
❖ 1 ❖
Theo thỏa thuận với Horemheb, nhiếp chính Eje đã sẵn sàng đội lên đầu mình vương miện pharaon sau tang lễ của Pharaon Tutankhamon. Để đạt được mục đích này, ông ta vội vàng cho tẩm ướp thi thể Tutankhamon và làm lễ mai táng ngài, ngừng việc phá đá xây lăng cho ngài, để nó chỉ là một lăng mộ nhỏ, tầm thường bên cạnh lăng mộ của các pharaon vĩ đại và giữ lại cho mình phần lớn của cải mà Tutankhamon dự định đem theo xuống mồ. Nhưng cũng theo thỏa thuận, ông ta phải thuyết phục Công chúa Baketamon chấp thuận làm vợ Horemheb để anh ta có quyền hợp pháp đòi ngai vàng của Ai Cập cho mình sau khi Eje chết, mặc dù anh ta sinh ra với phân dính giữa các kẽ chân. Ông ta đã dàn xếp điều này với các giáo sĩ để Công chúa Baketamon xuất hiện trước Horemheb trong hình dạng nữ thần Sekhmet tại đền Sekhmet, khi Horemheb ăn mừng chiến thắng của mình sau quốc tang, và dâng mình cho Horemheb trong đền, như thế hôn nhân của họ sẽ được thần linh ban phép và Horemheb cũng trở nên thiêng liêng. Eje đã cùng với các giáo sĩ dàn xếp như vậy, nhưng Công chúa Baketamon đã chuẩn bị một kế hoạch của riêng mình rất cẩn thận, và tôi biết chắc Hoàng hậu Nefertiti đã xúi giục Công chúa làm việc này vì bà căm hận Horemheb và muốn mình trở thành người đàn bà quyền lực nhất Ai Cập bên cạnh Baketamon nếu mưu đồ thành công.
Kế hoạch của họ thật vô đạo và khủng khiếp, chỉ có đầu óc của một người đàn bà đầy đau khổ, thù hận mới sản sinh ra một âm mưu như thế. Kế hoạch của họ hoang tưởng đến mức chỉ riêng sự hoang tưởng ấy đã khiến nó suýt thành công vì không ai nghĩ được điều như thế mà nếu có thì họ cũng sẽ coi việc đó là không thể. Chỉ khi mưu đồ này bị bại lộ, người ta mới hiểu vì sao quân Hittite đã sốt sắng đề nghị hòa hoãn và sẵn lòng giao Megiddo và Amori, sẵn sàng chấp nhận nhượng bộ trong giải pháp hòa bình. Vì người Hittite là những người khôn ngoan, họ giữ trong ống tên một mũi tên dự phòng, mũi tên mà cả Horemheb lẫn Eje không hề đoán biết, và khi chấp nhận hòa bình, họ tin rằng họ không mất gì khi sẵn sàng nhượng bộ. Lẽ ra Horemheb phải nghi ngờ sự sốt sắng ấy, nhưng thắng lợi về quân sự khiến anh ta mù quáng và bản thân anh ta muốn hòa bình để ổn định quyền lực của mình ở Ai Cập và cuối cùng là giành được Công chúa Baketamon làm vợ, vì anh ta đã đợi Baketamon trong quá nhiều năm và sự đợi chờ đã khiến lòng thèm khát dòng máu hoàng tộc của anh ta càng dữ dội đến độ không chịu nổi. Vậy nên anh ta không muốn nghi ngờ bất cứ điều gì và không nhận ra sự xảo quyệt của Hittite.
Sau khi Pharaon băng hà và bị buộc phải thần phục Amon, Hoàng hậu Nefertiti không thể chịu nổi khi nghĩ rằng mình bị gạt sang bên trong việc trị vì Ai Cập và rằng bất cứ người phụ nữ nào trong hoàng cung cũng ngang hàng với bà. Bất chấp tuổi tác, bà vẫn rất đẹp, cho dù nhan sắc của bà đã tàn phai và được mài đi rửa lại nhiều lần với nhiều loại mỹ phẩm và thời gian chăm sóc. Với sắc đẹp ấy, bà đã chinh phục cho mình rất nhiều vương hầu Ai Cập, những người cả đời sống trong hoàng cung như những kẻ lười biếng, vô dụng xung quanh vị pharaon tầm thường của họ. Với trí thông minh và ranh mãnh của mình, bà cũng trở thành bạn của Công chúa Baketamon và thổi niềm kiêu hãnh bẩm sinh của Baketamon thành ngọn lửa hừng hực thiêu đốt trái tim Công chúa, khiến niềm kiêu hãnh đó mang đầy vẻ bệnh hoạn hơn là lòng kiêu hãnh thường thấy của con người; nàng quá kiêu ngạo về dòng máu thánh của mình, đến mức không cho phép bất kỳ người bình thường nào chạm vào mình, thậm chí không cho phép ai được lướt qua chỗ bóng mình in xuống. Cho đến lúc ấy, Công chúa vẫn ngạo mạn giữ mình trinh nguyên bởi nàng cho rằng khắp Ai Cập không có người đàn ông nào xứng với mình, vì nàng mang dòng máu của các pharaon vĩ đại trong huyết quản. Rồi nàng qua độ tuổi kết hôn thông thường; tư tưởng bất khả xâm phạm thấm sâu vào tâm trí nàng, khiến nàng trở nên bệnh hoạn, và tôi nghĩ có khi một cái giường phu thê êm ấm sẽ chữa khỏi bệnh cho nàng. Nhưng nàng vẫn rất xinh đẹp, dáng điệu và vẻ kiêu sa của nàng đã giúp cho nhan sắc nàng trẻ mãi với thời gian và nàng bảo vệ, chăm dưỡng nhan sắc đó, không cho cả nô tỳ chạm vào người mình.
Nefertiti tìm đủ mọi cách để kích động tính ngạo mạn của Baketamon khiến Công chúa tin rằng mình sinh ra để làm những việc vĩ đại, rằng mình phải cứu Ai Cập khỏi tay những kẻ tiếm quyền thấp hèn. Nefertiti kể cho Công chúa về nữ hoàng Hatshepsut vĩ đại, người đã gắn bộ râu hoàng đế lên cằm, đeo thắt lưng đuôi sư tử và cai trị Ai Cập trên ngai vàng của các pharaon. Họ cùng nhau hành hương đến ngôi đền đá sáng ngời có các cột trắng lóa của Hatshepsut, đi trên những gờ nổi trồng đầy cây hương đào của đền, ngắm nhìn tượng của các nữ hoàng vĩ đại và Nefertiti quả quyết với Baketamon rằng sắc đẹp của nàng tựa nhan sắc của Hatshepsut.
Nefertiti cũng nói với Công chúa rất nhiều điều xấu xa về Horemheb, khiến Baketamon, với niềm kiêu hãnh vốn có của mình, bắt đầu khiếp sợ Horemheb, người xuất thân từ tầng lớp thấp hèn nhưng cao hơn hẳn các bậc vương tôn Ai Cập một cái đầu và cũng vạm vỡ hơn, và nàng không thể chịu được ý nghĩ Horemheb sẽ bắt nàng quy phục và dùng vũ lực với nàng theo cách thô bạo của đám võ biền, làm ô uế dòng máu thánh của nàng. Nhưng trái tim con người thường bất nhất và thất thường, vì thế tôi nghĩ nàng bắt đầu căm hận Horemheb chỉ vì sức mạnh và sự cuồng nhiệt của Horemheb đã cuốn hút nàng từ lúc nào không rõ và nàng đã ngắm nhìn anh ta quá nhiều khi chàng trai cường tráng Horemheb mới đến hoàng cung, đã thấy người nóng bừng, nhột nhạt trước ánh mắt của anh ta mặc dù nàng chưa bao giờ tự thừa nhận điều đó.
Vì tất cả những điều đó nên Nefertiti đã dễ dàng thuyết phục được nàng khi mưu đồ của Eje và Horemheb trở nên quá rõ ràng và Pharaon Tutankhamon ngày càng ốm o tiều tụy khi cuộc chiến ở Syria đi đến hồi kết. Tôi không tin là Eje giấu Nefertiti âm mưu của mình vì Nefertiti là con đẻ của ông ta. Do vậy, Nefertiti dễ dàng phát hiện ra rằng Eje và Horemheb đã bí mật dàn xếp một ván bài lớn đến mức nào. Nhưng Nefertiti căm ghét cha mình, vì ông ta đã gạt bà sang bên sau khi đã lợi dụng bà hết mức, coi như không có bà trong hoàng cung vì bà là hoàng hậu của pharaon đã bị nguyền rủa và không cho phép bà tham dự các nghi lễ của hoàng gia. Tôi nghĩ còn có những lý do khác khiến Nefertiti ghét Eje cha mình, nhưng tôi không muốn kể ra vì không dám chắc; tôi cũng không tin tất cả những lời đồn thổi ở hoàng cung, mặc dù tôi biết cung điện vàng của pharaon là một ngôi nhà tối tăm và bên trong những bức tường của nó ẩn chứa rất nhiều điều khủng khiếp. Tôi chỉ nói rằng sự hòa quyện giữa sắc đẹp và trí thông minh trong một người đàn bà mà trái tim đã bị thời gian làm chai cứng như đá là một sự kết hợp nguy hiểm, nguy hiểm hơn những lưỡi dao trần và cứa xé hơn lưỡi hái đồng gắn trên các cỗ chiến xa. Tôi cũng không tin trên thế gian có gì nguy hiểm và có sức hủy diệt gớm ghiếc hơn một người phụ nữ quá đủ xinh đẹp, quá đủ thông minh song thiếu thiện tâm. Mưu đồ mà Nefertiti đan dệt nên đã chứng minh quá rõ điều này và bà ta đã thuyết phục Công chúa Baketamon cùng can dự.
Kế hoạch xảo quyệt này đã bại lộ vì sau khi về đến Thebes, vì nôn nóng Horemheb bắt đầu lượn lờ quanh nơi ở của Công chúa Baketamon để có thể nhìn thấy và nói chuyện với nàng, mặc dù Baketamon không muốn tiếp anh ta. Horemheb bất ngờ nhận ra sứ giả của Hittite đang xin gặp Baketamon, ngạc nhiên khi thấy Baketamon tiếp sứ giả Hittite và ngạc nhiên khi vị ấy ở chỗ Công chúa lâu đến thế. Vậy nên với quyền lực của mình, không cần hỏi ai, anh ta đã sai bắt giam sứ giả Hittite, còn viên sứ giả Hittite đầy vẻ hợm hĩnh đã đe dọa anh ta và nói với anh ta những lời mà chỉ những người chắc chắn về quyền uy của mình mới dám thốt ra.
Horemheb đã kể lại tất cả cho Eje và đêm đến, họ dùng vũ lực đột nhập vào cung thất của Baketamon, giết các nô lệ bảo vệ Công chúa và tìm thấy bức thư bí mật mà Baketamon đã giấu trong đống tro của bếp than. Đọc xong những đĩa đất sét này, họ vô cùng kinh hoảng, nhốt Baketamon ngay trong cung của nàng và ra lệnh canh giữ cả Công chúa và Nefertiti thật nghiêm cẩn. Ngay đêm đó, họ đã đến nhà tôi, vốn là xưởng đúc đồng mà Muti đã thuê dựng lại sau trận hỏa hoạn với số bạc Kaptah gửi về. Họ đến trong đêm trên một chiếc kiệu đơn sơ, mặt che kín. Muti cho họ vào nhà dù ban đầu không nhận ra họ là ai và mắng nhiếc họ thậm tệ khi họ yêu cầu bà ấy đánh thức tôi dậy. Nhưng tôi chưa ngủ, bởi sau khi từ Syria trở về, tôi ngủ rất kém vì tất cả những gì tôi buộc phải thấy ở Syria. Vậy nên tôi nhỏm dậy khỏi giường ngay khi tiếng càu nhàu của Muti chưa dứt, châm đèn và ra tiếp những người khách mà tôi nghĩ đang cần tôi chữa bệnh. Nhưng tôi vô cùng kinh ngạc khi nhận ra họ và sai Muti mang rượu cho chúng tôi rồi cho bà ta đi ngủ tiếp, mặc dù Horemheb sợ đến mức muốn giết Muti vì Muti đã nhìn thấy mặt họ và có thể nghe chuyện của chúng tôi. Tôi chưa bao giờ thấy Horemheb sợ hãi đến thế và điều này khiến tôi rất thích thú. Vì thế tôi nói:
- Chắc chắn tôi không để anh giết Muti, anh hẳn đang đau đầu nên mới nói những điều ngớ ngẩn thế. Muti già rồi, lại lãng tai và đêm ngủ ngáy như hà mã. Nếu để ý, anh sẽ nghe thấy tiếng ngáy của bà ta ngay đấy. Vì thế hãy uống rượu đi và tin rằng không cần phải sợ một bà già.
Nhưng Horemheb cáu kỉnh nói:
- Sinuhe, tôi không đến đây để nói với anh về chuyện ngáy hay không. Mạng người ở đâu cũng như nhau thôi vì Ai Cập đang lâm nguy và anh phải cứu Ai Cập.
Eje xác nhận lời của Horemheb:
- Thật sự Ai Cập đang lâm nguy, Sinuhe ạ. Cả ta đây cũng đang gặp nguy hiểm và có lẽ từ trước đến nay chưa bao giờ có hiểm họa lớn như vậy đe dọa Ai Cập. Vì thế chúng ta cần tới anh trong cơn nguy khốn của mình, Sinuhe ạ.
Nhưng tôi chua chát cười họ và xòe lòng bàn tay trống không của mình cho họ xem. Lúc ấy, Horemheb lấy ra những đĩa đất sét của vua Shubbiluliuma và đưa cho tôi đọc, anh ta cũng cho tôi xem cả bản sao của những bức thư mà Baketamon đã gửi đến Khattushash cho vua Hittite trước đình chiến. Đọc những bức thư này, tôi không còn cười được nữa và rượu mất hết vị trong miệng tôi, vì Baketamon đã viết cho quốc vương Hittite như sau:
“Tôi là con gái của Pharaon và dòng máu thiêng chảy trong huyết quản tôi, còn ở Ai Cập lại không có một người đàn ông nào xứng với tôi. Tôi nghe nói ngài có nhiều con trai. Vậy hãy cho một người trong số họ đến với tôi, để tôi cùng đập vỡ vò với người ấy và hãy để con trai ngài cùng tôi cai trị xứ Kemet.”
Bức thư này kỳ lạ đến mức lúc đầu một người cẩn trọng như Shubbiluliuma không thể tin ngay, nên đã gửi một đĩa đất sét cho Baketamon qua sứ giả bí mật của mình, lời lẽ đầy ngờ vực, hỏi Công chúa về các đòi hỏi của nàng. Nhưng Baketamon đã xác nhận lời đề nghị của mình trong một bức thư mới, khẳng định với quốc vương rằng vương triều Ai Cập đứng về phía nàng và các giáo sĩ Amon đều ủng hộ nàng. Bức thư này đã thuyết phục được Shubbiluliuma về ý muốn chân thành của Baketamon. Vì vậy, quốc vương đã vội vã đình chiến với Horemheb và hiện đang chuẩn bị cho con trai mình là Shubattu đến Ai Cập. Shubattu sẽ rời Kadesh vào một ngày thuận lợi với rất nhiều quà tặng cho Baketamon và theo như đĩa đất sét cuối cùng, vị hoàng tử đang trên đường đến Ai Cập cùng đoàn hộ tống.
Trong khi tôi đọc những bức thư này, Eje và Horemheb bắt đầu cãi nhau. Horemheb nói với Eje:
- Đây là phần thưởng cho tất cả những gì tôi đã làm cho ông đây ư, đây là sự đền ơn cho công lao đánh bại quân Hittite và sự chịu đựng vô vàn gian khổ của tôi đây ư? Nói thật nhé, tôi hẳn sẽ được nhiều hơn nếu để lại Ai Cập một con chó mù để bảo vệ quyền lợi cho mình khi xông pha nơi biên ải, còn hơn ông, không có ích gì cho tôi hơn một kẻ dắt gái, cứ nằng nặc đòi tiền mà đến cái đít của cô ta cũng không cho tôi thấy. Đúng thật đấy Eje, ông là đồ rác rưởi nhất mà tôi từng gặp và tôi sẽ phải ân hận về cái ngày mà tôi đã nắm bàn tay đen đúa của ông để cấu kết với ông. Bây giờ tôi không còn cách nào khác ngoài việc cho quân bọ bẩn thỉu của tôi đánh chiếm Thebes và giành lấy cho mình cả hai vương miện.
Nhưng Eje giải thích:
- Các giáo sĩ không bao giờ chấp thuận điều đó, hơn nữa chúng ta vẫn chưa biết phe phái đó lớn đến mức nào và liệu Baketamon sẽ được bao nhiêu giáo sĩ và thành viên hoàng gia ủng hộ. Ta không thèm tính đến dân chúng, vì họ chỉ là những con bò bị ta buộc dây quanh cổ và bất cứ ai ta cũng có thể dắt đến chỗ nào mình muốn. Không, Horemheb, nếu Hoàng tử Shubattu đến Thebes và đập vỡ vò với Baketamon, quyền lực của chúng ta sẽ chấm dứt, mà chúng ta lại không thể ngăn chặn hắn bằng vũ lực, vì điều đó sẽ dẫn đến một cuộc chiến mới, trong khi Ai Cập lúc này không thể chịu thêm một cuộc chiến nào nữa bởi cuộc chiến mới sẽ phá tan quyền lực của chúng ta và xóa sạch mọi thứ chúng ta đã bỏ công gây dựng. Tôi đúng là một con chó mù, nhưng việc thế này trước đây chưa từng xảy ra nên làm sao tôi có thể đoán được. Vì thế, Sinuhe sẽ phải giúp chúng ta.
- Lạy tất cả thần linh Ai Cập, - tôi kinh ngạc kêu lên. - Làm sao tôi có thể giúp được các ông, vì tôi chỉ là một thầy thuốc, làm sao tôi có thể xoay cái đầu của người đàn bà điên về phía Horemheb được?
Horemheb nói:
- Anh đã một lần giúp chúng tôi, đâm lao thì phải theo lao, dù muốn hay không. Anh phải đi gặp Hoàng tử Shubattu và phải làm sao đó để hắn ta không đến được Ai Cập. Thực hiện điều đó bằng cách nào, chúng tôi không biết và thậm chí không muốn biết. Tôi chỉ nói là chúng ta không thể lộ liễu cho giết hắn ta trên đường đi vì điều đó sẽ gây nên một cuộc chiến mới với người Hittite, mà tôi muốn chính mình là người chọn thời gian bắt đầu một cuộc chiến mới.
Lời anh ta nói khiến tôi kinh sợ và đầu gối tôi bắt đầu run, tim tôi tan thành nước và lưỡi líu lại trong miệng khi tôi nói:
- Đúng là tôi đã một lần giúp các anh, cho dù tôi làm việc đó vì mình cũng như vì Ai Cập, nhưng hoàng tử này không làm điều gì xấu với tôi, chỉ một lần duy nhất tôi thấy anh ta ở gần lều của anh vào ngày Aziru bị hành quyết. Không, Horemheb, anh không biến tôi thành sát thủ được, tôi thà chết còn hơn vì không có tội ác nào đáng hổ thẹn hơn thế, và cho dù tôi đã cho Pharaon Ekhnaton uống tử thần, song tôi làm điều đó vì chính ngài, vì ngài bị bệnh và tôi là bạn của ngài.
Nhưng Horemheb cau mày và bắt đầu quất roi vào chân mình, còn Eje nói:
- Sinuhe, anh là người biết cân nhắc và thận trọng, vì thế chắc anh cũng hiểu rằng chúng ta không thể nhấn chìm cả vương quốc dưới tấm chiếu phu thê của một thị nữ tính khí bất thường. Hãy tin ta đi, không còn cách nào khác đâu. Hoàng tử Shubattu phải chết trên đường đến Ai Cập và hắn chết vì tai nạn hay vì bệnh, việc đó không liên quan đến ta, miễn là hắn chết. Vì vậy, anh phải lên đường đến sa mạc Sinai gặp hắn ta ngay với vai trò danh y do Công chúa Baketamon cử đi đón hắn ta và khám xem hắn có thích hợp làm chồng hay không. Hắn ta sẽ tin điều đó ngay và sẽ ân cần tiếp đón anh, hỏi anh rất nhiều về Baketamon, vì Hoàng tử cũng chỉ là con người và ta nghĩ hắn đang rất tò mò tự hỏi Ai Cập sẽ trói buộc hắn với một phù thủy như thế nào đây. Này Sinuhe, nhiệm vụ của anh sẽ dễ dàng và anh sẽ không khinh rẻ những món quà mà việc này sẽ mang lại cho anh khi thành công vì khi xong việc, anh sẽ trở thành một người giàu có.
Horemheb nói:
- Hãy chọn nhanh đi, Sinuhe, sống hay chết. Anh phải hiểu là nếu anh từ chối, chúng tôi không thể để anh sống sau khi đã nghe tất cả những điều này, dù anh ngàn lần là bạn tôi. Bí mật này là bí mật của các pharaon, không ai được biết. Sinuhe, cái tên mà mẹ anh đã đặt cho anh là một điềm xấu, vì anh phải nghe quá nhiều bí mật của các pharaon. Chỉ cần để lộ một lời, tôi sẽ cắt ngang cổ anh từ tai này sang tai kia dù tôi không vui gì khi làm điều đó, bởi anh là người phụng sự chúng tôi tốt nhất và chúng tôi không thể giao việc này cho ai khác. Một tội ác chung đã trói anh vào với chúng tôi và cả tội ác này chúng tôi cũng sẵn sàng chia sẻ với anh, một khi anh nghĩ rằng cứu Ai Cập khỏi quyền uy của một người đàn bà điên và lũ Hittite là tội ác.
Thế là tôi thấy mình bị mắc kẹt trong một tấm lưới do chính mình đan và tấm lưới này thật chắc chắn, cầm tù tôi mà tôi không thể cắt bỏ bất cứ mắt lưới nào trong đó. Những việc tôi đã làm là sợi dây trói tôi mà chính tôi đã bện nó và một đầu sợi dây này đã được xâu từ những năm tháng xa xưa, luồn qua cái đêm Pharaon vĩ đại băng hà, xuyên qua lần Ptahor đến thăm bố Senmut của tôi năm ấy và được xỏ vào chiếc thuyền sậy dong xuống dòng nước quạnh hiu vào đêm tôi ra đời. Thế nhưng đúng vào lúc cho Pharaon Ekhnaton uống tử thần, tôi đã vĩnh viễn gắn chặt số phận mình với số phận của Horemheb và Eje, mặc dù lúc đó trong nỗi buồn đau và sự phẫn uất của mình, tôi không hề hay biết.
- Horemheb, anh thừa biết tôi không sợ chết, - tôi đáp lại, nhưng chỉ hoài công bảo vệ mình, vì cho dù tôi đã nói rất nhiều về cái chết, mời gọi cái chết đến với mình, nhưng thần chết vẫn là một vị khách ghê tởm, lạnh lùng trong đêm tối và tôi cũng không muốn một con dao cùn day day cứa cổ họng mình.
Tôi viết tất cả những điều này cho riêng mình nên tôi không tô vẽ bản thân và vì thế lấy làm hổ thẹn thú nhận rằng ý nghĩ về cái chết trong đêm đó đã làm tôi vô cùng sợ hãi, nhất là vì nó đến với tôi bất ngờ và tôi không kịp chuẩn bị đón nhận nó. Nếu có thời gian chuẩn bị, có thể tôi đã không sợ đến mức ấy. Nhưng rồi tôi nghĩ đến đàn én lao vun vút trên sông; tôi nghĩ đến rượu bến cảng; nghĩ đến món ngỗng quay kiểu Thebes của Muti và thấy cuộc sống bỗng trở nên ngọt ngào, đáng sống. Thế là tôi nghĩ đến Ai Cập và nghĩ rằng Ekhnaton phải chết để Ai Cập tồn tại, để Horemheb có thể dùng vũ khí đẩy lùi cuộc tấn công của Hittite. Nhưng Ekhnaton là bạn tôi, còn vị hoàng tử ngoại quốc này hoàn toàn xa lạ với tôi và chắc chắn đáng phải chết đến ngàn lần vì những tai họa anh ta gây ra trong cuộc chiến. Tại sao tôi lại không giết anh ta để cứu Ai Cập, vì tôi đã từng cho Ekhnaton uống thuốc độc để cứu Ai Cập. Tôi bắt đầu buồn ngủ rũ rượi và vừa ngáp vừa nói:
- Cất dao đi, Horemheb, vì chỉ nhìn thấy chiếc dao cùn thôi mà tôi đã sợ lắm rồi. Thôi được, tôi sẽ làm như anh nói. Tôi sẽ cứu Ai Cập khỏi sự cai trị của người Hittite, nhưng tôi thật sự chưa biết bằng cách nào làm được việc đó và tôi nghĩ mình cũng sẽ mất mạng thôi, vì chắc chắn người Hittite sẽ giết tôi nếu hoàng tử của họ chết. Nhưng tính mạng của tôi có nghĩa lý gì lắm đâu và tôi không muốn người Hittite cai trị Ai Cập, tôi làm việc này không vì quà tặng hay những lời hứa tốt đẹp, mà tôi làm chỉ vì việc này đã được viết lên các vì sao ngay cả trước ngày tôi sinh ra và tôi không thể tránh được. Vì vậy, hãy nhận lấy vương miện của các người từ tay tôi, Horemheb và Eje, hãy cầm lấy vương miện của các người và hãy cầu nguyện cho tôi, vì tôi, thầy thuốc Sinuhe tầm thường, sẽ cho các người thành pharaon.
Khi nói điều này, tôi chỉ muốn bật cười thành tiếng vì ý nghĩ có lẽ dòng máu thánh chảy trong huyết quản tôi và tôi mới là người duy nhất có quyền thừa kế các pharaon, trong khi Eje vốn chỉ là một giáo sĩ mặt trời vô danh, còn cha mẹ của Horemheb có mùi của gia súc và pho mát. Tôi giơ tay che miệng, cười khúc khích như một mụ già và tự cười mình khi nghĩ rằng nếu trong tôi có đủ sự cứng rắn và hà khắc như trong Horemheb, hoặc sự lạnh lùng, xảo quyệt như trong Eje, có lẽ tôi đã có thể làm chủ cuộc đời mình, vừa chứng minh nguồn gốc vừa đòi quyền thừa kế ngai vàng của các pharaon. Trong thời kỳ đầy biến động như thế này, điều gì cũng có thể xảy ra, nhưng quyền uy làm tôi sợ hãi, vương miện đẫm máu của các pharaon khiến tôi kinh hoảng và chảy trong huyết quản của tôi là dòng máu mặt trời hòa quyện với dòng máu hoàng hôn, yếu ớt của Mitanni. Vì thế tôi chỉ cười vào lòng bàn tay mình và không thể kìm được, vì khi bị tổn thương hay xúc phạm, tôi bắt đầu cười và khi sợ hãi, tôi đi ngủ. Ở điểm này, tôi nghĩ mình khác với nhiều người khác.
