MỘT NGÀY DÀI HƠN THẾ KỶ

Lượt đọc: 3266 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 12

Câu chuyện về gã Tansykbaev mắt cú vọ ấy đầu đuôi thế này.

Cuối xuân năm một ngàn chín trăm năm mươi sáu, đoạn đầu máy ga Kumbel có tổ chức một cuộc mít-tinh lớn mới toàn thể cán bộ công nhân viên đến dự. Tất cả công nhân, kỹ sư đường sắt, từ khắp các nhà ga lớn nhỏ quanh vùng đều nô nức kéo về. Chỉ những ai hôm ấy phải trực trên các tuyến đường mới vắng mặt. Trong đời mình, Edigej-Bão Tuyết đã từng dự không biết bao nhiêu cuộc hội họp, nhưng anh chưa bao giờ chứng kiến một buổi mít-tinh đáng ghi nhớ như thế.

Cuộc mít-tinh được tổ chức ngay tại phân xưởng sửa chữa đầu máy. Người đông nghẹt đến nỗi những ai chậm chân phải trèo lên tận rầm sát mái nhà mới có chỗ ngồi. Nhưng điều quan trọng nhất là những lời phát biểu! Tên Berya bị lột trần chân tướng. Ai cũng lên án nghiêm túc, cũng phỉ nhổ cái tên đao phủ đáng nguyền rủa ấy không chút thương tiếc! Mãi đến chiều tối, người ta vẫn còn tiếp tục thi nhau lên diễn đàn. Lần này, cả anh em công nhân đang làm việc tại đoạn đầu máy cũng lên phát biểu. Không một người nào bỏ ra về nửa chừng, ai cũng cứ như bị đóng đinh vào ghế. Cả gian nhà rộng thênh thang râm ran không ngớt giọng nói lao xao của những người tham dự mít-tinh, như cả một khu rừng đang xào xạc gió. Edigej còn nhớ rõ một lời nhận xét bằng tiếng Nga của ai đó đang ngồi cạnh anh: "Hệt như là biển cả trước cơn bão lớn". Quả đúng thế thật. Tim anh đập liên hồi trong lồng ngực, ở ngoài mặt trận, trước lúc tấn công, tim cũng đập gấp gáp như thế. Và khát kinh khủng, cổ khô cháy. Nhưng người đông nghịt thế này, lấy đâu ra nước uống cho đủ? Khát đến mấy cũng đành chịu. Giờ giải lao Edigej chạy ngay đến gặp Chernov, trước làm trưởng ga, nay có chân trong đảng ủy đoạn đầu máy. Ban nãy, ông ngồi trên ghế chủ tịch đoàn.

- Anh Andrej Petrovich ạ, tôi muốn lên phát biểu mấy lời, được chứ?

- Muốn thì mời lên, ngại gì!

- Muốn thì tôi muốn quá đi rồi! Nhưng trước tiên, tôi tính gặp anh hỏi ý kiến đã. Chắc anh còn nhớ cậu Kuttybaev hồi nọ làm ở chỗ bọn tôi chứ nhỉ? Abutalip Kuttybaev! Sau, cậu ấy bị một lão thanh tra gửi thư tố giác là đã viết hồi ký về nước Nam Tư. Chả là hồi chiến tranh, Abutalip có tham gia du kích bên ấy. Gã thanh tra kia còn tố giác đủ thứ nữa. Thế là đám tay chân của Berya liền ập đến bắt cậu ấy đi. Ít lâu sau cậu ấy chết trong tù chẳng hề được xét xử gì cả. Anh nhớ rồi chứ?

- Tôi nhớ ra rồi. Chính vợ anh ấy đã đến gặp tôi để nhận giấy báo tử mà.

- Đúng đấy! Được ít lâu, chị vợ đưa hai đứa con đi nơi khác. Hôm nay nghe anh em phát biểu, tôi nhớ ngay đến vụ này. Ta với Nam Tư vẫn hữu nghị với nhau - chứ có bất đồng gì đâu! Thế vì lẽ gì những người vô tội lại phải lâm vào cảnh khốn khổ? Hai thằng con Abutalip giờ hẳn đã lớn rồi, phải cho chúng học hành tử tế. Những nỗi oan ức kia phải được giải tỏa. Để từ nay không ai dám khinh thường mẹ con họ nữa. Vì chỉ riêng chuyện mồ côi bố, hai thằng bé cũng đã đủ cay cực lắm rồi.

- Gượm đã, Edigej. Thế anh muốn phát biểu về chính chuyện ấy chứ gì?

- Vâng, chính chuyện ấy.

- Nầy, thế tên họ lão thanh tra nọ là gì, hả?

- Tôi không biết, nhưng sẽ hỏi được thôi. Nói của đáng tội, tôi chưa gặp mặt hắn bao giờ.

- Thế hỏi ai bây giờ? Với lại anh có giữ được trong tay một bằng chứng đích xác gì chứng tỏ là chính hắn đã viết thư tố giác Abutalip không?

- Lúc này ai còn cần đến những thứ ấy nữa?

- Phải có bằng chứng cụ thể mới được, anh Bão Tuyết thân mến ạ. Ngộ nhỡ không phải thế thì sao? Đây đâu phải chuyện đùa, đúng chứ? Edigej-Bão Tuyết ạ, vì anh đã hỏi, nên tôi xin góp mấy ý kiến thế này. Anh nên viết một bức thư, trình bày rõ mọi chuyện, rồi gửi lên Alma-Ata. Phải viết thật tỉ mỉ, kể hết ngọn ngành, và gửi thẳng cho ban chấp hành trung ương nước cộng hòa. Để trên ấy có cơ sở điều tra đến đầu đến đũa. Sẽ chóng vánh thôi, Edigej ạ. Đảng sẽ bắt tay ngay vào việc. Rồi anh xem!

Cùng với toàn thể những người dự mít-tinh, Edigej đã đồng thanh hô to hai câu khẩu hiệu; giọng rất đanh thép: "Vinh quang thay đảng ta! Nhiệt liệt ủng hộ đường lối của đảng!" Cuối buổi mít-tinh có ai đó đã cất tiếng hát bài "Quốc tế ca". Tức thì có mấy người nữa hòa theo, và trong chớp mắt, toàn thể những người có mặt đều đồng thanh hát vang bài chính khí ca vĩ đại của mọi thời đại, bài chính khí ca của hết thảy những ai đã từng bị áp bức bao đời. Lòng Edigej dào dạt như sóng biển, một cảm xúc đắc thắng, tự hào, đồng thời pha lẫn chút dư vị đắng cay, về sự thống nhất giữa mình và hết thảy những ai vốn làm nên cái cốt lõi và tinh hoa của Trái Đất. Bài chính khí ca của những người cộng sản, vang lên mỗi lúc một lớn, một cao, bùng cháy trong tim ngọn lửa của đức can trường và lòng quyết tâm dám đứng lên bảo vệ, khẳng định quyền những người được chiến đấu cho hạnh phúc của mọi người. Và vẫn như mọi lần, hễ xúc động mạnh, Edigej lại mơ thấy mình được về với biển Aral. Ở đó, tâm hồn anh như một con hải âu tự do sải cánh bay trên những ngọn sóng bạc đầu - sóng alabash.

Lòng hân hoan, Edigej hối hả trở về nhà. Rồi, vừa uống trà, anh vừa sôi nổi kể lại tỉ mỉ cùng vợ hết thảy những gì đã được chứng kiến tại cuộc mít-tinh. Anh cũng thuật lại cả chuyện anh định lên diễn đàn phát biểu và những câu trả lời của Chernov. Ukubala chăm chú nghe chồng kể, luôn tay rót cho chồng hết chén trà này đến chén trà khác trong ấm samova, còn Edigej cứ uống mãi, uống mãi.

- Khiếp, khéo anh uống hết cả cái ấm trà ba bốn lít này mất! - chị kinh ngạc, cười phá lên.

- Em biết đấy, hôm nay trong cuộc mít-tinh chẳng hiểu sao anh thấy khát ghê quá. Anh thấy hồi hộp lạ. Người đông khiếp lên được, chẳng còn có chỗ mà lách đi nữa. Mít-tinh xong, anh toan đi tìm nước, uống một bụng thật no cho bõ khát, nhưng nhìn ra đã thấy tàu chạy về hướng ga mình sắp sửa khởi hành. Anh vội vàng trèo ngay lên đầu máy. Tưởng ai, hóa ra lại là người quen: cậu Zhandos, trên ga Togrek-Tam. Anh đã uống bao nhiêu nước ở chỗ cậu ấy rồi đấy chứ. Nếu không chắc em còn phải rót nước mỏi tay!

- Thì anh cứ uống nữa đi, xem ai thua ai nào - Ukubala thốt lên, trong khi tay lại rót thêm ra một chén trà nữa. Được một lát, vợ anh lại nói: - Anh nghĩ đến chúng, đến bọn trẻ nhà Abutalip là đúng đấy, Edigej ạ. Thời thế nếu quả đã thay đổi thật, anh nên mạnh dạn lên để cho hai đứa trẻ mồ côi kia dùng bị ai ức hiếp nữa, tội nghiệp chúng, anh ạ. Viết thư - dĩ nhiên là tốt rồi. Nhưng trong khi chờ thư đến được trên ấy, rồi đợi cho người ta xem xét, tìm hiểu nọ kia, chi bằng anh cứ thu xếp, lên thẳng trên Alma-Ata một chuyến. Để kể hết mọi chuyện cho trên ấy người ta rõ.

- Theo em, thì anh nên đi Alma-Ata, gặp thẳng trung ương à?

- Thế không được sao? Vì công việc kia mà. Hơn nữa, anh Elizarov đã mời anh bao lâu rồi, nhưng anh đã có dịp lên thăm đâu. Thư nào anh ấy cũng không quên cho địa chỉ, phải không nào? Em không đi được rồi, chứ anh đâu có gì trở ngại. Em đi, con cái gửi lại cho ai? Đừng trì hoãn nữa, anh ạ. Cứ xin nghỉ phép ít lâu. Phép năm của anh, từ hồi nào đến giờ, khéo đủ chó anh nghỉ cả trăm năm ấy chứ. Đi một chuyến đi anh, để đến tận nơi, trình bày cặn kẽ với lãnh đạo trên ấy.

Edigej lấy làm ngạc nhiên về trí xét đoán của vợ.

- Em sáng trí thật đấy, Ukubala ạ. Được rồi, để anh tính liệu thêm đã nhé.

- Có gì đâu mà phải tính liệu này? Khéo lại để mất dịp may thì uổng. Làm càng sớm càng hay, anh ạ. Anh Afanasij Ivanovich thế nào cũng sẽ giúp anh. Anh ấy nhất định phải biết rõ anh là nên đến cơ quan nào, nên tìm gặp những ai.

- Vì công việc chung thì anh ấy chẳng nề hà gì đâu.

- Hãy nghe em, đừng trì hoãn nữa. Với lại nhân tiện lên thủ đô; anh tìm mua giúp em vài thứ cho hai đứa trẻ ở nhà. Chỉ nay mai thôi, chúng đã to tướng rồi. Con Saule thì sang thu đã phải đến trường đấy. Chẳng biết có nên gởi nó vào nội trú hay cứ để ở nhà? Anh đã tính đến chuyện đó chưa ấy nhỉ?

- Anh tính đến rồi, tính đến rồi, nhưng còn chưa quyết - Mãi lúc này, Edigej-Bão Tuyết mới sực nhớ tới chuyện đó. Nhưng anh cố không để cho vợ nhận thấy sự ngạc nhiên của mình? Con Saule chóng lớn thật, sắp sửa cắp sách đến trường được rồi.

- Nếu anh đã tính đến rồi thì em chẳng cần phải nhắc nữa - Ukubala nói tiếp - Anh cứ yên tâm mà đi. Lên trên ấy, nhớ kể cho họ biết chúng mình đã cơ cực ra sao trong những năm vừa qua. Thuyết phục họ cố giúp hai thằng bé mồ côi, ít ra cũng minh oan được cho cha chúng, ít nữa rảnh rỗi, anh cũng nên đi thăm mẹ con họ một chuyến: chẳng có gì phiền hà cho ba mẹ con em đâu. Vả lại, em cũng chẳng còn trẻ nữa - Ukubala nói, rồi khẽ thở dài.

Edigej ngước nhìn vợ. Lạ thay, vợ chồng lúc nào cũng ở bên nhau, thế mà anh không hề nhận thấy điều mà lúc này anh trông thấy. Vợ anh dĩ nhiên không còn trẻ nữa, nhưng còn lâu mới đến tuổi già. Tuy vậy, anh vẫn cảm thấy ở Ukubala có một cái gì mới mẻ khác lạ. Anh hiểu ngay ra - đó là sự sáng trí, sự khôn ngoan trong ánh mắt Ukubala và những sợi tóc bạc đầu tiên trên mái đầu của vợ. Tuy chỉ đôi ba, bốn sợi tóc trắng như cước ở hai bên thái dương, nhưng dẫu sao những sợi tóc ấy cũng đã nói lên những năm tháng đã qua đi trong cuộc đời Ukubala...

Hôm sau, Edigej đã có mặt tại ga Kumbel như một hành khách bình thường. Anh phải đi ngược đường một đoạn như thế, vì từ Boranly-Bão Tuyết không có tàu chạy lên Alma-Ata. Vả lại, đằng nào thì cũng phải đánh điện báo tin trước cho Elizarov. Mà chỉ trên Kumbel mới có trạm bưu điện.

Chẳng mấy chốc, chuyến tàu Moskva - Alma-Ata đã vào ga. Edigej lên ngay chuyến đó, và chỉ lát nữa thôi, tàu ấy sẽ lại chạy ngang qua Boranly-Bão Tuyết. Người ta xếp cho anh một chỗ trong toa cu-pê, ở tầng trên, cất hành lý xong, Edigej ra hành lang, đứng bên cửa sổ, để khỏi bỏ lỡ cơ hội được đứng từ trên tàu nhìn xuống ga nhà như một hành khách. Xong đâu đó, anh mới có thể yên tâm trèo lên giường, đánh một giấc, vì còn phải đi hai ngày đường ròng rã nữa. Anh nghĩ bụng thế, tuy rằng đến ngày hôm sau anh đã thấy bứt rứt, không biết trốn đi đâu cho thoát khỏi cảnh ở không bất đắc dĩ trên tàu. Thế nhưng lúc mới lên tàu, anh lại lấy làm lạ không hiểu sao những hành khách khác có thể cuộn tròn trong chăn mà ngáy khì khì trên các giá ngủ?

Tuy nhiên, hôm đầu, nhất là những giờ đầu tiên, Edigej thấy lòng vui như mở hội, thậm chí còn hồi hộp nữa, với cái cảm giác bỡ ngỡ của lần xa nhà dài ngày đầu tiên. Anh đứng bên cửa sổ chồm hẳn nửa người ra ngoài, đội chiếc mũ mới mua ở các quầy bách hóa trong ga để diện trong chuyến đi, khoác thêm bên ngoài chiếc áo sơ-mi sạch sẽ, chiếc ki-ten khá chững chạc, mà Kazangap còn giữ được từ sau chiến tranh đến giờ. Kazangap đã một hai bắt anh phải mặc chiếc áo ki-ten (bác còn bảo phải đeo hết huân chương và huy chương lên ngực nữa, để trông cho được mắt) cùng cái quần ga-li-phê và đi đôi ủng da mềm, loại hảo hạng vẫn trang bị cho sĩ quan quân đội. Edigej-Bão Tuyết rất thích đôi ủng ấy, mặc dù anh rất ít có dịp dùng đến nó. Anh cho rằng khi giao dịch với người ngoài, ai cũng nên có một đôi ủng thật diện, và một chiếc mũ thật mới. Cả hai thứ ấy lúc này anh đều có đủ.

Anh vẫn đứng bên cửa sổ với tâm trạng ấy: Ai đi qua cũng kính nể bước tránh sang bên và ngắm anh từ đầu đến chân, vẻ ngoài của Edigej-Bão Tuyết sở dĩ đáng chú ý chắc hẳn vì phong thái của anh chững chạc và nét mặt lộ vẻ xúc động.

Đoàn tàu mở hết tốc lực, chạy băng băng trên thảo nguyên Sarozek mênh mông đang độ xuân về, như thể cố đuổi theo cái ngấn chân trời trong sáng đang lẩn trốn về phía xa. Bốn bề tựa hồ chẳng còn gì khác ngoài bầu trời lồng lộng và dải thảo nguyên thênh thang rộng mở. Trời đất liền nhau ở tít mãi đằng chân trời, đoàn tàu tốc hành của Edigerj đang mải miết lao nhanh đến đó.

Nhưng kia rồi, những vuông đất của ga Boranly đang chạy nhanh đến với anh. Ở đây, mỗi nếp lượn, trên mặt đất, mỗi hòn đá anh đều thuộc lòng. Tàu càng đến gần Boranly-Bão Tuyết lòng Edigej càng thêm bồn chồn như thể anh đã xa nhà hàng mấy năm trường. Nhà ga kia rồi. Thấp thoáng trước mặt anh cây cột tín hiệu, những nếp nhà bé bỏng, những gian bếp cỏn con, những thanh ray, thanh tà-vẹt xếp đống bên chân nhà kho. Tất cả những thứ ấy như đang hối hả để dồn lại sát bên tuyến đường xe lửa, nằm trải dài giữa thảo nguyên mênh mông, hoang vắng. Edigej chỉ còn kịp nhận thấy hai con bé nhà anh. Hôm nay, hai đứa chắc cũng chạy ra đón tất cả những chuyến tàu khách đi từ Tây sang Đông. Cả Saule lẫn Sharapat đều vẫy tay, nhảy cỡn lên cho bố dễ nom thấy, và sung sướng mỉm cười với những vuông cửa sổ lướt nhanh qua trước mắt. Bím tóc trên đầu hai đứa bé cũng đong đưa theo người đến ngộ nghĩnh, mắt đứa nào đứa nấy sáng rực lên. Theo bản năng, Edigej nhoài hẳn ra ngoài khung cửa, cho gần lũ con hơn, tay vẫy lia lịa, miệng lắp bắp những lời âu yếm, nhưng hai đứa trẻ hoặc là không nhìn thấy, hoặc là không nhận ra bố. Dẫu sao anh cũng thấy hởi lòng hởi dạ vì hai đứa đã chạy ra tiễn bố. Hành khách trên tàu chẳng ai đoán được là anh vừa bỏ lại sau lưng hai đứa con gái nhỏ, nếp nhà của chính anh, cái ga bé bỏng của chính anh! Và càng không thể ngờ rằng mé sau nhà ga, trên thảo nguyên thênh thang, con Karanar danh tiếng của anh đang nhởn nhơ gặm cỏ bên đám anh chị em đồng loại. Ngay từ xa, Edigej đã nhận ra nó và anh chợt thấy mắt cay cay.

