Người Ai Cập, Quyền lực và Tình yêu

Lượt đọc: 612 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Sách thứ mười hai
ồng hồ nước đo thời gian
att

❖ 1 ❖

Thế là điều mà Kaptah đã ước cho tôi khi bị tôi bắt thực hiện chuyến đi gian nan phát lúa mạch giống cho cư dân mới của Aton đã thành hiện thực, mà lại còn tệ hại hơn rất nhiều những gì tôi có thể tưởng tượng ra, vì tôi cũng như ông ấy không chỉ từ bỏ ngôi nhà và chiếc giường êm ái của mình, mà còn phải nếm trải những kinh hoàng của chiến tranh vì Pharaon. Rồi tôi nhận ra rằng tốt nhất người ta nên nghĩ kỹ về những ước muốn trước khi nói ra, vì những ước muốn được nói thành lời rất dễ thành hiện thực và dễ nhất nếu mình ước điều độc ác cho người khác. Ý tôi là, khi ai đó mong ước điều ác cho người khác thì điều ác này dễ thành hiện thực hơn rất nhiều so với khi ước điều tốt cho người đó.

Tôi nghĩ về những điều này và nói với Thotmes khi chúng tôi ở trên thuyền của Pharaon xuôi dọc dòng sông và uống rượu cùng nhau. Nhưng Thotmes bắt tôi im và vẽ những con chim đang bay lên giấy. Anh ấy cũng vẽ chân dung tôi mà không cường điệu chút nào, vì thế tôi phật ý và nói anh không thể là người bạn thật sự của tôi vì đã vẽ tôi theo cách đó. Nhưng anh ấy nói nghệ sĩ không được trở thành bạn của ai trong khi vẽ mà phải tuân theo mắt mình nhìn. Tôi bực quá, liền nói:

- Nếu đúng thế thì đôi mắt cậu đã bị bỏ bùa, vì cậu thấy mọi thứ xấu xa, lố bịch, thấp hèn và tôi cũng trở nên nực cười trong bức vẽ của cậu. Trong mắt cậu chỉ có Hoàng hậu Nefertiti là vẫn đẹp, dù cổ dài và gầy, má hóp và ngày một xấu đi vì những lần mang bầu.

Thotmes hất rượu từ cốc của mình vào mặt tôi và hét lên:

- Đừng nói với tôi về Nefertiti.

Nhưng ngay lập tức anh ấy làm lành, tỏ ra hối hận vì đã làm như thế khi say rồi lau rượu trên mặt tôi và nhã nhặn nói:

- Tôi không có ý xấu, nhưng có lẽ người phụ nữ đó đã thật sự bỏ bùa mắt tôi, như cậu nói, vì tôi không thể thấy ai đẹp hơn người và không ai xấu xí, kinh tởm hơn Pharaon Ekhnaton, mặc dù tôi nên yêu quý ngài vì tất cả những điều ngài làm cho tôi.

Tôi nói với anh ấy như một người bạn:

- Những giấc mơ của cậu thật tệ hại và Nefertiti không thể cho cậu nhiều hơn một nô tỳ nghèo hèn nhất có thể cho.

Nhưng sự thông thái của tôi chẳng an ủi anh ấy chút nào, mà còn khiến anh bức bối trở lại. Vì thế chúng tôi hăm hở uống nhiều hơn, bởi vì rượu, tuy gây ra những cuộc cãi vã và xung khắc, nhưng cũng làm dịu mọi hiềm khích, bất đồng và củng cố tình bạn giữa con người. Không có cuộc cãi vã tồi tệ nào mà rượu không thể xoa dịu, chỉ cần uống đủ.

Thế là chúng tôi đến Hetnetsut, một thị trấn nhỏ ven sông, nhỏ đến mức cừu và gia súc được chăn thả trên đường phố và đền được xây bằng đất sét. Quan lại của thị trấn nồng nhiệt đón chúng tôi và Thotmes đã dựng tượng Horemheb trong ngôi đền trước đây vốn là đền thờ Horus nhưng đã được dâng hiến cho Aton vì Ekhnaton. Điều này không làm người dân thị trấn bận tâm vì họ vẫn thờ Horus, thần đầu chim ưng, trong đền mặc dù ảnh tượng của thần đã bị dẹp khỏi đó. Họ rất vui khi tượng của Horemheb được dựng trong đền và tôi đồ rằng họ sẽ sớm coi anh ấy với Horus là một và tôn thờ anh ấy như Horus, dâng đồ cúng cho anh, vì Aton không có ảnh tượng và nhiều người dân trong thị trấn không biết đọc.

Chúng tôi cũng gặp bố mẹ Horemheb; được Horemheb chu cấp rất nhiều thứ, họ sống trong một ngôi nhà gỗ, mặc dù trước đây họ thuộc nhóm người nghèo nhất thị trấn. Với thói háo danh, Horemheb cũng đã tác động để Pharaon ban cho họ các chức việc như thể họ thuộc hàng quan lại, mặc dù suốt đời họ sống bằng nghề chăn gia súc và nấu pho mát. Bố anh ấy hiện là người giữ dấu triện và là người giám quản các tòa nhà ở nhiều thị trấn và làng mạc, còn mẹ anh ấy là cung nữ và là người trông coi đàn bò của Pharaon, mặc dù cả hai đều không biết đọc và viết. Tất nhiên, những danh vị này chỉ là tước vị danh dự và không liên quan gì tới cuộc sống của họ nhưng cũng nhờ đó mà Horemheb, khi viết tên mình, có thể viết bố mẹ mình thuộc hàng quan lại và không ai khác ở Ai Cập có thể đoán được rằng anh ấy không sinh ra trong một gia đình cao sang. Thói háo danh của Horemheb rõ trơ trẽn.

Nhưng bố mẹ anh ấy là những người chân chất và ngoan đạo, họ mặc những bộ quần áo đẹp, đứng trong đền thờ, ngượng ngập di di những ngón chân trần lên nền đất sét trong khi dân thị trấn quấn những vòng hoa lên tượng con trai họ. Sau buổi lễ, họ mời Thotmes và tôi về nhà, rồi sau khi thay bộ trang phục vướng víu bằng bộ quần áo màu xám sặc mùi bò, họ tiếp đãi chúng tôi, mời chúng tôi pho mát và rượu chua do họ tự chế. Họ cúi đầu thật thấp trước chúng tôi, tay thõng ngang đầu gối và xin chúng tôi kể về con trai mình. Bố Horemheb nói:

- Chúng tôi nghĩ thằng bé ngớ ngẩn khi buộc một mẩu đồng vào đầu cây gậy chăn cừu của nó rồi mài đồng thật sắc và không chịu nhún nhường, mặc dù chúng tôi không ngớt khuyên nó phải ngoan ngoãn vâng lời.

Còn mẹ Horemheb kể:

- Tôi luôn thót tim vì nó, vì từ hồi nhỏ nó thà húc đầu vào đá còn hơn phải đi vòng để tránh, và mỗi khi nó ra khỏi nhà, tôi sợ nó sẽ bị toác đầu, sứt trán hoặc què quặt hoặc bị đánh nhừ tử khi trở về nhà. Thế mà bây giờ nó trở về, được tạc tượng bằng đá trong vinh quang và danh vọng. Nhưng lòng tôi hằng đêm không yên vì nó, sợ nó ăn quá nhiều thịt vì thịt không hợp với bụng nó, và tôi sợ nó chết đuối khi bơi dưới sông vì nó học bơi mặc mọi lời đe nẹt của tôi.

Với sự chất phác của mình, họ nói chuyện với chúng tôi như thế, sờ sờ quần áo và đồ trang sức của chúng tôi, hỏi thăm sức khỏe của Pharaon, Hoàng hậu Nefertiti và cả bốn công chúa nhỏ. Họ cũng kể ngày ngày cầu nguyện thần linh, là Horus, vị thần của con trai họ, để Hoàng hậu sinh được thái tử thừa kế ngai vàng. Chúng tôi tạm biệt bố mẹ Horemheb như những người bạn và để lại tượng của anh ấy trong đền Horus cho người dân Hetnetsut phụng thờ. Thotmes cũng không đi tiếp cùng tôi đến Memphis, mặc cho tôi nài nỉ và van xin anh đi theo vì chính bản thân anh, mà quay trở lại Akhetaton để tạc tượng Hoàng hậu Nefertiti lên một phiến gỗ cứng, vì anh ấy không thể dùng lời nói để biểu đạt. Anh ấy đã bị vẻ đẹp của Nefertiti mê hoặc và tôi nghĩ điều này không tốt cho sức khỏe của anh ấy, vì vẻ đẹp đến mỹ miều của một người đàn bà rất nguy hiểm và gần như là ma thuật, nếu không phải là một loại bùa chú.

Vì vậy chuyến đi đến Memphis của tôi thật buồn tẻ. Tôi vừa giục các tay chèo vừa nghĩ nếu đằng nào cũng phải chết thì kéo dài thời gian nào có ích gì, mà tốt hơn là chết nhanh để không buồn nghĩ quá nhiều. Vì thế, ngồi trên chiếc ghế mềm trong thuyền của Pharaon với cờ hiệu của Pharaon bay phấp phới trên đầu, tôi ngắm nhìn bờ sậy, dòng sông, đàn vịt bay và tự hỏi: “Rốt cuộc, sống và nhìn ngắm những thứ này có đáng không?”. Rồi tôi nói với lòng mình: “Trời nóng như rang, ruồi bâu ngứa ngáy và niềm vui của con người mới ít ỏi làm sao so với tất cả những nỗi lo anh ta trải qua. Mắt anh ta mệt mỏi vì nhìn, tai anh ta bị chọc ngoáy bởi vô số âm thanh và lời nói phù phiếm và trái tim anh ta luôn có quá nhiều giấc mơ để có thể hạnh phúc”. Tôi trấn an lòng mình như thế trên hành trình xuôi dòng sông và ăn những món ngon do đầu bếp của Pharaon nấu, uống rượu cho đến say mèm và lòng thư thái. Ý nghĩ về cái chết do rượu bắt đầu gợi tôi nhớ đến người bạn cũ thân quen; với người ấy, cái chết không có gì đáng sợ, mà cuộc sống với tất cả những khổ đau của nó còn đáng sợ hơn cái chết; cuộc sống như bụi nóng, còn cái chết như làn nước mát.

Thế nhưng mới ở cảng Memphis, tôi đã gặp tình cảnh thật khó xử, tôi thấy ở đó những chiến thuyền mạn bị vỡ do bị đá ném trúng, mũi thuyền nứt toác và cột buồm gãy nát. Tôi thấy những cỗ chiến xa càng bị gãy, bánh bị long ra và ruồi bâu đen hút máu khô dưới thùng xe. Tôi cũng thấy những toán dân tị nạn túm tụm ngả nghiêng trên cầu cảng với vô số tay nải rách tướp, ốm yếu và thương tật, mắt sáng rực đáng sợ trên những khuôn mặt trơ xương. Họ là người Ai Cập và người Syria với quần áo Syria sặc sỡ trên người. Thấy cờ hiệu của Pharaon trên đầu tôi, họ giơ nắm tay bẩn thỉu về phía thuyền của tôi và la hét, chửi rủa tôi bằng nhiều thứ tiếng khác nhau cho đến khi lính canh lấy gậy quất họ và dẹp đường cho tôi rời bến cảng.

Vì là sứ giả của Pharaon, tôi được Horemheb kính cẩn chào đón và anh ấy cúi đầu rất thấp trước tôi, bởi trong dinh chỉ huy của anh ấy có mặt quan lại Syria và những người quyền quý Ai Cập từ các thành phố Syria chạy lánh sang đây, có cả các sứ thần và người đại diện các nước không tham gia vào cuộc chiến, chính vì họ nên anh ấy buộc phải tỏ lòng kính trọng Pharaon. Nhưng khi còn lại hai chúng tôi, Horemheb bắt đầu quất roi vàng vào chân mình và sốt ruột hỏi:

- Cơn gió độc nào thổi cậu đến chỗ tôi, mà lại là sứ giả của Pharaon nữa, cái đầu điên rồ của ông ta lại ấp ủ điều thối tha gì vậy?

Tôi nói việc của tôi là đến Syria và mua hòa bình từ Aziru bằng bất cứ giá nào. Nghe vậy Horemheb nổi khùng, chửi bới và gọi thần chim ưng của anh ấy bằng nhiều cái tên khác nhau rồi nói:

- Chẳng phải tôi đã dự đoán là ông ta sẽ làm hỏng mọi kế hoạch của tôi hay sao, những dự định mà tôi đã lao tâm khổ tứ và mất bao vàng bạc mới vạch ra được, vì cậu phải biết nhờ tôi mà chúng ta vẫn kiểm soát Gaza và Ai Cập vẫn còn một đầu mối cho các hoạt động quân sự ở Syria. Tôi lại phải vừa quà cáp vừa đe nẹt, dọa dẫm để thuyết phục đội thuyền chiến Crete bảo vệ đường biển đến Gaza, vì một liên minh Syria mạnh và tự chủ không có lợi cho Crete mà đe dọa uy lực hải quân của họ trên biển. Cậu cũng phải biết là Aziru đang rất vất vả mới điều khiển được các đồng minh của mình và nhiều thành phố Syria đang hỗn chiến với nhau sau khi đánh đuổi người Ai Cập đi. Những người đàn ông Syria mất nhà cửa, đồ đạc và vợ con đã gia nhập các đội quân ô hợp đang kiểm soát sa mạc từ Gaza đến Tanis và gây chiến chống lại quân của Aziru. Tôi đã trang bị vũ khí Ai Cập cho họ và nhiều người dũng cảm đến từ Ai Cập cũng đã tham gia cùng họ. Ý tôi là tất cả những cựu chiến binh, trộm cướp và những kẻ đào tẩu khỏi các hầm mỏ đã lấy mạng sống của mình tạo nên một lá chắn nơi hoang mạc để bảo vệ Ai Cập. Mặc dù cũng có thể hiểu rằng họ gây chiến chống lại bất cứ ai để kiếm kế sinh nhai từ mảnh đất mình đang gây chiến và hủy diệt tất cả sự sống ở đó, nhưng thà như thế sẽ tốt hơn, vì họ gây nhiều tổn thất và rắc rối cho Syria hơn là cho Ai Cập, vì thế tôi liên tục cung cấp vũ khí và lương thực cho họ. Nhưng quan trọng nhất là cuối cùng, quân Hittite đã dốc toàn lực tấn công Mitanni, quét sạch dân Mitanni ra khỏi lãnh địa và vương quốc Mitanni bị xóa sổ. Tuy nhiên, vũ khí và chiến xa của Hittite bị kẹt ở Mitanni và Babylon, vì đang hỗn loạn nên phải điều quân đến bảo vệ các cột mốc biên giới của họ, còn Hittite lúc này cũng không có đủ thời gian để hỗ trợ nhiều cho Aziru. Cũng có thể, nếu khôn ngoan Aziru sẽ quay sang dè chừng quân Hittite sau khi Mitanni thất thủ, vì không còn lá chắn nào giữa Hittite và Syria. Vì vậy, hòa bình mà Pharaon chào mời vào lúc này là món quà tốt nhất mà Aziru có thể hy vọng để củng cố quyền lực của mình và nhòm ngó xung quanh. Nhưng cậu hãy cho tôi chỉ nửa năm hoặc ít hơn cũng được, tôi sẽ mua cho Ai Cập một nền hòa bình vinh quang và sẽ buộc Aziru phải kính sợ thần linh Ai Cập bằng những mũi tên bay vèo vèo và những chiến xa lao ầm ầm.

