Người Ai Cập, Quyền lực và Tình yêu

Lượt đọc: 609 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sách thứ chín
Quán đuôi cá sấu
att

❖ 1 ❖

Vậy là sau ba năm phiêu bạt trên nhiều miền đất để thu thập tin tức cả tốt lẫn xấu, tôi trở lại Simyra khi đã vào tuổi trung niên chứ không còn là thanh niên trai trẻ. Gió biển thổi bay hơi rượu khỏi đầu tôi, làm mắt tôi sáng trở lại và cơ thể phục hồi, nên tôi đã ăn uống bình thường như những người khác, dù tôi không còn nói nhiều như họ mà thậm chí còn cô đơn hơn trước. Tất nhiên cô đơn là một phần của tuổi trưởng thành nếu điều đó đã được định trước, nhưng tôi đã cô đơn từ khi còn nhỏ và là người xa lạ trên thế gian từ sau khi chiếc thuyền sậy đưa tôi tấp vào bờ sông Nile, nên tôi không cần phải làm quen với điều đó như nhiều người khác mà cô đơn như là nhà và giường với tôi trong đêm tối.

Nhưng khi đứng nơi mũi thuyền trên biển xanh dập dềnh xung quanh mình và gió biển thổi bay mọi suy nghĩ phù phiếm hư vô, tôi vẫn thấy ở nơi xa xăm nào đó đôi mắt sáng như ánh trăng trên biển, nghe tiếng cười lạ thường của Minea từ rất xa và thấy nàng đang nhảy múa trên nền đất bên những con đường Babylon, xiêm áo mỏng tang, trẻ trung và mềm dẻo như cây sậy non. Hình bóng nàng không còn đem lại cho tôi nỗi buồn hay sự dằn vặt mà trong tâm trí tôi, nàng chỉ còn lại như một nỗi đau ngọt ngào con người ta cảm thấy mỗi sáng mai thức dậy khi nhớ về giấc mơ đẹp hơn cuộc đời đêm qua. Vì vậy, khi nghĩ về nàng, tôi mừng vì đã được gặp nàng và không muốn từ bỏ bất cứ khoảnh khắc nào từng được ở bên nàng mà chỉ biết tôi không thể như tôi lúc này nếu như không gặp nàng. Biểu tượng gắn ở mũi thuyền có khuôn mặt phụ nữ dù chỉ là gỗ lạnh và được sơn; đối mặt với gió ở cạnh nó, tôi cảm thấy sức đàn ông trong tôi tràn đầy, mạnh mẽ và biết rằng trong đời mình tôi sẽ vẫn còn vui với nhiều phụ nữ, bởi người cô đơn mà đêm nào cũng đơn chiếc thì thật lạnh lẽo. Nhưng tôi tin rằng đối với tôi, tất cả những người đàn bà khác chỉ là gỗ lạnh và sơn vẽ; khi ôm họ trong bóng tối, tôi sẽ chỉ tìm Minea trong họ; đôi mắt sáng như ánh trăng, hơi ấm của thân hình mảnh dẻ, mùi hương cây bách của làn da đều chỉ khiến tôi nhớ đến Minea. Tôi nói lời từ biệt với Minea như vậy ở mũi thuyền.

Hành trình của chúng tôi thật khó khăn vì gió thổi mạnh và thuyền phải chạy vát để tránh ngược gió nên không ngừng lắc lư, những con sóng ầm ầm như những ngọn núi đập vào hai bên mạn thuyền. Vì thế, những bùa chú không còn giúp ích cho Kaptah, mặc dù ông ấy đã buộc chặt dây quanh bụng nhiều vòng; cả bọ hung cũng không giúp được, nên ông cho thần biển hết mọi thứ, nhịn ăn vì thần và ước giá như mình không được sinh ra trên thế gian này. Nhưng ông ấy không còn sợ chết như trước nữa mà cố tự an ủi trong sự khốn khổ của mình, vì ông biết mình sẽ khỏe lại ngay sau khi đặt chân lên đất liền, dù ông ấy nói không thể nào tin được nếu trước đây chưa trải qua.

Vì thế khi chúng tôi đặt được chân lên đất Simyra, ông ấy úp mặt xuống đất rồi vừa chà miệng vào những tảng đá ở cầu cảng vừa khóc và thề với bọ hung rằng ông sẽ không bao giờ bước chân lên thuyền nữa. Tâm trí tôi cũng tràn ngập niềm vui khi nhìn thấy những con hẻm chật chội và những ngôi nhà cao của Simyra, trang phục của người đi trên phố, những con chó sắp chết và những đàn ruồi bu quanh giỏ cá, vì tôi đã sống ở Simyra trong hai năm, thành phố trở nên thân thuộc với tôi và là nơi tôi có được những thành công đầu tiên khi làm thầy thuốc chữa bệnh cho nhiều người.

Nhà tôi ở Simyra vẫn ở nguyên chỗ cũ, mặc dù kẻ trộm đã phá cửa sổ và vào lấy đi tất cả những đồ đạc đáng giá mà tôi đã không gửi vào kho của thương điếm khi ra đi. Vì tôi đi vắng quá lâu nên hàng xóm đã bắt đầu dùng khoảng trống trước nhà tôi để làm chỗ đổ rác và phóng uế, vì vậy mùi hôi thối bốc lên thật kinh khủng và lũ chuột chạy dọc nền nhà khi tôi bước vào phòng, quơ mạng nhện nơi ô cửa. Hàng xóm không vui khi thấy tôi, quay lưng đóng sầm cửa trước mặt tôi và nói với nhau: “Anh ta là người Ai Cập và tất cả sự xấu xa đến từ Ai Cập”. Vậy nên lúc đầu tôi ở nhà trọ để cho Kaptah dọn xong nhà rồi mới chuyển về và tôi đến các thương điếm mà tôi đã đầu tư tài sản của mình. Sau ba năm phiêu bạt, tôi nghèo khó trở về Simyra, không những mất hết tài sản tôi có được khi chữa bệnh mà còn mất cả số vàng Horemheb đã đưa cho tôi, phần lớn số đó buộc phải đưa cho các giáo sĩ Babylon để cứu Minea.

Những chủ thuyền giàu có ở các thương điếm vô cùng ngạc nhiên khi thấy tôi và họ bối rối, lo lắng cào cào râu, vì nghĩ rằng đã có được tài sản của tôi khi tôi vắng quá lâu. Tuy nhiên, họ vẫn rất trung thực xem xét việc của tôi và dù tôi đã mất cổ phần của mình vào một số thuyền gặp nạn trên biển, song những thuyền khác đã thu được rất nhiều lợi nhuận nên khi tính gộp lại, hóa ra khi trở về tôi còn giàu hơn so với lúc tôi rời đi và tôi không cần lo lắng đến sinh kế của mình ở Simyra.

Các bạn chủ thuyền của tôi đã mời tôi đến văn phòng của họ, đãi tôi rượu, bánh mật ong và lúng túng phân trần với tôi: “Sinuhe, thầy thuốc của chúng tôi, anh là bạn tốt của chúng tôi nhưng anh là người Ai Cập, và cho dù chúng tôi vui lòng buôn bán với Ai Cập, chúng tôi không hề thoải mái thấy dân Ai Cập cư ngụ nơi góc phố của chúng tôi, vì người dân than phiền rằng họ khổ sở vô cùng với những khoản sưu thuế phải nộp cho Pharaon. Chúng tôi không biết những việc như vậy bắt đầu từ đâu, nhưng quả thật người Ai Cập đã bị ném đá trên đường phố, đền thờ của họ bị ném lợn chết vào và mọi người không muốn xuất hiện trên đường phố với người Ai Cập. Sinuhe ạ, anh là bạn chúng tôi và chúng tôi rất kính trọng anh vì tài chữa bệnh của anh mà chúng tôi vẫn nhớ. Vì thế chúng tôi kể với anh tất cả những điều này để anh biết mà đề phòng và hành xử cho thích hợp”.

Những điều họ nói khiến tôi hết sức kinh ngạc, vì trước khi tôi đi, người Simyra đua nhau kết bạn với người Ai Cập và mời họ đến nhà, và nếu ở Thebes người ta bắt chước tập quán Syria thì ở Simyra người ta cũng học theo phong tục Ai Cập. Tuy nhiên, Kaptah công nhận lời họ nói, ông trở về nhà trọ đầy uất ức:

- Chắc chắn quỷ dữ đã chui vào người bọn Simyra qua lỗ đít, vì chúng cư xử như những con chó điên, vờ như không biết nói tiếng Ai Cập lưu loát và đuổi tôi khỏi tiệm bia mà tôi rẽ vào khi họng tôi khô khốc sau tất cả những việc ông bắt tôi làm, ông chủ ạ. Họ đã đuổi tôi ra khi phát hiện tôi là người Ai Cập rồi gào lên những từ xấu xa sau lưng tôi và bọn trẻ con ném cứt lừa vào tôi. Do vậy tôi đã khôn ngoan hơn khi đến tiệm bia khác, vì quả thật cổ họng tôi khô như bịch rơm và tôi thèm thứ bia mạnh Syria ghê gớm. Tôi không nói gì ở đấy, mặc dù điều đó rất khó đối với tôi, như ông quá biết, lưỡi tôi giống như con vật hiếu động, không bao giờ chịu nằm yên một chỗ. Dù vậy, tôi đã khôn ngoan hơn, không nói lời nào mà chỉ lẳng lặng cắm ống hút của mình vào vò bia cùng với những người khác và lắng nghe họ nói. Họ nói rằng vào ngày xửa xưa, Simyra vốn là một thành phố tự do không phải nộp sưu cho bất kỳ ai, nên họ không muốn con mình sinh ra làm nô lệ cho Pharaon nữa. Các thành phố khác của Syria cũng được tự do, do đó phải đập vỡ sọ và đuổi tất cả người Ai Cập ra khỏi các thành phố của Syria, đó là nhiệm vụ của tất cả những ai yêu tự do và thấy chán sống cuộc đời nô lệ của Pharaon. Họ nói những điều ngu ngốc như vậy, mặc dù ai cũng biết rằng Ai Cập chỉ bảo vệ Syria vì lợi ích của chính Syria chứ đâu được lợi lộc gì nhiều; người Ai Cập chỉ quên mình bảo vệ người Syria khỏi đánh nhau, vì nếu để họ tự cai quản, các thành phố Syria sẽ như lũ mèo hoang trong bao tải, sẽ tranh cãi, gây chiến và cấu xé nhau khiến việc chăn nuôi, trồng trọt cũng như buôn bán bị thiệt hại nghiêm trọng. Điều này người Ai Cập ai cũng biết, vì mỗi đứa trẻ đều được dạy như vậy ở trường, mặc dù tôi không được đến trường mà chỉ ngồi ở cổng trường chờ thằng con trai hư hỏng của một trong những ông chủ cũ của tôi, đứa luôn đá vào chân tôi và đâm cây bút viết vào những chỗ hiểm của tôi. Tôi không muốn kể với ông chuyện này mà chỉ nhắc lại những gì tôi nghe được ở quán bia, vì những người Syria ở đó ngạo mạn về sức mạnh của mình, họ nói về liên minh giữa các thành phố của Syria, khiến người Ai Cập là tôi phát ngán với điều họ nói nên đã bỏ đi khi chủ quán không để ý, bỏ bia lại không trả tiền và bẻ gãy ống hút bia của mình.

Tôi không cần đi lại nhiều trong thành phố mới thấy những gì Kaptah nói là thật. Thực ra tôi không bị đánh đuổi vì tôi đã học cách mặc quần áo Syria, nhưng những người quen biết tôi trước đây quay mặt đi khi nhìn thấy tôi và người Ai Cập đi lại trong thành phố đều có người đi theo bảo vệ, dù thế họ vẫn bị chế nhạo, bị ném trái cây thối và cá chết vào người. Song tôi không coi những điều này là quá nguy hiểm, vì người Simyra có lẽ bực tức với các loại thuế mới và tình trạng hỗn loạn như vậy thường qua đi rất nhanh, vì Syria cũng được hưởng lợi từ Ai Cập như Ai Cập nhận được từ Syria và tôi không tin rằng các thành phố ven biển sẽ tồn tại được lâu nếu không có ngũ cốc của Ai Cập.

Vì vậy tôi đã cho sửa sang lại nhà mình và tiếp nhận người bệnh, chữa cho họ như trước và bệnh nhân đã tìm đến tôi như xưa sau khi biết tin tôi trở về, bởi bệnh tật và đau đớn không gặng hỏi tộc tính mà chỉ cần tài năng của thầy thuốc. Tuy nhiên, bệnh nhân thường tranh cãi với tôi:

- Ông là người Ai Cập, ông nói xem, Ai Cập thu thuế và hưởng lợi từ chúng tôi, như đỉa béo mầm hút máu từ sự nghèo khó của chúng tôi, vậy là đúng ư? Cả quân đồn trú Ai Cập đóng trong thành phố cũng là một sự ô nhục đối với chúng tôi, vì chúng tôi có thể tự mình duy trì trật tự trong thành phố và chống lại được kẻ thù của mình, nếu người ta cho chúng tôi cơ hội để làm điều đó. Chúng tôi không được xây dựng lại các bức tường và sửa chữa các tháp của mình, điều đó thật không đúng một khi chúng tôi muốn và đồng ý trả tiền cho việc này. Vua quan của chúng tôi cũng có thể trị vì chúng tôi tốt và đúng, không cần người Ai Cập can thiệp vào việc đăng quang của quốc vương chúng tôi hay việc thực thi pháp luật của chúng tôi. Thề có thần Baal, không có người Ai Cập, chúng tôi sẽ thành công và thịnh vượng, nhưng người Ai Cập như bầy châu chấu trên cổ chúng tôi và Pharaon của các ông cố tình bắt chúng tôi nhận thần mới khiến chúng tôi mất đi sự ưu ái dành cho các thần của mình.

Tôi không muốn tranh luận với họ, nhưng vẫn nói:

- Các ông xây tường và tháp chống lại ai, nếu không phải Ai Cập? Quả là vào thời cụ kỵ tổ tiên của các ông, có lẽ thành phố tự do trong các tường thành của mình, nhưng các ông đã đổ máu và trở nên khánh kiệt trong vô số cuộc chiến với các nước lân bang mà cho đến bây giờ các ông vẫn còn căm thù, còn các quốc vương của các ông thì chuyên quyền, khiến người giàu cũng như kẻ nghèo khó mà được an toàn với họ. Bây giờ khiên đao, giáo mác của Ai Cập bảo vệ các ông trước kẻ thù và luật pháp Ai Cập bảo đảm công lý cho cả người giàu lẫn người nghèo.

Nhưng họ đã nổi nóng, mắt bắt đầu long lên hằn tia máu, cánh mũi phập phồng và họ nói:

- Tất cả luật pháp của Ai Cập đều là cứt, và thần linh Ai Cập là những thứ kinh tởm với chúng tôi. Nếu các quốc vương của chúng tôi hành xử độc đoán và sai trái, điều mà chúng tôi không tin vì đó chỉ là lời dối trá của Ai Cập để chúng tôi quên đi tự do, họ vẫn là quốc vương của chính chúng tôi và tim chúng tôi mách bảo rằng sự bất chính trong một xứ sở tự do còn tốt hơn công lý ở một vương quốc nô lệ.

Tôi vặc lại họ:

- Tôi không thấy ở các ông những dấu hiệu của kẻ nô lệ mà trái lại các ông phát phì và luôn miệng khoe khoang đã giàu lên từ sự ngu dốt của Ai Cập. Nhưng nếu các ông tự do, có lẽ các ông sẽ cướp thuyền bè của nhau, chặt phá vườn tược, cây trái của nhau và tính mạng các ông không còn an toàn khi đi vào sâu trong đất liền.

Nhưng họ không nghe tôi mà quăng quà của mình ra trước mặt tôi và vừa bỏ đi vừa nói:

- Trong tim mình, ông là người Ai Cập, mặc dù ông mặc quần áo Syria. Mỗi người Ai Cập là một kẻ áp bức và bất lương, người Ai Cập tốt bụng luôn luôn là người Ai Cập đã chết.

Nghe những điều ấy, tôi không còn ưa Simyra nữa mà bắt đầu thu gom của cải còn lại của mình và chuẩn bị rời khỏi đây để trở về Ai Cập, vì tôi đã hứa sẽ gặp Horemheb và kể cho anh ấy những gì mình đã thấy ở các miền đất tôi đến. Tuy nhiên, khi nghĩ mình sẽ lại được uống nước sông Nile, một cảm giác lạ lùng chế ngự trong tim, nên tôi không vội đi ngay.

Một buổi tối, khi tôi trở về từ đền thờ Ishtar, nơi tôi thỉnh thoảng đến như kẻ đang khát cần nước uống mà không quan tâm nước từ giếng nào, mấy người đàn ông từ phía tường thành đi lại phía tôi và nói với nhau: “Không phải gã kia là người Ai Cập à? Chả lẽ chúng ta để cho một kẻ đã cắt bao quy đầu ăn nằm với các trinh nữ của chúng ta và làm mất uy tín đền thờ của chúng ta?”.

- Tốt hơn nên gọi trinh nữ của các anh bằng một cái tên khác, - tôi nói. - Họ không nhìn người đàn ông qua bề ngoài hay tộc tính mà cân đong niềm vui của mình bằng số vàng người đó có trong ví, và tôi không chê trách họ về điều đó, vì bản thân tôi đã vui vẻ cùng họ và tôi sẽ tiếp tục bất cứ khi nào tôi muốn.

Nghe thế, chúng kéo áo choàng lên che mặt rồi lao đến, quật tôi xuống đất và đập đầu tôi vào tường cho đến khi tôi nghĩ mình sắp chết đến nơi. Nhưng khi chúng bắt đầu trấn lột và kéo quần áo của tôi ra để ném xác tôi xuống cảng, một trong số chúng nhìn rõ mặt tôi và hỏi:

- Đây không phải là Sinuhe, danh y Ai Cập và là bạn của vua Aziru ư?

Tôi nhận mình là Sinuhe và nói tôi sẽ giết chúng và ném xác chúng cho chó, vì đầu tôi đau nhức vô cùng và tôi rất tức giận nên không nghĩ gì đến sợ hãi. Khi ấy chúng buông tôi ra, trả lại quần áo cho tôi và vừa bỏ chạy vừa kéo áo choàng lên che mặt. Tôi hoàn toàn không hiểu tại sao chúng làm như thế, vì chúng không có lý do gì để sợ những lời đe dọa của tôi khi tôi thật sự bất lực trong tay chúng.

❖ 2 ❖

Vài ngày sau, một tín sứ cưỡi ngựa đến trước nhà tôi, một hình ảnh hiếm gặp, vì người Ai Cập không bao giờ ngồi lên lưng ngựa và người Syria cũng rất ít khi, chỉ lũ cướp vô học ở vùng hoang mạc mới cưỡi ngựa. Ngựa là loài vật cao lớn và hung dữ, nó đá và húc, hất bất kỳ ai cố trèo lên lưng và cưỡi nó, khác hẳn lừa vốn quen chịu tất cả. Những con ngựa được thắng vào trước cỗ xe cũng trở nên đáng sợ và chỉ những chiến binh đã qua huấn luyện mới biết điều khiển chúng bằng cách đút ngón tay vào lỗ mũi chúng. Dù thế nào, người đàn ông này cũng đang cưỡi trên lưng ngựa đến trước nhà tôi, thân con ngựa ướt đẫm, miệng rỉ máu và nó thở phì phì rất đáng sợ. Qua quần áo của người đàn ông, tôi nhận ra anh ta đến từ núi cừu và nhìn nét mặt, tôi đoán anh ta đang rất hoảng sợ.

Viên tín sứ nhào đến chỗ tôi vội đến mức không kịp cúi đầu trước tôi mà đặt tay lên trán để chào và hoảng hốt kêu lên:

- Hãy sai lấy kiệu của ông đi, danh y Sinuhe, đi theo tôi nhanh lên vì tôi từ xứ Amori đến và vua Aziru sai tôi đến đón ông. Con trai ngài bị bệnh mà không ai biết bệnh gì, nhà vua gầm gào như sư tử nơi rừng hoang và nói sẽ cắt chân tay ai đến gần ngài. Vì thế, hãy lấy tráp thuốc của ông và đi theo tôi nhanh lên, nếu không tôi sẽ cắt cổ ông và lấy chân đá đầu ông trên đường phố.

- Quốc vương của anh khó dùng được đầu của tôi, vì không có đôi tay thì đầu tôi không thể chữa cho ai được, - tôi nói với anh ta. - Nhưng tôi bỏ qua cho sự hồ đồ của anh và đi theo anh. Không phải vì tôi sợ những lời đe dọa của anh, mà vì vua Aziru là bạn tôi và tôi muốn giúp ngài.

Tôi bảo Kaptah gọi kiệu và vui vẻ theo viên tín sứ, vì tôi đang cô đơn đến nỗi chỉ mong được gặp Aziru, người mà tôi đã từng lấy vàng bọc răng cho. Nhưng tôi chẳng vui được lâu, vì khi đến đầu hẻm núi, tôi bị nhấc sang một chiến xa cùng với tráp đồ nghề, những con ngựa hoang dã hồng hộc kéo xe đi dọc theo triền núi đá và vượt qua đèo dốc khiến tôi nghĩ các bộ phận trên cơ thể mình bị nghiền nát nhừ và tôi thét lên vì sợ hãi, còn người hộ tống tôi bị bỏ lại đằng sau trên lưng con ngựa mệt mỏi của anh ta và tôi mong anh ta sẽ ngã gãy cổ.

