Người Ai Cập, Quyền lực và Tình yêu

Lượt đọc: 608 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sách thứ tám
Nhà tối
att

❖ 1 ❖

Biển bao la, sóng dềnh trước mặt và xung quanh, trong nhiều ngày liền chúng tôi không thấy bờ, nhưng tôi không sợ vì có Minea bên cạnh, nàng lấy lại thần sắc khi được hít thở không khí biển. Trăng lấp lánh trong mắt nàng khi nàng đứng trên mũi thuyền, người vươn về trước và tham lam hít khí trời như muốn dùng sức mạnh của mình thúc thuyền đi nhanh hơn. Bầu trời trong xanh phía trên chúng tôi, mặt trời tỏa sáng và gió không quá mạnh, chỉ vừa đủ thổi căng những cánh buồm và đưa chúng tôi đi đúng hướng. Đấy là thuyền trưởng nói thế và tôi không có lý do để nghi ngờ lời của anh ta. Khi đã quen với sự lắc giật của thuyền, tôi không bị say nữa, cho dù một nỗi sợ vô hình bóp nghẹt tim tôi khi những con mòng biển vẫn chấp chới đôi cánh trắng lượn vòng quanh chúng tôi rồi cuối cùng cũng bỏ thuyền lại vào ngày thứ hai và bay đi. Thay vào đó, các cỗ xe của thần biển bắt đầu bám theo thuyền và những con heo biển uốn mình phơi tấm lưng lấp lánh trên mặt nước, Minea hét to chào chúng bằng ngôn ngữ riêng của mình vì chúng trao cho nàng lời chào từ thần của nàng.

Biển cũng không hoàn toàn vắng vẻ, một thuyền chiến Crete với những tấm khiên đồng lấp lánh bên mạn thuyền đang chạy hướng ngược lại, họ chào chúng tôi bằng cờ hiệu sau khi nhận ra thuyền chúng tôi không phải là thuyền của cướp biển. Cả Kaptah cũng dậy, ra khỏi chỗ nằm sau khi nhận ra có thể đi lại trên thuyền và khoác lác với các thủy thủ về những chuyến đi đến nhiều nước của mình. Nhận thấy mình sẽ không bị say nữa, ông ấy kể về chuyến đi từ Ai Cập đến Simyra, về cơn bão đã xé toạc cánh buồm ra khỏi thuyền khiến chỉ thuyền trưởng và ông ấy có thể ăn trên thuyền, còn những người khác nằm trên sàn rên rỉ và nôn thốc nôn tháo theo hướng gió. Ông ấy cũng kể về những quái vật biển đáng sợ canh giữ đồng bằng sông Nile và sẽ nuốt trọn bất cứ thuyền đánh cá nào dám đi quá xa ra biển. Đám thủy thủ cũng không chịu thua, kể cho ông ấy nghe về những cây cột chống trời ở nửa bên kia của biển và những nàng tiên đuôi cá bám theo các thủy thủ để phù phép, bắt họ vui thú cùng mình; những câu chuyện kể về quái vật biển khiến Kaptah sợ dựng tóc gáy, chạy đến chỗ tôi mặt tái xanh tái xám và túm chặt lấy vai áo tôi. Còn miếng mỡ lợn thì ông ấy đã ném xuống biển vì không thể nuốt được.

Minea ngày càng hoạt bát hơn, tóc nàng bồng bềnh trong gió, đôi mắt nàng giống như ánh trăng dưới biển, nàng trông thật mềm dẻo và xinh đẹp, khiến tim tôi tan chảy trong lồng ngực khi nhìn nàng và nghĩ về việc tôi sắp mất nàng. Tôi cảm thấy trở về Simyra và Ai Cập khi không có nàng thật vô vị, bởi tôi đã quen ở bên nàng; cuộc đời như đắng ngắt trong miệng khi tôi nghĩ sẽ đến lúc không nhìn thấy nàng nữa, tay nàng không còn để lên tay tôi và hông nàng không còn áp vào cạnh hông tôi. Nhưng thuyền trưởng và các thủy thủ rất cảm phục nàng khi nghe kể nàng nhảy múa trước những con bò đực và là người đã được chọn để có quyền bước vào nhà của thần trong đêm rằm, cho dù vụ đắm thuyền đã ngăn cản nàng. Khi tôi gặng hỏi về thần linh của họ, họ không trả lời tôi và nói: “Chúng tôi không biết”. Một số khác nói: “Chúng tôi không hiểu tiếng của anh, một ngôn ngữ lạ”. Tôi chỉ hiểu rằng thần Crete cai trị biển và các hải đảo đã gửi những chàng trai và cô gái trẻ của họ đến nhảy múa trước những con bò của thần.

Rồi đến ngày Crete nhô lên trước mắt chúng tôi như một đám mây xanh dương trên biển, đám thủy thủ thốt ra những tiếng kêu sung sướng, còn thuyền trưởng tạ ơn thần biển vì ngài đã ban cho chúng tôi gió thuận và thời tiết đẹp. Những ngọn núi và bãi biển dốc của Crete với những cây ô liu nhô dần lên trước mắt và tôi nhìn nó như một miền đất xa lạ mình không biết chút gì, dù sẽ phải chôn chặt trái tim mình ở đó. Nhưng Minea nhìn đất mẹ của mình và vui sướng khóc òa khi thấy vẻ hùng vĩ của những rặng núi và màu xanh êm ả của đất mẹ trong vòng ôm của biển, cho tới khi những cánh buồm hạ xuống và các tay chèo đẩy mái chèo xuống nước và chèo thuyền vào bến, lướt qua các con thuyền đang neo đậu, trong đó có những thuyền buôn và thuyền chiến từ khắp các nước. Ở cảng Crete có đến cả ngàn thuyền và Kaptah vừa nhìn chúng vừa nói rằng ông sẽ không bao giờ tin nếu ai đó nói trên thế giới có nhiều thuyền đến thế. Ở cảng không có tháp, tường thành hay đồn biên phòng, mà thành phố bắt đầu ngay từ cảng. Quả thật Crete hoàn toàn cai trị biển và thần của Crete rất hùng mạnh.

❖ 2 ❖

Giờ tôi sẽ kể về Crete và tôi muốn kể những gì tận mắt nhìn thấy, chứ không muốn kể mình nghĩ gì về đất nước và thần linh xứ này, tôi giấu những suy nghĩ ấy trong tim và chỉ kể bằng mắt mình. Tôi chưa thấy nơi nào trong tất cả các vùng đất mình từng đặt chân tới đẹp và lạ như Crete. Như biển xô những con sóng lấp lóa vào bờ, như những bóng nước phát ra cả năm sắc cầu vồng và như những vỏ trai lấp lánh màu ngọc trong vắt, Crete cũng lấp lánh, chói lòa trong mắt tôi. Bởi không ở đâu niềm vui cuộc sống và sự hưởng lạc của con người lại tự nhiên và thất thường như ở Crete, họ không sẵn sàng làm bất cứ điều gì khác ngoài điều họ chợt nghĩ ra, do vậy rất khó có được thỏa thuận hay lời hứa với người ở đây, ai cũng làm theo ý mình và thay đổi quyết định như trở bàn tay. Cũng vì vậy, họ thường nói tất cả đều đẹp hoặc dễ thương mặc dù điều đó có thể không đúng, vì âm điệu du dương của từ ngữ làm họ thích thú; và ở đất nước họ không ai biết đến cái chết, thậm chí tôi nghĩ trong ngôn ngữ của họ không có từ chết, vì họ giấu nó đi và nếu ai đó chết, người đó được bí mật đưa đi để người khác không lấy làm buồn. Tôi nghĩ, mặc dù tôi không biết chắc, rằng họ đốt xác của người quá cố vì khi ở Crete tôi không thấy ai chết, cũng không thấy nấm mồ nào trừ lăng mộ của các vị vua trước đây được xây bằng những tảng đá lớn từ thời cổ đại và họ tránh nơi đó thật xa vì không muốn nghĩ đến cái chết, cứ như thể làm thế họ thoát được nó.

Nghệ thuật của họ cũng thật lạ lùng và kỳ dị, các nghệ sĩ đều vẽ như ý mình muốn, bỏ qua mọi quy tắc và chỉ yêu thích những gì đẹp theo cách nhìn của mình. Bình và lọ của họ màu sắc sặc sỡ, trên thân chúng tất cả các loài thủy vật và hải sản kỳ lạ của biển bơi lội tung tăng, những bông hoa khoe sắc mọc và những con bướm bay lượn trong không trung, khiến những người vốn quen với các quy tắc nghệ thuật nghiêm ngặt cảm thấy băn khoăn và nghĩ như mình đang mơ khi ngắm nhìn các tác phẩm của họ.

Các tòa nhà của họ không to lớn và hùng vĩ như các đền thờ và cung điện ở các xứ khác, mà khi xây họ nhằm đến sự thoải mái và sang trọng chứ không quá chú ý đến hình thức bên ngoài của các công trình. Họ yêu thích sự thoáng đãng và sạch sẽ, các chấn song cửa sổ của họ thưa để gió lùa vào các phòng và nhà của họ có nhiều phòng tắm, trong đó cứ xoay vặn vòi là nước nóng và lạnh từ các ống bạc chảy xuống những cái bồn sáng loáng. Nhà vệ sinh của họ, nước xả xuống rất mạnh làm sạch mọi thứ phía dưới bồn, khiến tôi thấy không ở đâu có sự xa xỉ như trong các ngôi nhà Crete, và không phải chỉ nhà của giới quyền quý và giàu có mà cả nhà của những người không sống ở bến cảng, người nước ngoài và dân lao động.

Đàn bà của họ dành không biết bao nhiêu thời gian để tắm rửa, cạo nhổ lông trên người, làm đẹp và vẽ mặt đến nỗi mỗi khi được mời, họ không bao giờ sửa soạn xiêm áo xong kịp thời gian mà khi nào xong mới đến. Khi được vời đến yến tiệc của đức vua, họ cũng tùy ý đến lúc nào họ muốn. Nhưng lạ lùng nhất là xiêm áo của đàn bà: họ mặc những bộ đồ bó sát người được may từ vải dệt bằng sợi bạc và vàng, che kín cơ thể, chỉ để hở cánh tay và bầu vú, bởi vì họ hãnh diện về bầu vú đẹp của mình; họ thêu hàng ngàn hoa văn lên chiếc váy rộng, gấp nếp và để các họa sĩ vẽ lên đó nhiều hình trang trí. Họ cũng có những bộ trang phục được làm từ hàng trăm mảnh vàng hình những con cá mực, các loài bướm, những thuyền lá cọ và làn da của họ sáng lấp ló giữa chúng. Họ dành cả ngày khéo léo uốn xoăn tóc lên cao và trang trí tóc bằng những chiếc mũ nhỏ, nhẹ và gắn lên tóc những chiếc ghim vàng, khiến chúng rung rinh như những con bướm bay trên đỉnh đầu. Thân hình họ thon thả và mảnh mai, hông họ hẹp như của những đứa bé trai khiến việc sinh nở rất khó khăn với họ, họ gắng hết sức để không sinh con và không coi việc không có con là xấu hổ, hoặc chỉ có một hoặc hai con.

Đàn ông đi ủng có trang trí cao đến đầu gối, nhưng xà rông của họ rất đơn giản và họ quấn cơ thể rất chặt vì họ tự hào với vòng eo hẹp và bờ vai rộng. Đầu họ thon nhỏ, tay chân thanh tú và giống như đàn bà, họ không chịu để một sợi lông nào mọc trên cơ thể. Rất ít người trong số họ nói tiếng nước ngoài vì họ yêu mến đất nước mình và không muốn sang sống ở các vương quốc khác, những nước không mang lại cho họ sự thoải mái và niềm vui như ở đất nước mình. Mặc dù họ có được tất cả sự giàu có nhờ có bến cảng và việc buôn bán trao đổi hàng hóa, nhưng tôi đã gặp trong số họ những người đàn ông không bao giờ chịu đến bến cảng vì ở đó có mùi hôi và họ không thể làm các phép tính đơn giản, mà hoàn toàn tin tưởng người quản gia của mình trong mọi việc. Do đó, những người lạ có tay nghề cao sẽ nhanh chóng trở nên giàu có ở Crete nếu bằng lòng cư ngụ ở bến cảng.

Họ cũng có các loại máy nhạc phát âm thanh ngay cả khi nhạc công không có mặt và còn khẳng định họ có thể ghi lại nhạc để người khác chỉ cần đọc những bản ghi ấy là chơi được nhạc ngay cho dù trước đó chưa bao giờ được nghe. Các nhạc công Babylon cũng khẳng định họ có kỹ năng như vậy và tôi không muốn tranh luận với họ hay người Crete, vì bản thân tôi không phải là nhạc công và nhạc cụ của các vùng đất khác nhau làm tôi bối rối. Nhưng từ những điều này, tôi hiểu tại sao người các xứ khác có câu tục ngữ nói về người dân xứ này: “Nói dối như người Crete”.

Họ không có những ngôi đền nổi bật và cũng không quan tâm nhiều đến thần linh mà chỉ bằng lòng phụng sự những con bò đực của mình. Họ còn làm điều này hết sức nhiệt tình, đến mức hiếm có ngày nào trôi qua mà không thấy họ trên khán đài để xem bò. Tuy nhiên, tôi không nghĩ điều này là do tôn kính thần linh mà đúng hơn là bởi sự hồi hộp và niềm mê say mà những điệu nhảy múa trước những con bò mang đến cho người xem.

Tôi cũng không thể nói họ hết lòng tôn kính quốc vương của họ, vì ông ta cũng như họ, cho dù ông ta sống trong một cung điện lớn hơn nhiều so với nhà của dân chúng. Nhưng họ gặp gỡ, cư xử với vua của mình như người đồng vai phải lứa, đùa cợt và kể chuyện khôi hài về đức vua, đến chỗ vua khi được bất chợt vời đến và ra về theo ý muốn của mình khi thấy buồn chán hay chợt nảy ra điều gì đó khác. Họ uống rượu rất sành để tinh thần vui vẻ và tập quán của họ rất tự do, song không bao giờ họ uống say vì họ nghĩ đó là thói quen mọi rợ và tôi chưa thấy ai nôn ọe vì uống quá nhiều trong các bữa tiệc, như thường thấy ở Ai Cập và các vương quốc khác. Thay vào đó, họ bất chợt mê đắm nhau, bất kể đó là chồng hay vợ của ai và vui vẻ cùng nhau với bất cứ cách nào hay khi nào họ muốn. Những nam thanh nhảy múa trước bò đực rất được phụ nữ ưu ái, khiến nhiều quý ông thượng lưu luyện tập nhảy múa trước bò đực mặc dù không được thụ phong. Họ làm điều đó để giải trí và đôi khi để có được tài nghệ giống như những thanh niên đã được thụ phong cho thần linh, và họ không được ăn nằm với đàn bà, giống như các thiếu nữ được thụ phong bị cấm giao cấu với đàn ông. Nhưng vì sao lại thế, tôi không thể hiểu, bởi vì dựa trên phong tục của họ, ai có thể nghĩ là họ sẽ chú ý đến vấn đề này như vậy.

Tôi kể tất cả những điều này để chứng tỏ tôi đã kinh ngạc biết bao lần trước khi làm quen được với tập quán Crete, nếu như có lúc nào đó tôi có thể quen được, bởi họ luôn tự hào khi nghĩ ra điều gì đó mới mẻ và gây kinh ngạc, đến nỗi không bao giờ có thể biết trước điều gì sẽ xảy ra tiếp theo. Nhưng giờ tôi phải kể về Minea, mặc dù trái tim tôi quặn đau khi kể về nàng.

Sau khi cập cảng, chúng tôi vào một nhà trọ dành cho người ngoại quốc, một ngôi nhà về mặt tiện nghi là xa hoa nhất trong tất cả các nhà trọ mà tôi nhìn thấy, mặc dù nó không to lắm, đến mức "Vọng lâu Ishtar" ở Babylon, với tất cả sự tráng lệ bụi bặm và đám nô lệ dốt nát của nó, thật thô sơ, mọi rợ bên cạnh ngôi nhà này. Ở đó chúng tôi tắm rửa và thay quần áo, Minea cho uốn tóc, mua váy áo mới để có thể đi gặp bạn bè khiến tôi rất ngạc nhiên khi thấy nàng, vì trên đầu nàng có một chiếc mũ nhỏ giống như một cái đèn, dưới chân là đôi giày gót cao rất khó đi. Nhưng tôi không muốn làm nàng bực mình nên không nói gì về xiêm áo của nàng, thay vì thế tôi tặng nàng bông tai và một chiếc vòng cổ chạm những viên đá màu sắc khác nhau mà theo lời người bán là để dùng vào ngày hôm đó ở Crete, nhưng ngày mai sẽ dùng loại gì thì anh ta không thể nói. Tôi cũng kinh ngạc nhìn hai bầu vú để hở nhô lên từ làn da bàng bạc và hai núm vú được tô màu đỏ, khiến nàng tránh cái nhìn của tôi và bực tức nói rằng bầu vú của nàng không có gì đáng xấu hổ mà có thể sánh với bất kỳ phụ nữ nào ở Crete. Sau khi ngắm nhìn kỹ, tôi không phản đối vì thấy trong việc này có thể nàng nói đúng.

