Người Ai Cập, Quyền lực và Tình yêu

Lượt đọc: 614 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sách thứ mười bốn
Cuộc chiến thần thánh
att

❖ 1 ❖

Để chiêu mộ binh lính và quân lương cho cuộc thánh chiến, Horemheb đã hiệu triệu tất cả những người giàu của Ai Cập đến bản doanh của mình ở Memphis và nói với họ:

- Tất cả các ngươi đều giàu có, còn ta chỉ là mục đồng sinh ra với kẽ chân đầy phân. Nhưng Amon đã ban phước cho ta và Pharaon đã trao cho ta sứ mệnh chỉ huy cuộc chiến; kẻ thù đang đe dọa đất nước ta lại vô cùng tàn bạo và đáng sợ, như các ngươi đã biết quá rõ. Ta rất vui khi biết tất cả các ngươi đã đồng lòng rằng chiến tranh đòi hỏi sự hy sinh của mọi người, vì thế các ngươi đã giảm bớt lượng ngũ cốc dành cho nô lệ của mình và cho các nông phu, tăng giá tất cả các mặt hàng trên khắp Ai Cập. Từ những việc làm và lời nói của các ngươi, ta hiểu rằng các ngươi cũng đã sẵn sàng cho những hy sinh lớn lao vì bổn phận mà vị thế của các ngươi đòi hỏi. Điều này là thật tốt và khiến ta rất vui, bởi để có chi phí cho cuộc chiến, chiêu mộ binh lính, sản xuất chiến xa và nhiều việc khác thuộc về chiến tranh mà các ngươi không hiểu, ta quyết định vay một phần tài sản của các ngươi và vì điều này đã sai thu thập dữ liệu về các ngươi qua sổ sách sưu thuế, nhưng vẫn không hài lòng về việc này nên ta đã cho tìm hiểu thêm những việc khác về các ngươi, vậy nên ta biết được tất cả tài sản mà các ngươi đã giấu thuế vụ trong thời kỳ Pharaon giả. Nhưng giờ đây, Pharaon thật cai trị dưới danh nghĩa Amon, các ngươi không cần phải giấu giếm tài sản của mình mà có thể công khai và tự hào đóng góp cho cuộc chiến. Vì vậy, mỗi người phải ngay lập tức cho ta vay một nửa tài sản của mình, không quan trọng tài sản đó bằng vàng bạc, ngũ cốc hay lừa ngựa và cỗ xe, mà miễn là các ngươi phải thật nhanh.

Nghe điều này, đám người giàu kêu than ầm ĩ và dứt áo xống nói:

- Pharaon giả đã làm chúng tôi khánh kiệt và giờ chúng tôi là những người nghèo khổ, số liệu mà ngài thu thập được về chúng tôi là sai lệch. Nhưng ngài lấy gì đảm bảo nếu chúng tôi cho ngài vay một nửa tài sản của mình; ngài sẽ trả cho chúng tôi với lãi suất bao nhiêu?

Horemheb thân thiện nhìn họ và nói:

- Lời đảm bảo của ta là chiến thắng mà ta mong muốn sẽ giành được càng sớm càng tốt với sự giúp đỡ của các ngươi, những người bạn quý mến. Nếu ta không chiến thắng, quân Hittite sẽ đến và lấy đi của các ngươi tất cả, vì thế ta nghĩ sự đảm bảo này là hoàn toàn xứng đáng. Về lãi suất, ta muốn thỏa thuận riêng với từng người và hy vọng rằng thỏa thuận đó sẽ làm hài lòng các ngươi. Nhưng các ngươi đã kêu van quá sớm, bởi ta vẫn chưa nói xong. Ta yêu cầu các ngươi cho ta vay một nửa tài sản của mình ngay lập tức, chỉ cho vay thôi, những người tốt bụng ạ. Sau bốn tuần trăng, các ngươi phải cho ta vay một nửa những gì còn lại, và sau một năm, cho vay tiếp một nửa số còn lại mà theo cách này các ngươi vẫn còn tài sản của mình. Chính các ngươi sẽ tính được mình còn lại bao nhiêu là tốt nhất, nhưng ta tin chắc các ngươi vẫn còn đủ để múc đầy bát cháo cho đến cuối đời mình, vì vậy ta hoàn toàn không cướp của các ngươi.

Lúc đó, những người giàu vừa lăn lộn trước mặt anh ta vừa kêu ca và gào khóc rất thảm thiết; họ đập trán xuống sàn đến tóe máu và gào lên rằng thà họ đầu hàng quân Hittite còn hơn. Horemheb giả vờ kinh ngạc và nói:

- Nếu vậy, ta sẽ làm theo ý muốn của các ngươi, song ta nghĩ rằng binh lính của ta, những người xả thân trong cuộc chiến, sẽ đau khổ ghê gớm khi biết các ngươi không muốn mất gì cho chiến tranh. Thật tình mà nói, ta đang nghĩ có khi binh lính của ta đang cầm thừng trên tay, đứng đợi trước cửa nhà tất cả các ngươi để trói các ngươi, đưa lên thuyền chở đi và nộp cho quân Hittite, như các ngươi muốn. Điều này khiến ta vô cùng thất vọng và không hiểu được các ngươi vui sướng gì với tài sản còn lại của mình, khi chính các ngươi, mắt bị đâm thủng, lưng còng vì quay cối xay đá của người Hittite. Nhưng chính các ngươi muốn thế nên tốt nhất là ta sẽ bảo cho binh lính biết ý định của các ngươi.

Nghe đến đây, những người giàu kinh hoàng hét lên, sụp xuống ôm đầu gối anh ta và vừa đồng ý với tất cả những gì anh ta yêu cầu vừa nguyền rủa anh ta thậm tệ. Nhưng anh ta an ủi họ:

- Ta gọi các ngươi đến đây vì ta biết các ngươi yêu quý Ai Cập và sẵn sàng hiến dâng thật nhiều cho Ai Cập. Các ngươi cũng là những người giàu nhất Ai Cập và mỗi người tự làm giàu theo nỗ lực của mình. Vì thế, ta tin chắc các ngươi sẽ sớm giàu có trở lại, bởi vì người giàu sẽ ngày càng giàu hơn, mặc dù đôi lúc cũng nên bị ép để phần thừa mứa ứa ra ngoài. Hỡi các quý ông thân mến, các ngươi là vườn cây quý giá mà ta vô cùng yêu quý, dù ta có ép các ngươi như ép lựu khiến nước hạt trào ra qua kẽ tay, nhưng là người làm vườn giỏi, ta không muốn làm hỏng những cây đang cho trái ngọt, mà chỉ vừa lòng với việc đôi lúc thu hoạch quả. Các ngươi cũng cần nhớ rằng ta sẽ đem đến cho các ngươi một cuộc chiến vĩ đại, lớn hơn những gì các ngươi mơ ước. Trong chiến tranh, ai đã giàu sẽ giàu hơn và sẽ càng giàu hơn nữa nếu càng trụ lại được lâu trong cuộc chiến, không bất cứ thế lực nào trên thế giới, kể cả thuế vụ của pharaon, có thể ngăn cản được việc này. Vì vậy, các ngươi phải cảm ơn ta mới phải và ta sẽ ban phước lành trọn vẹn của ta cho các ngươi khi để các ngươi trở về nhà. Hãy yên tâm về và chăm cho mình béo tốt trở lại như ký sinh trùng bụng đầy trứng vì điều đó không ai ngăn cấm được. Ta không ngăn cấm việc các ngươi thỉnh thoảng gửi thêm quà cho ta, bởi vì các ngươi phải nhớ rằng ta sẽ chinh phục lại Syria. Các ngươi biết rất rõ ý nghĩa của vùng đất đó đối với Ai Cập và nhất là với các ngươi, nếu ta nhớ đến các ngươi với đầy thiện ý khi chinh phục xong Syria. Vậy cứ kêu khóc đi nếu các ngươi muốn và nếu làm như thế khiến các ngươi dễ chịu hơn; ta sẵn lòng nghe tiếng khóc của các ngươi, bởi nó như tiếng vàng leng keng bên tai ta.

Bằng cách đó, anh ta đã xua đám người giàu khỏi bản doanh. Họ vừa than khóc bỏ đi vừa bứt xé quần áo, nhưng khi vừa bước ra cửa, họ ngừng khóc rồi bắt đầu háo hức tính xem mình sẽ bị thiệt hại bao nhiêu và lên kế hoạch làm cách nào thu lại được. Còn Horemheb nói với tôi:

- Tôi đã cho họ món quà là cuộc chiến và từ lúc này, họ có thể đổ tội cho quân Hittite về tất cả những điều tệ hại sẽ xảy ra khi họ cướp bóc người dân, cũng như Pharaon có thể đổ tội cho quân Hittite về nạn đói và sự khốn khổ sẽ theo chiến tranh tràn đến xứ Kemet. Vì cuối cùng, dĩ nhiên, người dân sẽ phải gánh chịu tất cả; kẻ giàu sẽ cướp lại của người dân gấp nhiều lần những gì họ cho tôi vay, sau đó tôi sẽ ép họ để mỡ phải chảy ra. Với tôi, việc này thích hợp hơn việc thu thuế chiến tranh, vì nếu tôi thu thuế chiến tranh từ người dân, họ sẽ nguyền rủa tôi, nhưng khi tôi lấy từ kẻ giàu cho cuộc chiến, người dân sẽ cầu nguyện cho tôi và cho là tôi công tâm. Bởi tôi phải thật cẩn trọng bảo vệ danh tiếng của mình cho vị thế cao quý mình sắp bước lên.

Lúc này, cả đồng bằng ngập trong biển lửa; các toán tuần tra Hittite đã đốt cháy làng mạc và để cho ngựa của chúng ăn lúa mạch đang lên xanh. Từng đoàn, từng đoàn tị nạn chạy đến Memphis và kể những câu chuyện khủng khiếp về sự tàn phá điên cuồng của quân Hittite, khiến nỗi sợ hãi bóp nghẹt tim tôi, chân tay tôi bủn rủn và tôi giục Horemheb phải khẩn trương lên. Nhưng anh ta bình thản mỉm cười và nói:

- Phải hoàn toàn án binh bất động, mặc dù trong nỗi nôn nóng của mình, anh chê trách tôi làm như thế. Sự nguy hiểm đe dọa Ai Cập không lớn lắm cho đến khi bộ binh Hittite vượt qua được sa mạc tiến vào xứ đất đen. Nghệ thuật chiến tranh của chúng chủ yếu dựa vào sức mạnh của chiến xa, nhưng ở xứ đất đen, hệ thống mương máng sẽ cản trở chiến xa di chuyển và chúng sẽ mất thời gian chuyển binh từ nơi này sang nơi khác, tàn phá những làng mạc thứ yếu và xéo nát các cánh đồng. Trong nước càng khan hiếm ngũ cốc, càng nhiều đàn ông Ai Cập vui vẻ đến dưới đuôi sư tử của tôi, nơi mà ai cũng biết sẽ có lương ăn và cả bia uống.

Quả thật, người đói khát, người mất nhà cửa và gia đình vì Aton không còn nghĩ đến mạng sống của mình, người thèm muốn chiến lợi phẩm và thích phiêu lưu, tất cả từ khắp Ai Cập đổ về Memphis. Horemheb phớt lờ các giáo sĩ, tha tội cho tất cả những ai đã từng đóng góp vào việc xây dựng vương quốc Aton và thả tù nhân từ các mỏ đá để họ sung vào lính. Thế là Memphis nhanh chóng giống như một doanh trại rộng lớn và cuộc sống trở nên bất yên, người ta ẩu đả và đánh nhau bị thương hằng đêm trong các nhà vui và tửu quán, còn dân lành chỉ ở trong nhà, sống trong hoảng loạn và sợ hãi. Nhưng từ các binh xưởng vang lên tiếng búa chát chúa của thợ rèn rèn tên, giáo và nỗi sợ hãi, căm thù quân Hittite lan rộng đến mức ngay cả những người đàn bà nghèo cũng hiến tặng đồ trang sức bằng đồng của họ.

Thuyền từ các hải đảo và từ Crete vẫn cập bến Ai Cập và vì chiến tranh, Horemheb trưng dụng tất cả thuyền bè, thuê các thủy thủ và thuyền trưởng về phục vụ mình. Anh ta cũng bắt giữ các thuyền chiến của Crete và thuyết dụ thủy thủ các thuyền này phục vụ Ai Cập, vì các thuyền chiến này căng buồm chạy dọc biển từ cảng này sang cảng khác mà không muốn quay trở lại Crete vì không biết chuyện gì đang xảy ra ở đó. Họ nghe nói một cuộc nổi dậy của nô lệ đã nổ ra ở Crete và thành phố cao nguyên của giới quyền quý này đã cháy như những ngọn đuốc sáng rực đến tận ngoài khơi trong nhiều tuần liền. Nhưng không ai biết rõ chuyện gì đã thật sự xảy ra ở Crete và các thủy thủ Crete vẫn quen nói dối, khiến không ai tin lời họ. Có người quả quyết quân Hittite đã tấn công Crete, nhưng sao điều đó có thể xảy ra được, vì người Hittite không phải là dân biển, tôi thật sự không hiểu nổi. Số khác lại kể rằng những toán dân da trắng bí ẩn đã dong thuyền từ phía bắc xuống tiêu diệt và cướp bóc Crete, đánh bại thủy quân Crete khi hầu hết thuyền chiến đang canh giữ đường biển gần Syria. Nhưng người Crete lại khăng khăng rằng tai họa xảy ra vì thần Crete đã chết. Vì vậy, họ vui lòng làm thuê cho Ai Cập, trong khi các thuyền của Crete đến Syria đã được Aziru và người Hittite thuê lại.

Dù thế nào, những việc này đều rất có lợi cho Horemheb, vì cả vùng biển đã hoàn toàn hỗn loạn, tất cả đánh giết nhau để giành giật thuyền. Một cuộc nổi dậy chống lại Aziru cũng đã nổ ra ở Tyros và những người sống sót lên thuyền đến Ai Cập để trốn, đầu hàng và gia nhập quân đội của Horemheb. Bằng cách này, Horemheb chiêu mộ được các đội thuyền, trang bị thành thuyền chiến với đội thủy thủ giàu kinh nghiệm, nhưng tất cả những việc này tốn kém bao nhiêu tôi không định tính làm gì, vì việc đóng và trang bị thuyền chiến ngày càng đắt đỏ hơn, khiến chiến tranh trên biển tiêu tốn nhiều vàng hơn bất cứ cuộc chiến nào trên đất liền.

Khi những điều này xảy ra, Gaza vẫn còn cố thủ vững vàng ở Syria và Horemheb cùng quân đội của mình rời Memphis sau vụ mùa khi lũ bắt đầu đổ về. Anh ta gửi tin vượt vòng vây đến Gaza bằng đường bộ và đường biển. Chiếc thuyền chở đầy ngũ cốc cập cảng Gaza trong đêm đem theo lệnh của Horemheb: “Hãy giữ lấy Gaza! Hãy giữ vững Gaza bằng mọi giá!”. Khi những kẻ phá tường rầm rầm đập cổng Gaza và mái các tòa nhà trong thành phố phừng phừng bốc cháy mà không ai kịp dập, những mũi tên lao vút vào trong thành mang theo lời nhắn: “Horemheb ra lệnh: Hãy giữ lấy Gaza!”. Và khi quân Hittite ném những hũ nút kín đựng đầy rắn độc vào phía trong các bức tường thành, chúng vỡ ra và trong đó chỉ có đầy đại mạch và lệnh của Horemheb: “Hãy giữ lấy Gaza!”. Tôi không thể hiểu làm cách nào mà Gaza có thể cầm cự nổi trong vòng vây của liên quân Hittite và Aziru, nhưng viên trấn thủ thành cau có, kẻ từng nhìn thấy tôi được kéo lên tường thành trong cái giỏ, chắc chắn rất xứng đáng với danh tiếng mà anh ta nhận được khi giữ vững Gaza cho Ai Cập.

Khi nước sông bắt đầu dâng cao, Horemheb rời Memphis, gấp rút tiến về hướng Tanis và dồn toàn lực đoàn chiến xa tấn công quân Hittite tại chỗ ngoặt của sông, nơi quân Hittite chăn thả ngựa vì nghĩ dòng sông sẽ bảo vệ chúng khỏi bị tấn công bất ngờ từ ba phía. Nhưng tận dụng màn đêm, quân Horemheb đã đào sâu thêm những con mương khô cạn suốt mùa hè và không ai dọn dẹp, để nước sông tràn vào đầy ắp. Sáng ra, quân Hittite mới biết mình đã bị bao vây trên một hòn đảo, bốn bề là nước, khiến những cỗ chiến xa của chúng trở nên vô dụng. Chúng bắt đầu đập phá chiến xa và giết ngựa; thấy thế, Horemheb vô cùng tức giận vì anh ta đã làm tất cả cốt để giành được những chiến xa nguyên vẹn và đàn ngựa khỏe mạnh về tay mình. Vì vậy, anh ta cho thổi tù và, hạ lệnh tấn công quân Hittite, và các đội quân Ai Cập dù chưa qua huấn luyện đã dễ dàng đánh bại quân Hittite khi chúng rời các cỗ chiến xa xuống chiến đấu trên mặt đất. Bằng cách này, Horemheb đã thu được một trăm cỗ chiến xa với ba trăm con ngựa; anh ta vội vàng cho sơn lên các cỗ xe cờ hiệu Ai Cập, đóng ấn chiến mã Ai Cập lên những con ngựa vừa thu được. Nhưng ý nghĩa của chiến thắng to lớn hơn nhiều so với chiến lợi phẩm vì sau trận này, người Ai Cập không còn tin rằng quân Hittite là bất khả chiến bại.

Sau trận chiến, Horemheb thu gom tất cả chiến xa và chiến mã rồi dẫn đầu đoàn quân tiến thẳng đến Tanis, để lại bộ binh chậm chạp và đội xe tải lương phía sau. Mặt bừng bừng nhiệt huyết, anh ta nói với tôi:

- Một khi anh định đánh thì hãy đánh trước và đánh thật mạnh.

Vì vậy, anh ta phóng đến Tanis cùng các cỗ chiến xa, để mặc vùng hạ lưu cho quân Hittite cướp phá, rồi từ Tanis, anh ta tiếp tục tiến thẳng vào sa mạc, đánh bại các đội quân Hittite bảo vệ kho dự trữ nước và lần lượt chiếm hết các kho nước trong sa mạc. Quân Hittite đã chuẩn bị hàng ngàn, hàng trăm ngàn chum nước trong sa mạc cho bộ binh của chúng, vì chúng không phải là dân biển và cũng không dám mạo hiểm đổ bộ bằng đường biển vào Ai Cập. Không xót thương ngựa chiến, Horemheb cùng các đội quân của mình phóng về phía trước. Rất nhiều ngựa chết trong cuộc tiến quân thần tốc này, nhưng những người chứng kiến cuộc tiến quân kể lại rằng hàng trăm chiến xa lao nhanh trong sa mạc khiến cát sa mạc tạo thành một cột bụi vươn tận trời cao và anh ta bay về phía trước không khác gì một cơn lốc. Đêm đêm, thêm nhiều đống lửa hiệu được đốt sáng trên các sườn núi kéo dài tận Sinai, để quân ô hợp từ nơi ẩn nấp xông ra tấn công và tiêu diệt đội lính gác Hittite và các kho chứa ở khắp nơi trong sa mạc. Từ đó lan truyền một huyền thoại rằng Horemheb trong hình dáng một cột bão lốc vào ban ngày và cột lửa vào ban đêm vượt qua sa mạc Sinai tấn công Syria. Sau chuyến chinh phạt này, danh tiếng của anh ta ngày càng tăng, đến mức người ta bắt đầu kể về anh ta như kể truyền thuyết về các vị thần và không chỉ dân Ai Cập mà cả người Syria cũng kể những giai thoại về anh ta và có lẽ họ có đủ lý do để làm như thế.

Horemheb lần lượt đánh chiếm các kho nước ở Sinai khiến quân Hittite hết sức bất ngờ; chúng không tưởng tượng nổi rằng anh ta dám tấn công vào sa mạc trong khi quân tiên phong của chúng đang cướp phá ở hạ lưu và biết quá rõ điểm yếu của Ai Cập. Các đội chiến binh của chúng cũng không tập trung một chỗ, mà buộc phải phân tán vào các thị trấn và làng mạc của Syria chờ Gaza thất thủ, vì vùng quanh Gaza và rìa sa mạc không thể nuôi nổi một đội quân quá lớn mà quân Hittite đã dồn về Syria để buộc Ai Cập quy phục. Người Hittite rất cẩn trọng trong cuộc chiến, chỉ tấn công khi biết chắc ưu thế đang thuộc về mình và các chỉ huy đã đánh dấu trên đĩa đất sét mọi bãi chăn thả, nguồn nước và làng mạc trong khu vực chúng định tấn công. Vì sự đề phòng này, chúng đã trì hoãn tấn công nên cuộc đột kích của Horemheb đã làm chúng bất ngờ, vì trước đó chưa ai dám tấn công chúng trước và vì chúng nghĩ Ai Cập không có đủ chiến xa để thực hiện một cuộc tấn công lớn như vậy. Quân Hittite vô cùng bối rối khi các chiến xa của Horemheb xuất hiện bên rìa sa mạc ở Syria và mất nhiều thời gian để do thám và tìm hiểu về số lượng chiến xa cũng như mục đích của cuộc đột kích.

Nhưng không ai ngoài Horemheb biết mục đích của cuộc đột kích, mà ngay cả anh ta cũng không biết một cách tường tận, vì sau này anh ta mới kể với tôi rằng ý định của anh ta cũng chỉ là phá hủy các kho nước của quân Hittite trên sa mạc nhằm cản phá cuộc tấn công của chúng và trì hoãn nó thêm một năm nữa để trong thời gian đó có thể yên tâm cho quân đội luyện tập và chuẩn bị cho một cuộc chiến lớn. Nhưng chiến thắng ngoài dự định đã khiến anh ta choáng váng và lính điều khiển chiến xa của anh ta hoa mắt vì chiến thắng quá dễ dàng. Do đó, anh ta đánh chiến xa lao thẳng đến Gaza như cơn gió lốc, tấn công quân bao vây từ phía sau, xé lẻ chúng, phá hủy các cỗ máy phá tường và đốt cháy doanh trại của chúng. Nhưng Horemheb không thể vào được thành Gaza vì khi nhận ra lượng chiến xa ít ỏi của đối phương, quân bao vây phản công lại, và viên trấn thủ cau có và cứng đầu của pháo đài Gaza lại không chịu mở cổng thành ngay cả cho Horemheb khi sự hỗn loạn diễn ra khắp nơi.

Cứ đà này, Horemheb sẽ bị tổn thất nặng nề nếu quân bao vây có chiến xa tấn công, nhưng các chiến xa này đã được chia ra thành từng đội nhỏ dọc Syria, vì việc bao vây Gaza không cần đến chúng, đồng thời quân Hittite và Aziru muốn cho ngựa nghỉ ngơi, ăn no dưỡng sức trước cuộc tấn công lớn vào Ai Cập. Nhờ vậy, Horemheb quay lại sa mạc và kịp phá hủy các kho nước bên rìa sa mạc ở Syria trước khi quân Hittite điên cuồng tập trung đủ chiến xa để phản công. Vì thận trọng, chúng không muốn đặt các đội chiến xa quý giá của mình vào vòng nguy hiểm, mà muốn nắm chắc phần thắng nên đã trì hoãn để tập hợp đủ chiến xa đánh lại Horemheb, vì chỉ một đội một trăm chiến xa cũng đủ sức đánh tan đoàn chiến xa đã quá kiệt sức và mệt lả vì chặng hành quân dài của Horemheb. Từ sự thật này suy ra, Horemheb đã đoán rất đúng là mình đang có chim ưng bên cạnh và nhớ lại bụi cây cháy ở vùng núi Sinai nên anh ta đã truyền lệnh tới lính giáo và lính cung, đốc thúc các đội quân tiến nhanh vào sa mạc dọc theo con đường do quân Hittite làm với hàng ngàn, hàng trăm chum nước để sẵn hai bên đường đủ cung cấp cho một đoàn bộ binh lớn. Thế là anh ta quyết định tiếp tục cuộc chiến trong sa mạc, dù sa mạc thích hợp hơn với các chiến xa và sức mạnh của Hittite chủ yếu dựa vào các cỗ chiến xa của chúng. Nhưng tôi nghĩ anh ta không còn cách nào khác, vì sau khi đã tránh được để không đụng đầu với quân Hittite đang điên cuồng trở lại sa mạc, anh ta cũng như lính chiến xa và ngựa đã quá mệt mỏi và có thể không sống sót nổi để trở về miền Hạ. Mà Horemheb lại không muốn bỏ mặc những người lính dũng cảm của mình chết đói trong sa mạc nên quyết định ở lại với họ và kêu gọi toàn quân tiến vào sa mạc, một điều chưa từng xảy ra trước đây, vì các pharaon vĩ đại khi lâm chiến ở đất Naharani luôn cho thuyền chở quân tới các thành phố Syria vào mùa thu, rồi từ đó tiếp tục tiến theo đường bộ. Nhưng khi ấy Syria thuộc quyền cai trị của Ai Cập, còn dưới quyền của Horemheb chỉ có Gaza và anh ta không có ưu thế trên biển.

Tất cả những gì tôi kể trên đây về cuộc tấn công quân Hittite đầu tiên của Horemheb, tôi nghe lại từ anh ta và người của anh ta cùng với những huyền thoại sau này người ta lan truyền, chứ bản thân tôi không đi cùng anh ta vì nếu đi cùng, chắc chắn tôi không còn sống để kể lại. Chỉ những người lính mạnh mẽ và ngoan cường nhất mới có thể đi cùng anh ta. Anh ta để tôi lại ở miền Hạ và đi theo bộ binh, với lý do là hoàn cảnh trong lúc tấn công không cho phép chữa trị hoặc băng bó vết thương, mà ai bị rơi khỏi chiến xa hay bị thương ở đâu sẽ nằm lại ở đó và được chọn dùng dao tự cắt cổ mình hay phó mặc cho lòng thương hại của quân Hittite. Anh ta nghĩ những người bị thương có quá đủ điều để nghĩ khi nằm trên đất trong vũng máu của chính mình, do đó họ sẽ không kịp có thời gian và cũng không thấy vết thương đau đớn, hoặc cũng chẳng thiết băng bó hay bôi thuốc mỡ vào vết thương. Đúng như người ta kể lại, hầu hết những người rơi khỏi chiến xa đều chọn dùng dao, song một số ít vẫn rơi vào tay quân Hittite và bị chúng lột da làm ví và túi thêu trong lúc ngưng chiến, vì người Hittite rất thành thạo những nghề thủ công như vậy.

Nhưng những điều này thật đến mức nào, tôi không thể nói, vì Horemheb vốn rất thích khoe khoang và lính chiến xa của anh ta còn phét lác hơn nhiều. Ý tôi muốn nói là chỉ một số ít người còn sống sau cuộc chiến và không phải mọi điều họ kể lại đều đáng tin. Có những huyền thoại thậm chí ngớ ngẩn và tôi cũng không muốn kể, những huyền thoại kiểu như Horemheb trong hình chim ưng bay trước đoàn chiến xa của anh ta khiến ngựa Hittite sợ chạy tán loạn, hay hình ảnh cột lốc xoáy và cột lửa mà tôi đã kể ở trên, nhưng tôi chỉ kể nhằm chỉ ra huyền thoại này được bắt đầu như thế nào. Dù sao, với cuộc tấn công chớp nhoáng này, anh ta đã chiếm được các kho nước ở sa mạc mà quân Hittite đã vất vả và tốn kém tích trữ hàng trăm ngàn chum nước trong một thời gian dài; anh ta đã giãn được vòng vây hãm Gaza và khích lệ quân phòng thủ pháo đài bằng việc gửi tới họ thông điệp được cả đội quân đứng trước bức tường thành đồng thanh gào lên: “Hãy giữ lấy Gaza! Vì Ai Cập, hãy giữ lấy Gaza!”.