Đến sau dãy núi, người ta quẳng tôi cùng với tráp đồ nghề từ cỗ chiến xa này sang cỗ xe khác và được những con ngựa sung sức kéo, khiến tôi không còn biết mình đứng bằng chân hay bằng đầu và tôi không thể làm gì khác hơn là hét lên với những người đánh xe: “Lũ chết tiệt, lũ thối tha, lũ bẩn thỉu!” và nắm chặt tay đấm vào lưng họ khi đến đoạn đường bằng phẳng hơn và tôi dám bỏ tay nắm khỏi hai bên thành xe. Nhưng họ không thèm để ý mà chỉ kéo dây cương và quất mạnh roi khiến chiếc xe ngựa chồm chồm qua những tảng đá và lúc ấy tôi nghĩ bánh xe sẽ bị rơi ra.

Theo cách đó, hành trình đến xứ Amori không mất nhiều thời gian, và chúng tôi đã đến một thành phố với những bức tường cao mới xây bao quanh trước khi mặt trời lặn. Quân lính vác khiên đao đi lại trên tường thành nhưng cổng thành đã được mở sẵn cho chúng tôi và chiến xa phóng qua thành phố giữa tiếng lừa kêu, tiếng la hét của đám đàn bà và trẻ em, những giỏ trái cây bị bắn lên không trung và vô số nồi, vò bị nghiền nát dưới bánh xe, vì người đánh xe không thèm để ý xe đè lên ai và những gì. Khi được nhấc ra khỏi xe ngựa, tôi không thể bước được nữa mà chỉ lảo đảo trên đôi chân như kẻ say, buộc các tay xà ích phải xốc nách và đưa tôi vào nhà Aziru, còn lũ nô lệ bê tráp thuốc đi theo phía sau tôi. Nhưng chúng tôi mới chỉ vừa đến phòng chờ treo đầy khiên, áo giáp che chắn ngực, giáo cắm lông và đuôi sư tử, Aziru đã xông ra đâm sầm vào tôi, miệng gầm vang như con voi bị thương. Anh ta đã xé quần áo mình, làm tóc dính đầy tro và còn lấy móng tay cào mặt khiến da mặt bị xước và rỉ máu.

- Các ngươi đã nán lại ở đâu, quân chết tiệt, đồ ăn hại, lũ ốc sên, - anh ta gầm lên và giật giật bộ râu xoăn tít, khiến những dải ruy băng vàng buộc râu lóe lên như chớp. Anh ta đấm những tay xà ích đang dìu tôi vào và gầm gừ như thú dữ:

- Các ngươi chần chừ ở đâu, lũ đầy tớ chết tiệt, khi con trai ta sắp chết?

Các tay xà ích vội thanh minh:

- Bẩm quốc vương, bề tôi đã bắt bầy ngựa phóng nhanh đến đứt hơi và lao qua những ngọn núi nhanh hơn chim bay. Công lao lớn nhất ở đây thuộc về danh y mà bề tôi đã đón được vì ông ta sùng sục muốn nhanh đến để chữa cho con trai quốc vương, ông ta gào thét khích lệ khi bề tôi mệt mỏi và đấm vào lưng bề tôi khi xe bị chậm lại, điều mà bề tôi không bao giờ tin người Ai Cập sẽ làm và bề tôi nghĩ chưa bao giờ có ai vượt qua quãng đường từ Simyra đến Amori trong một thời gian ngắn như vậy.

Khi ấy Aziru ôm chặt lấy tôi, vừa khóc vừa nói:

- Hãy chữa lành cho con trai tôi nhé, Sinuhe, chữa lành cho nó, tất cả những gì của tôi cũng sẽ là của anh.

Nhưng tôi nói với anh ta:

- Trước tiên hãy đưa tôi đến chỗ con trai anh, lúc đó tôi mới biết có thể chữa được không.

Anh ta vội vàng dẫn tôi đến một phòng lớn, nơi chậu than đang bốc lên hừng hực dù đang là mùa hè, khiến trong phòng nóng bức và ngột ngạt đến tức thở. Ở giữa sàn có một cái nôi và trong nôi, đứa bé chừng chưa đầy tuổi trong bộ đồ len đang gào khóc và la hét. Nó gào khóc đến tím tái mặt mũi và mồ hôi đọng từng giọt trên má; mái tóc nó đen và dày giống cha dù vẫn còn rất nhỏ. Tôi nhìn thằng bé và thấy nó không có bệnh gì nguy hiểm cho lắm vì nếu sắp chết, nó không thể gào lên điên cuồng như vậy. Tôi cũng nhìn xung quanh và thấy trên sàn, bên cạnh cái nôi là Keftiu, thiếu phụ mà tôi đã tặng cho Aziru làm vợ, cô ta béo và trắng hơn trước nhiều, da thịt bóng mượt rung rinh khi cô ta buồn bã đập trán mình lên sàn nhà và gào rên, khóc lóc. Từ góc phòng vang lên tiếng hét và khóc của một đám nô lệ và vú nuôi với những vết bầm tím trên mặt vì bị Aziru đánh khi họ không thể giúp con trai anh ta.

- Đừng lo, Aziru, - tôi nói. - Con trai anh sẽ không chết, nhưng tôi muốn rửa ráy cho cậu bé trước khi thăm khám. Có điều hãy cất cái chậu than đáng nguyền rủa kia đi, nếu không chúng ta sẽ ngạt thở ở đây.

Lúc đó, Keftiu đột nhiên ngẩng đầu lên khỏi sàn và sợ hãi nói:

- Thằng bé có thể bị cảm lạnh.

Nhưng sau đó cô ta nhìn tôi một lúc lâu rồi mỉm cười, ngồi dậy sửa tóc và váy áo, rồi lại mỉm cười và hỏi:

- Sinuhe, có phải anh không?

Nhưng Aziru vặn vẹo đôi tay và bảo:

- Thằng bé không ăn mà nôn ngay ra những gì ăn vào, người nó nóng và nó gần như không ăn gì trong ba ngày mà chỉ khóc, khiến tim tôi quặn thắt khi nghe tiếng hét gào của nó.

Tôi bảo anh ta đuổi vú nuôi và nô lệ ra khỏi phòng, anh ta ngoan ngoãn làm theo, quên hẳn mình là vua. Rửa ráy cho thằng bé xong, tôi cởi quần áo len của nó ra rồi cho mở cửa sổ để căn phòng được thông thoáng, luồng khí đêm mát lành từ bên ngoài ùa vào. Thằng bé im bặt, chân tay bụ bẫm bắt đầu vung đạp và không còn gào hét nữa. Khám người và bụng của nó, tôi thấy ngờ ngợ nên đút ngón tay vào miệng nó, và tôi đã đoán đúng: chiếc răng đầu tiên đã nhú ra như một hạt ngọc trắng trong hàm thằng bé.

Lúc ấy tôi cáu kỉnh gắt lên:

- Aziru, Aziru! Vì thế này mà anh đã cho những con ngựa hoang đến đón danh y lành nghề nhất của Syria ư, vì dù không muốn tự khen, tôi có thể nói rằng tôi đã học được rất nhiều từ chuyến đi của mình tới các miền đất khác nhau. Con anh không đau ốm gì cả, nó chỉ thiếu kiên nhẫn và cáu bẳn hệt như cha mình, và có lẽ nó bị sốt nhẹ, nhưng đã hết rồi. Nó đã nôn tức là nó rất khôn ngoan khi làm việc đó để giữ mạng sống của mình, vì các người đã nhét cho nó quá nhiều sữa béo. Đã đến lúc Keftiu nên cai sữa cho nó và cho thằng bé làm quen với thức ăn thích hợp, nếu không nó sẽ cắn đứt núm vú mẹ mình, điều mà tôi nghĩ sẽ làm anh buồn khổ, vì có lẽ anh vẫn muốn vui thú với vợ. Anh cần biết rằng con trai anh khóc vì thiếu kiên nhẫn khi chiếc răng đầu tiên nhú lên và nếu không tin tôi, anh hãy tự xem đi.

Tôi vạch miệng thằng bé và chỉ cho Aziru xem chiếc răng, anh ta òa lên mừng rỡ, vỗ tay và nhảy xung quanh, chân giậm xuống sàn nhà thình thịch. Tôi cũng cho Keftiu xem chiếc răng và Keftiu nói cô ta chưa bao giờ nhìn thấy một chiếc răng đẹp như vậy trong miệng một đứa trẻ. Nhưng khi cô ta gắng quấn cậu bé vào bộ đồ len một lần nữa, tôi đã ngăn lại và bảo chỉ cần quấn vải mát xung quanh để đứa bé không bị cảm lạnh vào buổi tối.

Aziru giậm chân thình thịch, vừa múa vừa hát, giọng ồm ồm, không hề ngượng ngùng vì đã bắt tôi vượt cả quãng đường dài vô ích, mà còn muốn cho các quý tộc và cận thần thấy răng con trai mình; anh ta cho gọi cả lính gác từ trên tường thành xuống xem chiếc răng, họ chen nhau xúm quanh nôi, vừa làm giáo khiên chạm nhau loảng xoảng vừa kinh ngạc ngắm đứa trẻ và cố đưa những ngón tay cái bẩn thỉu vào miệng nó để thấy chiếc răng cho đến khi tôi đuổi tất cả ra khỏi phòng và nhắc nhở Aziru hãy coi trọng phẩm giá và làm chủ bản thân mình.

Aziru bối rối nói:

- Có lẽ đúng là tôi đã mất bình tĩnh và quá lo lắng sau nhiều đêm thức bên nôi con trai, tim quặn đau vì tiếng khóc của con, nhưng anh phải hiểu thằng bé là con trai tôi, là đứa con đầu của tôi, thái tử của tôi, con mắt của tôi, viên ngọc của tôi, sư tử nhỏ của tôi, và một ngày nào đó, con tôi sẽ đội vương miện của Amori và cai trị nhiều dân tộc, vì quả thật tôi muốn xây dựng Amori thành một vương quốc vĩ đại, để con tôi có cái được thừa hưởng và sẽ ca ngợi danh tiếng của cha mình. Sinuhe, Sinuhe, anh không biết tôi biết ơn anh như thế nào khi anh dời được tảng đá ra khỏi trái tim tôi, vì chắc anh phải công nhận rằng chưa bao giờ nhìn thấy thằng bé nào khôi ngô như thế, mặc dù anh đã chu du qua nhiều miền đất. Giả dụ anh hãy nhìn vào mái tóc của nó, cái bờm sư tử đen trên đầu nó, và nói cho tôi biết anh đã nhìn thấy mái tóc nào như vậy trên đầu một đứa trẻ ở độ tuổi đó chưa! Bản thân anh cũng thấy răng của thằng bé giống như viên ngọc, hoàn hảo và long lanh, chân tay và bụng của thằng bé giống như một cái thùng nhỏ.

Tôi thấy ngán ngẩm với những lời huyên thiên của anh ta đến mức tôi bảo anh ta hãy cùng con trai cút xuống địa ngục, và nói chân tay tôi rời rã, mỏi nhừ vì chuyến đi khủng khiếp, đến nỗi tôi không biết mình đang đứng bằng đầu hay bằng đôi chân đây. Nhưng anh ta vòng tay qua vai tôi, xoa dịu tôi rồi mời tôi nhiều món ăn từ khay bạc, như thịt cừu chiên, yến mạch nấu trong mỡ, và rượu từ cốc vàng, cho đến khi tôi lại sức và tha thứ cho anh ta.

Thế là tôi đã nán lại nhiều ngày với tư cách là khách của vua và anh ta đã cho tôi rất nhiều quà, cả vàng và bạc, vì anh ta đã giàu lên rất nhiều kể từ lần cuối cùng chúng tôi gặp nhau. Nhưng bằng cách nào mà tiểu quốc nghèo khổ của anh ta giàu lên như thế, anh ta không muốn nói mà chỉ mỉm cười sau bộ râu quăn tít của mình và khẳng định người vợ mà tôi tặng anh ta đã mang lại cho anh ta may mắn. Keftiu cũng đối xử thân mật với tôi và rất kính trọng tôi, hẳn vì còn nhớ cây gậy mà rất nhiều lần tôi dùng để thử thách độ bền của làn da cô ta, và đi theo tôi với điệu bộ đung đưa, ngúng nguẩy của mình, nhìn tôi âu yếm và mỉm cười với tôi. Hình dáng đẫy đà và nước da trắng trẻo của cô ta cũng làm lóa mắt tất cả tướng lĩnh của Aziru, vì người Syria thích phụ nữ mập mạp chứ không như người Ai Cập, cũng như họ có những tập quán khác với người Ai Cập. Vì thế, các nhà thơ Amori đã làm thơ ngợi ca cô ta và ngân nga chúng với những điệp khúc kéo dài và những lời tương tự được lặp lại; lính gác tường thành cũng hát những bài ca ngợi cô ta, vì vậy Aziru rất hãnh diện về cô và yêu cô một cách cuồng nhiệt, nên rất ít khi anh ta đến thăm những thê thiếp khác của mình và chỉ làm điều này cho phải phép, vì anh ta lấy con gái của các tù trưởng Amori làm vợ nhằm ràng buộc tất cả các tù trưởng với vương quyền của mình.

Vì tôi đã đi nhiều và thấy nhiều miền đất nên anh ta thấy cần phải khoe khoang về vương quyền của mình và kể với tôi nhiều điều mà sau này có thể anh ta sẽ thấy ân hận. Tôi được nghe kể lại chính anh ta đã sai những kẻ che mặt đánh tôi ở Simyra, định ném tôi xuống nước ở cảng vì tôi là người Ai Cập và chính chúng đã báo với anh ta là tôi đã trở lại Simyra. Anh ta rất lấy làm tiếc về những gì đã xảy ra, nhưng vẫn nói:

- Còn phải đập vỡ sọ nhiều dân Ai Cập hơn và nhiều binh sĩ Ai Cập sẽ bị ném xuống cảng trước khi Simyra, Byblos, Sidon và Gaza cuối cùng cũng nhận ra không phải Ai Cập là bất khả xâm phạm và máu người Ai Cập có chảy và linh hồn họ rời khỏi thể xác khi da họ bị dao đâm thủng. Vì thương lái Syria thận trọng đến khó chịu, các quốc vương của họ hèn nhát và người dân chậm chạp như bò, nên những người khôn ngoan hơn phải đi tiên phong và cho họ thấy bằng ví dụ, những gì thuộc về lợi ích của họ.

Tôi hỏi anh ta:

- Vì sao cần phải làm như thế và tại sao anh lại ghét người Ai Cập đến vậy, Aziru?

Aziru vừa vuốt bộ râu xoăn vừa nhìn tôi cười tinh quái và nói:

- Ai bảo tôi ghét người Ai Cập, Sinuhe? Tôi đâu có ghét anh, mặc dù anh là người Ai Cập. Tôi cũng là một đứa trẻ lớn lên trong nhà vàng của pharaon, như cha tôi trước đây và giống như tất cả các quân vương của Syria, nhờ thế tôi biết phong tục Ai Cập, tôi có thể đọc và viết, mặc dù các thầy giáo đã giật mái tóc xoăn của tôi và thường xuyên dùng thước đập vào ngón tay tôi nhiều hơn những đứa trẻ khác vì tôi là người Syria. Nhưng nếu chỉ vì thế, tôi sẽ không ghét người Ai Cập, vì khi trí tuệ và hiểu biết của tôi tăng dần, tôi học được ở Ai Cập rất nhiều điều khôn ngoan mà tôi có thể dùng để chống lại Ai Cập. Tôi đã học được rằng nếu là người văn minh thì tất cả các dân tộc rốt cuộc đều giống nhau và không có sự khác biệt giữa các dân tộc, vì mọi đứa trẻ trên thế gian sinh ra đều trần truồng dù đó là người Syria hay người Ai Cập. Không phải dân tộc này dũng cảm hay hèn nhát hơn, ác độc hay đáng thương hơn, công bằng hay bất công hơn dân tộc khác, mà trong tất cả các dân tộc đều có người anh hùng và kẻ hèn nhát, người đúng và kẻ sai, cả ở Syria và Ai Cập cũng thế. Do đó, bản thân các đấng minh quân và bậc vương quyền không hận ai và không có sự khác biệt giữa các dân tộc, nhưng sự thù hận là một sức mạnh ghê gớm trong tay kẻ trị vì, mạnh hơn cả vũ khí, vì không có lòng thù hận thì cánh tay không có đủ sức mạnh để nâng vũ khí. Tôi sinh ra làm người cầm quyền và ra lệnh, vì dòng máu của các quốc vương Amori chảy trong huyết quản tôi, và vào thời Hykos xa xưa, dân tộc tôi đã thống trị tất cả các dân tộc từ biển này sang biển khác. Vậy nên tôi sẽ làm hết sức mình để gieo rắc hận thù giữa Syria và Ai Cập, để thổi viên than đang nguội dần hừng lên và một khi phát lửa, nó sẽ bùng lên và thiêu rụi quyền lực của Ai Cập khỏi Syria. Vì thế tất cả các thành phố và bộ tộc trên khắp Syria phải học để biết người Ai Cập đáng khinh, hèn nhát, độc ác, tinh quái, tham lam và vô ơn hơn người Syria. Họ phải học để biết nhổ nước bọt khi nghe nhắc đến người Ai Cập và phải thấy người Ai Cập là những kẻ áp bức, những kẻ hút máu, những kẻ tra tấn đánh đập và hiếp dâm trẻ em, cho đến khi lòng thù hận của họ đủ lớn để dời cả núi.

- Nhưng điều đó không đúng, như anh đã nói, - tôi lưu ý anh ta.

Anh ta xòe hai lòng bàn tay ra và vừa cười vừa hỏi:

- Sự thật là gì, Sinuhe? Sau khi đã hấp thụ vào huyết quản của mình đủ sự thật mà tôi truyền tải, họ sẽ thề với tên của tất cả thần linh rằng điều đó là đúng, họ sẽ không tin nếu ai bảo đó là lời dối trá mà sẽ coi người đó là kẻ phỉ báng và đáng bị đánh chết. Họ phải tin rằng họ mạnh mẽ hơn, dũng cảm hơn và chính trực hơn bất kỳ dân tộc nào khác trên thế giới, tin rằng họ yêu tự do hơn cái chết, sự đói khát và áp bức nên họ sẵn sàng trả mọi giá cho tự do của mình. Tôi sẽ dạy cho họ điều này; tôi đã khiến nhiều người tin vào sự thật của mình và cứ một người tin sẽ truyền niềm tin cho người khác, cho đến khi đất âm ỉ cháy trên khắp Syria. Một sự thật nữa là Ai Cập đem đến Syria lửa và máu, nên giờ đây lửa cũng sẽ cháy và máu cũng sẽ đổ khi Ai Cập bị đuổi khỏi Syria.

- Tự do mà anh nói với họ là gì? - Tôi hỏi vì những điều anh ta nói làm tôi thấy sợ cho Ai Cập và tất cả những khu kiều dân, vì họ là đồng bào tôi.

Anh ta lại xòe hai lòng bàn tay và mỉm cười độ lượng:

- Tự do là một từ có nhiều nghĩa, người hiểu thế này, kẻ hiểu thế khác, nhưng điều đó không thành vấn đề cho đến khi giành được tự do. Để giành được tự do cần nhiều người, nhưng một khi đã giành được tự do thì cách giữ nó chắc chắn nhất vẫn là giữ cho riêng mình chứ đừng chia sẻ cho nhiều người. Vì thế tôi nghĩ sẽ có một ngày xứ sở Amori sẽ được gọi là cái nôi tự do của Syria. Tôi cũng có thể nói với anh một dân tộc tin tất cả những gì người ta nói với họ sẽ như một đàn bò bị gậy nhọn lùa ra khỏi cổng, hay một bầy cừu đi theo cừu đực mà không cần biết cừu đực dẫn đi đâu. Có lẽ tôi vừa là gậy nhọn vừa là cừu đực.

- Tôi ngờ anh đúng là đầu cừu ngốc nghếch, - tôi nói, - vì anh nói những điều như thế, bởi đó là những lời nguy hiểm mà nếu nghe được, Pharaon có thể gửi chiến xa và giáo thủ sang bắt anh, phá đổ tường thành rồi treo ngược anh và con trai anh trên mũi thuyền chiến khi họ trở về Thebes.

Nhưng Aziru chỉ mỉm cười và nói:

- Tôi không nghĩ Pharaon là mối hiểm họa cho tôi, vì tôi đã nhận từ tay ông ấy biểu tượng sự sống và đã dựng đền thờ cho thần của ông. Vì vậy, ông ấy tin tôi hơn bất cứ ai khác ở Syria, hơn cả các sứ thần của ông ấy và các quan trấn thủ vốn chỉ phụng sự Amon. Để tôi chỉ anh xem một thứ chắc chắn sẽ làm anh vui.

Anh ta dẫn tôi đến bức tường thành và chỉ vào một cái xác đã khô, trần truồng, đầu treo ngược, ruồi nhặng bu đầy xung quanh.

- Nếu nhìn kỹ, - anh ta nói, - anh sẽ thấy người ấy đã cắt bao quy đầu và hắn ta đúng là người Ai Cập. Hắn từng là tay thu thuế của Pharaon, dám đến dinh nhà tôi để hỏi vì sao tôi trì hoãn nộp thuế trong vài năm. Quân lính của tôi đã lấy hắn làm trò giải trí trước khi treo ngược hắn lên tường vì sự hỗn xược của hắn. Bằng việc này, tôi đã làm người Ai Cập không muốn đến đất Amori dù đi cả nhóm lớn, và các thương gia thích đóng thuế cho tôi hơn cho họ. Anh biết điều đó nghĩa là gì, khi tôi nói Megiddo thuộc quyền của tôi và phục tùng tôi chứ không tuân theo viên tổng trấn, kẻ ẩn nấp trong thành và không dám chường mặt ra phố.

- Máu của người tội nghiệp đó sẽ đổ xuống đầu anh, - tôi sợ hãi nói. - Anh sẽ còn bị trừng phạt thích đáng khi việc làm của anh bị lộ vì ở Ai Cập, có thể đùa giỡn với tất cả mọi người trừ quan thuế vụ của Pharaon.