Tôi bác lại anh ấy:

- Anh không thể gây chiến, Horemheb, vì Pharaon đã cấm việc đó và cũng không chu cấp vàng để anh tiến hành chiến tranh.

Nhưng Horemheb nói:

- Tôi thèm vào vàng của ông ta. Đúng là tôi đã nghèo kiết xác vì phải vay mượn khắp nơi để trang bị cho đội quân đến Tanis. Thành thực mà nói đây là những đội quân khốn khổ, chiến xa của họ rệu rã và ngựa của họ khập khiễng, nhưng cùng với quân ô hợp, họ có thể là mũi nhọn tấn công vào sào huyệt của Syria, thậm chí cả Jerusalem và Megiddo, khi tôi cầm quân. Sinuhe, lẽ nào cậu không hiểu là tôi đã mượn vàng của tất cả những người Ai Cập giàu có, những người ngày càng giàu hơn và bụng căng tròn như ếch trong khi dân chúng chịu thiếu thốn và kêu than vì sưu thuế nặng. Tôi đã vay vàng của họ, báo cho từng người số vàng tôi cần và họ vui vẻ cho tôi vay, vì tôi hứa sẽ trả cho họ với lãi suất một phần năm một năm. Nhưng tôi rất muốn thấy nét mặt họ nếu lúc nào đó họ dám đòi tôi lời lãi và vàng của mình, vì tôi làm những điều này để giải cứu Syria cho Ai Cập và nói cho cùng, chính những người giàu nhất sẽ được hưởng lợi từ việc đó, bởi những người giàu nhất luôn luôn hưởng lợi nhiều nhất từ chiến tranh với chiến lợi phẩm và điều tuyệt vời nhất là họ sẽ được hưởng lợi cho dù tôi có bị thất trận. Vì vậy, tôi hoàn toàn không tiếc vàng của họ.

Horemheb cười đắc chí, đập đập roi vàng vào chân rồi đặt tay lên vai tôi và nói tôi là bạn anh ấy. Nhưng rồi anh nghiêm túc trở lại và rầu rĩ nói:

- Vì chim ưng của tôi, Sinuhe, cậu không định phá hỏng hết và làm sứ giả hòa bình đến Syria đó chứ?

Tôi đành giải thích với anh ấy rằng Pharaon đã xuống chiếu và truyền trao cho tôi tất cả những bảng đất sét cần thiết cho việc hòa giải. Nhưng cũng thật hữu ích cho tôi khi biết Aziru cũng muốn hòa bình, nếu những gì Horemheb nói là đúng, vì trong trường hợp đó Aziru có lẽ sẵn sàng bán hòa bình với giá rẻ.

Nghe thế, anh ấy phát khùng, đá đổ ghế và hét lên:

- Nói thật nhé, nếu cậu làm nhục Ai Cập và mua hòa bình từ Aziru, tôi thề sẽ cho lột da sống cậu và quẳng cậu làm mồi cho cá sấu khi cậu trở lại, mặc dù cậu là bạn của tôi. Hãy nói với Aziru về Aton, làm ra vẻ ngốc nghếch và nói rằng với lòng tốt không thể hiểu nổi của mình, Pharaon muốn xá tội cho hắn ta. Chắc chắn Aziru sẽ không tin cậu, vì hắn là một kẻ xảo quyệt, nhưng hắn sẽ nghĩ đến nát óc trước khi đuổi cậu đi, mặc cả đến độ cậu mệt lử, như cách chỉ người Syria mới làm, và đe dọa tính mạng cậu, nhồi sọ cậu bằng những điều dối trá. Nhưng dù thế nào cậu cũng không nhường Gaza cho hắn và hãy nói rõ là Pharaon không thể chịu trách nhiệm về các đội quân ô hợp và việc cướp bóc của chúng. Các đội quân ô hợp sẽ không hạ vũ khí trong bất cứ tình huống nào, mà sẽ ỉa vào các bảng đất sét của Pharaon. Tôi sẽ lo việc đó. Tất nhiên cậu không cần phải nói điều này với Aziru. Cậu chỉ nói với hắn ta rằng quân ô hợp là những người hiền lành và kiên nhẫn, bị nỗi đau khổ làm cho mù quáng, nhưng khi hòa bình lập lại họ chắc chắn sẽ đổi ngọn giáo của mình lấy gậy của người chăn cừu. Nhưng đừng có nhường Gaza, nếu không tôi sẽ tự tay lột sống cậu. Tôi đã phải chịu rất nhiều nỗi đau, tôi đã phải ném quá nhiều vàng vào cát, tôi đã hy sinh những do thám tốt nhất của mình trước khi mở được những cánh cổng Gaza cho Ai Cập.

Tôi ở lại Memphis nhiều ngày để bàn thảo các điều khoản hòa bình với Horemheb và tranh cãi với anh ấy. Tôi đã gặp sứ thần của Crete, của Babylon và gặp cả những người quyền quý đã trốn khỏi Mitanni. Qua những lời họ kể, tất cả những gì đã xảy ra hiển hiện trước mắt tôi và khát vọng cháy bỏng muốn hiểu đã chế ngự tôi và lần đầu tiên tôi cảm thấy mình là một nhân tố quan trọng trong một trò chơi lớn, trong đó số phận của các thành phố và dân tộc đang bị định đoạt.

Horemheb nói đúng: hòa bình vào lúc này là món quà có giá trị với Aziru hơn với Ai Cập, nhưng theo tất cả những gì đang xảy ra trên thế giới, nền hòa bình này chỉ có thể là một cuộc đình chiến tạm thời, vì sau khi ổn định được tình hình ở Syria, Aziru sẽ quay lại đối đầu với Ai Cập. Xét cho cùng, Syria là chìa khóa của thế giới, và Ai Cập, vì an ninh của chính mình, không thể để Syria rơi vào sự kiềm tỏa của một liên minh thù địch đang rình rập và được mua bằng vàng sau khi quân Hittite triệt hạ Mitanni. Giờ đây, tương lai phụ thuộc vào việc người Hittite, sau khi ổn định quyền lực ở Mitanni, sẽ thông qua Babylon hay Syria chống lại Ai Cập. Lý trí của tôi nói rằng họ sẽ chọn nơi có sức kháng cự yếu nhất, mà Babylon vũ khí đã sẵn sàng, còn Ai Cập lại yếu và không được trang bị vũ khí. Chắc chắn không ai muốn liên minh với Hittite, nhưng nếu là đồng minh của Hittite, Aziru có sức mạnh phía sau, còn nếu là đồng minh của Ai Cập chống lại Hittite, Aziru chắc chắn sẽ phải đối mặt với diệt vong chừng nào Pharaon Ekhnaton còn trị vì Ai Cập và sau lưng ông ta chỉ có cát.

Tôi hiểu tất cả những điều này và với sự tỉnh táo lạnh lùng khi mọi nỗi kinh hoàng của chiến tranh đã lùi xa, tôi không còn nghĩ đến khói của những thành phố đang cháy và những sọ người đang dần làm trắng hếu các bãi chiến trường, cũng như không nghĩ đến những người chạy nạn đang xin bánh mì trên các ngõ phố ở Memphis, cũng không quan tâm đến các nhà quyền quý Mitanni đang rao bán vàng bạc và đồ trang sức để có thể rượu chè và búng những ngón tay thon nhỏ của họ vào lớp đất màu mỡ của Naharani mà họ gói trong những cuộn vải mang theo mình. Horemheb nói tôi sẽ gặp Aziru ở đâu đó giữa Tanis và Gaza, nơi ông ta cùng với các chiến xa đã chiến đấu chống quân ô hợp. Anh ấy cũng kể cho tôi nghe về tình hình Simyra và kể ra số căn nhà bị thiêu rụi trong cuộc vây hãm cũng như tên của những quý tộc đã bị giết trong cuộc bạo loạn, khiến tôi hết sức ngạc nhiên về lượng tin tức mà anh ấy có. Rồi anh ấy kể cho tôi nghe về những thám báo của mình, những người đã đến các thành phố của Syria và bám theo đoàn quân của Aziru trong vai kiếm sĩ, người làm trò ảo thuật, thầy bói, kẻ bán bia và thương buôn nô lệ. Nhưng anh ấy nói các do thám của Aziru cũng đã đến tận Memphis bằng những cách như vậy. Aziru cũng trả tiền cho các trinh nữ của nữ thần Astarte để đi dò la và họ rất nguy hiểm vì nhận được rất nhiều thông tin quan trọng trong khi mua vui cho các chỉ huy Ai Cập, nhưng may thay họ không hiểu mấy về những thông tin liên quan đến cuộc chiến. Cũng có những kẻ phục vụ cho cả Horemheb lẫn Aziru và Horemheb thừa nhận đây là những kẻ khôn ngoan nhất, vì sẽ không gặp nguy hiểm ở bất cứ phía nào mà còn giữ được mạng sống và kiếm được nhiều vàng.

Thế nhưng những người chạy nạn và các cai đội của Horemheb đã kể cho tôi nghe những câu chuyện rất đáng sợ về những người đàn ông Amori và quân ô hợp Ai Cập, khiến tim tôi run rẩy và đầu gối tôi mềm nhũn khi gần đến lúc phải lên đường. Horemheb bảo:

- Cậu có thể chọn đi theo đường biển hay đường bộ. Nếu đi theo đường biển, có thể thuyền của cậu sẽ được thuyền chiến của Crete bảo vệ đến tận Gaza, nhưng cũng rất có thể họ không làm thế mà sẽ tháo chạy khi thấy thuyền chiến của Sidon và Tyre trấn giữ phía ngoài biển Gaza. Trong trường hợp này, nếu cậu chiến đấu dũng cảm, thuyền của cậu sẽ bị đánh chìm và cậu sẽ chết đuối. Còn nếu không, thuyền của cậu sẽ bị cướp, cậu sẽ bị bắt làm người chèo thuyền trên các thuyền chiến của Syria và sẽ chết trong vài ngày vì roi vọt và nóng bức. Nhưng cậu là người Ai Cập và thuộc tầng lớp quyền quý, vì thế nhiều khả năng họ sẽ lột da cậu và treo lên khiên cho khô để dùng nó làm túi xách và ví đựng tiền. Tuy nhiên, tôi hoàn toàn không muốn dọa cậu, mà có thể cậu sẽ đến Gaza an toàn, như lần cuối thuyền chở vũ khí của tôi đã đến được đó, còn thuyền chở lương bị đánh chìm. Nhưng làm thế nào để cậu thoát ra từ Gaza bị bao vây để đến gặp được Aziru, tôi thực sự không thể nói.

- Có lẽ chắc chắn nhất, tôi sẽ đi theo đường bộ, - tôi ngập ngừng nói với Horemheb. Anh ấy gật đầu đồng ý và giải thích:

- Tôi sẽ cho một đội quân hộ tống cậu từ Tanis, với mấy tay giáo và chiến xa. Nếu liên lạc được với quân của Aziru, họ sẽ để cậu lại một mình ở hoang mạc và nhanh chóng rút đi. Nhưng khi biết cậu là người Ai Cập và là sứ thần, có thể quân Aziru sẽ xuyên cậu lên mũi giáo theo kiểu của người Hittite và đái lên các bảng đất sét của cậu. Cũng có thể dù được hộ tống, cậu vẫn rơi vào tay quân ô hợp và chúng sẽ trấn lột cậu sạch bong, bắt cậu quay cối xay đá cho đến khi tôi có thể chuộc cậu bằng vàng, mặc dù tôi không tin cậu sẽ trụ được lâu vì da cậu màu khói, không chịu được ánh nắng mặt trời và những ngọn roi được làm từ da hà mã. Nhưng cũng có khả năng là sau khi cướp sạch của cậu, chúng sẽ dùng giáo đâm thủng bụng cậu rồi để xác cậu lại cho quạ rỉa và đây không phải là cách tồi tệ nhất để kết thúc cuộc đời mà cậu được chết khá dễ dàng.

Nghe tất cả những điều này, tim tôi càng run hơn, chân tay tê lạnh dù đang giữa mùa hè nóng rực. Vì vậy, tôi bảo:

- Tôi rất tiếc vì bọ hung của tôi đã ở lại chỗ Kaptah để canh giữ tài sản cho tôi, vì có thể bọ hung còn giúp tôi tốt hơn Aton của Pharaon vì có thể thấy quyền lực của thần không đến được những vùng đất đầy tội lỗi này, qua những lời anh nói. Nhưng xét mọi khía cạnh, tôi sẽ gặp được Aziru hoặc chết nhanh nhất nếu tôi đi đường bộ và được chiến xa của anh hộ tống. Vì vậy tôi sẽ đi đường bộ. Nhưng hãy thề đi, Horemheb, vì tình bạn của chúng ta: nếu anh nghe tin tôi bị bắt kéo cối xay ở đâu đó, hãy mau chóng chuộc tôi về và đừng có tiếc vàng vì tôi là người giàu có hơn anh tưởng, mặc dù bây giờ tôi không muốn liệt kê hết tài sản của mình cho anh biết vì chính tôi không biết được tất cả.

Horemheb nói:

- Tôi biết rõ sự giàu có của cậu và tôi đã vay khá nhiều vàng của cậu từ Kaptah cũng như của những người Ai Cập giàu có khác, vì tôi là người ngay thẳng, không thành kiến và không muốn bỏ quên cậu khỏi công trạng này. Nhưng vì tình bạn của chúng ta, tôi hy vọng cậu không đòi tôi vàng của cậu, vì việc này có thể khuynh đảo hoặc xấu nhất là cắt đứt tình bạn. Vì vậy, đi đi, Sinuhe bạn tôi, hãy đến Tanis, lấy đội hộ tống ở đó rồi đi vào hoang mạc. Chim ưng của tôi sẽ bảo vệ cậu ở đó, việc mà tôi không thể làm nổi vì lực lượng của tôi không tới được vùng sa mạc. Nếu cậu bị bắt làm tù binh, tôi sẽ lấy vàng chuộc cậu ra, còn nếu cậu chết tôi sẽ trả thù cho cậu. Mong điều này an ủi cậu một khi có ai đó đâm giáo vào bụng cậu.