Tàu qua thêm mấy ga nữa, Edigej mới lên giường nằm. Anh thiếp đi ngay. Và ngủ một giấc dài thanh thản, trong tiếng ru đều đều của bánh xe vẫn "cành cạch" khe khẽ, mỗi khi lăn qua những mối nối trên đường và tiếng trò chuyện thì thào của những hành khách cùng toa.

Quá trưa hôm sau, rặng Alatau bắt đầu hiện ra - từ Chimkent và kéo dài suốt vùng Semirechija bát ngát. Núi ra núi, nhìn mà sướng mắt! Edigej-Bão Tuyết đã từng được ngắm bao lần những đỉnh núi hùng vĩ phủ tuyết, sừng sững vươn cao dọc tuyến đường sắt đến tận Alma-Ata ấy, nhưng chưa bao giờ anh thấy chán mắt. Đối với anh, dân vùng thảo nguyên Sarozek, đó quả là một kỳ quan, một cảnh tượng của vĩnh hằng. Rặng Alatau chẳng những khiến anh khâm phục về sự hùng vĩ, mà còn khơi dậy trong tâm hồn anh nhu cầu suy ngẫm khi ngắm nhìn nó. Anh rất thích thú với cảm giác ấy - anh lặng lẽ suy ngẫm khi rặng núi kia hiện ra trước mắt. Anh nghĩ đến hết thảy những gì sẽ trình bày và cả lời ăn tiếng nói nữa, với những người có trách nhiệm mà anh chưa từng gặp, trong những cuộc tiếp xúc sắp tới. Những người đó đã trịnh trọng tuyên bố rằng những sai lầm trước đây sẽ không bao giờ còn tái diễn nữa, và chính vì lẽ đó nên anh muốn kể hết với họ câu chuyện chua xót về gia đình Abutalip. Để họ xem xét, họ quyết định bây giờ phải làm gì sửa chữa sai lầm đó. Dù không làm cho Abutalip sống lại được, ít ra cũng để cho hai đứa con anh ấy không còn bị ai xúc phạm, để cho mọi con đường đều rộng mở trước mặt chúng. Thằng lớn - Daul - thu này đã phải cắp sách đến trường, phải để cho nó được đi học đàng hoàng, chẳng phải sợ hãi, giấu giếm gì hết. Khổ nỗi, không biết hai anh em nó hiện giờ ở đâu? Sống ra sao? Và Zaripa đang phải xoay xở thế nào để nuôi hai đứa?

Anh thấy lòng nặng trĩu một nỗi xót xa, khi nghĩ tới chuyện đó. Đã đến lúc phải quên đi dĩ vãng, cất đi cái gánh nặng đè trĩu lòng mình. Cô đã ra đi, để anh đừng bao giờ nghĩ đến cô, người thiếu phụ thân thương ấy nữa. Nhưng chỉ Thượng đế họa chăng mới biết được cái gì có thể quên đi, và cái gì không thể! Edigej-Bão Tuyết buồn lòng, lặng người đi, nhẫn nhục cam chịu sự an bài của số phận. Thì còn biết tâm sự cùng ai nữa? Ai là người hiểu được lòng anh? Những ngọn núi phủ tuyết đang vươn cao mãi lên trời kia hẳn sẽ hiểu ngay đấy, nhưng trên cao ấy chắc gì chúng đã để tâm đến những nghịch cảnh trần tục của kiếp người. Chúng vẫn là những đỉnh núi hùng vĩ của rặng Alatau, khi bao người trần thế đã ra đời, rồi chết đi, và hẳn chúng cứ trường tồn thế mãi cho dù chúng đã khơi dậy ở con người bao ý nghĩ, khi chiêm ngưỡng chúng, trong khi chúng vẫn lặng thinh, thi gan cùng năm tháng...

Edigej bỗng nhớ lại một ý nghĩ mà Abutalip đã có lần tâm sự cùng anh, ít lâu sau ngày ghi được câu chuyện về nhà danh ca Rajmaly và ngẫm nghĩ nhiều về câu chuyện đó. Abutalip nói: Những người như Rajmaly và Begimaj, khi gặp nhau trên đường đời, họ đem đến cho nhau bao hạnh phúc, thì cũng gây cho nhau bấy nhiêu khổ đau - vì họ cùng lôi cuốn nhau vào một tấn bi kịch không lối thoát: Tình cảnh bất lực của con người khi cố tìm cách vượt ra ngoài vòng phán xét chật hẹp của đồng loại. Họ hàng thân thích của Rajmaly đã cấm ngăn ông, vì họ lầm tưởng rằng làm như thế chính là bảo vệ lợi ích của ông. Lúc bấy giờ, những lời triết lý thông minh ấy, đối với Edigej, vẫn chỉ là những lời bàn luận thông thái đơn thuần không hơn không kém, cho mãi đến ngày chính anh đã trải qua đau khổ, anh mới hiểu được, qua kinh nghiệm bản thân, cái lẽ phải chứa đựng trong đó. Dù câu chuyện giữa anh và Zaripa khác xa câu chuyện đó, như mặt trăng với mặt trời, dù giữa họ chưa hề xảy ra chuyện gì, ngoài việc anh nghĩ nhiều đến cô và tha thiết yêu cô, nhưng Zaripa vẫn tự đứng ra nhận lấy đòn trừng phạt trước tiên, để lẩn trốn tấn bi kịch không có lối thoát nhất định xảy đến. Cô đã tự quyết định cắt đút hẳn mối quan hệ giữa hai người, như người ta thắt chặt động mạch, cho máu đừng chảy nữa, nhưng chẳng nghĩ gì đến anh, nghĩ đến cái giá mà anh sẽ phải trả cho cái quyết định của cô. May mà anh vẫn sống đến bây giờ, tuy rằng phải sống rất cay cực. Và giờ đây, nỗi nhớ nhung thỉnh thoảng hiện về, khiến anh day dứt đến mức anh sẵn sàng chạy đến tận cùng trời cuối đất, miễn là được gặp lại cô, miễn là được nghe cô nói, dù chỉ một vài lời...

Edigej tuy tự cười thầm, nhưng vẫn nhớ đến điều mà Abutalip đã nói cho anh hay, và lúc bấy giờ anh cảm thấy là kỳ diệu: một danh nhân ai ai cũng biết tiếng, bên nước Đức, nhà thơ vĩ đại Goethe, đâu như cũng gặp một câu chuyện tương tự như câu chuyện của chính anh. Tên của nhà thơ phát âm theo tiếng Kazak, tuy không được thuận tai cho lắm, nhưng điều đó can hệ gì - mỗi người vốn được số mệnh gán cho một cái tên, bất chấp ý thích của anh ta cơ mà? Ông già Goethe ấy, tuy đã ngoài bảy mươi, cũng say mê một cô thiếu nữ và đã được nàng đem lòng yêu lại bằng một tình yêu tha thiết. Chuyện đó ai ai cũng biết, nhưng chẳng ai nỡ trói chân trói tay ông và lu loa rằng ông hóa rồ... Còn Rajmaly thì phải chịu trăm cay nghìn đắng! Bị hạ nhục, bị làm cho điêu đứng, đến nỗi phải lìa đời, mà chung qui chỉ vì họ mong cho ông gặp được điều lành điều tốt... Zaripa cũng muốn đem lại điều lành, điều tốt cho anh, cô đã làm những gì lương tâm mách bảo... Vì thế, anh chẳng hề bực tức, ghét bỏ gì cô. Làm sao lại có thể bực tức, ghét bỏ người mà mình yêu dấu? Có đáng trách chăng chỉ nên tự trách mình. Thà cứ nhận lấy phần đau khổ về mình, còn hơn là trút lên đầu cô ấy... Và nếu được, thì nên nhớ đến cô ấy và yêu cô ấy, ngay cả khi cô ấy đã từ bỏ anh...

Edigej-Bão Tuyết đã lên tàu, đi Alma-Ata, chính vì anh vẫn nhớ và yêu Zaripa, vẫn nhớ đến Abutalip và hai thằng bé mồ côi, con anh ấy.

Mãi đến lúc tàu sắp vào ga Alma-Ata, Edigej mới chợt nghĩ tới cảnh khó khăn sẽ xoay trở sao đây nếu Elizarov đi vắng? Quái quỷ chưa! Sao mình không nghĩ tới chuyện đó ngay từ lúc ở nhà? Cả Ukubala cũng thế. Hai vợ chồng chỉ toan tính chuyện thuộc về phần mình. Quanh năm, hai vợ chồng cứ ru rú ở Sarozek, nên tưởng ai cũng như mình. Afanasij Ivanovich rất có thể vắng nhà lắm chứ. Làm việc ở Viện hàn lâm, thiếu gì người mong kẻ đợi anh ấy. Hơn nữa, một học giả cỡ anh ấy đâu phải ít công việc.

Rất có thể anh phải công tác đâu đó, phải xa nhà vài ngày. "Nếu thế thì thật rủi ro!" - Edigej lo lắng. Và anh đã bắt đầu tính đến chuyện phải đến gặp ban biên tập tờ báo của ngành mình, in bằng tiếng Kazak, địa chỉ của tòa soạn, số báo nào cũng có in ở cuối trang. Thế nào người ta cũng sẽ mách cho anh nên đến bộ phận nào, nên gặp ai. Mà cần gì phải là nhà báo mới biết rõ nên đến đâu để trình bày những việc loại ấy! Ở nhà, anh cảm thấy mọi cái đều rất đơn giản - chỉ việc thu xếp vài thứ, rồi lên đường, thế thôi. Bây giờ, lúc sắp đến nơi, Edigej-Bão Tuyết mới thấy lo. Chẳng phải tự dưng mà các cụ ngày xưa lại bảo: Anh thợ săn mà cứ ngồi ru rú ở nhà mơ mộng đến cuộc săn, là anh thợ săn xoàng. Ấy thế mà chính anh đã xử sự y hệt như vậy đấy. Dĩ nhiên, anh đã có tính đến chuyện nhờ vả Elizarov. Elizarov thì anh coi như chỗ người nhà: quen biết nhau từ lâu, anh ấy đã từng nhiều lần ăn ở tại nhà anh tại ga Boranly, lại biết rõ chuyện Abutalip Kuttybaev. Ai chứ Elizarov thì chỉ cần nói nửa câu đã hiểu hết ngọn ngành. Kể với người lạ: nên ăn nói thế nào, mở đầu ra sao và lời lẽ thế nào - như cách đứng ra làm nhân chứng trước tòa, hay chỉ báo cáo bình thường, hay còn cách nào khác nữa? Không khéo họ lại vặn vẹo: trước hết, anh là ai, tại sao anh cứ nằng nặc đòi minh oan cho Abutalip Kuttybaev? Quan hệ giữa hai người thế nào? Anh là anh trai, anh rể hay anh họ?

Tàu vào đến ngoại ô Alma-Ata. Hành khách đã thu xếp hành lý, ra đứng sẵn ở hành lang, chờ tàu đỗ. Edigej cũng đã sắp sẵn mọi thứ, chỉ chờ tàu dừng lại là bước xuống. Nhà ga hiện ra kia rồi và chỉ chốc lát nữa thôi, tàu sẽ về đến đích. Trên sân ga, người chen chân không lọt: người ra đón người thân, kẻ chuẩn bị lên tầu về Moskva. Tàu từ từ dừng lại, Edigej-Bão Tuyết bỗng nhìn thấy bóng Elizarov lướt qua ngoài khung cửa sổ. Anh mừng quýnh, y như một cậu bé con. Elizarov vừa tươi cười vẫy mũ chào anh, vừa bước nhanh lên đoàn tàu. May quá! Edigej chẳng dám mơ đến chuyện Elizarov sẽ đích thân ra đón. Từ mùa thu năm ngoái đến giờ, họ chưa gặp lại nhau. Không, Afanasij Ivanovich vẫn không hề thay đổi, tuy anh đã luống tuổi. Vẫn cái dáng hoạt bát, vẫn cái vóc gầy gầy, như ngày nào. Kazangap gọi anh ấy là argamak - ngựa đua thuần chủng. Một lời khen quí giá nhất của bác ta - "argamak Afanasij". Elizarov biết thế và hồ hởi chấp nhận - cứ mặc cho ông cụ nói, nói theo cái cách ông cụ ưa thích! Có điều Kazangap còn gắn thêm đằng sau chữ "già": "argamak-già". Nhưng già thì già, vẫn cứ là một argamak chính cống! Elizarov rất cám ơn về cách gọi ấy! Và anh rất hay ghé về Sarozek công tác, giản dị trong bộ áo quần điền dã, với đôi ủng may bằng vải kirza[19], với chiếc mũ lưỡi trai tàng tàng, từng theo chủ nhân đi khắp đó đây, với chiếc áo vét-tông màu xanh thẫm, cắt rất khéo, khoác bên ngoài sơ-mi, với chiếc cà vạt tinh tươm trên cổ, mặc dù anh vẫn đang lặn lội giữa vùng Sarozek. Chiếc vét-tông ấy rất hợp với khổ người Elizarov, và cái chính là hợp với mái tóc đã bạc quá nửa trên đầu.

Trong khi tàu chưa đỗ hẳn, Afanasij Ivanovich vẫn sóng bước bên toa tàu, hướng gương mặt tươi cười qua cửa sổ nhìn Edigej. Đôi mắt xám, ẩn dưới hai hàng mi bạc trắng, ánh lên một vẻ sung sướng chân thành về cuộc gặp gỡ bấy lâu từng mong đợi. Lòng Edigej ấm hẳn lại, và những ngờ vực mới đây phút chốc đã tiêu tan hết. Anh mừng rỡ: "Mở đầu đã tốt đẹp rồi, cầu trời cho chuyến đi này thành công".

- Chà, rốt cuộc rồi cũng thưởng công cho tôi cơ đấy! Khiếp, bao lâu rồi nhỉ, chào anh Edigej! Xin chào, Bão Tuyết - Elizarov hớn hở.

Hai người ôm chầm lấy nhau. Vì đông đúc, vì mừng vui, Edigej có hơi bối rối. Trong khi đưa nhau ra một chỗ vắng ở cạnh ga, Elizarov dồn dập hỏi bạn đủ điều. Nào sức khỏe của mọi người dưới ấy ra sao - Kazangap, Ukubala, Bukej, mấy cô con gái của anh, nào bây giờ ai làm trưởng ga. Thậm chí cả về Karanar nữa.

- Sao, con Karanar-Bão Tuyết của anh độ rày thế nào? - Elizarov tiếp, vẫn vui vẻ như ban nãy, miệng cười suốt - vẫn gầm rống liên miên như sư tử chứ?

- Nó đi rong một chuyến đến cả tuần lễ. Khiếp, chẳng còn thiếu chuyện gì là nó không làm - Edigej đáp - Dẫu sao nó vẫn tung hoành trên Sarozek thênh thang của nó. Thì nó cần gì khác đâu?

Cạnh ga đang đỗ một chiếc ô tô đen to lớn, nước sơn bóng nhoáng. Xe ô tô mà bề thế như vậy, Edigej mới nhìn thấy lần đầu. Đó là chiếc xe mang nhãn hiệu ZIM - loại ô tô tốt nhất của những năm 50.

- Con Karanar của tôi đấy - Elizarov đùa - Lên xe đi, Edigej ạ - Anh tiếp, với tay mở cánh cửa trước - Để ta còn về.

- Thế ai lái? - Edigej hỏi.

- Tôi tự lái lấy - Elizarov đáp và ngồi vào sau vô-lăng - về già, tôi chơi ngông một chuyến, như anh thấy đấy. Anh xem, ta kém gì dân Mỹ đâu?

Elizarov ung dung nổ máy. Rồi, trước lúc xe chuyển bánh, anh mỉm cười nhìn khách, ra ý hỏi:

- Anh lên đây, chắc chẳng phải chỉ đi chơi suông đâu nhỉ? Cứ nói thực tình đi: ở được bao lâu nào?

- Tôi lên đây có chút việc, anh Afanasij Ivanovich ạ. Chưa biết có trôi chảy không. Thành thử tôi phải gặp anh trước, nhờ mách nước giúp.

- Tôi biết là anh lên đây vì công việc rồi, chứ không đời nào anh chịu xa rời giang sơn Sarozek! Đúng chứ? Thôi, ta hẵng tạm thu xếp thế này: Tôi sẽ đưa anh về đằng nhà. Nghỉ ở đó ít lâu. Đừng cãi tôi Edigej. Tôi chẳng để anh trọ ở khách sạn đâu. Anh là khách quí của tôi kia mà. Cũng như những dịp tôi về dưới Sarozek, đều ăn ở tại nhà vợ chồng anh vậy. Syjdyn syjy bar - người Kazak vẫn nói thế! Kính trọng đáp lại bằng kính trọng! Đúng không nào?

- Vâng, đại để thế - Edigej xác nhận.

- Thôi, ta thỏa thuận với nhau rồi đấy. Hơn nữa, được thế tôi càng vui thêm. Vì bà Julija nhà tôi đã lên với thằng cháu trên Moskva rồi: chả là vợ nó vừa sinh thêm được đứa nữa. Thành ra bà ấy mừng quýnh lên, hối hả đến với các cháu ngay.

- Lại có thêm một cháu nội nữa, chúc mừng anh! - Edigej nói.

- Vâng, anh nên nhớ là đứa thứ hai đấy nhé - Elizarov reo lên, vươn cao hai vai lên - ít nữa được làm ông, anh sẽ hiểu tôi hơn! Mà chẳng xa xôi gì đâu. Hồi bằng tuổi anh bây giờ, tôi còn nhởn nhơ như gió ngoài đồng trống. Kể cũng lạ, tôi với anh không cùng trang lứa, thế mà vẫn rất hiểu nhau. Thôi, ta đi nhỉ? Tôi sẽ đưa anh dạo một vòng quanh thành phố, phía trên đồi kia. Đã bao giờ anh được ngắm núi non, ngắm tuyết trắng trên đỉnh, khi đứng ở trên cao chưa nhỉ, tuyệt lắm; tôi sẽ đưa anh đến sát bên chân núi, đến tận Medeo. Còn nhà vợ chồng tôi, hình như tôi đã kể với anh rồi, ở tít ngoai rìa thành phố, như giữa nông thôn vậy.

- Tôi nhớ rồi, Afanasij Ivanovich ạ. Anh bảo, nhà ở ngay bên suối. Suốt ngày toàn nghe tiếng nước róc rách chảy.

- Lát nữa, anh sẽ thấy tôi chẳng nói ngoa chút nào. Ta lên đường thôi. Trời còn lâu mới tối, tha hồ ngắm cảnh phố phường. Lại đang là mùa đẹp nhất trong năm, đang xuân nhé! Hoa nở rộ khắp nơi.