Tiếng cười của tôi làm Horemheb khó chịu, đến nỗi anh ta bắt đầu cau mày và quất roi vàng vào chân mình, nhưng Eje vẫn bình thản vì ông ta đã già và mệt mỏi, không quan tâm đến việc người khác cười hay khóc mà chỉ quan tâm đến chính mình. Vào lúc này, tôi thấy cả hai không còn khoác bộ lông sặc sỡ của những ảo tưởng trên người và thấy họ như những tên cướp đang tước đoạt thân thể của một người Ai Cập đang hấp hối, tôi thấy họ như những đứa trẻ thích chơi đùa với vương miện và những biểu tượng quyền uy, ham muốn và tham vọng xiềng xích họ nên họ không bao giờ có thể hạnh phúc. Vì vậy, tôi đột nhiên nín lặng, nhìn về tương lai và nói với Horemheb:
- Horemheb, bạn của tôi, chiếc vương miện nặng lắm. Anh sẽ cảm nhận được điều đó vào buổi tối một ngày nắng nóng, khi đàn gia súc được lùa đến bờ sông uống nước và mọi tiếng ồn lặng tắt xung quanh anh.
Nhưng Horemheb nói:
- Anh hãy nhanh lên vì thuyền đang đợi và anh phải gặp Shubattu trong sa mạc Sinai trước khi anh ta cùng đoàn hộ tống kịp đến Tanis.
Thế là một lần nữa tôi buộc phải rời Thebes ngay lập tức vào lúc nửa đêm. Horemheb cấp cho tôi chiếc thuyền nhanh nhất của anh ta và tôi cho đưa tráp đồ dùng nghề y của mình lên thuyền cùng với phần ngỗng nướng kiểu Thebes còn lại mà Muti nấu cho tôi vào bữa tối. Tôi cũng cho mang rượu lên thuyền làm bạn đồng hành vì tôi không còn thật sự quan tâm đến những gì đã xảy ra với mình nữa.
❖ 2 ❖
Trên thuyền, tôi có thời gian suy nghĩ và khi đã nghĩ quá đủ, tôi tìm mọi cách cho thuyền đi nhanh hơn, như lấy gậy làm nhịp giục đội chèo thuyền và hứa cho họ thật nhiều quà. Vì càng nghĩ về công việc, tôi càng hiểu rõ hơn mối hiểm nguy lớn như đám mây cát đen ngòm bốc lên từ sa mạc đang đe dọa Ai Cập. Tôi có thể dễ dàng biện hộ cho mình rằng tất cả những gì tôi làm là vì Ai Cập, nhưng con người ta không dễ dàng biện minh cho việc làm của mình như vậy và rượu của hành động không bao giờ là rượu nguyên chất mà đã được pha. Tôi viết điều này cho chính mình, vì thế tôi thừa nhận rằng có lẽ tôi đã không làm việc này nếu đêm đó tôi không sợ khi cái chết đến nhà mình bất ngờ đến thế. Nhưng khi nhận làm việc này, tôi đã tô điểm cho nó bằng mọi cách và khoác cho nó chiếc áo lông sáng màu của ảo tưởng cho đến khi chính tôi cũng tin rằng tôi đã cứu được Ai Cập bằng hành động của mình. Tuy nhiên khi về già, tôi không còn tin vào điều đó nữa, còn khi ngồi trên chiếc thuyền xuôi nhanh trên dòng sông, tôi rất vội và cơn sốt hành động hừng hực trong tôi, mí mắt tôi sưng mọng và tôi không thể ngủ được.
Tôi lại chỉ còn một mình và cô đơn hơn ai hết, vì tôi không thể để lộ mình thêm với bất kỳ ai và cũng không thể xin bất kỳ ai giúp mình trong việc phải làm này. Bởi bí mật của tôi là bí mật của các pharaon và nếu bị bại lộ sẽ có hàng ngàn, hàng vạn người phải chết. Vì vậy tôi phải tinh ranh hơn rắn và khi ý thức được rằng nếu bị lộ thì sẽ chết rất đau đớn trong tay quân Hittite, tôi buộc mình phải dùng thủ đoạn và mưu mẹo.
Vì thế, như có tiếng nói giục giã trong tâm, xui tôi hãy vứt bỏ tất cả và trốn đi, ẩn náu ở một nơi nào đó thật xa như Sinuhe, người trùng tên với tôi trong câu chuyện cổ, đã làm khi tình cờ biết được bí mật của pharaon, tôi chỉ muốn chạy trốn, để mặc cho định mệnh dâng cao nhấn chìm Ai Cập và nếu tôi chạy trốn, có lẽ mọi việc đã khác và có lẽ thế giới ngày nay sẽ khác, nhưng thế giới sẽ tốt hơn hay xấu đi, tôi không thể nói. Nhưng khi tuổi tác nhiều hơn, tôi nhận ra rằng tất cả vua chúa cuối cùng đều giống nhau, tất cả các dân tộc cuối cùng đều giống nhau, không có sự khác biệt lớn ai là vua chúa và dân tộc này áp bức dân tộc kia, vì dân nghèo, nói cho cùng luôn phải chịu cực khổ. Vì thế, có lẽ cũng vậy thôi cho dù tôi để mọi việc cho gió cuốn đi và mình bỏ trốn. Nhưng nếu chạy trốn, chắc chắn tôi cũng sẽ không bao giờ hạnh phúc nữa. Tuy nhiên, cũng không có nghĩa là bây giờ tôi hạnh phúc hơn, bởi những tháng ngày hạnh phúc của tôi đã trôi qua cùng với tháng năm tuổi trẻ của mình.
Tôi đã không chạy trốn vì tôi yếu đuối, mà khi con người ta quá yếu mềm, họ thà để mặc cho ý chí của người khác dẫn dắt mình thậm chí vào những việc làm đáng sợ, hơn là tự lựa chọn con đường riêng của mình. Thật vậy, nếu con người ta quá yếu đuối, anh ta thà để mặc người khác dắt mình vào cõi chết hơn là cố gắng cắt bỏ sợi dây đang kéo mình, và tôi nghĩ có nhiều người yếu đuối và tôi không phải là người duy nhất.
Vậy nên Hoàng tử Shubattu phải chết và bên hũ rượu dưới cái lọng vàng trên thuyền, tôi ngồi moi hết kiến thức và tài năng để nghĩ cách giết anh ta sao cho việc làm của mình không bị bại lộ và Ai Cập không phải chịu trách nhiệm cho việc ấy. Đây là một việc khó khăn vì Hoàng tử Shubattu đi cùng đoàn hộ tống tương xứng với tước vị của anh ta và người Hittite vốn đa nghi nên chắc chắn sẽ canh phòng nghiêm ngặt để giữ an toàn cho Hoàng tử. Và cho dù nếu chúng tôi có đối đầu tay đôi ở sa mạc, tôi không thể giết anh ta bằng tên hay giáo nếu đủ sức làm vậy, vì tên và giáo sẽ để lại dấu vết và tội ác sẽ bị bại lộ. Tôi lại nghĩ liệu mình có thể rủ anh ta cùng đi tìm thằn lằn chúa có mắt đá xanh lục rồi xô anh ta xuống hẻm núi, để rồi có thể kể là anh ta vấp chân và bị ngã gãy cổ. Nhưng mẹo này thật trẻ con và tôi biết đoàn tùy tùng sẽ không để anh ta vượt khỏi tầm mắt và vào sa mạc vì họ phải chịu trách nhiệm về tính mạng của anh ta trước vua cha là Shubbiluliuma Đại đế. Tôi gần như chắc chắn rằng mình sẽ không có cơ hội gặp riêng anh ta, và các đại thần Hittite luôn có gia nhân chuyên nếm trước thức ăn và đồ uống đề phòng độc tố nên tôi không thể đầu độc anh ta theo cách thông thường.
Vậy nên tôi nhớ lại trong đầu tất cả những chuyện kể về những độc dược bí mật của các giáo sĩ và trong hoàng cung. Tôi biết có những cách như cho độc tố vào trái cây từ lúc nó còn xanh trên cây và khi quả chín, người nào ăn nó sẽ chết. Tôi cũng biết có những cuộn giấy mà người mở ra sẽ chết từ từ, và hương thơm của một số loại hoa sau khi qua tay các giáo sĩ sẽ gây chết người. Nhưng tất cả đều là bí mật của các giáo sĩ mà tôi không thể biết và tôi nghĩ nhiều câu chuyện trong số này chỉ là giai thoại. Và cho dù chúng có thật đi nữa và chính tôi cũng biết cách, tôi không thể bắt đầu trồng cây ăn quả trong sa mạc; tôi biết Hoàng tử Hittite sẽ không tự mình giở cuộn giấy mà để việc đó cho thư lại và người Hittite cũng không có thói quen ngửi hoa mà chỉ lấy roi quật đứt nhành hoa và lấy chân giẫm lên nó.
Càng nghĩ về tất cả những việc này, tôi càng thấy nhiệm vụ của mình quá khó khăn và ước ao giá mà tôi được những mưu mẹo của Kaptah trợ giúp, nhưng tôi không thể kéo Kaptah vào việc này, vả lại Kaptah còn ở lại Syria để đòi nợ chứ chưa vội trở về Ai Cập và ông ta cho rằng thời tiết Syria tốt cho ông ta hơn thời tiết Ai Cập. Vì vậy, tôi cố vận dụng tất cả óc sáng tạo và chắt lọc hết kiến thức nghề y của mình, vì tử thần là người quen của thầy thuốc và thầy thuốc có thể mời cái chết hay sự sống đến với bệnh nhân của họ bằng thuốc của mình. Nếu Hoàng tử Shubattu bị ốm và tôi được phép chữa trị cho ngài ta, tôi có thể an tâm điều trị cho ngài ta đến chết bằng các thao tác của nghề y mà không thầy thuốc thạo nghề nào có thể chê trách được điều gì về cách điều trị của tôi, vì từ xưa đến nay các danh y luôn hỗ trợ nhau chôn cất người chết. Nhưng Shubattu không bị bệnh và nếu có, anh ta sẽ để các thái y Hittite chữa trị chứ không gọi một danh y Ai Cập.
Tôi đã kể nhiều như vậy về những cân nhắc, tính toán của mình để cho thấy việc mà Horemheb giao cho tôi khó khăn đến mức nào, nhưng tôi không muốn nấn ná lâu hơn với những gì mình nghĩ, mà sẽ chỉ kể những gì tôi đã làm. Trong Nhà Sống tại Memphis, tôi lấy thêm dược liệu vào tráp thuốc và không ai ngạc nhiên với những loại thuốc tôi kê đơn, vì một loại độc dược gây chết người đối với một người bình thường qua tay một danh y lại có thể là thuốc chữa bệnh.
Sau đó tôi liền đi ngay đến Tanis rồi lên kiệu ở đó và quân đồn trú cử một vài chiến xa hộ tống tôi đi theo đường chiến sự lớn xuyên qua Syria vào sâu trong sa mạc. Tôi muốn ngồi kiệu trong dáng vẻ một thầy thuốc và một người đã quá quen với tiện nghi nhàn nhã, để sự vội vàng quá mức của mình không làm đội hộ tống tôi và quân Hittite nghi ngờ.
Horemheb đã có những nguồn tin rất đúng về hành trình của Shubattu, vì tôi gặp anh ta và đoàn tùy tùng tại một nguồn nước có tường cao bao quanh cách Tanis ba ngày đường. Shubattu cũng ngồi kiệu để giữ sức và có rất nhiều lừa đi cùng, trên lưng chúng thồ những bao, gói nặng và nhiều món quà quý cho Công chúa Baketamon. Các chiến xa hạng nặng bảo vệ chuyến đi của anh ta và những chiến xa hạng nhẹ do thám, dò đường phía trước, vì vua Shubbiluliuma đã lệnh cho Hoàng tử đề phòng mọi điều bất ngờ do biết quá rõ rằng chuyến đi này sẽ khiến Horemheb tức tối. Nếu Horemheb định sai quân ô hợp đến ám sát Hoàng tử trong sa mạc, anh ta cũng không thể làm được, vì để đánh bại đoàn hộ tống Hoàng tử, phải cần đến một đội quân chính quy được trang bị chiến xa và điều đó có nghĩa là chiến tranh bùng nổ.
Nhưng quân Hittite tỏ ra rất lịch sự và đáng mến với tôi và các cai đội trong đoàn tùy tùng khiêm tốn của mình, theo cách mà họ lịch sự và đáng mến khi nghĩ mình được cho không thứ mà dùng vũ khí cũng không thể chinh phục được. Họ đón chúng tôi vào trại mà họ dựng để qua đêm, giúp những người lính Ai Cập dựng lều cho chúng tôi và cho rất nhiều lính canh đứng quanh các lều với lý do bảo vệ chúng tôi khỏi bọn cướp và sư tử sa mạc để đêm chúng tôi có thể ngủ yên. Nhưng khi biết tôi được Công chúa Baketamon cử đến, Hoàng tử Shubattu tò mò cho gọi tôi đến lều mình để nói chuyện với tôi.
Thế là tôi diện kiến Shubattu trong lều của ngài; Hoàng tử là một người trẻ trung, cương nghị, đôi mắt to và trong vắt khi không say, như lần đầu tiên tôi nhìn thấy ngài trước lều của Horemheb ở Megiddo vào buổi sáng Aziru bị giết. Niềm vui và nỗi tò mò làm khuôn mặt đen sạm của Hoàng tử hơi ửng hồng, mũi ngài là mũi chim săn mồi, to và kiêu hãnh, hàm răng lóe lên trắng nhởn như răng thú ăn thịt khi ngài cười thật vui lúc thấy tôi. Tôi trao cho ngài thư của Công chúa Baketamon, bảng đất sét mà Eje đã giả mạo, hai tay để thẳng xuống đầu gối trước mặt ngài với tất cả sự tôn kính, như thể ngài đã là quốc vương của mình. Tôi thấy rất buồn cười khi ngài ăn vận theo kiểu Ai Cập để tiếp tôi và thấy ngượng ngập trong bộ quần áo vì không quen. Ngài ta nói với tôi:
- Vì hoàng phi tương lai của ta đã tin tưởng ngươi và ngươi là danh y hoàng gia, ta sẽ không giấu ngươi bất cứ điều gì. Vậy nên ta nói rằng một hoàng tử khi kết hôn là đã trói buộc với vương phi của mình, vương quốc của ái phi ta sẽ là vương quốc của ta, phong tục của Ai Cập là phong tục của ta và ta đã cố gắng hết sức để làm quen và hiểu các tập quán đó nên ta không còn là người lạ khi đến Thebes. Ta cũng đang nóng lòng chờ đợi để được nhìn thấy tất cả các kỳ quan của Ai Cập mà ta đã nhiều lần nghe kể và được làm quen với các vị thần vĩ đại của Ai Cập mà từ nay cũng là thần của ta. Nhưng điều khiến ta nóng lòng nhất là được gặp hoàng phi vĩ đại của ta, vì ta phải lập ra một triều đại mới ở Ai Cập và cùng nàng sinh những đứa con. Vậy nên hãy kể cho ta tất cả về nàng, cho ta biết về kích cỡ, hình dáng cũng như vòng hông của nàng, như thể ta đã là người Ai Cập. Ngươi không được giấu ta bất cứ điều gì về nàng, mà ngươi có thể tin tưởng ta cũng như ta tin ngươi như anh trai mình.
Hoàng tử bày tỏ lòng tin của mình như thế trong khi viên lãnh binh vũ khí tuốt trần đứng sau ngài và toán lính Hittite gác ở cửa lều chĩa mũi giáo vào lưng tôi. Nhưng tôi cứ làm như không biết mà cúi rạp đầu sát đất trước mặt ngài ta và nói:
- Công chúa Baketamon quyền quý của tôi là một trong những phụ nữ xinh đẹp nhất Ai Cập. Vì dòng máu linh thiêng, Công chúa giữ gìn trinh tiết; tuy nhiều tuổi hơn ngài nhưng người có vẻ đẹp trường tồn với khuôn mặt như trăng rằm và đôi mắt hình trái xoan như hoa sen. Là một danh y, tôi có thể bảo đảm với ngài rằng hông của Công chúa vẫn sinh được con dù hẹp như hông của tất cả phụ nữ Ai Cập. Vì tất cả những việc này, Công chúa đã phái tôi đi đón ngài để người được thuyết phục rằng dòng máu hoàng tộc của ngài xứng với dòng máu thánh thiêng liêng của Công chúa và cơ thể ngài đáp ứng tất cả các yêu cầu một người chồng cần có để ngài không làm người thất vọng và Công chúa đang nóng lòng đón chờ ngài bởi trong đời mình, Công chúa chưa bao giờ biết mùi đàn ông.
Hoàng tử Shubattu ưỡn ngực, giơ cùi chỏ lên ngang vai để phô bày bắp tay và nói với tôi:
- Cánh tay ta căng được cả những cây cung cứng nhất và hai bắp đùi ta có thể siết một con lừa tắt thở. Khuôn mặt ta cũng không có khiếm khuyết gì, như ngươi thấy, thậm chí ta không nhớ nổi lần mình bị ốm lần gần đây nhất là khi nào.
Tôi nói với ngài ta:
- Ngài rõ là một chàng trai thiếu kinh nghiệm, không am tường phong tục Ai Cập, vì ngài tưởng công chúa Ai Cập là một cây cung để căng và một con lừa để kẹp giữa hai bắp đùi. Hoàn toàn không phải vậy, mà đúng là tôi phải giảng cho ngài một vài bài về nghệ thuật phòng the của người Ai Cập để ngài khỏi thấy thẹn thùng trước mặt Công chúa. Bà chủ của tôi, Công chúa quyền quý, đã sáng suốt khi sai tôi, một lương y, đi đón ngài để giới thiệu cho ngài những phong tục của người Ai Cập.
Lời nói của tôi đã thật sự xúc phạm Hoàng tử Shubattu, vì ngài là một chàng trai kiêu ngạo và luôn khoe khoang sức vóc đàn ông của mình như thói quen của người Hittite. Các lãnh binh của ngài ta phá lên cười và điều này càng xúc phạm ngài hơn, khiến mặt ngài tái nhợt vì tức giận và hai hàm răng nghiến ken két. Nhưng ngài muốn tỏ vẻ khoan dung theo cách Ai Cập nên nói vẻ rất bình thản:
- Ta không phải là một chàng trai thiếu kinh nghiệm như ngươi nghĩ mà ngọn giáo của ta đã đâm thủng nhiều bịch da và ta không nghĩ công chúa của ngươi phải thất vọng khi ta dạy cho nàng nghệ thuật của người xứ Hatti.
- Thưa Hoàng tử, - tôi nói, - tôi tin vào sức mạnh của ngài, nhưng ngài hẳn đã nhầm khi nói ngài thậm chí không nhớ nổi lần cuối cùng mình bị bệnh là khi nào, vì là một thầy thuốc, tôi thấy từ mắt và má ngài rằng ngài đang bị bệnh và là một thầy thuốc, tôi biết bụng ngài lục bục làm ngài khó ở.
Nói cho cùng thì có lẽ ai cũng tin là mình có bệnh nếu bị buộc nghe đủ lâu về nó và bắt đầu nghe ngóng bệnh trạng của chính mình. Trong thâm tâm mỗi người, ai cũng mong được nuông chiều, được chữa trị, chăm sóc và các lương y từ cổ chí kim ai cũng biết điều này, nhờ vậy họ làm giàu rất nhanh. Nhưng trong việc này, tôi còn có thêm một lợi thế là tôi biết các nguồn nước ở sa mạc chứa dung dịch kiềm nên những ai không quen sẽ dễ bị tiêu chảy. Vậy nên Hoàng tử Shubattu rất kinh ngạc khi nghe tôi nói thế và hét lên:
- Chắc ngươi nhầm rồi, Sinuhe, Người Ai Cập ạ, bởi ta hoàn toàn không thấy mình bị ốm, dù phải thừa nhận rằng bụng ta luôn lục bục và ta đã buộc phải ngồi lom khom bên vệ đường suốt cả ngày. Mà thật không hiểu làm sao ngươi biết được, là danh y chắc chắn ngươi giỏi hơn thái y của ta, kẻ đã không lưu ý đến sự khó chịu của ta.
Ngài vừa tự nghe ngóng vừa thử đưa tay lên sờ mắt và trán rồi nói:
- Đúng là ta thấy mắt mình cay xè vì cả ngày chỉ nhìn chằm chằm vào cát đỏ sa mạc và trán ta nóng ran, tâm trạng không tốt như ta muốn.
Tôi nói với Hoàng tử:
- Tốt nhất là thái y của ngài kê cho ngài một toa thuốc giúp yên bụng và ngủ ngon. Vì chứng đau bụng ở sa mạc rất khó chịu và gây bất tiện. Bản thân tôi biết cả một đội lính Ai Cập đã chết trong sa mạc vì đau bụng khi hành quân đến Syria. Không ai biết chứng bệnh này do đâu, một vài người nói đó là do gió độc sa mạc, những người khác lại bảo do nguồn nước và một số ít đổ lỗi cho các đàn châu chấu. Nhưng tôi tin sáng mai ngài sẽ lại khỏe mạnh và có thể tiếp tục cuộc hành trình nếu tối nay thái y của ngài pha cho ngài toa thuốc thích hợp.
Nghe đến đây, Hoàng tử bắt đầu trầm ngâm, hai mắt nheo nheo rồi ngài liếc nhìn các lãnh binh của mình và ranh mãnh nói với tôi như một cậu bé:
- Sinuhe, hãy pha cho ta một toa thuốc thích hợp vì chắc ngươi biết chứng bệnh đau bụng kỳ lạ của sa mạc này tốt hơn thái y của ta.
Nhưng tôi không ngu ngốc như ngài ta nghĩ mà giơ tay lên, lòng bàn tay hướng ra từ chối và nói:
- Ồ không. Tôi không dám pha thuốc cho ngài, vì nếu thể trạng của ngài xấu đi, ngài sẽ buộc tội tôi và nói tôi là người Ai Cập muốn điều ác cho ngài. Nhưng thái y của ngài cũng làm được điều đó như tôi và tốt hơn tôi vì ông ta biết thể trạng và các bệnh trước đây của ngài, ông ta không cần phải làm gì khác hơn là kê cho ngài một toa thuốc đơn giản để làm bụng ngài chắc lại.
Hoàng tử mỉm cười với tôi và nói:
- Có lẽ lời khuyên của ngươi có lý, vì ta muốn ăn và uống cùng ngươi để ngươi kể ta nghe về hoàng phi của ta và phong tục Ai Cập, chứ ta không muốn phải liên tục chạy ra sau lều lom khom giữa chừng câu chuyện của ngươi.
Rồi ngài cho gọi thái y của mình, một người Hittite rầu rĩ, đa nghi, và chúng tôi, hai danh y, nói chuyện với nhau. Nhận thấy tôi không muốn ganh đua với mình, ông ta bắt đầu mến tôi và làm theo lời khuyên của tôi, pha thuốc làm chắc bụng cho Hoàng tử. Theo lời khuyên của tôi, ông ta pha liều thuốc này khá mạnh, vì tôi có mục đích của mình khi đưa ra lời khuyên này. Nhưng sau khi pha xong, ông ta uống trước từ trong cốc, sau đó mới đưa cho Hoàng tử để đảm bảo rằng thuốc không độc. Từ cách pha chế và hòa các thuốc với nhau, tôi thấy ông ta là một thầy thuốc giỏi chuyên môn, nhưng lời tôi nói đã làm ông ta bối rối và tôi nghĩ ông ta tin tôi có tay nghề cao hơn nên đã nghe theo lời khuyên của tôi khi chữa cho bệnh nhân của mình.
Tôi biết Hoàng tử không bị ốm và không cần thuốc cũng khỏi, nhưng tôi muốn đoàn tùy tùng tin rằng ngài bị bệnh và muốn bụng ngài yên để thuốc mà tôi cho ngài uống sẽ ở yên trong bụng ngài, không bị thải ra trước thời gian tôi muốn. Trước bữa ăn mà Hoàng tử đã sai nấu để đãi tôi, tôi vào lều mình uống dầu ăn; bất chấp cơn buồn nôn và dù hết sức khó chịu, tôi uống đầy một bụng dầu để cứu mạng mình. Sau đó, tôi mang theo một cút rượu nhỏ chỉ vừa đủ cho hai cốc mà tôi đã pha thuốc độc và gắn xi lại từ trước. Rồi tôi quay trở lại lều của Hoàng tử và ngồi xuống tấm thảm của ngài, ăn thức ăn được đầy tớ phục vụ, uống rượu được những người tiếp rượu rót vào cốc và kể nhiều chuyện hài hước về phong tục Ai Cập làm cho Hoàng tử cùng các lãnh binh của ngài cười, dù suốt cả buổi tôi chỉ muốn nôn. Hoàng tử Shubattu thậm chí còn cười phô hàm răng sáng loáng và vỗ tay vào lưng tôi, nói:
- Sinuhe, ngươi là một người vui tính, dù là người Ai Cập. Thông hiểu Ai Cập rồi, ta sẽ cho ngươi làm thái y riêng của ta và phong ngươi là danh y hoàng gia. Đúng là ta đến nghẹt thở vì cười và quên cả chứng đau bụng khi ngươi kể cho ta nghe về tục kết hôn của người Ai Cập, nhưng những phong tục này đều rất nhàm chán dù có đôi việc trong số đó khá hay đấy và ta nghĩ người Ai Cập tìm ra những cách này để tránh có con. Vì thế, ta muốn dạy cho người Ai Cập nhiều tập quán của người Hittite và cho các quan lại của ta làm người đứng đầu các địa phương Ai Cập; ta nghĩ điều này sẽ tốt cho Ai Cập, nhưng trước tiên ta phải trao cho Công chúa những gì thuộc về nàng.
Hoàng tử đã ngà ngà vì rượu, đập tay lên đầu gối và cười, nói:
- Nói thật, ta chỉ ước Công chúa đang nằm ngay đây trên thảm của ta vì những câu chuyện của ngươi kích động ta ghê gớm, Sinuhe ạ, và ta muốn làm nàng rên lên vì sung sướng. Thề với trời cao thiêng liêng và mẹ đất vĩ đại, ta muốn cả Ai Cập reo lên vì vui sướng, bởi khi đất Hatti và Ai Cập hợp nhất thì không vương quốc nào trên thế giới có thể địch nổi uy quyền của chúng ta và chúng ta sẽ bắt cả bốn phương thế giới quy phục dưới trướng mình và quyền lực của chúng ta sẽ lan rộng từ đất này sang đất khác, từ biển này đến biển kia. Nhưng trước hết, Ai Cập phải lấy sắt kìm cặp thân thể mình, để lửa nung đốt trái tim mình, để tất cả người Ai Cập đều tin rằng cái chết tốt hơn sự sống. Hãy để tất cả những điều này xảy ra và xảy ra thật nhanh.