- Nếu được tin tôi chết, anh đừng phí công trả thù cho tôi, - tôi chua chát nói với anh ấy. - Anh hoàn toàn không an ủi được chiếc đầu lâu bị quạ mổ của tôi cho dù có lấy máu của những người khốn khổ tội nghiệp rưới lên nó. Hãy chỉ thay mặt tôi chào Công chúa Baketaton, vì nàng là một phụ nữ xinh đẹp và đáng mơ ước, dù nàng kiêu kỳ và bên quan tài của mẹ mình, nàng đã hỏi tôi rất nhiều về anh.

Sau khi bắn mũi tên tẩm độc này qua vai, tôi cảm thấy được an ủi phần nào và bảo ký lục ghi chép và chứng thực các ấn triện cần thiết vào di chúc, trong đó tôi xác nhận để lại tài sản của mình cho Kaptah, Merit và Horemheb. Tôi gửi bản di chúc này vào văn khố hoàng gia ở Memphis rồi dong thuyền đến Tanis và gặp những người lính biên phòng của Horemheb trong một pháo đài nằm bên hoang mạc dưới cái nắng như thiêu đốt. Họ uống bia và nguyền rủa ngày được sinh ra, săn linh dương nơi hoang mạc, rồi lại uống bia. Những túp lều đất sét của họ bẩn và khai rình mùi nước tiểu. Họ xoa dịu nỗi cô đơn của mình bằng việc vui vẻ với những người đàn bà khốn khổ nhất, những người mà thủy thủ ở cảng Hạ Ai Cập cũng không thèm ngó ngàng tới. Nói một cách ngắn gọn, họ có cuộc sống bình thường của lính nơi biên ải và háo hức chờ đợi Horemheb đến, dẫn họ vào cuộc chiến chống Syria để họ được đổi đời, có bia ngon hơn và đàn bà trẻ hơn. Vì dù phận đời nào đang đợi họ đi chăng nữa, thậm chí là cái chết, theo họ vẫn còn tốt hơn cuộc sống đơn điệu đến khủng khiếp trong những túp lều đất sét bị nắng hun nóng. Vì thế, họ khát khao ra trận và thề sẽ đi đầu các đội quân ô hợp, làm mũi nhọn tấn công đến Jerusalem và Megiddo, hất các đội quân hôi hám của Syria ra khỏi đường đi của họ như cơn lũ quét đám sậy khô cản đường. Nhưng những gì họ hứa sẽ làm cho Aziru và những người Amori cũng như các thủ lĩnh Hittite thì tôi không thể nhắc lại, vì đó là lời nói vô đạo.

Tinh thần quyết chiến vì vinh quang Ai Cập của họ hừng hực như thế và họ nguyền rủa Pharaon Ekhnaton, vì trong thời bình họ lẽ ra có cơ hội lúc đi thu thuế các đoàn lữ hành đến Ai Cập, lúc lại vui vầy với vợ những người du mục, nhưng Pharaon Ekhnaton vì thần của mình đã tạo ra một thời kỳ không chiến tranh mà cũng không yên bình. Trong nhiều năm, không có đoàn lữ hành nào đi qua Tanis đến Ai Cập và dân du mục đã chạy hết xuống Hạ Ai Cập. Còn nếu có đoàn lữ hành nào gắng đến Ai Cập từ Syria hoặc từ hoang mạc liền bị quân ô hợp cướp sạch trên đường đi trước khi lính biên ải của Pharaon kịp làm việc đó, bởi vậy lính biên ải của Pharaon rất coi thường quân ô hợp và gọi họ bằng những cái tên miệt thị.

Trong khi đội hộ tống chuẩn bị cho chuyến đi, đổ đầy các bao nước, bắt ngựa từ nơi chăn thả về và thợ rèn vặn chắc bánh những cỗ chiến xa, tôi nhìn ngó quanh mình và lúc đó tôi đã hiểu bí mật trong việc huấn luyện binh sĩ là gì và điều gì khiến binh lính dũng mãnh hơn sư tử. Người chỉ huy chiến trận tài giỏi tôi luyện lính của mình trong nhục hình khủng khiếp, bắt họ luyện tập liên miên và bằng mọi cách khiến cuộc sống của họ trở nên không thể chịu nổi, khiến họ hiểu rằng bất cứ điều gì đi nữa, chiến tranh hay ngay cả cái chết, vẫn tốt cho họ hơn là cuộc sống trong trại lính. Nhưng điều lạ nhất là khi ấy binh lính không hề căm ghét chỉ huy của họ mà còn ngưỡng mộ và hết lời ca ngợi anh ta, khoe khoang về tất cả những nhục hình mà mình phải chịu cũng như những vết gậy hằn trên lưng. Bản tính của con người thất thường và đáng kinh ngạc đến như thế, và khi nghĩ về điều đó, thành phố Akhetaton mờ đi trong tâm trí tôi như ảo mộng.

Theo lệnh của Horemheb, đội hộ tống tôi ở Tanis được trang bị mười cỗ chiến xa, mỗi chiếc do hai ngựa kéo kèm theo một con dự phòng và ngoài người điều khiển, mỗi cỗ xe có một chiến binh và một giáo thủ. Khi ra mắt tôi, viên chỉ huy đội hộ tống cúi đầu thật thấp trước mặt tôi và để thẳng tay xuống ngang đầu gối. Tôi nhìn anh ta rất kỹ, vì mạng sống của mình được đặt trong tay anh ta. Chiếc xà rông của anh ta bẩn và tả tơi như của lính tráng, nắng hoang mạc đã nướng sạm đen mặt và thân thể anh ta, chỉ có cây roi bện bạc phân biệt anh ta với quân lính.

Chính vì điều này mà tôi tin tưởng anh ta hơn là khi vai anh ta khoác tấm vải choàng đắt tiền và còn có ai đó cầm chiếc ô che nắng phía trên đầu. Nhưng khi tôi cố gắng nói với anh ta về chiếc kiệu thì anh ta quên hết sự kính trọng và phá lên cười. Và anh ta khiến tôi tin khi giải thích lá chắn duy nhất của chúng tôi là tốc độ và tôi phải đi cùng anh ta trên chiến xa, quên đi ghế kiệu và những tiện nghi khác của cuộc sống. Anh ta hứa để tôi ngồi trên các bao cỏ cho ngựa nếu tôi muốn, nhưng khuyên tôi rằng tốt hơn hết tôi nên làm quen với việc đứng trong thùng xe, đung đưa theo chuyển động của nó, bởi nếu không hoang mạc sẽ làm tôi tức thở vì xóc nảy và đập xương tôi vào sườn xe nát nhừ.

Tôi lấy hết can đảm và tự đắc nói với anh ta rằng đây không phải là lần đầu tiên tôi ngồi trên chiến xa, mà đã từng phóng chiến xa từ Simyra đến Amori trong thời gian ngắn kỷ lục khiến lính của Aziru cũng phải kinh ngạc về tốc độ của tôi, cho dù lúc đó tôi còn trẻ hơn bây giờ và địa vị của mình đòi hỏi tôi giữ cơ thể khỏi phải cố gắng quá mức. Viên chỉ huy tên Juju lịch sự lắng nghe tôi, sau đó tôi tin tưởng đặt mạng sống của mình vào thần linh Ai Cập và theo anh ta bước lên cỗ chiến xa đi đầu. Chúng tôi đi theo tuyến đường của các đoàn lữ hành vào hoang mạc, người tôi nảy tưng tưng trên các bao cỏ và tôi phải bám vào hai bên thành xe bằng cả hai tay, mũi tôi xước và tôi rên rỉ thương mình. Nhưng tiếng rên rỉ của tôi chìm trong tiếng ầm ầm của bánh xe, những người đánh xe phía sau xe tôi thích thú hét lên khi được lao vào hoang mạc, thoát khỏi địa ngục hừng hực của các túp lều đất sét.

Chúng tôi đi như thế cả ngày và tôi thừa chết thiếu sống qua đêm trên các bao cỏ, cay đắng nguyền rủa ngày mình được sinh ra. Ngày hôm sau, tôi cố gắng đứng trong thùng xe, giữ chặt dây lưng của Juju, nhưng một lúc sau, xe va phải một tảng đá, tôi bay khỏi xe theo đường vòng cung, đầu đâm xuống cát và những cây gai cứa xước mặt tôi. Tuy nhiên, điều này không còn quan trọng với tôi nữa. Đến lúc nghỉ đêm, Juju lo lắng về tình trạng của tôi và đổ nước lên đầu tôi, mặc dù anh ta dè sẻn không cho lính uống đủ nước để tiết kiệm. Anh ta nắm tay tôi, an ủi tôi rằng chuyến đi của chúng tôi đã gặp may và nếu hôm sau quân ô hợp không bất ngờ đánh úp chúng tôi, có thể vào ngày thứ tư chúng tôi sẽ gặp lính do thám của Aziru. Rồi anh ta kể cho tôi nghe những kinh nghiệm chiến trận của mình để làm tôi khuây khỏa:

- Quả thật, không có gì buồn tẻ đơn điệu hơn chiến tranh, vì chiến tranh là sự chờ đợi không dứt. Chiến tranh là sự hoài công chờ đợi kẻ thù, vì kẻ thù luôn đến muộn và không bao giờ xuất hiện ở nơi ta chờ chúng. Chiến tranh cũng là sự chờ đợi vô vọng một bữa ăn, vì trong chiến tranh, bữa ăn luôn muộn và không có gì đáng nguyền rủa bằng sự chậm chạp của đoàn tải lương. Chiến tranh là những cuộc di chuyển vô ích từ nơi này sang nơi khác rồi hành quân trở lại nơi xuất phát, tiến lên lùi lại cho đến khi lưỡi dính vào vòm miệng và bàn chân cứng đờ như thân gỗ chết khô. Nhưng chính đây mới là nghệ thuật chiến tranh và để học nó, người chỉ huy phải theo học các trường quân sự, phải biết đọc và viết. Tất cả những việc này là chiến tranh và rồi kẻ thù ập đến đúng lúc không ai chờ đợi chúng. Mà kẻ thù cũng luôn tấn công theo cách khác với cách kẻ thù tấn công trong bài học và theo một trình tự khác, và trong trận chiến người chỉ huy không biết lính của mình và lính cũng không biết đến người chỉ huy, mà mạnh ai nấy hét rồi đâm và chọc bất cứ ai mình nhìn thấy. Nếu lúc đó kẻ thù bỏ chạy, người chỉ huy sẽ được vinh danh, tài năng của anh ta được ca ngợi và Pharaon sẽ ném cho anh ta một sợi dây chuyền vàng từ ban công hoàng cung. Còn nếu bỏ chạy, chúng tôi sẽ cảm ơn vận may cho mình sống sót, sẽ tốn rất nhiều giấy mực và những người sống sót sẽ bị ăn roi, chỉ huy sẽ bị treo ngược trên tường. Tuy nhiên, nếu người chỉ huy có đủ quyền thế thì có thể dù thất bại anh ta vẫn được ném cho một sợi dây chuyền vàng từ ban công của Pharaon và sự thất trận của anh ta sẽ được loan báo là chiến thắng và được khắc vào đá để được truyền nhớ muôn đời. Chiến tranh là như vậy đấy, thưa ngài Sinuhe cao quý, vì thế đừng rên rỉ vì đau nữa, mà hãy tạ ơn vận may đã không bắt mình ra trận.

Bằng cách đó, anh ta đã làm tôi khuây khỏa và ngủ thiếp đi, nhưng vào nửa đêm, tôi tỉnh giấc bởi những tiếng hét kinh hoàng, tiếng vó ngựa cồng cộc và tiếng bánh xe ầm ầm. Đốt đuốc lên, chúng tôi phát hiện cả hai lính gác đêm nằm trên mặt đất, cổ họng bị cắt ngang và máu đang rỉ chảy. Một cỗ chiến xa với ngựa đã bị lấy trộm, các chiến xa và ngựa kéo còn lại là một đám hỗn độn quần thảo, khung xe, càng xe và bánh xe quấn chọc vào nhau. Sau khi tháo gỡ được chúng ra, chúng tôi tiếp tục hành trình mặc dù trời vẫn còn tối. Tôi không còn than phiền về những gian khổ của chuyến đi nữa vì những kẻ phục kích ban đêm này chắc chắn sẽ gọi thêm quân để bất ngờ tấn công chúng tôi và chiếm lấy ngựa, xe và nước của chúng tôi. Vì như Juju nói, ngựa cũng như các cỗ chiến xa và nước với những đội quân ô hợp đắt hơn cả vàng. Vì thế quân ô hợp cũng tấn công cả lính Ai Cập để cướp ngựa và chiến xa.

Vậy là một ngày lại đến, đầu tôi bắt đầu đau nhức dưới cái nắng thiêu đốt và cát làm mắt tôi cay xè, lưỡi tôi dính lấy vòm miệng. Cho đến khi cơn gió nóng bỏng của hoang mạc mang theo khói và mùi máu thổi vào mũi chúng tôi, ngựa bắt đầu phun phì phì và những người điều khiển chiến xa gắn lưỡi hái vào bánh xe. Sau khi vòng qua một vài ngọn đồi đỏ, chúng tôi thấy một nguồn nước và những túp lều bị đốt cháy quanh đó, những xác người bị cướp trần trụi, mắt bị quạ mổ và máu chảy nhuộm đỏ cát. Những người đàn ông cầm giáo lao đến tấn công chúng tôi và một vài mũi tên đã bắn về phía chúng tôi, nhưng quân ô hợp đánh cướp ở đây - không rõ là quân của Aziru hay của đám du mục hay đội quân tự do nào khác, tôi không bao giờ được biết - nhận thấy tốt nhất nên lánh đi sau khi so sánh số lượng và chiến xa của chúng với chúng tôi. Chúng đành hét lên phía sau chúng tôi đủ lời phỉ báng, đe dọa và lao giáo vào không trung, nhưng chúng tôi mặc chúng và tiếp tục hành trình của mình, mặc dù quân của Juju rất muốn quay lại, tập tấn công bằng chiến xa.

Đêm hôm sau, chúng tôi thấy ánh sáng của lửa trại hay nhà bị đốt cháy hừng lên ở chân trời. Juju bảo chúng tôi đang đến gần rìa hoang mạc bên đất Syria và sau khi cho ngựa ăn, chúng tôi thận trọng tiếp tục cuộc hành trình dưới ánh trăng cho đến khi tôi kiệt sức ngủ gục trên các bao cỏ trong thùng xe.