Giữa lòng thành phố, con đường thẳng tắp chạy từ ga xuyên gần như suốt thủ đô, rồi vươn dài về phía xa. Con đường mỗi lúc lại lên cao dần. Hai bên đường san sát những gốc thông xanh, chen lẫn những vườn hoa rộng. Elizarov cho xe chạy từ từ. Anh vui vẻ giới thiệu với bạn, mỗi lúc một nhiều, những cơ quan này nọ, những cửa hàng bách hóa, những khu nhà ở. Ngay trung tâm thành phố, trên một quảng trường rộng thênh thang và quang đãng, sừng sững một tòa nhà đồ sộ. Nhờ được thấy nhiều lần trên tranh ảnh, Edigej nhận ra ngay Trụ sở chính phủ nước Cộng hòa.

- Ban Chấp hành Trung ương cũng làm việc ở đó - Elizarov gật đầu.

Họ đi qua, không hề ngờ rằng sáng hôm sau hai người đã lại đưa nhau đến đó để trình bày vụ Abutalip. Edigej-Bão Tuyết còn được thấy tận mắt một tòa nhà nữa, khi xe họ bỏ con đường thẳng tắp đang đi, để rẽ sang trái, đó là nhà hát ca kịch Kazakhstan. Rồi sau khi vượt qua vài ba khu phố nữa, hai người lại vòng trở về con đường dẫn lên núi - lên khu thể thao Medeo. Trung tâm thành phố đã lùi lại đằng sau. Elizarov cho xe bon trên một đường phố dài, chạy giữa những tòa biệt thự, những bồn hoa, nằm trên bờ những dòng kênh thủy lợi đầy ắp nước, róc rách chảy từ trên núi xuống. Bốn phía san sát những vườn cây ăn quả đang kỳ rộ hoa.

- Đẹp quá! - Edigej thốt lên.

- Tôi rất mừng là anh lên chơi đúng vào dịp này - Elizarov đáp - Thật không đâu đẹp bằng Alma-Ata. Mùa Đông, cảnh vật ở đây cũng rất đẹp, nhưng lúc này tuyệt nhất! Lòng tôi như đang ca hát vậy!

- Nghĩa là anh đang thấy lòng thanh thản - Edigej mừng thay cho Elizarov.

Elizarov ngước đôi mắt xám hơi lồi gật đầu nhìn bạn, rồi cau mày, nghiêm mặt lại, nhưng chỉ thoáng chốc những nếp nhăn bên khóe mắt lại xòe nở: anh mỉm cười thích thú.

- Xuân này là mùa Xuân đặc biệt, Edigej ạ. Đất nước đang có nhiều thay đổi. Vì thế, cuộc sống càng thú vị hơn, tuy tuổi tôi mỗi năm một nhiều. Ta cứ ngoái nhìn dĩ vãng, mà ngẫm nghĩ kỹ lại xem. À, đã bao giờ anh bị ốm một trận liệt giường, đến nỗi lúc bình phục, anh bỗng cảm nhận được hương vị cuộc sống khác hẳn trước chưa ấy nhỉ?

- Tôi chẳng cần nhớ nữa - Edigej đáp bâng quơ - đâu như sau cái lần bị chấn thương...

- Anh xưa nay vốn lực lưỡng như một con bò mộng ấy mà! - Elizarov phá lên cười - Thực tình tôi không định nói thế. Chỉ là quen mồm... Thế đấy. Chính Đảng ta đã tự nói lên tiếng nói đầu tiên. Tôi rất lấy làm hài lòng về điều đó, mặc dù về phía cá nhân, tôi chẳng có lý do gì đặc biệt cả. Tôi thấy lòng phơi phới và tràn trề hy vọng như hồi còn trai trẻ. Hay chẳng qua chỉ vì tôi đã thực sự già rồi? Vì lẽ ấy chăng?

- Tôi lên đây cũng chính vì sự kiện đó. Afanasy Ivanovich ạ.

- Cụ thể là vì việc gì?

- Hẳn anh còn nhớ đấy. Có lần, tôi đã kể với anh câu chuyện về Abutalip Kuttybaev.

- Chà, ra thế cơ đấy, ra thế cơ đấy! Dĩ nhiên tôi còn nhớ như in câu chuyện đó. Ra chính là vì vụ ấy. Anh đã nhìn ra thực chất của vấn đề, cừ thật! Và tức tốc lên ngay.

- Cừ gì cái thứ tôi. Ukubala gợi ý cho tôi đấy. Mỗi tội là chưa biết bắt đầu như thế nào. Đi đâu? Gặp ai?

- Bắt đầu thế nào ư? Chuyện đó, chúng mình phải bàn kỹ một tí. Nhưng thôi, để về nhà, pha ấm trà, ta ngồi bàn cho đến nơi đến chốn - rồi Elizarov nói tiếp, giọng đầy ngụ ý, sau một hồi im lặng: - Thời thế đúng là đổi thay rồi Edigej ạ. Chứ cách đây ba năm, ngay cả trong ý nghĩ, làm gì anh đã dám tính đến chuyện lên đây, yêu cầu xác minh vụ đó. Còn bây giờ khác hẳn. Chẳng còn gì để lo sợ nữa. Về nguyên tắc, lẽ ra phải như thế. Phải làm thế nào để tất cả chúng ta, không trừ ai, đều dám đứng lên bảo vệ lẽ phải, cho chính nghĩa. Và không một ai được phép hưởng một đặc quyền nào hết. Tôi hiểu vấn đề như thế đấy.

- Anh ở thủ đô, nên thấy vấn đề sáng hơn. Vả lại, anh còn là một học giả - Edigej nói thêm ý nghĩ của riêng mình, - ở dưới ấy, trong cuộc mít-tinh tổ chức tại đoạn đầu máy, nhiều người cũng phát biểu thế. Hôm ấy, tôi đã nghĩ ngay tới chuyện Abutalip, vì lâu nay chuyện ấy cứ dằn vặt tôi hoài. Thậm chí tôi còn muốn lên diễn đàn nữa kia. Mà chẳng phải chỉ để nói về lẽ phải, về lẽ công bằng đâu. Abutalip còn để lại hai thằng con, hai đứa giờ đã lớn, thằng anh sang thu đã phải cắp sách đến trường...

- Ba mẹ con cô ấy hiện giờ ở đâu?

- Tôi làm sao biết được. Mấy mẹ con đã đưa nhau đi nơi khác lâu rồi. Gần ba năm nay, nên tôi chẳng biết tí gì.

- Điều đó chẳng có gì đáng lo. Ta sẽ tìm được họ thôi, nhất định sẽ tìm được. Cái quan trọng nhất lúc này, nói theo cách nói của tòa án, là yêu cầu thẩm xét lại vụ Abutalip.

- Chính thế đấy. Tôi biết thế nào anh cũng sẽ tìm được ngay những lời lẽ cần thiết. Vì thế tôi mới lên đây gặp anh.

- Tôi nghĩ chuyến đi của anh sẽ không vô ích đâu.

☆ ☆ ☆

Nhờ biết gõ đúng cửa, công việc trôi chảy nhanh. Edigej về nhà đúng ba tuần, một công văn từ Alma-Ata đã gửi xuống, ghi rõ bằng giấy trắng mực đen, rằng Abutalip Kuttybaev, nguyên công nhân đường sắt ở ga Boranly-Bão Tuyết, đã chết trong thời gian cứu xét, được phục hồi danh dự vì hoàn toàn vô tội. Tờ công văn ghi rõ rành rành như thế! Đây là bản sao gửi cho đơn vị, để thông báo với toàn thể công nhân, cán bộ nhà ga, nơi đương sự từng làm việc trước đây.

Gần như cùng một lúc với tờ công văn kia, Edigej còn nhận được của Afanasij Ivanovich Elizarov một bức thư thật đáng nhớ. Edigej đã giữ lại suốt đời bức thư ấy, cùng với những giấy tờ quan trọng nhất của gia đình: Giấy khai sinh của hai đứa con, bằng khen và huân chương, huy chương về thành tích chiến đấu, giấy tờ xác nhận thương tật trong thời kỳ ngoài mặt trận và các bản nhận xét công tác hàng năm...

Trong bức thư dài ấy, Afanasij Ivanovich báo tin rằng anh ấy rất lấy làm hài lòng về việc cấp trên đã giải quyết nhanh chóng vụ Abutalip và rất sung sướng về việc Abutalip được phục hồi danh dự. Anh coi sự kiện đó là dấu hiệu tốt lành của thời buổi mới, và theo lời anh, là một thắng lợi mới của chính bản thân mình.

Elizarov còn cho biết rằng sau khi Edigej ra về, anh đã mấy lần đến gặp thêm những cơ quan mà hai người từng cùng nhau đến, và được biết thêm nhiều tin tức quan trọng. Một là viên dự thẩm Tansykbaev đã bị cách chức, thải hồi, bị tước lại mọi bằng khen, huy chương đã được tặng thưởng trước đây và bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Hai là, anh nhận được một thông báo cho biết gia đình Abutalip Kuttybaev hiện đang sống tại Pavlodar. (Ba mẹ con đã đưa nhau đến mãi tít tận đấy, khiếp thật!). Zaripa hiện làm giáo viên ở một trường cấp I. Cô ấy đã kết hôn cùng một người khác. Tin chính thức do cơ quan hữu trách địa phương cung cấp. Elizarov cũng cho hay thêm rằng những nghi ngờ của Edigej về viên thanh tra ấy hoàn toàn được xác nhận trong quá trình thẩm xét vụ án. Thì ra chính hắn đã viết đơn tố giác Abutalip Kuttybaev. "Tại sao hắn lại làm cái trò ấy, cái gì đã xui hắn ngậm máu phun người như thế? Tôi đã ngẫm nghĩ nhiều về điều đó, nhớ lại cả những chuyện tương tự, đã được nhìn thấy tận mắt, cũng như những gì anh đã kể với tôi, Edigej ạ. Vẽ lại trong óc toàn bộ câu chuyện, tôi thử cố tìm hiểu những động cơ nào đã thôi thúc hắn ta hành động như vậy. Tiếc thay, mãi đến giờ tôi vẫn chưa tìm ra lời giải đáp. Tôi không tài nào cắt nghĩa nổi cái gì đã nhen lên trong ruột gan hắn lòng căm ghét đê tiện ấy đối với một người hoàn toàn chẳng hề liên quan gì đến hắn - Abutalip Kuttybaev? Chắc hẳn đó là một chứng bệnh, một thứ dịch mà nhiều người đã mắc phải, đã nhiễm phải trong một chặng đường lịch sử nào đó. Cũng có thể là cái tâm địa tai ác kiểu đó vốn ẩn náu trong bụng dạ con người, ngay từ buổi nhân loại mới hình thành - lòng ghen ghét, đố kỵ đã lần hồi hủy hoại tâm hồn và cuối cùng, dẫn người ta đến chỗ nhẫn tâm, ác độc. Nhưng một người như Abutalip thì có thể có điều gì để khơi dậy ở ai đó lòng ghen ghét độc địa kiểu đó? Câu hỏi đó đối với tôi vẫn là một câu đố hiểm hóc. Còn về cách thức đàn áp, tàn sát, thì nó cũng xưa cũ như trái đất này, Edigej ạ. Có thời, chỉ cần bị tố giác là kẻ dị giáo, nạn nhân cũng đã bị ném đá đến lõa máu đầu, máu mặt, giữa các buổi chợ phiên ở Bukhara; còn bên châu Âu thì bị lên giàn hỏa. Chuyện đó, tôi đã nói với anh nhiều rồi nhân chuyến đi Alma-Ata của anh vừa qua. Sau khi những sự kiện vụ án Abutalip được làm sáng tỏ qua quá trình thẩm xét, tôi càng thêm tin chắc rằng, phải còn lâu nữa con người mới gột sạch được trong tâm hồn mình cái tật xấu đó - căm ghét, thù hằn đối với nhân cách trong mỗi một con người. Nhưng lâu là bao nhiêu thì còn khó đoán lắm. Tuy nhiên, bất chấp hết thảy những cái đó, tôi vẫn ngợi ca cuộc sống vì sự bất diệt của lẽ phải, của chính nghĩa trên trái đất. Anh xem đấy, lẽ phải, chính nghĩa, lần này lại chiến thắng! Dẫu phải trả một giá quá đắt chăng nữa, nhưng nó vẫn chiến thắng! Và bao giờ cũng vẫn thế, khi nhân loại còn tồn tại. Tôi rất lấy làm hài lòng là anh đã giành lại được lẽ phải một cách hết sức vô tư, hào hiệp...".

Ấn tượng của bức thư đó vẫn tươi nguyên trong tâm trí Edigej suốt nhiều ngày. Và anh tự lấy làm lạ cho chính mình - bản thân anh đã đổi thay nhiều, anh tiếp nhận thêm một điều gì đó, như thể hiểu rõ được mình hơn. Lúc bấy giờ, lần đầu tiên, anh bắt đầu nghĩ đến chuyện đã đến lúc phải lo liệu cho tuổi già, chẳng còn xa xôi gì nữa...

Bức thư của Elizarov đánh dấu một bước ngoặt trong đời anh, chia nó thành hai chặng: trước và sau ngày nhận được thư. Hết thảy những gì thuộc chặng đầu, đã lùi về dĩ vãng mờ mờ sương khói, xa dần, như dải bờ cát khi nhìn từ ngoài khơi vào. Hết thảy những gì thuộc chặng sau, đều bình thản trôi đi, ngày nọ tiếp ngày kia, khiến anh có cảm tưởng là chúng sẽ kéo dài rất lâu nhưng không phải là bất tận. Nhưng cái chính là nhờ bức thư đó, anh biết được rằng Zaripa đã đi lấy chồng. Tin ấy một lần nữa lại khiến anh thấy lòng nặng trĩu. Anh tự an ủi mình, rằng chuyện ấy anh đã biết, đã có dự cảm từ trước rồi, nhờ một thứ linh cảm nào đó mách bảo, mặc dù anh chẳng hề biết cô hiện ở đâu, hai thằng bé có bị trắc trở gì không, cô sinh sống ra sao giữa những người xa lạ. Anh cảm nhận được điều đó một cách hết sức rõ ràng và da diết, nhất là lúc đáp tàu về lại với gia đình. Khó mà nói được vì lẽ gì cảm giác đó lại đến với anh. Nhưng hoàn toàn chẳng phải vì tâm tư anh đang sầu muộn. Trái lại, Edigej rời Alma-Ata với một tâm trạng hoan hỉ. Anh và Elizarov đi đến đâu cũng được tiếp đón rất thân tình và thông cảm. Và điều đó tự nó cũng khiến anh tin tưởng vào sự đúng đắn của những dự định mình đang theo đuổi và khiến anh thêm hy vọng vào kết quả tốt lành của việc thẩm xét lại vụ án. Thực tế quả đúng như vậy. Hôm Edigej rời Alma-Ata, Elizarov đã đưa anh đến một hiệu ăn lớn cạnh ga, dùng bữa. Còn lâu mới tới giờ tàu chạy, đôi bạn rất ung dung thù tạc và giãi bày tâm tư trước giờ tiễn biệt. Trong lần trò chuyện đó, theo như Edigej hiểu, Afanasy Ivanovich đã ngỏ cùng anh một ý nghĩ thầm kín vẫn ấp ủ bấy nay. Vốn là một đoàn viên Kômxômôn Moskva, tình nguyện đến Turkestan chiến đấu ngay từ những năm hai mươi, chống lại bọn thổ phỉ Basmach[20] rồi lưu lại đây suốt đời đeo đuổi công việc thăm dò địa chất; Elizarov cho rằng chẳng phải vô cớ mà toàn thể thế giới đã đặt bao hy vọng vào những gì đã được Cách mạng tháng Mười khai phá. Dù phải trả giá đắt cho những sai lầm và thất bại, nhưng cuộc hành tiến trên nẻo đường chưa khai phá ấy vẫn không dừng lại phút nào - thực chất của lịch sử chính là ở đó. Anh còn nói thêm rằng giờ đây cuộc hành tiến ấy sẽ được triển khai với một sức mạnh mới. Chỗ dựa vững chãi cho điều đó là biết tự sửa sai, tự thanh lọc xã hội. "Nếu chúng ta có thể tự nói thẳng với chính mình điều đó, nghĩa là chúng ta vẫn có đủ sức lực cho ngày mai, cho tương lai" - Elizarov khẳng định. Đôi bạn đã tâm sự thoải mái biết bao trong bữa cơm tiễn biệt ấy.

Chính với tâm trạng ấy Edigej-Bão Tuyết đã lên đường về lại Sarozek của anh.

Rặng Alatau biếc xanh ánh tuyết lại diễu qua trước mắt Edigej. Và bấy giờ, trong lúc tính toán trên đường những công việc phải làm khi đến Alma-Ata, anh đã hiểu, như được tiếng nói nội tâm mách bảo, rằng có lẽ Zaripa đã đi lấy chồng.

Nhìn núi non, nhìn phong cảnh xa xa trong vắt của tiết xuân, Edigej bất giác nghĩ rằng trên đời này vẫn còn có những người trung thực - cả trong lời nói, lẫn trong việc làm, như Elizarov, rằng thiếu những người như anh ấy, con người hẳn còn phải cay cực, khổ sở hơn gấp bội, trên mặt đất này. Và sau khi chấm dứt tất cả những vất vả trong việc chạy tới chạy lui minh oan cho Abutalip, Edigej cũng bất giác nghĩ đến những cảnh ngang trái của thời thế đảo điên - giá còn sống, thì giờ đây Abutalip sẽ được giải hết những nỗi oan ức, và chắc hẳn anh sẽ tìm lại được niềm hạnh phúc và những ngày tháng bình yên bên hai đứa con trai. Giá anh còn sống nhỉ! Chẳng cần gì khác nữa. Giá anh còn sống, dĩ nhiên Zaripa vẫn sẽ thủ tiết đợi anh cho đến ngày trút hơi thở cuối cùng. Dứt khoát là như thế. Người thiếu phụ ấy sẽ vẫn đợi chồng, vì cô chẳng cần gì khác cả. Còn nếu chẳng có ai nữa để mà chờ, thì việc gì lại phải sống cô đơn, trong khi mình vẫn còn son trẻ, gần như là một thiếu nữ. Một khi cơ sự đã thế và nếu gặp được một người tâm đầu ý hợp, thì sao lại không chọn người ấy làm chồng? Dẫu sao, Edigej cũng rầu rĩ vì những ý nghĩ ấy. Anh thử cố nghĩ sang chuyện khác, cố không nghĩ đến nó nữa, không để cho trí tưởng tượng mặc sức tung hoành nữa, nhưng nào có ăn thua. Anh bèn bỏ sang toa bán đồ ăn thức uống trên tàu.