Sau đó chúng tôi gọi kiệu đưa mình từ bến cảng vào trong thành phố, nơi có những tòa nhà thanh thoát và những mảnh vườn nhỏ, một thế giới khác hẳn sau tiếng ồn ào, mùi tôm cá và cảnh buôn bán ở bến cảng. Minea đưa tôi đến gặp một nhà quý tộc lớn tuổi, là bạn đồng thời là người bảo trợ đặc biệt của nàng, người đã đánh cược tài năng của nàng ở sân đấu bò nên Minea đã sống ở chỗ ông ta và sử dụng nhà ông ta như nhà mình. Ông ta đang xem kỹ danh sách bò đực của mình và ghi chú vào tờ giấy để đặt cược cho ngày mai, nhưng khi thấy Minea ông ta quên hẳn việc đó, mừng vui khôn xiết, không ngượng ngùng ôm lấy Minea và nói:

- Cháu đã trốn ở đâu mà quá lâu ta không được gặp cháu, cứ nghĩ rằng cháu đã tới lượt vào ở nhà thần rồi. Tuy nhiên ta vẫn chưa chọn cho mình người mới để bảo trợ, vì vậy phòng của cháu vẫn y nguyên, nếu gia nhân vẫn nhớ lau dọn nó hay vợ ta không sai dỡ nó và xây một bể nước thay vào đó, vì bà ấy đã bắt đầu nuôi các loại cá trong nhiều bể nước và hiện giờ không còn nghĩ đến điều gì khác.

- Helea đã bắt đầu nuôi cá trong bể à? - Minea ngạc nhiên hỏi.

- Bà ấy không phải là Helea, - ông nói, với chút lúng túng, - mà ta có một người vợ mới và bà ấy vừa mới vào phòng với một người đấu bò trẻ chưa được thụ phong để xem cá và ta nghĩ bà ấy sẽ không vui nếu chúng ta làm phiền họ. Nhưng hãy nói cho ta hay về người bạn của cháu để anh ấy cũng có thể là bạn của ta và nhà này là nhà của anh ấy.

- Bạn cháu là Sinuhe, Người Ai Cập, Người Cô Đơn và là danh y, - Minea nói.

- Ta ngờ rằng anh ta sẽ không cô đơn ở đây lâu, - ông già nói, giọng đùa đùa. - Nhưng cháu không bị ốm khi đi cùng danh y đó chứ Minea, điều mà ta không muốn, vì ta hy vọng cháu sẽ nhảy múa trước những con bò ngay ngày mai và đem lại may mắn cho ta? Cháu biết không, quản gia của ta ở bến cảng than phiền rằng thu nhập của ta không còn đủ chi tiêu hay chi tiêu không đủ cho thu nhập, thế nào cũng được, vì ta không hiểu các phép tính rối rắm mà anh ta luôn đưa ra trước mắt ta, khiến ta đâm lo lắng.

- Cháu không ốm, - Minea nói. - Nhưng bạn cháu đã cứu cháu khỏi nhiều hiểm nguy và chúng cháu đã đi qua nhiều vương quốc để trở về đất mẹ vì cháu bị đắm thuyền khi đang trên đường đến Syria để nhảy múa trước bò ở đó.

- Thật thế sao? Thật vậy ư? - Ông lão nói, vẻ bồn chồn. - Nhưng ta hy vọng cháu vẫn còn trinh trắng dù đã có tình bạn của mình, bởi vì nếu không cháu sẽ bị loại khỏi cuộc thi và sẽ gặp điều bất hạnh khác như cháu cũng biết rõ. Ta thật lấy làm tiếc về việc này, vì ta thấy cặp vú của cháu to ra và phát triển rất đáng ngờ, đôi mắt cháu ươn ướt. Minea, Minea, lẽ nào cháu đã làm hư mình?

- Không, - Minea tức giận đáp. - Khi cháu nói không thì ông có thể tin lời cháu và không ai cần phải động chạm sờ mó cháu, như người ta đã làm tại chợ nô lệ ở Babylon. Ông khó mà hiểu được rằng nhờ sự giúp đỡ của người bạn này mà cháu thoát khỏi tất cả những hiểm nguy để trở về đất mẹ của mình và cháu nghĩ bạn bè của cháu sẽ vui mừng khi thấy cháu trở về, nhưng ông chỉ nghĩ đến những con bò của mình và cá cược.

Nàng bắt đầu khóc nức nở vì tức giận khiến những giọt nước mắt chảy thành vệt dài làm bẩn hai gò má.

Ông lão trở nên bối rối và ân hận nói:

- Ta không nghi ngờ là cháu thấy khủng khiếp về hành trình của mình vì ở xứ lạ, cháu khó có thể tắm hằng ngày, phải vậy không? Ta không nghĩ bò ở Babylon được như bò của chúng ta. Từ chuyện này đột nhiên ta nhớ ra đáng lẽ mình cần ở chỗ Minos lâu rồi, mặc dù ta đã quên hẳn việc này, nên ta phải đi đây và thôi không cần thay quần áo nữa. Mà chắc không ai chú ý đến trang phục của ta bởi ở đó luôn có rất nhiều người. Vậy nên ăn và uống đi nhé, những người bạn quý, Minea, hãy bình tĩnh lại và nếu vợ ta đến, hãy nói rằng ta lên chỗ Minos vì ta không muốn quấy rầy niềm vui với đấu sĩ bò trẻ trung của bà ấy. Thật ra ta cũng có thể đi ngủ, vì chắc chắn không có ai ở Minos để ý ta có ở đó hay không, nhưng ta chợt nhớ mình cũng có thể tạt qua chuồng để xem con bò mới có đốm bên hông thế nào, nên có lẽ tốt nhất là ta đi. Đó thật sự là một con bò tuyệt vời.

Ông ta hờ hững tạm biệt chúng tôi cho đến khi Minea nói:

- Chúng cháu sẽ đi cùng ông tới chỗ Minos để cháu có thể gặp tất cả bạn bè của mình và giới thiệu Sinuhe với họ.

Thế là chúng tôi đi đến cung điện của Minos và rốt cuộc là đi bộ, vì ông lão không dứt khoát được có nên đi kiệu hay không, với một quãng đường ngắn như vậy. Chỉ đến khi chúng tôi đến cung điện, tôi mới hiểu Minos là vua và biết được vua của họ luôn có tên là Minos, để phân biệt vua với người khác. Nhưng vua là Minos thứ bao nhiêu, không ai biết, bởi không ai đủ kiên nhẫn tính và ghi nhớ vì một ngày nào đó Minos này sẽ biến mất và một Minos mới sẽ thay thế hệt như trước, vậy nên không có gì thay đổi ở Crete.

Cung điện có rất nhiều phòng; trên tường của phòng khánh tiết, các loại rong biển đung đưa, những con cá mực và sứa lược tung tăng bơi trong nước trong veo. Cả sảnh lớn đầy kín người, người này ăn vận kỳ lạ và sang trọng hơn kẻ khác, họ đi lại và chào hỏi, nói chuyện với nhau, cười to, uống đồ uống lạnh, rượu hoặc nước trái cây từ những chiếc bát nhỏ và phụ nữ so bì xiêm áo với nhau. Minea giới thiệu tôi với một vài người bạn của nàng, tất cả đều quá lịch sự và lạnh lùng, vua Minos nói vài lời xã giao bằng tiếng Ai Cập, cảm ơn tôi đã giải cứu Minea cho thần của họ và đưa nàng về để việc đầu tiên là nàng có thể vào nhà của thần, mặc dù lượt của nàng do con tạo ấn định đã qua.

Sau đó, tôi đứng sang một bên, nhìn xung quanh và cảm thấy mình lạc lõng ở nơi tôi không thể hiểu được ngôn ngữ và nguyên cớ của niềm vui, cho đến khi một phụ nữ đứng tuổi với kiểu tóc búi cao như cái tháp được trang trí bằng những bông hoa tươi đi lại chỗ tôi, người mà tôi thấy dù có được trả tiền cũng không nên để lộ vú của mình. Bà ta nói với tôi bằng tiếng Ai Cập ngọng nghịu:

- Chắc chắn chúng ta đã từng gặp nhau mặc dù tôi không nhớ tên anh, nhưng chắc anh là giáo sĩ Ai Cập đã làm lễ thụ phong cho chúng tôi trong một nghi lễ thần bí của thần Isis.

Tôi nói tôi không nhớ đã từng gặp bà ta và cam đoan với bà ta nếu đã gặp chắc chắn tôi sẽ nhớ, và điều đó là thật bởi bà ta thực sự giống một con dê đang ngoạm nhúm cỏ khô. Tôi cũng nói mình không phải là giáo sĩ mà là một danh y và bà ta hỏi:

- Anh cũng chữa cho cả bò chứ?

Tôi thấy bị xúc phạm dù không có lý gì để cảm thấy như thế bởi bò ở Crete được quý trọng hơn những người cao quý nhất, và chữa bệnh hay chọc chúng cho đến điên loạn chính là tài năng. Nhưng vì không biết thế nên tôi nói:

- Quả thực tôi đã chữa cho đôi ba dê và khỉ cái, nhưng chưa chạm vào bò.

Lúc ấy bà ta đùa đùa lấy quạt đánh tôi và nói tôi là một người đàn ông tồi tệ. Tôi nghĩ mình không thể thoát nếu Minea không đến và cứu tôi ra khỏi tầm với của bà ta.

Minea đi lại trong cung điện cứ như ở nhà và dẫn tôi đi từ phòng này sang phòng khác, nàng sung sướng reo lên khi nhìn thấy những đồ vật quen thuộc và chào hỏi những người hầu chào đón nàng như thể nàng chưa hề đi vắng. Minea cũng kể bất kỳ quý tộc nào của Crete cũng có thể rời thành phố về trang trại của mình hoặc đi xa đâu đó bất cứ lúc nào anh ta muốn, không cần báo với bạn bè và không ai ngạc nhiên về điều đó hay bất ngờ về sự vắng mặt của anh ta, mà khi trở về, anh ta gặp lại mọi người cứ như không có chuyện gì xảy ra. Có lẽ điều này cũng khiến người ta chết dễ dàng, bởi vì nếu ai đó mất đi, sẽ không ai hỏi cho đến khi người đó bị lãng quên, và nếu ai đó nhớ tới anh ta vì một hợp đồng, một cuộc gặp gỡ hay lời mời đã được đồng ý trước thì họ cũng không băn khoăn khi người đó không đến, bởi vì rốt cuộc có khi anh ta muốn làm một việc gì khác.

Cuối cùng Minea đưa tôi đến một căn phòng xinh đẹp nằm trên sườn đồi cao hơn hẳn các ngôi nhà khác, nên từ cửa sổ lớn của nó nhìn xuống thấy những sân bãi, cánh đồng, rừng ô liu và vườn cây như đang mỉm cười nơi ngoại vi thành phố. Nàng bảo đó là phòng của nàng, mọi thứ vẫn nguyên vẹn như thể nàng mới đi vắng hôm qua, mặc dù trang phục và đồ trang sức trong thùng quần áo và những cái hộp của nàng đã quá cũ kỹ nên không dùng được nữa. Khi đó tôi mới biết nàng sinh ra đã là một Minos của Crete, mặc dù tôi đã có thể đoán điều đó từ tên của nàng. Do đó vàng, bạc và những món quà quý giá chẳng có ý nghĩa gì với nàng vì ngay từ bé nàng đã quen được nhận tất cả những gì nàng muốn. Nhưng nàng đã được dâng hiến cho thần ngay khi còn nhỏ nên được nuôi dưỡng trong nhà trại của bò và sống ở đó thay vì trong cung điện hay trong nhà của người bảo trợ hoặc với bạn bè, vì việc người Crete sống ở đâu cũng thất thường như cuộc sống của họ.

Tôi tò mò muốn được nhìn nhà trại của bò, vì vậy chúng tôi trở lại phòng khánh tiết để từ biệt người bảo trợ Minea; ông ấy vô cùng kinh ngạc khi thấy tôi và lịch sự hỏi liệu trước đây chúng tôi đã gặp nhau chưa vì theo ông ấy tôi nhìn rất quen. Sau đó Minea đưa tôi đến nhà trại bò, thực ra là cả một thành phố, với chuồng trại, đồng cỏ, đấu trường, sân chạy, trường học và khu nhà ở của giáo sĩ. Chúng tôi đi từ trại này đến trại khác trong mùi hôi thối của bò, Minea không ngớt nói chuyện với bò và gọi chúng bằng những cái tên âu yếm, mặc dù chúng cố chọc những chiếc sừng vào nàng qua hàng rào và gầm gừ đào cát bằng những chiếc móng sắc, mắt long lên sòng sọc.

Nàng cũng gặp các chàng trai và các cô gái mà nàng quen, mặc dù những người nhảy múa trước bò thường không phải là bạn bè vì họ ghen tị với tài năng của nhau và không muốn dạy cho nhau các mánh lới của mình. Nhưng các giáo sĩ huấn luyện bò và nuôi dạy các vũ công chào đón chúng tôi; khi biết tôi là danh y, họ đã hỏi tôi vô số điều về hệ tiêu hóa của bò, hỗn hợp thức ăn và độ mượt của lông, mặc dù có thể họ còn biết nhiều hơn tôi về những chuyện này. Họ đặc biệt ưa thích Minea, vì nàng được nhận bò và số dự thi cho cuộc thi vào ngày mai. Nàng gần như bị kích động bởi ước muốn cho tôi xem tài năng của mình trước những con bò tốt nhất.

Cuối cùng Minea đưa tôi đến một ngôi nhà nhỏ, nơi vị giáo sĩ trưởng của thần Crete sống một mình cùng những con bò ở đó, bởi vì dù Minos trên danh nghĩa cũng là giáo sĩ trưởng, song vì phải lo việc trị vì và thương chánh nên ngài không có thời gian để can thiệp vào việc đấu bò mà cũng chỉ cá cược trong những cuộc đua như những người Crete khác. Giống như Minos luôn được gọi là Minos, giáo sĩ trưởng luôn là Minotauros và vì lý do nào đó ông ta là người đáng kính và đáng sợ nhất ở Crete, mọi người tránh nhắc đến tên mà chỉ gọi ông là “người đàn ông trong nhà bò nhỏ”. Ngay cả Minea cũng sợ đến nhà ông ta, mặc dù nàng không tiết lộ điều này với tôi song tôi nhận ra từ đôi mắt của nàng, đôi mắt mà mọi biểu hiện đều quá quen thuộc với tôi.

Khi được báo có chúng tôi đến thăm, ông ta tiếp chúng tôi trong căn phòng sáng nhờ nhờ và khi thấy ông, tôi nghĩ mình đã thấy thần linh và tin mọi chuyện kể về Crete, vì đó là một người giống người nhưng có đầu bò vàng. Tuy nhiên sau khi chúng tôi cúi chào, ông ta lấy đầu bò vàng xuống và để lộ mặt trước chúng tôi. Nhưng dù ông ta mỉm cười lịch sự với tôi, tôi không thích ông ta vì có gì đó cứng rắn và tàn nhẫn trên khuôn mặt vô cảm của ông ta, mặc dù tôi không thể giải thích từ đâu tôi có cảm giác này, vì ông ta là một người đẹp trai, da rất sậm màu và dường như sinh ra để chỉ huy. Minea không cần giải thích gì với ông ta, vì ông ta đã biết tất cả về vụ đắm thuyền và các chuyến đi của nàng, ông ta cũng không hỏi bất cứ điều gì không cần thiết mà chỉ cảm ơn tôi về tình bạn tôi dành cho Minea, cho Crete cũng như thần của họ và nói rằng rất nhiều món quà mà ông ta nghĩ tôi sẽ thích đang đợi tôi ở nhà nghỉ.