Rạng sáng hôm sau, tôi tỉnh giấc khi Juju ném tôi từ trên xe xuống cát không thương tiếc. Rồi anh ta ném các bảng đất sét với thùng hành trang của tôi xuống sau tôi và quay ngựa, để tôi lại cho thần linh Ai Cập và hét lên những lời động viên tôi. Anh ta giục ngựa phi nước đại khiến bánh xe va vào đá tóe lửa và những cỗ chiến xa khác bám theo sau.

Sau khi dụi cát bay vào mắt, tôi thấy một đoàn chiến xa cắm cờ Syria chạy theo hình quạt như dàn trận từ giữa những ngọn núi tiến về phía tôi. Tôi đứng dậy, nhớ ra vị thế của mình, bắt đầu cầm lấy cành cọ xanh bằng cả hai tay vẫy vẫy trên đầu ra hiệu hòa hoãn dù cành cọ đã khô và héo quắt lại trong suốt cuộc hành trình. Nhưng các chiến xa không thèm để ý đến tôi mà lao vút qua, chỉ để lại một mũi tên giận dữ như ong bắp cày bay vèo qua bên tai tôi rồi đâm xuống cát sau lưng tôi. Đoàn chiến xa đuổi theo các chiến xa của Juju, tôi thấy Juju và lính của anh ta vứt các bao cỏ và cả những túi nước khỏi xe để làm nhẹ xe. Nhờ vậy mà họ chạy thoát, chỉ duy nhất một chiến xa nằm lại vì ngựa vấp phải đá và một chiến xa lao vút qua, hất đổ ngựa lẫn xe, giết người điều khiển rồi lao đi mà không hề giảm tốc.

Sau cuộc rượt đuổi vô ích, các chiến xa của Aziru quay lại chỗ tôi và những gã đánh xe bước xuống. Tôi gào lên xưng tước vị của mình và giơ cho họ xem những bảng đất sét của Pharaon mà tôi cầm trên tay. Nhưng họ không để ý đến tiếng hét của tôi mà lạnh lùng đến gần, một vài người đút bàn tay vẫn còn rỉ máu vào thắt lưng. Họ trấn lột tôi, mở rương của tôi lấy vàng và lột quần áo của tôi, rồi buộc cổ tay tôi vào sau chiến xa, buộc tôi phải chạy theo sau xe của họ. Khi ấy, tôi nghĩ mình sắp nghẹt thở, cát chà xát da đầu gối của tôi, còn họ chẳng buồn để ý đến tiếng gào thét của tôi, mặc dù tôi đe dọa họ là Aziru sẽ hết sức giận dữ. Tôi phải hứng chịu tất cả những điều này vì Pharaon Ekhnaton.

Tôi chắc chắn sẽ chết nếu doanh trại của Aziru không nằm ngay sau dãy núi phía bên kia hẻm. Tôi lờ mờ nhìn thấy ở đó nhiều lều trại, những con ngựa ăn cỏ bên lều, các cỗ chiến xa và những ống xương bò chất thành tường bao xung quanh trại. Sau đó tôi không thấy gì nữa, mà chỉ tỉnh dậy khi những nô lệ đổ nước lên mặt và xoa dầu lên người tôi, vì một viên chỉ huy biết đọc đã nhìn thấy bảng đất sét của tôi nên sau đó họ đối xử với tôi một cách tôn trọng và trả lại quần áo cho tôi.

Khi tôi có thể nhúc nhắc được, họ ẩn tôi vào lều của Aziru, nơi sặc mùi ngựa, vải và hương liệu. Aziru đi về phía tôi, gầm gừ như một con sư tử, dây chuyền vàng leng keng quanh cổ và bộ râu quăn xù trong lưới bạc. Ông ta đến bên tôi và ôm tôi, nói:

- Tôi hết sức xin lỗi nếu lính của tôi đối xử tệ với anh, nhưng lẽ ra anh phải nói cho họ biết tên của mình, nói với họ anh là sứ giả của Pharaon và là bạn tôi. Anh cũng nên vẫy một cành cọ trên đầu như dấu hiệu hòa bình, nhưng đằng này người của tôi nói anh đã vung dao tấn công họ và giận dữ gào lên, khiến họ buộc phải khống chế anh để bảo vệ tính mạng.

Đầu gối tôi đau nhức như bị lửa nung, cổ tay như rời ra, vì vậy sự tức giận vò xé tâm trí tôi và tôi nói với Azuri:

- Hãy nhìn tôi và nói xem tôi có vẻ gây nguy hiểm cho tính mạng quân lính của ông không? Chúng chặt cành cọ của tôi và trấn lột của tôi mọi thứ kể cả quần áo của tôi, và còn chế nhạo tôi rồi giẫm lên các bảng đất sét của Pharaon. Vì thế, ông phải cho đánh chúng, ít nhất là một số kẻ, để chúng có thể học cách tôn trọng sứ giả của Pharaon.

Nhưng Azira giễu cợt phanh áo choàng ra rồi giơ mạnh tay lên đầy vẻ kinh ngạc và thề thốt:

- Chắc anh đã có một giấc mộng tồi tệ, Sinuhe, tôi không thể làm gì nếu đầu gối anh bị thương vì đạp phải đá trong hành trình khó khăn của mình. Tôi sẽ không cho đánh những người tốt nhất của mình vì yêu cầu của một gã Ai Cập khốn khổ và lời nói của sứ thần Pharaon như ruồi vo ve trong tai tôi.

- Aziru, - tôi nói, - ông là vua của các vị vua, ít nhất hãy sai đánh kẻ vô liêm sỉ đã đâm nhiều nhát vào lưng tôi khi tôi chạy sau cỗ xe. Hãy sai đánh hắn, để tôi hài lòng, vì tôi mang đến một món quà, đó là hòa bình cho ông và cho Syria.

Aziru vừa cười to vừa đấm vào ngực mình và nói:

- Sao tôi phải mủi lòng nếu Pharaon tội nghiệp của anh hạ mình xuống cát bụi trước mặt tôi và cầu xin tôi hòa bình! Tuy nhiên, điều anh nói có lý và vì anh là bạn của tôi, của vợ tôi và của con trai tôi, tôi sẽ cho đánh kẻ đã đâm sau lưng anh để thúc anh chạy, vì điều này trái với lối cư xử thượng võ và như anh biết, tôi ra trận với vũ khí tinh nguyên và vì những mục đích cao cả.

Tôi rất hài lòng khi chứng kiến kẻ đã hành hạ mình dã man nhất bị đánh trước đám quân đang tập trung gần lều của Aziru. Các đồng đội của hắn không hề thương hại mà chế nhạo hắn rồi cười rú lên và giơ ngón tay chỉ vào hắn khi hắn khóc, vì họ là lính và luôn muốn thấy bất kỳ điều gì khác lạ với đời binh nghiệp tẻ nhạt của mình. Không nghi ngờ gì rằng Aziru sẽ để hắn bị đánh đến chết, nhưng khi nhìn thấy thịt hắn xước ra khỏi xương sườn và máu rỉ ra, tôi nghĩ lưng hắn đã nhức nhối như mông và đầu gối của tôi, nên tôi giơ tay và tặng cho hắn ta mạng sống của hắn. Thấy sự đau đớn của hắn, tôi bảo đưa hắn đến căn lều mà Aziru dành cho tôi trước sự phẫn nộ của đám sĩ quan đang có mặt tại đó, còn các đồng đội của hắn la hét ca ngợi tôi, vì cứ nghĩ ngoài đánh bằng roi, tôi sẽ trừng trị hắn bằng nhiều cách tinh quái khác. Nhưng tôi đã xức vào lưng hắn thứ thuốc mỡ mà tôi đã xoa vào đầu gối và mông của mình, rồi tôi băng bó vết thương cho hắn và cho hắn uống bia, khiến hắn cuối cùng cho rằng tôi bị điên và không còn kính trọng tôi nữa.

Buổi tối, Aziru mời tôi thịt cừu rán và bánh gạo mạch nấu trong mỡ ở lều của ông ta. Tôi ăn với ông ta cùng các phò tá của ông ta và các chỉ huy Hittite; áo choàng và khiên của họ được trang trí hình những chiếc rìu đôi và mặt trời có cánh. Chúng tôi cùng nhau uống rượu và tất cả đều cư xử với tôi thân mật, chí tình và coi tôi như kẻ khờ vì đã đến mang lại hòa bình cho họ đúng lúc họ cần hòa bình nhất. Họ nói những lời có cánh về tự do và sự hùng mạnh của Syria trong tương lai và cái ách của kẻ áp bức mà họ đã tháo khỏi cổ mình. Nhưng khi đã uống rượu đủ say, họ bắt đầu cãi vã lẫn nhau, cuối cùng một người đến từ Joppa đã rút dao đâm vào cổ một người đến từ Amori khiến máu chảy ròng ròng. Nhưng vết thương không lớn, vì dao không cắt đứt động mạch, và tôi đã có thể chữa lành cho anh ta bằng cách của mình nên anh ta tặng tôi nhiều món quà. Vì việc này, tôi cũng bị cho là ngốc nghếch.

Thà tôi cứ để anh ta chết, vì trong khi tôi ở đây, chính người Amori này đã sai người hầu giết người Joppa đã đâm anh ta và Aziru ra lệnh treo ngược anh ta lên tường để giữ nghiêm quân luật trước khi cổ anh ta kịp lành lại hoàn toàn. Aziru đối xử với người của mình tàn nhẫn và nghiêm khắc hơn so với những người Syria khác, vì chính họ ghen tị nhiều nhất với quyền lực của ông ta và lập mưu chống lại ông ta, khiến ông ta nắm quyền mà như ngồi trên tổ kiến.

❖ 2 ❖

Ăn tối xong, Aziru đuổi các phò tá của mình và các chỉ huy Hittite ra khỏi lều mình để họ tiếp tục các cuộc cãi vã trong lều của họ. Ông ta chỉ cho tôi đứa con trai theo ông ta ra trận dù mới bảy tuổi. Cậu bé đã lớn, kháu khỉnh với đôi má như hai quả đào đầy lông tơ, đôi mắt đen láy, long lanh. Tóc cậu xoăn và đen như râu của bố, còn làn da trắng bóc của cậu được thừa hưởng từ mẹ. Aziru vuốt tóc con và nói với tôi:

- Anh đã bao giờ thấy đứa bé nào đẹp hơn chưa? Tôi đã sưu tập cho thằng bé nhiều vương miện. Nó sẽ trở thành một quốc vương vĩ đại và tôi thậm chí không dám nghĩ quyền uy của thằng bé sẽ được mở rộng đến mức nào, vì nó đã dùng thanh kiếm nhỏ của mình đâm thủng bụng một đứa nô lệ dám xúc phạm nó. Nó biết đọc, biết viết và không sợ chiến tranh, vì tôi đã cho nó theo mình ra trận, cho dù khi ấy chúng tôi chỉ trừng phạt những làng nổi loạn nên không cần lo cho mạng sống bé bỏng của nó.

Keftiu cai quản Amori khi Aziru ra trận. Aziru rất nhớ cô ta và nói rằng ông ta đã gắng lấp đầy nỗi khát khao dục vọng của mình với những nữ tù nhân và các trinh nữ của đền đi theo đội quân nhưng vô ích vì ai đã từng một lần được nếm trải tình yêu của Keftiu sẽ không bao giờ quên được cô ta; nét thanh xuân, vẻ tươi tắn của cô ta theo năm tháng càng rực rỡ và lộng lẫy nên chắc chắn tôi sẽ không còn tin vào mắt mình nếu nhìn thấy cô ta. Nhưng Aziru vẫn đưa con trai đi theo vì không dám để thằng bé ở lại Amori bởi sẽ đến lúc nó mang vương miện thống nhất của Syria.

Chúng tôi đang nói chuyện thì những tiếng la chói tai, hoảng loạn của đàn bà vọng lại từ trại khiến Aziru vô cùng tức giận và nói:

- Đám chỉ huy Hittite lại chọc ghẹo tù nhân rồi, mặc dù tôi đã cấm họ, nhưng tôi không thể làm gì họ vì tôi cần tài chinh chiến của họ. Họ tìm thấy niềm vui khi hành hạ, làm cho đàn bà van khóc gào thét, khiến tôi không thể hiểu nổi, vì chẳng phải ta sẽ vui sướng khi làm cho phụ nữ rên rỉ vì ham muốn hơn là vì đau ư? Nhưng mỗi tộc người đều có những cách thức riêng và tất nhiên tôi không thể mắng mỏ họ chỉ vì cách của họ khác với cách ở Syria. Nhưng dù sao, tôi cũng không muốn họ dạy cho quân lính của tôi những thói hư tật xấu của mình, vì quả thật chiến tranh đã khiến binh lính của tôi trở nên dã man như sói và sư tử.

Điều ông ta nói làm tôi kinh hãi, mặc dù tôi biết người Hittite, biết những gì họ có thể làm. Bởi vậy tôi nói luôn:

- Aziru, vua của các vị vua, dẹp ngay người Hittite đi trước khi chúng đập nát vương miện trên đầu ông và cả đầu ông, bởi không thể tin người Hittite được. Thay vào đó, hãy hòa hoãn với Pharaon ngay bây giờ khi người Hittite đang lâm chiến ở Mitanni. Cả Babylon cũng đang trang bị vũ khí để chống lại người Hittite, chắc chắn ông biết việc ấy, nên ông sẽ không được nhận ngũ cốc từ Babylon nữa nếu vẫn liên minh với Hittite. Vậy nên khi mùa đông đến, nạn đói như một con sói gầy sẽ lẻn vào Syria, trừ khi ông hòa hoãn với Pharaon để ngài gửi lương thực đến các thành phố của ông như trước.

Nhưng Aziru phản đối:

- Anh khờ quá, Sinuhe, vì người Hittite tốt với bạn song tàn ác với kẻ thù. Nhưng có sự ràng buộc nào bắt tôi phải liên minh với Hittite đâu, mặc dù họ gửi cho tôi những món quà đẹp và những chiếc khiên chạm khắc vương miện, tường thành tinh xảo, vì vậy tôi có thể cân nhắc hòa hoãn mà không cần đến người Hittite. Họ cũng đã chống lại thỏa thuận chiếm đóng Kadesh và sử dụng cảng Byblos như cảng riêng của mình. Mặt khác, Hittite đã gửi cho tôi một thuyền chất đầy vũ khí được rèn bằng kim loại mới và nhờ đó binh lính của tôi bất khả chiến bại trên chiến trường. Dù sao đi nữa, tôi yêu hòa bình hơn chiến tranh và tôi ra trận chỉ để đạt được hòa bình trong danh dự. Vì vậy, tôi sẽ sẵn lòng đình chiến nếu Pharaon trả lại thành Gaza đã bị lấn chiếm cho tôi và tước vũ khí của các toán cướp nơi sa mạc, đền bù bằng ngũ cốc, dầu và vàng cho tất cả những thiệt hại mà các thành phố Syria phải gánh chịu do hậu quả của cuộc chiến này, vì chính Ai Cập đã gây ra cuộc chiến này, như anh biết quá rõ.

