qua hệ thống liên lạc vô tuyến trên trạm quỹ đạo "Paritet", là dù thế nào đi nữa, cũng không được tiến hành bất cứ hoạt động nào, làm bất kỳ việc gì trước khi nhận được những chỉ thị đặc biệt của Trung tâm điều khiển gởi lên.

Những yêu cầu nghiêm ngặt đó, trên thực tế chẳng những chứng tỏ tâm trạng hoang mang của Trung tâm điều khiển mà còn cho thấy rõ sự phức tạp ghê gớm và sự gay gắt ngoài sức tưởng tượng của tình huống trước mắt cùng sự bất đồng ý kiến sâu sắc giữa hai phía, vốn đang có nguy cơ làm gián đoạn hoàn toàn sự hợp tác; hơn nữa, còn có thể dẫn đến sự đối đầu công khai của hai bên. Cái mà mới đây đã làm cho hai bên nhích lại gần nhau nhằm phục vụ sức mạnh hùng hậu về khoa học - kỹ thuật của hai cường quốc chủ chốt nhờ được liên kết lại là chương trình "Demiurge"; thì giờ đây, tự thân nó đã lùi xuống hàng thứ yếu và lập tức mất đi ý nghĩa to tát vốn có, khi phải đứng trước một siêu vấn đề vừa đột ngột nảy sinh do việc phát hiện được một nền văn minh ngoài Trái Đất. Các thành viên trong hai ủy ban đều hiểu rõ rằng: phát minh phi thường, không gì sánh kịp này sẽ thử thách một cách căn bản đích thân những nền tảng, vốn là chỗ dựa cho hợp tác quốc tế hiện thời, cùng hết thảy những gì đã được cổ vũ, được nhen nhúm, được hình thành trong ý thức của các thế hệ suốt từ thế kỷ này sang thế kỷ khác - nghĩa là toàn bộ những quy tắc tồn tại của nó xưa nay. Liệu ai đó có dám liều lĩnh dấn bước, bất chấp những nguyên tắc, những luật lệ về sự an ninh toàn cầu của nền hòa bình trên Trái Đất?

Và cũng như bao giờ, khi lịch sử phải đứng trước những thời điểm khủng hoảng; giờ đây, những mâu thuẫn cơ bản của hai hệ thống xã hội - chính trị khác nhau trên Trái Đất lại bộc lộ rõ chân tướng toàn bộ sức mạnh của chúng.

Việc thảo luận vấn đề cốt tử ấy đã làm nảy sinh một loạt các cuộc tranh cãi gay gắt. Sự khác nhau về quan điểm, về cách tiếp cận vấn đề ngày càng bộc lộ rõ hai lập trường không thể dung hòa nhau, Tình thế ấy nhanh chóng chuyển thành những xung đột, những lời dọa dẫm lẫn nhau; những xung khắc mà nếu không biết tự kiềm chế, tất sẽ dễ dàng dẫn đến một cuộc chiến tranh thế giới. Bởi vậy, cả hai bên đều cố tránh những hành động cực đoan khả dĩ đưa đến hiểm họa đó. Nhưng nhân tố giữ vai trò kềm hãm lớn hơn cả chính là nỗi e ngại, đúng hơn là nỗi lo sợ một sự bùng nổ ý thức trên hành tinh, vốn có cơ xảy ra một cách tự phát, nếu tin tức về việc phát hiện được một nền văn minh ngoài Trái Đất trở thành một sự kiện công khai, ai nấy đều biết rõ... Không một ai dám bảo đảm rằng hiện tình sẽ không dẫn đến những hậu quả ghê gớm như vậy.

Rốt cục, lý trí đã thắng. Hai bên đã đi đến một giải pháp nhân nhượng, dung hòa - tuy miễn cưỡng nhưng vẫn nghiêm chỉnh dựa trên cơ sở duy trì thế cân bằng lực lượng của đôi bên. Do vậy, Trung tâm điều khiển đã truyền lên trạm quỹ đạo "Paritet" một bức điện bằng mật mã, nội dung như sau:

"Gửi phi công vũ trụ - kiểm tra 1-2 và 2-1. Nhất thiết phải tiến hành liên lạc bằng vô tuyến, thông qua các hệ thống thông tin đặt trong "Paritet", với hai phi công vũ trụ 1-2 và 2-1 hiện đang lưu lại tại một Thiên Hà ngoài hệ Mặt Trời, trên hành tinh Ngực Rừng quay quanh thiên thể có tên là Chủ Nhân. Phải thông báo cấp tốc cho cả hai, rằng Trung tâm điều khiển căn cứ vào những kết luận của ủy ban song phương, sau khi nghiên cứu những thông tin về nền văn minh ngoài Trái Đất mà hai phi công vũ trụ song đôi 1-2 và 2-1 phát hiện được, đã thông qua quyết định cuối cùng, không cho phép kháng nghị, sau đây:

a. Nghiêm cấm hai cựu phi công vũ trụ 1-2 và 2-1 trở về lại trạm quỹ đạo "Paritet" và do đó, cả về Trái Đất nữa, vì cả hai đều không còn là những thành viên thỏa đáng của nền văn minh trên Trái Đất;

b. Báo cho cư dân trên hành tinh Ngực Rừng rằng, chúng ta cự tuyệt tiếp xúc với họ, dưới bất cứ hình thức nào, vì những cuộc tiếp xúc đó hoàn toàn trái ngược với kinh nghiệm lịch sử, với những lợi ích sống còn và những đặc điểm trong giai đoạn phát triển hiện thời của xã hội loài người trên Trái Đất;

c. Báo trước cho hai cựu phi công vũ trụ 1-2 và 2-1, cũng như những người trên hành tinh mà họ đang tiếp xúc, để họ đừng hòng mưu toan thông qua việc liên lạc với con người trên Trái Đất, mà thâm nhập vào các vùng không gian gần Trái Đất như họ đã từng làm, khi ghé thăm trạm "Paritet" đang bay trên quỹ đạo "Tramplin";

d. Để cô lập phần không gian quanh Trái Đất, nhằm ngăn chặn mọi sự xâm nhập có thể xảy ra của các phi thuyền xuất phát từ mọi thiên thể khác, Trung tâm điều khiển quyết định khẩn cấp đưa vào hoạt động một chế độ du hành vũ trụ đặc biệt có tên là chiến dịch "Vành đai"; giao cho hàng loạt hỏa tiễn - rôbôt một chương trình hoạt động thường trực: phong tỏa những quỹ đạo đã dự tính, bằng cách sử dụng các loại vũ khí laser-hạt nhân tự động để tiêu diệt bất cứ đối tượng lạ nào lăm le tiếp cận Trái Đất;

e. Thông báo cho hai cựu phi công vũ trụ đã tự tiện tiến hành tiếp xúc với giống người trên hành tinh khác biết, rằng để giữ gìn an ninh và duy trì trạng thái ổn định của cơ cấu địa lý - chính trị đã hình thành trên Trái Đất, chúng ta loại bỏ mọi khả năng bắt liên lạc với họ. Tiếp đó, sẽ cho thi hành mọi biện pháp để giới hạn biến cố vừa xảy ra trong vòng tuyệt mật và bằng mọi biện pháp nhằm ngăn chặn việc tái tiếp xúc với hành tinh nói trên. Do đó, quỹ đạo của trạm "Paritet" sẽ lập tức bị thay đổi và những đường kênh liên lạc trên trạm cũng sẽ được mã hóa bằng một khóa khác trước;

g. Cảnh báo một lần nữa với người trên hành tinh Ngực Rừng rằng, họ sẽ gặp nguy hiểm, nếu họ còn nuôi ý định đến gần các khu vực của "Vành đai" bao quanh bầu khí quyển Trái Đất chúng ta.

Trung tâm điều khiển tàu sân bay "Convention".

Nhằm thi hành các biện pháp bảo vệ đó, Trung tâm điều khiển buộc phải đình chỉ vô thời hạn toàn bộ chương trình chinh phục hành tinh X là "Demiurge". Trạm quỹ đạo "Paritet" phải đổi lại các thông số bay và sẽ được sử dụng làm đài quan sát vũ trụ lâm thời. Tàu nghiên cứu khoa học song đôi "Convention" được quyết định chuyển giao cho nước Phần Lan trung lập bảo quản. Sau khi hệ thống "Vành đai" được phóng lên vũ trụ, toàn bộ thủy thủ đoàn, nhân viên quản lý, cán bộ khoa học, cùng nhân viên giúp việc của cả hai bên đều lập tức bị giải thể. Họ buộc phải cam kết tuyệt đối không tiết lộ cho bất kỳ ai, từ nay cho đến lúc xuống mồ, những nguyên do dẫn đến việc đình chỉ hoạt động của Trung tâm điều khiển.

Người ta dự tính sẽ công bố rằng chương trình "Demiurge" sở dĩ phải đình chỉ vô thời hạn vì đang cần tái điều tra cơ bản và điều chỉnh các số liệu, các phương án chinh phục hành tinh X.

Mọi chuyện đều đã được trù tính cẩn thận. Và toàn bộ những gì đã trù tính đó sẽ phải được thực hiện ngay sau khi các hệ thống phòng thủ trong chiến dịch "Vành đai" được cấp tốc đưa lên các quỹ đạo quanh Trái Đất.

Phiên họp liên tịch của hai tiểu ban vừa kết thúc, tất cả các văn kiện, số liệu, các tin tức, do hai cựu phi công vũ trụ song đôi cung cấp, cùng toàn bộ phim ảnh và giấy má có liên quan đến câu chuyện đau lòng này, đều lập tức bị thủ tiêu.

Trên Thái Bình Dương, phía nam quần đảo Aleut, ngày đã sắp tàn. Thời tiết vẫn thế, chẳng thay đổi bao nhiêu. Nhưng dẫu sao sóng vẫn mỗi lúc một cao thêm. Tiếng sóng dào dạt khắp bốn bề, càng về đêm nghe càng rõ.

Nhân viên phục vụ sân bay trên tàu "Convention" đang nóng lòng chờ các thành viên của hai tiểu ban đặc mệnh toàn quyền sớm lên mấy bay, sau khi tan hợp tác, song đợi mãi chẳng thấy họ đâu. Kia rồi, tất cả đã xuất hiện trên đường băng. Họ từ biệt nhau. Người lên chiếc máy bay này, kẻ lên chiếc khác.

Cả hai chiếc máy bay đều cất cánh êm thấm, mặc dù tàu "Convention" chòng chành mạnh hơn trước. Một chiếc bay sang San Francisco, chiếc kia hướng về phía đối diện, bay tới Vladivostok.

Tròn mình trong những làn gió hiền hòa, Trái Đất vẫn trôi đi trên những quỹ đạo ngàn đời của nó. Trôi đi mãi, đi mãi Trái Đất của chúng ta... Một hạt cát bé bỏng trong Vũ trụ vô cùng vô tận. Những hạt cát như thế đếm sao xiết trong không gian! Nhưng chỉ trên hạt cát này - Trái Đất của chúng ta, ngay tự ngàn xưa đã có con người sinh sống. Họ sống như từng được sống và lắm lúc như từng biết sống, lòng luôn cháy bỏng một nỗi tò mò, một niềm khát khao hiểu biết, luôn cố tự làm sáng tỏ cho bản thân mình một điều: ở đâu đó, tại những hành tinh khác, có tồn tại những đồng loại tương tự như ta hay không? Họ tranh cãi, họ nêu ra các giả thuyết, họ bay lên Cung Trăng, họ gửi hàng loạt những máy móc, thiết bị tự động lên các thiên thể khác, nhưng rồi lần nào cũng vẫn chỉ thu về những tin tức đáng buồn: quanh hệ Mặt Trời này chẳng hề có một thứ sinh vật nào giống họ. Nói chung, chẳng hề có một dấu hiệu nào của sự sống. Dần dà, họ quên bẵng đi chuyện đó, chẳng bận tâm gì đến chuyện được sống là một diễm phúc, nên phải tìm cách ăn ở sao cho hòa thuận, và hãy đổ mồ hôi trán để sống cho sung túc hơn... Nhiều người, nói chung, cho rằng chuyện đó chẳng dính dáng gì đến mình. Và Trái Đất tự nó cứ trôi đi, trôi mãi...

☆ ☆ ☆

Suốt tháng Giêng, trời cứ mù sương và giá buốt căm căm. Chẳng biết từ đâu rét mướt lại để dồn về vùng Sarozek này lắm thế. Các đoàn tàu qua lại, bị băng giá phủ trắng xóa bên ngoài, cả các ổ trục cũng đều đông cứng lại. Ai cũng trố mắt kinh ngạc khi nhìn những dãy xi-tẹc đen chở đầy dầu, vừa mới dừng lại ở đoạn đường tránh tàu đã lập tức biến thành những đụn tuyết trắng phau. Đến lúc các đoàn tàu chuyển bánh lên đường thật là vất vả. Hai chiếc đầu máy đấu chung lại, như cùng ghé vai húc mãi hồi lâu, những chiếc bánh xe chết cứng vì giá rét mới chịu nhích đi từng tấc một. Và những chiếc đầu máy phải dốc hết sức mới đẩy nổi các toa tàu nên phát ra những tiếng gầm rú chói tai, lan đi rất xa trong không gian giá lạnh, nên đêm nào lũ trẻ sống tại ga Boranly cũng thảng thốt choàng dậy.

Các cung đường lại bắt đầu bị vùi lấp dưới những đụn tuyết cao. Chưa kịp xúc đi đụn này, những đụn khác đã lại bồi vào. Gió lồng lộn như hóa cuồng, ở vùng Sarozek mênh mông, trống trải này, gió muốn tung hoành thế nào tùy thích, nên cũng khó đoán được bão tuyết từ phía nào đổ tới. Và dân Boranly cứ có cảm tưởng như gió lúc nào cũng lăm le cố dồn hết tuyết lên đường tàu. Chỉ cần ngơi tay, nhãng đi một lúc, đường tàu đã ngập sâu trong tuyết đến hàng tấc, hàng tấc.

Edigej, Kazangap và ba anh công nhân sửa đường chẳng còn biết làm gì khác hơn là dốc hết sức dọn sạch tuyết từ đầu nọ đến đầu kia, khi đoạn này, lúc đoạn khác, rồi lại quay về chỗ vừa mới dọn lúc đầu. Giúp họ, chẳng có gì khác ngoài mấy chiếc xe cà khổ do lạc đà kéo. Lớp tuyết dày trên mặt đường, họ cho lên xe, chở đi đổ hai bên rìa đường. Nhưng những lớp ở bên dưới, phải xoay trần ra mà dọn bằng tay. Và Edigej chẳng còn thương tình gì con Karanar, vì được dịp quần cho nó một trận ra hồn, để thuần dưỡng nó bớt đi những trò hung hăng vô lối vì thừa năng lượng. Anh thắng nó chung với một con khác, bắt cả hai kéo một xe chở đầy tuyết và cả anh nữa cũng ngồi hẳn lên xe, cho nặng thêm. Dạo ấy, nhà ga chẳng có một thứ máy móc gì để làm việc này. Người ta đồn là đã sản xuất được nào là xe xúc tuyết, nào đầu tàu kéo, có thể giúp công nhân gạt những đống tuyết ngồn ngộn kia sang hai bên đường. Người ta cũng đã hứa là sẽ gửi gấp đến những thứ máy móc đó. Nhưng cho đến bấy giờ vẫn chỉ là những lời hứa hão.

Nếu suốt hai ba tháng hè, người ta đã phải thở bầu không khí oi nồng, khiến đầu óc như muốn mụ đi, thì giờ đây, lại hít phải những làn không khí giá buốt đến rợn người - phổi như muốn rách toạc hết ra. Có điều, các đoàn tàu vẫn phải qua lại thường xuyên và không lẽ cứ khoanh tay ngồi im ru rú trong xó nhà. Edigej râu ria, tóc tai tua tủa, và lần đầu tiên, đúng vào mùa đông ấy, anh nhận thấy râu tóc mình bắt đầu điểm bạc, cặp mắt sưng húp vì đói ngủ, còn mặt mũi nhìn vào gương mà phát hoảng - cứ đen nhẻm như than. Không lúc nào anh rời chiếc áo chẽn lông cừu, đã thế còn quấn thêm bên ngoài chiếc áo mưa vải bạt. Trên đầu, suốt ngày tùm hụp chiếc mũ trùm tai và dưới chân đôi ủng dạ to sù.

Nhưng dẫu làm gì, vất vả nhọc nhằn đến đâu, tâm trí anh không sao dứt ra được câu chuyện buồn lòng về Abutalip Kuttybaev. Nó như hú dài đến đau nhói trong tai anh. Anh với bác Kazangap cứ nghĩ đến nó luôn, đoán già đoán non mọi việc đã xảy ra thế nào và kết cục sẽ đi đến đâu. Bác Kazangap lặng thinh suốt ngày, mày chau lại, luôn nghĩ ngợi điều gì đó một mình, căng thẳng lắm. Một hôm, bác bỗng lên tiếng:

- Sự đời bao giờ cũng thế. Bây giờ chắc người ta đang cứu xét thêm... Chẳng phải tự dưng mà các cụ ta ngày xưa hay bảo: "Vua chẳng phải là trời. Không phải lúc nào vua cũng biết bọn thuộc hạ làm gì sau lưng mình; còn đám thuộc hạ thì lại không biết gì về bọn nha lại đang lùng sục ngoài chợ, để thu thuế má". Bao giờ chẳng thế.

- Gớm, mới lạ nhỉ. Tưởng gì chứ thông thái thế tôi đây chẳng kém - Edigej bực bội chế giễu ông bạn già - Nhưng vua chúa khối gì tên đã bị nện cho nhừ đòn thấy thôi! Mà vua chúa thì dính dáng gì đến chuyện này?

- Thế thì đến chuyện gì, hả? - Bác Kazangap hỏi, giọng lý sự.

- Còn chuyện gì, chuyện gì nữa? - Edigej cáu kỉnh lầu bầu. Rồi anh đi tới đi lui, đầu óc bị câu hỏi chưa có lời giải đáp đó ám ảnh mãi không thôi.

Thói thường: họa vô đơn chí. Abutalip vừa bị bắt được mấy bữa. Daul - thằng con lớn của anh - lăn ra ốm. Người thằng bé nóng ran. Chốc chốc lại lên cơn mê sảng. Những cơn ho hành hạ nó, cổ họng đỏ nhừ. Zaripa bảo là nó bị cảm lạnh. Chị cho uống thôi không còn thiếu thứ gì.

Nhưng không thể ngồi mãi với hai đứa con. Bỏ bê công việc không lo bẻ ghi, điều khiển mấy cái tiêu báo hiệu, lương đâu mà sống. Lại còn phải có mặt vào mấy phiên trực khi ban ngày, lúc ban đêm nữa. Cho nên Ukubala phải cáng đáng hết việc chăm nom lũ trẻ. Cả bốn đứa đều do một tay chị trông nom, vì chị hiểu rằng gia đình Abutalip đang lâm vào cảnh khốn cùng. Và Edigej đã đỡ cho vợ một tay, trong chừng mực có thể được. Từ tinh mơ, anh đã phải trở dậy mang than ngoài gian nhà kho sang lán mẹ con họ ở, và nếu chưa trễ lắm, nhóm lò giúp luôn. Than đá khó bắt lửa, nên phải thật khéo tay. Hôm nào anh cũng phải rắc thêm trên lò cả nửa xô than, để lũ trẻ có đủ lửa sưởi ấm suốt ngày. Anh cũng tự tay mang nước từ trong xi-tẹc đặt ở khúc đường cụt về, và chẻ củi để có cái cho vợ đun nấu. Những gì phải tay anh mới làm được, anh đều làm chu đáo. Nhưng cái việc khó nhất không phải là những việc đó. Anh không sao bình tâm nổi, khi phải nhìn thẳng vào các cặp mắt của lũ con Abutalip, và trả lời những câu hỏi của chúng. Thằng lớn nằm liệt giường, hơn nữa, nó là thằng bé có ý tứ, biết chịu đựng. Nhưng với thằng em - Ermek - vốn giống mẹ, rất sôi nổi, thích được âu yếm, hết sức nhạy cảm và dễ mủi lòng, thì thật khó xử... Sáng sáng, những lúc xách than đến nhóm lò, bao giờ anh cũng cố làm thật nhẹ tay để hai đứa trẻ khỏi thức giấc. Nhưng chẳng mấy khi được như ý. Anh chưa kịp trở gót, thằng Ermek tóc quăn, mắt đen láy, đã choàng dậy. Và câu đầu tiên nó hỏi, khi vừa mở mắt là:

- Bác Edigej ơi, hôm nay chắc bố cháu về đấy, bác nhỉ?

Và chưa kịp mặc quần áo, thằng bé đã chạy đến bên anh, chân trần, mắt hau háu một niềm hy vọng là Edigej sẽ đáp "ừ" - thế là bố nó nhất định sẽ về, sẽ ở lại nhà cùng ba mẹ con nó. Edigej chỉ còn biết ủ thằng bé gầy nhom, con ấm hơi chăn, giữa hai vòng tay và đặt lại nó lên giường. Rồi trò chuyện cùng nó, như với người cùng trang lứa:

- Ermek ạ, hôm nay bác không biết bố cháu có về không. Nhưng chốc nữa ra ga, bác sẽ nhờ bên thông tin hỏi xem bố cháu sẽ về chuyến tàu nào. Ga ta tàu khách không đỗ, cháu biết rồi đấy. Phải có lệnh của chính ông trưởng ban điều độ kia. Theo bác, chỉ nay mai họ sẽ báo tin thôi. Lúc ấy, nhất định bác cháu ta, cả anh Daul nữa - nếu anh ấy đã khỏi ốm - sẽ ra ga đón.

- Lúc ấy, cả mấy bác cháu ta sẽ cùng bảo: Bố ơi, xem này, bác Edigej với chúng con ra đón bố đây.

- Ồ, dĩ nhiên rồi. Thế nào bác cháu ta cũng sẽ bảo thế - Edigej sôi nổi tán thành.

Có điều, một thằng bé tinh khôn như nó, đâu chỉ bằng lòng có vậy.

- À này, bác Edigej ạ, thế chi bằng bác cháu mình cứ lên một chuyến tàu hàng, đến gặp chính cái ông trưởng ban điều độ ấy. Để bảo ông ta cho tàu chở bố cháu đỗ lại ga chúng mình.

Lại phải nói trớ đi:

- Nhưng phải đợi đến hè trời ấm lên đã. Chứ rét mướt thế này, cháu đi tàu hàng thế nào được. Lạnh lắm. Lại gió máy nữa. Cháu không thấy cửa sổ đầy những băng đấy à. Thành thử chưa đến nơi, ta đã cứng lại, như hai cục băng mất thôi. Không được đâu, Ermek ạ. Đi thế nguy hiểm lắm.

Thằng bé rầu rĩ nín thinh.

- Thôi cháu nằm xuống ngủ tiếp đi, để bác đến xem anh Daul đỡ chưa - Edigej tìm cớ lánh, bước lại chỗ anh nó, áp nhẹ bàn tay đầy chai, nặng trịch, lên cái trán nóng ran của thằng bé... Thằng anh phải chật vật lắm mới mở được mắt. Nó khẽ nhếch đôi môi khô nẻ vì sốt cao, mỉm cười. Cơn sốt vẫn chưa lui.

- Đừng tung chăn ra cháu. Người đang dâm dấp mồ hôi đây này. Có nghe bác nói không, hả Daul? Kẻo lại cảm lẩn nữa đấy. Còn cháu, Ermek, bao giờ anh cháu mắc tiểu, nhớ cầm giúp lại cho anh ấy cái bô. Nhớ nhé. Để anh Daul khỏi phải ngồi dậy. Mẹ sắp hết phiên trực rồi, chắc tí nữa về thôi. Chốc nữa, cô Ukubala sẽ mang cháo sang cho các cháu. Mai mốt Daul hết ốm, các cháu lại sang bên bác, chơi với chị Saule và Sharapat cho vui. Bây giờ, bác phải về đi làm đây, chứ tuyết xuống nhiều quá, đường tàu nghẽn cả rồi - Bác dỗ dành lũ trẻ trước lúc ra về.

Nhưng thằng Ermek đâu đã chịu yên.

- Bác Edigej ạ - nó nói với bác hàng xóm, lúc này đã chân trong chân ngoài ngưỡng cửa - Tuyết mà con xuống nữa, cản mất thư của bố cháu, cháu cũng sẽ đi dọn tuyết với bác. Cháu có xẻng đấy ạ.

Edigej bước ra, lòng thắt lại với những ý nghĩ nặng nề, cổ anh đắng ngắt vì tức giận, vì bất lực, vì thương cảm. Anh đâm hằn học, căm ghét hết thảy mọi thứ trên đời. Rồi anh mang nỗi hằn học ấy đổ hết lên những đụn tuyết, những trận gió, những đống băng làm nghẽn đường tàu, lên mấy con lạc đà mà anh bắt phải làm cật lực, không chút thương hại. Anh làm hùng hục như một con bò mộng, như thể chỉ mình anh mới có thể chặn đứng những cơn bão tuyết miền Sarozek này.

Ngày nọ tiếp ngày kia trôi đi, như những giọt nước cứ đều đều nhỏ xuống, từng giọt một, giọt nọ giống hệt giọt kia đến phát ngấy lên được. Thế rồi tháng Giêng cũng hết, và giá buốt cũng dịu đi ít nhiều, vẫn chẳng có tin gì về Abutalip Kuttybaev, Edigej và Kazangap đâm hoang mang vì những phỏng đoán của mình: người cho thế này, kẻ đoán thế nọ, rối tinh lên. Cả anh lẫn ông bạn già đều cho rằng rồi thế nào họ cũng phải thả anh ấy ra ngay - vì có tội tình gì cái chuyện viết lách điều này điều nọ cho chính mình, chứ nào phải để đăng báo đăng biếc gì cho cam. Cả hai đều hy vọng thế và cố gieo vào lòng Zaripa niềm tin ấy, để người thiếu phụ khỏi ngã lòng, về phần mình, Zaripa cũng hiểu rằng chị phải cứng cỏi hơn, để có sức mà nuôi dạy hai đứa con thơ. Và chị đã tỏ ra vững vàng thật; chị bấm bụng chịu đựng, không hé răng than thở lấy một lời. Duy đôi mắt chị bừng bừng một nỗi day dứt không nguôi. Ai biết người thiếu phụ ấy còn có thể chịu đựng được bao lâu nữa?

Một bữa kia, Edigej-Bão Tuyết được ngơi tay chừng một tiếng đồng hồ. Anh quyết định tạt ra thảo nguyên một lát, xem bầy lạc đà ngoài ấy còn có ra gì không. Cái chính là xem con Karanar đang giở trò gì ngoài đó: Có gây thương tật cho con nào trong đàn không? Có nổi điên lên không? Vì đã sắp tới mùa động hớn của nó rồi. Anh phải đi giày trượt tuyết - chỗ thả đàn gia súc chẳng xa gì mấy. Anh quay về thật đúng lúc. Đang định đến báo cho Kazangap là mọi việc vẫn đâu vào đấy, cả đàn đang ăn cỏ dưới thung lũng Đuôi Cáo, tuyết đã tan gần hết, trời gió nhẹ, vì thế cỏ dưới chân mấy ngọn đồi không còn bị ngập băng nữa, chẳng có gì đáng ngại. Nhưng trước tiên, anh muốn ghé qua nhà, vứt lại đôi giày đi tuyết. Vừa đến cổng, Saule - đứa con gái lớn - đã ló mặt ra, hoảng hốt gọi to:

- Mẹ khóc đấy, bố ạ - Rồi biến đi mất.

Edigej dựng vội đôi giầy bên cánh cổng, lo lắng chạy vào nhà.

Ukubala đang nức nở, to đến mức anh bỗng thấy nghèn nghẹn nơi cổ họng.

- Sao thế? Có chuyện gì vậy, mình?

- Hãy để cho hết thảy mọi thứ đáng nguyền rủa trên cõi đời này bị nguyền rủa đến tuyệt giống đi. - Ukubala giọng chì chiết, lắp bắp.

Chưa bao giờ Edigej thấy vợ đau xót, giận dữ đến vậy. Chị là một phụ nữ cứng cỏi, đầu óc lúc nào cũng tỉnh táo.

- Tại anh đấy, tại anh cả đấy.

- Tôi làm sao kia? Tôi có lỗi gì nào? - Edigej sửng sốt.

- Anh cứ huyên thuyên với hai thằng bé khốn khổ ấy đủ điều, chứ còn sao nữa. Cho nên mới vừa rồi, có một đoàn tàu khách phải dừng lại, nhường đường cho đoàn tàu chạy ngược chiều. Thế là, vừa nhác thấy đoàn tàu khách rẽ vào đường tránh, hai thằng bé nhà Abutalip đã lao tới kêu ầm lên: "Bố! Bố kìa! Bố về kia rồi". Chúng cứ lao sát vào đoàn tàu. Tôi phải hối hả chạy theo. Chúng chạy hết toa này sang toa khác, gào ầm ĩ lên: "Bố! Bố ơi! Bố đâu ạ!". Tôi nghĩ bụng, không khéo chúng lao đầu vào gầm tàu mất. Hai đứa chạy dọc suốt cả đoàn tàu dài, cửa đóng im ỉm. Mặc, chúng cứ chạy! Tôi lại phải đuổi theo. Vừa tóm được thằng bé, thằng lớn đã suýt giật khỏi tay tôi, đúng lúc đoàn tàu chuyển bánh. Hai đứa vừa thi nhau gào: "Bố cháu trên tàu kia, khéo bố xuống không kịp mất cô ạ!" vừa cố vùng ra bằng được. Ruột gan tôi rối lên. Nghĩ bụng: chúng cứ gào thét thế này, mình đến mất trí thôi. Thằng lớn, tôi còn phân bua được. Chứ thằng bé thì chịu. Anh ra mà thu xếp với nó! Đi đi! Chính anh bảo với chúng khi nào có tàu khách đến là bố chúng về, chứ ai? Chà, phải chi anh được nhìn tận mắt cảnh đoàn tàu chạy xa rồi mà vẫn không thấy bố chúng xuống. Trời ơi, giá anh chứng kiến cảnh ấy? Đã biết cơ sự là thế, đã biết bố con chúng nó quấn quít nhau đến thế rồi, còn phỉnh phờ chúng làm gì nữa chứ? Bắt chúng đau khổ đến thế, được lợi lộc gì nào?

Edigej sang nhà hai thằng bé, như bước ra pháp trường. Anh chỉ còn biết cầu khẩn Thượng đế hãy đoái thương anh, tha cho anh trước lúc lìa đời cái tội đã vô tình đánh lừa hai linh hồn non nớt, cả tin! Nào anh có muốn làm điều ác với chúng. Bây giờ, còn biết ăn nói với hai đứa bé thế nào đây?

Vừa nhác thấy anh, Ermek và Daul vẫn còn giàn giụa nước mắt và mặt mũi sung húp đến chẳng còn nhận đứa nào ra đứa nào nữa, đã gào ầm lên, nhanh nhẩu cướp lời nhau, cố cắt nghĩa cho anh biết đoàn tàu đã dừng lại ở khúc đường tránh, nhưng bố chúng không kịp xuống, và nài nỉ anh ra chặn giúp đoàn tàu lại...

Sadyndym, papikamdy. Sadyndym, sadyndym[14] - Ermek kêu to, van nài bằng cả dáng điệu, niềm tin, hy vọng, lẫn đau xót.

- Bác biết cả rồi. Yên nào, yên nào, đừng khóc nữa, các cháu... - Edigej thử tìm cách giảng giải, an ủi hai thằng bé đang kêu khóc thảm thiết. Nhưng tự kềm chế, không để mình gục ngã, không tỏ ra bối rối, hoảng hốt trên nét mặt, để hai đứa trẻ dừng nhận biết mình mềm yếu, bất lực... anh thấy còn gay hơn - Nào, bây giờ ta đi xem sự thể ra sao, các cháu nhé! - Nhưng đi đâu? Đến đâu? Kêu với ai? Làm gì bây giờ? Cư xử ra sao? - Anh tự nhủ - Được, bây giờ ta hẵng ra ngoài kia một lát, ngẫm nghĩ, bàn xem, các cháu ạ - Edigej hứa hẹn một điều rất mơ hồ, lắp bắp những câu chẳng mạch lạc gì cả.

Anh đến bên Zaripa. Chị đang nằm vùi trên giường, mặt úp xuống gối.

- Zaripa, Zaripa - Edigej khẽ lay vai người thiếu phụ.

Chị vẫn nằm yên, không ngẩng đầu lên.

- Mấy bác cháu tôi ra ngoài kia, đi dạo loanh quanh một lúc, rồi đưa các cháu sang bên nhà tôi chơi luôn - anh nói với Zaripa - Thôi, tôi đi với hai cháu đây, nhé!

