Tôi nhìn thấy mặt hắn và nghĩ: ‘mình đã thấy thằng cha này ở đâu’"
Ken’ichi Yamazaki (25)
Anh Yamazaki là người thanh niên mà Ichiba đã thấy ngã khuỵu bất tỉnh ở trước ga Shibuya. Tìm anh có mất công, nhưng trong quá trình làm các cuộc phỏng vấn này, chúng tôi đã lần được theo nhiều đầu mối khác nhau.
Hoàn toàn ngẫu nhiên, Yamazaki từng cùng học trung học tại Kyoto với Yoshihiro Inoue ở Ban chỉ huy cấp cao Aum. Anh trông thấy mặt người bạn cùng lớp cũ trên tivi và nhận ra ngay. "Kìa, Inoue!" Anh và Ionue chưa bao giờ hợp nhau, và nói chuyện với anh ta thì sẽ dễ dàng thấy tại sao. Anh Yamazaki thích môn trượt tuyết, bóng rổ, các loại xe tốc độ cao (tuy anh nói gần đây đam mê này có nguội đi nhiều) và gần như là một típ người thể thao thoải mái; anh không có gì giống với Yoshihiro Inoue bí ẩn, hướng nội và thậm chí đa cảm thi ca. Từ lúc gặp Inoue trên xe buýt nhà trường, anh đã tự dặn mình, "Tay này không là bạn được. Cả nói chuyện cũng không." Mười năm sau ấn tượng đầu tiên tiêu cực ấy, ở trên tàu điện ngầm Tokyo xa xôi, những mối nghi ngờ của anh đã được xác nhận không mong đợi và kinh hoàng. Kỳ lạ thay những gặp gỡ của một đời người.
Là người mê trượt tuyết, cứ đến mùa đông thì ít nhất một tuần một lần, bất chấp có bận thế nào anh cũng tìm ra thì giờ lên các dốc núi cùng với cô bạn gái. Điều tốt đẹp duy nhất mà sau vụ đánh hơi độc mang lại là nó làm cho anh và cô bạn gái thêm gắn bó. Nó có vẻ đã bắt buộc anh trưởng thành mau chóng. Anh tò mò muốn biết Yoshihiro Inoue rồi sẽ ra sao.
Anh Yamazaki sống với bố mẹ và em gái ở Shin Urayasu, phía Đông vịnh Tokyo.
° ° °
Tốt nghiệp xong tôi tìm việc rất khó, mọi nơi đều thẳng thừng nói: "Không!" Tôi muốn làm trong lĩnh vực thiết kế thời trang nhưng các hãng lớn lại không tuyển ai cả. Vậy nên tôi quyết định thử sức ở các lĩnh vực khác – kiến trúc, viễn thông, bất cứ cái gì không dính đến thực phẩm. Cuối cùng tôi vẫn tay trắng hoàn tay trắng. Đó là năm sau vụ nổ bong bóng kinh tế Nhật, chẳng đâu có việc làm.
Không hiểu sao tôi lại xoay xỏa vào được ngành may mặc, làm ở đó cho tới tháng Ba vừa rồi. Tôi bỏ vì cảm thấy tôi chưa bao giờ tự thúc mình làm hết sức. Tôi thích việc gì đó khiến tôi được đánh giá cao hơn.
Tháng Mười vừa rồi, tôi nói điều này với bạn gái và cô ấy cũng quyết định bỏ việc nốt. Chúng tôi thế là thất nghiệp. Nhưng thực tế thì chúng tôi lại đến công ty của bố cô. Nó là một xí nghiệp nhỏ gồm 15 nhân viên. Chúng tôi làm cà vạt của đàn ông, được một hãng Ý nhượng quyền thương hiệu, với ba cửa hàng bán lẻ của chính mình ở Tokyo.
Bây giờ tôi bán hàng ở đó, như thế là nhất. Nhưng nó hoàn toàn là công việc của gia đình. Khi vào đây tôi đã ăn cơm tối với ông chủ tịch công ty – bố bạn gái tôi – và ông đã hỏi tôi. "Cậu có dự định lấy con gái tôi không đấy?" Tôi đang định cầu hôn cô ấy khi xây dựng xong bản thành tích của mình với công ty thì đấy, cơ hội lại hay thế chứ! [cười] "Dĩ nhiên rồi, thưa chủ tịch," tôi nói với ông, "Mai tôi sẽ lấy cô ấy ạ." Thì ông ấy nói, "Được rồi được rồi, hãy gác chuyện ngày giờ lại đã, nhưng cậu dứt khoát là người công ty chúng ta cần."
Ngày 20 tháng Ba, ngày xảy ra vụ hơi độc… Ừm, để xem nào, chúng tôi có bận không à? Chờ tôi một phút nhé. Tôi vẫn còn giữ quyển sổ Filofax ghi lịch làm việc từ ngày ấy (đi vào buồng lấy nó ra). Hừm, có vẻ chúng tôi bận thật. Mấy cửa hàng mới khai trương, cho nên tôi về nhà muộn, lúc 11 hay 12 giờ đêm. Vâng, đúng thế, những ngày ấy tôi còn đến trường học lái xe nữa.
Tôi bị lột bằng và đang cố xin cái mới. Tôi chạy xe phạm lỗi ba lần, hai lần vì quá tốc độ ở Hokkaido. Một khi ông đã bị lột bằng thì họ bắt ông vào trường học lại tất tần tật từ đầu.
Sáng 20 tháng Ba, tôi rời nhà sớm hơn thường lệ nửa giờ. Thứ Hai là phải vào sổ kết toán số liệu bán hàng những ngày cuối tuần. Cả họp hành nữa. Cho nên tôi dự tính sẽ đến vào quãng 8 rưỡi. Vì thế mà tôi xộc thẳng vào vụ đánh hơi độc. Nếu không phải là thứ Hai thì tôi đã thoát rồi.
Sáng ấy đầu óc tôi khá lơ mơ. Sau những ngày cuối tuần tôi thường như thế. Hôm trước, Chủ Nhật, tối tôi ra ngoài làm việc. Tôi đến một cửa hàng ở tận Machida để bàn việc với bộ phận bán hàng ở đấy, quyết định cách bố trí, thay đổi cách bày hàng. Những việc như thế này chỉ có thể làm được lúc cửa hàng đã đóng.
Hôm sau là ngày nghỉ lễ Xuân Phân nhưng tôi vẫn phải đi làm. Tôi phải đến lễ khai trương một cửa hàng mới trang trí lại ở Ginza. Ngành thời trang có vẻ như toàn là trình diễn, óng ánh lung linh nhưng kỳ thật ở bên trong thì gian nan lắm. Mà lương bổng cũng không cao như người ta tưởng.
Ở tuyến Hibiya, tôi thường lên toa thứ nhất hay thứ hai tính từ đầu tàu. Tôi vừa mới đổi tàu ở Hatchobori thì có thông báo, "Vài ba hành khách bị đau yếu. Chúng ta sẽ dừng tàu ở Tsukiji, ga sau. Xin cảm ơn các vị vì đã hợp tác." Khi đến Tsukiji, tàu đỗ và cửa mở thì – rầm – bốn người ngã đổ kềnh ra khỏi toa ngay sau toa tôi. Đổ thẳng ra khỏi cửa.
Một nhân viên nhà ga đi đến như thường lệ khi có người bị ngất nhưng ở đây họ lại đang cố vực người ngã dậy, điều này xem ra lạ. Đó là lúc bắt đầu nhốn nháo. Một nhân viên nhà ga hét vào micro. "Xe cứu thương! Xe cứu thương!" Rồi thì, "Hơi độc! Mọi người xuống tàu hết! Ra hàng rào soát vé rồi đi thẳng lên trên mặt đất."
Tôi không chạy. Tôi nghĩ sao phải chạy? Tôi gần như không tập trung. Tôi vừa xuống sân ga vừa nghĩ mình có nên ngồi xuống không. Thật tình tôi không để ý lắm. Cũng có những người khác nữa không chạy. Không có thông báo nào nói tàu sẽ lại khởi hành, nhưng cuối cùng thì mọi người đều đã nối hàng theo nhau đi ra. Chỉ đến lúc ấy tôi mới ngạc nhiên. "Thế ra ông bảo là tôi cũng phải đi à?" Rồi đứng lên. Tôi đại loại là người cuối cùng.
Chẳng ai có vẻ vội vã ra khỏi đây. Họ đi thủng thẳng. Các nhân viên nhà ga mới là những người hò hét nhiều hơn. "Xin đi nhanh lên! Ra ngoài!" Tôi không thấy được mối nguy hiểm nào. Không nổ hay cái gì cả. Nhân viên thì nhớn nhác hết cả lên trong khi hành khách lại đủng đà đủng đỉnh. Vẫn có những người nhởn nha trong nhà ga, cố quyết định xem làm gì.
Những người khuỵu xuống vẫn không cựa quậy. Họ ngất xỉu à? Hay là đã chết? Vài người chân còn trên toa mà người lại ở dưới đất, cần phải kéo họ ra. Tôi vẫn chưa cảm thấy nguy hiểm. Không hiểu vì sao. Nhớ lại chuyện này, thật lạ là sao tôi lại không sợ chứ? Nhưng lúc đó thì đâu có ai sợ.
Tôi không lại chỗ những người bị thương mà đi đến cửa ra của đền Tsukiji Honganji. Bất chợt một mùi ngòn ngọt, thật sự ngọt, như dừa vậy, xộc vào mũi tôi. Đang leo cầu thang, tôi nghĩ, "Cái gì thế nhỉ?" rồi dần dần thấy khó thở. Lúc ấy tôi nhớ ra là phải gọi điện cho công ty báo mình sẽ đến muộn. Có một cửa hàng xén ở gần cửa ra, tôi đã gọi điện ở đó. Nhưng vẫn còn quá sớm để gọi điện đến công ty nên tôi gọi về nhà. Mẹ tôi trả lời, tôi bảo mẹ, "Chẳng hiểu sao tàu lại đỗ ở Tsukiji nên con không đến sở làm đúng 8 rưỡi được."
Ngay trong lúc gọi cuộc điện thoại ngắn ngủi ấy, tôi đã khó thở rồi. Không phải như cổ họng tôi bị chẹn hay cái gì đó, tôi vẫn thở nhưng không nhận được đủ ôxy. Tôi hít, hít mãi nhưng tựa hồ phổi tôi không hoạt động. Lạ lùng. Giống như bị hụt hơi vậy.
Chỉ có lúc ấy tôi mới bắt đầu nghĩ có chuyện gì đó là lạ, rằng có thể nó có liên quan tới những người bị ngã trên sân ga. Gọi điện xong, tôi quay lại để nhìn tìm cửa ra, nơi tôi sẽ đi lên. Tôi thở hổn hển, nhưng tôi phải biết là đang xảy ra chuyện. Ngay lúc đó, vài người lính của Lực lượng Phòng vệ hay ai đấy có trời mới biết, đeo mặt nạ và thiết bị chiến đấu đặc biệt đi xuống cầu thang. Những nhân viên nhà ga đang được đưa lên bằng cáng. Trông họ hoàn toàn như bị dại: chảy dãi, mắt trắng dã. Một người trong họ không còn phản ứng với bất cứ thứ gì, một người khác hình như đang lên cơn, không thể đi thẳng người, đau đớn rên rỉ. Lúc ấy các con đường đã bị chặn, xe cảnh sát và xe cứu hỏa đỗ đầy trên quảng trường.
Tôi quyết định đi bộ đến ga Yurakucho, lên tuyến Yamanote đến Shibuya rồi đi xe buýt đến Hiro-o, nhưng càng đi tôi càng thấy tồi tệ. Lúc lên tàu chạy tuyến Yamanote, tôi cảm thấy như đã rồi đời. Làm gì cũng phải rất gắng sức. Mùi kia đã thấm vào quần áo tôi. Nhưng không hiểu sao tôi đã đi được đến ga cuối của xe buýt Shibuya. Tôi biết chắc là mình sẽ gặp một đồng nghiệp nào đó ở đấy. Nhiều người trong công ty tôi vẫn quen đi lại bằng xe buýt từ Shibuya. Nhưng nếu tôi ngã khuỵu xuống ở trên tàu thì sẽ không ai giúp tôi. Dù có phải bò ra thì tôi cũng phải đi đến bến đỗ của xe buýt tuyến Shibuya.
Tôi xuống tàu ở Shibuya, không hiểu sao đã xoay xở ra được đường và đến bến xe buýt, ở đó chân tôi không còn chút sức lực nào. Tôi ngồi bệt lên hè và dựa vào lan can, thẳng cẳng. Mới sáng ra chẳng ai trông lại thảm hại như thế, đúng không? Không ai trừ mấy tay xỉn, chắc thế. Vì thế chẳng ai nói gì với tôi. Họ thấy tôi ườn ra đó thì chỉ cho rằng tôi đã ăn chơi đập phá suốt đêm ở Shibuya.
Cuối cùng một người cùng công ty cũng bước tới nói chuyện với tôi, nhưng tôi không nói được. Hầu như không thở được nữa. Giọng nói của tôi như của một gã say mà lưỡi đã líu cứng lại. Muốn gì tôi cũng không thể chuyển ý nghĩ của mình thành lời. Tôi cố nói nhưng không cái gì lọt qua miệng. Tôi chỉ muốn được giúp đỡ, bất cứ kiểu gì cũng được, nhưng do không thể giải thích nên hình như không ai hiểu. Tôi đang lạnh run lên, càng lúc càng rét, không chịu nổi. Rồi một đồng nghiệp lớn tuổi hơn [Takanori Ichiba] đi qua và cứ y như là số phận muốn thế, anh ấy cũng lại đi tuyến Hibiya. Anh ấy hỏi tôi, "Kìa, có phải anh bị dính phải vụ ở Tsukiji kia không?" Anh ấy đã thấy ra vấn đề.
Tôi rất là may. Nếu không nhờ có anh thì không ai biết sự tình sẽ nghiêm trọng ra sao. Anh lập tức điện thoại gọi xe cứu thương nhưng tất cả các xe cứu thương đều đã được gọi đi. Vậy nên anh vẫy taxi, cùng hai đồng nghiệp nữa nhấc tôi vào xe. Chúng tôi lên cả xe và đến Bệnh viện Chữ thập Đỏ ở Hiro-o. Trên xe, một người nói, "Cái mùi gì ngòn ngọt như thế nhỉ?" Quần áo tôi thấm đẫm sarin.
Thở là cực nhọc nhất nhưng ngoài thế ra tôi còn cảm thấy tê bì toàn thân và không thể mở mắt, tựa hồ sức lực đã bị rút hết ra khỏi người và tôi đang trôi dạt vào một giấc ngủ li bì. Tôi thật lòng nghĩ mình đang sắp chết. Tôi không động đậy được. Nhưng tôi không sợ. Không thấy đau, tôi nghĩ, "Chết già có lẽ cũng giống kiểu này đây. Nếu tôi chết thì ít nhất cũng phải cho tôi nhìn thấy mặt bạn gái chứ." Còn hơn cả bố mẹ tôi, cuối cùng cô ấy là người tôi nhớ đến đầu tiên. Giống như câu hát, "Nói với nàng rằng tôi muốn nhìn mặt nàng" vậy.