Hoàng tử nâng cốc lên và uống, rồi lại rót một ít rượu xuống mẹ đất và hất chỗ rượu còn lại trong cốc lên không trung để dâng cúng trời cao. Tất cả những người Hittite đều đã ngà ngà say và những câu chuyện vui tôi kể đã xua tan sự đa nghi trong họ. Thừa lúc ấy, tôi nói:
- Thưa Hoàng tử Shubattu, tôi không muốn xúc phạm ngài và rượu của ngài, nhưng chắc là ngài chưa từng thưởng thức rượu Ai Cập, vì nếu ngài đã một lần nếm rượu Ai Cập, tất cả các loại rượu khác sẽ nhạt như nước trong miệng ngài và ngài sẽ không còn thấy thích bất kỳ loại rượu nào khác. Vì vậy, xin Hoàng tử tha thứ cho tôi nếu tôi uống rượu của mình, vì tôi chỉ say được bằng rượu của chính mình. Bởi vậy tôi luôn mang theo rượu của mình trong các bữa tiệc.
Tôi lắc lắc cút rượu của mình rồi rề rà mở xi gắn miệng cút cốt để cho Hoàng tử thấy và vừa giả đò ngà ngà say, vừa rót rượu vào cốc mình rồi uống và nói:
- À, đây là rượu của Memphis, rượu của các kim tự tháp, cân đo bằng vàng, một loại rượu mạnh, ngọt và dễ say của Ai Cập mà không loại rượu nào trên thế gian này sánh nổi.
Rượu này quả là rất mạnh và ngon, và tôi đã hòa nó với mộc dược khiến mùi thơm lan khắp căn lều khi tôi mở nắp cút, nhưng qua mùi rượu và mộc dược, tôi cảm nhận được vị tử thần trong lưỡi mình. Vì thế, rượu trào xuống cằm khi tôi uống, còn người Hittite lại nghĩ rằng tôi đã say. Hoàng tử Shubattu trở nên tò mò và chìa cốc của mình cho tôi, nói:
- Này, ta không còn là người lạ với ngươi nữa, mà ngày mai ta là chủ ngươi và pharaon của ngươi. Vì vậy, hãy để ta nếm thử rượu này, vì nếu ngươi không cho ta nếm, ta không tin nó đặc biệt như ngươi nói.
Nhưng tôi áp chặt cút rượu vào ngực mình, cương quyết từ chối và nói:
- Chỗ rượu này không đủ cho hai người và tôi không còn loại rượu ngon này để mang theo mình nữa, mà tối nay tôi muốn uống say vì đây là ngày vui với tất cả mọi người Ai Cập và là ngày hợp nhất vĩnh cửu Ai Cập và vương quốc Hatti.
- Hi ha ha, - tôi vừa hít hà như một con lừa vừa ôm chặt cút rượu vào lòng và nói. - Người yêu của ta, hôn thê của ta, tình yêu bé bỏng của ta, cổ họng ta là nhà của nàng, dạ dày ta là tổ ấm của nàng và ta sẽ không để người lạ nào chạm vào nàng.
Đám tùy tùng Hittite gập lưng cười ngặt nghẽo, tay đập vào đầu gối, còn Shubattu, vốn luôn có được mọi thứ mình muốn, giơ cốc về phía tôi và nằn nì tôi cho ngài được nếm rượu của tôi. Cuối cùng, tôi vừa khóc vừa rót hết rượu từ trong cút ra đầy cốc của ngài. Thật dễ để khóc vào giây phút ấy vì tôi vô cùng sợ hãi.
Nhưng khi đã có rượu rồi, Shubattu nhìn xung quanh như thể bản năng vừa cảnh báo và theo cách của người Hittite, ngài đưa cốc cho tôi và nói:
- Hãy uống trước nào, vì ngươi là bạn của ta và ta muốn tỏ rõ sự ưu ái với ngươi.
Hoàng tử nói vậy vì cũng thấy ngượng nếu để lộ sự đa nghi của mình và bắt người nếm rượu của mình uống trước. Tôi uống một ngụm dài từ cốc của ngài và sau khi tôi uống, Hoàng tử dốc cạn cốc, nhấp nháp miệng và nghiêng nghiêng đầu lắng nghe cơ thể mình rồi nói:
- Sinuhe, đúng là rượu của ngươi rất mạnh, bốc lên đầu như khói và cháy như lửa trong dạ dày ta, nhưng vị chát nằm lại nơi miệng ta và ta muốn súc cái vị này của Ai Cập ra khỏi miệng mình bằng rượu của miền núi cao.
Hoàng tử lại rót đầy cốc bằng rượu của mình rồi uống cạn và tôi biết độc dược sẽ chưa ngấm vào ngài ngay mà phải đến sáng, vì dạ dày của ngài chắc và ngài đã ăn rất nhiều.
Tôi uống nhiều rượu, hết tửu lượng của mình, và giả vờ say, rồi đợi khoảng nửa thời gian đồng hồ nước nữa trước khi cho dìu về lều của mình để tránh gây nghi ngờ cho người Hittite. Khi khoảng thời gian thích hợp trôi qua, tôi mới bảo họ đưa tôi về lều mình, tay ôm chặt cút rượu không vào ngực không rời, không bỏ quên lại để họ không thể kiểm tra. Nhưng ngay sau khi lính Hittite đặt tôi xuống giường, nói vài lời chọc ngoáy, đùa cợt rồi bỏ tôi lại một mình, tôi vội vàng nhổm dậy, đút ngón tay vào cổ họng để nôn cho rỗng dạ dày, cho ra hết dầu ăn bảo vệ và chất độc khỏi dạ dày. Nhưng nỗi kinh hoàng của tôi quá lớn khiến mồ hôi túa ra đầm đìa khắp người và đầu gối tôi run rẩy, và có lẽ chất độc đã phần nào ngấm vào tôi. Vì vậy tôi súc dạ dày mình nhiều lần và uống thuốc xổ để nôn thốc nôn tháo hết lần này đến lần khác cho đến khi tôi nôn chỉ vì sợ chứ không phải do thuốc tẩy ruột.
Cho đến khi kiệt sức, mềm nhũn như một mớ giẻ ướt, tôi mới rửa sạch cút rượu rồi đập nó vỡ vụn và chôn các mảnh trong cát. Sau đó, tôi nằm trên giường trằn trọc và run bần bật vì sợ hãi và vì độ mạnh của độc dược; từ trong bóng tối, khuôn mặt tươi cười và đôi mắt to trong suốt như nước của Shubattu nhìn tôi suốt đêm. Bởi ngài là một chàng trai khôi ngô, và tôi không thể quên được khuôn mặt ngài khi nằm trong bóng tối, tôi không thể quên được nụ cười kiêu hãnh và vô tư cũng như hàm răng trắng đều của ngài.
❖ 3 ❖
Tính kiêu ngạo của người Hittite đã giúp tôi, vì khi Shubattu thấy khó chịu vào sáng hôm sau, ngài không muốn thừa nhận mình bị ốm hay cho dừng cuộc hành trình để nghỉ ngơi vì chứng bệnh dạ dày, mà đã ngồi kiệu đi, dù phải cố sức lắm mới lên được kiệu. Vì thế chúng tôi tiếp tục cuộc hành trình cả ngày và khi tôi đi qua kiệu của Hoàng tử, ngài vẫy tay về phía tôi, hét gọi và gượng cười. Hôm đó, thái y riêng đã cho ngài thêm hai loại thuốc chống tiêu chảy và giảm đau, như thế chỉ làm bệnh ngài nặng thêm và làm độc dược ngấm vào dạ dày ngài hết mức, vì biết đâu chứng bệnh tiêu chảy nặng vào buổi sáng đã có thể cứu sống ngài.
Nhưng đến chiều, Hoàng tử nằm bất tỉnh trên kiệu, mắt trợn ngược, mặt hõm xuống và tái xanh khiến thái y của ngài vô cùng hoảng sợ và gọi tôi đến giúp. Cả tôi cũng hốt hoảng khi thấy thể trạng tiều tụy của ngài, mà tôi cũng không cần giả vờ kinh hoảng, vì nỗi sợ hãi đã khiến tôi lạnh cóng giữa ban ngày và vì độc dược nên tôi thấy người rất yếu. Nhưng tôi nói mình đã nhận biết các triệu chứng ấy và là của chứng bệnh dạ dày nơi sa mạc mà tôi đã cảnh báo Shubattu tối hôm trước qua vẻ mặt ngài, mặc dù ngài không tin tôi. Đoàn lữ hành dừng lại và chúng tôi chăm sóc Shubattu trên kiệu của ngài, cho ngài uống thuốc hồi sức, thuốc tẩy và chườm đá nóng lên bụng ngài; từ đầu đến cuối, tôi nhìn xem danh y Hittite trộn thuốc thế nào và cạy hai hàm răng nghiến chặt của ngài ra để đổ thuốc buộc ngài uống. Tôi biết ngài sắp chết và muốn dùng hết khả năng xoa dịu cơn đau cho ngài với những lời khuyên và để ngài chết dễ dàng vì tôi không thể làm gì hơn cho ngài.
Tối đến, chúng tôi khiêng Hoàng tử về lều của ngài, đoàn tùy tùng Hittite bắt đầu kêu van, than khóc xung quanh lều, xé quần áo, rắc cát lên tóc và dùng dao tự gây thương tích, vì họ sợ cho tính mạng mình và biết rõ vua Shubbiluliuma sẽ không tha cho họ nếu Hoàng tử chết. Tôi túc trực bên cạnh giường Hoàng tử Shubattu cùng với danh y Hittite, khói từ những ngọn đuốc bay ra khiến mắt tôi cay xè, nước mũi chảy và tôi nhìn chàng trai trẻ đẹp này hôm qua còn mạnh mẽ, khỏe mạnh và hạnh phúc, hôm nay đã từ từ tàn lụi và trở nên xấu xí, xanh xao trong mắt tôi.
Tôi nhìn Hoàng tử đang chết, đôi mắt sáng như ngọc của ngài mờ dần và bắt đầu rỉ máu, hai con ngươi chỉ còn là hai đốm đen nhỏ bằng đầu kim. Nước giãi và chất nhầy làm cho răng ngài ố vàng, làn da mất đi sắc khỏe khoắn, dán chặt vào hõm má và ngài nắm chặt bàn tay thành nắm đấm, ấn móng tay vào lòng bàn tay trong cơn đau. Thái y Hittite liên tục khám, kiểm tra bệnh tình của ngài trong tuyệt vọng và đầy nghi ngờ, nhưng các triệu chứng của ngài không khác với các triệu chứng của bệnh dạ dày khi trở nặng và những gì mà căn bệnh dạ dày tai quái có thể gây ra đều xảy ra với ngài. Vì vậy không ai nghĩ đến độc dược, mà dù có nghĩ đến, họ cũng không thể buộc tội tôi, vì tôi đã cùng uống rượu đó và uống từ cốc của ngài nên họ không nghĩ ra bất cứ cách gì tôi có thể dùng để bí mật đầu độc Shubattu. Tôi đã tinh vi thực hiện nhiệm vụ của mình vì lợi ích to lớn của Ai Cập, nên lẽ ra tôi có thể tự hào về tài năng của mình, nhưng tôi hoàn toàn không hãnh diện về điều đó khi nhìn Hoàng tử Shubattu đang lịm dần.
Sáng hôm sau, khi cái chết cận kề, ngài tỉnh lại và như đứa trẻ bị ốm, khẽ gọi mẹ. Hoàng tử khẽ khàng rên rỉ và gọi: “Mẹ ơi! Mẹ ơi! Mẹ xinh đẹp của con ơi!”. Bàn tay ngài yếu ớt siết chặt ngón tay tôi và cái chết hiện ra trong mắt ngài. Nhưng khi cái chết đến gần hơn và những cơn đau dịu đi, Hoàng tử nở nụ cười trẻ thơ rạng rỡ và ngài nhớ ra rằng mình mang dòng máu hoàng gia. Vì thế, Hoàng tử gọi các lãnh binh dẫn đoàn tùy tùng lại gần và nói:
- Không được buộc tội bất kỳ ai về cái chết của ta vì tử thần, chứng bệnh dạ dày nơi sa mạc, đã đến bên ta và danh y giỏi nhất xứ Hatti cùng danh y Ai Cập tài năng nhất đã chữa trị cho ta. Nhưng tài năng của họ không thể giúp ta, vì ý định của trời cao và mẹ đất là ta phải chết; chắc chắn sa mạc không thuộc quyền năng của mẹ đất mà thuộc về thần linh Ai Cập và bảo vệ Ai Cập. Vì vậy, tất cả các ngươi phải biết rằng đã là người Hittite thì không vào sa mạc và cái chết của ta là bằng chứng về điều này. Sự thất bại của các cỗ chiến xa của chúng ta trong sa mạc cũng là bằng chứng về điều này cho dù chúng ta đã không tin. Vì vậy, hãy cho các danh y món quà xứng với tước hiệu của ta khi ta chết, và ngươi, Sinuhe, hãy chào Công chúa Baketamon giúp ta, hãy nói rằng ta giải thoát cho nàng khỏi lời hứa của mình và ta vô cùng tiếc nuối vì không thể bế nàng lên giường cưới của mình để tận hưởng niềm khoái lạc của hai ta. Đúng thế, hãy chuyển lời chào này của ta đến nàng, vì khi ta đi vào cõi chết, nàng hiện lên lãng đãng trong các giấc mộng của ta như nàng công chúa trong những câu chuyện thần tiên và ta sẽ chết với vẻ đẹp trường tồn của nàng trong mắt mình, mặc dù ta chưa bao giờ được tận mắt thấy nàng.
Hoàng tử mỉm cười khi chết, như thể sau những cơn đau dữ dội, cái chết đến với ngài như hạnh phúc rạng ngời và đôi mắt mờ dần của ngài thấy những linh ảnh kỳ diệu trước khi khép hẳn lại. Tôi run lên khi nhìn ngài và lúc ấy, tôi thấy ngài chỉ là một con người giống như tôi và tôi cũng không còn nghĩ về sắc tộc, tiếng nói hay màu da của ngài, mà chỉ biết ngài đã chết qua tay tôi và vì sự độc ác của tôi, mặc dù là một con người, ngài là anh em của tôi. Trái tim đã chai cứng của tôi, vì tất cả những cái chết mà tôi phải chứng kiến trong suốt cuộc đời, nay lại run lên khi nhìn Hoàng tử Shubattu tắt thở. Vì vậy, nước mắt tôi trào ra chảy dài xuống má; tôi xé quần áo và gào lên: “Người ơi, người anh em của tôi ơi, đừng chết!”.
Nhưng tôi không thể làm được gì nữa với cái chết của Hoàng tử, đoàn tùy tùng đã cho thi thể ngài ngập trong rượu mạnh và mật ong để có thể chuyển thi thể đến khu lăng mộ của hoàng gia Hittite ở vùng núi Khattushash, nơi chim ưng và chó sói canh giữ giấc ngủ vĩnh hằng của các vị vua. Họ vô cùng cảm động trước nỗi đau xót và những giọt nước mắt chân thành của tôi và thể theo yêu cầu của tôi, họ vui lòng viết lên đĩa đất sét những dòng chứng thực rằng tôi hoàn toàn không có lỗi gì trong cái chết của Hoàng tử Shubattu mà đã đem hết tài năng, kiến thức để cứu ngài khỏi cái chết do căn bệnh gây ra. Họ viết lời xác nhận này bằng chữ viết Hittite và ấn triện riêng của họ rồi đóng ấn triện của Hoàng tử Shubattu xuống phía dưới dòng chữ, để không tai họa nào giáng xuống đầu tôi ở Ai Cập vì cái chết của Hoàng tử. Họ nhìn nhận Ai Cập theo tập quán của mình và tin rằng Công chúa Baketamon sẽ cho giết tôi khi tôi trở về Ai Cập báo tin Hoàng tử Shubattu đã chết.
Thế là tôi đã cứu Ai Cập khỏi ách cai trị của Hittite bằng việc làm của mình và lẽ ra tôi phải hài lòng với điều ấy, nhưng tôi hoàn toàn không hài lòng, mà chỉ có cảm giác rằng cái chết luôn theo dấu chân tôi bất cứ nơi nào tôi đến. Tôi lớn lên thành thầy thuốc để chữa bệnh cho mọi người bằng kỹ năng của mình và gieo trồng sự sống thay vì cái chết, nhưng bố và mẹ tôi đã chết vì tội lỗi của tôi, Minea chết vì sự yếu đuối của tôi, Merit và bé Thoth chết vì sự mù quáng của tôi và Pharaon Ekhnaton chết vì sự căm giận của tôi, vì tình bạn của tôi và vì Ai Cập. Tất cả những người tôi yêu quý đều chết đau đớn, tức tưởi vì tôi. Rồi cả Hoàng tử Shubattu cũng chết vì tôi, mặc dù tôi quý mến ngài khi ngài hấp hối và không còn muốn ngài chết nữa. Vì vậy, tôi bắt đầu sợ cả đôi mắt lẫn đôi tay mình khi tôi trở lại Tanis và tin rằng tai họa sẽ theo tôi tới bất cứ nơi nào tôi đến.
Tôi quay trở lại Tanis rồi từ đó dong buồm đến Memphis và từ Memphis, tôi trở lại Thebes. Ở Thebes, tôi cho thuyền cặp vào bến thuyền hoàng cung rồi đến trước Eje và Horemheb. Họ đón tôi và tôi nói với họ:
- Ý muốn của các ông đã thành hiện thực. Hoàng tử Shubattu đã chết trong sa mạc Sinai và bóng đen từ cái chết của anh ta sẽ không phủ xuống Ai Cập.
Họ vô cùng vui mừng trước lời tôi nói và Eje lấy sợi dây chuyền vàng của nhiếp chính đang treo trên cổ mình đeo vào cổ tôi, còn Horemheb nói:
- Hãy kể điều này với cả Công chúa Baketamon, vì nàng sẽ không tin nếu chúng tôi kể cho nàng mà cứ nghĩ tôi đã cho giết Hoàng tử Hittite vì ghen tuông.
Tôi đến gặp Công chúa Baketamon và nàng tiếp tôi. Nàng đã tô má và môi màu đỏ gạch, nhưng tử thần rình rập trong đôi mắt sẫm màu hình trái xoan của nàng. Tôi nói với Công chúa:
- Thưa Công chúa, người cầu hôn Công chúa, Hoàng tử Shubattu, đã giải thoát Công chúa khỏi lời hứa của mình trước khi chết, vì người đã chết trong sa mạc Sinai vì bệnh dạ dày, mà với tất cả tài năng của mình, tôi đã không cứu được người và cả danh y riêng của người cũng đành bó tay.
Công chúa tháo những chiếc vòng vàng ra khỏi cổ tay mình, xâu chúng vào cổ tay tôi và nói:
- Sinuhe, tin ngươi vừa báo là tốt đấy và ta cảm ơn ngươi đã báo, vì ta đã được thụ phong làm nữ tu Sekhmet và bộ xiêm áo màu đỏ của ta đã được dệt và thêu cho lễ mừng chiến thắng. Tuy nhiên, ta bắt đầu hiểu quá rõ về chứng bệnh dạ dày Ai Cập này và ta cũng biết cả em trai ta, Pharaon Ekhnaton, người ta yêu như người chị yêu em, đã chết vì cùng căn bệnh. Vì vậy, ngươi ngàn đời đáng bị nguyền rủa, Sinuhe ạ, mồ mả ngươi bị nguyền rủa, tên tuổi ngươi mãi mãi bị lãng quên, vì ngươi đã biến ngai vàng của các pharaon thành sân chơi của phường trộm cướp và ngươi làm ô nhục dòng máu thánh của các pharaon trong ta.
Tôi cúi đầu thật thấp và đặt hai tay lên ngang đầu gối trước mặt Công chúa và nói:
- Hãy coi chuyện xảy ra như lời Công chúa nói.
Rồi tôi rời khỏi cung thất của Công chúa và nàng liền sai nô tỳ theo sau tôi quét sạch sàn cho đến bậc cửa của hoàng cung.
❖ 4 ❖
Trong thời gian này, thi thể của Pharaon Tutankhamon đã được tẩm ướp xong để trường tồn với cái chết, và Eje vội vàng sai các giáo sĩ chuyển ngài đến lăng mộ vĩnh cửu của ngài, được đào và xây bằng đá ở vùng núi phía tây trong thung lũng lăng mộ của các pharaon. Ngài nhận được rất nhiều quà nhưng kho báu của ngài rất khiêm tốn, vì Eje đã lấy trộm mất phần lớn; mộ của ngài thật nhỏ nhoi bên cạnh mộ của các pharaon vĩ đại và nghi thức an táng cũng đơn giản, vô vị như cuộc sống của ngài giữa các món đồ chơi của mình trong hoàng cung. Sau khi đóng niêm phong lên cửa mộ ngài xong, Eje tuyên bố mãn tang, sai kéo cờ hiệu vui lên các cột của Đại lộ Nhân Sư, còn Horemheb cho các chiến xa của mình đến chiếm giữ tất cả các quảng trường và các giao lộ của Thebes. Nhưng không ai nổi dậy phản đối Eje lên ngôi pharaon, vì dân chúng đã mệt mỏi và kiệt sức như con thú bị những mũi giáo đâm chọc, dồn đuổi dọc suốt con đường dài vô tận, cũng không ai hỏi ông ta có quyền gì với vương miện hay mong đợi điều gì tốt lành từ ông ta.
Thế là Eje trở thành pharaon và các giáo sĩ mà ông ta mua chuộc với vô số quà cáp đã xức dầu thánh cho ông ta trong đền cả, đội lên đầu ông ta vương miện màu đỏ và trắng, vương miện có hình giấy cói và hoa huệ, vương miện của vương quốc Hạ và vương quốc Thượng. Ông ta được rước ra trước dân chúng trên chiếc thuyền vàng của Amon, dân chúng hét lên ca ngợi ông ta vì ông ta đã sai phát cho họ bánh và bia là món quà quý hiếm với người dân Thebes, vì Ai Cập đã trở nên nghèo đến thế. Nhưng tôi biết và nhiều người khác cũng biết rằng quyền uy của ông ta chỉ là ảo mộng và từ nay Horemheb sẽ trở thành người cai trị thật sự của Ai Cập vì phía sau anh ta có cả rừng cung và giáo. Nhiều người thầm kinh ngạc tại sao Horemheb lại không nắm lấy quyền về tay mình mà lại để Eje già nua và bị căm ghét thừa kế ngai vàng của các pharaon.
Nhưng Horemheb biết rõ những gì anh ta làm, vì cơn thịnh nộ của dân chúng vẫn chưa nguôi, đau khổ của Ai Cập vẫn chưa dứt, trong khi những nguồn tin khẩn cấp từ xứ Kush báo về đã kéo anh ta vào một cuộc chiến khác chống lại người da đen. Sau khi ổn định quyền lực của Ai Cập ở miền nam và cho chôn lại những cột đá mốc biên giới ở bên kia các dốc núi, anh ta biết mình phải đương đầu với một cuộc chiến khác với Hittite vì Syria. Vì vậy, anh ta muốn dân chúng kết tội Eje về tất cả những đau khổ, đói khát mà họ phải chịu và vào một lúc nào đó sau này sẽ ca ngợi anh ta, Horemheb, người chiến thắng, người đem lại hòa bình và là một quốc vương khả kính.
Eje không nghĩ như thế, mà quyền uy và sự lộng lẫy của những chiếc vương miện đã làm ông ta hoa mắt và ông ta hoan hỉ thực hiện bổn phận của mình trong giao kèo đã mặc cả với Horemheb vào ngày Pharaon Ekhnaton tạ thế. Vậy nên các giáo sĩ đã long trọng rước Công chúa Baketamon đến đền thờ Sekhmet, mặc cho nàng chiếc áo choàng đỏ của nữ thần, trang điểm cho nàng những đồ trang sức của nữ thần và nâng nàng lên bệ thờ Sekhmet. Horemheb cùng các đội quân của anh ta đến ngôi đền ăn mừng chiến thắng trong cuộc chiến chống Hittite và giải phóng Syria vừa qua. Cả Thebes reo mừng chiến công của anh ta và trước ngôi đền, anh ta phân phát vòng vàng và huy chương cho binh lính rồi cho họ đi vào thành phố. Sau đó, anh ta bước vào đền và các giáo sĩ đóng cánh cổng bằng đồng lại phía sau anh ta. Sekhmet xuất hiện trước mặt anh ta trong hình hài Công chúa Baketamon và anh ta đón nhận phần của mình, vì anh ta là một người lính và anh ta đã chờ đợi rất lâu.
Đêm đó, Thebes mừng lễ hội Sekhmet, ánh đuốc và đèn đỏ rực trên bầu trời Thebes; đoàn bọ bẩn thỉu của Horemheb uống cạn tất cả các quán rượu và quầy bia, phá cửa các nhà thổ và làm đám con gái khóc váng khắp các đường phố. Nhiều người bị thương vào đêm hôm đó và lính tráng đốt vài ngôi nhà trong lúc ăn mừng, nhưng không có thiệt hại lớn nào xảy ra và vào sáng sớm, binh lính lại kéo đến tập trung trước đền Sekhmet để được thấy Horemheb bước ra khỏi đền. Họ reo hò ầm ĩ, mắng mỏ và chửi rủa tục tĩu bằng nhiều thứ tiếng vì quá ngạc nhiên khi thấy cánh cổng đồng từ từ mở ra và Horemheb xuất hiện, mặt, tay, và vai đầy những vết xước tóe máu như thể bị một con sư tử cào cấu bằng móng vuốt của nó, vì quả thật Sekhmet đã rất trung thành với hình đầu sư tử cái của thần. Điều này khiến binh lính của anh ta vô cùng phấn khích, vì thế họ càng yêu quý anh ta hơn. Nhưng các giáo sĩ đã đưa Công chúa Baketamon đến bờ sông trong một chiếc kiệu bịt kín và Công chúa trở lại hoàng cung mà không xuất hiện trước dân chúng.
Công chúa đi rồi, binh lính xông vào đền, gom nhặt những mảnh xiêm áo đỏ của Công chúa vương vãi trên nền, chia cho nhau để làm kỷ niệm và lấy những mảnh vải ấy làm bùa chú khi tán tỉnh những người đàn bà không thích họ. Đêm tân hôn của Horemheb bạn tôi diễn ra như vậy và anh ta vui sướng đến mức nào tôi không thể biết, vì ngay sau đó Horemheb đã tập hợp các đội quân của mình và kéo đến dốc núi đầu tiên ở phía nam để bắt đầu cuộc chiến mới trên đất Kush. Còn các giáo sĩ của Sekhmet không thiếu đồ hiến tế, trong lúc anh ta giao chiến mà họ béo ra và phồng, phù lên với quá nhiều thịt và rượu trong đền.
Giáo sĩ Eje vô cùng sung sướng, lóa mắt trước quyền uy của mình và nói với tôi:
- Không còn ai cao hơn ta ở miền đất Kemet này, và ta sống hay ta chết có gì khác đâu, vì pharaon không bao giờ chết mà sống mãi muôn đời và nếu ta có chết, ta sẽ lên thuyền vàng của Amon cha ta và dong buồm trên bầu trời đến thẳng miền tây. Điều này thật tuyệt vời vì ta không muốn Osiris cân đo trái tim ta trong chiếc cân của thần, và các bồi thẩm của thần, toàn khỉ đầu chó chính trực, có thể đưa ra những lời buộc tội tệ hại chống lại ta và ném cha ta vào họng Hà Bá. Vì ta đã già rồi và đêm đêm những việc ta đã làm nhìn ta từ trong bóng tối. Vì thế, ta rất hài lòng khi mình là pharaon và không còn phải sợ cái chết.