Đó là điều duy nhất anh có thể nghĩ ra để an ủi chúng, cho chúng khuây khỏa và cũng để cho chính mình có thì giờ lo liệu. Anh cõng thằng Ermek lên lưng, tay dắt thằng Daul, kéo đi. Ba bác cháu lững thững bước dọc đường tàu, chẳng có chủ đích gì. Chưa bao giờ Edigej-Bão Tuyết xót xa vì những nỗi bất hạnh của người khác, như lúc này. Ngồi trên lưng anh, thằng Ermek vẫn thút thít khóc thầm, phả vào gáy anh những hơi thở buồn rầu, nóng hổi. Nó áp chặt tấm thân bé bỏng, quắt queo đi vì buồn nhớ vào người anh, ghì chặt cả hai tay vào cổ anh đầy tin cậy. Cả thằng Daul cũng bíu chặt lấy tay anh. Đến nỗi anh suýt buột miệng bật lên tiếng kêu xót xa, ái ngại cho hai đứa trẻ.

Ba bác cháu đi dọc đường tàu, giữa những cánh thảo nguyên Sarozek vắng lặng không gì khác ngoài những đoàn tàu qua lại, bánh nện ầm ầm trên đường ray, khi về hướng này, khi về hướng kia. Chuyến lao đi, chuyến lao tới, thế mãi...

Và Edigej lại phải nói dối hai đứa trẻ một lần nữa, khi bảo rằng chúng đã nhầm: Đoàn tàu tình cờ rẽ vào chỗ đường tránh đó là từ hướng này chạy tới; còn bố chúng phải từ hướng kia lại. Bố chúng nhất định phải về, nhưng chắc phải chờ ít lâu nữa. Bố chúng được phái xuống một con tàu, làm thủy thủ. Bao giờ con tàu nọ quay mũi, sau một chuyến du lịch xa, bố chúng mới được về nhà. Phải đợi thêm ít lâu nữa. Theo anh nghĩ, những lời dối trá ấy hẳn sẽ giúp lũ trẻ khỏi ngã quỵ lúc này, chứ điều đó mai kia, nhất định phải trở thành sự thật thôi. Edigej tin chắc Abutalip Kuttybaev thế nào cũng sắp về. Chỉ ít lâu nữa người ta sẽ biết rõ thực hư, phải trái, và Abutalip về ngay, không nấn ná dù chỉ một giây, khi vừa được tin trả lại tự do. Một ông bố yêu quí con đến thế, hẳn chẳng chậm trễ một giây nào đâu... Chính vì vậy, Edigej mới dám đánh lừa anh em chúng nó. Biết rõ con người Abutalip, Edigej hình dung được hết anh ấy sẽ phải trải qua những nỗi đau khổ nhường nào, khi phải sống cô đơn, xa vợ xa con. Người khác, có lẽ sẽ không cảm nhận hết được những nỗi cơ cực khi phải tạm chia lìa một cách nhức nhối, day dứt, như Abutalip; nhưng dẫu vậy, người ấy vẫn nuôi hy vọng sớm được trở về. Đằng này, đối với Abutalip - Edigej tin chắc thế - chuyện đó quả thật là một hình phạt hết sức nặng nề. Và Edigej lo sợ thay cho người bạn cũ đang lâm vào cảnh tù tội. Không biết liệu Abutalip có chịu đựng nổi, có chờ đợi được không cái ngày sẽ phân rõ trắng đen, phải trái, cái ngày sẽ được trở về sống bên vợ bên con...

Trước đó, Zaripa đã gửi mấy bức thư lên các cấp hữu quan, hỏi tin chồng và yêu cầu báo cho chị biết: chị có thể gặp gỡ, thăm hỏi anh không. Đợi mãi vẫn chưa thấy thư trả lời. Bác Kazangap và Edigej cũng đã nát óc đoán mò nguyên do. Nhưng cả hai đều cho rằng tại ga Boranly-Bão Tuyết không có đường bưu điện trực tiếp với tỉnh, nên thư từ gửi đi bao giờ cũng phải chuyển qua tay ai đó, hoặc chuyển lên tận ga chính Kumbel; còn thư về cũng phải qua Kumbel hoặc gửi nhờ đường dây "quen biết, thân cận"... Liên lạc theo kiểu đó chả mấy khi nhanh chóng được, chuyện này ai còn lạ.

Thế rồi, một hôm đã xảy ra câu chuyện sau đây...

Cuối tháng Hai, bác Kazangap bỗng nảy ra ý định lên Kumbel thăm thằng con trai là Shabitzhan, đang học trường nội trú trên ấy. Đang mùa đông, đi nhờ tàu hàng lạnh đến chết rét mất. Rúc vào các toa tàu chẳng ai cho, vì đã có lệnh cấm. Còn ngồi ở hai đầu toa trống trải, chịu sao nổi những đợt gió như cắt thịt. Thế là bác lôi lạc đà ra, đóng yên cương vào. Mặc thật ấm, cưỡi lạc đà vẫn ung dung chán. Cả đi lẫn về, chỉ mất độ một ngày, nếu kể thêm cả khoản thời giờ ghé vào các cửa hiệu mua sắm các thứ hoặc làm việc này việc nọ.

Ngay chiều hôm ấy, bác Kazangap đã quay về thật. Thấy ông bạn về sớm, Edigej bụng bảo dạ chắc có điều gì làm ông ta phật ý chăng, hoặc gặp chuyện buồn phiền về thằng con trai trên trường nội trú. Chứ tội gì phải hành hạ thân già ngật ngà ngật ngưỡng trên lưng con vật suốt những ngần ấy dặm đường, chỉ trong già nửa ngày trời.

Edigej lên tiếng trước:

- Thế nào, chắc đường sá vất vả lắm nhỉ?

- Cũng chả đến nỗi nào - Kazangap đáp khẽ, trong khi vẫn lúi húi với đống đồ lề mang từ trên tỉnh về. Nhưng ngẫm nghĩ một lát, bác liền ngoái xuống hỏi bạn:

- Chú về nhà ngay hay còn đi đâu nữa?

- Về ngay nhà.

- Tôi có chút việc... Chú về trước. Tôi sang ngay đây.

- Vâng, bác đến nhé!

Bác Kazangap không bắt bạn phải chờ lâu. Cùng đến với chồng, có cả bác Bukej nữa. Chồng đi trước, vợ theo sau, chỉ cách nhau mấy bước. Cả hai đều lộ vẻ lo lắng, vẻ mặt bác mệt mỏi, cổ như dài thêm ra, hai tay buông thõng, hàng ria mép rũ xuống. Bà vợ to béo đang thở dốc, tim như đang nhảy nhót trong lồng ngực, không cho bà thở bình thường.

- Chết chửa, trông cứ như hai bác vừa cãi nhau xong ấy - Ukubala cười - Đưa nhau đến đây làm lành chứ gì? Nào, mời hai bác ngồi.

- Giá chỉ cãi nhau thôi, đã phúc - bà Bukej đáp, giọng vẫn khè khè như kéo bễ.

Nhìn trước nhìn sau một lúc, bác Kazangap gạn hỏi:

- Lũ trẻ nhà chú thím đâu?

- Chúng sang chơi với hai thằng bé bên cô Zaripa - Edigej đáp - Bác cần nhờ chúng việc gì chăng?

- Tôi mang tin dữ trên ấy về đây - Bác Kazangap nói, mắt nhìn chằm chằm vào hai vợ chồng Edigej. Hẵng khoan cho bọn trẻ biết vội. Thật là tai vạ. Abutalip chết trong tù rồi!

- Bác bảo sao cơ? - Edigej chồm dậy, còn Ukubala trót buột miệng kêu lên một tiếng, liền vội vàng đưa tay bưng miệng, mặt trắng bệch như phấn.

- Anh ấy mất rồi! Tội nghiệp mấy đứa trẻ bất hạnh. Mới tí tuổi đầu mà đã mồ côi bố - Bà Bukej than vãn bằng cái giọng nửa khò khè, nửa thủ thỉ.

- Tại sao chết, hả? - Edigej vẫn chưa tin vào tai mình, hốt hoảng hỏi đến bác Kazangap.

- Người ta đã tư giấy về trên ga Kumbel đấy.

Rồi cả bốn đều nín lặng, tránh nhìn mắt nhau.

- Rõ khốn khổ. Rõ khốn khổ - Ukubala ôm đầu, rên rỉ.

- Thế cái giấy ấy đâu? - Mãi một lúc sau, Edigej mới lên tiếng hỏi tiếp.

- Trên ấy, trên ga ấy - Bác Kazangap bắt đầu kể - Đến trường thằng bé nhà tôi rồi, tôi mới chợt nhớ phải ghé vào quầy hàng trong phòng đợi đằng ga, mua mấy bánh xà phòng cho bà Bukej nhà tôi. Tôi vừa đến cửa, gặp ông trưởng ga Chernov từ trong ga bước ra. Chúng tôi chào nhau - vì ông ấy với tôi là chỗ quen biết cũ - ông ta bảo ngay: "Chà! Đang mong, may quá lại gặp được bác. Vào phòng làm việc của tôi một lát đã. Nhờ cầm giúp cái thư, mang về dưới ấy hộ, có thế thôi". Ông ấy mở cửa, cả hai cùng vào. Ông ấy lôi trong ngăn bàn ra một phong bì, chữ đánh máy nhé, chứ không phải viết tay. Ông ấy bảo: "Abutalip Kuttybaev làm việc ở chỗ bác phải không?". Vâng - tôi đáp - chỗ tôi, nhưng sao kia? "Cái công văn này gửi đến đã ba hôm rồi. Nhưng chẳng có ai để nhờ chuyển về dưới Boranly-Bão Tuyết cả. Đây, bác cầm giúp về, đưa hộ cho vợ anh ấy. Trong này họ trả lời những điều chị ấy hỏi. Anh ấy đã chết, trong này họ viết thế?". Rồi ông ta nói mấy chữ gì lạ tai lắm, tôi không hiểu. "Vì nhồi máu cơ tim" - ông ta bảo vậy. Tôi liền hỏi ngay: nhồi máu cơ tim là thế nào? Ông ấy đáp: "Huyết tắc, nghẽn lại trong tim ấy mà". Đại để là tim anh bị vỡ. Tôi ngồi, nhưng ruột gan cứ rối bời. Lúc đầu, không tin, tôi cầm từ công văn lên xem. Trong giấy viết đại để thế này: Gửi trưởng ga Kumbel, đề nghị báo cho nữ công dân làm việc ở ga Boranly-Bão Tuyết câu trả lời chính thức của cơ quan hữu trách về những đề nghị của đương sự - tiếp đó, họ cho biết: công dân Abutalip Kuttybaev bị tình nghi vì lý do thế này thế nọ, đã chết vì một cơn đau tim đột ngột. Đấy, trong giấy đại để ghi thế. Đọc xong, tôi ngước nhìn ông ta, người thừ ra, chưa biết phải làm gì. "Đấy, cơ sự như thế đấy - Chernov nói, hai tay giang rộng. - Bác cầm về, chuyển giúp cho chị ấy". Tôi bảo: Không, tôi chả cầm về đâu. Tôi không muốn chuốc lấy cái vạ là người đem tin dữ về. Con cái anh ấy còn thơ dại, tôi nỡ nào hủy hoại cả cuộc đời lũ trẻ. Thôi, việc ấy tôi chịu thôi - tôi bảo ông ta thế. Rồi nói tiếp: để tôi về Boranly, bàn tính với anh em xem nên làm gì, rồi mới dám quyết. Hoặc chúng tôi sẽ cử người lên đây, nhận cái tin này mang về, như người ta đi rước một người chết vậy - vì đây là một nhân mạng đã từ giã cõi trần, chứ đâu phải con chim sẻ chết. Hoặc tốt hơn cả, nên để chính chị Zaripa Kuttybaev, vợ anh ấy, đích thân lên đây nhận từ chính tay anh. Và anh sẽ tự kể với chị ấy mọi chuyện. Nghe tôi nói thế, ông ấy liền bảo: "Thôi được, cái đó tùy bác. Có điều, tôi cũng chẳng biết kể gì, giãi bày gì. Các chi tiết, tôi nào biết. Tôi chỉ trao cái công văn này, đúng như chức trách của tôi, thế thôi". Tôi bảo ông ấy: Anh thứ lỗi cho, nhưng hẳn cứ để cái công văn kia lại đây, tôi sẽ nhắn miệng cho chị ấy, rồi anh em chúng tôi sẽ bàn nên làm gì. "Thôi được, liệu thế nào, tùy bác" - ông Chernov nói. Thế là tôi bước ra ngay, hối hả về đây. Suốt dọc đường, tôi vừa thúc con lạc đà rảo bước, vừa nát óc nghĩ không biết phải làm gì bây giờ? Trong chúng ta, ai dám cả gan báo cái hung tin ấy cho mẹ con Zaripa?

Kazangap nín lặng. Lưng Edigej còng xuống, như bị cả một quả núi đè lên trên.

- Bây giờ ta tính sao đây? - Kazangap hỏi, nhưng chẳng ai lên tiếng trả lời.

- Tôi biết ngay mà - Edigej rầu rĩ lắc đầu - Anh ấy không chịu nổi cảnh cha con xa nhau. Chính chuyện đó khiến tôi lo nhất đấy. Quả y như rằng anh ấy đã không chịu đựng nổi. Buồn rầu là chuyện đáng sợ nhất. Cứ trông cái cảnh lũ con anh ấy nhớ bố đủ biết - thật nhìn mà phát sợ. Phải chi anh ta là ai khác, thôi cứ mặc, gắng chờ ít lâu người ta sẽ đem ra xử - chẳng biết vì tội gì nữa, nhưng cứ cho là sẽ bị đem ra xử đi - rồi cắn răng ngồi tù một vài năm hoặc năm ba năm gì đó, rồi thế nào cũng được tha về. Dạo bị bọn Đức bắt đưa vào trại tập trung, anh ấy vẫn chịu đựng được. Rồi những năm chiến đấu bên Nam Tư nữa, đâu có sung sướng gì. Thế mà trong suốt chừng ấy năm trường trên đất khách quê người, anh ấy vẫn vững. Chỉ vì hồi ấy đang còn một thân một mình, gia đình vợ con chưa có, muốn thế nào tùy thích. Còn bây giờ khác. Nói như các cụ, nó như một khúc ruột bị cắt lìa ra, phải xa cái mà anh ta thân thiết nhất: bố một nơi, con một nẻo. Đấy, tai họa chính là chỗ ấy đấy...

- Đúng thế. Tôi, tôi cũng nghĩ như thế - Kazangap tán thành - tôi không tin con người ta lại có thể chết vì bị chia lìa. Ấy là chưa kể anh ấy còn trẻ, thông minh, lại nhiều chữ nghĩa nữa, và vẫn còn hy vọng đến một lúc nào đó người ta sẽ phân xử phải trái và sẽ trả lại tự do cho anh ấy. Vì anh ấy đâu có tội tình gì mà phải lo. Về lý trí, dĩ nhiên anh ấy thừa hiểu. Nhưng trái tim hóa ra lại không chịu đựng nổi...

Rồi cả bốn người cứ ngồi thừ như thế một lúc lâu ngẫm nghĩ về tình thế, muốn tìm cách gì đó giúp Zaripa đủ sức đón nhận cái tin kia. Nhưng dù nghĩ gì, đoán gì, trước mắt họ, rốt cục vẫn là tình thế bi đát: lũ con thế là mất bố, côi cút, Zaripa trở thành góa bụa. Mãi sau, Ukubala đã nói lên được một điều ai cũng cho là khôn ngoan nhất:

- Hãy để cho chính Zaripa lên ga Kumbel nhận tờ công văn nọ. Chị ấy sẽ biết được tin sét đánh trên ấy, chứ không phải tại đây, trước mặt hai đứa con. Vì chị ấy sẽ lo liệu cả lúc ở trên ga, lẫn lúc trên đường về. Chị ấy sẽ có đủ thì giờ để ngẫm nghĩ phải làm gì, nên cho hai thằng bé biết chuyện chưa hay hẵng để thư thả. Chắc chị ấy sẽ quyết định nán đợi ít lâu, lúc chúng khôn lớn hơn tí chút và nỗi nhớ thương cha đã nguôi ngoai phần nào. Chứ bảo ngay với chúng lúc này thì gay đấy...

- Mình nói phải đấy - Edigej đồng tình ngay - Cô ấy là mẹ, phải để cô ấy tự định liệu đã nên hay chưa cho hai thằng bé biết tin cha chúng mất. Riêng tôi, tôi chịu... - Edigej không nói tiếp được nữa, lưỡi anh ta cứng lại. Anh hắng giọng cố kìm giữ nỗi xót thương đang nghẹn ngào trong cổ.

Khi mọi người đều ngả theo hướng này, Ukubala quay sang Kazangap, khuyên người bạn quí của chồng:

- Bác Kazake ạ, bác cứ bảo với Zaripa rằng ông trưởng ga Kumbel đang giữ thư từ gì gửi cho cô ấy. Nghe đâu là thư trả lời về những đề nghị của cô trước đây. Họ bảo phải giao tận tay người nhận - Rồi chị quay sang chồng - Giữa ngày đông tháng giá thế này, không nên để cô ấy lên tỉnh một mình. Trên ấy, Zaripa lại chẳng có bạn bè thân thích. Điều đáng sợ nhất trong lúc lâm hoạn nạn là cảnh cô đơn. Anh nên đi với cô ấy Edigej ạ, cho có bạn trong những giờ phút gay go này. Với lại thiếu gì chuyện có thể xảy ra trong lúc nỗi bất hạnh đang giáng xuống đầu. Anh bảo là phải lên ga thu xếp công việc, rồi đi cùng cô ấy một thể. Lũ trẻ cứ để ở nhà với mấy mẹ con em.

- Được thôi - Edigej bằng lòng ngay với những lý lẽ vợ đưa ra - Mai anh sẽ bảo với Abilov là cần đưa Zaripa lên tỉnh khám bệnh gấp. Để anh ấy cho tầu dừng lại chốc lát ngoài ga.

Mọi việc thế là đã quyết định. Nhưng mãi hai hôm sau mới có chuyến lên Kumbel. Và đoàn tàu quả đã dừng lại theo yêu cầu của trưởng ga. Hôm đó là mồng năm tháng ba. Edigej-Bão Tuyết sẽ mãi mãi ghi nhớ ngày hôm ấy.

Họ lên một toa chung. Hành khách đông nghẹt. Lắm người mang cả gia đình, con cái, nồi niêu xoong chảo, chăn chiếu đùm đề, lỉnh ca lỉnh kỉnh. Đã chật chội, mà người qua kẻ lại cứ liên miên, khói thuốc mù mịt trong toa. Tiếng trò chuyện, kêu la râm ran khắp nơi: người thì bài bạc đến mụ đầu mụ óc, kẻ lại to nhỏ rỉ tai nhau chuyện sinh hoạt đắt đỏ, chuyện chồng con nghiện ngập, chuyện để bỏ, cưới hỏi, ma chay... Phần lớn đều là khách đi xa. Họ mang theo tất cả những gì làm nên cuộc sống thường ngày của họ. Về phần mình, Zaripa và Edigej chỉ chia sẻ bất hạnh và đau khổ với khách đi tàu có một thôi đường ngắn ngủi.

Dĩ nhiên là Zaripa mất hết tự chủ. Khắc khoải và lo âu, chị nín lặng suốt thời gian trên tàu. Lòng chị bồn chồn, không biết tin lành hay dữ đang đợi mình trên ga Kumbel. Edigej cũng nín thinh.

Trên đời có những người thật tinh ý, rất dễ động lòng trắc ẩn: ngay từ cái nhìn đầu tiên, họ đã nhận thấy người khác đang gặp chuyện không may. Khi Zaripa vừa đứng dậy, bước ra chỗ đầu toa, rồi dừng lại bên một khung cửa sổ, một bà lão người Nga, ngồi đối diện với Edigej, đã ngước cặp mắt nhân hậu, xưa kia hẳn xanh biếc, còn giờ đây đã đục mờ vì tuổi tác, nhìn anh, hỏi khẽ:

- Sao, vợ bị ốm nặng, hả con?

Edigej giật nảy người.

- Em gái chứ không phải vợ đâu, mẹ ạ. Con đưa cô ấy đến bệnh viện đấy ạ!

- Thảo nào nhìn qua, mẹ biết ngay cô ấy đang gặp điều không may. Người nó gầy vêu vao. Cặp mắt đờ đẫn vì đau khổ, chắc nó đang có điều lo sợ trong lòng. Sợ nhà thương không dò ra cái căn bệnh hiểm nghèo gì đó đang hành hạ nó. Ôi dào, kiếp người thật trớ trêu. Không sinh ra thì chẳng được sống trên đời mà sinh ra thì gặp toàn bất hạnh. Kiếp người là thế. Nhưng chúa rất nhân từ, con ạ. Em con hãy còn trẻ trung, mọi cái rồi sẽ qua thôi - bà già an ủi, thấu rõ nỗi khắc khoải và buồn rầu đang giày vò Zaripa mỗi lúc một tăng, khi tàu tiến đến gần ga.

Chạy chừng một tiếng rưỡi đồng hồ, tàu đã đến Kumbel. Hành khách trên tàu hoàn toàn dửng dưng với chuyện hôm nay họ đã qua những ga nào. Ai cũng chỉ hỏi về ga sắp tới. Hai bên đường tầu, thảo nguyên Sarozek mênh mông, tuyết trắng vẫn ngủ yên trong khoảng không gian vắng lặng, trải dài đến tận chân trời quạnh hiu. Nhưng dẫu sao những dấu hiệu đầu tiên của mùa xuân đã bắt đầu xuất hiện. Những mô đất cao trên sườn đồi đó đây đã sẫm màu, băng trên các mép khe vực đã nứt nẻ, đất đen đã hiện ra trên các đỉnh đồi, và khắp nơi tuyết đã bắt đầu nhão đi vì những cơn gió ẩm bừng giấc trên thảo nguyên, khi tháng Ba về. Nhưng mặt trời vẫn còn khuất sau những đám mây thấp lè tè, xám xì và sũng nước. Mùa đông vẫn còn gắng gượng sống: tuyết ẩm có thể trút xuống tiếp, bão tuyết vẫn có thể ập đến hoành hành...

Edigej vẫn ngồi nguyên chỗ cũ, đối diện với bà cụ phúc hậu, thỉnh thoảng trò chuyện cùng bà và mắt nhìn ra cửa sổ, chứ không đến chỗ nối toa với Zaripa. Anh nghĩ bụng, cứ để cô ấy đứng đó, một mình bên cửa sổ toa tàu, để ngẫm nghĩ cho kỹ về tình thế của gia đình. Chắc một linh cảm nào đó sẽ nhắc nhở cô được điều gì chăng? Có lẽ cô đang nhớ lại chuyến đi hồi đầu thu năm ngoái. Hồi đó, họ cũng đi cùng, mang theo cả gia đình, bốn đứa con thơ, quá giang một chuyến tàu hàng lên Kumbel, kiếm dưa bở và dưa hấu. Một chuyến đi thật hạnh phúc. Mãi đến giờ, lũ trẻ vẫn nhớ, như nhớ một ngày hội lớn khó quên. Mọi chuyện như vừa mới xảy ra cách đây mấy ngày. Hôm đó, Edigej và Abutalip ngồi bên nhau, cạnh một cửa toa hé mở cho thoáng gió, trò chuyện đủ mọi thứ trên đời. Bốn đứa trẻ quây quần bên hai ông bố, đưa mắt ngắm nhìn những dãy đất chạy dài hai bên đường tàu. Còn Zaripa và Ukubala thì cũng đang chụm đầu bên nhau, tâm sự đôi điều gì đó. Lúc xuống tàu, họ đưa nhau vào cửa hàng mua sắm, và loanh quanh dạo chơi trên mảnh sân rộng trước nhà ga. Tiếp đó, cùng vào xem chiếu bóng, rồi rẽ sang một hiệu cắt tóc. Lũ trẻ ăn kem. Nhưng nực cười nhất là dù khuyên bảo thế nào, thằng Ermek vẫn khăng khăng không chịu ngồi vào chiếc ghế bác thợ cạo. Chẳng hiểu sao nó quá sợ cái lưỡi tông-đơ bằng thép khi dí vào đầu. Và Edigej nhớ rõ là đúng lúc đó, Abutalip bỗng hiện ra trước cửa hiệu, thằng bé vội vàng lao đến với cha. Anh ôm chầm lấy con, áp chặt nó vào người, như mình là cái mộc che cho con thoát khỏi bàn tay gieo tai vạ của bác thợ cạo. Rồi Abutalip nói là anh sẽ thuyết phục cháu, ít lâu sau hẵng cắt tóc cho nó, chứ bây giờ đành chịu thua. Mái tóc xoăn, đen bóng của thằng bé, từ lúc lọt lòng mẹ đến giờ vẫn chưa hề biết mùi dao kéo. Bây giờ, bố nó mất rồi, còn biết trông cậy vào ai?

Một lần nữa, không biết là lần thứ mấy, Edigej-Bão Tuyết thử tự cắt nghĩa vì lẽ gì Abutalip lại chết, không nán đợi được đến ngày người ta đem vụ án ra xét xử đến nơi đến chốn. Anh vẫn đi đến kết luận hợp tình duy nhất: đó chính là nỗi nhớ nhung tuyệt vọng hai đứa con trai, đã hủy hoại trái tim người giáo viên tội nghiệp. Chính cảnh chia lìa, mà gánh nặng của nó chẳng phải ai cũng hiểu nổi, chính nỗi đau khổ vì tình cảnh hai đứa con thơ, mà thiếu chúng, anh cảm thấy cuộc sống trở nên vô nghĩa, vì chúng là hơi thở, là nhịp đập của trái tim anh - giờ đây bị cắt lìa khỏi bố, bị bỏ mặc trong số phận trớ trêu, tại một ga xép, giữa thảo nguyên Sarozek hoang vu, khô cằn; chính những cái đó đã giết chết anh...

Tâm trí Edigej vẫn không sao dứt khỏi những ý nghĩ ấy, cả khi anh ngồi trên chiếc ghế dài trong mảnh sân rộng trước nhà ga, đợi Zaripa. Hai người đã ước với nhau là Edigej sẽ chờ người thiếu phụ tại đây, trên chiếc ghế này, trong lúc chị vào gặp ông trưởng ga để nhận thư.

Mới đứng bóng, nhưng tiết trời chẳng hứa hẹn điều gì tốt lành cả. Bầu trời thấp lè tè, đầy mây, không sao hửng lên nổi. Từ trên cao, chốc chốc sa xuống khi thì những bông tuyết, khi thì những giọt mưa lạnh, đáp thẳng vào mặt anh. Gió ẩm từ thảo nguyên thổi vào, mang theo hương vị đất ẩm pha mùi tuyết đang tan. Edigej thấy ớn lạnh, khó chịu trong người. Thường ngày, anh thích đúng trò chuyện cùng hành khách ngay giữa cảnh chen chúc, xô đẩy trên sân ga, tuy bản thân anh chẳng đi đâu xa và cũng chẳng hề bận rộn chuyện gì. Còn bây giờ, anh lại phải ngồi yên nhìn cảnh hành khách xuống tàu, chạy đi chạy lại tíu tít trên sân ga, chẳng khác nào ngồi xem một cuốn phim.

Lần này, tất cả những chuyện đó không hề khiến Edigej bận tâm. Anh lấy làm lạ, sao mặt ai cũng lãnh đạm, cũng mờ nhạt, dửng dưng và mệt mỏi, cứ như cố lẩn tránh nhau vậy... Thêm nữa, điệu nhạc từ chiếc loa phóng thanh, đang cất giọng rè rè trước cửa ga, tấu một khúc nhạc buồn, đơn điệu và tẻ ngắt. Nhạc gì ghê thế nhỉ? Sao người ta cứ tấu mãi một điệu ấy? Rồi vang lên khe khẽ giọng nói trang trọng, đĩnh đạc của phát thanh viên. Rồi điệu nhạc ban nãy lại cất lên...

Đã hai mươi phút, có khi hơn nữa, trôi qua, kể từ lúc Zaripa mất hút trong tòa nhà bề thế của ga Kumbel. Edigej bắt đầu lo lắng. Mặc dù chính anh đã hẹn chắc với Zaripa là anh sẽ ngồi đợi cô trên chiếc ghế dài này - chính cái nơi mà lần trước vợ chồng cô và hai thằng bé đã cùng ngồi ăn kem bên nhau - nhưng anh vẫn quyết định ghé vào trong ga, xem thử có chuyện gì không.

Vừa đến cửa, đã gặp cô. Anh bất giác rùng mình. Zaripa nổi bật lên giữa đám đông đang vào ga tấp nập. Vẻ mặt cô hoàn toàn dửng dưng với hết thảy những gì đang diễn ra chung quanh. Tái nhợt như một thây ma, cô lặng lẽ bước đi, mắt chẳng nhìn chẳng thấy, như đang trong cơn mê ngủ, cũng chẳng buồn để ý đến chung quanh, cứ như thể quanh cô chẳng hề có gì đang tồn tại. Cô như kẻ mù lòa đi giữa sa mạc, đầu hơi ngẩng lên, đôi môi đau xót, mím chặt. Edigej dừng lại khi cô đến gần. Zaripa lững thững bước tới, dường như phải lâu lắm cô mới vượt qua được cái khoảng cách ngắn giữa hai người, vẫn cái dáng như đang mơ ngủ, và nhìn cách đi với đôi mắt trống rỗng ấy, Edigej phát hoảng lên. Tưởng chừng cả một thế kỷ đã trôi qua, tối tăm, lạnh lẽo, khắc khoải, đợi chờ, Zaripa mới đến được bên anh, tay cầm mảnh giấy, đựng trong chiếc phong bì với dòng địa chỉ đánh máy như Kazangap đã tả. Và vừa đến nơi, cô đã nói ngay, môi vẫn mím chặt:

- Anh đã biết cả rồi ư?

Edigej chậm rãi cúi thấp đầu.

Zaripa gieo người xuống ghế, đưa hai tay lên bưng mặt và ôm chặt lấy đầu như thể nó có thể vỡ tung ra từng mảnh. Rồi khóc nấc lên cay đắng, rúm ró người lại, phó mặc bản thân cho nỗi tang thương và mất mát. Cô khóc ròng, thu người thành một khối đau khổ, càng lúc càng chìm sâu vào bản thân, vào nỗi đau đớn khôn cùng. Còn Edigej ngồi bên cô, tâm trạng anh cũng hệt như lúc người ta lôi Abutalip đi. Anh sẵn sàng thế chân Abutalip, đứng vào địa vị bạn, hứng chịu hết mọi nỗi đau khổ không chút suy tính, miễn che chở được cho người thiếu phụ, tránh được cho cô cái tai họa tày trời kia. Tuy nhiên, anh hiểu rằng không gì có thể an ủi được cô, cất được gánh nặng trên đôi vai gầy guộc kia, chừng nào cơn xúc động choáng người do nỗi bất hạnh kia mang đến chưa nguôi.

Hai người cứ ngồi lặng như thế trên chiếc ghế dài, trong mảnh sân rộng trước cửa ga. Zaripa khóc ròng, chốc chốc lại nấc lên, và trong một lúc sơ ý, cô đã để vuột mất khỏi tay chiếc phong bì nhàu nát đựng bên trong mảnh giấy ác nghiệt.

Giờ thì ai cần đến nó nữa, mảnh giấy ấy, khi chính con người thật, có tên trong đó, đã không còn nữa? Nhưng Edigej vẫn nhặt chiếc phong bì lên, cất nó vào túi áo. Rồi anh rút khăn tay trong túi mình ra, dúi vào tay Zaripa, ép chặt mấy ngón tay ấy lại cho chiếc khăn khỏi tuột đi, bắt người thiếu phụ phải nâng nó lên, chấm những giọt nước mắt ràn rụa. Nhưng cả việc đó nữa cũng chẳng giúp ích được gì.

Điệu nhạc truyền qua chiếc loa phóng thanh đặt trên nóc nhà ga, như một khúc nhạc tang, buồn khôn xiết. Bầu trời tháng Ba xám xịt, ướt át, sà thấp xuống, chụp trên đầu thị trấn Kumbel. Gió giật từng cơn khiến lòng người càng u ám thêm. Người qua kẻ lại, nếu để mắt đến Zaripa và Edigej, chắc sẽ nhủ thầm: rõ khổ, anh chị chắc lại xích mích gì với nhau đây, xem chừng anh ta chắc đã quá nặng lời với vợ đấy mà... Nhưng hóa ra chẳng phải ai cũng nghĩ thế.