- Tôi đã treo sự thật lên tường để ai cũng thấy, - Aziru đắc chí nói. - Vụ việc đã được điều tra biết bao lần và tôi đã rất vui vẻ viết đầy giấy tờ lẫn bảng đất sét để giải thích sự việc. Tôi cũng nhận được nhiều bảng đất sét về vấn đề này, những bảng đất sét tôi đã cho lưu giữ và đánh số cẩn thận để giải thích sự việc vào những bảng đất sét mới, cho đến khi có thể dùng chúng để xây một bức tường bảo vệ tôi. Thề có thần Baal của xứ Amori, tôi đã làm việc này rối tung khiến tổng trấn Megiddo phải nguyền rủa ngày mình sinh ra khi bị tôi liên tục phiền nhiễu bằng những bảng đất sét mới đòi công lý cho mình khi tôi bị viên quan thuế vụ kia sách nhiễu. Với rất nhiều nhân chứng, tôi đã chứng minh hắn ta là kẻ giết người, là một tên trộm và là kẻ biển thủ tài sản của Pharaon. Tôi đã chứng minh hắn gạ gẫm bao nhiêu đàn bà ở tất cả các ngôi làng và xúc phạm các vị thần của Syria, thậm chí đái lên bàn thờ thần Aton trong thành phố của tôi và những việc tôi làm trở nên chắc như núi trước Pharaon. Vậy nên Sinuhe ạ, luật pháp và công lý, những điều được viết trên các bảng đất sét, luôn chậm và phức tạp hơn, và càng phức tạp khi càng nhiều bảng đất sét xếp chồng đống trước các quan tòa, cho đến khi cả quỷ sứ cũng không thể tìm ra sự thật. Về mặt này, tôi mạnh hơn người Ai Cập và không lâu nữa cũng sẽ mạnh hơn họ về nhiều mặt khác.

Đây không phải là điều duy nhất Aziru kể với tôi, mà anh ta còn nói nhiều chuyện khác, khoe khoang về vương quyền, về sự xảo quyệt của mình và khẳng định sẽ để lại cho đứa con trai bé bỏng một di sản gồm nhiều vương quốc, nhiều như ngón tay và ngón chân của anh ta. Anh ta còn dạy tôi:

- Nếu anh có một đối thủ mà anh muốn đánh bại, đừng bao giờ quên điều cốt yếu là phải đánh bại anh ta và hãy luôn giữ điều đó trước mắt mình. Vì thế, hãy nói sai về đối thủ trong tất cả các mối quan hệ, giải thích sai tất cả những việc hắn ta làm; hãy nói rằng lòng khoan dung của hắn ta là bịa đặt, tính hào hiệp của hắn ta là xảo quyệt và tình bạn của hắn ta là giả tạo. Nếu hắn ta mạnh và đề nghị anh hòa giải, hãy đồng ý hòa giải để đến gần hắn ta hơn và nếu có thể thì xúi giục những người khác chống lại hắn hay liên minh với kẻ thù của hắn, chỉ cần lưu ý là sau khi đánh bại hắn thì chính anh sẽ là người chiếm nhà hắn, chứ không phải những kẻ khác. Nếu anh muốn đánh bại nhiều người, hãy chia rẽ chúng, gieo rắc sự dối trá giữa chúng, khiến chúng gây chiến với nhau rồi anh đánh bại từng kẻ một, hoặc giữa chừng cam kết tình bạn với những kẻ khác, khiến họ tin vào điều tốt đẹp của anh cho đến khi anh lần lượt đánh bại từng kẻ một. Mẹo trị nước này, tôi đã học được từ người Ai Cập, vì bằng cách đó họ đã bắt người Syria làm nô lệ trong thời cổ đại.

Sự phẫn nộ và vẻ ác cảm của tôi khiến Aziru vô cùng thích thú, anh ta chế nhạo tôi:

- Nếu trong anh có dòng máu hoàng gia, anh sẽ hiểu tất cả những điều này, không cần ai phải kể ra mà nó ngấm vào máu thịt anh qua dòng sữa mẹ, nhưng anh không được sinh ra làm người ra lệnh như tôi mà chỉ làm kẻ chờ lệnh, vì thế anh ghét lời nói của tôi.

Như thế tôi đã ở lại bên Aziru nhiều ngày và không thể thù ghét anh ta, vì anh ta là bạn tôi, tình bạn của anh ta thật cuốn hút, hào phóng và tiếng cười của anh ta làm tôi cũng muốn cười. Lòng kiêu hãnh của người được làm cha và sự cưng chiều âu yếm của anh ta đối với con trai mình cũng buồn cười và thật trẻ con, trái ngược với tất cả sự xảo quyệt, mánh khóe của anh ta trong việc khác. Mặc dù anh ta nói bằng lý trí, tôi biết tình cảm của anh ta lớn hơn lý trí và nó bùng lên dữ dội, ví như trong lời nói, tiếng cười và bước chân của anh ta, hơn tất cả giới đàn ông của xứ sở anh ta. Tôi cũng chữa răng anh ta và bọc lại vàng cho những chiếc răng đã bị bong lớp mạ trước đây để khi cười, miệng anh ta lại lấp lánh vàng như mặt trời ở giữa bộ râu đen và để quần thần ngày càng trọng vọng anh ta hơn.

Nhưng anh ta càng nói nhiều với tôi càng khiến tôi nhớ đến Horemheb, vì có điều gì đó trong tính cách đàn ông của anh ta giống như tính nam nhi của Horemheb và cả hai đều sinh ra để làm người lính, dù Aziru lớn tuổi hơn và bị đầu độc bởi các mưu lược trị nước của Syria. Nhưng tôi cũng không tin với mưu lược của mình, anh ta có thể cai trị các dân tộc lớn mà nghĩ rằng những suy nghĩ và kế hoạch đó được anh ta kế thừa từ ông cha mình và nảy sinh vào lúc Syria giống như một ổ rắn đang phun phì phì với vô số tiểu quốc tranh giành quyền lực và tiêu diệt lẫn nhau cho đến khi Ai Cập bình định Syria và những đứa con trai của các tiểu vương ấy được nuôi dưỡng và dạy dỗ trong hoàng cung của Pharaon. Tôi cũng cố gắng giải thích là anh ta không có cái nhìn đúng đắn về sự vĩ đại và thịnh vượng của Ai Cập, cảnh báo anh ta đừng tự thổi phồng quá mức, vì cái bao da phồng căng khi được thổi đầy không khí nhưng sẽ bẹp dí và sự to lớn của nó sẽ biến mất ngay khi bị chọc thủng. Nhưng Aziru chỉ cười khoe với tôi hàm răng vàng và sai bê ra trước mặt tôi nhiều thịt cừu rán trong những chiếc khay bạc nặng để hợm hĩnh khoe khoang về sự giàu có của mình.

Phòng làm việc của anh ta quả thật đầy ắp bảng đất sét như anh ta kể và các sứ thần từ tất cả các thành phố của Syria đã đến trình thư cho anh ta. Anh ta cũng nhận được thư đất sét từ vua Hittite và từ Babylon, và anh ta không ngớt khoe khoang, mặc dù không cho tôi xem những gì được viết trên đó. Anh ta tò mò hỏi tôi về đất nước của người Hittite và Khattushash, nhưng tôi thấy anh ta cũng biết về người Hittite nhiều như tôi. Các sứ thần Hittite cũng diện kiến anh ta, chuyện trò với quân lính và các tướng lĩnh của anh ta, nên sau khi thấy những việc này, tôi nói với anh ta:

- Đúng là sư tử và chó hung sa mạc có thể liên minh để cùng săn mồi, nhưng anh đã bao giờ thấy chó hung sa mạc được những miếng ngon nhất chưa?

Anh ta chỉ cười khoe hàm răng vàng và nói:

- Tôi muốn biết thật nhiều và tôi muốn học như anh thôi, mặc dù vì bận trị vì vương quốc tôi không có điều kiện chu du như anh, một người tự do như chim trên trời, không phải chịu trách nhiệm về bất cứ việc gì. Nếu các võ quan Hittite tham vấn cho các tướng lĩnh của tôi về nghệ thuật chiến tranh thì có gì xấu, vì họ có các loại vũ khí mới và kinh nghiệm trận mạc, điều mà chúng tôi thiếu. Việc này hẳn có lợi lớn cho Pharaon, bởi vì nếu chiến tranh xảy ra, Syria từ lâu đã là lá chắn của Ai Cập ở phía bắc và thường thì chiếc khiên này đẫm máu, điều mà chúng tôi luôn ghi nhớ khi tính sổ với Ai Cập vào một lần nào đó.

Lời anh ta nói về chiến tranh khiến tôi lại nhớ đến Horemheb, tôi nói với anh ta:

- Tôi được thụ hưởng lòng hiếu khách của anh đã quá lâu và giờ muốn trở lại Simyra, nếu anh cho tôi được dùng một chiếc kiệu, bởi vì thà bị xẻ vỡ sọ chứ tôi không bao giờ lên cỗ chiến xa đáng sợ của anh nữa. Nhưng Simyra đã trở nên đáng sợ với tôi và là một người Ai Cập, có lẽ tôi đã hút đủ máu từ Syria nghèo khó, vì vậy tôi muốn trở về Ai Cập trên một con thuyền thích hợp. Do đó, có lẽ chúng ta sẽ không gặp nhau trong một thời gian dài và có thể không bao giờ gặp lại, vì ký ức về nước sông Nile ngọt lịm trong miệng tôi, có lẽ tôi hài lòng uống nó suốt đời mình sau khi đã nhìn thấy đủ sự xấu xa của thế giới và còn nhận được những lời chỉ giáo của anh về sự xấu xa đó.

- Không ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến, - Aziru nói, - giống như rêu không mọc trên tảng đá đang lăn, sự khắc khoải âm ỉ trong mắt anh chắc chắn không cho anh ở lại đất nước nào lâu dài. Nhưng hãy chọn một người vợ, bất cứ ai trong đám thần dân của tôi, rồi tôi sẽ xây cho anh một ngôi nhà trong thành phố của tôi, anh sẽ không phải ân hận nếu anh ở lại đây để hành nghề của mình.

Tôi châm chọc đáp lại anh ta:

- Vương quốc Amori là miền đất hiểm độc nhất và đáng ghét nhất trên thế giới, thần Baal của họ thật kinh tởm đối với tôi, phụ nữ của họ có mùi dê trong mũi tôi. Vì vậy tôi đặt hận thù vào giữa mình và xứ sở Amori, khoan thủng hộp sọ của những ai nói tốt về Amori và tôi cũng sẽ làm nhiều việc nữa mà tôi không thèm kể ra lúc này vì tôi không nhớ, nhưng tôi định viết vào rất nhiều bảng đất sét những đơn từ trong đó tôi xác nhận anh đã hiếp vợ tôi và ăn trộm bò của tôi, những thứ mà tôi chưa bao giờ có, cũng như làm ma thuật cùng nhiều điều khác, cho đến khi anh bị treo ngược trên tường, tôi sẽ cướp nhà của anh, lấy vàng của anh và dùng vàng mua một trăm lần một trăm vò rượu để uống và nhớ về anh.

Anh ta cười vang trong sảnh của hoàng cung và hàm răng vàng lóng lánh trong đám râu xoăn. Tôi thường nhớ đến anh ta như thế sau biết bao nhiêu ngày tồi tệ. Nhưng chúng tôi chia tay nhau như những người bạn, anh ta đã cho tôi một chiếc kiệu với rất nhiều quà và lính của anh ta đã đưa tôi trở lại Simyra để không ai có thể xúc phạm tôi vì là người Ai Cập.

Trước cổng vào Simyra, một con én lao vút qua đầu tôi nhanh như một mũi tên, tâm trí tôi trở nên bồn chồn và đường phố nóng rực dưới chân tôi. Vì thế khi về đến nhà, tôi nói với Kaptah:

- Hãy thu gom đồ đạc của chúng ta và bán căn nhà này, vì chúng ta sẽ dong thuyền trở về Ai Cập.

Kaptah nói:

- Ngày hôm nay lẽ ra rất hạnh phúc với tôi, nếu như ông không có một tài năng phi thường và không thể tin nổi là luôn hòa lẫn ngải đắng vào bát niềm vui của tôi. Quả thật tôi không còn muốn tính số năm đã trôi qua kể từ lần cuối cùng tôi uống nước sông Nile và sống lưng tôi nhồn nhột như có kiến bò khi tôi nghĩ về những nhà vui và quán bia ở Thebes, nhất là cái quán nhỏ nơi bến cảng có tên Đuôi Cá Sấu, cái tên bắt nguồn từ cam đoan của chủ quán, rằng lũ phù thủy pha rượu của quán mạnh như cú quật của đuôi cá sấu. Ông ta nói sự thật, vì chính tôi đã trải nghiệm điều đó thường xuyên, mặc dù lúc này tôi không kịp kể nhiều hơn về chuyện này. Tôi chỉ muốn nói là tôi không thể đi theo ông nếu trong cơn điên không thể hiểu nổi của mình, ông lại muốn đi thuyền về Ai Cập, trong khi với vị thế này của mình, chúng ta có thể đi trên đất liền mà không gặp nguy hiểm và không chết sặc trong nước mặn. Như ông biết, tôi đã thề sẽ không bao giờ bước chân lên thuyền nữa và tôi không muốn làm trái lời thề, bởi vì bọ hung có thể giận tôi và chúng ta sẽ mất đi vận may.

Tôi nhắc Kaptah nhớ lại những cơn đau và nỗi vất vả không thể diễn tả nổi mà ông ấy đã phải chịu khi cưỡi trên lưng lừa, khiến ông tỏ ra lo lắng. Tôi cũng nhắc ông ấy rằng cả Syria đang sục sôi nỗi căm hờn người Ai Cập và nếu đi bằng đường bộ, chúng tôi có thể gặp nguy hiểm hơn đi bằng đường biển. Kaptah bắt đầu vò đầu và nghĩ một lúc lâu, cuối cùng ông nói:

- Ông chủ ơi, ông có thề là chúng ta sẽ đi bằng thuyền trong lộng để đất liền không khuất khỏi tầm nhìn, vì cho dù nó chậm hơn thuyền chạy ngoài khơi nhưng nó sẽ dừng lại ở nhiều bến cảng, nơi có lẽ có nhiều cảnh quan và các quán bia kiểu mới. Nếu vậy, tôi sẽ theo ông xuống thuyền, nhưng với điều kiện tôi không phải đặt chân lên mạn thuyền. Để làm điều này, tốt nhất là tôi uống đến say mềm rồi ông cho khiêng tôi lên thuyền và giữ cho tôi say suốt quãng đường đi để tôi không phải đứng trên đôi chân của mình, bởi vì đó là cách duy nhất tôi giữ đúng lời mình đã thề.

Tôi chấp nhận yêu cầu của ông ấy, ngoại trừ việc say, vì tôi rất muốn thấy các thành phố ven biển của Syria để biết liệu sự hận thù Ai Cập đã lan đến tất cả các thành phố hay chưa, để có thể kể với Horemheb. Thế là Kaptah bán nhà của chúng tôi, thu các khoản có thể thu được và tôi giàu có rời khỏi Simyra. Tôi sai trói Kaptah vào giường với lý do ông ấy bị bệnh và khiêng lên thuyền để ông không phá vỡ lời thề của mình.

❖ 3 ❖

Kể bao nhiêu về chuyến trở về Ai Cập cũng không ích gì với tôi, bởi hành trình này như một bóng mờ hay một giấc mơ khắc khoải không yên trong tâm trí tôi. Vì cuối cùng khi tôi đã ở trên thuyền trở về miền đất đen để một lần nữa nhìn thấy Thebes, thành phố thời thơ ấu của mình, cảm giác bồn chồn trào dâng trong tâm trí tôi, khiến tôi không thể đứng hay ngồi hay nằm yên một chỗ mà cứ đi đi lại lại quanh các cuộn thảm và đống hàng hóa trên khoang thuyền chật chội, khi mũi tôi vẫn nghe mùi của Syria, và ngày lại ngày, nỗi khát khao được nhìn thấy vùng đất thấp màu xanh lá cây với những vạt lau sậy thay vì núi đá trải dài dọc bờ biển càng cháy bỏng trong tôi. Khi thuyền đỗ lại nhiều ngày tại bến cảng ở các thành phố ven biển, tôi không còn đủ kiên nhẫn vào thăm thành phố hay thu thập thêm tin tức, tai tôi không còn phân biệt được tiếng kêu của lừa trên bờ biển, tiếng la hét của những người bán cá và tiếng những ngôn ngữ lạ với tiếng gầm gào của sóng biển.

Mùa xuân lại bừng nở trong các thung lũng Syria; từ biển nhìn vào, những ngọn núi đỏ sậm màu rượu, tiết xuân nhuộm những bọt nước tối tối tràn lên bờ biển thành màu xanh nhạt nhòa, các giáo sĩ của thần Baal làm ầm ĩ, vừa lấy dao đá cào mặt làm máu chảy nhoe nhoét vừa la hét the thé trong những con hẻm chật chội và những người đàn bà mắt lóe sáng, tóc rối bù kéo những chiếc xe cút kít gỗ theo sau các giáo sĩ. Nhưng trước đây tôi đã nhiều lần thấy những cảnh này và khi hình bóng quê hương lờ mờ hiện lên trước mắt tôi, những tập quán lạ lùng cùng với sự cuồng tín thô bạo lại làm tôi ngán ngẩm. Tôi cứ tưởng trái tim mình đã chai cứng, cứ nghĩ mình đã có thể thích nghi với mọi phong tục và tín ngưỡng khi đã hiểu và không khinh thường những người có màu da khác nhau và mục đích duy nhất của tôi là thu thập kiến thức, thế nhưng ý nghĩ mình đang trên đường trở về miền đất đen đã như ngọn lửa xóa sạch sự chai cứng trong trái tim tôi. Cũng như những trang phục xa lạ, những suy nghĩ lạ lùng rơi ra khỏi tâm trí tôi và trong trái tim mình, tôi lại là người Ai Cập, tôi nhớ mùi cá rán trên những con hẻm Thebes vào lúc hoàng hôn khi những người vợ nhóm bếp lửa trước những túp lều đất sét, tôi thèm mùi rượu Ai Cập trong miệng và khát nước sông Nile với mùi bùn màu mỡ. Tôi nhớ tiếng xì xào của đám sậy trong gió xuân, nhớ những cánh sen nở xòe bên bờ sông, nhớ những cây cột sặc sỡ với những hình ảnh vĩnh cửu, nhớ những hình chữ chạm khắc của các ngôi đền và mùi nhang cổ xưa trong những hàng cột đá; trái tim tôi điên rồ đến thế.

Tôi đang trở về nhà mặc dù tôi không có nhà và là kẻ xa lạ trên mặt đất. Tôi đang trở về nhà và ký ức không còn làm tôi đau, mà thời gian và kiến thức như cát che phủ lên những ký ức đắng cay đó. Tôi không còn cảm thấy buồn bã hay nhục nhã mà chỉ có một khát khao khôn nguôi gặm nhắm trái tim tôi.

Syria giàu có, màu mỡ, đầy hận thù và mê đắm lùi lại phía sau chúng tôi. Thuyền chúng tôi khỏa nước qua các bãi biển đỏ Sinai, gió khô và nóng rẫy từ sa mạc quét qua mặt chúng tôi mặc dù đang là mùa xuân. Cho đến một sáng kia, biển chuyển sang màu vàng và sau nó là đất liền, một dải xanh lá cây mỏng mảnh, các tay chèo thả sợi dây da buộc vò đất sét xuống biển, kéo nước lên khoang, nước không còn mặn nữa mà là nước của sông Nile vĩnh cửu và đượm vị bùn Ai Cập. Trong miệng tôi chưa bao giờ có thứ rượu nào ngon bằng ngụm nước nhuốm bùn được múc lên từ vùng biển còn xa đất liền đó. Nhưng Kaptah nói:

- Nước vẫn là nước ngay cả ở trong sông Nile. Hãy kiên nhẫn, ông chủ ạ, cho đến khi chúng ta đến được quán ra quán, nơi bia sủi tăm và trong vắt nên không cần phải dùng ống hút để tránh vỏ hạt. Chỉ đến lúc đó tôi mới tin là mình đã ở Ai Cập.

Vào giây phút ấy, lời nói vô đạo và báng bổ của ông ấy đã xúc phạm tôi, nên tôi nói:

- Kẻ nô lệ vẫn là nô lệ dù khoác trên người vải lanh đắt tiền. Hãy đợi đấy Kaptah, đến khi ta có trong tay một cây gậy dẻo chỉ có thể được cắt ra từ đám sậy của sông Nile, lúc ấy chắc chắn ngươi sẽ tin rằng mình lại được ở nhà.

Nhưng Kaptah không hề tự ái mà nước mắt ông ấy trào ra vì xúc động, cằm ông ấy run rẩy và ông cúi đầu trước tôi, hai tay thả xuống ngang đầu gối và nói:

- Đúng thế, ông chủ của tôi ạ, đôi lúc ông có biệt tài tìm ra được đúng từ vào thời điểm thích hợp đến khó tin, bởi vì tôi đã quên nhát quất của cây sậy dẻo vào mông và vào ống chân ngọt đến thế nào. Ôi, ông chủ Sinuhe của tôi, đó là một trải nghiệm mà tôi cũng muốn ông có được, vì nó kể về cuộc sống ở Ai Cập tốt hơn nước và bia, tuyệt hơn mùi khói nhang trong các đền thờ và bầy vịt trong đám sậy, nơi mỗi người được đặt đúng chỗ của mình, không có gì thay đổi theo thời gian mà tất cả vẫn nguyên như cũ. Vì vậy, ông đừng ngạc nhiên nếu tôi khóc vì quá xúc động, bởi vì chỉ đến lúc này tôi mới thực sự cảm thấy mình được về nhà sau khi nhìn thấy rất nhiều điều lạ, những điều không thể hiểu và đáng khinh. Ôi, cây gậy linh thiêng, mi đặt từng người vào đúng chỗ và giải quyết mọi vấn đề, không gì sánh được với mi.