- Tôi không nghĩ đến quà, - tôi nói. - Với tôi kiến thức quan trọng hơn vàng, vì thế tôi đã đi tới nhiều vương quốc để tích lũy thêm tri thức cho mình, nhờ vậy mà bây giờ tôi biết các vị thần của Babylon và cả của người Hittite. Giờ đây tôi muốn được biết về thần của người Crete, vị thần mà tôi đã nghe kể nhiều điều kỳ lạ, chỉ yêu thích các thiếu nữ trinh trắng và các chàng trai tơ, trái ngược với thần của Syria có các ngôi đền là những nhà vui và được các giáo sĩ hoạn phụng sự.

- Chúng tôi có nhiều thần mà người dân thờ phụng, - ông ta nói. - Ngoài ra ở bến cảng còn có đền thờ thần của các xứ khác, vì vậy anh có thể tế thần Amon hoặc thần Baal ở bến cảng nếu muốn. Tuy nhiên, vì không muốn anh hiểu lầm, tôi thừa nhận rằng sức mạnh của Crete phụ thuộc vào vị thần đã được bí mật tế lễ từ rất lâu kể từ khi chúng tôi biết đến thần. Chỉ những ai đã được thụ phong mới có thể biết ngài và cũng chỉ biết khi trực tiếp gặp, song chưa một ai trở về để kể hình dạng ngài ra sao.

- Thần của người Hittite là bầu trời và mẹ đất, và mưa từ trời rơi xuống làm cho đất màu mỡ, - tôi nói. - Tôi hiểu biển là thần của Crete, vì sức mạnh và sự giàu có của Crete bắt nguồn từ biển.

- Có lẽ anh nói đúng, Sinuhe ạ, - ông ta nói và mỉm cười rất lạ. - Song anh cần biết rằng người Crete chúng tôi thờ một vị thần sống, khác với các dân tộc lục địa thờ các vị thần đã chết và các tượng gỗ. Thần của chúng tôi không phải là tượng ảnh, mặc dù bò có thể tượng trưng cho ngài, nhưng chừng nào thần của chúng tôi còn sống, sức mạnh của Crete vẫn còn trên biển. Đó là điều đã được tiên đoán và chúng tôi biết điều đó, dù chúng tôi cũng rất tin vào các thuyền chiến của mình, những chiến hạm mà không vương quốc biển nào có thể sánh được.

- Tôi nghe nói thần của các ông ở trong mê cung của ngôi nhà tối, - tôi gặng hỏi. - Tôi rất muốn được thấy mê cung mà tôi đã nghe nói đến rất nhiều, nhưng tôi không hiểu vì sao những người được thụ phong không bao giờ trở về từ đó, mặc dù họ được phép quay về sau khi ở đó một tuần trăng.

- Vinh dự lớn nhất và hạnh phúc tột bậc mà một chàng trai tơ và một trinh nữ Crete có được là được vào lâu đài của thần, - giáo sĩ Minotauros nhắc lại những lời ông ta đã nói không biết bao nhiêu lần, - vì thế các hải đảo đua nhau tiến cử những thiếu nữ xinh đẹp nhất và những chàng trai tài hoa nhất của họ đến nhảy múa trước bò của chúng tôi để họ được bốc thăm. Tôi không biết anh đã nghe chuyện về các sảnh lớn của thần biển chưa, nơi cuộc sống rất khác với cuộc sống trên đất liền, khiến không ai đã vào đó lại còn muốn trở về với đau khổ và nỗi buồn trên mặt đất. Hay cô còn sợ bước vào lâu đài của thần, Minea?

Nhưng Minea không trả lời, và tôi nói:

- Tôi đã thấy ở bãi biển Simyra xác những thủy thủ chết đuối, đầu bị sưng, bụng trương phồng và nét mặt không biểu lộ niềm vui gì. Đó là điều duy nhất tôi biết về các sảnh đường của thần biển, nhưng tôi không nghi ngờ lời ông nói và tôi chúc Minea mọi điều tốt đẹp.

Minotauros lạnh lùng nói:

- Anh sẽ được thấy mê cung, vì chỉ mấy hôm nữa thôi là đến đêm rằm và đêm đó, Minea sẽ vào nhà thần.

- Thế nếu Minea từ chối vào nhà thần thì sao? - Tôi vội hỏi, vì điều giáo sĩ nói khiến tôi ngạc nhiên và trái tim quặn đau, tuyệt vọng.

- Điều đó chưa bao giờ xảy ra, - Minotauros nói. - Anh đừng lo, Sinuhe, Người Ai Cập ạ. Sau khi nhảy trước những con bò của chúng tôi, Minea sẽ tự nguyện vào nhà thần.

Rồi ông ta nhấc đầu bò vàng đội lên đầu để báo hiệu đã đến lúc chúng tôi phải đi và chúng tôi không còn nhìn thấy ông ta nữa. Minea nắm lấy tay tôi và dắt tôi đi, không còn chút hào hứng nào nữa.

❖ 3 ❖

Khi tôi về nhà trọ, Kaptah đã ở nhà. Ông ấy đã uống rất nhiều trong quán rượu ở bến cảng và nói với tôi:

- Ông chủ ơi, đất nước này là miền tây của gia nhân, vì ở đây không ai lấy gậy đánh người hầu của mình, cũng không ai nhớ mình có bao nhiêu vàng trong túi hay mình đã sắm những vòng gì. Quả thật đây là miền tây trên mặt đất với người hầu, vì nếu người chủ tức giận và đuổi người hầu ra khỏi nhà là hình phạt tồi tệ nhất ở đây, thì người hầu chỉ cần trốn đi và trở lại vào ngày hôm sau khi người chủ đã quên mọi chuyện. Nhưng với thủy thủ và nô lệ trên bến cảng, đây là một nơi tồi tệ, bởi các giám quản là những người bủn xỉn, dùng những cây gậy sắc, và các thương lái lừa đảo người Simyra cũng dễ dàng như người Simyra lừa dối người Ai Cập. Tuy nhiên, họ có loài cá nhỏ được ngâm với dầu trong các hũ sành, nhắm cùng rượu ngon tuyệt. Tôi đã tha thứ cho họ rất nhiều vì loại cá tuyệt ngon này.

Ông ấy nói những điều này với vẻ hơi ngà ngà như thường lệ, nhưng sau đó ông đóng cửa lại và khi đã chắc chắn không có ai nghe trộm, ông nói:

- Ông chủ ơi, ở đất nước này đang xảy ra những chuyện kỳ lạ, bởi các thủy thủ trong quán rượu nói thần của Crete đã chết và các giáo sĩ đang khẩn cấp tìm vị thần mới. Nhưng đây là những lời nguy hiểm, vì vậy đã có một số thủy thủ bị ném từ vách đá xuống biển làm mồi cho bạch tuộc, bởi có tiên đoán rằng sức mạnh của Crete sẽ tiêu tan nếu thần của họ chết.

Lúc đó trong lòng tôi tràn ngập hy vọng điên rồ và tôi nói với Kaptah:

- Vào đêm rằm tới đây Minea phải vào nhà của thần, nhưng nếu thần của họ quả thực đã chết, có thể là vậy - cuối cùng người dân luôn biết mọi chuyện dù không ai nói gì với họ, lúc đó có lẽ Minea sẽ trở về từ nhà của thần, nơi mà từ trước đến nay chưa có ai trở lại.

- Không phải cô gái đáng nguyền rủa này đã mang đến cho chúng ta quá đủ rắc rối và khó xử rồi ư, - Kaptah nói, - vì theo suy nghĩ của tôi, thật không thích hợp với thanh danh của tôi khi một đứa con gái lấy dép của mình đánh tôi chảy máu mũi. Nhưng ông nói đúng: cuối cùng người dân luôn biết mọi chuyện, mặc dù không ai nói với họ, lúc đầu họ biết mọi chuyện mơ hồ như trong một giấc mộng, nhưng rồi mọi việc sẽ sáng rõ với họ như một tia chớp, và lúc đó người ta đánh nhau ở các góc phố, những ngôi nhà bốc cháy và nhiều thứ thay đổi theo. Tôi hoàn toàn không ghen tị với giới quyền quý Crete nếu thần của họ quả thực đã chết, vì tôi nghĩ khi tin đó lộ ra, cả bến cảng sẽ ùa vào thành phố, thợ rèn cầm búa tạ, ngư dân cầm lưỡi câu và thợ khuân vác sẽ bẻ cây làm chùy, tôi nghĩ thế dù mọi việc có thể khác đi.

Khi ông ấy nói, tôi nhớ lại điều các nhà chiêm tinh Babylon đã dự đoán nên bảo:

- Các giáo sĩ Babylon đã tiên đoán dựa trên các vì sao rằng năm của thế giới sắp kết thúc và các dân tộc sẽ chuyển sang năm mới, khi đó các vị thần sẽ chết và sau đó tất cả sẽ đổi thay. Nhưng có lẽ lời tiên tri này dành cho Crete, bởi thần của Syria và Ai Cập không bao giờ chết mà tồn tại mãi mãi.

- Ông chủ của tôi thật thông thái, - Kaptah nói, - nếu như trong đầu tôi có đủ hơi men, chắc chắn tôi đã hiểu rõ điều ông nói, nhưng lúc này các vì sao và các giáo sĩ, các vị thần và các năm của thế giới rối loạn trong đầu tôi nên điều duy nhất tôi hiểu là điều ông nói về Minea. Cô ta là bắt đầu và kết thúc, là tâm điểm của vòng tròn trong tất cả những câu chuyện của ông nên tôi thấy thật thương hại ông, bởi đã nhiều lần tôi nói với ông, từ một đứa nô tỳ hay gái nhà vui ông vẫn nhận được điều đó, ít phiền toái hơn nhiều. Hơn nữa, những người đàn bà khoe vú như ở Crete này không khép gối vào nhau, theo như tôi nghe được trong quán rượu. Nhưng nếu ông muốn cô ta, vấn đề thật đơn giản: chúng ta lấy gậy đập đầu cô ta, bỏ cô ta vào một cái bao và đưa lên thuyền rồi cùng cô ta dong buồm đến Ai Cập với sự giúp đỡ của bọ hung. Điều này có gì khác hơn đâu, mặc dù tôi tin chắc rằng như thế là ông mang bao mèo hoang vào nhà mình. Nhưng tôi sẵn sàng vì ông mà giúp ông trong công việc nguy hiểm này, bởi tôi không thể đứng nhìn ông vừa nói vừa be be như con dê rầu rĩ và gầy rộc đi, tóc rối bết như lông mèo đực vào kỳ động cái.

Tôi không bực Kaptah vì sự hỗn xược đó mà đã ngẫm nghĩ rất lâu về những lời ông ấy nói và kế hoạch của ông cám dỗ tôi. Nhưng tôi quý trọng Minea và ý chí của nàng đến nỗi trong cơn điên của mình tôi cũng không làm theo lời khuyên của Kaptah. Tôi nghĩ Minea không bao giờ tha thứ cho tôi nếu tôi cướp nàng như mèo trong bao bố.

Ngày hôm sau, nhờ số của Minea, tôi được một chỗ ngồi tốt trong trường đấu bò rộng lớn, nơi những hàng ghế đá cao dần từ dưới lên, ghế sau cao hơn ghế trước nên không ai bị che và đều nhìn thấy bò. Tôi ngạc nhiên và khâm phục sự sắp xếp hợp lý này, điều mà tôi chưa từng thấy ở bất kỳ nơi nào khác, vì ở Ai Cập người ta dựng các sân khấu cao cho các đám rước thần và các cuộc trình diễn để ai cũng nhìn thấy thần cũng như giáo sĩ và vũ công. Những con bò lần lượt được thả ra sân và mỗi vũ công khi đến lượt thực hiện tiết mục phức tạp, đòi hỏi sự khéo léo của mình; vì mỗi tiết mục liên quan đến nhiều màn trình diễn khác nhau, tất cả đều phải được thực hiện chính xác và theo một thứ tự nhất định, mà khó nhất là nhảy giữa sừng bò và từ đó nhảy lộn vòng lên không rồi kết thúc khi đứng trên lưng con bò đang chạy. Không phải tất cả những người thành thạo nhất đều có thể thực hiện toàn bộ các động tác mà không phạm lỗi, vì điều này phụ thuộc nhiều vào bò, cách nó dừng lại, chạy hoặc cúi đầu. Những người quyền quý và giàu có ở Crete đặt cược vào các con số và những vũ công mình mến mộ, nhưng sau khi nhìn các dãy số, tôi không còn muốn hiểu về sự nhiệt thành vô hạn của họ, bởi vì với tôi tất cả bò đều nhàm chán như nhau và tôi không thấy các màn trình diễn có gì khác nhau.

Minea cũng nhảy trước những con bò và tôi sợ thay cho nàng cho đến khi kỹ năng tuyệt vời và sự mềm dẻo của cơ thể nàng mê hoặc tôi, đến mức tôi không còn nhớ đến sự nguy hiểm mà nàng đối mặt nữa mà cùng những người khác mừng rỡ cổ vũ nàng. Ở đây các thiếu nữ cũng như các chàng trai đều trần truồng nhảy múa trước bò, bởi vì trò diễn của họ đầy xảo thuật đến mức ngay cả trang phục nhỏ nhất cũng có thể cản trở sự di chuyển của họ và có thể làm họ gặp nguy hiểm chết người. Theo tôi, Minea là người đẹp nhất, khi nàng nhảy múa thân thể lấp lánh ánh dầu, mặc dù phải thừa nhận cũng có những cô gái xinh đẹp khác, cũng được hò reo khích lệ. Tuy nhiên, mắt tôi chỉ hướng về Minea. So với những người khác, nàng chưa được luyện tập nhiều sau thời gian dài đi vắng và chưa giành được một vòng nguyệt quế nào. Người bảo trợ già đã đặt cược vào nàng rất đau khổ và tức giận về điều này, cho đến khi ông ta quên số bạc đã mất của mình và đi đến nhà bò để chọn những con bò mới và những con số mới mà ông ta được hưởng vì là người đỡ đầu của Minea.

Nhưng khi gặp lại tôi tại nhà bò sau buổi trình diễn, Minea nhìn xung quanh và lạnh lùng nói với tôi:

- Sinuhe, em không thể gặp anh được nữa, vì bạn em rủ em đến các bữa tiệc của họ và em còn phải chuẩn bị đến nhà thần vì ngày kia là rằm rồi. Vì thế chúng ta có thể sẽ không gặp nhau trước khi em đến nhà thần, nếu như anh muốn cùng với những người bạn khác của em tiễn em đến đó.

- Được thôi, như em muốn, - tôi đồng ý, - vì chắc chắn anh có rất nhiều thứ để xem ở Crete, và anh rất thích phong tục của vương quốc này cũng như trang phục của phụ nữ. Khi anh ngồi vào nơi có số của em, nhiều bạn gái của em đã mời anh đến nhà họ, mà nhìn khuôn mặt và ngực của họ cũng dễ chịu, cho dù họ hơi mập hơn và dễ dãi hơn em.

Lúc đó nàng níu chặt lấy cánh tay tôi và đôi mắt lóe lên, nàng thở gấp và nói:

- Em sẽ không cho anh ra ngoài vui chơi với bạn gái của em khi không có em bên cạnh. Sinuhe, vì em ít nhất anh hãy chờ đến khi em đi xa. Mặc dù có lẽ em quá gầy trong mắt anh, điều mà trước đây em không bao giờ nghĩ đến, nhưng anh có thể chấp thuận việc này vì tình bạn với em khi em đề nghị.

- Anh chỉ đùa thôi, - tôi nói, - anh cũng không muốn làm phiền em, vì em có rất nhiều việc phải làm trước khi vào nhà thần. Vậy nên anh sẽ về nhà trọ và chữa cho những người bệnh ở đó, vì ở bến cảng có rất nhiều người bệnh cần đến tay nghề của anh.

Tôi rời khỏi chỗ nàng và rất lâu sau này tôi vẫn ngửi thấy mùi bò trong mũi và cả mùi bò trong nhà bò Crete, tôi cũng không bao giờ quên được, đến nỗi mỗi khi nhìn thấy đàn bò và ngửi thấy mùi chúng, tôi phát ốm đến không thể ăn và trái tim tôi nhói đau. Nhưng tôi vẫn rời nàng, tiếp bệnh nhân ở nhà trọ, chữa cho họ và giúp họ đỡ đau cho đến khi trời tối, đèn trong các nhà vui ở bến cảng sáng lên. Tôi nghe thấy tiếng nhạc vang lên qua các bức tường, tiếng cười nói vô lo của mọi người, vì những nô lệ và người hầu ở Crete cũng học được sự vô lo của chủ nhân họ; ai cũng sống như thể không bao giờ phải chết và trên thế gian không có bệnh tật, nỗi buồn hay khổ đau.