Ông ta đã nói với tôi như thế vì việc làm của tôi đã trói chặt tôi với ông ta, và tôi không thể nói xấu ông ta mà không nói xấu chính mình. Ông ta đã già và mệt mỏi, đầu gối run rẩy trong mỗi bước đi, khuôn mặt già nua nhăn nheo và mái tóc đen đã nhuốm bạc. Vì thế, ông ta cảm thấy cô đơn và tìm đến tôi vì những tội ác chung đã trói buộc chúng tôi với nhau và ông ta không giấu tôi điều gì. Nhưng tôi cười chua chát và chế nhạo ông ta:
- Ông là một lão già và tôi đã nghĩ ông khôn ngoan hơn đấy. Lẽ nào ông tin là thứ dầu hôi rình của các giáo sĩ đã thay đổi đời ông mãi mãi. Thật ra, dù đội vương miện trên đầu hay không, ông vẫn là ông già ấy và không lâu nữa, tử thần sẽ đến gặp ông và ông sẽ không còn trên đời này.
Khi ấy, miệng ông ta bắt đầu run lên, nỗi hoảng sợ hiện lên trong mắt và ông ta lớn tiếng kêu than rồi nói:
- Lẽ nào ta đã hoài công làm tất cả những việc xấu xa? Lẽ nào ta đã hoài công gieo rắc cái chết quanh mình suốt cuộc đời? Không, chắc chắn ngươi sai rồi, Sinuhe ạ, các giáo sĩ sẽ cứu ta khỏi vực sâu địa ngục và giữ thân xác ta mãi mãi trường tồn. Thi thể ta linh thiêng, vì ta từng là pharaon và việc làm của ta cũng thiêng liêng, không ai có thể buộc tội ta về những việc ta làm, vì ta là pharaon.
Như thế, đầu óc ông ta bắt đầu mụ mị đi và ông ta không còn vui thú gì với quyền uy của mình nữa. Mà thật ra ông ta không còn ham thích bất cứ điều gì, vì quá sợ chết nên ông ta giữ gìn sức khỏe của mình, không dám uống rượu, chỉ ăn bánh khô và sữa đun sôi. Cơ thể ông ta đã quá tàn tạ, không thể ân ái với đàn bà được nữa vì trong những ngày còn sung sức, ông ta đã đầu độc mình bằng nhiều loại thuốc kích dục khác nhau và giành được sự sủng ái của Hoàng hậu Teje. Thời gian càng trôi đi, ông ta càng sợ bị ám sát và có nhiều ngày ông ta không dám đụng đến thức ăn, thậm chí không dám hái quả trong vườn thượng uyển, vì sợ quả trên cây bị đánh thuốc độc từ khi còn xanh. Thế là ông ta bị những việc làm của chính mình bủa vây trong những ngày về già và trong nỗi sợ hãi, ông ta càng đa nghi và độc ác, đến nỗi triều thần tránh xa ông ta, nô lệ lẩn trốn khi ông ta đến và hoàng cung trở nên hoang tàn khi ông ta còn là Pharaon trên ngai vàng.
Nhưng hạt đại mạch giống đã bắt đầu nảy mầm trong cơ thể Công chúa Baketamon, vì các giáo sĩ đã tính chính xác thời gian của nàng có lợi cho Horemheb, và trong cơn tức giận bất lực, Công chúa đã tự hủy hoại cơ thể và làm cho nhan sắc thật tàn tạ nhằm giết chết đứa con trong dạ, bất chấp tính mạng của mình. Tuy nhiên, sự sống trong cơ thể nàng mạnh hơn cái chết và khi thời gian đến, nàng đã đau đớn, khó khăn sinh hạ cho Horemheb một đứa con trai vì hông nàng hẹp và hài nhi quá lớn; các danh y cùng nô lệ phải giấu hài nhi đi, không cho Công chúa thấy để nàng không làm hại nó. Trong dân gian sau đó đã lưu truyền rất nhiều câu chuyện về đứa trẻ này và sự ra đời của nó, dân chúng kể rằng nó được sinh ra với đầu sư tử, một vài người nói nó được sinh ra với chiếc mũ trên đầu. Nhưng tôi có thể làm chứng rằng đứa bé không có gì khác thường, nó bụ bẫm, khỏe mạnh và từ xứ Kush, Horemheb đã nhắn tin về ra lệnh ghi vào sách vàng của hoàng cung tên Ramses cho thằng bé.
Horemheb vẫn tham chiến ở xứ Kush, các chiến xa của anh ta đã tràn qua các đồng cỏ từ đầu đến cuối xứ, gây thiệt hại lớn cho người da đen, vì người da đen không có kinh nghiệm chiến đấu với các chiến xa. Anh ta cho đốt làng mạc, nhà tranh của họ, bắt vợ con họ về Ai Cập làm nô lệ, còn đàn ông trai tráng, anh ta bắt vào lính, huấn luyện thành chiến binh và họ trở thành những chiến binh tốt vì không còn nhà cửa, vợ con. Khi chinh chiến ở xứ Kush, Horemheb cũng dùng cách này xây dựng một quân đội mới chống lại người Hittite, vì lính da đen là những người có sức khỏe, không sợ chết một khi đã kích động mình đến cuồng nhiệt theo tiếng trống linh thiêng và nhảy theo hàng dài xung quanh trống.
Horemheb đã gửi về Ai Cập rất nhiều nô lệ để trồng trọt trên các cánh đồng và sai lùa những đàn gia súc lớn từ xứ Kush đến Ai Cập nên lương thực dần dà dồi dào hơn trên đất Kemet, trẻ em không còn thiếu sữa, các giáo sĩ không thiếu thịt thà và đồ cúng tế. Nhưng rất nhiều bộ tộc đã rời bỏ nơi sinh sống của họ ở xứ Kush, chạy dạt vào những khu rừng rậm nằm ngoài cột đá biên giới Ai Cập, nơi trú ngụ của voi và hươu cao cổ, làm đất đai xứ Kush hoang vắng trong nhiều năm. Nhưng điều này không gây thiệt hại nhiều cho Ai Cập, vì kể từ thời Ekhnaton, dân xứ Kush không còn nộp thuế cho Ai Cập, mặc dù dưới thời các pharaon vĩ đại đây là nguồn thu dồi dào nhất của Ai Cập, hơn cả Syria.
Sau hai năm chinh chiến ở xứ Kush, Horemheb trở về Thebes với rất nhiều chiến lợi phẩm, phân phát quà cho dân Thebes, ăn mừng chiến thắng trong mười ngày đêm khiến mọi công việc ở Thebes ngưng lại; những người lính say xỉn bò lổm ngổm dọc các đường phố kêu be be như lũ dê và đàn bà Thebes đã sinh những đứa trẻ có nước da nâu đen. Horemheb bế con trai trên tay, dạy con tập đi và kiêu hãnh nói:
- Nhìn này Sinuhe, từ trong lòng ta sinh ra một triều đại mới và dòng máu thánh chảy trong huyết quản con trai ta, mặc dù ta sinh ra với phân giữa các ngón chân.
Anh ta cũng đến gặp Eje, nhưng Eje đóng chặt cửa và sợ hãi dồn cả đống ghế lẫn giường đến chặn cửa, đồng thời hét toáng lên qua cánh cửa bằng giọng the thé già nua:
- Horemheb, cút khỏi đây ngay vì ta là pharaon và ta biết rất rõ ngươi đến đây giết ta để lấy vương miện đội lên đầu ngươi.
Nhưng Horemheb cười hồn hậu với ông ta, đá tung cánh cửa rồi ấn ông ta xuống giường, lắc lắc ông ta và nói:
- Ta sẽ không giết ông, con cáo già của ta, ta sẽ không giết ông, lão mối của ta, vì với ta ông còn quan trọng hơn cả một nhạc phụ và tính mạng của ông rất quý với ta. Đúng là phổi của ông đang rên rỉ, nước giãi đang chảy ra từ miệng ông và đầu gối của ông đang run rẩy, nhưng ông phải cố chịu đựng, Eje ạ. Ông phải gắng chịu thêm một cuộc chiến nữa để Ai Cập có pharaon, người hứng chịu các cơn thịnh nộ của dân chúng khi ta đi vắng.
Nhưng Eje không tin những lời anh ta nói mà chỉ khóc lóc thảm thiết, hai tay run rẩy ôm đầu gối anh ta và cầu xin cho mạng sống của mình. Khi ấy, Horemheb thương hại ông ta và bỏ đi, nhưng sau đó đã giám sát ông ta bằng cách cho những người thân tín của mình giữ các chức tước cao trong triều để đề phòng Eje làm những điều ngu ngốc khi anh ta đi vắng. Thời của Eje đã hết và ông ta chỉ còn là một lão già điên khùng, đầu bạc, phải khó khăn lắm mới giữ được vương miện trên cái đầu run run vì sợ của mình trong các nghi lễ trước quốc dân.
Horemheb đã mang về cho Baketamon vợ mình những món quà lớn và quý, nào cát vàng đựng trong giỏ đan, da lông sư tử mà anh ta đã hạ bằng cung tên, lông đà điểu và những con linh dương sống, nhưng Baketamon thậm chí không muốn nhìn những món quà ấy. Nàng nói với anh ta: “Ngươi có thể là phu quân của ta trước mọi người và ta đã sinh cho ngươi một đứa con trai. Hãy hài lòng với điều đó, vì nghe đây: nếu ngươi chạm vào ta một lần nữa, ta sẽ khạc nhổ lên giường của ngươi và phản bội ngươi như chưa có người vợ nào phản bội chồng mình như thế. Để làm nhục ngươi, ta sẽ ăn nằm với nô lệ hay cửu vạn, hay ngủ trong chợ Thebes với những kẻ lái lừa, và không một gã đàn ông hạ đẳng nào mà ta không ăn nằm để hạ nhục ngươi nếu ngươi vẫn dám động vào ta. Vì trong mắt ta, khắp Ai Cập chẳng có ai hạ đẳng như ngươi, bàn tay ngươi và cả cơ thể ngươi tanh mùi máu, đến nỗi ta buồn nôn khi ngươi đến gần ta”.
Nhưng sự chống đối của Công chúa càng làm dục vọng của Horemheb cháy bỏng hơn, và khi nhìn hai má hóp lại, vòng hông thon thả, cái miệng giễu cợt của nàng, anh ta bắt đầu thở hổn hển và thấy khó giữ yên được đôi tay mình. Vì vậy, anh ta đến gặp tôi và đau khổ than vãn:
- Sinuhe, tại sao lại thế này! Tôi đã làm gì xấu mà vợ tôi xa lánh giường của tôi. Anh biết là tôi đã làm mọi cách để chinh phục nàng và có danh tiếng tốt để xứng đáng với địa vị của nàng. Và anh biết là tôi không thường xuyên ăn nằm với những đàn bà đẹp mà đám lính dẫn đến lều của tôi như phần chia chiến lợi phẩm mà tôi đã trao cho những con bọ bẩn thỉu của mình để chúng vui vẻ. Thật thế, tôi có thể đếm trên đầu ngón tay và ngón chân những người đàn bà tôi ăn nằm cùng trong bao năm qua, song họ đều không hề đem đến cho tôi hứng thú, mà khi ôm ấp họ tôi chỉ nghĩ đến nàng, Baketamon, và Baketamon mê hoặc tôi như mặt trăng. Đây là thứ bùa chú gì mà làm thịt da tôi xót xa và châm chích tâm hồn tôi như nọc rắn độc vậy?
Tôi nói với anh ta:
- Đừng quan tâm đến người phụ nữ điên ấy, chính nàng đau khổ hơn anh nhiều vì tính kiêu ngạo của mình. Thebes đầy rẫy đàn bà xinh đẹp và thậm chí một ả nô lệ thấp kém nhất cũng có thể đem lại cho anh thứ nàng cho.
Nhưng Horemheb nói:
- Sinuhe, anh nói trái với lòng mình, vì anh biết rất rõ rằng không thể ra lệnh cho tình yêu.
Tôi cảnh cáo anh ta:
- Vậy anh đừng cố ra lệnh cho tình yêu của nàng, vì điều đó sinh ra tội ác.
Nhưng Horemheb không tin tôi mà nói.
- Sinuhe, hãy cho tôi thuốc để tôi cho nàng uống để ngủ, và tôi có thể đến bên nàng và ân ái với nàng, vì thật ra người phụ nữ này nợ tôi rất nhiều ân ái.
Tôi từ chối và không cho anh ta loại thuốc như vậy, nhưng anh ta quay sang các thầy thuốc khác và họ đã cho anh ta những loại thuốc nguy hiểm khiến phụ nữ cuồng dại và làm bụng dạ họ bừng bừng khiến họ nghĩ lửa đang bùng cháy trong người mình. Horemheb đã bí mật cho Baketamon uống những loại thuốc đó và được thỏa mãn dục vọng với nàng, nhưng sau khi vùng ra khỏi vòng tay của anh ta, Baketamon còn căm thù anh ta hơn và nói: “Hãy nhớ những gì ta đã nói với ngươi và nhớ rằng ta đã cảnh báo ngươi”.
Tuy nhiên, Horemheb đã mù quáng và điên dại trong dục vọng vô độ của mình, anh ta tiếp tục ép Công chúa uống rượu và thuốc mê cho đến khi nàng ngủ và chỉ tỉnh dậy khi bị động đến người, vì vậy không thể chống cự khi Horemheb cưỡng đoạt nàng. Nhưng Horemheb vui và thỏa mãn với nàng đến đâu, tôi không thể nói mà chỉ nghĩ niềm vui của anh ta thật cay đắng và tình yêu trở nên chua xót với anh ta. Vì thế, anh ta nhanh chóng trở lại Syria để chuẩn bị cho cuộc chiến chống lại Hittite, vì anh ta nói:
- Các pharaon vĩ đại đã dựng cột đá biên giới của Ai Cập ở Kadesh và ta chỉ yên lòng khi các chiến xa của ta vào được Kadesh chìm trong biển lửa.
Khi nhận ra một hạt đại mạch giống nữa đã bắt đầu nảy mầm xanh trong mình, Công chúa Baketamon lui về cung thất và không muốn gặp bất kỳ ai mà một mình chôn chặt nỗi nhục nhã vào lòng. Đám hầu hạ và nô lệ phải mang thức ăn để cạnh cửa cho nàng và nàng ăn ít đến mức các thái y sợ nàng sẽ chết. Khi thời gian sinh nở đến gần, họ cho người bí mật canh gác vì sợ nàng sẽ sinh con một mình và thả con vào thuyền sậy trôi sông như những người mẹ sợ nhục thường làm khi sinh con. Song Công chúa không làm gì như thế, mà khi thời khắc ấy đến, nàng cho gọi các thái y, những cơn đau đẻ đã đem đến cho nàng nụ cười trên môi và nàng đã sinh cho Horemheb một đứa con trai và đặt tên nó là Sethos mà không hỏi ý Horemheb. Nàng căm hận con mình đến mức đặt cho nó cái tên của thần Seth và gọi nó là “sinh ra từ thần Seth”.
Khi đã hồi phục sau sinh nở, nàng sai xức dầu lên người và vẽ mặt, mặc đồ vải lanh hoàng gia rồi sai đám nữ nô lệ chèo thuyền đưa mình sang bên kia sông và một mình đến Chợ Cá Thebes. Ở đó, nàng gợi chuyện những người lái lừa, những người kín nước, những người làm cá và nói với họ:
- Ta là Công chúa Baketamon và là vợ của Horemheb, tể tướng Ai Cập. Ta đã sinh hạ cho ông ta hai con trai, nhưng ông ta là một người đàn ông tẻ nhạt và lười biếng, người tanh mùi máu và ta không thích thú gì với ông ta. Vì vậy, hãy vui vẻ với ta, để ta cũng có thể vui vẻ với các người, vì ta rất thích bàn tay đầy sẹo của các người lẫn mùi rác rưởi khỏe mạnh trên da các người và ta cũng thích mùi cá.
Đám đàn ông ở Chợ Cá hết sức kinh ngạc trước lời nói của nàng, sợ hãi và tránh xa nàng, nhưng nàng ngoan cố bám theo và nói cười, rủ rê họ và khoe cho họ thấy sắc đẹp của mình:
- Ta không đủ xinh đẹp với các người hay sao mà các người ngại ngùng? Có thể ta già và xấu, nhưng ta không đòi các người quà mà chỉ cần mỗi người cho ta một hòn đá, lớn nhỏ tùy các ngươi chọn cho mỗi lần ân ái; nếu ta làm cho ai đó được sung sướng hơn, người ấy hãy mang cho ta hòn đá to hơn và hãy tin là ta sẽ làm hết sức để đem lại đê mê cho các người.
Điều như thế này chưa bao giờ xảy ra với những người đàn ông ở Chợ Cá và tôi nghĩ cũng chưa bao giờ xảy ra trên khắp đất Ai Cập. Vậy nên họ nhìn nàng đầy thèm khát, mắt họ lóe sáng vì vẻ đẹp của nàng, vải lanh hoàng gia nàng quàng trên người quyến rũ họ và mùi dầu thơm nàng xức bốc lên đầu họ. Họ nói với nhau:
- Chuyện như thế này chưa bao giờ xảy ra. Chắc chắn đây là nữ thần hiện ra với chúng ta vì thần thấy chúng ta dễ thương. Vậy nên chúng ta sẽ sai nếu chống lại ý thần linh, vì thần không như đám đàn bà trần tục chúng ta thường thấy và niềm vui mà thần chào mời chúng ta chắc chắn là một niềm vui linh thiêng.
Một vài người còn nói:
- Ít nhất thì niềm sung sướng này cũng rẻ, vì đám phụ nữ da đen cũng không bán mình rẻ hơn thế đâu mà ít nhất cũng sẽ đòi một mẩu đồng cho mỗi lần vui vẻ. Chắc chắn đây là một nữ thần lầu xanh đang thu thập đá để xây một ngôi đền mới cho nữ thần mèo Bast, vì thế chúng ta sẽ làm vui lòng thần bằng việc thực hiện ý nguyện của thần.
Thế là những người đàn ông ở Chợ Cá, sau một hồi ngập ngừng, lưỡng lự, nói hết điều này đến điều khác, theo nàng đến bãi sậy ven bờ sông, nơi bọn họ tránh được ánh mắt dòm ngó của mọi người. Những người làm cá nói với nhau:
- Chúng ta đừng theo cô ta, vì biết đâu cô ta từ thủy cung hiện lên và sẽ kéo chúng ta xuống thủy cung, có khi cô ta chính là thần đầu mèo, đầu cô ta sẽ biến thành đầu mèo và cô ta sẽ chồm lên trên hai chân sau, cào cấu, vặt của quý của chúng ta nếu chúng ta ôm cô ta vào lòng để ân ái.
Thế nhưng họ vẫn bám theo nàng vì bị sắc đẹp và mùi thơm của nàng bỏ bùa; những tay lái lừa cười nhạo những người làm cá và nói:
- Mặc kệ cho đầu cô ta biến thành đầu cá, mà chúng tôi cũng không sợ chân sau của cô ta miễn là được vui thú cùng cô ta.
Baketamon ăn nằm cả ngày với những người đàn ông Chợ Cá trong bãi sậy ven sông và làm hết sức mình để đem khoái lạc đến cho họ, để họ vui vẻ mang đá đến cho nàng. Nhiều người mang đến những tảng đá to được mua từ đám thợ đục đá với giá hời, họ cảm kích với khoái lạc nàng cho họ đến thế. Họ nói với nhau:
- Quả thật chúng tôi chưa từng gặp người đàn bà nào như vậy, miệng như có mật tan chảy, vú như táo chín, vòng tay ôm nóng như than hồng để nướng cá.
Họ giục nàng sớm trở lại Chợ Cá và hứa để dành nhiều đá, những hòn đá lớn cho nàng, còn nàng mỉm cười thẹn thùng và cảm ơn họ về lòng tốt và niềm khoái lạc mà họ đã mang lại cho nàng. Tối đến khi trở lại hoàng cung, nàng đã phải thuê một chiếc thuyền chắc hơn ở bãi sông để chở theo toàn bộ số đá mà nàng đã gom góp được trong ngày.
Vậy nên hôm sau, nàng lấy một chiếc thuyền lớn hơn và sai đám nô tỳ chèo đến Thebes rồi để họ đợi ở bến thuyền, còn mình đi đến Chợ Rau. Ở đó nàng gợi chuyện những nông dân đến Thebes vào lúc mờ sáng với bò và lừa từ trang trại của họ, những người có đôi bàn tay chai sạn lấm lem bùn đất và làn da thô rám dưới ánh nắng mặt trời; nàng cũng bắt chuyện với những người quét dọn đường phố và dọn hốt phân ở hố xí; và chuyện trò với đám gác chợ, những người cầm cây giáo gỗ chỉ cho từng người bán hàng chỗ của họ trong chợ. Nàng nói với họ:
- Ta là Công chúa Baketamon và là vợ của Horemheb, tể tướng Ai Cập. Ta đã sinh hạ cho ông ta hai con trai, nhưng ông ta là một người đàn ông tẻ nhạt và lười biếng, trong người ông ta không có chút sinh lực nào để đem đến khoái lạc cho ta. Ông ta còn tệ bạc với ta và cướp đi những đứa con yêu quý của ta và đuổi ta ra khỏi nhà của mình khiến ta không có lấy một mái lều để trú thân. Vì vậy, hãy đến ân ái cùng ta để ta cũng được hưởng niềm khoái lạc từ các người. Ta cũng không đòi hỏi các người quà cáp gì ngoài một hòn đá nhỏ từ mỗi người, và ta tin chắc rằng đến những con bé da đen ở Thebes cũng không chịu cho các người niềm khoái lạc rẻ thế này.
Những người nông phu, quét rác và gác chợ da đen hết sức kinh hãi trước lời nói của nàng và bức xúc nói với nhau:
- Cô ta không thể nào là công chúa được vì chưa bao giờ có công chúa nào hành xử như thế này.
Nhưng nàng đã ngọt ngào dụ dỗ họ và cởi xiêm áo khoe cho họ thấy sắc đẹp của mình rồi đi trước, dẫn họ ra bãi sậy bên sông, khiến họ bỏ mặc xe rau quả, cả bò và lừa của mình, bỏ những đường phố chưa quét dọn và đi theo nàng. Họ nói với nhau bên bờ sông:
- Đâu phải ngày nào người nghèo cũng được dâng tận miệng món ngon thế này, mà da cô ta cũng không làm ta nhớ đến nước da đen nhẻm của các bà vợ, còn xiêm áo của cô ta là hàng của quý tộc, da cô ta là da của người quý phái và mùi của cô ta là mùi của người cao sang. Vì thế, chúng ta sẽ là đồ ngu nếu không tận hưởng niềm vui mà cô ta ban cho chúng ta và chúng ta hãy cố gắng đem đến cho cô ta trong khả năng tốt nhất của mình sự khoái lạc mà cô ta không có, vì cô ta là người vợ bị bỏ rơi.
Thế là họ ân ái với nàng rồi mang đá đến cho nàng. Những nông phu mang cho nàng đá lát từ bậc thềm các quán rượu, lính canh mang đến những viên đá lấy trộm từ các tòa nhà của pharaon để được hưởng khoái lạc với nàng. Nhưng sau khi hoan lạc với nàng, họ bắt đầu thấy sợ, và bàn với nhau:
- Nếu cô ta đúng là vợ của Horemheb, thì khi nghe được chuyện này, Horemheb sẽ đến và giết chúng ta, vì ông ta đáng sợ hơn sư tử, ngạo mạn và coi trọng danh dự của mình, mặc dù bản thân không thể đem lại cho vợ mình khoái lạc. Nhưng nếu chúng ta có nhiều người thì ông ta không thể giết tất cả, vì ông ta không thể giết cả Thebes chỉ vì vợ mình. Do đó, hãy giúp cô ta kiếm được nhiều đá, vì lợi ích của chính chúng ta thôi.
Nói rồi, họ quay lại Chợ Rau và kể với bạn bè, người quen về niềm hoan lạc vừa được nếm trải và đưa những người này đến bãi sậy, khiến ngày hôm đó, bãi sậy bị giẫm nát thành một lối mòn rộng và đến chập tối, cả bãi sậy giống như bãi hà mã quần nhau. Chợ Rau hỗn loạn, vô số sọt hàng bị mất trộm, những con lừa khát nước hí vang ở các góc phố, lũ bò rống ồm ồm và các chủ quán bia đôn đáo chạy dọc trên phố, vừa kêu khóc vừa dứt tóc vì những viên đá lát bậc cửa quý giá của họ đã bị mất. Chập tối, Công chúa Baketamon thẹn thùng cảm ơn tất cả những người đàn ông Chợ Rau vì sự thân thiện của họ đối với nàng và khoái lạc mà họ mang lại cho nàng. Rồi họ giúp nàng chất đá lên thuyền và chiếc thuyền chứa đầy đá nặng nhấn sâu vào nước chỉ chực chìm làm các nô tỳ khó nhọc lắm mới chèo được chiếc thuyền sang sông, cập bến của hoàng cung.
Tối hôm đó, khắp Thebes đều biết chính nữ thần đầu mèo đã hiện hình cho dân chúng thấy và hoan lạc với họ, và những lời đồn đại càng lúc càng kỳ lạ lan khắp Thebes, vì những người vốn không tin vào thần linh đã nghĩ ra những lời giải thích khác. Họ nói:
- Vào thời kim tự tháp, các vị thần còn hiển linh với con người nhưng thế giới đã già nua lắm rồi và thần linh sẽ không còn hiển linh với con người nữa. Bởi vậy, người đàn bà này phải thuộc hàng quý phái bậc cao, vì bà ta dám hành xử như thế.
Hôm sau, Công chúa Baketamon đi đến Chợ Than và vui thú với những người đàn ông bán than, đến chiều tối đám sậy bên bờ sông Nile đầy muội than và bị giẫm nát. Các giáo sĩ của nhiều ngôi đền nhỏ xót xa than phiền, vì những người đàn ông Chợ Than là những người vô đạo, đã không chút hổ thẹn khi dỡ đá đền thờ để đổi lấy thú vui mà còn liếm mép khoe với nhau:
- Quả thật chúng tôi đã được nếm món ngon thiên đàng, môi cô ta tan chảy trong miệng chúng tôi, đôi vú như than hồng nóng rực trong tay chúng tôi và trước đây chúng tôi chưa từng biết trên đời lại có niềm hoan lạc đến nhường này.
Nhưng khi lời khoe khoang rằng nữ thần đã xuất hiện trong dân chúng lần thứ ba lan đến Thebes thì một sự xáo động lớn đã chế ngự Thebes, khiến ngay cả những người đàn ông chân thật cũng trốn vợ đến các quán rượu, gỡ đá từ các tòa nhà của pharaon trong đêm và sáng hôm sau, tất cả đàn ông Thebes, ai nấy kẹp một hòn đá trong nách đi từ chợ này sang chợ khác, nóng lòng chờ đợi sự xuất hiện của nữ thần đầu mèo. Còn các giáo sĩ thấy lo lắng và sai lính canh đi lùng bắt người đàn bà đã gây ra quá nhiều lộn xộn và những lời đồn đại ngớ ngẩn.