Ông ấy khóc một lúc vì xúc động, sau đó đi xức dầu cho bọ hung, nhưng tôi để ý ông không còn dùng loại dầu đắt tiền như trước nữa, vì sắp vào bờ và ông ấy tin mình sẽ vượt qua mọi chuyện với sự láu cá của mình khi ở Ai Cập.

Chỉ đến khi thuyền cập vào bến cảng rộng lớn ở miền Hạ, tôi mới hiểu mình đã chán nhìn những bộ quần áo rộng thùng thình nhiều màu sắc, những bộ râu quăn tít và những thân hình to béo đến mức nào. Những mạn sườn mỏng gầy của phu khuân vác, xà rông của họ, những cái cằm cạo nhẵn râu, tiếng địa phương miền Hạ, mùi mồ hôi, mùi bùn, mùi lau sậy, mùi của bến cảng, tất cả đều khác với ở Syria, tất cả đều quen thuộc, và quần áo Syria quấn quanh thân thể tôi bắt đầu giày vò tôi, khiến cơ thể tôi không còn hít thở được nữa. Vì thế sau khi thoát khỏi các viên kiểm soát của bến cảng và viết tên mình vào nhiều loại giấy tờ, tôi liền đi mua cho mình quần áo mới và da tôi lại được vải lanh mỏng mềm mại nhất vuốt ve. Nhưng Kaptah quyết định cứ xuất hiện như một người Syria, vì ông ấy sợ tên mình vẫn còn nằm trong danh sách những nô lệ bỏ trốn, mặc dù tôi đã xin được từ nhà chức trách Simyra một bảng đất sét chứng minh ông ấy là nô lệ sinh ra ở Simyra, được tôi mua hợp pháp.

Sau đó, chúng tôi chuyển đồ đạc của mình lên một thuyền sông để ngược dòng. Sau nhiều ngày hành trình, chúng tôi làm quen lại với Ai Cập, những cánh đồng đang khô hai bên bờ sông, những con bò chậm chạp kéo cày gỗ và những người nông dân bước dọc theo những luống cày, cúi đầu lom khom gieo hạt xuống bùn mềm. Những con én vừa chíu chít kêu vừa chao liệng phía trên thuyền, phía trên dòng nước chầm chậm chảy để rồi nhanh chóng biến vào đáy sông và chui xuống đám bùn trong thời gian nóng nhất của năm. Những thân cọ uốn cong nhô cao bên bờ sông Nile, những cây sung to lớn che khuất những túp lều thấp bằng đất sét của các ngôi làng; thuyền cặp vào cầu tàu của các thành phố lớn, nhỏ, và không có quán ven bờ nào mà Kaptah không vội vã đến làm dịu cơn khát bằng bia Ai Cập, huyên thiên, khoác lác về chuyến đi của mình và tài năng của tôi với những lời dối trá kỳ quặc nhất khiến những người làm việc trên bến cảng vừa nghe vừa cười vừa chọc ghẹo và cầu xin thần linh giúp đỡ. Kaptah vội đến nỗi thường chỉ có mặt trên bến trước khi dây neo được buộc xong, nhưng khi bị tôi mắng về điều này, ông nói:

- Ông chủ ạ, chỉ đến lúc này tôi mới nhận ra mình đã mang về cho bản thân cơn khát kỳ lạ và không dứt trong suốt hành trình của chúng ta. Cứ như thể cát bụi từ tất cả các miền đất, đường sá và thành phố vẫn còn làm cổ họng tôi khô rát và tôi chưa tìm được loại bia nào làm dịu nó một cách tốt nhất. Vì vậy, lẽ ra ông không nên trách mắng mà hơn thế phải khen ngợi tôi, vì tôi đã nhẫn nại, không quản ngại công sức săn lùng mọi quán xá để tìm ra loại bia có thể chữa được cơn đau của mình, vì cơn đau này theo thời gian sẽ khá tốn kém với ông, ông chủ của tôi ạ. Tôi làm như thế chỉ vì ông, nên đừng bao giờ trách mắng tôi vì sự bồn chồn của tôi, vì chúng ta càng đi xa ngược sông, cơn đau vì khát của tôi càng tăng lên khiến tôi rất sợ hãi khi nghĩ về nó. Ông cũng nên nhớ rằng tôi còn truyền bá trước danh tiếng của ông bằng cách kể về tất cả các ca chữa bệnh kỳ diệu mà ông đã làm ở những đất nước xa xôi, mà những kẻ ngốc nghếch này chưa bao giờ được nghe nói đến. Tôi còn buộc phải làm quen với nhiều thần, vì tôi chưa bao giờ nghĩ rằng thần linh ở Ai Cập nhiều đến thế. Mỗi ngày tôi nghe nói đến ít nhất một hoặc hai vị thần đáng chú ý mà tôi chưa bao giờ nghe đến trước đây, mặc dù tôi không tiết lộ điều này với những kẻ ngốc đó. Dĩ nhiên, tất cả vinh quang đều thuộc về bọ hung, song không có gì là xấu nếu chúng ta tìm thấy một vị thần phù hợp để có thể thờ phụng, để chúng ta trở nên ngoan đạo và có danh tiếng tốt.

- Ngươi biết ta nghĩ gì về thần linh, - tôi nói với ông ta, - ta không tin cho lắm giá trị của các vị thần mà ngươi tìm thấy trong các vò bia màu sắc khác nhau. Hơn nữa, ta không nhớ cơn khát của ngươi có lỗi gì trong các chuyến đi của chúng ta tới những vùng đất xa xôi, mà trái lại ngươi ngày càng có nhiều lời giải thích mới để biện hộ cho cơn khát bia của mình ở mỗi một vùng đất, vì vậy đừng ngạc nhiên nếu thỉnh thoảng ta phát chán với sự lải nhải của ngươi.

- Ôi, ông chủ của tôi ơi, - Kaptah nói và trở nên buồn bã, - ông có tài năng lạ lùng và khó tin khi chỉ bằng một vài từ đã đưa ra rất nhiều bằng chứng sai, khiến tôi mất tới cả ngày để bác bỏ chúng. Trước hết là những suy nghĩ của ông về thần linh, tôi không muốn can thiệp mà chỉ cố gắng một mình xử lý những vấn đề thần học này vì lợi ích của ông, để ông khỏi mang tiếng dị giáo, vì điều này theo thời gian có thể làm hại đến việc hành nghề của ông. Còn về các vị thần mà tôi tìm thấy trong các vò bia hay đúng hơn là xung quanh chúng, tôi không muốn tranh cãi với ông về giá trị của họ, nhưng ông cũng phải công nhận rằng trong số họ có một số thần đáng chú ý và việc hiểu biết hơn về họ hoàn toàn không có hại. Giả dụ như hôm qua tôi tìm thấy vị thần bảo vệ đàn bà khỏi thụ thai khi họ không muốn, vì nhiều lý do khác nhau mà tôi không nên kể ra. Đây là một điều thực sự lạ lùng, bởi các thần thường cạnh tranh với nhau vì những lợi ích trái ngược hẳn với việc ấy và các giáo sĩ khoe khoang thần của mình giúp đàn bà sinh con. Vậy nên lúc đầu tôi hoàn toàn không muốn tin vào sự tồn tại của một vị thần như vậy, nhưng người đàn bà đã kể về thần ấy cho tôi nghe lại rất tin về điều mình kể, nên khi tôi tỏ ra không tin, thị đã bực bội, cho tôi xem bùa chú đeo trên cổ mình và giục tôi thử xem nó có tác dụng hay không. Thị đưa tôi đến lều của mình và tôi đã cố gắng hết sức để có được chứng cứ về việc này, nhưng tất nhiên tôi không thể biết chắc được vì thuyền của chúng ta tiếp tục hành trình vào buổi chiều, vì vậy tôi không thể chờ đợi xem thị có con hay không. Tôi chỉ biết rằng thị đã lấy tất cả đồng mà tôi mang theo người.

- Kaptah, Kaptah, ta đã nói là ta không muốn nghe những lời ngu ngốc của ngươi, - tôi đe.

Nhưng ông ấy tiếp tục:

- Đây là về các vị thần, chứ tôi không hối tiếc gì cả về đồng của mình, vì người đàn bà đó hồn nhiên, thân mật và thân hình cũng không đến nỗi nào. Nhưng còn cơn khát của tôi, điều mà ông rất bực bội, thì ông chủ của tôi ạ, chính ông nên cảm ơn cơn khát của tôi vì nếu không có nó, ông có thể chỉ là một kẻ nghèo khổ và có khi đàn quạ đã mổ hộp sọ của ông ở đâu đó dọc đường. Ông nên nhớ cơn khát của tôi đã hoàn toàn đúng đắn khi dẫn tôi đến gặp đôi ba người, mà từ họ tôi nghe được bao điều có ích cho ông, hệt như thần trong khoang của thuyền trưởng đã dẫn thuyền trên biển cập vào cảng không chút nhầm lẫn. Vì thế, không có lý do gì để ông trách mắng cơn khát của tôi, mà nếu bản thân ông sùng tín hơn, ông có thể thấy điều gì đó huyền bí trong cơn khát của tôi.

Tôi liền bỏ đi vì tranh luận với ông ấy chẳng ích gì. Thuyền chúng tôi dong buồm chạy dọc theo khúc sông trống vắng, những con cá sấu già nằm bất động dưới ánh nắng mặt trời trên bờ cát và những con chim nhảy nhót không chút sợ hãi giữa những cái mõm há rộng của chúng để nhặt những mẩu thức ăn bị mắc trong răng. Đêm đó, giữa giấc ngủ tôi cũng nghe thấy tiếng hà mã gầm trong đám sậy và sáng ra vô số chim màu đỏ hồng bay lượn trên không trung xung quanh thuyền. Tôi lại ở Ai Cập, quê hương tôi, nhưng sau khi đã quen với ý nghĩ này, khi sông Nile mỗi ngày cuồn cuộn nước lướt qua thuyền, tôi lại cảm thấy mình cô đơn, xa lạ trên thế gian, trái tim tôi tràn ngập nỗi chán nản kỳ lạ và cảm giác hư ảo phù phiếm, nên tôi đi xuống khoang và nằm xuống thảm của mình, không còn muốn ngắm nhìn xung quanh, không còn muốn nói chuyện say sưa với mọi người như trong những ngày đầu chuyến đi. Tôi biết việc trở lại Thebes sẽ không giúp tôi thôi cật vấn lòng mình và dù tôi ở lại bất kỳ thành phố nào dọc bên bờ sông, mua một ngôi nhà ở đó và bắt đầu hành nghề của mình thì nỗi cô đơn trong lòng cũng vẫn thế. Nhưng tôi phải gặp Horemheb và lý do này cũng tốt như bất cứ lý do nào khác để tôi tiếp tục hành trình về Thebes.

Thế là từ dưới lòng sông, tôi lại được nhìn thấy ba đỉnh núi, ba hộ vệ vĩnh cửu của Thebes, nằm chắn ngang bầu trời phương đông. Dân cư dần trở nên đông đúc, làng mạc nghèo khó với những túp lều đất sét xen kẽ với những khu phố giàu có, cho đến khi những bức tường thành hiện ra hùng vĩ như những ngọn núi; tôi đã thấy mái và cột của ngôi đền lớn và nhiều tòa nhà trong khu vực đền thờ và hồ thánh. Ở phía tây, thành phố của người chết trải dài vô tận đến những ngọn núi, lăng mộ của các pharaon trắng lóa trước những ngọn núi màu vàng và những hàng cột của ngôi đền thờ Hoàng hậu Đại đế vẫn nhô cao đỡ biển cây đang trổ hoa. Phía sau dãy núi là thung lũng cấm đầy rắn và bọ cạp, nơi thi thể khô của bố tôi Senmut và mẹ tôi Kipa được bọc trong da bò yên nghỉ vĩnh hằng trong cát của thung lũng, bên lối vào lăng mộ của Pharaon Đại đế. Xa xa về phía nam trên bờ sông, hoàng cung của Pharaon nhô cao, thanh thoát màu xanh dìu dịu giữa những vườn cây và các bức tường thành. Tôi băn khoăn liệu có phải bạn tôi Horemheb sống ở đó không.

Thuyền cặp vào bến đá quen thuộc bên bờ sông, tất cả vẫn như trước và chỉ cách mấy góc phố là nơi tôi sống thời thơ ấu mà không biết mình sẽ hủy hoại cuộc đời của bố mẹ khi trưởng thành. Cát bụi thời gian lại bắt đầu khuấy động những ký ức cay đắng của tôi khi tôi nghĩ về chúng, ước muốn trốn vào đâu đó, giấu mặt đi lại xâm chiếm tôi và tôi không còn thấy chút niềm vui nào, mặc dù bao quanh tôi vẫn là không khí nhộn nhịp của bến cảng một thành phố lớn và tôi cảm thấy sự náo nhiệt của Thebes trong ánh mắt, trong sự vội vã, bồn chồn của mọi người. Tôi không có dự định gì cho lần trở lại này mà đã quyết định để mọi việc tùy thuộc vào cuộc gặp với Horemheb và địa vị của anh ấy trong triều đình. Nhưng khi bàn chân tôi chạm lên đá lát của bến thuyền, đột nhiên trong đầu tôi xuất hiện một dự định không dính dáng gì tới danh tiếng nghề y, tới sự giàu có hay những món quà lớn nhờ tất cả tri thức tôi đã thu thập được, như tôi đã tưởng tượng trước đây, mà về một cuộc sống giản dị không danh vọng và những bệnh nhân nghèo khó. Thế nhưng một sự thanh thản lạ lùng tràn ngập tâm hồn tôi khi tôi cảm nhận được tương lai của mình là sự hiển linh ấy, và điều này một lần nữa cho thấy con người ta biết ít như thế nào về tâm tưởng của mình, mặc dù tôi từng nghĩ rằng tôi hiểu chính mình đến tận tâm can. Trước đây chưa lần nào tôi nghĩ đến một điều như vậy, nhưng có lẽ điều này đã âm thầm chín muồi trong tôi như kết quả của tất cả những gì tôi đã trải qua. Tôi trở lại là đứa trẻ nghiêm trang, tò mò quan sát bố Senmut tiếp đón, chữa trị bệnh nhân trong phòng mạch của mình, nghe tiếng ồn ào của Thebes xung quanh mình và bàn chân chạm vào những tảng đá nóng dưới ánh nắng mặt trời nơi bến cảng. Vì thế, tôi vừa xua đám cửu vạn đang nhao nhao xô đẩy nhau xông đến bên mình, vừa nói với Kaptah:

- Hãy để đồ đạc của chúng ta trên thuyền đã và đi mua ngay cho ta một ngôi nhà, thế nào cũng được, gần bến cảng, trong khu nghèo, gần nhà của bố mẹ ta trước khi nó bị phá dỡ. Làm nhanh lên để ta có thể chuyển đến nhà mình hôm nay và ngày mai bắt đầu hành nghề được.

Kaptah há hốc mồm và cả khuôn mặt như mất hết sinh khí, vì ông ấy tin rằng trước tiên chúng tôi sẽ vào nghỉ ở một nhà trọ tốt nhất cho nô lệ phục vụ. Nhưng ít nhất lần này ông không cãi tôi một lời nào mà im thin thít, nhìn thẳng vào mặt tôi rồi lặng lẽ cúi đầu bỏ đi. Tối hôm đó, tôi chuyển đến ngôi nhà vốn của một người đúc đồng trong khu phố nghèo, đồ đạc của tôi được mang từ thuyền đến và tôi trải thảm trên nền đất sét. Những ngọn lửa bếp lại bùng cháy phía trước những túp lều bằng đất của những con hẻm nghèo và mùi cá rán xộc lên lan khắp khu phố bẩn thỉu, nghèo khổ, bệnh hoạn cho đến khi đèn được thắp lên trên cánh cửa của các nhà vui, nhạc Syria bắt đầu vang lên từ các quán rượu, hòa lẫn với tiếng hò hét của các thủy thủ ngất ngưởng say và bầu trời Thebes rực đỏ với vô số ánh đèn ở trung tâm thành phố. Tôi lại ở quê nhà sau khi đã đi hết nhiều con đường lầm lỗi và ở nhiều miền đất, vừa trốn tránh bản thân vừa thu thập kiến thức.

❖ 4 ❖

Sáng hôm sau, tôi nói với Kaptah:

- Hãy đặt một bảng hiệu thầy thuốc treo lên cửa nhà ta, nhưng đơn giản thôi, không có hình vẽ và trang trí. Nếu có ai hỏi ta, đừng kể về danh tiếng và kiến thức của ta, mà chỉ nói danh y Sinuhe sẽ nhận chữa bệnh cho người giàu lẫn người nghèo và chỉ cần trả quà theo khả năng của người bệnh.

- Cả người nghèo ư? - Kaptah thực sự hoảng hốt, hỏi lại. - Ôi, ông chủ ơi, ông không ốm đấy chứ? Ông không uống nước đầm lầy hay bị bọ cạp cắn đấy chứ?

- Hãy làm như ta nói, nếu ngươi muốn ở lại với ta, - tôi nói. - Còn nếu ngôi nhà đơn sơ này không giữ được ngươi và nếu mùi của đám dân nghèo làm phiền cái mũi đã tao nhã hơn khi ở Syria của ngươi, ngươi có thể tự do đi và về tùy ý. Ta đoán ngươi đã lấy trộm của ta tương đối, đủ để mua nhà riêng cho mình và lấy vợ nếu ngươi muốn. Ta không ngăn cấm.

- Vợ ư? - Kaptah kêu lên còn kinh hoàng hơn. - Ông ốm thật rồi, ông chủ ạ, và đầu của ông nóng. Vì sao tôi lấy vợ, người sẽ áp bức tôi và ngửi ngửi hơi thở của tôi khi tôi trở về từ thành phố và sáng sáng đứng cạnh tôi với cây gậy trong tay, miệng chứa đầy lời cay nghiệt khi tôi thức dậy đầu còn đau nhức. Quả thật, tại sao tôi phải lấy vợ, khi nô tỳ tầm thường nhất có thể làm điều tương tự với tôi, điều này tôi nói với ông rồi. Không còn nghi ngờ gì nữa, thần linh đã lấy sự điên rồ trừng phạt ông, và tôi cũng không ngạc nhiên vì tôi biết ông nghĩ gì về các vị thần, nhưng ông là ông chủ của tôi, đường ông đi là đường của tôi và hình phạt của ông cũng là hình phạt của tôi, mặc dù tôi đã nghĩ rằng cuối cùng tôi có thể được nghỉ ngơi và thanh thản sau tất cả những gánh nặng khủng khiếp mà ông đặt lên vai tôi, chưa kể những chuyến hành trình qua biển mà sau đó tôi không hề muốn nghĩ đến nữa. Nếu thảm cói thích hợp để trải chỗ cho ông nằm thì có lẽ cũng thích hợp cho tôi và dù sao cũng có phần an ủi trong nỗi thống khổ này là không chỉ các quán bia và các nhà vui đều trong tầm với mà cả Đuôi Cá Sấu, quán tôi kể với ông, cũng không xa đây lắm. Hy vọng ông sẽ tha thứ cho tôi nếu hôm nay tôi đến đó và uống đến say xỉn, vì tất cả những điều này làm tôi vô cùng hoảng sợ và tôi phải dùng cách nào đó để trấn tĩnh lại. Quả thật mỗi khi nhìn ông, tôi linh cảm điều tồi tệ và tôi không bao giờ biết trước ông sẽ nói hay sẽ làm gì, bởi ông nghĩ và làm mọi việc ngược hẳn với những người khôn ngoan, mà điều này thì tôi không hề chờ đợi từ ông. Chỉ kẻ điên mới giấu đá quý vào đống phân, hệt như vậy, ông chôn vùi kỹ năng và kiến thức của mình vào thùng rác.

- Kaptah, - tôi nói, - tất cả đều được sinh ra trần truồng trên thế gian, trong bệnh tật không có sự khác biệt giữa người nghèo và người giàu, giữa người Ai Cập và người Syria.

- Có thể không, nhưng quà mà họ tặng thầy thuốc lại rất khác nhau, - Kaptah nói rất có lý. - Tuy nhiên, suy nghĩ của ông đầy thiện ý và tôi không có gì phản đối nếu người khác thực hiện nó chứ không phải ông, vì cuối cùng, sau tất cả những vất vả, chúng ta có thể ngồi trên cành vàng. Tốt hơn là ông nên suy nghĩ như một kẻ sinh ra làm nô lệ, bởi hồi còn trẻ đôi khi tôi đã có những suy nghĩ như ông, cho đến khi cây gậy dạy tôi trở nên khôn ngoan hơn.

- Để ngươi biết hết, - tôi nói thêm, - ta nói thêm là sau một thời gian, nếu tình cờ gặp một đứa trẻ bị bỏ rơi nào đó, ta sẽ đón nhận và nuôi dạy nó như con trai ta.