Tôi không nhớ phải mất bao lâu những người đồng nghiệp mới tìm thấy tôi nhưng tôi nhớ rõ là đã rất điên tiết với tất cả những ai vờ không trông thấy tôi nằm đó. Bố láo! Con người mà sao có thể lạnh lùng đến như thế? Một người đang hấp hối ngay trước mắt họ mà họ không nói được cho một lời. Họ chỉ lảng tránh. Nếu ở vào địa vị họ, tôi đã nói gì đó. Nếu có ai có vẻ đau ốm trên tàu, tôi luôn nói, "Ông/bà/anh/chị ổn chứ? Có muốn ngồi không?" Nhưng phần lớn người khác thì không – tôi thật sự hiểu ra điều đó theo một cách khá khổ sở.
Tôi nằm bệnh viện hai ngày. Họ bảo tôi nằm lâu hơn nhưng tôi cảm thấy mình như con chuột lang để họ thí nghiệm một loại bệnh hiếm nên tôi về nhà. Bác sĩ nói, "Anh nên ở lại đây để chúng tôi có ví dụ tham chiếu cho các trường hợp khác giống anh." Không, xin cảm ơn! Trên tàu về nhà, tôi vẫn khò khè, nhưng tôi cứ muốn về nhà, ăn một cái gì ngon và thoải mái. Khá là lạ, tiêu hóa của tôi không bị ảnh hưởng. Dù vậy tôi đã không đụng đến thuốc lá và rượu từ lâu.
Tình trạng thẫn thờ ngơ ngẩn kéo dài chừng một tháng. Tôi nghỉ việc một tuần nữa nhưng trong một thời gian rất dài thể trạng của tôi vẫn chưa phục hồi hẳn. Tôi còn khó thở và không thể tập trung vào công việc. Khi bán hàng, tôi phải nói như lúc này đây – nhưng vấn đề là muốn nói cái gì tôi cũng phải gắng sức – a a a – để thu được đủ ôxy vào phổi. Lên thang gác thì thôi rồi. Tôi thường phải xin nghỉ việc. Tôi không đủ sức bán hàng.
Thật thà mà nói, với tôi nếu nghỉ ốm mà vẫn được hưởng lương thì sẽ tốt hơn nhưng công ty không thể hào hiệp như vậy. Vẫn tám tiếng cộng làm ngoài giờ như thường lệ. Như thế gay cho tôi nhưng tôi cho rằng ở một mặt nào đó cũng có những cái thú vị cho người khác. Theo kiểu nhiều lúc cũng buồn cười. Tôi gặp khách hàng và họ bảo tôi, "Yamazaki, tôi nghe nói anh nhiễm độc sarin." Mọi người đều biết. Tôi cố không nghĩ nhiều quá về chuyện đó, nhưng cái ức nhất là không ai thật sự hiểu điều tôi trải qua. Tuy vậy, chuyện tôi thay đổi công việc không liên quan gì đến vụ đánh hơi độc.
Ngay cả bây giờ tôi cũng không thể tập thể dục quá căng. Tôi từng có thể trượt tuyết hai giờ liền không nghỉ nhưng nay nhiều nhất là một giờ rưỡi.
Sau khi ra viện về, một dạo khi bị khó thở, tôi phải dùng bình ôxy. Ông biết đấy, giống như một loại bình các cầu thủ bóng chày vẫn dùng ở sân vận động Mái vòm Tokyo. Không to hơn bình xịt thuốc diệt côn trùng. Bạn gái tôi mua cho tôi.
Với tôi điều tốt đẹp duy nhất mà vụ đánh hơi độc mang đến là tôi đã hiểu bạn gái mình hơn. Trước lúc ấy, chúng tôi cãi nhau suốt. Chúng tôi không thật sự quan tâm đến cảm xúc của nhau. Tình cảm của cô ấy với tôi thế nào, tôi không chắc lắm. Cho nên tôi thật sự ngạc nhiên khi cô ấy khóc như mưa nhào đến bệnh viện. "Em cứ nghĩ là anh chết mất thôi," cô ấy nói, thật sự suy sụp. Lúc đó sếp tôi vẫn ở cạnh tôi, và trước sự chứng kiến của ông, cô ấy nắm chặt tay tôi không buông. Ngày nào cô ấy cũng đến bệnh viện và khi tôi ra viện về nhà, cô ấy lại đến thăm tôi. Ở công ty, chúng tôi vẫn giữ bí mật mối quan hệ này cho nên được cô ấy siết chặt tay ở ngay trước mặt sếp thì… [cười] Điều đó thổi bay tấm màn che chuyện của chúng tôi!
Tôi học cùng lớp với Yoshihiro Inoue ở trường trung học Rakunan tại Tokyo. Chúng tôi không chọn cùng môn học, chỉ học cùng khối. Chúng tôi cùng đi xe buýt từ bến Hankyu Omyia tới trường cho nên tôi biết hắn khá rõ. Một bạn tốt của tôi cũng chọn cùng môn học với Inoue vì thế chúng tôi đi học với nhau. Tôi không thân thiện với hắn bao giờ.
Thế nhưng tôi vẫn nhớ hắn như in. Cảm tưởng đầu tiên của tôi là hắn lập dị đến khó tin. Kỳ quặc. Có cái gì cay nghiệt. Tôi không thích hắn ngay từ đầu. Vì thế tôi không nói chuyện với hắn. Chỉ nói chuyện vài câu là ông có thể thấy ngay mình có hợp với ai đó hay không: tôi thì, đúng thế, tôi không chơi được với hắn. Tôi nghe anh bạn kia chuyện trò với Inoue và nghĩ, "Cha này làm mình sợ." Chưa hết những năm đầu trung học tôi đã chuyển tới một trường ở Tokyo, nhưng sau này nghe các bạn nói Inoue đã tọa thiền ở ngay trong lớp, hàng giờ liền.
Tôi có nhiều bạn. Tôi mê xe đạp. Tất cả bọn chúng tôi đạp xe ra ngoài. Tôi thích ở ngoài trời nhưng Inoue thì không.
Khoảng hai tuần sau vụ đánh hơi độc, khi họ đưa bọn Aum lên báo và tivi, tôi đã nhìn mặt hắn và nghĩ: "Mình đã thấy cha này ở đâu rồi." Tôi gọi điện cho bạn học cũ thì cậu ấy nói: "Ừ, Inoue, đúng thế."
Tôi cáu điên lên. Tôi nhớ lại cảm giác khó chịu hồi ở trường trung học. Quả thật là tôi phẫn nộ. Tôi đã chuyển trường nhưng tôi vẫn có chút tự hào với ngôi trường cũ. Tôi không thể tin người nào tốt nghiệp ở Rakunan lại có thể làm một việc kinh khủng như vậy. Một cú sốc, một nỗi thất vọng lớn.
Tôi vẫn để mắt hóng tin tức về hắn. Tôi chỉ muốn biết họ sẽ làm gì với hắn, muốn biết cái tính gọi là chân thật của hắn nhiều được đến đâu.
"Anh ấy tốt như thế đấy. Dường như trước khi chết còn tốt hơn"
Yoshiko Wada (31)
vợ góa của anh Eiji Wada
Cô Wada đang mang thai thì chồng mất. Không lâu sau, Asuka, một cô con gái, ra đời. Sau vụ hơi độc, cô Wada hay xuất hiện trên truyền hình và nay nhiều người Nhật đã biết mặt cô. Trước khi gặp cô, tôi đã lướt qua khắp các bài báo và tạp chí có thể tìm thấy, nhưng sự khác nhau giữa hình tượng tôi tưởng tượng ra với con người mà tôi gặp thật sự đáng ngạc nhiên. Dĩ nhiên hình tượng kia thuần túy là do cá nhân tôi tạo ra và ở đây không có ai đáng trách, nhưng chuyện này khiến tôi phải ngưng lại mà nghĩ đến cách làm việc của giới truyền thông – cái cách họ dựng lên bất cứ hình tượng nào họ muốn.
Yoshiko Wada thật (đối lập lại với hình ảnh do giới truyền thông sáng chế ra) thì rạng rỡ, nói năng rành mạch, thông minh. Dùng chữ "thông minh", tôi muốn nói là cô chọn chữ nghĩa cũng thận trọng như lựa chọn cách sống vậy. Tuy tôi chưa hề gặp người chồng quá cố của cô, nhưng bằng cách nào đó tôi vẫn biết rằng người đã chọn cô làm bạn đời thì hẳn phải là một tay được lắm.
Với cô, cú sốc trước cái chết của chồng ắt phải rất lớn. Tôi ngờ là chẳng ai lại có thể hồi phục hẳn sau một chuyện như thế. Nhưng suốt ba giờ phỏng vấn, không lần nào cô để mất phong độ và nụ cười. Cô luôn trả lời cởi mở, dù câu hỏi của tôi có tế nhị đến đâu, và chỉ một lần để mình rơi lệ, vào lúc cuối. Tôi xin lỗi đã khiến cô phải chịu đựng nhiều đến vậy.
Cô gặp tôi, trên tay bế Asuka và sau đó tiễn tôi đến tận sân ga. Đường phố gần như vắng tanh dưới cái nóng mùa hè. Đi ra ngoài, cô nom giống y như các bà nội trợ ngoại thành khác, hạnh phúc, trẻ trung. Câu nói lúc chia tay của tôi khá vụng về, "Xin giữ gìn sức khỏe và sống vui vẻ" hay đại khái thế - tôi không nghĩ ra được gì khác để nói. Có những lúc lời nói thật vô dụng, nhưng là nhà văn, tôi chỉ có lời nói mà thôi.
° ° °
Tôi sinh ra ở Kanagawa [Tây Nam Tokyo] nhưng nhà tôi chuyển đến Yokohama [Nam Tokyo] từ hồi tôi học tiểu học rồi sống ở đó đến bây giờ. Tôi đi học ở Yokohama, làm việc ở Yokohama. Tôi là người Yokohama cho nên dĩ nhiên là tôi yêu nơi này. Năm ngoái khi tôi có con, tôi còn sống một thời gian dài ở nhà bố mẹ chồng ở Nagano. Không khí trong lành hơn, thay đổi hoàn toàn về môi trường, thật là tuyệt đủ đường, nhưng khi trở về đây tôi đã vui đến phát khóc lên.
Phần lớn bạn bè tôi đều ở đây, Yokohama. Bạn thời trung học, bạn cùng làm việc, bạn trượt tuyết, phải đến mười năm rồi… Bạn bè thật sự giúp tôi nhiều. Họ nay đều đã lập gia đình nhưng chúng tôi vẫn thỉnh thoảng tụ tập lại ăn thịt nướng hay đi chơi bowling hay gì đó.
Khi học xong trung học, tôi đi làm thư ký cho Cơ quan Tiết kiệm và Vay nợ Yokohama. Lấy chồng là tôi thôi việc ngay. Trước đó tôi sống với bố mẹ. Tôi là con một nhưng tôi luôn tranh cãi với bố mẹ, đặc biệt là bố. Về những cái lặt vặt vớ vẩn, thật sự thế. "Bố nói thế mà," "Không, bố không bao giờ nói thế!" [cười] Tôi khá ích kỷ. Giờ tôi đang sống với bố nhưng không cãi nhau nữa.
Tôi gặp chồng tôi khi đang trượt tuyết. Một cô bạn của tôi có bạn trai làm ở Công ty Thuốc lá Nhật Bản và tình cờ anh ấy lại rủ chồng tôi đi cùng. Đó là vào tháng Hai năm 1991.
Chồng tôi thực sự thích trượt tuyết. Lúc 20 tuổi tôi mới bắt đầu trượt tuyết cho nên trình độ tôi không bằng được anh. Nhưng tôi vẫn đi trượt tuyết, có lẽ mỗi mùa năm lần. Dù bố mẹ không muốn cho tôi đi. Các cụ bảo nguy hiểm lắm. [cười] Các cụ quá bao bọc con cái. Tôi bị giới nghiêm đến tận 25 tuổi. Mười giờ là phải về nhà. [cười] Đôi khi về muộn tôi bị khóa cửa, cuối cùng phải sang nhà bạn ngủ nhờ. Nghĩ lại lúc đó tôi cho rằng mình đã quá hư. Nay có con rồi, tôi biết, bố cáu vì bố quan tâm.
Bốn năm trước mẹ tôi chết vì ung thư vú. Nó di căn ra khắp cơ thể. Bố nghỉ việc để ở bên mẹ. Bố đau khổ, tôi biết. Nhưng ngay cả lúc ấy, bố và tôi vẫn cãi nhau liên tục. Bây giờ tôi thấy chuyện đó thật tồi tệ, nhưng khi đó đúng là tôi không kìm được. Mặt khác, cũng chính vì chúng tôi hay cãi nhau mà bây giờ chúng tôi thân nhau.
Bố bảo tôi đã thay đổi nhiều. Dịu dàng hơn một chút. Có thể tôi đã trưởng thành hơn. Asuka là lý do chính, chắc thế. Hễ cứ nhìn con bé là cho dù kiệt sức đến đâu tôi vẫn phải mỉm cười.
Nhớ lại những ấn tượng đầu tiên, chồng tôi có vẻ không giống với khi anh trượt tuyết. Không có chút sức hút nào. Anh đeo kính cận sau cặp kính bảo hộ to đùng. Tôi có nói chuyện với anh, nhưng cảm thấy như kiểu, "Tay này sao thế nhỉ?" Anh quá đỗi không thân thiện. Anh đúng là mải mê với trượt tuyết quá, chẳng bận tâm gì được đến ai. Anh không cho phép mình nghỉ trừ khi trượt tuyết thắng. Anh ít nói.
Nhưng một tối, khi chúng tôi ra ngoài uống, anh bất ngờ thay đổi hoàn toàn. Ý tôi là anh thật sự cởi mở, còn nói đùa nữa. Anh như một người khác. Chúng tôi ở lại khu trượt tuyết ba ngày, nhưng không hề gần gũi riêng, tuy có lẽ chúng tôi có cuốn hút nhau.
Thật lòng mà nói, khi tôi gặp anh lần đầu tiên, bản năng tôi mách bảo, "Đây là người mình có thể cùng hẹn hò, thậm chí còn lấy làm chồng được." Như kiểu, nói như thế nào nhỉ, trực cảm phụ nữ. Cho nên tôi nghĩ, "Cũng có thể cho anh ta số điện thoại nữa." Tôi khá là tự tin. [cười]
Cả hai chúng tôi cùng 26 tuổi và đều đã uống nhiều: bia, whisky, sake, vang, đủ kiểu. Anh thật sự muốn có một khoảng thời gian vui vẻ.
Chúng tôi gặp nhau nhiều sau chuyến đi trượt tuyết ấy. Anh sống trong khu ký túc xá độc thân ở Kawaguchi, cho nên nói chung chúng tôi hay gặp nhau ở đâu đó tại trung tâm Tokyo. Chúng tôi thường đi xem phim, gặp nhau hàng tuần và nếu có thể thì cả những ngày cuối tuần nữa.