Nhưng ngày hôm đó Công chúa Baketamon không sang Thebes, chỉ nghỉ ngơi thư giãn trong hoàng cung cho bớt mệt mỏi sau những vất vả, mỉm cười với tất cả những ai nói chuyện với mình, tỏ ra rất dịu dàng, dễ mến, ngượng ngùng vươn uốn người trong khi nói và lấy tay che miệng khi ngáp. Triều thần hết sức ngạc nhiên về cách ứng xử này của nàng vì không ai đoán được rằng Công chúa chính là người đàn bà bí ẩn đã xuất hiện trước dân chúng ở Thebes và ân ái cùng những người đốt than và những người làm cá.
Công chúa Baketamon xem những hòn đá có kích thước và màu sắc khác nhau mà mình thu gom được rồi gọi người thợ cả trông coi việc xây dựng chuồng gia súc của pharaon đến vườn thượng uyển và dịu dàng nói với anh ta:
- Ta đã thu gom những viên đá này từ bờ sông và chúng đều thiêng liêng đối với ta, mỗi viên đều gắn với mỗi ký ức vui sướng của ta, đá càng to thì sự vui sướng càng lớn. Vì thế, ngươi hãy dùng những viên đá này xây cho ta một vọng lâu để ta có mái che đầu mình, vì chồng ta hờ hững với ta và đuổi ta ra khỏi nhà ông ấy, như ngươi chắc cũng đã nghe và biết quá rõ. Hãy xây cho ta vọng lâu rộng rãi, tường cao và bắt đầu xây ngay đi, vì ta sẽ thu gom thêm đá cho ngươi theo mức ngươi cần mà không phải lo giữa chừng thiếu đá.
Người thợ cả xây chuồng trại là một người đàn ông tuềnh toàng, chiếc khố xám màu tro vì bụi của đá đẽo bám vào, đôi vai nổi u vì gánh đá và anh ta không quen nói chuyện với những người quyền quý. Vì vậy, anh ta lúng túng di di ngón chân trên đất trước mặt Công chúa Baketamon, mắt nhìn xuống và khúm núm nói:
- Bẩm Công chúa Baketamon cao quý, tôi e mình không đủ tài để xây dựng một vọng lâu xứng đáng với tước vị của người. Những viên đá có kích thước và màu sắc khác nhau nên lắp ghép chúng không hề dễ, mà đòi hỏi phải có khiếu thẩm mỹ tuyệt vời. Vì vậy, tốt hơn là Công chúa cho gọi một thợ cả cao sang nào đó chuyên xây đền thờ hay một nghệ nhân khéo tay để làm việc này, vì tôi sợ sự vụng về của mình sẽ làm hỏng suy nghĩ cao đẹp của Công chúa, làm lãng phí vô số đá Công chúa thu gom về.
Nhưng Công chúa Baketamon thẹn thùng chạm tay vào cục u trên vai anh ta và nói:
- Ôi, người vác đá xây chuồng gia súc, ta chỉ là một phụ nữ nghèo bị chồng ruồng rẫy và ta không thể gọi những thợ xây cao sang đến phục vụ mình. Ta cũng không thể tặng ngươi một món quà xứng đáng như ta muốn khi ngươi xây vọng lâu này, nhưng khi vọng lâu xây xong, ta sẽ cùng ngươi ngắm nhìn nó, và nếu ta vừa ý, ta sẽ ân ái với ngươi trong vọng lâu này, ta hứa đấy. Vì ta không có gì khác để thưởng cho ngươi, nhưng ta có thể đem đến cho ngươi một niềm vui nho nhỏ khi ta chưa đến nỗi già và xấu, hãy coi đó là tiền công của ngươi. Ta cũng tin ngươi sẽ mang lại khoái lạc cho ta, vì ngươi là một người đàn ông cường tráng, cánh tay ngươi rắn chắc, còn ta là một người đàn bà nhỏ bé và ta thèm khát khoái lạc vì chồng ta không làm ta thỏa mãn, như ngươi chắc biết rõ.
Lời Công chúa nói và sự đụng chạm của nàng khiến người thợ xây chuồng gia súc hết sức phấn kích, anh ta ngắm nhìn sắc đẹp của nàng và nhớ lại tất cả những chuyện cổ tích trong đó công chúa yêu những người đàn ông bình thường và ân ái cùng họ. Anh ta rất sợ Horemheb, nhưng ham muốn dục vọng của anh ta mạnh hơn nỗi sợ và những lời của Baketamon mời gọi, ve vuốt anh ta. Vì vậy, anh ta vội vàng bắt tay vào xây vọng lâu trong vườn của hoàng cung từ những viên đá do Baketamon thu gom và xây nó bằng tất cả khả năng của mình; giống như đang trong cơn mộng du, anh ta xây điều ao ước ấy của mình bằng những viên đá lên tường vọng lâu. Ham muốn, đam mê và tình yêu của anh ta đã biến anh ta thành một nghệ sĩ lớn; vì ngày ngày được nhìn ngắm Công chúa Baketamon, trái tim anh ta bừng lửa và bùng cháy thành tro như cây sậy khô dưới ánh mắt hình trái xoan của Công chúa. Anh ta làm việc như một kẻ điên, sụt cân, xanh xao vì công việc và niềm khao khát; bằng những viên đá có kích thước và màu sắc khác nhau, anh ta xây một vọng lâu mà trước đây chưa một ai từng thấy.
Nhưng trong khi vọng lâu đang xây, số đá mà Baketamon thu gom đã dần hết và Công chúa phải kiếm thêm. Vì vậy, nàng lại cho người chèo thuyền đưa mình đến Thebes, thu nhặt đá từ khắp các khu chợ, từ hẻm Nhân Sư và vườn của các ngôi đền, đến nỗi cuối cùng không nơi nào ở Thebes mà nàng không đến để thu nhặt đá. Những người đàn ông mang đá đến cho Công chúa đã che giấu nàng trước đám lính canh, nhưng cuối cùng đội lính canh của các giáo sĩ và của pharaon đã tìm được nàng và định bắt rồi giải nàng đến trước các quan tòa vì những hành xử của nàng. Nhưng Công chúa ngẩng cao đầu đầy kiêu hãnh và nói với lính canh:
- Ta là Công chúa Baketamon và ta muốn xem ai dám phán xử ta, bởi dòng máu linh thiêng chảy trong huyết quản ta và ta là người thừa kế vương quyền của các pharaon. Tuy nhiên, ta không trừng phạt các ngươi vì sự ngu ngốc của các ngươi mà sẽ vui lòng ân ái với cả các ngươi vì các ngươi là những người đàn ông đẹp trai và cường tráng. Nhưng để được điều đó, ai trong các ngươi cũng phải mang về cho ta một viên đá và hãy lấy đá từ nhà của các quan tòa hay từ đền miếu. Đá càng to thì niềm hoan lạc ta ban cho càng lớn và ta sẽ giữ lời hứa của mình, sẽ làm hết sức mình và trong việc này ta đã khá thuần thục rồi.
Những người lính canh nhìn Công chúa và sự điên khùng của những người đàn ông Thebes khác đã lan sang họ; thế là họ cũng đi, dùng giáo nạy lấy những tảng đá lớn từ cổng nhà các quan tòa và sân đền thờ Amon rồi mang đến cho nàng và Công chúa đã hào phóng giữ lời hứa của mình với họ. Nhưng tôi phải có đôi lời rằng vẫn nên coi trọng Công chúa, vì nàng không bao giờ trơ trẽn và táo tợn khi thu gom đá, mà ân ái với đám đàn ông xong, nàng ngượng ngùng quấn mình trong xiêm áo, mắt nhìn xuống đất và không cho phép ai chạm vào mình nữa. Nhưng những lần sau đó, Công chúa phải vào các nhà vui và nhờ những bức tường che chắn, bí mật thu gom đá và nàng đã đến rất nhiều nhà vui ở các khu phố nghèo; với bất kỳ ai, nàng cũng chỉ đòi một viên đá cho niềm hoan lạc mà mình đem đến cho họ. Vì vậy, chủ của các nhà vui kiếm được rất nhiều từ Công chúa và sẵn lòng mời nàng đến với họ, nhưng mỗi ngày nàng chỉ đến một nhà vui mới để tránh lính canh và các đám đông.
Đến lúc này, mọi người ai cũng đã biết những việc Công chúa làm và người trong cung cấm kéo đến vườn thượng uyển để bí mật nhìn tòa vọng lâu mà người thợ xây chuồng gia súc xây bằng đá do Công chúa mang về. Nhìn thấy chiều cao của các bức tường và số lượng đá lớn, nhỏ trên tường, các cung nữ đều đưa tay che miệng và kêu lên vì sửng sốt. Nhưng không ai dám nói bất cứ điều gì với Công chúa, không ai dám nhắc nhở nàng; còn Eje, người lẽ ra có thể dùng quyền uy của Pharaon để ngăn cản Công chúa, khi nghe kể về việc làm của nàng lại hết sức vui mừng với tất cả sự điên rồ của tuổi già và đoán việc này sẽ gây tổn hại cho Horemheb, vì ông ta mừng rỡ với tất cả những gì gây hại cho Horemheb.
Nhưng Horemheb đang chinh chiến ở Syria, đã đánh chiếm được Sidon, Simyra, Byblos từ tay người Hittite và gửi nhiều chiến lợi phẩm, nô lệ về Ai Cập cùng rất nhiều món quà lớn quý giá cho vợ mình. Mọi người ở Thebes ai cũng biết chuyện gì đang xảy ra trong hoàng cung, nhưng không một ai dám cả gan báo cho Horemheb về những việc làm của Công chúa; những người vốn được anh ta trao cho quyền cao chức trọng trong triều cũng nhắm mắt trước việc làm của Baketamon và nói với nhau:
- Đây là xích mích trong gia đình, người đàn ông khôn ngoan thà đặt tay vào giữa các thớt đá hơn là xen vào giữa vợ chồng người khác vì sẽ bị cả hai căm ghét.
Vì thế, Horemheb không được biết bất cứ điều gì về những chuyện xảy ra ở Thebes trong thời gian anh ta chinh chiến ở Syria, và tôi nghĩ đó là điều tốt nhất cho Ai Cập, vì nếu biết việc làm của Baketamon, chắc chắn tâm trí anh ta sẽ không yên trong khi đang phải lo chiến trận.
❖ 5 ❖
Tôi đã kể nhiều về những gì xảy ra với người khác trong thời gian giáo sĩ Eje trị vì Ai Cập, nhưng chưa kể về mình. Điều này dĩ nhiên có lý do, vì bản thân tôi không còn nhiều điều để kể. Dòng đời tôi không còn nổi sóng mà chầm chậm, yên ả lắng xuống rồi kẹt lại trong vũng nước cạn. Tôi sống những năm ấy của đời mình dưới sự chăm sóc của Muti trong căn nhà vốn là xưởng đúc đồng mà Muti đã dựng lại sau khi bị đốt cháy, đôi chân tôi đã rã rời đi trên những con đường đầy bụi, đôi mắt tôi đã mệt mỏi nhìn thấy sự bất an của thế giới và trái tim tôi đã mỏi mòn vì những điều phù phiếm xảy ra trên thế giới. Vì vậy, tôi ở trong nhà, khép mình và không khám cho bệnh nhân ở nhà nữa mà chỉ thỉnh thoảng chữa bệnh cho hàng xóm và đôi khi cho những người nghèo nhất vì họ không có quà để biếu các thầy thuốc khác. Tôi cho đào một cái ao mới trong sân nhà, thả vào đó những con cá sặc sỡ và có những ngày dài, tôi ngồi suốt dưới gốc sung dâu trong tiếng lừa kêu trên đường phố trước nhà và lũ trẻ con chơi đùa trong bụi đất, ngắm nhìn lũ cá chầm chậm bơi trong ao nước mát. Cây sung dâu đầy bồ hóng từ lần bị cháy lại bắt đầu nhú những lá xanh trên cành và Muti chăm sóc tôi chu đáo, nấu cho tôi đồ ăn ngon, để tôi uống rượu vừa đủ bất cứ khi nào tôi muốn và cẩn thận để tôi ngủ đủ, không cho làm việc quá sức.
Thế nhưng thức ăn đã mất hết vị trong miệng tôi và rượu không mang lại cho tôi niềm vui, chỉ làm tôi nhớ lại tất cả những việc làm xấu xa của mình vào những buổi tối khi tiết trời dịu mát, nhớ lại khuôn mặt khi hấp hối của Pharaon Ekhnaton và khuôn mặt khôi ngô của Hoàng tử Shubattu. Vậy nên tôi không còn muốn dùng tài năng của mình chữa bệnh cho mọi người, bởi đôi tay tôi là đôi tay tội lỗi, chỉ gieo rắc cái chết, cho dù tôi ước mong đôi tay mình hữu ích. Nên tôi chỉ ngắm nhìn những con cá dưới ao trong vườn nhà mình và ghen tị với chúng, loài có máu lạnh và ham muốn rụt rè, sống cả đời dưới nước và không phải hít thở không khí nóng nực trên mặt đất.
Khi ngồi trong vườn nhìn ngắm cá, tôi tâm sự với trái tim mình và nói:
- Hãy trấn tĩnh lại, trái tim loạn nhịp kia, vì lỗi không phải của mi, mà tất cả mọi chuyện xảy ra trên đời cả thiện lẫn ác đều điên dại, đều không có đích đến mà chỉ có lòng tham, nỗi căm hờn và dục vọng thống trị thế giới. Lỗi không phải của mi, Sinuhe, vì con người mãi mãi là như thế và sẽ không bao giờ thay đổi. Năm tháng trôi đi, con người sinh ra và con người chết đi, cuộc sống của họ như một luồng gió nóng và con người không hạnh phúc khi sống mà chỉ hạnh phúc trong cái chết. Vì vậy, không có sự phù phiếm nào lớn hơn cuộc đời con người, lỗi không phải của mi, mà con người vẫn luôn như vậy theo thời gian. Mi hoài công dìm con người xuống dòng sông thời gian, vì tâm anh ta không thay đổi và anh ta sẽ nhô lên khỏi sông hệt như khi bước xuống. Mi hoài công thử thách con người bằng chiến tranh và sự khốn cùng, bằng dịch bệnh và hỏa hoạn, bằng thần linh và giáo mác, vì những gì phải trải qua sẽ chỉ khiến con người chai cứng lại cho đến khi anh ta tồi tệ hơn cả cá sấu, do đó chỉ người chết mới là người tốt.
Nhưng trái tim tôi phản đối:
- Hãy ngắm cá thôi, Sinuhe, nhưng ta vẫn sẽ không để cho anh bạn yên chừng nào anh bạn còn sống, mà mỗi ngày trong cuộc đời anh bạn, ta sẽ nói: “Chính anh là người có tội”, và mỗi đêm trong cuộc đời anh bạn, ta sẽ len lỏi vào trong giấc ngủ của anh: “Sinuhe, anh là người có tội, vì ta, trái tim của anh, vô độ hơn cá sấu và ta muốn anh được nhận đủ những gì của mình”.
Tôi điên lên với trái tim mình:
- Mi là trái tim gàn dở và ta ngán mi quá rồi, vì mi chỉ đem đến cho ta rắc rối, khó chịu, buồn phiền và đau khổ trong suốt cuộc đời ta. Ta biết quá rõ lý trí ta là kẻ sát nhân và lý trí ta có bàn tay nhớp nhúa, nhưng số lần giết người của ta không thấm gì so với số vụ giết người xảy ra trên mặt đất và không ai quy tội ta. Vì thế, ta hoàn toàn không hiểu tại sao mi cứ lải nhải rằng ta có tội và không để cho ta được yên, vì ta là ai mà cứu rỗi thế giới và ta là ai mà thay đổi bản tính con người.
Nhưng trái tim tôi nói:
- Ta không nói về những vụ anh bạn giết người và cũng không quy tội cho anh, cho dù đêm đêm và ngày ngày, ta gõ thình thịch cho anh từ: “tội phạm, tội phạm”. Hàng ngàn rồi hàng ngàn người đã chết vì anh bạn, Sinuhe. Họ chết vì đói khát và dịch bệnh, chết vì vũ khí và thương tật, chết dưới bánh xe của chiến xa, chết đói trên đường hành quân nơi sa mạc. Vì anh bạn, những hài nhi đã chết trong dạ con của mẹ chúng; vì anh bạn, những cây gậy đã nện xuống những cái lưng còng, vì anh bạn mà bất công chà đạp công lý, vì anh bạn mà lòng tham thắng tính thiện lương, vì anh bạn mà phường trộm cắp cai trị thế giới. Quả thật, biết bao người đã chết vì anh, Sinuhe ạ. Màu da của họ khác nhau và lưỡi họ nói những ngôn ngữ khác nhau, nhưng họ đã chết một cách vô tội, Sinuhe ạ, vì họ không có được tri thức của anh và tất cả những người đã chết và sẽ chết đều là anh em của anh, và họ sẽ chết vì anh và anh là kẻ duy nhất có tội. Vậy nên tiếng khóc của họ len lỏi vào giấc ngủ của anh, tiếng khóc của họ lấy đi hương vị thức ăn ngon trong miệng anh và tiếng khóc của họ phá tan mọi niềm vui của anh, Sinuhe ạ.
Nhưng tôi đã luyện tâm hồn mình chai sạn và nói với trái tim mình:
- Đàn cá là anh em của ta vì chúng không biết thốt ra những từ ngữ viển vông. Đàn sói nơi sa mạc là anh em của ta, những con sư tử độc ác là anh em của ta, nhưng con người thì không phải vì con người luôn biết việc họ làm.
Trái tim tôi chế nhạo tôi:
- Có thật con người biết việc mình làm không? Đúng là anh bạn biết và anh bạn có tri thức, vì thế ta bắt anh bạn chịu đau khổ cho đến ngày cuối cùng của cuộc đời vì tri thức của mình, còn những người khác thì không. Vì vậy, chỉ mình anh bạn là kẻ có tội, Sinuhe ạ.
Lúc đó, tôi vò xé quần áo mình và gào to:
- Hãy để những hiểu biết của ta bị nguyền rủa, hãy để đôi tay ta bị nguyền rủa, hãy để đôi mắt ta bị nguyền rủa! Nhưng đáng bị nguyền rủa nhất là trái tim ngu ngốc của ta, trái tim không cho ta được yên trong những ngày tháng của cuộc đời mình và bịa đặt những điều sai trái để buộc tội ta. Hãy đưa ngay cho ta cái cân của Osiris để cân trái tim dối trá của ta và hãy để cho bốn mươi con khỉ đầu chó chính trực của ngài xét xử ta vì ta tin chúng hơn trái tim khốn khổ của mình.
Từ trong bếp, Muti vội vàng bước ra, nhúng một cái áo xuống nước ao rồi quấn quanh đầu tôi và chườm bình lạnh vào trán tôi. Bà mắng tôi xa xả, bắt tôi lên giường và ép tôi uống đủ loại thuốc lá vị đắng chát cho đến khi tôi trấn tĩnh lại. Tôi bị ốm một thời gian dài và trong thời gian đó, tôi nói với Muti về cán cân của Osiris, bảo bà ta đưa tôi cái cân bột và nói với bà về Merit và bé Thoth. Bà chăm sóc tôi tận tình và tôi nghĩ bà rất vui khi có thể giữ tôi trong giường và cho tôi ăn. Sau đó bà nghiêm khắc cấm tôi không được ngồi trong vườn dưới ánh nắng mặt trời vì tóc tôi đã rụng hết và cái đầu hói của tôi không thể chịu được những tia độc hại của mặt trời. Nhưng tôi đâu ngồi dưới nắng, mà ngồi trong bóng râm mát mẻ của cây sung dâu, ngắm nhìn những con cá, anh em của tôi, vì chúng không biết nói.
Nhưng thời gian trôi, tôi đã khỏe lại, trầm lặng hơn trước, bình tâm hơn trước và cũng đã giảng hòa với trái tim mình nên trái tim tôi không còn hành hạ tôi nhiều nữa. Tôi không còn nói với Muti về Merit và bé Thoth nữa mà chỉ giữ họ trong tâm mình và biết rằng họ phải chết để sức chịu đựng của tôi cạn kiệt và tôi cô đơn, vì nếu họ ở bên tôi thì tôi đã đủ đầy, hạnh phúc và trái tim tôi đã im lặng. Nhưng tôi cần phải luôn cô đơn theo số phận đã được an bài và vì thế mà tôi đã một mình trôi dọc sông trong chiếc thuyền sậy vào đêm tôi cất tiếng khóc chào đời.
Sau khi bình phục, tôi bí mật mặc quần áo thô ráp của người nghèo, cởi đôi dép dưới chân ra rồi rời khỏi ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng và không trở lại nữa. Tôi đi đến bến thuyền và khuân vác đồ đạc với những người khuân vác cho đến khi lưng tôi đau và đôi vai vẹo đi. Tôi đến Chợ Rau và nhặt những mớ rau hỏng làm thức ăn cho mình rồi tôi đến Chợ Than, đạp bệ lò của thợ đốt than và thợ rèn. Tôi làm công việc của nô lệ và phu khuân vác, ăn bánh mì và uống bia của họ và nói với họ:
- Không có sự khác biệt giữa con người với con người, ai cũng trần trụi sinh ra trên đời và trái tim con người là thước đo duy nhất. Không thể đo con người bằng màu da hay ngôn ngữ, cũng không thể đo bằng quần áo hay đồ trang sức, và không thể đo con người bằng sự giàu có hay nghèo khó của họ mà chỉ bằng trái tim. Vì vậy, người lương thiện tốt hơn kẻ ác độc, công lý tốt hơn bạo lực, ngoài ra tôi không biết gì khác, và đây là tất cả kiến thức của tôi.
Tôi nói với họ như thế trước những túp lều đất sét của họ vào lúc chập choạng khi những người vợ nhóm lửa trên đường phố và mùi cá rán dâng lên trong không khí, tràn ngập khu phố nghèo. Họ cười tôi và nói:
- Sinuhe, ông thật ngớ ngẩn khi làm công việc của nô lệ, dù ông biết đọc và biết viết. Chắc chắn ông đã phạm tội gì rồi và muốn ẩn náu nơi đây, và lời ông nói sặc mùi Aton, người mà chúng tôi không còn được phép nhắc đến tên. Tuy nhiên, chúng tôi sẽ không báo ông cho lính canh, mà sẽ giữ ông lại với chúng tôi để được giải khuây bằng những lời nói điên rồ của ông. Nhưng ít nhất ông không nên so sánh chúng tôi với những người Syria bẩn thỉu và những người da đen khốn khổ, vì tuy chỉ là nô lệ và phu khuân vác, chúng tôi vẫn là người Ai Cập và là người Ai Cập, chúng tôi tự hào về màu da và ngôn ngữ, quá khứ và tương lai của chúng tôi.
Tôi nói với họ:
- Đó là lời nói điên rồ, vì chừng nào con người còn ngạo mạn và coi mình tốt đẹp hơn người khác, thì chừng đó xiềng xích, gậy gộc, giáo mác và quạ đen còn theo sát gót chân họ. Vì vậy, con người chỉ nên được đánh giá theo tâm họ và tâm của tất cả mọi người đều như nhau, tâm người này không tốt hơn tâm kẻ khác, vì tất cả nước mắt đều cùng là nước và cùng mặn, dù đó là nước mắt của người da đen, người da nâu hay người Syria, nước mắt của người nghèo hèn hay người cao quý.
Nhưng họ cười phá lên với tôi và đập tay vào đầu gối, nói:
- Ông quả thật là một gã điên rồ, và chắc ông chưa từng trải nghiệm cuộc đời mà đã lớn lên trong một cái bao. Vì con người không thể sống nếu không cảm thấy mình tốt hơn người khác và không có người nào khốn khổ đến mức không cảm thấy mình tốt hơn người khác về mặt nào đó. Người này tự hào về sự khéo léo của đôi tay, người kia tự hào về sức mạnh của đôi vai, kẻ trộm tự hào về những mánh khóe, quan tòa tự hào về sự thông thái, kẻ tham lam tự hào về lòng tham, kẻ tiêu hoang tự hào về sự hoang phí, người vợ tự hào về đức hạnh, gái điếm tự hào với tính lẳng lơ. Không gì mang lại cho con người niềm vui lớn hơn khi biết mình trội hơn người khác về một mặt nào đó. Bởi vậy chúng tôi rất vui khi thấy chúng tôi khôn ngoan và tinh ranh hơn ông, mặc dù chúng tôi là những người nghèo khổ và nô lệ, còn ông biết đọc và biết viết.
Tôi nói với họ:
- Nhưng người tốt hơn kẻ gian ác và sự công bằng tốt hơn sự bất công.
Nhưng họ trở nên tức giận và đáp lại:
- Điều gì là tốt và điều gì là xấu? Nếu chúng tôi giết một lão chủ gian ác luôn lấy gậy đánh chúng tôi, ăn cắp thức ăn của chúng tôi và bỏ đói vợ con chúng tôi thì việc làm của chúng tôi là việc làm tốt, nhưng lính canh lại giải chúng tôi ra trước mặt quan tòa của pharaon, cắt tai, xẻo mũi chúng tôi và treo ngược chúng tôi lên tường. Đó là công lý, nhưng công lý phụ thuộc vào các quả cân được dùng để cân đo, và công lý với chúng tôi thường là bất công, vì chúng tôi không được phép đặt những quả cân của mình lên bàn cân công lý và quả cân của các quan tòa của pharaon khác với quả cân của chúng tôi.
Họ mời tôi ăn cá mà vợ họ rán và tôi uống bia nhạt của họ rồi nói:
- Giết người là tội ác hèn hạ nhất mà con người có thể phạm; giết người vì việc thiện cũng là tội ác như giết người vì cái ác, nên không nên giết một người mà hãy chữa cho anh ta khỏi tính ác độc.
Lúc đó, họ đưa tay che miệng và nhìn xung quanh rồi la lối:
- Chúng tôi không bao giờ muốn giết ai, vì roi và gậy đã buộc chúng tôi phải nhún nhường, phải nuốt hết những lời mắng mỏ, sỉ nhục và xúc phạm mà không giết bất kỳ ai. Nếu ông muốn chữa cho mọi người khỏi tính ác độc và đem công lý thay cho bất công thì hãy đến gặp những người quyền quý, giàu có và các quan tòa của pharaon và nói với họ những điều này, vì chúng tôi nghĩ ông gặp nhiều điều ác độc và bất công ở chỗ họ hơn ở chỗ chúng tôi.