- Tại sao cần làm thế? - Kaptah sửng sốt hỏi. - Chẳng phải trong đền có nhà cho những đứa trẻ bị bỏ rơi ư, một số được các giáo sĩ bậc thấp nuôi dưỡng, một số trở thành hoạn quan và có cuộc sống hào nhoáng hơn những gì mẹ chúng từng mơ ước trong hậu cung của pharaon và nhà tỳ thiếp của quý tộc. Mặt khác, nếu ông muốn con trai, điều đó là dễ hiểu, không có gì đơn giản hơn, chỉ cần ông không dại dột đập vỡ vò với người đàn bà lạ nào đó, người chỉ gây phiền phức cho chúng ta. Nếu không muốn mua nô tỳ, ông vẫn có thể ăn nằm với một cô gái nghèo nào đó, cô ta sẽ rất hạnh phúc và biết ơn nếu ông nhận đứa bé làm con của mình và như vậy, cô ta được giải thoát khỏi sự nhục nhã. Nhưng trẻ con chỉ đem lại phiền phức, khó chịu và chắc chắn người ta đã cường điệu niềm vui mà chúng đem đến, mặc dù trong chuyện này tôi không biết nói gì, vì tôi chưa bao giờ nhìn thấy con mình, dù tôi có đủ chứng cứ để nói rằng chúng là cả một đội quân đang lớn lên ở các miền gió khác nhau. Khôn ngoan hơn, nếu ngay hôm nay ông mua một nô tỳ trẻ, nó cũng có thể giúp được tôi, vì chân tay tôi cứng còng run rẩy sau tất cả những khó nhọc mà tôi đã chịu đựng, nhất là vào buổi sáng khi tôi có quá nhiều việc phải làm, trong khi đó ngoài việc trông coi ngôi nhà này và nấu ăn cho ông, tôi còn phải giám sát việc đầu tư tài sản của ông.

- Đó là điều ta không nghĩ đến, Kaptah, - tôi nói, - nhưng ta không muốn mua nô lệ, nên hãy thuê cho mình một người hầu bằng tiền của ta, vì quả thật ngươi đáng được hưởng điều đó. Nếu ngươi ở trong nhà ta, ngươi có thể tự do đi và về tùy ý vì sự trung thành của ngươi và ta nghĩ ngươi có thể giúp ta có được nhiều thông tin hữu ích qua cơn khát của ngươi. Vì vậy hãy làm như ta nói và đừng hỏi thêm nữa, bởi có gì đó trong ta đưa ra quyết định này, mạnh mẽ hơn ta và ta không thể thay đổi.

Nói xong, tôi rời nhà đi hỏi tin tức bạn bè. Tôi dò hỏi về Thotmes ở quán Vò Rượu Syria, nhưng quán đã đổi chủ và không ai biết gì về họa sĩ nghèo kiếm sống bằng cách vẽ mèo trong sách tranh cho những đứa trẻ con nhà giàu có. Để hỏi về Horemheb, tôi đã đến trại lính nhưng nó trống không. Trong sân trại không có vật dụng, không có binh lính tập đâm giáo vào những bao tải sậy như trước đây, những cái nồi nấu cháo to tướng không còn bốc hơi trong nhà bếp, mà tất cả đều trống không. Một viên phó đội lỗ mãng người Shardana vừa di ngón chân trên cát vừa nhìn tôi, khuôn mặt nâu đen gầy gò và khô khốc, nhưng vội vã cúi đầu trước mặt tôi khi tôi hỏi về Horemheb, thống lĩnh quân đội của Pharaon, người đã chiến thắng quân Khabiri ở miền hoang mạc gần biên giới Syria vài năm trước. Horemheb vẫn là tể tướng quân đội hoàng gia, viên phó đội nói bằng phương ngữ Ai Cập, nhưng mấy tháng nay ngài đang ở đất Kush để giải tán quân đồn trú ở đó và cho các đội quân giải nghệ, không ai biết bao giờ ngài trở về. Tôi cho anh ta một miếng bạc vì thấy anh ta đang buồn, anh ta mừng rỡ đến nỗi quên mất thanh danh người Shardana, vừa mỉm cười với tôi vừa kinh ngạc nguyền rủa một thần vô danh nào đó. Khi tôi chuẩn bị đi, anh ta giữ tôi lại và bất lực đưa tay chỉ vào khoảng sân trống.

- Horemheb là vị chỉ huy vĩ đại, hiểu quân sĩ, bản thân là một người lính nên ngài không sợ gì, - anh ta nói. - Horemheb là con sư tử, Pharaon là con dê không sừng. Doanh trại không lính, không lương, không có thức ăn. Đồng đội của tôi về miền quê xin ăn. Chuyện gì sẽ đến từ tất cả những điều này, tôi không biết. Xin Amon ban phước cho anh vì miếng bạc, người đàn ông tốt bụng ạ. Đã nhiều tháng rồi tôi không được uống đến say. Bụng tôi đầy nỗi lo. Người ta đã dụ dỗ tôi rời đất nước mình với nhiều lời hứa. Những người tuyển mộ lính của Ai Cập đi từ lều này sang lều kia và hứa nhiều bạc, nhiều đàn bà, nhiều cuộc say. Giờ thì sao? Không bạc, không chè chén và không đàn bà!

Anh ta nhổ nước bọt để thể hiện sự khinh bỉ của mình và lấy bàn chân chai sạn dí miếng nước bọt vào bụi đất. Anh ta là một người Shardana đau khổ và tôi rất tiếc cho anh ta, vì qua lời anh ta nói, tôi hiểu rằng Pharaon đã bỏ rơi binh lính của mình và giải tán các đội quân đã được Thái thượng hoàng vĩ đại vào thời đó tuyển mộ và thuê mướn từ nước ngoài với chi phí rất lớn. Ngay lúc đó, tôi nhớ đến Ptahor già và vì muốn biết nơi ông ở, tôi dẹp suy nghĩ sang bên và đi đến đền thờ Amon và Nhà Sống để hỏi tên ông trong sách. Nhưng viên ký lục cho biết danh y khoan sọ hoàng gia đã chết và được chôn cất tại thành phố của người chết hơn một năm trước. Thế là tôi không thể tìm thấy người bạn nào ở Thebes nữa.

Khi đã ở trong khu đền, tôi đi đến thánh đường lớn, cảm nhận lại ánh hoàng hôn linh thiêng của Amon xung quanh mình và mùi nhang lễ trong những cột đá nhiều màu sắc được chạm khắc đầy những dòng chữ linh thiêng và trên cao, những con chim nhạn lao vút ra và vào qua các khung cửa mắt cáo bằng đá. Nhưng ngôi đền rất vắng vẻ và sân trước cũng trống trơn, không còn cảnh làm việc khẩn trương và buôn bán nhộn nhịp ở vô số các quầy hàng và xưởng trong đền như trước nữa. Các giáo sĩ mặc áo choàng trắng, đầu cạo nhẵn, xức dầu bóng loáng lấm lét nhìn tôi, đám đông trong sân trước nhỏ nhẹ nói với nhau và nhìn trước ngó sau như sợ người khác nghe lén. Tiếng ồn ào, náo nhiệt của sân này vào những buổi sáng sớm, giống như tiếng gió thổi qua đám sậy xa xa, rất quen thuộc với tôi trong những ngày còn đi học, giờ đây đã bị nén xuống thành tiếng thầm thì. Tôi chưa bao giờ yêu quý Amon, nhưng một nỗi niềm bâng khuâng kỳ lạ vẫn cứ tràn ngập tim tôi như khi con người ta nghĩ về tuổi trẻ đã qua của mình dù tuổi trẻ đó đẹp hay xấu.

Khi bước ra khỏi tháp môn giữa những bức tượng pharaon khổng lồ đầy uy lực, tôi nhận thấy một ngôi đền mới đã mọc lên ngay cạnh ngôi đền lớn, với kích thước đồ sộ và kiến trúc kỳ lạ mà tôi chưa từng thấy trước đây. Xung quanh nó không có tường bao và khi bước vào, tôi thấy những hàng cột bao quanh một khoảng sân trống và trên các bàn thờ ở đó có đặt các loại ngũ cốc, hoa và trái cây làm đồ cúng. Aton tròn vành vạnh ban vô vàn tia sáng của mình lên pharaon đang làm lễ hiến tế trên một bức phù điêu lớn, mỗi tia nắng kết thúc trên một bàn tay ban phước và mỗi bàn tay có một thánh giá sự sống. Các giáo sĩ mặc áo choàng trắng không cạo tóc, đa số là các chàng trai trẻ, nét mặt sáng bừng say mê khi họ hát một bài thánh ca, trong đó có những lời mà tôi nhớ lâu lắm đã có lần được nghe ở Jerusalem của Syria. Nhưng bốn mươi cây cột lớn gây ấn tượng mạnh hơn với tôi, hơn các giáo sĩ và những bức phù điêu, từ mỗi cột, vị pharaon mới được chạm khắc với kích thước siêu phàm đang chằm chằm nhìn người xem, hai cánh tay bắt chéo trước ngực và trong tay cầm một cây trượng cong và roi hoàng gia.

Các cột điêu khắc đó mô tả Pharaon, tôi biết điều đó, vì tôi quen khuôn mặt “trong cơn nhiệt huyết thì rất đáng sợ” đó, quen thân thể gầy gò nhưng căng phồng ở hông với đôi chân và cánh tay thon thả. Một nỗi kinh ngạc đến khiếp sợ tràn ngập tâm trí khi tôi nghĩ tới người nghệ sĩ đã có thể và đã dám chạm khắc những bức tượng này, bởi vì nếu bạn tôi, Thotmes, đã thỉnh thoảng mơ ước đến nghệ thuật tự do thì ở đây anh ấy sẽ thấy nghệ thuật tự do dưới dạng khủng khiếp như biếm họa. Tất cả các dị tật trên cơ thể của Pharaon được các nghệ sĩ nhấn mạnh một cách lạ thường, cặp đùi căng phồng đó, mắt cá chân gầy gò đó, và cái cổ lêu nghêu đầy nhiệt huyết đó, tất cả như có một ý nghĩa thần thánh và huyền bí. Nhưng đáng sợ nhất là khuôn mặt của Pharaon, khuôn mặt dài khác thường với đôi lông mày xếch và gò má nhô cao, nụ cười bí hiểm của người mơ mộng và hay báng bổ quanh đôi môi dày. Các pharaon bằng đá, những hình người khổng lồ, hùng dũng như những vị thần ngồi hai bên tháp môn của đền thờ Amon. Còn ở đây, hình người lêu nghêu, sưng phồng này đang chằm chằm ngó từ bốn mươi cây cột xuống những bệ thờ Aton. Cũng giống con người, anh ta nhìn từ các cột ra xa hơn, như bất kỳ người nào khác, và toàn bộ hình thể tạc vào đá của anh ta là sự mỉa mai đầy đam mê, sự cuồng tín đầy căng thẳng.

Nhìn vào những cột đá này, tôi rùng mình và run rẩy vì lần đầu tiên tôi thấy Amenhotep Đệ Tứ như thể chính ngài thấy bản thân mình như thế. Tôi đã từng gặp ngài một lần, khi ngài còn trẻ, ốm yếu, bị căn bệnh thần thánh làm cho co giật và với bản tính thông thái trước tuổi của mình, tôi đã lạnh lùng quan sát ngài dưới con mắt của người khám phá và của một thầy thuốc, chỉ để hiểu những lời mê sảng của ngài. Bây giờ tôi thấy ngài như người nghệ sĩ thấy, có lẽ cả ghét lẫn yêu, người nghệ sĩ can đảm nhất từ trước tới nay ở Ai Cập, bởi nếu trước đây có ai dám khắc hình pharaon như vậy, người đó sẽ bị đánh cho bầm dập và treo trên tường như một kẻ báng bổ.

Cả trong đền này cũng không có nhiều người lắm, ngoài mấy người đàn ông và đàn bà mà tôi đoán thuộc giới thượng lưu và sống trong hoàng cung, qua quần áo vải lanh hoàng gia, những cổ áo nặng và đồ trang sức bằng vàng. Dân thường lắng nghe các bài thánh ca của giáo sĩ với vẻ mặt ngu ngơ rất rõ, vì các giáo sĩ hát lời mới và chắc sẽ quá mệt mỏi để đoán xem chúng có nghĩa gì. Chúng khác với những lời cũ, vốn được truyền lại từ thời kim tự tháp cách đây vài ngàn năm, với những từ ngữ mà các đôi tai ngoan đạo đã nghe từ thời thơ ấu, đến nỗi người ta nhận ra và hiểu chúng bằng tấm lòng mà không bao giờ phải nghĩ về nội dung của chúng, nếu quả thật trong những lời đó có ý nghĩa, hoặc ít nhất theo cách hiểu của tôi, những ý nghĩa đó đã thay đổi và hòa lẫn với nhau trong sự lưu truyền nhầm lẫn qua các thế hệ và được các giáo sĩ cần mẫn chép sai.

Tuy nhiên sau khi bài thánh ca kết thúc, một ông già, qua trang phục tôi đoán là người nhà quê, bước tới cung kính nói chuyện với các giáo sĩ và ngỏ ý muốn mua một bùa chú thích hợp hoặc cái che mắt hoặc một tờ giấy với dòng chữ bùa phép, nếu chúng được bán với giá phải chăng.

Các giáo sĩ nói với ông là trong đền này không bán những thứ như vậy, bởi Aton không cần phép thuật và giấy tờ mà giao tiếp với bất cứ ai tin vào thần, không cần sự hiến tế và quà tặng. Nghe nói thế, ông lão tỏ ra rất bực tức và bỏ đi, lầm bầm những lời báng bổ về những lời nói dối trá và tôi thấy ông bước vào nha môn Amon thân quen.

Vợ một ngư phủ bước lại gần các giáo sĩ, nhìn họ với cặp mắt sùng kính và hỏi:

- Không ai cúng cừu hay bò cho Aton để các ngài có ít thịt để ăn nên các ngài gầy ốm thế này, các chàng trai đáng thương. Nếu thần của các ngài hùng mạnh và vĩ đại, như người ta nói là mạnh hơn cả Amon, mặc dù tôi không tin điều đó, thì các giáo sĩ của ngài cần to lớn và da dẻ mỡ màng. Tôi chỉ là một người đàn bà chất phác và không hiểu biết gì nhiều hơn, nhưng từ trong tim mình tôi mong ước cho các ngài được nhiều thịt và mỡ.

Các giáo sĩ cười khúc khích và thì thầm với nhau tinh nghịch như các cậu bé, cho đến khi người lớn tuổi nhất trong số họ trở nên nghiêm túc và nói với người đàn bà:

- Aton không đòi hiến máu và bà không nên nói về Amon trong đền của ngài, bởi vì Amon là vị thần giả và không lâu nữa, ngai của ông ta sẽ bị đổ và đền của ông ta sẽ bị phá dỡ.

Người đàn bà vội quay ngoắt đi và nhổ nước bọt lên mặt đất, rồi vừa dùng tay làm dấu để tôn kính thần Amon vừa nói vội vàng:

- Cậu đã nói điều đó chứ không phải tôi, nên xin lời nguyền rơi xuống đầu cậu.

Bà ta nhanh chóng bỏ đi và mấy người khác đi theo, vừa sợ hãi ngoái lại liếc các giáo sĩ. Nhưng các giáo sĩ cười phá lên rất to và đồng thanh hét lên:

- Đi đi, những kẻ vô thần, nhưng Amon là một vị thần giả! Amon là một vị thần giả, và quyền lực của thần sẽ đổ rạp như cỏ trước lưỡi liềm.

Lúc đó, một trong những người bỏ đi nhặt một hòn đá từ dưới đất, ném về phía các giáo sĩ và trúng vào mặt một giáo sĩ làm ông ta bị chảy máu. Ông ta vừa đưa hai bàn tay che mặt vừa rên rỉ, các giáo sĩ hét lên gọi lính canh, nhưng người ném đã bỏ chạy và lẩn vào đám đông trước tháp môn của Amon.

Tất cả những điều này từng khiến tôi suy nghĩ rất nhiều, vì vậy tôi lại gần các giáo sĩ và nói:

- Tôi đúng là một người Ai Cập, nhưng tôi đã sống một thời gian dài ở Syria nên tôi không biết vị thần mới mà các anh gọi là Aton này. Các anh có thể vui lòng khai sáng và giải thích cho tôi biết ngài là gì, ngài đòi hỏi gì và ngài được thờ phụng như thế nào không?

Họ nghi ngờ và hoài công tìm kiếm sự giễu cợt trên mặt tôi, cuối cùng họ nói:

- Aton là vị thần duy nhất. Ngài đã sáng tạo ra đất và sông suối, con người, động vật và tất cả những gì di động trên trái đất. Ngài luôn hiện hữu và ban đầu người ta thờ cúng sự hiển linh của ngài dưới dạng thần Ra, nhưng vào thời của chúng ta, ngài hiển linh như là Aton cho con trai của mình là Pharaon, người chỉ sống bằng sự thật. Từ đó ngài là vị thần duy nhất, còn lại là những vị thần giả. Ngài không từ bỏ bất cứ ai xin ngài giúp đỡ, cả người giàu lẫn người nghèo đều bình đẳng trước Aton và mỗi buổi sáng chúng tôi chào đón ngài, vầng hào quang mặt trời, thần ban phước cho trái đất bằng những tia sáng, cho cả thiện và ác, trao cho mọi người thánh giá sự sống. Nếu ông công nhận điều đó, ông là người thờ phụng ngài, vì bản chất của ngài là tình yêu, ngài trường tồn, vĩnh cửu và có mặt ở khắp mọi nơi, vậy nên không có gì xảy ra ngoài ý muốn của ngài.

Tôi nói với họ:

- Tất cả những điều này chắc chắn rất đẹp và đúng, nhưng liệu ngài có muốn hòn đá vừa rồi đập vào miệng cậu bé khiến máu bắt đầu chảy không?

Các giáo sĩ bối rối nhìn nhau và nói:

- Ông báng bổ.

Nhưng cậu bé bị hòn đá rơi trúng mặt đã hét lên với tôi:

- Ngài cho phép nó xảy ra, vì tôi không xứng đáng với ngài để học điều đó. Tôi đã tự hào quá nhiều về sự yêu mến của Pharaon, vì tôi xuất thân từ một tầng lớp thấp, cha tôi chăn nuôi gia súc và mẹ tôi kín nước từ dưới sông cho đến khi Pharaon cho tôi hưởng đặc ân của ngài, vậy nên tôi phụng sự thần của ngài bằng giọng hát hay của mình.

Tôi nói vẻ tôn kính:

- Chắc chắn vị thần này phải là một vị thần vĩ đại, vì ngài có thể đưa một người từ bùn đen đến nhà vàng của Pharaon.

Họ đồng thanh nói:

- Ông nói đúng, vì Pharaon không nhìn vào bề ngoài, sự giàu có hay xuất thân của con người mà chỉ nhìn vào trái tim của người đó và với sức mạnh của Aton, Pharaon nhìn thấu tim của tất cả mọi người và những suy nghĩ thầm kín nhất của họ.

Tôi phản đối và nói:

- Vậy thì ngài không phải là con người, vì với quyền năng của con người thì không thể nhìn thấy trái tim của người khác, mà chỉ chính Osiris mới có thể cân đo trái tim của con người.

Họ bàn luận với nhau và nói:

- Osiris chỉ là một câu chuyện dân gian mà con người không còn sùng kính nữa khi đã tin vào Aton. Mặc dù Pharaon chỉ muốn là con người, nhưng chúng ta không hồ nghi rằng bản chất của ngài thật sự là thần thánh và điều này đã được chứng minh bằng những ảo ảnh mà ngài thấy, trong đó ngài có thể sống nhiều cuộc đời trong một khoảnh khắc ngắn. Nhưng chỉ những người yêu ngài mới có thể biết được điều đó. Vì thế, các nghệ sĩ cũng đã tạc khắc ngài vừa như một người đàn ông vừa như một người đàn bà trên các cột của đền, bởi vì Aton là nguồn sống mạnh mẽ đem sự sống cho hạt giống của người đàn ông và tạo ra một đứa trẻ từ trong bụng mẹ.

Khi ấy tôi giơ tay giễu cợt rồi ôm lấy đầu mình và nói:

- Tôi chỉ là một người đàn ông chất phác, giống như người vừa nãy chỉ là một người đàn bà cục mịch, không thể hiểu hết sự thông thái của các anh. Nhưng có vẻ như sự thông thái của các anh cũng làm các anh bối rối, vì các anh phải bàn bạc với nhau trước khi có thể trả lời tôi.

Họ hào hứng đáp:

- Aton tuyệt vời, như vầng hào quang mặt trời tuyệt hảo, tất cả những gì có trong ngài đều tồn tại, sống động và thở, đều hoàn hảo, còn ý nghĩ của con người không hoàn hảo mà giống như sương mù, do đó chúng tôi không thể khai sáng cho ông vì chúng tôi chưa biết hết tất cả, nên chúng tôi học thêm mỗi ngày theo ý muốn của ngài, ý muốn mà chỉ Pharaon biết, vì người là con trai của ngài và sống vì sự thật.

Những lời đó làm tôi đau xót vì tôi thấy họ thật sự rất chân thành, mặc dù họ mặc đồ lanh đẹp, tóc xức dầu và khi hát, họ cũng vui sướng trước ánh mắt ngưỡng mộ của phụ nữ và cười nhạo những người hiền từ, chất phác. Một cái gì đó tôi không thật rõ, bất chấp tài năng và kiến thức của tôi, dần chín trong tôi và đang đáp lại những lời này, và lần đầu tiên tôi nhận ra suy nghĩ của con người dường như không hoàn hảo, vì thế có thể tồn tại một cái gì đó ngoài ý nghĩ của con người mà mắt không thể thấy, tai không thể nghe và tay không thể chạm tới. Có lẽ Pharaon và các giáo sĩ của ngài đã phát hiện ra sự thật này và đặt tên cho điều xa lạ nằm ngoài suy nghĩ của con người đó là Aton.