- Khóc đi, khóc nữa đi... Các bạn - một giọng nói đầy thông cảm chợt vang lên bên tai Edigej - Vị cha già kính mến của chúng ta đã tạ thế rồi. Mất Người, chúng ta rồi sẽ ra sao đây?

Edigej ngẩng đầu lên. Trước mặt anh là một thiếu phụ choàng áo dạ thô cũ kỹ của binh sĩ, tay chống nạng. Một chân cưa cụt đến gần sát bẹn. Anh biết bà ta. Đó là một cựu chiến binh, trước làm tại quầy bán vé nhà ga. Người nữ cựu chiến binh nước mắt ràn rụa, vừa chống nạng bước đi vừa nức nở, miệng không ngớt lẩm bẩm: "Khóc đi. Khóc nữa đi. Mất Người, chúng ta rồi sẽ sống thế nào đây?", Rồi vừa nức nở, vừa đi xa dần, kéo lê đôi nạng đã mòn, cặp dưới nách, khiến đôi vai hơi nhô lên một cách thiếu tự nhiên. Cứ sau tiếng "cạch" khô khan của đôi nạng gỗ chạm đất, Edigej lại nghe một tiếng "cộc" vang lên từ chiếc ủng lính cũ kỹ, vẹt gót, độc nhất, của bà cựu chiến binh...

Edigej chỉ hiểu được câu nói của bà ta, khi anh nhìn thấy một đám người bất thần vây quanh trước cửa ga. Ai nấy đều ngước nhìn lên một bức chân dung lớn vẽ Stalin, mặc quân phục, viền băng tang, do mấy người đang bắc thang treo lên ngay giữa cửa chính.

Anh đã hiểu vì lẽ gì điệu nhạc trên đài phát thanh lại ngân lên bi thương đến vậy. Giá lúc khác, anh đã đứng lên, chạy đến bên những người đang vây quanh trước cổng ga, để nhìn xem điều gì đã xảy ra với bậc vĩ nhân mà, nếu thiếu Người, không ai có thể hình dung nổi cục diện thế giới sẽ xoay chuyển ra sao. Nhưng lúc này, nỗi đau khổ riêng tư cũng đã choán hết cả lòng anh rồi. Anh không hề thốt ra một lời nào. Cả Zaripa nữa, chị chẳng để tâm đến ai, cũng như đến bất cứ điều gì khác lúc này...

Các đoàn tàu vẫn lăn bánh trên đường, như chúng đã từng qua lại lâu nay, cho dù trên đời có xảy ra chuyện gì đi nữa. Cứ nửa giờ, tàu tốc hành mang số hiệu 17 vẫn phải chạy qua đây. Cũng như tất cả những tàu khách, chuyến này không bao giờ đỗ lại các ga xép như ga Boranly-Bão Tuyết. Vẫn theo thời gian biểu ấy, đoàn tàu sẽ chạy thẳng. Không một ai có thể ngờ rằng lần này, đoàn tàu số 17 kia phải đỗ lại ga Boranly-Bão Tuyết - Edigej tự nhủ như thế, vừa dứt khoát, vừa bình thản. Anh khẽ bảo Zaripa:

- Ta phải về sớm, Zaripa ạ. Chỉ còn có nửa giờ nữa thôi. Bây giờ cô hãy ngẫm nghĩ cho chín sẽ phải làm gì - nên cho lũ trẻ biết tin buồn ấy chưa, hay hẵng chờ ít lâu nữa. Tôi sẽ chẳng an ủi cô đâu, mà cũng chẳng nhắc nhở này nọ làm gì, vì tự cô, cô cũng định liệu được. Bây giờ, với hai đứa, cô phải vừa là bố, vừa là mẹ, Zaripa ạ. Chuyện này cô cần phải ngẫm nghĩ thêm, trên đường về. Nếu không định cho hai đứa trẻ biết thì cô phải tự trấn tĩnh. Chứ trước mặt chúng mà khóc lóc, chẳng nên đâu. Cô cố tự chủ được không, có đủ sức giữ bình tĩnh trước mặt các con không, Zaripa? Chúng tôi, thì đã biết nên xử sự ra sao rồi. Chắc cô hiểu ý tôi chứ? Đấy, sự thể là như thế đấy, Zaripa ạ!

- Vâng, em hiểu cả rồi, anh Edigej - Zaripa đáp qua nước mắt - Trên đường về, em sẽ tính kỹ hơn, rồi em sẽ bảo với anh, ta nên khu xử ra sao. Em đang cố đây, em đang cố trấn tĩnh đây. Em đang...

Chuyến về chẳng khác chuyến đi mấy. Người vẫn đông như nêm cối, khói thuốc cũng mịt mù, hành khách vẫn là những người đi xa, mang theo cả cơ ngơi từ phương trời nọ đến phương trời kia.

Lần này Zaripa và Edigej lên được một toa cu-pê. Hành khách ít, nhưng cả hai vẫn đưa nhau ra tận đầu toa đứng một bên khung cửa sổ để bàn tính chuyện nhà, khỏi phiền đến người khác. Edigej ngồi trên chiếc ghế phụ, kề lối đi, Zaripa đứng cạnh, nhìn ra cửa sổ. Cô không chịu ngồi, mặc dù Edigej đã mời mọc nhiều lần.

- Đứng thế này, em thấy dễ chịu hơn - cô nói.

Lúc này, tuy chốc chốc, người thiếu phụ trẻ vẫn còn buông ra những tiếng nức nở cay đắng, nhưng đã biết kềm giữ, gồng người gánh chịu nỗi bất hạnh đang đè trĩu hai vai. Cô vừa nhìn ra cửa sổ, vừa dồn hết tâm trí ngẫm nghĩ về tình cảnh quả là quá mới mẻ đối với cô - cuộc đời góa bụa. Nếu trước đây cô còn nuôi hy vọng rằng mọi chuyện kéo dài đến một ngày nào đó, ắt rồi sẽ chấm dứt, như một cơn ác mộng, sớm muộn gì Abutalip cũng sẽ trở về - không lẽ cứ giam giữ mãi người ta với những chứng có vu vơ như thế - Rồi vợ chồng con cái sẽ đoàn tụ. Còn tất cả những cái khác tự khắc sẽ đến thôi - thế nào cũng tìm được kế sinh nhai, và dù khổ cực đến mấy, vẫn cứ sống được và nuôi dạy cho hai đứa con thơ khôn lớn - thì giờ đây, niềm hy vọng đó đã tan vỡ. Ý nghĩ ấy vẫn ám ảnh mãi Zaripa...

Edigej-Bão Tuyết cũng bận tâm với chính những ý nghĩ đó, vì anh không thể không lo lắng cho số phận của gia đình bạn. Sự thể giờ đây đã an bài thế kia rồi, không lo sao được. Tuy nhiên, anh cho rằng bây giờ phải bình tĩnh và cố kềm chế bản thân hơn lúc nào hết. Bởi thế, anh cố tìm mọi cách giúp Zaripa giữ vững lòng tin - dù ít ỏi đến mấy cũng được, song vẫn phải cố giữ cho được. Anh không hối thúc gì cô. Và anh đã làm đúng. Khi nước mắt cạn rồi, tự Zaripa đã mở lời được:

- Em phải tạm giấu hai con tin cha chúng mất, anh ạ - Zaripa lên tiếng, giọng đứt quãng vì cố ngăn tiếng khóc - Lúc này, em chưa nên cho chúng biết vội. Nhất là với cháu Ermek... Cháu nó quyến luyến bố đến thế, nên điều đó quả là khủng khiếp... Nỡ nào bóp chết nỗi ao ước đó của hai cháu, hả anh? Rồi chúng sẽ ra sao nếu hay tin ấy? Vì chúng chỉ sống bằng niềm hy vọng đó thôi... Chúng chờ đêm chờ ngày, chúng trông mong bố từng giây từng phút... Mai kia, em phải đưa cháu đi nơi khác thôi... Em lo cho thằng Ermek nhất. Phải để cháu nó khôn lớn thêm chút ít đã... Bấy giờ em sẽ nói thật hết, và chắc lúc ấy chúng cũng đã đoán biết được ít nhiều rồi... Còn bây giờ, chịu thôi, em chả dám... Một mình em biết cũng đã đủ lắm rồi... Em sẽ viết thư cho các anh chị của em, lẫn của chồng em. Bấy giờ, chắc họ chẳng còn gì để sợ nữa, phải không anh? Em hy vọng họ sẽ trả lời, và sẽ đến giúp mẹ con em dọn đi nơi khác... Đến chỗ mới rõ ràng là... Bây giờ, em phải nuôi hai con của Abutalip khôn lớn, vì anh ấy đã không còn nữa...

Zaripa tính liệu như vậy. Edigej-Bão Tuyết im lặng ngồi nghe, cố hiểu từng lời và dò đoán từng ẩn ý đằng sau mỗi câu nói, vì anh biết mười mươi đó chỉ là một phần hết sức ít ỏi, là cái vỏ bọc ngoài của hết thảy những gì đã và đang xáo động tâm trí người thiếu phụ, như một cơn lốc. Làm sao có thể nói hết những gì đang cuộn sóng trong lòng, khi lâm vào tình cảnh ấy?... Vì thế, anh nhỏ nhẹ đáp, cố không đẩy câu chuyện vượt ra ngoài khuôn khổ đang bàn.

- Cô tính thế là phải, Zaripa ạ... Giá chẳng biết gì về hai cháu, chắc tôi còn ngờ vực. Nhưng ở địa vị cô, tôi cũng chả dám nói với các cháu điều đó đâu. Đúng. Phải chờ ít lâu đã. Và trong khi chờ anh em, họ hàng viết thư trả lời, cô đừng e ngại gì, hãy trông cậy vào chúng tôi. Chúng tôi trước sao, sau vậy. Cô cứ ở đây làm việc, các cháu cứ để chúng sang chơi với hai con bé nhà tôi. Cô biết đấy, Ukubala quí hai cháu chẳng khác nào con đẻ. Mọi cái còn lại, tự khắc sẽ rõ dần thôi...

Hôm ấy, Zaripa còn nói thêm thế này, sau khi trút một hơi thở nặng nề:

- Sự đời vẫn thường an bài như vậy đấy, anh Edigej ạ. Vừa khủng khiếp nhưng lại vừa khôn ngoan, cả hai đều quyện lấy nhau. Tử, sinh, còn, mất... Giá không có hai cháu, em nói thật đấy, anh Edigej ạ, chắc em chẳng còn thiết sống nữa. Thậm chí em đã tính cả đến chuyện kia đấy. Thì anh tính, một thân em đây hỏi còn sống làm gì? Nhưng hai đứa con đã ngăn em lại, đã buộc em phải sống. Chính điều đó đã cứu em, đã đưa em về với cuộc sống. Cay đắng, nặng nề, nhưng vẫn là cuộc sống... Giờ đây, lòng đầy sợ hãi, em nghĩ không phải đến chuyện rồi đây hai cháu sẽ biết rõ sự thật - vì tránh sao khỏi được chuyện đó - mà nghĩ đến việc: Rồi hai đứa sẽ sống ra sao. Anh ấy còn hay mất, đời hai cháu vẫn cơ cực. Mai kia, dù đi học hay đi làm, dù nên người hay chẳng ra sao đi nữa, trước mắt thiên hạ, cái họ Abutalip đó, dù ở đâu rồi hai đứa cũng gặp những chuyện không may. Và khi nghĩ đến điều đó, bao giờ trước mắt em cũng sừng sững hiện lên một bức tường thành, mà mẹ con em, dù cố đến mấy đi nữa, cũng không tài nào vượt nổi. Cả em lẫn Abutalip, lúc nào cũng tránh đả động đến chuyện đó. Em thì em thương nhà em, còn anh ấy thì thương hại cho em. Nhưng có anh ấy, em tin chắc hai trẻ nhất định sẽ nên người, sẽ trở thành hữu ích. Và chính cái đó đã giữ cho gia đình em khỏi tan vỡ, tránh được mọi tai ương... Còn bây giờ, em không biết... Thay anh ấy, em không kham. Vì anh ấy là anh ấy... Anh ấy không có gì là không làm nổi. Anh ấy muốn truyền lại hết những gì anh ấy có cho hai con, những mong hai con sẽ nối nghiệp bố. Và anh ấy chết, chung qui chỉ vì người ta đã chia lìa ba bố con, đã đang tâm cắt dứt tình phụ tử.

Edigej chăm chú lắng nghe những lời tâm sự của người thiếu phụ bất hạnh. Những ý nghĩ thầm kín mà Zaripa đã thổ lộ rất đỗi chân tình cùng anh, như với một người thân thích nhất, đã dậy lên trong lòng anh một ước muốn chân thành: Phải tìm mọi cách để đền đáp lại, để cưu mang, để giúp đỡ cô. Nhưng ý thức về sự bất lực của chính mình đã đè nặng lên tâm trí anh, gây trong anh một nỗi u uất triền miên.

Tàu đã về gần đến Boranly-Bão Tuyết. Những vùng đất quen thuộc, cung đường mà Edigej đã tự tay tu bổ, chăm sóc bao mùa hè, mùa đông, đang lần lượt diễu qua trước mắt...

Anh nhắc Zaripa:

- Cô chuẩn bị sẵn sàng nhé! sắp đến nhà rồi. Ta đã thỏa thuận dứt khoát với nhau là hẵng khoan cho hai cháu biết tin vội. Bây giờ cứ biết thế đã. Có điều, cô hãy cố giữ gìn ý tứ kẻo lộ hết, Zaripa ạ. Nhớ là phải thật bình tâm. Thôi, cô ra trước đằng đầu toa đi. Đứng ngay bên bậc lên xuống ấy. Hễ tàu dừng là bình tĩnh xuống ga ngay, rồi đứng đó chờ. Tôi sẽ xuống sau, và ta cùng về.

- Thế anh còn tính làm gì trên tàu nữa?

- Có làm gì đâu. Nhưng cứ mặc tôi. Dù sao thì cô vẫn có quyền ung dung bước xuống tàu kia mà.

Vẫn như mọi lần, mỗi khi chạy ngang một ga xép, đoàn tàu số 17 bao giữ cũng giảm tốc độ ngay từ ngoài cột tín hiệu. Chính tại thời điểm đó, khi vừa đến đầu ga Boranly-Bão Tuyết, đoàn tàu hôm nay bất thần hãm lại. Tiếng bánh xe trượt dài trên đường ray, nghiến ken két và tiếng các đầu toa va đập vào nhau loảng xoảng, nghe đến ghê người. Hết thảy hành khách đều hốt hoảng choàng dậy. Tiếng la hét, tiếng huýt sáo nổi lên inh ỏi khắp các toa.

- Gì thế?

- Có người giật phanh hơi, hả?

- Ai đấy?

- Ở toa nào?

- Đằng toa cu-pê kia kìa!

Đúng lúc ấy, Edigej mở cửa, Zaripa bước xuống ga. Còn anh vẫn đứng đó, chờ viên trưởng tàu và người kiểm soát vé chạy bổ đến.

- Đứng lại! Anh vừa giật cẩn hãm đấy hả?

- Vâng, tôi đấy! - Edigej-Bão Tuyết đáp.

- Anh là ai? Ai cho phép anh làm thế?

- Đó là nghĩa vụ.

- Thật chứ? Sao, muốn ra tòa phỏng?

- Thách các anh đấy! Các anh cứ lập biên bản, đưa ra tòa hay gửi đến đâu, tùy thích. Giấy tờ tôi đây. Cứ viết là tôi, cựu chiến binh, công nhân đường sắt Edigej Zhangeldil, đã giật cần hãm cho tàu dừng lại ga Boranly-Bão Tuyết, để... tỏ lòng thương tiếc nhân ngày đồng chí Stalin tạ thế.

- Sao? Stalin mất thật rồi ư?

- Phải, đài phát thanh vừa đưa tin xong. Cứ thử mở máy ra mà nghe.

- Ồ, thế lại là chuyện khác - cả hai vội vàng bỏ đi, không giữ chân Edigej nữa - Thôi, xuống đi, nếu quả như thế thật.

Vài phút sau, đoàn tàu số 17 lại chuyển bánh, tiếp tục cuộc hành trình...

Những chuyến tàu ở vùng này chạy từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông...

Trải rộng hai bên đường tàu ở vùng này là những hoang mạc mênh mông miền Sarozek và các thảo nguyên úa vàng thuộc miền Đất Giữa.

Sân bay vũ trụ Sarozek - I lúc bấy giờ chưa hề xuất hiện tại những dải đất hoang vu này. Dạo ấy, chắc nó chỉ mới được phác họa trong ý đồ của những nhà thiết kế các chuyến bay vũ trụ sau này.

Những chuyến tàu vẫn chạy từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông...

Mùa hè và mùa thu năm năm mươi ba ấy là thời kỳ cay cực nhất trong đời Edigej-Bão Tuyết. Cả trước lẫn sau thời kỳ đó, cả những đụn tuyết làm nghẽn đường tàu, lẫn tiết trời nóng bức và khô hạn vùng Sarozek, cả những cảnh túng quẫn lẫn nhiều nỗi gian truân khác, thậm chí đến cả chiến tranh, đến những nhọc nhằn trên suốt chặng đường từ quê nhà đến tận Konigsberg, đến việc anh có thể hàng ngàn lần bị chết trận, bị thương tật, bị tàn phế, trong cuộc trường chinh ấy, cũng không trút lên đầu anh nhiều nỗi đau khổ, đắng cay bằng mấy tháng ngắn ngủi này...

Afanasij Ivanovich Elivarov có lần đã kể cho Edigej-Bão Tuyết nghe vì đâu xảy ra hiện tượng đất trượt. Những tai họa dâu biển đổi dời không tài nào tránh khỏi, khi cả một mảng sườn núi, lắm lúc cả quả núi to, rùng rùng sụt xuống, rồi chuồi đi, cuốn theo cả lớp đất dày trên mặt, làm trơ ra những tầng ở tận dưới sâu. Không ai không kinh hoàng - vì tai họa nằm ngay dưới chân mà không hề biết trước. Cái nguy của hiện tượng đất trượt là ở chỗ tai họa cứ ngấm ngầm hình thành từng ít một, vì tầng đất bên dưới thường xuyên bị nước ngầm ngày đêm xoáy lở, cho đến một lúc cả ngọn núi lớn cụt mất chân - và lúc này, chỉ cần một chấn động khẽ của trái đất, hoặc một tiếng sấm rền, một trận mưa rào ập đến cũng đủ khiến cái khối đất đá khổng lồ kia bắt đầu trượt dài. Không như hiện tượng đất lở vốn thường đột ngột xảy ra chỉ một lần, trong chốc lát, cái tai họa đất trượt bao giờ cũng diễn ra dữ dội và không một sức mạnh nào hòng ngăn nổi.

Điều tương tự như thế cũng có thể xảy ra với chính con người, khi anh ta phải một thân một mình đương đầu với những tai họa không tài nào vượt qua nổi và phải âm thầm chịu đựng mọi nỗi dằng xé mà không dám thổ lộ cùng ai, vì không một kẻ nào trên đời đủ sức hiểu được anh, giúp được anh. Anh biết rõ điều đó, và chính vì thế mà anh đâm ra kinh sợ. Nhưng bất chấp hết thảy, điều đó vẫn cứ đổ ập xuống đầu anh.

Sự biến động tình cảm đó, Edigej cảm nhận được và ý thức rõ được nó là tình cảm gì, lần đầu tiên đúng vào lúc anh phải lên Kumbel lần nữa để thu xếp công việc, đúng hai tháng sau ngày anh cùng Zaripa đi nhận bức thư khủng khiếp kia. Trước hôm lên đường, Edigej hứa với Zaripa sẽ ghé vào phòng bưu vụ, xem có thư từ gì gửi cho cô không, và nếu không có, sẽ đánh giúp ba bức điện, gửi đến ba địa chỉ khác nhau, mà cô đã ghi sẵn. Mãi đến giờ Zaripa vẫn chưa nhận được một lá thư trả lời nào của anh em, họ hàng. Bởi thế, lần này, cô chỉ muốn hỏi xem: họ có bắt được thư của cô không. Trong cả ba bức điện, cô đều viết thế này. Yêu cầu báo tin gấp, thư có đến tay không - chỉ thế thôi, còn thư trả lời không nhất thiết phải viết. Hóa ra các anh các chị cả bên cô lẫn bên chồng đều ngại chuyện thư từ với gia đình Abutalip.

Edigej cùng con Karanar lên đường từ lúc mờ đất, để còn kịp quay về trước lúc trời tối. Dĩ nhiên khi đi một mình, chẳng mang theo đồ lề gì lỉnh kỉnh, thì bất cứ cậu lái tàu quen biết nào cũng rất vui lòng cho anh quá giang và chỉ một tiếng rưỡi sau, anh đã có mặt tại Kumbel rồi. Tuy nhiên, anh cố tránh chuyện quá giang, nhất là khi thu xếp những việc như thế này, hai thằng bé nhà Abutalip dễ để ý. Cả hai đứa, anh cũng như em, không hôm nào không ra đường tàu ngóng bố. Khi chơi đùa, lúc trò chuyện, khi đánh đố nhau, lúc vẽ vời - trong mọi sinh hoạt ngây thơ bình thường của chúng - chờ đợi bố về là trọng tâm cuộc sống của hai đứa trẻ. Và người có uy tín nhất của chúng lúc ấy cố nhiên là bác Edigej. Theo chúng nghĩ, bác là người biết mọi chuyện, có thể giúp chúng bất cứ chuyện gì.

Về phần mình, Edigej cũng hiểu rõ rằng thiếu anh, cuộc sống của hai trẻ tại cái ga xép heo hút này sẽ nặng nề và côi cút biết bao. Vì thế, anh dành hầu hết thời gian rỗi rãi để chơi đùa, trò chuyện cùng chúng, giúp xua dần những nỗi buồn nhớ vì đợi chờ vô vọng của hai đứa trẻ. Nhớ lời dặn dò của Abutalip, anh thường kể cho hai đứa nghe những chuyện biển khơi, sóng nước, nhắc lại những chi tiết ngày một mới lạ về những năm thơ ấu và thời trai trẻ, hồi anh còn sống trên biển, những chuyện thật và những chuyện bịa về biển Aral. Anh cố kể thật mộc mạc, vừa sức hiểu của tuổi trẻ. Nhưng lần nào anh cũng phải sửng sốt về tài xét đoán, về trí tưởng tượng và sức nhớ dai của chúng. Anh rất hài lòng - công sức dạy dỗ của Abutalip rõ ràng đã chẳng phí hoài. Khi kể, Edigej bao giờ cũng nhằm trước hết vào Ermek. Nhưng xem ra nó chẳng hề thua kém gì Daul, và trong bốn đứa - cả hai con bé nhà anh - Ermek là đứa được Edigej quí nhất, mặc dầu bao giờ anh cũng cố giấu diếm những tình cảm đó. Ermek là đứa ham nghe chuyện nhất và cũng là đứa hiểu thấu đáo nhất những điều anh kể. Dù nói đến chuyện gì, dù câu chuyện diễn biến theo chiều hướng nào, bao giờ thằng bé cũng gắn bó nó với cha. Trong ý nghĩ của nó, "bá-ba Abutalip" có mặt bất cứ ở đâu, dự phần vào bất kỳ chuyện gì, và vào bất cứ lúc nào.

Có lần, Edigej kể với nó một chuyện thế này:

- Ven bờ Aral thường có những hồ nước lớn mọc đầy cói lác. Trong những đám cói rậm rạp đó, thợ săn hay ẩn nấp, súng ống lăm lăm trong tay, Cứ xuân đến, vịt trời lại về biển Aral sinh sống. Mùa đông, chúng phải chống rét ở tận những dãy bờ biển xa xăm, ấm áp hơn. Nhưng hễ băng trên mặt biển Aral vừa tan, chúng liền hối hả bay đêm bay ngày trở về quê cũ, vì chúng rất nhớ nhà. Chúng bay từng đàn lớn. Chúng thích ngụp lặn trong biển. Và mải theo mồi, chúng cứ bơi mỗi lúc một gần bờ thêm. Bất thần từ trong những đám cói rậm rạp đó, súng bỗng nổ đì đoành, lửa khối bốc mù mịt! Đấy là đám thợ săn. Nhiều con vịt trời ngã dụi xuống mặt nước, những con còn lại hốt hoảng bay ra khơi xa, không biết rồi đây sẽ nương thân ở chốn nào. Chúng lượn vòng trên mặt sóng, miệng không ngớt kêu vang. Chắc là chúng vốn quen sống ở ven bờ mà. Nhưng nghĩ đến chuyện vào bờ, chúng lại sợ hãi.

- Bác Edigej ạ, nhưng thế nào cũng có một con vội vã quay về ngay vùng biển mà nó vừa từ đó ra đi!

- Nhưng quay về để làm gì kia chứ?

- Thì bố cháu đang ở đó mà. Bố đang làm thủy thủ trên một con tàu rất lớn. Chính bác nói thế, bác còn nhớ chứ, bác Edigej?

- Ờ, đúng thế, phải đấy - Edigej sực nhớ lại, vội vàng đáp - Nhưng rồi sao nữa, cháu?

- Chú vịt trời ấy bay đến kể với bố cháu là thợ săn họ nấp trong mấy đám cói ven bờ, bắn vào anh em thân thích của chú ta. Thế nên chẳng còn đâu chỗ mà sinh sống nữa?

- Ờ, ờ, cháu nói phải đấy.

- Thế là bố cháu mới bảo với chú ta: đừng lo, bố sắp về rồi đấy, bố có hai đứa con đang sống tại ga Bão Tuyết là Daul và Ermek. Ở đó còn có cả bác Edigej nữa kia. Bao giờ bố về, cả bác với bố cháu sẽ lên đường, xuống ngay biển Aral, và đuổi hết những người thợ săn nấp trong mấy đám cói chuyên bắn giết vịt trời ấy đi. Rồi bọn chúng sẽ tha hồ bơi lặn trên biển... Chúng sẽ mò tôm, bắt cá, chúc đầu xuống đáy biển thế này này...

Khi chuyện đã cạn, Edigej-Bão Tuyết thường bày trò "bói cuội". Hồi này, trong túi bác lúc nào cũng lóc cóc bốn mươi mốt hòn cuội, bé bằng hạt đậu trắng. Đây là một trò bói toán lưu truyền lâu đời trong dân gian, vốn có một thể thức tượng trưng cực kỳ rối rắm và cả một loạt danh từ nhà nghề hết sức cổ lỗ. Bày những hòn cuội nhỏ lên bàn, Edigej lâm râm khấn nguyện, để những viên cuội đó thương tình nói thật, nói thẳng cùng anh rằng người có tên là Abutalip còn sống hay chết, anh ấy hiện ở đâu, đường về có trắc trở gì không, tâm trí đang nghĩ gì, và lòng anh đang nhớ mong ai. Lũ trẻ im lặng, chăm chú theo dõi hai bàn tay Edigej sắp xếp các hòn cuội. Một bữa kia, Edigej bất chợt nghe thấy từ trong góc nhà vọng lại tiếng những hòn cuội va vào nhau lóc cóc và tiếng chuyện trò thủ thỉ. Anh rón rén lại gần, ghé mắt nhìn. Thì ra đó là hai thằng bé nhà Abutalip. Anh thấy Ermek đang tự tay bói cuội. Nó cũng bày những viên cuội nhỏ lên mặt bàn, đâu ra đấy, rồi cầm từng viên lên, ấp vào trán, vào môi, cầu khẩn từng viên một:

- Tao quí mày lắm, cuội nhé. Mày là một viên cuội khôn ngoan, tốt bụng. Mày đừng nhầm đường lạc lối, cuội nghe. Mày cứ nói thực, nói thẳng hết, như những hòn cuội của bác Edigej ấy - rồi thằng bé bắt đầu giảng giải cho anh hình thế sắp xếp của mấy hòn cuội, lặp lại đúng từng lời những gì Edigej đã nói - Daul, anh nhìn mà xem này. Hình thế chúng, kể trông cũng được, chẳng đến nỗi nào. Đây là đường về. Hãy còn mù mờ tí đỉnh. Vì sương đang xuống mà. Nhưng không sao cả. Bác Edigej bảo đó là những trắc trở tự nhiên, chẳng bao giờ tránh khỏi cả. Bố đang thu xếp để lên đường đấy. Bố đã tính lên yên rồi, nhưng đai bụng ngựa thắt còn lỏng. Anh nhìn xem: đã căng mấy đâu. Phải thắt chặt thêm chút nữa. Nghĩa là bố đang gặp trắc trở, chưa đi ngay được, anh Daul ạ. Phải chờ ít lâu. Còn bây giờ, anh xem sườn phải với sườn trái đây. Cả hai bên đều còn lành nguyên. Thế là rất tốt. Còn tâm trí thì thế nào? Có hơi ảm đạm đấy. Vì bố đang lo cho hai anh em mình, anh Daul ạ. Trong lòng thì - đây, viên cuội này đây - bố đang đau buồn vì bố nhớ nhà lắm. Nhưng đường sắp thông chưa? Sắp rồi! Có điều cái móng ngựa bên chân sau đã vẹt. Nghĩa là phải đóng móng lại đã. Cố chờ thêm ít nữa. Còn trong tay nải bố có gì? Ô, bố mua được bao nhiêu là quà ngoài chợ này! Còn bây giờ, ta xem các ông sao trên trời có quần tụ lại, phù hộ cho bố không nhé? Anh thấy chưa nào - đây là sao Dây buộc ngựa vàng. Kia, vết chân ngựa kia. Rõ lắm. Nghĩa là phải nán đợi - bố sắp cởi dây buộc ngựa, lên đường...

Edigej-Bão Tuyết rón rén lảng ra, vừa xúc động, vừa kinh ngạc trước những điều thằng bé đang làm. Từ đó trở đi, anh cố tránh cái trò "bói cuội" ấy...

Nhưng dẫu sao trẻ con vẫn là trẻ con, anh vẫn phải cố tìm đủ mọi cách để an ủi, để chúng khỏi tuyệt vọng. Mà nếu làm được thế, dẫu mang tội đánh lừa chúng còn hơn là để chúng đau buồn. Nhưng còn một ý nghĩ nữa mãi day dứt Edigej-Bão Tuyết trong những hoàn cảnh như thế này và cơ sự đã xoay chuyển đến nông nỗi này, ý nghĩ đó dù muốn hay không tự nó vẫn nảy sinh, và như đất lở, đến một lúc nào đó, nó vẫn phải làm rung chuyển cả cuộc sống của anh, mà anh không tài nào ngăn nổi...

Những đau khổ của Zaripa, khiến Edigej vô cùng thương cảm. Tuy giữa hai người chưa hề có một cuộc chuyện trò nào ngoài những câu chuyện về cuộc sống hằng ngày, và Zaripa chưa bao giờ chịu để cho câu chuyện xoay sang chiều hướng khác, nhưng tâm trí Edigej không lúc nào không nghĩ đến cô. Anh không chỉ ái ngại, thông cảm với cô. Anh cũng không thương cảm người thiếu phụ chỉ vì những điều anh được chứng kiến tận mắt bao nỗi bất hạnh đang giáng xuống đầu cô. Nếu thế, đâu có gì đáng phải bận tâm! Anh nghĩ về Zaripa với một tấm lòng trìu mến, với ý nghĩ luôn sẵn sàng biến mình thành người cô có thể trông cậy về mọi phương diện - về hết thảy những gì liên quan đến cuộc sống của cô. Anh sẽ hạnh phúc biết bao, nếu biết được rằng Zaripa coi chính anh, Edigej-Bão Tuyết, như người trung thành nhất và đáng yêu nhất trên thế gian này.

Đau đớn biết bao việc anh vẫn phải làm ra vẻ hết sức bình thường trong đối xử với cô và giữa họ không thể và nhất định không bao giờ có một chuyện gì về tình cảm cả!