Vâng, có vẻ thực sự chúng tôi sinh ra là để dành cho nhau. Giống như số phận hay gì đó. Chúng tôi hẹn hò một năm trời mà chưa lần nào tôi thấy chán.
Anh đã nói chuyện cưới xin với bố tôi còn trước cả khi nói với tôi. Anh bảo bố: "Cháu muốn xin phép bác được chính thức gặp gỡ Yoshiko, với ý định kết hôn với cô ấy." Dĩ nhiên tôi thích anh và mọi cái, nhưng việc anh và bố nói với nhau như thế trước khi tôi biết chuyện thật tình đã làm cho tôi khó chịu.
Chúng tôi lấy nhau tháng Sáu năm sau. Mẹ tôi mất hồi tháng Hai năm ấy nên chúng tôi phải chịu tang và hoãn đám cưới lại đến lúc đó. Chắc là khi ấy tôi thực sự muốn mặc váy cưới và mọi thứ. Chúng tôi dự định sống với bố tôi ở Yokohama sau khi cưới. Chúng tôi không muốn để bố phải thui thủi một mình… chính chồng tôi đã gợi ý như thế. Cho nên rốt cuộc ngày nào anh cũng phải đi tàu điện ngầm từ Yokohama đến Oji, mỗi lần đi về mất hai giờ đồng hồ. Ngày ngày anh rời nhà vào 6 giờ sáng. Hồi đó tôi cãi nhau với bố suốt và chồng tôi luôn phải hòa giải cho hai chúng tôi. Anh rất vất vả. Anh về nhà lúc 11 hay 12 giờ đêm, mệt tưởng chết đi được.
Chúng tôi sống với bố mười tháng rồi chuyển đến Kita-senju. Thế nào Thuốc lá Nhật Bản lại có nhà của công ty ở đó, nhưng như thế tôi lại phải mất một giờ rưỡi đồng hồ mới đến được chỗ làm ở Yokohama. Sau một năm đi lại, tôi mệt nhoài. Chồng tôi nói, "Sao em cứ hành hạ mình như thế chứ? Em cứ làm cái gì em muốn thôi."
Thế là tôi thành người nội trợ. Ba bữa ăn một ngày cộng giấc ngủ trưa à? Nếu ông hỏi thì tôi xin nói là không tồi. [cười] Có thể xem tivi cả ngày. Trước đây tôi không xem tivi ban ngày bao giờ, cho nên đầu tiên là tôi – vui! Và vào tháng Bảy, tôi có mang. Sống ở Kita-senju thật tuyệt. Nhiều cửa hàng, gần ga và khu nhà của công ty thì rộng rãi. Tôi cũng có bạn ở đấy.
Tháng Mười một năm 1994, chồng tôi được điều từ Oji đến nhà máy chính ở Shinagawa [gần Yokohama hơn] và anh phải làm việc trên công trường trụ sở chính họ đang xây dựng ở Toranomon [trung tâm Tokyo]. Tòa nhà dự định hoàn tất tháng Tư năm 1995 và anh phải trông coi công việc lắp đặt, xây dựng. Anh là chuyên viên điện, cho nên phụ trách hệ thống thang máy, đèn đóm và máy điều hòa nhiệt độ. Tôi có thể nhận thấy anh vui vì được thoát khỏi công việc bàn giấy.
Anh về nhà, vừa uống bia vừa kể chuyện về ngày làm việc của anh. Đó là lúc thú vị nhất, nghe anh nói về công ty, về các đồng nghiệp, như là "Có cha ấy, hắn thế này thế nọ, em bảo anh nên làm gì?" Phần lớn thời gian anh đùa nhưng đã vào việc là anh tập trung, thật sự nghiêm túc, đúng thế đấy. Anh rất đáng tin cậy.
Cả hai chúng tôi đều mong có con. Chúng tôi muốn khoảng ba đứa. Đặc biệt là tôi, có lẽ vì tôi là con một. Khi biết mình có thai tôi vui khôn kể. Chúng tôi đặt tên cho con trước cả khi nó chào đời. Tôi nghe thấy cái tên trong một giấc mơ. Tôi mơ thấy đứa bé chạy mất hút đi đâu đó và tôi đuổi theo, gọi ra cái tên ấy. Tôi không thể tự nhớ được nó nhưng chồng tôi bảo nghe thấy tôi hét, "Asuka! Asuka!"
Chúng tôi hiếm khi cãi nhau. Nhưng lúc có mang tôi dễ cáu. Tôi công kích anh vì những chuyện không đâu ra đâu nhưng anh dễ dàng bỏ qua tất cả. Thường là anh cười xòa. Anh ấy là kiểu người tốt như vậy. Dường như trước khi chết lại còn tốt hơn.
Nếu anh đi làm về mà cơm nước có gì không ổn thì anh đều nói, "Không sao, anh sẽ đi mua đồ ăn mang về." Anh còn hỏi quanh chỗ làm việc xem tôi có mang thì nên ăn gì. Anh thật sự chăm lo cho tôi. Buổi sáng, tôi thường bị mệt, chỉ ăn được bánh kẹp thịt sandwich và mứt nho, cho nên anh luôn nhớ mua cho tôi trên đường đi làm về.
Chủ nhật trước ngày 20 tháng Ba, chúng tôi đi mua sắm với nhau. Một việc anh ít khi làm.
Sáng hôm ấy trời mưa, chúng tôi nằm trong nhà ngủ, nhưng buổi chiều trời đã quang hơn nên tôi nói, "Mình đi mua sắm đi" và đó là lần duy nhất anh đáp, "Hay."
Chúng tôi đi mua quần áo, tã lót, các món như thế cho em bé. Lúc đó bụng tôi đã vượt mặt và tôi đi đứng khó khăn, nhưng bác sĩ luôn bảo tôi: "Vận động! Vận động! Vận động!"
Sau đó chúng tôi ăn tối. Anh nóng lòng được trở lại với công việc hôm sau. Anh đã nghỉ thứ Sáu, nhưng thời hạn hoàn tất trụ sở vào ngày 1 tháng Tư đã lấp ló trước mắt và ám ảnh đầu óc anh. Ngoài ra thì vào ngày thứ Hai ấy cũng có một buổi liên hoan đón tiếp gì gì đó mà anh đang trông chờ nữa.
Anh luôn xuống tàu ở Kasumigaseki trên tuyến Hibiya để đi đến sở ở Toranomon. Anh thường dậy vào lúc 7 giờ và rời nhà sau 7 rưỡi. Sáng đó anh dậy rất sớm, quãng 5 rưỡi. Thường tôi không có thì giờ làm điểm tâm cho anh nhưng tối hôm trước anh nói: "Đôi khi thức dậy được chiều bằng một bữa điểm tâm ra trò cũng hay." "Được, nếu anh ấy muốn vậy," tôi nghĩ và sáng hôm sau đã ép mình dậy thật sớm nấu nướng cho anh. Có vẻ anh thèm được chiều chuộng chút ít.
Tôi không phải là người dậy sớm. Tôi thường quên điểm tâm. Và anh cũng không dậy sớm nốt nên cứ luôn luôn là "Không sao", phút cuối cùng nháo nhào ra cửa, ăn vội ăn vàng trên đường đi làm. Nhưng sáng đó tôi để hai đồng hồ báo thức, dậy sớm, nướng bánh, pha cà phê, tráng trứng với xúc xích cho anh. Vui quá, anh hét lên: "U oa! Điểm tâm!"
Tựa hồ anh nhận thấy điềm gì báo trước. Tôi nhớ ngoài việc bảo tôi làm điểm tâm cho anh, anh còn nói đại khái cái gì như, "Nếu có chuyện gì xảy ra với anh thì em biết là em phải kiên cường chiến đấu nhé." Bất ngờ trước câu nói, tôi sững ra mà hỏi, "Cái gì khiến anh lại nói thế?"
Thì ra công ty anh có chế độ ca kíp mới, anh có thể sẽ phải ngủ liền hai đêm ở cơ quan. Sẽ có những ngày anh không về nhà cho nên anh muốn cầm chắc rằng tôi sẽ có thể tự lo mọi việc. Nhưng nếu anh ở lại sở hai đêm thì sẽ lại được những ba ngày nghỉ và như vậy anh có nhiều thì giờ hơn với em bé, một viễn cảnh dễ chịu.
Anh rời nhà khoảng 7 rưỡi. Tôi biết anh bắt chuyến 7 giờ 37 của tuyến Hibiya xuất phát từ Kita-senju. Tôi tiễn anh, rửa ráy rồi dọn dẹp qua loa một chút trước khi yên vị xem chương trình Morning Wide Show. Họ cho chạy phụ đề ở trên màn hình, "Như thế, như thế đã xảy ra ở ga Tsukiji," nhưng tôi không lo lắng vì tôi nhớ anh sẽ đi tuyến Marunouchi.
9 rưỡi, công ty gọi điện tới, nói, "Hình như anh nhà bị vướng phải chuyện rắc rối này. Chúng tôi sẽ gọi lại sau." Rồi mười phút sau thì, "Anh nhà đã được đưa đến Bệnh viện Nakajima. Chúng tôi sẽ fax cho cô thông tin để có thể liên hệ trực tiếp." Vậy là tôi gọi họ nhưng họ đang hoàn toàn rối bời. "Chúng tôi thậm chí còn chưa nắm được ai đang ở đây," họ nói và gác máy. Tôi chỉ còn mỗi cách kiên nhẫn chờ thôi.
Đúng 10 giờ họ lại gọi: "Tình hình có vẻ xấu đi, xin cô hãy đến bệnh viện càng mau càng tốt." Tôi chuẩn bị đi thì điện thoại lại réo: "Anh nhà đã chết." Tôi nghĩ đây là sếp của anh. Ông nói: "Bình tĩnh, thưa cô Wada, xin giữ bình tĩnh!"
Thế đấy, đi khỏi nhà thì được thôi nhưng tôi không biết mình đang đi đâu. Cũng không hay sẽ bắt chuyến tàu điện ngầm nào. Cả hai tuyến Hibiya và Marunouchi đều bị hủy. Tôi đến chỗ đỗ taxi ở nhà ga nhưng ở đó chừng năm chục người đã xếp hàng. "Không được," tôi nghĩ, rồi đi thẳng đến công ty taxi ở gần đó. Tất cả xe đều đã có người gọi. Họ điện đàm và tôi cứ chờ, chờ mãi mà vẫn chẳng có xe nào đến. May sao một người ở công ty taxi phát hiện ra một chiếc không khách ở bên kia chỗ chắn tàu, thế là tôi đi.
Lúc ấy thi thể anh ấy đã được chuyển từ bệnh viện đến đồn cảnh sát trung tâm ở Nihonbashi. Tôi đi một chiếc taxi khác đến Nihonbashi nhưng đường tắc do một tai nạn trên đường cao tốc. Chúng tôi rời Kita-senju hồi 10 giờ 10 và đến đồn cảnh sát vào khoảng 11 rưỡi. Trên taxi tôi nghe thấy tên chồng tôi. Người tài xế mở tin trên đài và họ đang đọc tên những người đã chết. "Là chồng tôi đấy," tôi nói, "chồng tôi chết rồi." Người tài xế hỏi: "Tôi có cần tắt đài không?" nhưng tôi nói, "Không, cứ để. Tôi muốn biết là đã xảy ra chuyện gì."
Một giờ trên chiếc xe taxi ấy là một cuộc tra tấn. Tim tôi đập thình thịch, tôi nghĩ nó có thể nhảy ra khỏi lồng ngực tôi mất. Nếu mình sinh con ngay lúc này và ở đây thì sao? Nhưng tôi lại nghĩ, "Mình chưa thể chắc chắn chừng nào chưa nhìn thấy mặt anh. Tuyệt đối không có lý nào mà chuyện ấy lại xảy ra với anh được, chắc là đã lầm lẫn. Tại sao, ôi, tại sao chồng tôi lại là người chết cơ chứ?" Tất cả cứ quay cuồng trong đầu tôi. "Mình sẽ không khóc chừng nào không biết chắc"… Tôi cứ hy vọng một cách tuyệt vọng như thế.
Họ đang khám nghiệm tử thi cho nên lúc tôi được nhìn anh thì đã 1 rưỡi. Tôi phải chờ ở đồn cảnh sát suốt thời gian ấy. Điện thoại réo không ngừng và ai cũng chạy nhớn nhác hoảng loạn. Rối tinh rối mù. Sếp của chồng tôi và một sĩ quan cảnh sát giải thích mọi sự cho tôi, tuy nhiều chi tiết lúc này vẫn chưa rõ. Chỉ là giải thích qua qua: "Anh nhà đã hít phải một thứ gì và cái thứ ấy đã giết anh ấy."
Tôi lập tức gọi bố tôi. "Bố cứ đến đi." Vừa trông thấy mặt bố là tôi không sao cầm được nước mắt. Bố mẹ chồng tôi là nhà nông, nếu thời tiết tốt thì họ luôn làm việc ngoài đồng cho nên tôi không gọi cho họ được. Sếp của chồng tôi đã cố gọi nhưng không ai trả lời. Tôi muốn gặp mẹ chồng càng nhanh càng tốt. Tôi cứ ngồi đó, không nói nên lời, nghĩ: "Mình đang làm gì ở đây?" Tôi chỉ có thể làm mỗi việc là gật đầu với các câu hỏi của nhân viên điều tra.
Cuối cùng tôi được đối mặt nhìn chồng tôi ở dưới tầng trệt. Trên gác là đồn cảnh sát. Tầng trệt là nhà xác. Tôi đến nhìn mặt anh ở đó. Trong một gian phòng không to hơn hai tấm thảm tatami. Họ để anh nằm thẳng đơ, một mảnh vải trắng trùm lên. Trần truồng hoàn toàn và phủ một mảnh vải trắng. "Đừng đụng vào anh ấy," họ bảo tôi, "Đừng lại gần quá." Trên người anh có cái gì đó mà nếu tôi đụng vào thì nó sẽ thấm vào da tôi.
Nhưng họ chưa kịp cảnh báo, tôi đã đến chạm vào anh. Anh vẫn ấm. Có những vết cắn rướm máu ở môi. Đã đóng vảy, như thể anh đã cắn thật chặt vào, và ở tai, mũi anh cũng vậy, những chỗ chảy máu đã đóng vảy. Mắt anh nhắm. Không phải một bộ mặt đau đớn. Nhưng những sẹo, những vết máu, trông chúng quá đau lòng.
Họ không cho tôi ở lại thật lâu vì "nguy hiểm". Tôi ở đó có lẽ một phút… không, không được đến cả một phút. "Tại sao anh ấy phải chết?" tôi nói. "Tại sao anh ấy bỏ tôi lại ở đây?" Và tôi sụp xuống.
Thi thể anh được chuyển đến Khoa Pháp y Đại học Tokyo, lúc 4 rưỡi. Bố cố khuyên tôi can đảm, nhưng tôi không nghe thấy những gì bố nói. Tôi không làm được một cái gì. Đến suy nghĩ cũng không nổi. "Mình sẽ làm gì bây giờ?" tôi chỉ có thể nghĩ được như thế.