Còn chiến lợi phẩm từ cuộc đột kích này là rất ít ỏi và những lính chiến xa theo anh ta hoàn toàn không giàu lên chút nào sau cuộc chinh chiến này, vì chum nước lại chỉ là chum khi nước trong đó đã uống cạn, dù nước trong sa mạc đôi khi quý như vàng. Trước thành Gaza, những binh lính làm trái lệnh cấm của Horemheb, rời khỏi chiến xa để xuống tranh giành, cướp bóc trong doanh trại quân Hittite, đều bị chết thảm thương, đầu cắm trên đầu cọc, mặt nhăn nhó hướng về những bức tường cao của Gaza, da bị nhét đầy thân sậy làm đệm nằm và đệm gối đầu trong lều của các chỉ huy Hittite.

Nhưng có lẽ vì tôi không phải chiến binh mà chỉ là thường dân và là thầy thuốc nên không đánh giá đủ tầm quan trọng của cuộc đột kích này. Có thể cuộc tấn công đã thật sự cứu được Ai Cập, như Horemheb tuyên bố, và những người lính đi theo anh ta vì thế xứng đáng nhận được vinh quang mãi mãi. Nhưng với niềm vinh quang ấy, họ không thể cắt cho mình quần áo, cũng không thể xây nhà, mua vườn tược và đất đai để an hưởng tuổi già và tôi nghĩ nhiều người trong số họ sẵn lòng đổi vinh quang này lấy một vốc bạc nếu họ được lựa chọn, bởi họ rên rỉ vì chiến lợi phẩm quá ít và không có gì trong tay.

Nếu tôi có mặt trong cuộc tấn công này, có thể tôi đánh giá nó theo cách khác, vì chắc chắn trong những lúc cấp bách ngặt nghèo, trong tiếng rầm rầm của các cỗ chiến xa và trong chiến thắng có điều gì đó làm ta mê mẩn, làm người lính say hơn rượu và quên đi nỗi đau khổ của mình. Còn tôi chỉ thấy dấu vết của cuộc tấn công này từ trên chiếc kiệu của mình trong sa mạc khi theo bộ binh hành quân thần tốc bám sau Horemheb trong cái nóng như đổ lửa và bụi mù trời. Tôi không thấy gì ngoài những xác chiến binh từ trên chiến xa rơi xuống chỗ này chỗ kia, cổ bị ngoẹo và cái bụng đen sì bị kền kền sa mạc rỉa nát. Tôi không thấy gì ngoài những xác ngựa chết đói đã khô, những chiếc chum vỡ nước tràn ra cát, xác của lính gác Hittite bị các toán cướp và quân ô hợp ở sa mạc cướp bóc sau khi quân Horemheb phóng qua, những cái xác bị cắt xẻo và cắm vào đầu những chiếc cọc dựng xung quanh các trạm chứa nước làm dấu hiệu chiến thắng. Vì vậy, cũng hiểu được vì sao tôi không biết nhiều để kể về những vinh quang bất diệt và những chiến thắng làm mê mẩn như tôi đã kể về sự chịu đựng và cái chết.

Sau vài tuần đói lả, hành quân đến kiệt sức trong sa mạc, cho dù nước có thừa mứa sau mỗi ngày đường nhờ quân Hittite, đêm đó chúng tôi thấy một cột lửa bốc lên từ ngọn núi phía sau sa mạc và biết được Horemheb với đội chiến xa đang ở đó chờ chúng tôi. Đêm sa mạc này đã in sâu vào tâm trí vì tôi thao thức không ngủ được, và suốt đêm trên đỉnh núi phía xa, cột lửa màu đỏ phát sáng, bốc khói và vừa bắn lên các tia lửa vừa làm nhợt đi ánh sáng của các vì sao bằng màu đỏ của nó. Đêm sa mạc lạnh lẽo sau ngày nắng thiêu đốt, những người lính, sau nhiều ngày hành quân sục chân trần vào cát giữa những bụi gai, giờ la hét và than vãn trong giấc mộng như thể các linh hồn ma quỷ đang trêu ghẹo họ. Chắc vì thế, dân đen mới nghĩ sa mạc đầy ma quỷ. Nhưng vào sáng sớm tinh mơ, tiếng tù và vang lên và đoàn quân lại tiếp tục đi, dù mỗi ngày lại có thêm nhiều người vì không quen hành quân và mang vác đồ nặng đã gục xuống và nằm lại, vì hiệu lệnh lửa của Horemheb luôn thúc chúng tôi tiến lên phía trước và từ khắp nơi trong sa mạc, từng toán cướp rách rưới, đen sạm và quân ô hợp lao về phía ngọn lửa, mắt liếc thèm thuồng nhìn những hành trang, giáo mác và những cỗ xe bò đực kéo của chúng tôi. Họ không đi lẫn vào đoàn quân mà chỉ nhắm theo hướng ngọn lửa của Horemheb, và tôi nghĩ có lẽ họ sẵn sàng xông vào cướp bóc chúng tôi cũng như quân Hittite.

Nhưng khi đến gần doanh trại của Horemheb, chúng tôi thấy đường chân trời của sa mạc chìm trong màn mây bụi vì quân Hittite đang kéo đến để chiếm lại những kho nước của chúng. Các tiểu đội quân do thám Hittite tiến dọc theo sa mạc trên chiến xa và lao đến gần đội quân đi đầu của chúng tôi, gây kinh hoàng cho những ai chưa quen đối đầu với chiến xa và hơn nữa chưa từng chiến đấu bằng giáo và cung. Vì thế đội quân chúng tôi trở nên hỗn loạn, nhiều người khiếp hãi bỏ chạy vào sa mạc và quân Hittite từ trên chiến xa xuyên giáo vào người họ. May thay, Horemheb đã phái một số chiến xa còn di chuyển được từ doanh trại của anh ta đến tiếp viện và sự vì nể của Hittite với quân Horemheb lớn đến mức chúng bỏ lại chúng tôi ở đó và rút quân. Nhưng cũng có thể sự việc xảy ra không phải do vì nể, mà chúng được lệnh đến dò la và quấy rối chúng tôi chứ không giao chiến.

Dù sao, bộ binh của chúng tôi khi thấy quân Hittite tháo chạy đã rất phấn khích, lính giáo vừa vung giáo đe dọa chúng vừa hét lớn, còn lính cung đã phí phạm cả đống mũi tên, bắn theo sau các cỗ xe. Song tất cả đều lén liếc nhìn những đám bụi vẫn bốc lên như những bức tường mây nơi chân trời và nói về Horemheb để khích lệ nhau:

- Không phải lo, vì đôi cánh tay mạnh mẽ của tướng quân sẽ bảo vệ chúng ta. Đừng lo, vì ngài sẽ như chim ưng quào cổ quân Hittite, móc mắt chúng và làm chúng mù.

Nhưng nếu họ nghĩ sẽ được nghỉ ngơi khi đến doanh trại Horemheb và sẽ được anh ta khen ngợi vì đã hành quân rất nhanh trên cát sa mạc làm đôi chân trần tróc hết da thì họ đã lầm to. Bởi Horemheb đã đón chúng tôi với đôi mắt đỏ ngầu đầy mệt mỏi, nét mặt giận dữ; vừa đập đập chiếc roi vàng dính đầy máu và bụi, anh ta vừa gầm lên:

- Các ngươi chết dí ở đâu, lũ bọ bẩn thỉu kia? Các ngươi la cà ở đâu, lũ trẻ xấu xa? Ta sẽ rất vui đấy nếu đầu lâu các ngươi trắng hếu trong cát ngay ngày mai, bởi quá hổ thẹn khi nhìn các ngươi. Các ngươi bò đến như rùa, sặc mùi mồ hôi và cứt bò, đến nỗi ta phải dùng ngón tay bịt chặt lỗ mũi, khi những chiến binh tốt nhất của ta đổ máu vì vô số vết thương và đàn ngựa quý giá của ta thở dốc như sắp chết. Còn bây giờ hãy đào, những chàng trai Ai Cập, đào vì mạng sống của các ngươi; và việc này thích hợp nhất với các ngươi vì suốt cả cuộc đời, các ngươi đã quen đào bùn, những khi ngón tay bẩn thỉu của các ngươi không ngoáy mũi hay gãi đít.

Các tân binh Ai Cập chưa qua huấn luyện không hề tức giận vì những lời này của anh ta mà còn reo lên và vừa lớn tiếng nhắc lại cho nhau nghe vừa cười vui hể hả. Mới nhìn thấy Horemheb, ai nấy đều thấy như đã thoát được khỏi sa mạc đáng sợ, vào được chỗ ẩn nấp an toàn. Họ quên đôi bàn chân bị trầy xước và cái lưỡi khô quắt lại của mình, bắt đầu đào những hào đất sâu theo hướng dẫn của Horemheb và đóng cọc gỗ giữa những tảng đá, căng dây sậy giữa các cọc, vần và lăn những tảng đá lớn từ trên núi xuống hẻm.

Những người lính chiến xa mệt mỏi của Horemheb từ các hang trên núi và các lều che bước ra, khập khiễng đến gần họ để cho họ thấy những vết thương và khoe khoang chiến công của mình; không một ai, ngay cả trong tình trạng tệ hại, không gượng dậy để khoe chiến công nhằm khích lệ lính đào hào là những giáo thủ, cung thủ và khơi sự ganh đua trong họ. Vào buổi sáng, khi thấy quân Hittite đang tiến đến gần rìa sa mạc như vũ bão, họ đã tin chắc rằng mình sẽ chết, nhưng sự xuất hiện của lính bộ binh đã khích lệ họ, vì cả đám cùng hy sinh vẫn tốt hơn từng người một chết; trong số hai ngàn năm trăm lính chiến xa chỉ còn lại khoảng năm trăm người còn đủ sức chiến đấu và ngựa của họ loạng choạng vì mệt mỏi, đầu thõng xuống, mõm quệt trên cát.

Cứ như thế trong ngày hôm đó, đại đa số chiến binh từng hàng từng hàng nối nhau đến địa điểm đóng quân của Horemheb và ngay khi vừa đến nơi, họ bị Horemheb bắt đi đào hào và dựng chướng ngại vật để chặn đường vào sa mạc của chiến xa Hittite. Rồi anh ta truyền lệnh tới các nhóm lính đang dềnh dàng, mệt mỏi sau cuộc hành quân rằng tất cả phải đến được địa điểm đóng quân trong đêm, vì khi trời sáng những ai còn lần chần nơi sa mạc sẽ chết thảm khốc trong tay quân Hittite nếu đội chiến xa của chúng phá vỡ được rào cản từ sa mạc và hẻm núi. Nhưng không ai biết được số quân đã đến, và Horemheb cũng không cho ai đếm, vì biết con số không còn có ích cho ai nữa, và số quân hiện có là rất ít so với toàn bộ lực lượng của quân Hittite.

Nhưng binh lính Ai Cập đã được khích lệ rất nhiều khi họ thấy lực lượng đông đảo của mình giữa sa mạc và mù quáng tin tưởng rằng Horemheb sẽ đánh bại quân Hittite và cứu họ thoát khỏi chúng. Nhưng khi dựng các chướng ngại vật, và căng dây sậy giữa các cột gỗ trên nền cát phẳng hay lăn các tảng đá, họ thoáng thấy các chiến xa Hittite trong đám bụi mù và nghe cả tiếng hô xung phong của chúng. Lúc đó, cánh mũi họ lạnh ngắt, họ nhìn ra xung quanh và kinh khiếp, các chiến xa và những lưỡi hái đáng sợ của chúng đang tiến đến.

Nhưng đêm đã tới, quân Hittite không muốn tấn công khi chưa quen trận địa và chưa biết sức mạnh của đối phương. Vì vậy chúng dựng trại trong hoang mạc, cắt bụi gai cho ngựa ăn và đốt lửa trại; ánh lửa trải xa tít tắp hút tầm mắt, lấp lánh trong màn đêm sa mạc. Suốt đêm, quân do thám của chúng trên các cỗ chiến xa hạng nhẹ lao đến chỗ các chướng ngại vật, giết lính gác và tiến vào gây chiến dọc trận địa mà Horemheb đã cho dựng lên hai bên sa mạc. Nhưng từ cả hai bên rìa, nơi không thể dựng chướng ngại vật, các toán cướp sa mạc và quân ô hợp đã tận dụng bóng đêm, bất ngờ xông ra ném dây thòng lọng kéo lính do thám Hittite khỏi chiến xa, bắt giữ xe và ngựa của chúng khiến nhiều tên không thể quay trở lại vì đã đánh xe quá sâu vào sa mạc, xa vùng bảo vệ của quân Hittite.

Tiếng loảng xoảng của chiến xa, tiếng gào hấp hối của binh lính, tiếng vù vù của mũi tên bay và tiếng va đập của vũ khí vẫn vang rền trong đêm tối, khiến những người lính chưa qua chiến trận vô cùng sợ hãi và không dám ngủ. Nhưng Horemheb đã an ủi họ:

- Hãy ngủ ngon, lũ chuột đầm lầy của ta, ngủ đi, nghỉ ngơi và bôi dầu vào bàn chân trầy xước của các ngươi, vì ta thức để canh giấc ngủ và bảo vệ các ngươi.

Còn tôi không ngủ mà suốt đêm đi lòng vòng trong doanh trại chữa cho lính chiến xa bị thương và anh ta cũng khích lệ tôi:

- Hãy chữa lành họ, Sinuhe, bằng tất cả tài năng của anh, vì thế gian chưa bao giờ thấy những chiến binh dũng cảm hơn họ và mỗi người trong số họ đáng giá một trăm và có khi một ngàn kẻ du thủ du thực. Hãy chữa cho họ, vì tôi rất yêu quý những con bọ bẩn thỉu này của mình, họ biết cách điều khiển ngựa, biết sử dụng dây cương và tôi không có lính được huấn luyện để thay thế họ. Vì vậy tôi sẽ trả cho anh một deben vàng cho mỗi chiến binh được anh chữa chạy để đủ sức chiến đấu.

Nhưng tôi rất tức giận vì cuộc hành quân vất vả qua sa mạc, dù tôi được ngồi trên kiệu suốt chặng đường, cổ họng tôi khô khốc vì bụi sa mạc đắng chát và trong thâm tâm, tôi oán hận khi nghĩ mình sẽ phải chết trong tay quân Hittite vì sự ngoan cố ngu ngốc của Horemheb, cho dù tôi thường không sợ chết. Vì thế tôi giận dữ nói với anh ta:

- Giữ vàng cho riêng anh hoặc chia sẻ với những con bọ mồ côi này của anh để họ thấy mình giàu có dù chỉ trong giây lát trước khi chết, vì ngày mai chắc chắn tất cả chúng ta sẽ chết khi bị anh dẫn vào cái bẫy đáng sợ nơi sa mạc này. Tôi hết lòng cứu chữa những con bọ này của anh chỉ vì bản thân mình, vì tôi nghĩ họ là những người duy nhất có thể chiến đấu trong đội quân này, còn những kẻ đến đây cùng tôi sẽ phát điên và bỏ chạy ngay khi tận mắt thấy tên Hittite đầu tiên. Tôi đã thấy họ run người, chùn bước vì một cành cây gãy trong bóng tối, tôi đã nghe tiếng họ đồng thanh cầu cứu các vị thần Ai Cập khi một con thỏ từ trong hốc đá nhảy ra ngang qua đường họ đi. Rõ ràng là họ rất dũng cảm đập vỡ đầu nhau trên đường phố Thebes và nếu tụ thành nhóm, có lẽ họ dám cắt cổ một khách bộ hành cô đơn để cướp ví của anh ta, nhưng trong sa mạc, họ giống như những con cừu bị dẫn đến lò mổ, vừa be be vừa ngoan ngoãn theo anh để rồi chỉ một phút sau đã điên cuồng, hoảng loạn chạy trốn. Vậy nên vì chính mình, tôi sẽ chữa chạy cho những con bọ này của anh với hy vọng rằng nhờ một vận may khó tin, sự dũng cảm của họ sẽ cứu mạng chúng ta. Nhưng khôn ngoan nhất là anh chọn những con ngựa nhanh nhất, rồi cùng tôi phóng về miền Hạ để anh có thể tập hợp được một đội quân mới tốt hơn.

Horemheb đưa tay xoa mũi và ranh mãnh nhìn tôi rồi nói:

- Lời khuyên của anh thật xứng với sự thông thái của anh, Sinuhe ạ, và chắc chắn tôi đã nghe theo lời khuyên của anh từ trước nếu tôi khôn ngoan. Nhưng tôi rất yêu những con bọ bẩn thỉu của mình và không thể bỏ mặc họ chết trong sa mạc, dù tôi có thể dễ dàng trốn thoát một mình và cho phá hủy các kho nước rồi hoãn cuộc chiến đến năm sau. Điều gì khiến tôi không trốn đi, tôi thật sự không biết, vì bất cứ người khôn ngoan nào cũng sẽ làm như vậy ở địa vị tôi, mà nói cho cùng, sau này tôi có thể dựng một đài tưởng niệm cho những con bọ của mình và khắc tên họ vào đá, để họ sống mãi muôn đời. Nhưng tôi sẽ không làm như thế, vì vậy chúng ta không có cách nào hơn là đánh bại quân Hittite ở sa mạc này. Vấn đề thật đơn giản, Sinuhe ạ. Chúng ta sẽ đánh bại quân Hittite vì chúng ta không còn cách nào khác, và có lẽ tôi đã khá khôn ngoan khi đưa quân đội vào sa mạc, vì ở đây họ không còn nơi để chạy trốn mà phải chiến đấu cho tính mạng của mình, dù muốn hay không. Nhưng tôi nghĩ tốt nhất là tôi lên xe mình ngủ và uống rượu để sáng ra tôi sẽ nôn nao khó chịu, bởi vì cơn nôn nao khiến tôi dễ bị kích động và chiến đấu tốt hơn khi tỉnh táo.

Anh ta đi đến cỗ xe của mình, nghiêng bình rượu và tôi nghe tiếng rượu chảy ồng ộc trong đêm tĩnh lặng cho đến khi từ một nơi nào đó phía xa lại bắt đầu nghe thấy tiếng ầm ào của những cỗ xe cùng với tiếng binh lính Ai Cập hét lên trong sợ hãi và bỏ chạy tán loạn vào bóng tối từ khu vực chướng ngại vật. Binh lính nhìn anh ta đầy ghen tị, anh ta đưa hũ rượu cho bất cứ ai đi qua, để họ được uống từ cái hũ mà chính anh ta đang uống. Anh ta vừa cho họ uống vừa la mắng họ:

- Bụng các ngươi như thùng không đáy, các ngươi uống cạn hũ của ta, khiến ta không còn say được nữa và những cái mõm bẩn thỉu của các ngươi làm bẩn hũ của ta.

Anh ta đấm vào vai họ, gọi tên từng người và nhắc họ nhớ về những gì họ đã hứng chịu ở mặt trận Gaza, khi họ bị quấn vào dây cương khiến ngựa lồng lên đá họ.

Thế là đêm trôi qua và bình minh lên như một bóng ma xam xám nơi sa mạc, mang theo mùi chết chóc và những con kền kền. Những con ngựa chết và những cỗ chiến xa đổ lăn lóc trước các chướng ngại vật và lính Hittite ngã khỏi chiến xa bị đàn kền kền mổ vào mắt. Rạng sáng, Horemheb ra lệnh thổi tù và, tập hợp quân lính tại chân núi.

❖ 2 ❖

Trong khi quân Hittite lấy cát dập tắt các đống lửa trên sa mạc, đóng yên ngựa và mài sắc vũ khí, Horemheb nói đôi lời với binh lính của mình. Anh ta tựa lưng vào ghềnh đá lởm chởm, vừa nhai bánh khô vừa cắn miếng hành trên tay ăn kèm với bánh rồi lớn tiếng nói trước toàn quân:

- Nhìn ra phía trước, các ngươi sẽ thấy một cảnh tượng vô cùng kỳ lạ, vì quả thật Amon đã trao lũ Hittite vào tay chúng ta và hôm nay chúng ta sẽ làm những việc lớn lao. Hẳn các ngươi đã thấy, bộ binh Hittite không kịp đến đây mà còn đang luẩn quẩn ở rìa sa mạc vì không có đủ nước. Nếu vẫn muốn tấn công Ai Cập, đội chiến xa của chúng phải mở đường và giành lại các kho trữ nước. Lúc này ngựa của chúng đang khát nước và thiếu thức ăn, bởi vì ta đã đốt cháy tất cả kho của chúng và lấy búa đập vỡ các chum nước từ đây cho đến tận Syria. Do vậy, quân Hittite phải dùng chiến xa mở đường ngay hôm nay, còn không chúng sẽ phải đánh chiến xa trở về Syria hoặc đóng quân lại đây để chờ tiếp tế và không thể chiến đấu được. Nếu khôn ngoan, chúng sẽ từ bỏ cuộc chiến và trở về Syria, nhưng chúng là những kẻ tham lam, chúng đã đổ tất cả vàng, bạc của Syria vào những chum đầy nước dọc sa mạc phía sau chúng ta và quyết đánh để giành lại. Đó là lý do ta nói rằng Amon đã trao chúng vào tay chúng ta, vì khi chúng lao về phía chúng ta, ngựa của chúng sẽ vướng vào các vật cản chúng ta đã dựng và chúng không thể dùng sức mạnh đánh lại chúng ta, vì sức mạnh của quân Hittite nằm ở sự thần tốc của các chiến xa, nhưng các mương, hào mà các ngươi không quản công sức và dũng cảm đào được cùng với những tảng đá và dây thừng đã giăng sẽ phá vỡ mũi tấn công của chúng.

Horemheb nhổ vỏ hành ra khỏi miệng rồi lại cắn mẩu bánh mì khô bằng những chiếc răng to, chắc, và nhai bánh cho đến khi quân lính bắt đầu giậm chân và la hét như những đứa trẻ háo hức muốn nghe thêm chuyện cổ tích. Horemheb chau mày nói tiếp:

- Lạy Seth và tất cả ác quỷ, các đầu bếp của quân đội đã nướng cứt chuột bỏ vào bánh mì của ta hay cơn say rượu khiến miệng ta có vị cứt thế này? Những con chuột đồng của ta, các ngươi phải biết là đêm qua ta không thể không uống đến say chỉ vì niềm vui sướng khi nghĩ đến việc lính Hittite sa vào tầm đâm của giáo các ngươi vì sự ngu ngốc của chúng. Nhưng dù vậy, ta cũng sẽ cho treo ngược vài tên lính hậu cần lên tường thành vì thứ bánh cứt chuột này. Ta làm điều đó không phải vì các ngươi mà vì cái miệng cao quý của ta, nên các ngươi chỉ phí công cười và ọ lên như bò trước mặt ta. Chúng cho các ngươi ăn bánh nướng với phân gia súc ta cũng mặc, vì với ta những cục phân mà bầy ngựa của những con bọ bẩn thỉu của ta ị xuống còn quý hơn cả đám các ngươi. Các ngươi thấy đấy, ta sợ chính các ngươi sẽ để quân Hittite thoát vì sự khốn nạn của mình, bởi các ngươi không phải là lính chiến mà chỉ là lũ chuột đồng hôi hám. Vậy nên ta phải bảo cho các ngươi rằng những cây gậy các ngươi cầm trong tay là giáo và mũi giáo không phải dùng để cào lưng, mà các ngươi phải dùng chúng đâm vào bụng quân Hittite. Và ta nhắc đám lính cung, các ngươi chắc chắn đang nghĩ mình là những người hùng vĩ đại khi giương cung, bắn tên lên không trung và hét lên như lũ trẻ: “Nhìn kìa, tên của tôi bay cao làm sao”. Các ngươi phải nhắm mũi tên vào quân Hittite và nếu các ngươi là những người lính thật sự, biết ngắm đích như những người lính, các ngươi sẽ chọc thủng mắt quân Hittite bằng mũi tên của mình. Nhưng những chỉ dẫn như vậy với các ngươi thật vô ích, vì thế ta khuyên các ngươi chỉ nhắm vào ngựa của chúng, vì ngựa là mục tiêu to hơn và đằng nào các ngươi cũng không bắn trúng được những tên lính đứng trên chiến xa. Càng để ngựa đến gần, các ngươi càng dễ bắn trúng hơn dù không phải là lính thiện xạ, và ta khuyên các ngươi nên làm như thế, vì ai lãng phí tên sẽ bị ta quất roi, khiến kẻ đó chỉ mong mình không bao giờ được sinh ra. Chúng ta không đủ lực để lãng phí bất cứ mũi tên nào. Hãy nhớ rằng các mũi tên được rèn từ trâm cài của các bà vợ Ai Cập và vòng cổ chân của gái làng chơi, nếu điều này làm các ngươi vui thích. Với lính giáo, ta ra lệnh: Khi ngựa đến gần, hãy dùng cả hai tay chống giáo xuống đất và hướng mũi giáo vào bụng ngựa thì các ngươi sẽ không gặp nguy hiểm, mà kịp nhảy sang một bên trước khi ngựa ngã lên đầu các ngươi. Nếu bị ngã xuống đất, các ngươi hãy dùng dao cắt gân chân ngựa, vì đó là cách duy nhất để cứu mình trước khi bánh xe lăn qua và nghiền nát các ngươi. Đó là nhiệm vụ của các ngươi, hỡi lũ chuột sông Nile.

Anh ta ngửi ngửi mẩu bánh trong tay vẻ gớm ghiếc, ném nó đi rồi nhấc cái hũ lên miệng tu thật nhiều nước cho dã rượu. Sau đó anh ta tiếp tục nói:

- Chắc lời ta nói với các ngươi như nước đổ đầu vịt, vì khi nghe tiếng gào thét của quân Hittite và tiếng chiến xa của chúng ầm ầm chạy, các ngươi sẽ lại khóc lóc và vùi đầu vào cát vì ở đây không có váy áo của mẹ để các ngươi nấp vào. Phòng việc đó xảy ra, ta phải nói với các ngươi rằng nếu quân Hittite chọc thủng vòng ngoài và đến được các kho nước ở phía sau chúng ta, tất cả các ngươi sẽ toi mạng trước khi trời tối, còn may mắn nhất thì chỉ trong một vài tuần trăng nữa, da của các ngươi sẽ được các mụ đàn bà ở Byblos và Sidon kẹp trong nách làm túi đi chợ, không thì các ngươi sẽ gào khóc trên tường thành, chân tay què quặt hoặc quay cối xay bột trong trại Azuri với đôi mắt bị chọc thủng. Điều này sẽ xảy ra nếu quân Hittite chọc thủng phòng tuyến, vì khi đó chúng ta sẽ bị bao vây và không có đường thoát, mà tất cả sẽ toi mạng. Nhưng ta cũng phải thú thật rằng bây giờ chúng ta cũng không có lối thoát và nếu chúng ta bỏ tuyến phòng thủ đã dựng, rút lui về phía sau thì chiến xa của quân Hittite sẽ đánh ta tan tác như nước lũ cuốn trôi đám rơm khô. Ta nói điều này để không ai nảy ra ý định chạy trốn vào sa mạc. Nhưng để ngăn các ngươi nhầm hướng kẻ thù, ta sẽ bố trí năm trăm con bọ dũng cảm của ta ở một khoảng cách thích hợp phía sau các ngươi, để ít nhất một lần chúng có thể cười thỏa chí khi thấy các ngươi chiến đấu, vì quả thật chúng đáng được hưởng tiếng cười ấy, và bất cứ kẻ nào cố tình chạy trốn hoặc nhầm hướng sẽ bị giáo của chúng đâm chết hoặc bị dao cắt cứa, khiến những con bò đực hoang dã thành bò kéo ngoan ngoãn. Vì vậy, hãy biết rằng nếu cái chết hiện ra lù lù trước mặt các ngươi, thì một cái chết chắc chắn hơn chờ các ngươi ở phía sau, nhưng chiến thắng và vinh quang cũng hiển hiện trước mặt các ngươi, vì ta tin chắc rằng hôm nay chúng ta sẽ đánh bại quân Hittite nếu mỗi chúng ta nỗ lực hết sức. Lũ chuột cống thân yêu của ta, các ngươi biết là tất cả chúng ta đều bị quẳng vào cùng một vũng bùn và chúng ta không còn lựa chọn nào khác ngoài việc đánh bại quân Hittite, mà để đánh bại chúng, không có cách nào khác ngoài việc xông về phía chúng và đâm thủng da chúng bằng mọi vũ khí mà các ngươi được phân phát. Đây là cách duy nhất, vì thế ta thân chinh đi theo, cùng chiến đấu bên cạnh các ngươi với cây roi trong tay và sẽ không phải lỗi của ta nếu roi của ta quất các ngươi nhiều hơn là quất quân Hittite, nhưng điều này tùy thuộc hoàn toàn vào chính các ngươi, lũ chuột cống dũng cảm của ta.