Tối đến tôi ngồi trong phòng và Kaptah đã trải thảm để tôi ngủ, nhưng tôi không muốn thắp đèn mà chỉ ngồi trong bóng tối. Trăng lên to và sáng dù vẫn chưa tròn hẳn, song tôi thấy ghét nó vì đã chia cách tôi với người duy nhất mà tôi có thể gọi em yêu trong cuộc đời, tôi cũng ghét chính mình vì hèn nhát, yếu đuối và không biết mình muốn gì. Cho đến khi cửa mở, Minea bước vào, cẩn thận ngoái nhìn lại phía sau và xung quanh, không còn mặc theo kiểu Crete nữa, trên người chỉ có bộ xiêm áo đơn giản giống như khi nàng nhảy múa cho những người quyền quý cũng như thường dân ở nhiều vương quốc xem, tóc buộc bằng một dải ruy băng vàng.

- Minea, - tôi kinh ngạc kêu lên, - sao em đến đây, anh cứ nghĩ em phải chuẩn bị cho thần của mình?

Nàng bảo:

- Anh nói nhỏ thôi, vì em không muốn người khác nghe thấy.

Nàng ngồi xuống bên tôi, nhìn lên mặt trăng và thốt lên lạ lùng:

- Em không thích giường của mình trong nhà bò, cũng không muốn ngồi giữa đám bạn của mình như trước nữa. Nhưng vì sao em đến đây với anh, đến nhà trọ bến cảng này dù nó hoàn toàn không thích hợp, em không thể nói được. Tuy nhiên, nếu anh muốn ngủ, em không dám làm phiền anh mà sẽ đi, nhưng mỗi khi không ngủ được, em lại muốn một lần nữa được hít thở mùi thuốc và thảo dược quanh anh, véo tai và túm tóc Kaptah vì những lời nói ngu ngốc của ông ta. Những chuyến đi và những dân tộc xa lạ hẳn đã xáo động tâm tính em, bởi em không còn thấy nhà bò là nhà của mình như trước, em cũng không mừng vui vì được cổ vũ trên đấu trường và thậm chí không còn thấy luyến nhớ nhà thần; lời nói của mọi người xung quanh em giống như tiếng mè nheo của những đứa trẻ khờ dại, niềm vui của họ như bọt sóng ven biển và em không còn thấy có gì vui trong các trò tiêu khiển của họ. Trái tim em trống rỗng, đầu em cũng trống rỗng, em không có đến một ý nghĩ nào có thể gọi là của riêng mình. Tất cả những điều đó khiến em đau khổ và em chưa bao giờ cảm thấy buồn như vậy. Vì thế em muốn anh nắm chặt tay em một lúc như trước đây, vì khi anh nắm chặt tay em, em sẽ không sợ điều tệ hại nào và không sợ cả cái chết, Sinuhe ạ, mặc dù em biết anh thích nhìn những người phụ nữ đầy đặn hơn, xinh đẹp hơn em và muốn cầm tay họ.

Tôi nói với nàng:

- Minea, em yêu dấu của anh, thời thơ ấu và niên thiếu của anh giống như một con suối sâu trong vắt, nhưng thời trai trẻ của anh như một dòng sông lớn, nước tràn lên một vùng rộng lớn và bao phủ nhiều miền đất, song nước của nó nông, tù đọng và bốc mùi hôi. Nhưng khi em đến với anh, Minea ạ, em đã dồn nước lại và nước hân hoan chảy xuống dòng sâu, mọi thứ trong anh được gột sạch, thế giới mỉm cười trong mắt anh và tất cả những điều xấu xa đối với anh như mạng nhện, chỉ cần dùng tay nhẹ nhàng gạt nó sang bên. Vì em, anh muốn thành người tốt, chữa bệnh cho mọi người bất kể quà cáp họ cho anh là gì và những thần độc ác không còn quyền lực với anh. Mọi điều là vậy khi em đến với anh, nhưng giờ đây khi em rời xa anh, mọi thứ xung quanh anh trở nên tối tăm và anh như con quạ cô đơn nơi hoang mạc, anh không còn muốn tốt với người khác nữa mà căm hận tất cả kể cả thần linh và không còn muốn nghe chút gì về những đấng ấy. Thế đấy Minea ạ, vì vậy anh muốn nói với em: trên thế giới có nhiều vùng đất, nhưng chỉ có một dòng sông Nile. Hãy để anh đưa em đến miền đất đen bên bờ sông, nơi những con vịt kêu trong đám sậy và mặt trời chèo thuyền vàng băng qua bầu trời mỗi ngày. Hãy đi với anh, Minea, chúng ta sẽ cùng nhau đập vỡ vò và trở thành vợ chồng, sẽ không bao giờ xa nhau, cuộc sống sẽ dễ dàng với chúng ta và khi chết thi thể của chúng ta gặp nhau ở miền tây, cùng sống ở đó mãi muôn đời.

Nhưng nàng bóp chặt tay tôi trong tay nàng rồi đưa ngón tay chạm vào mắt, môi và cổ tôi, nói:

- Sinuhe, em không thể đi cùng anh, dù em muốn, vì không thuyền nào đưa chúng ta ra khỏi Crete, không thuyền trưởng nào dám giấu chúng ta trên thuyền, vì người ta đã canh giữ em cho thần linh và em không thể để người ta giết anh vì em. Cho dù có muốn, em cũng không thể theo anh, vì khi em nhảy múa trước bò, ý chí của bầy bò mạnh hơn ý muốn của em, mặc dù em không thể giải thích điều đó với anh vì bản thân anh chưa trải qua việc ấy. Do đó, em phải bước vào nhà thần vào đêm trăng tròn, điều này em cũng như anh hay bất kỳ thế lực nào khác trên thế gian đều không ngăn cản được. Nhưng vì sao lại thế, em không thể giải thích và có lẽ không ai khác có thể biết ngoài Minotauros. Em đã lớn lên trong bóng thần linh từ khi còn nhỏ xíu và hôm nay khi em nhảy múa trước bò, chúng đã thắng em. Nhưng em bắt đầu căm hận những con bò với nỗi phẫn uất cay đắng, vì chúng bắt em lìa anh; em cũng bắt đầu chán ghét người dân nước mình, bởi họ xem niềm vui chỉ là cái bóng thoảng qua, cuộc đời là trò chơi trẻ con và họ độc ác như những đứa trẻ khát khao thấy máu tuôn chảy trước những con bò. Ngay cả hôm nay, họ rất bất mãn và tiếc nuối khi những đôi sừng bò không đâm thủng ai, không ai bị trượt chân để đàn bò có thể giày xéo lên, xé ruột người đó quấn quanh sừng. Đây là sự thật về cá cược và niềm đam mê lớn lao dành cho những con bò, mặc dù họ không thừa nhận điều đó với nhau hoặc với chính mình mà nói vì ngưỡng mộ tài năng trác tuyệt.

Nàng hôn môi và cổ tôi, dang tay ôm quanh người tôi rồi ép sát người vào tôi và nói:

- Vì tất cả những điều này, Sinuhe ạ, em sẽ rời nhà thần về với anh, vì em được phép làm việc này theo luật của thần bò, mặc dù chưa có ai trở về từ đó. Nhưng em muốn mình là người đầu tiên sẽ trở lại. Sau đó anh sẽ làm cho em những gì anh muốn và cuộc đời của anh sẽ là cuộc đời của em, bạn của anh sẽ là bạn của em và thần của anh cũng là thần của em, Sinuhe ạ.

Nhưng tim tôi trống rỗng như một nấm mồ trong ngực, tôi nói:

- Không ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến và anh không tin là em sẽ trở về từ nơi mà từ trước đến nay chưa có ai trở về. Có lẽ trong các sảnh vàng của thần biển, em sẽ uống sự sống vĩnh cửu từ giếng thần và sẽ quên đi mọi thứ của trần gian, quên cả anh, mặc dù anh không tin điều đó, bởi tất cả những điều như thế chỉ là cổ tích và cho đến nay, tất cả những gì anh thấy từ thần linh ở tất cả các miền đất đều khiến anh không tin vào cổ tích. Vậy nên em phải biết anh sẽ theo dấu chân em vào nhà thần đón em nếu em không trở về trong thời gian đã ấn định. Anh sẽ đón em ngay cả khi em không muốn quay về. Đó là điều anh sẽ làm, Minea, cho dù đó là việc làm cuối cùng của anh trên thế gian này.

Nhưng Minea hoảng sợ đưa tay che miệng tôi và nhìn xung quanh rồi nói:

- Im nào! Điều như thế anh không thể nói ra, thậm chí không được nghĩ tới, vì nhà của thần là nhà tối tăm mà không người lạ nào tìm được đường đến và người chưa được thụ phong bước vào đó sẽ chết thảm thương. Thậm chí anh không thể đến đó vì những cánh cổng bằng đồng đỏ đóng kín nhà thần, em mừng vì thế bởi em biết anh sẽ làm điều anh nói trong sự điên rồ của mình và như thế sẽ đưa mình vào thảm họa. Nhưng hãy tin em, tự em sẽ vui lòng trở về với anh, vì thần của em không xấu xa đến nỗi không cho phép em quay lại với anh nếu em muốn. Ngài quả thật là một vị thần kỳ diệu và đẹp đẽ, người bảo vệ quyền lực của Crete và muốn điều tốt lành cho vạn vật, khiến những cây ô liu tươi tốt, ngũ cốc chín trên các cánh đồng và thuyền dong buồm từ cảng này đến cảng khác. Ngài làm gió thuận chiều và dẫn thuyền đi trong sương mù để những ai được sự bảo trợ của ngài không gặp điều gì xấu. Vậy thì sao ngài lại muốn làm tổn thương em?

Minea đã lớn lên dưới bóng của thần từ khi còn nhỏ, nên nàng lóa mắt vì mù quáng và tôi không thể làm mắt nàng sáng được, mặc dù tôi đã chữa cho người mù bằng kim và giúp họ nhìn lại được. Vì thế trong cơn giận dữ vì bất lực của mình, tôi ôm chặt nàng vào lòng rồi hôn và lấy tay vuốt ve nàng; chân tay nàng mềm, nhẵn như thủy tinh và nàng trong vòng tay tôi như nguồn nước mát dành cho kẻ lang thang nơi hoang mạc. Minea không phản đối mà run rẩy áp mặt vào cổ tôi, nước mắt nàng chảy dài nóng rẫy trên cổ tôi khi nàng nói:

- Sinuhe, anh yêu của em, nếu anh nghi ngờ em sẽ không trở về, em không muốn từ chối anh điều gì nữa, mà anh hãy làm điều anh muốn với em, nếu điều đó mang lại cho anh niềm vui, cho dù vì thế mà em phải chết, vì trong vòng tay anh, em không sợ chết và tất cả đều vô nghĩa nếu thần của em bắt em xa anh.

- Nhưng liệu việc ấy có làm em vui không? - Tôi hỏi Minea.

- Em không biết, - Minea do dự đáp. - Em chỉ biết cả người em bứt rứt và em thấy tuyệt vọng khi không ở bên anh. Em chỉ biết mắt em mờ đi và đầu gối em bủn rủn khi được anh ôm. Trước đây, em ghét mình vì điều đó và sợ anh chạm vào em, bởi vì trước đây mọi thứ trong em đều trong sáng, không gì có thể làm mờ đi niềm vui của em khi em chỉ hãnh diện về tài năng của mình, về sự mềm dẻo của cơ thể và sự hoàn hảo của mình. Giờ đây em biết được vòng tay của anh thật nồng ấm dù nó có thể làm em đau, nhưng em vẫn thực sự không biết liệu mình có vui không nếu anh làm điều anh muốn với em, hay có thể em lại buồn sau đó. Nhưng nếu nó làm anh vui thì xin đừng ngần ngại vì niềm vui của anh là niềm vui của em và em không muốn gì hơn là mang lại niềm vui cho anh.

Tôi buông Minea ra, đưa tay lên vuốt tóc, mắt và cổ nàng rồi nói:

- Chỉ cần em lại là em như khi chúng ta cùng nhau trên hành trình trên những con đường của xứ Babylon, với anh thế là đủ. Hãy đưa cho anh dây vàng buộc tóc em, thế là đủ với anh và anh không muốn gì thêm từ em.

Nhưng nàng ngờ vực nhìn tôi, rồi đưa tay ướm vòng eo hông mình và nói:

- Có lẽ anh thấy em quá gầy, có khi cơ thể em không làm anh vui và có thể anh thích một người phụ nữ nhẹ dạ hơn em. Nhưng nếu anh muốn, em sẽ cố gắng vô tư hết mức có thể và làm mọi thứ theo cách anh muốn, để anh không thất vọng, vì em muốn mang đến cho anh thật nhiều niềm vui.

Tôi mỉm cười, đưa tay chạm vào đôi vai mịn màng của Minea:

- Minea, trong mắt anh không có thiếu nữ nào xinh đẹp hơn em và không ai có thể mang lại hạnh phúc cho anh nhiều hơn em, nhưng anh không muốn ôm em chỉ cho niềm vui của riêng mình, vì điều đó có thể làm em không vui khi em luôn băn khoăn về thần của mình. Nhưng anh biết một việc chúng ta có thể làm mang lại hạnh phúc cho cả hai ta. Chúng ta hãy lấy vò theo phong tục của đất nước anh và cùng nhau đập vỡ nó. Sau khi cùng làm điều đó, chúng ta sẽ thành chồng và vợ, mặc dù anh chưa ân ái cùng em và ở đây không có giáo sĩ nào để làm chứng và viết tên của chúng ta vào sách của đền. Vậy ta hãy để Kaptah mang đến một cái vò để chúng ta có thể làm điều đó.

Đôi mắt nàng mở to, sáng bừng lên dưới ánh trăng và nàng vỗ tay, mỉm cười sung sướng. Vì vậy tôi đi gọi Kaptah, nhưng Kaptah đang ngồi trên sàn ngoài cửa phòng tôi, khóc tấm tức, lấy mu bàn tay chùi hai gò má đẫm nước và khóc òa thành tiếng khi nhìn thấy tôi.

- Có chuyện gì vậy, Kaptah, - tôi hỏi. - Vì sao ngươi khóc?

Kaptah nói ngay không hề ngần ngại:

- Ông chủ ơi, trái tim tôi yếu đuối nên tôi không thể không khóc khi nghe những gì ông chủ và cô gái eo thon đó nói với nhau trong phòng của ông, vì tôi chưa bao giờ nghe điều gì cảm động đến như thế.

Tôi tức điên, đá ông ấy và nói:

- Ngươi định nói ngươi đã ở trước cửa này và nghe lỏm được tất cả những gì chúng ta nói phải không?

Kaptah đáp vẻ ngây thơ vô tội:

- Đúng là điều tôi định nói, bởi có nhiều người đã xông đến trước cửa phòng ông để nghe, những người không có việc gì với ông mà chỉ đi theo rình mò cô ta, vì vậy tôi đã đuổi họ đi, dọa sẽ cho họ ăn gậy của ông và tôi ngồi trước cửa này để canh cho ông vì tôi nghĩ ông sẽ không vui vẻ gì nếu bị quấy rối giữa cuộc nói chuyện quan trọng này. Nhưng khi ngồi đây, tôi không thể không nghe những gì hai người nói, những điều thật đẹp, nên dù có ngốc nghếch khờ dại, tôi không thể không khóc.

Nghe ông ấy kể như vậy, tôi không thể giận được nữa vì sự hồn nhiên của ông, mà chỉ nói:

- Một khi ngươi đã nghe hết, ngươi biết ta muốn gì, vậy nhanh đi lấy vò đi.

Nhưng ông ấy chần chừ, hỏi:

- Ông chủ muốn vò nào? Vò gốm hay vò đá, vẽ hay không vẽ, cao hay thấp, to hay nhỏ?

Tôi quất ông ấy một cái, nhưng chỉ nhẹ thôi vì lòng tôi tràn ngập niềm yêu mến với tất cả mọi người, và nói:

- Ngươi biết rõ ta muốn gì và biết là bất kỳ vò nào cũng có thể đáp ứng được điều mong muốn của ta. Vì vậy, đừng quanh co nữa, mà đi lấy cho ta cái đầu tiên tay ngươi chạm đến.

Kaptah nói:

- Tôi đang đi đây, vội vã và còn chạy nữa, nhưng tôi chỉ nói như thế để ông chủ có thêm chút thời gian suy nghĩ về điều ông định làm, vì đập vò cùng với một phụ nữ là một việc hệ trọng trong cuộc đời của người đàn ông, không nên quá vội vàng mà thiếu cân nhắc. Nhưng tất nhiên tôi sẽ đi lấy vò, vì đó là điều ông muốn và tôi không thể ngăn cản.