Hôm sau tôi vĩnh biệt anh ở Đại học Tokyo. Lúc ấy, họ không cho tôi, không cho cả bà mẹ chồng ở Nagano xuống đụng vào người anh. Chúng tôi chỉ được nhìn. Tôi không thể tin được họ lại để anh suốt đêm thui thủi một mình ở cái nơi côi cút này. Ngay đến sở cảnh sát còn tốt hơn. Bố mẹ anh xuống Tokyo mà họ cũng không cho xem thi thể anh ở đồn cảnh sát. Thật tàn nhẫn.
Anh chồng tôi đưa anh về Nagano bằng xe hơi. Bố mẹ chồng tôi và ông của Eiji, tôi và bố tôi đi xe lửa. Tôi khóc suốt đường. Tôi tự nhủ, "Kiềm chế đi nào." Tôi phải lo liệu chu đáo tang lễ này, sau đó thì tôi bất cần. Muốn gì thì bố mẹ chồng tôi cũng đang cố hết sức, vậy nên tôi cũng phải thế thôi. Như họ nói, Đức Phật không thích thấy khóc lóc. Nhưng tôi thật sự không kìm được.
Đứa bé cựa quậy trong người tôi. Hễ tôi khóc là nó lại lăn bên này bên kia. Sau tang lễ bụng tôi càng xệ xuống. Ai cũng lo lắng cho tôi. Họ nói sinh nở thường đi theo mau sau một cú sốc.
Chúng ta thường giữ một bức ảnh nho nhỏ của người chết ở ban thờ Phật, đúng chứ? Tôi để tấm ảnh đó ở bên mình lúc sinh nở và nó cho tôi sức mạnh. Mẹ chồng và mẹ của một người bạn của chồng tôi cũng ở đây để an ủi tôi. Tất cả mất mười ba giờ đồng hồ. "Khá bình thường," họ nói. "Thế là bình thường ư?", tôi nghĩ. [cười] Đứa bé hơn ba cân, nặng hơn mong đợi. Lúc sinh cháu, tôi mải bận quá nên quên mất chồng tôi. Đau quá mà. Tôi gần như ngất đi nhưng mẹ chồng vào phòng sản, vỗ vỗ má tôi: "Cố lên." Nhưng tôi chẳng nhớ gì cả những chuyện này.
Khi sinh cháu xong, quá mệt, tôi chỉ muốn ngủ. Phụ nữ chắc phần lớn đều nghĩ, "Tuyệt vời làm sao!" hay "Con dễ thương quá" – nhưng tôi thì không. Sau khi gắng sức dữ đến vậy, tôi chỉ muốn buông hết…
Sau khi đẻ phải mất thì giờ nhiều mới sụt được cân nhưng mẹ chồng tôi chăm lo cho mọi cái. Bà săn sóc Asuka. Mẹ tôi mất đã lâu, bố tôi thì chẳng biết gì về chuyện này. Mẹ chồng tôi đúng là một người lão luyện, từng giúp trông hai đứa con của vợ chồng anh chồng tôi cho nên tôi thấy an toàn như ở trên một chiếc tàu du lịch viễn dương sang trọng vậy. Nếu chỉ có mình tôi, khéo tôi điên mất. Gia đình lớn có cái hay ở chỗ này.
Anh của Eiji có hai đứa con (và đứa thứ ba cũng được sinh cùng thời điểm với con tôi), hễ tôi chớm nức nở là hai cháu lại đến hỏi: "Cô có sao không?" hay "Tại vì chú Eiji chết phải không?" Với lũ trẻ ở bên, tôi không thể cứ khóc mãi được. Chúng là niềm an ủi lớn.
Đến tháng Chín, tôi quay về Yokohama, sau nửa năm sống với bố mẹ chồng. Thực tế nơi đó đã trở thành ngôi nhà thứ hai của tôi. [cười] Tôi vẫn năng trở về. Tôi thích nơi ấy. Ai cũng chào đón tôi, và mộ chồng tôi cũng ở đó.
Một năm qua đi, tôi cố gác mọi sự lại đằng sau phần nào. Tôi dần dần chấp nhận sự thật là anh không còn ở quanh đây nữa… Chồng tôi hay đi công tác hai ba tháng ở Mỹ cho nên ở một chừng mực nào đấy, việc anh không có ở đây có vẻ cũng bình thường. Ngay cả sau khi anh chết, tôi vẫn cứ nghĩ, "A, anh lại đi công tác xa nhà rồi." Cả năm như thế, tựa hồ anh sẽ bất ngờ bước qua cửa và nói: "Anh về rồi đây!" Và sáng dậy thì tôi nghĩ: "Anh lại đi rồi." Nhưng rồi lại trông thấy bức ảnh của anh trên bàn thờ. Đâu đó trong tôi vẫn không chấp nhận chuyện đã xảy ra. Tôi có vẻ sống pha giữa thực tại và hư ảo. Chẳng hạn ngay trong khi viếng mộ anh tôi lại nghĩ: "Anh sẽ về sớm thôi." Nhưng sau một năm, đầu óc tôi nay đã tỉnh táo hơn. "Ừ, anh đã chết."
Đó là phần khó khăn nhất. Đi dạo, thấy một người bố công kênh đứa con trên vai là điều khó chịu đựng nhất; hay nghe lỏm câu chuyện của một đôi trẻ tuổi – tôi chỉ muốn là mình không ở đó.
Tôi đã đọc những gì người ta nói về tôi trên báo nhưng họ không bao giờ viết điều thật sự quan trọng. Vì một lý do nào đó, tôi đã một lần xuất hiện trên tivi. Sau đó người ở đài truyền hình bảo tôi là có "nhiều phản ứng, nhiều thư" nhưng họ không gửi cho tôi cái gì sất. Làm gì mà tồi tàn thế chứ! [cười] Tôi không muốn lên tivi nữa. Không bao giờ nữa. Đơn giản bởi vì họ không nói sự thật. Tôi đã mong đợi một chút sự thật nhưng nhà đài đã có lịch của riêng họ về những cái họ phát sóng. Họ không bao giờ chiếu những cái tôi thật tình muốn nói.
Chẳng hạn khi luật sư Sakamoto kia mất tích, nếu cảnh sát Kanagawa cho phép điều tra sâu như lẽ ra phải thế thì sẽ không bao giờ xảy ra vụ đánh hơi độc. Tất cả các nạn nhân sẽ không sao cả 1 . Đó là điều tôi muốn nói, nhưng họ cắt hết. Tôi hỏi tại sao thì được biết nếu phát cái đó, họ sẽ bị sức ép của các nhà tài trợ quảng cáo. Báo và tạp chí cũng vậy.
Khi chúng tôi đem áo quan đi Nagano đã có những kíp làm truyền hình chờ sẵn với camera. Vậy mới biết thế nào là vô cảm!
Khi tôi về nhà ở Yokohama, mọi người đều biết chuyện tôi. Tôi đi xuống phố thì ai cũng chỉ trỏ: "Xem kìa, cô ta đấy. Vợ góa vì sarin đấy." Lưng tôi rợn lên, tôi cảm thấy như bị ai đâm. Không chịu được nên tôi chuyển đi.
Lần đầu tiên tôi đến Văn phòng Ủy viên Công tố để dự một phiên tòa, họ có các lời khai của người đã đưa chồng tôi ra khỏi nhà ga. Họ cũng có lời chứng của các nhân viên nhà ga. Công tố viên hỏi tôi có muốn biết chồng tôi đã chết như thế nào không. "Dĩ nhiên," tôi nói và họ đọc các lời chứng cho tôi. "Sao cơ? Ông nói là anh ấy đã bị chết một cách đớn đau đến thế ư?" tôi nghĩ. Tôi muốn những kẻ đã làm chuyện này phải nếm thứ thuốc của chính chúng. Tại sao chúng ta cứ giữ cho bọn chúng sống? Hãy trừng phạt chúng hết mức vào, càng sớm càng tốt, tôi nghĩ như vậy. Sau này tôi vẫn sẽ luôn muốn thế. Các phiên tòa xét xử chỉ làm cho tôi tức giận. Vin vào lý do nào mà giết chồng tôi chứ? Giờ khi tương lai chúng tôi đã bị hủy hoại, tôi nên làm gì với sự trống rỗng này đây?
Tôi muốn tự tay giết Asahara. Nếu được phép, tôi muốn được giết hắn từ từ, đau đớn. Còn Hayashi, tên thủ phạm đánh hơi độc đoàn tàu Hibiya, thì vẫn xổng 2 .
Tôi chỉ muốn biết sự thật. Biết sự thật thì biết sớm phút nào hay phút ấy.
Ngay cả truyền hình và đài phát thanh cũng chả nói chút gì về việc nạn nhân phải chết một cách đau đớn ra sao. Không một lời. Vụ Matsumoto còn nói một chút, nhưng đến vụ sarin thì không. Lạ lùng. Cho nên tôi chắc đa số người ta vẫn hình dung họ chỉ tự nhiên ngất đi rồi chết "bình thường". Các bài báo cũng như vậy. Chỉ khi công tố viên đọc các lời chứng, tôi mới biết chồng tôi chết đau đớn như thế nào. Tôi muốn nhiều người hơn biết sự thật về mức độ khủng khiếp của những cái chết ấy. Nếu không tất cả sẽ thành ra vấn đề của ai đó khác.
Điều tốt lành duy nhất là Asuka. Khi cháu nói những lời đầu tiên… Một vài cử chỉ nho nhỏ, một vài món ăn cháu thích lại làm tôi nhớ đến anh. Tôi hay bảo Asuka, "Bố thích cái này." Nếu tôi không bảo, cháu sẽ không bao giờ biết. Khi Asuka hỏi, "Bố đâu?" tôi chỉ vào bức ảnh trên ban thờ nói, "Bố, bố." Cháu nói, "Chúc ngủ ngon" với bức ảnh trước khi đi ngủ. Điều đó khiến tôi muốn khóc.
Tôi còn giữ một vài băng video về các chuyến đi trượt tuyết, về tuần trăng mật. Có thể nghe thấy tiếng anh ấy, nên tôi định sẽ mở cho cháu khi cháu lớn hơn. Tôi quá mừng vì chúng tôi đã ghi lại các video này. Kể cả tôi cũng đã bắt đầu quên hình dáng của anh. Đầu tiên, tôi vẫn có thể cảm thấy từng chút từng chút một khuôn mặt anh nơi ngón tay mình, nhưng dần dần tất cả rồi sẽ ra đi thôi.
Thứ lỗi cho tôi… Nó là thế đấy, nếu anh không còn hiện hữu thì tất cả bắt đầu phai đi.
Tôi đang nghĩ đến việc dạy Asuka trượt tuyết. Chồng tôi luôn nói sẽ dạy con. Tôi sẽ mặc bộ đồ của chồng tôi và dạy cháu. Chồng tôi và tôi mặc cùng cỡ. Có lẽ mùa sau tôi sẽ bắt đầu. Chắc là anh muốn như vậy.
"Nó là đứa con không đòi hỏi"
Kichiro Wada (64) và Sanae Wada (60)
bố mẹ của Eiji Wada đã chết
Kichoro và Sanae Wada sống ở Shioda-daira, nông thôn ngoại vi Ueda, không xa Suối nước nóng Bessho. Khi tôi tới nhà Wada, lá thu đang rụng, các quả đồi nhuốm màu đỏ thắm và vàng, những cây táo trong vườn nặng trĩu quả chín đỏ. Đây là một bức tranh thanh bình về quận Nagano vùng núi vào mùa thu hoạch.
Vùng này từng là trung tâm sản xuất lụa với những vạt rộng lớn trồng dâu để lấy lá nuôi tằm. Sau thế chiến II, vùng đất được chuyển sang trồng lúa, khiến ngành dệt lụa địa phương dừng lại đột ngột.
"Cách làm việc của chính phủ không có ý nghĩa gì nhiều cho một làng làm nghề nông bé như làng chúng tôi," ông Wada nói. Ông là người ít lời – tuy nếu muốn thì ông có thể nói rất nhiều chuyện. Vợ ông, Sanae, trái lại, là kiểu "bà mẹ" hay chuyện, ân cần.
Ông bà Wada có hai mẫu rưỡi trồng lúa, rau và táo. Khi tôi về Tokyo, hai người cho tôi một ôm táo chín cây từ vườn nhà – những quả táo ngon tuyệt!
Vài năm đầu sau khi kết hôn, hai ông bà chủ yếu sống nhờ nghề trồng lúa, nhưng do tình hình ngày càng khó khăn, ông đã phải làm việc ở một nhà máy cho đủ lần hồi, chỉ trông nom đồng ruộng vào những ngày nghỉ. Khối lượng công việc gấp đôi đã làm sức khỏe ông suy sụp. Khi con trai chết trong vụ đánh hơi độc, ông hầu như không vượt qua nổi cú sốc nên đã thôi việc ở nhà máy.
Tôi hỏi ông xưa nay Eiji là người con thế nào. "Tôi chẳng đóng góp mấy vào chuyện nuôi dưỡng thằng nhỏ," ông bảo tôi, "tốt nhất là hỏi nhà tôi." Ông quá bận rộn, không có thì giờ trông nom đến các con, tôi cho là vậy, nhưng đồng thời tôi có ấn tượng rõ rệt rằng ông thấy chủ đề về cái chết của con trai quá đau lòng để mà đem ra nói.
"Nó là đứa không đòi hỏi gì." Những nhận xét về điều này đã được nhắc đi nhắc lại suốt quá trình phỏng vấn. Eiji là một thanh niên mạnh mẽ, độc lập, chưa một lần làm bố mẹ phiền lòng. Chưa bao giờ, cho đến ngày thi thể anh được gửi về nhà không một lời giải thích…
° ° °
MẸ EIJI: Tôi sinh Eiji vào lúc 5 giờ 40 sáng ngày 1 tháng Tư. Tôi chỉ biết là không thể nhịn đến sáng cho nên trời vừa tang tảng tôi đã đến nhà hộ sinh. Lúc đó khoảng 4 giờ. Tôi gần như sinh ngay sau đó.
Tôi sinh không khó. Nó chỉ nặng chưa đầy hai cân rưỡi. Anh nó lúc sinh nặng những bốn cân. Eiji nhỏ con hơn nhiều. Tôi sinh thường, mất một giờ rưỡi, không cần gọi đến bác sĩ. Nhưng với thằng anh nó thì quả là vất vả gay go.
Chúng tôi chả có lựa chọn nào ngoài nuôi dê. Muốn gì thì quanh đây cũng có nhiều cỏ. Cho nên tôi vắt sữa dê và uống sữa dê để có nhiều sữa cho Eiji bú. Tôi đã nuôi Eiji lớn lên khỏe mạnh là nhờ thế. Tuy hơi gầy một chút, và không bao giờ lên cân nhiều. Nhưng chúng tôi cũng không bao giờ phải đưa nó đi bệnh viện.