Quân lính như bị bỏ bùa khi nghe anh ta nói, quên đổi thế đứng và quên cả quân Hittite. Phải thú thật rằng tôi bắt đầu lo sợ vì các chiến xa Hittite đã tiến gần đến tuyến phòng thủ từ các hướng như những đám mây bụi, nhưng tôi nghĩ chắc Horemheb đã cố tình kéo dài thời gian để truyền sự bình thản của mình sang quân lính và tránh cho họ sự chờ đợi nghẹt thở trước cuộc tấn công. Cuối cùng từ vị trí trên cao của mình, anh ta nhìn ra sa mạc, giơ tay lên và nói:

- Các bạn chiến xa Hittite của chúng ta đang tiến đến, ta cảm tạ tất cả thần linh Ai Cập về điều này, vì quả thực Amon đã làm chúng mù quáng tin tưởng quá nhiều vào sức mạnh của chúng và chiến đấu theo ý chúng ta. Hãy đi đi, hỡi những con chuột lấm bùn sông Nile, ai nấy hãy trở về chỗ đã bố trí cho mình, sau đó không ai được rời khỏi vị trí khi chưa được lệnh. Và các ngươi, những con bọ yêu quý của ta, hãy đi theo những con ốc sên với thỏ rừng này và chăm sóc chúng, khi cần thiết, hãy thiến chúng như thiến những con nhân sư nếu chúng cố chạy trốn. Ta có thể nói với các ngươi: Hãy chiến đấu vì các vị thần của Ai Cập, chiến đấu cho miền đất đen, chiến đấu cho vợ con các ngươi. Nhưng lời nói ấy thật nhảm nhí và vô ích vì các ngươi sẵn sàng đái vào mắt vợ mình để được sống sót bỏ chạy. Vì vậy ta kêu gọi: Hỡi lũ chuột hôi của Ai Cập, hãy chiến đấu cho chính mình, chiến đấu vì mạng sống của chính mình và đừng bỏ cuộc, vì các ngươi không có cách giải cứu nào khác. Còn bây giờ hãy chạy đi, các chàng trai của ta, hãy chạy thật nhanh, nếu không thì chiến xa tấn công của Hittite sẽ đến tuyến phòng thủ trước các ngươi và trận chiến sẽ kết thúc trước khi kịp bắt đầu.

Anh ta để binh lính tản đi và họ lao đến vị trí được giao ở tuyến phòng thủ, vừa chạy vừa gào lên, nhưng họ gào vì quyết tâm hay sợ hãi, tôi thật sự không thể nói, và tôi không tin bản thân họ biết điều đó. Horemheb lững thững bước theo sau họ, còn tôi ngồi lại trên sườn núi để theo dõi cuộc chiến từ một khoảng cách an toàn vì tôi là thầy thuốc và tính mạng của tôi đáng quý.

Chiến xa của quân Hittite đã xuất hiện trên cao nguyên, đến dưới chân các ngọn đồi và dừng lại đó để dàn trận. Những cờ hiệu sặc sỡ và những mặt trời có cánh tỏa tia nắng trên các cỗ xe của chúng, những chiếc ngù đung đưa trên đầu ngựa và những tấm vải dày dặn nhiều màu che chắn bên hông ngựa để bảo vệ chúng khỏi trúng tên, tạo ra một cảnh tượng hoành tráng và đáng gờm. Rõ ràng là chúng đã chuẩn bị tấn công với tất cả sức mạnh và dồn toàn bộ lực lượng vào địa hình trống trải với con đường dẫn đến các kho chứa nước mà Horemheb đã vội vàng cho chặn lại bằng các chướng ngại vật sơ sài. Chúng không lao vào các hẻm chật hẹp len giữa các ngọn đồi dựng đứng dẫn ra hai bên và không tản ra rìa sa mạc, nơi các toán cướp và quân ô hợp trấn giữ cả hai bên sườn quân Horemheb. Nếu chúng tản ra rìa sa mạc, quãng đường đến các kho chứa nước sẽ quá xa với ngựa của chúng. Do thiếu nước và thức ăn cho ngựa, chúng dựa vào sức mạnh và tài nghệ chiến tranh của mình, vì thế mà chưa dân tộc nào ngăn được đường tiến quân của chúng. Các chiến xa Hittite chiến đấu theo các phân đội sáu cỗ xe, mười phân đội sáu cỗ xe hợp thành một chiến đoàn và tôi nghĩ chúng có tất cả sáu mươi chiến đoàn, đối đầu với các đội quân chưa được huấn luyện của Horemheb, bởi người Hittite rất kỹ tính và thích những con số rõ ràng. Nhưng các chiến xa hạng nặng, mỗi chiếc có ba ngựa và ba chiến binh, mới là tâm điểm và khi nhìn vào những cỗ chiến xa hạng nặng ấy, tôi không hiểu bằng cách nào quân của Horemheb có thể chặn được cuộc tấn công của chúng, vì chúng di chuyển chậm chạp, nặng nề như những thuyền chiến trong sa mạc và nghiến nát mọi thứ trên đường đi.

Sau khi tiếng tù và cất lên, các chỉ huy giương cao cờ hiệu và đoàn chiến xa bắt đầu di chuyển rồi từ từ tăng tốc; nhưng khi chúng đến gần các chướng ngại vật, tôi ngạc nhiên thấy từng con ngựa riêng rẽ lao ra như tên bắn từ giữa các cỗ chiến xa, trên lưng mỗi con là một chiến binh nằm ép xuống, tay bám chặt vào bờm ngựa và hai gót chân đạp mạnh vào hai bên hông ngựa để thúc nó lao lên nhanh hơn. Tôi không hiểu nổi tại sao chúng lại cho ngựa dự phòng của các cỗ xe lao ra bãi chiến trận mà không được bảo vệ, cho đến khi tôi thấy những kỵ binh này vươn người xuống đất trong khi vẫn treo mình trên lưng ngựa và vừa bám chặt vào bờm ngựa, vừa dùng dao, rìu chặt đứt những sợi dây sậy căng giữa các cọc cắm trên mặt đất mà lính Horemheb đã giăng nhằm quấn chân những con ngựa kéo chiến xa. Còn những con ngựa khác lao thẳng vào khoảng trống giữa các chướng ngại vật và các kỵ binh đứng trên lưng ngựa lao giáo đi. Chúng không ném giáo vào quân Ai Cập, mà ném mạnh xuống đất đến mức mũi giáo cắm thẳng xuống và ở đầu mỗi cán giáo có một cờ hiệu sặc sỡ lung lay. Mọi việc xảy ra nhanh như chớp, nhanh hơn tôi có thể diễn tả và tôi chưa hiểu ra mục đích của chúng, vì sau khi chém đứt các sợi dây và cắm mũi giáo xuống đất, các kỵ binh quay ngựa lại và phi hết cỡ, lẩn vào phía sau các cỗ chiến xa, dù nhiều tên trong số chúng đã rơi khỏi lưng ngựa vì trúng tên từ phía sau bắn tới và nhiều con ngựa gục ngã, nằm giãy giụa và rống lên trên mặt đất.

Nhưng khi các đội chiến xa hạng nhẹ Hittite bắt đầu tấn công, tôi chứng kiến một cảnh tượng lạ lùng: Horemheb từ hàng quân của mình phía sau tuyến phòng thủ phóng ra, một mình xông thẳng về phía các chiến xa đang lao đến và tôi nhận ra anh ta, vì anh ta cao hơn tất cả những người lính sông Nile thấp lùn một cái đầu. Khi nhìn thấy thế, tôi đứng dậy, tay siết chặt nắm đấm và gào lên, nhưng Horemheb đã rút từng ngọn giáo có cờ hiệu trên cán mà quân Hittite ném cắm xuống đất và ném ra xa, khiến chúng rung bần bật và cắm sâu vào trong cát. Tài trí quân sự của anh ta nhanh hơn tất cả những người khác, vì anh ta đã hiểu ra mục đích của việc cắm những ngọn giáo này; những kỵ binh dày dạn kinh nghiệm nhất của quân Hittite đã cắm giáo và cờ hiệu để đánh dấu những điểm phòng thủ yếu nhất và đánh đột phá dễ thành công nhất.

Trong đội quân Ai Cập chỉ có Horemheb nhận ra điều này và anh ta có đủ dũng khí để rút giáo cắm sang chỗ khác nhằm đánh lạc hướng quân Hittite. Một vài lính theo gương anh ta, chạy tới các chướng ngại vật, nhổ giáo lên và quay trở lại, mang theo cờ hiệu bên mình làm dấu hiệu chiến thắng.

Dĩ nhiên, điều này cũng gây hoang mang cho quân Hittite nhưng tôi nghĩ chỉ có tài trí tinh nhanh của Horemheb mới cứu được Ai Cập vào sáng hôm đó, vì nếu quân Hittite có thể sử dụng toàn bộ sức mạnh ban đầu, tấn công đột phá vào các điểm mà các kỵ binh của chúng đã đánh dấu thì quân Ai Cập chắc chắn không thể đẩy lùi chúng được.

Nhưng lúc đó tôi vẫn chưa hiểu ra những điều này mà nghĩ hành động lao đến chỗ đội chiến xa Hittite của Horemheb chỉ là một trò đùa trẻ con điên rồ, vì thế tôi đã mắng anh ta và nghĩ anh ta làm thế chỉ vì muốn khích lệ quân lính của mình. Có lẽ trên thế giới này không hành động nào dũng cảm hơn việc một mình chạy trên trận địa trống trải đối mặt với các cỗ chiến xa, nhưng có lẽ một người lính giàu kinh nghiệm có thể làm điều đó mà không gặp nhiều nguy hiểm nếu anh ta biết cân nhắc giữa sức mạnh và kỹ năng của mình với tốc độ của chiến xa và trở về nơi ẩn nấp trước khi bị chiến xa đè bẹp. Có lẽ vì thế, Horemheb không rơi vào tình thế nguy hiểm mà trái lại, tất cả quân lính đã hò reo, hoan hô lòng dũng cảm, bất chấp nguy hiểm tới tính mạng của anh ta.

Khi Horemheb vừa kịp quay trở về nơi an toàn giữa quân lính của mình, các chiến xa hạng nhẹ của quân Hittite đã đến chỗ các chướng ngại vật và tấn công ập vào chỗ có cờ hiệu như những mũi nhọn thọc sâu vào trận địa phòng thủ. Cuộc tấn công đầu tiên này gây nên những âm thanh khủng khiếp và bụi từ vó ngựa và bánh xe bay lên không trung dày đến mức từ trên triền núi, tôi không thể thấy được diễn biến cuộc chiến. Tôi chỉ kịp thấy những mũi tên bắn ra hạ gục một vài con ngựa trước các chướng ngại vật, nhưng quân Hittite đã khéo léo tránh các cỗ xe bị lật và tiếp tục tấn công. Sau này tôi được biết tại một vài điểm, các chiến xa Hittite hạng nhẹ đã vượt qua tất cả các chướng ngại vật, cho dù bị tổn thất nặng nề. Tuy nhiên, chúng không tiếp tục tiến lên mà dừng lại theo từng tốp và các chiến binh dự bị nhảy xuống khỏi xe để lăn các tảng đá sang một bên, dọn đường cho các chiến xa hạng nặng đang chờ tới lượt mình.

Với chiến công này của quân Hittite, một chiến binh từng trải sẽ nhận ra trận chiến thế là đã kết thúc, nhưng những con chuột đồng chưa qua huấn luyện của Horemheb chỉ nhìn thấy những con ngựa đang lăn lộn, giãy giụa trước các chướng ngại vật và hí vang trong các hố. Họ thấy quân Hittite bị tổn thất nặng nề và nghĩ mình đã chặn được cuộc tấn công của quân thù bằng tài nghệ và sự dũng cảm. Do đó họ phấn khích và sợ hãi gào lên, giương giáo lao đến các cỗ xe bị chặn đang luồn lách trên mặt đất, dùng dao cắt gân chân ngựa và kéo những tên lính đánh chiến xa xuống, còn các lính cung bắn những tên đang vần, lăn những tảng đá. Horemheb để họ mặc sức xông pha theo ý muốn. Ưu thế về quân số đã giúp họ thu được vô số chiến xa và háo hức giao chúng cho những con bọ của Horemheb, vì bản thân họ không biết điều khiển chiến xa và sợ hãi không dám leo lên vì sợ bị rơi mà chỉ quanh quẩn bên đầu ngựa. Horemheb không hề cho họ biết rằng trận chiến sẽ kết thúc khi các chiến xa hạng nặng xung trận mà chỉ tin vào vận may của mình và cái hào sâu anh ta đã sai đào giữa thung lũng, phía sau các đội quân và lấy bụi cây cùng cành cây phủ kín. Các chiến xa hạng nhẹ chưa kịp đến đó và cứ nghĩ chúng đã dẹp được hết tất cả chướng ngại vật.

Sau khi dọn sạch một lối đi đủ lớn cho các chiến xa hạng nặng, những binh lính Hittite còn sống sót leo lên chiến xa rồi vội vàng đánh xe chạy, khiến quân Horemheb hết sức phấn khích, nghĩ rằng mình đã chiến thắng, đâm giáo vào những con ngựa đã sa xuống hố và bị cắt gân chân, còn những tên lính Hittite bị rơi khỏi chiến xa thì gắng sức bò, vừa nấp giữa các tảng đá. Nhưng Horemheb vội ra lệnh thổi tù và, cho lăn đá về lại chỗ cũ và cắm xiên giáo xuống cát, mũi giáo hướng về phía kẻ tấn công làm vật cản, vì anh ta không thể làm gì khác, mà buộc phải cho quân lui sang khoảng trống hai bên nơi các chướng ngại vật đã bị phá bỏ để tránh tổn thất binh lính một cách vô ích, vì nếu không, những chiếc lưỡi hái to dài của các chiến xa hạng nặng quay theo bánh xe sẽ rào rào chém quân lính của anh ta xuống đất như cắt cỏ.

Anh ta làm điều này vào phút cuối vì đồng hồ nước chỉ kịp đo khoảng thời gian ngắn nhất và khi đám mây bụi trong thung lũng vẫn chưa tan thì các chiến xa hạng nặng, tinh hoa và là niềm kiêu hãnh của quân đội Hittite, đã rầm rầm, ầm ào lao đến nghiền nát dưới chúng mọi vật cản. Kéo chúng là những con ngựa to lớn, cao hơn ngựa Ai Cập đến một ức, đầu được bảo vệ bằng tấm kim loại và hai bên hông được áo giáp len dày che kín. Các bánh xe của chúng nhẹ nhàng gạt sang bên cả những tảng đá nặng và chúng lao thẳng vào những đám mây bụi mù mịt và những con ngựa cao lớn bẻ gãy các ngọn giáo cắm trên mặt đất như bẻ gãy đám sậy khô. Những tiếng gào thét, kêu khóc vang lên từ thung lũng khi các chiến xa lao về phía trước và khi nghe thấy tiếng kêu thảm thiết kinh hoàng của những người bị đè bẹp dưới bánh chiến xa và cắt đôi bởi lưỡi hái, tôi lại đứng dậy nhìn xung quanh nhưng không thấy bất kỳ hướng nào có đường thoát cho mình.

Cho đến khi từ trong đám mây bụi, các cỗ xe to lớn của quân Hittite rầm rầm hiện ra trên thung lũng và chen chúc tiến về trước thành hàng dài với những con ngựa kéo trong áo giáp len sặc sỡ như những con quái vật kỳ lạ, những cái sừng đồng từ tấm kim loại che đầu chĩa ra phía trước như những chiếc gai thật dài, tôi nghĩ không sức mạnh nào trên trái đất này có thể chặn đường tiến của chiến xa Hittite. Bởi phía trước chúng không còn chướng ngại vật nào, cũng không có lính Ai Cập nào chặn đường đi của chúng đến các kho chứa nước trên sa mạc, vì họ đã rút khỏi thung lũng, dạt lên các triền đồi hai bên theo lệnh của Horemheb. Lính chiến xa Hittite vừa hét lên vừa đánh xe về phía trước, những đám mây bụi phía sau cuồn cuộn bốc lên bay vào không trung che mờ chân trời, khiến tôi nằm sấp mặt xuống đất, phẫn uất khóc cho Ai Cập và miền Hạ không ai bảo vệ, cũng như cho tất cả những ai giờ đây phải chết vì sự ngoan cố đến ngu ngốc và những ý tưởng điên rồ của Horemheb.

Nhưng quân Hittite không lóa mắt trước chiến thắng, mà thả đá xuống đường để hãm tốc độ chiến xa, để các chiến xa hạng nhẹ lại tiến lên trước dò địa hình, vì những chiến binh Hittite giàu kinh nghiệm luôn thận trọng và đề phòng mọi tình huống bất ngờ, mặc dù chúng rất coi thường quân Ai Cập và chưa hề biết đến sự nham hiểm của người Ai Cập. Tuy nhiên, khó mà kìm lại được sự tấn công của các chiến xa hạng nặng một khi nó đã bắt đầu, vì khi đã có đà, những con ngựa cao lớn đó không ngừng lao về phía trước, chúng sẽ làm đứt dây cương và làm gãy, vỡ các cỗ xe nếu bị ghìm lại quá thô bạo. Vì vậy những người lái chiến xa có một loại giáo lưỡi rộng để có thể chặt đứt bắp chân ngựa của mình trong trường hợp khẩn cấp, nhất thiết phải dừng cỗ xe lại.

Nhưng lần này, chúng thấy không có lý do gì phải làm như vậy mà cho ngựa của mình dàn thành hàng ngang, lao về phía trước, không đề phòng gì cho đến khi mặt đất phía dưới chúng bất ngờ sụp xuống và các chiến xa lao xuống một nấm mồ khổng lồ mà những người xúc bùn sông Nile đã đào và ngụy trang bằng các bụi cây. Hào mộ này chắn ngang toàn thung lũng, từ sườn đồi này sang sườn đồi kia và các chiến xa hạng nặng đổ ập xuống đó; hàng chục chiếc bay lộn nhào xuống trước khi những người đánh xe, vì quá bất ngờ, kịp lái cho ngựa chạy dọc hai bên rìa hào mộ; thế là hàng chiến xa tan tác. Khi nghe thấy tiếng hét của quân Hittite, tôi ngẩng đầu lên khỏi mặt đất và nhìn thấy một cảnh tượng thật kinh hoàng cho đến khi bụi bốc lên che phủ tất cả.

Nếu quân Hittite đủ điềm tĩnh và tin mình có khả năng thất trận, chúng vẫn có thể cứu được ít nhất một nửa số chiến xa và gây thất bại nặng nề cho quân Ai Cập. Vì chúng có thể đánh xe dọc theo mép hào rồi quay ngựa lại với tốc độ nhanh nhất và trở lại cao nguyên xuyên qua những chướng ngại vật đã bị chúng phá thủng. Nhưng chúng không thể hiểu rằng mình đã bại trận, vì chúng không quen bị đánh bại và thậm chí trong thâm tâm cũng không thể thừa nhận rằng quân đội Hittite có thể bị đánh bại. Vì thế, chúng không hề có ý định chạy trốn khỏi đường của bộ binh Ai Cập vốn không có chiến xa đi kèm mà cho ngựa chạy lên sườn đồi cheo leo để có thể dừng lại trên đỉnh đồi, quay lại quan sát địa hình, rồi xuống khỏi chiến xa, tìm cách vượt qua hào mộ, giải cứu đồng đội đã rơi xuống dưới hào và chờ đám mây bụi lắng xuống để nhận định hướng tấn công tiếp theo vào quân Ai Cập.

Nhưng Horemheb không có ý định chờ chúng kịp hoàn hồn, mà ra lệnh thổi tù và rồi tuyên bố với quân lính của mình rằng phép thuật của anh ta đã làm trật bánh các cỗ chiến xa Hittite, nên quân Hittite bị vô hiệu hóa. Anh ta phái lính cung đến sườn đồi để bắn tên, quấy rối quân Hittite và sai quân lính dùng bụi cây và chổi quét đất để càng nhiều bụi hơn bốc lên không trung, một phần làm rối loạn quân Hittite, một phần để ngăn lính mình hoảng sợ khi nhìn thấy quân Hittie vẫn còn nhiều chiến xa nguyên vẹn để sẵn sàng tiếp tục cuộc chiến. Đồng thời, anh ta ra lệnh cho một số đội quân lăn các tảng đá từ sườn đồi xuống và dựng lại các chướng ngại vật đã bị phá vỡ để chuẩn bị cho một chiến thắng thật hoàn hảo và tịch thu nguyên vẹn các chiến xa Hittite.

Trong khi đó, các đội chiến xa hạng nhẹ của quân Hittite cắm trại trên chỗ bằng phẳng để cho ngựa uống nước, sửa chữa yên cương và vặn chặt lại các nan bánh xe. Nhìn thấy bụi bốc lên giữa các ngọn đồi và nghe thấy tiếng la hét, tiếng vũ khí vang chát chúa, chúng tin rằng các cỗ xe tấn công hạng nặng của mình đang lùa quân Ai Cập quanh trận địa và tiêu diệt họ như giết một lũ chuột.

Được những đám mây bụi che chắn, Horemheb phái những lính giáo dũng cảm nhất xuống hào để ngăn lính Hittite cứu những đồng đội của chúng bị rơi xuống hố và ngăn chúng lấp các hào. Còn các đội quân còn lại, anh ta lệnh cho lăn những tảng đá lớn ra phía trước và dùng xe bò kéo đến chỗ các chiến xa, dồn chúng vào nơi chật hẹp, khiến chúng không thể di chuyển. Dọc theo sườn đồi, những tảng đá lớn đã nhanh chóng được vần về phía các chiến xa, vì người Ai Cập khai thác đá và trong quân đội của Horemheb có quá nhiều người từng đục đá trong các mỏ đá.

Quân Hittite bắt đầu rối loạn khi những đám mây bụi không lắng xuống vì không thể nhìn thấy gì, và nhiều tên lính bị trúng tên ngã nhào khi đứng trên cỗ xe cố gắng nhìn ra xung quanh. Các chỉ huy Hittite tranh cãi nhau và không biết phải xử trí ra sao, vì chúng chưa bao giờ được huấn luyện phải làm gì trong trận chiến kiểu này. Sau một hồi tranh cãi, chúng cử một vài chiến xa lao vào giữa đám mây bụi để do thám trận địa của quân Ai Cập, nhưng các chiến xa này không quay trở lại vì ngựa vấp phải đá và lính đánh xe bị lính giáo của Horemheb kéo ra khỏi chiến xa rồi giết. Cuối cùng, các chỉ huy quân Hittite lệnh thổi tù và, tập hợp các chiến xa lại và sẵn sàng cho một cuộc tấn công để có thể quay lại bãi bằng tổ chức lại đội ngũ. Nhưng khi tấn công trở lại theo đúng con đường đã đến, chúng không còn nhận ra đường nữa mà ngựa vấp phải dây và bẫy, các cỗ xe kềnh càng bị lật trên đá, cuối cùng chúng buộc phải xuống xe và chiến đấu trên bộ. Chúng là những binh lính dũng cảm, dạn dày kinh nghiệm trận mạc và đã giết nhiều quân Ai Cập, nhưng chúng không quen chiến đấu trên bộ, mà quen đứng trên chiến xa phía trên kẻ thù. Vì thế, chúng đã bị quân Horemheb đánh bại.

Trời dần tối, gió từ sa mạc thổi đến xua những đám mây bụi khỏi thung lũng, để lộ trận địa và thất bại khủng khiếp của quân Hittite, vì chúng đã mất hầu hết chiến xa hạng nặng và rất nhiều chiến xa và ngựa cùng với tất cả trang bị đã bị quân Horemheb tịch thu nguyên vẹn. Nhưng binh lính của Horemheb, mệt mỏi và bị kích động bởi sự ác liệt của trận chiến, bởi tình trạng thương tích và mùi máu, cũng vô cùng sợ hãi khi nhìn thấy những tổn thất của chính quân mình, vì xác lính Ai Cập nằm trong thung lũng nhiều hơn xác lính Hittite gấp nhiều lần. Những binh lính sống sót kinh hoàng nói với nhau: “Đây là một ngày khủng khiếp và cũng may là chúng ta không nhìn xung quanh khi đánh nhau vì nếu nhìn thấy quân Hittite đông như kiến và số quân mình đã ngã xuống, chắc chắn tim chúng ta sẽ thót lên miệng và chúng ta đã không thể chiến đấu như sư tử thế”.

Nhưng chứng kiến sự thất bại khủng khiếp của mình, những tên lính Hittite sống sót đã bật khóc và nói: “Những cỗ xe hạng nặng của chúng ta, tinh hoa và niềm tự hào của quân đội chúng ta, đã tiêu tan; trời cao và mẹ đất đã bỏ rơi chúng ta. Sa mạc này chắc chắn không còn là của mẹ đất nữa mà là đất của loài quỷ dữ. Vì vậy, chúng ta không chiến đấu nữa, chúng ta buông vũ khí”. Thế là chúng ném giáo xuống đất ở trước mặt và giơ hai tay lên trời. Horemheb sai trói chúng bằng dây thừng như trói các tù nhân và tất cả những con chuột bùn của sông Nile đến gần, ngạc nhiên nhìn chúng, đưa ngón tay chạm vào vết thương của chúng, nhặt từ mũ và quần áo của chúng những hình mặt trời có cánh và hình rìu đôi.

Trong khung cảnh hỗn độn khủng khiếp đó, Horemheb đi khắp các đội quân, mắng mỏ họ với những lời ghê sợ nhất, quất nhẹ họ bằng chiếc roi vàng của anh ta và xướng tên những người lính mà anh ta thấy nổi bật trong trận chiến, gọi họ là con, là những chú chuột đồng yêu quý của mình. Anh ta sai phát rượu, bia cho họ và cho họ được phép tước lột đồ của những kẻ đã chết, cả lính Hittite lẫn lính Ai Cập, để họ thấy rằng mình cũng có phần chiến lợi phẩm. Còn chiến lợi phẩm quý giá nhất mà anh ta nhận được là những cỗ chiến xa hạng nặng với những chiến mã không bị thương và khỏe khoắn, điên cuồng cắn, đá tứ tung cho đến khi được cho ăn, uống thừa mứa và những người lính quen chăn thả ngựa của Horemheb âu yếm nói với chúng rằng hãy phục vụ Ai Cập. Mặc dù đáng sợ, song ngựa là loài vật khôn ngoan và hiểu được lời nói của con người. Vì vậy, chúng ngoan ngoãn về với Horemheb, phục vụ anh ta khi đã đủ thức ăn và nước uống. Nhưng làm sao chúng có thể hiểu được tiếng Ai Cập khi chỉ quen nghe thứ ngôn ngữ khó hiểu của người Hittite, tôi không thể hiểu. Tuy nhiên, binh lính của Horemheb đảm bảo với tôi rằng chúng hiểu tất cả những gì họ nói, và tôi phải tin họ khi nhìn thấy những con vật to lớn và hoang dã này chịu để họ chăm sóc và cởi bộ giáp len nặng nề, nóng nực ra khỏi cái lưng đẫm mồ hôi của chúng.