Ở đây giờ này còn vắng khách, bàn ghế sạch sẽ, tinh tươm, không khí thoáng đãng - vì tàu mới khởi hành chưa được bao lâu. Edigej ngồi vào một bàn ăn, sát cửa sổ. Anh gọi một chai bia, nhấm nháp một mình để khỏi ngồi không. Khung cửa sổ rộng thênh thang khiến anh tha hồ ngắm nhìn núi non, thảo nguyên, bầu trời mênh mông bao trùm trên cảnh vật. Những cánh đồng cỏ xanh dài tít tắp, đó đây đỏ rực hoa anh túc, ở bên này đường tàu và những dãy núi phủ tuyết hùng vĩ, chập chùng ở phía bên kia, nâng tâm hồn Edigej lên cao, đưa anh đến những ước mơ khó lòng với tới và những nỗi buồn chua xót khôn nguôi. Anh muốn uống một ly rượu thật nồng, cho vơi bớt nỗi buồn. Anh gọi một chai vốt-ca. Đã nhắp cạn mấy cốc rồi nhưng Edigej vẫn cảm thấy như là chưa uống. Anh gọi thêm một chai bia nữa ngồi uống tiếp, mặc cho tâm trí chìm sâu vào suy tưởng. Trời đã ngả về chiều. Những dải đất hai bên đường tàu vun vút lao đi trong màu chiều trong trẻo của tiết xuân.

Thấp thoáng lướt qua bên ngoài cửa sổ nào xóm làng, vườn tược, đường sá, cầu cống, nào người đi đường, nào gia súc. Nhưng tất cả những thứ đó Edigej chẳng buồn để ý, nỗi buồn nhớ da diết bỗng ập đến với một sức mạnh mới mẻ, khiến tâm hồn anh u ám, nặng trĩu: dĩ vãng êm đẹp, thế là đã chấm dứt rồi.

Trong trí nhớ Edigej lại hiện về lời ca vĩnh biệt của Rajmaly:

Khi đoàn du mục từ những ngọn núi đen kéo xuống,

Khi đoàn du mục từ những ngọn đồi xanh kéo xuống,

Em đừng chờ anh trong phiên chợ nữa, Begimaj...

Với tâm trạng đó, Edigej-Bão Tuyết cảm thấy mình cũng bị những sợi thừng nghiệt ngã trói chặt vào gốc bạch dương, như Rajmaly thuở xưa, và cũng bị cưỡng đoạt, bị cắt lìa ra khỏi chính mình...

Anh ngồi như thế đến tận chiều tối, khi toa ăn đông nghẹt khách và ngột ngạt đến tức thở vì khói thuốc bay mù mịt. Edigfej đâm ngỡ ngàng, không hiểu vì lẽ gì những thực khách kia lại khinh suất đến như vậy, sao họ lại có thể xúc động vì những chuyện vặt vãnh đến thế, và tại sao họ lại có thể đi tìm thú vui trong rượu vốt-ca và khói thuốc? Anh đứng dậy, lách người qua dám đông, tìm anh nhân viên bán hàng, đang vừa thở hổn hển, vừa tíu tít chạy đi chạy lại với chiếc khay trong tay, giữa những dãy bàn ăn huyên náo vì tiếng nói, cười ầm ĩ, để thanh toán tiền, rồi hối hả trở về giường mình. Chân bước, người nghiêng ngả vì sàn tàu chòng chành, Edigej càng cảm thấy nặng nề và cô đơn hơn.

Sống làm gì, đi đâu, làm gì nữa?.., Lúc này anh bỗng cảm thấy hết sức dửng dưng với chuyện mình từ đâu ra đi, đâu là nơi phải đến và đi để làm gì; anh dửng dưng với đoàn tàu tốc hành đang hối hả xé màn đêm. Anh dừng lại bên một cánh cửa lên xuống, áp chặt vừng trán nóng bừng lên mặt kính lạnh, cứ đứng yên như thế, chẳng nhìn đi đâu, cũng chẳng để ý tới những hành khách tới lui chộn rộn sau lưng.

Tàu vẫn chòng chành lăn bánh trên đường. Muốn mở cửa, Edigej cũng mở được thôi, vì cũng như mỗi nhân viên ngành đường sắt khác, anh cũng có một chiếc chìa khóa riêng trong túi. Anh có thể mở cửa và bước qua cái vạch giới hạn đó... Giữa một khu đất vắng vẻ, Edigej nhìn thấy hai đốm sáng xa xăm mời gọi trong bóng đêm. Hai cái đốm sáng cứ chập chờn hồi lâu. Chắc là hai khung cửa sổ sáng đèn của một nếp nhà lẻ loi nào đó, mà cũng có thể là hai đống lửa nhỏ, do ai đó nhóm lên để trú đêm. Chắc họ đang xúm xít quanh đống lửa. Nhưng họ là ai? Vì lẽ gì họ lại phải qua đêm giữa cảnh đồng không mông quạnh ấy? Chao ôi, ước gì đó là Zaripa và hai thằng bé con cô! Ví thử đúng thế thực, chắc hẳn anh sẽ nhảy ngay xuống, chạy đến bên cô, thẳng một mạch không nghỉ, rồi gục đầu bên chân cô, mà khóc nấc lên không chút ngượng ngập, để nước mắt cuốn sạch đi những nỗi xót xa, buồn bã, đã tích tụ lại từ bấy đến nay.

Edigej-Bão Tuyết khẽ rên lên một tiếng, nhìn hai đốm lửa đang lùi dần trên thảo nguyên. Anh cứ đứng nguyên như thế bên cánh cửa lên xuống, nức nở không thành tiếng, chẳng buồn ngoái đầu lại, cũng chẳng buồn chú ý đến những bước chân rộn rịp qua lại của hành khách ở sau lưng. Mặt anh ướt đầm nước mắt... Và anh vẫn còn có thể mở cửa, bước qua cái vạch giới hạn đó...

Tàu vẫn lăn bánh trên đường, chòng chành khe khẽ.

Khi đoàn du mục từ những ngọn núi đen kéo xuống,

Khi đoàn du mục từ những ngọn đồi xanh kéo xuống,

Em đừng chờ anh trong phiên chợ nữa, Begimaj...

Những chuyến tàu ở vùng này chạy từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông...

Trải rộng hai bên đường tàu ở vùng này là những hoang mạc mênh mông - miền Sarozek và các thảo nguyên úa vàng thuộc miền Đất Giữa.

Ở vùng này, mọi khoảng cách bất kỳ đều được đem so với con đường sắt, như so với kinh tuyến Greenwich.

Những chuyến tàu vẫn chạy từ Đông sang Tây và từ Tây sang Đông...

Rời tổ trên bờ khe Malakumdychap, con diều hâu đuôi trắng bay vút lên không trung thăm chừng các vùng đất chung quanh. Chim bay lượn như thế trên khoảnh giang sơn nó chiếm lĩnh mỗi ngày hai lượt - trước trưa tròn bóng và, sau lúc trời ngả về chiều.

Chim lặng lẽ lượn vòng trên Sarozek, chăm chú quan sát để khỏi bỏ sót mọi động tĩnh dưới mặt đất - thậm chí cả sự di động của những gã bọ hung cục mịch, lẫn những ả thằn lằn tinh ranh - vừa khoan thai vẫy đôi cánh rộng mỗi lúc nâng chim lên cao hơn, để tầm mắt có thể nhìn rộng thêm, xa thêm. Nó không quên xê dịch những vòng lượn rất đều đặn, để càng ngày càng tiến đến gần hơn bãi săn ưa thích nhất - mảnh đất bị rào kín sau những cuộn dây thép gai sắt nhọn. Từ dạo khu vực rộng lớn này bị rào kín, các loại chim muông ở đây đông lên rõ rệt, vì cáo cầy và những giống thú chuyên sục sạo, săn bắt mỗi sáng không còn dám ngang nhiên mò đến đây như trước nữa. Riêng đối với diều hâu ta, cái bờ rào kia chỉ là một trò đùa. Chẳng hề gây khó dễ gì cho nó đã đành, mà thậm chí còn tiếp tay cho nó nữa. Ấy là nói thế thôi. Chứ diều hâu ta cũng đâm ngán ngại những lưỡi gai tua tủa của bờ rào ghê gớm ấy. Đã ba hôm rồi, nó rình rập một chú thỏ con.. Nhưng đến khi nó lao vút xuống như một mũi tên, chú thỏ đã kịp lủi vào giữa hàng rào, và suýt nữa chim ta đã bị dám gai nhọn kia đâm nát ngực. Nó phải vội vàng né người, bay chếch sang bên, rồi hối hả bay lên, giận dữ. Tuy thế, gai nhọn vẫn đâm sau vào giữa một đám lông. Lát sau, từ trên ức nó mấy chiếc lông xám bị rụng ra, bay lơ lửng giữa không trung. Từ đó, diều hâu luôn cố tránh xa cái bờ rào khủng khiếp nọ.

Vào giờ này, con diều hâu đang khoan thai giang rộng cánh bay giữa trời cao, đường bệ như một vị chúa tể trong cái giang sơn của nó, không hề vẫy cánh nhiều hơn mức cần phải có, để khỏi lôi cuốn sự chú ý của các giống vật trên mặt đất. Hôm nay, ngay từ sáng, chim đã tiến hành chuyến bay do thám lần đầu; và giờ đây, đang bay chuyến thứ hai. Cả hai lần, chim đều nhận thấy một cảnh tượng khác lạ: nào người, nào xe cộ, cứ tới lui rộn rịp trên những dãy đường băng thênh thang trong sân bay vũ trụ. Xe cộ thì đi đi về về tấp nập, còn người thì cứ xúm đông xúm đỏ bên những bệ phóng tên lửa. Những quả tên lửa ấy lâu nay vẫn nằm yên như những tòa nhà cao tầng trên các bãi phóng, mũi nghếch lên trời, nên từ lâu chim đã quen mặt. Nhưng hôm nay khác hẳn. Xe cộ đã lắm, mà người lại càng đông, tất cả đều hết sức tất bật...

Chim cũng nhận thấy một người cưỡi lạc đà, hai chiếc máy kéo nổ máy giòn giã và con chó hung lông xù mà nó đã gặp ban sáng giữa thảo nguyên, lúc này đang dừng lại bên ngoài hàng rào thép gai, vì chắc hẳn không tài nào vượt qua nổi...

Chim thấy mình như bị trêu gan, bởi lẽ con chó hung kia trông đến là vô tích sự, nhất là nó cứ xớ rớ, quanh quẩn bên chân mấy người đang đứng cạnh hàng rào. Nhưng chim vẫn tỏ vẻ dửng dưng đối với con chó xù, hơi đâu hạ mình, để tâm đến cái chuyện vớ vẩn ấy cơ chứ? Nó chỉ lượn quanh chỗ đó, để xem cho rõ tình thế và con chó hung lúc nào cũng ngoáy tít cái đuôi lông lá bên chân ngươi, rồi sẽ làm gì..,

Edigej ngẩng khuôn mặt đầy râu lên trời, nhìn con diều hâu đang bay lượn. "Loại đuôi trắng, lớn con lắm đây - bác nghĩ - Chà, giá mình là con diều hâu kia, ai ngăn nổi mình nhỉ. Mình sẽ bay vút đến Ana-Bejit, đậu xuống các phần mộ ở đó!"

Vừa lúc ấy, một chiếc ô tô hiện ra trên đường. "Viên trung úy kia rồi! - Bác mừng rỡ - Thôi, cầu trời cho mọi chuyện trót lọt!". Chiếc com-măng-ca nhanh chóng tiến thẳng về phía thanh gỗ chắn, dừng sát lại bên cửa trạm gác. Cậu lính trẻ đang đứng chờ sẵn. Cậu ta ưỡn người, chào viên trung úy chỉ huy đội bảo vệ Tansykbaev khi anh ta rời xe, báo cáo:

- Đồng chí trung úy, báo cáo đồng chí!...

Nhưng viên chỉ huy phẩy tay, ra hiệu bảo thôi, ngay khi cậu lính gác vừa bỏ tay xuống khỏi vành mũ lưỡi trai, mở miệng định báo cáo, và quay về phía mấy người đang đứng bên ngoài thanh gỗ.

- Ai đề nghị xin gặp? Ai đợi đâu? Đồng chí hả? - Tansykbaev hỏi, hướng sang phía Edigej-Bão Tuyết.

- Biz, bizgoj, karagym. Ana-Bejitke zheltpej turyp kaldyk. Kalaj đa bolsa, zhardamdesh, karadym[21] - Edigej đáp, cố tìm cách cho viên sĩ quan nhận thấy những huân chương, huy chương bác đeo trên ngực.

Nhưng những cố gắng của bác chẳng gây cho Tansykbaev một ấn tượng nào. Viên trung ý chỉ ho khan một tiếng và lạnh lùng ngắt lời Edigej, khi bác định nói tiếp:

- Đồng chí người ngoài, đề nghị hãy dùng tiếng Nga khi tiếp xúc với tôi. Tôi đang thừa hành phận sự quân nhân - Tansykbaev giải thích, hai hàng lông mày rậm chau lại trên cặp mắt lác.

- Đồng chí trung úy, cho phép tôi trình bày đề nghị của chúng tôi - Edilbaj-Cò Hương chen vào, giải nguy cho Edigej.

- Trình bày đi, có điều nên ngắn gọn thôi - Tansykbaev cảnh báo trước.

- Chỉ một phút thôi. Để tôi mời thêm anh con trai của ông cụ vừa quá cố, để anh ta cùng chứng kiến luôn thể - Edilbaj-Cò Hương quay sang phía Shabitzhan - Ê, Shabitzhan, Shabitzhan, lại đây tí đã.

Nhưng Shabitzhan vẫn đi tới đi lui tận đằng xa. Hắn phẩy tay, bực dọc đáp:

- Thì các người cứ việc tự thu xếp lấy.

Edilbaj-Cò Hương ngượng chín mặt.

- Xin lỗi trung úy, cậu ta đang bực vì không ngờ cơ sự lại ra thế này. Cậu ấy là con trai ông cụ đang nằm trong quan tài đây, cụ Kazangap đáng kính của chúng tôi. Còn kia là anh con rể, đang ngồi trên rơ-moọc đấy.

Anh con rể tưởng người ta gọi mình, liền trèo xuống.

- Những chi tiết ấy, tôi không quan tâm. Trình bày ngay vào thực chất vấn đề - viên chỉ huy đội bảo vệ đề nghị.

- Được thôi.

- Ngắn gọn và cho có thứ tự.

- Được. Ngắn gọn và có thứ tự.

Edilbaj-Cò Hương bắt đầu trình bày đúng như phải trình bày - họ là ai, từ đâu đến, với mục đích gì, và tại sao lại có mặt ở đây. Trong khi Edilbaj nói, Edigej chăm chú theo dõi sắc mặt của viên trung úy Tansykbaev và bác hiểu rằng đừng hòng hy vọng một điều gì tốt đẹp ở gã sĩ quan này. Hắn chỉ đứng nghe những đề nghị cho có lệ, thế thôi. Bác hiểu thế, và thấy ngao ngán hết sức. Và hết thảy những gì có liên quan đến cái chết của cụ Kazangap, mọi chuẩn bị cho việc chôn cất, hết thảy những gì đã làm để thuyết phục đám thanh niên bằng lòng đem cụ già lên mai táng tại nghĩa địa Ana-Bejit, mọi suy ngẫm của bác, hết thảy những gì mà bác coi là mối dây gắn bó đời bác với lịch sử của vùng Sarozek - tất cả, tất cả những thứ đó, trong khoảnh khắc, đều trở nên vô nghĩa, vô ích, và hèn mọn, chẳng ra gì, trước cái gã Tansykbaev này. Bác lặng người, cảm thấy những tình cảm tốt đẹp nhất đều bị sỉ nhục, bị thóa mạ. Bác đâm nực cười và bực dọc đến ứa nước mắt trước thái độ hèn nhát của Shabitzhan, mà mới tối hôm qua, hắn đã nốc cho dẫy rượu vốt-ca pha subat vào, rồi huyên thuyên, khoác lác đủ thứ về các đấng thần linh này nọ, những người ít nữa sẽ bị điều khiển hoàn toàn bằng vô tuyến điện; cố đem những hiểu biết của hắn ra để chộ dân Boranly, làm cho họ phải lác mắt; nhưng lúc này lại câm như hến! Bác cũng nực cười và bực dọc cả với chính mình: lôi dưới đáy rương ra chiếc thảm viền tua, trải trên lưng con Karanar-Bão Tuyết, để làm gì kia chứ - thứ trang sức mà lúc này chẳng ai thèm ngó ngàng đến? Cái gã trung úy Tansykbaev hách dịch kia, đến tiếng mẹ đẻ cũng không thích dùng hoặc ngại dùng thì làm sao còn biết đánh giá những vật trang điểm trên người con Karanar? Bác nực cười và bực dọc với anh con rể nghiện ngập của cụ Kazangap bất hạnh, đã không dám nhấp lấy một giọt rượu và cứ ngồi lì trên rơ-moọc, để được ở cạnh ông bố vợ vừa mất thêm vài tiếng đồng hồ nữa; lúc này cũng đã trèo xuống, đến đứng sát bên bác với dáng điệu của kẻ vẫn còn hy vọng là mọi chuyện rồi cũng sẽ kết thúc tốt đẹp. Cả với con Zholbars sắc hung, Edigej-Bão Tuyết cũng thấy nực cười và bực dọc: bám theo chân chủ mà làm gì và nhẫn nại nằm chờ cho đám tang đi tiếp mà làm gì kia chứ? Một con chó hèn mọn như nó thì cần gì đến tất cả những thứ ấy? Hay là chính nó đã dự cảm được rằng chủ mình rồi sẽ gặp chuyện lôi thôi, nên không nỡ bỏ mặc chủ một mình trong những giờ phút khó chịu này? Hai anh chàng Kalibek và Zhumagali lúc này vẫn ngồi trong buồng lái - sẽ phải nói gì với họ bây giờ và họ sẽ nghĩ gì sau tất cả những chuyện ngán ngẩm này?

Tuy bị xúc động và ngao ngán, nhưng Edigej vẫn cảm thấy nỗi tức tối đang dâng lên trong lòng và máu bác đang sôi lên sùng sục. Vốn hiểu rõ bản thân, biết mười mươi là sẽ nguy hiểm nếu cứ để mặc cho cơn giận muốn tác oai tác quái thế nào tùy ý, bác cố đem hết nghị lực ra để kìm nó lại. Không, bác không có quyền buông thả bản thân, trong khi người quá cố đang nằm trong chiếc rơ-moọc kia chưa chôn cất. Hơn nữa, một người tuổi tác như bác, nổi nóng và to tiếng xem thật khó coi. Edigej nghĩ thế, cố nghiến răng không để một lời nói, một cử chỉ nào tố giác những gì đang xảy ra trong lòng lúc này.