Suốt dãy đường từ nhà đến ga Kumbel, những ý nghĩ đó chẳng lúc nào buông tha anh. Anh cảm thấy sức mình đã cạn. Đầu óc rối tung lên. Anh đang lâm vào một tâm trạng kỳ dị, biến chuyển không ngừng, hệt như đang bối rối chờ đợi khi thì một ngày hội lớn sắp đến, lúc là một căn bệnh nguy kịch không sao tránh khỏi. Tâm trạng ấy khiến anh có lúc tưởng mình đang lênh đênh trên biển cả. Giữa sóng nước, bao giờ người ta cũng cảm thấy mình không còn là mình nữa, không như lúc ở trên đất, cho dù bốn bề gió vẫn êm, biển vẫn lặng và tựa hồ chẳng có gì nguy hiểm đang rình rập mình. Dù anh đang nhởn nhơ, thích thú tung hoành trên mặt sóng, dù anh vẫn phải vung vẩy mái chèo, dù cảnh hoàng hôn và bình minh in trên mặt nước có lộng lẫy đến mấy, anh vẫn phải cho thuyền về bến, gần hay xa dẫu sao vẫn là bến, là bờ. Anh không thể lênh đênh mãi trên sóng nước. Mà trên bến, một cuộc sống hoàn toàn khác đang đợi anh. Biển khơi, chỉ là tạm thời, đất liền kia mới là vĩnh cửu. Hoặc nếu chuyện cặp bến có làm anh khiếp đảm đi nữa, anh vẫn phải tìm một hòn đảo để ghé vào, để biết chắc rằng đấy mới là chỗ ở của anh, đấy mới là nơi anh phải ăn đời ở kiếp. Thậm chí anh còn tự vẽ lên trong óc cái cảnh này: anh đã tìm được hòn đảo ấy và anh sẽ đưa mẹ con Zaripa đến sinh sống tại đó. Dần dà anh sẽ luyện cho hai đứa trẻ quen với biển cả và anh sẽ ăn ở tại đấy, trên một hòn đảo nhỏ giữa khơi xa, cho đến tận cuối đời, không phàn nàn gì về số phận; trái lại, lòng tràn đầy vui sướng. Miễn là biết chắc được rằng bất cứ lúc nào anh cũng có thể nhìn thấy Zaripa, rằng anh trở thành người cần thiết cho cô, người mà cô mong ước và coi là thân thương nhất...

Nhưng anh bỗng cảm thấy ngượng với chính mình vì những ước muốn đó. Anh có cảm giác như mặt mình đỏ bừng vì xấu hổ, mặc dù quanh đây hàng trăm cây số không một bóng người.

Như một cậu bé con, anh phó mặc cho tâm trí tha hồ đeo đuổi niềm ước ao về các hòn đảo giữa biển khơi kia mà quên tự hỏi: để làm gì kia chứ? Một người như anh sao nỡ tơ tưởng đến chuyện đó, bất chấp tình cảnh gia đình, con cái, công việc, đường tàu và cuối cùng là miền đất Sarozek, mà anh đã gắn bó bằng tất cả tâm hồn lẫn thể xác tự lúc nào chính anh cũng chẳng hay biết nữa, trói chặt cả chân tay... Hơn nữa, dù đang khốn quẫn, song liệu Zaripa có cần đến anh không, đã thế tại sao anh lại phải huyễn hoặc mình, tại sao anh lại dám đem lòng yêu thương cô? Về hai đứa bé, chẳng có gì đáng ngờ vực cả - anh rất yêu thương chúng, và hai đứa cũng rất quyến luyến anh. Nhưng Zaripa, vì lẽ gì cô phải ưng thuận chuyện đó?! Hơn nữa, anh có quyền nghĩ thế hay không, khi cuộc sống từ lâu rồi, đã đặt anh vào thế ổn định...

Con Karanar-Bão Tuyết vẫn cắm cúi bước trên nẻo đường quen thuộc, vì nó biết rõ còn phải đi bao xa nữa, nên chẳng cần đợi chủ giục, mải miết rảo nhanh, chốc chốc kêu lên hoặc rên khe khẽ vì phải sải đều bốn vó trên những triền đất Sarozek mấp mô, phải băng qua những hố rãnh sũng nước, phải tạt chéo sang một lòng hồ xưa kia đầy nước mặn, nay đã khô nẻ. Edigej vắt vẻo trên yên, lòng đau đớn, chẳng để ý gì đến con lạc đà... Những tình cảm mâu thuẫn ấy khuấy động lòng anh, anh cảm thấy bồn chồn, không tìm đâu ra điểm tựa giữa những dải đất bạt ngàn miền Sarozek... Anh kiệt sức dần.

Anh đến Kumbel với tâm trạng ấy. Dĩ nhiên anh vẫn mong Zaripa sớm nhận được tin tức những người thân trả lời mấy bức thư cô gửi đi dạo nọ. Nhưng cứ nghĩ đến chuyện họ hàng nhà cô sẽ đến đưa mấy mẹ con cô đi, hoặc viết thư gọi ba mẹ con về xứ, Edigej lại thấy lòng đau như cắt. Ở bưu điện, bộ phận giữ thư lưu trữ cho biết chẳng có thư từ gì gửi cho Zaripa Kuttybaev cả. Edigej bất giác mừng rỡ. Một ý nghĩ thậm xấu xa, ích kỷ, trái với lương tâm lướt nhanh qua đầu anh: "Thế đâm ra lại hay". Rồi anh hởi lòng hởi dạ làm những việc Zaripa nhờ - gửi ba bức điện đến ba địa chỉ khác nhau. Xong xuôi, anh quay về liền...

Độ ấy, tiết xuân đang chuyển sang hè. Sarozek bắt đầu khô hanh, nóng bức. Cỏ kiến đã lụi tàn như một giấc mơ êm ả. Thảo nguyên hoàng thổ lại ngả vàng. Khí trời bị nung đốt, những ngày nóng hầm hập đang mỗi lúc một đến gần. Họ hàng nhà Kuttybaev vẫn vắng bặt tăm hơi. Chẳng ai viết thư phúc đáp, cũng chẳng đánh điện trả lời. Tàu hết chuyến này lại chuyến khác vẫn đều đều lăn bánh qua Boranly-Bão Tuyết. Cuộc sống vẫn tuần tự diễn ra.

Zaripa chẳng còn hoài công ngóng chờ thư nữa. Cô hiểu rằng đừng trông mong gì vào sự cưu mang, giúp đỡ của họ hàng, đừng trút lên đầu họ gánh nặng thư từ và những lời nài nỉ... Và càng tin chắc vào điều đó, người thiếu phụ càng âm thầm tuyệt vọng - còn biết đưa nhau đi đâu, còn biết xoay xở thế nào nữa đây? Biết nói thế nào với các con về số phận cha chúng. Bắt đầu sao đây, thu xếp sao đây, cuộc đời nửa chừng đổ vỡ của mình? Những câu hỏi đó, đến nay vẫn chưa có lời giải đáp.

Hẳn Edigej cũng đau xót chẳng kém gì Zaripa. Bà con sinh sống tại ga Boranly cũng rất ái ngại cho cô. Nhưng riêng Edigej, anh biết rõ tấn bi kịch gia đình cô nên tự cảm thấy như tấn bi kịch của chính mình. Anh không thể tách mình ra khỏi ba mẹ con được. Dần dà, anh bắt đầu sống bằng số phận của hai đứa bé và của Zaripa. Anh cũng khắc khoải đợi chờ - mấy mẹ con rồi sẽ gặp chuyện gì nữa - và cũng âm thầm tuyệt vọng - bây giờ, mấy mẹ con sẽ sống ra sao? - Nhưng không lúc nào tâm trí anh có thể dứt khỏi những ý nghĩ cay đắng: mình sẽ ra sao, sẽ làm cách nào để tâm hồn lại thư thái như trước, làm thế nào để át đi tiếng gọi của lòng mình hướng về Zaripa? Không, cả anh nữa, anh cũng chưa tìm thấy lời giải đáp... Chưa bao giờ anh ngờ rằng đời mình có lúc lại vướng phải những chuyện thế này...

Nhiều lúc, Edigej đã toan thú nhận với người thiếu phụ, thổ lộ chân thành và thẳng thắn rằng anh yêu cô, rằng anh sẵn lòng gánh chịu mọi nỗi đắng cay, đau xót của cô, vì anh không sao hình dung nổi đời mình có thể tách biệt với đời ba mẹ con cô. Nhưng anh rất lúng túng, không biết sẽ ăn nói thế nào, làm cách nào? Zaripa liệu có hiểu được lòng anh? Vì trước khi gặp những nỗi bất hạnh kia, cô đâu phải là người đơn chiếc. Còn anh, như ta biết, anh đâu phải là người gặp cảnh trắc trở trong tình duyên! Chuyện này rồi sẽ đến đâu? Mãi nghĩ đến chuyện đó, Edigej đâm ra rầu rĩ, thẫn thờ. Anh đã phải tốn không ít tâm trí để giữ được vẻ bình thản trước mặt mọi người.

Một hôm, anh đã nói xa xôi, bóng gió về tình cảm của anh với người thiếu phụ. Hôm ấy, sau khi đi thăm đoạn đường do anh trông nom về, ngay từ đằng xa, anh đã thấy Zaripa xách hai cái xô đi lấy nước. Anh cảm thấy mình bị lôi cuốn lại phía cô. Thế là không dừng được nữa. Chẳng phải chỉ vì đấy là một dịp thuận tiện khi cô phải mang hai cái xô đi xách nước! Hầu như cứ cách một ngày, nếu không phải là hàng ngày, hai người lại có dịp đi cùng đường ra nơi làm việc mà có thể trò chuyện với nhau thoải mái. Nhưng chính lúc này, Edigej cảm thấy bị thôi thúc bởi một ước muốn chẳng đặng đừng là phải đến ngay bên cô, để nói với cô những điều anh không thể giấu trong lòng được nữa. Thậm chí, anh còn sôi nổi nghĩ rằng như thế vẫn hơn, dù cô không hiểu, dù bị cô cự tuyệt cũng chẳng sao - ít ra tâm hồn anh cũng được yên tĩnh, thanh thản trở lại... Zaripa không nom thấy và nghe thấy anh đang đến gần. Cô đứng quay mặt về phía xi-tẹc nước, tay vặn vòi. Một xô nước đã đầy được đặt sang bên cạnh. Dưới vòi nước, đặt cái xô thứ hai, nước đã tràn lênh láng. Đã vậy, chiếc vòi lại đang mở hết cỡ. Nước chảy ào ào, bọt sủi trắng xóa trên mặt, và quanh đấy, nước đã dọng thành vũng. Thế mà Zaripa như chẳng hay biết gì vẫn thản nhiên đứng tựa vai vào thành xi-tẹc. Cô mặc chiếc váy vải hoa mà hè năm ngoái cô đã mặc và bị một trận mưa rào xối xả lên người ướt sũng. Edigej ngắm những lọn tóc xoăn rũ xuống một bên thái dương, sau mép tai, cũng xoăn như tóc thằng Ermek. Edigej lặng ngắm khuôn mặt hốc hác, chiếc cổ khẳng khiu, một bên vai trĩu xuống và cánh tay buông thõng trên xô nước. Tiếng nước chảy khiến cô mê mẩn, vì nó gợi nhớ âm thanh của những con suối rừng và những dòng kênh ở Semirechje chăng? Hay chỉ vì cô đang mải mê đeo đuổi những ý nghĩ chua xót chợt đến trong giây phút ấy? Họa có trời biết. Edigej thấy lòng thắt lại: hết thảy những gì anh nhìn thấy ở cô đều rất đỗi thân thương, đến mức anh chỉ muốn ôm chầm lấy mà vuốt ve, an ủi và che chở cho cô, xua đi hết mọi thứ đang đè nặng trong lòng cô. Nhưng không thể làm thế được. Anh chỉ lẳng lặng khóa vòi, ngăn dòng nước đang tuôn xối xả xuống chiếc xô đã đầy tràn. Zaripa ngước nhìn anh, hoàn toàn bình thản, không chút ngạc nhiên, như thể không phải anh đang đứng bên cô mà đang ở mãi tận đâu đâu, xa xôi lắm.

- Cô làm sao thế? Có chuyện gì chăng? - Edigej thốt lên, giọng đầy thông cảm.

Zaripa không nói gì, chỉ khẽ mỉm cười và nhướng cao hai hàng chân mày, mắt cô sáng lên: ra ý bảo là có gì đâu, cũng bình thường thế thôi...

- Cô thấy trong người khó ở chăng? Edigej lại cất tiếng hỏi..

- Vâng - Zaripa thú thật, sau một tiếng thở dài.

Edigej xúc động, rùn vai:

- Đã thế còn đi xách nước làm gì? - anh trách nhẹ, mặc dù trong thâm tâm đã định nói khác. - Rõ khổ! Liệu còn bao nhiêu sức lực nữa? Hành hạ thân xác như thế liệu có ích gì không? Chúng tôi (anh muốn nói "anh") rất khổ tâm, khi thấy cả cô lẫn lũ trẻ cực khổ. Đừng làm thế nữa. Phải liệu cách khác, Zaripa ạ - anh nói từ tốn, đắn đo từng lời, cốt nói được với cô điều anh muốn nói: anh xót xa và yêu thương cô hơn bất kỳ ai trên đời - Cô phải tự liệu lấy. Nếu bà con họ hàng không ai viết thư trả lời, thì mặc họ, đừng nản. Tất cả chúng tôi (anh muốn nói là "anh") đều coi cô như người nhà. Cốt nhất là đừng có ngã lòng. Cứ làm việc và cắn răng chịu đựng. Còn lũ trẻ rồi sẽ lớn lên ở đây, dưới sự trông nom, chăm sóc của chúng tôi (anh muốn nói của "anh"). Mọi chuyện rồi sẽ ổn dần thôi. Chứ cô tính đi đâu làm chi? Tất cả chúng tôi đều coi cô như ruột thịt. Cô biết đấy, vắng lũ trẻ nhà cô một ngày, tôi cũng thấy bứt rứt... - Đến đây, Edigej ngừng lời. Anh chỉ dám thổ lộ những gì mà vị thế của anh cho phép.

- Em hiểu cả đấy, anh Edike ạ - Zaripa đáp - Em xin cảm ơn anh. Dĩ nhiên, em biết mẹ con em sẽ không đến nỗi cùng quẫn nếu cứ ở lại. Nhưng dẫu sao cũng phải đi khỏi đây. Để lũ trẻ quên đi tất cả những gì đã xảy ra tại ga này. Đến lúc đó, em sẽ phải nói hết với chúng sự thật. Chính anh cũng thừa hiểu là không thể cứ lừa dối mãi trẻ con. Đấy, em nghĩ thế đấy. Mẹ con em phải...

- Đúng là không thể làm khác được - Edigej phải miễn cưỡng đồng tình - Chỉ có điều cô đừng vội. Hẵng nghĩ thêm cho chín đã. Chứ một nách hai con thơ dại thế kia, đi đâu, làm gì? Sẽ nương vào đâu, lấy gì mà sống? Cứ như tôi nghĩ, thiếu mẹ con cô, tình cảnh tôi thật đáng sợ...

Quả thế thực, anh rất hãi hùng khi nghĩ sẽ phải xa Zaripa và hai đứa bé. Chính vì lẽ đó anh không dám nhìn vào ngày mai, dù anh thừa hiểu rằng không thể kéo dài mãi tình trạng này. Sau lần nói chuyện với Zaripa vài hôm, anh còn gặp một chuyện nữa, khiến anh tự tố giác mình, và về sau anh cứ ân hận mãi vì không tìm cách gì tự bào chữa nổi.

Nhiều tháng trôi qua, kể từ ngày hai gia đình đưa nhau lên Kumbel chơi, và Ermek sợ bác thợ cạo, không để cho bác ta cắt tóc. Mãi đến giờ, tóc tai thằng bé vẫn thế. Bộ tóc đen dài lạ thường, xoăn tít, tuy trông rất dễ thương, nhưng dẫu sao cũng đã đến lúc phải cho chú bé nhất gan ương ngạnh kia nếm mùi dao kéo. Hễ có dịp, Edigej lại dí mũi vào bên thái dương rậm tóc của nó, vừa hôn vừa hít mùi thơm tho trẻ thơ trong mái tóc ấy. Nhưng càng ngày tóc nó càng dài, rũ xuống tận vai, khiến Edigej không thể đùa với nó cái trò mà cả hai vẫn hay làm. Có điều, chuyện cắt tóc cắt tai, thằng bé luôn cảm thấy xa lạ và khó hiểu. Vì thế, nó chẳng chịu để cho ai cắt tóc. Bác Kazangap hiểu rõ tình thế, đã tìm đủ mọi cách thuyết phục nó. Thậm chí bác phải dọa nó rằng lũ dê rất ghét những đứa để tóc dài, hễ thấy tóc dài là xông đến húc ngay.

Mấy hôm sau, Zaripa kể lại chuyện người ta đã cắt tóc cho Ermek thế nào. Bác Kazangap thực sự đã phải dùng đến vũ lực. Bác kẹp chặt thằng bé giữa hai đùi rồi lách tông-đơ vào dưới lớp tóc rậm. Tiếng thằng bé khóc vang động cả nhà ga. Khi cắt xong, bác Bukej tốt bụng liền đưa gương cho nó soi, để an ủi thằng bé tội nghiệp! Soi gương, thằng bé không nhận ra mình nữa, càng gào khỏe hơn. Nó cứ gào khóc suốt đêm, đến mức Zaripa và Kazangap phải thả nó ra ngoài sân cho đỡ ồn. Chính lúc đó, trên một lối mòn trước nhà, Edigej đã gặp thằng bé.

Tóc tai cũn cỡn nom lạ hẳn, cái cổ khẳng khiu như dài thêm, hai vành tai nhọn chồm hẳn ra đằng trước, thằng bé vừa mếu máo vừa vùng khỏi tay mẹ, lao thẳng đến bên Edigej, kêu gào thảm thiết:

- Bác Edigej, bác xem, người ta đã làm cho cháu ra thế này này!

Phải chi trước đây có ai bảo với Edigej-Bão Tuyết rằng chuyện đó sẽ xảy ra với thằng bé, nhất định anh không tin. Anh bế thốc thằng bé lên, ôm ghì lấy nó áp chặt vào lòng, cảm thông bằng tất cả thể xác mình nỗi bất hạnh của nó, sự bất lực của nó, những lời than khóc, với tất cả lòng tin cậy của nó, như chính mình đang gánh trọn những rủi ro kia. Rồi anh hôn nó và bằng một giọng nghẹn ngào vì đau xót và thương cảm, anh nói những lời an ủi mà chính anh cũng chẳng hiểu hết ý nghĩa:

- Nín đi, con! Đừng khóc nữa. Bác không cho phép ai xúc phạm con đâu, bác sẽ che chở con như bố con vậy! Bác sẽ yêu con như bố con vậy có điều con đừng khóc nữa! - Và ngước nhìn Zaripa, lúc này đang sững người trước mặt anh, vẻ bối rối, Edigej hiểu ngay rằng mình đã vượt quá cái giới hạn cấm kỵ. Anh rất mất bình tĩnh, hối hả bỏ đi, lúng túng bế theo thằng bé, miệng không ngớt lẩm bẩm mỗi một câu: Nín đi! Bác sẽ tìm ông cụ Kazangap, chỉ cho ông ta thấy cái đầu, tóc kì dị này! Bác sẽ...

Sau lần ấy, Edigej tránh mặt Zaripa suốt mấy hôm liền, cả cô nữa, như anh hiểu, cô cũng tránh gặp mặt anh. Edigej-Bão Tuyết đâm hối hận, rằng mình đã ăn nói quàng xiên, khiến người thiếu phụ hoàn toàn vô tội kia đâm ra lúng túng, ngượng ngùng, mà không thế cũng đã có bao điều phải lo nghĩ, bận rộn rồi. Tình cảnh cô đã thế, anh còn gây thêm cho cô bao đau khổ nữa! Edigej không biết tìm đâu ra lý do để tự tha thứ, để biện bạch cho bản thân mình nữa. Và chắc là đến tận cuối đời, hẳn anh vẫn còn ghi nhớ cái khoảnh khắc ấy, khi anh cảm thấy bằng tất cả con người mình sự gắn bó giữa anh và đứa bé tủi cực không được ai che chở, đang ghì chặt anh, và lòng anh xúc động đến tái tê vì thương cảm và xót xa, khi Zaripa ngước nhìn anh, choáng người vì những gì đang diễn ra trước mắt, và trong đôi mắt Zaripa lóe sáng một tiếng kêu câm lặng vì đau thương.

Sau lần ấy, Edigej-Bão Tuyết bỗng đâm ra lầm lì, lặng lẽ hẳn đi. Và hết thảy những gì anh buộc phải giấu kín trong lòng, anh dồn hết cho hai đứa con Zaripa. Anh không tìm được cách nào khác cả. Hễ rỗi rãi là anh tìm gặp chúng, kể tiếp với chúng những câu chuyện về biển khơi, cả những gì đã từng kể, lẫn những gì mới nhớ thêm được. Đó là đề tài ưa thích nhất của hai đứa trẻ. Rồi chuyện về những chú hải âu, những giống cá này cá nọ, những đàn chim di trú, những hòn đảo nhỏ giữa biển Aral, nơi vẫn còn giữ lại được nhiều loại thú hiếm, chim lạ, đã bị tuyệt chủng tại những vùng khác. Trong những lần trò chuyện đó, Edigej thường hay nghĩ đến một mẩu chuyện thực của chính mình, từng xảy ra trên biển Aral - một chuyện độc nhất mà anh thích giữ kín trong lòng. Thực ra, đó chẳng, phải là chuyện trẻ con. Vả lại, chỉ có hai người biết: anh và Ukubala. Nhưng hai vợ chồng vẫn chưa bao giờ dám đả động đến, vì nó có liên quan đến đứa con đầu lòng xấu số mà vợ chồng anh đã để vuột mất. Phải chi còn sống, thằng bé giờ đã bỏ xa đám trẻ ở ga Boranly này rồi, thậm chí con lớn hơn cả thằng Shabitzhan nhà bác Kazangap đến những hai tuổi. Nhưng nó đã bỏ họ. Sinh con, ai chẳng mong nó sống thật lâu. Nếu không, ai còn thiết chuyện sinh con đẻ cái làm gì.

Hồi ấy, khi anh đang làm một chàng dân chài trẻ trung, trước ngày chiến tranh bùng nổ ít lâu, anh và Ukubala đã gặp một chuyện khác thường. Những chuyện như thế có lẽ chỉ xảy ra một lần trong đời và không bao giờ tái diễn nữa.

Từ lúc làm bạn với Ukubala, những hôm ra khơi đánh cá, chẳng hôm nào Edigej không mong chóng được trở về. Anh yêu Ukubala. Anh biết người vợ trẻ cũng đang mỏi mắt mong anh. Hồi đó, Ukubala đối với anh không chỉ đơn thuần là một cô gái mà anh hằng mong mỏi. Anh cảm thấy mình tồn tại chính là để luôn luôn nghĩ đến cô, để chắt lọc và tích tụ vào trong người mình sức lực của biển khơi và của nắng gió, để rồi đem dâng hiến lại cho cô, người vợ hiền đang ngóng đợi anh ở nhà; vì sự dâng hiến đó sẽ phát sinh một niềm hạnh phúc song đôi - điều cốt tủy của hạnh phúc - còn tất cả những cái còn lại, những cái bên ngoài, đều chỉ là bồi bổ thêm, làm phong phú thêm cho niềm hạnh phúc, cho sự yên ấm của hai vợ chồng, bằng những thứ mà mặt trời và biển cả đã ban thưởng cho anh. Và khi Ukubala cảm thấy trong người chớm có những dấu hiệu khác thường, cảm biết mình đã mang thai và sắp được làm mẹ, thì bên cạnh những nỗi chờ mong thường ngày thuyền của chồng sớm về đến bến sau một ngày lênh đênh trên biển cả, cô còn có thêm một niềm mong mỏi khác: đứa con đầu lòng ra đời. Đó là thời kỳ bình yên nhất trong cuộc đời hai vợ chồng.

Cuối thu năm ấy, khi tiết trời đã chớm sang đông, trên da mặt Ukubala xuất hiện những nốt li ti màu nâu non, phải nhìn kỹ mới thấy. Bụng cô lớn dần, tròn dần. Một hôm cô hỏi chồng: "altyn mekre là con cá gì? Em chỉ nghe nói, chứ chưa bao giờ được nhìn thấy tận mắt". Anh bảo vợ: "Đó là giống cá chiên, rất hiếm, thường sống ở những vùng nước sâu. Nó khá lớn. Nhưng quí nhất là vẻ đẹp của nó. Thân cá lấm tấm điểm những đốm tròn xanh thẳm, còn đỉnh đầu, hai vây bụng, vây lưng - chạy suốt từ đầu đến chót đuôi - thì óng ánh như vàng mười, một sắc vàng tinh khiết dị thường. Chính vì lẽ đó mà người ta gọi nó là Altyn mekre - tức là "cá chiên vàng".

Hôm sau, Ukubala nói với chồng là đêm qua mình nằm mơ, gặp được một con cá chiên vàng. Con cá vờn tung tăng quanh cô, còn cô thì cố giơ tay ra bắt lấy. Cô muốn bắt lấy nó lên xem, rồi thả ngay. Như thế nào cũng phải bắt lên tay cho bằng được, để nhìn thật rõ cái sắc vàng của nó. Cô ao ước được ôm nó vào lòng đến nỗi cô muốn đuổi bắt nó cả trong giấc mơ. Nhưng nó vuột khỏi tay và cô choàng thức giấc, mãi không sao ngủ lại được, cứ tiếc rẻ như không đạt được một cái đích quan trọng gì đó trong đời thực. Ukubala tự chế giễu mình, nhưng trong thâm tâm vẫn ước ao chồng bắt về được một con cá chiên vàng.

Edigej hiểu lòng vợ. Tâm trí anh không sao dứt được chuyện đó, cả khi đang kéo lưới, tung chài. Rồi anh thấy mình đã hiểu đúng nghĩa niềm ước ao đó của vợ, một ước ao bừng dậy trong mơ và ám ảnh cả khi tỉnh giấc. Anh hiểu ngay là phải đánh cho kỳ được một con cá chiên vàng, vì điều mà Ukubala mong ước giữa lúc bụng mang dạ chửa chẳng qua chính là talgak[15] của vợ. Lúc thai nghén, phụ nữ thường thèm ăn một thứ của lạ. Talgak của họ rất lạ đời: người thèm chua, thèm mặn, kẻ thích ăn thịt rắn, chim muông, Edigej không ngạc nhiên lắm về talgak của Ukubala. Vợ anh thuyền chài tất phải thèm những món mà anh vẫn đánh bắt được ngoài khơi. Thượng đế hẳn đã xui khiến vợ anh muốn được nhìn tận mắt và nâng niu trên tay cái sắc vàng tinh khiết của giống cá kia. Edigej còn nghe nói là nếu talgak của người phụ nữ đang kỳ thai nghén không được thỏa mãn, ngũ tạng của đứa con sau này có thể bị tổn thương trầm trọng.

Talgak của Ukubala kỳ dị đến mức chính cô cũng không dám nói thật cùng chồng, còn Edigej thì chưa biết chắc đó có phải là ý thích của vợ không, mà cũng chẳng dám cam đoan gì, vì làm sao anh biết là mình sẽ đánh được từ biển lên giống cá hiếm hoi ấy. Bởi thế thoạt tiên anh quyết định phải đánh cho kỳ được con cá kia đã, rồi sau hẳn dò ý tứ vợ xem đó có đúng là talgak của cô không?

Dạo ấy mùa cá rộ trên biển Aral đã chấm dứt lâu rồi. Trời đã sang đông. Tập đoàn của Edigej đang thu xếp công việc làm ăn trong mấy tháng băng giá, khi khắp năm trăm cây số bề ngang Aral đã bị phủ một lớp băng dày, phải đục thủng băng, thả lưới xuống, rồi dùng lạc đà - sức kéo độc nhất của vùng thảo nguyên - kéo từ hố này, sang hố khác mới mong lôi được từ dưới đáy biển lên một mẻ cá... Mai kia, bão tuyết sẽ ập đến liên miên, tôm cá mắc lưới chưa kịp vùng vẫy đã cứng lại như gỗ, khi vừa được lôi lên bờ. Khắp người chúng bị phủ một lớp giá mỏng, rét kinh người, giữa mặt biển Aral trống trải... Nhưng suốt từ bao năm nay, cả hè lẫn đông, Edigej cùng tập đoàn đã kéo lên được bao giống cá quí và lạ, thế mà anh nhớ chưa bao giờ cá chiên vàng bị mắc lưới cả. Thảng hoặc, cũng có người câu hoặc nhử được bằng mồi giả, nhưng đối với dân chài, đó cũng là một chuyện khác thường. Và cả xóm, về sau vẫn nhắc mãi chuyện đó, tấm tắc khen hoài người gặp may mắn ấy.

Một buổi nọ, Edigej lên đường ra khơi sớm. Anh bảo vợ đi kiếm ít thức ăn để nhà dùng, nhân lúc Aral chưa kịp phủ băng. Ukubala nghe thế liền nói ngay:

- Nhà còn khối tôm cá đấy. Đi làm gì anh? Lại rét mướt thế này nữa?

Nhưng Edigej không nghe.

- Ru rú ở nhà mãi sao - anh nói - Với lại chính em bảo là dì Sagyn đang ốm hệt giường. Phải nấu cho dì ấy bát cháo cá, hay niêu canh chua gì đó chứ! Thuốc tiên đấy, em ạ. Nhưng lấy đâu ra cá tươi? Ai đi đánh nào?

Anh viện cớ ấy và dong thuyền ra khơi từ lúc còn chưa tỏ mặt người, cố kiếm bằng được một con chiên vàng. Màn lưới cùng mọi thứ đồ nghề cần thiết khác, anh đã dự liệu đâu ra đấy và sắp sẵn từ trước. Anh xếp tất cả lên mũi thuyền. Mặc thêm mấy thứ đồ ấm, choàng bên ngoài một chiếc áo mưa, chụp lên đầu chiếc mũ trùm tai, dong thuyền ra khơi.

Hôm ấy là một ngày u ám, tiết trời đã cuối thu, đầu đông rồi. Lách mũi thuyền cắt sóng, Edigej vung mạnh hai mái chèo lướt ra khơi đến chỗ nước sâu, nơi anh hy vọng là bãi ăn của giống cá chiên vàng nọ. Mọi chuyện dĩ nhiên còn tùy thuộc ở rủi may. Trong nghề săn bắt, ít có gì bấp bênh hơn là câu cá biển. Trên bộ, dẫu gì với con mồi bao giờ cũng đều ở trong cùng một môi trường, người đi săn tha hồ giở đủ mọi ngón - đuổi chán không ăn thua thì rình một chỗ, đợi con mồi đến, lao vào tiến công. Còn ở dưới nước, anh đừng hòng mơ tưởng chuyện ấy. Buông câu xong, anh cứ việc ngồi yên đó chờ. Lúc cá đến, lại phải chờ xem nó có đớp mồi không.

Edigej chứa chan hy vọng là sẽ gặp may, vì lần này ra khơi, anh đâu nhằm kiếm cá về ăn như mọi bữa, anh chỉ cốt thỏa mãn ước mơ lạ đời của vợ đang lúc bụng mang dạ chửa thôi.

Dạo ấy, anh còn trai trẻ, tay chèo vững vàng và khỏe khoắn lắm. Anh mải miết vung chèo trong làn nước giá ngắt, khéo léo cho thuyền cắt sóng, nhằm thẳng hướng nước sâu, lướt tới. Loại sóng đó, dân chài vùng Aral gọi là irek tolkun - sóng chếch ngọn. Irek tolkun là dấu hiệu đầu tiên báo động bão sắp tràn về. Chứ riêng nó chẳng có gì nguy hiểm, cứ bình tĩnh cho thuyền ra khơi.

Thuyền càng ra xa, dải bờ dốc đứng toàn đất sét vàng và lởm chởm những mỏm đá nhọn hoắt, chạy mãi đến tận mép nước, càng nhỏ lại rồi mờ dần, cuối cùng biến thành một vạch thẳng lờ mờ, lúc ẩn lúc hiện. Trên cao, mây đen nằm chết lặng. Nhưng trên khoảng chân trời liền với nước, gió thổi ào ào, khiến mặt biển cuồn cuộn sóng.

Chừng hai giờ sau, Edigej gác chèo, thả neo, bắt đầu buông câu. Anh mang theo hai ống dây câu cuộn trong những cái ròng rọc tự chế. Một cuộn, anh buộc sau lái, thòng sâu xuống cả trăm thước; phần còn lại, chừng hai chục thước, anh để dự phòng trong ống. Cuộn kia, anh cũng làm như vậy, nhưng buộc trước mũi thuyền. Đoạn, anh cầm chèo, khuấy nước, giữ cho thuyền khỏi bị gió đẩy chệch khỏi luồng. Nhưng chính là để cho hai sợi dây câu khỏi vướng vào nhau.

Rồi cứ thế ngồi chờ. Theo anh đoán, đây chính là chỗ lũ cá hiếm kia thường sinh sống. Tuy chưa có bằng cớ cụ thể, nhưng trực giác đã mách bảo anh thế. Anh vẫn tin rồi chúng sẽ xuất hiện. Nhất định thế. Chưa câu được cá, nhất định chưa về. Anh cần nó chẳng phải để mua vui, mà vì một điều hết sức hệ trọng trong đời.