Ngay đêm hôm đó, Horemheb đã gửi tin đến các toán cướp và quân ô hợp vẫn đóng ở hai bên rìa sa mạc, kêu gọi tất cả những tên dũng cảm gia nhập các đội chiến xa, về làm lính bọ bẩn thỉu của mình, vì những người sống ở sa mạc biết chăm sóc ngựa hơn người Ai Cập vốn rất sợ ngựa. Tất cả kỵ sĩ vui mừng chấp thuận lời kêu gọi của anh ta và rất vui thích với các chiến xa hạng nặng và những con ngựa cường tráng. Sói, chó hung sa mạc và quạ núi cũng vui thích hệt như thế, kéo đến từng đàn xé mổ xác chết, không phân biệt lính Ai Cập hay lính Hittite.

Tuy nhiên, tôi không buộc phải nghĩ đến những điều này, vì tôi có quá nhiều việc để làm, chữa chạy cho những người bị thương, khâu liền các vết thương, kéo những cẳng chân, cánh tay bị bong gân, trẹo khớp và khoan các hộp sọ bị chùy của lính Hittite đập méo. Mặc dù có nhiều người phụ mổ và khâu vết thương giúp tôi, nhưng phải mất ba ngày ba đêm mới băng bó, cứu chữa được tất cả những người bị thương và trong thời gian này cũng có nhiều người chết vì bị thương quá nặng. Nhưng tôi không được làm công việc này trong tĩnh lặng, mà tai tôi liên tục bị tiếng ầm ào của các trận chiến quấy nhiễu, vì quân Hittite vẫn chưa chịu tin vào thất bại của mình. Ngày hôm sau, chúng tấn công bằng những chiến xa hạng nhẹ để hòng lấy lại những chiến xa tấn công đã mất. Sang ngày thứ ba, chúng cố sức phá bỏ các vật chướng ngại, vì không dám quay trở lại Syria báo cáo tổn thất với các tướng lĩnh của mình

Nhưng vào ngày thứ ba, Horemheb không chỉ phòng thủ nữa mà ra lệnh dỡ bỏ các chướng ngại vật và đưa những con bọ rác rưởi của mình và các chiến xa thu được của quân Hittite ra giao chiến. Những chiến xa này truy đuổi các chiến xa hạng nhẹ của quân Hittite và chia rẽ chúng ra, nhưng họ cũng bị tổn thất nhiều vì quân Hittite nhanh hơn và quen điều khiển chiến xa hơn, khiến tôi lại có thêm nhiều việc phải làm. Nhưng Horemheb nói những tổn thất này là không tránh khỏi, vì chỉ trong chiến trận, những tân binh rác rưởi của anh ta mới học được cách điều khiển ngựa và chiến xa; và sẽ học được tốt khi kẻ thù đang ở thế bất lợi và sợ hãi, hơn là khi chúng đã được nghỉ ngơi, được trang bị lại và các chiến xa của chúng đã sẵn sàng đối đầu với chiến xa của Ai Cập.

- Chúng ta sẽ không bao giờ thắng được Syria nếu ta không có chiến xa để chống lại chiến xa, - Horemheb nói. - Vì vậy, toàn bộ cuộc chiến diễn ra bằng chướng ngại vật này chỉ là trò trẻ con và chúng ta sẽ không thu được gì với nó, cho dù chúng ta chặn được cuộc tấn công của quân Hittite vào Ai Cập.

Anh ta rất mong quân Hittite sẽ cho bộ binh vào sa mạc để đánh anh ta vì trong sa mạc, quân Hittite sẽ là miếng mồi ngon cho anh ta khi không có đủ nguồn cung cấp nước. Nhưng người Hittite khôn ngoan và học hỏi nhanh, chúng giữ quân của mình ở Syria với hy vọng Horemheb vì lóa mắt trước chiến thắng mà sẽ cho quân từ sa mạc đến Syria, dễ dàng trở thành miếng mồi cho binh lính và đội chiến xa giàu kinh nghiệm đang hồi phục của chúng. Tuy nhiên, thất bại vừa qua của chúng đã gây ra hỗn loạn lớn ở Syria, nhiều thành phố đã nổi dậy chống lại Aziru và đóng cửa thành, vì chán ngấy với tham vọng quyền lực của Aziru và lòng tham của người Hittite, đồng thời cũng hy vọng giành được sự ủng hộ của Ai Cập khi mơ tưởng một chiến thắng nhanh chóng. Vì các thành phố của Syria luôn xung đột với nhau và các do thám của Horemheb đã kích động trạng thái bất ổn trong người dân ở đó, lan truyền những tin đồn đáng sợ và thổi phồng thất bại trên sa mạc của quân Hittite.

Horemheb cho quân lính nghỉ ngơi trên Núi Chiến Thắng và bàn bạc với quân do thám của mình để đưa ra những chiến lược mới, và tiếp tục gửi đến Gaza đang bị bao vây mọi ngả đường thông điệp: “Hãy giữ lấy Gaza”. Anh ta biết rằng Gaza không thể chịu đựng được cuộc vây hãm lâu hơn nữa và để giành lại được Syria, anh ta phải có một căn cứ trên bờ biển. Trong lúc chờ đợi, anh ta cho người len lỏi vào hàng ngũ binh lính, kể lể về sự giàu có của Syria và các nữ giáo sĩ của đền thờ Ishtar, những người có tài nghệ làm các chiến binh dũng cảm thỏa mãn và vui vẻ. Tôi không biết anh ta chờ đợi điều gì cho đến một đêm kia, từ sa mạc bên phía Syria, một người gầy gò, tiều tụy lén lút đến gần các chướng ngại vật nộp mình và cầu xin gặp Horemheb. Quân lính chế nhạo sự táo tợn của gã, nhưng Horemheb đồng ý tiếp gã và khi nhìn thấy Horemheb, gã cúi gập người, tay thõng xuống đầu gối, mặc dù bộ đồ gã mặc là của người Syria. Rồi gã đặt lòng bàn tay lên một mắt của mình, như thể sợ bị đá ném. Thấy thế, Horemheb nói:

- Kìa, chắc bọ hung không đốt mắt ngươi đó chứ?

Tôi tình cờ ở trong lều anh ta khi việc này xảy ra và thấy lời nói đó thật ngu ngốc vì bọ hung là con vật vô hại và không đốt bất cứ ai. Nhưng gã kia nói:

- Đúng là bọ hung đã đốt mắt tôi vì ở Syria có mười lần mười bọ hung, và tất cả chúng đều rất độc.

Horemheb nói:

- Chào ngươi, người dũng cảm, ngươi có thể nói thoải mái, vì danh y trong lều ta đây là người ngốc và dĩ nhiên không hiểu gì.

Tên do thám nghe thế mới nói:

- Ông chủ của tôi, tướng quân Horemheb, cỏ khô đã đến.

Gã không nói gì nữa, nhưng qua đó tôi đoán gã là do thám của Horemheb; và Horemheb vội vã ra khỏi lều chỉ huy và ra lệnh đốt lửa hiệu trên đỉnh núi; chỉ một lúc sau, ngọn lửa hiệu bừng sáng trên tất cả các triền núi từ Núi Chiến Thắng đến tận miền Hạ. Bằng cách này, Horemheb gửi thông điệp đến Tanis rằng đội thuyền chiến phải dong buồm ra biển đến Gaza và chấp nhận giao chiến với thủy quân Syria, trừ khi tránh được giao tranh.

Sáng hôm sau, Horemheb ra lệnh thổi tù và, cả đoàn quân lên đường xuyên qua sa mạc về phía Syria; các cỗ chiến xa đi trước dẫn đầu từng phân đội nhỏ, khai chiến để mở đường và chọn nơi hạ trại cho đoàn quân nghỉ trên đường đi. Nhưng sao Horemheb lại dám giao chiến với quân Hittite trên địa hình bằng phẳng, tôi không thể hiểu. Nhưng các đội quân vẫn sẵn sàng theo anh ta, mơ về sự giàu có của Syria và chiến lợi phẩm dồi dào, cho dù khi nhìn từng khuôn mặt họ, tôi như thấy dấu ấn của tử thần. Nhưng tôi vẫn lên kiệu và theo họ, bỏ lại sau mình Núi Chiến Thắng, bỏ lại xương của lính Hittite và lính Ai Cập yên bình nằm lại bên nhau, làm trắng dần thung lũng bị chẹn kín những chướng ngại vật.

❖ 3 ❖

Giờ đã đến lúc phải kể về cuộc chiến ở Syria, nhưng tôi không có nhiều điều để kể, bởi vì tôi không hiểu về chiến tranh, và trong mắt tôi tất cả các cuộc chiến đều giống nhau, tất cả những thành phố bị cháy, những ngôi nhà bị cướp đều giống nhau và những người vợ nức nở, những thi thể bị xé toạc đều như nhau, dù tôi tình cờ bắt gặp hay nhìn thấy ở đâu. Vì thế, những điều tôi kể sẽ rất đơn điệu nếu kể tất cả mọi điều mình thấy, vì cuộc chiến ở Syria kéo dài ba năm và đó là một cuộc chiến khốc liệt và tàn nhẫn, làm rất nhiều người thiệt mạng, đến mức những ngôi làng ở Syria trở nên hoang tàn, cây ăn quả bị đốn trụi trong vườn và các thành phố trở nên trống vắng.

Nhưng trước tiên, tôi phải kể về mưu lược của Horemheb, vì anh ta đã không do dự cho quân vượt qua cột đá mốc biên giới vào Syria và phá hủy các cột do Aziru cho dựng, lại còn cho phép lính của mình cướp bóc làng mạc và vui vẻ với đàn bà Syria để họ được nếm thành quả chiến thắng. Anh ta tiến quân thẳng đến Gaza và khi biết được ý định đó, quân Hittite đã tập trung lực lượng vào một dải đất rộng gần Gaza để chặn đường tiến và tiêu diệt quân của anh ta, vì địa hình này rất thích hợp cho những trận đánh bằng chiến xa và chúng tin chắc mình sẽ chiến thắng. Nhưng tiết trời đã sang đông từ lâu nên chúng phải cho ngựa ăn cỏ khô và thức ăn gia súc mua từ các thương nhân Syria. Trước trận chiến, ngựa của chúng bị ốm và bắt đầu run rẩy khi được đóng yên, phân ngựa chuyển sang màu xanh lục và nhão nhoét, và nhiều con đã chết. Vậy nên lực lượng chiến xa của Horemheb đã có thể giao chiến ngang ngửa với đội chiến xa của Hittite và sau khi đánh bại các chiến xa của chúng, anh ta dễ dàng đánh tan tác bộ binh Hittite đang hoảng loạn. Lính giáo và lính cung của anh ta đã làm nốt việc mà các chiến xa đã bắt đầu, khiến quân Hittite phải chịu những tổn thất lớn chưa từng có và trên bãi chiến trường, xác quân Hittite và Syria cũng nhiều như xác lính Ai Cập, khiến nơi này được gọi là Bãi Xương Người. Khi đến doanh trại của chúng, việc Horemheb làm trước tiên là ra lệnh đốt các kho chứa thức ăn gia súc, vì những thức ăn này đã bị trộn lẫn nhiều lá cây độc làm cho ngựa Hittite bị bệnh, nhưng lúc đó tôi thật không biết bằng cách nào Horemheb đã làm được việc ấy.

Thế là Horemheb đã đến được trước thành Gaza và đánh tan tác đội quân bao vây thành trong khi quân Hittite và Syria bỏ chạy đến các thành phố và đồn trú kiên cố ở miền nam Syria. Cùng lúc ấy, cả thủy quân Ai Cập cũng dong thuyền đến cập cảng Gaza, sau khi bị đánh tơi tả và nhiều thuyền vẫn còn cháy trong trận hải chiến kéo dài hai ngày ở ngoài khơi Gaza. Thủy quân Ai Cập chạy trốn vào cảng Gaza và nhiều thuyền bị đắm khi đụng phải chướng ngại vật che kín cảng trước khi viên trấn thủ cẩn trọng của Gaza tin lời họ và cho phép dỡ bỏ các chướng ngại vật; và hạm đội liên quân của Syria và Hittite cũng bỏ chạy đến Tyros và Sidon để củng cố lực lượng; vì cả hai bên đều rút lui nên trận hải chiến vẫn chưa phân thắng bại. Nhưng ngay sau trận này, Horemheb đã có thể vận chuyển thực phẩm, vũ khí và binh lính đến Gaza bằng đường biển, cũng như cho những lính bị thương và ốm yếu của mình lên thuyền về Ai Cập.

Ngày những cánh cổng bất khả chiến bại được rộng mở ra cho đoàn quân của Horemheb nay vẫn là ngày lễ trên khắp Ai Cập và vào ngày mùa đông này, Ngày thần Sekhmet, trẻ con chơi trò đánh nhau bằng chùy gỗ và giáo sậy, tái hiện cuộc bao vây Gaza. Có lẽ chưa bao giờ có thành phố nào được bảo vệ kiên cường hơn Gaza và chắc chắn viên trấn thủ Gaza hoàn toàn xứng đáng với mọi danh tiếng mà anh ta được nhận vì đã bảo vệ Gaza. Vì vậy tôi nhắc đến tên anh ta, cho dù tôi vẫn thấy nhục nhã bởi anh ta đã chứng kiến tôi được kéo lên tường thành Gaza trong một cái giỏ sậy như thế nào. Tên anh ta là Roju.

Lính của anh ta gọi anh ta là Cổ Vẹo và tôi nghĩ cái tên này mô tả đúng ngoại hình và tính khí của anh ta, vì tôi chưa từng gặp ai ngang ngạnh và đa nghi hơn anh ta. Sau chiến thắng, Horemheb đã cho thổi tù và suốt một ngày dài trước thành Gaza, đến khi Roju tin và cho mở cổng. Ngay cả khi đó, lúc đầu anh ta cũng chỉ cho một mình Horemheb bước vào trong cổng thành, bởi anh ta nghi ngờ Horemheb là một người Syria cải trang. Cuối cùng, khi tin chắc Horemheb đã đánh bại quân Hittite, Gaza không còn gặp nguy hiểm nữa và cuộc bao vây đã kết thúc, anh ta cũng không tỏ ra quá vui mừng mà vẫn cáu kỉnh như trước vì không vừa ý với việc Horemheb là tổng tư lệnh ở Gaza, ở cấp cao hơn và chỉ huy anh ta, vì trong nhiều năm bị vây hãm, anh ta đã quen mình là người ra lệnh cho tất cả.

Thật ra tôi cũng nên kể thêm về Roju Cổ Vẹo này, vì anh ta là một người khá kỳ cục và gây ra nhiều xung khắc ở Gaza vì sự ngang ngạnh của mình. Tôi nghĩ anh ta là một kẻ điên rồ, bướng bỉnh và đầu óc anh ta có vấn đề, nhưng nếu anh ta không như vậy, có lẽ quân Hittite và Aziru đã chiếm được Gaza từ lâu. Tôi không nghĩ anh ta có thể làm được gì ở nơi nào khác, mà thần linh hay vận may đã đưa anh ta đến Gaza, một nơi hoàn toàn phù hợp với khả năng của anh ta. Ban đầu, anh ta bị đày đến Gaza do liên tục cãi lệnh cấp trên, vì Gaza là một thành phố nhỏ bé và thứ yếu so với các thành phố khác của Syria, một nơi đày ải thích đáng, và chỉ những việc xảy ra sau này mới biến nó thành quan trọng. Đúng ra, chính Roju là người biến nó thành quan trọng vì anh ta đã không hàng phục Aziru như các thành phố khác.

Nhưng trước tiên, tôi phải kể về việc chúng tôi đến Gaza và thành này trông như thế nào khi chúng tôi đến. Tôi đã kể các tường thành ở Gaza cao đến nỗi tôi rất sợ bị gãy cổ khi tay Roju này ra lệnh dùng dây kéo tôi lên tường thành sau khi đã làm tay và đầu gối tôi bỏng rộp vì hắc ín đun chảy. Những bức tường này đã cứu Gaza vì chúng được xây bằng những phiến đá khổng lồ, móng được xây từ xửa xưa và không ai biết người xây là ai, theo dân gian thì chính những người khổng lồ đã xây chúng. Vì thế, quân Hittite không thể làm được gì nhiều với những bức tường này, nhưng những phần tường bị chúng dùng máy ném đá đập vỡ và tháp canh bị đổ khi chúng đào đất dưới chân tường với sự che chắn của hàng khiên đã cho thấy năng lực quân sự tài giỏi của chúng.

Cả khu phố cổ bên trong tường thành đã bị thiêu rụi gần hết và không một ngôi nhà nào còn nguyên mái. Khu phố mới bên ngoài tường thành bị Roju Cổ Vẹo cho đốt cháy và phá hủy hoàn toàn ngay khi anh ta nghe tin về cuộc nổi dậy của Aziru và anh ta đã dùng quyền lực của chính mình để làm điều này vì tất cả những phò tá của anh ta phản đối và dân chúng phẫn nộ, đe dọa anh ta nếu anh ta cho phá hủy thành phố của họ. Với việc làm này, Roju đã vô tình làm dân Syria ở Gaza nổi loạn trước khi họ kịp phối hợp với nhau, bởi vì kế hoạch của Aziru là các thành phố có quân Ai Cập đồn trú sẽ chỉ nổi dậy sau khi binh lính và chiến xa của anh ta đến được trước cổng thành. Thế nên chỉ với lực lượng quân đồn trú, Roju cũng có thể dẹp tan cuộc bạo loạn, không cần quân tiếp viện mà Ekhnaton sẽ không gửi đến; và anh ta đã nhấn chìm cuộc bạo loạn trong biển máu, khiến dân chúng kinh hoàng và không ai dám nghĩ đến việc nổi dậy chống lại anh ta nữa. Vì nếu ai đó bị bắt với vũ khí trên tay và đầu hàng rồi cầu xin khoan hồng, Roju sẽ nói: “Hãy cho hắn một chùy vào đầu vì đã ngoan cố chống lại ta và xin khoan hồng”. Nếu ai đầu hàng mà không xin khoan hồng, Roju sẽ nổi điên và nói: “Hãy nện chùy vào đầu tên phiến quân ngoan cố này, kẻ dám kiêu hãnh ngẩng cao đầu trước mặt ta”. Nếu những người vợ cùng bầy con đến gặp anh ta để cầu xin sự sống cho chồng và cha mình, anh ta sẽ ra lệnh giết hết không thương xót: “Hãy giết hết tụi Syria rác rưởi này, những kẻ không biết rằng ý chí của ta cao hơn của chúng, như bầu trời ở trên mặt đất”.

Vì vậy, không ai có thể nói điều gì vừa lòng anh ta, mà anh ta ngửi thấy sự xúc phạm và chống đối trong mọi lời nói với mình. Nếu người ta cảnh báo anh ta rằng Pharaon cấm xảy ra đổ máu, anh ta sẽ nói: “Ta là pharaon ở Gaza”. Sự ngạo mạn của anh ta thật khủng khiếp, nhưng tôi phải thừa nhận rằng anh ta chỉ nói câu này khi quân Aziru bao vây Gaza.

Nhưng cuộc vây hãm của Aziru chỉ là trò trẻ con so với cuộc bao vây khốc liệt và kiên định của quân Hittite. Vì cả ngày lẫn đêm, quân Hittite ném lửa vào pháo đài và nhà cửa, ném rắn độc trong các hũ đất sét bịt kín vào thành và hũ vỡ tan khi rơi xuống nền đá Gaza, ném xác xúc vật và tù binh Ai Cập vào bằng máy ném khiến thân thể họ bị đập vào tường thành nát bét. Khi chúng tôi vào được trong thành, chỉ còn ít người sống sót và từ trong xó xỉnh những ngôi nhà bị cháy, chỉ có mấy người đàn bà với người già gầy tong như những cái bóng khủng khiếp đứng dậy chào chúng tôi. Tất cả trẻ em ở Gaza đều đã chết và tất cả đàn ông bị bắt làm cho đến chết dưới làn roi của Roju để đắp lại những chỗ hổng trên các bức tường thành. Không người sống sót nào tỏ vẻ vui mừng khi thấy quân Ai Cập kéo vào thành qua những cánh cổng đã bị phá đổ, chỉ có những người đàn bà vung nắm đấm gầy guộc về phía chúng tôi và những người già chửi mắng chúng tôi. Horemheb sai phân phát cho họ ngũ cốc với bia và nhiều người trong số họ đã chết ngay đêm đó trong đau đớn tột cùng, vì lần đầu tiên được ăn đến căng bụng với lượng thức ăn của cả tháng, khiến cái dạ dày rỗng lâu ngày của họ không chịu đựng nổi. Tôi cũng nghĩ trong thời gian bị bao vây, họ đã không chịu nổi vì nỗi kinh hoàng và hận thù đến bất lực khiến cuộc sống không còn là niềm vui đối với họ nữa.

Nếu có thể, tôi muốn mô tả Gaza như tôi nhìn thấy trong ngày chiến thắng ấy khi chúng tôi tiến vào qua những cánh cổng đã bị phá. Tôi muốn mô tả những tấm da người khô quắt treo trên tường thành và những sọ người đen sì đang bị quạ rỉa. Tôi muốn mô tả nỗi kinh hoàng của những ngôi nhà bị cháy và những đống xương gia súc đen bồ hóng trên những con hẻm đầy những bức tường nhà mục nát.

Tôi muốn mô tả cái mùi khủng khiếp, mùi của chết chóc và dịch bệnh trong thành phố bị vây hãm khiến binh lính của Horemheb phải dùng ngón tay bịt chặt mũi. Tôi muốn mô tả tất cả những điều này để đưa ra một ý niệm về ngày chiến thắng vĩ đại và lý giải vì sao từ tận đáy lòng, tôi không thể vui trong ngày Ai Cập đón mừng chiến thắng này.

Tôi cũng muốn mô tả những người lính còn sống sót của Roju Cổ Vẹo: hai bên sườn gầy tóp, đầu gối sưng tấy và lưng đầy vết roi. Tôi muốn mô tả đôi mắt của họ, không còn là mắt người mà lóe sáng màu lục như mắt của dã thú trong bóng của những bức tường. Họ giơ cao ngọn giáo trong đôi tay yếu ớt của mình và gào lên với Horemheb: “Hãy giữ lấy Gaza, hãy giữ lấy Gaza!”

Tôi không biết họ hét lên như thế là để nhạo báng anh ta, một việc mà họ không hề có lý do để làm, hay họ hét lên như thế vì trong hộp sọ khốn khổ của họ không chứa đựng ý nghĩ mang tính người nào. Tuy nhiên, họ không ở trong tình trạng khốn khổ như người dân thành phố mà được ăn uống; Horemheb cho giết gia súc để họ được ăn thịt tươi và phân phát cho họ bia rượu, thứ anh ta có rất nhiều sau khi lính của anh ta cướp phá doanh trại của quân Hittite và các nhà kho của quân bao vây. Họ không đủ kiên nhẫn đợi thịt chín trong các chảo lớn mà dùng tay xé thịt sống nhai ngấu nghiến và say mèm sau những hớp bia đầu tiên, đến mức bắt đầu nghêu ngao những bài hát tục tĩu và huênh hoang về những việc mình làm.

Nhưng họ cũng có rất nhiều điều để khoe và trong những ngày đầu, không binh lính nào của Horemheb, kể cả những con bọ dạn dày của anh ta, muốn thi ba hoa với họ, vì ai cũng biết những người lính ở pháo đài này vượt quá sức chịu đựng của con người để giữ Gaza cho Ai Cập. Họ hết lời ca ngợi Horemheb, người đã cho họ uống đến say mèm, gửi đến họ những lời khích lệ khi họ bị vây hãm và đêm đêm gửi cho họ đại mạch Syria trong những chiếc thuyền nhỏ len lỏi qua dãy thuyền bao vây. Họ cũng ca ngợi mưu lược của Horemheb vì khi đại mạch đã cạn và lính phải săn chuột để ăn trong pháo đài thì lương thực đựng trong các hũ sành bắt đầu vượt qua tường thành rơi vào trong và chính quân Hittite đã ném đại mạch trong các hũ bịt kín vào Gaza; đồng thời với đại mạch, họ nhận được thông điệp của Horemheb trong mỗi hũ: “Hãy giữ lấy Gaza!”. Những điều siêu phàm này đã khích lệ họ trong cơn quẫn bách, khiến họ coi Horemheb ngang với thần linh.

Horemheb tặng mỗi người lính Gaza sống sót một sợi dây chuyền vàng và việc đó không gây tốn kém cho anh ta nhiều lắm vì họ chỉ còn lại không quá hai trăm người đủ sức chiến đấu. Do vậy, việc họ giữ được Gaza là một điều kỳ diệu. Anh ta cũng cho họ những nữ tù nhân Syria trong trại của quân Hittite để họ mua vui với những người này và quên đi những đau khổ đã phải chịu đựng, nhưng vì mòn mỏi, đói khát quá lâu, những người lính Gaza tội nghiệp này không còn biết vui với đàn bà nữa, mà dùng giáo và dao đâm, rạch họ, lấy tiếng kêu đau đớn của họ làm niềm vui theo thói quen của quân Hittite. Họ học được rất nhiều thói quen mới từ quân Hittite trong cuộc vây hãm, ví như lột da tù nhân khi còn sống và treo tấm da lên tường. Nhưng họ lại nói họ đâm, rạch những phụ nữ Syria này vì là người Syria, và họ nói: “Đừng để chúng tôi nhìn thấy người Syria nào vì nếu thấy, chúng tôi sẽ đánh và bóp cổ người đó”.

Horemheb tặng Roju Cổ Vẹo một chiếc vòng cổ bằng vàng được mạ men trắng, có gắn những viên ngọc bích, và một chiếc roi bằng vàng rồi cho lính của mình reo hò, tôn vinh anh ta, đến mức tiếng hô của họ làm bức tường thành Gaza như rung chuyển. Tất cả bọn họ đều chân thành reo vui và vô cùng ngưỡng mộ Roju, người đã giữ vững Gaza. Khi tiếng reo hò lắng xuống, Roju ngờ vực sờ chiếc vòng quanh cổ mình và hỏi:

- Thưa Horemheb, tướng quân coi tôi là ngựa hay sao mà trang điểm cho tôi bằng dây cương vàng, và có thật chiếc roi này được bện bằng vàng ròng không, hay chỉ là vàng pha của người Syria?

Rồi anh ta nói thêm:

- Tướng quân hãy đưa lính của mình ra khỏi thành phố này, vì sự đông đúc của họ quấy nhiễu tôi quá thể, làm tôi đêm đêm không thể ngủ được trong tháp của mình khi họ làm ầm ĩ, mặc dù tôi từng ngủ rất ngon khi quân phá tường đập ầm ầm và lửa cháy xèo xèo xung quanh tôi. Hãy đưa lính của tướng quân ra khỏi thành phố này, vì ở Gaza tôi là pharaon; nếu điên lên, tôi sẽ sai lính của tôi đánh lính của ngài và giết họ nếu họ vẫn làm ầm ĩ và quấy nhiễu giấc ngủ của tôi.