Nó là một đứa không hay đòi hỏi. Chuyện gì nó cũng luôn tự làm lấy. Khi nó đến Công ty Thuốc lá Nhật Bản phỏng vấn, chúng tôi hỏi nó: "Con có muốn bố mẹ đi cùng không?" nhưng lại chỉ làm nó khó chịu: "Ai sẽ đi cùgn với con ư? Con đi một mình!" [cười] Hay khi nó sống một mình, tôi đã nói, "Hay là mẹ đến dọn dẹp nhà cho con?" thì nó nói: "Con có thể tự dọn dẹp nhà cửa lấy mà!" Mười năm qua duy chỉ ba lần tôi phải lo cho Eiji: khi nó đính hôn, khi nó cưới và khi chúng tôi đem thi thể nó về.
Anh con cả tôi trầm tính, còn Eiji thì lại ham hoạt động, hăm hở tự làm lấy hết mọi thứ. Ngay cả đến cơm nước. Cho nên nuôi nó lớn khôn với chúng tôi chẳng thành vấn đề gì. Nó tự lo được mọi sự cho bản thân.
Lúc nó vào trung học, chúng tôi bảo nó, "Sao không cố học tiếp lên đại học hả con?" Nhưng nó nói, "Con thích đồ điện nên con sẽ vào trường hướng nghiệp chứ không học cao lên nữa." Anh em nó đã bàn với nhau. Thằng anh nói, "Nếu anh ở lại trông nom ruộng vườn của gia đình thì sẽ dễ hơn," còn Eiji nói, "Em không trông đợi gì ở đây cho nên em sẽ ra đi tự lập." Hai đứa nó đã quyết định như vậy với nhau.
Anh của Eiji đã thử thi vào đại học ở Tokyo nhưng nó nói không thể chịu nổi cái nơi hổ lốn điên rồ ấy được nên quay về với trường nông nghiệp đây. Eiji thì không. Nó có thể thích nghi với bất cứ đâu. Nó hòa nhập ngay vào đời sống thành phố. Sau khi tốt nghiệp chương trình điện, nó đến làm việc cho Công ty Thuốc lá Nhật Bản năm 1983. Anh rể tôi làm ở đó. Khi sắp về hưu ông ấy nói, "Sao Eiji không vào Thuốc lá Nhật Bản mà làm nhỉ?" Lúc này là vào khoảng thời gian công ty đang tin học hóa máy móc. Và khi đến phỏng vấn, Eiji đã nói: "Tôi muốn vào làm để có thể học hỏi được các hệ thống máy tính này," nên có lẽ vì thế họ đã nhận nó vào. Ở lớp huấn luyện tại Nagaoka, nó bảo tôi, ai cũng tốt nghiệp đại học, có mỗi hai trong mười hai người ở đó là vào thẳng từ trung học.
Nó bảo ở Nagaoka tuyết dày cả mét. Cho nên nó nói món thứ hai nó muốn là học trượt tuyết. Nó cần quần áo, thiết bị, vậy tôi có thể gửi tiền cho nó được không? Gửi chứ. Thế là khi đã thật sự quen rồi thì nó trượt miết. Nó gặp Yoshiko chính là trên một dốc trượt tuyết.
Ở Nagaoka, xa nhà, nó bắt đầu cuộc sống mới một thân một mình nhưng có vẻ không thấy cô quạnh. Nó kết bạn với nhiều người, nó kiếm được tiền và được tự do vui vầy với chỗ tiền ấy.
Khi họ bảo tôi Eiji chết, nói thật là đầu óc tôi trống tênh. Đã nghe chuyện người ta bị "đầu óc trắng trơn", nhưng lần này thì nó đã thực sự xảy đến với tôi. Chẳng biết cái gì ra cái gì nữa.
Không một ai ở nhà lúc đó. Công ty nó và cảnh sát gọi điện, nhưng tất cả đều đang ở ngoài. Trước đó tôi đã ủ tương miso, tháng Tư nào tôi cũng làm một mẻ, nhưng vì sắp phải xuống trông giúp con của Eiji, tôi đã làm sớm hơn một tháng. Tôi bận là vì thế. Vào ngày 20, thời tiết quang đãng cho nên tôi giặt giũ hết đống quần áo đã chất đầy, làm mọi thứ bà dằn. Ông nhà tôi sáng ấy phải đi xén tỉa mấy cây táo trong vườn, còn tôi thì huyết áp có lên tí chút nên tôi đi bệnh viện lấy thuốc, vì thế mà không có ai ở nhà.
Cuối cùng họ gọi được cho bà chị cả tôi, bà ấy nói, "Tôi gọi cả nghìn bận mà chả có ai ở nhà. Dì đã xem tivi chưa?" Ở bệnh viện về, tôi định đi mua ít hoa, đang là ngày Higan mà [Xuân Phân theo đạo Phật ở Nhật], nhưng trước đó tôi đã về một lát. Đúng lúc ấy thì điện thoại réo.
"Thời tiết đẹp thế này, sao có người lại đi xem tivi chứ? Trời mưa thì em xem chứ lúc này thì em đang bận quá." Đó là lúc chị tôi nói, "Nghe này, đừng hốt hoảng. Hãy cứng rắn lên." Và tôi ngớ ra. "Hãy cứng rắn lên! Là vì chuyện gì đây?"
Thì là thế này, "Hiện trên tivi người ta đang báo Eiji đã chết." Chính lúc ấy đầu óc tôi bỗng hóa ra trống không. Ra là thế. Tôi không thể nhớ thêm cái gì nữa. Nó đến dữ như thế đấy. Cơn sốc đã xóa sạch mọi thứ…
Trước khi hai đứa lấy nhau một năm thì Eiji đưa Yoshiko về nhà. Đưa về vào mùa đông. Eiji chỉ về nhà hai lần một năm, dịp Obon [lễ của đạo Phật dành cho người chết vào tháng Tám ở Nhật] và cuối năm, và lần này vào mùa đông. Vì chúng tôi vừa làm xong mọi việc chuẩn bị cho mùa đông. Như tôi nhớ thì lần ấy Yoshiko không ở lại với chúng tôi mà trở về nhà cùng hôm ấy.
Từ đầu đến cuối tôi toàn nói, "Lấy một cô vợ nông thôn có phải là tốt hơn không? Như thế thì sẽ dễ về đây hơn, đây sẽ là quê hương chung của cả hai người." Và Eiji nói, "Không, lấy gái quê sẽ chỉ phiền phức thôi. Con sẽ tìm vợ cho con, mẹ khỏi lo. Mẹ cứ để con lo lấy."
BỐ EIJI: Với tôi thì chuyện ấy chẳng sao. Nó thích ai thì để nó chọn, cái chính là đừng có nay cô này mai cô khác. Bố hay mẹ không có quyền can thiệp vào chuyện hôn nhân của con cái. Tôi nói thế này, để chúng làm chuyện ấy cho bản thân chúng.
MẸ EIJI: Đám cưới của hai đứa làm ở nhà nguyện tại Aoyama. Lễ nhỏ thôi. "Sảnh sẽ không đủ chỗ cho hàng chục người đâu," nó bảo chúng tôi, cho nên chỉ những quan hệ thân thiết mới dự. Nhưng khi tôi nói, "Ta sẽ phải tổ chức một lễ nữa khi con đưa vợ về quê", thì nó bảo, "Con là con thứ. Anh con là người nối dõi tông đường. Còn con, ai biết cuối cùng liệu có về đây hay không cơ chứ, cho nên không cần làm cái gì đặc biệt cho con đâu."
Chúng tôi nghe tin Yoshiko có thai khi Năm Mới hai đứa nó về thăm. Tôi đã phần nào cảm thấy điều đó khi chúng lên đây vào tháng Tám. Lúc ấy sắc má Yoshiko nom không tốt lắm, và tôi thầm nghĩ, đúng, có lẽ là thế cũng nên. Cho nên tôi hỏi, thì Yoshiko nói, "Chắc là thế ạ."
BỐ EIJI: Ngày 20 tháng Ba, như vợ tôi nói lúc nãy, tôi ra ngoài tỉa xén vườn cây táo ngoài đồng. Ở đó từ sáng. Phải làm xong trước khi hết tháng Ba. Chúng tôi có bốn chục cây táo cả thảy.
Con cả của chúng tôi sống với chúng tôi nhưng ở một gian khác. Ăn uống và mọi thứ đều riêng. Nó ở với vợ con nó cho nên điện thoại chúng tôi có réo thì ở bên ấy cũng không nghe thấy được. Với lại đằng nào thì vợ nó cũng đang thai nghén và đang đến bệnh viện sản khoa lấy thuốc.
Nhưng thật là tình cờ khi nó đang nghe đài phát thanh thì cái tên "Eiji Wada" chợt cất lên. Thế là nó chạy như bay đến chỗ chúng tôi. Nó gọi điện thoại trước, gọi mãi nhưng không ai thưa cho nên nó nghĩ chúng tôi đang ở ngoài đồng. Nhưng trước cả nó, vợ tôi đã về nhà và nhận được cú điện thoại của bà chị.
Cảnh sát cũng báo tin. Sở cảnh sát gọi cho đồn cảnh sát sở tại, bảo đi thẳng ra ngoài tìm chúng tôi, chuyện xảy ra là như vậy. Và chính lúc vợ tôi đang nói chuyện điện thoại thì xe cảnh sát đến.
MẸ EIJI: Tôi không muốn bố Eiji biết tin đột ngột rồi ngất ở ngoài đồng nên chúng tôi ra vườn táo bảo ông ấy, "Lại đây một tí." Bốn chúng tôi đi Tokyo. Bố Eiji, tôi, anh con cả và anh rể tôi, ông là người đã khuyến khích Eiji vào làm ở Thuốc lá Nhật Bản. Chúng tôi bắt chuyến tàu 2 giờ từ Ueda và đến ga Ueno vào khoảng 5 giờ. Bên ngoài trời còn sáng. Một ai đó ở Thuốc lá Nhật Bản đến gặp chúng tôi và đưa chúng tôi đến Trụ sở Cảnh sát Trung ương bằng taxi. Trên đường đi không ai hé một lời. Im lặng chết choc. Chúng tôi cứ im lặng trên xe và khi được bảo thì bước ra ngoài.
Nhưng lúc ấy thi thể không còn ở chỗ cảnh sát nữa. Nó đã được đưa đến Khoa Pháp lý Đại học Tokyo. Thế là cuối cùng chúng tôi vẫn không nhìn thấy được Eiji của chúng tôi hôm ấy. Và người ta đã đưa chúng tôi đến ở nhà khách của Thuốc lá Nhật Bản. Đêm ấy tôi không ngủ được. Sáng hôm sau, 9 giờ, tất cả chúng tôi tới Bệnh viện Đại học Tokyo và cuối cùng thì cũng được nhìn thấy nó. Không nghĩ ngợi, tôi sờ vào Eiji thế là người ta hét lên với tôi.
Nào có ai bảo tôi là không được đụng vào nó cơ chứ. Hình như Yoshiko cũng có chạm vào nó và bị họ quát. Nhưng với một người mẹ, gì thì gì tôi cũng phải sờ vào con tôi và thấy nó lạnh ngắt thì mới chấp nhận rằng: "Đã quá muộn mất rồi." Không được tận tay chạm vào nó như thế thì chẳng cái gì làm cho tôi tin được.
Mọi thứ trong đầu tôi thế là bị xua quét đi sạch. Tôi chẳng hiểu nổi cái gì. Nhưng ông biết đấy, tôi kìm nén được mình nên tôi không khóc. Tôi chỉ còn là một kẻ hoàn toàn đần độn, người vẫn cử động nhưng chỉ thế thôi. Chúng tôi phải đưa nó đi gặp Đức Phật và làm lễ tang cho nó. Khi đầu ông đã trống không thì đến nước mắt cũng không chảy.
Lạ là trong đầu tôi chỉ nghĩ được về việc chuẩn bị cho các ruộng lúa. Hai đứa trẻ… hai đứa cháu nội sắp ra đời, phải cấy lúa, phải làm cái này, phải làm cái kia, đầu óc tôi cứ bận rộn những chuyện đó. Thế là tôi ở đấy, sắp sửa nghĩ đến đoạn cấy lúa thì đoàn truyền hình đến.
BỐ EIJI: Tôi không trả lời gì các phóng viên. Tôi rất điên với họ. Họ còn theo chúng tôi đến cả đài hỏa thiêu. Lại chụp ảnh cả bệnh viện sản khoa nữa chứ. Tôi bảo họ là xin đi đi cho nhưng tôi nói thế nào họ vẫn cứ ở lại. Họ lại tìm đến cả hàng xóm. Rồi hàng xóm hỏi chúng tôi, "Họ muốn chúng tôi phát biểu, chúng tôi nên nói gì đây, ông Wada?" nhưng tôi bảo họ. "Đừng nói gì cả."
Chỉ đúng một lần, khi tôi đang chạy máy kéo thì họ đến đưa ra một cái micro nói: "Thưa ông Wada, ông có bình luận gì không?" thì tôi trả lời. Tôi nói: "Tôi muốn trông thấy bọn giết người nhận án tử hình ngay lập tức cho tội ác của chúng. Và họ phải bổ sung Hiến pháp Nhật Bản. Có thế thôi. Còn giờ thì các ông về đi." Tôi thật không có gì để dính dáng đến họ nữa cho nên tôi quay ngay lại với công việc ruộng nương. Nhà đài đặt máy camera ở trước nhà tôi, phục sẵn chờ đến lúc tôi trở về. Thế là tôi cưỡi xe máy đi vòng về lối cửa sau. Lúc ấy, có quá nhiều người đến để làm tin về chúng tôi. Bảo rằng viết bài cho tạp chí hay cái gì đó chả hiểu.
Tôi hầu như không chịu đựng nổi nữa, chỉ còn biết là phải cấy lúa không thì lỡ. Và khi cấy xong, tôi quỵ ngã. Trong đầu tôi là đủ loại ý nghĩ, tôi cứ nghĩ, nghĩ miết cũng không thể biết được. Ông có nghĩ nhiều đến thế nào chăng nữa thì đứa con đã chết cũng không thể quay trở về. Tôi phải tự dặn mình đừng có giữ những tình cảm này mãi. Nhưng cũng không sao mà quên đi được. Mỗi bận nghĩ lại mọi chuyện, những cảm xúc ấy lại cứ cồn cào trong ruột gan tôi.
Tôi không phải là người uống rượu nhiều nhưng tôi thích sake do tự tay mình nấu. Cho nên hễ Eiji về, ba bố con tôi lại uống với nhau. Sake này luôn là ngon nhất, không giống thứ rượu nào. Một ít rượu vào người, thế là chuyện trò hào hứng ngay. Chúng tôi đi một sho [1.8 lít] trong một tối. Gia đình chúng tôi thân thiết với nhau. Không cãi cọ lấy một lần nào.
MẸ EIJI: Nó là một đứa con ngoan. Nhận lương tháng đầu tiên, nó mua cho tôi một cái đồng hồ. Và hễ về thăm thì đều mang một cái gì đó cho con của ông anh. Khi có công chuyện đi Mỹ hay Canada, nó luôn mua quà lưu niệm cho chúng tôi.