Thế là Kaptah đem đến một chiếc vò đựng dầu cũ sặc mùi cá và chúng tôi, tôi và Minea, cùng đập vỡ nó. Kaptah là người làm chứng cho chúng tôi trở thành vợ chồng, ông đặt bàn chân Minea lên gáy mình và nói:

- Từ giờ trở đi bà là bà chủ của tôi và chắc sẽ sai bảo tôi nhiều hơn ông chủ, nhưng tôi vẫn hy vọng bà không hắt nước nóng vào chân tôi khi bà tức giận và tôi cũng hy vọng bà dùng dép mềm, không có gót cao, vì tôi không thích dép cao gót, chúng để lại vết xước và cục u trên đầu. Dù thế nào tôi cũng phục vụ bà thật tận tụy như phục vụ ông chủ tôi, vì thật lạ lùng, tôi thấy mình rất gắn bó với bà, mặc dù bà gầy gò, vú nhỏ và tôi không hiểu ông chủ tôi nhìn thấy gì ở bà. Nhưng tôi hy vọng điều này sẽ được cải thiện khi bà có đứa con đầu lòng. Tôi cũng sẽ chăm chỉ lấy trộm của bà như lấy của ông chủ tôi từ trước đến nay, vì khi trộm tôi cẩn thận cân nhắc lợi ích của bà trước chứ không vì lợi ích của tôi.

Nói đến đây Kaptah cảm động đến phát khóc và nức nở một lúc. Minea đưa tay xoa lưng ông ấy, rồi chạm vào gò má dày của ông và an ủi nên cuối cùng ông bình tĩnh lại, sau đó tôi bảo ông ấy nhặt các mảnh vò vỡ và đẩy ông ra khỏi phòng.

Tối đó chúng tôi ngủ bên nhau như trước, nàng ngủ trong vòng tay tôi, hơi thở của nàng phả vào cổ tôi và tóc nàng ve vuốt má tôi. Tuy nhiên, tôi không ân ái với nàng, vì tôi nghĩ khoái cảm không làm nàng hạnh phúc, cũng như tôi, nhưng khi ôm nàng trong vòng tay mà không ân ái cùng nàng, niềm vui của tôi sâu đậm và lớn lao hơn khi làm việc ấy. Song tôi không thể khẳng định điều này vì tôi không biết mình sẽ hạnh phúc đến nhường nào nếu tôi ân ái cùng nàng, nhưng tôi biết chắc rằng đêm đó tôi muốn làm điều tốt với tất cả mọi người, trong lòng tôi không có đến một ý định xấu xa nào, mỗi người đàn ông là anh em trai tôi, mỗi phụ nữ là mẹ tôi và mỗi thiếu nữ đều là em gái tôi, ở miền đất đen cũng như tất cả các miền đất đỏ, dưới cùng một bầu trời vằng vặc ánh trăng.

❖ 4 ❖

Hôm sau Minea lại nhảy trước bò và tim tôi như thắt lại vì nàng, thật may không có điều gì tệ hại xảy ra với nàng. Nhưng một vũ công trẻ trượt khỏi trán bò, rơi xuống đất nên con bò đã đâm sừng xuyên vào người cậu ta và giẫm đạp cậu, khiến khán giả xung quanh trường đấu đứng cả dậy, hét to lên vì sợ hãi và cuồng nhiệt. Khi người ta đuổi được con bò đi và thi thể của vũ công được đưa vào nhà trại, đám đàn bà chạy đến nhìn cậu, đưa tay chạm vào thân thể đẫm máu của cậu rồi thở dốc vì bị kích động và nói với nhau: “Ôi khiếp quá!”. Còn cánh đàn ông nói: “Lâu rồi chúng ta chưa được xem những cuộc đấu hay như hôm nay”. Họ không đau buồn khi trả tiền cược hay cân vàng và bạc cho nhau mà bắt đầu uống rượu, ăn mừng với nhau trong nhà họ, ánh đèn chiếu rọi khắp thành phố đến tận khuya, các bà vợ bị lạc chồng mình và qua đêm trên giường người lạ song không ai coi đó là chuyện xấu vì tập quán của họ như thế.

Nhưng tôi nằm một mình trên thảm, vì đêm hôm đó Minea không thể đến với tôi được nữa, và sáng sớm tôi thuê một cái kiệu ở bến cảng, đi tiễn nàng đến nhà thần của nàng. Minea được đưa đến đó trong cỗ xe vàng do những con ngựa đầu bờm kéo, các bạn của nàng theo sau, người ngồi trong kiệu, kẻ đi bộ, cười nói ồn ào, ném hoa lên đầu nàng và dừng lại bên vệ đường uống rượu. Chặng đường dài nhưng mọi người đều có đồ ăn ngon mang theo, họ bẻ cành ô liu và dùng chúng vẫy nhau làm đàn cừu của những nông dân nghèo hoảng sợ và còn nghĩ ra nhiều chuyện nực cười khác. Nhà của thần ở một nơi hoang vắng dưới chân một ngọn núi gần bờ biển, khi đến gần đó mọi người im lặng và bắt đầu thì thầm với nhau chứ không cười nữa.

Nhưng nhà của thần như thế nào, thật khó giải thích, vì nó giống một trái núi thấp, cỏ hoa mọc đầy phía trên và tiếp lên tận đỉnh. Lối vào bị đóng bằng những cánh cổng đồng cao như núi, đằng trước là một ngôi đền nhỏ nơi làm lễ thụ phong và là chỗ ở của những người bảo vệ nhà thần. Đám rước lễ đến đó vào xẩm tối và các bạn của Minea xuống kiệu, dựng lều trên bãi cỏ xung quanh đó, ăn uống và cười đùa cùng nhau mà không nhớ mình là những người đến dự lễ và đang ở gần nhà thần, vì người Crete rất chóng quên. Tối đến, họ đốt đuốc và chơi trốn tìm trong các bụi cây, tiếng la hét của đàn bà và tiếng cười của đàn ông xuyên qua màn đêm; trong khi đó, Minea ngồi một mình trong đền, không ai được đến gần nàng nữa.

Tôi nhìn Minea ngồi trong đền. Người ta mặc đồ vàng cho nàng như tượng thần, đầu đội khăn vàng rất rộng và nàng cố gượng cười với tôi từ xa, không có chút niềm vui nào trong nụ cười ấy. Khi mặt trăng lên, người ta cởi trang phục vàng và đồ trang sức trên người nàng ra và mặc cho nàng một bộ xiêm áo mỏng tang, buộc tóc nàng vào một tấm lưới bạc. Sau đó lính canh tháo then cài và mở các cánh cổng đồng. Các cánh cổng nặng nề, mỗi cánh cần tới mười người đàn ông, ầm ầm từ từ mở ra, bóng tối há mồm toang hoác phía sau cổng, không còn ai dám thì thào, chỉ còn tĩnh lặng. Minotauros thắt chiếc thắt lưng vàng, thanh kiếm buộc bên hông, đầu đội đầu bò vàng khiến ông ta không còn giống người nữa. Người ta đặt vào tay Minea ngọn đuốc đã được thắp và Minotauros vừa ẩn nàng vừa đi vào nhà tối cho đến khi cả hai biến mất và ánh sáng của ngọn đuốc mờ dần. Sau đó, cánh cổng đồng được đẩy về chỗ cũ rồi được đóng chèn bằng những súc gỗ lớn và tôi không còn nhìn thấy Minea nữa.

Một nỗi tuyệt vọng không thể diễn tả chế ngự tôi, đến nỗi trái tim tôi như vết thương mở toang, máu chảy ra đến cạn kiệt khiến tôi không còn chút sức lực nào, ngã khuỵu và úp mặt xuống đất. Vì ngay lúc đó tôi hiểu rõ rằng mình sẽ không bao giờ thấy Minea nữa, mặc dù nàng hứa sẽ trở lại từ nhà thần để đi theo tôi và sống cùng tôi. Tôi biết nàng sẽ không trở lại, nhưng từ đâu tôi biết, tôi không thể nói, vì cho đến lúc đó tôi vẫn chỉ hết hồ nghi rồi lại tin và lo sợ, rồi lại hy vọng và muốn tưởng tượng rằng thần Crete khác với tất cả các vị thần khác, sẽ trả tự do cho Minea vì tình yêu của nàng dành cho tôi. Nhưng giờ thì tôi không còn hy vọng nữa, tôi nằm úp mặt xuống đất, Kaptah ngồi bên cạnh, hai tay ôm đầu lắc lư và than vãn. Những người quyền quý và giàu có của Crete đốt đuốc rừng rực rồi vừa cầm đuốc chạy ngang qua tôi vừa nhảy những điệu nhảy phức tạp và hát những bài hát mà tôi không hiểu lời. Khi các cánh cổng bằng đồng đóng lại, họ vô cùng phấn khích, nhảy múa và nhào lộn cho đến khi mệt lử, tiếng hò hét của họ vẳng trong tai tôi như tiếng quạ kêu từ tường thành.

Nhưng một lúc sau Kaptah ngừng than khóc và nói:

- Chúng ta không thể làm được gì cho điều đã xảy ra và không ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến. Vậy nên ông chủ ơi, chúng ta hãy ăn và uống để tăng sức cho mình, vì tôi mang theo rượu và nhiều món ăn ngon khi biết đó là phong tục ở đây trong những dịp như thế này. Tôi cũng có thể nói với ông chủ rằng nước mắt không làm ai no nê, và người ốm o thường có những suy nghĩ tồi tệ, còn người no đủ lại hòa hợp với muôn loài. Vì thế sau khi đã buồn quá đủ, tôi sẽ ăn và uống nếu ông cho phép.

Rồi ông ấy lau nước mắt và ăn rồi uống khá nhiều, nhưng tôi không thể động đến thức ăn, còn rượu uống vào như bùn bẩn trong cổ họng. Tôi vẫn nằm sấp trên mặt đất cho tới khi Kaptah nói, khiến tôi ngẩng phắt đầu lên:

- Nếu mắt tôi không đánh lừa, tôi không nghĩ thế vì tôi chưa uống đến nửa lượng rượu để say đến mức nhìn một thành hai, thì cái đầu sừng đã quay lại từ núi, nhưng y quay lại bằng cách nào thì tôi không hiểu vì không ai mở cổng đồng.

Ông ấy nói đúng, quả thật Minotauros đã từ nhà thần trở lại, cái đầu bò vàng sáng rực đến rợn người dưới ánh trăng khi ông ta nhảy điệu nhảy nghi lễ giữa các vũ công khác, đôi chân thay nhau giẫm xuống mặt đất. Khi thấy ông ta, tôi không thể kìm được mà đứng phắt dậy, lao đến, nắm lấy cánh tay ông ta và hỏi:

- Minea đâu?

Ông ta hất tay tôi ra và lúc lắc cái đầu bò, nhưng thấy tôi không chịu rời đi, ông ta để lộ cả khuôn mặt và tức giận nói:

- Hoàn toàn không phải lối khi phá rối nghi lễ linh thiêng, nhưng chắc ngươi không biết vì ngươi là kẻ lạ, vậy nên ta tha thứ cho ngươi, nếu ngươi không chạm vào ta lần nữa.

- Minea đâu? - Tôi vẫn tiếp tục hỏi ông ta cho đến khi ông ta buộc phải trả lời.

- Ta để Minea lại trong bóng tối của nhà thần theo phong tục và quay trở lại để nhảy điệu nhảy nghi lễ tôn vinh thần của chúng ta. Nhưng ngươi còn muốn gì từ Minea nữa chứ, khi đã được nhận quà vì đưa cô ấy trở lại?

- Sao ông có thể trở lại mà nàng thì không? - Tôi hỏi và sấn đến trước mặt ông ta, nhưng ông ta đẩy tôi ra và các vũ công nhảy xen vào giữa chúng tôi. Kaptah nắm lấy tay tôi kéo đi và việc này chắc chắn là tốt, vì nếu không tôi không biết chuyện gì sẽ xảy ra. Kaptah nói:

- Ông thật ngu ngốc và dại dột khi làm ầm lên như thế, sẽ tốt hơn nếu ông cũng nhảy múa với những người khác, cũng cười và hát như họ, nếu không có khi điều không hay sẽ xảy ra với ông. Tôi đoán Minotauros đi ra từ cổng nhỏ cạnh cổng đồng, điều đó không có gì kỳ lạ, vì tôi đã đến nhìn cổng này và thấy lính canh khóa nó lại và mang chìa khóa đi. Nhưng hãy uống rượu đi, ông chủ ạ, để bình tĩnh lại, vì mặt ông méo xệch như mặt kẻ mắc bệnh dại và mắt ông trợn tròn như mắt cú mèo.

Ông ấy ép tôi uống rượu và tôi ngủ trên bãi cỏ dưới ánh trăng khi những ngọn đuốc đung đưa lướt qua trước mắt tôi, vì ông ấy đã ma mãnh pha nhựa anh túc vào rượu khi thấy tôi trong tình trạng đó. Bằng cách ấy, ông ấy đã trả đũa tôi vì những gì tôi đã làm ở Babylon để cứu mạng ông, nhưng ông ấy không nhốt tôi trong chum mà đắp chăn cho tôi và ngăn các vũ công giẫm đạp phải tôi. Có lẽ bằng cách này, ông ấy đã cứu mạng tôi, vì trong lúc tuyệt vọng biết đâu tôi có thể đâm Minotauros và giết ông ta. Thế là Kaptah ngồi bên tôi cả đêm cho đến khi hũ rượu cạn sạch và ngủ thiếp đi bên cạnh tôi, phả hơi rượu vào tai tôi.

Hôm sau tôi thức dậy muộn, thuốc mạnh đến nỗi lúc đầu tôi ngạc nhiên không biết mình đang ở đâu. Khi nhớ ra mình ở đâu và chuyện gì đã xảy ra, tôi khá bình tĩnh, đầu óc tỉnh táo, và nhờ có thuốc nên tôi không làm ầm lên nữa. Nhiều người tham gia đám rước đã trở về thành phố, nhưng một số vẫn ngủ trong bụi cây, đàn ông và đàn bà nằm chung chạ, cơ thể hở hang mà không biết xấu hổ vì họ đã uống rượu, nhảy múa và hò reo thâu đêm. Khi thức dậy, họ thay xiêm áo mới, phụ nữ cài búi tóc lên và thấy khó chịu vì không thể tắm, vì với những người đã quen nước nóng chảy ra từ vòi bạc trong phòng tắm như họ thì nước suối quá lạnh.

Họ súc miệng, bôi dầu lên mặt, kẻ lông mày, tô môi và ngáp rồi nói với nhau: “Ai ở lại đợi Minea và ai trở lại thành phố?”. Trò chơi trên bãi cỏ và trong các bụi cây không còn lôi cuốn nhiều người, hầu hết đã trở lại thành phố vào cuối ngày và chỉ những người bạn trẻ nhất và nhiệt tình nhất của Minea ở lại bên ngoài nhà thần, chơi đùa với nhau nhưng viện cớ chờ Minea trở lại, mặc dù ai cũng biết chưa từng có ai trở lại từ nhà thần. Họ ở lại vì ban đêm họ đã gặp người họ thích và những người vợ nhân cơ hội này tống ông chồng trở lại thành phố vì muốn thoát khỏi cái ách. Chứng kiến việc này, tôi đã hiểu vì sao trong thành phố không có đến một nhà vui nào mà chỉ ở bến cảng mới có. Sau một ngày và một đêm xem cách họ chơi đùa, tôi hiểu được rằng những cô gái đang hành nghề bán hoa sẽ rất khó cạnh tranh với phụ nữ Crete.

Trước khi Minotauros đi, tôi hỏi ông ta:

- Tôi có thể ngồi lại chờ Minea với bạn bè của cô ấy được không, dù tôi là một người lạ?

Ông ta nhìn tôi vẻ thù địch và đáp:

- Không ai cấm anh cả, nhưng ta nghĩ ở cảng đang có một chiếc thuyền thích hợp có thể đưa anh về Ai Cập, vì chờ chỉ hoài công thôi. Ai đã được tấn phong cho thần, kẻ đó sẽ không trở lại từ nhà thần.