Quả thật, sau khi cuộc vây hãm chấm dứt, Roju Cổ Vẹo mất ngủ triền miên, ngay cả thuốc ngủ cũng không giúp được anh ta và rượu cũng vô hiệu dụng, thậm chí còn làm giấc ngủ của anh ta tệ hơn. Đêm đêm anh ta nằm trên giường, lật đi lật lại trong đầu danh sách đồ quân dụng trong kho của pháo đài mà anh ta đã thuộc nằm lòng, cố gắng nhớ ra từng món đã được sử dụng vào việc gì, từng ngọn giáo đã được ném vào đâu; anh ta cố nhớ tất cả những điều điên rồ khác, đến mức không thể nào ngủ được nữa. Cho đến một hôm, anh ta nhún nhường đến chỗ Horemheb và nói

- Tướng quân là ông chủ của tôi và là chỉ huy của tôi. Vì thế hãy cho trừng phạt tôi đi, bởi tôi chịu trách nhiệm với Pharaon về tất cả những gì ngài đã tin tưởng giao phó, nhưng tôi không thể làm được, vì rất nhiều giấy tờ đã bị cháy khi quân Hittite ném những hũ lửa vào phòng tôi và trí nhớ của tôi không thể nhớ lại mọi thứ vì đã bị suy giảm rất nhiều do thao thức và giấc ngủ kém. Tôi nghĩ mình nhớ hết mọi thứ, nhưng đúng ra trong kho phải có bốn trăm dây đai buộc đuôi lừa mà tôi không thể tìm thấy chúng ở đâu nữa; bọn coi kho cũng không tìm thấy, mặc dù tôi đánh chúng mỗi ngày đến nỗi chúng không thể ngồi hoặc đi được nữa mà phải chạy bò lổm ngổm trên sàn. Horemheb, tôi biết tìm bốn trăm dây đai này ở đâu, vì tất cả lừa trong pháo đài đã bị chúng tôi làm thịt từ lâu và chúng không cần dây buộc đuôi nữa. Nhân danh Seth và tất cả ác quỷ, Horemheb, hãy cho đánh tôi ở nơi công cộng và trừng phạt tôi, vì tôi rất sợ Pharaon nổi giận và tôi sẽ không bao giờ dám diện kiến ngài, như địa vị của tôi đòi hỏi, trừ khi tôi tìm thấy số dây đó.

Horemheb cố gắng trấn an anh ta và nói sẽ rất vui lòng tặng anh ta bốn trăm dây đai buộc đuôi lừa để sổ sách và hàng trong kho khớp với nhau. Nhưng điều đó khiến Roju lo lắng hơn, anh ta nói:

- Rõ ràng là ngài tìm cách dụ tôi lừa dối Pharaon, vì nếu tôi nhận từ ngài số dây này, chúng hoàn toàn không phải là những dây đai đuôi lừa mà Pharaon muốn tôi giữ khi giao quyền chỉ huy Gaza cho tôi. Chắc ngài làm điều này để triệt hạ tôi và buộc tôi tội nhận hối lộ trước Pharaon, vì ngài ghen tị với danh tiếng của tôi và muốn trở thành người chỉ huy Gaza. Có lẽ ngài đã sai bọn lính ngỗ ngược của mình đánh cắp những dây đai đuôi lừa này từ kho của tôi để buộc tội tôi. Vì thế tôi không đồng ý với lời đề nghị xảo quyệt của ngài, vì tôi quyết giữ Gaza và binh lính của tôi quyết giữ Gaza chừng nào chúng tôi vẫn còn sống sót; và tôi sẽ tìm được bốn trăm dây đai đuôi lừa này, dù có phải đập vỡ tất cả đá Gaza.

Nghe thế, Horemheb lo lắng cho tâm trạng của anh ta nên thuyết phục anh ta đi Ai Cập, về với vợ con để dưỡng sức sau những tổn thương, vất vả mà anh ta phải gánh chịu trong cuộc vây hãm. Nhưng lẽ ra Horemheb không nên làm thế vì đề nghị này càng khiến Roju tin chắc là Horemheb đang đe dọa quyền lực của mình và muốn chiếm đoạt Gaza của anh ta. Vì vậy, anh ta nói:

- Gaza là Ai Cập của tôi, các bức tường thành Gaza là vợ tôi và các tháp Gaza là con tôi. Nhưng tôi sẽ mổ bụng vợ tôi và chặt đầu các con tôi, nếu tôi không tìm lại được những chiếc dây buộc đuôi lừa bị mất này.

Anh ta đã phớt lờ Horemheb, ra lệnh hành quyết một viên coi kho từng ở bên cạnh anh ta và chịu đựng tất cả những khó khăn của cuộc vây hãm, rồi bắt quân lính dùng đòn bẩy và cuốc chim cạy, lật nền của các tòa tháp lên để tìm dây đai đuôi lừa. Khi tận mắt thấy cảnh phá hoại này, Horemheb ra lệnh nhốt anh ta trong phòng, canh giữ cẩn thận và xin tôi lời khuyên với tư cách là thầy thuốc. Sau khi nói chuyện thân mật với Roju, mặc dù anh ta không tin tôi là bạn mà nghi ngờ tôi dùng mưu để leo lên chức chỉ huy Gaza, tôi nói với Horemheb:

- Người này sẽ không bình tâm lại nếu anh và binh lính của anh không rời Gaza để anh ta lại được đóng cổng thành và cai trị Gaza như một pharaon theo cách của anh ta.

Nhưng Horemheb nói:

- Nhân danh Seth và tất cả ác quỷ, tôi làm thế nào được khi chưa có thuyền từ Ai Cập đưa binh lính, vũ khí và lương thực đến để tôi có thể bắt đầu cuộc chiến ở Joppa. Cho đến khi ấy, các tường thành của Gaza là nơi ẩn náu duy nhất, nhưng nếu tôi cùng các đội quân của mình ra ngoài thành, tất cả những gì tôi đã giành được cho đến bây giờ sẽ tan thành mây khói.

Tôi lưỡng lự nói:

- Có lẽ sẽ hạnh phúc hơn cho chính anh ta nếu tôi khoan sọ và cố gắng chữa lành cho anh ta, vì trong thời gian ở đây, tôi biết anh ta đã phải chịu đựng rất nhiều và bây giờ nên trói anh ta vào giường. Nếu không, anh ta có thể gây hại cho chính mình hoặc cho anh.

Nhưng Horemheb không muốn cho khoan sọ người anh hùng nổi tiếng nhất Ai Cập vì điều này có thể gây nguy hiểm cho danh tiếng của chính anh ta nếu Roju chết, vì tôi không thể đảm bảo cho tính mạng của Roju, vì khoan sọ luôn không an toàn và đầy rủi ro. Vì thế, anh ta bảo tôi đến gặp Roju và với sự giúp đỡ của những người lính lực lưỡng, tôi trói Roju vào giường và cho anh ta uống thuốc ngủ. Nhưng đôi mắt anh ta lóe sáng xanh lục như mắt ác thú trong ánh lờ mờ của chiếc giường và anh ta giãy giụa, thịnh nộ trào sùi bọt mép và bảo tôi:

- Ta không phải là chỉ huy của Gaza sao, tên chó hung sa mạc của Horemheb kia? Giờ ta mới nhớ ra, trong hầm ngục của pháo đài có một tên do thám Syria đã sa vào bẫy của ta trước khi thằng chủ của ngươi đến và vì phải lo quá nhiều việc nên ta quên treo nó lên tường. Tên do thám này rất xảo quyệt và ta biết chắc là hắn đã giấu bốn trăm dây đai đuôi lừa đó. Hãy đưa hắn đến đây cho ta để ta bắt hắn ói những sợi dây chết tiệt đó ra để ta lại ngủ được.

Anh ta huyên thiên như điên và lải nhải mãi về tên do thám Syria, đến nỗi tôi phát chán và sai đốt đuốc rồi đi xuống ngục tối, nơi có cả đống xác chết bị xích vào tường và bị chuột của pháo đài gặm. Cai ngục là một lão già mù vì sống cả đời trong hầm tối của Gaza; lão thuộc lòng mọi lối đi lại, nhận ra các hành lang mà không cần đuốc. Tôi gặng hỏi lão về tên do thám Syria bị bắt giam trước khi cuộc bao vây kết thúc, nhưng lão ta thề và khăng khăng cam đoan rằng tất cả các tù nhân đã chết vì trước tiên bị tra tấn trong các cuộc khảo cung, sau đó bị bỏ đói, bỏ khát theo lệnh của Roju. Nhưng thái độ của lão già khiến tôi nghi ngờ. Vì vậy, tôi tra vấn và đe dọa lão cho đến khi lão ta nằm phục xuống trước mặt tôi và van xin:

- Tha mạng cho tôi, thưa ngài, vì suốt cuộc đời mình tôi đã trung thành phục vụ Ai Cập và vì Ai Cập, tôi đã tra tấn tù nhân và lấy trộm thức ăn của chúng. Nhưng tên do thám này không phải là người bình thường, lưỡi hắn kỳ lạ, líu lo như chim sơn ca và hắn đã hứa sẽ cho tôi tài sản lớn nếu tôi cho hắn ăn và giữ tính mạng hắn cho đến khi Horemheb đến. Hắn cũng hứa giúp mắt tôi sáng lại, nếu tôi để hắn sống, vì bản thân hắn từng bị mù cho đến khi một danh y tài giỏi chữa lành một mắt cho hắn và hắn hứa đưa tôi đến gặp vị danh y đó, để ông này chữa lành cho tôi và tôi có thể lại sống trong thành phố giữa mọi người và tận hưởng sự giàu có của mình. Hắn đã nợ tôi hơn hai triệu deben vàng vì bánh mì và nước uống mà tôi đã đưa cho hắn. Tôi đã không nói với hắn là cuộc bao vây đã kết thúc và Horemheb đã đến Gaza, để hắn nợ tôi nhiều hơn nữa vì bánh mì và nước hằng ngày tôi mang đến cho hắn. Hắn muốn ngay sau khi Horemheb đến, tôi bí mật đưa hắn đến gặp Horemheb; hắn thề với tôi là Horemheb sẽ thả hắn và cho hắn nhiều dây chuyền vàng. Tôi tin lời hắn vì chắc chắn không ai có thể cưỡng lại cái lưỡi líu lo của hắn. Tôi chỉ định đưa hắn đến gặp Horemheb khi hắn nợ tôi đủ ba triệu deben vàng. Con số này chẵn nên dễ nhớ với trí nhớ của tôi.

Nghe lão ta nói, đầu gối tôi bắt đầu run lên và trái tim tôi như tan ra trong lồng ngực, vì tôi tin mình biết lão ta đang nói về ai. Nhưng tôi buộc tim mình chai lại và nói với lão:

- Lão già ạ, có lẽ chừng đó vàng thì cả Ai Cập và Syria cũng không có đâu. Từ những lời ngươi nói, ta đoán người đó là một kẻ dối trá khủng khiếp và đáng bị trừng phạt. Vì thế, hãy đưa ta đến chỗ hắn ta ngay và cầu xin tất cả thần linh của ngươi, đừng để điều tồi tệ nào xảy ra với hắn ta, vì ngươi phải lấy cái đầu mù của mình chịu trách nhiệm về hắn ta đấy.

Lão già vừa khóc lóc thảm thiết, gào lên cầu cứu Amon, vừa dẫn tôi đến cuối ngục rồi lách vào một cái hầm nhỏ mà lão đã lấy đá chẹn lại, ngăn với các hầm khác để lính của Roju không tìm thấy nó. Dùng đuốc rọi vào hầm, tôi thấy một người đàn ông bị xích vào tường, trên người là bộ đồ Syria đã bị xé toạc, lưng đầy vết thương và bụng như một cái túi nhiều nếp gấp thõng xuống giữa hai đầu gối. Một mắt của ông ta bị mù và trong ánh sáng của ngọn đuốc, ông ta giương con mắt còn sáng nhìn về phía tôi, chớp chớp mắt và giơ tay che ánh sáng làm mắt đau nhói sau nhiều tuần ở trong bóng tối. Ông ta nói với tôi:

- Phải ông không, Sinuhe, ông chủ của tôi? Tạ ơn ngày đã đưa ông đến với tôi, nhưng hãy bảo thợ rèn mau mau cắt đứt xích này và mang cho tôi một hũ rượu, để tôi có thể quên đi những cực nhục này. Hãy sai nô lệ tắm rửa và xức cho tôi những loại dầu tốt nhất, bởi vì tôi đã quen với sự no đủ, với cuộc sống xa hoa và những tảng đá lát sàn sắc nhọn này đã mài mòn da dưới mông tôi. Tôi cũng không phản đối nếu ông sai sửa soạn cho tôi một chiếc giường êm ái và đưa tới đó một vài trinh nữ Ishtar, bởi vì cái bụng của tôi không còn cản trở tôi tận hưởng khoái lạc yêu đương, mặc dù tôi đã ăn hơn hai triệu deben bánh mì chỉ trong mấy ngày, tin hay không tùy ông.

- Kaptah, Kaptah, - tôi kêu lên và quỳ xuống trước mặt ông ấy, ôm lấy đôi vai bị chuột cắn của ông. - Ngươi thật vô phương cứu chữa, mà ở Thebes người ta nói ngươi đã chết nhưng ta không tin, vì ta nghĩ ngươi không bao giờ chết và bằng chứng rõ nhất cho điều đó là ta tìm thấy ngươi còn sống ở đây và khỏe mạnh trong cái hang đầy xác chết này, mặc dù có lẽ bất cứ ai trong số những kẻ đã chết trong xiềng xích xung quanh ngươi đều là những người tử tế và đáng kính trọng hơn ngươi. Tuy nhiên, ta rất mừng khi thấy ngươi còn sống.

Nhưng Kaptah lại bảo:

- Ông vẫn huyên thiên, phù phiếm như trước đây, Sinuhe, ông chủ của tôi. Đừng nói với tôi về thần linh vì trong cơn hoạn nạn của mình, tôi đã kêu van tất cả các vị thần mà tôi biết, kể cả thần của Babylon lẫn thần của Hittite, nhưng chẳng thần nào cứu giúp tôi, mà tôi buộc phải ăn đến nghèo kiết xác vì tên cai ngục tham lam. Chỉ có bọ hung của chúng ta mới giúp tôi khi dẫn ông đến đây, vì thằng trấn thủ pháo đài này là một tên điên, không tin lời nói phải quấy, sai lính bắt tôi và tra tấn tôi một cách dã man đến mức tôi phải hét lên như một con bò trên bàn tra tấn của chúng. Nhưng may là tôi vẫn giữ được bọ hung của chúng ta, vì khi thấy điều gì sắp xảy ra, tôi liền giấu thần vào một chỗ đáng phải tủi hổ trong người mình để che giấu thần, nhưng có lẽ bọ hung đã vui lòng ở đó vì thần đã dẫn ông đến với tôi. Điều thần diệu như thế này chỉ có thể xảy ra nhờ bọ hung linh thiêng của chúng ta.

Ông ấy đưa cho tôi xem bọ hung vẫn còn dính đầy phân vì thần được cất giấu ở chỗ khó chịu. Tôi bảo thợ rèn cắt xích cho ông ấy rồi dẫn ông về phòng tôi trong pháo đài, vì ông rất yếu và lại bị thong manh bởi mắt chưa quen được với ánh sáng ban ngày. Về phòng mình, tôi sai nô lệ tắm rửa, xức dầu và mặc cho ông ấy một bộ vải lanh tốt nhất rồi cho ông mượn dây chuyền vàng, vòng tay và các đồ trang sức khác, lại còn sai người cạo râu, xoăn tóc cho ông ấy để ông có thể xuất hiện theo đúng địa vị của mình. Suốt thời gian được nô lệ chăm sóc và mặc quần áo, ông ấy ăn thịt, uống rượu và ợ những hơi dài đầy vẻ no đủ. Trong lúc đó, lão cai ngục gào khóc sau cánh cửa, vừa cào, đá vào cánh cửa vừa hét lên rằng Kaptah nợ lão hai triệu ba trăm sáu mươi lăm nghìn deben vàng cho mạng sống và thức ăn trong ngục tối. Lão ta không bớt một cắc nào từ con số này, với lý do lão đã liều mạng sống của mình để cứu Kaptah và ăn cắp đồ ăn cho ông ấy từ nguồn thực phẩm khan hiếm của pháo đài. Từ đó, tôi hiểu rằng ở Gaza còn có những kẻ điên khùng khác ngoài viên trấn thủ pháo đài, Roju. Cuối cùng, bực tức vì tiếng gào thét và khóc lóc của lão ta, tôi nói với Kaptah:

- Horemheb đã đến Gaza được hơn một tuần và lão già đã phản bội ông, vì thế ông không hề mắc nợ lão. Ta sẽ sai lính cho lão ta ăn roi và nếu cần thiết, đám lính có thể cắt cổ lão vì lão là lão già gian xảo, kẻ đã gây ra cái chết của nhiều tù nhân.

Nhưng Kaptah rất hoảng sợ khi nghe tôi nói vậy, liên tục ợ rồi uống rượu pha và nói:

- Tôi không thể cho làm việc đó vì là người trung thực và một thương gia, tôi phải thực hiện lời hứa của mình để giữ danh tiếng và tôi không lừa ai hết, mặc dù có lẽ cả Ai Cập cũng không có nhiều vàng như số vàng tôi đã nợ lão già đó. Tôi đã nghĩ mình sẽ chết vì sự ngu ngốc của tên trấn thủ Gaza, nên mới chọc ghẹo lão ta và hứa với lão ta bất cứ điều gì lão đòi hỏi vì tôi nghĩ mình sẽ không còn sống để trả nợ. Nếu biết mình sẽ sống sót, tất nhiên tôi sẽ tha hồ mặc cả với đòi hỏi của lão ta, nhưng khi ngửi thấy mùi bánh trong tay lão, tôi quên hết vì cơn đói của mình.

Tôi dụi mắt và lau mồ hôi trán, sợ hãi nhìn ông ấy chằm chằm và hỏi:

- Có đúng ông là Kaptah không? Không, ta không thể tin điều đó, mà tin là đá của pháo đài này ẩn chứa lời nguyền và bất cứ ai ở lại đây lâu sẽ phát điên. Vì vậy, ông cũng đã phát điên và không còn là Kaptah trước đây nữa. Có thật là ông sẽ trả cho lão già tất cả những gì ông nợ lão không và lấy gì để trả? Vì sau vương quốc Aton, ta nghĩ ông cũng nghèo như ta và của cải của ông đã tan thành tro bụi.

Nhưng Kaptah đã ngà ngà vì rượu và nói:

- Tôi là một người ngoan đạo, sùng kính thần linh và giữ lời hứa của mình. Vì thế tôi sẽ trả nợ cho lão ta đến deben cuối cùng, nhưng tất nhiên lão phải cho tôi thời gian để trả và tôi không tin là cái đầu ngu ngốc của lão hiểu được số vàng tôi nợ lão nhiều đến thế nào; nhưng chắc lão sẽ rất vui nếu được tôi cân cho vài deben vàng, vì trong suốt đời mình ngón tay lão chưa bao giờ được cầm vàng mềm. Quả thật, tôi nghĩ lão ta sẽ vui đến phát điên nếu nhận được dù chỉ một deben vàng từ tôi, nhưng điều này không giải thoát tôi khỏi lời nói và món nợ của mình. Tôi không hiểu mình có thể có được tất cả số vàng này từ đâu, vì tôi đã mất rất nhiều tài sản trong cuộc bạo loạn ở Thebes, phải khổ nhục chạy trốn khỏi Thebes, bỏ mặc tài sản của mình lại đó khi nô lệ và cửu vạn nghĩ rằng tôi đã phản bội họ theo Amon và muốn giết tôi. Nhưng sau đó tôi đã giúp Horemheb rất nhiều việc ở Memphis và khi tôi buộc phải trốn khỏi Memphis vì sự hận thù của nô lệ theo tôi đến tận đó, tôi đã giúp cho Horemheb những việc lớn hơn khi làm một thương gia sống ở Syria, bán đại mạch và thức ăn gia súc cho người Hittite. Vì vậy, tôi tính rằng Horemheb đã nợ tôi ít nhất nửa triệu deben vàng và có khi còn hơn, vì tôi buộc phải từ bỏ việc buôn bán của mình và trốn đến Gaza trên một chiếc thuyền nhỏ khiến tính mạng luôn bị đe dọa trên biển. Người Hittite đã rất căm giận khi ngựa của họ bị ốm sau khi ăn thức ăn mà tôi đã bán cho họ. Nhưng không ngờ, tôi phải đối mặt với một mối nguy hiểm còn lớn hơn khi trốn đến Gaza, vì tay trấn thủ điên khùng của Gaza đã tống tôi vào tù vì coi tôi là do thám của Syria và tra tấn tôi về tội làm gián điệp. Chắc chắn hắn ta đã cho treo da tôi trên tường nếu lão cai ngục ngu ngốc này không giấu tôi và nói tôi đã chết trong ngục. Vì thế, tôi phải trả nợ cho lão ta.

Nghe ông ấy nói, tôi mới sáng mắt ra và nhận thấy Kaptah đúng là người phụng sự Horemheb tốt nhất ở Syria và là người cầm đầu nhóm do thám của anh ta, bởi người đàn ông khát nước đến lều Horemheb trên Núi Chiến Thắng đã che tay lên một mắt để báo rằng anh ta đã được người một mắt cử đến. Nhận ra điều này, tôi cũng hiểu rằng không ai khác có thể làm được như Kaptah ở Syria, vì không ai sánh được với Kaptah về mưu mẹo và sự tinh ranh. Nhưng tôi đã nói với ông ấy:

- Cứ cho là Horemheb nợ ông rất nhiều vàng, nhưng ông dùng tay bóp nát đá để đãi vàng còn dễ hơn là đòi nợ từ anh ta. Ông biết rất rõ rằng anh ta sẽ không bao giờ trả nợ.

Kaptah nói:

- Đúng thế, và tôi biết Horemheb là một kẻ lòng dạ sắt đá và vô ơn bạc nghĩa, thậm chí còn vô ơn hơn cả tay trấn thủ điên rồ của Gaza, người mà tôi đã nhờ tay quân Hittite ném lương thực cho trong những hũ đậy kín. Vì chúng tin rằng những chiếc hũ đó chứa đầy rắn độc mà tôi đã hết sức mạo hiểm bắt gom từ sa mạc và để chứng minh điều đó, tôi đã cho đập vỡ một hũ và những con rắn bò ra đã cắn ba lính Hittite, khiến chúng chết trong một khắc đồng hồ nước nên sau đó quân Hittite không muốn mở thêm chiếc hũ chứa đại mạch nào nữa, mà trả rất hậu hĩnh cho tôi để mua những hũ này. Vì thế, mỗi hạt đại mạch đến Gaza trong những chiếc hũ này đều buộc Horemheb phải trả bằng vàng theo độ nặng của chúng, mà có lẽ hơn thế nữa, vì đại mạch đắt như giá trị của nó và cái cách đáng xấu hổ mà tay trấn thủ Gaza đã đối xử với tôi khiến đại mạch càng đắt hơn. Tất nhiên, tôi thậm chí không nghĩ Horemheb sẽ trả nợ cho tôi, nhưng hắn sẽ phải giao lại cho tôi quyền khai thác cảng với tất cả các khoản thu được từ các thành phố của Syria mà hắn đã chinh phục cũng như sẽ phải giao cho tôi toàn bộ thị trường muối của Syria và nhiều hơn thế nữa.

Lời ông ấy nói rất khôn ngoan, nhưng tôi vẫn thấy ngạc nhiên và hỏi:

- Ông vẫn định cố sức và làm việc cả đời để có đủ vàng trả nợ cho lão điên đang ngồi chửi bới sau cửa phòng ta ư?

Kaptah uống rượu và chép chép miệng rồi nói:

- Thật đáng để nằm vài tuần trên phiến đá cứng trong ngục tối và uống nước thối để thấy được đầy đủ giá trị của một chỗ nằm êm ái với ánh sáng chói chang và vị rượu ngon trong miệng. Nhưng không, Sinuhe, không, tôi không điên như ông nghĩ đâu. Tuy nhiên, lời hứa là lời hứa và vì thế chúng ta không còn cách nào khác, mà ông phải chữa lành mắt cho lão già như tôi đã hứa để tôi có thể dạy lão ta chơi xúc xắc với tôi. Lão là một người ham chơi xúc xắc trước khi bị mù và buộc phải sống triền miên trong bóng tối và tôi sẽ chơi xúc xắc với lão; tất nhiên, tôi có thể làm gì được nếu lão ta thua tôi khi chơi xúc xắc, chắc chắn ông sẽ đoán ra là tôi chơi xúc xắc với lão ta với tiền cược cao nhất.

Lúc này tôi mới hiểu đây là cách duy nhất để Kaptah có thể thoát khỏi món nợ của mình trong danh dự, vì Kaptah là một cao thủ chơi xúc xắc nếu ông ấy được sử dụng xúc xắc mà mình chọn. Vậy nên tôi hứa sẽ đem hết mọi khả năng của mình để chữa cho lão già nhìn thấy được, ít nhất là đủ để phân biệt các mặt xúc xắc; đổi lại, Kaptah hứa sẽ gửi cho Muti thật nhiều bạc để Muti dựng lại ngôi nhà của xưởng đúc đồng cũ ở Thebes và có đủ cái ăn cái mặc khi tôi đi vắng. Chúng tôi đồng ý với nhau như thế, nên tôi gọi lão cai ngục vào và Kaptah cam đoan với lão rằng ông ấy sẽ trả nợ, chỉ cần lão cho ông ấy thời gian. Tôi kiểm tra mắt của lão và thấy lão bị mù hoàn toàn không phải do bóng tối, mà do bệnh mắt lâu ngày không được chữa trị. Ngày hôm sau, tôi dùng kim chữa lành mắt cho lão theo cách chữa của người Mitanni mà tôi đã học được. Nhưng lão sẽ nhìn thấy được trong bao lâu, tôi không dám bảo đảm vì mắt được chữa lành bằng kim sẽ mau tạo sẹo và sau đó thị lực không thể phục hồi được nữa.

Tôi cũng dẫn Kaptah đến gặp Horemheb. Anh ta hết sức vui mừng khi thấy ông ấy, ôm chặt ông ấy và gọi ông là người hùng, cam đoan với ông ấy rằng cả Ai Cập biết ơn ông ấy vì những chiến công lớn mà ông ấy đã bí mật làm cho Ai Cập và không đòi hỏi sự biết ơn. Nhưng khi nghe những lời Horemheb nói, mặt Kaptah méo xệch, nước mắt giàn giụa, ông ấy bắt đầu khóc và nói:

- Hãy nhìn bụng tôi, nó đã xẹp lép như một chiếc túi da nhăn nheo khi tôi phục vụ ông, hãy nhìn cái mông và đôi tai đầy vết thương của tôi bị đàn chuột trong hầm ngục của Gaza cắn nham nhở chỉ vì ông, Horemheb ạ. Ông chỉ nói với tôi về sự biết ơn của Ai Cập, nhưng sự biết ơn không cho dạ dày tôi đến một hạt đại mạch, sự biết ơn không cho rượu làm ướt cổ họng tôi và tôi không nhìn thấy ở đâu những túi vàng mà ông đã hứa cho tôi vì những việc tôi đã làm, dù tôi đã tin chắc rằng ông sẽ dành cho tôi một phần từ tất cả những chiến lợi phẩm mà ông thu được. Không, Horemheb, tôi không đòi ông trả ơn, nhưng yêu cầu ông, người đàn ông đáng kính, trả nợ cho tôi, vì tôi cũng phải trả món nợ của mình cho những người khác và vì ông mà tôi đã phải vay những món nợ khổng lồ, nhiều hơn những gì ông có thể tưởng tượng nổi.

Nhưng khi nghe Kaptah nói về vàng, Horemheb cau mày và bắt đầu bực bội quất roi vàng vào bắp chân mình và nói:

- Kaptah, lời ngươi nói như tiếng ruồi vo ve trong tai ta và ngươi nói như một kẻ ngu, miệng đầy bùn đất. Ngươi biết rất rõ là ta không có chiến lợi phẩm để chia cho ngươi và tất cả số vàng mà ta lấy được đều dành cho cuộc chiến chống lại quân Hittite. Bản thân ta rất nghèo và chỉ có vinh quang là phần thưởng duy nhất. Vì thế, ta hy vọng ngươi sẽ chọn một thời điểm thích hợp hơn để nói với ta về vàng, nhưng tất nhiên ta có thể làm cho ngươi một việc là bỏ tù những người mà ngươi mắc nợ và buộc họ với những tội danh khác nhau và treo họ lên tường, vậy là ngươi thoát nợ.