Đúng như Edigej chờ đợi, câu chuyện giữa Edilbaj-Cò Hương và gã chỉ huy đội bảo vệ chẳng mấy chốc đã xoay sang chiều hướng hoàn toàn tuyệt vọng.

- Tôi không thể giúp ích gì được. Có lệnh nghiêm cấm người lạ mặt vào khu vực này - Tansykbaev nói, sau khi Edilbaj-Cò Hương dứt lời.

- Khoản ấy, chúng tôi chưa hề được biết, đồng chí trung úy ạ. Chứ đã biết, ai còn đến đây? Đến để làm gì nào? Nhưng bây giờ, chúng tôi đã trót đến rồi, vậy đồng chí hãy đề nghị với cấp trên của đồng chí cho chúng tôi vào chôn ông cụ. Chẳng lẽ lại bắt chúng tôi chở người quá cố trở về.

- Tôi đã báo cáo lên rồi. Và được chỉ thị: không cho bất cứ ai vào vì bất cứ lý do gì đi nữa.

- Sao lại giở duyên cớ ra trong trường hợp này được, đồng chí trung úy? - Edilbaj kinh ngạc ' Làm như chúng tôi muốn viện ra cớ này cớ nọ không bằng. Mà viện cớ để làm gì nào? Vả chăng, chúng tôi có do thám do thiếc gì trong khu vực của đồng chí đâu? Nếu không phải chôn cất ông cụ, ai cần đưa nhau đến đây làm gì?

- Tôi nhắc lại với đồng chí một lần nữa là lệnh nghiêm cấm bất kỳ người lạ mặt nào vào đây.

- Chúng tôi mà lạ mặt ư? - Anh con rể nghiện ngập, nãy giờ nín thinh, bỗng lên tiếng - Ai là lạ mặt ở đây? Chúng tôi, hả? - Anh ta nói, khuôn mặt nhão nhẹt và võ vàng đỏ rực lên, môi tái nhợt đi.

- Đúng thế! Từ bao giờ vậy? - Edilbaj-Cò Hương phụ họa ngay.

Anh con rể nát rượu cố giữ để đừng đi quá trớn, nên nói bằng một giọng bình thường, không to tiếng, hiểu rõ cái nhược điểm của chính mình là không thạo mấy tiếng Nga - Bởi thế, anh ta tiếp, ngắc ngứ, cố cân nhắc từng chữ một:

- Đây là nghĩa địa cổ của trúng tôi, dân Sarozek. Và trúng tôi, người dân Sarozek, trúng tôi có quyền trôn cất người của trúng tôi ở đây. Khi đem trôn ở đây, từ rất lâu bà Ana-Bejit, trẳng ai biết vùng này sẽ trở thành khu cấm địa.

- Tôi không hề có ý định tranh luận với các đồng chí - Tansykbaev tuyên bố - Là chỉ huy trưởng đội bảo vệ giai đoạn hiện thời, một lần nữa tôi tuyên bố: không ai được phép vào khu cấm địa này cả bây giờ và cả trong tương lai gần đây.

Ai nấy đều nín thinh. "Phải cố kìm giữ, để đừng buông lời mắng nhiếc hắn!" Edigej-Bão Tuyết tự dặn thầm mình như thế, và liếc mắt nhìn lên không, bác bắt gặp con diều hâu đang khoan thai lượn vòng ở cách đó một quãng khá xa. Bác ghen tị với con chim bình thản và dũng mãnh ấy. Rồi quyết định: chẳng hơi đâu đi thử vận may lần nữa; phải quay về thôi, vì cố nữa cũng chẳng ăn thua. Nhìn con diều hâu lần nữa, bác lại cất tiếng:

- Đồng chí trung úy, đồng chí trung úy, chúng tôi đi đây. Nhưng hãy về nói giúp với ông nào chỉ huy đồng chí, ông tướng, ông tá gì đó hay cấp cao hơn càng tốt, là chớ nên làm như thế! Tôi, một quân nhân già, tôi nói thẳng: thế là không đúng, là vô lý.

- Đúng hay không - tôi không được quyền phê phán mệnh lệnh của cấp trên. Và mai kia, thế nào người ta cũng sẽ hạ lệnh cho tôi thông báo để các đồng chí rõ là phải hủy bỏ cái nghĩa địa này.

- Ana-Bejit ấy ư? - Edilbaj-Cò Hương sửng sốt.

- Đúng. Nếu cái nghĩa địa đó được gọi bằng cái tên ấy.

- Vì lẽ gì, hả? Nghĩa địa ấy cản trở ai nào? - Edilbaj nổi giận.

- Ở đó sẽ lập một tiểu khu mới.

- Quái thật! - Edilbaj giang rộng hai tay - Không còn chỗ nào nữa sao? Các người hết đất rồi phỏng?

- Kế hoạch đã dự tính thế rồi.

- Này, thế bố cậu là ai? - Edigej-Bão Tuyết hỏi Tansykbaev, giọng lục vấn.

Hắn ta đớ người ra.

- Đồng chí cần biết điều đó làm gì? Việc gì đến đồng chí, hả?

- Sao lại không việc gì? Cậu đừng có thở ra với chúng tôi cái điều mà cậu phải nói với những người định hủy bỏ cái nghĩa địa cổ xưa của chúng tôi. Hay là bố mẹ cậu, ông bà cậu không chết, hay là cả cậu nữa, cậu tính lột da sống đời?

- Điều đó chẳng liên quan gì đến công việc cả.

- Thôi được, muốn nói chuyện công việc, thì nào, ta nói chuyện công việc. Này, đồng chí trung úy, đồng chí hãy mời cái người chỉ huy cao nhất đơn vị đồng chí xuống đây, để nghe tôi nói: tôi yêu cầu được quyền đề đạt với người chỉ huy cao nhất của khu vực này mấy ý kiến. Bảo là tôi, Edigej Zhangeldin, một cựu chiến binh già, sinh sống tại đất Sarozek này, muốn trình bày đôi lời.

- Tôi không thể làm việc đó. Tôi đã được chỉ thị phải hành động ra sao rồi.

- Thế cậu có thể làm được gì nào? - Anh con rể nát rượu lại chen vào. Anh ta nói vẻ ngao ngán cùng cực: - Đến cảnh sát ngoài trợ cũng còn dễ trịu hơn mày!

- Chấm dứt ngay cái lối ăn nói xằng bậy ấy đi? - gã trung úy chỉ huy đội bảo vệ mặt tái mét, thẳng người lên, nói - Chấm dứt ngay! Rồi tránh xa cái ba-ri-e và cho hai chiếc máy kéo kia lùi lại ngay, để khỏi ngáng đường!

Edigej và Edilbaj-Cò Hương kéo anh con rể nát rượu ra chỗ khác, rồi lôi anh ta tới bên hai chiếc máy kéo đang dỗ giữa đường, nhưng anh ta vẫn ngoái cổ lại, hét to:

- Sagan zhol da zhetpejđi, sagan zher da zhetpejdi? Urdym sendejdin auzya![22]

Shabitzhan nãy giờ vẫn câm như hến, rầu rĩ đi tới đi lui một mình, bỗng quyết định lên tiếng, quay phắt lại phía mấy người đang đi tới:

- Sao? Quay lại thôi chứ? Biết ngay mà! Dắt nhau về thôi! Hết Ana-Bejit nhé! Hết nhé! Bây giờ thì cụp đuôi rồi nhé!

- Ai cụp đuôi hả? - Anh con rể nghiện ngập xông thẳng đến Shabitzhan, sừng sộ. Nếu ở đây mà có chó thì chính mày mới là đồ chó, thằng đê tiện! Khác gì nhau đâu, nó cũng đứng kia kìa, thế mà lúc nào cũng xoen xoét cái mồm - ta là cán bộ tỉnh đây! Cán bộ cóc gì ngữ mày!

- Này, đồ nát rượu, liều liệu cái mồm đấy! - Shabitzhan giận dữ quát ầm lên, cho người đứng ở tận trạm gác đằng kia cũng nghe thấy - Tao mà là họ, thì tao gô cổ mày ngay, cho mày chết rấp trong nhà đá để khỏi bắng nhắng! Có diệt hết ngữ này, xã hội mới đỡ khổ!

Câu sau cùng, Shabitzhan vừa nói, vừa ngoảnh mặt đi, ra cách bảo: "Tao thì tao nhổ toẹt vào mày và những loại người phụ họa với mày". Rồi, bất thần hắn hoạt bát hẳn lên, quay về phía hai người lái máy, ra lệnh, giọng hách dịch và bức bách:

- Này, sao còn ngồi trơ ra đó? Lùi máy kéo lại, còn chờ gì nữa. Đến bằng đường nào, thì lại cứ thẳng đường ấy mà về! Mẹ kiếp, lùi máy kéo lại! Mà còn về cho sớm! Dây với lũ ngốc đâm dại! Cả nghe quá mới nên nông nỗi này.

Kalibek rồ máy, và thận trọng cho chiếc rơ-moọc quay đầu lại. Anh con rể nát rượu liền nhảy lên, ngồi vào chỗ cũ, bên thi hài ông bố vợ. Còn Zhumagali phải ngồi chờ cho Edigej-Bão Tuyết tháo dây cương con Karanar đang buộc nơi cái gầu xúc. Tuy biết thế nhưng Shabitzhan vẫn không kiêng nể gì, trái lại, vẫn giục rối rít.

- Còn anh nữa, sao không quay xe lại? Cứ quay đi! Thây kệ hết! Quay lại! Cứ coi như đã chôn xong rồi! Vì tôi đã phản đối ngay từ đầu! Đủ lắm rồi! Quanh lại, về thôi!

Trong khi Edigej-Bão Tuyết cưỡi lên lưng con Karanar - đầu tiên phải bắt nó quỳ xuống, đóng yên lên, rồi mới trèo lên chân con vật, để ngồi vào giữa hai cái bướu - thì hai chiếc máy kéo đã khởi động, quay về, chậm chạp lăn bánh theo vết cũ. Họ chẳng buồn chờ nữa. Shabitzhan thì leo ngay lên chiếc xe đầu, rối rít giục giã.

Con diều hâu ấy vẫn lượn trên cao. Từ trên không nó vẫn dõi mắt quan sát con chó hung mà cử chỉ, dáng điệu chẳng hiểu sao đã khiến con chim bực tức. Nó lấy làm lạ là tại sao con chó không chạy theo hai chiếc máy kéo đi đầu, mà cứ quanh quẩn bên chân người cưỡi lạc đà, chờ cho người kia ngồi đàng hoàng trên yên, rồi mới tất tưởi theo sau.

Đoàn người ngồi trên hai chiếc máy kéo và trên lưng con lạc đà, cùng con chó hung lon ton theo sau, cố nép sát vệ đường, tiến về hướng bờ khe Maiakumdychap, nơi mà diều hâu làm tổ trên một gờ đất sét, giữa một cái rãnh sâu khuất nẻo. Giá vào lúc khác, diều hâu lo lắng, phát hiệu báo động, rồi tránh ra xa, nhưng vẫn không rời mắt khỏi những người khách lạ, đoạn sẽ hối hả bay đi gọi vợ, lúc này đang săn mồi trên cái giang sơn hợp pháp của nó ở kế bên, để hai vợ chồng còn hợp tác với nhau phòng khi cần bảo vệ tổ ấm. Nhưng bây giờ con diều hâu đuôi trắng vẫn bình chân như vại, vì lũ con của chúng đã đủ lông đủ cánh rời tổ lâu rồi. Hai cánh ngày một cứng cáp, lũ diều hâu con mỏ khoằm, mắt màu hổ phách, giờ đây đã biết sống tự lập, chiếm cứ những cõi giang sơn riêng trên đất Sarozek quanh đây, và tỏ ra chẳng niềm nở mấy khi gặp lại bố mẹ già, tình cờ lạc bước đến những giang sơn của chúng...

Con diều hâu vẫn dõi mắt theo đoàn người đang quay trở về; theo thói quen, chim không bỏ sót những gì đang diễn ra trong lãnh địa của mình. Con chó hung cứ quấn quít bên chân đoàn người, khiến nó chú ý nhiều nhất. Cái gì đã ràng buộc nó với họ, vì lẽ gì nó không tự đi kiếm ăn lấy, mà cứ ve vẩy đuôi, chạy theo sau, trong khi họ vẫn đang bận bịu với những công việc riêng của chính họ? Sống kiểu ấy thì sống làm gì? Chim cũng rất bận tâm đến những vật lạ mắt, lấp lánh trên ngực người cưỡi lạc đà. Chính vì thế nên nó nhận thấy ngay người cưỡi lạc đà đi sau, bất thần rẽ sang bên, và băng ngang sườn đồi, chạy lên phía trước, đón đầu hai chiếc máy kéo, lúc này đang chạy trên một khúc quanh của sườn đồi. Người ấy thúc con lạc đà chạy mỗi lúc một nhanh thêm, quất roi vun vút. Những vật lạ mắt sáng lấp lánh nhảy nhót và kêu leng keng trên ngực ông già. Con lạc đà cắm cúi chạy dấn lên, bốn vó sải rộng, còn con chó hung thì phi nước đại theo sau...

Cảnh ấy tiếp diễn khá lâu, cho đến lúc người cưỡi lạc đà vòng được lên phía trước mũi chiếc máy kéo đi đầu. Người ấy dừng lại, chắn ngang giữa đường, ngay trước lối rẽ vào thung lũng Malakumdychap. Hai chiếc máy kéo vội dừng lại.

- Gì thế? Lại chuyện gì nữa đấy? - Shabitzhan thò đầu ra ngoài buồng lái, hỏi.

- Chẳng có gì. Tắt máy đi - Edigej-Bão Tuyết ra lềnh - Tôi có câu chuyện muốn bàn.

- Lại chuyện gì nữa? Bọn này chán đến tận mang tai rồi, đừng làm mất thì giờ nhau nữa.

- Cậu chẳng phải chờ lâu đâu. Vì chúng tôi sẽ an táng ông cụ tại đây.

- Thôi đi! Nhạo báng thế chưa đủ sao? Shabitzhan nổi đóa lên, nới rộng thêm chiếc cà-vạt trên cổ, lúc này đã nhàu như như một mẩu giẻ - Tôi sẽ tự tay chôn cất bố tôi tại ga, không bàn biếc lôi thôi gì nữa hết! Đủ lắm rồi!

- Shabitzhan này! Ông cụ là bố anh, chẳng ai tranh giành với anh cái khoản ấy đâu. Nhưng đâu phải một mình anh đang sống trên đời này? Bởi thế, dù muốn dù không, anh cũng phải nghe mọi người chứ. Những gì xảy ra ở chỗ trạm gác, anh đã thấy tận mắt nghe tận tai rồi. Tất cả chúng ta ở đây, chẳng ai có lỗi hết. Nhưng còn một lẽ nữa, anh ngẫm cho kỹ. Anh đã thấy ở đâu người ta đưa người chết đi chôn, rồi lại phải mang trở về nhà chưa? Chưa bao giờ, đúng không nào? Mà cái nhục ấy, anh biết sẽ đổ xuống đầu ai không? Xuống chúng tôi đây. Tự cổ chí kim, chưa bao giờ thấy ai làm thế cả.

- Mặc, tôi bất chấp hết - Shabitzhan cãi.

- Bây giờ thì anh làm thế được vì no mất ngon giận mất khôn. Nhưng mai kia anh sẽ thấy nhục. Nghĩ cho kỹ đi. Thật không có gì nhục bằng. Đã mang đi chôn, rồi lại phải lộn về.

Đúng lúc đó, Edilbaj-Cò Hương đã nhảy ra khỏi máy kéo. Anh con rể cũng trèo xuống và Zhumagali cũng bước lại, để xem chuyện gì. Edigej-Bão Tuyết cưỡi trên lưng con Karanar tiến về phía họ, bác nói:

- Các bạn, tôi xin nói thế này. Ta đừng làm trái tục lệ của giống người, đừng đi ngược lại những luật lệ của trời đất, của muôn vật! Chưa bao giờ có chuyện đưa người chết đi chôn, mà lại phải mang trở về. Xưa nay, đã mang ai đi chôn cất, thì nhất định phải mai táng người quá cố dưới đất. Chả ai làm ngược lại cả. Đây, trước mặt ta là bờ khe Malakumdychap. Đấy cũng là đồng đất Sarozek của chúng ta! Tại đây, tại Malakumdychap này, bà Najman-Ana đã khóc những giọt nước mắt cao cả của bà mẹ. Thế thì mộ của cụ Kazangap phải đặt tại đây. Rồi đến tôi nữa, tôi cũng muốn được chôn cất tại đây. Cầu trời để được chính tay các bạn làm việc đó cho tôi. Tôi sẽ cầu nguyện, để xin các bạn làm cho tôi việc ấy. Bây giờ, hẳn chưa muộn đâu, các bạn ạ - trên kia, ngay trên bờ khe cao đó, ta sẽ chôn người đã khuất!

Edilbaj-Cò Hương nhìn chỗ đất Edigej vừa chỉ. Anh quay sang hỏi chàng trai lái máy đào đất:

- Sao, Zhumagali, cậu cho máy trèo lên đó được chứ?

- Được, có gì đâu mà không được. Mỏm đất cao kia...

- Khoan đã, cái mỏm đất kia chứ gì? Người cần hỏi việc này trước tiên, là tôi đây! - Shabitzhan chen vào.

- Thì chúng tôi cũng hỏi cả cậu nữa đấy chứ - Zhumagali đáp - ai nói sao, cậu đều nghe cả. Cậu còn cần gì nữa nào?

- Tôi bảo là chế nhạo thế, đủ rồi! Đúng là một sự phỉ báng! Về ga thôi!

- Nếu cậu mà nghĩ đến chuyện phỉ báng, thì đưa người chết từ nghĩa địa trở lộn về mới đúng là sự phỉ báng! - Zhumagali nói - Cho nên, phải ngẫm nghĩ cho chín đi.

Mọi người đều nín lặng.

- Bác với các anh muốn tính thế nào tùy thích - Zhumagali lên tiếng - tôi cứ đi đào huyệt đây. Phận sự của tôi là đào huyệt, phải đào cho ra đào. Trời lại sắp tối rồi. Để lát nữa tối tăm, còn thấy đường đâu mà làm nữa. Ai muốn sao tùy thích.