Ông ta trơ trẽn nhìn tôi và che miệng mỉm cười ranh mãnh, nhưng tôi nóng nảy đáp:

- Aziru, kẻ trộm gia súc, kẻ lừa đảo và đao phủ giết người vô tội kia! Lẽ nào ông không biết trong mọi lò rèn trên khắp miền Hạ, giáo mác đang được rèn và số chiến xa của Horemheb đã vượt hơn số rệp trong lều trại của ông. Những con rệp này sẽ cắn ông đau nhói khi mùa thu hoạch đến. Horemheb mà ông từng nghe danh đã nhổ nước bọt vào chân tôi khi tôi nói với anh ta về hòa bình, nhưng vì thần linh của ngài nên Pharaon muốn hòa bình và không muốn đổ máu. Vì thế tôi cho ông một cơ hội cuối cùng, Aziru ạ, Gaza vẫn thuộc về Ai Cập và chính ông phải giải tán quân ô hợp nơi sa mạc, vì Ai Cập không phải chịu trách nhiệm về tội ác của lũ chúng. Chính sự tàn ác của ông đã buộc những người đàn ông Syria này chạy đến sa mạc để chống lại ông và đây là việc nội bộ của Syria. Ông cũng phải thả tất cả tù nhân Ai Cập và bồi thường thiệt hại mà thương nhân Ai Cập ở các thành phố của Syria phải gánh chịu, đồng thời trả lại tài sản của họ.

Aziru xé quần áo, rứt râu và tức giận gào lên:

- Chó dại đã cắn anh hay sao, Sinuhe, mà anh nói những lời rồ dại đến thế? Hãy trả lại Gaza cho Syria, các thương nhân Ai Cập hãy tự bồi thường thiệt hại và tù nhân vẫn bị bán làm nô lệ như thông lệ, nhưng tất nhiên không ai ngăn cản Pharaon chuộc lại họ nếu ông ta có đủ vàng cho việc này.

Tôi nói với ông ta:

- Nếu ông có hòa bình, ông có thể xây tường thành cao và các tháp canh hùng vĩ cho các thành phố của mình để không còn phải sợ người Hittite. Ai Cập ủng hộ ông. Chắc chắn các thương gia trong thành phố của ông sẽ giàu lên nhờ buôn bán với Ai Cập mà không phải trả thuế cho Ai Cập và người Hittite sẽ không thể làm gián đoạn việc buôn bán của ông vì họ không có thuyền chiến. Tất cả lợi ích đều nằm về phía ông, Aziru, nếu ông hòa giải, vì các điều kiện của Pharaon là hợp lý và tôi không thể nhân nhượng hơn.

Chúng tôi đã tranh cãi và điều đình, thương lượng hòa bình như thế từ ngày này qua ngày khác, và rất nhiều lần Aziru vừa xé quần áo và rắc tro lên tóc vừa nói tôi là một kẻ cướp vô liêm sỉ và khóc lóc cho số phận của con trai mình, rằng chắc chắn nó sẽ bị Ai Cập vắt kiệt và chết gục dưới rãnh như kẻ ăn xin. Đã một lần tôi bước ra khỏi lều của ông ta, gọi quân hộ tống cho kiệu đưa tôi đến Gaza và tôi đã kịp lên kiệu trước khi Aziru gọi tôi lại. Nhưng tôi nghĩ là người Syria, ông ta rất thích việc thương thuyết, mặc cả ngày này sang ngày khác như thế này, và cứ nghĩ đã lừa dối được tôi và giành lợi thế cho mình mỗi khi tôi nhượng bộ. Ông ta không thể ngờ rằng Pharaon đã lệnh cho tôi phải mua hòa bình bằng bất cứ giá nào, cho dù Ai Cập nghèo đi vì nó.

Vì vậy tôi rất tự tin, thông qua thương thảo giành được nhiều lợi ích to lớn cho Pharaon. Và thời gian có lợi cho tôi, vì sự chia rẽ ngày càng lớn trong doanh trại của Aziru và ngày ngày đều có những người rời nơi đó đến thành phố của họ mà ông ta không thể ngăn cản, vì quyền lực của ông ta chưa đủ mạnh. Cứ như thế, chúng tôi đã tiến rất xa cho đến khi ông ta đưa ra điều kiện cuối cùng để đi đến giải pháp như sau: tường thành Gaza phải bị phá bỏ và ông ta sẽ lập tiểu vương Gaza, nhưng bên cạnh tiểu vương sẽ có một công sứ do Pharaon chỉ định và cả thuyền của Syria lẫn Ai Cập đều có thể đến Gaza và buôn bán ở đó mà không phải trả thuế. Tuy nhiên, tôi không thể đồng ý, vì khi không còn tường thành, Gaza trở nên vô dụng với Ai Cập và hoàn toàn nằm trong quyền kiểm soát của ông ta.

Khi tôi cương quyết nói là tôi không thể chấp nhận và yêu cầu một đội hộ tống đưa tôi đến Gaza, ông ta điên lên, đuổi tôi ra khỏi lều mình và ném theo sau lưng tôi tất cả các bảng đất sét của tôi. Nhưng ông ta cũng không cho phép tôi đi và tôi đã dành thời gian ở trại để chữa bệnh cho người ốm và chuộc các tù nhân Ai Cập đã phải làm phu khuân vác, kéo xe hàng và sống rất cực khổ ở đó. Tôi mua tự do cho một số thiếu phụ, nhưng cũng cho một số người thuốc để chết, vì với họ chết còn hơn sống khi bị người Hittite quấy rối. Thời gian cứ thế trôi đi và thời gian qua đi có lợi cho tôi vì tôi không mất gì, trong khi đó Aziru ngày càng mất nhiều hơn, đến mức trong sự nôn nóng của mình, ông ta đã xé tấm lưới bạc bọc râu và nhổ rất nhiều tóc đen trên đầu vì sự cương quyết của tôi và gọi tôi bằng những cái tên bất nhã.

Tôi phải nói thêm rằng Aziru cho người canh tôi nghiêm ngặt đến từng bước đi, theo dõi, rình mò và lượng sức tôi với sức ông ta, sợ rằng tôi sẽ cấu kết với giới quyền quý và các chỉ huy dưới quyền ông ta để hạ bệ ông. Đây có lẽ là một việc dễ dàng, nhưng tôi thậm chí còn không nghĩ đến vì tôi có trái tim của một con cừu và ông ta từng là bạn của tôi. Vậy mà vào một đêm nọ, hai sát thủ đã xông vào lều của Aziru và dùng dao đâm ông ta bị thương, nhưng ông ta sống sót và giết một người, con trai ông ta tỉnh dậy lúc đó và đâm vào lưng người còn lại bằng thanh kiếm nhỏ của mình khiến người kia cũng chết.

Ngày hôm sau, Aziru cho gọi tôi đến lều của ông ta, buộc tội tôi bằng những lời lẽ cay nghiệt rồi dọa dẫm tôi nhưng sau đó đồng ý hòa giải và nhân danh Pharaon, tôi đã ký kết hòa bình với ông ta và tất cả các thành phố của Syria. Gaza vẫn thuộc về Ai Cập, giải giáp quân ô hợp là việc của Aziru và Pharaon được đặc quyền chuộc tù binh và nô lệ Ai Cập. Với những điều khoản như thế, chúng tôi sai viết một thỏa ước hữu nghị vĩnh cửu giữa Ai Cập và Syria vào bảng đất sét và xác nhận nó nhân danh hàng ngàn vị thần của Ai Cập và hàng ngàn vị thần của Syria, thêm cả tên Aton. Aziru vừa chửi bới thậm tệ vừa gọi tất cả các thần đến giúp khi lăn dấu triện của mình trên đất sét, và cả tôi cũng xé quần áo của mình và khóc rên thảm thiết khi ấn dấu triện Ai Cập vào đất sét, nhưng cuối cùng cả hai chúng tôi đều thỏa nguyện. Aziru đã tặng tôi rất nhiều quà và tôi cũng hứa sẽ gửi cho ông ta và vợ con ông ta nhiều quà theo những thuyền đầu tiên dong buồm từ Ai Cập đến các thành phố của Syria trong thời bình.

Thế là chúng tôi chia tay trong hữu hảo, Aziru thậm chí còn ôm tôi và nói tôi là bạn ông ta. Trước khi đi, tôi ôm cậu con trai xinh đẹp của ông ta vào lòng, khen ngợi sự dũng cảm của cậu bé và hôn vào đôi má ửng hồng của cậu. Nhưng cả Aziru và tôi trong thâm tâm đều biết rằng hòa ước mà chúng tôi đã thỏa thuận cho muôn đời thậm chí không đáng giá bằng bảng đất sét mà nó được viết lên, nhưng ông ta đã hòa giải vì buộc phải hòa giải và Ai Cập hòa giải vì Pharaon Ekhnaton muốn như vậy. Hòa bình đung đưa trong không khí và sẽ bị gió cuốn đi vì tất cả phụ thuộc vào việc người Hittite xoay về hướng nào từ Mitanni, đồng thời cũng phụ thuộc vào sự can đảm của Babylon và các thuyền chiến của Crete, lực lượng bảo vệ giao thương trên biển.

Aziru bắt đầu rút quân và cử một đội hộ tống tôi đến Gaza, đồng thời lệnh cho đạo quân của mình ở phía trước Gaza chấm dứt cuộc vây hãm thành. Tuy nhiên, tôi suýt chết trước khi đến được Gaza, quả thật nỗi gian nguy và hiểm họa mà tôi trải qua trong chuyến đi đáng sợ này lớn hơn bao giờ hết. Bởi vì khi toán lính hộ tống tôi vẫy cành cọ, tiến về phía cổng thành Gaza và hét lên hòa bình đang đến, lính Ai Cập bảo vệ thành để chúng tôi đến thật gần rồi bắt đầu bắn tên và ném giáo vào chúng tôi, máy ném đá của họ ném những hòn đá lớn ầm ầm vào chúng tôi, khiến tôi thật sự nghĩ rằng thời khắc cuối cùng của mình đã đến. Một người lính của Aziru, không mang vũ khí mà chỉ cầm chiếc khiên che mặt tôi, bị trúng tên vào cổ, gục xuống đất người đầy máu, còn đồng đội của anh ta bỏ chạy. Nỗi sợ hãi làm tôi bủn rủn, tôi thu mình như rùa dưới tấm khiên, khóc lóc và gào thét rất đáng thương. Khi không bắn được tên vào tôi vì có tấm khiên che chắn, lính Ai Cập từ trên tường thành đổ hắc ín đun sôi từ những cái thùng to tướng xuống và hắc ín bắt đầu sủi bọt, chảy trào về phía tôi. May mắn thay, được mấy tảng đá che chắn nên tôi chỉ bị bỏng ở tay và đầu gối.

Nhìn cảnh tượng đó, quân lính Aziru cười rũ rượi đến mức ngã khuỵu xuống và lăn lộn trên đất nhiều vòng. Có lẽ cảnh tượng đó cũng buồn cười thật, nhưng tôi không cười nổi. Cuối cùng, có lẽ tiếng khóc gào thảm thiết của tôi đã động lòng những người lính Ai Cập nên họ cho tôi vào thành. Nhưng họ không mở cổng thành mà thả từ trên tường thành xuống một cái giỏ với một sợi dây bện bằng sậy để tôi phải trèo vào đó với những bảng đất sét và cành cọ của mình, rồi họ kéo tôi ngồi trong giỏ lên tường thành. Tôi sợ run lên khiến cái giỏ rung rinh và lắc lư vì tường rất cao, theo tôi là quá cao, và lính Aziru phía dưới cười nhạo tôi còn dữ hơn.

Tôi giận dữ trách viên trấn thủ Gaza về những việc đó, nhưng anh ta là một người dữ dằn và ngoan cố, giải thích rằng anh ta đã gặp quá nhiều sự xảo trá và lừa dối của người Syria nên không mở cổng thành cho đến khi nhận được lệnh từ chính Horemheb. Anh ta cũng không tin rằng hòa bình đã đến, dù tôi đã cho anh ta xem tất cả những bảng đất sét của mình và nói chuyện với anh ta nhân danh Pharaon, vì anh ta là một người máy móc, cứng đầu và có lẽ nếu không có sự máy móc và cứng đầu đó của anh ta thì Ai Cập đã mất Gaza từ lâu, nên tôi không có lý do gì để khiển trách anh ta thêm. Sau khi thấy da của tù nhân Syria khô cong trên tường, tôi nghĩ tốt nhất mình nên im lặng, không chọc giận anh ta, nên thôi không trách cứ anh ta nữa mặc dù phẩm giá của tôi đã bị tổn hại rất nhiều khi tôi phải ngồi vào giỏ để lính kéo lên tường thành bằng dây sậy.

Từ Gaza, tôi lên thuyền trở về Ai Cập bằng đường biển và để đề phòng thuyền chiến của quân thù, tôi cho treo cờ hiệu của Pharaon và tất cả các cờ hiệu hòa bình trên cột buồm, nên các thủy thủ rất coi thường tôi và nói rằng thuyền được tô vẽ và trang trí như một gái điếm khi rập rờn trên sóng. Nhưng khi chúng tôi vào được sông, dân chúng tụ tập trên bờ, vẫy cành cọ và cất lời ca ngợi hòa bình. Họ cũng ca ngợi tôi vì tôi là sứ giả của Pharaon, người mang hòa bình đến, khiến cuối cùng các thủy thủ bắt đầu tôn trọng tôi và quên tôi đã được kéo lên tường thành Gaza trong một cái giỏ sậy. Khi đến Memphis, tôi đã gửi cho họ nhiều vò rượu và bia để đảm bảo họ sẽ quên đi sự cố tồi tệ, tổn hại tới uy tín của tôi.