Ít lâu sau, cá bắt đầu lay động dưới dây câu, nhưng không phải giống cá chiên vàng. Lần đầu anh giật được một chú Zherex. Khi giật, anh thừa biết đấy không phải là cá chiên vàng. Làm sao mà ngay từ đầu đã câu được ngay giống cá hiếm hoi ấy? Thế thì hóa ra sống trên đời này dễ dàng và tẻ nhạt quá. Hơn nữa, Edigej đã chấp nhận phải chịu khó, chịu khổ, phải chờ đợi kia mà. Lát sau, một chú cá gáy to mắc câu. Đây là một giống cá ngon, nếu không phải là ngon nhất biển Aral. Anh bóp chết, ném nó xuống lòng thuyền. Dù sao cũng đã có nồi cháo cá biếu dì Sagyn đang ốm nặng. Anh lại câu thêm được một chú tran - giống cá vền biển Aral. Chẳng rõ ma quỷ nào đã lôi nó xuống dưới đó? Cá vền thường sống ngay trên tầng mặt nước. Nhưng thôi, thây kệ mày, ai bảo dại. Tiếp đến là cả một quãng thời gian dài khắc khoải mong đợi... Edigej tự nhủ: "Không, phải gắng chịu, cơ may thế nào rồi cũng tới. Tuy không nói ra, nhưng Ukubala chắc thừa biết là mình đi kiếm cá chiên vàng. Phải câu cho được một con, kẻo mai ngũ tạng đứa bé nhỡ có làm sao, lại ân hận. Đấy, chính đứa bé nằm trong bụng xui mẹ nó đấy: muốn nhìn tận mắt và nâng niu trên tay một chú cá chiên vàng. Có điều tại sao nó lại muốn thế, thì họa có trời biết. Mẹ nó cũng ao ước vậy, làm bố lẽ nào mình không đáp ứng nổi điều mong mỏi thiết tha ấy?".

Irek tolkun bắt đầu nổi mạnh, đẩy thuyền quay tròn, vần vụ. Edigej lạnh cóng, vì phải ngồi bó rọ một chỗ dõi mắt trông chừng mấy cái phao bập bềnh đầu dây câu, xem có con cá nào đớp mồi không và hai sợi dây có bị xoắn vào nhau không dưới sâu kia. Không, cả dây đằng mũi, lẫn đằng lái đều chẳng động tĩnh gì. Nhưng Edigej không chút nôn nóng. Anh biết. Anh tin chắc con cá chiên vàng kia thế nào rồi cũng đến. Chỉ ước sao biển đừng động, hẵng tạm nguôi bớt cái lũ sóng chếch ngọn này thêm ít lâu nữa. Nhưng điềm trời xem ra chẳng chịu chìu lòng người. Mà thôi, đừng lo, bão chưa ập đến ngay đâu. Chắc phải đến đầu hôm, có khi đến tận nửa đêm, biển mới nổi sóng alabash - sóng bạc đầu. Lúc đó, cả Aral này sẽ như một con thú dữ. Tung bọt trắng xóa suốt từ bờ bên này sang bờ bên kia, và chẳng còn ai dám liều ra khơi nữa... Nhưng giờ thì chưa có gì đáng ngại. Còn lâu, trời mới tối...

Rét cóng, Edigej co ro ngồi trên thuyền, đưa mắt nhìn chung quanh, chờ cá đến. "Sao mày lần khân thế, cá ơi! Nói có trời chứng giám, chứ tao chả làm gì mày đâu, đừng sợ, cá ạ - anh nghĩ bụng - Đừng sợ, tao cam đoan sẽ thả mày kia mà. Sao, không tin ư? Nhưng để rồi xem. Tao có bắt mày để thịt đâu? Tôm cá ê hề ở nhà. Ngay dưới lòng thuyền cũng có đến ba mống kia kìa. Tao mà ăn mày, bằng này tuổi đầu, tao sẽ chết ngay, chiên vàng ạ! Mày hiểu cho đứa con đầu lòng của vợ chồng tao sắp chào đời đấy. Mới đây, vợ tao nằm mơ thấy mày. Từ đấy, vợ tao đâm mất ăn mất ngủ. Cô ấy chẳng dám nói với tao. Nhưng chỉ nhìn cũng đủ biết. Tại sao lại thế, tao không cắt nghĩa nổi. Nhưng dù gì, cô ấy cũng phải được nhìn thấy mày, nâng niu mày trong tay. Xong, tao hứa sẽ thả mày ra ngay, cho mày về với biển cả của mày. Đầu đuôi chỉ tại mày thôi. Ai bảo mày sinh ra làm một giống cá khác thường? Đầu đuôi mày đều vàng, cả vây bụng, vây lưng, lẫn thân mày cũng đều vàng nốt. Mày thử ở vào địa vị tao xem. Cô ấy ước ao được nhìn thấy mày tận mắt, cô ấy muốn được chạm tay vào người mày, để được biết lớp vảy óng vàng của mày đẹp ra sao, chiên vàng ạ. Cũng biết mày là cá đấy, nhưng chẳng hiểu sao cô ấy vẫn cứ nhớ mong mày, như nhớ người chị em thân thiết, vẫn muốn được gặp mày, trước ngày sinh nở. Để cho đứa bé trong bụng kia bằng lòng chắc? Đấy, cơ sự là thế đấy. Hãy giúp tao với, chiên vàng yêu quí. Nào bơi lại đây. Đừng giận, nhé! Tao hứa với mày rồi mà. Nếu bụng tao mang điều ác độc, mày sẽ thấy rõ ngay thôi. Tao móc hai cục thịt to tướng ở đầu lưỡi câu đây. Thích cục nào, tùy mày chọn, ừ, kể thịt đã hơi có mùi thật, nhưng là để mày dễ đánh hơi. Ăn đi, nhưng đừng nghĩ xấu về tao. Tao cũng toan móc mồi giả đấy, vì trông ngon mắt hơn, nhưng làm thế là lừa đảo mày. Nuốt nó vào mày làm sao sống với cục sắt kia trong bụng, khi tao thả mày? Thế có phải là bịp bợm không? Tao thực bụng mời mày cắn câu đấy. Kể có thể bị rách môi tí đỉnh. Nhưng còn biết làm sao khác được? Chỉ đau chốc lát thôi, đừng lo. Tao đã đem theo cả một cái bao da to tướng đây này. Tao sẽ đổ nước vào, mời mày hãy tạm nằm trong ấy chốc lát; sau đó tao lại sẽ thả mày ra, tha hồ mà bơi. Tao không thể ra về tay không được, chiên vàng ạ. Mà trời lại sắp tối rồi. Mày không thấy sóng mỗi lúc một cao, gió mỗi lúc một mạnh đấy ư? Hay là mày muốn đứa con đầu lòng của tao vừa sinh ra đã phải mồ côi? Ngẫm nghĩ cho nhanh lên, để còn giúp tao với..."

... Mặt biển bao la màu lam nhạt lạnh giá vào những ngày đầu đông, giờ đã sẫm hẳn lại. Một chiếc thuyền con khi nhô lên, khi biến mất giữa đầu sóng, đang chậm chạp tiến vào bờ. Phải vất vả lắm nó mới nhích lên được từng ít một, vì phải vật lộn với những đợt sóng bạc đầu cuồng bạo. Biển gầm thét, dồi lắc, mỗi lúc một mạnh thêm, tung bọt trắng xóa, dồn thêm sức cho cơn bão.

Những tia nước giá ngắt tung vào mặt, hai bàn tay cầm chèo của Edigej sưng vù lên vì rét và vì ngâm lâu trong nước.

Ukubala đi tới đi lui trên bờ... Trông mãi chẳng thấy chồng về, cô bồn chồn lo lắng. Khi bằng lòng làm bạn với một chàng đánh cá, bà con chăn thả súc vật trên thảo nguyên đã bảo cô: ngẫm nghĩ cho kỹ đi, rồi hẵng hứa hôn, chứ rồi sẽ cực nhọc lắm đấy, khi theo chồng về miền biển sinh sống; rồi sẽ phải tuôn không biết bao nhiêu là nước mắt trên dải bờ kia và sẽ phải khô cổ cầu nguyện cho chồng mỗi lúc anh ra khơi quăng chài bủa lưới. Nhưng cô không khước từ lời cầu hôn của Edigej. Cô chỉ đáp: anh ấy sao, tôi vậy...

Điều cảnh báo kia quả ứng nghiệm. Lần này anh ra khơi một mình, chứ không đi cùng tập đoàn. Trời chẳng mấy chốc đã nhập nhoạng tối. Biển lại động, gầm thét ngày một dữ...

Nhưng kia rồi, giữa những ngọn sóng bạc đầu hung dữ thấp thoáng đôi mái chèo vung vẩy, và con thuyền hiện rõ trên mặt biển. Buộc chặt thêm chiếc khăn trùm đầu, tuy bụng mang dạ chửa, Ukubala vẫn lần ra tận mé nước, đứng chờ, cho đến lúc thuyền Edigej cặp bến. Một đợt sóng lớn tung mạnh chiếc thuyền câu lên doi cát, sát chân cô. Edigej vội vàng nhảy ngay xuống, vật lộn với sóng như với một con bò mộng, lôi thuyền lên bờ. Lúc anh vừa đứng thẳng người lên, quần áo ướt sũng và mặn chát, Ukubala chạy đến, ôm choàng lấy cổ anh: cả cô cũng ướt sũng nước, quấn chặt trong chiếc khăn quàng lạnh giá, cứng như gỗ.

- Em chờ anh đến mỏi cả mắt. Sao lâu thế, anh?

- Suốt buổi, nó có chịu đến đâu. Mãi đến khi triều lên mới chịu lần tới.

- Chết, anh đi đánh cá chiên vàng đấy ư?

- Ừ, anh phải năn nỉ nó mãi đấy. Giờ thì em có thể ngắm tha hồ. Edigej lôi từ dưới lòng thuyền lên cái bao da to đầy ắp nước, mở đây buộc, trút ra trên mặt sỏi một con cá chiên vàng cùng cả chỗ nước đựng bên trong. Đó là một con cá rất lớn. Hùng dũng và đẹp mê hồn. Nó quẫy loạn xạ cái đuôi vàng rực, uốn người, lách đi, làm tung tóe sỏi cát chung quanh. Cái miệng hồng hồng ngáp liên hồi, nó cố ngoi về phía biển, để mong được vẫy vùng giữa sóng nước quen thuộc thân thương. Đột nhiên, trong khoảnh khắc, con cá dừng phắt lại, dáng căng thẳng, bất động, đưa đôi mắt tròn, trong trẻo, ngây thơ nhìn không chớp mọi thứ chung quanh. Dưới làn ánh sáng lạ lẫm của hoàng hôn một ngày đầu đông, con cá nhìn thấy bốn con mắt long lanh của hai con người đang cúi thấp đầu ngay trước mắt mình. Con cá, cũng nhận ra trong khoảng trời lồng lộng, trải dài trên mặt biển mãi tít tắp đằng kia, sau những áng mây thưa thớt, ngay bên trên chân trời, ráng chiều tà rực rỡ đến lóa mắt. Đoạn, nó bắt đầu thở gấp, vẫy vùng lồng lộn với một sức mạnh mới, nó cố lần ra phía biển đang cuộn sóng liền ngay cạnh đó. Edigej cầm mang con cá, xách lên.

- Chìa tay ra, cầm lấy đi, em - anh bảo vợ.

Ukubala hai tay đỡ lấy con cá trên tay chồng như đỡ một đứa bé, áp chặt nó vào lòng.

- Chao ôi, người nó chắc mới khiếp chứ! - Ukubala thốt lên, cảm nhận được cái sức vóc rắn rỏi, cứng cáp nơi con cá - mà nặng như một thanh gỗ lim ấy! Khắp người lại toàn là hơi của biển cả! Trời, đẹp quá đi mất! Anh ơi, giờ thì em mãn nguyện rồi, mãn nguyện lắm rồi. Giấc mơ của em thế là đã thành sự thật. Thôi, anh thả nó ra, cho nó chóng được về với biển khơi quê hương nó.

Edigej mang con chiên vàng ra biển. Anh lội xuống nước đến ngập đầu gối, rồi buông tay, cho con cá chuồi vào những đợt sóng. Trong khoảnh khắc, cái sắc vàng thuần khiết, lộng lẫy phủ khắp người con cá ánh lên trong làn nước xanh lam. Con cá quẫy mình, rẽ nước, lao nhanh về những vùng nước sâu ngoài khơi thẳm...

Cơn bão bắt đầu tung hoành trên mặt biển khi đêm vừa xuống. Biển ầm ầm réo trước mặt nhà, ngay dưới lòng vực. Một lần nữa, Edigej tin chắc rằng chẳng phải tự dưng mà những ngọn sóng irek tolkun - sứ giả báo tin bão tố ấy lại xuất hiện. Đã gần nửa đêm rồi. Vừa lắng nghe tiếng sóng gầm lúc sắp thiu thiu ngủ, Edigej vừa nhớ lại chú cá chiên vàng rất đỗi linh thiêng kia. Lúc này, chú ta đang ra sao? Chắc dưới đáy biển sâu, sóng không dữ dội đến thế này. Hẳn trong bóng đêm thăm thẳm dưới ấy chú ta cũng đang lắng tai nghe tiếng sóng thét gào trên mặt nước. Edigej sung sướng mỉm cười với ý nghĩ ấy, và lúc sắp thiếp đi, anh đặt nhẹ tay lên bụng vợ, chợt cảm nghe những tiếng đập dập dồn của đứa con đầu lòng sắp ra đời của anh lên tiếng đây. Edigej mỉm cười sung sướng, thanh thản thiếp đi trong giấc ngủ bình yên.

Phải chi anh biết rằng chưa đầy một năm sau, chiến tranh đã bùng nổ, làm đảo lộn hết mọi thứ trong đời và anh phải giã từ biển cả ra đi mãi mãi, có chăng chỉ còn được gặp lại nó trong hoài niệm... Nhất là trong những ngày gian nan, cay cực, đang sắp đến gần...

☆ ☆ ☆

Những chuyến tàu ở vùng này chạy từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông...

Trải rộng hai bên đường tàu ở vùng này là những hoang mạc mênh mông - miền Sarozek và các thảo nguyên úa vàng thuộc miền Đất Giữa.

Vào những ngày khủng khiếp của năm năm mươi ba ấy, đối với Edigej-Bão Tuyết, mùa đông đến rất sớm. Ở xứ Sarozek mênh mông này, xưa nay chưa bao giờ tiết trời lại lạ đời như thế. Mới cuối tháng Mười mà tuyết đã phủ dày và trời đã bắt đầu giá buốt kinh khủng. May mà trước đó ít lâu, anh đã kịp chở từ Kumbel về cho gia đình và cho mẹ con Zaripa được mấy bao khoai tây. Cứ như anh biết trước phải nhanh tay, kẻo không thì hỏng hết. Hôm ấy, anh bắt con Karanar đi chuyến cuối cùng, vì sợ ngồi toa hàng không có mái che, chưa kịp chở đến nhà, khoai đã đóng băng, phí mất một khoản lương thực quí. Anh phải đặt lên lưng con Karanar-Bão Tuyết hai cái giỏ thồ hàng - con vật không đời nào chịu nhấc chân, nếu nó biết ông chủ chưa chở thứ gì lên lưng nó - rồi mới chất hai bao khoai nặng lên, mỗi bao một bên, phủ kín đến tận mép một tấm thảm lông lạc đà to tướng cho gió rét khỏi lùa vào, còn mình thì đành ngồi co ro chịu rét giữa hai cái giỏ thồ, suốt từ Kumbel về tận ga Boranly-Bão Tuyết. Anh ngất ngưởng trên lưng con Karanar, như ngồi trên lưng voi. Trong thâm tâm Edigej cũng nghĩ thế. Trước nay, bà con ở đây chưa ai từng thấy cảnh cưỡi voi bao giờ. Mãi đến mùa thu vừa rồi, người ta mới đem về chiếu ở ga một cuốn phim đầu tiên của Ấn Độ. Dân Kumbel, từ già chí trẻ, ai nấy đều đổ xô đi xem bộ phim về xứ sở khác lạ này. Bộ phim, ngoài những cảnh hát múa liên miên, còn quay cả voi, cả cảnh cưỡi voi vào tận rừng già săn hổ nữa. Edigej cũng được xem bộ phim này. Số là vào dịp đó, anh với ông trưởng ga được bầu làm đại biểu đi dự Đại hội liên hiệp công đoàn toàn huyện, cuối Đại hội, các đại biểu được chiêu đãi bộ phim kia, tại câu lạc bộ của đoạn đầu máy. Đầu đuôi là thế đấy. Xem xong, vừa ra khỏi phòng, đâu đâu cũng râm ran bàn tán đủ mọi thứ chuyện đã chiếu trên phim. Anh em công nhân đường sắt rất kinh ngạc trước cảnh người ta cưỡi voi ở Ấn Độ. Bỗng có ai đó nói to:

- Lũ voi kia đâu có gì là lạ? Thế con Karanar-Bão Tuyết của Edigej có kém cạnh gì, hả? Thêm cái bành, rồi cho anh ấy ngồi lên, thử hỏi có khác gì voi?

- Phải đấy - ai nấy cười rộ lên.

- Khéo còn hơn voi đấy chứ! - Một người khác chen vào - Voi chỉ sống được ở xứ nóng thôi. Cứ thử cho nó nếm cái rét mùa đông ở Sarozek chúng ta xem. Lúc ấy, khéo voi của các cậu lại phải quì mọp dưới chân con Karanar cho xem!

- Edigej-Bão Tuyết này, sao cậu không làm cho Karanar nhà cậu một cái bành như bên Ấn Độ ấy nhỉ? Ngồi vắt vẻo trên ấy, cậu còn oách hơn ông phú hộ trong phim đấy!

Edigej bật cười. Tuy bị bạn bè trêu chọc, nhưng trong thâm tâm, anh rất lấy làm hả dạ vì ai nấy đều trầm trồ khen ngợi con lạc đà trứ danh của anh...

Nhưng mùa đông ấy Edigej đã phải một phen điêu đứng vì chính con Karanar nọ...

Chuyện xảy ra ngay từ dạo những cơn băng giá đầu mùa ập đến. Mà đúng hôm ấy, anh lại gặp phải đợt tuyết đầu đông trút xuống ngay trên đường về. Nói của đáng tội, trước đó ít lâu, tuyết cũng đã rơi mấy đợt rồi. Nhưng vừa rơi xuống đã lại tan ngay. Hẳn nó bực mình, nên đã tích lại, chờ đến hôm ấy! Bầu trời đen kịt trùm khắp thảo nguyên hoang vu miền Sarozek, gió giật liên hồi. Từng bông tuyết lớn quay cuồng tới tấp rơi kín trời đất. Không lạnh mấy, nhưng ướt át khó chịu. Khổ nhất là qua màn tuyết dày đặc, chẳng còn nhìn rõ được gì cả. Tại Sarozek này chẳng có một nhà ga nào dọc đường để có thể ghé lại trú chân, chờ tuyết ngừng rơi. Chỉ còn trông cậy vào sức vóc và sự tinh khôn của con Karanar-Bão Tuyết. Trước sau gì rồi nó cũng lần về được Boranly. Thế là Edigej đành phó mặc cho con lạc đà. Anh dựng cào cổ áo, quấn chặt thêm chiếc khăn quàng cổ, kéo sụp chiếc mũ trùm tai xuống, kiên nhẫn ngồi co ro trên lưng con vật, cố căng mắt ra nhìn hai bên vệ đường. Ác thay, tuyết mỗi lúc một dày, chẳng còn nom thấy gì ngoài tuyết trắng. Trong khi đó con Karanar vẫn mải miết bước, nhưng không chịu nhanh chân lên chút nào, hẳn nó thừa hiểu chủ nó đã bó tay ngồi im thin thít giữa hai cái giỏ thồ hàng, chẳng hề mở miệng thúc giục lấy một câu nào. Sức vóc nó phải phi thường lắm mới có thể băng qua thảo nguyên, giữa lúc tuyết rơi dày với ngần ấy hàng thồ trên lưng. Thồ cả chủ trên lưng, nó vừa hùng dũng thở phì phò, vừa cất tiếng kêu khẽ, chốc chốc lại rống to lên như còi tàu - băng mình qua màn tuyết cắm cúi bước đi không ngơi nghỉ...

Edigej bực mình khi thấy đường về nhà hôm nay sao xa xôi thế: Anh thầm mong cho chóng đến nhà, vì hình dung được cảnh ở nhà đang cuống lên, không rõ anh gặp chuyện gì giữa đường. Ukubala chắc đang đứng ngồi không yên, nhưng không nói thành lời đấy thôi. Chị không phải là loại đàn bà lúc nào cũng bô bô những điều đang nghĩ trong lòng. Không khéo cả Zaripa cũng đang nghĩ: chắc anh gặp chuyện rủi ro gì chăng? Nghĩ, dĩ nhiên là cô ấy có nghĩ đến anh.

Nhưng cô ấy không nói ra miệng, cố tìm cách tránh mặt anh và tránh cả các cuộc trò chuyện tay đôi với anh. Thực ra, tránh mặt đâu có gì xấu? Ngay đến anh còn không dám để lộ ra ngoài một lời nói, một cử chỉ nào, khiến người ngoài có thể nghĩ khác về anh. Trước sao, nay vẫn vậy. Họ chỉ như hai người bạn đồng hành vừa chợt nhìn thấy nhau... Rồi, đường ai nấy đi. Thế thôi. Phải cư xử như thế, anh thấy khổ tâm vô cùng. Nhưng cái số anh nó thế - ngay từ lúc lọt lòng mẹ đã bị đóng vào giữa trán một lời nguyền: từ nay, mày phải lâm vào tình thế lưỡng đao, tiến thoái lưỡng nan! Phận anh nó đã thế, đành cắn răng chịu, dù cay đắng, đau khổ bao nhiêu đi nữa cũng đừng hé răng, đừng làm cho bất kỳ ai phải lo lắng!

Hơn nữa, anh cũng chẳng còn bé bỏng gì. Anh biết nên cư xử thế nào cho phải đạo, thì hãy cứ tự đứng ra mà gỡ lấy cái nút đang ngày một thít chặt do lầm lỗi của chính mình gây nên...

Những ý nghĩ thật đáng sợ, nặng nề và bế tắc. Mùa đông đã đến với Sarozek kia rồi. Riêng anh vẫn chẳng thay đổi, vẫn không thể quên được Zaripa, mà cũng không hề chối bỏ Ukubala, dù chỉ trong ý nghĩ. Khốn khổ thay, cùng lúc, anh vẫn cần cả hai người phụ nữ ấy, và cả hai chắc đều nhìn thấy và hiểu hết, nhưng vẫn chẳng hề làm gì để giúp anh sớm có quyết định dứt khoát. Bề ngoài, mọi cái vẫn diễn ra bình thường - hai người vẫn xử tốt với nhau, lũ trẻ hai nhà vẫn như con cùng cha cùng mẹ, cùng lớn khôn thêm tại cái ga xép, cùng vui chơi với nhau, vẫn chạy đi chạy về, khi thì nhà này, khi thì nhà kia... Cảnh ấy đã diễn ra suốt cả mùa hè, suốt cả mùa thu...

Edigej-Bão Tuyết thấy mình côi cút đến tội nghiệp trong cảnh cô đơn, giữa ngày tuyết xuống. Bốn bề trắng xóa một màu, vắng lặng. Con Karanar chốc chốc hất đầu rũ những cục tuyết lớn bám trên trán, rống những hơi dài, phá tan bầu không khí tĩnh mịch của thảo nguyên, giữa lúc chủ nó đang nẫu ruột nẫu gan. Edigej chẳng còn biết xoay trở ra sao và không sao dẹp được nỗi bồn chồn đang giày vò mình, cũng không biết trông cậy vào ai, vào một cái gì chắc chắn và vững chãi cả. Anh không thể thổ lộ chân thành mọi chuyện với Zaripa, mà cũng không thể chối bỏ Ukubala được. Thế là anh đâm cáu với chính mình, tự mắng nhiếc mình thậm tệ: "Đồ súc sinh! Mày là người, mà chẳng hơn gì con lạc đà của mày cả! Đồ chó chết! Quân đần độn!"

Anh cứ tự sỉ vả nặng lời, hành hạ mình, nhục mạ mình như thế, để may ra đầu óc bớt mê muội, để tĩnh trí lại, biết suy xét thấu đáo hơn, khỏi phải dại dột dấn sâu thêm nữa... Nhưng vẫn chẳng ăn thua gì... Anh thấy mình như khối đá lớn đã đứt chân, sắp sửa trượt dài... Niềm vui độc nhất đang đợi anh ở phía trước là hai đứa bé. Cả hai đều thật bụng đón nhận anh một cách vô điều kiện, đúng như anh đang có, và không đặt ra trước vấn đề gì đặc biệt. Giúp chuyên chở gạo nước, lo liệu công việc gia đình - mọi việc, bao giờ anh cũng sẵn sàng cáng đáng và lòng đầy thích thú, hệt như lúc này anh đang chở về cho mấy mẹ con họ một bao khoai tây nặng trên lưng con Karanar đây, để cả nhà có cái ăn trong những ngày đông tháng giá. Cả than củi, anh cũng đã lo dự trữ trước rồi...

Nghĩ về hai thằng bé, đối với Edigej là nghĩ về chỗ tựa của mình, vì chỉ ở đó, anh mới thấy lòng hoàn toàn thanh thản. Anh hình dung trước mắt cảnh về đến Boranly-Bão Tuyết. Chỉ mới hay tin, hai đứa bé đã ùa ra đón, tranh nhau chạy tới trước, chẳng kể giá tuyết, rồi vừa nhảy vòng quanh, vừa reo hò: Bác Edigej đã về! Cưỡi con Karanar! Đem về cả khoai tây nữa! - Anh nghiêm nghị và đĩnh đạc quát bảo con Karanar quỳ xuống đất, mà chắc hẳn tuyết cũng đã phủ kín, rồi bước xuống, phủi tuyết bám trên người, và tuy bận tíu tít, anh cũng cố đưa tay xoa đầu hai đứa bé. Anh giỏ hàng, lôi mấy bao khoai ra, trong khi vẫn đưa mắt nhìn quanh, xem Zaripa có hiện ra trước cửa không, nếu cô có ở nhà. Và anh sẽ chẳng nói một câu nào khác thường - cả Zaripa cũng vậy. Anh chỉ mong được nhìn vào đôi mắt cô, thế cũng đã đủ mãn nguyện. Đoạn, anh lại lúi húi vào hai cái giỏ thồ, mở mở buộc buộc, lóng ngóng vì chẳng biết làm gì hơn. Còn hai đứa trẻ cũng đứng xớ rớ bên cạnh, khiến anh lấn bấn tay chân, vì chốc chốc chúng lại hoảng hốt ôm choàng lấy anh, sợ hãi tiếng rống hùng dũng của con Karanar. Và khi đã dẹp được nỗi sợ hãi, chúng lại cố tìm cách giúp anh. Những cử chỉ ấy anh thấy như một phần thưởng đền bù cho nỗi vất vả, khó nhọc mà anh vừa nếm trải...

Edigej cũng dự liệu sẵn trong trí cho cuộc gặp gỡ sắp tới với hai thằng bé nhà Abutalip. Lần này, anh sẽ kể gì đây cho hai thính giả tí hon khát chuyện, như anh vẫn quen gọi? Lại chuyện biển Aral ư? Những câu chuyện chúng ưa thích nhất là những biến cố trên mặt biển, khi nghe xong, chúng thường thêm thắt tình tiết, nhất thiết phải liên quan đến bố, và tuy vô tình, chúng vẫn giữ lại mãi trong tâm trí khó phai nhòa mối liên hệ giữa chúng với người cha đã đi xa, và những kỷ niệm về cha... Hơn nữa, hết thảy những gì Edigej biết và được nghe kể về cuộc sống của biển khơi trên biển khơi, anh đều kể hết và đã kể đi kể lại không biết bao nhiêu bận, trừ câu chuyện về chú cá chiên vàng. Nhưng không lẽ lại đi kể chuyện đó? Ngoài anh, là người trong cuộc ra, liệu còn ai đủ sức cắt nghĩa những gì ẩn giấu đằng sau cái biến cố ngày xưa ấy?

Đó là hết thảy những gì đã xảy ra trong tâm trí Edigej vào hôm anh gặp tuyết sa trên đường về. Suốt dọc đường, đầu óc anh không lúc nào dứt được những nỗi ngờ vực, những ý nghĩ nặng nề ấy... Suốt dọc đường, tuyết vẫn rơi triền miên...

Tuyết vừa xuống, mùa đông cũng tràn về miền Sarozek, mang theo cả giá lạnh buổi đầu.

Những cơn băng giá đầu mùa ấy vừa kéo đến, con Karanar-Bão Tuyết cũng bắt đầu nổi máu điên. Nó lồng lộn bởi những cơn điên dữ dội, quen thuộc trong thời kỳ động hớn, mà không một thứ gì, mà không một ai có thể dập tắt nổi. Trong thời kỳ đó, ngay cả chủ nó cũng đành bó tay ngồi nhìn...

Tuyết xuống được ba hôm, một đợt gió lạnh tràn qua Sarozek và một màn sương muối dày đặc tức thì giăng kín khắp thảo nguyên. Tiếng bước chân giẫm lên mặt tuyết vang rất xa và nghe rõ mồn một. Mọi âm thanh, tiếng động, dù khẽ đến mấy, cũng âm vang rõ rệt lạ thường. Những chuyến tàu lăn bánh cách xa hàng mấy cây số, cũng được nghe rõ. Hôm ấy, trời vừa mới sáng, giữa lúc mắt nhắm mắt mở, Edigej đã nghe tiếng rống như còi cùng tiếng dẫm chân thình thịch và tiếng nghiến răng trèo trẹo của con Karanar-Bão Tuyết trong chuồng, mé sau nhà. Anh hiểu ngay tai họa lại sắp giáng xuống đàn gia súc trong vùng rồi. Anh vội vàng mặc quần áo, bước vội, dò dẫm trong bóng tối, lần đến chuồng gia súc, rồi vừa hớp từng ngụm không khí giá buốt như muốn xé toang hai lá phổi, anh quát:

- Mày gớm thật nhỉ? Sao, sắp đến ngày tận thế rồi ư? Lại lên cơn điên chứ gì? Lại đòi uống máu tao đây chắc! Đồ súc sinh! Câm mồm đi! Câm ngay, tao bảo đấy! Sao năm nay giở trò sớm thế? Mày tính bôi tro trát trấu vào mặt tao trước thiên hạ một phen nữa đấy à?

Nhưng những lời anh nói như nước đổ đầu vịt. Điên lên bởi những dục vọng tự nhiên vừa tỉnh thức, con lạc đà đã bỏ ngoài tai những lời chủ mắng. Nó đòi bằng được cái nó muốn, nó gào rống, nó thở phì phì, nó nghiến răng dọa dẫm, nó phá chuồng.

- À, thì ra mày động hớn? - ông chủ đổi giận quay sang trách móc - Thôi, rõ rồi, mày đòi chạy ngay đến với bầy. Mày đánh hơi được một ả kajmancha[16] ưng ý nào đấy! Xì xì! Chẳng hiểu sao ông trời lại xui khiến cái giống lạc đà chúng mày năm nào cũng ầm ĩ lên một bận về cái chuyện mà thiên hạ vốn có thể làm nó hằng ngày một cách êm thấm và kín đáo? Thật chẳng còn ra cái thể thống gì nữa! Không, đúng là đến ngày tận thế thật rồi!...

Edigej-Bão Tuyết nói chiếu lệ thôi để nguôi cơn giận đang bừng bừng trong người, chứ biết mười mươi là mình đành bó tay, chịu thua con vật. Anh ngao ngán, bất lực, đưa tay ra mở cửa chuồng, chứ còn biết làm gì khác nữa. Anh chưa kịp đẩy sang một bên cánh cửa nặng trịch, cao bằng tầm người do những súc gỗ ghép lại, to như bắp tay, được néo chặt vào cột chuồng bằng dây xích con, Karanar đã lao ra, suýt hất chủ ngã dụi, rồi cắm đầu cắm cổ chạy về hướng thảo nguyên, miệng rống vang cuồng nộ, chân sải dài, làm rung chuyển cả hai cái bướu đen nhô cao trên lưng. Trong chớp mắt nó đã mất hút, để lại sau lưng một đám bụi tuyết trắng xóa bốc cao.

- Mặc xác mày! - Edigej nhổ một bãi nước bọt theo sau con vật và nói thêm, giọng thực thà: - chạy đi, chạy đi, thằng ngốc, kẻo lại muộn mất!