Họ nói thế và vừa cười vừa dùng khuỷu tay hích và nháy mắt với nhau. Nhưng tôi nói với họ:
- Tôi muốn nói với các người hơn vì các người là dân và đông như cát và sao trời, mọi điều ác độc và bất công đều đến từ các người, cũng như mọi điều tốt lành đều đến từ các người. Các người cũng có lỗi vì khi người ta nói với các người: “Đi đi”, các người đi và làm tất cả những gì họ sai khiến. Cả những người mộ lính của pharaon cũng thường đến với các người, cho các người đồng, mảnh vải rồi đặt giáo vào tay các người và đưa các người ra trận. Nếu các người không làm theo, họ sẽ trói các người vào dây thừng và dẫn các người ra trận trong xiềng xích. Trong chiến tranh, các người đâm và giết những người giống như mình. Các người đâm thủng bụng anh em mình và rất tự hào về những việc làm ấy. Nhưng tất cả sự chém giết đều đáng khinh, máu sẽ đổ và sẽ chảy lên đầu các người. Vì thế, các người hoàn toàn không vô can.
Đôi ba người trong số họ ngẫm nghĩ về lời tôi nói và thở dài:
- Thật ra chúng tôi không ai vô tội, nhưng chúng tôi đã sinh ra trong một thế giới xấu xa, và chúng tôi bắt đầu cuộc sống bằng tiếng khóc khi rời bụng mẹ, vì vậy tiếng khóc đeo bám chúng tôi trên mọi nẻo đường đời. Nô lệ là thân phận muôn đời của chúng tôi và các giáo sĩ dùng phép thuật buộc chúng tôi phục vụ ông chủ của mình ngay cả sau khi chết bằng cách sai khắc tên chúng tôi vào những bức tranh gỗ theo ông chủ xuống mồ. Nhưng dù sao, ông cũng hãy đến gặp những người giàu có và quyền quý để nói về những điều này, vì theo suy nghĩ của chúng tôi, điều ác và sự bất công từ họ mà ra, bởi vì quyền lực ở trong tay họ. Nhưng đừng trách chúng tôi nếu họ cắt tai ông vì những lời ông nói và bắt ông đến hầm mỏ hoặc treo ngược ông lên tường, vì những lời ông nói là những lời nguy hiểm. Nếu ai đó trong chúng tôi nói những lời như vậy, chúng tôi sẽ không dám nghe anh ta dù chúng tôi lắng nghe ông, bởi rõ ràng ông là một gã đàn ông dại dột và vô hại. Nhưng nguy hiểm nhất là những điều ông nói về chiến tranh, vì giết người trong chiến tranh là vinh quang của người lính và Horemheb, tướng quân vĩ đại của chúng ta, sẽ giết ông không chút do dự nếu nghe ông nói điều này với mọi người, mặc dù bản thân ông ta là một người đàn ông vô tích sự, không thể làm hài lòng ngay cả vợ mình.
Tôi nghe theo lời khuyên của họ và rời khỏi túp lều đất sét của họ. Tôi đi theo những con phố lớn của Thebes với đôi chân trần, trên người là bộ quần áo màu xám của người nghèo, nói chuyện với các thương nhân, những người trộn cát vào bột mì; tôi nói chuyện với các ông chủ cối xay, những kẻ lấy ống bịt miệng nô lệ để họ không ăn được bột mà họ xay; tôi nói chuyện với các quan tòa, những người cướp tài sản thừa kế của những đứa trẻ mồ côi và xử án sai để được nhận những món quà lớn. Tôi đã nói chuyện với tất cả bọn họ, lên án những việc làm và sự gian ác của họ, khiến họ hết sức kinh ngạc.
Họ bảo nhau:
- Tay thầy thuốc Sinuhe này là ai mà dám nói những lời táo bạo, dù trên người chỉ khoác áo nô lệ? Chúng ta phải cẩn trọng, vì ông ta chắc là do thám của Pharaon. Nếu không, làm sao ông ta dám mạnh mồm nói với chúng ta như vậy.
Vì thế, họ nghe tôi nói không chán, các thương gia gọi tôi vào phòng và tặng quà cho tôi, các chủ cối xay đãi tôi rượu, các quan tòa hỏi ý kiến tôi và phán xử theo lời khuyên của tôi. Thế là họ đưa ra các phán quyết ủng hộ người nghèo chống lại người giàu, mặc dù họ đã nhận được từ người giàu những món quà lớn, và điều này làm dấy lên một sự bất mãn lớn và ở Thebes, người ta nói:
- Ngay cả quan tòa của pharaon cũng không còn đáng tin nữa, chính họ còn gian dối hơn những tên trộm mà họ xét xử.
Nhưng khi tôi đến nhà các vị quyền quý, họ chế nhạo tôi, xuýt chó ra cắn tôi và sai người hầu lấy roi đuổi tôi ra khỏi sân, vì vậy tôi vô cùng xấu hổ và co cẳng chạy, quần áo rách bươm, chân tay bị trầy xước, máu chảy dọc đường phố Thebes trong khi đàn chó vẫn đuổi theo sau. Mọi người đập tay lên đầu gối cười nhạo tôi, các thương gia và quan tòa của pharaon thấy nỗi nhục nhã của tôi và không còn tin lời tôi nữa mà đuổi tôi ra khỏi nhà họ và gọi lính gác dùng cán giáo đánh tôi. Họ nói với tôi:
- Nếu ông lại đến nhà buộc tội chúng tôi với những lời dối trá, chúng tôi sẽ truy tố ông tội truyền bá những lời ác độc và xúi giục dân chúng và quạ sẽ mổ thi thể ông trên tường.
Lúc đó, tôi trở về ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng cũ ở khu phố nghèo trong hổ thẹn, thấy mọi cố gắng của mình đều vô ích, vì cái chết của tôi không đem lại lợi lộc cho bất cứ ai, chỉ có lũ quạ sung sướng. Muti kêu than thảm thiết và chắp hai tay trên đầu mình khi nhìn thấy tình trạng thảm hại của tôi. Bà lau rửa cơ thể tôi và vừa bôi mỡ lên vết thương cho tôi vừa bực tức mắng mỏ tôi:
- Quả là bản tính đàn ông không thể chữa chạy được và ông nên xấu hổ, Sinuhe ạ, khi trốn nhà ra đi vào lúc tuổi già thế này dù đầu ông đã hói và cổ ông đã nhăn nheo. Có phải ông đã đổi quần áo sang trọng của mình để lấy rượu trong các quán rượu và đánh nhau trong nhà thổ khiến đầu nổi cục, chân bị trầy xước không. Ông không cần trốn khỏi nhà để uống rượu, mà từ giờ trở đi tôi sẽ để cho ông uống bao nhiêu tùy thích, tôi không ngăn ông nữa. Ông cũng có thể mời bạn nhậu đến nhà, nếu ông muốn, vì tôi bồn chồn không yên trong những ngày và đêm ông không về nhà. Cả Kaptah cũng hỏi và lo lắng cho ông vì ông ta đã trở về Thebes và ông không còn cô đơn nữa.
Bà ấy bôi thuốc mỡ tốt lên những vết thương và chỗ xước rồi cho tôi mặc quần áo sạch và rầy la tôi gay gắt:
- Chắc chắn sẽ tốt hơn nếu người ta cắt béng cái của nợ bé tẹo dưới khố của đàn ông, vì nó làm ông ta say xỉn và hổ thẹn, cãi vã và ẩu đả đến tận già. Sinuhe ạ, nếu ông không kìm được tính đực của mình tốt hơn, thì hãy lấy vợ về nhà mình hoặc mua một đứa nô tỳ trẻ để nó thỏa mãn ham muốn và an ủi ông, đồng thời ban ngày có thể giúp tôi trong việc nội trợ vì tôi đã già, tay run và món rán cứ bị cháy trong khi tôi trộn nước sốt. Đánh lộn trong nhà thổ vì những ả đàn bà tà dâm là không xứng đáng với ông, Sinuhe ạ. Đáng ra ông phải biết điều đó và hổ thẹn về việc làm của mình.
Những lời bà ấy nói xúc phạm tôi ghê gớm vì tôi không nghĩ mình đã già lắm, dù đầu tôi đã hói. Tuy nhiên, tôi không dám kể cho bà ấy biết vì sao tôi bỏ trốn khỏi nhà, mà cứ để bà tin tôi là một kẻ say xỉn và thích đàn đúm như những gã đàn ông khác, để bà không nhốt tôi vào phòng tối, lấy quần áo ướt quấn quanh người tôi, giữ tôi trong giường và gọi thầy thuốc đến thả đỉa vào khuỷu đầu gối tôi. Vì chắc chắn bà ấy sẽ làm thế nếu tôi kể tôi đến gặp người nghèo và đến gặp những người quyền quý nói về cái ác và cái thiện, về công lý và bất công. Vì vậy, tôi để bà ấy rầy la tôi theo ý thích và ngỗng rán của bà tan chảy ngon lành trong miệng tôi sau khi tôi đã ăn bánh mì và cá rán trong dầu thiu của nô lệ và rượu của bà ngọt ngào trong miệng tôi sau khi tôi đã uống bia nhạt của người nghèo. Tim tôi dịu lại và tôi độ lượng ngẫm nghĩ về những việc làm của mình theo cách nghĩ của một thầy thuốc và nhận ra rằng với con mắt của thầy thuốc, tôi đã mắc bệnh và lẽ ra tôi phải được khoan sọ để khỏi bệnh, vì tôi không còn bằng lòng với thế gian như nó vốn có, mà tự coi mình có tội trong bất cứ điều xấu xa nào xảy ra trên thế gian.
Vì thế, tôi lại ngồi xuống trong khu vườn của mình dưới bóng cây sung dâu, ngắm nhìn những con cá câm lặng trong ao và tâm trí tôi trầm tĩnh lại khi nhìn chúng trong tiếng lừa kêu trên con phố trước nhà và khi nhìn những đứa trẻ chơi trò trận giả, ném phân lừa vào nhau. Kaptah cũng đến thăm tôi, vì quả thật ông ấy đã trở về Thebes, không còn sợ nô lệ và phu khuân vác mà bây giờ lại trở nên thật nhún nhường. Ông ấy oai vệ đến nhà tôi, mười tám nô lệ da đen khênh chiếc kiệu được trang trí và sơn màu, còn ông ấy ngồi trong kiệu trên những tấm thảm mềm và dầu xức đắt tiền nhỏ từ trán xuống mặt để ông ấy khỏi ngửi thấy mùi hôi thối của khu phố nghèo. Ông ấy đã lại béo lên rất nhiều và một thợ kim hoàn Syria đã làm cho ông con mắt mới bằng vàng và đá quý thay cho con mắt bị mù. Ông ấy rất tự hào về nó mặc dù nó cọ xát rất khó chịu trong hốc mắt, nên ông đã gỡ nó ra khi ngồi xuống cạnh tôi dưới gốc sung dâu vì không ai thấy chúng tôi.
Trước tiên, ông ấy ôm tôi và sung sướng òa khóc vì được gặp tôi. Ông ấy nặng như một ngọn núi khi nghiêng người đặt đôi bàn tay to bè của mình lên vai tôi và dưới sức nặng ấy, chiếc ghế mà Muti mang ra cho ông ấy sụp xuống, vỡ ra từng mảnh nên ông cuốn vạt áo của mình lên và ngồi xuống đất trước mặt tôi. Ông ấy kể với tôi rằng cuộc chiến ở Syria sắp kết thúc và đội chiến xa của Horemheb đã đến được Kadesh nhưng không đủ sức đánh chiếm Kadesh. Ông ấy khoe khoang về sự giàu có của mình và những thương vụ lớn mà ông đã làm ở Syria; ông ấy kể đã mua một lâu đài cũ trong khu quyền quý và thuê hàng trăm thợ xây dựng xây lại nó cho xứng với sự giàu có của mình, vì việc sở hữu và trông coi một quán rượu ở bến cảng không còn thích hợp với danh giá của ông ấy nữa.
Ông ấy bảo với tôi:
- Tôi đã nghe nhiều lời xấu xa về ông ở Thebes, Sinuhe, ông chủ của tôi, người ta nói ông đã kích động người dân chống lại Horemheb và các quan tòa cũng như những người quyền quý rất giận ông, vì ông đã buộc tội họ, nói họ phạm nhiều sai trái và bất công. Tôi khuyên ông nên cẩn trọng, vì nếu ông vẫn tiếp tục nói những lời nguy hiểm như thế, họ sẽ đày ông đến hầm mỏ. Nhưng cũng có thể họ không dám làm thế vì ông vẫn có ân nghĩa với Horemheb, nhưng nhà ông đã bị cháy một lần và cũng có thể trong một đêm tối nào đó, họ sẽ lại đến đánh chết ông, đốt nhà ông thành tro, nếu ông vẫn tiếp tục nói những lời như thế và kích động kẻ nghèo chống lại người giàu. Vậy nên hãy kể cho tôi nghe thực ra ông bị sao vậy và điều gì khiến kiến bò vào đầu ông, để tôi có thể giúp ông, như những người hầu trung thành luôn phải giúp đỡ ông chủ của mình.
Tôi cúi đầu trước mặt ông ấy và kể cho ông ấy nghe tất cả những gì tôi đã nghĩ và đã làm, kể nỗi niềm của trái tim tôi. Ông ấy nghe tôi nói, gật gật đầu khiến đôi má dày ụ sệ xuống. Nghe tôi nói xong, ông ấy bảo:
- Tôi biết ông là người đơn giản và điên khùng, ông chủ Sinuhe của tôi ạ, song tôi đã nghĩ sự điên khùng của ông sẽ đỡ dần theo tuổi tác. Thế nhưng ông còn điên khùng hơn, dù đã tận mắt chứng kiến tất cả những điều xấu xa xảy ra vì Aton và chính Aton đã phá nát niềm vui của ông. Có thể ông đã bị nhiễm bệnh của Ekhnaton ở Akhetaton, song tôi nghĩ bệnh này của ông phát sinh là do nhàn rỗi, vì sự nhàn rỗi nên những ý tưởng bất chợt, vớ vẩn quấy rầy ông. Nên sẽ tốt hơn nếu ông lại bắt đầu hành nghề của mình và dùng tài năng của mình nghiên cứu hộp sọ của con người và chữa bệnh cho họ, bởi một người khỏi bệnh sẽ mang lại nhiều lợi ích hơn tất cả những lời nói của ông, những điều chỉ làm tổn thương bản thân ông và những người bị ông dụ dỗ bằng lời nói của mình. Còn nếu không muốn hành nghề của mình, ông có thể dành thời gian cho một sở thích hữu ích nào đó, như những người giàu nhàn rỗi vẫn làm. Tôi nghĩ ông không săn hà mã được, mà có lẽ cũng không thích mùi mèo, dù ông có thể thành người nổi tiếng khi nuôi các giống mèo thuần chủng như Pepitamo. Nhưng chắc chắn ông có thể sưu tập những bi ký cổ và lập thành danh mục; có thể thu thập các vật dụng và đồ trang sức được chạm khắc, rèn đúc từ thời các kim tự tháp; có thể sưu tầm các nhạc cụ Syria hoặc tranh, tượng của các vị thần da đen được binh lính trở về từ cuộc chiến ở xứ Kush rao bán. Thật vậy, Sinuhe, trên thế gian này có vô số cách để con người dùng thời gian nhàn rỗi của mình, để những suy nghĩ viển vông không quấy rầy anh ta. Đàn bà và rượu hoàn toàn không phải là cách giết thời gian tồi tệ nhất và trò chơi xúc xắc nhanh chóng xua tan cơn gió độc, mặc dù đó là những trò chơi nguy hiểm đối với một kẻ yếu đuối như ông, thưa ông chủ Sinuhe của tôi, nếu ông cho phép tôi được nói vậy. Nhưng vì Amon, hãy chơi xúc xắc, hãy vung vãi vàng của ông vào đàn bà, hãy rượu chè say sưa, làm bất cứ điều gì, miễn là ông không hủy hoại bản thân bằng những lời nói vô bổ, vì tôi rất yêu quý ông và tôi không muốn điều xấu đến với ông, thưa ông chủ Sinuhe của tôi.
Ông ấy nói thêm:
- Trên đời không có gì hoàn hảo cả, rìa các ổ bánh mì thường bị cháy sém, trái cây nào cũng bị sâu đục và con người ta khi uống rượu đều cảm thấy khó chịu sau cơn say. Tương tự thế, không có công lý nào hoàn hảo mà mọi công lý đều bao hàm sự bất công, ngay cả những việc làm tốt cũng có thể dẫn đến hậu quả xấu và những ý định tốt nhất lại có thể gieo rắc nhiều chết chóc nhất, như trường hợp của Ekhnaton đã dạy ông. Nhưng nhìn tôi đây, ông chủ Sinuhe của tôi, tôi bằng lòng với khiếm khuyết của mình và béo tốt lên trong sự hòa hợp với thần linh và con người, các quan tòa của pharaon cúi đầu trước tôi, mọi người ca tụng tên tôi; trong khi đó những con chó đái vào chân ông. Sinuhe, hãy bình tâm lại, ông chủ của tôi, vì ông không có lỗi, thế giới là như vậy, xưa đã thế và sau này vẫn thế.
Tôi vô cùng ghen tị nhìn thân hình béo tốt và sự giàu có của ông ấy, vì ông ấy có thể bình tâm như thế, nhưng tôi nói:
- Cứ như ông nói đi, Kaptah. Tôi sẽ bình tâm và lại bắt đầu hành nghề của mình, nhưng hãy nói cho tôi biết người ta còn nhớ đến Aton và vẫn nguyền rủa Aton không, vì ông nhắc đến Aton, mặc dù tên của ngài đã bị cấm không được nhắc đến và tên của ngài đã khiến nhiều người bị đày vào hầm mỏ và bị treo ngược trên tường.
Kaptah nói:
- Đúng là Aton đã bị lãng quên nhanh cũng như khi các cột trụ của Akhetaton sụp đổ, những bức tường vỡ vụn và cát lấp đầy sàn các ngôi nhà. Nhưng tôi đã thấy một số nghệ sĩ vẽ những bức tranh theo phong cách của Aton, những người kể chuyện kể những câu chuyện nguy hiểm, hình thánh giá Aton được vẽ trên cát ở chợ và trên các bức tường nhà vệ sinh công cộng, vì vậy Aton có lẽ vẫn chưa hoàn toàn bị quên lãng.
- Cứ như ông nói đi, Kaptah, - lúc đó tôi hứa với ông ấy. - Tôi sẽ bình tâm, bắt đầu hành nghề lại và dần dần tôi cũng sẽ tập sưu tầm những thứ mà ông gợi ý, nhưng vì không muốn bắt chước người khác nên tôi sẽ sưu tầm những gì người khác không sưu tầm, tôi sẽ “sưu tầm” tất cả những người còn nhớ tới Aton.
Nhưng Kaptah cho là tôi nói đùa, và cười với những lời tôi vừa nói như với lời bỡn cợt tếu táo, vì cũng như tôi, ông ấy biết rõ rằng Aton đã gây ra cho Ai Cập và cho bản thân tôi biết bao điều tồi tệ đến như thế nào. Sau đó, chúng tôi chuyện trò vui vẻ về nhiều việc và Muti mang cho chúng tôi rượu và chúng tôi cùng uống cho đến khi nô lệ của ông ấy đến, đỡ ông ấy đứng dậy, vì ông ấy khó tự mình đứng lên do quá to béo, và ông ấy ngồi kiệu rời nhà tôi. Hôm sau, ông ấy gửi cho tôi rất nhiều quà làm cuộc sống của tôi trở nên xa hoa và dễ chịu, để tôi không thiếu gì mà chỉ vui sống, nếu tôi còn biết thích thú, mừng vui.
❖ 6 ❖
Thế là tôi lại cho treo tấm biển thầy thuốc trên cửa nhà mình, bắt đầu hành nghề lại và yêu cầu bệnh nhân trả quà tùy theo khả năng của họ, còn những bệnh nhân nghèo, tôi không bắt trả quà cáp, nên trong sân nhà tôi từ sáng đến tối đầy kín bệnh nhân và tôi không được lợi nhiều từ tài năng chữa trị của mình. Khi chữa cho bệnh nhân, tôi thận trọng hỏi họ về Aton vì không muốn làm họ sợ và cũng không muốn họ đồn thổi những lời xấu xa về tôi, khiến danh tiếng vốn đã đủ xấu của tôi ở Thebes càng thêm tệ hại. Nhưng theo thời gian, tôi nhận ra rằng Aton đã bị lãng quên, không còn ai hiểu ngài nữa mà chỉ những kẻ cuồng tín và chịu nhiều bất công mới nhớ đến ngài và xây dựng lại hình ảnh của ngài trong tâm thức họ theo mức độ cuồng tín cũng như những bất công mà họ phải chịu đựng, còn thì thánh giá Aton được dùng như dấu hiệu phù thủy độc ác nhằm hãm hại con người.
Khi nước lũ lại rút xuống, giáo sĩ Eje qua đời; nghe kể ông ta chết đói vì sợ bị đầu độc nên không dám ăn bất cứ thứ gì, kể cả bánh từ bột do chính mình xay, nặn và rán trong hoàng cung, vì ông ta nghĩ hạt đại mạch đã bị đầu độc nhằm vào ông ta ngay khi mới trổ bông trên đồng. Khi ấy, Horemheb chấm dứt cuộc chiến ở Syria, để người Hittite nắm quyền tại Kadesh vì anh ta không đủ sức chiếm nó, và hân hoan, dong buồm ngược sông trở về Thebes ăn mừng tất cả chiến công của mình. Anh ta không coi Eje là một pharaon đích thực nên không để tang sau khi Eje chết, mà tuyên bố ông ta là một pharaon giả, gây ra chiến tranh liên miên, tăng sưu thuế gây đau khổ cho Ai Cập. Ngay sau khi Eje chết, Horemheb chấm dứt chiến tranh và cho đóng cổng đền Sekhmet, khiến dân chúng tin rằng anh ta hoàn toàn không muốn chiến tranh mà chỉ phải tuân theo lệnh của pharaon độc ác. Vì vậy, người dân hân hoan chào đón anh ta trở về, ca ngợi anh ta và binh lính của anh ta.
Nhưng ngay sau khi về đến Thebes, việc đầu tiên Horemheb làm là cho gọi tôi đến gặp để nói chuyện và anh ta nói với tôi:
- Sinuhe, bạn của tôi, giờ tôi đã nhiều tuổi hơn lúc chúng ta chia tay, tâm trí tôi luôn bị giày vò vì những lời anh nói, buộc tội tôi là một kẻ khát máu, chỉ mang đến tai họa cho Ai Cập. Nhưng giờ đây tôi đã có được những gì tôi muốn và đã giành lại sự huy hoàng vĩ đại cho Ai Cập, nên không hiểm họa ngoại bang nào còn đe dọa Ai Cập, bởi tôi đã bẻ gãy mũi giáo của Hittite, để việc chinh phục Kadesh lại cho Ramses con trai tôi, vì bản thân tôi đã nếm trải quá đủ mùi vị chiến tranh và muốn xây dựng cho con tôi một vương quốc vững mạnh. Lúc này, Ai Cập thật bẩn, như một trại gia súc nghèo khổ rách nát, nhưng rồi anh sẽ thấy, nhanh thôi, tôi bắt đầu lùa phân rác ra khỏi Ai Cập như thế nào và tôi sẽ lấy công lý thay vào những bất công, phân xử từng người theo việc làm của họ, người siêng năng theo sự siêng năng của họ, kẻ lười biếng theo sự lười biếng của anh ta, kẻ trộm cắp theo hành vi trộm cắp của hắn ta và người phạm tội theo tội lỗi của họ. Thật vậy, Sinuhe bạn ơi, những ngày xưa huy hoàng sẽ trở lại Ai Cập cùng với tôi và tất cả sẽ như xưa. Vì vậy tôi cũng sẽ ra lệnh xóa tên Tutankhamon và Eje đáng thương khỏi danh sách các pharaon, như tên của Ekhnaton đã bị xóa khỏi danh sách các vị vua, như thể thời của họ chưa bao giờ tồn tại và tôi sẽ tính triều đại của tôi bắt đầu từ cái đêm Pharaon Đại đế qua đời, khi tôi đến Thebes với ngọn giáo trong tay và chim ưng bay phía trước.
Anh ta trở nên buồn bã và dựa đầu vào bàn tay, chiến tranh để lại những vết nhăn trên khuôn mặt anh ta và đôi mắt chất chứa nỗi buồn khi anh ta nói:
- Quả thật thế giới bây giờ đã khác với hồi chúng ta còn trai tráng, khi người nghèo có đủ những thứ họ cần và dầu hay mỡ đều không thiếu trong những căn lều đất sét. Nhưng những ngày xưa ấy sẽ trở lại cùng với tôi, Sinuhe ạ, Ai Cập sẽ phồn thịnh và giàu có. Tôi sẽ cho thuyền bè của mình đến Punt; tôi sẽ mở lại các mỏ đá và các mỏ khoáng sản từ lâu hoang phế để xây dựng các ngôi đền lớn hơn xưa và để thu gom vàng, bạc và đồng vào kho của pharaon. Thật đấy, mười năm nữa thôi anh sẽ không nhận ra Ai Cập nữa, Sinuhe ạ, vì anh sẽ không còn thấy những người ăn xin và người tàn tật trên đất Kemet. Vì kẻ yếu đuối sẽ nhường chỗ cho những người đáng sống; tôi sẽ tẩy sạch dòng máu yếu đuối và bệnh tật khỏi Ai Cập, cũng như sẽ xóa sạch nạn gian tà và trộm cướp để Ai Cập lại trở thành một dân tộc hùng mạnh, sẽ chinh phục toàn thế giới dưới sự lãnh đạo của các con trai tôi.
Nhưng tôi không hân hoan trước những lời anh ta nói, mà ngược lại chúng làm bụng dạ tôi nhộn nhạo, sự lạnh giá gặm nhấm tim gan tôi. Vì thế, tôi không cười mà đứng câm lặng trước anh ta. Anh ta nổi nóng, đôi mày cau lại như trước và bắt đầu quất roi vàng vào bắp chân mình, nói:
- Sinuhe, anh vẫn sưng sỉa, ủ ê như trước và trong mắt tôi, anh như một bụi gai cằn cỗi, không hiểu sao tôi lại nghĩ mình sẽ rất vui khi thấy anh. Anh là người đầu tiên tôi cho gọi ngay, trước khi tôi kịp bế con trai mình vào lòng và ôm ấp vợ tôi, Baketamon, vì chiến tranh đã khiến tôi cô đơn, uy quyền đã làm tôi cô độc, khiến tôi không còn có ai ở Syria để chia sẻ niềm vui và nỗi buồn của mình, mà khi nói với ai điều gì, tôi luôn phải cân nhắc lời nói của mình theo ý định và mong muốn của tôi về người ấy. Nhưng tôi không muốn bất cứ điều gì từ anh, tôi chỉ muốn có tình bạn của anh thôi, Sinuhe ạ. Nhưng hình như tình bạn của anh với tôi đã không còn và anh không còn vui khi gặp tôi nữa.