Horemheb đọc những bảng đất sét và hết lời khen khả năng đàm phán của tôi, khiến tôi vô cùng kinh ngạc trước cách xử sự của anh ấy, vì anh ấy không có thói quen khen ngợi việc làm của tôi mà thường thất vọng về tôi. Tôi chỉ hiểu ra khi được biết các thuyền chiến Crete đã được lệnh dong buồm quay lại Crete. Vì vậy nếu chiến tranh tiếp tục, không chóng thì chầy Gaza sẽ rơi vào tay Aziru, bởi nếu không có đường biển, Gaza sẽ thất thủ và binh lính của Horemheb khó có thể đến đó bằng đường bộ vì vào mùa thu, quân của anh ấy sẽ chết khát trên sa mạc. Do vậy, Horemheb hết lời khen tôi và vội vã phái nhiều thuyền chở binh lính, lương thực và vũ khí đến Gaza.

Trong thời gian tôi ở chỗ Aziru, sứ thần của vua Burraburiash cùng với đoàn tùy tùng đã từ Babylon đến Memphis bằng đường biển, mang theo những món quà đắt tiền. Tôi đưa ông ta đến thuyền của Pharaon đang đợi tôi ở Memphis rồi chúng tôi cùng nhau dong buồm ngược sông. Cả hai chúng tôi rất hài lòng với chuyến đi của mình, vì đó là một ông già đáng kính với bộ râu trắng mượt, dài tới ngực và có vốn kiến thức uyên thâm. Chúng tôi đã nói về các ngôi sao lẫn gan cừu, và câu chuyện giữa chúng tôi không bao giờ cạn chủ đề, bởi người ta có thể nói về các ngôi sao và gan cừu suốt cuộc đời mình mà không hết chuyện để nói.

Nhưng chúng tôi cũng nói về chuyện đại sự của các vương quốc và tôi nhận thấy ông ta rất lo sợ về thế lực ngày càng tăng của người Hittite. Tuy nhiên, ông ta nói các giáo sĩ Marduk tiên đoán rằng quyền uy của người Hittite cũng có giới hạn và họ sẽ cai trị không quá một trăm năm, sau đó một dân tộc dã man người da trắng sẽ từ phía tây đến, tràn qua Hittite, khiến vương quốc của họ biến mất như chưa từng tồn tại. Tuy nhiên, ý nghĩ rằng quyền uy của người Hittite chỉ mất đi sau một trăm năm nữa không an ủi tôi vì tôi sinh ra để sống trong thời đại của họ. Tương tự như vậy, tôi tự hỏi sao có thể có một dân tộc xuất hiện từ phía tây, vì ở phía đó chỉ có những hòn đảo trên biển. Nhưng tôi phải tin điều đó vì các vì sao đã tiên đoán như vậy, mà tôi cũng đã tận mắt chứng kiến và trải nghiệm rất nhiều điều lạ kỳ ở Babylon đến nỗi tôi tin vào các vì sao hơn cả kiến thức của mình.

Ông ta mang theo rượu ngon nhất của vùng núi và chúng tôi cùng nhau vui với rượu; ông ta đảm bảo với tôi rằng ngày càng có nhiều dấu hiệu và điềm báo trong Tháp Marduk cho thấy rất thuyết phục rằng năm thế giới kết thúc sắp đến. Vì thế ông ta và tôi biết mình đang sống trong hoàng hôn của thế giới và trước chúng tôi là đêm đen. Nhiều biến động sẽ xảy ra, nhiều dân tộc sẽ bị xóa khỏi mặt đất, giống như dân tộc Mitanni đã hoàn toàn biến mất. Các thần cũ xưa sẽ chết, trước khi các thần mới được sinh ra và năm thế giới mới bắt đầu. Ông ta rất tò mò hỏi tôi về Aton và lắc lắc đầu, tay chải bộ râu trắng khi tôi kể về Aton. Vì Aton không có ảnh tượng và tất cả mọi người đều bình đẳng trước thần và thần không đẫy đà lên từ đồ hiến tế, mà từ tình yêu thương lẫn nhau của con người, bởi vì tất cả mọi người, không phân biệt màu da và ngôn ngữ, là anh em của nhau trước Aton; trước thần không có sự khác biệt giữa nghèo và giàu, quý tộc và nô lệ.

Sứ thần của Babylon thừa nhận rằng trước đây chưa từng có vị thần nào như thế xuất hiện trên trái đất, vì vậy chính sự xuất hiện của Aton có thể là dấu hiệu khởi đầu của kết thúc, bởi từ trước đến nay ông ta chưa bao giờ nghe nói về một tín điều nguy hiểm và đáng sợ như vậy. Ông nói tín điều của Aton đã làm mái nhà thành sàn nhà và các cánh cửa mở ra bên ngoài, nên khi nghĩ đến tín điều đó, con người ta đứng bằng đầu và đi giật lùi. Kiến thức và sự thông thái của ông ta buộc tôi phải nín lặng, vì ông ta đến từ Babylon, cái nôi của mọi sự thông thái cả dưới mặt đất lẫn trên bầu trời, nên tôi vô cùng kính trọng ông và không muốn ông khinh thường sự xuẩn ngốc của mình. Vì vậy tôi không nói với ông ta suy nghĩ của mình, rằng có lẽ sự xuất hiện của Aton và đức tin của Pharaon Ekhnaton là một cơ hội không bao giờ trở lại cho tất cả các dân tộc. Bản thân tôi cũng nhận thấy suy nghĩ của mình thật ngu xuẩn, khi tôi trở về từ cuộc chiến với bàn tay và đầu gối bị hắc ín đun sôi làm phồng rộp và sau khi thấy những thi thể bị tùng xẻo. Khi chứng kiến tất cả những điều này, lý trí nói với tôi rằng con người ta hoàn toàn không phải là anh em của nhau mà là bầy sư tử cắn xé lẫn nhau.

Chúng tôi đến Akhetaton sau một chuyến đi vui vẻ như thế và khi trở về, tôi nghĩ mình đã khôn ngoan hơn lúc rời đi.

❖ 3 ❖

Trong thời gian tôi đi xa, chứng đau đầu của Pharaon lại tái phát và nỗi bồn chồn gặm nhắm trái tim ngài, vì ngài cảm thấy tay mình động vào đâu là việc đó thất bại. Cơ thể ngài nóng rực và hừng lên trong ngọn lửa của những ảo giác, khiến ngài héo hon, xanh xao vì lo lắng. Để trấn an ngài, quốc trượng Eje quyết định tổ chức lễ kỷ niệm tam thập chu niên vào mùa thu, sau mùa thu hoạch, khi nước sông bắt đầu dâng cao. Dù còn lâu mới được ba mươi năm Pharaon Ekhnaton trị vì Ai Cập song điều đó cũng không sao, vì từ xửa xưa đã có tập quán là một pharaon có thể tổ chức lễ kỷ niệm ba mươi năm trị vì của mình bất cứ khi nào ngài muốn. Vậy nên phụ vương của ngài đã tổ chức lễ kỷ niệm tam thập chu niên nhiều lần, và vì thế lễ kỷ niệm này không xúc phạm sự thật của Pharaon Ekhnaton.

Tất cả những điềm báo đều thuận lợi cho ngày lễ này, vì mùa màng cũng tàm tạm, cho dù hạt mạch vẫn đầy những vệt đốm, nhưng người nghèo đã có đủ ăn. Tôi trở về mang theo hòa bình và tất cả các thương nhân ai nấy đều mừng vui khi việc buôn bán được mở lại ở Syria. Nhưng điều quan trọng nhất cho tương lai là sứ thần của Babylon đã tháp tùng một trong vô số những chị em cùng cha của vua Burraburiash đến làm phi cho Pharaon Ekhnaton, đồng thời xin hỏi công chúa của Pharaon về làm vương phi cho vua của mình. Điều này có nghĩa là Babylon tìm kiếm một hòa ước lâu dài với Ai Cập vì rất sợ người Hittite.

Đối với nhiều người, chỉ riêng ý nghĩ gửi công chúa con Pharaon tới hậu cung của vua Babylon đã là một sự sỉ nhục đối với Ai Cập, vì dòng máu linh thiêng của Pharaon không được hòa lẫn với máu của bộ tộc lạ. Nhưng Pharaon Ekhnaton không thấy có gì xúc phạm trong việc này. Ngài chỉ lo cho các hoàng nhi của mình, tim ngài run lên khi nghĩ công chúa bé bỏng phải cô đơn giữa vô số phi tần nơi xứ lạ và ngài nhớ đến những công chúa Mitanni đã chết trong hậu cung ở Thebes. Nhưng tình hữu hảo với Burraburiash hết sức quý giá với ngài, nên ngài ưng thuận để con gái út của mình sang làm phi của vua Burraburiash. Tuy nhiên, Công chúa chỉ mới vài tuổi, nên Pharaon hứa sẽ làm lễ cho Công chúa về với vua Babylon trong sự hiện diện của sứ thần nước này và sẽ chỉ gửi con gái mình tới Babylon khi Công chúa đến tuổi trưởng thành. Sứ thần Babylon rất vui với giải pháp này và chắc ông ta cũng sẽ hài lòng khi có được bất kỳ thiếu nữ quý tộc nào của Ai Cập dưới danh công chúa.

Nhờ những tin tốt lành này, Pharaon quên đi cơn đau đầu và dự lễ kỷ niệm tam thập chu niên của mình tại Akhetaton. Buổi lễ được Eje tổ chức thật xa xỉ bằng hết khả năng. Các sứ thần từ xứ Kush dắt theo những con lừa vằn vện và hươu cao cổ lốm đốm hoặc ôm trong lòng những chú khỉ đuôi dài nhỏ xinh và giơ cao những con vẹt sặc sỡ trên tay đến ra mắt Pharaon. Các nô lệ của họ mang đến ngà voi, cát vàng, lông đà điểu, hộp gỗ mun… làm quà tặng cho Pharaon, không thiếu những thứ mà xứ Kush luôn luôn đóng tô thuế cho Ai Cập. Ít người biết rằng Eje đã lấy quà từ trong kho của Pharaon và những chiếc giỏ mây đan được dùng để chứa cát vàng trở nên rỗng không. Ít nhất Pharaon không hề biết, vì ngài rất vui khi nhìn thấy lượng quà phong phú này và khen ngợi lòng tận trung của xứ Kush. Các món quà của vua Babylon cũng được khiêng đến trước Pharaon. Còn sứ thần của Crete mang đến trước ngài những chiếc cốc kỳ lạ và rất nhiều bình chứa đầy loại dầu tốt nhất. Cả Aziru cũng gửi quà cho Pharaon, vì ông ta được hứa sẽ có nhiều món quà đáp lễ nếu ông ta chịu làm việc này và cũng vì sứ thần của ông ta sẽ có cơ hội dò xét Ai Cập cũng như ý định của Pharaon.

Thế là sau vụ thu hoạch ngũ cốc và trong những ngày thu này, tất cả sự huy hoàng và giàu có của Ai Cập cổ đại đều tụ hội về Akhetaton và Thành phố Thiên Đường, vốn đã như một giấc mơ rực sáng, hiện lên lung linh với muôn màu sắc rực rỡ dưới bầu trời. Vào những ngày này, tất cả quan quyền ở Ai Cập đều ca tụng Pharaon Ekhnaton và ai nấy đều tranh nhau tìm những lời hay nhất để ca ngợi, tôn vinh ngài. Các đội lính cấm vệ của thành phố cũng là một cảnh tượng hùng dũng và oai nghiêm khi họ diễu hành thành một khối, chân trái giơ về phía trước, bước theo nhịp đều răm rắp, mũi giáo sáng rực ánh lên màu xanh lam trong nắng, khiến từ xa không ai có thể phát hiện ra mũi giáo chỉ là gỗ sơn, cứ nghĩ là mũi giáo đồng, và vô cùng kinh ngạc trước sức mạnh của Pharaon.

Sau các đoàn diễu hành và nghi lễ, Pharaon Ekhnaton dẫn Công chúa bé bỏng chưa tròn hai tuổi với những bước đi chập chững đến đền thờ Aton. Trong đền thờ, ngài để Công chúa đứng bên cạnh sứ thần Babylon và các giáo sĩ đập vỡ vò giữa hai người theo phong tục. Đây là một khoảnh khắc đáng nhớ vì nó củng cố tình hữu hảo và liên minh giữa Babylon với Ai Cập, xua tan những bóng tối đáng sợ trong tương lai. Ít nhất là chúng tôi, những người am tường về quan hệ giữa các dân tộc trong những cuộc trao đổi thâm nghiêm, nghĩ như thế. Nếu chúng tôi nghi ngờ thì nét mặt cáu kỉnh, bực tức của sứ thần Aziru và đại diện của xứ Hatti đã xua tan mối nghi ngờ và củng cố niềm tin của chúng tôi. Nhưng ngày hôm đó, không ai trong chúng tôi muốn nghi ngờ mà tin vào những gì mình hy vọng.

Sứ thần Babylon cúi thật thấp, đưa tay ra trước mặt Công chúa nhỏ, vì kể từ giây phút này Công chúa đã là hoàng phi của vua Burraburiash, quốc vương của ông ta, mặc dù Công chúa vẫn còn là một cô bé. Trước tiên, ông ta cúi đầu chào Công chúa theo phong tục của người Ai Cập, sau đó cúi đầu theo phong tục Babylon, tay để trên trán và ngực. Phải công nhận rằng Công chúa nhỏ đã xử sự rất tốt trong buổi lễ long trọng này và khi nghi lễ kết thúc, Công chúa cúi xuống nhặt một mảnh vò vỡ từ dưới thảm lên và tò mò ngắm nghía. Những người chứng kiến cảnh ấy giải thích đó là một điềm lành.

Sau buổi lễ linh thiêng, nỗi xúc động chế ngự tâm trí Pharaon Ekhnaton, vì dù ngài yêu thương các hoàng nhi của mình, sự huy hoàng và giàu có của quyền uy đã khiến ngài lóa mắt, nên ngài càng tin hơn vào những ảo giác của mình. Vì vậy, không theo chương trình nghi lễ, ngài thuyết giảng với các sứ thần nước ngoài, giới quyền quý Ai Cập và những người lính canh khốn khổ trong đền thờ Aton; khi ngài nói về tình cảm đang ngập tràn trong tim mình, vết hằn xám cùng với vẻ đau đớn trên khuôn mặt biến mất và máu dâng lên đầu ngài. Ngài lớn tiếng ngợi ca Aton và nói trong các ảo ảnh của mình, ngài đã tiên lượng ngày này như bình minh rực rỡ trên thế gian, như bình minh sau đêm dài của ngu dốt, sùng tín, sợ hãi, thù hận và chiến tranh. Ngài nói mình đã hiến dâng cho Aton tất cả quyền lực và sự giàu có của Ai Cập và kêu gọi sứ thần của các xứ ngoại bang hãy mang thông điệp từ nơi này tới quốc vương và xứ sở của họ để ánh sáng có thể xua tan bóng tối khỏi tâm trí họ. Ngài nói nhiều và hay đến nỗi các triều thần Ai Cập bắt đầu bối rối giậm giậm chân, còn các sứ thần nước ngoài không dám nhìn thẳng vào mắt nhau, vì tất cả đều coi ngài là người điên. Việc làm của ngài trái ngược với tập quán tốt đẹp, sự hăng hái của ngài không xứng với danh tiếng của một pharaon và những lời của ngài chỉ là một cơn điên bùng phát dữ dội trong tai họ.