Mua quà cho cả Asuka trước khi con bé ra đời. Cách đây không lâu, lúc lên đây thăm chúng tôi, Asuka mặc áo quần bố mua cho ở Mỹ. Nó đã trông ngóng con ra đời biết bao. Ý tôi là nó mong đợi biết bao chuyện có con, thế nhưng… cứ nghĩ đến chuyện sao bọn ngu xuẩn ấy lại đi giết Eiji là tôi lại thấy thật quá đau lòng.
BỐ EIJI: Lúc có vụ Matsumoto, tại sao cảnh sát lại không làm việc điều tra tốt hơn cơ chứ? Nếu họ làm tốt hơn, toàn bộ chuyện rối ren này sẽ không bao giờ xảy ra. Giá như hồi ấy họ đẩy mạnh điều tra vụ đó lên…
MẸ EIJI: Nhưng vợ con nó thì đều ổn cả; Yoshiko đã sinh cho chúng tôi một đứa cháu tuyệt vời. Nếu tôi cứ bám lấy nơi đây mà sụt sùi khóc thì không giúp được nó sau lúc sinh nở, cho nên tôi phải xốc mình lên và điều đó đã giúp tôi vượt qua được chuyện đó đến mức này.
BỐ EIJI: Vẫn còn đó chuyện ruộng đồng phải làm, cái này thì bao giờ chúng tôi cũng làm. Gieo mạ xong lại đến lúc đem mạ cấy xuống ruộng, cấy lúa xong thì đến việc ngắt bớt chồi táo rồi đến việc cho thụ phấn hoa… không nghỉ ngơi, công việc lao động giữ cho chúng tôi đứng vững. Lao động như thế này làm phần xác ta mệt mỏi và khi mệt thì ta sẽ ngủ tít cung thang. Chúng tôi không có thì giờ để cho bệnh thần kinh hay thuốc an thần. Cánh nhà nông vẫn luôn thế mà.
"Sarin! Sarin đấy!"
Koichiro Makita (34)
Anh Makita làm trong ngành sản xuất phim. Từ 1988 đến 1994, anh có công ty riêng và sản xuất độc lập. Nhưng khi kinh tế suy thoái, anh đi làm cho công ty hiện tại. Anh phụ trách việc phát triển hình ảnh cho các phần mềm trò chơi máy tính.
Trong lúc soạn quyển sách, tôi đặt ra cho mình một quy tắc là không phỏng vấn bất kỳ ai quá một lần – không thêm thắt về sau – nhưng anh Makita là một ngoại lệ. Máy ghi âm của tôi chạy không tốt, nó không phát lại được những gì đã ghi nên thật không may tôi đã phải xin thêm một lần thứ hai – để "có nhiều chi tiết hơn." Có lẽ trục trặc của máy ghi âm cũng là một kiểu tiên tri; trong lần thứ hai, anh Makita đã cho tôi một cuộc phỏng vấn lâu, kỹ càng.
Anh Makita không ngại phát biểu nhưng anh cũng không phải típ người tự nguyện cho thông tin về bản thân. Những câu trả lời của anh luôn nằm trong ranh giới của các câu hỏi đặt ra. Không phải người tọc mạch, tôi thấy khó hỏi thẳng được anh về những hậu quả của vụ đánh hơi độc với gia đình anh. Tuy sau đó đôi khi tôi có tiếc là mình đã dè dặt.
° ° °
Tôi đi làm bằng tàu điện ngầm tuyến Hibiya. Tàu đông không thể ngờ nổi, đặc biệt ở ga Kita-senju, nơi nhiều người đổi tàu thế mà người ta lại đang làm đủ kiểu sửa chữa ăn lấn vào không gian sân ga – thật nguy hiểm. Khẽ đẩy một cái là ông dễ dàng ngã xuống đường tàu.
Tôi nói tàu đông là vì một lần khi tôi ở trên tàu thì cái cặp của tôi bị nuốt chửng và quét đi mất trong dòng người. Tôi cứ giữ chặt nó, cố không buông nhưng đành buông vì không thì cánh tay tôi sẽ gãy mất. Thế là cái cặp biến mất luôn. Tôi tưởng sẽ không bao giờ thấy lại nó nữa. [cười] Tôi đã phải chờ cho đến lúc vãn người để tìm. Ít ra nay cũng đã có điều hòa không khí. Chứ ngày xưa thì mùa hè quả là không chịu nổi.
Một số người xuống ở Akihabara, nhờ đó có thêm không gian thở. Ở Kodemmacho, không có người chà cọ vào người ông và ở Kayabacho thì thậm chí ông còn có thể tìm được một chỗ ngồi. Quá Ginza còn có thể đọc tạp chí.
Vợ tôi và tôi có đứa con gái lên bốn. Chúng tôi lấy nhau đã năm năm. Chúng tôi thuê nhà ở. Đó là chỗ gia đình tôi ở hồi tôi còn nhỏ, nhưng rồi khi tôi còn đi học thì bố mẹ và em trai tôi lần lượt qua đời cho nên tôi là người duy nhất còn lại. Nay tôi có gia đình riêng và chúng tôi vẫn ở tại chỗ này. Nó ở trong một khu vực dân cư, hơi nhỏ nhưng có mọi tiện nghi hiện đại.
Ban đầu tôi muốn làm trong lĩnh vực âm nhạc. Hồi học cao đẳng, tôi là thành viên một ban nhạc của trường và tốt nghiệp xong tôi vẫn ở ban nhạc đó thêm ba năm nữa. Thuần túy nghiệp dư, phần lớn chỉ chơi mấy bài techno. Tôi thậm chí không có cả chỗ để bố trí các nhạc cụ của mình.
Tốt nghiệp xong cao đẳng tôi trở thành một viên chức điển hình. Nhưng cái đó quả thật không phải là tôi. Tôi khó sống nổi trong môi trường văn phòng. Tôi làm cho một công ty máy tính nhưng tôi ghét việc đó. Nó khiến tôi quá bận. Hầu như không có thời gian nghỉ. Việc không đi đến đâu nên sau một năm rưỡi tôi xin thôi.
Rồi sau một dạo tôi có việc làm mới với một công ty nghe nhìn nhưng sau ít năm nó sập tiệm cho nên tôi lập công ty riêng. Tôi thật sự không muốn làm thuê cho chính mình nhưng vì các lý do thuế má, chuyện đó lại tỏ ra cần thiết. Vào thời kỳ phát đạt nhất, công ty có ba người, nhưng kinh tế kém đi nên công việc ít, thế là trong năm cuối cùng chỉ có mỗi tôi.
Ngày 20 tháng Ba là thứ Hai. Tôi có hẹn gặp với sếp nên đi làm sớm. Nếu tôi đợi vài chuyến tàu ở Kita-senju thì có thể có chỗ ngồi nhưng tôi lỡ mười lăm phút nên vừa có tàu đến là nhào lên ngay. Ngồi hay đứng thì ông vẫn cứ bị kẹt mặt đối mặt vào người khác nên đằng nào thì ngồi cũng không phải hoàn toàn dễ chịu. Hôm ấy tàu chật cứng. Các sáng thứ Hai là tệ hại nhất.
Tôi thường lên toa thứ tư tính từ đầu tàu, bằng cửa cuối toa. Vào cùng một giờ cố định nên nói chung đều là các bộ mặt quen thuộc nhưng hôm ấy lại là một đoàn tàu khác nên tôi không biết một ai. Tôi nhớ cái ấn tượng ấy, ấn tượng rằng mọi thứ đã hơi khác đi ra sao.
Tuyệt đối không có cơ may được ngồi cho tới Tsukiji. Thật bất thường. Quanh quẩn quãng Kayabacho, tôi vẫn hay có được chỗ ngồi mà… Cho nên muốn gì cuối cùng tôi cũng kiếm ra chỗ và vừa lúc ấy thì có thông báo, "Một hành khách bị ngã quỵ. Đoàn tàu sẽ đỗ ở ga này để sơ cứu tạm thời." Tôi ngồi chờ nhưng sau hai phút thì tin ấy lại đổi ra thành "Ba hành khách bị ngã quỵ."
Bên ngoài trên sân ga có một bức tường người. Toàn bộ chuyện này xảy ra ở toa trước, nơi có cái gói sarin. Cái gì vậy nhỉ? Tôi nghĩ và thò đầu ra ngoài cửa nhưng không thấy gì bất thường. Rồi một ông trung niên đi từ hướng ấy đến nói, "Sarin! Sarin đấy!" Tôi nhớ rõ rệt là ông ta nói "sarin" nhưng giọng ông ta nghe như đang say.
Nghe thấy thế, mấy người ở quanh tôi đứng lên, nhưng nom không có vẻ gì là đặc biệt vội vã cả. Họ không phải đang toan chạy trốn hay gì gì đó.
Sau đó một lát có một thông báo khác: "Đã phát hiện thấy hơi độc. Ở dưới hầm ngầm rất nguy hiểm. Xin đi lên mặt đất cho an toàn." Tất cả hành khách nghe thế liền đứng cả lên và xuống tàu nhưng vẫn chưa náo loạn. Họ đi nhanh hơn bình thường một chút nhưng không có xô đẩy hay sao cả. Một vài người che khăn tay lên miệng hoặc ho, nhưng chỉ thế thôi.
Gió đang thổi qua nhà ga theo chiều từ cuối lên đầu đoàn tàu. Vì thế nên tôi đã nghĩ, "Mình ổn thôi, vụ rắc rối xảy ra ở toa trước, ngược gió với đây." Và lối ra cũng ngược chiều gió, dẫn tới cửa ra ở cuối đoàn tàu. Trong lúc đó tôi cảm thấy cổ họng tê tê là lạ. Ông biết khi nha sĩ cho ông ngậm thuốc tê thì nó rỉ xuống cổ họng ông chứ? Y như thế đấy. Thật thà mà nói thì tôi sợ. Nhận ra mình có thể bị chết vì hơi độc, điều đó bất chợt ập mạnh vào tôi. Nếu đây là sarin thì nghiêm trọng đấy. Tôi có thấy nó tác động thế nào trong vụ Matsumoto, hít phải nó là chết liền.
Tôi đi qua cửa ra và lên cầu thang. Ra ngoài tôi muốn hút thuốc nhưng hầu như không hít được vào cổ họng, và rồi tôi ho khù khụ. Chính lúc ấy tôi biết tôi đã hít phải sarin. "Tốt nhất là mình gọi cho công ty," tôi nghĩ. Ngoài nhà ga có hai buồng gọi điện thoại nhưng cả hai đều có những hàng dài người chờ. Tôi đã phải chờ mười lăm hay hai mươi phút mới đến lượt. Vẫn chưa đến giờ làm việc nhưng tôi bảo cô gái nhấc máy: "Có khủng bố trên tàu, tôi sẽ đến muộn."
Gọi xong tôi nhìn quanh thì thấy có nhiều người, đến cả tá, nằm quằn quại dưới đất. Vài người hình như đã bất tỉnh, vài người đang được khiêng lên cầu thang. Trước lúc tôi gọi được điện thoại thì mới rải rác vài người, nhưng chỉ trong năm mười lăm phút, chỗ này đã trở nên nhốn nháo, tuy chưa phải là không khí vùng chiến sự như trên tivi.
Một nhân viên điều tra nọ đi quanh và lớn tiếng hỏi, "Có ai trông thấy thủ phạm vụ thả hơi độc không?" Ngay lúc đó một xe cứu thương đến.
Họ vẫn chưa niêm phong lối vào ga điện ngầm và có khá nhiều người đã đi xuống xem. Tôi nghĩ, "Thế này nguy hiểm quá." Nhưng cuối cùng tôi nhớ là đã có một nhân viên nhà ga xuất hiện và đóng cửa lối vào lại.
Tôi biết mình đã hít phải hơi độc cho nên rất lo nhưng không biết có nên rời chỗ này hay không. Tốt nhất là tôi nên đi xét nghiệm ngay, đúng không? Cứ mặc kệ mà lên đoàn tàu khác đi làm rồi khuỵu xuống giữa đường thì chỉ tổ chuốc lấy phiền toái.
Nhưng nghĩ lại thì tôi vẫn đi được – không như những người bị khiêng đi – vậy chắc có nghĩa là tôi không đến nỗi tệ như họ. Khi đội sơ cứu đến nói, "Ai cảm thấy khó chịu xin lên xe cứu thương," tôi đã không lên. Tôi nghĩ mình không sao.
Cho nên tôi đi bộ đến ga Shintomicho và lên tuyến Yurakucho đi làm. Khi tôi đến sở, giám đốc điều hành gặp tôi hỏi liệu có ổn không. Tôi giải thích tình hình, ông bảo tôi, "Người ta bảo đó là sarin, vậy tốt nhất là anh nên nhanh đến một bệnh viện mà làm vài xét nghiệm."
Bệnh viện ở gần đó. Thật ra lúc tôi vào ga tàu điện ngầm ở Shintomicho mọi cái đã bắt đầu mờ đi nhưng khi đó tôi lại nghĩ là do ở ngoài kia mặt trời chói quá. Sau tôi mới biết đó là do sarin. Cổ họng tôi gần như không còn tê tê nữa; tôi đã hút thuốc lá được. Nhưng dẫu gì tôi vẫn muốn họ xét nghiệm cho tôi.
Nhưng họ bảo tôi, "Chúng tôi không xét nghiệm được sarin." Các bác sĩ hẳn đã không được xem tin tức. Họ không biết chút nào về chuyện đang xảy ra. Lúc này chừng 10 rưỡi. Cố nhiên trước đây họ chưa xét nghiệm sarin bao giờ nên chẳng hiểu tiến hành thế nào. Sau khi bắt tôi chờ cả tiếng đồng hồ để họ nghĩ cách thì họ bảo tôi, "Ừm, hình như đó là thuốc trừ sâu cho nên việc cần làm là uống nhiều nước rồi thải nó ra qua hệ thống cơ thể anh. Còn hiện nay thì anh ổn thôi." Tốt, lúc này mình đang ổn, tôi nghĩ và đi ra khu vực tiếp tân trả tiền. Lúc đó một cô y tá đang xem tivi đi đến bảo tôi, "Ở đây chúng tôi không điều trị được sarin. Tivi nói có thể điều trị toàn diện ở Bệnh viện Thánh Luke. Ở đằng ấy họ có thuốc và có thể làm các xét nghiệm thích hợp. Tốt nhất là anh đến hỏi lại chỗ cảnh sát."
Tôi vẫn không yên tâm nên đã đến đồn cảnh sát ở trước bệnh viện mà hỏi viên sĩ quan ở đó xem nên đến bệnh viện nào để xét nghiệm sarin. Chắc nghĩ tôi là một ca nghiêm trọng, ông ta gọi ngay xe cứu thương. Họ đưa ngay tôi đến một bệnh viện ở cách đó chừng hai mươi phút.
Vì tôi là một "ca nghiêm trọng", ba bác sĩ đã chờ tôi sẵn ở đó. Tôi ngượng quá, tôi chỉ có những triệu chứng nhẹ. "Tình trạng của anh không đến nỗi xấu lắm. Nếu hôm nay không xuất hiện bất thường nào nặng hơn thì anh ổn," họ bảo tôi. Không truyền dịch, không thuốc men.