Tôi cúi đầu thật sâu trước mặt anh ta, trái tim cô đơn của tôi gào thét vì anh ta, và tôi nói:
- Horemheb, trong những người bạn chung thời trai trẻ của chúng ta, anh là người duy nhất còn sống sau tất cả những gì đã xảy ra, vì thế tôi luôn yêu quý anh. Bây giờ uy quyền trong tay anh, anh sẽ sớm đội lên đầu mình vương miện của cả hai vương quốc và không ai có thể ngăn cản sức mạnh của anh được nữa. Vì vậy tôi cầu xin anh, Horemheb, để Aton trở lại. Vì người bạn Ekhnaton của chúng ta, hãy cho Aton trở lại; vì tội ác khủng khiếp của chúng ta, hãy phục hồi Aton để tất cả các dân tộc có thể là anh em với nhau và sẽ không có sự khác biệt giữa con người và con người, cũng như sẽ không bao giờ có chiến tranh nữa.
Nghe thế, Horemheb lắc đầu thương hại và nói:
- Sinuhe ạ, anh vẫn điên rồ như trước. Anh không hiểu sao, Ekhnaton đã ném đá xuống nước và nước bắn lên rất mạnh, nhưng tôi đã dàn mặt nước phẳng lại, như thể ngài ta chưa hề tồn tại. Anh không hiểu sao, chim ưng của tôi đã đưa tôi đến hoàng cung gặp Ekhnaton vào đêm Pharaon Đại đế qua đời để Ai Cập không sụp đổ mà vẫn tồn tại sau ngài, vì thần linh không muốn Ai Cập đổ nát. Vì thế tôi khôi phục lại mọi thứ trước đây, vì con người không bao giờ hài lòng với hiện tại mà trong mắt anh ta chỉ có quá khứ là tốt lành và tương lai sẽ tốt đẹp. Tôi sẽ nối kết quá khứ và tương lai. Tôi sẽ vắt người giàu, những kẻ đã quá giàu, và tôi cũng sẽ ép thần linh, những vị thần quá mỡ màng béo tốt, để trong vương quốc của tôi người giàu không quá giàu, người nghèo không quá nghèo và không con người hay thần linh nào tranh giành quyền lực với tôi. Nhưng nói với anh chỉ vô ích, vì anh không hiểu suy nghĩ của tôi. Suy nghĩ của anh là suy nghĩ của kẻ yếu thế và bất lực, những kẻ không có quyền sống trên đời, mà chỉ được sinh ra để kẻ mạnh chà đạp và họ đáng bị chà đạp. Vậy nên các dân tộc yếu bị các dân tộc mạnh chèn ép, kẻ lớn cướp miếng ăn từ miệng của kẻ bé. Xưa đã thế và sau này vẫn thế.
Thế là Horemheb và tôi chia tay nhau, không còn là bạn bè như trước. Khi tôi bước ra khỏi nhà anh ta, anh ta đến với các con trai, ôm chặt chúng vào lòng và ném chúng lên cao trong niềm vui sướng của mình, rồi từ phòng các con, anh ta đi đến cung thất của Công chúa Baketamon và nói với nàng:
- Ái phi của ta, nàng như mặt trăng ngời ngợi trong tâm trí ta suốt những năm tháng qua và ta nhớ nàng khôn xiết. Giờ đây việc của ta đã xong và nàng sẽ sớm là một hoàng hậu anh minh bên cạnh ta, dòng máu thánh trong nàng cho nàng quyền ấy. Rất nhiều máu đã đổ vì nàng, Baketamon ạ. Các thành phố đã bị đốt cháy vì nàng và tiếng kêu than của dân chúng vang vọng đến trời cao cũng vì nàng ở bất cứ nơi nào quân đội của ta đi qua. Lẽ nào ta không được nhận phần thưởng của mình?
Baketamon mỉm cười trìu mến với anh ta và e lệ đặt tay lên vai anh ta và nói:
- Horemheb, phu quân của thiếp, tướng quân vĩ đại của Ai Cập, chắc chắn phu quân sẽ được nhận phần thưởng của mình. Vì thế, thiếp đã cho xây trong vườn của thiếp một vọng lâu, một vọng lâu từ xưa tới nay không đâu sánh bằng để thiếp đón phu quân theo cách phu quân đáng được hưởng và thiếp đã tự mình thu gom từng viên đá từ các bức tường khi bị nỗi khát khao chế ngự trong lúc chờ đợi phu quân. Chúng ta hãy đến vọng lâu để phu quân được nhận phần thưởng của mình trong vòng tay của thiếp và để thiếp mang đến cho phu quân niềm hoan lạc.
Horemheb vô cùng sung sướng với những lời Công chúa nói và Baketamon thẹn thùng nắm lấy tay anh ta và dẫn anh ta ra khu vườn, các cung nữ vội ẩn nấp, nín thở vì kinh hoảng khi nghĩ điều gì sẽ xảy ra, cả đám nô lệ và chăn ngựa cũng chạy trốn để lại hoàng cung vắng lặng. Thế là Baketamon đưa Horemheb đến vọng lâu của mình, nhưng khi Horemheb không kiên nhẫn thêm được nữa, muốn ôm choàng lấy Công chúa thì Baketamon đã dịu dàng ngăn lại và nói:
- Horemheb, hãy kìm bản tính đàn ông của mình một chút, để thiếp có thể kể cho phu quân biết thiếp đã xây vọng lâu này khó nhọc thế nào, vì thiếp hy vọng phu quân nhớ những gì thiếp đã nói khi phu quân cưỡng ép thiếp lần cuối. Vì thế, hãy nhìn kỹ những viên đá này và biết rằng mỗi viên đá trên tường và dưới sàn, mà chúng đâu có ít, là kỷ vật cho một lần truy hoan của thiếp trong vòng tay của một người đàn ông khác. Thiếp đã xây vọng lâu này bằng niềm hoan lạc của mình để vinh danh phu quân, Horemheb ạ. Viên đá trắng và to đó là của một người làm cá được thiếp làm cho đê mê mang đến, viên đá xanh lục kia thiếp có được từ người dọn nhà xí ở Chợ Than và tám viên đá nâu liền nhau kia là của một người bán rau ôm ấp thiếp bao lâu cũng không mệt và ca tụng hết lời niềm hoan lạc mà thiếp trao cho anh ta. Horemheb, chừng nào phu quân còn kiên nhẫn, thiếp sẽ kể cho phu quân nghe sự tích của từng viên đá và chúng ta còn nhiều thời gian. Chúng ta vẫn còn bao nhiêu năm chung sống và về già cũng sẽ ở bên nhau, nhưng thiếp tin mình có đủ chuyện để kể về những viên đá này cho đến lúc già, mỗi lần phu quân muốn ôm ấp thiếp.
Ban đầu, Horemheb không tin những lời nàng nói mà coi đó là những lời đùa cợt điên rồ và cử chỉ thẹn thùng của Công chúa đã lừa anh ta. Nhưng khi nhìn vào đôi mắt hình trái xoan của Baketamon, anh ta thấy trong đó nỗi căm hận, thứ đáng sợ hơn cả cái chết, và tin lời Công chúa. Khi hiểu ra, anh ta điên lên vì giận dữ và rút phắt con dao Hittite của mình ra để giết Baketamon, người đã nhục mạ phẩm giá đàn ông và tính phù phiếm của anh ta với cái cách khủng khiếp đến như thế. Nhưng Baketamon lập tức vạch trần bầu vú ra trước mặt anh ta và nói đầy giễu cợt:
- Đâm đi, Horemheb, hãy dùng dao hất vương miện trên đầu ngươi đi vì ta là nữ tu của Sekhmet, mang dòng máu linh thiêng. Nếu ngươi giết ta, ngươi sẽ mất quyền hợp pháp để ngồi lên ngai vàng của các pharaon.
Lời nói của Baketamon khiến Horemheb kìm mình lại, vì anh ta phải hòa ái với Baketamon, bởi chỉ có cuộc hôn nhân với Baketamon mới giúp anh ta hợp pháp kế vị ngai vàng của các pharaon. Như thế, Baketamon đã gông cùm anh ta và anh ta không làm được gì nàng, mà sự trả thù của Baketamon thật hoàn hảo vì Horemheb thậm chí không dám phá vọng lâu của nàng và nó cứ hiện ra trước mắt anh ta mỗi ngày khi anh ta từ trong cung điện của mình nhìn ra. Ngẫm nghĩ, cân nhắc mọi chuyện, anh ta thấy không còn cách nào khác ngoài việc giả vờ không biết gì về những việc làm của Baketamon. Vì nếu anh ta cho phá dỡ vọng lâu, mọi người sẽ nhận ra rằng anh ta biết việc Baketamon đã để cho bàn dân thiên hạ ở Thebes khạc nhổ vào giường của anh ta như thế nào. Vì vậy, anh ta thà chịu đựng những lời chê cười của dân chúng sau lưng mình hơn là hạ mình công khai nỗi ô danh. Nhưng từ đó trở đi, anh ta không còn động chạm hay quấy rầy Baketamon nữa mà sống một mình, và tôi cũng buộc phải có lời khen Baketamon, vì Công chúa không bắt tay vào xây thêm công trình mới mà bằng lòng với vọng lâu xinh đẹp của mình.
Chuyện xảy ra với Horemheb là vậy đấy và tôi không nghĩ rằng anh ta còn vui mừng nhiều lắm với vương miện của mình, khi các giáo sĩ xức dầu cho anh ta và đội chiếc vương miện đỏ và trắng, hoa huệ và giấy cói, của miền Thượng và miền Hạ lên đầu anh ta. Anh ta trở nên đa nghi và không còn tin tưởng hoàn toàn vào bất cứ ai mà luôn nghĩ rằng mọi người đang cười nhạo sau lưng mình vì Baketamon. Thế là Horemheb vĩnh viễn chịu một cái gai nhọn trong hông mình và nỗi đau trong tim không bao giờ phai. Anh ta cũng không thể vui vẻ với bất kỳ người phụ nữ nào nữa, vì những tổn thương phải chịu với anh ta là quá khủng khiếp. Vậy nên anh ta lấy công việc để làm chai đi nỗi buồn tủi và uất hận, bắt đầu lùa phân rác ra khỏi Ai Cập để trả lại mọi thứ trước đây cho Ai Cập và đem công lý thay cho bất công.
❖ 7 ❖
Để thật công tâm, tôi cũng phải kể về những việc Horemheb đã làm rất tốt, vì dân chúng đã ngợi ca, tán tụng tên anh ta, coi anh ta là một vị vua tốt và chỉ sau những năm đầu anh ta nắm quyền, người dân đã xếp anh ta vào hàng những pharaon vĩ đại của Ai Cập. Anh ta đã vắt ép những kẻ giàu có và quyền quý, không cho phép bất cứ ai trở nên quá giàu hoặc quá cao sang ở Ai Cập, để không ai có thể tranh giành quyền lực với anh ta và việc này làm cho dân chúng hết sức hài lòng. Anh ta trừng phạt những quan tòa giả và khôi phục quyền lợi cho người nghèo; anh ta cải cách thuế vụ bằng việc lấy từ quốc khố của pharaon trả lương cho những người thu thuế, không cho họ còn quyền bòn rút thuế từ người dân để làm giàu cho mình.
Tâm trí mãi mãi không yên, anh ta miệt mài vi hành dọc đất nước, từ châu này sang đạo khác, từ làng nọ đến tổng kia để điều tra những việc làm sai trái. Và những cái tai bị cắt, những cái mũi đầy máu của những người thu thuế lạm quyền đánh dấu hành trình của anh ta; tiếng gậy vụt chan chát và tiếng gào khóc vang lên khắp những nơi anh ta đến xét xử. Ngay cả người nghèo cũng có thể trực tiếp tâu bày việc của họ với anh ta, các quan lại dưới quyền anh ta không dám ngăn cản người nghèo đến gặp anh ta và anh ta công minh phân xử cho họ. Anh ta lại cho thuyền đến xứ Punt và vợ con các thủy thủ lại khóc trên bến cảng, lấy đá cào xước mặt theo tập quán tốt đẹp, và Ai Cập đã giàu có lên rất nhiều, vì mỗi năm có ba trong mỗi mười thuyền trở về mang theo rất nhiều của cải. Anh ta cũng xây dựng nhiều ngôi đền mới và ban cho các vị thần những gì thuộc về thần linh, theo danh vị và quyền lợi của thần, không thiên vị bất kỳ vị thần nào, trừ Horus, và không thiên vị ngôi đền nào, trừ đền Hetnetsut, nơi mọi người tôn thờ hình ảnh của chính anh ta như một vị thần và cúng tế bò đực cho anh ta. Vì tất cả những việc này, dân chúng đã cầu nguyện cho anh ta, hết lời ca ngợi anh ta và kể biết bao nhiêu câu chuyện lạ kỳ về anh ta ngay khi anh ta đang sống.
Kaptah cũng làm ăn rất phát đạt và mỗi năm lại giàu có hơn, đến nỗi không một người đàn ông nào ở Ai Cập có thể cạnh tranh được với ông ấy về độ giàu có. Vì không có vợ con nên ông ấy trao cho Horemheb quyền thừa kế để những ngày cuối đời được sống yên ổn và ngày càng thu vén thêm được nhiều của cải. Chính vì vậy, Horemheb không siết ông ấy tồi tệ như siết những người giàu có khác ở Ai Cập, và không cho những người thu thuế hoạnh họe ông ấy quá nhiều.
Kaptah thường mời tôi đến nhà mình, ở khu thượng lưu và có vườn cây, nằm trọn cả một khoảng đất giữa các con phố, khiến ông không có đến một người hàng xóm nào để thi thoảng quấy rầy ông. Ông ấy ăn bằng bát đĩa tráng vàng, trong nhà ông nước chảy ra từ vòi bạc kiểu Hy Lạp, bồn tắm bằng bạc, bệ ngồi nhà xí bằng gỗ mun và tường nhà xí ốp toàn đá quý tạo thành những bức tranh rất đẹp mắt. Ông ấy cho tôi ăn những món tuyệt ngon, cho tôi uống rượu thời các kim tự tháp và khi ông ấy ăn, các nhạc công, ca sĩ và các vũ nữ xinh đẹp và nổi tiếng nhất của Thebes trình diễn những điệu nhảy điêu luyện nhất để ông tiêu khiển. Tuy nhiên, ông ấy không có nhiều lạc thú với đàn bà vì cái bụng của ông ấy cản trở đường đi của tình ái và ông chọn thỏa mãn cho cái bụng mình hơn là vui thú với phụ nữ.
Ông ấy cũng tổ chức những bữa tiệc linh đình, giới thượng lưu giàu có Ai Cập rất vui lòng đến nhà ông ấy, mặc dù ông sinh ra là nô lệ và trong cách cư xử vẫn giữ nhiều thói quen từ thuở nô lệ như lấy tay vắt xỉ mũi, ợ rất to trong bữa ăn. Ông ấy là một chủ nhà hào phóng, phân phát những món quà quý giá cho khách của mình và những lời khuyên liên quan đến thương mại của ông thật tinh ranh và khôn ngoan, vậy nên ai cũng được lợi từ việc kết bạn với ông ấy. Những lời nói và câu chuyện của ông ấy thật khôi hài và kỳ cục, ông thường khoác lên người áo quần nô lệ để tiêu khiển các vị khách và kể cho họ nghe đủ lời dối trá lừa lọc theo thói quen của nô lệ, vì ông ấy quá giàu có nên chẳng sợ lời nhạo báng nào về quá khứ của mình, mà còn ngạo mạn vênh váo trước giới quyền quý Ai Cập rằng trước kia mình từng là nô lệ. Ông ấy nói với tôi:
- Sinuhe, ông chủ của tôi ơi, tạo hóa thật kỳ lạ, khi con người đủ giàu, anh ta không thể nghèo đi mà chỉ ngày càng giàu hơn, ngay cả khi anh ta không muốn giàu thêm nữa. Nhưng sự giàu có của tôi bắt nguồn từ ông, Sinuhe ạ, vì thế tôi luôn luôn công nhận ông là ông chủ của tôi, và ông sẽ không phải chịu túng thiếu trong những ngày còn sống, mặc dù vì chính bản thân mình, ông cứ nghèo khó lại tốt hơn, bởi ông không biết dùng của cải đúng cách mà với của cải ấy, ông chỉ gieo rắc hỗn loạn và gây ra nhiều tai họa. Vì vậy, đúng là tốt hơn khi ông đã phung phí hết của cải của mình trong những ngày tháng tồi tệ của pharaon giả, vì tôi sẽ trông coi lợi ích cho ông và lo sao cho ông không thiếu thứ gì mà ông đòi hỏi.
Ông ấy cũng ưu ái các nghệ sĩ và họ đã chạm hình ông vào đá và khắc ông thành người quyền quý và tinh tế; họ đẽo tạc thân thể ông thật thanh tú, bàn tay và bàn chân nhỏ, gò má cao và trong các bức tượng, cả hai mắt của ông đều nhìn thấy, ông ngồi trầm tư, chân vắt chéo, cuộn giấy trên đầu gối với cây viết trong tay, dù ông chưa bao giờ thậm chí gắng học đọc và viết mà các thư lại của ông đọc, viết và tính những con số lớn thay ông. Những bức tượng này khiến Kaptah và các giáo sĩ Amon rất thích chí. Ông ấy đã trao những món quà lớn cho các giáo sĩ Amon khi từ Syria trở về để được an lành với thần linh và họ đã cho phép dựng tượng ông trong ngôi đền lớn và ông đã tự trả công cho bức tượng này.
Kaptah cũng cho xây cho mình một lăng mộ hùng vĩ ở thành phố của người chết và các nghệ sĩ đã vẽ lên tường lăng mộ rất nhiều bức hình về cuộc sống hằng ngày và những thú vui của ông. Họ vẽ ông ấy rất quý phái, đủ hai mắt và không có bụng to, vì ông ấy muốn lừa thần linh và đến miền tây cực lạc trong hình dạng ông ấy muốn chứ không phải dáng hình vốn có của mình, dù trong cuộc sống thường ngày ông ấy chỉ muốn được là chính bản thân vì như thế đỡ phiền hà hơn là phải tỏ ra quyền quý. Để đánh lừa thần linh, ông ấy cho làm một cuốn tử thư để đặt vào lăng. Đây là cuốn tử thư được chế tác công phu nhất và phức tạp nhất trong những cuốn sách tôi từng thấy, gồm mười hai cuộn, cả tranh và các bản viết với nhiều bài thần chú để trấn an các linh hồn nơi địa ngục và thêm cân Osiris với những quả cân giả và hối lộ những con khỉ đầu chó chính trực. Ông ấy làm tất cả những việc này bởi theo ông ấy cẩn tắc vô ưu, dù ông không tài nào nhớ nổi thần chết mà sùng kính bọ hung của chúng tôi hơn bất kỳ vị thần nào.
Nhưng tôi mừng cho Kaptah vì sự giàu có và hạnh phúc của ông ấy, cũng như tôi mừng cho tất cả mọi người về niềm vui và sự mãn nguyện của họ và tôi không còn muốn tước đi của họ những điều họ tưởng tượng ra nếu những viễn ảnh ấy khiến họ hạnh phúc. Vì thật ra cuộc đời con người được thêu dệt nên theo viễn cảnh bằng nhiều cách. Vì vậy, sự thật là tồi tệ và cay đắng với con người và với nhiều người; thà giết họ đi còn hơn làm tiêu tan các viễn cảnh của họ. Vì vậy tôi không cố ý phá vỡ điều người khác tưởng tượng nếu họ hạnh phúc với chúng và không vì chúng mà làm việc ác mà chỉ hài lòng những gì mình tưởng tượng ra.
Nhưng viễn cảnh không làm trán tôi mát hơn, niềm vui không làm trái tim tôi an nhiên và công việc cũng không làm tôi tự tại, mặc dù trong những năm này tôi đã làm rất nhiều việc, chữa lành không biết bao nhiêu bệnh nhân và tôi cũng đã mấy lần khoan sọ người, phần lớn khỏi bệnh và chỉ có ba người chết nên tôi đã có tiếng là người khoan sọ giỏi. Tôi bất mãn suốt đời và có lẽ tôi đã nhiễm từ Muti tính cay nghiệt của bà ấy, thói quen lầu bầu, ca cẩm của bà ấy đã lây sang tôi, khiến tôi không ngớt ca thán, mắng mỏ tất cả những người tôi gặp. Tôi quở trách Kaptah về tính háu ăn, tôi trách mắng người nghèo về sự lười biếng, người giàu về sự ích kỷ, các quan tòa về sự thờ ơ của họ. Tôi không vừa lòng với bất kỳ ai mà bất mãn với tất cả mọi người và chế nhạo họ một cách thậm tệ. Nhưng tôi không bao giờ giễu cợt bệnh nhân và trẻ con mà gắng chữa chạy và không gây quá nhiều đau đớn không cần thiết cho họ; tôi còn bảo Muti phát những chiếc bánh mật ong bà ấy rán cho những cậu bé trên phố mà đôi mắt của chúng khiến tôi nhớ đến đôi mắt sáng của Thoth.
Mọi người nói về tôi:
- Gã Sinuhe này là một lão già sầu não và cay nghiệt, lá gan ông ta sưng vù và túi mật trào khỏi miệng khi ông ta nói, vì vậy ông ta già đi quá sớm, không còn biết vui với cuộc sống của mình nữa. Những việc làm xấu xa của ông ta cũng đeo bám ông ta khiến đêm ông ta không ngủ được. Vậy nên chúng ta hãy nhân từ và bỏ qua cho ông ta, vì lưỡi ông ta đâm bản thân mình nhiều hơn là châm chọc chúng ta.
Quả đúng như vậy, sau khi đã rầy la, mắng mỏ chán chê và rơi nước mắt xót xa cho những kẻ lười không có lương thực, sau khi đã cởi áo mình khoác lên người những gã say, xin lỗi những kẻ giàu sang về những lời mắng mỏ của mình, tôi tin vào sự công tâm của các quan tòa. Tôi làm thế bởi tôi vẫn còn yếu đuối và không thể đổi thay bản tính của mình.
Nhưng tôi cũng còn nói xấu về Horemheb và trong mắt tôi, tất cả việc làm của anh ta đều xấu xa; tôi oán trách nhất những con bọ bẩn thỉu được anh ta nuôi bằng quốc khố của pharaon, sống một cuộc đời lười biếng và luôn khoe khoang về những chiến công của mình trong các quán bia và nhà vui, đâm thủng đầu và chém đứt chân tay nhau trong các cuộc ẩu đả, hãm hiếp con gái của người nghèo khiến đàn bà con gái không còn thấy an toàn trên đường phố Thebes. Nhưng Horemheb đã bỏ qua cho những con bọ bẩn thỉu của mình tất cả những gì họ làm và luôn giải thích những việc làm đó theo hướng tốt nhất. Nếu người nghèo xin gặp Horemheb thưa kiện về việc của con gái họ thì anh ta nói đáng ra họ phải tự hào vì nhờ binh lính phối giống mà Ai Cập sẽ có dòng máu tốt khỏe mạnh. Vì Horemheb căm ghét đàn bà và chỉ coi họ là người sinh ra những đứa trẻ chứ không cho họ nhân phẩm gì khác.
Những người muốn tốt cho tôi thường nhắc nhở tôi không được nói xấu về Horemheb, đưa tay bịt miệng tôi khi tôi lớn tiếng nói xấu anh ta ở nơi đông người, vì họ sợ cho tôi cũng như sợ cho chính họ; họ lảng xa tôi, để tôi lại một mình. Vì thời gian trôi qua, Horemheb càng trở nên đa nghi với tất cả mọi người và muốn biết tất cả những gì dân chúng nói về mình, nên chẳng bao lâu sau, không một nơi công cộng hay quán rượu nào không có tai mắt của Horemheb lắng nghe lời ca thán và oán trách của dân chúng. Tôi cũng phải thừa nhận rằng bằng cách này, Horemheb biết được rất nhiều việc làm sai trái mà dân chúng không dám kêu van đến anh ta và anh ta đã trừng phạt những kẻ làm sai rất nghiêm khắc. Nhưng những người dám chỉ trích việc làm của anh ta còn phải chịu cực nhiều hơn thế, biết bao người đã bị đánh tóe máu và biết bao người bị đày đến các hầm mỏ và mỏ đá vì đã nói lời cay độc, một vài người bị coi là phù thủy và bị ném làm mồi cho cá sấu. Nhưng Horemheb nuôi tai mắt của mình bằng ngân khố của pharaon, nên họ không được thưởng từ những lần cấp thông tin và cũng không được nhận tài sản của những người đã bị họ ẩn vào cõi chết. Thế nên người ta có thể thoát khỏi tai họa do miệng lưỡi mình gây nên bằng cách tặng quà cho tai mắt của Horemheb, cho họ uống thật nhiều rượu, và người nghèo thoát được bằng cách để vợ hoặc con gái của mình ngủ với những người này, nên tai mắt của Horemheb sống nhàn hạ, phè phỡn và hăng hái phục vụ chủ.
Chính Horemheb đã nói: “Ta đã ban cho mỗi người theo công sức bỏ ra và cả người nghèo cũng được nhận đầy đủ theo phận mình, mỡ hoặc dầu có đủ trong các lều đất sét. Ta cũng rất vui khi lại thấy những đứa trẻ béo khỏe ở Ai Cập vì trẻ em là của cải của Ai Cập và những thằng bé khỏe mạnh sẽ trở thành những người lính tốt, còn những bé gái béo khỏe sẽ đẻ nhiều con hơn những đứa gầy gò. Nhưng nhàn rỗi sinh ra lười biếng, xa xỉ sinh ra bất an và những lời nói độc hại. Vì thế ta phải kiểm soát quyền lực của mình, bởi nếu không chẳng còn lâu nữa, dân Ai Cập sẽ quá cứng đầu dưới sự chăn dắt của cây trượng quyền uy của ta”.
Vì vậy, anh ta bắt dân chúng làm việc công ích quá sức, bắt xây những con đường lát đá, bắt đào những con kênh lớn để người dân không kịp có âm mưu chống lại anh ta trong những ngày nhàn rỗi của thời hưng thịnh. Nên trong thời gian anh ta trị vì, người dân như bò đực ngày càng béo ra nhưng luôn bị một ngọn giáo hích bên mạn sườn nên không bao giờ được yên ổn nghỉ ngơi. Horemheb sai khắc chạm các ảnh tượng và văn bia vào những ngôi đền anh ta cho xây dựng để ca ngợi những việc làm và chiến công của mình, nên hằng ngày người dân thấy ngay trước mắt mình Pharaon đã khôi phục lại Ai Cập như thế nào, công lý thay cho bất công và mỗi người dân được nhận đủ phần mình như thế nào. Cả những người kể chuyện rong ngồi trên thảm ở cổng thành hay góc phố cũng ca tụng những việc làm hiển hách của anh ta, kể những câu chuyện thần tiên về sự ra đời của anh ta và Horemheb ưu ái tặng quà, ban phát cho họ lương ăn, dầu và bia. Nhưng đám người kể chuyện rong thường khó bảo và thích đùa bỡn, không có gì là thiêng liêng với họ, vì thế họ thêu dệt thêm nhiều sợi chỉ sặc sỡ vào các câu chuyện kể của mình, khiến người nghe buộc phải cười. Nhưng bản thân Horemheb vì quá tự phụ nên không nhận ra những người kể chuyện mà anh ta ban thưởng đã bí mật chế nhạo anh ta trong chuyện kể của họ, cũng không phải tất cả người nghe đều hiểu người kể chuyện mà họ chỉ há hốc mồm và giơ tay lên cao tỏ vẻ kinh ngạc khi những người này kể rằng Horemheb được sinh ra khi thần Horus dừng chân ở Hetnetsut trong chuyến du hành của mình để lom khom bên vệ đường.