Cho đến lúc này, tôi đã từng nghĩ rằng suy nghĩ của con người có thể mở tất cả các cánh cửa và kiến thức có một giới hạn mà con người có thể đạt tới, và khi kiến thức được nâng cao, tâm hồn của con người cũng lớn theo. Nhưng tôi đã đạt được gì với tất cả kiến thức của mình? Kiến thức của tôi càng lớn, lòng tôi càng khô héo và tôi càng cảm thấy cuộc sống của mình buồn tẻ hơn cho đến khi nó chỉ đứng yên, như vũng nước đọng giữa bùn. Tôi vô cùng ngán ngẩm bản thân, kiến thức và kỹ năng của mình. Vì thế tôi quyết định chôn vùi kiến thức và kỹ năng để làm một thầy thuốc của người nghèo. Tôi không làm điều đó theo mệnh lệnh của trái tim mà vì sự thất vọng với bản thân, nhưng bây giờ Aton hiện ra với tôi như một sự bí ẩn nằm ngoài suy nghĩ và kiến thức của con người, ngay cả hình Pharaon nhìn chằm chằm từ những cột đá cũng không còn làm tôi phẫn nộ hay hoảng sợ nữa, mà tôi nhìn chúng như thể mình hoàn toàn bị mê hoặc, như thể những đôi mắt đá kia đang nhìn vào một nơi mà con người chưa bao giờ nhìn thấu. Vì thế cái miệng kia mới có nụ cười nhạo báng, kiêu ngạo với đầy sự tự tin bí ẩn như thế. Và tôi tự hỏi liệu những giáo sĩ trẻ này, trong sự thiếu từng trải của mình, có linh cảm chút gì về điều họ nói hay không. Bởi vậy, tôi không nhận thánh giá sự sống mà họ hoài công chào mời tôi.

Tôi bước ra khỏi đền Aton với cảm giác cuộc đời mình cho đến lúc này chỉ là một căn phòng tường đá kín mít không có lối ra và bây giờ, lần đầu tiên, tôi đã tìm thấy một lỗ hổng hẹp giữa những tảng đá, nơi ánh sáng chiếu vào bóng tối và không khí tràn vào để trái tim tôi thở. Tôi cảm thấy cuộc đời mới đã mở ra với tôi, giống như lần đầu tiên tôi bị mê hoặc bởi kiến thức và sức mạnh của người thầy thuốc. Nhưng tôi nghĩ cảm giác này chỉ có được với một người rất cô đơn và đã mất mát rất nhiều. Tôi, Sinuhe, một người xa lạ trên mặt đất, đã có trải nghiệm này một lần trong đền thờ Aton, khi tôi đoán được những gì Pharaon nhìn thấy qua con mắt bệnh tật của ngài. Tôi cảm nhận được điều đó với sự ngạc nhiên và ngưỡng mộ ngài, nhưng đồng thời tôi biết rằng ngài không bao giờ nên là một pharaon, vì quyền lực là thứ nguy hiểm đối với nhà tiên tri, người thấy những ảo ảnh không phải về thế giới này.

❖ 5 ❖

Tôi về đến nhà khi trời đã nhá nhem tối, một tấm biển khám chữa bệnh đơn sơ đã được treo phía trên cửa và một vài bệnh nhân nhếch nhác đang kiên nhẫn ngồi chờ tôi trong sân. Kaptah ngồi trên hiên nhà có vẻ không hài lòng, phe phẩy lá cọ trên mặt và chân để đuổi lũ ruồi theo người nghèo đến, nhưng ông ta có một hũ bia mới mở ở bên cạnh để an ủi.

Trước hết tôi bảo ông ấy cho người mẹ đang bế đứa bé gầy gò trên tay vào phòng, vì thuốc với người này là chỉ cần một miếng đồng để bà ta mua thức ăn cho mình và có sữa cho con. Tiếp theo, tôi chữa cho một nô lệ có ngón tay bị kẹt trong cối xay hạt ngũ cốc, nắn xương và khớp ngón tay vào vị trí rồi cho anh ta uống một loại thuốc hòa trong rượu để giảm đau. Sau đó, tôi còn giúp một viên ký lục già có một khối u trên cổ to như đầu một đứa bé, đến nỗi ông ta đi lại với cái đầu ngoẹo sang bên, mắt lồi lên và chỉ có thể thở một cách khó nhọc. Tôi cho ông ta một loại thuốc chiết ra từ rong biển mà tôi đã học được ở Simyra, mặc dù không tin nó có thể giúp được ông ta nhiều nữa. Ông ta moi từ trong một miếng giẻ sạch ra một vài miếng đồng và đưa cho tôi, nài nỉ xin tôi bỏ quá cho sự nghèo khó của ông ta, nhưng tôi không nhận mà nói rằng tôi sẽ cho gọi ông ta khi nào tôi cần đến việc biên chép, ông ta mừng rỡ ra về khi vẫn giữ được đồng của mình.

Một cô gái từ một nhà vui không xa nhờ tôi giúp vì đôi mắt bị ghẻ gây bất lợi cho nghề nghiệp của cô ta. Tôi rửa mắt và pha cho cô ta thuốc đắp lên mắt để diệt ghẻ, cô ta e thẹn cởi xiêm áo, tặng tôi món quà theo cách duy nhất mà cô ta có thể làm. Để khỏi xúc phạm cô, tôi nói tôi phải kiêng phụ nữ vì phương thuốc điều trị quan trọng mà tôi sắp thực hiện và cô ta tin lời tôi, vì cô không có hiểu biết gì về nghề y và rất kính trọng tôi vì tôi đã kiềm chế được mình. Để cô ta thấy sự nhiệt thành của mình không hoàn toàn bị lãng phí, tôi lấy dao cắt bỏ một vài mụn cóc bên hông và bụng của cô sau khi xoa kem gây tê quanh chỗ đó, nên việc cắt bỏ gần như không đau đớn và cô ta vô cùng thỏa mãn ra về.

Thế là trong ngày đầu tiên làm thầy thuốc cho người nghèo, đến muối tôi cũng không kiếm được để rắc lên bánh của mình, vì thế Kaptah đã chọc ngoáy tôi bằng cách cho tôi ăn một con ngỗng béo được chế biến theo kiểu Thebes, một món ăn không tìm được ở bất kỳ nơi nào khác trên thế giới. Ông ấy đã mua nó từ một hầm rượu ngon ở trung tâm thành phố, giữ nó nóng trong nồi rán và rót rượu ngon nhất từ đồi nho của Amon vào một cốc thủy tinh sặc sỡ cho tôi, rồi dè bỉu ngày làm việc đầu tiên của tôi. Nhưng lòng tôi nhẹ bỗng và tôi vui với công việc của ngày hôm nay, vui hơn nhiều so với việc chữa khỏi cho một thương gia lắm của và được trả công bằng vòng vàng. Liên quan đến việc này, tôi buộc phải kể thêm rằng mấy ngày sau, người nô lệ ở cối xay lúa mạch đã đến cho tôi xem những ngón tay đã lành của ông ta, mang theo cả một vò lúa mạch mà ông ta trộm được của chủ làm quà cho tôi, để tôi không đến mức trắng tay sau ngày làm việc đầu tiên.

Còn Kaptah an ủi tôi:

- Tôi tin sau hôm nay, danh tiếng của ông sẽ lan tỏa khắp khu phố và sân nhà ông sẽ chật kín bệnh nhân ngay từ sáng sớm, vì tôi nghe như dân nghèo đang kháo nhau: “Hãy nhanh chóng đến ngôi nhà của người nấu đồng trước đây ở góc bến cảng, vì một thầy thuốc vừa chuyển vào đó khám chữa bệnh không lấy tiền, không gây đau đớn, với kỹ năng tuyệt vời và còn cho các bà mẹ gầy gò miếng đồng, phẫu thuật thẩm mỹ cho những cô gái điếm nghèo khó mà không đòi quà cáp. Hãy nhanh chóng đến nhà ông ta, vì ai đến trước nhất sẽ nhận được nhiều nhất và ông ta sẽ khánh kiệt rất nhanh, buộc phải bán nhà và chuyển đi, nếu không sẽ bị nhốt vào một căn phòng tối và bị thả đỉa lên đầu gối”. Nhưng những kẻ ngốc đó đã nhầm, vì may là ông có vàng và tôi đã khôn khéo bắt vàng đó làm việc thay ông để ông không phải chịu cảnh thiếu thốn ở tuổi của mình, mà nếu muốn, ông có thể ăn ngỗng béo mỗi ngày và uống rượu ngon nhất, sau đó trở nên giàu có, nếu ông vẫn vừa lòng với ngôi nhà đơn sơ này. Thậm chí ông cũng không phải làm bất cứ việc gì như những người khác, nên tôi cũng không ngạc nhiên nếu một buổi sáng nào đó thức dậy, tóc tôi lại đầy tro và ông ném vàng của mình xuống giếng rồi bán nhà mình và cả tôi vì nỗi khắc khoải ghê gớm của trái tim ông. Không, điều đó không có gì đáng ngạc nhiên, vì thế, ông chủ của tôi ạ, có lẽ tốt hơn nếu ông cho viết giấy vào văn khố hoàng gia, rằng tôi được tự do đi và về như tôi muốn, bởi vì lời nói dễ bị quên và mất đi, còn giấy tờ được giữ mãi, và tốt hơn nếu nó được đóng triện đất sét của ông và ông tặng cho ký lục của hoàng gia những món quà cần thiết. Tôi có lý do đặc biệt cho đề nghị này, nhưng tôi không muốn kể điều đó ra để khỏi làm phiền cái đầu và lãng phí thời gian của ông.

Đó là một buổi tối xuân ấm áp, những đám lửa phân khô cháy rào rào trước những túp lều đất, làn gió đêm từ bến cảng mang đến mùi hương của cây tuyết tùng và nước hoa Syria, bụi keo cũng tỏa hương; tất cả những mùi này hòa quyện ngọt ngào trong mũi tôi cùng với mùi cá muối rán tối tối ngập tràn khu phố nghèo. Tôi đã ăn món thịt ngỗng kiểu Thebes và uống rượu, tâm hồn tôi thư thái và rượu xua đi những suy nghĩ nặng nề cùng những khát khao và nỗi buồn lẩn khuất đâu đó sau tấm màn che trong lòng tôi. Vậy nên tôi cũng để Kaptah tự rót rượu vào cốc của mình và nói với ông ấy:

- Ngươi được tự do, Kaptah, tự do lâu rồi, như ngươi biết, bởi vì bỏ qua sự láo xược của ngươi, ngươi là bạn của ta hơn là nô lệ kể từ ngày ngươi cho ta vay đồng và bạc của ngươi, mặc dù ngươi nghĩ sẽ không bao giờ lấy lại được. Hãy làm người tự do, Kaptah, và hãy hạnh phúc, ngày mai chúng ta sẽ để các ký lục hoàng gia viết các giấy tờ pháp lý mà ta sẽ đóng cả hai dấu triện Ai Cập và Syria của ta. Nhưng hãy kể cho ta nghe, ngươi đã đầu tư tài sản và vàng của ta như thế nào, vì ngươi nói rằng vàng sẽ làm việc thay ta, mặc dù ta không đáng được hưởng. Ngươi vẫn chưa gửi vàng của ta vào quỹ đền thờ như ta bảo ư?

- Không, thưa ông chủ! - Kaptah đáp một cách thành thật và nhìn thẳng vào mắt tôi với con mắt duy nhất của mình.

- Tôi không làm theo lệnh của ông, vì đó là một lệnh ngu ngốc và tôi chưa bao giờ làm theo những cái lệnh ngu ngốc, mặc dù đó là suy nghĩ của ông, mà làm theo suy nghĩ của mình. Có lẽ bây giờ là lúc tôi nên nói với ông, khi tôi đã được tự do và ông uống cũng nhiều rượu rồi nên không tức giận nữa. Nhưng dĩ nhiên, vì tôi quá quen với bản tính nóng nảy và khinh suất mà tuổi tác vẫn chưa làm giảm bớt của ông, nên để đề phòng tôi đã giấu gậy của ông đi rồi. Tôi nói với ông để ông khỏi mất công tìm nó, khi tôi bắt đầu kể cho ông nghe những gì tôi đã làm. Chỉ có những kẻ ngu như bò mới gửi tiền của mình vào đền, vì đền không trả gì cho việc bảo quản vàng mà đòi quà khi người ta gửi vàng vào kho của đền để lính canh bảo vệ vàng khỏi bị trộm. Nhưng việc đó thật ngu ngốc, vì đơn giản thuế quan biết ông có bao nhiêu vàng và sau đó vàng của ông sẽ giảm đi nhanh chóng khi nằm ở đó cho đến khi nó không còn nữa. Mục đích hợp lý nhất trong việc tích cóp vàng là để nó làm việc thay mình, để mình chỉ cần ngồi rung đùi và cắn một nắm hạt sen rang mặn, đem lại một cơn khát dễ chịu. Vì thế tôi đã chạy cả ngày khắp thành phố trên đôi chân khập khiễng của mình để tìm cách tốt nhất cho vàng sinh lời ở Thebes, trong khi ông lang thang đến các đền thờ và nhìn ngắm phong cảnh. Nhờ cơn khát của mình, tôi biết được nhiều điều. Người giàu không còn gửi vàng của họ vào kho của đền, vì người ta nói ở đó vàng không an toàn và nếu đúng vậy thì vàng không còn an toàn ở bất cứ nơi nào ở Ai Cập. Tôi cũng biết đền thờ Amon đang bán đất.

- Ngươi nói dối, - tôi giận dữ nói và đứng dậy, vì chỉ nghĩ thôi cũng thấy rất vô lý. - Amon không bán đất, mà mua đất. Từ xưa đến nay Amon chỉ mua đất cho đến khi thần sở hữu một phần tư đất của xứ đất đen và một khi chiếm được chỗ nào, Amon sẽ không bao giờ nhả nó ra.

- Dĩ nhiên, dĩ nhiên, - Kaptah nói như để trấn an và rót thêm rượu vào cốc thủy tinh của tôi, rồi lơ đãng rót đầy cốc đất sét của mình. - Ai khôn ngoan cũng biết rằng đất đai là tài sản duy nhất luôn tồn tại và có giá trị nếu biết cách đối xử tốt với những tay địa chính và hiểu ra là hằng năm nên tặng quà cho họ sau mùa lũ. Nhưng bây giờ Amon lại bí mật và vội vàng bán đất cho bất cứ ai sùng tín thần và có vàng. Tôi cũng sợ hết hồn khi nghe tin này và tìm hiểu thì quả thật Amon đang bán đất với giá rẻ, nhưng trong hợp đồng bán mua có điều kiện rằng nếu Amon muốn thì sau một thời gian nhất định, thần có quyền mua lại đất đó với giá cũ. Dù vậy mua thế này vẫn hời, vì đất gồm cả các nhà trại, thiết bị nông nghiệp, gia súc và nô lệ, nên mỗi năm người mua sẽ kiếm được lợi nhuận lớn trên tài sản của mình nếu canh tác tốt đất đai. Ông hẳn biết Amon sở hữu những vùng đất màu mỡ nhất ở Ai Cập. Nếu mọi thứ vẫn như trước, sẽ không có gì hấp dẫn hơn một thương vụ như vậy, vì nó chắc chắn và nhanh chóng sinh lời. Trong một thời gian ngắn, Amon đã bán một lượng đất khổng lồ và thu vén tất cả số vàng trôi nổi của Ai Cập vào các hang động của mình, khiến vàng đang khan hiếm và giá bất động sản đã giảm xuống rất nhiều. Nhưng tất cả điều này là bí mật, không được phép nói đến và tôi sẽ không biết gì về nó nếu như cơn khát hữu ích của tôi không đưa tôi gặp được đúng người.

- Ngươi không mua đất đấy chứ, Kaptah? - Tôi hoảng hốt hỏi.

Nhưng Kaptah trấn an tôi:

- Tôi không điên đến vậy, ông chủ ạ, bởi lẽ ra ông phải biết là tôi không sinh ra với phân giữa các ngón chân, mặc dù tôi là một nô lệ, mà tôi đã sinh ra nơi có những con đường rải đá và những ngôi nhà cao. Tôi không hiểu gì về đất đai, nếu tôi mua đất cho ông thì hằng năm người quản lý, người chăn nuôi gia súc, nô lệ và con bé làm thuê sẽ hở ra là lấy trộm của tôi, trong khi đó, không ai ở Thebes có thể lấy cắp bất cứ thứ gì của tôi, mà chỉ có tôi mới lấy của người khác. Lời lãi lớn từ các thương vụ của Amon cũng rõ ràng đến mức ngay cả kẻ ngốc cũng chú ý đến nó, vì thế tôi đoán có điều gì đáng ngờ trong các thương vụ này và sự nghi ngờ của đám nhà giàu vào mức độ an toàn của quỹ đền cũng chứng minh điều đó. Tôi nghĩ tất cả những điều này đang xảy ra là do vị thần mới của Pharaon. Rất nhiều điều sẽ xảy ra, thưa ông chủ, rất nhiều điều đáng chú ý sẽ xảy ra trước khi chúng ta thấy và hiểu tất cả những điều này sẽ dẫn đến đâu. Nhưng tôi, chỉ nhìn vào lợi ích của ông, đã dùng vàng của ông mua một loạt nhà ở với giá hời trong thành phố, cùng với các cửa hàng và nhà cho thuê, vì hằng năm chúng đem lại lợi nhuận tương đối; các giao kèo này đã sẵn sàng, chỉ cần dấu triện với chữ ký của ông. Hãy tin tôi, tôi đã mua chúng với giá rẻ và nếu những người bán tặng tôi quà sau khi giao kèo hoàn tất, điều đó không thuộc về ông mà là vấn đề giữa tôi với họ, phát sinh từ sự ngu ngốc của họ và trong các thương vụ này tôi không hề ăn chặn gì của ông. Tuy nhiên, tôi sẽ không phản đối nếu chính ông muốn tặng tôi cái gì đó làm quà, sau khi tôi đã thu xếp các thương vụ này một cách có lợi cho ông.

Tôi suy nghĩ một lát rồi nói:

- Không, Kaptah, ta không có ý định tặng ngươi món quà gì trong các thương vụ này, vì rõ ràng ngươi đã tính có thể ăn cắp đủ của ta khi tính tiền cho thuê và thỏa thuận với các nhà thầu xây dựng về việc sửa chữa hàng năm.

Kaptah không hề tỏ ra thất vọng, mà cam chịu theo lời tôi nói:

- Tôi cũng nghĩ như thế vì sự giàu có của ông chủ là sự giàu có của tôi, do vậy, lợi ích của ông là lợi ích của tôi và tôi phải là người trông coi tất cả tài sản của ông. Nhưng tôi phải thừa nhận rằng sau khi nghe nói về các thương vụ của Amon, tôi bắt đầu chú ý rất nhiều đến nông nghiệp nên đã đi đến các tiệm buôn bán lúa mạch và đi hết quán rượu này đến quán rượu khác vì cơn khát của tôi, lắng nghe họ nói cho đến khi tôi học được nhiều điều. Với vàng và sự cho phép của ông chủ, tôi sẽ mua lúa mạch để tích trữ, cụ thể là vào vụ hè tới, vì lúc đó các cửa hàng bán nhiều và giá cả vẫn khá hợp lý. Kỳ thực, lúa mạch dễ hư hỏng hơn đá và nhà cửa, lũ chuột ăn nó và nô lệ đánh cắp nó, nhưng chuyện đó thường xảy ra trong nông nghiệp, và muốn thắng điều gì đó thì phải dám chấp nhận rủi ro. Dù sao, nông nghiệp và mùa màng phụ thuộc vào con nước, châu chấu, chuột đồng và kênh rạch tưới tiêu cùng với nhiều thứ khác mà tôi không muốn liệt kê thêm vì tôi không biết về chúng. Tôi chỉ muốn nói là người nông dân có trách nhiệm lớn hơn tôi vì khi mua, tôi biết là với giá này, vào mùa thu trong kho của mình sẽ có lúa mạch. Tôi sẽ giữ và bảo vệ lúa mạch cẩn thận trong kho, bởi có gì đó trong tôi mách bảo rằng giá lúa mạch sẽ tăng lên theo thời gian. Thực ra tôi chỉ dự đoán theo trí khôn của mình về các thương vụ đất đai của Amon, vì nếu mọi kẻ ngốc đều trở thành nông dân, mùa màng không thể bội thu như trước. Vì thế tôi cũng đã mua các kho hàng để chứa lúa mạch, những kho khô ráo và xây gạch cẩn thận, bởi vì khi không cần đến chúng nữa, chúng ta luôn có thể cho thương lái lúa mạch thuê và kiếm lời từ đó.

Tôi thấy Kaptah đã mệt mỏi không cần thiết và chuốc cho mình nhiều nỗi lo với những kế hoạch này, nhưng chắc chắn chúng đã khiến ông ấy thích thú nên tôi không phản đối gì các khoản đầu tư của ông, khi mà tôi không phải dính dáng gì với chúng. Tôi nghĩ vậy và khi tôi nói điều đó với ông ấy, ông cẩn thận giấu sự mãn nguyện của mình và nói với vẻ ủ ê:

- Còn một kế hoạch có lẽ sinh lời nhất mà tôi muốn thực hiện bằng tiền của ông. Một trong những thương điếm lớn nhất ở chợ nô lệ đang được rao bán và tôi có thể khẳng định mình biết tất cả những gì cần biết về nô lệ, vì tôi là một nô lệ suốt cuộc đời mình, nên với việc buôn bán nô lệ, tôi tin chắc sẽ đưa ông thành người giàu có một cách nhanh chóng. Tôi biết cách giấu các khuyết tật và nhược điểm của nô lệ như thế nào và tôi có thể sử dụng cây gậy một cách đúng đắn, điều mà ông không bao giờ biết, ông chủ ạ, nếu ông cho phép tôi nói bây giờ, khi tôi đã giấu gậy của ông. Nhưng tôi rất lấy làm tiếc, vì tôi nghĩ cơ hội đáng giá này sẽ bị bỏ qua và ông sẽ không đồng ý, có phải vậy không, thưa ông chủ?