Và Zhumagali tiến đến chiếc máy đào đất "Belarus", anh bình tĩnh nổ máy băng qua mép đường, cho xe leo lên một ngọn gò thấp, để từ đó lái thẳng tới mép khe Malakumdychap, Edilbaj-Cò Hương đi bộ theo sau, tiếp đến là Edigej-Bão Tuyết và con Karanar.

Anh con rể nát rượu nói với Kalibek:

- Cậu mà không lái chiếc máy kéo này lên đó - anh chỉ cái bờ khe cao - thì tôi sẽ nằm lăn ra dưới gầm xe này đấy. Tôi chẳng nể gì nữa đâu - Nói chưa hết câu, anh ta nhảy ra, đứng ngay trước mũi máy kéo.

- Sao, đi đâu đây? - Kalibek hỏi Shabitzhan.

- Rặt một lũ đê tiện, rặt một phường chó má: - Shabitzhan vặc một câu chưởi - Lái đi, chứ còn ngồi mốc ra đấy làm gì? Nổ máy đi? Theo cho kịp họ!

Lúc này, con diều hâu trên không trung đang dõi mắt nhìn theo tốp người chậm chạp trèo lên một mỏm đất cao, trên bờ khe. Một chiếc máy dừng phắt lại, và bắt tay đào đất, dồn lại thành đống bên cạnh, hệt như một con chuột vàng suslik đào hang. Cùng lúc ấy, chiếc máy kéo, dắt theo sau cái rơ-moọc, cũng chậm chạp bò tới. Trên đó vẫn ngồi bó rọ một người cô độc trước một vật bất động, kỳ lạ, trong đựng một cái gì dài dài quấn vải trắng, đặt trên một cái cáng. Con chó xù lông màu hung vẫn quanh quẩn bên chân người, nhưng đến lúc con lạc đà không phải đi đâu nữa, liền nằm phịch xuống bên chân một con vật lông đen.

Con diều hâu hiểu ngay rằng những người khách lạ kia sẽ phải còn ở lại lâu, trên bờ khe kia, để đào đất. Nó liền khoan thai bay ra xa, nới rộng vòng lượn trên thảo nguyên, dịch dần về phía khu vực cấm, để vừa tìm mồi săn dọc đường, vừa nhìn xem những gì đang xảy ra dưới kia, trong sân bay vũ trụ.

Trên các dãy đường băng trong sân bay vũ trụ, không khí vẫn căng thẳng, như ngày hôm qua. Mọi người đều làm việc liên tục suốt ngày đêm, không phút nào ngừng. Ban đêm, sân bay vũ trụ sáng rực lên dưới ánh hàng trăm ngọn đèn chiếu cực mạnh. Tất cả các bộ phận, tất cả các khu vực đều được huy động. Hàng chục cỗ xe chuyên dụng hạng nặng có, hạng nhẹ có, hàng nghìn nhà bác học và kỹ sư khẩn trương chuẩn bị cho việc thực thi chiến dịch "Vành đai".

Các vệ tinh chống trả, được chế tạo để chuyên phục vụ việc tiêu diệt các thiết bị bay trong vũ trụ, từ lâu, đã nằm sẵn trên bệ phóng, nay được đem ra đặt trên một đường băng đặc biệt trong sân bay. Nhưng theo hiệp định OSV-7, những vệ tinh này tạm thời vẫn chưa được đưa vào sử dụng, để chờ một thỏa thuận riêng, nếu phía Mỹ cũng đồng ý sử dụng loại phương tiện phòng thủ tương tự. Bây giờ, chúng bỗng tìm được một công dụng mới, nhân dịp thi hành khẩn cấp chương trình phong tỏa mà chiến dịch "Vành đai" đòi hỏi. Cũng những tên lửa - rôbôt loại đó hiện thời đang được chuẩn bị để đưa vào không gian, theo kế hoạch thực thi chiến dịch "Vành đai", ngay trên sân bay vũ trụ Nevada của Mỹ.

Thời điểm phóng tại vĩ độ Sarozek theo thỏa thuận là tám giờ tối. Đúng tám giờ không phút không giây, những tên lửa đó phải xuất phát. Tiếp theo, cứ cách nhau một phút rưỡi, chín tên lửa mang vệ tinh chống trả phải lần lượt bay lên không trung, để tạo thành trên mặt phẳng Tây-Đông một vành đai phòng thủ, hoạt động thường xuyên quanh Trái Đất, sẵn sàng tiêu diệt hết mọi thiết bị bay của những hành tinh khác muốn đột nhập vào hành tinh chúng ta. Còn các tên lửa - rôbôt phóng từ Nevada thì sẽ thiết lập một vành đai tương tự ở trên mặt phẳng Nam-Bắc.

Đúng ba giờ chiều, hệ thống kiểm tra trước lúc phóng, mang tên "Năm phút" của sân bay vũ trụ Sarozek-I bắt đầu hoạt động. Năm phút sau, trên tất cả màn ảnh máy thu hình và các bảng điều khiển cùng các đường kênh liên lạc của tất cả các bộ phận, tức thì hiện lên con số để nhắc nhở, và kèm theo đó, còn có thêm một giọng nói nhắc gọi đều đều: "Còn bốn giờ năm mươi lăm phút! Còn bốn giờ năm mươi lăm phút!...". Rồi trước lúc phóng ba giờ, hệ thống mang tên "Một phút" cũng sẽ đi vào hoạt động.

Trước thời điểm này, trạm quỹ đạo "Paritet" đã kịp thay đổi các thông số về vị trí tồn tại của nó trong vũ trụ và đồng thời đã kịp thay đổi các thông số của hệ thống kênh liên lạc bằng mật mã trên trạm, để loại trừ mọi khả năng tiếp xúc giữa trạm với các phi công song đôi 1-2 và 2-1.

Trong khi đó, từ vũ trụ xa xăm, những tín hiệu vô tuyến liên tục phát đi của hai phi công song đôi 1-2 và 2-1 đều rơi vào hư không, hệt như tiếng kêu giữa sa mạc! Họ khẩn thiết yêu cầu đừng ngoài vòng đường liên lạc giữa họ và Trái Đất. Họ không bác bỏ quyết định của trung tâm điều khiển, mà chỉ đề nghị hãy nghiên cứu thêm lần nữa vấn đề khả năng tiếp xúc với nền văn minh của hành tinh "Ngực Rừng", xuất phát dĩ nhiên là từ lợi ích của loài người trên Trái Đất trước tiên. Đồng thời họ cũng không yêu cầu phải phục hồi danh dự ngay cho họ, và đồng ý sẽ chờ đợi ít lâu, sẵn sàng làm hết mọi thứ, miễn là trung tâm điều khiển coi việc họ lên hành tinh "Ngực Rừng" là đều phục vụ cho lợi ích của cả đôi bên, do việc thiết lập mối quan hệ giữa hai thiên hà mang lại. Tuy nhiên, cả hai đều kịch liệt phản đối việc hai bên cho thực thi chiến dịch "Vành đai" - tức là tự cô lập toàn cục, mà kết quả, theo họ nhận định, sẽ chỉ đưa đến việc hủy diệt không thể tránh khỏi khả năng canh tân về mặt lịch sử và kỹ thuật của xã hội loài người, mà để khắc phục nốt nhân loại phải mất đến hàng thiên niên kỷ... Nhưng đã muộn mất rồi... Nhân loại từ giờ trở đi sẽ chẳng còn một ai được nghe giọng nói của họ nữa, sẽ chẳng còn một ai ngờ vực được rằng trong vũ trụ bao la, giọng nói của họ vẫn đang khẩn thiết kêu gọi một cách tuyệt vọng...

Lúc này, trên sân bay vũ trụ Sarozek-I hệ thống "Một phút" đã đi vào hoạt động, báo hiệu thời điểm mở màn của chiến dịch "Vành đai" sắp sửa bắt đầu...

Con diều hâu, sau khi kết thúc chuyến bay do thám định kỳ, lại xuất hiện trên bờ khe Malakumdychap. Còn con người, lúc này đang tiến hành những công việc của chính họ - đào đất bằng xẻng. Chiếc máy đào đã bới lên một đống đất to tướng. Giờ đây, nó đang thả gầu xúc xuống cái hố sâu ấy, múc lên những tảng đất sét cuối cùng. Lát sau, nó đã làm xong công việc, lùi sang một bên, nhường chỗ cho con người bắt tay sửa sang đáy hố cho bằng phẳng, tươm tất. Con lạc đà vẫn đứng ở chỗ cũ, nhưng con chó hung thì đã biến đi đâu mất. Nó lủi đi đằng nào thế nhỉ? Con diều hâu bay đến gần hơn. Chim lượn một vòng trên bờ khe, quay đầu khi sang phải, khi sang trái. Mãi sau chim mới nom thấy con chó hung: thì ra nó đang nằm duỗi dài dưới chiếc rơ-moọc, sát hai bên chiếc bánh cao su. Nó nằm nghỉ ở đó, không chừng còn thiu thiu ngủ nữa, chẳng buồn để ý đến con diều hâu gì cả. Suốt ngày hôm nay, diều hâu đã lượn trên đầu nó bao lần, thế mà nó chẳng thèm ngước mắt lên trời, nhìn con chim lấy một lần nào. Giá là một con chuột vàng suslik, thì thế nào nó cũng đứng thẳng hai chân sau, đầu tiên nhìn quanh một vòng, sau đó ngẩng lên trời, xem có gì nguy hiểm không. Đằng này con chó chẳng sợ hãi gì, chẳng bận tâm gì - nó đã quen sống bên con người rồi. Xem nó nằm thoải mái chưa kìa! Con diều hâu trong giây lát bỗng thấy bùng lên một nỗi ghen tức và nó triển gân, xếp đuôi lại, nhắm thẳng về phía con chó, lao vút xuống như một phát đạn. Ra cách bảo: cho mày biết thân!

Có một vật gì đó lướt nhẹ qua ông tay áo Edigej-Bão Tuyết, từ trên xuống dưới. Đó là bóng con diều hâu. Nhưng từ đâu ra cái bóng ấy nhỉ? Edigej phủi ống tay áo một cái, rồi ngẩng đầu lên. "Lại cái con đuôi trắng. Nó đã lượn bao nhiêu vòng trên đầu mình rồi. Nó lượn vòng thế, làm gì nhỉ? Hẳn nó thích thế. Nhởn nhơ chao cánh trên không trung thì còn gì thú bằng". Tiếng Edilbaj-Cò Hương từ dưới đáy huyệt vọng lên, cắt ngang ý nghĩ của bác:

- Bác Edike, bác ngắm thử đi! Đã đủ sâu chưa hay còn phải đào thêm?

Edigej từ mép huyệt chồm người ra, nhìn xuống.

- Anh đứng lùi về góc kia một tí - bác bảo Edilbaj - còn cậu, Kalibek, hẵng tạm trèo lên đã. Cám ơn. Ô, khéo đủ sâu rồi đấy. Giờ chỉ còn khoét rộng thêm chiều ngang một chút nữa thôi, Edilbaj ạ. Dẫu sao cũng phải cho cái huyệt nó cân phần hơn.

Dặn dò thế xong, Edigej-Bão Tuyết liền xách can nước ra phía sau chiếc máy đào đất, bắt tay vào việc tẩy uế tay chân trước lúc cầu nguyện, đúng như phép tắc đã định. Lúc này, bác đã ít nhiều bình tâm hơn - dù không chôn cất được bạn tại Ana-Bejit như bác hằng ao ước, nhưng dẫu sao cũng đã tránh được cái điều sỉ nhục ghê gớm là mang thi hài người quá cố trở về. Giá không kiên tâm, thế nào cũng phải chuốc lấy nỗi nhục ấy. Bây giờ phải khẩn trương, để còn kịp quay về Boranly-Bão Tuyết, trước khi sắp sập tối. Ở nhà chắc đang mỏi mắt chờ và sẽ lo cuống lên, nếu bác và mấy anh em về trễ. Bác đã hứa sẽ về trước sáu giờ, còn vì phải chuẩn bị cho bữa cúng nữa. Nhưng lúc này đã gần năm giờ rưỡi rồi. Mà nào còn phải chôn, phải vượt qua gần ba chục dặm đường đất. Đi nhanh cũng phải mất vài giờ. Nhưng, chuyện chôn cất đâu có thể làm quấy quá được. Thôi, cùng lắm thì đành lùi bữa cúng lại chút ít. Chứ biết làm sao...

Tẩy uế xong, Edigej cảm thấy lòng nhẹ nhõm, đã có thể sẵn sàng bắt tay ngay vào những nghi lễ cuối cùng. Vặn chặt can nước lại, bác từ sau chiếc máy đào đất bước ra, vẻ mặt trang nghiêm. Bác đĩnh đạc đưa tay lên vuốt chòm râu, rồi cất giọng khá oai nghiêm:

- Hỡi Shabitzhan, con trai Kazahgap, kẻ nô lệ vừa qua đời của Thượng đế, ngươi hãy đứng bên tay trái ta đây, còn các người, hãy mang thi thể người quá cố đặt lên mép huyệt, đầu quay về hướng Tây - Khi mọi việc đã làm đúng theo lời phán bảo, Edigej liền tiếp: - Bây giờ ta hãy thành tâm hướng về đấng Kaaba thiêng liêng. Hãy giang rộng hai tay ra trước người, hãy nghĩ về Thượng đế, để mọi lời cầu nguyện của ta trong giờ phút này đều thấu được đến tai Người.

Edigej xiết đỗi kinh ngạc: sau lưng mình, không một tiếng cười, không một lời xầm xì giễu cợt! Bác rất hài lòng, cho dù đám trai trẻ kia có thể nghĩ bụng: thôi thì cứ mặc cho ông lão muốn tự huyễn hoặc đầu óc mình thế nào tùy thích, ngỡ mình là linh mục cũng chả hề gì, miễn sao chôn cất cho chóng vánh để về cho sớm sủa. Khi đánh liều đứng ra cầu nguyện cho buổi lễ chôn cất, Edigej cũng chẳng biết gì hơn ngoài một cái cần phải theo là phải đứng, chứ không được ngồi. Vì bác được nghe những người am hiểu nói rằng: ở các nước A Rập, quê hương đạo Thánh, khi cầu hồn người chết, trước lúc hạ huyệt, người hành lễ phải rướn cao người cho thật hết tầm cỡ. Tuy không rõ phải nên như thế nào, nhưng trong thâm tâm, Edigej cũng thật bụng muốn sao cho mái đầu điểm bạc của mình càng gần với vòm trời cao kia bao nhiêu càng tốt bấy nhiêu.

Nhưng, trước lúc hành lễ, Edigej-Bão Tuyết cũng đã lần lượt quay mặt sang hai hướng tả hữu, rồi hai hướng đất trời, vái bốn bận liền, đặng cầu xin đấng tối cao đã tạo nên thế gian bất di bất dịch mà trong đó con người ngẫu nhiên sinh ra rồi tình cờ biến mất cùng với sự luân chuyển thường hằng của ngày đêm, sáng tối, về chứng giám buổi lễ.

Bác lại chợt nhìn thấy con diều hâu đuôi trắng thêm lần nữa. Con chim đã dự tính sẵn là phải vẫy cánh thật êm, để lượn vòng thật cao trên khoảng không trung, trên bờ khe Malakumdychap. Tuy thế, con diều hâu chẳng hề làm Edigej xao nhãng; trái lại, nó giúp bác dồn hết những ý nghĩ cao cả trong tâm tư mình về một mối.

Trước mặt bác, bên mép huyệt sâu là thi hài của cụ Kazangap, quấn chặt trong mảnh dạ trắng muốt, thản nhiên nằm trên cáng. Vừa lâm râm khấn nguyện những câu kinh dành trong dịp đọc bên mộ người quá cố, đã được soạn sẵn từ trước để cầu nguyện cho hết thảy mọi người, trong hết thảy mọi thời, từ buổi sáng thế cho đến ngày tận thế; trong đó bao giờ cũng mở đầu bằng những câu răn đe, cảnh tỉnh, bất di bất dịch đối với bất kỳ ai, cho dù anh ta sống ở bất cứ thời nào, thậm chí đối với cả những người mai kia mới cất tiếng khóc chào đời. Bác lẩm bẩm trong miệng những câu kinh khuôn sáo về những lẽ thường hằng của kiếp người, mà ai ai cũng thừa nhận, vốn đã được các dấng tiên tri thấu hiểu và di chúc lại cho hậu thế. Edigej-Bão Tuyết gửi gắm thêm vào đó những ý nghĩ, những suy tư, từng nẩy nở trong tâm hồn và trong vốn kinh nghiệm sống của chính mình. Quả nhiên, con người được sinh ra ở đời thật chẳng phải hoài công!

"Hỡi Thượng đế, nếu Người quả tình nghe thấu được những lời cầu nguyện của con, những lời mà con đã nhắc lại y nguyên trong kinh bổn, như ông cha con xưa nay vẫn làm, thì xin Người cũng mở lòng lắng nghe luôn những điều con vừa khấn thêm mới rồi. Con nghĩ: những lời trong kinh bổn chẳng cản ngại gì những điều con vừa khấn thêm kia.

"Chúng con đang phải đứng ở đây, trên bờ khe Malakumdychap, bên nấm mồ của Kazangap chưa lấp đất, giữa chốn đồng không mông quạnh này, chẳng qua chỉ vì người ta đã không để cho chúng con chôn cất ông cụ tại nghĩa địa thiêng liêng cố cựu của chúng con. Trên trời cao, một con diều hâu đang nhìn chúng con đứng đây, hai tay dang rộng, để tiễn biệt ông già Kazangap. Hỡi Thượng đế vĩ đại, nếu Người có thật, xin Người hãy tha tội cho chúng con và mở lòng nhân đức đón nhận kẻ nô lệ của Người là Kazangap, và nếu thấy xứng đáng, xin Người hãy đưa linh hồn kẻ nô lệ ấy lên cõi yên tĩnh đời đời. Hết thảy những gì có thể làm được, chúng con đều đã dốc sức làm. Những gì còn lại, hỡi Thượng đế! Chúng con xin phó thác vào tay Người.

"Giờ đây, nếu còn có phải cầu xin Người trong giờ phút linh thiêng này, xin Người cũng hãy chịu khó nghe con, trong khi còn đang còn được sống và trí não con còn sáng suốt. Chúng sinh dưới thế rõ ràng chẳng còn biết cầu xin ai nữa, nếu không quấy quá đến Người. Thôi thì xin Người hãy thương lấy họ, giúp họ, che chở cho họ! Thiên hạ trông mong ở Người nhiều thứ quá, bất kể họ là người ngay thật hay kẻ gian tà. Ngay như đứa sát nhân, hắn cũng muốn được Người ngự trị trong linh hồn hắn, huống hồ ai khác. Thế mà Người vẫn nín lặng, chẳng bao giờ hé răng nói lấy một lời. Người trần mắt thịt chúng con, theo con nghĩ, đâu còn biết cầu xin ai, nhất là khi lâm vào những tình cạnh khốn đốn - Người ngự trị trên chín tầng trời kia chẳng qua chính là để đáp lại lòng trông đợi đó thôi. Người khổ tâm biết bao, vì những lời cầu xin bất tận của chúng con, con hiểu lắm. Đã thế, Người lại chỉ trơ trọi có mỗi một mình. Bởi lẽ ấy nên con chẳng nỡ đòi Người phải ban cho con thứ này thứ nọ. Con chỉ muốn nói cùng với Người những điều con nghĩ lúc này thôi.