Nhưng thời gian trôi qua và Horemheb trở nên đa nghi hơn, rồi một hôm lính của ông ta đến nhà tôi, xỏ dép vào chân tôi, quấn quần áo quanh người tôi và dùng cán giáo đuổi người bệnh khỏi sân nhà tôi để đưa tôi đến gặp Horemheb. Lúc đó mùa xuân vừa đến, nước đã rút bớt và những đàn én chí chóe lao vun vút như tên bắn trên dòng sông chở đầy phù sa vàng. Toán lính ẩn tôi đến trước mặt Horemheb. Ông ta đã già đi nhiều trong những năm sau này, cổ còng xuống, khuôn mặt ngả vàng và cơ bắp nổi như những cái mấu nhỏ trên thân thể gầy gò và dài ngoằng. Ông ta nhìn tôi với đôi mắt không còn chút niềm vui nào và gọi tên tôi, nói:
- Sinuhe, ta đã nhiều lần cho răn đe ông, nhưng ông phớt lờ những lời cảnh cáo ấy của ta, vẫn cứ nói với người dân rằng nghề lính là nghề đáng khinh bỉ nhất và thấp hèn nhất trong tất cả các nghề, ông còn bảo những đứa trẻ thà chết trong bụng mẹ còn hơn sinh ra làm lính và hai hoặc ba đứa con với một người đàn bà là đủ, không cần phải đẻ thêm nữa, và người mẹ hạnh phúc khi nuôi dạy ba đứa con sẽ tốt hơn là bất hạnh và nghèo khó khi nuôi chín hay mười đứa. Ông còn nói tất cả các vị thần đều như nhau, tất cả các ngôi đền đều là những ngôi nhà tối tăm và ông nói thần của Pharaon giả vĩ đại hơn tất cả các thần khác. Ông còn bảo người ta không nên bán hay mua người khác làm nô lệ, lại còn nói nông dân là người sở hữu đất mà họ canh tác và sở hữu nhà kho mà họ dùng để thu hoạch mùa màng, mặc dù đất đai là của pharaon hay thần linh. Ông còn nói cách ta trị vì không khác ách cai trị của người Hittite là mấy và ông còn nói nhiều điều rồ dại hơn thế nữa, nên nếu là người khác, chỉ nói ít hơn thế nhiều đã phải đập đá trong mỏ đá một thời gian dài. Ta đã kiên nhẫn với ông, Sinuhe ạ, vì ông từng là bạn của ta và chừng nào giáo sĩ Eje còn sống, ta còn cần ông bởi ông là nhân chứng duy nhất của ta chống lại lão. Nhưng bây giờ ta không cần đến ông nữa, vì chừng nào ông còn sống, những việc về ông và nhất là tất cả những gì ông biết về ta có thể làm hại ta. Nếu khôn ngoan ra, ông đã nên giữ mồm giữ miệng, sống lặng lẽ và bằng lòng với những gì mình có, vì thực sự ông chẳng thiếu gì, nhưng thay vào đó ông lại nhổ rác rưởi từ miệng mình lên đầu ta và ta không còn chịu đựng lâu hơn được nữa.
Ông ta trở nên tức giận và bắt đầu dùng roi vàng quất vào đôi chân đã gầy đi của mình rồi cau mày nói tiếp:
- Quả thật ngươi giống như bọ chét giữa các ngón chân ta, ruồi trâu trên vai ta, và ta không chấp nhận trong vườn mình những bụi cây không ra hoa kết trái mà chỉ mọc ra những chiếc gai độc. Mùa xuân lại đến trên đất Kemet và én bắt đầu vùi mình vào bùn cả mùa hè khi nước rút, bồ câu đang gù gù kêu và những cây keo đang nở hoa. Đây là khoảng thời gian tồi tệ, vì mùa xuân luôn đem đến sự khắc khoải bồn chồn và những lời nói vô bổ; những thằng nhãi ranh cuồng nhiệt chỉ thấy hờn căm trong mắt và nhặt đá dưới đất lên ném vào lính canh và ảnh tượng của ta trong đền đã bị phân bò làm nhem nhuốc. Vì thế, ta phải đuổi ngươi ra khỏi Ai Cập, Sinuhe, để ngươi không bao giờ nhìn thấy xứ Kemet nữa, vì nếu ta để ngươi ở lại đây, sẽ có ngày ta phải cho giết ngươi, mà ta không muốn làm điều đó, bởi vì ngươi từng là bạn ta. Vì những lời điên rồ của ngươi có thể như đốm lửa nhỏ đốt cháy đám sậy khô và một khi sậy bắt lửa sẽ rực cháy thành tro. Những lời nói xấu xa, độc địa đôi khi còn nguy hiểm hơn những ngọn giáo và ta tẩy rửa chúng khỏi xứ Kemet, như người làm vườn tốt nhổ sạch cỏ dại trên các luống rau của mình, và ta hiểu người Hittite khi họ lấy giáo xiên thủng và treo lũ phù thủy dọc đường họ qua. Ta sẽ không để xứ Kemet cháy trong biển lửa một lần nữa, không vì con người cũng không vì thần linh, vì thế ta sẽ trục xuất ngươi, Sinuhe, bởi chắc chắn ngươi chưa bao giờ là người Ai Cập, mà chỉ là một quái thai kỳ dị nào đó mang dòng máu pha tạp, khiến những suy nghĩ bệnh hoạn làm tổ trong cái đầu ốm đau của ngươi.
Có lẽ ông ta đã đúng và có lẽ nỗi day dứt của trái tim tôi xuất phát từ sự hòa trộn giữa dòng máu linh thiêng của các pharaon với dòng máu loãng của xứ Mitanni hấp hối lúc hoàng hôn trong huyết quản tôi. Nhưng tôi đã phì cười trước lời nói của ông ta và vì phép lịch sự, tôi đưa tay che miệng để kìm nén tiếng cười. Bởi lẽ tôi vô cùng sợ hãi trước những lời đó, vì Thebes là thành phố của tôi, nơi tôi sinh ra, lớn lên và tôi không muốn sống ở bất kỳ nơi nào khác ngoài Thebes. Nhưng tiếng cười của tôi đã xúc phạm Horemheb ghê gớm, vì ông ta chờ tôi cúi rạp mình xuống đất trước mặt ông ta và cầu xin ông ta rủ lòng thương hại. Vậy nên ông ta vung chiếc roi của pharaon ra phía trước và hét lên:
- Được. Ta sẽ vĩnh viễn đày ngươi khỏi Ai Cập và khi ngươi chết, xác của ngươi không được mang về Ai Cập để chôn cất, mặc dù ta cho phép xác ngươi được bảo quản theo tập quán. Xác ngươi sẽ được chôn trên bờ biển phía đông, nơi từ đó người ta căng buồm đến xứ Punt và là nơi ta đày ngươi đến, vì ta không thể đày ngươi đến Syria bởi xứ đó vẫn còn là một đống than âm ỉ cháy không cần ống thổi; mà ta cũng không thể đày ngươi đến xứ Kush, bởi ngươi cho rằng màu da con người không quan trọng, người da đen và người Ai Cập đều bình đẳng, do đó ngươi có thể gieo rắc những suy nghĩ ngu xuẩn của ngươi vào đầu người da đen. Nhưng nơi bờ biển hoàn toàn hoang vắng, ngươi có thể diễn thuyết cho những ngọn sóng đỏ, diễn thuyết cho những ngọn gió đen sa mạc và từ trên những vách đá, ngươi có thể tùy thích thuyết giảng cho bầy chó hung sa mạc, quạ đen và rắn. Lính gác sẽ khoanh vùng khu vực ngươi được phép đi lại và sẽ giết ngươi nếu ngươi vượt qua ranh giới họ vạch cho ngươi. Còn những thứ khác, ngươi sẽ không thiếu, giường mềm, thức ăn dồi dào và bất cứ thứ gì thích hợp mà ngươi muốn sẽ được gửi đến cho ngươi, vì bị đày đến nơi cô quạnh đã là một hình phạt đủ khắc nghiệt cho ngươi và ta không muốn hành hạ ngươi theo bất kỳ cách nào khác nữa bởi vì ngươi từng là bạn ta, miễn là mục đích của ta được thực hiện và ta thoát khỏi những lời nói điên rồ của ngươi.
Tôi không hề sợ cô đơn, vì cả đời tôi chỉ có một mình và sinh ra tôi đã cô đơn, nhưng trái tim tôi tan chảy vì buồn khi nghĩ rằng tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại Thebes, và không bao giờ được cảm nhận lớp bùn mềm của đất Kemet dưới chân mình cũng như sẽ không bao giờ được uống nước sông Nile nữa. Vì thế, tôi nói với Horemheb:
- Tôi không có nhiều bạn vì mọi người lẩn tránh tôi bởi sự phẫn uất và cái lưỡi sắc bén của tôi, nhưng có lẽ ông cho phép tôi nói lời tạm biệt với những người bạn của mình. Tôi cũng muốn chào tạm biệt Thebes, đi dọc Đại lộ Nhân Sư một lần nữa và cảm nhận mùi nhang khói cúng thần linh trong những cây cột sặc sỡ của ngôi đền lớn và mùi cá rán vào lúc chập tối ở khu phố nghèo khi những người vợ nhóm lửa trước những túp lều đất sét và những người chồng đi làm về vai sệ xuống vì mệt mỏi.
Chắc Horemheb sẽ đồng ý với yêu cầu của tôi nếu tôi khóc trước mặt ông ta và cúi rạp mình xuống đất trước mặt ông ta, vì ông ta là người đàn ông tự phụ và lý do chính khiến ông ta phẫn uất với tôi có lẽ vì ông ta biết tôi không ca ngợi ông ta và sâu thẳm trong đáy lòng mình, tôi không coi ông ta là một pharaon đích thực. Nhưng dù tôi là một kẻ yếu đuối và có trái tim cừu, tôi không muốn nhún nhường trước mặt ông ta, vì tri thức không nên quỳ gối trước uy quyền. Bởi vậy, tôi lại đưa tay ra trước miệng để che giấu nỗi sợ hãi và lo lắng đằng sau những cái ngáp, vì tôi luôn buồn ngủ những khi sợ hãi nhất. Lúc ấy Horemheb nói:
- Ta không cho phép dềnh dàng vô ích lúc chia tay, vì ta là một quân nhân và một người đàn ông cương nghị, không thích sự ủy mị, mềm yếu. Do đó ta để ngươi ra đi dễ dàng và cho đưa ngươi đi ngay lập tức. Ta không muốn có bất kỳ cuộc bạo loạn hay chống đối nào chỉ vì ngươi, bởi ngươi được nhiều người biết đến ở Thebes, nhiều hơn ngươi có thể nghĩ. Ngươi phải rời đi trong một chiếc kiệu che kín và nếu ai đó muốn đi theo ngươi đến chốn lưu đày, ta cũng cho phép. Nhưng người đó phải ở bên ngươi suốt đời mình và phải ở lại nơi lưu đày ngay cả khi ngươi đã chết và người đó cũng sẽ phải chết ở đó. Vì những suy nghĩ nguy hiểm như bệnh dịch, dễ dàng lây lan từ người này sang người khác.
Ta không muốn nguồn lây nhiễm từ ngươi theo ai khác trở lại Ai Cập. Còn nếu ngươi ám chỉ bạn mình là tên nô lệ của một cối xay ngũ cốc có các ngón tay dính vào nhau, là gã nghệ sĩ say xỉn hay ngồi xổm bên vệ đường vẽ thần linh và một vài đứa da đen đã tụ tập trong nhà ngươi, thì ngươi không cần phải mất công đến tạm biệt họ, vì họ đã đi xa và sẽ không bao giờ trở lại nữa.
Ngay lúc đó tôi căm thù Horemheb nhưng lại càng hận mình hơn vì bàn tay tôi vẫn còn gieo rắc cái chết cho người khác dù tôi không muốn. Tôi biết chắc Horemheb đã sai giết hại hoặc đày đến các mỏ đồng ở Sinai mấy người bạn mà tôi đã tụ tập quanh mình vì họ vẫn nhớ Aton. Vì vậy tôi không nói gì với Horemheb nữa, mà cúi đầu trước mặt ông ta, hai tay đặt ngang đầu gối và toán lính gác kéo tôi ra xa ông ta. Trước khi tôi rời đi, ông ta còn hai lần mở miệng định nói điều gì đó với tôi và cũng bước sau tôi một hai bước, nhưng rồi dừng lại và quất roi vào chân mình, nói: “Lệnh Pharaon đã ban!”.
Thế là lính của ông ta nhốt tôi vào kiệu, đưa tôi ra khỏi Thebes và khênh tôi băng qua ba ngọn núi phía đông đi vào sa mạc, dọc theo con đường lát đá mà ông ta đã cho xây dựng. Họ đưa tôi đi trong hai mươi ngày tới khi chúng tôi đến bến cảng nơi các thuyền đi Punt xếp và dỡ hàng mỗi năm một lần, sau khi đã dong buồm từ Thebes xuống hạ lưu sông rồi theo kênh đào từ sông ra biển phía đông. Trong cảng có khu dân cư, vì thế toán lính giải tôi đi dọc bờ biển mất ba ngày đến một ngôi làng bị bỏ hoang nơi ngư dân từng sinh sống. Tại đây họ đo cho tôi một khoảng đất và xây cho tôi một ngôi nhà để tôi sống suốt những năm tháng còn lại của đời mình. Tại đây tôi không thiếu bất cứ thứ gì mình muốn mà tôi sống như một người giàu có trong căn nhà của mình; tôi có bút viết, giấy tốt nhất và những hộp gỗ mun, trong đó tôi cất giữ những quyển sách mình viết và đồ nghề của thầy thuốc. Nhưng đây là quyển sách cuối cùng tôi viết, sách thứ mười lăm và tôi không còn gì để kể nữa, với lại tôi cũng đã quá mệt, tay tôi rã rời và đôi mắt tôi mờ mỏi đến nỗi khó có thể phân biệt được các ký tự trên giấy cói.
Tôi nghĩ mình không đủ sức để sống nếu không viết và khi viết, tôi sống lại cuộc đời mình, mặc dù cuộc đời tôi không có nhiều điều tốt đẹp để kể. Tôi đã viết tất cả những điều này cho mình, để đủ sức tiếp tục sống và lý giải cho mình vì sao mình sống. Nhưng vì sao tôi sống, tôi thật không biết và khi viết quyển sách cuối cùng này, tôi biết về điều đó còn ít hơn khi tôi mới bắt đầu. Tuy nhiên, việc viết lách trong những năm này đã an ủi tôi rất nhiều, vì mỗi ngày đều chỉ có biển ở trước mặt tôi, tôi đã thấy biển đỏ và đã thấy biển đen, ngày thì xanh và đêm thì trắng, trong những ngày nắng rát, biển xanh sẫm hơn cả những viên đá xanh. Tôi đã quá chán nản khi nhìn biển, vì biển quá rộng và khiến con người ta khiếp sợ khi phải nhìn nó cả đời mình, đầu anh ta đau nhức khi ngắm nhìn sự vĩ đại của biển và trái tim anh ta rơi xuống đáy vực khi ngắm biển lúc chiều tà.
Suốt những năm này, tôi cũng ngắm nhìn những ngọn núi đỏ xung quanh, tôi cũng nghiên cứu những con bọ chét cát; bọ cạp và rắn quen tôi đến mức không chạy trốn tôi nữa mà lắng nghe lời tôi khi tôi nói chuyện với chúng. Nhưng tôi nghĩ rắn và bọ cạp là những người bạn xấu với con người, vì thế tôi chán ngấy chúng cũng như chán ngấy tất cả những ngọn sóng nhấp nhô của biển cả không cùng.
Nhưng tôi phải kể rằng trong năm đầu tiên tôi sống trong ngôi làng đầy xương vụn và những túp lều đổ nát này, khi các con thuyền lại dong buồm đến Punt, Muti đã theo một đoàn hành hương của Pharaon từ Thebes đến thăm tôi. Bà ấy đến bên tôi, đặt hai tay xuống ngang đầu gối trước mặt tôi, chào tôi và buồn bã khóc khi thấy tình cảnh khốn khổ của tôi, vì má tôi đã hõm xuống, bụng tôi đã tóp đi và tôi thờ ơ với tất cả, tôi chỉ nhìn chằm chằm vào biển để thời gian trôi đi cho đến khi đầu tôi đau nhức. Nhưng Muti đã tươi tỉnh lại rất nhanh và bắt đầu rầy la tôi ầm ĩ:
- Sinuhe, không phải là tôi đã cảnh báo ông cả ngàn lần là ông sẽ chui đầu vào thòng lọng vì bản tính đàn ông của mình, nhưng đàn ông điếc hơn đá và đàn ông là những thằng nhãi ranh cứ phải đập đầu cho thủng tường mặc dù tường không nhúc nhích. Thực sự ông đã đập đầu vào tường đủ rồi, ông chủ Sinuhe ạ. Đã đến lúc ông phải bình tâm lại và sống một cuộc đời thông minh cho đến khi cái của nợ nhỏ bé mà đàn ông hay ngượng ngùng giấu dưới chiếc khố của họ không còn quấy rầy ông và làm đầu ông nóng bừng bừng nữa, vì nó là nguyên nhân của tất cả những việc xấu xa xảy ra trên thế gian.
Nhưng khi tôi trách bà ấy và nói lẽ ra bà không nên rời khỏi Thebes để đến đây với tôi vì bây giờ bà không được phép trở lại Thebes nữa, mà khi đến đây bà đã trói chặt cuộc đời mình với cuộc đời tôi, một kẻ bị lưu đày, việc mà tôi hoàn toàn không cho phép nếu tôi biết được ý định của bà. Bà ấy vừa rầy la tôi rất lâu vừa giễu cợt nói:
- Việc xảy ra hoàn toàn ngược lại với mong muốn của ông như thế này lại là điều tốt nhất từng xảy ra trong đời ông.
Tôi tin rằng Pharaon Horemheb là người bạn thực sự của ông khi ngài cho ông đến một nơi yên bình thế này vào những ngày tuổi già của ông. Cả tôi cũng đã thấy mệt mỏi với sự ồn ào của Thebes, với những người hàng xóm chuyên cãi vã xích mích, những người mượn nồi chảo không chịu trả và hất rác của họ vào sân nhà tôi. Nghĩ lại, tôi thấy ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng từ sau vụ cháy không còn như trước nữa, cái bếp lò làm cháy món rán của tôi, dầu ôi thiu trong các hũ của tôi, sàn nhà lùa gió vào chân tay tôi và các ô cửa sổ không ngừng cọt kẹt. Trái lại, ở đây chúng ta có thể bắt đầu lại từ đầu và làm mọi thứ theo ý muốn của mình; tôi đã tìm thấy một chỗ rất tốt có thể làm vườn rau, trồng các loại gia vị và cải xoong, thứ mà ông rất thích, ông chủ của tôi ạ. Thật thế, tôi sẽ bắt những thằng lười này vào việc ngay, chúng được Pharaon cử đến để bảo vệ ông khỏi bọn cướp và những kẻ bất lương. Tôi sẽ bắt chúng hằng ngày săn thịt tươi cho ông, bắt chúng đánh cá ngoài biển, mò trai hến và tôm cua ven bờ, mặc dù tôi cũng nghĩ cá biển và trai hến không ngon như cá dưới sông. Tôi cũng dự định lúc nào đó sẽ chọn nơi thích hợp đặt mộ cho mình, nếu ông cho phép, thưa ông chủ, bởi vì một khi đã đến được đây, chắc chắn tôi sẽ không rời đây đi đâu nữa. Tôi đã vô cùng mệt mỏi khi phải lang thang hết nơi này đến nơi khác để tìm ông và những chuyến đi khiến tôi khiếp sợ, vì tôi chưa bao giờ bước chân ra khỏi Thebes.
Cứ như thế, Muti an ủi tôi và làm tôi vui hơn bằng những lời rầy la của bà ấy và tôi nghĩ chỉ nhờ có bà, tôi mới quay lại với cuộc sống và bắt đầu viết, bởi vì sẽ thật có lỗi với bà ấy nếu tôi chết và để bà sống một mình trong những ngày tuổi già ở nơi lưu đày của tôi. Muti khuyến khích tôi viết, vậy nên tôi đã làm việc siêng năng với cây viết của mình, dù bà không biết đọc và tôi biết thật ra trong thâm tâm, bà coi việc viết lách của tôi là trò chơi vô vị. Nhưng bà muốn tôi có việc làm để cuộc sống của tôi có mục đích ở nơi đày ải, bà lo sao cho tôi không viết vào tối muộn và làm hỏng mắt của mình mà chỉ viết vừa phải và thỉnh thoảng nghỉ ngơi, thưởng thức tất cả đồ ăn ngon bà nấu cho tôi. Như lời bà nói lúc đầu, bà đã bắt lính canh của Pharaon làm việc, khiến cuộc sống của họ khổ sở đến mức họ không ngớt nguyền rủa bà khi không có mặt bà, gọi bà là phù thủy, là kẻ ăn thịt người. Nhưng họ không dám chống lại bà, vì nếu cãi lại bà, họ sẽ bị bà quát mắng với những lời lẽ thô tục nhất, miệng lưỡi bà sắc nhọn hơn cả thanh gai người ta hay dùng chọc bò để chúng gồng mình kéo xe, bà sẽ kể cho họ nghe về cái của nợ nhỏ bé mà họ giấu kín trong chiếc khố của mình, những câu chuyện khiến họ phải xấu hổ cúi gằm mặt nhìn xuống đất và ngón chân cào cào bới bùn.
Tôi cũng nghĩ Muti có tác động khá tốt đối với họ, vì bà buộc họ đi lại liên tục khiến họ không còn thời gian để chán chường khi phải canh giữ tôi, không còn thời gian để nguyền rủa tôi, lập kế hoạch giết tôi để vứt bỏ cái của nợ là tôi và trở lại Thebes, trái lại rất vui sướng vào những lúc được nghỉ ngơi. Muti thưởng cho họ những chiếc bánh ngon bà nướng, ủ cho họ những vò to đầy bia mạnh và cho họ được ăn những loại rau tươi ngon từ vườn của bà. Muti còn dạy họ cách nấu các món ăn khác nhau để khỏi bị ốm vì họ chỉ được nhận những khẩu phần ăn đơn điệu khi làm phận sự của mình. Hằng năm khi các thuyền buôn dong buồm đến Punt, Kaptah gửi từ Thebes đến cho chúng tôi rất nhiều thứ theo chỉ dẫn của bà ấy và ông ấy cũng bảo thư lại của mình viết thư kể cho tôi biết chuyện ở Thebes để tôi không sống như một kẻ bị nhốt kín trong hầm. Với tất cả những việc này, lính canh được hưởng rất nhiều từ việc canh gác tôi, học được những điều hữu ích từ Muti và trở nên tương đối khá giả với những món quà của tôi nên không còn liên tục mong muốn được trở về Thebes.
Nhưng sau khi đã kể xong tất cả những điều này, tôi thấm mệt và mắt tôi cũng mỏi. Những con mèo của Muti nhảy vào lòng tôi và lấy đầu cọ cọ vào bàn tay đang cầm cây viết của tôi khiến tôi không thể viết được nữa. Trái tim tôi mệt mỏi vì tất cả những gì tôi đã kể, chân tay tôi cũng rã rời và tôi chỉ muốn được nghỉ ngơi mãi mãi. Có lẽ tôi không hạnh phúc nhưng tôi cũng không quá bất hạnh với nỗi cô đơn của mình, vì càng cô đơn và càng xa con người, tôi càng thấy rõ con người hơn, hiểu việc làm của họ hơn và thấy tất cả những việc con người làm trong cuộc đời mình đều là phù phiếm.
Nhưng tôi cầu mong phước lành cho giấy và bút của mình, vì chúng đã cho tôi cảm giác mình lại là một đứa bé trai trôi dọc sông Nile trên chiếc thuyền sậy nhuốm đen bồ hóng, chưa cảm thấy nỗi buồn của cuộc sống và nỗi đau của tri thức. Tôi lại là cậu bé trong ngôi nhà của bố tôi, Senmut, và những giọt nước mắt của Meti, người làm cá, rơi xuống tay tôi nóng hổi. Tôi đã cùng Minea lưu lạc trên những con đường của Babylon và đôi cánh tay xinh đẹp của Merit đã ôm cổ tôi. Tôi đã khóc cùng những người chịu nhiều đau khổ và tôi đã phân phát đại mạch của mình cho người nghèo. Tôi muốn nhớ tất cả những điều này, chứ không muốn nhớ những việc làm xấu xa của mình và cũng không muốn nhớ lại nỗi buồn vì những mất mát của mình.
Tất cả những điều này do tôi, Sinuhe, Người Ai Cập, viết ra cho riêng tôi. Không phải cho thần linh, cũng không cho người khác, cũng không nhằm lưu danh mình muôn thuở, mà chỉ cho chính bản thân nghèo khổ, buồn đau và cho trái tim tôi, trái tim đã phải nhận quá đủ phần của nó. Vì tôi không thể hy vọng tên mình sẽ được lưu lại trong các sách, bởi tôi biết rõ các lính canh sẽ xóa sạch tất cả những gì tôi viết, một khi tôi chết. Họ sẽ tiêu hủy các bản văn của tôi cũng như phá sập các bức tường nhà tôi theo lệnh của Horemheb và tôi không biết mình có nên tiếc điều đó không, vì sau tất cả những gì tôi đã trải qua, tôi không muốn tên mình được lưu danh muôn thuở.
Tuy nhiên, tôi giữ gìn cẩn thận mười lăm quyển sách này và Muti đã đan một bìa bằng sợi cọ bền chắc cho mỗi quyển; tôi cất các quyển sách được bọc bìa cọ này vào một chiếc hộp bằng bạc, rồi tôi bỏ chiếc hộp bạc này vào một hộp gỗ cứng và tôi khóa chiếc hộp gỗ này, cất vào một cái tủ bằng đồng như những quyển sách của thần Thoth từng được đóng vào một chiếc hộp và ném xuống đáy sông. Nhưng liệu Muti có giấu được đám lính canh những quyển sách của tôi và cất chúng vào mộ tôi hay không, tôi không biết và tôi cũng không quan tâm điều đó.
Vì tôi, Sinuhe, là một con người; là một con người, tôi sống trong mỗi người từng sống trước tôi và tôi sống trong mỗi người sinh ra sau tôi. Tôi sống trong tiếng khóc và niềm vui của con người, trong nỗi buồn và nỗi sợ của con người, trong thiện và ác, công lý và bất công, yếu mềm và mạnh mẽ. Tôi sẽ sống mãi mãi như một con người trong từng người, vì vậy tôi không muốn đồ cúng tế nơi mộ mình và sự bất tử cho tên mình. Điều này được Sinuhe, Người Ai Cập, người đã sống cô đơn trong suốt cuộc đời mình, viết ra.