Nhưng tôi làm ra vẻ ngờ nghệch và nói để lấy lòng ông ta:

- Đúng là tôi từng rất thích Minea, mặc dù cô ta ngày càng tẻ nhạt bởi tôi không thể chạm vào vì cô ta đã có thần. Nếu nói thật lòng, tôi không chờ cô ta trở lại, mà tôi chỉ nói như những người khác là ở lại đợi Minea, bởi ở đây có rất nhiều thiếu nữ và thiếu phụ xinh đẹp, cứ nhìn vào mắt tôi quyến rũ và ấn cặp vú vào tay tôi mời mọc, điều mà trước đây tôi chưa bao giờ trải nghiệm. Nói thật tình Minea ghen tuông khủng khiếp, rất khó chiều và chỉ quấy rối ham muốn của tôi, mặc dù tôi không thể chạm vào cô ấy. Có lẽ tôi cũng phải xin ngài thứ lỗi nếu đêm qua tôi uống nhiều rượu đến say xỉn và có thể đã vô tình xúc phạm ngài, mặc dù tôi không nhớ vì đầu tôi vẫn còn váng vất. Tôi chỉ nhớ mình có quàng tay quanh cổ ngài và đòi ngài dạy tôi điệu nhảy mà ngài nhảy rất đẹp và trang nghiêm mà tôi chưa bao giờ được nhìn thấy. Nhưng nếu tôi xúc phạm ngài, từ đáy lòng mình tôi thành thật xin lỗi, vì là người lạ nên tôi chưa biết hết tập quán của các ngài và không biết rằng không được chạm vào ngài, vì ngài gần như là thần linh.

Tôi huyên thiên, lắp bắp những điều này với ông ta, nheo nheo mắt, rên rỉ kêu đau đầu cho đến khi ông ta mỉm cười coi tôi như thằng ngốc và nói:

- Nếu vậy, ta không muốn ngăn anh vui chơi vì ở đây người Crete chúng tôi cũng không sống quá khổ hạnh. Ừ, thì hãy đợi Minea đến chừng nào anh muốn, nhưng cẩn thận đừng làm ai có thai, đó là điều không thích hợp bởi anh là người lạ. Ta không có ý xúc phạm anh bằng lời khuyên này mà chỉ nói với anh như đàn ông với nhau, để giải thích tập quán của chúng tôi.

Tôi hứa với ông ta sẽ thận trọng và lảm nhảm kể cho ông ta nghe đủ mọi chuyện như thể tôi đã từng trải nghiệm với các trinh nữ trong đền ở Syria và Babylon, cho đến khi ông ta nghĩ tôi còn xuẩn ngốc hơn ông ta tưởng và phát chán, vỗ vai tôi rồi bỏ tôi lại đó để về thành phố. Nhưng tôi nghĩ ông ta đã sai lính canh để mắt đến tôi và cũng khích lệ nhiều người đến tiêu khiển cùng tôi, vì sau khi ông ta đi được một lúc, một nhóm thiếu phụ đến gần tôi, treo vòng hoa vào cổ tôi, nhìn vào mắt tôi và vừa xán lại gần vừa dí cặp vú trần vào cánh tay tôi. Rồi họ kéo tôi đến giữa những bụi nguyệt quế để ăn và uống rượu cùng họ. Thế là tôi thấy được tập quán và sự phóng đãng của họ, những người không chút xấu hổ thẹn thùng với tôi, nhưng tôi uống rất nhiều rượu và giả vờ say mèm, khiến họ không vui thú được gì và cuối cùng phát chán, bắt đầu đẩy tôi ra và gọi tôi là đồ con heo, đồ mọi rợ. Kaptah đến xốc nách kéo tôi đi và lớn tiếng mắng mỏ sự bê tha rượu chè của tôi rồi ngỏ ý muốn cùng họ vui vẻ thay tôi. Họ cười phá lên khi nhìn thấy ông ấy, còn lũ trẻ ranh chế nhạo và chỉ tay vào cái bụng căng phồng và cái đầu hói tới sau gáy của ông. Nhưng ông ấy là một người lạ và sự lạ lẫm luôn dụ dỗ đàn bà ở tất cả mọi miền đất, nên sau khi đã cười nhạo ông quá đủ, họ cho ông nhập bọn, chuốc rượu và ấn trái cây vào miệng ông, ấn hông mình lên mạn sườn ông, gọi ông là con dê cụ của họ và ngửi ngửi ra vẻ khiếp đảm mùi của ông cho đến khi mùi này cũng bắt đầu hấp dẫn họ.

Tôi để mặc Kaptah với họ và bỏ đi vì tôi không thể nghĩ đến điều gì khác ngoài Minea và sự tuyệt vọng giống như con chuột đói gặm nhấm lòng tôi. Nhân khi lính canh ngủ trưa, tôi đến gần cổng đồng và tìm thấy cánh cổng nhỏ bên cạnh đó, nhưng không mở được vì không có chìa khóa, tôi đành chỉ áp miệng vào cánh cổng kim loại và thì thầm tên Minea vì không dám gọi to. Khi lính canh dậy, tôi mang một hũ rượu đến rồi rót rượu mời họ uống và nói chuyện với họ, cách cư xử của tôi khiến họ hết sức ngạc nhiên vì ở Crete, người thượng lưu không nói chuyện với ai thuộc tầng lớp thấp hèn, mà họ sống như thể trên đời này không hề có những người bần cùng và nghèo khó. Nhưng vì lính canh biết tôi là người lạ và cách cư xử của tôi khiến họ coi tôi là kẻ ngốc nên họ uống rượu và nói với nhau những lời nhạo báng tôi bằng ngôn ngữ của họ.

Giáo sĩ coi đền thờ thấy ganh tị liền rời đền đến chỗ chúng tôi và uống rượu của tôi. Ông ta đã già và sống cả đời trong đền để canh giữ cổng đồng, nhưng khi tôi hỏi ông ta đã có lúc nào vào nhà thần chưa, ông ta vô cùng kinh hãi và nói rằng không ai có thể vào nhà thần ngoài những người được thụ phong và Minotauros; những người khác nếu vào đó sẽ bị chết rất đau đớn. Để chứng minh điều này, ông ta kể rằng cách đây lâu lắm rồi, khi quyền lực và danh tiếng của Crete chưa lớn như bây giờ, một đám cướp biển đã lên bờ, đến gần ngôi đền và tấn công lính canh hòng tìm báu vật trong nhà thần. Nhưng nhóm cướp vào nhà thần đã không bao giờ quay trở ra và một nhóm nữa vào tìm chúng cũng vậy, còn lính canh chỉ nghe thấy những tiếng kêu hoảng loạn từ hành lang sâu thẳm của nhà thần vọng ra. Khi ấy, những tên cướp còn lại hoảng sợ và thả lính canh mà không dám giết họ rồi tháo chạy lên thuyền của chúng. Kể từ đó, không ai dám xông vào nhà thần. Vì vậy ông ta nghĩ canh nhà thần cũng vô ích vì không ai dám bước vào đó, nên ông ta rủ tôi về nhà mình; hoàn toàn không giấu giếm, ông chỉ cho tôi xem chìa khóa cổng và kể rằng Minotauros đã lấy chìa khóa khi vào nhà thần để có thể quay trở ra qua cổng nhỏ mà không ai nhìn thấy, khi cổng đồng to đóng lại phía sau người được thụ phong.

Tôi mua của ông ta mấy bùa hộ mệnh với mấy con bò nhỏ mà ông ta tạc bằng đá để giết thời gian, khiến ông ta rất vui nên chúng tôi đã trở thành bạn. Nhưng khi nói về nhà thần, ông ta hạ thấp giọng và tôi thấy ông ta rất sợ ngôi nhà mà mình đang canh gác. Ông ta cũng nói với tôi rằng sẽ không dám ở trong đền nếu cánh cổng đồng để ngỏ, nhưng vì sao thì ông không thể giải thích cho tôi.

Tôi không muốn ở trong nhà ông ta quá lâu vì sợ gây chú ý nên quay lại với những người khác, cùng uống rượu, cố gắng vui vẻ, cười đùa với họ và làm ra vẻ rất thích đàn bà. Kaptah đã uống đến say xỉn và huyên thiên với họ nhiều điều phét lác về các xứ sở mà chúng tôi đã đến khiến họ cười, vỗ tay tán thưởng và reo lên thích thú như trẻ con. Ông ấy cũng kể cho họ nghe về ngày ông là vua Babylon và những phán quyết mà ông đã đưa ra khi ngồi trên ngai vàng cùng với chiến công hiển hách của mình trong hậu cung, nhưng họ coi tất cả những điều đó là khoác lác và càng cười nhiều hơn, họ nói: “Ông ta chắc chắn có máu Crete trong huyết quản”.

Ngày hôm ấy trôi qua như thế cho đến khi tôi phát chán với sự vui thú, vô lo và lối sống tự do của họ, đến mức tôi không thể tưởng tượng cuộc sống nào nhàm chán hơn, vì tôi nghĩ một cuộc sống bất thường không tuân theo bất cứ một phép tắc nào theo thời gian sẽ trở nên buồn chán hơn một cuộc sống có mục đích. Họ qua đêm như đêm trước, suốt đêm giấc ngủ chập chờn của tôi bị hành hạ bằng tiếng la hét của lũ đàn bà trong khu rừng nhỏ khi họ vừa ve vãn vừa trốn tránh các chàng trai trẻ đuổi theo họ trong bóng tối nhằm giật quần áo khỏi người họ. Nhưng sáng ra họ mệt mỏi bơ phờ và ngán ngẩm vì không thể tắm và hầu hết trở về thành phố hôm đó, chỉ còn những người trẻ nhất và hăng hái nhất ở lại bên cổng đồng.

Nhưng ngày thứ ba, những người cuối cùng cũng ra về và tôi để họ mang theo cả chiếc kiệu đang chờ tôi, bởi vì những người đã đi bộ đến đây không còn sức nữa mà bước đi loạng quạng vì thức quá nhiều và ham vui quá mức; hơn nữa tôi cũng muốn họ mang chiếc kiệu đón tôi theo để không còn ai đợi tôi. Ngày ngày tôi cho lính gác uống rượu nên tối đó khi tôi mang đến một hũ rượu lớn, họ không ngạc nhiên và vui vẻ tiếp nhận, vì họ không có nhiều trò vui, sự cô đơn của họ kéo dài cả tháng cho tới khi đoàn đưa rước người được thụ phong mới đến nhà thần. Nếu có điều gì đáng để họ ngạc nhiên thì đó là tại sao tôi lại chờ Minea một mình, vì việc này trước đây chắc chắn chưa từng có, nhưng tôi là một người lạ và họ coi tôi là kẻ ngốc nên họ uống, và khi thấy vị giáo sĩ cũng nhập cuộc với họ, tôi đến chỗ Kaptah và bảo:

- Thần linh đã ban lệnh nên bây giờ chúng ta phải xa nhau, vì Minea chưa trở lại và ta không tin nàng sẽ quay lại trừ khi ta đi đón nàng. Nhưng chưa từng có ai bước vào nhà tối đó quay trở lại, vì thế có thể ta cũng vậy, nên tốt nhất là ngươi trốn vào rừng và nếu sáng ra ta không quay lại, ngươi hãy về thành phố một mình. Nếu có ai hỏi, ngươi hãy nói ta đã rơi từ một vách đá xuống biển, hoặc nói điều ngươi nghĩ là tốt nhất, vì ngươi biết bịa ra điều gì đó tốt hơn ta. Nhưng chắc chắn ta sẽ không quay lại, vì vậy ngươi có thể đi ngay nếu ngươi muốn. Ta đã viết cho ngươi một bảng đất sét có dấu bằng cái triện Syria của ta để ngươi có thể đi đến Simyra và nhận tiền của ta từ thương điếm ở đó. Ngươi cũng có thể bán nhà của ta ở đó nếu ngươi muốn. Bán xong nhà, ngươi được tự do đi về tùy ý. Còn nếu ngươi sợ ở Ai Cập sẽ bị đe dọa vì là nô lệ bỏ trốn thì hãy ở lại Simyra, sống trong nhà ta và làm gì ngươi muốn bằng của cải của ta. Đã thế này rồi, ngươi không phải lo giữ thi thể của ta, vì nếu ta không thể tìm thấy Minea, với ta thi thể còn hay mất không quan trọng nữa. Ngươi là đầy tớ trung thành của ta, mặc dù ngươi thường làm ta mệt mỏi với những lời lải nhải không dứt, vì thế ta ân hận đã đánh ngươi quá nhiều và quá mạnh bằng gậy của mình, nhưng ta tin rằng điều đó chỉ tốt cho ngươi và ta làm việc đó với ý tốt, vì vậy ta hy vọng ngươi không vì thế mà thù oán ta. Hãy đi với may mắn của bọ hung mà ngươi có thể mang theo cùng, vì ngươi tin vào nó hơn ta. Ta không nghĩ ta cần bọ hung ở nơi ta đến.

Kaptah im lặng một lúc lâu và không nhìn tôi, cuối cùng ông nói:

- Ông chủ ơi, tôi không bao giờ oán giận ông cả, mặc dù đôi khi ông đánh tôi rất đau, vì ông đã làm điều đó với ý tốt theo cách nghĩ của ông. Nhưng thường ông vẫn nghe lời khuyên của tôi, thậm chí thường xuyên chuyện trò với tôi như một người bạn hơn là như một đầy tớ hay nô lệ, khiến đôi khi tôi thấy lo cho danh giá của ông, cho đến khi cây gậy của ông lấy lại sự khác biệt được thần linh xác lập giữa chúng ta. Nhưng bây giờ Minea này cũng là bà chủ của tôi, vì tôi đã đặt bàn chân được ban phước của bà lên đầu mình, do đó tôi có trách nhiệm với bà vì là người hầu của bà. Mặt khác, tôi cũng không thể để ông vào nhà tối ấy một mình, vì nhiều lý do khác nhau mà tôi không muốn kể lể ở đây, nên nếu là người hầu, tôi không thể theo ông đến đó vì ông đã ra lệnh cho tôi phải về và tôi phải làm theo lệnh ông tuy cái lệnh ấy thật xuẩn ngốc, song là một người bạn, tôi phải đi cùng ông, bởi tôi không thể để ông lại một mình trong nguy hiểm, nhất là không có bọ hung, mặc dù cũng như ông, tôi nghĩ bọ hung khó có thể giúp chúng ta trong việc này.

Ông ấy nói rất nghiêm túc và cân nhắc trước sau khiến tôi không còn nhận ra ông ấy nữa và ông ấy không còn kêu than như trước. Nhưng tôi nghĩ thật vô nghĩa khi cả hai đi vào cái chết, bởi chỉ một thôi là đủ, nên tôi nói điều đó với ông ấy và bắt ông biến đi theo lệnh của tôi và đừng nói những điều ngu ngốc nữa. Nhưng ông ấy bướng bỉnh nói:

- Nếu ông không cho tôi đi cùng, tôi sẽ đi theo sau ông và ông không thể cấm tôi, nhưng tôi muốn đi cùng ông vì tôi rất sợ bóng tối. Mặt khác, tôi sợ cái nhà tối tăm đó đến nỗi chỉ nghĩ đến thôi, xương tôi đã rữa thành nước rồi, vì vậy tôi hy vọng ông cho phép tôi mang theo hũ rượu để thỉnh thoảng rượu cho tôi thêm can đảm, vì nếu không tôi bắt đầu sợ và la hét, làm phiền ông. Mà tôi cũng không mang vũ khí theo người, vì tôi là người đàn ông yếu đuối, khiếp sợ cảnh máu me và tôi tin vào đôi chân mình hơn tin vào vũ khí, do đó nếu ông định quyết chiến với thần, ông phải liệu chuyện đó một mình, còn tôi chỉ đứng nhìn và khuyên ông can đảm. Tôi cho rằng những điều này đã được ghi vào sao chiếu mệnh trước ngày sinh đáng nguyền rủa của tôi, như ông hay nói, nhưng điều đó không đủ để an ủi tôi, mà niềm an ủi duy nhất là tôi đã sống quá lâu so với một đời người và cái đầu lơ mơ của tôi ngập chìm trong quá nhiều quán rượu, nhiều hơn cả con số tôi biết để kể ra, và tôi cũng đã vui thú quá đủ với đàn bà con gái, những ả Crete này là cuối cùng, làm đệm ngủ thì vừa đủ mềm nhưng xin Amon rủ lòng đừng để tôi phải đập vỡ vò với họ. Tôi nói thế không phải định ám chỉ bà chủ Minea của chúng ta, một người quá trong sáng đến nỗi tôi có thể nói rằng khuyết điểm của bà là quá khiết tịnh và số phận của bà cho thấy trong trắng quá mức nguy hiểm như thế nào, mặc dù tôi không thể đem tính cách ấy ra làm thí dụ cảnh báo cho các con tôi, mặc dù tôi chưa bao giờ thấy chúng, những đứa có lẽ đang ở khắp các miền gió khác nhau. Tôi chỉ nói là nếu bà ta thật lòng lên giường với ông, như một người phụ nữ đoan chính khi gặp người đàn ông mình yêu, thì đã không xảy ra những chuyện như thế này, mà chúng ta đã ở Simyra hay Ai Cập và bà làm chủ nhà ông, một việc có lẽ sẽ mang đến những chuyện rắc rối khác mà tôi không tiện kể ra lúc này, song vẫn chưa thấm gì so với nỗi buồn đau giờ đây đang chờ đợi chúng ta. Ngay cả việc bảo quản thi thể của mình, việc mà với tôi không phải là điều phù phiếm như với ông chủ, mà tôi còn rất lo lắng về nó, rằng liệu cuộc sống tương lai của tôi sẽ ra sao. Nhưng điều sẽ xảy ra là điều không thể ngăn chặn được, như mụ già thường nói khi ngón tay bị kẹt giữa hai thớt cối đá.