"Con cay đắng biết bao, vì nghĩa địa thiêng liêng của chúng con, nơi bà Najman-Ana từng an nghỉ; từ nay, chúng con chẳng bao giờ còn được đặt chân đến nữa. Bởi lẽ ấy nên con mong Người hãy định đoạt giúp con, đặng con cũng được nằm xuống tại đây, trên bờ khe Malakumdychap, nơi đã từng in dấu chân của bà Najman-Ana. Đặng con được yên nghỉ bên cụ Kazangap đây, người mà chúng con sắp sửa trao thi thể lại cho đất lạnh. Nếu quả linh hồn của con người sau khi chết sẽ được hóa kiếp thành một giống vật khác, xin Người dùng bắt con phải làm con giun cái kiến - con ước ao được hóa thành con chim diều hâu đuôi trắng. Để được bay lượn như kia, trên bầu trời Sarozek, được mãi mãi ngắm nhìn mảnh đất của chúng con từ trên cõi cao xanh. Nếu cần cầu xin, con chỉ cầu xin Người có vậy.

"Lời di chúc này, con sẽ dặn lại các chàng trai cùng con đến đây chôn cất cụ già. Con sẽ dặn họ rằng ước vọng của con là được họ đem ra chôn cất tại đây. Con chỉ chưa biết rồi đây ai sẽ đứng ra cầu nguyện trước thi thể của con thôi. Họ không tin Thượng đế, cũng không biết lấy một lời cầu nguyện. Chưa hề có ai dám bảo rằng mình biết trên thế gian này Thượng đế có tồn tại hay không tồn tại. Kẻ bảo có, người bảo không. Riêng con, con muốn tin rằng Người có tồn tại và Người ngự trị trong mỗi ý nghĩ của con. Và khi con hướng về Người, để đọc những lời khấn nguyện này, trong thâm tâm con, muốn qua Người để gửi những lời ấy đến với chính lòng mình, và xin Người, trong giờ phút thiêng liêng này, hãy giúp cho đầu óc con giữ được sự sáng láng đặng suy nghĩ, như trí sáng suốt của chính Người, lúc Người suy nghĩ vậy, hỡi Đấng Sáng tạo. Sự tình chung qui chỉ có vậy! Nhưng những anh chàng trai trẻ kia, họ đâu có nghĩ thế và họ coi khinh những lời cầu nguyện. Nhưng, trong giờ phút trọng đại, khi phải đứng trước cái chết, liệu họ có thể nói gì với chính mình và với người khác? Con thấy họ sao mà đáng thương; bởi lẽ họ làm cách nào để thấu hiểu được cái cõi sâu kín của lòng người, khi họ chẳng còn con đường nào khác để nâng mình lên trong suy tưởng, nếu như bất thần mỗi người trong số họ được cơ may hóa thành Thượng đế? Xin Người hãy tha thú cho con cái tội phạm thượng, bất kính ấy. Dĩ nhiên, chẳng một ai có thể hóa thành Thượng đế, chứ không, Người vị tất phải tồn tại. Nếu con người không thể âm thầm tự phong mình làm Thượng đế để đứng ra bênh vực cho hết thảy mọi người như Người đã từng bênh vực cho chúng sinh dưới thế; thì hỡi Thượng đế, cả Người nữa, Người cũng sẽ chẳng còn là Thượng đế nữa... Riêng con, con không muốn rằng Người sẽ biến mất mà chẳng để lại dấu tích gì nơi hạ giới...

"Đấy chính là tất cả những điều con lo âu và cũng là nỗi buồn của con. Tuy nhiên, con xin Người tha tội các con, nếu còn có điều gì không nên, không phải. Con là kẻ quê mùa, chất phác, chỉ biết nghĩ sao nói vậy. Giờ con khấn nốt những lời cầu nguyện trong kinh bổn linh thiêng, rồi xin Người để cho con bắt tay vào việc chôn cất. Hỡi Thượng đế, hãy ban cho chúng con mọi điều tốt lành, đặng chúng con hoàn tất việc này..."

- A men! - Edigej-Bão Tuyết thốt lên, để chấm dứt những lời cầu nguyện theo nghi lễ. Đoạn, bác nín thinh trong chốc lát, ngước nhìn con diều hâu lần nữa, rồi lòng da diết buồn, quay mặt về phía mấy người trai trẻ đứng sau lưng, mà bác vừa thưa hết với chính Thượng đế những suy ngẫm của mình về họ. Cuộc đàm đạo với Thượng đế thế là kết thúc. Trước mặt bác sừng sững năm chàng trai đã cùng theo chân bác đến đây và sắp sửa lại phải cùng bác làm nốt những công việc cuối cùng của buổi lễ chôn cất này.

- Thôi - Edigej nói với họ bằng một giọng thâm trầm, những gì phải làm trong lúc khấn nguyện, tôi đã làm thay phần các chú rồi. Bây giờ ta vào việc thôi.

Edigej-Bão Tuyết cởi chiếc áo vét-tông lấp lánh huân chương ra, nhảy xuống đáy huyệt trước tiên. Edilbaj-Cò Hương giúp bác. Shabitzhan, với tư cách con trai người quá cố vẫn đứng tách riêng ra, đầu cúi thấp để tỏ lòng thương xót. Ba người kia - Kalibek, Zhumagali và anh con rể nát rượu - nâng thi hài bọc trong miếng dạ trắng tinh lên khỏi cáng, đưa lại bên miệng huyệt, trao tay Edigej và Edilbaj-Cò Hương.

"Giờ phút vĩnh biệt đã đến! - Edigej-Bão Tuyết vừa đặt cụ Kazangap xuống lòng huyệt sâu, nơi yên nghỉ đời đời của người quá cố, vừa thầm nghĩ - Thứ lỗi cho tôi đã chẳng chịu để anh nằm yên ở đâu lâu lâu một chút, suốt từ lúc anh nhắm mắt đến giờ. Cứ khiêng tới, khiêng lui suốt - Cả ngày hôm nay. Nhưng thôi, từ giờ anh khỏi phải lo. Cũng chả phải tại anh em chúng tôi mà anh không được yên giấc trên Ana-Bejit. Nhưng anh đừng tưởng là tôi sẽ để yên cái chuyện ngang ngược này đâu. Tôi sẽ bổ đi khắp mọi cửa. Chừng nào còn sống, tôi còn chưa chịu làm thinh. Tôi sẽ nói thẳng vào mặt bọn họ! Bây giờ, anh hẳn yên nghỉ nơi này. Trái đất này rộng lớn lắm, chán vạn gì chỗ, thế mà, anh thấy không, anh chỉ được dành riêng chưa đầy năm thước đất, ở đây. Có điều chỉ mai kia thôi, anh sẽ thoát khỏi cảnh phải nằm một thân một mình ở chôn này. Chẳng mấy nả tôi cũng sẽ lại đến đây với anh, Kazangap ạ. Chịu khó chờ tôi ít lâu, nhé! Đừng nghi ngờ gì cả. Nếu không gặp một tai họa bất ngờ nào, tôi được chết cái chết bình thường của số phận, tôi sẽ tự tìm đến đây, bấy giờ hai ta lại sẽ bên nhau. Rồi chúng mình sẽ hóa thân thành đất Sarozek. Có điều lúc ấy ta chẳng hề hay biết gì nữa. Nhưng cần gì, lúc sống ta đã biết rõ thế rồi. Chính vì lẽ đó mà tuy nói với anh, nhưng thật ra là tôi nói với chính mình. Lúc sống anh là gì, bây giờ anh chẳng còn là thế nữa. Chúng mình, ai chẳng đi từ hiện hữu sang cõi hư vô. Các chuyến tàu sẽ vẫn còn chạy qua Sarozek, và những người khác rồi sẽ đến thay chân chúng mình..."

Nghĩ đến đây, Edigej bỗng trở nên già khụ hẳn, bật lên một tiếng nức nở - những gì đã từng xảy ra trong bao năm cùng sống bên nhau tại ga Boranly-Bão Tuyết, tất cả cái khối năm tháng tưởng chừng đồ sộ ấy, mọi tai họa, mọi gian truân và mọi nỗi buồn vui đã gặp, đều dồn lại trong mấy lời vĩnh biệt vừa rồi và mấy phút chôn cất này đây. Con người được ban cho nhiều biết bao, nhưng cũng ít biết bao!

- Cậu nghe rồi đấy chứ, Edilbaj? - Edigej thốt lên, khi họ đứng sát vai nhau trong cái huyệt chật hẹp. - Chôn tôi ở đây, để hai chúng tôi được cùng nằm bên nhau, nhé! Cũng nâng bằng hai tay, đặt tôi xuống thế này và cũng làm hết thảy những gì tôi sắp làm đây, để tôi được yên nghỉ như thế này, Edilbaj nhé! Có dám hứa với tôi không nào?

- Thôi đi, bác Edike, mai mốt ta hẵng bàn chuyện đó. Bây giờ bác hãy trèo lên đi. Để cháu làm nốt mọi thứ cho. Bác yên tâm cứ trèo lên đi. Kẻo lại mệt.

Khuôn mặt đầm đìa mồ hôi dính bê bết đất sét, Edigej-Bão Tuyết ì ạch trèo lên. Mấy người đứng trên chìa tay ra giúp bác. Khi đã đứng trên mép huyệt, bác vẫn còn thút thít, miệng không ngớt lẩm bẩm những lời than thở. Kalibek vội vàng xách can nước lại cho ông già rửa tay.

Rồi mọi người xúm nhau hốt đất vào hai lòng bàn tay, mỗi người một bụm, rắc xuống huyệt, từ phía cuối gió. Tiếp đó, họ dùng xẻng xúc đất. Được mươi xẻng, Zhumagali liền ngồi vào sau tay lái, điều khiển chiếc cần gạt trước mũi xe dồn đất xuống huyệt. Rồi mọi người lại cầm lấy xẻng, đắp thành một nấm mộ cao...

Con diều hâu đuôi trắng vẫn lượn trên đầu, dõi mắt nhìn đám bụi bốc cao và nhúm người ít ỏi đang lúi húi làm một công việc kỳ lạ trên bờ khe Malakumdychap. Nó thấy họ bỗng nhộn nhịp hẳn lên, khi bên trên cái hố ban nãy đã nhô cao một đống đất mới. Và con chó hung lúc này đã vươn vai đứng dậy, rời gầm rơ-moọc, chạy tới bên đám người... Nó cần gì ở đó nhỉ? Chỉ có con lạc đà già, trên lưng phủ tấm thảm riềm tua, vẫn đứng nguyên một chỗ, thản nhiên trệu trạo cặp quai hàm to bạnh, nhai đi nhai lại liên hồi những thức ăn chưa nghiền nát ở trong dạ dày...

Hình như họ đang thu xếp ra về. Nhưng không, người cưỡi lạc đà ban nãy đã đứng gần lại trước ngôi mộ mới, ngửa hai lòng bàn tay ra, giang rộng về phía trước. Những người khác lần lượt làm theo...

Thời giờ đã gấp gáp lắm rồi! Tuy vậy, Edigej-Bão Tuyết vẫn đĩnh đạc đưa cặp mắt chăm chú, nhìn khắp mọi người, cao giọng:

- Công việc thế là đã xong xuôi. Kazangap có phải là người tốt không?

- Ông cụ là người tốt ạ - mọi người đồng thanh đáp.

- Ông cụ còn mang công mắc nợ gì ai nữa không? Con trai ông cụ có mặt đây, anh ta sẽ đứng ra trang trải thay cha.

Chẳng ai nói gì. Kalibek đành đáp thay cho tất cả:

- Không, không còn nợ nần gì ai cả.

- Thế anh sẽ phải nói gì đây, Shabitzhan, con trai cụ Kazangap?

- Xin cám ơn tất cả - Shabitzhan đáp gọn lỏn.

- Thôi, đã thế thì nào, ta ra về! - Zhumagali nói.

- Khoan! Tôi xin nói một lời nữa thôi - Edigej-Bão Tuyết ngăn Zhumagali lại - ở đây, tôi là người cao tuổi nhất. Tôi muốn yêu cầu tất cả các bạn một điều. Nếu tôi có mệnh hệ nào, xin các bạn hãy đem tôi lên đây, chôn cất bên ông già Kazangap kia. Các bạn nghe rõ rồi chứ? Cứ coi đó là lời di chúc của tôi, mong các bạn hiểu cho.

- Khoản đó chẳng ai biết trước được đâu, bác Edike ạ. Đã thế, thì liệu trước làm gì - Kalibek nói lên nỗi ngờ vực của chính mình.

- Cũng chả sao - Edigej vẫn khăng khăng giữ nguyên ý mình. - Việc phải nói, tôi cứ nói; còn việc phải nghe, xin các bạn cứ nghe. Bao giờ chuyện ấy xảy đến, các bạn hãy nhớ lại lời tôi đã dặn.

Để không khí bớt căng thẳng, Edilbaj đánh bạo nói đùa với ông già:

- Nào, còn những di chúc vĩ đại nào nữa, xin bác cứ cho biết luôn một thể đi, bác Edike.

- Này, anh đừng có mà đùa nhả - Edigej nổi cáu - Tôi nói nghiêm trang đấy.

- Thôi được, bọn cháu xin ghi nhớ, bác Edike ạ - Edilbaj-Cò Hương đấu dịu, cho ông già nguôi giận - Nếu bác có mệnh hệ nào, chúng cháu sẽ xin làm đúng như ý bác muốn. Bác đừng lo.

- Đấy mới là lời hứa của một nam nhi - Edigej lầu bầu, vẻ mãn nguyện.

Hai chiếc máy kéo bắt đầu quay mũi, bò xuống chân khe. Dắt con Karanar theo sau, Edigej-Bão Tuyết sóng bước bên Shabitzhan, trong khi hai chiếc máy kéo xuôi dốc. Bác muốn bàn tay đôi với hắn về điều đang khiến bác khắc khoải trong lòng.

- Shabitzhan này, bây giờ mọi việc đã xong xuôi, tôi muốn đem câu chuyện này bàn cùng cậu. Ta tính sao đây về cái nghĩa địa vùng mình, về Ana-Bejit ấy, hả? - Bác nói với hắn ta bằng giọng thăm dò.

- Tính sao ư? Thì còn tính toán làm gì nữa cho mệt óc - Shabitzhan đáp - Kế hoạch là kế hoạch. Rồi họ sẽ hủy bỏ đi, đúng như kế hoạch. Với lại, chung qui đó chỉ là chuyện cổ tích, chứ quái gì.

- Tôi, tôi không nghĩ thế! Cứ như cậu, chuyện gì cũng đều có thể mặc kệ hết. Đây nhé: cậu đã sinh ra và lớn lên ở đây, đúng không nào? Bố cậu đã dạy dỗ cậu, nuôi cho cậu ăn học. Thế mà bây giờ lại phải đem chôn ông cụ ở nơi khác. Trơ trọi một. mình giữa đồng trống! Cũng may là dẫu sao vẫn còn được nằm trên đồng đất quê mình. Cậu có chữ nghĩa, lại đang làm việc trên tỉnh; nhờ trời, cậu có thể mang chuyện này ra nói giúp chỗ này, chỗ nọ. Sách vở các thứ, cậu đọc cũng nhiều...

- Thế bác muốn gì ở cháu nào? - Shabitzhan ngắt lời Edigej.

- Muốn cậu giúp tôi chuyện đó, cậu với tôi cùng đi, khi còn chưa muộn. Mai ta đi ngay, lên gặp mấy người chỉ huy trong khu vực ấy, thế nào chẳng có một ông chỉ huy cao nhất. Phải bảo cho họ biết là không được ủi thành bình địa Ana-Bejit của chúng mình. Đấy, câu chuyện tôi muốn bàn chỉ có vậy.

- Bác Edigej ạ, bác phải hiểu thế này: những chuyện bác nói đều là những chuyện cổ tích, chuyện đời xưa, cũ kỹ lắm rồi. Ở đó, người ta đang giải quyết những vấn đề vũ trụ, tầm cỡ thế giới; thế mà chúng ta lại đưa nhau đến, lôi cái chuyện vớ vẩn ấy ra mà kiện cáo! Ai người ta cần đến nó. Người ta có coi cái nghĩa địa đó là gì đâu mà bảo kiện với cáo! Rốt cục, người ta chẳng để cho bác với cháu vào trong ấy chôn cất...

- Nhưng nếu ta không đi, họ vẫn không để cho chúng ta vào. Còn nếu ta đòi, người ta mới không dám cấm cản chúng ta. Mà không, phải bắt chính cái ông chỉ huy ấy đến gặp ta mới đúng. Ông ta có phải là núi đâu, mà bảo rằng không nhấc chân lên được.

Shabitzhan ném về phía Edigej một cái nhìn cáu kỉnh:

- Thôi, dẹp cái chuyện vớ vẩn đó đi, bố già ạ. Cũng đừng có lôi cháu vào cuộc nữa. Chuyện đó chẳng dính dáng gì vào cháu đâu.

- Tưởng sao, chứ cậu đã nói thế, coi như hết. Chuyện hệ trọng thế mà cứ một hai là cổ tích!

- Thế bác tưởng thế nào? Bảo cháu phải chạy vạy chứ gì? Thôi đi? Cháu có gia đình, con cái đàng hoàng, có công ăn việc làm tử tế. Có là hóa rồ mới đi ngoảnh mặt về phía gió thổi mà nhổ nước bọt! Sẽ được gì nào? Một cú điện thoại từ sân bay vũ trụ gọi tới - rồi a lê hấp, xơi phốc một cú đá vào mông và bị tống cổ đi chỗ khác. Thôi, xin cám ơn bác cả nón!

- Nhận trở lại những lời cảm ơn ấy đi - Edigej-Bão Tuyết gằn giọng, đoạn buông thõng một câu thật độc địa: - Đá phốc vào mông! Ra cậu chỉ biết sống bằng cái mông thôi ư!

- Chứ bác tưởng thế nào? Chính là thế đấy, bố già ạ! Bác thì dễ lắm - vì bác là ai nào? Một anh công nhân quèn, không hơn không kém. Còn bọn cháu, bọn cháu sống bằng cái mông thật đấy, nhưng lại để cho cái mồm được tọng đủ các thứ bổ béo.