Kaptah không muốn dùng cách nhẫn tâm như vậy, nhưng Horemheb đã cười với vẻ oán giận và vừa quất quất roi vàng vào chân vừa nói:

- Ai giàu, kẻ đó là tội phạm, vì người ta chỉ có thể tích cóp được nhiều vàng bằng sự nhẫn tâm, bắt chẹt và cướp đoạt của người nghèo. Quả thật, ở đâu có nhiều vàng, ở đó ta luôn có thể dệt và bện thêm cả đống những lời buộc tội cần thiết và không ai có thể nói ta đã xử nhầm, mà kẻ tội phạm trong lương tâm biết mình có tội. Vậy nên ta muốn hỏi ngươi, Kaptah, làm thế nào mà tay Roju trấn thủ Gaza ấy lại sai tra tấn ngươi như một do thám Syria và nhốt ngươi trong ngục kín, vì cứ cho là hắn điên nhưng hắn cũng là một quân nhân tốt và chắc hắn phải có lý do nào đó để làm như vậy.

Khi ấy Kaptah xé cái áo đẹp của ông ấy để chứng tỏ mình vô tội và ông ấy xé nó dễ dàng vì đó là áo của tôi nên ông ấy chẳng mất gì mà chỉ tôi bị tổn hại. Ông ấy vừa hét lên vừa đưa tay đập vào ngực mình mà nói:

- Horemheb, Horemheb, chẳng phải ông vừa nói với tôi về lòng biết ơn và giờ ông lại buộc tội tôi với những bằng chứng không thật. Chẳng phải tôi đã đầu độc ngựa của quân Hittite và đã gửi đại mạch vào Gaza trong những chiếc hũ đậy kín, chẳng phải tôi đã thuê những người dũng cảm vào sa mạc lấy cho ông những thông tin về các đội quân của Hittite đó ư, và tôi hay ai đã thuê nô lệ lấy dao rạch các bao nước trên các chiến xa của quân Hittite khi chúng đến đánh ông trong sa mạc? Tôi đã làm tất cả những điều này vì ông và vì Ai Cập mà không nghĩ đến tiền công, do vậy sẽ công bằng và đúng mực khi tôi cũng làm cho phía Hittite và Aziru những việc không gây nhiều tổn thất cho ông. Vì vậy, tôi có trong người một đĩa đất sét được Aziru cấp cho làm vật tùy thân khi chạy vào Gaza để thoát cơn giận dữ điên cuồng của quân Hittite, vì chúng biết tôi đã làm ngựa của chúng ốm chết khiến chúng bị thất bại ở Bãi Xương Người. Vì người khôn cần sẵn sàng cho mọi tình huống, không nên chỉ có một mũi tên mà phải có nhiều mũi dự phòng trong ống tên. Tôi mà ngu ngốc thì có ích gì cho ông, tôi làm được gì cho ông và cho Ai Cập nếu da tôi bị treo khô trên tường, biết đâu quân Hittite đã chiếm được Gaza trước khi ông đến; vậy nên tôi phải mang theo vật phòng thân do Aziru cấp, để nếu cần có thể phản Gaza và giúp Hittite nếu quá lâu ông vẫn không chịu đến và vì thế quân Hittite chiếm được Gaza. Tôi đã cẩn thận giấu đĩa đất sét của Aziru trong quần áo của mình, nhưng Roju này là một kẻ đa nghi, lính của hắn đã xé quần áo tôi và thấy đĩa đất sét, dù tôi đã cố lấy tay che con mắt mù và nói về những bọ hung độc của Syria, như chúng ta đã thỏa thuận với nhau. Nhưng sau khi thấy đĩa đất sét của Aziru, Roju không còn tin vào những mật hiệu đó nữa mà sai đè tôi, kéo dài người tôi trên bàn cho đến khi tôi hét lên như một con bò và nhận mình là do thám của Aziru để hắn ta không vặt tay chân tôi ra khỏi người tôi, vì nếu không còn tay chân, tôi sẽ hoàn toàn vô dụng đối với ông, đúng không Horemheb, hay tôi nói sai?

Nhưng Horemheb cười ông ấy và nói:

- Vậy hãy giữ những đau khổ ấy làm tiền công của mình, Kaptah quý mến. Ta biết ngươi và ngươi biết ta, vì thế đừng có lải nhải với ta về vàng nữa vì những lời như vậy làm ta phát bực và dễ nổi giận.

Nhưng Kaptah vẫn bướng bỉnh không chịu thôi và cuối cùng cò kè được từ Horemheb độc quyền mua và bán tất cả chiến lợi phẩm ở Syria. Như vậy, chỉ mình ông ấy được quyền mua chiến lợi phẩm từ binh lính ở doanh trại quân Hittite ở Bãi Xương Người và các đội quân bao vây Gaza và đổi những thứ đó lấy bia, rượu, trò xúc xắc và đàn bà. Ngoài ra, chỉ mình ông ấy có quyền mua và bán hoặc trao đổi các chiến lợi phẩm của Pharaoh và Horemheb lấy các trang thiết bị mà quân đội cần. Chỉ riêng quyền này đã đủ đưa ông ấy thành người giàu có, vì vô số thương nhân từ Ai Cập và thương nhân từ các thành phố của Syria, bị tính hám lời dụ dỗ và bất chấp quân Hittite và Aziru, đã đi thuyền đến Gaza để buôn chiến lợi phẩm, mua tù nhân làm nô lệ và sau khi Kaptah nhận được độc quyền, bất kỳ ai được phép buôn bán ở Gaza đều phải chia phần cho ông ấy sau mỗi thương vụ.

Nhưng Kaptah vẫn chưa thỏa mãn, ông ấy còn đòi độc quyền như thế đối với tất cả chiến lợi phẩm mà quân đội của Horemheb có thể sẽ thu được ở Syria, và Horemheb đã đồng ý với đòi hỏi đó sau khi cân nhắc, vì anh ta không mất gì khi hứa và bản thân anh ta không phải là thương gia, còn Kaptah đã hứa sẽ cho anh ta rất nhiều quà để có được quyền này.

Thế nhưng Kaptah vẫn không hài lòng mà ông ấy thấy xúc phạm nặng nề bởi những lời nói của Horemheb. Sau khi từ chỗ Horemheb về lại phòng tôi, chúng tôi cùng nhau uống rượu và Kaptah trở nên buồn rầu rồi than thở về sự vô ơn của thế nhân và nói:

- Lẽ dĩ nhiên và thật rõ ràng là người khôn ngoan luôn đứng về bên thắng cuộc và chuẩn bị sẵn sàng từ trước để đứng về bên thắng cuộc, bất kể việc xảy ra thế nào. Tất nhiên tôi không thể sống và buôn bán ở Syria mà không phục vụ Aziru và người Hittite, nên nếu Horemheb thua trận, tôi phải trao Gaza cho người Hittite, dù việc này sẽ làm lương tâm tôi cắn rứt; vì người Hittite am hiểu việc buôn bán hơn Horemheb, do vậy tôi sẽ hưởng lợi từ họ ít hơn từ Horemheb, nhưng may thay điều đó không xảy ra và tôi cảm ơn bọ hung của chúng ta. Thật vậy, sự vô ơn là tiền công của nhân thế, các cửu vạn và nô lệ của Thebes cũng nguyền rủa tôi, mặc dù tôi đã cho họ uống rượu không phải trả tiền và mua vũ khí cho họ bằng tiền của ông, thưa ông chủ; và làm như thế, tôi tự đặt mình vào tình thế rất nguy hiểm trong mắt của Amon. Mà có lẽ Amon sẽ không bao giờ tha thứ cho tôi về việc này nếu lúc ấy tôi không chỉ cho người của Pepitamon đến kho vũ khí bí mật của nô lệ và đến bắt thủ lĩnh của các cửu vạn khi tôi biết thế nào Aton cũng thua. Việc này có gây hại đến ai đâu mà lại cứu sống nhiều người, còn các thủ lĩnh của nô lệ và cửu vạn sớm hay muộn cũng sẽ sa vào tay Amon và cũng không phải là lỗi của tôi khi Eje và Pepitamon ngồi trên cầu cảng Thebes và ra lệnh ném xác họ cho cá sấu. Cả tôi cũng bị thiệt hại nặng nề khi Đuôi Cá Sấu bị cháy, vì trong các hầm và phòng sau của quán, tôi đã cất giấu tất cả đồ dùng, vật dụng mà đám nô lệ và cửu vạn cướp được, sau đó tôi mua lại với giá hời và đổi rượu với họ. Tôi còn thiệt hại nhiều hơn thế khi đám nô lệ vô cớ săn lùng tôi, đốt các cối xay, nhà xưởng, các kho chứa ngũ cốc của tôi ở Thebes, dù Thebes đã yên bình trở lại. Mà ông Sinuhe ạ, đám nô lệ tàn nhẫn này đã đổ vấy cho tôi về thất bại của chúng. Vì vậy, chúng săn lùng tôi, khiến tính mạng tôi luôn bị đe dọa ở Thebes, chúng còn qua đám chèo thuyền nhắn tin cho nô lệ và cửu vạn ở Memphis, khiến tôi cũng không được an toàn ở đó, dù Horemheb có cho bảo vệ tôi. Vì thế tôi buộc phải trốn đến Syria, nhưng cuộc chạy trốn này đã đem lại may mắn cho tôi, vì tôi lại giàu có và khi cuộc chiến này kết thúc, tôi sẽ giàu hơn bao giờ hết, có lẽ giàu hơn bất kỳ người Ai Cập nào, tất nhiên với điều kiện là Horemheb giành chiến thắng, điều mà tôi hoàn toàn không nghi ngờ gì nữa mà sẽ chăm chỉ cầu xin bọ hung của chúng ta, xức dầu cho thần và hằng ngày dâng cho thần phân tươi của bò trắng để Horemheb chiến thắng. Vì tôi đã ngán lũ Hittite đến tận cổ, chúng thật bủn xỉn, sổ sách kỹ càng tất cả các vụ mua bán, nên rất khó cướp được từ chúng. Còn về đám nô lệ vô ơn của Thebes, như chính ông cũng thấy, Sinuhe, tôi hoàn toàn đứng về phe chúng chừng nào quyền lực ở Thebes còn trong tay chúng và tôi có thể hưởng lợi từ chúng; không thể coi là tội của tôi nếu tôi kể cho các giáo sĩ Amon những việc làm của chúng cũng như tên những kẻ đứng đầu và tiết lộ các dấu hiệu nhận diện chúng cho các giáo sĩ Amon, bởi nếu đám nô lệ thắng thì chúng cũng không phải chịu tí tổn thất nào từ việc này, nhưng vì nô lệ không thắng, ít nhất là tôi giữ được mạng sống của mình với thiện ý của Amon, và chắc chắn tôi sẽ được hưởng lợi nhiều từ thiện ý của Amon nếu tôi có thể ở lại Thebes. Tôi biết rất rõ người ta không coi hành xử như thế là chính trực, cả ông cũng vậy, Sinuhe, ông chủ của tôi; từ bản tính của mình, ông luôn là một người chân chất và ngờ nghệch, còn tôi trước đây là nô lệ, sinh ra trong một túp lều đất sét và không được ai đỡ dậy nếu vấp ngã. Vậy nên tôi phải tự lo cho bản thân và lợi ích của mình, và tôi không thể hiểu con người ta được lợi lộc gì từ thanh danh của mình nếu nằm trên nền đất, cổ bị đâm thủng. Không, Sinuhe ạ, người khôn ngoan luôn luôn đứng về bên thắng cuộc và không được coi đó là điều nhục nhã đối với bản thân, mà tốt hơn là anh ta hãy ca ngợi sự khôn ngoan của mình vì nó giúp cuộc sống của anh ta trở nên dễ dàng, đơn giản và mang lại cho anh ta nhiều lợi lộc.

Kaptah đã nói với tôi như thế, nhưng sự khôn ngoan của ông ấy làm rượu trong miệng tôi đắng ngắt và khi nghĩ đến những lời ông ấy nói, tôi thấy tất cả những gì xảy ra dưới ánh mặt trời đều trở nên phù phiếm trong tâm trí, vì trong tâm trạng phẫn uất của mình, tôi phải thừa nhận rằng sự khôn ngoan của ông ấy là cốt lõi của tất cả sự thông thái trong cuộc đời trần thế và rằng tất cả mọi điều nằm ngoài sự khôn ngoan ấy chỉ được tưởng tượng ra. Ngồi trong pháo đài Gaza, mùi da người đang thối rữa trên tường thành xộc vào mũi tôi, mọi thứ đều trở nên vô nghĩa trong tâm trí tôi. Chủ nghĩa anh hùng là hư ảo, mưu mẹo là phù hoa, vinh quang là phù phiếm, việc tốt cũng không khác việc xấu nhiều lắm và trong mắt tôi không còn sự khác biệt giữa các việc con người làm, mà tất cả những gì con người làm đều vô nghĩa.

Nhưng khi lắng nghe tiếng ồn ào của đám lính say xỉn trong những con hẻm bẩn thỉu của thành phố ở bên dưới và tiếng la hét của đám đàn bà trong lều của các thương gia, Kaptah vừa hài lòng xoa tay vừa nói:

- Sự khôn ngoan của tôi không phải là thật khôn ngoan sao, Sinuhe, vì bản thân ông đã chứng minh là nó đúng khi ngồi trước mặt tôi, nghèo nàn vì sự xuẩn ngốc và yếu đuối của chính mình, mặc dù ông đã từng giàu có, là một trong những người giàu nhất Ai Cập, trước khi ông bắt tôi phân phát của cải của mình bằng bánh của Aton cho kẻ nghèo vì sự yếu đuối và ngu ngốc của ông. Bởi thực ra ông từng có tất cả những gì người ta mơ ước, ông có một người vợ, dù ông không đập vỡ vò với nàng trước mặt thiên hạ, và ông cũng có một đứa con trai, nhưng vì sự điên rồ của mình, ông đã hiến tế họ cho thần chết. Đúng thế, Sinuhe, trước mặt tôi, ông là một gã đàn ông nghèo và đau khổ với khuôn mặt nhăn nheo như thể ông thường xuyên ăn phải trái cây chua, còn tôi khỏe khoắn và béo tốt trở lại với mùi kem thơm trên da và rượu làm ấm cơ thể tôi, mỗi giọt bia đám lính uống dưới kia mang vào ví tôi những đồng cắc, mỗi tiếng kêu của gái làng chơi trong lều của các thương gia si tình làm leng keng đồng trong túi tôi. Vì thế, hãy vứt bỏ sự điên rồ của mình đi, Sinuhe, hãy sống như một con người giữa mọi người và nhìn nhận cuộc sống như nó có thật trong hiện thực, đừng cố gắng thay đổi cuộc sống theo điều ông tưởng tượng, vì không ai có thể thay đổi quy luật cuộc sống và con người ta rất bảo thủ.

Tôi không nói gì mà chỉ rời khỏi chỗ ông ấy, về ngả mình xuống giường và cố ngủ nhưng không ngủ được, vì giấc ngủ của tôi bị đám nô lệ quấy rầy khi họ tông những súc gỗ có quấn các vòng đồng vào tường thành và lắc đập khiên loảng xoảng trước cửa phòng viên trấn thủ Roju để gã nghĩ rằng Gaza vẫn đang bị bao vây và ngủ thiếp đi trong bình an. Có lẽ gã ngủ được cũng nên, nhưng tôi thì không, mà trằn trọc cho đến khi Merit sống động bước vào giấc ngủ và bé Thoth nô đùa trong giấc ngủ của tôi để sáng dậy lòng tôi nặng trĩu, miệng tôi đắng ngắt như ăn phải cả túi mật.

❖ 4 ❖

Tôi còn phải kể thêm, rằng sau khi các đội quân dự phòng từ Ai Cập dong buồm đến nơi, các đội quân tại chỗ đã sửa sang lại tất cả chiến xa, đã gom đủ ngựa chiến từ miền nam Syria và được luyện tập trên bãi bằng phía trước Gaza, Horemheb mới ra lời hiệu triệu, tuyên bố anh ta tiến vào giải phóng chứ không phải chinh phục Syria. Trước đây, các trấn, thành của Syria luôn được tự do buôn bán và hoàn toàn độc lập, dưới trướng tổng trấn của họ trong sự bảo trợ khoáng đạt của Ai Cập, nhưng Aziru, với cách thức cai trị khủng khiếp, đã lừa phản, giành tất cả quyền thống trị và ông ta đã ngay lập tức xóa bỏ lệ cha truyền con nối của các tiểu vương và thu tô thật nặng các thành phố. Thêm nữa, với lòng tham vô độ, ông ta đã bán Syria cho Hittite, một dân tộc tàn ác và có các tập tục kinh hoàng mà người dân Syria đã tận mắt chứng kiến hằng ngày, khiến Syria không còn số phận nào khác hơn là phải làm nô lệ cho người Hittite và rơi vào tình trạng hỗn loạn đầy bất an, dù có lẽ Hittite chưa để lộ hết bộ mặt thật của mình mà trước hết chỉ muốn đánh bại Ai Cập. Vì vậy, Horemheb, người bất khả chiến bại, con trai chim ưng, đã đến Syria để giải phóng miền đất này, giải phóng các làng mạc và thành phố khỏi ách nô lệ, mở cửa giao thương và cho các tiểu vương quay lại cai trị để, dưới sự bảo trợ của Ai Cập, Syria có thể giàu có và thịnh vượng trở lại. Anh ta hứa sẽ triệt hạ nạn cướp bóc, trả tự do và độc lập hoàn toàn cho thành phố nào đuổi được người Hittite ra khỏi tường thành của mình và đóng cổng thành trước Aziru. Còn những thành phố vẫn ngoan cố chống cự, anh ta thề sẽ đốt hết, cướp hết, phá hết và bắt dân thành phố đó làm kiếp nô lệ và xóa bỏ vĩnh viễn các bức tường thành.

Horemheb cho phát lời hiệu triệu này khi cùng quân đội và chiến xa của mình tiến về hướng Joppa, cùng lúc cho hạm đội của mình dong buồm dọc theo bờ biển đến phong tỏa cảng Joppa. Anh ta cho do thám truyền đi lời hiệu triệu này đến tất cả các thành phố của Syria, gây ra rất nhiều hỗn loạn và bất an nhằm đạt mục đích duy nhất là làm các kẻ thù của anh ta bất hòa, cắn xé lẫn nhau. Nhưng là một người thận trọng, Kaptah vẫn ở lì trong tường thành Gaza, đề phòng nhỡ đâu Horemheb thua trận, vì quân Hittite và Aziru đã tập trung một lực lượng lớn trong nội địa. Kaptah nêu lý do là ông ấy không thể chịu đựng thêm những vất vả gian lao của một chiến dịch khó khăn nào nữa sau những đau khổ mà ông ấy đã chịu đựng trong hầm ngục ở Gaza và giữ tôi lại ở đó để tôi có thể chữa lành bệnh cho ông ấy.

Roju Cổ Vẹo làm thân và kết bạn với Kaptah, vì Kaptah chữa anh ta khỏi bệnh ảo tưởng khi kể cho anh ta hay rằng chính quân lính của anh ta đã bí mật lấy bốn trăm dây đai đuôi lừa trong kho đó để ăn vì dây đai bằng da mềm và có thể nhai nhá cho đỡ đói. Nghe thế, Roju nổi khùng lên đến mức suýt làm đứt dây trói, anh ta mắng mỏ thậm tệ binh lính của mình nhưng sau đó tha tội cho họ vì họ đã bảo vệ Gaza. Anh ta nói với họ:

- Quả thật ta nợ Pharaon những dây đai đuôi lừa đó, nhưng bây giờ ta có thể yên tâm giải thích rồi vì ta đã biết những dây đai đó biến đi đâu và ta không trừng phạt các ngươi, mặc dù các ngươi đáng bị trừng phạt, vì ta rất vui khi nghe kể các ngươi đã nện nhừ tử những con bọ, con chuột của Horemheb trong các ngõ hẻm của thành phố, đánh chúng vỡ đầu và gây cho chúng vô số thương tích để dạy chúng phải hành xử thế nào ở Gaza. Bởi vậy, ta sẽ tha không trừng phạt các ngươi vì những chiếc dây đai đáng nguyền rủa này, và ta sẽ bỏ tiền túi trả cho Pharaoh miễn là các ngươi nện bất cứ con chuột bẩn thỉu nào của Horemheb nếu chúng hăm dọa, chặn đường các ngươi. Đánh chúng bằng chùy gỗ, đâm chúng bằng gậy nhọn và dắt gái của chúng đi, trộn cứt cừu vào bia của chúng để tâm trí ta yên và ta có thể ngủ được.

Từ đó, Roju hồi phục hoàn toàn và có thể ngủ say, mặc dù lính của anh ta đã gây cho Horemheb rất nhiều điều phiền toái, bởi Horemheb nghĩ mình không thể trừng phạt các anh hùng của Gaza vì những trò quái quỷ của họ, mặc dù họ đã khiến cuộc sống của lính anh ta ở Gaza trở nên không thể chịu nổi. Sau khi Horemheb cho xuất quân đến Joppa, Roju cho đóng cổng Gaza và thề không để bất kỳ ai đưa quân vào Gaza nữa, rồi uống rượu với Kaptah và xem ông ta chơi xúc xắc với lão cai ngục, vì khi Horemheb kéo quân đi, Kaptah mới thắng lại được một triệu rưỡi deben vàng từ lão già mà tôi chữa lành mắt.

Thế là họ uống rượu và chơi xúc xắc từ sáng đến tối, cãi nhau, giữa chừng ném xúc xắc vào mặt nhau, nhổ nước bọt vào lòng bàn tay rồi lại hất cốc đổ xúc xắc lăn xuống sàn, vì lão cai ngục rất keo kiệt, chỉ muốn chơi với số tiền đặt cược nhỏ và khóc lóc, than vãn sao mình lại thua, như thể số vàng mà lão bị thua là vàng của chính lão chứ không phải chỉ là tưởng tượng. Nhưng khi Horemheb bao vây Joppa, Kaptah đã hăng lên, bắt lão nâng tiền cược của mình và khi có tin đến rằng ở Joppa Horemheb đã phá tường thành làm hổng nhiều chỗ, sẵn sàng cho các cuộc tiến công, Kaptah đã vặt lão già trong vài trận cuối khiến lão nợ ông ấy gần một trăm ngàn deben vàng. Nhưng Kaptah là người hào phóng, tha cho lão ta món nợ đó vì lão đã cứu mạng ông và giữ ông khỏi chết đói trong ngục tối của Gaza. Ông ấy còn cho lão quần áo mới và vài nắm bạc khiến lão khóc vì vui sướng và cầu nguyện cho ông ấy, gọi ông ấy là ân nhân.

Liệu Kaptah có gian lận và chơi bằng xúc xắc đã đánh dấu hay không, tôi không thể nói. Tôi chỉ biết là ông ấy chơi rất tài và đã gặp may mắn lạ kỳ trong trò xúc xắc. Tiếng đồn về ván chơi kéo dài nhiều tuần với vốn đặt cọc hàng triệu deben này đã lan truyền khắp Syria và lão già không lâu sau đó đã bị mù trở lại, sống những năm tháng tuổi già của mình trong một túp lều nhỏ ở gần tường thành Gaza. Khách lữ hành từ cả các thành phố khác cũng ghé thăm lão và lão đã kể cho họ nghe về những ván chơi mà lão nhớ từng lần ném xúc xắc, thậm chí vẫn nhớ sau nhiều năm, vì người mù thường có trí nhớ tốt. Lão tự hào nhất khi kể về lần ném cuối cùng của mình khi lão mất một trăm năm mươi nghìn deben vàng chỉ trong một lần ném, vì trước đây chưa có ai chơi xúc xắc cao siêu như vậy và lão tin rằng chẳng có ai sau lão dám chơi một ván đặt cược cao như vậy. Lão sống rất hạnh phúc trong túp lều của mình bên cổng thành Gaza, khách thập phương mang quà cho lão để lão kể cho nghe về trò chơi xúc xắc, nên lão không bao giờ phải chịu cảnh thiếu thốn mà sống tốt hơn cả nếu như Kaptah trả cho lão một khoản tiền hưu cho tuổi già của lão. Sức mạnh của những điều tưởng tượng tác động đến trái tim con người lớn đến như thế.

Sau khi Horemheb chiếm được Joppa, Kaptah vội vã đến đó; tôi cũng đi theo ông ấy và lần đầu tiên tôi tận mắt thấy một thành phố giàu có trong tay những kẻ chinh phục. Thật ra trước khi quân của Horemheb tấn công vào thành qua các chỗ đã phá được trên tường thành, những người dũng cảm nhất trong dân chúng Joppa đã nổi dậy chống lại Aziru và quân Hittite để gìn giữ và bảo vệ thành phố khỏi bị cướp phá, nhưng Horemheb không nương tay với họ, vì cuộc nổi dậy của họ không giúp ích gì hơn cho anh ta và anh ta cho binh lính của mình cướp phá Joppa trong hai tuần. Kaptah đã kiếm được một khối tài sản kếch sù ở Joppa vì quân lính đã đem những tấm thảm đắt tiền, những đồ đạc vô giá và những bức tượng thần mà họ không thể mang đi đổi lấy bạc và rượu, mà ở Joppa chỉ cần có một đôi vòng đồng là mua được một người phụ nữ xinh đẹp, học hành tử tế.

Đúng là chỉ ở Joppa, tôi mới thấy con người ta độc ác với nhau thế nào, vì không chuyện kinh hoàng nào không xảy ra ở Joppa khi binh lính cướp bóc và đốt cháy thành phố trong cơn say. Họ đốt nhà mà không thèm dập đám cháy chỉ nhằm nhìn được rõ hơn trong đêm để cướp bóc và hãm hiếp đàn bà, tra tấn các thương nhân, bắt họ chỉ nơi cất giấu của cải. Có những tên lính thích đứng ở góc phố, lấy chùy đập hoặc dùng giáo đâm chết bất cứ người Syria nào đi về phía họ, dù là đàn ông hay đàn bà, người già hay trẻ nhỏ. Tim tôi chai cứng lại ở Joppa khi chứng kiến sự tàn ác của con người và tất cả những gì đã xảy ra trước đó ở Thebes vì Aton đều không thấm gì so với những gì đã xảy ra ở Joppa vì Horemheb. Bởi Horemheb đã cố tình cho lính của mình tự do hoành hành ở Joppa để buộc họ trung thành hơn với mình. Vì bất cứ ai đã từng can dự đều không thể quên được cảnh cướp bóc ở Joppa và chính từ đây, cướp bóc đã ăn sâu vào máu của quân lính Horemheb nên không gì có thể ngăn cản họ trong trận chiến, và họ coi thường cái chết, chém giết để giành được những thú vui như họ đã có ở Joppa. Horemheb cho binh lính thỏa sức cướp bóc tàn nhẫn ở Joppa cũng là để trói họ chặt hơn vào mình, bởi sau khi đã làm như vậy họ sẽ không còn hy vọng gì ở lòng nhân từ của lính Syria nếu bị bắt làm tù binh, vì lính của Aziru sẽ lột da sống bất cứ kẻ nào đã cướp phá ở Joppa. Nhưng để tránh rơi vào số phận của Joppa, rất nhiều thị trấn nhỏ dọc bờ biển đã nổi dậy và đuổi quân Hittite ra khỏi thành và mở cổng đón Horemheb.

Tôi không muốn kể thêm về tất cả những gì đã xảy ra ở Joppa vào những ngày đêm xảy ra cướp phá, bởi vì khi kể, tim tôi như hóa đá trong lồng ngực và tay tôi lạnh ngắt. Vì vậy, tôi chỉ nói rằng khi Horemheb tấn công, ngoài quân đồn trú của Aziru và binh lính Hittite, ở Joppa có gần hai mươi ngàn dân, nhưng khi quân Horemheb rời đi, ở đó chỉ còn không hơn ba trăm người sống sót.