Sáng hôm sau anh phải đi làm sớm. Vì thế, anh đành bấm bụng làm ngơ chuyện nổi loạn của con Karanar. Phải chi anh biết cơ sự sẽ đi đến đâu, thì dẫu trời có ra lệnh đi nữa, chưa chắc anh đã dám thả con vật ra. Nhưng anh mà vắng nhà, còn biết lấy ai cho con quỷ dữ đang lên cơn thịnh nộ kia vào khuôn vào phép? Thôi thì dù gì chăng nữa cũng cứ thả nó ra. Edigej hy vọng là được thả, nó đỡ cuồng chân, máu nóng trong người nguội bớt, cơn điên kia hẳn cũng sẽ dịu xuống...

Nhưng ngay trưa hôm đó, bác Kazangap đã ghé đến cười thông cảm, ôn tồn bảo anh:

- Chà, chuyến này không khéo chú bị lôi thôi to rồi. Tôi vừa ở bãi chăn về. Con Karanar nhà chú, đúng như tôi dự đoán, đã lên đường làm một chuyến viễn du mất rồi. Các ả kajmancha ở đây nhỏ con quá, không ngon mắt nó.

- Nhưng nó đi đâu kia chứ? Đừng giễu tôi nữa, bác nói thật đi.

- Chứ lại chả thật sao? Tôi vừa bảo chú đây: nó đi tìm đàn khác. Chắc nó đánh hơi thấy một cô ả nào đó. Chú cứ ra mà xem cớ sự ở chỗ bầy gia súc nhà mình... Có điều nhớ mang theo một cái gậy rõ to vào, hễ thấy có con gì chạy trên thảo nguyên, làm rung trời chuyển đất thì đó chính là Karanar. Khiếp, mắt nó long lên sòng sọc, miệng rống như bị chọc tiết, sùi bọt mồm bọt mép. Mà cứ thở hồng hộc như một cái đầu máy xe lửa ấy. Bụi tuyết mù lên như đang nổi bão vậy. Tôi e nó xéo bẹp chú mất. Hồi nãy, nó chạy ngang qua mặt tôi mà cứ như chạy giữa đất trống, chẳng buồn để ý ai đang ở trước mặt. Nó chạy về hướng Malakumdychap. Đàn gia súc thả dưới lòng khe bên ấy đông hơn bên ta. Nó chán cảnh nhà lắm rồi. Bây giờ nó đang cần nới rộng phạm vi hoạt động mà. Sức lực của nó bằng cả một bầy ấy chứ!

Edigej ruột rối tơ vò. Anh hình dung được bao chuyện lôi thôi, bao điều khó chịu đang chờ đợi mình.

Kazangap thấy thế liền an ủi bạn:

- Đừng lo, rồi đâu sẽ vào đấy cả thôi. Sang bên ấy, thế nào nó cũng chạm trán với những tay sừng sỏ, bị chúng dần cho một trận, lại mang đầu về như con chó no đòn, chẳng còn biết chui vào đâu mà tránh nữa ấy.

Quả nhiên, hôm sau tin tức từ các nơi dồn dập đổ về, y như ngoài mặt trận thông báo về những cuộc đụng độ của Karanar-Bão Tuyết với các địch thủ. Nhưng nghe thôi cũng đủ phát rầu. Hễ có chuyến tầu nào dừng lại tại Boranly-Bão Tuyết là y như rằng cánh lái tàu, hoặc thợ đốt lò, hoặc nhân viên kiểm soát vé đã thi nhau mạnh ai nấy kể về những trò càn dỡ và cuộc tàn sát mà con Karanar đã gây nên trong các đàn lạc đà chăn thả quanh các ga chính cũng như ga xép trên tuyến đường vắt qua Sarozek. Họ kể rằng: tại ga xép Malakumdychap, con Karanar đã đánh bại hai con lạc đà đực, rồi xua ra thảo nguyên bốn con lạc đà cái, khiến chủ của chúng phải chật vật lắm mới giải thoát được mấy con vật tội nghiệp kia khỏi nanh vuốt con Karanar. Họ phải lôi cả súng săn ra bắn chỉ thiên dọa nó. Tại một chỗ khác, nó đã hất tung xuống đất một người chủ đang vắt vẻo trên lưng con lạc đà cái. Ông chủ thôn lồm cồm bò dậy, rồi cứ ngồi đó chờ suốt hai tiếng đồng hồ, yên chí rằng nô giỡn thỏa thích xong, con quỷ dữ kia sẽ buông tha cho con lạc đà cái của ông ta. Ai ngờ con vật trung thành của ông hoàn toàn chẳng màng gì đến chuyện chia tay với cái tên xấc láo ấy. Đến khi ông mon men lại gần con lạc đà cái, tính lôi nó về nhà, con Karanar lập tức nhảy xổ vào ông, cư xử với ông khác nào một kẻ tình địch: nó đuổi ông chạy dài, suýt giẫm bẹp ông dưới vó nếu không mau chân nhảy xuống nấp dưới một cái hố sâu, như một con chuột nhắt. Mãi sau, khi đã hoàn hồn, ông mới nhẩy lên, men theo một bờ khe, lủi vội ra khỏi chỗ đã gặp con Karanar ban nãy, rồi vắt chân lên cổ chạy về nhà, bụng mừng thầm vừa thoát chết.

Qua đường dây điện thoại mồm của vùng Sarozek ấy, Edigej còn nhận được nhiều tin tức tương tự khác về cuộc chinh phạt cuồng loạn của con Karanar. Nhưng tin tức đáng lo và khủng khiếp nhất là thư gửi từ ga xép Ak-Mojnak đến. Trời, thì ra con quỷ dữ ấy đã dẫn xác đến mãi tận ga Ak-Mojnak, quá Kumbel đến cả chục dặm đường! Người gửi thư là một anh Kospan nào đó. Đây là những gì được viết trong bức thư đáng nhớ ấy:

"Salem, anh Edigej kính mến! Dù anh là một người danh tiếng khắp vùng Sarozek này, nhưng anh cũng phải gắng mà nghe những điều khó chịu sắp kể ở đây. Tôi luôn nghĩ rằng anh là một trang nam nhi từng trải. Đã thế, sao anh dám để mặc cho cái tên đạo tặc Karanar kia lộng hành? Chúng tôi thật không ngờ anh lại cư xử như vậy đấy. Nó đã khiến cả làng chúng tôi phải một phen khiếp vía. Nó đã làm què quặt mấy con lạc đà đực của chúng tôi, để đoạt lấy ba con cái tốt nhất. Khổ nỗi, nó không chỉ đến một mình mà còn lôi theo một con lạc đà cái nữa, chẳng biết của nhà ai, lưng còn đóng yên. Trông qua cũng đủ biết tên đạo tặc kia đã hất chủ của con lạc đà cái này xuống dọc đường. Chứ vạ gì nó lại phải tha theo cả yên cương trên lưng như vậy! Thế đấy. Đoạt được mấy con lạc đà cái kia xong, nó lùa cả ba ra thảo nguyên và không còn để cho ai đến gần. Tình cảnh chúng tôi anh biết thế nào không? Một con lạc đà đực tơ đã tắt thở. Cả một dãy xương sườn của nó đều bị gãy tiệt. Tôi đã nổ phát súng chỉ thiên dọa nó, để lôi mấy con lạc đà cái của chúng tôi về. Nhưng nào có ăn thua! Nó cóc sợ. Nó sẵn sàng cắn chết tươi bất kỳ ai! Chúng tôi chỉ còn biết thây kệ nó muốn ngang dọc thế nào, tùy thích. Ăn không, uống cũng không. Suốt ngày, nó chỉ quần mấy con lạc đà cái, khiến mặt đất cứ rung chuyển cả lên. Nhìn những trò nỡm của nó mà phát kinh. Đã thế, nó còn rống dậy trời dậy đất, như thể sắp đến giờ tận thế. Thật chẳng thiếu trò gì! Tôi bó tay chịu thua, vì xem chừng nó còn có thể giở cái trò nỡm này ra suốt cả trăm năm liền vẫn chưa thấy chán. Từ thuở cha sinh mẹ đẻ đến giờ, tôi mới thấy lần này là một. Cả làng chúng tôi, không ai là không lo lắng. Đàn bà, trẻ con, không ai dám bước ra khỏi nhà. Vì thế, tôi yêu cầu anh đến ngay cho, để lôi con Karanar nhà anh về. Tôi cho anh một thời gian để anh thu xếp. Quá hạn ấy mà không thấy anh đến để giải thoát cho chúng tôi khỏi tai họa nói trên, thì chớ trách chúng tôi, anh Edigej kính mến nhé! Khẩu súng nòng dài ở nhà tôi đã lên đạn sẵn. Đến gấu cũng kiềng những viên đạn này. Tôi sẽ nã nát nhừ cái sọ đáng ghét của nó trước sự chứng kiến của mọi người, thế là xong. Bộ da của nó, tôi sẽ gửi tàu hàng, nhờ chuyển lại cho anh sau. Anh đừng hòng nhìn thấy lại con Karanar-Bão Tuyết nữa. Tôi là người nói sao, làm vậy. Anh đến ngay đi, khi còn chưa muộn.

Ini[17] của anh ở Ak-Mojnak.

Kospan

Sự thể đã đến nông nỗi ấy. Lá thư, tuy văn vẻ kỳ quặc, nhưng lời cảnh cáo trong ấy lại hết sức nghiêm túc. Edigej tìm gặp ngay Kazangap để nhờ khuyên bảo. Cả hai quyết định là Edigej phải lên đường gấp, kịp đến ga Ak-Mojnak ngay chiều hôm ấy. Nói dễ, làm chẳng dễ. Phải đến gấp Ak-Mojnak, tóm lấy con Karanar ngay ngoài thảo nguyên, rồi trở về giữa giá lạnh và bão tuyết có thể ập đến bất cứ lúc nào, thật không gì cực bằng! Tốt nhất là mặc cho ấm, rồi nhảy lên tàu hàng quá giang, còn lúc về thì cưỡi con lạc đà. Khốn nỗi chưa biết cái con quỷ sống ấy đã đưa mấy ả cung phi sủng ái của nó ra tận mãi đâu trên thảo nguyên. Qua giọng thư, dân làng Ak-Mojnak có thể đã phẫn nộ đến mức không rời mắt khỏi con Karanar, dù có phải lặn lội đuổi theo nó trong băng tuyết tận đồng đất xứ người.

Sáng hôm sau, Edigej vội vã lên đường. Ukubala không quên gói theo cho anh mấy thứ bánh trái ăn đường. Anh mặc thật ấm. Bên ngoài chiếc quần bông chần kỹ và chiếc áo len mặc lót, anh choàng thêm cả chiếc áo chẽn lông cừu. Dưới chân tùm hụp đôi giày ống, trên đầu chiếc mũ malakhaj ba múi bằng lông cáo che gió hai bên tai lẫn sau gáy và trên cổ là chiếc khăn quàng bằng lông thú. Hai tay bọc kín trong đôi bao tay lông cừu. Thế là đầu, cổ, tay, chân, tất cả đều được ủ ấm bằng lông thú. Khi Edigej đang lúi húi đóng yên con lạc đà cái anh định dùng để đến Ak-Mojnak, cả hai thằng bé nhà Abutalip vội vàng chạy đến bên anh. Thằng Daul trao cho anh chiếc phu-la len, tự tay mẹ nó đan, nhạnh nhảu nói:

- Bác Edigej ạ, mẹ cháu bảo bác quàng thêm cái này cho ấm cổ.

- Cổ à? Phải nói là ấm ngực chứ!

Edigej hởi lòng hởi dạ ôm hai đứa bé vào lòng hôn, xúc động đến không nói nên lời. Anh mừng rơn như đứa trẻ. Đây là dấu hiệu đầu tiên về sự quan tâm của Zaripa đối với anh.

- Bảo với mẹ - anh nói với hai anh em - Bác sẽ về ngay đấy. Nhờ trời, chỉ đến tối mai là cùng. Bác sẽ chẳng nấn ná một chút nào đâu. Chỉ đến mai bác cháu ta sẽ lại gặp nhau và cùng ngồi uống trà bên nhau thôi.

Edigej-Bão Tuyết muốn đến làng Ak-Mojnak rủi ro kia ngay và quay về sớm, để chóng gặp lại Zaripa, nhìn thẳng vào mắt cô, để biết rằng chiếc phu-la len mà anh đã rất cẩn thận, cất ngay vào tận túi trong chiếc áo ấm đang mặc này, không phải là một lời ngỏ ý tình cờ. Lúc vừa bước chân ra và cả lúc đã đi xa lắm rồi, anh đã phải cố kìm giữ lắm mới khỏi quay gót trở lại, phó cho trời số phận con Karanar đang phát cuồng, mặc cho anh chang Kospan nào đó muốn bắn, muốn giết, muốn lột da nó thế nào tùy ý. Rốt cuộc, càng đỡ mất công chăn dắt cái của nợ hung hăng, gàn dở ấy - mặc cho trời trừng phạt nó. Mặc xác nó! Đáng kiếp! Nhưng rồi anh tự thấy hổ thẹn với lương tâm. Anh hiểu ngay rằng anh sẽ lố bịch, sẽ mang nhục với thiện hạ, mà trước tiên là với Ukubala, và cả với Zaripa nữa. Và lòng anh nguôi ngoai dần. Anh tự thuyết phục mình: chỉ còn một cách để nguôi bớt nỗi bồn chồn - đó là cố đi cho chóng, để còn sớm trở về.

Nghĩ thế, anh thúc con vật rảo bước. Trời khá lạnh. Gió thổi riết róng, tới tấp tạt vào mắt anh những hạt móc buốt giá. Chiếc mũ lông cáo trên đầu chẳng mấy chốc tuyết đã phủ dày. Hơi thở con lạc đà cái sắc nâu vừa ra khỏi mũi đã biến ngay thành những hạt tuyết mịn, đáp lên lông nó, khiến từ cổ đến u trên lưng con vật cũng trắng xóa những tuyết là tuyết. Mùa đông đang tác oai tác quái. Bốn phía chân trời lờ mờ hơi sương. Màn sương đục ấy cứ dịch chuyển trước mắt anh theo từng bước chân. Nhưng hễ anh bước tới gần, nó càng lùi xa. Mùa đông, Sarozek vắng lặng, buồn tẻ, trắng xóa một màu.

Con lạc đà tơ đẹp mã, anh đang cưỡi, vẫn mải miết sải nước kiệu. Nhưng Edigej cảm thấy như nó đang đứng yên một chỗ. Giá là con Karanar, anh sẽ chẳng chịu để thế này. Càng thở dốc, nó càng bước nhanh - khó có con nào theo kịp. Chẳng phải vô cớ mà các cụ ta ngày xưa có câu hát:

"Ngựa hay - hay ở nước phi,

Trai khôn - khôn trí xét suy hơn người...".

Đường xa tít tắp, phải thui thủi một mình. Edigej hẳn phải uể oải lắm. Nếu anh không có trên người chiếc phu-la bé bỏng mà Zaripa vừa tặng. Suốt dọc đường, anh luôn cảm nhận được sự có mặt của tặng vật tưởng chừng nhỏ nhặt kia. Anh đã sống bằng này tuổi đầu, nhưng anh không ngờ được rằng những món quà bé mọn kiểu ấy lại có thể sưởi ấm được cả một con tim, nếu đó là tặng vật của một người phụ nữ mà mình yêu dấu. Suốt dọc đường anh đã được sưởi ấm thêm bởi ý nghĩ ấy. Chốc chốc, anh lại cho tay vào túi áo vuốt ve chiếc khăn len, sung sướng mỉm cười. Nhưng rồi anh nghĩ lại. Rồi sẽ ra sao? Đời anh mai kia rồi sẽ thế nào? Trước mặt anh là một ngõ cụt tối tăm. Sẽ thế nào đây? Phàm sống là phải sống với cảm thức rõ ràng về mục tiêu trước mắt và con đường dẫn đến mục tiêu ấy. Đằng này cả hai thứ, anh đều chẳng có.

Và cái viễn cảnh trước mắt Edigej, chẳng khác gì chân trời vắng lặng miền Sarozek mờ mờ trong sương. Edigej không tìm được lời giải đáp, anh khắc khoải, buồn rầu, nhụt chí, rồi đành tự an ủi mình bằng những ước mơ tuyệt vọng...

Anh chợt cảm thấy, thực sự khủng khiếp trước cảnh vắng vẻ cô dơn lúc này. Vì lẽ gì mà đời anh lại đến nông nỗi ấy? Anh đến làm gì cái đất Sarozek này? Cái gia đình bất hạnh, bị số phận xua đuổi kia, đến ga xép Boranly-Bão Tuyết này làm gì? Giá không có tất cả những chuyện đó - anh đâu đến nỗi khổ sở thế này, anh sẽ sống yên ấm, no đủ và thoải mái biết bao - Nhưng không, lòng anh như con ngựa bất kham, nó ao ước điều mà nó không thể có được... Hoặc như con Karanar đang nổi loạn kia, nó cũng tự chuốc lấy gánh nặng, cũng bị số phận trừng phạt, Cũng đầy hẩm hiu. Không, quả thế thực. Đời anh chỉ gặp toàn những rủi ro, bất hạnh.

Edigej đến được Ak-Mojnak lúc trời đang còn chạng vạng. Con lạc đà cái mệt nhừ ngay từ lúc đang còn trên đường đi. Vì đường sá xa xôi, lại đúng vào giữa ngày đông tháng giá.

Ak-Mojnak cũng là một ga xép như Boranly-Bão Tuyết. Chỉ khác là ở đây khỏi lo chuyện nước nôi vì đã có một cái giếng tự đào. Ngoài ra, chẳng có một nét đặc sắc nào khác - cũng vẫn là đồng đất Sarozek khắc nghiệt.

Lúc sắp đến ga Ak-Mojnak, gặp một cậu bé ở mép đường tàu, Edigej hỏi thăm nhà Kospart. Cậu bé đáp: chú Kospan giờ này đang đi làm, hôm nay có phiên trực ngoài ga. Edigej tức tốc đến ngay đó. Tới gần phòng trực ban, anh tính hỏi thăm, thì ngay trước thềm đã xuất hiện một người đàn ông tầm thước, trông rất lanh lợi, khôn ngoan, vai khoác chiếc áo chẽn lông ngắn cũn cỡn như mượn của ai, đôi giày ống vẹt gót, chiếc mũ lông cũ kỹ đội lệch.

- A-a, anh Edigej! Người anh em thân thiết ở ga Bão Tuyết của tôi! - Anh ta nhận ra Edigej ngay, thế là anh đã đến. Khiếp, chúng tôi mong anh quá đi mất. Ở đây, người đoán anh đến, kẻ lại đoán không.

- Thì cứ thử không đến xem - Edigej cười xòa - khi nhận được tối hậu thư anh gửi.

- Anh tính, còn biết làm sao được nữa! Này, nhưng thư chỉ mới kể có một nửa tai họa thôi đấy, anh Edigej ạ. Giấy bút đâu viết cho hết được. Anh mà không giải thoát sớm giúp chúng tôi cái nạn do con quỷ Karanar kia gây nên, chúng tôi đến phải sống trong cảnh bị vây hãm mất thôi. Chẳng một ai dám ló mặt ra thảo nguyên. Nhác thấy bóng người, con quỷ đã phóng tới như điên, chỉ chực ăn tươi nuốt sống người ta ngay tức khắc! Đúng là đồ quỷ sống! Nuốt phải cái của nợ ấy, đáng sợ thật - Anh bỗng nín thinh, ngước nhìn Edigej đang vắt vẻo trên lưng lạc đà, nói thêm: - Không biết rồi anh tính dùng ngón gì mà trị nó, chứ trần hai tay không thế kia chả nước non gì đâu.

- Sao lại tay không? Khí giới tôi đây này - Edigej lôi từ trong giỏ ra ngọn roi da bện, quấn quanh cái cán rõ to.

- Có vậy thôi sao?

- Không lẽ lại phải lôi cả súng đại bác ra mà trị lạc đà?

- Khí giới thế kia, cáp vàng chúng tôi cũng chả dám. Chẳng biết nó có nhận ra được chủ không. Chỉ ngại lúc này mắt nó chẳng còn nom thấy gì nữa...

- Được, để rồi xem sao - Edigej đáp - Thôi, ta ra tay ngay, kẻo phí thời giờ. Chắc anh chính là người viết thư cho tôi phải không? Nếu quả đúng thế, xin anh chỉ giúp, nó hiện đang ở đâu. Mọi khoản khác cứ để mặc tôi.

- Đường hơi xa đấy - Kospan đưa mắt nhìn quanh, rồi xem đồng hồ - Thế này anh Edigej ạ, trời sắp tối rồi. Lần được đến nơi, e chẳng còn nom thấy gì nữa đâu. Đêm hôm, biết đằng nào mà lần? Thôi khoan hẵng đi. Những người như anh, dễ gì mời được đến nhà. Nhân tiện hôm này anh đến đây, xin ghé về đằng tôi cho biết cửa biết nhà. Sáng mai, nhất định tôi chả dám cản - anh muốn làm gì tùy ý.

Edigej không ngờ tình thế lại chuyển sang chiều hướng ấy. Anh tính thầm trong bụng là nếu trị được con Karanar xong, sẽ lên đường về Kumbel ngay đêm nay. Trọ thêm một tối, ở nhà người quen, rồi sáng mai ra đi sớm, về Boranly cho kịp. Thấy Edigej vẫn nôn nóng muốn đi bắt con Karanar, Kospan lại phản đối dứt khoát:

- Không, chả nên thế, anh Edigej ạ! Anh bỏ qua cho tôi về chuyện bức thư. Nhưng chẳng còn cách nào khác, cả làng mất ăn mất ngủ vì nó mà lại. Nhưng tôi không để cho anh đi đâu. Ngộ nhỡ đêm nay, nói dại mồm dại miệng, xảy ra chuyện gì ngoài thảo nguyên heo hút, rét mướt, tôi còn mặt mũi nào nhìn bà con Sarozek này nữa. Ở lại với tôi một tối, sáng mai, anh muốn làm gì tùy thích. Nhà tôi ngay kia thôi, ngôi nhà đầu cùng ấy. Tôi chỉ còn một tiếng rưỡi nữa là hết phiên trực. Anh cứ tự nhiên như ở nhà. Thay quần áo, rồi ngả lưng một lát. Còn con lạc đà này cứ thả vào chuồng. Rơm cỏ sẵn trong ấy. Nước nôi, chỗ chúng tôi tha hồ, tôi sẽ mở vòi cho chẩy mạnh thêm.

Ngày đông, trời chóng tối. Kospan và gia đình anh rất tốt bụng, cả bà mẹ già, vợ và đứa con lên năm (con bé lớn cũng đang theo học ở trường nội trú dưới ga Kumbel) lẫn Kospan đều lăng xăng lo dãi khách. Lò sưởi nóng rực, trong nhà ấm áp, dễ chịu. Dưới bếp, nồi súp đang sôi sùng sục trên lò. Chủ, khách quây quần bên ấm trà chờ bữa ăn dọn lên. Bà mẹ già tự tay chuyên nước ra mấy cái chén mời Edigej-Bão Tuyết và tíu tít hỏi han ông khách lạ về gia đình, con cái, về đời sống ở Boranly, về thời tiết, về lai lịch, quê hương bản quán. Rồi đến lượt mình, bà cụ bắt đầu kể cho Edigej nghe vì lẽ gì gia đình bà rời quê hương dọn đến Ak-Mojnak. Edigej hồ hởi trò chuyện, khen lấy khen để món bơ vàng ngậy mà anh đang phết lên bánh nóng và ăn ngon lành. Món bơ lấy từ sữa bò này vốn là của hiếm đối với dân Sarozek. Bơ lấy từ sữa cừu, sữa dê, sữa lạc đà, tuy ngon, nhưng không sao sánh kịp. Biết ra, chỗ bơ ấy do một người bà con của họ gửi tận Ural sang cho. Vừa ăn bánh phết bơ, Edigej vừa cam đoan với bà cụ là anh cảm nhận được cả hương cỏ thơm tho của những cánh đồng cỏ bên ấy trong món ăn này, khiến bà cụ càng khâm phục, đến nỗi bà cụ phải thú thực mình gốc người bên vùng ấy, và bắt đầu trìu mến kể về miền Ural thân thiết, về những đồng cỏ, những rừng cây, những sông suối quê nhà...

Câu chuyện đang vui thì ông trưởng ga Erlepes đến. Chính Kospan đã mời ông sang chơi, nhân dịp Edigej-Bão Tuyết ghé thăm. Từ lúc Erlepes tới, câu chuyện chuyển sang hướng khác. Chủ, khách bắt đầu bàn chuyện công tác ngoài ga, tình hình giao thông vận tải, chuyện tuyết giá làm nghẽn đường tàu... Erlepes và Edigej trước đã quen biết nhau ít nhiều, vì ông ta từng công tác lâu năm trong ngành đường sắt, nay tình thân giữa họ càng thêm bền chặt. Erlepes nhiều tuổi hơn Edigej. Ông giữ chức trưởng ga Ak-Mojnak từ dạo cuối chiến tranh, và xem ra rất được mọi người ở đây kính nể.

Ngoài cửa sổ, đêm đã xuống lâu rồi. Cũng như ở Boranly-Bão Tuyết, ngoài ga chốc chốc lại ầm ầm lao qua một đoàn tàu, khiến kính cửa sổ rung lên. Gió rít dài qua khe cửa. Nhưng đây dẫu sao vẫn là một nơi xa lạ, mặc dù nó vẫn nằm trên cùng đường sắt bắc ngang Sarozek. Ở đây, anh là khách, mặc dù anh đến đây vì những chuyện lôi thôi do con Karanar điên dại gây nên, nhưng anh vẫn được đón tiếp rất mực ân cần.

Từ lúc ông Erlepes ghé vào, Edigej cảm thấy mình lại được đặt đúng vào cương vị cũ. Anh rất am hiểu về lịch sử dân Kazak, nên câu chuyện chẳng mấy chốc đã hướng về thời xa xưa, về những danh nhân, về những truyền thuyết nổi tiếng của dân tộc ấy. Tối hôm đó, Edigej thấy rất có thiện cảm với những người bạn mới ở ga Ak-Mojnak. Mối thiện cảm ấy chẳng những do câu chuyện thân tình, mà còn do những người chủ nhà tính tình xởi lởi và một phần không nhỏ là do bữa cơm thết khách rất ngon, cùng mấy cốc rượu nồng ấm áp. Vì dầm mình giữa trời lạnh suốt ngày và ngấm nỗi nhọc mệt lúc đi đường, nên mới nhấm nháp lưng cốc vốt-ca, với mấy lát mỡ lạc đà to muối mặn, sấy khô, đặt trên chiếc khay tròn chân thấp, Edigej đã thấy người lâng lâng, dễ chịu lạ thường. Chẳng mấy chốc, anh đã ngà ngà say, đâm bốc hẳn lên và mỉm cười luôn miệng. Erlepes cũng tự cho phép mình nhấm nháp chút đỉnh để mừng khách và cũng đã hơi chuếnh choáng. Vì thế, ông quay sang Kospan, bảo khẽ:

- Kospan, anh làm ơn mang giúp cây đàn dombra bên nhà sang đây giúp tôi nhé.

- Phải đấy - Edigej tán thưởng - Từ bé, tôi rất phục hết thảy những ai biết chơi đàn dombra.

- Ngón đàn của tôi chả điêu luyện lắm đâu, anh Edigej ạ, nhưng không lẽ anh đến mà chỉ mừng suông. - Erlepes đáp, rồi cởi phăng áo ngoài, xắn cao hai tay áo sơ-mi lên.

Khác với Kospan lanh lợi và hay chuyện, ông Erlepes rất đằm tính và ít nói. Mặt vuông chữ điền, dáng phốp pháp, người ông toát ra một vẻ đầy tự tin. Khi ôm cây đàn lên tay, vẻ mặt ông trở nên đăm chiêu, như thể chẳng còn bận tâm gì đến những chuyện hằng ngày. Một dáng điệu thường thấy mỗi khi con người ta chuẩn bị bộc lộ những nỗi lòng thiết tha thầm kín. Đổi lại thế ngồi cho ngay ngắn, Erlepes ngước nhìn Edigej hồi lâu. Trong đôi mắt ốc nhồi, to, đen và thông minh của ông, Edigej thấy ánh lên những tia lấp lánh như ánh mai trên mặt biển. Khi tay phải ông gảy nhẹ vào mấy sợi dây và bốn ngón tay dài, uyển chuyển bên bàn tay trái đưa nhanh trên chiếc cần đàn thon thả, khi lên cao, khi xuống thấp, khiến chùm hợp âm đầu liên ngân lên, đồng thời gắn nó ngay vào những chuỗi hòa âm mới, mà chốc nữa thôi, sẽ triển khai thành chủ đề chính của khúc nhạc và hào hiệp tuôn trào, Edigej-Bão Tuyết đã lập tức hiểu rằng điệu nhạc kia rồi sẽ xua tan đi trong lòng anh niềm thư thái hiện thời. Vì hóa ra anh chỉ mới nhãng quên trong chốc lát những gì trước đây, khi chủ khách thù tạc cùng nhau trong bữa tiệc mừng. Và những nhịp đàn đầu tiên kia đã đưa anh trở về với những nỗi niềm sâu lắng, gợi lại nơi anh những đau buồn da diết bất hạnh mới nảy sinh. Hẳn từ lâu rồi, những người soạn ra khúc nhạc kia đã biết rõ những gì sắp xảy đến với Edigej-Bão Tuyết, những nỗi cay cực và khổ đau nào số phận đã dành cho anh từ lúc mới cất tiếng khóc chào đời? Chứ làm thế nào họ lại có thể biết được những cảm xúc của anh, mà phổ vào tiếng đàn của ông Erlepes? Lòng Edigej dạt dào, sôi nổi, cất cánh bay cao và nức nở, rồi cùng lúc, mọi cánh cửa trên đời bỗng rộng mở - niềm vui, nỗi buồn, những suy tư, mong ước và ngờ vực mơ hồ chợt bừng thức...

Ngón đàn của Erlepes quả là thiện nghệ. Tiếng xưa bỗng sống dậy dạt dào trên những dây đàn, như củi khô gặp lửa, rực lên nhưng ánh vàng lộng lẫy. Trong giờ phút ấy, bàn tay Edigej chốc chốc lại vuốt ve âu yếm chiếc phu-la Zaripa trao tặng, anh triền miên nghĩ đến sự hiện hữu một người phụ nữ trên đời mà anh yêu dấu, mọi ý nghĩ về nàng, đối với anh là tất cả, hạnh phúc lẫn xót xa, vì anh không thể sống thiếu nàng. Và bởi lẽ ấy, anh sẽ yêu nàng mãi mãi, yêu một cách mù quáng, đắm say, bất tận... dù phải trả bằng bất cứ giá nào. Cây đàn trong tay Erlepes, khi khoan khi nhặt, về chính điều ấy với anh. Tiết tấu thay đổi, giai điệu này hòa quyện với giai điệu kia, lòng Edigej bồng bềnh như thuyền trên sóng. Anh lại mơ thấy biển Aral quê hương, lại nhớ về những dòng nước, không nhìn thấy bằng mắt, tuôn chảy dọc những bến bờ thân thuộc và chỉ có thể đón được hướng của chúng qua chiều nghiêng ngả của những nhánh rong dài như những áng tóc mượt mà thiếu nữ. Dạo ấy, tóc Ukubala buông dài quá gối, những lúc ngâm mình trong dòng nước biển, mái tóc Ukubala cũng tuôn dài như những ngọn rong xanh kia. Và Ukubala cất tiếng cười sung sướng, cô xinh đẹp biết bao với nước da bánh mật đen giòn.

Edigej-Bão Tuyết rạng rỡ hẳn lên, lòng bồi hồi xúc động, say sưa lắng nghe tiếng đàn dombra. Chỉ vì tiếng đàn ấy, anh đã phải lặn lội trên thảo nguyên Sarozek suốt một ngày trường, giữa mùa đông rét mướt. Edigej nghĩ bụng: "Kể cũng may, con Karanar lại bươn bả đến chốn này. Chính nó đã dừng lại ở đây và bắt mình phải tìm đến. Nhưng dù sao mình cũng đã được dịp thưởng thức tiếng đàn dombra tri kỷ trong chốc lát... Ông Erlepes này cừ khôi thật! Một nghệ sĩ thực thụ, chứ đâu phải đùa! Có điều mình không biết..."