Tôi biết Kaptah khi đã bắt đầu thì có thể nói suốt đêm, như giờ đây khi nỗi sợ hãi đã khiến lời lẽ của ông ấy liến láu hơn trước. Vì thế tôi nói:

- Hãy thôi lải nhải đi và cầm lấy hũ rượu nếu ngươi muốn, nhưng chúng ta phải đi ngay để làm cho xong việc này vì ta nghĩ lũ lính canh đang ngủ say vì uống rượu ta pha.

Lính canh đã ngủ say mê mệt và cả giáo sĩ cũng ngủ, nên tôi có thể dễ dàng lấy chìa khóa cổng của Minotauros từ nơi cất giấu mà giáo sĩ đã chỉ cho tôi. Chúng tôi cũng mang theo mồi lửa và đuốc song chưa đốt chúng, vì dưới ánh trăng có thể nhìn rõ và dễ dàng dùng chìa khóa mở cánh cổng nhỏ ra. Nhờ vậy, chúng tôi vào trong và bước vào nhà của thần rồi đóng cánh cổng lại; trong bóng tối tôi nghe thấy tiếng răng Kaptah va lập cập vào miệng hũ rượu.

❖ 5 ❖

Được rượu tiếp thêm can đảm, Kaptah nói giọng khàn khàn:

- Ông chủ ơi, đốt đuốc thôi, từ đây ánh sáng không lọt ra ngoài đâu và bóng tối này còn khủng khiếp hơn cả bóng tối nơi địa ngục, nơi không ai có thể thoát ra còn chúng ta tự nguyện bước vào.

Thế là tôi thổi than rồi thắp đuốc lên và thấy chúng tôi đang ở trong một khoang rỗng lớn, lối vào bị chặn bằng các cổng đồng. Từ khoang này có mười hành lang dẫn ra các hướng khác nhau, được ngăn cách bằng những bức tường gạch dày. Nhưng tôi đã chuẩn bị cho tình thế này khi tôi nghe kể thần của Crete sống trong mê cung, và các giáo sĩ Babylon đã dạy tôi rằng các mê cung được xây dựng phỏng theo ruột của những con vật hiến tế. Vì vậy, tôi tin có thể tìm thấy lối đi đúng, bởi nhiều lần khi hiến tế tôi đã nhìn thấy ruột bò và đoán mê cung của Crete có lẽ được xây dựng từ ngày xưa theo ruột của bò. Do vậy, tôi chỉ cho Kaptah hành lang phía trước và nói:

- Chúng ta sẽ đi từ đằng kia.

Nhưng Kaptah bảo:

- Vội vàng thì có ích gì, cẩn thận cũng chẳng thừa, nên tốt hơn là chuẩn bị để không bị lạc và trước tiên cần đảm bảo chúng ta có thể tìm lại được chỗ này nếu chúng ta quay lại, điều mà tôi không tin, vì tôi rất sợ chúng ta sẽ không bao giờ quay lại.

Nói rồi ông ấy lấy từ trong túi ra một cuộn chỉ, buộc chỉ quanh một mẩu xương rồi cắm thật chắc vào giữa hai viên gạch. Sáng kiến giản đơn này của ông ấy thật thông thái, đến mức tôi chắc sẽ không bao giờ nghĩ ra được, nhưng tôi không nói với ông ấy điều này để khỏi mất thanh danh của mình trong mắt ông ấy. Bởi vậy nên tôi cáu kỉnh giục ông ấy làm nhanh lên. Rồi tôi đi vào mê cung của nhà tối với hình dung trong đầu sơ đồ ruột chạy trong bụng bò, còn Kaptah vừa đi vừa tháo chỉ ra khi chúng tôi tiến về phía trước.

Chúng tôi đi loanh quanh trong bóng tối vô tận theo các hành lang khác nhau và các hành lang mới mở ra trước mặt chúng tôi, đôi khi chúng tôi quay lại khi gặp bức tường chặn đứng phía trước và tiếp tục lần theo hành lang khác cho đến khi Kaptah dừng lại, hít ngửi không khí, hai hàm răng bắt đầu va vào nhau lập cập và cây đuốc trên tay rung lên, ông ta nói:

- Ông chủ ơi, ông có thấy mùi bò không?

Tôi cũng ngửi thấy rất rõ một mùi ghê sợ, hôi thối nồng nặc gợi nhớ đến mùi bò, mặc dù mùi này còn khủng khiếp hơn và có vẻ như bốc ra từ những bức tường chúng tôi đi qua, như thể toàn bộ mê cung là một chuồng bò khổng lồ. Nhưng tôi bảo Kaptah đừng ngửi mà hãy đi tiếp và sau khi ông ấy uống một ngụm dài từ hũ rượu, chúng tôi vội vã đi về phía trước cho đến khi chân tôi trượt vào một thứ gì đó trơn trơn, tôi cúi xuống nhìn và nhận ra cái sọ đã thối rữa của một người phụ nữ, trên đầu vẫn còn tóc. Ngay khi nhìn thấy, tôi đã biết mình chỉ có thể thấy được xác Minea, nhưng ước muốn điên rồ phải thấy đẩy tôi về phía trước nên tôi ẩn Kaptah đi và cấm ông ấy khóc rồi chúng tôi đi về phía trước, vừa đi vừa tháo cuộn chỉ ra. Nhưng không lâu sau, một bức tường lại nhô lên trước mặt buộc chúng tôi phải quay lại và tìm một lối đi khác.

Đột nhiên Kaptah dừng lại và chỉ tay xuống đất, những sợi tóc lưa thưa dựng đứng trên đầu và mặt ông ấy tái nhợt hẳn. Tôi cũng nhìn xuống và thấy phân súc vật khô trên lối đi, nhưng đống phân này có kích thước to bằng một người đàn ông, nếu là phân bò thì con bò này phải to đến mức không thể tưởng tượng nổi. Kaptah cũng nghĩ như tôi, ông nói:

- Không thể là phân bò vì con bò như vậy làm sao lọt được vào hành lang này. Tôi cho đây là phân của rắn khổng lồ.

Nói rồi ông ấy nốc một hơi rượu dài, răng va lập cập vào miệng hũ, còn tôi nghĩ về những lối đi được xây để rắn khổng lồ di chuyển được và tôi chợt nghĩ đến việc quay trở lại. Nhưng tôi lại nhớ đến Minea, nỗi tuyệt vọng khủng khiếp xâm chiếm trong đầu khiến tôi kéo Kaptah đi về phía trước, siết chặt con dao trong tay ướt đẫm mồ hôi, mặc dù tôi biết đây là việc vô ích.

Nhưng khi chúng tôi dò dẫm về phía trước, mùi hôi thối trong lối đi mỗi lúc một đậm đặc hơn phả vào chúng tôi, giống như uế khí từ một ao xác lớn, khiến chúng tôi thở mỗi lúc một khó khăn hơn. Trong thâm tâm tôi thấy mừng vì tôi biết chúng tôi sẽ sớm đến đích. Chúng tôi tiến về phía trước cho đến khi ánh xám nhờ nhờ tràn vào lối đi khiến tôi linh cảm về một nguồn sáng ở xa xa. Và rồi chúng tôi lọt vào trong núi, các hành lang không còn bằng gạch xây mà được đục vào đá mềm. Hành lang đưa chúng tôi xuống phía dưới, chúng tôi vấp phải xương người và những đống phân, như thể chúng tôi đang ở trong hang ổ của loài thú dữ khổng lồ. Cuối cùng, một hang động lớn mở ra trước mặt và chúng tôi đứng bên rìa một vách đá nhìn xuống nước, một mùi hôi không thể tả vây quanh chúng tôi.

Ánh sáng xanh lè khủng khiếp từ biển lọt vào hang khiến chúng tôi không cần đuốc vẫn nhìn được xung quanh mình và nghe thấy tiếng sóng vỗ vào ghềnh đá ở đâu đó xa xa. Nhưng trên mặt nước ở phía trước chúng tôi bồng bềnh thứ gì trông như một dãy bao tải da khổng lồ, cho đến khi mắt thường có thể nhận ra đó là một quái vật chết trong nước, to hơn và kinh khủng hơn bất cứ con vật nào mà con người có thể tưởng tượng, đang nồng nặc bốc mùi thối rữa. Đầu nó chìm trong nước nhưng trông như đầu của một con bò khổng lồ và thân như một con rắn kinh tởm, đang phân hủy ra nhiều khúc nên nhẹ nổi lềnh bềnh trên mặt nước. Tôi biết vật kinh dị tôi đang nhìn là thần của Crete, nhưng tôi cũng biết rằng con vật này đã chết cách đây nhiều tháng. Vậy thì Minea ở đâu?

Khi nghĩ về nàng, tôi cũng nghĩ về tất cả những ai đã vào nhà thần trước nàng, những người được thụ phong dành cho thần sau khi học nhảy múa trước bò. Tôi nghĩ về những chàng trai tơ không được ôm ấp phụ nữ, về những cô gái phải giữ trinh tiết để có thể bước vào đó trong ánh hào quang và niềm vui sướng của thần, tôi nghĩ tới sọ và xương của họ rải rác trên các lối đi của nhà tối, nghĩ tới con quái vật khi nó đuổi theo họ trong hành lang của mê cung và chặn đường họ bằng thân hình kinh khủng của nó, khiến những điệu múa và tài nghệ nhảy trước bò của họ không còn giúp được họ nữa. Con quái vật này sống bằng thịt người, mỗi tháng ăn một lần là đủ và bữa ăn này được các quốc vương Crete hiến tế bằng những trinh nữ đẹp nhất và những chàng trai tơ tuyệt vời nhất, với hy vọng rằng nhờ đó họ sẽ tiếp tục thống trị biển. Chắc quái vật này đã bị bão tố dồn ẩn vào hang từ vực sâu thăm thẳm dưới đại dương vào thời kỳ xa xưa nào đó và họ đã chặn đường ra của nó, xây dựng mê cung cho nó có nơi để chạy và nuôi sống nó bằng các nạn nhân hiến tế cho đến khi nó chết và không còn quái vật nào khác như vậy tồn tại trên thế gian này. Vậy thì Minea ở đâu?

Điên cuồng vì tuyệt vọng, tôi hét tên Minea và lòng hang âm âm vọng lại cho đến khi Kaptah chỉ xuống mặt hang cho tôi xem những vết máu khô trên đá. Theo vết máu, tôi nhìn xuống nước và thấy thi thể Minea, hay những thứ còn lại của nàng, vì thân xác này chầm chậm di chuyển dưới đáy khi bị các loài gặm nhấm từ mọi phía khiến khuôn mặt cũng không còn nguyên vẹn mà tôi chỉ nhận ra nàng nhờ chiếc lưới bạc trên tóc. Tôi cũng không cần phải tìm vết kiếm trên ngực nàng vì tôi đã biết Minotauros đưa nàng đến đây và từ phía sau đâm xuyên thanh kiếm qua người nàng rồi ẩn nàng xuống nước để không ai được biết thần Crete đã chết. Chắc chắn hắn đã làm điều tương tự với những cô gái và chàng trai trước Minea.

Sau khi nhìn thấy, biết được và hiểu ra mọi chuyện, tôi hét lên một tiếng kinh hoàng rồi ngã khuỵu xuống ngất lịm, và chắc chắn tôi đã rơi xuống nước cạnh Minea nếu như Kaptah không vội nắm lấy cánh tay tôi và kéo tôi lại nơi an toàn như ông ta kể lại với tôi sau này. Từ lúc đó trở đi, tôi không còn biết những gì đã xảy ra với mình, ngoại trừ những điều được Kaptah kể lại. Sau bao đau khổ, xót thương và tuyệt vọng, sự bất tỉnh đã nhân từ và bí ẩn trấn tĩnh tôi.

Kaptah kể ông ấy đã khóc một lúc lâu bên cạnh tôi vì nghĩ rằng tôi cũng đã chết, ông ấy khóc vì cả Minea, cho đến khi tỉnh táo lại, sờ vào người tôi và biết tôi còn sống; ông ấy nghĩ ít nhất có thể cứu được tôi, khi không thể làm gì cho Minea được nữa. Ông ấy cũng kể đã nhìn thấy thi thể của những nam thanh, nữ tú khác bị Minotauros giết, bị loài giáp xác rỉa hết thịt khiến xương rải đầy trên đáy cát trắng mịn. Nhưng có phải ông ấy kể với tôi như thế để an ủi tôi không, tôi không biết. Khi ấy, mùi hôi thối bắt đầu khiến ông ấy nghẹt thở, và khi biết không thể cùng một lúc vác cả hũ rượu và tôi, ông liền uống cạn hũ rượu rồi ném hũ xuống nước; nhờ có rượu đem lại thêm sức lực, ông vừa vác vừa kéo tôi trở lại cổng đồng, đi theo sợi chỉ chúng tôi đã gỡ ra khi vào. Sau một lát suy nghĩ, ông cũng vừa đi vừa cuộn chỉ lại khi quay ra nhằm tránh để lại dấu vết chuyến viếng thăm mê cung của chúng tôi và ông nói, dưới ánh sáng của ngọn đuốc, ông thấy trên tường và ngách của hành lang những dấu hiệu bí ẩn mà ông đồ rằng chính Minotauros đã đánh dấu để tìm được đường ra. Ông cũng kể đã ném hũ rượu xuống nước, để Minotauros ngạc nhiên khi làm công việc đao phủ của y vào lần kế tiếp.

Trời vừa hửng sáng, ông ấy đưa được tôi ra ngoài rồi khóa cổng lại và đưa chìa khóa về chỗ của nó trong nhà giáo sĩ, vì cả lính canh và giáo sĩ vẫn đang ngủ mê mệt sau khi uống rượu tôi pha. Sau đó, ông ấy vác tôi vào bụi cây ở bên bờ con suối, hắt nước lên mặt tôi và xoa tay tôi cho đến khi tôi tỉnh lại. Nhưng tôi cũng không nhớ gì về việc này, vì ông bảo tôi quẫn trí và không nói được, do vậy ông đã cho tôi uống thuốc để tôi trấn tĩnh lại. Phải sau đó rất lâu, khi chúng tôi đã ở gần thành phố tôi mới tỉnh hẳn lại, và ông ấy đã nắm cánh tay tôi dìu đi. Từ lúc đó tôi mới nhớ mọi chuyện.

Nhưng tôi không nhớ mình đã cảm thấy đau đớn ra sao và khi ấy tôi không nghĩ nhiều về Minea mà nàng chỉ là một cái bóng mờ trong tâm trí tôi, như thể tôi đã gặp nàng ở một kiếp trước xa xôi nào đó. Thay vì nghĩ đến nàng, tôi nghĩ thần của Crete đã chết và quyền lực của Crete bị hủy diệt đúng như tiên đoán và tôi không hề hối tiếc; mặc dù người dân Crete đối xử tốt với tôi, niềm vui của họ và cả nghệ thuật của họ cũng đều như bọt sóng lấp lánh hay sóng bạc đầu đổ xuống bãi biển. Khi đến gần thành phố, tôi rất vui khi nghĩ rằng một ngày nào đó những tòa nhà đẹp, thanh thoát này sẽ bùng cháy, những tiếng rên rỉ dâm đãng của đàn bà sẽ biến thành những tiếng thét gào hấp hối, đầu bò vàng của Minotauros sẽ bị búa đập dát thành miếng mỏng và cắt thành từng mảnh trong cuộc phân chia chiến lợi phẩm, quyền lực của Crete sẽ không còn dấu vết và hòn đảo của họ chìm vào lòng biển, nơi mà từ đó quỷ bò biển đã nổi lên.