Horemheb đã giải phóng Syria như vậy đấy và tôi đi theo những đội quân của anh ta, chữa trị vết thương cho binh lính và nhìn thấy tất cả những điều độc ác mà con người có thể gây ra cho người khác. Cuộc chiến kéo dài ba năm, Horemheb đã thắng quân Hittite và Aziru trong nhiều trận chiến và cũng hai lần chiến xa của Hittite đã bất ngờ tấn công và gây tổn thất lớn cho quân Horemheb ở Syria, buộc anh ta phải rút vào cố thủ sau tường thành của các thành phố anh ta đã đánh chiếm được. Nhưng anh ta vẫn giữ thông đường biển nối với Ai Cập và hải đội của Syria không đánh bại được hải đội đã quen với thủy chiến của anh ta.

Sau mấy lần thua trận, anh ta đều nhận được quân tiếp viện từ Ai Cập và lại tập trung lực lượng vào các cuộc tấn công mới; các thành phố của Syria thành hoang phế và con người ẩn náu trong các hẻm núi như loài hoang dã. Những vùng quê hoang tàn; các đội quân tàn ác đã phá sạch ruộng vườn và chặt hạ cây ăn trái để kẻ thù của mình không còn nguồn sống từ vùng đất mình cai trị. Sức người và sức của của Ai Cập đã bị phung phí ở Syria như thế và Ai Cập giống như bà mẹ xé xiêm áo và rắc tro lên tóc khi nhìn những đứa con của mình đang chết, vì dọc theo dòng sông từ miền Hạ đến miền Thượng không còn một làng mạc hay thị trấn, bãi biển hay nơi trú ngụ nào chưa có đàn ông và trai tráng chết ở Syria vì sự vĩ đại của Ai Cập.

Cuộc chiến của Horemheb ở Syria kéo dài ba năm và trong những năm này, tôi đã già đi nhiều hơn tất cả những năm tháng trước đây của đời mình cộng lại, tóc rụng hết, lưng còng xuống và khuôn mặt nhăn nheo như trái cây khô. Quầng mắt thâm mọng thõng xuống vì tất cả những gì tôi buộc phải thấy; tôi sống khép mình, hay càu nhàu, la mắng mọi người và nói những lời cay nghiệt với bệnh nhân, giống như nhiều lương y cả cuộc đời chỉ muốn điều tốt lành nhưng lúc về già lại thành ra như thế. Về mặt này, tôi không khác các lương y khác, cho dù tôi buộc phải thấy nhiều điều hơn họ.

Vào năm thứ ba, dịch hạch bùng phát ở Syria, vì dịch hạch luôn theo sát chiến tranh, khi có quá nhiều xác chết thối rữa ở cùng một nơi. Đúng vậy, vào năm thứ ba của cuộc chiến, cả Syria như một bãi chứa xác thối rữa và không biết bao nhiêu dân tộc, bao nhiêu bộ tộc đã bị xóa tên trong cuộc chiến nên tiếng nói và phong tục của họ vĩnh viễn chìm vào quên lãng. Dịch hạch đã giết cả những người còn sống sót sau cuộc chiến, trong đó có rất nhiều lính của Horemheb và lính Hittite, đến mức không thể tiếp tục cuộc chiến và các đội quân chạy dạt đến những vùng núi và sa mạc nơi dịch không lan đến. Bệnh dịch hạch không phân biệt người cao sang và kẻ thấp hèn, người giàu có và kẻ nghèo khổ, mà giết bất cứ ai và không loại thuốc thông thường nào chữa trị được; người mắc dịch hạch quấn áo quanh đầu làm chăn, ngả người xuống giường và ba ngày sau là chết. Còn những ai khỏi được, bệnh dịch hạch để lại những vết sẹo khủng khiếp trong nách và bẹn, nơi hạch đùn bóng mủ ra khỏi cơ thể khi người bệnh đang dần khỏi.

Căn bệnh kỳ quái khi gieo rắc chết chóc và cũng bất thường hệt như thế khi được chữa khỏi, vì không phải những người khỏi bệnh là những ai mạnh nhất và khỏe nhất, mà thường là những kẻ ốm yếu và đói khát nhất, như thể căn bệnh không nhận đủ chất dinh dưỡng từ cơ thể họ nên không đủ sức giết người. Vì thế khi chữa cho những ai mắc bệnh dịch hạch, tôi để bệnh nhân chảy máu nhiều nhất có thể để làm họ suy yếu và hoàn toàn không cho họ ăn trong thời gian bị bệnh. Tôi đã chữa rất nhiều người khỏi bệnh theo cách này, nhưng cũng có nhiều người chết trong tay tôi dù tôi đã cố hết sức chữa trị nên tôi không biết liệu cách chữa của mình có đúng không. Tuy nhiên, tôi vẫn phải chữa cho người bệnh bằng cách nào đó để họ tin vào tay nghề của tôi, vì nếu bệnh nhân không còn tin là mình sẽ khỏi và không tin vào tay nghề của người thầy thuốc chữa cho mình, người đó dễ chết hơn nhiều so với những ai tin. Cách chữa bệnh dịch hạch của tôi cũng tốt hơn nhiều cách khác vì bệnh nhân không phải trả tiền quá nhiều.

Dịch hạch theo các đội thuyền lan đến Ai Cập, nhưng không giết hại nhiều người ở đây như ở Syria, và dịch cũng đã suy yếu ở Ai Cập nên nhiều người khỏi hơn là chết vì nó. Theo mùa nước, dịch hạch đã biến mất khỏi Ai Cập trong cùng năm và tiết đông đã mang nó rời Syria nên Horemheb lại có thể tập trung quân đội, tiếp tục cuộc chiến. Mùa xuân năm đó, anh ta cùng các đoàn quân vượt núi đến mặt trận cao nguyên phía trước Megiddo và đánh bại quân Hittite trong một trận chiến lớn, buộc người Hittite xin anh ta đình chiến, vì khi Burraburiash ở Babylon thấy Horemheb giành thắng lợi, quốc vương này thêm lòng can đảm và nhớ tới thỏa ước của mình với Ai Cập. Ông ta mạnh bạo chống lại Hittite và cho quân tiến vào đất cũ của Mitanni, đánh đuổi quân Hittite khỏi các đồng cỏ của họ ở Naharani. Vì thế, quân Hittite đã thương lượng hòa hoãn với Horemheb khi nhận ra chúng không còn gì để thắng ở một Syria đã mất, vì chúng là những người lính khôn ngoan và là những người đàn ông cẩn trọng và tằn tiện, không muốn chỉ vì vinh quang hão huyền mà đặt đội chiến xa của mình vào thế nguy hiểm, đội chiến xa mà chúng rất cần để dẹp loạn ở Babylon.

Horemheb rất mừng về việc đình chiến vì các đội quân của anh ta đã bị tiêu hao nhiều; chiến tranh đã vắt kiệt Ai Cập và anh ta muốn xây dựng lại Syria để thúc đẩy việc buôn bán và kiếm lợi từ Syria. Nhưng điều kiện hòa hoãn mà anh ta đưa ra là Hittite phải từ bỏ Megiddo, nơi Aziru lấy làm thủ đô và đã cho xây những tường thành và tháp canh bất khả chiến bại. Vậy nên phía Hittite đã bắt Aziru và gia quyến của ông ta ở Megiddo, tước hết số của cải khổng lồ mà Aziru đã vơ vét từ khắp Syria về Megiddo, xích Aziru cùng hai con trai và vợ, Keftiu, giao cho Horemheb. Để cam kết hòa bình và chứng minh thiện chí của mình, chúng đã cho đưa Aziru và gia đình ông ta đến doanh trại Horemheb, lần lữa việc chuyển giao Megiddo cho đến khi cướp sạch nó, xua các đàn cừu và gia súc vùng Amori ra khỏi miền đất mà theo thỏa thuận đình chiến thuộc quyền kiểm soát của Ai Cập. Horemheb cho thổi tù và, báo hiệu chiến tranh kết thúc và tổ chức tiệc tùng linh đình với các hoàng thân và chỉ huy quân Hittite, nhậu nhẹt thâu đêm với họ và khoe khoang những việc làm của mình. Nhưng anh ta ra lệnh sẽ hành quyết Aziru cùng gia đình vào sáng hôm sau trước đông đảo quân lính và các chỉ huy quân Hittite, như một cách biểu thị rằng hòa bình sẽ tồn tại vĩnh cửu từ nay về sau giữa Ai Cập và xứ Hatti.

Vì vậy tôi không muốn tham dự các bữa tiệc của anh ta, mà đi vào túp lều nơi Aziru bị giam; lính gác không dám cản tôi đến với ông ta vì tôi là danh y của Horemheb và họ đã biết tôi là một kẻ tồi tệ, dám dùng những lời cay đắng và độc địa chống lại Horemheb nếu tôi muốn. Nhưng tôi đến với Aziru vì ông ta không còn người bạn nào trên khắp Syria, bởi một người bị giam cầm, bị tước đoạt hết của cải và bị xử phải chết một cái chết nhục nhã thì không còn bạn bè. Tôi đến với ông ta vì tôi biết ông ta rất yêu cuộc sống và tôi muốn trấn an tinh thần cho ông ta bằng tất cả những gì tôi đã buộc phải thấy trong đời, rằng cuộc đời không đáng sống cho lắm. Hơn nữa, là một thầy thuốc, tôi cũng muốn nói với ông ta rằng cái chết sẽ dễ dàng, dễ hơn nhiều so với những đau buồn và gian khổ của cuộc sống. Cuộc sống như ngọn lửa nóng thiêu đốt ta, còn cái chết là dòng nước đen ngòm của sự lãng quên. Tôi muốn nói tất cả những điều này với ông ta vì sáng hôm sau ông ta phải chết và tôi biết dù sao ông ta cũng sẽ không thể ngủ được vì rất yêu cuộc sống. Nhưng nếu ông ta không muốn nghe tôi, tôi sẽ lặng yên ngồi bên cạnh để ông ta khỏi cô đơn. Người ta có thể dễ dàng sống không có bạn bè, nhưng thật khó chết khi không có người bạn nào, nhất là khi còn sống, người đó đã đội vương miện trên đầu và ra lệnh cho tất cả thần dân.

Vì vậy tôi đi vào túp lều tối nơi ông ta bị giam trong xiềng xích, vì tôi không muốn ông ta nhìn thấy mình trong ánh sáng ban ngày; tôi đã tránh sang bên và lấy áo che mặt khi ông ta và gia đình bị giải đến trại của Horemheb theo cách nhằm hạ nhục ông ta, để binh lính chế nhạo ông ta, ném rác rưởi và phân ngựa lên đầu ông ta. Dù gì ông ta cũng là một người đàn ông rất kiêu hãnh và chắc chắn sẽ không muốn tôi nhìn thấy trong sự tủi nhục của mình, vì tôi đã thấy ông trong những ngày tháng đẹp nhất, đầy quyền uy và sức mạnh. Vì vậy, ban ngày tôi tránh ông ta để tối đến mới vào lều giam, lính gác vừa giơ giáo lên cao cho tôi đi qua vừa nói với nhau:

- Chúng ta hãy để ông ta đi, vì ông ta là Sinuhe, là danh y, và việc ông ta làm chắc chắn là được phép. Nếu không, chắc ông ta sẽ xỉ vả chúng ta thậm tệ hoặc phù phép làm chúng ta mất hết tính đàn ông, vì ông ta là một kẻ tồi tệ và miệng lưỡi ông ta cắn đau hơn cả bọ cạp.

Trong bóng tối của túp lều giam, tôi cất tiếng:

- Aziru, vua Amori, ông sẽ tiếp một người bạn vào đêm cuối cùng trước khi chết chứ?

Trong bóng tối, tôi nghe tiếng Aziru thở nặng nề, tiếng xiềng xích loảng xoảng và ông ta nói:

- Tôi không còn là vua và tôi không có bạn, nhưng có phải ông đấy không, Sinuhe, vì trong bóng tối tôi nhận ra giọng ông.

Tôi đáp:

- Tôi là Sinuhe.

- Lạy Marduk và tất cả ác quỷ địa ngục, - Aziru nói, - nếu ông đúng thật là Sinuhe, hãy cho mang ánh sáng đến đây mau, bởi tôi đã quá chán chường khi phải nằm trong bóng tối và không lâu nữa tôi sẽ nằm trong bóng tối cả đời. Lũ Hittite đáng nguyền rủa đã xé rách quần áo của tôi và giần nát chân tay tôi, vì vậy hình ảnh tôi sẽ không còn gì đẹp trong mắt ông, nhưng là thầy thuốc, có lẽ ông đã quen với những cảnh tượng tồi tệ hơn, mà tôi cũng không hổ thẹn về điều gì cả, vì trước cái chết con người ta không cần hổ thẹn về nỗi khổ nhục của mình. Sinuhe, hãy cho mang ánh sáng vào lều để tôi nhìn thấy mặt ông và nắm tay ông trong tay tôi, bởi lòng tôi xót xa và nước mắt tôi tuôn trào vì vợ và các con trai tôi. Thêm nữa, Sinuhe, nếu có thể ông lấy cho tôi một hũ bia mạnh để cổ họng khô khốc của tôi được thấm ướt và ngày mai tôi sẽ kể với các vị thần nơi địa ngục về tất cả những việc làm tốt của ông. Đến một giọt bia tôi cũng không trả nổi nữa rồi, vì quân Hittite đã cướp đến miếng đồng cuối cùng của tôi.

Tôi gọi lính canh mang đến một ngọn đèn mỡ và thắp sáng nó lên, vì khói đuốc bình thường làm mắt tôi cay xè và nước mũi chảy. Lính canh mang đến một ngọn đèn mỡ rồi đốt lên, và tôi lấy từ họ một hũ bia Syria mà họ đã giấu để hút cho qua thời gian trong bóng đêm vì tối hôm đó Horemheb tổ chức tiệc và họ tin rằng viên giám quản sẽ lờ đi cho họ. Aziru nặng nhọc nhỏm dậy, vừa rên rỉ vừa ngồi lên, tôi giúp đặt ống hút vào miệng ông ta để ông ta hút bia Syria đặc sệt làm từ hạt đại mạch và mạch nha. Khi ông ta hau háu hút bia, tôi nhìn ông ta trong ánh sáng chập chờn của ngọn đèn mỡ, mái tóc rối bù đã bạc nhiều và bộ râu đẹp bị dứt nhổ khi quân Hittite tra tấn ông ta làm những mảng da lớn trên cằm bị toạc ra. Các ngón tay nham nhở, sứt sẹo, móng tay đen thẫm vì máu và xương sườn bị gãy, khiến ông ta rên lên khi thở; uống xong ông ta khạc nhổ ra cả bia và máu. Sau khi uống no và khạc nhổ đủ, ông ta nhìn ngọn lửa đèn và nói:

- Ồ, ánh sáng thật nhân từ và rạng rỡ biết bao với đôi mắt mệt mỏi của tôi khi đã nằm quá lâu trong bóng tối, nhưng ngọn đèn chập chờn và rồi sẽ lụi tàn như đời người, cũng chập chờn rồi tàn lụi. Nhưng tôi vẫn cảm ơn ông, Sinuhe ạ, về ánh sáng và bia này, và tôi rất muốn tặng ông cái gì đó để đền đáp, nhưng ông biết là tôi không còn gì để tặng ông vì những người bạn Hittite của tôi đã đánh bật khỏi miệng tôi cả những chiếc răng ông mạ vàng cho tôi vì lòng tham của chúng.

Nói sau ai cũng nói lời khôn được, vậy nên tôi không muốn nhắc việc tôi đã cảnh báo ông ta về người Hittite, mà chỉ nắm lấy bàn tay bị dập nát của ông, giữ nó trong tay mình, khiến ông chúi mái đầu kiêu hãnh vào giữa hai bàn tay tôi và khóc, nước mắt từ đôi mắt sưng mọng và bị đánh đến thâm đen lã chã rơi xuống tay tôi nóng ấm. Khóc xong rồi, ông ta nói với tôi:

- Trong những ngày vinh quang, tươi đẹp của mình, tôi đã không che giấu tiếng cười và niềm vui của mình trước mặt ông, vậy sao tôi lại phải ngượng vì những giọt nước mắt trong nỗi đau buồn này của mình. Nhưng ông phải biết, Sinuhe, rằng tôi không khóc vì bản thân hay vì sự giàu sang và ngôi báu của mình, cho dù tôi luôn tham lam giữ chặt lấy uy quyền và của cải của thế giới trần tục này, mà tôi khóc vì vợ tôi, Keftiu, vì đứa con trai lớn to khỏe, dũng cảm và vì đứa con trai út bé bỏng của tôi bởi vì ngày mai họ cũng phải chết với tôi.

Tôi nói với ông ta:

- Aziru, quốc vương của Amori, ông hãy nhớ rằng cả Syria như một ngôi mộ thối rữa vì lòng tham quyền lực của ông. Biết bao người đã chết vì ông, Aziru. Vì thế, ngày mai ông sẽ chết vì thua trận, điều này đúng và hợp lẽ, và có lẽ cũng tốt khi người thân của ông chết theo ông. Nhưng ông phải biết là tôi đã cầu xin Horemheb cho vợ và các con trai của ông được sống và sẵn lòng trao cho anh ta những món quà lớn vì điều đó, nhưng anh ta đã từ chối. Horemheb từ chối, vì anh ta muốn tẩy xóa giống nòi, thanh danh của ông và thậm chí cả ký ức về ông khỏi Syria. Vì thế đến cả một ngôi mộ, anh ta cũng không cho ông, Aziru ạ, mà xác ông sẽ bị tước xé. Anh ta không muốn những người đàn ông Syria từ nay về sau tập trung bên mộ ông, nhân danh ông mà thề nguyền độc địa Aziru ạ.

Nghe thế, Aziru vô cùng sợ hãi và nói:

- Sinuhe, vì thần Baal của tôi, sau khi tôi chết hãy dâng cúng thịt và rượu cho tôi trước tượng thần Baal của Amori để tôi khỏi phải lang thang đói khát muôn đời nơi cõi âm tăm tối. Hãy làm như vậy cho cả Keftiu mà ông từng yêu quý, mặc dù ông đã trao nàng cho tôi vì tình bạn của chúng ta và hãy làm như vậy cho các con trai tôi để tôi có thể chết một cách thanh thản mà không phải lo lắng cho chúng. Tôi không muốn xỉ vả Horemheb vì quyết định của anh ta, vì có lẽ tôi cũng sẽ làm tương tự với anh ta và dòng họ anh ta nếu anh ta rơi vào tay tôi. Thành thật mà nói, Sinuhe ạ, tôi khóc đấy, song tôi cũng vui mừng vì gia đình tôi được chết cùng tôi và máu của chúng tôi sẽ chảy về một cội, vì ở cõi âm tôi sẽ không nguôi day dứt khi nghĩ đến việc trên mặt đất có người khác ôm ấp Keftiu và vần vò thân thể tuyệt đẹp của nàng. Vì nàng có rất nhiều người mê đắm và bao nhà thơ đã ca ngợi cơ thể phổng phao, phồn thực của nàng. Các con trai tôi chết cũng tốt hơn, vì chúng sinh ra để làm vua và đội vương miện từ thuở nằm nôi nên tôi không muốn chúng trở thành nô lệ ở Ai Cập và phải chịu kiếp sống tôi đòi.

Ông ta lại bắt đầu hút bia và ngật ngà trong nỗi khốn cùng của mình, dùng ngón tay đau cào cào ghét và phân mà binh lính đã ném lên người ông, rồi nói tiếp:

- Sinuhe, bạn của tôi, ông kết tội tôi, nhưng ông đã lầm khi nói vì tôi mà Syria thành mồ chôn thối rữa, vì tôi chỉ có tội là đã thua trong cuộc chiến và để cho quân Hittite phản bội mình. Thật ra nếu tôi thắng, người đời sẽ bảo tất cả những điều tàn ác đã xảy ra là lỗi của Ai Cập, còn tên của tôi sẽ được vinh danh. Nhưng vì tôi đã thua, người ta đổ vấy và bảo mọi điều tàn ác là lỗi của tôi và cả Syria nguyền rủa tên tôi.

Ông ta say mềm vì chất bia đậm đặc và giơ đôi tay bị cùm giật mái tóc xơ xác, gào lên:

- Ôi Syria, ôi Syria! Nỗi đau của ta, niềm hy vọng của ta, tình yêu của ta! Vì sự vĩ đại của người, ta đã làm tất cả, vì tự do của người, ta đã nổi dậy phản kháng, nhưng đến ngày ta chết, người chối bỏ ta và nguyền rủa tên ta. Ôi, Byblos diệu kỳ, ôi, Simyra rực rỡ, ôi Sidon gian xảo, ôi, Joppa mạnh mẽ! Ôi, các ngươi, tất cả các thành phố lấp lánh ánh ngọc trai trên vương miện của ta, sao các ngươi lại ruồng bỏ ta? Nhưng ta yêu các ngươi quá đỗi nên không thể căm hận các ngươi vì sự ruồng rẫy đó, ta yêu Syria chính vì thế, vì đó là Syria xảo quyệt, độc ác, thất thường và sẵn sàng làm phản. Các dòng họ mất đi, các dân tộc trỗi dậy và biến mất, các vương triều đổi thay, danh vọng và vinh quang vụt tắt như một cái bóng. Nhưng hãy trường tồn, mãi trường tồn, hỡi những thành phố kiêu hãnh của ta! Hãy lấp lánh sáng ngời cùng những bức tường trắng trên bờ biển bên chân những dãy núi đỏ sậm, hãy lấp lánh muôn đời để cát bụi thân ta theo gió từ sa mạc thổi đến ôm lấy các ngươi!

Nỗi buồn như cơn lũ tràn vào tâm trí tôi khi ông ta nói thế và tôi nhận ra ông ta vẫn bị cầm tù trong những ảo mộng của mình. Tôi không muốn giết chết những ảo mộng đó vì chúng đã an ủi ông vào đêm cuối cùng trước khi đến với tử thần. Vì thế tôi giữ đôi tay bị dập nát của ông ta trong tay mình và ông rên rỉ bóp chặt tay tôi, nói:

- Sinuhe, tôi không ân hận về cái chết cũng như những lần bại trận của mình, vì phải thật liều lĩnh thì mới có thể thắng và chiến thắng cùng với sự vĩ đại của Syria đã hiển hiện trong tầm tay tôi. Suốt cuộc đời mình, tôi luôn mạnh mẽ trong tình yêu, điên cuồng trong cơn giận và tôi không thể nghĩ cho mình một cuộc sống nào khác, tôi cũng không muốn thay đổi dòng chảy cuộc đời mình và tôi không ân hận về bất cứ việc gì mình đã làm, mặc dù những việc làm của tôi đã đan kết thành một sợi dây bền chắc, trói chặt tôi và đưa tôi đến một cái chết nhục nhã, khiến thân xác tôi bị vứt làm đồ ăn cho chó hung sa mạc. Nhưng Sinuhe, bản tính tôi vốn tò mò và trong huyết quản tôi có dòng máu thương nhân, giống như tất cả những người Syria. Ngày mai tôi sẽ phải chết và cái chết đang đánh thức tính tò mò trong tôi trỗi dậy nên tôi muốn biết có cách nào để mua chuộc thần chết và lừa dối các vị thần không, vì trong tâm trí tôi, ý nghĩ về thế giới bên kia và hành trình vĩnh cửu như một cái bóng tối tăm, mờ ảo đáng sợ. Nhưng ông, Sinuhe, ông đã gom vào tâm hồn mình sự thông thái của mọi miền đất, hãy cho tôi biết làm cách nào mua chuộc được thần chết.

Tôi lắc đầu nói với ông ấy:

- Không, Aziru, con người có thể lừa dối và mua chuộc bất cứ điều gì khác. Anh ta có thể mua chuộc tình yêu và quyền lực, thiện và ác, trí óc và trái tim mình, nhưng không thể mua được sinh và tử. Nhưng đêm nay, khi ngọn đèn của ông vẫn đang chập chờn, tôi nói với ông đây: Chết không có gì đáng sợ, Aziru ạ, chết là tốt. So với tất cả những điều xấu xa đang xảy ra trên thế gian, cái chết là người bạn tốt nhất của con người. Là một thầy thuốc, tôi không còn tin nhiều vào thế giới bên kia và là một người Ai Cập, tôi không còn tin vào miền tây và việc giữ gìn thi thể nữa, mà với tôi cái chết giống như một giấc ngủ dài, như đêm mát mẻ sau một ngày nóng bức. Đúng thế đấy Aziru ạ, cuộc sống là cát bụi nóng bỏng, còn cái chết là dòng nước mát. Trong cái chết, đôi mắt đang khép lại của anh không nhìn thấy gì nữa; trong cái chết, trái tim anh lặng im và không còn than vãn; trong cái chết, đôi tay mệt mỏi của anh không còn muốn làm việc; trong cái chết, đôi chân rụng rời của anh không còn muốn lấm bụi của những con đường dài vô tận nữa. Cái chết là vậy đấy, Aziru, bạn của tôi, nhưng vì tình bạn của chúng ta, tôi vẫn vui lòng dâng cúng ông và gia đình ông nhiều rượu và thịt trước thần Baal của xứ Amori. Tôi sẽ dâng lễ cho ông và gia đình ông cho xứng với vương quyền của ông, nếu điều đó an ủi ông, mặc dù bản thân tôi không tin nhiều lắm vào đồ cúng tế. Tuy nhiên cẩn tắc vô áy náy, vì thế tôi sẽ làm lễ dâng cúng cho ông để ông không phải chịu đói và khát nơi cõi âm, cho dù cõi đó không hề tồn tại.

Aziru hào hứng hẳn lên trước những lời tôi nói và dặn:

- Khi làm lễ, ông hãy cúng cho tôi những con cừu của Amori, vì đó là loại cừu béo nhất trong tất cả các loại cừu và thịt chúng tan chảy trong miệng tôi. Đừng quên cúng cho tôi thận của chúng, vì đó là món tôi ưa thích, và nếu có thể, hãy cúng cho tôi rượu của Sidon đã được pha với mộc dược, vì máu tôi vốn thích rượu nặng và thức ăn béo. Tôi cũng xin ông cúng cho tôi một chiếc giường thoải mái và chắc chắn, chịu được những cú đẩy, dập mạnh, vì với danh vị quốc vương, thật không thích hợp nằm trên cỏ như một gã chăn gia súc, mặc dù mặt đất không rung rinh, như những chiếc giường chắc nhất cũng phải rung rinh dưới sức nặng của Keftiu.

Ông ta liệt kê thêm một loạt thứ mà ông ta muốn tôi dâng cúng cho ông và thích thú, vui mừng như một đứa trẻ khi nghĩ đến tất cả những thứ tốt đẹp mà ông ta có thể được mang theo đến cõi âm. Nhưng cuối cùng, ông ta lại buồn bã, nặng nề thở dài và ngả cái đầu bị đánh vào tay mình và nói:

- Sinuhe, nếu ông làm tất cả những điều này cho tôi, ông thực sự là bạn của tôi và tôi không hiểu vì sao ông sẽ làm, bởi vì tôi đã gây ra rất nhiều mất mát, đau khổ cho ông cũng như cho tất cả người dân Ai Cập. Ông cũng đã nói với tôi những điều đẹp đẽ về cái chết và có lẽ đúng như ông nói, cái chết chỉ là một giấc ngủ dài, là một dòng nước mát. Nhưng dù thế, tim tôi vẫn đau nhói khi nghĩ đến cành táo đang nở hoa trên đất Amori, nghe trong tai mình tiếng cừu kêu và thấy bầy cừu non nhảy nhót trên sườn núi. Tim tôi nhói đau nhất là khi nghĩ về mùa xuân trên đất Amori, những bông huệ tây bắt đầu xòe cánh và hương thơm của nhựa huệ tây, vì hoa huệ là một loài hoa vương giả, thích hợp với thân thể tôi. Nghĩ về tất cả những điều này, trái tim tôi đau nhói khi biết rằng mình sẽ không bao giờ nhìn thấy xứ sở Amori nữa, không vào mùa xuân cũng không vào mùa thu, không phải trong cái nóng của mùa hè cũng như gió lạnh của mùa đông. Nhưng dù thế, nỗi đau của tim tôi lại ngọt ngào khi tôi nghĩ về vùng đất Amori.