Trong khi Pharaon Ekhnaton thuyết giảng ở đền thờ Aton, tâm trí tôi trào dâng nỗi niềm cay đắng, tôi thử lúc lắc tay và đầu gối vốn bị dòng nhựa nóng rẫy trước tường thành Gaza làm bỏng mà vết thương giờ vẫn chưa lành. Tôi nghĩ, Pharaon Ekhnaton nói thế này thật dễ, vì ngài không phải ngửi mùi khăm khẳm của những xác chết trước tường thành Gaza hay nghe tiếng gào thét của những người đàn bà bị hành hạ trong lều vải của những người đàn ông Amori. Ngài nói thật dễ dàng vì ngài sống trong sự giả dối và chỉ ngửi thấy mùi thơm của Akhetaton, từ sáng đến tối bên tai ngài chỉ vang lên tiếng tụng kinh của các giáo sĩ ca tụng Aton. Ngài nói thật dễ dàng, vì người ta mang đến trước mặt ngài những chiếc giỏ đan đựng đầy cát vàng, vẫy trước mặt ngài những chiếc lông đà điểu, trong khi dân chúng gầy xác xơ, ăn đại mạch lốm đốm sâu và trẻ em chết vì nóng sốt và đau bụng. Vì vậy, khi Pharaon Ekhnaton nói, sự mê hoặc của Akhetaton biến mất trong tâm trí tôi, tôi không còn muốn điều tốt lành cho ngài nữa; những vinh quang, giàu có của Ai Cập xung quanh ngài không còn là ánh sáng của bình minh trong mắt tôi, mà là ánh sáng của hoàng hôn, mạnh hơn cả ánh lửa rừng rực của các đám cháy, vì khi chìm xuống sau dãy núi phía tây trước khi đêm xuống, mặt trời hất lên ánh sáng rực rỡ hơn bình minh, nhưng ánh sáng này đáng sợ, đầy máu và chết chóc.

Trong khi Pharaon Ekhnaton nói, tôi lạnh lùng nhìn những kẻ trung thành với ngài đang há hốc miệng nghe ngài, máu cũng bốc lên đầu họ và họ tin lời ngài. Nhưng Hoàng hậu Nefertiti nhìn ngài, má hóp lại, ánh mắt sắc hơn dao và nỗi phẫn uất trong ánh mắt ấy lạnh lùng hơn cái chết. Bà từng tin cuối cùng mình sẽ sinh cho Pharaon một hoàng tử làm món quà đặc biệt cho lễ kỷ niệm tam thập chu niên nhưng bà chỉ sinh công chúa thứ năm, điều này đã làm tâm trí bà mụ mị, khiến nỗi phẫn uất lấn át tình yêu trong trái tim bà và bà lạnh nhạt với Pharaon Ekhnaton, đổ mọi nguyên do cho ngài như thói thông thường của phụ nữ. Rồi họ bắt đầu cãi vã và thường xuyên có những lời lẽ gay gắt, cay độc với nhau, khiến những nghệ sĩ theo nghệ thuật mới luôn tôn sùng sự thật đã miêu tả họ đang chơi trò bắn tên về phía nhau, cố gắng bằng cách này hòa giải cuộc cãi vã của họ mà không nhận thấy nỗi đau khổ của Hoàng hậu Nefertiti đã hằn sâu đến mức nào.

Vì nỗi khổ tâm này, Hoàng hậu Nefertiti đã thấy rõ hơn bất cứ ai rằng Pharaon Ekhnaton đã vượt qua mọi giới hạn của các tập quán tốt đến mức nào khi thuyết giảng cho giới quyền quý và cận thần trong trạng thái ngất ngây quyền lực của mình và ngài đã làm hoen ố danh dự của mình như thế nào. Bà không hề giấu giếm suy nghĩ này khi họ trở về cung điện và Pharaon Ekhnaton vẫn còn phấn khích, bồn chồn đi đi lại lại trong cung, hai tay nắm chặt, mắt ngước nhìn lên những hình vẽ trên trần như thể xuyên qua chúng, ngài đã nhìn thấy Aton của mình với tất cả ánh hào quang chói lọi của thần. Nhưng Pharaon Ekhnaton không nghe lời bà, mặc dù bà nói theo cách nói của phụ nữ và lời nói của bà châm đau hơn ong độc. Pharaon vẫn sống trong niềm hạnh phúc do các ảo ảnh mang lại và đưa chính mình vào sự rối loạn cảm xúc ngày càng tăng. Vì vậy, là danh y, tôi rất lo lắng cho ngài. Ngài không thể thanh thản lên giường nghỉ ngơi, ngài cũng không ngủ được mà cứ đi đi lại lại và huyên thuyên về Aton, về ánh sáng rực rỡ trong các ảo ảnh của mình và giơ cao đôi cánh tay đang co giật, tin rằng quyền năng của mình là giải phóng thế giới khỏi ma lực của nỗi sợ hãi và bóng tối. Là danh y, tôi đã cho ngài uống thuốc ngủ, nhưng ngài không chịu ngủ mà nói với tôi:

- Sinuhe, Sinuhe à, đây là ngày hạnh phúc nhất trong đời ta và ta run rẩy vì sức mạnh của chính mình. Hãy nhìn xem, từ chính mình và từ sức mạnh duy nhất của chính mình, ngài tự tạo ra hàng triệu hình ảnh các thành phố, làng mạc, cánh đồng, con đường và dòng sông. Mọi cặp mắt nhìn thấy ngài khi ngài tỏa sáng như ánh mặt trời trên các miền đất. Nhưng khi ngài đi khuất, khi mắt nhân loại nhắm lại trên những khuôn mặt mà ngài đã tạo ra, khi nhân loại ngủ say và không thấy ngài, vì ngài đã đi khuất, thì trong tim ta ngài vẫn tỏa sáng ánh hào quang.

Pharaon chìm đắm vào ánh lấp lánh trong suốt của các ảo ảnh và những khải tượng ấy nung đốt trái tim ngài, khiến ngài thở gấp gáp để trái tim khỏi vỡ tung trong lồng ngực. Vì vậy, ngài khóc trong trạng thái nhập định, rồi giơ tay lên và hát một cách nhiệt thành:

“Không ai khác thật sự biết Người,

Chỉ con trai Người, Pharaon Ekhnaton, biết Người

Và Người mãi mãi tỏa sáng trong trái tim ngài

Hết đêm lại ngày, và ngày rồi đến đêm.

Chỉ với ngài, Người để lộ dự tính và sức mạnh của mình,

Cả thế giới nằm trong tay Người

Như hình hài Người đã tạo ra.

Khi Người tỉnh giấc, nhân loại bừng nở, sống động

Khi Người thu ánh sáng của mình, nhân loại diệt vong,

Người là thời gian sống của họ,

Chỉ trong Người, con người mới trường tồn.”

Nỗi cuồng tín của Pharaon lớn đến mức tôi chắc chắn sẽ nghe theo ngài và ma thuật trong trái tim ngài sẽ lại mê hoặc tâm trí tôi, nếu như tôi không phải là ngự y của ngài và vì thế chịu trách nhiệm về sức khỏe của ngài. Vì vậy, tôi cố gắng trấn an ngài, giữ cổ tay gầy guộc của ngài giữa các ngón tay mình và lo lắng đếm mạch đập của ngài đang dồn dập nhanh hơn cả những giọt nước của đồng hồ, mà máu trong đầu ngài vẫn không chịu hạ. Đêm trôi qua như thế, các vì sao di chuyển chầm chậm trên bầu trời, sự tĩnh lặng đến rợn người ngự trị trong cung điện mênh mông, chỉ có Pharaon trằn trọc và tôi thao thức vì tôi là thầy thuốc của ngài.

Đột nhiên từ một phòng nào đó, một con chó nhỏ bắt đầu tru lên, vừa tru vừa sủa và tiếng của nó vọng qua tất cả các bức tường cho đến khi nó bắt đầu sủa báo điềm chết giống như chó hung sa mạc. Đây là một âm thanh đáng sợ với s con người và chỉ được nghe thấy lúc nửa đêm về sáng, khi người và chó kề cận tử thần. Vì vậy Pharaon tỉnh dậy, thoát cơn khải tượng của mình, máu từ đầu ngài đột ngột hạ xuống, khuôn mặt ngài chợt trở nên tái xám, gầy gò và đôi mắt ngài bắt đầu đỏ lên. Thần linh thoát khỏi ngài và cảm xúc con người chiếm lĩnh ngài, trái tim ngài tràn ngập nỗi sợ hãi và tình thương yêu của một người cha chu đáo. Vì vậy ngài chạy khắp các phòng, tôi cầm đèn chạy theo chiếu sáng đường đi cho ngài và chúng tôi đến phòng của Công chúa Meketaton ốm yếu. Những người hầu, vì quá mệt mỏi với buổi lễ, đã uống rượu và ăn đủ loại thức ăn ngon, đang ngủ say để Công chúa lại một mình. Chỉ có con chó nhỏ nằm dưới chân giường canh giấc ngủ của Công chúa. Đêm đến, Công chúa bắt đầu ho và cơ thể suy nhược gầy gò của nàng không còn chịu được cơn ho nữa, máu từ phổi tràn ra đỏ tươi làm ướt sũng giường, mà chú chó nhỏ không thể giúp nàng, chỉ cuồng nhiệt liếm tay và mặt trong tình cảm mến yêu của nó. Nó bắt đầu tru lên âm thanh chết chóc, vì chó đánh hơi được cái chết trước con người và ngửi thấy mùi tử thần trước khi con người có thể đoán ra. Thế là Công chúa nhỏ đã chết trong vòng tay của phụ vương Pharaon Ekhnaton trước bình minh và tài năng của tôi không thể giúp Công chúa. Nàng là công chúa thứ hai trong số các công chúa và vừa tròn mười tuổi.

Tôi cũng không kìm được nước mắt trước cái chết của Công chúa, vì cái chết của một đứa trẻ gây đau buồn hơn của một người lớn. Nhưng nỗi đau của người cha trong Pharaon Ekhnaton rất đáng sợ, đến mức tôi sợ ngài cũng sẽ chết, vì cũng như niềm vui và trạng thái nhập định của ngài, tôi tin Pharaon Ekhnaton cảm nhận nỗi buồn sâu sắc hơn người thường. Vì vậy tôi cố gắng an ủi ngài:

- Muôn tâu Pharaon Ekhnaton, bạn của thần, thần sẵn lòng hy sinh mạng sống của mình nếu có thể giúp ngài thoát khỏi nỗi đau này. Nhưng hoa đẹp nhất là hoa sắp nở và cái chết của đứa trẻ thơ ngây đẹp hơn cái chết của kẻ phạm tội. Có lẽ thần của ngài quá yêu thương cô con gái bé bỏng của ngài nên đã đón Công chúa lên thuyền của người sớm như vậy, để Công chúa khỏi phải chịu những ngày cháy nắng và những đêm lạnh giá, để Công chúa khỏi phải nếm trải nỗi buồn phiền và đau đớn của cuộc sống, vì cuộc sống là bụi nóng, còn cái chết là nước mát. Thật vậy, thưa Pharaon Ekhnaton, Công chúa sẽ sống mãi và quả cầu vàng của nàng sẽ không ngừng xoay, con quay sặc sỡ của nàng sẽ không bao giờ ngã, những người đàn ông của Nhà Chết sẽ khéo léo bọc những ngón tay thon thả của Công chúa bằng lá vàng, gìn giữ khuôn mặt nhỏ nhắn và cơ thể mảnh mai của nàng trong vải lanh hoàng gia để nàng sống mãi mãi mà không biết đến buồn phiền hay đau đớn.

Tôi nói với Pharaon Ekhnaton những điều này để an ủi ngài, vì khi ngài đau khổ, tôi lại yêu ngài, mặc dù tôi không thể yêu ngài trong trạng thái nhập định của ngài. Khi những người hầu hoảng hốt rửa sạch máu trên mặt Công chúa nhỏ, khuôn mặt tiều tụy của nàng mỉm cười trong cái chết, vì vậy dù là thầy thuốc tôi cũng không trách mình quá nhiều, mặc dù tôi đã lơ là trong việc chữa cho nàng, nhưng thật ra tôi cũng không chịu trách nhiệm về Công chúa, vì Công chúa có thái y riêng của mình. Con chó nhỏ bị dắt đi, mặc dù nó chống trả quyết liệt và tiếp tục tru lên trong lồng chó.

Không ai dám động vào Pharaon Ekhnaton cho đến khi thuốc của tôi bắt đầu ngấm và ngài ngủ được lúc bình minh, nên người của Nhà Chết kịp đưa Công chúa đến Nhà Chết trước khi Pharaon tỉnh dậy, giúp ngài vơi bớt nỗi đau thương này. Thi thể Công chúa được những người ướp xác tốt nhất tẩm ướp, mặt nàng được che bằng một chiếc mặt nạ vàng và nàng được an táng theo nghi thức hoàng gia, tất cả đồ chơi của nàng được theo nàng đến mộ. Những người ướp xác cũng nghĩ rất nên ướp xác con chó nhỏ cùng với Công chúa, bởi nó đã chết vì không ăn nổi trong nỗi buồn thương sau khi cô chủ nhỏ đến Nhà Chết. Thế là con chó đã đi theo Công chúa và yên nghỉ mãi mãi bên chân chiếc giường vĩnh cửu của chủ mình.

Nhưng trong khi những người tẩm ướp thi thể làm việc trong Nhà Chết, Pharaon không thể ngủ yên vì quá đau buồn. Ngài lang thang một mình qua các phòng trong cung điện và trong khu vườn thượng uyển, không cho phép ai đi theo và xua đuổi cả lính cấm vệ. Vào dịp kỷ niệm tam thập chu niên nên nhiều nhóm khách thập phương đã đến Akhetaton và vào một buổi sáng khi Pharaon Ekhnaton đang đi dạo bên bờ hồ thánh, hai kẻ giết thuê đã xông đến dùng dao định giết ngài. May thay, trên bờ hồ một cậu bé là học trò của Thotmes đang ngồi vẽ vịt, vì Thotmes không cho học trò của mình vẽ theo hình mẫu, phải vẽ cái mà mắt họ thấy chứ không phải điều họ biết. Cậu bé này đã dùng bảng vẽ của mình chặn những nhát dao của bọn sát thủ cho đến khi lính canh kịp đến và giải cứu Pharaon, nên ngài chỉ bị một vết dao ở vai. Nhưng cậu bé đã chết, máu cậu chảy xuống tay Pharaon Ekhnaton, và dưới sắc thu lộng lẫy trong khu vườn, khi máu chảy tràn xuống, ngài nhìn thấy đôi mắt bị cái chết làm mờ dần và cái cằm thõng xuống, cậu bé đã chết trên tay ngài và vì ngài. Thế là cái chết, điều mà trước đó ngài chưa từng nếm trải, bắt đầu đeo bám Pharaon Ekhnaton.