Tôi cũng nghĩ về Minotauros mà không có đến một ý nghĩ xấu về ông ta, vì Minea chết nhẹ nhàng, không cần dùng hết tài nghệ để nhảy và trốn chạy trước bò biển, nàng chết và gần như không biết chuyện gì xảy ra với mình. Tôi nghĩ Minotauros là người duy nhất biết thần của họ đã chết, Crete đang trên đường diệt vong và tôi hiểu ông ta đã rất khó khăn để giữ bí mật này. Khi quái vật còn sống, tôi không biết liệu việc mang giữ bí mật này có dễ dàng không, tháng này đến tháng khác, năm này qua năm khác ông ta phải đưa các nam thanh nữ tú của đất nước mình đến ngôi nhà tối và biết rõ điều gì sẽ xảy ra với họ ở đó. Không, tôi không hề nghĩ xấu về Minotauros, mà chỉ lải nhải hát và cười như điên dại khi được Kaptah dìu đi, nhờ vậy ông ấy có thể dễ dàng nói với những người bạn của Minea đi đón chúng tôi rằng tôi vẫn say trong khi chờ Minea, điều có thể hiểu được, vì tôi là người lạ, không hiểu hết phong tục của xứ này và không biết say xỉn giữa ban ngày ban mặt trước người khác là mọi rợ đến thế nào. Cuối cùng ông ấy mượn được một chiếc kiệu và cho người khênh tôi về nhà trọ, ở đó tôi được thoải mái uống rượu theo ý mình và sau đó ngủ một giấc dài mê mệt.

Nhưng khi thức dậy, tôi hoàn toàn tỉnh táo và có thể nghĩ sáng suốt, sâu xa về mọi việc đã xảy ra, tôi nghĩ đến Minotauros và có thể đi giết ông ta, nhưng rồi lại nghĩ điều đó chẳng ích gì và cũng chẳng đem lại niềm vui cho tôi. Rồi tôi nghĩ mình nên tiết lộ cho dân ở bến cảng về cái chết của thần Crete để họ cho lửa cháy và máu chảy trong thành phố, nhưng có lẽ việc đó cũng không mang lại niềm vui hay lợi ích gì cho tôi. Tôi còn nghĩ nếu kể sự thật, tôi sẽ cứu sống những ai đã và sắp ném xúc xắc để nhờ đó được bước vào nhà của thần, nhưng tôi biết sự thật chỉ là con dao trần trong tay một đứa trẻ và phản lại kẻ cầm nó.

Vì thế tôi nghĩ thần Crete không liên quan đến tôi, bởi tôi là người lạ và tôi sẽ không bao giờ có được Minea nữa, những loài giáp xác sẽ rỉa trắng bộ xương mảnh dẻ của nàng, để nàng vĩnh viễn nằm lại nơi đáy biển. Tôi nghĩ tất cả những điều này đã được ghi vào các vì sao trước ngày tôi chào đời và tôi được sinh ra vào lúc hoàng hôn của thế gian, khi thần linh chết đi và mọi thứ thay đổi trước khi năm thế giới này kết thúc và năm thế giới khác bắt đầu. Ý nghĩ này đã an ủi tôi và tôi nói điều đó với Kaptah rất nhiều lần, nhưng Kaptah nói tôi bị bệnh, bảo tôi nghỉ ngơi và không cho phép bất cứ ai gặp tôi nếu tôi muốn nói với họ những điều như thế.

Tôi quá ngán Kaptah trong những ngày này vì ông ấy liên tục ép tôi ăn dù tôi không đói và thấy chỉ uống rượu là đủ. Quả thật tôi liên tục thấy khát và chỉ rượu mới làm tôi khuây khỏa, vì tôi điềm tĩnh và hiểu biết nhất vào lúc rượu làm tôi nhìn một hóa hai. Khi đó tôi biết không gì giống như bề ngoài của nó, bởi vì khi uống rượu đủ say, người ta nhìn mọi thứ một thành hai và điều này đúng với anh ta mặc dù anh ta biết sự thật không phải thế. Nói cho cùng, theo tôi đây là bản chất của sự thật, nhưng khi tôi kiên nhẫn và bình tĩnh giải thích điều này với Kaptah, ông ấy không chịu nghe mà ép tôi nằm thẳng người ra và nhắm mắt lại để trấn tĩnh. Nhưng tôi thấy mình bình tĩnh và lạnh lùng như con cá chết trong hũ dầu và tôi không muốn nhắm mắt lại vì lúc đó tôi thấy những thứ khó chịu, chẳng hạn như xương người bị gặm nhấm đến trắng xóa và thối rữa trong nước và một Minea mà tôi biết trước đây đang nhảy một vũ điệu đòi hỏi tài nghệ điêu luyện trước con rắn đầu bò. Vì thế tôi không muốn nhắm mắt lại và gượng lấy gậy đánh Kaptah vì tôi đã quá chán, nhưng rượu khiến tay tôi quờ quạng nên ông ấy dễ dàng lấy gậy đi. Ông ấy còn giấu con dao đắt tiền tuyệt hảo mà viên cai đội cảng người Hittite đã tặng tôi, để tôi không thể tìm thấy.

Kaptah cũng rất cứng đầu, không chịu gọi Minotauros đến chỗ tôi, mặc dù tôi đã nhiều lần cương quyết bảo ông ấy rằng tôi muốn nói chuyện với Minotauros, rằng tôi cảm thấy như ông ta là người duy nhất trên thế giới có thể hoàn toàn hiểu tôi cũng như những ý nghĩ lớn lao của tôi về thần linh, về sự thật và những điều tưởng tượng. Kaptah cũng không mang cho tôi một cái đầu bò máu me để tôi có thể trò chuyện với nó về bò, về biển và các điệu nhảy trước bò. Ngay đến một yêu cầu nhỏ như vậy, ông ấy cũng không muốn đáp ứng, vì vậy tôi có lý do để phát chán ông ấy.

Về sau tôi hiểu được rằng lúc đó chắc tôi bị bệnh nên không nhớ lại được tất cả những ý nghĩ trong đầu, bởi vì rượu đã làm tôi bối rối và làm nhiễu trí nhớ tôi. Tuy nhiên tôi tin rượu ngon đã cứu tôi khỏi mất trí và giúp tôi vượt qua giai đoạn tồi tệ nhất khi vĩnh viễn mất Minea cũng như đức tin vào thần linh và lòng tốt của con người. Vì thế mỗi khi ai đó đến gặp tôi đầu đầy tro bụi và quần áo tả tơi, tôi luôn nói: “Không có nỗi đau nào mà rượu không xoa dịu được. Không có rủi ro nào mà rượu không giúp vượt qua. Không có mất mát nào mà rượu không an ủi được. Vậy nên hãy uống rượu, để nỗi buồn chìm trong rượu như chuột trong chảo dầu, và đừng lo lắng cả khi bạn cảm thấy rượu có vị đắng trong miệng lúc ban đầu vì vị của nó càng ngon khi uống càng nhiều và chẳng mấy chốc nỗi buồn của bạn sẽ như một đám mây bồng bềnh trên bầu trời”.

Còn nếu ai đó đến gặp tôi với vòng hoa trên đầu và quanh cổ, người xoa dầu đắt tiền và ăn vận quần áo đẹp nhất với nước mắt hạnh phúc trong khóe mắt, tôi sẽ nói: “Hãy cẩn thận với niềm vui quá khích, bạn của tôi ạ, vì niềm vui nguy hiểm hơn nỗi buồn và bất hạnh; niềm vui trong bạn giống như con rắn, nhìn thật đẹp và long lanh trong ánh sáng nhưng nó rót chất độc chết người vào tĩnh mạch bạn. Hãy coi chừng niềm vui, bạn ạ, và hãy dìm nó vào rượu, đừng ngần ngại, vì không niềm vui nào mà rượu không thể nhấn chìm, dù nó làm cho niềm vui của bạn thành rồ dại lúc đầu và để lại trong miệng bạn vị ngọt ngon, bởi vì càng uống, miệng bạn sẽ càng đắng, cho đến khi niềm vui của bạn chỉ như một mớ giẻ rách trên cát khô, và điều đó thật tốt, vì niềm vui là món quà xảo trá nhất với con người và những điều tưởng tượng dùng nó để dụ dỗ anh ta”.

Thế là rượu đã khiến điều gì đó vỡ vụn trong tôi, giống như cậu bé trong tôi đã mất đi điều gì đó khi nhìn thấy giáo sĩ Amon nhổ nước bọt lên mặt của thần và lau mặt thần bằng ống tay áo trong thánh đường linh thiêng nhất. Dòng đời tôi như ngừng trôi và vỡ vụn xuống một cái ao rộng, nhìn trên bề mặt thì đẹp, phản chiếu bầu trời và các vì sao, nhưng nếu cắm gậy của mình xuống đó, bạn sẽ thấy nước cạn, đáy đầy xác và bùn.

Rồi đến một buổi sáng khi tỉnh dậy ở nhà trọ, tôi thấy Kaptah đang ngồi trong góc phòng tôi, tay ôm đầu, lắc lắc và khóc thút thít. Tôi đưa tay run run nghiêng hũ rượu, nhưng uống rồi, tôi bực bội hỏi:

- Ngươi khóc cái gì vậy, con chó kia?

Đây là lần đầu tiên tôi chịu nói với ông ấy sau nhiều ngày, vì đã quá chán với sự chăm sóc và đầu óc ngu ngốc của ông.

Ông ấy ngẩng đầu lên, đáp:

- Ở bến cảng có một con thuyền sắp rời đi Syria và có thể đây là chiếc cuối cùng rời đi trước những cơn bão mùa đông tồi tệ nhất, thế nên tôi khóc.

Tôi liền quát:

- Vậy hãy xéo lên thuyền của ngươi đi, trước khi ta lại nện cho mấy gậy để khỏi phải nhìn bộ mặt méo xệch và nghe tiếng lải nhải, lè nhè muôn thuở của ngươi.

Nhưng sau khi nói thế, tôi tự thấy xấu hổ và để hũ rượu sang bên, một ý nghĩ chua chát đã an ủi tôi rằng trên thế gian có ít nhất một người phụ thuộc vào tôi, mặc dù ông ấy chỉ là một nô lệ bỏ trốn.

Nhưng Kaptah nói:

- Ông chủ của tôi ạ, quả thật tôi cũng phát ngán phải nhìn ông nốc rượu và ụt ịt như lợn đến nỗi rượu đã mất hết vị trong miệng tôi, điều mà tôi không bao giờ tin được, thậm chí tôi không thèm lấy ống hút bia từ vò nữa. Người chết thì đã chết và sẽ không bao giờ trở về, vì vậy tôi nghĩ tốt nhất chúng ta nên rời khỏi đây càng nhanh càng tốt. Vàng bạc và những thứ ông thu được trong chuyến đi của mình, ông đã ném qua cửa sổ xuống rãnh và tôi không tin ông còn có thể chữa bệnh cho bất cứ ai với bàn tay run rẩy của mình, khi mà đến hũ rượu ông cũng không cầm nổi. Tôi phải thừa nhận rằng lúc đầu tôi nghĩ thật tốt khi ông uống chút rượu để bình tâm lại; tôi khuyến khích ông uống, mở tiếp nắp các hũ rượu mới và tôi cũng uống. Tôi cũng khoe khoang với mọi người: “Hãy nhìn xem tôi có ông chủ tuyệt vời như thế nào! Ông ta uống như một con hà mã, dìm vàng, bạc vào rượu và lấy đó làm vui”. Nhưng tôi không còn hãnh diện nữa, mà xấu hổ thay chủ của mình, vì mọi thứ đều có giới hạn của nó, và tôi nghĩ ông chủ lúc nào cũng làm quá lên trong mọi chuyện. Tôi không bao giờ lên án một người đàn ông uống đến say mềm và đánh lộn nơi góc phố, đầu bị sưng vù và tỉnh dậy trong nhà vui bởi vì đây là cái cách thông thường để xua bớt những nỗi niềm đau khổ mà bản thân tôi thường làm. Nhưng phải chữa thói say xỉn dần dần bằng bia và cá muối, làm việc trở lại như thần linh đã sai khiến và như tập tục tốt đòi hỏi. Thay vào đó, ông uống như thể mỗi ngày là ngày cuối cùng; tôi sợ ông uống để chết, mà nếu ông muốn thế, thà ông chết chìm trong bể rượu, bởi vì cách này nhanh hơn, dễ chịu hơn và không mang lại sự xấu hổ cho ông.

Tôi nghĩ về những điều ông ấy nói và nhìn vào đôi tay mình, vốn là đôi tay của một thầy thuốc nhưng bây giờ run rẩy như thể chúng có ý muốn riêng mà tôi không thể điều khiển được nữa. Tôi cũng nghĩ về tất cả tri thức đã học hỏi được ở nhiều vương quốc và hiểu rằng sự cường điệu thật vô nghĩa, và rằng thật xuẩn ngốc khi quá đà trong ăn và uống cũng như trong nỗi buồn và niềm vui. Vì vậy, tôi nói với Kaptah:

- Được rồi, cứ cho là ngươi nói đúng, nhưng ngươi phải biết rằng ta hiểu rất rõ tất cả những gì ngươi vừa nói và lời nói của ngươi không hề tác động đến quyết định của ta, mà giống như tiếng ruồi vo ve khó chịu trong tai ta. Nhưng bây giờ ta sẽ ngừng uống và sẽ không mở hũ rượu nào khác trong một thời gian dài vì ta đã thật hiểu mình, ta dự định rời khỏi Crete, trở về Simyra.

Nghe thế, Kaptah reo lên rồi vừa cười vừa nhảy cẫng lên, hai chân giẫm xuống sàn theo thói quen của nô lệ, nhưng tôi nói tiếp:

- Chuyến đi này thực sự hữu ích cho ta, bởi vì trên hòn đảo giữa biển này ta đã rũ bỏ được trách nhiệm của mình với thần linh và ta không còn nợ họ bất cứ điều gì, cũng như thần linh không nợ gì ta hết, mặc dù có lẽ ta không nên công khai nói điều đó bởi vì mọi người sẽ lên án và coi lời nói của ta là một sự sỉ nhục. Do đó, ta dự định để cho mỗi người được cứu rỗi theo đức tin của chính họ mà không dính dáng đến việc của thần linh nữa, dù là người Ai Cập hay Crete, Babylon hay Hittite, những người mà ta nghĩ vẫn sẽ tiếp tục dạy cho các dân tộc khác về quyền lực và ý nghĩa của các vị thần. Ta sẽ tự mình đi đến Simyra và dự định đi trên mọi con đường mở ra cho ta mà không quan tâm nó dẫn đến đâu. Có lẽ rốt cuộc sự sống tốt hơn cái chết và người sống quan trọng hơn thần linh đã chết, mặc dù chắc ta chưa thể nói được điều đó trước khi có trải nghiệm về cái chết. Tuy nhiên, ta nghĩ cái chết không kỳ lạ hơn một vài tuần say xỉn, nên ta cho là mình đã trải qua cái chết. Vậy nên, ngươi hãy mau đặt chỗ cho chúng ta trên thuyền, thu gom đồ đạc còn lại và giúp ta lên thuyền, bởi ta chưa hoàn toàn tin vào đôi chân của mình, chúng giống như những vật xa lạ và mỗi chân bước theo một hướng khác nhau.

Nhưng trước khi ông ấy kịp đi trong niềm vui khôn xiết, tôi lại nói thêm:

- Trong bất cứ hoàn cảnh nào, ngươi cũng không bao giờ được nói đến cái tên Minea để ta nghe thấy, tên đó đã bị lãng quên và bị xóa sổ, như thể nó chưa từng tồn tại. Ta không đòi hỏi bất kỳ ánh sáng hay lời hứa nào của ngươi về điều này vì chúng chỉ là tiếng ruồi vo ve, nhưng ta cam đoan với ngươi rằng nếu ngươi thốt ra cái tên đó một lần từ miệng mình, ta sẽ bán ngươi cho mỏ đá hoặc mỏ đồng và tiết lộ ngươi là một nô lệ bỏ trốn. Hãy ghi nhớ điều đó, Kaptah, vì ta chưa bao giờ nói với ngươi những lời thật hơn.

Kaptah không nói gì mà bỏ đi và chúng tôi lên thuyền ngay hôm đó. Các tay chèo thả mái chèo xuống nước và chèo thuyền ra khỏi bến cảng, vượt qua hàng chục, hàng trăm ghe thuyền và cả các thuyền chiến bọc đồng của Crete. Ra khỏi bến cảng, các tay chèo rút mái chèo lên, thuyền trưởng dâng lễ cúng thần biển trong cabin của mình và ra lệnh cho kéo buồm lên. Thuyền tròng trành và sóng vỗ xoàm xoạp lên mạn thuyền. Chúng tôi dong buồm về phía bờ biển Syria khi Crete mờ dần phía sau chúng tôi như một đám mây xanh, một cái bóng hay một giấc mơ và xung quanh chúng tôi chỉ còn những con sóng dập dềnh, bát ngát.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của mika waltari