- Ngươi nói đúng, Kaptah, - tôi nói, - chúng ta không thể trở thành những người buôn bán nô lệ, vì nó là một công việc bẩn thỉu và đáng khinh, nhưng vì sao, ta không thể nói, bởi vì mọi người vẫn mua nô lệ, sử dụng nô lệ và cần nô lệ. Xưa đã thế và sau này vẫn thế. Nhưng điều gì đó trong ta nói rằng ta không muốn trở thành một người buôn bán nô lệ và ta không bao giờ muốn ngươi thành như thế.

Kaptah thở phào nhẹ nhõm và nói:

- Vậy là tôi đã nhìn thấu tâm can ông, ông chủ ạ, và như thế chúng ta thoát khỏi cái xấu xa đó, vì khi nghĩ kỹ về việc này, tôi nghĩ có thể mình sẽ chú ý quá nhiều đến đám nô tỳ khi tìm hiểu kỹ chúng biết làm những gì, và như thế sẽ mất quá nhiều sức lực, điều mà tôi không còn đủ khả năng để làm, vì tôi bắt đầu già đi và các bộ phận của tôi đã xơ cứng lại, ngón tay tôi run rẩy, nhất là mỗi khi thức dậy vào buổi sáng trước khi cầm được hũ bia. Vì đã hiểu tâm can ông, tôi nói ngay với ông rằng tất cả những căn nhà tôi mua thay ông đều là nhà lương thiện, lợi nhuận không nhiều, nhưng chắc chắn. Tôi không mua nhà vui nào, cũng không mua những con hẻm của người nghèo, nơi có những túp lều xiêu vẹo mang lại lợi nhuận tốt hơn những ngôi nhà bền vững của các gia đình tử tế. Quả thật, tôi đã phải đấu tranh ghê gớm với mình để làm như vậy, vì tại sao chúng ta lại không được kiếm lợi nhuận như tất cả những kẻ khác đã làm. Tuy nhiên, trái tim tôi nói rằng ông sẽ không chấp nhận điều đó, ông chủ ạ, vì thế với cố gắng lớn nhất, tôi đã từ bỏ những mong ước quý giá của mình. Song, tôi có thêm một điều để xin ông.

Kaptah chợt ngần ngừ và nhìn tôi dò xét bằng con mắt duy nhất của mình để đoán định sự mềm yếu trong tâm trạng tôi. Tôi tự rót rượu vào cốc của ông ấy và khuyến khích ông nói, vì tôi chưa bao giờ thấy Kaptah thiếu tự tin như thế và điều đó làm tôi tò mò. Cuối cùng, ông ấy bảo:

- Mong muốn của tôi hỗn hào và trơ trẽn, nhưng vì ông từng nói tôi được tự do nên tôi mạnh bạo thổ lộ với ông, hy vọng ông không tức giận và để cho chắc tôi đã giấu gậy của ông. Cụ thể là tôi muốn ông đi cùng tôi đến quán rượu Đuôi Cá Sấu ở bến cảng mà tôi thường kể với ông, để chúng ta cùng vui vẻ thưởng thức rượu ngâm và ông sẽ thấy đó là nơi nào mà tôi hằng mơ thấy cả khi mắt vẫn mở khi uống bia đặc qua ống hút ở Syria và Babylon.

Tôi phá lên cười và không hề tức giận, vì rượu khiến tôi mềm yếu. Đêm mùa xuân thật sầu muộn và tôi rất cô đơn. Mặc dù việc này tôi chưa từng được nghe và thật không thích hợp với vị thế của một ông chủ, nếu tôi đi cùng người hầu của mình đến một quán rượu tồi tàn ở bến cảng để uống một thứ đồ uống gọi là đuôi cá sấu vì sự tăng lực của nó, song tôi nhớ có lần cách đây đã lâu, Kaptah đã cùng đi với tôi đến một nơi, đã tự nguyện bước qua cánh cổng vào chỗ tối tăm, mặc dù biết rằng không ai còn sống trở về từ nơi đó. Vì thế, tôi đặt tay lên vai ông ấy và nói:

- Trái tim ta mách bảo rằng đuôi cá sấu là thứ rất hay để kết thúc một ngày. Chúng ta đi thôi.

Kaptah sung sướng nhảy cẫng lên theo thói quen của nô lệ, quên hết sự xơ cứng của tay chân mình. Ông ta vội chạy đi lấy cây gậy của tôi từ chỗ mình cất giấu và quàng tấm vải khoác vai lên vai tôi. Thế là chúng tôi đi ra bến cảng và vào quán Đuôi Cá Sấu, gió mang hơi nước lên cây tuyết tùng khô và cả mùi đất bùn nở hoa.

❖ 6 ❖

Quán Đuôi Cá Sấu nằm giữa khu vực bến cảng, lèn giữa các nhà kho lớn bên một con hẻm nhỏ được che chắn. Nó được xây bằng gạch đất sét, tường rất dày để mát mẻ mùa hè và ấm áp mùa đông. Phía trên cửa quán, cạnh một hũ bia và hũ rượu có treo một con cá sấu khô khổng lồ với đôi mắt thủy tinh lấp lánh, miệng há hốc với nhiều răng. Kaptah hào hứng dẫn tôi vào trong, hét gọi chủ quán và tìm cho chúng tôi chỗ có ghế mềm. Ông ấy là khách quen trong quán, đi lại ở đó như thể ở nhà, nên sau lúc đầu liếc nhìn tôi nghi ngờ, những người khách khác bình tĩnh lại và tiếp tục chuyện trò. Tôi ngạc nhiên nhận thấy sàn quán bằng gỗ, tường quán cũng được ép gỗ và trên tường treo rất nhiều kỷ vật từ những chuyến đi dài, như giáo và chùm lông trên mũ của người da đen, ốc sò từ các hải đảo và vò, hũ Crete được vẽ hoa văn. Kaptah hãnh diện nhìn theo ánh mắt của tôi và nói:

- Chắc ông chủ ngạc nhiên khi thấy tường của quán được làm bằng gỗ, giống như trong nhà của người giàu. Ông biết không, tất cả ván này đều được lấy từ những con thuyền cũ bị tháo dỡ và mặc dù không muốn nghĩ về những chuyến đi trên biển, tôi cũng cần nói rằng tấm ván bị nước biển bào mòn màu vàng kia đã đi đến vùng đất của Punti và tấm màu nâu kia đã kẹt trên cầu thuyền của hải đảo. Nhưng nếu ông cho phép, bây giờ chúng ta sẽ thưởng thức cái đuôi mà chủ quán đã tự tay pha.

Tôi được đưa cho một chiếc cốc xinh xắn hình vỏ sò, cầm vừa trong lòng bàn tay, nhưng tôi không nhìn chiếc cốc mà dán mắt vào người mang nó đến cho tôi. Cô ta không còn thật trẻ như những hầu bàn thường thấy trong quán rượu, cũng không ăn vận nửa kín nửa hở đi lại trên sàn để thu hút khách, mà ăn mặc đoan trang, khuyên bạc đeo trên tai và vòng bạc trên cổ tay thon thả. Cô đáp lại cái nhìn của tôi và nhìn thẳng vào mắt tôi không chút sợ hãi, né tránh như đàn bà thường làm. Lông mày của cô được tỉa mỏng và mắt cô toát lên niềm vui lẫn nét buồn, cặp mắt màu nâu ấm và sống động làm trái tim ta tĩnh lại khi nhìn vào đó. Tôi cầm chiếc cốc từ tay cô vào lòng bàn tay mình, cả Kaptah cũng cầm cốc của ông ta vào lòng bàn tay và tôi hỏi theo thói quen khi vẫn nhìn chằm chằm vào mắt cô:

- Cô tên gì, người đẹp?

Cô ta nhỏ nhẹ đáp:

- Tôi tên là Merit và tôi không quen được gọi là người đẹp, như các chàng trai nhút nhát thường làm để lần đầu tiên chạm tay vào vòng eo của một cô hầu bàn. Tôi xin ông nhớ cho điều đó, nếu như ông chiếu cố đến quán chúng tôi một lần nữa, danh y Sinuhe, Ngài Cô Đơn ạ.

Tôi cảm thấy bị tổn thương và nói:

- Tôi không hề có ý định sờ soạng vòng eo của cô, Merit xinh đẹp ạ. Nhưng sao cô biết tên tôi?

Cô ta cười, nụ cười thật đẹp trên khuôn mặt mịn màng, sạm nâu, và tinh nghịch nói:

- Danh tiếng của ông đi trước ông, Con Trai Lừa Hoang ạ, và khi gặp ông, tôi biết rằng danh tiếng của ông không bị thổi phồng, mà tất cả những gì người ta truyền tụng về ông đều là sự thật.

Sâu thẳm trong mắt cô ẩn chứa nỗi buồn xa xăm giống như ảo ảnh và trái tim tôi nhìn thấy nỗi buồn ấy qua nụ cười, vì thế tôi không thể giận mà chỉ nói với cô:

- Nếu cô muốn nói danh tiếng của tôi chính là Kaptah đang ở cạnh tôi đây, người vốn là nô lệ của tôi và hôm nay đã được tôi trả tự do, thì cô không nên tin vào lời ông ấy. Ngay từ khi sinh ra, lưỡi của ông ấy đã có một nhược điểm là không phân biệt giả dối với sự thật mà yêu thích cả hai và có lẽ thường thích lừa dối nhiều hơn sự thật. Tài năng thầy thuốc của tôi cũng không khá hơn cây gậy của mình khi chữa nhược điểm ấy.

- Có lẽ lời nói dối đôi khi ngọt ngào hơn sự thật, - cô ta nói, - khi con người ta rất cô đơn và mùa xuân đầu tiên của người đó đã trôi qua. Vì thế tôi vui lòng tin lời ông khi ông gọi tôi là “Merit xinh đẹp” và tôi tin tất cả những gì mà nét mặt ông nói với tôi. Nhưng ông không muốn nếm rượu đuôi cá sấu mà tôi mang đến cho ông sao, vì tôi tò mò muốn biết liệu nó có thể sánh với những đồ uống khác thường ở tất cả những miền đất xa lạ mà ông đã ghé thăm hay không?

Vẫn nhìn thẳng vào mắt cô, tôi nâng cốc trong lòng bàn tay lên uống, nhưng sau khi uống một ngụm, tôi không nhìn vào mắt cô nữa mà máu dâng lên đầu và tôi bắt đầu ho, cổ họng nóng như lửa đốt. Cuối cùng, khi hít được một hơi vào trong lồng ngực, tôi nói:

- Thú thật, tôi rút lại tất cả những gì mình vừa nói về Kaptah, bởi vì ít nhất trong chuyện này ông ấy đã không hề nói dối. Đồ uống của cô quả thật mạnh hơn bất kỳ đồ uống nào mà tôi đã nếm, nóng hơn dầu lửa mà người Babylon dùng để thắp đèn và tôi tin nó giống như một cú đập của đuôi cá sấu, hạ gục ngay cả một người đàn ông khỏe mạnh.

Nói rồi, tôi lắng nghe và cảm thấy thân thể mình đang bốc lửa, trong vòm miệng cháy khô của tôi còn đọng lại mùi dầu thơm và các loại gia vị. Trái tim tôi được chắp thêm đôi cánh như con én và tôi nói:

- Nhân danh Seth và tất cả loài quỷ dữ, tôi không thể hiểu đồ uống này được pha như thế nào và tôi không biết liệu tôi bị nó hay đôi mắt của cô thôi miên, Merit ạ. Nhưng, quả thật ma thuật đang chạy trong tay chân tôi và trái tim tôi đang trẻ lại, nên đừng ngạc nhiên nếu tôi đặt tay lên eo cô, vì lỗi tại cái đuôi này chứ không phải tại tôi.

Cô ta thận trọng tránh xa tôi hơn, giơ tay lên tinh nghịch, và cô trông thật mảnh mai, chân tay dài thon thả khi mỉm cười và nói với tôi:

- Ông không nên chửi thề, vì đây là một quán rượu đàng hoàng, tôi chưa già và gần như còn trong trắng nữa, mặc dù mắt ông có thể không tin. Nhưng về đồ uống, tôi có thể nói rằng đó là món quà hồi môn tuyệt vời tôi được thừa hưởng từ cha tôi, vì thế nô lệ Kaptah này của ông đã không ngớt cầu hôn tôi nhằm có được bí quyết mà không mất gì, nhưng ông ta chỉ có một mắt, béo ú và già, và tôi không tin người nữ trưởng thành nào lại hứng thú với ông ta. Vì thế, ông ta sẽ phải mua quán rượu này bằng vàng và còn định mua cả bí quyết của tôi, mà nói thật chắc chắn ông ta phải cân rất nhiều vàng trước khi chúng tôi có thể ưng thuận.

Kaptah làm những cử chỉ hăm dọa để buộc cô ta im lặng, nhưng tôi uống thêm ngụm nữa và lửa lại hừng lên trong cơ thể, nên tôi nói:

- Tôi tin Kaptah sẵn sàng cùng cô đập vỡ vò vì đồ uống này, dù biết rằng cô có thể sẽ bắt đầu hắt nước nóng vào chân ông ấy. Nhưng ngay cả khi không có bí quyết của cô, ông ấy vẫn sẵn lòng, tôi hiểu ông ấy khi tôi nhìn vào mắt cô, mặc dù cô nên nhớ rằng lúc này đuôi cá sấu trong tôi đang nói, chứ ngày mai lưỡi của tôi có thể không còn chịu trách nhiệm với những lời này nữa. Nhưng có đúng là Kaptah sở hữu quán rượu này không?

- Xéo đi, ả đàn bà to gan! - Kaptah nói và chen thêm vào lời nói của mình tên của tất cả các vị thần mà ông đã học được ở Syria. Rồi ông quay sang tôi, nói như van xin:

- Ông chủ ơi, bất ngờ quá, vì tôi muốn từ từ chuẩn bị cho ông chủ và xin sự ưng thuận của ông, bởi vì tôi vẫn là người hầu của ông. Nhưng đúng là tôi đã mua quán này từ người chủ và tôi cũng định moi bí quyết pha chế đuôi cá sấu từ con gái ông ta, bởi vì đồ uống đó đã làm quán này nổi tiếng khắp triền sông, nơi nhiều đàn ông vui vẻ tụ tập, và lúc đi xa tôi đã nhớ đến nó hằng ngày. Như ông biết, bằng sự thông minh và khéo léo nhất của mình, tôi đã lấy trộm của ông trong suốt những năm qua, vì thế tôi đã gặp khó khăn khi đầu tư bạc và vàng của riêng mình, bởi vì tôi phải nghĩ đến tuổi già khi không còn đủ sức ngược xuôi làm vô số chuyện của ông và tôi muốn bộ xương mình được sưởi ấm bên bếp than.

Ông ấy nhìn tôi như thấy mình có lỗi, vì tôi bắt đầu cười khi nghĩ Kaptah sẽ thế nào khi ông ấy gắng sức chạy, rồi đến khi ông ấy dùng kiệu còn tôi đi bộ. Tôi cũng nghĩ xương của ông ấy sẽ khó được sưởi ấm qua lớp mỡ dày bên cạnh lò than, nhưng rồi tôi nhớ ra chắc đuôi cá sấu đã làm tôi có những suy nghĩ này. Vì vậy tôi thôi cười, xin lỗi Kaptah một cách nghiêm túc và giục ông ấy nói tiếp.

- Khi còn là một nô lệ trẻ, tôi chỉ ước ao được làm chủ một quán rượu, - Kaptah nói, vì đuôi cá sấu khiến ông xúc động. - Hồi đó quả thật tôi nghĩ chủ quán được uống nhiều bia không phải trả tiền mà không bị ai chê trách. Giờ đây tôi biết chủ quán chỉ được uống vừa phải, không bao giờ được phép say và điều này tôi thấy khá lành mạnh, vì uống quá nhiều bia khiến tôi cảm thấy lạ lùng, đôi khi tôi nhìn thấy hà mã và những thứ đáng sợ khác. Nhưng chủ quán rượu được liên tục gặp gỡ những người có thể đem lại lợi lộc cho ông ta, được nghe và biết mọi chuyện xảy ra và điều này mê hoặc tôi khủng khiếp, vì từ khi sinh ra tôi đã có tính tò mò. Với tư cách là chủ quán, tôi cũng sử dụng lưỡi của mình như một lợi thế, và tôi nghĩ mình có thể giải trí cho khách bằng những câu chuyện của mình, khiến họ vô tình uống cạn hết cốc này đến cốc khác và chỉ ngạc nhiên khi phải trả tiền. Bởi vậy khi ngẫm lại kỹ càng mọi chuyện, tôi thấy ban đầu thần linh định cho tôi làm chủ quán rượu, nhưng do nhầm lẫn mà tôi sinh ra là nô lệ. Tuy nhiên, điều này bây giờ chỉ có lợi cho tôi, vì quả thật không có mánh khóe, xảo thuật hay trò dối lừa để tìm cách quỵt tiền nào của khách mà tôi không biết và từng thử qua. Mặc dù phải công nhận, tôi nghĩ mình quen biết mọi người và biết rõ có thể cho ai uống nợ, ai không và đây là điều quan trọng nhất đối với một chủ quán, bởi vì bản tính con người thật lạ lùng, khi được nợ có thể uống vô độ không nghĩ đến ngày phải trả tiền, nhưng nếu phải trả tiền ngay thì khư khư giữ bạc tiết kiệm của mình.

Kaptah uống cạn cốc của mình rồi hai tay ôm đầu, mỉm cười buồn bã và nói:

- Tôi cũng nghĩ nghề chủ quán chắc chắn nhất và đáng tin cậy nhất trong tất cả các nghề, vì dù thế nào thì con người vẫn khát và dù cho quyền lực của pharaon lung lay, các vị thần rời khỏi ngai vàng, các quán rượu và quán bia cũng không vắng khách hơn trước. Bởi lẽ khi vui con người ta uống rượu, lúc buồn cũng uống rượu, khi được việc uống rượu mừng và khi thất vọng cũng đắm chìm trong rượu. Anh ta uống khi yêu và cả khi bị vợ đánh. Anh ta tìm đến rượu khi thất bại trong kinh doanh và tắm trong rượu mừng khi có lợi nhuận. Thậm chí nghèo đói cũng không ngăn người ta uống rượu, vì lúc đó anh ta sẽ làm việc chăm chỉ hơn để có thể tô điểm cho sự nghèo khó của mình bằng rượu. Điều gì đúng với rượu cũng đúng với bia, mặc dù tôi nói về rượu cho thêm thi vị và cho lời nói thêm đẹp, vì thật lạ là các nhà thơ vẫn chưa viết những bài thơ ca ngợi bia mà lẽ ra nó rất đáng được nhận, vì chỉ cần uống bia thôi, ta cũng có thể say mềm, say đích đáng, thậm chí say hơn rượu. Nhưng tôi không muốn làm ông chán ngán khi ca ngợi lợi ích của bia cùng rượu, mà trở lại vấn đề của mình, tôi xin nói rằng theo kinh nghiệm của mình, tôi thấy nghề chủ quán rượu là an toàn nhất trong tất cả các nghề, vì thế tôi đã đầu tư vào quán này tất cả vàng và bạc tôi tằn tiện được trong nhiều năm qua. Quả thật, tôi khó có thể nghĩ đến nghề nào tốt hơn và thú vị hơn trừ nghề điếm, một nghề không cần vốn ban đầu mà luôn mang trên mình cả cửa hàng và nhà kho và nếu khôn ngoan sẽ được dưỡng già trong ngôi nhà được xây bằng hông và eo mình. Nhưng xin lỗi tôi lại lỡ miệng nói về việc của người khác, vì sự thật là tôi vẫn chưa kịp quen lại với đuôi cá sấu, nó lại làm lưỡi tôi huyên náo. Tôi định nói quán đã là của tôi và hiện tại chủ quán điều hành quán với sự giúp đỡ của phù thủy Merit này và chúng tôi sẽ chia đều lợi nhuận cho đến khi tôi nghỉ ngơi lúc về già. Chúng tôi đã thỏa thuận việc này và đã thề với cả hàng ngàn thần linh Ai Cập, do vậy tôi không nghĩ ông ta sẽ lấy trộm quá mức cho phép từ phần lời của tôi vì ông ta là một người ngoan đạo, đến đền thờ trong tất cả các ngày lễ để cúng tế, mặc dù tôi tin ông ta làm điều này để các giáo sĩ cũng đến quán và họ là những khách hàng tốt, vì họ đã quen với các loại rượu mạnh nơi đồi nho của mình, thưởng thức chúng hàng vò và một, hai đuôi cá sấu vẫn chưa hạ gục được họ. Nhưng tôi không nghi ngờ lòng mộ đạo của ông ta, vì không có gì sai nếu người khôn ngoan kết hợp chuyện làm ăn với việc tu hành đạo đức và, vâng, chắc chắn tôi không còn nhớ mình đã bắt đầu từ đâu và cần phải nói gì, vì đây là một ngày rất vui với tôi và tôi thấy sung sướng nhất là ông đã không tức giận và trách mắng vì việc tôi đã làm mà vẫn tiếp tục coi tôi là người hầu của mình, mặc dù tôi là chủ một quán rượu, một nghề mà không phải ai cũng coi là đáng tôn trọng.

Sau bài nói dài dòng này, Kaptah bắt đầu líu ríu và gục đầu vào lòng tôi khóc rồi ôm chặt lấy đầu gối tôi vì xúc động và rõ ràng là đang say. Tôi lấy hết sức đỡ vai, kéo ông ta ngồi thẳng lên và nói:

- Quả thật, ta tin ngươi không thể tìm được một nghề thích hợp hơn có thể đảm bảo cho tuổi già của mình, nhưng chỉ có một điều ta không hiểu. Nếu một khi chủ quán biết quán của ông ta đang bán tốt và giữ bí quyết pha đuôi cá sấu, thì tại sao ông ta lại đồng ý bán cho ngươi mà không giữ lợi nhuận cho mình?