Vậy là tôi nhanh chóng trở lại với nhịp sống bình thường. Đồng tử tôi không co lại tệ lắm – tôi không nhớ tình trạng này kéo dài bao lâu.
Sau vụ đánh hơi độc, không hiểu thế nào cảnh sát lại đinh ninh tôi là một trong những thủ phạm. Hai nhân viên điều tra đến nhà mà quay tôi. Một người nhìn vào mắt tôi nói: "Anh vẫn luôn để đầu tóc như thế này chứ?" Sau khi tôi tường thuật lại mọi sự của cả ngày hôm ấy, họ đưa cho tôi hai tấm ảnh chân dung, một cái trông khá là giống tôi. "Trong vụ đánh hơi độc, anh có tình cờ trông thấy ai giống một trong hai người này không?" Không, tôi đáp, nhưng tôi biết là họ thật sự nghi tôi. Theo hai nhân viên điều tra này, rất có khả năng các thủ phạm cũng đã bị nhiễm sarin và đã đến các bệnh viện để chữa.
Hai hay ba tuần sau, điện thoại réo: "Có phải anh Makita đấy không?" cái giọng kia nói. "Vâng?" "Cảnh sát đây. Chúng tôi cho là bây giờ anh đã về nhà." Hình như họ muốn tôi xác nhận chính thức nên tôi đã đến báo cáo với cảnh sát khu vực. Tôi nghĩ mình đã bị giám sát, có khi còn bị bám đuôi. Họ vẫn chưa kết nối được hẳn vụ việc này với Aum và mọi người thì đều căng thẳng.
Tôi cảm thấy ghê tởm đám Aum nhiều hơn là giận dữ chúng. Tôi khinh những người làm ngơ với những hiểm họa của cái loại tôn giáo này. Tôi đặc biệt không thích những người cố tuyển người mới cho tổ chức của chúng.
Khi tôi còn học cao đẳng, chỉ trong vòng khóa học ba năm ấy tôi đã mất bố mẹ và em tôi. Bố thì ra ra vào vào bệnh viện suốt nên khi bố mất tôi cũng không sốc mạnh. Nhưng mẹ tôi chỉ vừa nghe thấy tiếng tim thổi và vào bệnh viện nằm theo dõi thì hai ngày sau đã qua đời. Họ thậm chí còn chưa kịp phẫu thuật. Tôi suy sụp hoàn toàn. Không ai hình dung rằng mẹ lại có thể chết. Rồi em tôi chết trong một tai nạn. Đến nước ấy, tôi không thể không nghĩ, "Con người ta có thể chết bất cứ lúc nào." Gần như tôi cảm thấy tựa hồ tới đây sẽ đến lượt mình.
Tôi chỉ cứ ngủ và ngủ. Một lèo mười hai tiếng. Ngủ lâu như thế thì giấc ngủ của ông sẽ rất chập chờn. Tôi mê nhiều.
Quanh thời gian ấy, một người của những tôn giáo mới này đã tiếp cận tôi. Gã tuyển mộ đến gặp tôi, nói, "Kiểu bất hạnh này sẽ cứ còn lặp lại vậy, tốt hơn là ngay lúc này và ngay ở đây anh hãy tự thay đổi số phận mình đi. Chẳng lẽ anh lại không nên chấp nhận một lòng tin hay sao…?" Theo tôi thấy thì thật sự là vô vị. Có lẽ vì thế mà tôi thất vọng với tôn giáo quá thể.
"Tôi nghĩ ngay là hơi độc – xyanua hay sarin"
Bác sĩ Toru Saito (sinh năm 1948)
Bác sĩ Saito làm ở Trung tâm Chăm sóc Cấp cứu Bệnh viện Omori của Đại học Tokyo đã hai chục năm nay. Nhân viên của trung tâm này đều là những chuyên gia thứ thiệt. Đó là nơi họ cải tử hoàn sinh, nơi các quyết định nhanh một phần nghìn giây là vô cùng hệ trọng. Trong hầu hết các trường hợp, không có thì giờ để nghĩ "Ta sẽ làm gì đây?" Đó là nơi kinh nghiệm và trực giác của bác sĩ Saito được tận dụng. Hiểu biết của ông về triệu chứng ở bệnh nhân đầy đủ như một cuốn bách khoa toàn thư vậy.
Với nền tảng như thế, ông nói khúc chiết, rõ ràng và có uy lực. Nhìn ông làm việc quả là vô cùng ấn tượng: chính làm việc hàng ngày không một lúc nghỉ ngơi đã xoa dịu thần kinh ông. Tôi cảm ơn ông đã có thể bớt thì giờ ở trong thời gian biểu bận rộn của mình đã tiếp chuyện tôi.
° ° °
Tôi là một chuyên gia về hệ tuần hoàn ở Khu Nội trú Y khoa số 2. Do đó nhiệm vụ của tôi ở Trung tâm Chăm sóc Cấp cứu chủ yếu liên quan đến van động mạch và các bất thường của tim. Trung tâm đây đã tập hợp được một kíp khá đặc biệt các bác sĩ kỳ cựu từ các khoa của mấy bệnh viện khác nhau. Tổng cộng có khoảng hai chục bác sĩ luân phiên nhau trực 24/24.
Trước hôm bị đánh hơi độc, tôi đang trong ca giám sát, có trách nhiệm trông nom các hoạt động của bệnh viện. Ca giám sát ngày Chủ nhật là từ chín giờ tối Chủ nhật đến 9 giờ sáng thứ Hai. Nói chung ban ngày tôi ở khu 2 để khám cho bệnh nhân. Sáng hôm ấy, tôi đang ngồi trong phòng nghỉ của bác sĩ xem tivi với một cốc mỳ ăn liền làm điểm tâm. Các tin tức đầu tiên đến lúc 8 giờ 15: "Hơi độc ở ga Kasumigaseki. Thương vong nặng nề." "Cái gì vậy?" tôi nghĩ. Tôi nghĩ ngay là hơi độc – xyanua hay sarin.
MURAKAMI: Thế ông không nghĩ đến các ống ga thành phố hay các thứ hơi ga nào khác hay sao?
Trong một ga xe điện ngầm thì khó có khả năng ấy lắm. Ngay từ đầu tôi đã nghĩ là nhất định phải có dính đến tội phạm. Từ vụ Matsumoto người ta đã bàn tán có thể đúng là Aum gây ra cho nên hầu như tất cả tự động kết nối: "Hơi độc – tội phạm – Aum – sarin hay xyanua."
Xem chừng nạn nhân sẽ được mang đến bệnh viện chúng tôi nên tôi nghĩ tốt nhất là chúng tôi chuẩn bị sẽ phải đối phó với xyanua hoặc sarin. Với hơi độc xyanua chúng tôi luôn có sẵn bộ thiết bị chữa chạy. Nhưng với sarin thì có hai phương thuốc – atropine và 2-Pam – cả hai loại thuốc này chúng tôi đều đã dùng đến trước đây 3 .
Đúng là cho đến tận vụ Matsumoto chúng tôi hầu như không biết gì về sarin cả. Tôi không có nhu cầu cập nhật một vũ khí quân sự chuyên nghiệp đến thế. Nhưng ở vụ Matsumoto đã có các triệu chứng như cholinesterase huyết thấp và co đồng tử rõ rệt, đủ để các bác sĩ chúng tôi nghĩ chắc chắn đó là do vài loại hợp chất gốc phốt phát hữu cơ gây ra.
Đến nay, hợp chất phốt phát hữu cơ đã được dùng từ lâu trong phân bón, thuốc trừ sâu, và đôi khi người ta còn ăn để tự sát. Trong hai chục năm ở đây tôi đã chữa trị khoảng mười ca nhiễm độc phốt phát. Nói đơn giản thì sarin là hợp chất phốt phát ở dạng hơi.
MURAKAMI: Vậy có phải khi nuốt phải phân bón phốt phát hữu cơ hay hơi sarin thì mức cholinesterase huyết sẽ hạ như nhau và đồng tử sẽ co lại ở mức độ như nhau không?
Triệu chứng y hệt nhau. Nhưng cho đến nay, các hóa chất nông nghiệp đều là lỏng, thường không bốc hơi. Chính vì thế chúng ta mới xịt được nó vào hoa hồng và các thứ chứ. Do sarin rốt cuộc là một phốt phát hữu cơ ở dạng hơi nên các bác sĩ ở Trung tâm Chăm sóc Cấp cứu chúng tôi biết rằng về cơ bản có thể lấy cách chữa trị các ca nhiễm độc phốt phát sinh học mà áp dụng cho các ca nhiễm độc sarin. Chúng tôi phát hiện ra điều này nhờ vụ Matsumoto.
Atropin được dùng với các ca mạch chậm hay làm một chất chuẩn bị gây mê, cho nên phần lớn các bệnh viện vẫn dùng nó trong cả cấp cứu lẫn bệnh nhân ngoại trú. Còn 2-Pam là một biệt dược giải độc phốt phát hữu cơ. Khoa dược có thể đã có dự trữ một ít thứ đó.
Khi vụ đánh hơi độc lên tivi thì đã có một vài cuộc tranh luận rằng đó là sarin hay xyanua. Lúc ấy trong phòng có mấy bác sĩ thực tập nội trú, tôi đã bảo họ, "Tìm hiểu thêm chút ít về sarin đi." Thật ra trong các giờ giảng về độc học của tôi ở trường đại học, chúng tôi đã từng nghiên cứu vụ Matsumoto. Chúng tôi từng tập hợp các cảnh trong chương trình tin tức rồi ghép lại thành một đoạn video dài mười phút làm tài liệu hỗ trợ giảng dạy, nên tôi đã bảo họ, "Xem cái băng kia đi. Và các bác sĩ thực tập đã hiểu ngay điều tôi muốn nói. "Bây giờ các anh đã hiểu về sarin rồi đấy. Nếu không phải là sarin thì đây là các bộ thiết bị phòng chữa trị nhiễm độc xyanua." Vậy là chúng tôi chuẩn bị và chờ nạn nhân đến.
Vào khoảng 9 rưỡi, tivi đưa tin Sở Cứu hỏa Tokyo đã tìm ra acetonitrile. Sở Cứu hỏa có một xe chuyên dụng của Đội Cảnh sát Hóa chất để dò tìm hơi độc tại hiện trường. Báo cáo của họ cho thấy acetonitrile, và đó là một hợp chất hydroxyanua – xyanua.
Đường dây nóng của chúng tôi nhận được một cuộc điện thoại: "Xin chuẩn bị nhận một nạn nhân từ tàu điện ngầm." Vậy là chúng tôi đã chờ ở khu Cấp cứu với bộ thiết bị sẵn sàng điều trị nhiễm độc xyanua. 10 giờ 45 thì họ mang người bệnh vào. Đồng tử ông ta co lại, bản thân ông ta đang trong tình trạng hôn mê khá nghiêm trọng. Bị cấu thì ông ta cựa mình, còn ngoài ra không phản ứng. Nếu đây là xyanua thì sẽ có cái gọi là nhiễm acid huyết: máu có acid. Máu có acid là dấu hiệu của nhiễm xyanua, nhưng co đồng tử lại là triệu chứng của sarin. Đây là điểm mấu chốt để phân biệt hai cái.
Xét nghiệm máu không thấy nhiễm acid. Phản xạ đang giảm xuống. Hoàn toàn là triệu chứng của nhiễm độc sarin. Ai cũng lắc đầu: "Bác sĩ, đúng là sarin rồi." "Vâng, xem ra là sarin nhưng vừa nãy tin tức đưa lại nói là acetonitrile. Chúng ta hãy thử một nửa bộ thiết bị điều trị nhiễm độc xyanua cho chắc đã."
Khoảng ba chục phút sau người bệnh khôi phục dần ý thức cho nên chúng tôi nghĩ bộ thiết bị điều trị xyanua đã có tác dụng. Sau khi tiêm, tình hình sức khỏe của ông ta cải thiện rất nhiều. Chúng tôi không hiểu lắm. Tôi đoán là bọn gây ác đã trộn acetonitrile vào sarin nhằm làm chậm quá trình bốc hơi, để chúng có thời gian chạy thoát. Sarin thuần túy sẽ bốc hơi quá nhanh nên rất có khả năng chúng sẽ nhiễm độc chết ngay tức khắc.
Vào khoảng 11 giờ, sở cảnh sát xác nhận nó là sarin. Lại một lần nữa tôi biết điều này qua tivi. Có ai nghĩ đến việc liên hệ với chúng tôi không? Không, im lặng. Tất cả thông tin của chúng tôi đều đến từ tivi. Nhưng lúc đó, tất cả bệnh nhân đều mang các triệu chứng liên quan đến sarin cho nên chúng tôi đã sẵn sàng dùng atropine.
Vào lúc đó Trường Y thuộc Đại học Shinshu gọi chúng tôi. Đây là vị bác sĩ đã chữa trị cho các bệnh nhân vụ Matsumoto. Ông đã lần lượt gọi tất cả các trung tâm chăm sóc cấp cứu và bệnh viện ở Tokyo mà nói, "Nếu các ông muốn, chúng tôi sẽ fax dữ liệu về chữa trị sarin cho các ông." "Xin hãy gửi gấp!" và các tờ fax cứ thế chất đống.
Xem dữ liệu, chúng tôi biết được rằng điều quan trọng nhất là làm sao phân biệt được những người bệnh cần phải nằm viện và những người không cần. Không có kinh nghiệm trực tiếp, chúng tôi thiếu căn cứ thực tiễn để ra quyết định. Theo các dữ liệu được gửi tới, những bệnh nhân bị co đồng tử nhưng vẫn đi được, nói được thì không cần nằm viện. Người mà mức cholinestera bình thường thì không cần điều trị ngay. Những thông tin ấy thật hữu ích. Nếu như ai đến chúng tôi cũng phải nhận cho nằm viện thì thật sự là rắc rối to.
MURAKAMI: Ông có thể giải thích ngắn gọn về cholinesterase được không?
Nếu ông muốn vận động một cơ bắp, đầu cuối dây thần kinh sẽ phát đi một lệnh cho các tế bào cơ, lệnh này dưới dạng một hóa chất, acetylcholine. Nó là viên sứ giả. Khi nhận được lệnh, các cơ bắp sẽ vận động, co lại. Sau khi co thì enzim cholinesterase được dùng để trung hòa cái thông điệp mà acetylcholine đã phát đi, việc này là để chuẩn bị cho hành động tiếp theo. Cứ truyền và ngắt như thế.
Nhưng khi cholinesterase cạn thì thông điệp acetylcholine sẽ có tác dụng mãi và các cơ bắp thế là cứ co. Cơ bắp làm việc bằng cách liên tục co duỗi, cho nên khi cơ bắp chỉ co thì chúng ta sẽ không cử động được. Ở mắt thì điều này biểu hiện ra bằng hiện tượng co đồng tử.