- Ra thế đấy! Hồi xưa, ai cũng quí cái đầu, còn bây giờ, hóa ra, người ta lại chuộng cái mông hơn.

- Muốn hiểu thế nào, tùy bác. Có điều chớ có nhọc công đi tìm những đứa ngốc trong đám chúng cháu.

- Thôi, rõ rồi. Câu chuyện giữa chúng ta thế là xong! - Edigej-Bão Tuyết ngoài vòng cuộc trò chuyện - Thôi, đi về, để còn làm bữa cúng nữa cho xong, rồi ai đi đường nấy, và nhờ trời, đừng bao giờ phải gặp lại nhau nữa.

- Gặp thì gặp, chả gặp thì thôi - Shabitzhan bĩu môi.

Đến đây, mỗi người đi một ngả. Edigej-Bão Tuyết bảo con lạc đà quỳ xuống, trèo lên lưng. Dưới chân khe, hai anh thợ lái máy kéo vẫn nổ máy đứng chờ. Nhưng bác chả buồn bảo ngay với họ là cứ chạy trước, để còn về sớm chừng nào hay chừng ấy, kẻo ở nhà đang mong. Còn bác, bác sẽ tự tìm về. Với con Karanar kia, bác đâu có cần gì đường sá tử tế, giữa chốn thảo nguyên mênh mông này.

Khi hai chiếc máy kéo đã lên đường. Edigej vẫn đứng sững đấy, chưa biết sẽ làm gì.

Lúc này, bác chỉ còn lại một mình, hoàn toàn cô quạnh giữa Sarozek mênh mông, nếu không kể đến con Zholbars trung thành. Lúc đầu nó lao theo hai chiếc máy kéo, nhưng lúc đến nơi mới chợt hiểu ra rằng ông chủ đã không cũng đi với họ. Nhưng Edigej-Bão Tuyết chẳng ngó ngàng gì đến nó nữa. Ví thử con chó có tự chạy về nhà trước, chưa chắc bác đã hay biết. Xưa nay, chưa bao giờ thế cả. Sự đời vốn chẳng lấy gì làm êm đẹp. Bác không sao làm dịu bớt được cái cảm giác trống trải, nặng nề, xốn xang, trong trái tim đang rát bỏng sau cuộc trò chuyện ngắn ngủi với Shabitzhan. Cảm giác trống trải, xót xa không nguôi kia lan nhanh trong lòng bác, như đang hóa thành một cái hốc rộng hoác, một hẻm núi, toàn sương mù giá buốt. Edigej-Bão Tuyết đâm hối hận và ân hận đến nẫu cả ruột gan, vì đã làm một điều vô bổ khi trò chuyện với Shabitzhan, như ném lời ra giữa gió. Thằng Shabitzhan ấy vị tất đã là người dáng để bác phải bỏ công nhờ khuyên bảo và giúp đỡ? Bác những hy vọng rằng hắn có chữ nghĩa, nói như ai là có học vấn, thì chắc hẳn bác sẽ dễ dàng tìm được tiếng nói đồng tình, như với những người có học thức khác. Chẳng biết nó đã học hỏi được những gì ở lớp nọ, lớp kia, ở Đại học nọ, Đại học kia? Không chừng ở đó, người ta đã dạy toàn những điều chỉ cốt biến nó thành một người y như nó bây giờ. Không chừng ở đâu đó, trong những trường, lớp nọ, vốn có một kẻ cũng tinh thông hết thảy mọi thứ, hệt như quỷ dữ vậy, đã dày công vun dắp cho Shabitzhan, để Shabitzhan trở thành Shabitzhan, chứ không thể thành ai khác được. Thì chính nó, chính mồm thằng Shabitzhan ấy, đã kể ra, đã tô vẽ ra đủ thứ chuyện nhảm nhí về những người bị điều khiển bằng vô tuyến điện chứ ai. Nó bảo là chẳng còn lâu nữa, thời đại ấy sẽ đến! Biết đâu chính nó đã bị những kẻ vô hình và toàn năng đó điều khiển qua vô tuyến điện...

Càng nghĩ đến chuyện đó, Edigej-già lão càng buồn bực và càng thấy bế tắc.

- Mày là đồ mankur! Một tên nô lệ mankur chính cống! - bác thầm bảo, lòng vừa căm ghét vừa thương hại Shabitzhan.

Nhưng Edigej hoàn toàn không định nhẫn nhục cam chịu những gì bất ưng vừa xảy ra, bác hiểu phải làm một việc gì đó, phải có một cách gì đó để khỏi phải cúi đầu khuất phục. Edigej-Bão Tuyết hiểu rằng nếu lùi bước, bác sẽ thất bại ngay trước bản thân mình. Bác linh cảm rằng phải làm một điều gì đó trái ngược với cái kết cục hiển nhiên của sự việc, mặc dù bác vẫn chưa thể nói chắc là mình đang muốn làm gì, phải bắt đầu từ đâu, và phải gõ vào cửa nào, để cho những suy ngẫm và những hoài bão của bác về nghĩa địa Ana-Bejit thấu đến tai những người thật sự có đủ quyền hành thay đổi cái mệnh lệnh đó. Phải tác động đến họ, phải thuyết phục họ bằng được... Nhưng làm cách nào để đạt được mục đích ấy? Đến gặp ai? Gõ cửa nào?...

Vắt vẻo trên lưng con Karanar, Edigej đưa mắt nhìn quanh, lòng nặng trĩu những ý nghĩ buồn rầu. Bốn bề trải rộng những dải thảo nguyên vắng lặng. Bóng chiều đã len lỏi vào tận những sườn đất khô cằn, dốc đứng, của khe Malakumdychap. Hai máy kéo đã khuất lâu rồi, tiếng máy chẳng còn vọng đến được nữa. Đám thanh niên đã đi xa. Người cuối cùng trong số những người am hiểu Sarozek đã giữ được trong ký ức về vùng đất đó - cụ Kazangap - giờ đây đã nằm lại trên bờ khe, dưới nấm mộ lẻ loi mới đắp, giữa thảo nguyên bất tận. Edigej hình dung ra trước mắt cảnh nấm đất ấy dần dà rồi sẽ se lại, khô đi, lẫn vào màu đất vàng ệch mọc đầy ngải cứu vùng Sarozek và sẽ khó lòng, nếu không nói là không thể nhận ra được nữa. Ai rồi chả thế - vì làm gì có người sống lâu hơn đất, thọ hơn đất...

Vầng mặt trời đã mọng sương chiều, ngả hẳn về tây, chìm dần xuống tận chân trời như không kham nổi gánh nặng trên mình. Ánh trời chiều dần tắt. Trong cảnh hoàng hôn chập choạng, bóng tối mơ hồ hiện ra càng lúc càng rõ dần, nhuốm xanh thêm màu ráng chiều vàng rực ở góc trời tây.

Ngẫm nghĩ kỹ càng mọi thứ xong xuôi, Edigej-Bão Tuyết - định quay lại chỗ đặt thanh gỗ chắn trước lối vào khu vực cấm ban trưa. Bác không nghĩ ra được cách nào khác hơn. Giờ đây, khi đã chôn cất bạn tươm tất, chẳng còn lệ thuộc vào ai, vào gì nữa và, vì thế, có thể hoàn toàn tự do hành động trong chừng mực sức lực được trời đất ban cho và được kinh nghiệm đời tôi luyện còn cho phép; bác sẽ hành động một cách liều lĩnh, táo bạo, đúng như tình thế đòi hỏi. Trước tiên, bác muốn đến bảo những người lính gác kia phải đưa bác đến gặp bằng được viên chỉ huy cao nhất, cho dù có phải bước đi trước đầu mũi súng áp giải của họ chăng nữa. Nếu cần, gọi viên chỉ huy đó ra tận cổng, để nghe những lời trình bày của bác Edigej-Bão Tuyết. Và lúc bấy giờ, bác sẽ nói thẳng vào mặt họ hết thảy những gì bác nghĩ...

Nghĩ kỹ trong đầu tất cả những điều vừa tưởng tượng ra kia, Eđigej-Bão Tuyết quyết định hành động ngay - bác định bụng sẽ đưa câu chuyện đau lòng vừa xảy ra với đám tang cụ Kazangap làm cái cớ trực tiếp. Bác quyết định dứt khoát phải tỏ rõ sự cứng cỏi trước thanh gỗ chắn đó, đòi họ phải để cho mình vào gặp, hoặc gọi viên chỉ huy kia ra, và hành động đầu tiên ấy sẽ buộc những kẻ bảo vệ khu vực cấm này phải hiểu rằng: Bác sẽ còn đứng đây cho đến khi nào đạt được mục đích - trình bày được nguyện vọng với viên chỉ huy cấp cao nhất, chứ không phải với cái gã Tansykbaev ấm ớ nào khác...

Nghĩ thế, bác thấy vững tâm hơn.

- Taubakel! Nếu chó có chủ, thì sói có Thượng đế! - Edigej tự cổ vũ mình như vậy, rồi bình tĩnh thúc con Karanar, nhằm thẳng hướng thanh gỗ chắn đường, tiến tới.

Mặt trời đã lặn. Chẳng mấy chốc thảo nguyên đã sập tối. Giữa lúc bác đang thúc con Karariar rảo bước đến khu vực cấm kia, bóng tối đã giăng đầy. Khi chỉ còn cách thanh gỗ chắn đường non nửa cây số, trước mặt bác đã chói lọi ánh đèn pha đặt trên nóc trạm gác. Càng đến gần chỗ người lính canh, Edigej càng vội. Bỗng một giọt nước mắt lăn dài trên mép yên. Con lạc đà này đâu có dính dáng gì đến câu chuyện của mình. Làm khổ nó ích gì kia chứ? Biết đâu một viên chỉ huy nào đó thấy nó, chẳng muốn tiếp, chẳng muốn chuyện trò nữa, mà lại quát ầm lên: "Ra khỏi đây ngay, nếu còn dắt theo con lạc đà kinh tởm ấy. Anh định tha nó đi đâu vậy? Tôi cấm anh vào gặp tôi!" - Và thế là hỏng bét. Nhưng cái chính là Edigej chưa biết trò chơi ngông này của mình rồi sẽ kết thúc ra sao, bác có phải chầu chực lâu không. Thôi, chi bằng cuốc bộ một mình, còn con vật thì buộc chằng hai chân lại, thả nó ra thảo nguyên. Nhỡ có đói, nó vẫn lần được tí cây cỏ mà ăn.

- Cứ đứng đây chờ tao lát nhé, tao vào trong ấy xem thử sự thể ra sao - bác lầu bầu với con Karanar, nhưng thực ra là để trấn tĩnh chính mình. Dẫu sao cũng bắt nó quì xuống, để còn lôi các thứ dây nhợ cất trong túi, đeo trên yên, chuẩn bị ràng chân cho nó.

Edigej mò mẫm lục tìm mấy sợi dây trong túi. Bốn bề lặng ngắt như tờ. Vắng lặng đến mức bác có thể nghe rõ cả tiếng thở của chính mình cùng tiếng côn trùng đập cánh vo ve và tiếng gọi nhau rỉ rả trong không trung. Lung linh trên đầu bác muôn nghìn vì sao vừa bất thần hiện ra trên nền trời trong trẻo, vắng lặng biết bao, hệt như thể đang chờ đợi một cái gì...

Ngay cả con Zholbars, vốn đã quen với cảnh tĩnh mịch miền Sarozek, cũng thấy bồn chồn. Rồi chẳng hiểu sao nó bỗng buột mồm kêu ăng ẳng mấy tiếng. Nó bực dọc cái gì trong cảnh vắng lặng này nhỉ?

- Mày lại quẩn chân tao rồi! - Edigej bực bội nói. Rồi bác chợt nghĩ: biết tính sao với con chó bây giờ? Vừa sửa soạn mấy sợi dây ràng chân con lạc đà, Edigej vừa ngẫm nghĩ cách thu xếp với con Zholbars. Con chó, rõ ràng đừng hòng bắt nó ở lại bên ngoài. Đuổi đi, cũng chẳng ăn thua. Đến chỗ cửa công để thỉnh cầu này nọ, mà dắt chó theo, chẳng ổn chút nào. Nếu chẳng nói ra, người ta cũng cười thầm trong bụng: gớm, lão già đến kiện cáo mà chẳng dắt ai theo, ngoài con chó xồm. Tốt nhất là đừng để nó chạy theo.

Nghĩ thế, Edigej liền quyết định buộc nó vào một sợi dây dài, chằng vào dây thắng dưới bụng con lạc đà. Để cả hai con vật cùng dính chung một sợi dây, trong khi bác đi vắng. Thế là bác gọi con chó lại: "Zholbars! Zholbars! Lại đây!" - Và cúi xuống, để tròng cái thòng lọng vào cổ nó. Đúng lúc đó, bỗng có một cái gì xảy ra trên không trung, một cái gì chợt bay vút lên trời cao, kèm theo những tiếng động ì ầm mỗi lúc một to, như âm thanh phát ra từ một ngọn núi lửa đang phun. Và ngay trước mặt bác, ở một chỗ nào gần lắm, bên trong khu vực sân bay vũ trụ, bỗng dựng cao lên một cột lửa sáng lòa, khủng khiếp, hướng thẳng lên trời. Edigej-Bão Tuyết sợ hãi lùi lại, con Karanar rống to một tiếng, nhảy chồm lên... Zholbars hốt hoảng lao đến bên chân bác.

Đó là quả tên lửa - rôbôt chiến đấu đầu tiên, xuất phát theo chương trình lập hàng rào phong tỏa trên vũ trụ, thuộc chiến dịch "Vành đai". Tại Sarozek, lúc này đồng hồ chỉ tám giờ đúng. Sau quả thứ nhất, đã vút lên quả thứ hai, quả thứ ba, rồi nhiều quả nữa tiếp theo... Những quả tên lửa ấy tiếp nhau, dồn dập bay vào không gian xa xôi, để lập quanh Trái Đất một tuyến cảnh giới hoạt động thường xuyên, nhằm duy trì hiện trạng đã an bài trên Trái Đất, nhằm giữ nguyên vẹn những gì đã từng có và hiện đang tồn tại...

Bầu trời đầy lửa khói chụp xuống đầu Edigej... Con người, con lạc đà và con chó - những sinh vật hết sức bình thường ấy, kinh hoàng vùng bỏ chạy. Cùng hoảng hốt, cả ba cùng chạy bên nhau, sợ lạc mất nhau, chạy trên thảo nguyên rực đỏ, dưới ánh sáng của những cột lửa khổng lồ, soi tỏ mọi vật một cách rất đỗi lạnh lùng...

Nhưng dù chạy như thế bao lâu chăng nữa, cả ba vẫn thấy như họ đang đứng nguyên một chỗ, vì mỗi một tiếng nổ mới lại trùm lên trên đầu cả ba một khối lửa sáng lòa và một tiếng gầm dậy đất...

☆ ☆ ☆

Cả ba vẫn chạy - con người, con lạc đà và con chó; chạy, không ngoái cổ lại - và thình lình Edigej chợt thấy hiện ra, chẳng biết từ đâu, con chim trắng nhỏ, mà xưa kia từng cất cánh bay ra từ chiếc khăn choàng trắng của bà Najman-Ana, khi bà ngã từ trên yên xuống, vì mũi tên xuyên thủng ngực của chính đứa con trai mankur nô lệ, mà bà đã sinh ra... Con chim trắng ấy bay nhanh bên con người, thét vào tai con người, giữa tiếng gầm rú và những cột lửa chói lòa của mỗi quả tên lửa:

- Ngươi là con cái nhà ai? Tên là gì? Hãy nhớ lại tên của ngươi! Cha ngươi là Donenbaj, Donenbaj, Donenbaj, Donenbaj, Donenbaj, Donenbaj...

Và tiếng chim vẫn còn ngân mãi hồi lâu trong bóng đêm sâu thẳm...

☆ ☆ ☆

Mấy hôm sau, nhận được điện báo tin cụ Kazangap, người cao tuổi nhất Sarozek qua đời, hai người con gái bác Edigej, cô Saule và cô Sharapat, liền hối hả đưa cả chồng con từ Kyzyl-Orly về Boranly-Bão Tuyết. Họ về, trước để viếng ông cụ, bày tỏ nỗi lòng thương tiếc, sau tiện thể ở lại chơi với bố mẹ vài hôm - quả là trong cái rủi lại có cái may.

Khi hai chị em cùng bầu đoàn phu tử bước xuống tàu, xuất hiện trước ngưỡng cửa nhà bác Edigej, ông bố lại đi vắng. Bà Ukubala lao ra đón, vừa mếu máo ôm chầm lấy con, hôn lũ cháu, mừng rỡ khôn xiết, vừa nhắc đi nhắc lại:

- Tạ ơn Thượng đế, tạ ơn Thượng đế! Thật vừa khéo! Bố sẽ mừng lắm đấy! Phúc đức quá đi mất! Cả hai đứa cùng về một lúc, lại đưa cả nhà theo nữa! Bố sẽ tha hồ mà mừng!

- Thế bố đâu ạ? - Sharapat hỏi.

- Chiều, bố sẽ về thôi. Bố đi từ sáng, lên bưu điện, gặp ông trưởng phòng trên ấy. Bố đang có chút việc, nên cứ phải lên trên ấy suốt. Rồi mẹ sẽ kể cho nghe, ơ kìa, sao các con cứ đứng mãi thế này? Vào đi, vào đi chứ, nhà mình đây mà các con...

Những chuyến tàu ở vùng này, vẫn như xưa, chạy từ Tây sang Đông và từ Đông sang Tây...

Trải rộng hai bên đường tàu ở vùng này là những hoang mạc mênh mông - miền Sarozek và các thảo nguyên úa vàng thuộc miền Đất Giữa..

Cholpon-Ata, 12/1979 - 3/1980

CHÚ THÍCH

[17] Ini: Người em, người bà con hoặc đồng hương thuộc hàng dưới.

[18] Kumys: Sữa ngựa - có khi là sữa lạc đà - ủ cho lên men, dùng làm thức uống (ND).

[19] Kirza: Loại vải dày, nhiều lớp, dùng thay da trong ngành đóng giày và một số ngành công nghiệp khác (ND).

[20] Basmach: Một phong trào dân tộc chủ nghĩa phản cách mạng, chống lại chính quyền Xô Viết ở Trung Á vào những năm 1917-1926, do bọn tư sản và các phần tử phong kiến địa chủ địa phương tổ chức, hoạt động dưới sự nâng đỡ của bọn đế quốc nước ngoài và các giới phản động của một số nước lân cận (ND).

« Lùi
Tiến »