Tiếng đàn Erlepés, kéo Edigej hồi tưởng lại quãng đời đã qua của mình, như một con ó cất cánh bay vút lên không trung, giang rộng cánh, lượn vòng trên thảo nguyên, một thân một mình giữa bầu trời lồng lộng nhìn xuống những gì đang diễn ra bên dưới. Còn cảnh miền đất Sarozek trong những ngày mùa đông đang bày ra trước mắt nó, ở đó, tại một đoạn đường cong bình dị của tuyến đường sắt bắc qua thảo nguyên, có một khóm nhà bé nhỏ quây quần bên nhau trong vài ba đốm lửa lập lòe: ga xép Boranly-Bão Tuyết. Tại đây, trong một nếp nhà nhỏ, có một người thiếu phụ tên Ukubala sống với mấy đứa con gái nhỏ... Lúc này, hai đứa bé hẳn đã yên giấc. Riêng Ukubala chắc còn thao thức. Chị đang nghĩ đến điều gì và lòng chị hẳn cũng đang nhắc nhở một điều gì chăng? Cạnh đó, trong một nếp nhà nhỏ khác, Zaripa đang sống với hai đứa con trai. Thiếu phụ trẻ chắc vẫn chưa ngủ. Lòng cô đang trĩu nặng, làm sao khác được? Trước mắt cô, bao nỗi chua xót đang chờ - hai đứa bé chưa biết gì về số phận của cha. Dù thế nào chăng nữa cũng không thể lẩn tránh được sự thật...

Trước mắt Edigej hiện rõ những chuyến tàu ầm ầm lướt qua vào giờ khuya khoắt ấy, tung tóe những đóm lửa lên không, để lại sau lưng cả một đám bụi tuyết dày, trong cảnh đêm tối, vắng lặng, mông lung vây tỏa bốn bề. Cách nơi anh đang ghé tới nghe đàn dombra một quãng khá xa, giữa thảo nguyên hoang vu không một ánh lửa, chìm trong tuyết lạnh và gió réo liên hồi là con Karanar điên dại đang mặc sức tung hoành. Nó chẳng thiết ngủ, cũng chẳng thiết gì sự yên tĩnh. Trời đất đã an bài như thế. Quanh năm tích lũy sức lực trong người, và mải miết cho hết rơm cỏ kiếm được vào mồm, nghiền chúng giữa hai quai hàm chắc khỏe, đưa đẩy liên miên không lúc nào ngừng nghỉ, rồi tống vội xuống dạ dày, để về sau, khi rơm cỏ đã hết, lại ợ ra đằng mồm những thức ăn thế kia, nghiền kỹ lại bận nữa, xong đâu đó mới nuốt trở vào bụng - một công việc mà lạc đà vẫn làm bất cứ lúc đi lúc đứng và cả trong giấc ngủ - để chắt lọc những gì béo bổ, tích lại nơi hai cái bướu trên lưng, bướu càng săn chắc, mỡ chứa càng nhiều, cơn dục càng khỏe, càng có nhiều sức lực để rong chơi trong những chuyến đi tìm bạn mùa đông. Lúc bấy giờ, con vật bất chấp hết - cả băng tuyết, cả giá rét, thậm chí cả chủ của nó nữa, kể chi với người ngoài. Nó trở nên hung hãn, cuồng dại, vì một sức mạnh bên trong không sao kềm giữ nổi, trở thành vị chúa tể tối thượng của hết thảy mọi thứ, của muôn vật, chẳng còn biết gì đến nhọc mệt, đến sợ hãi và bấy giờ đối với nó trên đời chẳng còn một thứ gì khác - cả ăn uống lẫn ngủ nghê - ngoài cái việc thỏa mãn nỗi khát khao không gì chế ngự nổi đang ngùn ngụt trong người. Nhưng muốn được thế, nó phải sống bình lặng suốt một năm ròng, phải tích tụ sức lực hết ngày này sang tháng khác. Để vào giờ này, khi Edigej-Bão Tuyết đang ngồi thù tạc thoải mái ở nhà bạn và sung sướng lắng nghe tiếng đàn dombra, thì ở đâu đó quanh đây, giữa đêm đen giá buốt, trên lớp tuyết trắng bạc như ánh trăng, con Karanar-Bão Tuyết lên cơn điên, lồng lộn theo tiếng gọi trung thành của giòng máu nóng trong người đang canh giữ những cô bạn tình đã lọt vào cặp mắt xanh bừng bừng lửa ghen của nó, không cho bất cứ ai, bất kỳ con thú nào, thậm chí cả chim chóc được lại gần, miệng nó rống vang không ngớt và rung tít chòm râu cằm đen nhẻm đáng sợ.

Cả những ý nghĩ ấy cũng hiện lên trong tâm trí Edigej khi nghe tiếng đàn dombra...

Điệu nhạc đưa ý nghĩ của anh thoát từ dĩ vãng về hiện tại, rồi lại thoắt từ hiện tại về với dĩ vãng. Đến những gì đang đợi anh vào sáng ngày mai. Một khát vọng chợt lóe lên - phải ngăn chặn, phải đẩy lùi những hiểm nguy đang đe dọa hết thảy những gì anh yêu quý, để không một ai lâm vào tình cảnh gay go, khốn đốn nữa. Và cái cảm giác mơ hồ về lỗi lầm của ai đó đối với hết thảy những người đã gắn bó với đời anh, đã khiến lòng anh trở nên buồn bã - một nỗi buồn thật bí ẩn.

- Chết chửa - ông Erlepes nói với Edigej, miệng mỉm cười tư lự, tay vẫn gảy nhẹ mấy sợi dây đàn, lúc này chỉ còn ngân nga khe khẽ, trọn mấy nhịp cuối cùng của điệu nhạc. - Phải để anh nghỉ ngơi tí chút chứ. Suốt ngày đã vất vả dọc đường, mà tôi còn bắt anh nghe mãi...

- Ồ, không đâu, anh Erleke ạ - Edigej bối rối thực lòng, chắp hai tay trước ngực - Trái lại, đã lâu lắm rồi chưa bao giờ tôi thấy lòng vui thích như thế này. Nếu anh không mệt, anh làm ơn gảy tiếp đi. Chơi nữa đi, anh Erleke ạ!

- Anh còn muốn nghe gì nữa nao?

- Khoản đó, anh rành hơn tôi, Erleke ạ. Nghệ sĩ tất phải biết điệu nào hợp với ngón đàn của chính mình. Dĩ nhiên, những điệu ngày xưa tôi thích hơn. Nghe những điệu ấy, chẳng hiểu sao tôi thấy lòng thích thú, đầu óc cứ như hát lên vậy.

Ông Erlepes tâm đắc gật đầu.

- Thì tôi với cậu Kospan đây cũng thế - ông trưởng ga cười hể hả, đưa mắt nhìn Kospan đang đắm mình trong lặng lẽ khác thường - Nghe tiếng dombra, ta như tan chảy ra, trở nên một con người khác hẳn. Có phải thế không Kospan? Nhưng hôm nay, ta có khách. Cậu đừng quên đấy. Uống với bọn này một tí cho vui đi.

- Tôi chỉ uống có thế, trong chốc lát thôi - Kospan hoạt bát hẳn lên và rót thêm cho mỗi người lưng chén rượu nữa.

Cả ba uống cạn chỗ rượu mới rót, nhắm thêm vài lát bánh. Một lúc sau, ông Erlepes lại cầm đàn lên, khẽ đập đập vào mấy sợi dây, xem có bị chùng không.

- Nếu anh thích nhạc cổ - ông quay sang Edigej - tôi sẽ mời anh thưởng thức một câu chuyện, Edigej ạ. Các cụ ta, nhiều người biết lắm, khéo kể cả anh nữa cũng nên. Với lại, bên anh có bác Kazangap, bác ta kể chuyện ấy rất hay. Có điều bác ta kể bằng lời, còn tôi, tôi kể bằng tiếng đàn, bằng lời hát. Anh sẽ được thấy cả một vở kịch đấy. Để mừng anh đến chơi, Edike ạ, Đó là chuyện: "Thư của Rajmaly gửi em trai là Abdilkhan".

Edigej gật đầu cảm ơn. Erlepes búng khẽ mấy sợi dây đàn, và bắt đầu đọc đoạn mở đầu của bài ca danh tiếng ấy. Tâm hồn u uất của Edigej lại lên tiếng nức nở, vì hết thảy những gì được kể trong câu chuyện xưa, đều khơi dậy trong anh những nỗi niềm buồn đau và thương cảm, "trông người lại nghĩ đến ta...".

Tiếng đàn ngân lên quyện theo giọng hát trầm bổng của ông Erlepes, một giọng hát rất hợp với câu chuyện buồn về số phận bi thảm của Rajmaly - một danh ca vùng thảo nguyên.

Hồi đó Rajmaly đã ngoài sáu mươi tuổi, ông bỗng đem lòng say mê Begimaj - một cô gái trẻ mới mười chín tuổi sống bằng nghề hát rong - người đã hiện lên trên bước đường đời nhà danh ca như một ngôi sao sáng. Thực ra, chính cô gái đã phải lòng Rajmaly. Và nàng là người tính tình phóng khoáng, có thể làm bất cứ điều gì mình ưa thích. Raimaly, vì thế, đã bị miệng thế chê cười. Từ đó đến nay câu chuyện tình ấy vẫn không ngớt bị người đời đàm tiếu. Nhưng không một ai có thể dửng dưng được. Có kẻ chê trách cách xử sự của Rajmaly và muốn mọi người phải quên đi tên tuổi nhà danh ca ấy. Có người xúc động, thông cảm với ông và truyền tụng mãi về nỗi buồn khôn nguôi ấy của ca sĩ, từ đời này sang đời khác, từ bộ tộc này sang bộ tộc kia. Câu chuyện tình của Rajmaly nhờ thế đã lưu truyền đến tận ngày nay. Và ở thời nào, Rajmaly cũng có người chê cười, kẻ ca ngợi.

Edigej chợt nhớ lại những lời sỉ vả và vẻ mặt giận dữ của gã mắt cú vọ trong buổi chiều hôm ấy, khi hắn tìm thấy giữa đống tài liệu của Abutalip Kuttybaev những trang ghi chép về bức thư của Rajmaly gửi người em trai Abdilkhan. Abutalip, trái lại, đã đánh giá rất cao câu chuyện, anh gọi đó là bản trường ca về thi hào Goethe của chốn thảo nguyên. Thì ra ở tận bên Đức cũng có một cụ già như thế: rất vĩ đại, rất thông thái, và cũng rất phải lòng một thiếu nữ trẻ măng, mới mười chín tuổi đầu. Abutalip đã ghi lại bài ca ấy qua lời kể của bác Kazangap, hy vọng rằng hai con anh sẽ được đọc nó, khi chúng trưởng thành. Abutalip bảo rằng ở đời thường vẫn có những cảnh ngộ, những con người mà về sau đã trở thành báu vật của cả mọi người, vì ý nghĩa của các bài học được kết tinh trong đó cực kỳ đắt giá, câu chuyện hàm chứa bao điều cao quí, những gì người ấy đã trải như lan tỏa sang hết thảy những ai từng sống cùng thời và cả những ai sẽ ra đời sau này, muộn màng hơn đến hàng thế kỷ.

Ngồi trước mặt Edigej, ông Erlepes đang say sưa vừa đệm đàn vừa hát. Với cương vị trưởng ga, phận sự của ông trước hết là cai quản cung đường sắt và điều hành các chuyến tàu qua lại. Vậy can chi ông phải ấp ủ trong lòng câu chuyện đau buồn thời xa xưa ấy, việc gì ông phải đau khổ cho mối tình của ông già Raimaly bất hạnh kia? Âm nhạc, những bài ca, điệu hát chân thực kia - Edigej nghĩ bụng - vốn có những sức mạnh to tát như thế đấy. Nếu nó ra lệnh: anh hãy chết đi và anh hãy tái sinh - dù thế đi nữa - anh vẫn sẵn lòng làm theo tức khắc... Chao ôi, ước gì cứ mãi mãi cháy sáng trong tâm hồn ngọn lửa kia, để con người luôn có được những ý nghĩ trong sáng và thoải mái về chính bản thân mình, bằng chính cái phương thức hoàn hảo nhất ấy.

Lạ chỗ, Edigej mãi không sao chợp mắt được, mặc dù trước lúc đi nằm, anh đã ra ngoài trời thở không khí trong lành và chủ nhà đã thu xếp cho anh một chỗ nằm thoải mái, ấm áp, ngay bên lò sưởi và đã trải lên giường khách những chăn đệm sạch sẽ tinh tươm mà nhà nào cũng giữ gìn cẩn thận, để dùng vào những dịp thế này. Anh nằm bên cửa sổ, lắng nghe tiếng gió rít dài, tiếng bánh lăn ầm ĩ của những chuyến tàu qua lại... Anh chờ trời sáng để trị tội con Karanar nổi loạn, rồi sớm ra về, chóng gặp lại Boranly-Bão Tuyết, nơi lũ trẻ của cả hai nhà đang mong anh, vì anh đều yêu thương chúng như nhau và chính vì hạnh phúc của bốn đứa mà anh đã sống trên đời này... Anh ngẫm nghĩ kỹ cách khuất phục con Karanar. Đó là việc của chính anh, chung quy chỉ vì anh có một con lạc đà ương ngạnh và hung hãn đến mức chỉ cần nhìn thấy bóng nó thôi, người ta đã khiếp vía và chực lăm le cho nó ăn đạn... Nhưng giảng giải phải trái sao được với một con vật... Vả chăng, chẳng phải bỗng dưng nó dám bươn bả đến đây - trời đất đã an bài thế, mà Karanar lại là một con vật to xác và hùng dũng, và chính vì lẽ ấy nó bất chấp hết thảy mọi trở ngại, không nể mặt bất cứ ai, bất kỳ con vật nào ngăn đường cản lối... Thu xếp thế nào, dùng cách nào đây để đe nẹt Karanar? Phải xiềng chân, giam nó trong chuồng suốt mùa Đông, kẻo trước sau gì nó cũng bị xơi đạn vỡ sọ, chẳng phải của Kospan thì cũng của một ai đó, khó lòng tránh khỏi... Trước lúc thiếp đi, Edigej còn nhớ lại vài nét tiếng đàn dombra của Erlepes, anh rất hài lòng đã được thù tạc cùng ông suốt cả buổi tối. Những nỗi đau khổ của nhà danh ca Rajmaly bất hạnh vì phải lòng cô gái hát rong ngày nào, đã sống lại trong tiếng đàn, ngấm vào tâm hồn anh. Và tuy giữa hai người chẳng hề có chút nào giống nhau, Edigej vẫn cảm thấy trong câu chuyện Rajmaly dư âm một nỗi đau buồn giống nhau. Điều mà Rajmaly đã trải qua cách đây một trăm năm, lúc này đang trỗi dậy trong tâm hồn anh, Edigej-Bão Tuyết, đang sống trên những dải thảo nguyên Sarozek hoang vu. Edigej thở dài, trăn trở trên giường, lòng anh buồn bã, ủ dột, những dự cảm mơ hồ và bất định bỗng ập đến trong tâm hồn anh. Anh sẽ phải xoay sở ra sao, phải sống thế nào đây trong những ngày sắp tới? Sẽ nói gì với Zaripa và trả lời sao đây với Ukubala? Không, anh chẳng tìm đâu ra lối thoát, đầu óc anh mụ đi, không còn nhìn ra chút đường đi nước bước nào. Lúc thiếp đi, anh thấy mình lênh đênh trên sóng nước Aral... Anh choáng váng vì sắc xanh thăm thẳm của trời, nước, và của làn gió mát... Cũng như hồi nhỏ, lần này anh lại lao mình xuống nước, mong biến mình thành một chú hải âu tự do bay lượn trên những ngọn sóng bạc đầu, sung sướng, hân hoan, tung cánh trên mặt biển bao la, bên tai luôn văng vẳng tiếng đàn dombra réo rắt và tiếng hát của ông Erlepes về mối tình bất hạnh của Rajmaly. Rồi anh lại mơ thấy mình thả xuống biển chú cá chiên vàng thuở trước. Chú cá chiên vàng nặng trĩu, uyển chuyển, mềm mại, mà khi anh cầm lên tay để thả nó xuống nước, anh cảm nhận một cách rõ ràng những thớ thịt chắc lẳn đầy sức sống của nó, niềm khát khao được trở về chốn sóng nước thân thương. Anh bước dọc theo một thân sóng, biển chạy vội lại đón anh, anh mỉm cười với những cơn gió mơn trớn xoa vào mặt. Rồi anh buông tay, chú cá chiên vàng ngồi lên cái sắc vàng lộng lẫy, trong làn không khí xanh thẳm lúc nhảy tung lên, đoạn rơi tõm vào làn nước ấm... Tiếng đàn vẫn vọng lại từ đâu đó... Có tiếng ai nức nở than thân trách phận nghẹn ngào...

Đêm ấy, những cơn gió buốt vẫn nô giỡn trên thảo nguyên. Trời giá căm căm. Bầy lạc đà cái bốn con, được Karanar-Bão Tuyết yêu thương và che chở, dừng lại trú chân trong một lũng hẹp, dưới chân một ngọn núi thấp. Bị tuyết phủ kín, bốn ả cùng châu đầu vào nhau để sưởi ấm, đầu con nọ gác lên cổ con kia. Nhưng đấng chúa tể lông lá bù xù hung bạo của chúng vẫn chẳng chịu để cho chúng yên. Hắn vẫn lồng lộn chạy quanh, gầm rống một cách đầy khiêu khích, như đang ghen tức với một kẻ vô danh nào đó, hoặc với một vật gì không rõ, có thể là với vầng trăng nhợt nhạt, đang từ trên cao cố rọi xuống những tia sáng yếu ớt qua màn sương di động vật vờ.

Con Karanar rõ ràng vẫn chưa thấy yên lòng. Nó nện vó liên hồi xuống mặt tuyết đang bốc hơi ngùn ngụt. Đến là lắm sức! Cả lúc này, nó vẫn mải mê với việc yêu đương, hết quấy nhiễu cô này, lại làm tình làm tội cô khác, nó cứ ngoạm chặt lấy mắt cá chân và bắp đùi các nàng, hết lượt nàng này, gạt ra, lại quay sang nàng kia. Thật quá quắt! Ban ngày, cả bốn nàng đã thích thú chiều chuộng những trò đỏng đảnh của nó, tối phải để cho người ta nghỉ ngơi chút đỉnh chứ! Bởi thế, cả bốn con cái cũng gào thét liên hồi, cố gạt những trò quấy nhiễu không phải lúc của Karanar, không chịu nhượng bộ nữa. Chúng muốn nghỉ ngơi chốc lát lúc đêm xuống.

Gần sáng, Karanar-Bão Tuyết đã nguôi bớt cơn điên loạn. Cu cậu đứng yên bên cạnh bốn cô bạn tình, chốc chốc ngước mõm lên rống một tiếng, như đang ngái ngủ và đưa cặp mắt man dại dáo dác nhìn quanh. Lúc này, cả bốn con cái đều nằm xuống mặt tuyết, con nọ nép vào con kia, cổ duỗi dài, đầu cúi thấp, lặng yên thiu thiu ngủ. Chúng mơ thấy những chú lạc đà con, cả những chú đã ra đời, lẫn những chú sắp sinh với ông bố đen trùi trũi, chẳng biết từ đâu lao tới cướp đoạt chúng từ những chàng lạc đà khác, sau những cuộc ẩu đả chí mạng. Chúng mơ thấy mùa hè, thấy những bụi ngải cứu thơm tho, thấy những đôi môi mềm mại âu yếm chạm vào đầu vú chúng, ngậm chắc lấy, hút ra những dòng sữa trắng từ trong cõi sâu thẳm mơ hồ nào đó... Còn Karanar-Bão Tuyết thì vẫn đứng canh bên cạnh, gió rít từng cơn qua những búi lông rậm trên mình...

Tròn mình trong những làn gió hiền hòa, Trái Đất vẫn trôi đi trên quỹ đạo ngàn đời của nó. Quay quanh mặt trời, và khi quay được một vòng quanh trục của chính mình, Trái Đất lại nghiêng người để cho ánh bình minh chiếu xuống Sarozek. Lúc bấy giờ, còn Karanar-Bão Tuyết chợt nhìn thấy hai con người đang vắt vẻo trên lưng lạc đà xông tới. Đó là Edigej và Kospan. Trong tay Kospan lăm lăm một khẩu súng săn.

Karanar-Bão Tuyết điên dại run lên. Nổi cơn thịnh nộ, nó cất tiếng rống vang. Hai kẻ kia sao cả gan dám đột nhập vào giang sơn của nó? Làm thế nào họ có thể đến được bên đám cung tần này của nó? Họ lấy quyền gì hòng ngăn chặn việc nó đi tìm bạn? Karanar giận dữ gầm lên, nghiến răng trèo trẹo và như một con rồng, nó nghểnh cao đầu, vươn cái cổ dài ra phía trước, há rộng cái mõm dữ tợn đầy nanh. Hơi nước từ trong cổ họng nóng cháy của nó phì ra như khói, gặp lạnh đông lại thành những hạt móc li ti, bám trên đám bờm đen trũi. Bị kích động, Karanar liền xoạc chân tuôn mạnh một dòng nước tiểu ngược hướng gió. Bầu không khí tức thì nồng nặc. Nhiều giọt nước lạnh buốt ấy bắn cả lên mặt Edigej đang ở cạnh đó.

Edigej nhảy xuống đất, cởi phăng chiếc áo chẽn, vất lên mặt tuyết. Trên người anh lúc này chỉ còn độc chiếc áo ấm bó sát ngực và chiếc quần bông. Anh vung mạnh chiếc roi dài có cán, nãy giờ vẫn giữ trên tay.

- Anh cẩn thận để còn tránh đạn đấy, Edike nhé! Hễ có chuyện lôi thôi là tôi nổ súng ngay - Kospan vừa nói, vừa giương súng lên.

- Đừng, Kospan! Dẫu có thế nào cũng đừng bắn. Anh đừng lo cho tôi. Tôi là chủ, chính tôi sẽ chịu trách nhiệm kia mà. Anh hãy đề phòng cho mình thôi. Nếu nó tấn công tôi, đấy lại là chuyện khác.

- Được rồi - Kospan tán thành, vẫn ngồi nguyên trên lưng con lạc đà cái.

Edigej quơ roi vun vút, tiến thẳng lại chỗ con Karanar. Con vật thấy anh xông lại, điên tiết lên, cũng lao nhanh tới, miệng rống vang, sủi cả bọt mồm bọt mép. Đúng lúc ấy, lũ lạc đà cái vụt đứng cả dậy, lo lắng, bắt đầu chạy quanh.

Vừa vung cao ngọn roi anh vẫn dùng để điều khiển lạc đà kéo những xe tuyết nặng, Edigej bước đi trong tuyết, ngay từ đằng xa đã cất tiếng gọi tên con Karanar, hy vọng giúp con vật nhận ra chủ nó.

- Này, này, Karanar! Dẹp cái trò ngu ngốc kia đi! Dẹp đi, tao bảo đấy! Tao đây mà, mày mù chắc? Tao đây, nghe thấy chưa?

Nhưng con Karanar tỏ ra hoàn toàn dửng dưng, Edigej đâm hoảng, khi anh nhìn thấy ánh mắt hung tợn của con vật và những bước chân gấp gáp, mang cả khối thịt đồ sộ phủ toàn lông đen với hai cái bướu cao kều trên lưng, xông thẳng lại phía mình. Anh vội kéo sụp chiếc mũ lông trùm đầu xuống trán, ra roi. Ngọn roi dài bảy thước, bện bằng da sống nặng trịch. Con vật vừa gầm thét, vừa lao tới, cố ngoạm hoặc hất ngã người chủ xuống đất, rồi xéo nát người anh ra. Nhưng Edigej đâu có cho nó muốn làm gì thì làm. Anh lấy hết sức bình sinh quật mạnh ngọn roi, khôn khéo né tránh, tiến thoái nhịp nhàng, và luôn miệng hét to, để con vật tỉnh trí lại, nhận được mặt chủ. Cả hai đối thủ đều tỏ ra khéo léo lạ thường; và cả hai, không ai là không biết lợi dụng ưu thế của chính mình. Edigej rất lấy làm cảm động vì niềm khát khao hạnh phúc mãnh hệt của con vật dũng mãnh và hiểu rằng mình chẳng có quyền tước đoạt của nó niềm hạnh phúc kia. Nhưng anh chẳng còn lối nào khác. Anh chỉ cố tránh một điều: dừng quật vào mắt con Karanar, ngoài ra chẳng chút nương nhẹ gì hết. Rốt cục sự kiên cường của Edigej đã bẻ gãy ý chí của con vật. Vừa vung roi, vừa quát mắng, vừa dấn tới; sau rốt Edigej đã áp sát vào con vật, xông ngay tới, tóm chặt cái môi trên của nó, giữ riệt đến mức suýt làm rách toạc cái mẩu thịt ấy ra, và khéo léo tròng ngay vào đó một cái nút thòng lọng đã thắt sẵn. Con Karanar rống to vì môi trên bị cái thòng lọng thít chặt, đau lịm người. Edigej nhìn vào đôi mắt mở to không chớp, sững sờ vì kinh hãi và đau đớn của nó, anh chợt thấy bóng mình in trong đó như trong gương vậy. Anh hoảng hốt với hình ảnh của chính mình, vội vàng tránh ra xa. Anh muốn bỏ mặc tất cả, để đi đâu đó thật xa, miễn là đừng hành hạ những con vật chẳng làm gì nên tội. Nhưng rồi anh lại nghĩ đến nghĩa vụ của mình. Ở nhà, mọi người đang mong anh về, anh không thể ra về tay không, nếu không muốn cho con vật bị nát sọ dưới làn đạn của bà con Ak-Mojnak. Anh đành nén lòng. Đĩnh đạc hét to dọa con Karanar, bắt nó nằm xuống. Còn phải đóng yên lên lưng nó nữa là xong. Con Karanar-Bão Tuyết vẫn cố kháng cự. Nó vừa gầm gừ, vừa há mõm phả và mặt chủ hơi thở nông nổi. Nhưng chủ nó vẫn không nhân nhượng. Anh lớn tiếng bảo Kospan:

- Kospan, quẳng giúp cái yên xuống cho tôi, rồi lùa lũ lạc đà cái kia đi đi, ra tận sau núi ấy, để nó khỏi nhìn thấy mặt chúng nữa!

Kospan tháo ngay cái yên trên lưng con lạc đà cái, trao cho bạn, hối hả xua đám bạn tình của Karanar đi. Khi Kospan quay lại, trao cho anh chiếc áo chẽn bị vứt lên mặt tuyết lúc nãy, Edigej cũng vừa đóng yên xong. Anh mặc vội áo vào, trèo ngay lên lưng con Karanar đã yên cương chỉnh tề.

- Thôi, đi! Đủ rồi đấy! - Anh nói với con vật - Câm ngay mõm lại! Đằng nào thì cũng chả quay lại đây được nữa đâu. Mày thộn lắm! Tưởng tao muốn ác với mày lắm phỏng? Không có tao, mày đã bị bắn tan xương như một con chó thôi. Chứ lại không à? Mày hóa điên rồi, đúng thế, điên thật rồi! Mày hóa điên, nên mới cư xử như một thằng điên, thế này chứ! Chứ tự dưng sao lại dẫn xác đến tận đây làm gì? Lũ lạc đà cái ở nhà ê hề ra đấy, chưa đủ cho mày hay sao? Thôi, tỉnh trí lại đi, ta còn về nhà - hãy chừa cái thói đi chơi rong ngu ngốc của mày đi. Ta sẽ xích cổ mày lại, không cho mày đi đâu lấy một bước, nếu mày còn chứng nào tật nấy!

Edigej-Bão Tuyết dọa dẫm thế, thực ra chỉ cốt để tự trấn an, tự biện bạch cho chính mình. Anh đã dùng vũ lực lôi con Karanar ra khỏi những cô bạn tình của nó ở Ak-Mojnak. Thật là bất công. Giá như nó là một con vật đằm tính thì đâu đến nỗi! Anh gửi lại cho Kospan con lạc đà cái đã cưỡi đến hôm qua. Kospan hứa hễ có dịp là anh sẽ trả nó về ngay Boranly-Bão Tuyết và cam đoan với Edigej là chả có gì đáng ngại cả. Nhà anh rơm cỏ dồi dào, chuồng trại rộng rãi. Có bực chăng là bực cái gã quỷ dữ đáng nguyền rủa kia thôi.

Chẳng mấy chốc Karanar-Bão Tuyết đã không còn bực bội gì chuyện bị đóng yên cương và bị chủ cho vào khuôn phép. Những tiếng kêu la, rên rỉ của nó mỗi lúc một thưa dần, chân bước đã đều hơn. Rồi chỉ một lát sau, cu cậu đã chuyển sang nước kiệu và cuối cùng là nước đại, phi nhanh qua những dải thảo nguyên mênh mông miền Sarozek như một con vật thuần nết. Cả Edigej cũng đã bình tâm lại. Anh ngã người cho thoải mái giữa hai cái bướu rắn chắc, cài hết cúc áo tránh gió và buộc chặt dải mũ lại. Lúc này, anh chỉ mong cho chóng đến nhà.

Nhưng đường về còn xa. Tiết trời u ám, tuy gió không mạnh mấy. Từ giờ đến tối chắc sẽ không có bão tuyết, dù đêm nay thế nào trời cũng sẽ gió rét. Edigej-Bão Tuyết rất mãn nguyện, vì đã tóm được con Karanar, cho nó vào khuôn phép, nhất là được đón tiếp ân cần ở nhà Kospan và được nghe tiếng đàn dombra cùng các bài hát của ông Erlepes.

Edigej bất giác lại quay về với những ý nghĩ nặng nề về cuộc đời toàn đen đủi của chính mình. Quả cay đắng thật! Phải làm thế nào để khỏi phải đau khổ, cũng đừng phải giấu giếm nỗi đau khổ của lòng mình mà dám nói thẳng ra: Zaripa, anh yêu em!". Và hai thằng bé của Abutalip vì mang họ cha mà phải lâm vào cảnh thua thiệt nếu Zaripa ưng thuận, thì cứ đổi họ của chúng, để chúng được mang họ của anh - họ Zhangeldin. Anh sẽ sung sướng biết mấy, nếu cái họ của anh đã gây phiền toái cho tương lai của Daul và Ermek. Ước gì hai thằng bé sẽ không bị lôi thôi, trắc trở lúc đã trưởng thành. Và hai đứa rồi sẽ nên người, có danh có phận, nhờ chính sức lực và tài năng của chúng. Kể cũng đáng tiếc, nếu không cải họ được cho hai đứa? Đấy, chính những ý nghĩ đó đã ám ảnh Edigej-Bão Tuyết suốt đường về.

Trời đang ngả về chiều. Con Karanar đầy sinh lực dù hay ương ngạnh, dù hay nổi điên, nhưng cưỡi nó thật thích thú. Và kia rồi, trước mặt đã hiện ra những con mương Boranly, những khe rãnh quen thuộc, những đụn tuyết do gió dồn đống lại và cái dốc cao cao, chỉ đi thêm mấy bước nữa, qua cái khúc quành của con đường sắt, là đến ga Boranly-Bão Tuyết. Đã nhìn thấy rõ dãy khói lam vờn nhẹ trên mấy nóc nhà bé nhỏ. Những gia đình thân thương của anh phải chăng vẫn đang sống ở đó? Tuy mới xa nhà vẻn ven một ngày, nhưng lòng anh khắc khoải như đã xa vắng suốt cả năm trường. Anh nhớ da diết nhất là lũ trẻ. Nhìn thấy khóm nhà trước mặt, con Karanar càng mải miết bước dồn. Mình đẫm mồ hôi nóng ran, con lạc đà sải những bước rõ dài, mõm phà ra liên tục những đám hơi nước ấm. Trong lúc Edigej và con Karanar đang hối hả bước, đằng nhà ga đã kịp đón và tiễn đi hai đoàn tàu hàng. Một chuyến chạy về Tây, một chuyến chạy sang Đông...

Edigej về bằng lối sau, tiện nhốt ngay con Karanar vào chuồng. Anh vội vã nhảy xuống, với tay lên sà ngang lấy sợi dây xích to đã chôn chặt một đầu xuống đất, xiềng ngay chân trước con vật lại. Rồi để mặc nó đấy "Cho nó ráo bớt mồ hôi, hẵng tháo yên sau" - Anh tự nhủ thế. Không hiểu tại sao, anh rất vội. Anh vặn lưng, co duỗi hai chân mấy cái, bước ra khỏi chuồng, đúng lúc con bé lớn nhà anh - con Saule chạy tới. Edigej ôm chầm lấy con, vội vã hôn, trên người đang còn vướng chiếc áo lông.

- Khéo chết cóng mất, con - anh bảo con bé, trên người phong phanh chiếc áo len mỏng - Vào nhà đi, bố về ngay đấy!