Chúng tôi đã nói chuyện như thế suốt đêm trong lều giam Aziru và nhớ lại những lần chúng tôi gặp nhau khi tôi ở Simyra, cả hai chúng tôi vẫn còn trẻ và khỏe. Aziru cũng kể cho tôi nghe đủ chuyện về thời thơ ấu của ông ta, nhưng tôi sẽ mất quá nhiều thời gian nếu kể về tuổi thơ của ông vì tuổi thơ của mỗi người đều giống nhau và ký ức tuổi thơ vì vậy chỉ có giá trị đối với bản thân mỗi người. Sáng sớm, nô lệ của tôi mang bữa sáng đã được chuẩn bị cho chúng tôi, lính gác không ngăn lại vì cũng được nhận bữa sáng. Các nô lệ mang ra thịt cừu nóng hổi, béo ngậy cùng với gạo lứt nấu trong dầu béo và rót rượu mạnh Sidon pha với mộc dược vào cốc chúng tôi. Tôi cũng bảo nô lệ của mình rửa sạch bụi bẩn trên người cho Aziru, rũ sạch những mẩu rác mà người dân ném lên đầu ông ấy, rồi chải, uốn tóc và che râu ông bằng một dải lưới được tết bằng chỉ vàng. Tôi lấy áo choàng hoàng gia che lên quần áo rách mướp của ông và sợi dây xích; vì không thể tháo sợi xích đồng mà quân Hittite đã đóng ông vào nên tôi không thể cho ông mặc một bộ quần áo mới. Các nô lệ của tôi cũng làm như vậy với Keftiu và hai con trai của ông, nhưng Horemheb không cho Aziru gặp vợ và các con trai trước khi đến nơi hành quyết.

Khi thời khắc ấy đến gần, Horemheb từ lều mình bước ra cùng với các hoàng thân Hittite say xỉn, tựa tay vào vai họ và cười thành tiếng. Tôi đến chỗ Horemheb và nói:

- Horemheb, đúng là tôi đã làm cho anh nhiều việc và có lẽ đã cứu sống anh khi rút mũi tên độc ra khỏi đùi anh ở Tyros và chữa lành cho anh. Vì tất cả những việc ấy, anh cũng hãy làm cho tôi điều này, hãy để Aziru chết mà không phải chịu nhục nhã, vì ông ta là quốc vương của Syria và đã chiến đấu rất kiên cường. Vinh quang của anh sẽ tăng nếu anh để ông ta chết mà không hổ thẹn, những người bạn Hittite của anh đã tra tấn ông ta quá nhiều và giần nát chân tay ông ta khi ép ông ta khai nơi cất giữ của cải.

Horemheb sầm mặt khi nghe những lời của tôi vì anh ta đã nghĩ ra nhiều cách man rợ để kéo dài cái chết của Aziru và tất cả đã sẵn sàng cho điều đó. Mờ sáng, toàn bộ quân lính đã tập trung dưới chân gò hành quyết và binh lính tranh giành nhau để có được chỗ tốt nhất cho một ngày thú vị. Horemheb dàn xếp việc này không phải vì anh ta thích tra tấn và muốn chứng kiến sự đau đớn của Aziru, mà muốn mua vui cho binh lính của mình và gieo rắc nỗi kinh hoàng khắp Syria, để không ai dám tơ tưởng đến việc nổi dậy làm loạn sau cái chết khủng khiếp của Aziru. Tôi phải nói điều này vì danh dự của Horemheb; anh ta không phải là một người có bản tính độc ác như người ta vẫn kể, mà anh ta một chiến binh và cái chết chỉ là vũ khí trong tay anh ta. Tuy nhiên, anh ta vẫn thích để cho những câu chuyện kể nói quá lên sự tàn ác của mình để làm kẻ thù sợ hãi và dân chúng kính trọng mình. Anh ta nghĩ rằng dân chúng kính trọng một ông vua độc ác hơn một quân vương nhân từ và họ coi sự khoan dung của nhà cai trị là một điểm yếu.

Vậy nên Horemheb bực tức với tôi và bỏ tay khỏi cổ Hoàng tử Shubattu rồi đứng đung đưa trước mặt tôi và bắt đầu quất roi vàng vào chân mình, nói với tôi:

- Sinuhe, anh mãi mãi là cái gai chọc mạn sườn ta và ta bắt đầu chán anh rồi, vì không như những người biết điều, với bất cứ ai thành công, giành được vinh quang và giàu có, anh phẫn uất, giễu cợt và trách mắng, còn nếu ai đó gục ngã và thua trận, anh là người đầu tiên vỗ về và an ủi họ. Anh biết rất rõ ta đã gặp nhiều khó khăn và mất nhiều phí tổn mới đưa được về đây những tên đao phủ thiện nghệ nhất từ khắp các miền hoang mạc xa xôi chỉ vì Aziru này và chỉ riêng việc lắp đặt các đồ nghề tước xé và nung đốt của chúng lên đồi cho cả quân đội nhìn thấy cũng đã tốn cả đống bạc. Ta không thể tước đoạt thú vui của lũ chuột bùn của ta vào những phút cuối này nữa rồi, vì cả lũ chúng đều đã biết bao lần bị bệnh tật và đổ máu với vô số vết thương vì tên Aziru này.

Hoàng tử Hittite, Shubattu, đập mạnh tay vào lưng anh ta và cười, rồi gào lên:

- Horemheb, tướng quân nói đúng. Chẳng lẽ tướng quân lại muốn tước đi niềm vui của chúng tôi, vì để giữ niềm vui cho tướng quân, chúng tôi đã không róc thịt từ chân tay hắn ta, mà chỉ cẩn thận rứt và kẹp bằng những chiếc kìm và đinh vít gỗ.

Nhưng với sự ngạo mạn của mình, Horemheb không thích câu nói này của Shubattu, mà cũng chẳng vui thú gì khi Shubattu đập vào lưng mình. Vì thế anh ta cau mày nói:

- Shubattu, ngài say rồi. Tôi không có ý định gì với Aziru ngoài việc cho cả thế giới thấy bất cứ ai đặt lòng tin vào người Hittite sẽ nhận số phận thế nào. Nhưng vì đêm nay chúng ta đã kết bạn và đã uống nhiều chén huynh đệ, nên tôi sẽ tha cho đồng minh này của ngài và vì tình bạn của chúng ta, tôi sẽ cho hắn một cái chết dễ dàng.

Những lời của Horemheb khiến Shubattu tức điên lên, khuôn mặt trở nên méo xệch và tái nhợt, bởi người Hittite rất dễ nổi xung nếu bị xúc phạm, mặc dù ai cũng biết họ sẽ phản bội và bán đứng đồng minh của mình mà không nghĩ đến danh dự, một khi không còn lợi lộc gì từ đồng minh mà có thể có lợi hơn khi phản bội họ. Mà thật ra mọi dân tộc và mọi thống lĩnh khôn ngoan đều hành xử như vậy, nhưng người Hittite làm điều đó trơ trẽn hơn các dân tộc khác và cũng không bận tâm tìm ra nguyên do và lời giải thích cần thiết để hoa mỹ hóa sự việc và làm cho nó trở nên đúng đắn. Nhưng Shubattu vẫn tức giận, buộc các chỉ huy Hittite khác phải lấy tay bịt miệng anh ta rồi kéo anh ta ra xa Horemheb và giữ anh ta cho đến khi cơn thịnh nộ ngớ ngẩn làm anh ta nôn hết rượu ra và bình tĩnh trở lại.

Nhưng Horemheb đã ra lệnh đưa Aziru bước ra khỏi lều giam và vô cùng kinh ngạc khi thấy ông ta bước tới trước đám đông, đầu ngẩng cao và kiêu hãnh như một vị vua, trên vai khoác chiếc áo choàng hoàng gia. Aziru đã ăn thịt mỡ và uống rượu mạnh, lắc lắc đầu ngạo mạn và cười thành tiếng khi bước đến nơi hành quyết, hét to chế giễu các chỉ huy và lính gác của Horemheb. Tóc ông được chải và uốn xoăn, mặt sáng loáng dầu thơm và qua đầu các binh sĩ, ông hét với lên chỗ Horemheb:

- Này Horemheb, gã Ai Cập bẩn thỉu. Đừng sợ ta nữa nhé, vì ta đang bị xiềng xích và ngươi không cần phải nấp sau rừng giáo của quân lính mình. Hãy đến gần ta, để ta chùi bàn chân lấm đầy phân rác của ta lên chiếc áo choàng của ngươi, vì quả thực trong đời mình ta chưa từng nhìn thấy cái trại lính nào bẩn thỉu hơn thế này và ta muốn bước đến trước mặt thần Baal của ta bằng đôi chân sạch sẽ.

Nghe những lời ấy, Horemheb vô cùng thích thú, cười phá lên và hét lại Aziru:

- Ta không thể đến gần ngươi vì mùi Syria làm ta phát ốm, mặc dù ngươi đã lấy trộm áo choàng từ đâu đó để che thân thể bẩn thỉu của mình. Nhưng chắc chắn ngươi là một người dũng cảm, Aziru, khi ngươi cười ngạo nghễ trước tử thần. Bởi vậy ta sẽ cho ngươi một cái chết dễ dàng vì danh tiếng của ta.

Anh ta sai vệ sĩ của mình áp giải Aziru và ngăn quân lính ném bùn lên người ông ta. Những con bọ bẩn thỉu của Horemheb vây quanh Aziru và lấy cán giáo đập vào miệng bất kỳ kẻ nào cố gào lên chế nhạo Aziru, vì họ không còn hận thù Aziru bởi tất cả những đau đớn ông đã gây ra cho họ nữa, mà cảm phục sự dũng cảm của ông. Họ cũng giải cả Hoàng hậu Keftiu và hai con trai của Aziru đến nơi hành quyết. Keiftiu trang điểm theo cách đàn bà vẫn làm, vẽ mặt đỏ và trắng; hai cậu con trai, hai hoàng tử kiêu hãnh, cũng bước đến nơi hành quyết, người anh dắt tay em. Nhìn thấy họ, Aziru trở nên yếu đuối và nói:

- Keftiu, Keftiu, ngựa cái trắng của ta, con ngươi của ta và tình yêu của ta, ta rất lấy làm tiếc, vì ta mà nàng cũng phải theo ta đến cõi chết, bởi vì cuộc đời với nàng vẫn còn đầy hấp dẫn.

Nhưng Keftiu nói:

- Tâu quốc vương, xin quốc vương đừng buồn vì tiện thiếp, bởi tiện thiếp sẽ theo người đến vương quốc của tử thần. Vì quốc vương là phu quân của thiếp, khỏe như bò mộng và thiếp không nghĩ có người đàn ông nào khác có thể thỏa mãn thiếp như phu quân. Trong cuộc đời này, thiếp cũng đã chia rẽ quốc vương với những người đàn bà khác và trói buộc người với riêng mình. Vì vậy, thiếp sẽ không để quốc vương một mình vào cõi chết mà thiếp sẽ đi theo để giám sát và ngăn cản người vui vẻ với những phụ nữ khác, vì chắc chắn tất cả phụ nữ xinh đẹp đã đến nơi đó trước đều đang đợi quốc vương. Vì vậy, cẩn tắc vô áy náy, thiếp sẽ theo quốc vương ngay cả khi thiếp được sống. Thật ra, thiếp sẽ thắt cổ tự vẫn bằng chính tóc của mình để theo người, thưa quốc vương yêu kính, vì trước đây thiếp chỉ là nô lệ nhưng quốc vương đã phong thiếp làm hoàng hậu và thiếp đã sinh cho người hai đứa con trai dũng cảm.

Aziru vui mừng khôn xiết trước lời nói của Keftiu, ông ta sung sướng đến ngạo mạn và nói với các con trai:

- Hai con trai xinh đẹp của ta! Các con là hoàng tử khi được sinh ra trên thế gian. Hãy là hoàng tử cả khi chết, để ta không hổ thẹn về các con. Hãy tin ta, chết không làm ta đau đớn hơn nhổ một cái răng trong miệng. Vì vậy, hãy can đảm lên, các con trai xinh đẹp của ta.

Nói rồi ông ta quỳ xuống đất trước mặt đao phủ, rồi lại quay về phía Keftiu và nói:

- Ta đã quá chán chường khi nhìn lũ Ai Cập hôi hám xung quanh mình và ta ngán ngẩm nhìn những ngọn giáo đẫm máu của chúng. Vì thế, hãy để lộ bầu vú tươi như hoa của ái khanh cho ta, Keftiu, để ta có thể ngắm nhìn vẻ đẹp của nàng khi ta chết và ta chết cũng hạnh phúc như khi sống với nàng.

Keftiu để lộ bầu vú đồ sộ của mình ra cho ông ta và đao phủ giơ thanh kiếm nặng nề lên, chỉ bằng một nhát chém đầu ông lìa khỏi cổ. Đầu ông ta bay đến chân Keftiu và từ thân thể cường tráng của ông, một dòng máu khỏe mạnh phun ra với tốc độ phi thường trong những nhịp tim cuối cùng đã bắn tóe lên quần áo của hai cậu con trai làm chúng sợ hãi và đứa bé bắt đầu run rẩy. Nhưng Keftiu đã nhấc đầu Aziru lên khỏi mặt đất, hôn lên đôi môi sưng tấy của ông và dùng tay vuốt ve đôi má rách xước rồi áp vào giữa hai bầu vú mềm mại của mình và nói với các con trai:

- Nhanh lên, các con trai dũng cảm của mẹ, đừng sợ hãi, hãy theo phụ vương, các con trai nhỏ bé, vì mẹ mong mỏi đi theo phụ vương các con.

Nghe thế, cả hai đứa con trai ngoan ngoãn quỳ xuống, tay đứa lớn vẫn nắm chặt bàn tay em mình đầy chở che và đao phủ nhẹ nhàng chặt đứt cái cổ mảnh khảnh của cả hai. Sau khi lấy chân gạt thi thể của hai đứa trẻ sang một bên, đao phủ cũng bằng một nhát duy nhất cắt phăng chiếc cổ trắng trẻo mập mạp của Keftiu, vậy nên họ chết thật dễ dàng. Rồi Horemheb cho ném thi thể họ vào hố xác làm thức ăn cho bầy thú.

❖ 5 ❖

Bạn tôi, Aziru, đã chết như thế mà không cố mua chuộc tử thần, còn Horemheb đã đình chiến với Hittite, mặc dù cả anh ta cũng như Hittite đều biết rằng thỏa thuận đình chiến này chỉ là tạm thời, vì Sidon, Simyra, Byblos và Kadesh vẫn còn nằm trong tay Hittite và Hittite đã biến Kadesh thành một pháo đài lớn kiên cố, làm căn cứ quyền lực của mình ở miền bắc Syria. Nhưng vào thời điểm đó, cả Horemheb lẫn người Hittite đều thấy mệt mỏi vì chiến trận liên miên và Horemheb quá mừng khi có thể đình chiến vì anh ta có những lợi ích cần giám sát ở Thebes, còn phải dẹp yên xứ Kush và người da đen, những kẻ đã nổi loạn vì quá tự do và không còn muốn nộp tô cho Ai Cập.

Trong suốt những năm này, Pharaon Tutankhamon trị vì Ai Cập, mặc dù ngài vẫn chỉ là một cậu bé và chỉ lo xây lăng mộ cho mình, còn dân chúng đổ tội cho ngài tất cả những đau khổ, mất mát do chiến tranh gây ra và vô cùng căm ghét ngài. Họ nói:

- Chúng ta có thể mong đợi gì từ một pharaon có vợ mang dòng máu của pharaon bị nguyền rủa?

Eje không những không ngăn cấm những lời đàm tiếu của thiên hạ vì chúng có lợi cho ông ta, mà còn cho lan truyền trong dân chúng những câu chuyện về sự vô lo và lòng tham của Tutankhamon khi ngài sai thu gom tất cả của cải của Ai Cập cho lăng mộ của mình. Ngoài ra, ngài còn thu thuế mai táng từ người dân, đến mức bất cứ ai chết ở Ai Cập đều phải trả cho ngài một khoản thuế để thi thể của mình được lưu giữ vĩnh viễn. Nhưng Eje chính là người đã gieo ý định này vào đầu ngài, vì ông ta biết làm như thế sẽ khiến dân chúng căm giận.

Suốt thời gian đó, tôi không về Thebes mà đi theo quân đội, chịu đủ mọi gian khổ và thiếu thốn, vì quân lính cần kỹ năng chữa bệnh của tôi, nhưng những người đến từ Thebes kể rằng Pharaon Tutankhamon gầy gò, ốm yếu và một căn bệnh bí hiểm nào đó bào mòn thân thể ngài. Họ nói hình như cuộc chiến ở Syria đã làm tiêu hao sức lực của Pharaon vì mỗi khi nhận được tin về chiến thắng của Horemheb, ngài lại đổ bệnh, nhưng nếu tin thất bại của Horemheb báo về thì Pharaon hồi phục và dậy khỏi giường. Họ cũng nói rằng tất cả đều như bị bùa phép và bất kỳ ai thật sự lưu tâm đều có thể thấy rõ sức khỏe của Pharaon Tutankhamon phụ thuộc vào cuộc chiến ở Syria như thế nào.

Nhưng, thời gian trôi đi, Eje ngày càng sốt ruột và ông ta thường xuyên nhắn tin cho Horemheb: “Lẽ nào tướng quân không muốn chấm dứt cuộc chiến và đem lại hòa bình cho Ai Cập? Bởi tôi đã là một lão già và mệt mỏi với việc chờ đợi. Horemheb, chiến thắng nhanh lên và mang hòa bình về cho Ai Cập để ta có thể nhận được phần mình theo giao ước của chúng ta và ta sẽ lo phần cho tướng quân nữa!”.

Vì tất cả những việc này nên tôi không hề ngạc nhiên khi chiến tranh kết thúc và chúng tôi đang dong buồm ngược dòng sông trên những chiếc thuyền chiến trong đội hình chiến thắng và cờ hiệu tung bay thì nhận được tin Pharaon Tutankhamon đã lên thuyền vàng của Amon cha mình đi về miền tây. Người ta kể rằng Pharaon Tutankhamon đã lên cơn đau dữ dội vào đúng ngày tin Megiddo thất thủ và đình chiến truyền về Thebes. Nhưng các thái y của Nhà Sống tranh cãi với nhau về nguyên nhân dẫn đến cái chết của ngài và người ta đồn rằng dạ dày ngài bị thâm đen vì chất độc, nhưng không ai biết chắc điều gì về cái chết của ngài. Dân chúng bảo ngài chết vì sự ác độc của chính mình khi chiến tranh kết thúc, bởi niềm vui lớn nhất của ngài là thấy Ai Cập đau khổ và chịu đựng, nhưng tôi biết khi Horemheb ấn dấu triện của mình lên đĩa đất sét thỏa ước hòa bình, chắc chắn anh ta đã giết ngài như thể chính tay anh ta đâm một nhát dao vào tim ngài, vì Eje chỉ mong chờ hòa bình để gạt Tutankhamon ra khỏi đường đi của mình và ngồi lên ngai vàng của các pharaon như “vị vua của hòa bình”.

Vì vậy, chúng tôi phải bôi bẩn mặt, hạ cờ chiến thắng sặc sỡ trên các chiến thuyền xuống và Horemheb đã tức giận cho cắt dây, tháo gỡ và thả xuống sông các quản cơ, cai đội Syria và Hittite mà anh ta đã sai treo ngược đầu trước mũi thuyền của mình theo cách của các pharaon vĩ đại. Cả những con bọ rác rưởi của anh ta cũng bực tức và thóa mạ Tutankhamon rằng khi sống không đem lại cho họ niềm vui mà lúc lìa trần còn lấy mất điều ấy của họ. Anh ta cho họ theo về để vui mừng chiến thắng ở Thebes, sau khi đã để lại những con chuột bùn nhằm khôi phục Syria và nhân tiện vỗ béo mình bằng sự phì nhiêu của Syria sau những gian khổ của chiến tranh.

Họ cáu kỉnh chơi xúc xắc trên thuyền bằng những chiến lợi phẩm thu được ở Syria và đánh nhau vì những cô gái mà họ mang theo từ Syria về để bán ở Thebes sau khi đã hãm hiếp, giày vò họ chán chê. Họ đánh nhau mặt sưng húp, làm nhau bị thương và hát những bài ca tục tĩu thay cho những bài than khóc buồn bã, đến nỗi dân chúng mộ đạo tụ tập trên bờ để nhìn các thuyền chiến, hết sức kinh sợ trước hành xử của họ. Không thể nghĩ những con bọ bẩn thỉu này của Horemheb là người Ai Cập, vì nhiều người trong số họ ăn mặc theo kiểu Syria hoặc Hittite sau khi thu những bộ quần áo đẹp này làm chiến lợi phẩm, chèn lẫn lộn những từ và câu chửi Syria và Hittite trong lời nói của mình; nhiều người hạ mình phục vụ thần Baal ở Syria và mang theo thần Baal về Ai Cập. Tôi không có lý do gì để trách cứ họ về điều này vì bản thân tôi đã dâng cúng nhiều đồ uống và thịt cho thần Baal của Amori trước khi rời Syria để tưởng nhớ người bạn Aziru của tôi, nhưng tôi kể điều này để cho thấy tại sao dân chúng tránh xa họ và sợ họ như sợ người lạ, cho dù rất tự hào về những chiến thắng của họ ở Syria.

Còn binh lính của Horemheb thì lạ lẫm nhìn ngó Ai Cập, một Ai Cập họ không nhìn thấy trong nhiều năm qua, vì họ không còn thấy Ai Cập là đất nước mà từ đó họ đã ra trận và cả tôi cũng không còn nhận ra Ai Cập nữa. Vì ở bất cứ nơi nào thuyền chúng tôi cập bến để qua đêm trên đất liền, chúng tôi chỉ thấy nỗi buồn, sự khốn khổ và nghèo đói. Quần áo của người dân loang lổ, chỗ xám, chỗ sặc sỡ sau nhiều lần giặt, khuôn mặt khô và thô ráp vì thiếu dầu bôi, đôi mắt đói khát, ngờ vực và trên lưng dân nghèo đầy dấu gậy của những người thu sưu thuế. Các tòa nhà chung đã xuống cấp, chim chóc làm tổ trên mái nhà các quan tòa của Pharaon và những viên gạch rơi xuống đường để lại tường các tòa nhà của Pharaon thủng lỗ chỗ. Đường sá không được tu bổ trong nhiều năm vì thiếu nhân công, khi những người sống của Ai Cập bị dồn cho cuộc chiến ở Syria; các bờ kênh tiêu nước bị sụt xuống và các mương tưới um tùm cỏ trên các cánh đồng.

Chỉ có những đền miếu sầm uất với những hình ảnh, chữ khắc bằng vàng và màu đỏ tươi ca ngợi Amon lấp lánh trên các bức tường và các giáo sĩ của Amon béo tốt, đầu trọc lốc lấp lánh dầu thơm. Trong khi họ ngấu nghiến nhai thịt cúng tế, dân nghèo uống nước sông Nile với bánh mì khô và cháo và những người đàn ông trước đây giàu có, uống rượu từ những chiếc cốc sặc sỡ thì bây giờ sẽ mãn nguyện nếu họ có được một hũ bia nhạt một lần trong mỗi tuần trăng. Tiếng cười của phụ nữ và tiếng trẻ đùa vui không còn vang lên hai bên bờ sông mà ở đó chỉ có những người đàn bà vung cánh tay gầy guộc đập chày giặt, đám trẻ rón rén trên đường như những con vật sợ sệt vì bị đánh và đào bới rễ thủy sinh trong bùn ăn cho đỡ đói. Chiến tranh đã làm Ai Cập thành như thế và lấy đi tất cả những gì Aton đã tích trữ được. Vì vậy dân chúng không còn vui mừng với hòa bình nữa mà sợ hãi khi nhìn thấy đội thuyền chiến của Horemheb ngược dòng sông.

Nhưng những cánh én vẫn lao vút trên mặt nước nhanh như tên bay, những con hà mã vẫn gầm gừ trong đám sậy nơi bãi sông hoang vắng và bầy cá sấu duỗi chân nghỉ ngơi nơi mép nước, mõm há hốc để những con chim nhỏ bé làm sạch răng. Chúng tôi uống nước sông Nile từ trên thuyền, không nơi nào trên thế giới có nước giống nước sông Nile và làm dịu cơn khát như thế. Chúng tôi hít thở mùi bùn, nghe tiếng sậy thì thầm trong gió, nghe tiếng vịt kêu và Amon trên thuyền vàng của ngài lướt qua trên bầu trời xanh ngắt và chúng tôi biết mình đã về đến cố hương.

Rồi đến một ngày, phía sau dòng sông thấp thoáng nhô lên ba ngọn núi cao, ba vệ sĩ vĩnh cửu của Thebes; chúng tôi thấy mái đền khổng lồ và trong mắt chúng tôi, những chóp vàng của các ngọn tháp tỏa vào không trung những tia chớp sáng lóa. Chúng tôi thấy những ngọn núi phía tây và thành phố của những người chết trải dài ngút mắt, thấy những cầu thuyền bằng đá của Thebes, thấy bến cảng và những con hẻm chạy dài vô tận, hai bên được viền bằng những túp lều đất sét của những khu phố nghèo, thấy những khu phố giàu có và những biệt thự của giới quý tộc giữa cảnh sắc rực rỡ của hoa và cây cỏ xanh tươi. Lúc đó chúng tôi hít thở sâu hơn và các tay chèo thả mái chèo xuống nước với niềm vui mới và binh lính của Horemheb bắt đầu la hét om sòm, quên đi cả nỗi đau lẫn niềm vui.

Thế là tôi lại trở về Thebes và tôi quyết định sẽ không bao giờ rời đi nữa, vì mắt tôi đã nhìn thấy đủ sự xấu xa của con người và không có gì mới để nhìn thấy dưới bầu trời cũ nữa. Vậy nên tôi quyết định ở lại Thebes và sống những năm tháng còn lại của mình trong cảnh nghèo khó trong ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng cũ ở khu phố nghèo của thành phố, vì tôi đã dùng cho tang lễ của Aziru tất cả những món quà quý giá mà tôi nhận được ở Syria trong chiến tranh bằng tài năng chữa bệnh của mình, bởi tôi không muốn giữ lại sự giàu có ấy. Những thứ đó có mùi máu trong mũi tôi và tôi sẽ không thấy vui nếu dùng chúng cho riêng mình. Vì thế, tôi đã dành cho Aziru tất cả những gì tôi có được trên mảnh đất của ông ta và nghèo khó trở về Thebes.

Nhưng tôi vẫn chưa nhận đủ khổ đau mà mình phải chịu, vì số phận đã định trước bắt tôi phải làm một việc tôi không hề muốn và việc đó khiến tâm trí tôi hoảng sợ, song tôi không thể lảng tránh nó, vì thế tôi lại phải rời Thebes một lần nữa trong vòng một vài ngày. Vì Eje và Horemheb đã khôn ngoan giăng lưới, thực hiện các kế hoạch của họ và tin rằng quyền uy nằm trong tay mình, nhưng quyền uy thoát ra mà họ không hề hay biết và số phận của Ai Cập đang rẽ sang hướng khác vì tính khí thất thường của đàn bà. Vậy nên tôi vẫn phải kể về Hoàng hậu Nefertiti và Công chúa Baketamon trước khi có thể kết thúc câu chuyện của mình và được bình tâm. Nhưng để kể về họ, tôi phải bắt đầu một sách mới và hãy để đây là sách cuối cùng mà tôi viết và tôi viết cho chính mình để giải thích vì sao tôi, người được sinh ra như một danh y, lại trở thành một kẻ giết người.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của mika waltari