Kaptah nhìn tôi vẻ trách móc với con mắt duy nhất đầy nước mắt và nói:

- Chẳng phải tôi đã nói hàng ngàn lần rằng ông có một biệt tài lạ lùng là luôn hủy hoại tất cả niềm vui của tôi bằng lý lẽ đắng hơn cả ngải của mình sao? Chưa đủ sao khi tôi cũng nói như ông ta, rằng chúng tôi là bạn từ hồi còn trẻ và quý nhau như anh em, vì thế chúng tôi muốn chia sẻ niềm vui và lợi nhuận của mình? Nhưng từ ánh mắt ông tôi thấy rằng điều đó chưa đủ với ông, cũng như nó chưa đủ với tôi, vì thế tôi thừa nhận rằng dĩ nhiên trong vụ làm ăn này cũng có điều gì đó đáng ngờ. Người ta đồn đoán về những bất ổn lớn sẽ xuất hiện khi Amon và thần của Pharaon đánh nhau để giành quyền lực, và như ông biết rõ, trong lúc bất ổn, các quán rượu bia sẽ phải hứng chịu đầu tiên, các cửa sổ của quán sẽ bị phá vỡ, chủ quán sẽ bị đánh đập và ném xuống sông, vò rượu bị lật nhào, đồ đạc bị đập vỡ và trong trường hợp xấu nhất, toàn bộ ngôi nhà bị đốt cháy sau khi các vò rượu bị uống cạn. Điều này dễ xảy ra hơn nếu người chủ ở bên phi nghĩa, như chủ quán này là người của Amon và tất cả đều biết điều đó nên ông ta không kịp thay đổi chính kiến nữa. Ông ta bắt đầu nghi ngờ việc của Amon sau khi nghe tin Amon bán đất và tôi, tất nhiên, đã kích động sự nghi ngờ của ông ta, mặc dù những người quá lo xa cho tương lai của mình thường dễ bị trượt vỏ trái cây trên đường, bị mái ngói rơi xuống gáy hay nằm dưới bánh xe bò. Ông chủ quên là chúng ta có bọ hung và tôi tin chắc là nó có thể bảo vệ Đuôi Cá Sấu, mặc dù nó có rất nhiều việc để bảo vệ, là các lợi ích của ông.

Tôi nghĩ một lúc lâu rồi nói:

- Kaptah, dù sao, ta phải công nhận rằng trong một hôm nay thôi, ngươi đã kịp làm được nhiều việc.

Nhưng Kaptah đã từ chối lời khen của tôi và nói:

- Ngài quên sao ông chủ ơi, chúng ta đã rời thuyền hôm qua. Song, có thể nói cỏ không kịp mọc dưới chân tôi và chắc chắn là ông không thể tin, nhưng tôi phải thừa nhận lưỡi của tôi cũng mệt mỏi, vì một cái đuôi cá sấu khiến nó lắp bắp rồi.

Thế là chúng tôi đứng dậy tạm biệt chủ quán ra về, Merit tiễn chúng tôi đến cửa, những chiếc vòng bạc lẻng rẻng ở cổ tay và mắt cá chân. Dưới ánh lờ mờ giữa khung cửa, tôi đặt tay lên eo cô ấy và thấy cô ở gần tôi, nhưng cô ấy vừa dứt khoát gỡ tay tôi ra vừa nói:

- Cái chạm của ông có thể dễ chịu, nhưng tôi không muốn ông chạm vào khi đuôi cá sấu cho biết quá rõ về lòng bàn tay ông.

Tôi xấu hổ giơ hai tay lên nhìn, quả thật trông chúng rất giống những móng chân cá sấu, rồi chúng tôi đi thẳng về nhà, trải thảm ra và ngủ rất ngon.

❖ 7 ❖

Cuộc sống của tôi ở khu phố nghèo Thebes trong ngôi nhà cũ của thợ đúc đồng bắt đầu như thế. Tôi có rất nhiều bệnh nhân, như Kaptah dự đoán, song tôi không kiếm được nhiều tiền mà mất nhiều hơn số tiền kiếm được, vì tôi thường cần nhiều loại thuốc đắt tiền để chữa cho bệnh nhân và tôi không có lợi từ việc chữa cho những người đói khát, nếu họ không có đủ chất béo và cháo bột để lấy lại sức. Những món quà tôi nhận được không có nhiều giá trị nhưng chúng đem đến cho tôi niềm vui, và vui hơn khi tôi nghe rằng những người nghèo bắt đầu cầu nguyện cho tên của tôi. Mỗi đêm, ánh sáng từ những ngọn đèn ở trung tâm thành phố bừng lên đỏ rực trên bầu trời Thebes nhưng tôi đã kiệt sức vì công việc và tối đến tôi nghĩ về các chứng bệnh của bệnh nhân và cả về Aton, thần của Pharaon.

Kaptah thuê một bà đã luống tuổi về quán xuyến việc nhà, một người tỏ ra rất mệt mỏi với cuộc sống lẫn cánh đàn ông, như có thể nhìn thấy được trên khuôn mặt bà. Nhưng bà ấy nấu ăn ngon, ít lời và không kêu ca về mùi của những người nghèo ngồi ngoài hiên và không đuổi họ ra khỏi chỗ tôi với những lời độc ác. Tôi đã quen với bà ấy rất nhanh và bà không làm phiền tôi, mà sự hiện diện của bà giống như một cái bóng khiến tôi không còn chú ý đến sự có mặt của bà nữa. Tên bà là Muti.

Cứ thế, tháng này qua tháng khác, tình trạng bất ổn ngày càng lớn dần ở Thebes và không ai nói gì về việc Horemheb trở lại. Mặt trời thiêu đốt các sân nhà thành vàng sạm, thời gian nóng nhất của mùa hè đã gần kề. Thỉnh thoảng tôi thèm được thay đổi nên đi cùng Kaptah đến quán Đuôi Cá Sấu, vui đùa với Merit và nhìn vào mắt cô ấy, mặc dù cô ấy vẫn giữ khoảng cách với tôi khiến trái tim tôi nhói đau. Nhưng tôi không còn uống thứ rượu mạnh quán mang tên mà hài lòng với một cốc bia lạnh trong thời tiết nóng nực, thứ làm dễ chịu chứ không say và làm cho tâm trí trở nên tỉnh táo khi ngồi trong những bức tường đất mát mẻ. Tôi lắng nghe những cuộc trò chuyện của khách đến quán rượu và sớm nhận ra rằng không phải ai cũng có chỗ ngồi và cốc để uống trong quán này, mà chỉ những khách được chọn, dù trong số họ có thể có kẻ đã phải đào trộm mộ để có vàng, có kẻ sống cuộc sống của người tống tiền, nhưng khi ở trong quán rượu, họ quên nghề nghiệp của mình và cư xử đứng đắn. Tôi tin Kaptah khi ông ấy nói chỉ những người có ích cho nhau mới gặp nhau ở đây. Chỉ có tôi là ngoại lệ, không ai được lợi lộc gì từ tôi và tôi cũng là một người xa lạ ở đây, mặc dù họ vẫn chịu cho tôi ngồi đây và sự hiện diện của tôi không đáng sợ vì tôi là bạn của Kaptah.

Tôi đã nghe nhiều chuyện ở đây và nghe Pharaon bị nguyền rủa lẫn được ngợi ca, nhưng vị thần mới của ngài phần nhiều bị chế giễu. Cho đến một buổi tối kia, một thương nhân bán hương nhang bước vào quán rượu, quần áo rách tươm và tóc rắc đầy tro, ông ta đến dùng đuôi cá sấu để xoa dịu nỗi buồn. Ông ta kêu lên:

- Quả thật hãy để vị pharaon giả này, người thừa kế độc ác và giả dối này, bị nguyền rủa mãi mãi, vì không còn ai giữ tay ông ta và ông ta sẽ làm mọi thứ theo cách riêng của mình và phá hủy nghề nghiệp chính đáng của tôi. Cho đến giờ, tôi đã nhận được lợi nhuận tốt nhất từ nhang đèn được nhập khẩu từ xứ Punt và những chuyến đi trên vùng biển mạn đông này không nguy hiểm chút nào, bởi vì mỗi mùa hè, tàu thuyền được trang bị cho chuyến đi thương mại và ít nhất hai trong mười thuyền trở về vào năm sau, nên tôi có thể tính trước được lợi nhuận và vốn của mình. Nhưng các vị đã nghe chuyện này chưa? Khi đội thuyền sắp khởi hành, Pharaon thường đích thân ra tận cảng kiểm tra. Thề có thần Seth, vì sao ông ta phải như linh cẩu chõ mũi vào mọi thứ như thế chứ? Ông ta có những người ký lục và cận thần làm việc này, theo đúng luật pháp và tập quán như trước đây. Nhưng Pharaon nhìn thấy các thủy thủ kêu khóc trên thuyền, vợ con họ kêu khóc trên bờ và lấy đá sắc rạch mặt, như một phong tục tốt khi người đàn ông chuẩn bị cho chuyến đi biển, vì ai chả biết nhiều người đi biển ít người trở lại. Tất cả những việc này liên quan tới đội thuyền đi Punt và đã có từ thời của Hoàng hậu vĩ đại, nhưng tin hay không tùy các ông, tên khốn nhãi ranh này, Pharaon đáng nguyền rủa này, đã cấm đội thuyền rời bến và tuyên bố sẽ không bao giờ cho đóng và trang bị cho thuyền đi Punt nữa. Xin Amon chứng giám, mọi thương gia chân chính đều biết điều này có nghĩa là gì. Nó có nghĩa là chết chóc và phá sản sẽ đến với rất nhiều người, có nghĩa là nghèo khổ và đói khát với vợ con thuyền viên. Rốt cuộc, nhân danh thần Seth, không người đàn ông nào đi biển nếu số phận không buộc phải thế, vì anh ta đã làm gì đó phạm tội và các quan tòa dựa trên giấy tờ pháp lý mà xử anh ta phải làm công trên thuyền. Cũng hiếm khi họ bị xử sai và bị cưỡng bức xuống thuyền mà việc này chỉ xảy ra vào những năm bội thu, khi tội phạm giảm, nhưng tội phạm đã có quá nhiều từ khi Pharaon này lên trị vì trên đất Ai Cập, khi con người không còn sợ thần linh mà ai cũng sống như ngày tận thế sắp đến. Các ông hãy nghĩ về những tài sản được đầu tư vào thuyền và kho hàng hóa, đồ thủy tinh và đất nung. Các ông hãy nghĩ về các đại diện thương chánh của Ai Cập, những người buộc phải mãi mãi ở lại trong những túp lều rơm của xứ Punt vì đã bị thần của họ chối từ. Tim tôi rỉ máu khi nghĩ về họ cùng với những người vợ và những đứa con đang than khóc của họ, những người sẽ không bao giờ còn gặp lại cha mình, vì thực ra nhiều người đã lập gia đình mới và sinh con ở đó, những đứa trẻ nghe kể là có nhiều màu da.

Chỉ sau khi uống hết ba đuôi cá sấu từ cốc trong lòng bàn tay, thương gia nhang đèn mới bình tĩnh lại, nín lặng rồi vội vàng xin lỗi vì có thể trong nỗi buồn quá sức chịu đựng của mình, ông đã nói lời xúc phạm đến Pharaon.

- Nhưng, - ông ta nói tiếp, - tôi đã nghĩ là Hoàng thái hậu Teje, người rất thông thái và am hiểu, sẽ giữ con trai mình trong khuôn phép và tôi cũng đã nghĩ giáo sĩ Eje là người khôn ngoan, thế nhưng tất cả bọn họ chỉ muốn đánh đổ Amon, vì vậy nên mới để cho Pharaon tự do phá phách với những dự định điên rồ của ngài ta. Tội nghiệp Amon! Người đàn ông thường tỉnh ra sau khi đập vỡ bình cùng đàn bà và kết hôn, thế nhưng Nefritite này, Hoàng hậu vĩ đại này, chỉ quan tâm đến váy áo của mình với những kiểu mẫu lố lăng. Tin hay không tùy các ông, chứ bây giờ đàn bà trong cung toàn lấy đá lông công kẻ mắt xanh rờn và đi lại trong xiêm áo hở từ eo xuống phơi cả rốn ra cho đàn ông nhìn.

Kaptah thấy tò mò và hỏi:

- Kiểu mẫu như thế, tôi chưa bao giờ thấy ở các xứ khác, cho dù tôi bị buộc phải nhìn bao nhiêu điều kỳ quặc trong ăn vận của đàn bà. Ông nói thật đi, lẽ nào họ để hở cả âm hộ, cả Hoàng hậu cũng thế?

Thương gia nhang đèn bực tức:

- Tôi là người đàn ông ngoan đạo và tôi có vợ con, nên tôi không hạ ánh mắt xuống dưới rốn và tôi cũng khuyên ông đừng làm điều thất thố như vậy.

Merit xen vào câu chuyện và tinh quái nói:

- Cái miệng của ông trơ trẽn thì có, chứ không phải những xiêm áo mới cho hè này; chúng rất mát mẻ và tôn vẻ đẹp phụ nữ theo đúng quyền của người ấy nếu có cái bụng đẹp, khuôn hình thon thả và bà đỡ vụng về không làm xấu cái rốn của cô ấy. Mà ông cũng có thể hoàn toàn an tâm nhìn xuống dưới, vì dưới chiếc váy để hở, nếu có một chiếc khố nhỏ may từ loại vải lanh mỏng thì sẽ không xúc phạm đến đôi mắt của ngay cả người ngoan đạo nhất, chỉ cần người ấy cẩn thận nhổ hết lông như người phụ nữ lương thiện vẫn làm.

Thương gia nhang đèn rất muốn vặc lại lời Merit nhưng không được nữa, vì đuôi cá sấu thứ ba mạnh hơn cái lưỡi của ông ta. Vì vậy ông ta ôm đầu trong hai bàn tay và khóc tức tưởi vì lối ăn vận của đàn bà trong cung và vì số phận khốn khổ của những người Ai Cập bị mắc lại ở xứ Punt. Nhưng một vị giáo sĩ Amon già với hai má béo xệ và cái đầu cạo trọc bóng loáng thơm mùi dầu đã xen vào câu chuyện thay ông ta. Vị giáo sĩ, được đuôi cá sấu làm cho kích động, đập tay xuống bàn và gào to:

- Việc này đi quá xa rồi! Tôi không nói về việc ăn vận của phụ nữ, vì thần Amon chấp nhận bất cứ kiểu mẫu nào, chỉ cần họ mặc đồ trắng trong các ngày lễ và bất kỳ ai cũng được phép nhìn rốn với cái bụng tròn của phụ nữ xinh đẹp. Nhưng khi Pharaon làm ra vẻ thương xót số phận của các thủy thủ nên đã ngạo mạn ngăn cấm việc nhập tất cả các loại gỗ thơm từ xứ Punt về đây, thì việc này đi quá xa rồi, vì Amon đã quen với những mùi thơm quyến rũ ấy và bây giờ chúng ta dùng phân đốt đồ cúng tế của chúng ta chăng? Việc làm này đúng là sự chọc tức đáng hổ thẹn, là sự xúi giục có chủ đích, và tôi cũng không ngạc nhiên nếu sau việc này bất cứ người lương thiện nào cũng sẽ nhổ vào mặt những ai mặc trên người bộ đồ có thêu thánh giá sự sống, biểu trưng cho vị thần đáng nguyền rủa mà tôi không muốn nhắc đến tên vì sợ làm bẩn mồm cao quý của mình. Nói thật, tôi sẽ trả thật nhiều đuôi cá sấu cho người nào đêm nay đến cái đền mà các ông ai cũng biết rất rõ và giải quyết nhu cầu lên bàn thờ ấy, vì đền mở cửa, không có thành bao quanh và tôi nghĩ một người khéo léo sẽ dễ dàng đánh lừa lính canh ở đó. Thực ra chính tôi cũng có thể làm việc đó nếu như danh giá của tôi cho phép và nếu như tiếng tăm của Amon không bị thương tổn vì việc đó.

Giáo sĩ nhìn quanh với vẻ thách thức và một lúc sau, một người đàn ông mặt rỗ chằng chịt vết dịch hạch đến bên lão ta. Hai người bắt đầu thì thào với nhau và giáo sĩ gọi hai đuôi cá sấu, cho đến khi người mặt rỗ bắt đầu to tiếng:

- Tôi thật sự sẽ làm việc đó, không phải vì vàng ông hứa, mà chỉ vì tội lỗi của tôi, vì cho dù tôi đã phạm nhiều tội và không hề run tay khi phải cứa đứt cổ hay lấy dao cắt cả hai tai ai đó nếu cần, tôi vẫn tin điều mẹ tôi dạy và Amon vẫn là thần của tôi, tôi muốn được hưởng sự ưu ái của ngài trước khi chết, bởi vì cứ mỗi lần đau bụng, tôi lại lo lắng nhớ đến bao nhiêu việc làm đen tối trước đây của mình.

- Đúng như vậy, - giáo sĩ đáp lời, ngà ngà không kém, - việc làm của ông thật đáng khen và ông sẽ được tha thứ. Nếu như nguy hiểm đe dọa khi ông vì Amon, thì ông hãy biết là ông sẽ đến thẳng miền tây, cho dù thi thể của ông thối rữa trên tường thành. Cả các thủy thủ bị chết chìm dưới biển vì phụng sự Amon khi lấy cho thần các loại gỗ và hương thơm quý giá cũng sẽ đến thẳng miền tây như vậy mà không cần lội qua đầm lầy của địa ngục. Chính vì vậy Pharaon là tội đồ khi đã tước đi của những thủy thủ ấy cơ hội chết đuối vì Amon.

Giáo sĩ đập cái cốc ốc biển xuống bàn và quay về phía tất cả khách của quán rượu, gào to:

- Với tư cách là giáo sĩ bậc bốn, ta có quyền buộc và cởi bỏ tội lỗi của các người. Vậy nên ta bảo với các người, mỗi việc các người làm vì Amon sẽ được tha thứ, cho dù đó là giết người, đánh người, trộm cắp hay hãm hiếp, vì Amon nhìn vào tâm của con người ta và đánh giá việc làm của họ theo mục đích của tâm. Hãy đi đi, lấy vũ khí giấu xuống vạt áo và...

Câu kêu gào của giáo sĩ bị đứt giữa chừng vì chủ quán đã bình thản đến gần, lấy cây chùy da đập vào đỉnh đầu lão, khiến đầu lão gục xuống giữa hai đầu gối và từ ngữ nằm lại trong cuống họng. Khách khứa bừng dậy và gã mặt rỗ rút dao ra khỏi thắt lưng, nhưng chủ quán đã bình tĩnh lưu ý khách khứa:

- Tôi làm việc này vì Amon, vì vậy tôi đã được tha thứ từ trước và bản thân giáo sĩ cũng sẽ làm điều đó khi ông ấy tỉnh lại. Bởi vì dù ông ấy có nói thật trên danh nghĩa của Amon nhưng đó cũng là lời nói của đuôi cá sấu, và vì ông ấy gào quá to, mà trong quán này không ai được phép hò hét và làm ầm ĩ trừ tôi ra. Tôi nghĩ các vị ai cũng hiểu điều tôi nói, nếu các vị là người khôn ngoan.

Tất cả khách đều thừa nhận là chủ quán nói đúng và nói thật. Gã mặt rỗ lay lay giáo sĩ trong khi mấy người khách lẻn nhanh ra ngoài cửa. Cả tôi và Kaptah cũng rời đi và khi đến cửa, tôi nói với Merit:

- Nàng đã biết là tôi cô đơn, nhưng đôi mắt nàng cũng kể cho tôi biết là nàng cũng cô đơn. Tôi đã nghĩ rất nhiều về những lời một lần nàng nói với tôi và tôi tin rằng với người cô đơn, đôi lúc lời nói dối ngọt ngào hơn sự thật, khi mùa xuân đầu tiên của người ấy đã trôi qua. Vì vậy tôi muốn nàng hãy mặc bộ xiêm áo hè mẫu mới nhất, bộ mà nàng nói, vì dáng hình nàng đẹp, chân tay nàng dài và thon thả, và tôi nghĩ nàng cũng không cần phải xấu hổ vì bụng của mình khi tôi đi cạnh nàng trên Đại lộ Nhân Sư.

Merit không hất tay tôi ra khỏi eo mình mà khẽ bóp nhẹ tay tôi và nói:

- Có lẽ tôi sẽ làm điều ông khuyên.

Nhưng lời hứa của nàng không làm tôi vui khi tôi bước ra ngoài vào buổi tối nóng nực nơi bến cảng, tâm hồn tôi tràn ngập nỗi buồn man mác và từ nơi nào đó xa xa bên dòng sông đêm yên tĩnh vẳng lại tiếng sáo sậy hai ống cô đơn.

Ngày hôm sau, Horemheb trở lại Thebes và anh ta quay lại cùng đội quân của mình. Nhưng để kể lại điều này và tất cả những điều khác đã xảy ra thì tôi phải bắt đầu vào quyển sách mới. Nhưng dù sao tôi vẫn muốn nói thêm là trong thời gian chữa bệnh cho người nghèo này, đã hai lần tôi buộc phải mổ sọ, lần đầu là một người đàn ông đã già và lần thứ hai là một người đàn bà nghèo khăng khăng mình chính là nữ hoàng Hatshepsut vĩ đại. Cả hai người đã hoàn toàn bình phục, đem lại cho tôi niềm vui vô bờ vì tài chữa bệnh của mình, nhưng tôi nghĩ người đàn bà nghèo đã từng hạnh phúc khi nghĩ mình là nữ hoàng Hatshepsut, hạnh phúc hơn cả khi đã được chữa lành.

(Mời quý độc giả xem các Sách tiếp theo trong tập 2)

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của mika waltari