- Bố ạ - Saule lên tiếng, vẫn trìu mến ôm chặt lấy cổ cha - thằng Daul với thằng Ermek đi mất rồi, bố ạ!

- Đi đâu, hả?

- Đi hẳn ạ! Đi với mẹ chúng, cả nhà lên tàu, đi mất rồi...

- Đi tàu à? Lâu mau rồi? - Anh hỏi lại, nhìn chằm chằm vào mắt con gái, vì vẫn chưa hiểu nổi nó đang nói gì.

- Mới hồi sáng ạ!

- Ra thế cơ đấy! - Giọng Edigej run run - Thôi vào nhà, vào đi con - anh buông con bé ra - Bố về ngay, về ngay đây. Đi đi, đi ngay đi...

Saule chạy vội vào nhà. Edigej hối hả bước sang lán gỗ của Zaripa, hấp tấp quên cả đóng cửa chuồng, trên người vẫn còn tùm hụp chiếc áo chẽn lông. Chân bước, nhưng lòng không tin. Con bé có lẽ đã lầm lẫn thế nào đấy. Không thể như thế được. Nhưng trước thềm vẫn còn in rõ nhiều dấu chân. Edigej kéo mạnh của. Vừa đặt chân lên ngưỡng cửa, anh thấy ngay căn phòng trống trải, lạnh giá, với bao thứ đồ đạc cũ nát vứt lổng chổng trên sàn. Cả hai thằng bé, lẫn Zaripa đều vắng bóng.

- Thế này là thế nào? - Edigej cất tiếng hỏi khẽ gian phòng trống trải, vẫn chưa muốn tin hẳn vào những gì vừa xảy ra - Mấy mẹ con đã đi thật rồi ư? - giọng anh đầy ngạc nhiên, cay đắng, dù rõ ràng cả nhà đã dọn đi thật rồi!

Anh thấy chua xót, chua xót lắm, tưởng như chưa bao giờ cảm thấy thế trong đời. Vẫn chiếc áo chẽn trên người, anh đứng sững giữa phòng, bên cái lò sưởi tắt ngấm, chẳng biết nên làm gì, phải ứng phó ra sao, để khỏi buột ra những tiếng than tức tối vì nỗi mất mát này. Trên bậu cửa sổ chơ chỏng những viên cuội nhỏ Ermek bỏ quên: vẫn nguyên bốn mươi mốt viên mà hai thằng bé đã dùng để bói xem bao giờ bố về; những viên cuội của niềm hy vọng và của tình cha con ấm áp. Edigej gom những viên cuội lại, cầm chặt nó trong tay. Anh kiệt sức, tựa người vào tường, áp chặt khuôn mặt rầu rĩ, nóng bừng lên những tấm gỗ lạnh ngắt, nghẹn ngào, nức nở, vì nỗi đau khổ không gì an ủi nổi. Trong lúc anh khóc, những viên cuội nhỏ lần lượt chuồi khỏi tay anh, viên nọ tiếp viên kia rơi xuống sàn. Anh cố giữ chúng lại trong bàn tay run run, nhưng bàn tay đã đờ đẫn và những viên cuội còn lại cứ chuồi đi, rơi xuống sàn, phát ra từng tiếng "cạch" khẽ, lăn tứ tung trong gian phòng vắng lặng.

Lát sau, anh quay người, tay vẫn bíu vách tường, từ từ gieo mình ngồi xổm trên sàn nhà, vẫn tùm hụp trong chiếc áo chẽn lông, trên đầu vẫn chiếc mũ trùm tai xộc xệch, lưng tựa vào vách, khóc nấc lên, cay đắng. Anh cho tay vào túi, lôi chiếc phu-la be bé mà Zaripa vừa tặng hôm kia, chặm những giọt nước mắt đang ràn rụa...

Anh ngồi yên như thế trong cái lán trống, cố hiểu những điều đã xảy ra. Zaripa đã cố tình đưa lũ trẻ đi lúc anh vắng nhà. Vì nếu anh có mặt ở nhà, muốn ra sao thì ra, không đời nào anh lại để mấy mẹ con cô ra đi. Nhưng bây giờ ngồi đoán cơ sự đã xảy ra lúc anh đi vắng, thì đã muộn mất rồi. Đằng nào ba mẹ con cũng đã đi biệt. Zaripa đâu còn đây nữa! Hai thằng bé đâu còn đây nữa! Chẳng lẽ anh sẽ phải xa mấy mẹ con cô mãi mãi? Mọi chuyện hẳn đều do Zaripa sắp đặt. Cô hiểu rằng tốt hơn hết nên ra đi lúc anh vắng nhà. Sự ra đi hẳn làm cô nhẹ bớt tâm tư, nhưng cô đâu ngờ đến những nỗi xé lòng của anh, khi anh phải đặt chân vào gian lán trống trải này.

Hẳn phải có người dừng tàu giúp Zaripa! Nhất định phải có người làm việc này! Mà biết cách này chẳng ai khác ngoài Kazangap. Dĩ nhiên, ông ấy không giật cần hãm như Edigej từng làm hôm Stalin mất. Chắc ông ấy đã bàn tính, rồi đề nghị ông trưởng ga cho dừng một chuyến tàu khách nào đó tại ga. Cung cách của Kazangap thế đấy... Và, chắc Ukubala đã tiếp tay với ông ta, để sớm tống khứ mấy mẹ con họ đi cho rảnh! Được rồi, các người cứ chờ đấy! Khát vọng báo thù sôi lên, thiêu đốt tâm can anh. Anh muốn dốc sức bình sinh thiêu trụi hết thảy mọi thứ trên cái ga xép đã bị Thượng đế nguyền rủa này, cái ga mang tên Boranly-Bão Tuyết; thiêu ra tro tất thảy, chẳng sót một mảnh vụn nào, rồi phốc lên lưng con Karanar, phi ra thảo nguyên, để chết đói, chết rét ngoài ấy trong cô đơn, cho rảnh nợ! Anh ngồi yên trong gian lán trống trải, bất lực, đầu óc trống rỗng, xúc động tận tâm can vì những gì vừa xảy ra. Lòng bứt rứt không nguôi trước một câu hỏi: "Cô ấy ra đi làm gì nhỉ? Mà đi đâu mới được chứ?".

Mãi sau, anh mới về lại nhà mình. Ukubala lặng lẽ đón chiếc áo lông, và chiếc mũ trên tay anh, rồi đem đôi ủng đi tuyết dựng vào xó nhà. Nhìn gương mặt xám ngắt, lạnh lùng như một phiến đá của Edigej-Bão Tuyết, khó đoán được anh đang nghĩ gì, đang định làm gì. Đôi mắt anh trống rỗng, vô hồn. Nó chẳng biểu lộ điều gì, nó ẩn giấu một sự nỗ lực vượt quá sức anh, và anh đang cố dốc hết ra để tự đè nén. Ukubala đã mấy lần đặt ấm samova và dọn cốc ra, chờ chồng. Nước đã sôi, nguội đi, rồi lại sôi sùng sục, dưới đáy samova đầy ắp những hòn than đỏ sắp tàn.

- Trà vẫn nóng - chị bảo chồng - vừa mới rót trong ấm ra đấy!

Edigej lặng thinh ngước nhìn vợ, thẫn thờ uống từng ngụm lớn nước trà nóng bỏng. Anh chẳng còn biết nóng là gì nữa. Cả vợ lẫn chồng đều căng thẳng chờ câu chuyện mở màn.

- Zaripa ra đi với hai thằng bé của cô ấy rồi - rốt cục, Ukubala lên tiếng.

- Tôi biết rồi - Edigej khẽ đáp gọn lỏn. Một lúc sau, anh mới nói tiếp, vẫn không ngẩng lên khỏi tách trà: - Cô ấy đi đâu thế?

- Chẳng nghe cô ấy bảo - Ukubala đáp.

Câu chuyện dừng lại ở đó. Vừa tợp từng ngụm trà nóng, Edigej chẳng buồn để ý đến việc có thể bị bỏng môi, anh chỉ tâm niệm một điều là đừng bao giờ nổi nóng, đừng làm mọi thứ đổ vỡ, đừng làm cho hai con bé hốt hoảng, đừng gây nên tai họa...

Uống trà xong, anh thu xếp đồ đạc để ra đi. Lại mặc áo, đội mũ, xỏ giày.

- Anh đi đâu đấy? - Chị vợ hỏi khẽ.

- Ra thăm đàn gia súc một tí - anh buông thõng một câu, khi đã ra đến cửa.

Ngày đông ngắn ngủi đã tàn. Trời tối nhanh. Bóng đêm từng phút một như đặc quánh lại. Không khí giá buốt hơn. Gió đêm trỗi dậy. Lướt nhanh trên mặt tuyết mấp mô. Edigej bước nhanh về phía chuồng gia súc, lòng u ám. Vừa bước chân vào anh đã quắc mắt, tức tối quát con Karanar đang giật sợi dây xích dưới chân:

- Mày cứ ngoác mồm ra gào suốt thế ư? Không chịu nổi nữa chứ gì? Đợi đấy, quân khốn kiếp? Tao sẽ cho biết tay ngay bây giờ! Bây giờ, tao bất chấp tất!

Edigej thụi vào hông Karanar một quả rất hiểm, vặc một câu chửi thề độc địa, rồi tháo dây bụng, hất cái yên trên lưng nó xuống, cởi luôn sợi xích dưới chân con vật. Đoạn, anh cầm cương dắt nó ra khỏi chuồng, với tay lên sàn rút ngọn roi da đang cuộn tròn trong cán, nhằm thẳng hướng thảo nguyên cất bước, lôi theo sau con Karanar đang kêu gào, rên rỉ. Đã mấy lần anh ngoái lại, vung roi dọa, bắt con vật thôi rên rỉ và kêu gào nữa, nhưng chẳng ăn thua. Anh đành thây kệ, nhổ toẹt một bãi nước bọt xuống tuyết, nhẫn nhục cắm cúi bước, mặc con Karanar đang lao bừa qua những lớp tuyết sâu trên cánh đồng đã sẫm tối lại và nhòa dần giữa hoàng hôn giá buốt. Anh thở nặng nề, nhưng vẫn không dừng lại. Anh cứ bước đi, đầu ủ rũ cúi gầm. Khi khóm nhà quanh ga đã lùi khuất sau một ngọn đồi thấp, anh gò cương lại. Vất chiếc áo chẽn lông lên mặt tuyết, Edigej nhanh chóng buộc chặt sợi dây cương vào ngay thắt lưng mình, bên ngoài chiếc áo bông, để con vật đừng hòng vùng chạy thoát và để rảnh cả hai tay cầm cán roi, quật bằng thích con vật đã gây cho anh nỗi bất hạnh khủng khiếp. Anh ra roi, thẳng tay quật lên lưng con Karanar-Bão Tuyết một cách giận dữ, miệng thở phì phò, chửi rủa không tiếc lời:

- Cho chết! Cho chết này! Đồ đê tiện! Vì mày cả đấy! Tội tình đều do mày mà ra! Giờ thì tao sẽ thả mày, muốn cút xéo đi đâu, mặc xác. Nhưng trước khi thả, tao phải dần cho mày một trận! Cho chết! Đáng kiếp! Đồ thối thây! Đồ dâm đãng! Ngần ấy ả chưa đủ sao, mà còn vác mặt chạy rông tận đẩu tận đâu! Để bây giờ cô ấy đưa con đi biệt tích rồi! Không có con lạc đà nào gây điêu đứng cho chủ như mày! Bây giờ tao sẽ sống ra sao? Không có cô ấy, liệu tao sẽ sống thế nào đây? Mày đã bất chấp, thì tao cũng bất chấp hết. Thế thì giơ lưng ra mà chịu, giơ lưng ra mà chịu này, đồ chó chết!

Con Karanar rú lên, cố giật sợi dây cương, lồng lộn dưới những ngọn roi xối xả trút lên người. Đầu óc nó mê muội đi vì sợ hãi và đau đớn, nó hất cho chủ ngã dúi rồi ù té chạy, lôi chủ xềnh xệch theo sau, như lôi một súc gỗ, chỉ mong thoát thân. Nó đâm bổ về phía mà từ đó chủ đã dùng vũ lực để lôi cổ nó về.

- Đứng lại! Đứng lại! - Edigej thốt lên trong cơn ho sặc sụa vì bị vùi sâu trong tuyết, ngay sau lưng con vật.

Mũ anh bay mất. Những đụn tuyết cao đập vào đầu, vào mặt, vào bụng anh, vừa rát bỏng, vừa giá lạnh. Tuyết cũng len vào cổ, vào áo. Ngọn roi trong tay đâu mất, anh chẳng còn cách nào để bắt con vật dừng lại. Nó lôi anh đi một cách hoảng loạn, rồ dại, vì chỉ có trốn chạy, mới mong thoát thân. Có trời biết mọi chuyện sẽ kết thúc ra sao, nếu cái nút buộc ở đầu dây cương không tuột ra, nhờ một phép mầu nào đó. Do vậy, Edigej mới khỏi chết nghẹt trong các đụn tuyết cao, trên đường con vật trốn chạy. Khi anh với tay tóm lại được dây cương, con Karanar còn lôi anh đi thêm vài bước nữa, mới dừng hẳn.

- Ra mày gớm nhỉ? - Edigej đã gượng dậy được, gầm ghè trong tiếng thở dốc và những cơn ho sặc sụa - Mày đã cư xử thế chứ gì? Được rồi, đồ súc sinh! Thôi, cút mẹ mày đi. Cút, cho đỡ vướng mắt! Cút, đồ đáng nguyền rủa. Đừng bao giờ để tao nhìn thấy mặt mày nữa. Cút cho biệt tăm biệt tích! Xéo đi, cho mất xác! Mặc người ta bắn vỡ sọ mày ra như một con chó! Vì mày cả thôi! Ra ngoài thảo nguyên kia mà sống! - Con Karanar rống lên, vùng chạy về hướng Ak-Mojnak. Edigej còn đuổi theo quật thêm cho mấy roi nữa, để tống tiễn, miệng không ngớt nguyền rủa chửi bới thậm tệ. Đã đến giờ đền tội và chia tay. Và vì thế, Edigej còn lớn tiếng chửi thêm một thôi một hồi nữa:

- Cút đi, đồ quỷ dữ! Xéo đi! Ra thảo nguyên mà ở, đồ thối thây, đồ dâm đãng! Cho người ta bắn vỡ sọ mày ra!

Karanar bỏ chạy xa dần, xa dần trên cánh đồng mờ tối lúc chiều hôm. Chẳng mấy chốc đã mất hút trong làn sương đục, thỉnh thoảng chỉ còn đọng lại những tiếng rống chói tai như tiếng còi tàu. Edigej hình dung trước mắt con vật chạy suốt đêm không nghỉ, lao mình qua làn sương dày, đến với các cô bạn tình của nó ở Ak-Mojnak.

- Kệ xác mày! - Edigej nhổ toẹt một bãi nước bọt, quay bước trên cái rãnh tuyết do chính mình để lại, khi bị con Karanar phũ phàng lôi đi. Đầu trần. Trên người không còn chiếc áo chẽn lông, da trên mặt và trên hai cánh tay rát bỏng, anh lần bước giữa chiều hôm đen sẫm, tay vung vẩy ngọn roi da. Tự dưng lòng tràn ngập một cảm giác trống trải, bất lực hoàn toàn. Anh phủ phục lên mặt tuyết, hai tay ôm đầu, khe khẽ khóc nấc lên cay đắng. Quỳ giữa thảo nguyên

Sarozek hoang vu, trong cảnh hoàn toàn cô đơn, anh lắng nghe tiếng gió rít dài, lồng lộng dồn tuyết lại thành từng đống. Tuyết từ trên không trung cứ lặng lẽ rơi. Anh có cảm tưởng như triệu triệu bông tuyết khẽ lao xao khi xát nhẹ vào không khí, như thủ thỉ với anh, rằng không thể nào anh kham nổi gánh nặng ly biệt này, rằng vắng người thiếu phụ thân thương kia và hai đứa bé mà anh đã gắn bó bằng một tình cảm sâu đậm không kém bất cứ một tình phụ tử nào, đời anh từ nay trở nên hoàn toàn vô nghĩa. Anh muốn gục xuống, chết ngay trên mặt tuyết, cho thân xác bị chôn vùi mãi mãi...

- Chẳng làm gì có Thượng đế cả! Thậm chí Thượng đế cũng chả hiểu cái cóc khô gì trên thế gian này! Đã thế còn biết trông mong vào ai khác nữa? Thượng đế có đâu, đúng thế đấy! - Anh tự bảo mình một cách dứt khoát trong cảnh cô quạnh giữa thảo nguyên Sarozek tối tăm, hoang vắng. Từ trước tới nay, anh chưa từng nói to lên những ý nghĩ ấy bao giờ. Thậm chí cả lúc Elizarov, mỗi lần nhắc đến Thượng đế đều không quên chứng minh rằng, xét từ góc độ khoa học, Thượng đế không hề tồn tại, anh cũng chẳng tin hẳn như thế. Nhưng bây giờ, anh tin...

Và tròn mình trong những làn gió hiền hòa. Trái Đất vẫn trôi đi trên những quỹ đạo ngàn đời của nó. Vừa tự quay tròn quanh trục, Trái Đất vừa quay quanh mặt trời, mang theo trên lưng nó vào lúc này, con người đang phủ phục giữa chốn hoang mạc tuyết trắng phủ dày. Chưa từng có một đức vua, một vị hoàng đế hay bất cứ một đấng thống lĩnh nào khác từng quỳ mọp như thế trước mặt đất trời do tuyệt vọng vì cả cơ đồ, giang sơn sụp đổ, như Edigej-Bão Tuyết từng làm vào cái ngày người thiếu phụ thân thương ấy ra đi, chia tay mãi mãi với anh.

Và Trái Đất vẫn trôi...

Ba hôm sau khi cả hai cùng đến nhà kho nhận đinh tán và đế đệm đường ray để chuẩn bị cho công việc sửa chữa định kỳ, Kazangap đã giữ Edigej lại:

- Sao độ này anh cứ lầm lầm lì lì thế, Edigej? - Bác hỏi bâng quơ, trong khi vẫn cắm cúi xếp những bó sắt tấm vào sọt - Anh luôn tránh mặt tôi, chắc tôi có làm gì khiến anh bực bõ, nên chẳng thèm bắt chuyện nữa, đúng không nào?

Edigej hằn học ngước nhìn Kazangap:

- Tôi với anh mà trò chuyện cùng nhau, không khéo tôi bóp cổ anh chết ngay tại trận mất. Gì chứ khoản đó chắc anh biết tỏng cả rồi!

- Tôi biết rõ mười mươi là anh sẵn sàng bóp chết tôi ngay, và hẳn còn muốn làm thế với một người khác nữa kia. Nhưng tôi không hiểu vì lẽ gì mà anh lại giận dữ ghê gớm đến thế?

- Thì vì các người đã tống cổ cô ấy đi, chứ còn vì gì nữa! - Edigej nói toạc ra cái điều vẫn giằn vặt anh, làm tội làm tình anh suốt mấy hôm nay.

- Ra thế cơ đấy - bác Kazangap lắc đầu quầy quậy, mặt bác đỏ bừng lên; không hẳn vì giận, cũng không hẳn vì ngượng - Anh mà nghĩ thế, tức là đã nghĩ xấu chẳng riêng gì hai chúng tôi, mà đến chính cô ấy nữa đấy. Lẽ ra anh phải cảm ơn người đàn bà ấy mới đúng. Đầu óc chị ta rất khôn ngoan, chứ chẳng phải như đầu óc của anh đâu. Anh thử ngẫm mà xem, mọi chuyện rồi sẽ dẫn đến đâu nào? Chưa có dịp để ngẫm nghĩ, chứ gì? Thế nhưng cô ấy đã ngẫm nghĩ kỹ rồi đấy. Thế nên mới nhất quyết ra đi, trong khi còn chưa muộn. Còn tôi, tôi chỉ giúp khi cô ấy nài nỉ thôi. Thậm chí, tôi cũng chẳng tra gạn cô ấy là tính mang mấy đứa nhỏ đi đâu nữa. Cô ấy chẳng hề nói một lời. Giờ thì họa có Thượng đế may ra mới biết được cô ấy đi đâu. Anh hiểu rồi chứ? Ra đi, để khỏi làm tổn thương phẩm hạnh của chính mình, lẫn phẩm hạnh của vợ anh nữa. Hai người đã chia tay nhau thân thiết như hai chị em. Anh nên quì dưới chân hai người đàn bà ấy mà tạ ơn họ: một người vợ như Ukubala, dù có đốt đuốc tìm, anh cũng chẳng gặp được đâu. Phải tay người khác, anh chỉ còn có nước chạy đến cùng trời cuối đất mới mong rửa sạch tội nọ, còn hơn cả con Karanar nhà anh nữa đấy!

Edigej nín thinh - còn biết ăn nói thế nào nữa chứ? Kazangap không nói thì thôi, chứ đã nói bao giờ cũng đúng sự thật. Duy có điều dẫu muốn, ông ta cũng không sao hiểu nổi. Và Edigej buộc phải nói toạc ra, chẳng nể nang gì nữa.

- Đúng quá đi rồi! - Anh nói và nhổ đánh toẹt một cái sang bên cạnh - Tôi nghe thủng cả rồi, anh bạn thông thái ạ. Vì lẽ ấy, nên anh đã ở thế suốt. Hai mươi ba năm nay trơ trơ ra không hề léng phéng, lôi thôi gì, cứ trơ trơ như phỗng ấy thôi. Cho nên, anh biết thế quái nào được những chuyện như thế này! Đúng quá đi mất còn gì! Thôi, tôi chẳng hơi đâu mà đứng dỏng tai nghe anh giảng đạo nữa - Rồi, anh bỏ đi, cắt ngang câu chuyện.

- Thôi nào, đang giờ làm việc đấy! - Sau lưng anh chợt vang lên câu nói của ai đó.

Sau lần ấy, Edigej bắt đầu nghĩ đến chuyện dọn nhà đi khỏi ga xép heo hút Boranly-Bão Tuyết này. Anh suy nghĩ nghiêm túc, vì vẫn không sao yên lòng, không tài nào đủ sức để quên, không thể nào cất đi được cái gánh nặng đang đè trĩu lên tâm tư mình. Thiếu Zaripa, thiếu hai thằng bé, mọi thứ chung quanh anh đều trở nên u ám, trống rỗng và tẻ ngắt. Và, để chóng thoát khỏi những nỗi cay cực ấy, Edigej Zhangeldin quyết định sẽ chính thức đệ đơn lên ông trưởng ga xin thôi việc, đưa cả gia đình đi nơi khác. Đi đâu cũng được. Miễn là khỏi phải ở lại đây. Việc gì lại cứ giam chân mãi ở cái ga xép bị Thượng đế bỏ quên này, trong khi chán vạn người sinh sống ở nơi khác - người thành thị, kẻ thôn quê - dẫu cáp vàng, họ cũng chẳng thèm lưu lại đây dù chỉ trong một tiếng đồng hồ! Đã vậy, tại sao anh cứ phải để cho đời mình mòn mỏi nơi miền Sarozek này? Tội tình gì kia chứ? Thôi, xin đủ! Cứ bỏ hết lại, ra đi. Hoặc về lại biển Aral xưa, hoặc đưa nhau sang Karaganda, sang Alma-Ata sinh sống. Trên thế gian này, chán vạn chỗ nương thân; hơn nữa, anh lại là một công nhân giỏi, tay chân lành lặn, sức khỏe chưa đến nỗi nào, đầu óc còn sáng suốt chán. Nhổ toẹt hết, ra đi thôi! Hơi đâu tính toán ngẫm nghĩ nọ kia cho nhọc xác, Edigej cũng đã tính đến việc sẽ nói năng thuyết phục thế nào với Ukubala. Chỉ mỗi chuyện ấy là gay. Chẳng còn gì đáng bận tâm cả. Gần một tuần lễ trôi qua, giữa lúc anh đang suy tới tính lui, tìm dịp thuận lợi mở đầu câu chuyện với vợ, con Karanar-Bão Tuyết tự dưng dẫn xác về, sau bao ngay lưu lạc, vì bị chủ đuổi.

Hôm ấy, Edigej đang bận việc bỗng nghe tiếng chó sủa râm ran sau nhà. Con chó chạy ra chạy vào, vẻ thảng thốt. Edigej liền chạy vội ra xem, bỗng thấy mé sau chuồng gia súc đã lù lù một con vật lạ. Trông kỹ, hóa ra một chú lạc đà. Có điều nom lạ hoắc! Nó cứ đứng nguyên một chỗ, không nhúc nhích. Anh phải đến gần hơn chút nữa mới nhận ra đó là Karanar.

- Ơ kìa, mày đấy ư? Khốn khổ chưa, sao mò về rồi lại đứng đực ra đấy, không dấn thêm mấy bước nữa đến tận cổng chuồng! - Edigej sửng sốt kêu lên.

Con Karanar-Bão Tuyết giờ chỉ còn da bọc xương. Cái đầu to sụ với cặp mắt thô lố cứ ngúc ngắc trên cái cổ gầy nhom. Lông trên người xơ xác, trông như bộ lông đi mượn, rũ lòng thòng quá gối. Cặp bướu đen mượt xưa kia nhô cao như hai ngọn tháp, giờ chẳng còn nữa. Cả hai đổ vật sang hai bên sườn, chẳng khác gì cặp vú nhão của các bà lão vào tuổi xế chiều. Con vật kiệt sức đến nỗi không bước thêm được lấy dăm bước để lần đến bên chuồng. Nó đứng đờ đẫn ra đó, như để lấy hơi. Sức lực lẫn cơ bắp trong người đều đã dốc cạn cho cuộc chạy rong và giờ đây, lệch bệch dẫn xác về, y như cái bị rách, đến mức bước cũng không vững nữa.

- Hề hề! - Edigej vẻ ngạc nhiên, đắc ý, ngắm con Karanar cả trước sau, lẫn bên phải bên trái - Thì ra cũng lần được về đến nhà cơ đấy! Thậm chí đến chó cũng không nhận ra mày. Thế mà xưa kia hùng dũng đố ai bì! Chà chà, thằng nỡm. Sao còn mò về làm gì nữa?! Không biết ngượng hả? Hai cái trứng tong teng sau háng còn đấy hay đã đánh mất dọc đường rồi? Người ngợm hôi rình quá quỷ sứ. Chân cẳng đứng không vững nữa. Mông trỏm như hai cái hố! Khổ thân chưa! Đúng là thân tàn ma dại!

Con Karanar đứng đờ ra như trời trồng, không nhấc nổi chân lên nữa. Sức vóc, vẻ đường bệ, dũng mãnh ngày xưa, chẳng còn lại chút gì. Nom nó thật thảm hại, chỉ còn biết lắc lư cái đầu nặng nhọc, cố gượng đứng trên bốn cẳng chân gầy guộc.

Edigej đâm mủi lòng. Anh chạy vội vào nhà, rồi quay lại ngay, bưng theo cả một chậu đầy lúa kiều mạch chắc hạt. Anh rắc thêm lên đến lưng chén muối, đem đặt trước mõm con lạc đà:

- Ăn đi. Ăn một tí. May ra nó khỏe người lên. Rồi tao dắt về chuồng. Nằm nghỉ một lát sẽ tỉnh ra thôi.

Ngay hôm ấy, anh tìm gặp bác Kazangap. Anh sang tận nhà, để trò chuyện.

- Tôi sang bác có chút việc, bác Kazangap ạ. Bác đừng ngạc nhiên sao hôm qua tôi đã một hai cạch mặt bác, hôm nay lại tự vác mặt sang. Chả là có chuyện hệ trọng. Tôi muốn gửi trả lại bác con Karanar. Tôi tìm đến gọi là để có lời cảm ơn. Hồi nào bác tặng nó cho tôi, dạo nó còn đang bú mẹ. Xin cảm ơn bác, nó đã đỡ chân đỡ tay cho tôi bao việc suốt từ độ ấy đến giờ. Mới rồi, tôi đã đuổi cổ nó đi. Nói tình thật, tôi đã chịu đựng nó hết nổi rồi. Hôm nay, tự nó lại dẫn xác về. Đến đứng cũng không vững nữa. Bây giờ nó đang nằm nghỉ sau chuồng. Chỉ vài tuần lễ nữa là lại sức thôi. Rồi lại khỏe mạnh như xưa, chứ chả việc gì đâu. Chỉ cần cho ăn uống, tẩm bổ chút ít thôi.

- Khoan đã - bác Kazangap ngắt lời - Chú tính dọn nhà đi nơi khác chứ gì? Chứ bỗng dưng sao lại mang con Karanar trả tôi? Tôi có đòi chú bao giờ đâu mà chú làm thế?

Edigej đã thực lòng thổ lộ hết với Kazangap những dự tính của mình. Nào là, anh sẽ thu xếp đưa cả gia đình đi nơi khác. Nào là, anh chán Sarozek lắm rồi, đã tới lúc cần "đổi gió". May ra mọi chuyện rồi sẽ tốt đẹp hơn. Bác Kazangap chăm chú lắng nghe, mãi sau mới nói:

- Tính liệu thế nào, chuyện đó tùy chú. Riêng tôi, tôi không sao hiểu nổi. Chính chú, chú cũng chẳng hiểu mình muốn gì cơ mà. Thôi được, cứ cho là chú sẽ dọn đến nơi khác đi. Nhưng dẫu có làm thế nữa, chú cũng đừng hòng trốn thoát được chính bản thân mình. Có đi đến cùng trời cuối đất, chú cũng vẫn bị cái nỗi bất hạnh đó nó theo sát bên lưng. Cô ấy rồi sẽ cứ theo chú đến bất cứ chốn nào, Edigej ạ. Thôi đi, nếu chú là một trang nam tử, tôi nghĩ, chú cứ nên ở lại đây, cố thử sức với chính mình xem có thắng được những nỗi cay cực kia không. Chứ bỏ ra đi có khó gì. Anh quái nào chả làm được chuyện ấy. Nhưng biết đứng vững trước tai họa, đâu phải ai cũng làm được!

Edigej không đồng ý với người bạn già. Nhưng anh vẫn làm thinh, không cãi lại. Anh ngồi im ngẫm nghĩ, chốc chốc buông tiếng thở dài. "Không lẽ đến nơi khác, vẫn lại cứ thế này mãi sao? - anh nghĩ bụng - Nhưng liệu mình có quên được không nhỉ? Mà tại sao lại phải quên kia chứ? Đã thế thì sống cách nào đây? Không thể không nghĩ đến, mà nghĩ đến lại đau lòng. Cô ấy thì thế nào nhỉ? Bây giờ, cô ấy liệu có gặp được người tử tế không? Hay lại toàn những phường đốn mạt. Đã thế, biết ai thông cảm, ai giúp đỡ cho? Và cả Ukubala cũng lại khổ tâm - suốt bao ngày phải âm thầm chịu đựng sự ghẻ lạnh của mình, bộ mặt hầm hầm của mình... Mà nào có tội tình chi?"

Kazangap đã hiểu thấu tất cả những gì đang diễn ra trong Edigej-Bão Tuyết. Bác hắng giọng để bạn chú ý những gì mình sắp nói, cốt cho tình thế bớt căng thẳng. Và khi Edigej ngước lên, bác bèn bảo thẳng:

- Vả lại, tôi chẳng việc gì phải đi thuyết giáo chú, Edigej ạ? Nào tôi có được lợi lộc gì đâu. Chính chú cũng tự biết thế nào là phải, trái kia mà. Và dù có sự có đến nông nỗi đó đi nữa, tôi cũng chỉ mong có một điều: chú đừng là Rajmaly, còn tôi dừng phải làm Abdilkhan. Cả trăm dặm quanh đây không hề có lấy một gốc bạch dương nào để tôi có thể trói chú. Chú muốn làm gì tùy ý, có bị buộc chân buộc cẳng gì đâu.

Có điều trước lúc ra đi, chú hẳn ngẫm nghĩ, suy tính cho kỹ đã.

Những lời đó mãi đến giờ vẫn còn in sâu trong tâm trí Edigej.

CHÚ THÍCH

[13] MUKHTAR AUEZOV (1896 - 1961) - Nhà văn Xô-viết Kazakhstan - Viện sĩ hàn lâm khoa học Kazakhstan (1946). Viết truyện, kịch. Giải thường Lênin 1959. Giải thưởng Quốc gia Liên Xô năm 1949 (N.D).

[14] Cháu khổ lắm rồi, đã kiệt sức vì buồn nhớ. (Chú thích của tác giả).

[15] Talgak: Món ăn mà người mang thai ao ước, để thỏa mãn một nhu cầu đặc biệt nào đó về khẩu vị (Chú thích của tác giả).

[16] Kajmancha: lạc đà cái tơ.

« Lùi
Tiến »