Các thư fax từ Matsumoto bảo chúng tôi rằng cholinesterase ở mức 200 hay thấp hơn thì có nghĩa là người bệnh cần được nằm viện. Thông thường, sau mấy ngày những người này sẽ bình phục hoàn toàn và ra viện. Nếu mức cholinesterase không xuống quá thấp thì sẽ không có chuyện bại liệt. Ngay cả trong những bệnh nhân ngoại trú của chúng tôi cũng có những người mà các chỉ số đang đi xuống nhưng xem ra vẫn ổn. Hiện tượng co đồng tử có thể kéo dài thêm ba hay bốn ngày nữa nhưng hô hấp không bị liệt.
Phần lớn những người bị thương nghiêm trọng lấy lại được ý thức trong vòng một ngày. Những người không thể cứu sống là những người mà tim hay phổi đã ngừng hoạt động trước khi họ đến bệnh viện. Hoặc là thế hoặc là khi đến bệnh viện người ta kích tim bằng máy để tim đập trở lại, nhưng kết quả chỉ là sống "thực vật".
MURAKAMI: Sở Cứu hỏa hay cảnh sát có cung cấp thông tin điều trị nào không? Với các triệu chứng xa lạ như thế, người ta thường nghĩ rằng phát đi qua phát thanh truyền hình các hướng dẫn y tế được thống nhất từ một nguồn chung là cách nhanh nhất để thông tin đến được với đa số người dân.
Không, không có một thứ gì thuộc kiểu ấy đến ngay sau vụ việc. Có một bản tin của Cục Y tế Tokyo lúc xẩm tối, khoảng 5 giờ (lôi ra một hồ sơ, đọc): "Chúng tôi đánh giá cao việc chăm sóc người bệnh của sự cố sáng hôm ấy. Chúng tôi đã nhận được một vài thông tin liên quan đến sarin. Sarin là một… vân vân… vân vân…" Lúc cái này đến, chúng tôi ít nhiều đã xử lý được tình hình. Những người duy nhất liên hệ với chúng tôi và gửi cho chúng tôi thông tin cần thiết là Trường Y thuộc Đại học Shinshu. Cái đó thật sự giúp ích thiết thực cho chúng tôi.
MURAKAMI: Vậy thì có vẻ như là mỗi kíp bác sĩ, mỗi bệnh viện đều đã được bảo, "Các bạn hãy tự lo"?
À, vâng, là thế đấy. Kiến thức về sarin không đầy đủ. Thí dụ, ở một bệnh viện bác sĩ và y tá đang khám và điều trị cho bệnh nhân thì cảm thấy chóng mặt. Bởi quần áo của họ bị thấm sarin. Họ trở thành những nạn nhân gián tiếp. Ngay đến chúng tôi cũng không để ý rằng trước tiên nên yêu cầu người bệnh cởi quần áo ra. Đúng là chúng tôi thậm chí còn không hề nghĩ tới chuyện ấy.
"Ở Nhật không có hệ thống xử lý thảm họa lớn một cách tức thời và hiệu quả"
Tiến sĩ Nobuo Yanagisawa (sinh 1935)
Hiệu trưởng Trường Y, đại học Shinshu, quận Nagano
Ngày 20 tháng Ba, khi xảy ra vụ đánh hơi độc, trên thực tế là ngày trao bằng tốt nghiệp ở Đại học Shinshu chúng tôi. Là lãnh đạo, tôi buộc phải dự các buổi lễ hội và đã ăn mặc đặc biệt cho dịp đó. Hôm ấy tôi còn có một cuộc họp của Ủy ban Tuyển sinh cho nên tôi đã lên kế hoạch tuyệt đối không làm gì nữa cả. Đúng là trong cái rủi cũng có cái may.
Một chuyện khác: tôi đã nghiên cứu vụ Matsumoto và biên soạn tài liệu công bố kết quả, và hôm đó [20 tháng Ba] cũng là ngày tôi dự định sẽ xuất bản tài liệu này. Mọi chuyện diễn ra tình cờ như thế đấy.
Sáng hôm đó, một phóng viên của Nhật báo Tin tức Shinano gọi cho thư ký tôi nói, "Có chuyện lạ xảy ra ở Tokyo. Hình như giống kiểu vụ sarin Matsumoto." Tôi nhận được tin này vào khoảng 9 giờ. "Giờ thì sao đây?" tôi nghĩ và mở tivi, tất cả các nạn nhân hình như đều nói đến triệu chứng cấp tính của nhiễm độc phốt phát hữu cơ: mắt đau, chảy nước mắt, nhìn lóa, chảy mũi, nôn… các thứ kiểu như vậy. Nhưng chưa đủ để bảo sarin là nguyên nhân được.
Nhưng một nạn nhân đã báo cáo có hiện tượng co đồng tử. Người này đến trước camera nói, "Khi tôi soi gương, mắt tôi thấy bé quá." Tất cả các triệu chứng này cộng lại dẫn tới hiện tượng nhiễm độc phốt phát hữu cơ. Vì mọi người đi xe điện ngầm đều báo cáo các triệu chứng nhanh và dữ như thế cho nên đó phải là do hơi độc. Và vì ngày nay người ta đã sử dụng hợp chất phốt phát hữu cơ cho vào vũ khí hóa học nên hơi độc đó chỉ có thể là sarin, soman, tabun, dòng hợp chất ấy. Giống như ở vụ Matsumoto.
Vào lúc tôi mở tivi, hơn một nghìn người đã được đưa đến Bệnh viện Thánh Luke. Tôi biết ngay là nhân viên ở đó hẳn phải bận lút đầu, có thể còn bấn loạn cả lên nữa kia. Và điều đó khiến tôi thấy lo.
Bản thân chúng tôi cũng đã thực sự cuống cuồng khi xảy ra vụ ở Matsumoto. Cứ nhìn tất cả những người bệnh vào viện với các triệu chứng không rõ nguyên nhân mà xem. Chúng tôi đã đoán là trúng độc phốt phát hữu cơ và điều trị theo hướng đó; nhưng trong chúng tôi không ai nghĩ tí ti nào rằng đó là sarin.
Tôi lập tức gọi hai bác sĩ ở khoa Bệnh học Thần kinh và Cấp cứu, bảo liên hệ với Bệnh viện Thánh Luke cùng bất cứ bệnh viện nào chúng tôi cho là đã tiếp nhận những người bệnh như thế. Chúng tôi gửi fax đến cho từng bệnh viện mà tivi nói đến để thông tin: "Điều trị với sulfuric atropine và 2-Pam làm chất giải độc, vân vân…"
Đầu tiên, tôi gọi tới Thánh Luke. Đó là quãng giữa 9 giờ 10 và 9 giờ rưỡi. Gọi cố định không được nhưng tôi cố xoay xở liên lạc thẳng bằng di động của mình. "Cho tôi gặp người phụ trách Cấp cứu," tôi bảo, rồi nói vắn tắt. "Làm thế này thế này để điều trị cho các ca của ông." Rồi tôi bảo họ sẽ gửi fax hướng dẫn chi tiết hơn tới. Thông thường tôi sẽ phải thông báo rõ mọi chuyện cho lãnh đạo bệnh viện trước nhưng tôi nghĩ nói trực tiếp với các bác sĩ đang ở phòng bệnh thì sẽ nhanh hơn. Nhưng đã xảy ra nhầm lẫn ở khâu nào đó. Sau khi tôi nghe một người ở Bệnh viện Thánh Luke nói họ đã sục sạo thư viện cho tới tận 11 giờ trưa để cố xác định độc tố.
Tầm 10 giờ chúng tôi bắt đầu gửi fax. Tôi vẫn phải dự lễ trao bằng tốt nghiệp cho nên tôi để hai bác sĩ ở khoa Bệnh học Thần Kinh và Cấp cứu phụ trách rồi đi. Ở trên bàn làm việc của tôi đã để sẵn bản in thử cuối cùng của Báo cáo về sự cố sarin Matsumoto trong đó có vạch ra các triệu chứng, chẩn đoán và điều trị khi nhiễm độc hơi sarin, cho nên họ chỉ việc fax đi. Hồi tưởng lại, tôi cứ nghĩ may mà chúng tôi lại có được trong tay tài liệu ấy. Nhưng có quá nhiều trang, lại quá nhiều nơi phải gửi đến, nên mất công ghê gớm.
Trong một thảm họa quy mô lớn thì điều quan trọng nhất là phải phân loại: sắp xếp những thứ tự ưu tiên trong số những người bệnh sẽ được điều trị. Trong vụ đánh hơi độc Tokyo, nhiều ca nghiêm trọng cần được điều trị trước, còn những người nhẹ hơn thì để cho họ tự lo rồi cùng với thời gian sẽ tự nhiên khỏi. Nếu ai đến mà bác sĩ cũng điều trị, theo thứ tự ai đến trước điều trị trước thì có thể nhiều mạng người sẽ bị mất. Nếu ông không nắm tốt được tình hình mà ai đi vào cũng kêu la, "Tôi không thấy gì cả!" thì toàn bộ cảnh tượng này sẽ có thể dễ dàng dẫn đến hoảng loạn.
Tình thế tiến thoái lưỡng nan của bác sĩ là phải quyết định ưu tiên ai: người không thở được hay người không nhìn được? Các phán đoán khó khăn thường đến liền với tình huống nguy hiểm. Đối với người làm bác sĩ thì đây là điều gay nhất.
MURAKAMI: Liệu có cái gì kiểu như sổ tay thực hành về những việc cần làm trong một thảm họa quy mô lớn, một sách hướng dẫn mà tất cả các bác sĩ có thể tham chiếu được không?
Không, không có cái gì giống như thế cả. Ngay cả với chúng tôi, khi xảy ra vụ Matsumoto, chúng tôi cũng gần như không biết là mình phải làm gì nữa.
Buổi trưa lúc tôi trở lại, chỗ nào cũng điện thoại réo. Bệnh viện ở khắp trong vùng gọi đến yêu cầu, "Gửi cả thông tin cho chúng tôi nữa!" Ý tôi là hàng trăm cơ sở y tế đều đang có các nạn nhân sarin. Cả ngày hôm ấy là một cơn bát nháo. Chúng tôi gửi fax không ngơi tay.
Nếu là một ngày bình thường không có lễ trao bằng, thì tôi sẽ bị ngập đến cổ với công việc ở bệnh viện, từ 8 rưỡi sáng thông luôn, hết việc này đến việc khác đè lên đầu. Dù có ai bảo: "Có chuyện lạ đang xảy ra ở Tokyo" thì cũng phải tới giờ ăn trưa tôi mới có thì giờ xem tivi. Nếu vậy chắc chúng tôi sẽ không có khả năng phản ứng nhanh đến thế đâu. Đây chính là một trùng hợp may mắn, may mắn lắm.
Thật ra việc làm hiệu nghiệm nhất là liên lạc với sở chữa cháy rồi để họ phổ biến thông tin đi khắp nơi. Đúng, chúng tôi đã cố liên hệ với sở chữa cháy nhưng các cuộc gọi đều không thông.
Bài học lớn nhất chúng tôi nhận được từ vụ đánh hơi độc Tokyo và sự cố Matsumoto là khi một vụ việc lớn xảy ra, dù các đơn vị sở tại có nhanh chóng phản ứng song bức tranh toàn cục vẫn là vô vọng. Ở Nhật không có hệ thống xử lý thảm họa lớn một cách tức thời và hiệu quả. Không có hệ thống chỉ huy rành rọt. Vụ động đất ở Kobe cũng hệt như vậy.
Trong cả hai vụ hơi độc ở Tokyo lẫn sự cố Matsumoto, tôi cho rằng các tổ chức y tế đã phản ứng cực kỳ tốt. Y tế nhân dân cũng rất hiệu quả. Họ đáng được ca ngợi. Như một chuyên gia Mỹ đã nói, có những năm nghìn nạn nhân sarin mà chỉ chết có mười hai thì quả là thần kỳ. Tất cả là nhờ ở nỗ lực phi thường của các đơn vị cơ sở vì lẽ mạng lưới cấp cứu tổng thể đã hóa ra vô dụng.
Chúng tôi đã gửi fax cho ít nhất ba chục cơ sở y tế. Chương trình tin tức 7 giờ sáng hôm sau báo cho biết bảy chục người đã bị thương nghiêm trọng. Với trúng độc sarin, vấn đề là nếu như được điều trị thích đáng thì ngay cả những ca thực sự nghiêm trọng cũng vẫn có thể bình phục sau vài giờ. Biết cách làm có thể tạo nên sự khác biệt to lớn.
Tôi thực sự nghĩ rằng mình phải tham gia cho nên tôi gọi Sở Y tế Tokyo nhưng không ai trả lời. Lúc tôi gọi được thì đã là sau 8 rưỡi. Người cầm máy lên nói gì đó đại khái như, "A, được, tất cả chúng ta đều có việc phải làm của riêng mình mà." – nói thế là nghĩa làm sao?
Sở chữa cháy có lẽ đã phải nhanh hơn trong việc có mặt tại hiện trường, điều hành toàn bộ tình hình rồi bố trí các kíp phân loại nạn nhân để đưa ra các chỉ dẫn chính xác. Như thế anh em ở trên xe cứu thương cũng có thể đối phó được ngay tại trận. Và có lẽ các tốp bác sĩ cấp cứu cũng nên đi cùng với họ. Nếu ông muốn chấm dứt hoảng loạn của dân thì can thiệp tích cực từ phía y tế là điều quyết định.
Hoàn toàn thật thà mà nói, cứ cái kiểu xưa nay vẫn thế với dân bác sĩ chúng tôi ở Nhật, thì gần như không thể tưởng tượng nổi rằng sẽ có một bác sĩ nào đó chịu vi phạm kỷ luật để gửi thông tin đến cho bệnh nhân dù họ không yêu cầu. Ý nghĩ đầu tiên của mọi bác sĩ là đừng bao giờ nói quá nhiều, đừng bao giờ giẫm vào chỗ của người khác.
Nhưng với vụ đánh hơi độc, tôi còn có những động cơ khác nữa. Một trong bảy người bị chết trong vụ Matsumoto là một sinh viên y ở Đại học Shinshu đây. Một nữ sinh viên cực kỳ xuất sắc, người có quyền được có mặt ở đây trong lễ trao bằng tốt nghiệp hôm nay. Thực tế đơn giản ấy đã khiến tôi làm điều đó.
1 Tháng 11/1989, luật sư chống lại Aum, Tsutsumi Sakamoto bị ám sát, cùng với vợ và đứa con trai còn nhỏ. Mãi đến tháng 10/1998, Kazuaki Okazaki, thành viên Aum, mới lãnh án tử hình vì ám sát nhà Sakamoto. Hắn đã lẻn vào nhà và tiêm cho họ chất độc potassium cholorid rồi bóp cổ họ. Shoko Asahara cũng bị kết tội giết nhà Sakamoto. [ND] 2 Cuối cùng hắn bị bắt tháng 12/1996. [ND] 3 Sarin ức chế hoạt động của cholinesterase, một enzim do gan sản xuất ra. 2-Pam (Protopam hay pralidoxime choloride) là một chất tái kích hoạt cholinesterase, cũng được dùng như một chất giải độc trong các trường hợp nhiễm thuốc độc trừ sâu có gốc phốt pho hữu cơ. [ND]