Tôi được gọi đến ngay lập tức để băng bó vết thương cho Pharaon, may là không nguy hiểm nên sớm lành; tôi tận mắt nhìn thấy hai tên sát thủ, một tên đầu cạo trọc, mặt bôi dầu thánh bóng nhẫy, tên kia từng bị cắt tai vì một tội ác đáng xấu hổ nào đó khiến hắn không thể nhìn thẳng vào mắt người khác. Nhưng khi lính canh lấy dây sậy trói chúng, chúng giận dữ vùng vẫy dứt dây trói, không ngớt hét lên chửi rủa và gọi tên Amon không dứt, mặc cho lính canh dùng cán giáo đánh vào miệng đến nỗi máu hộc ra. Không nghi ngờ gì rằng các giáo sĩ đã bỏ bùa làm phép để chúng không cảm thấy đau đớn.

Chuyện xảy ra thật đáng sợ, vì từ trước đến nay chưa ai nghe nói có thường dân nào dám công khai giơ tay đe dọa pharaon. Ý tôi là có thể vào một thời điểm nào đó trong quá khứ, đã có pharaon chết một cách bất thường trong hoàng cung, nhưng điều này không được thực hiện công khai mà có thể bằng thuốc độc hay một sợi dây, hoặc dùng thảm chẹt cho nghẹt thở để không lưu lại dấu vết nào và mọi việc được giấu kín trước dân chúng. Do đã sống quá lâu trong hoàng cung nên tôi biết việc như thế này từng xảy ra, đôi khi có lẽ pharaon bị khoan sọ trái với ý muốn của ngài. Nhưng chưa từng có ai dám công khai giơ tay đe dọa pharaon và việc vừa xảy ra không thể giấu được, vì có quá nhiều người nhìn thấy và làm chứng mà Pharaon Ekhnaton lại không muốn cho giết hoặc đày bất cứ ai xuống hầm mỏ để vĩnh viễn bịt miệng họ.

Sau việc này, các giáo sĩ của Amon đã giải thích cho dân chúng và các tín đồ của họ rằng việc giơ tay chống lại pharaon giả là điều được phép và là việc tốt trước Amon, và rằng kẻ nào giết được Pharaon, người đó sẽ được sống mãi muôn đời mà không cần lưu giữ thi thể. Vì trong các bài thuyết giảng bí mật của mình, họ đã tuyên bố Pharaon Ekhnaton là một pharaon giả, nên bất cứ ai cũng có thể giơ tay đe dọa ngài. Tất nhiên, không ai dám giơ tay đe dọa pharaon thật, vì nếu ai đó dám, người đó sẽ phải chịu kiếp sống kinh hoàng mãi mãi trong các hầm tối của địa ngục, trong họng hà bá. Dân chúng đã tin như thế.

Hai tên tội phạm bị tra hỏi với sự chứng kiến của Pharaon Ekhnaton, nhưng chúng không khai bất cứ điều gì. Tuy nhiên, người ta phát hiện ra chúng từ Thebes đến và đã nấp trong vườn thượng uyển vào đêm hôm trước. Ngay cái tên Thebes đã tiết lộ ai sai phái chúng đi, nhưng chúng không chịu hé răng, mà khi mở miệng, chúng gọi tên Amon cầu xin giúp đỡ và không ngớt nguyền rủa Pharaon, mặc dù lính canh đã dùng cán giáo đập vào mặt chúng. Khi nghe tên của vị thần bị nguyền rủa, Pharaon Ekhnaton cũng tức giận đến mức cho phép lính canh đánh các tội nhân cho đến khi mặt chúng bị tóe máu và răng rơi ra khỏi miệng. Nhưng các tội nhân nhất quyết không khai mà chỉ cầu cứu Amon và Pharaon không cho phép tra tấn chúng nữa. Lúc đó, chúng hét lên thách thức ngài:

- Pharaon giả kia, cứ để chúng tra tấn chúng tao, để chúng nghiền nát chân tay chúng tao, xẻo thịt chúng tao, nướng da chúng tao, vì chúng tao có đau đớn gì đâu.

Sự trơ lỳ, ngoan cố của chúng thật bất thường, khiến Pharaon ngoảnh mặt sang phía khác và đấu tranh với bản thân mình. Khi trấn tĩnh lại, ngài vô cùng xấu hổ vì đã cho lính canh đánh các tội nhân đến bầm tím, méo mó mặt. Vì vậy ngài bảo:

- Thả chúng ra, vì chúng không biết mình đang làm gì.

Nhưng khi lính canh cởi dây trói ra, chúng càng chửi rủa nhiều hơn, nước bọt sủi hai bên mép, rồi chúng cùng gào lên:

- Hãy cho chúng tao chết, Pharaon đáng nguyền rủa kia. Vì Amon, hãy cho chúng tao chết, hỡi Pharaon giả, để chúng tao được sống đời đời.

Nhận thấy Pharaon định thả mình ra mà không trừng phạt, chúng vùng thoát khỏi tay lính canh và lao đầu vào tường quanh sân, đến nỗi một lúc sau cả hai đều vỡ sọ và chết. Sức mạnh bí hiểm của Amon ăn vào lòng người dân mới lớn làm sao.

Sau sự việc này, trong hoàng cung ai cũng biết tính mạng của Pharaon Ekhnaton đang bị đe dọa. Vì vậy, các cận thần của ngài tăng cường lính canh và không để ngài ở ngoài tầm nhìn của họ, mặc dù vì quá đau buồn, ngài vẫn muốn đi dạo một mình trong vườn và cả bên bờ sông không cho ai đi theo. Chắc hẳn ngài vẫn nghĩ mình đang đi một mình, nhưng những đôi mắt vô hình vẫn dõi theo từng bước chân ngài. Những ai sùng bái Aton càng hun đúc đức tin của họ cháy bỏng hơn, và những ai đã đi theo Aton vì quyền lực, giàu sang và địa vị lại lo cho vị thế của mình hơn, cảnh giác và phục vụ Pharaon nhiều hơn. Vì thế, sự cuồng tín đã tăng lên ở cả hai miền; dân chúng cuồng loạn vì Aton nhiều chẳng kém vì Amon và như thế Aton đã phân rẽ vợ khỏi chồng, cha khỏi con và anh chị em khỏi nhau.

Điều này xuất hiện sớm nhất ở Thebes, vì để chứng minh quyền lực và thành công của Pharaon, các lễ rước và nghi lễ được tổ chức ở đây tương tự như ở Akhetaton nhằm tôn vinh ba mươi năm trị vì của Pharaon. Những chiếc giỏ chứa đầy cát vàng và lông đà điểu được chuyển đến Thebes, những con báo trong lồng và hươu cao cổ được chuyển đến đó dọc theo sông, những con khỉ đuôi dài nhỏ nhắn và vẹt nhỏ với bộ lông sặc rỡ cũng được đi theo đoàn diễu hành để mọi người có thể thấy và ca ngợi quyền lực và sự giàu có của Pharaon. Nhưng người dân Thebes lặng lẽ nhìn các đoàn diễu hành, không chút niềm vui, các vụ ẩu đả đã xảy ra trên đường phố và thánh giá của Aton bị xé giật khỏi trang phục và cổ áo của người dân, mấy giáo sĩ của Aton đã bị đánh chết khi họ dám đi vào đám đông mà không có người bảo vệ.

Tệ hại nhất là các sứ thần nước ngoài đã theo dõi đoàn diễu hành và thấy tất cả những việc này, họ còn nghe được cả về vụ ám sát hụt Pharaon, vì tin này không thể giấu được do sự bướng bỉnh của Pharaon. Vì vậy, tôi nghĩ sứ thần của Aziru có rất nhiều điều thú vị để kể với quốc vương của mình khi trở về Syria. Ngoài ra, ông ta còn lấy bớt rất nhiều món quà quý giá mà Pharaon gửi tặng cho Aziru và tôi cũng qua sứ thần gửi cho Aziru và gia đình ông ta những món quà của mình. Tôi đã gửi cho con trai ông ta một đội quân gồm cả lính giáo, lính bắn cung, ngựa và chiến xa nhỏ bằng gỗ, được đẽo, chạm khắc và sơn rất đẹp; một nửa trong số đó, tôi cho làm giống người Hittite, và nửa kia giống người Syria với hy vọng thằng bé sẽ cho họ giao chiến với nhau trong trò chơi chiến trận. Món quà tôi cho cậu bé là một tác phẩm khéo léo, mắt của những người lính bằng đá đen và mắt của các viên đội bằng đá quý, chiến xa của các chỉ huy được mạ vàng, những chiếc roi nhỏ của họ bằng vàng và bạc, nên món quà này theo tôi mang tính hoàng gia, xứng với địa vị của tôi và tôi đã trả nhiều hơn quà tôi tặng cho Aziru, vì cậu bé là tất cả với ông ta, hơn cả lợi ích của chính ông ta. Thời gian này, Pharaon Ekhnaton rất đau khổ và chịu nhiều giằng xé trong tâm can, những ngờ vực khiến đức tin của ngài bị lung lay, đến nỗi thỉnh thoảng trong đêm tối, ngài cay đắng than thở rằng khải tượng của ngài đã biến mất và Aton đã từ bỏ ngài. Nhưng cuối cùng, ngài đã biến vụ ám sát thành sức mạnh cho mình và khích động bản thân tin rằng sứ mệnh của ngài còn lớn lao hơn và những việc ngài làm còn quan trọng hơn vì trên đất Ai Cập vẫn còn quá nhiều bóng tối và nỗi sợ hãi. Ngài đã nếm bánh cay đắng của hận thù và uống nước mặn của thịnh nộ. Bánh không làm dịu cơn đói, nước không làm thỏa cơn khát của ngài, nhưng ngài tin rằng mình đã làm tất cả chỉ vì lòng tốt và tình yêu thương, khi ban lệnh săn lùng các giáo sĩ Amon gắt gao hơn, khi cho phép trừng phạt và tống cổ những kẻ đã gọi tên Amon đến các hầm mỏ. Tất nhiên, những người nghèo khổ và cô đơn phải chịu cực hình nhiều nhất trong các cuộc săn lùng này, bởi quyền lực bí mật của các giáo sĩ Amon rất lớn và lính canh của Pharaon không dám động vào họ mà để họ thoát rất dễ dàng. Vì vậy, thù hận sản sinh thù hận và sự hỗn loạn ở Ai Cập tiếp tục gia tăng.

Để củng cố quyền lực của mình và vì không có con trai nên Pharaon Ekhnaton đã gả hai con gái lớn là Meritaton và Ankhsenaton cho con trai của các đại thần và quý tộc trung thành với ngài trong triều đình. Ngài cho Meritaton đập vỡ vò với một cậu có tên Sekenre, mang chức danh người rót rượu hoàng gia trong hoàng cung, là người cả đời đã lớn lên trong hoàng cung và tin tưởng vào Aton. Cậu ta mười lăm tuổi, cuồng tín, cũng nhìn thấy các giấc mơ với đôi mắt mở to như Pharaon, nhưng ý chí của cậu yếu ớt và hoàn toàn phụ thuộc vào ý chí mạnh mẽ của Pharaon trong mọi việc, vì thế cậu rất được lòng Pharaon. Ngài đã cho cậu trai trẻ măng này được đội vương miện hoàng gia và phong cậu làm người kế vị, vì ngài không còn tin mình sẽ có con trai.

Còn Ankhsenaton đập vỡ vò với một cậu bé mười tuổi tên là Tut, người được bổ dụng chức quản gia trông coi ngựa và cả các tòa nhà và mỏ đá của nhà vua. Tut là cậu bé gầy gò, ốm yếu, thích chơi với búp bê, thích đồ ngọt và ngoan ngoãn, dễ bảo trong mọi việc. Trong con người cậu không có gì xấu mà cũng không có gì tốt và cậu tin tất cả những gì người ta dạy cậu, nói lại giống hệt những lời cậu được nghe ai đó nói sau cùng. Cả hai cậu trai này đều có dòng dõi quan quyền Ai Cập và khi cưới họ cho con gái mình, Pharaon Ekhnaton tin rằng ngài sẽ trói buộc gia đình quan quyền và hùng mạnh của họ vào với ngài và vào Aton. Những cậu bé này làm ngài đẹp lòng bởi họ không có ý chí, bản lĩnh riêng và vì sự cuồng tín của mình, Pharaon Ekhnaton không chấp nhận những lời tranh biện và không lắng nghe các phụ tá của ngài nữa.

Thế là nhìn bề ngoài mọi thứ diễn ra như trước, nhưng cái chết của Công chúa nhỏ cùng với con chó của nàng và vụ ám sát hụt Pharaon là những điềm xấu và một điềm xấu hơn nữa là Pharaon Ekhnaton muốn bịt tai trước tất cả những âm thanh trần tục và chỉ lắng nghe tiếng nói bên trong mình. Vậy nên cuộc sống ở Akhetaton trở nên ngột ngạt, đường phố im ắng dần, dân chúng ít cười đùa hơn trước và hạ giọng khi nói, như thể một nỗi sợ hãi ngấm ngầm đang rình rập trên khắp Thành phố Thiên Đường. Điều thường xảy ra với tôi là tôi bừng tỉnh khỏi dòng suy nghĩ của mình khi đang làm việc trong tiếng đồng hồ nước nhỏ giọt và nhìn ra ngoài, tôi nhận thấy một sự im lặng rợn người đột nhiên chế ngự Akhetaton, đến mức không nghe thấy bất cứ âm thanh nào, không tiếng bánh xe lọc cọc, không tiếng chim ríu rít, không cả tiếng kẻ hầu người hạ, chỉ có tiếng lách tách đo thời gian vô định của đồng hồ nước. Vào những khoảnh khắc như thế, tiếng đồng hồ nước với tôi là âm thanh quái gở như thể một khoảng thời gian được ấn định sắp hết, mặc dù tôi cố trách cứ trái tim mình sao ngớ ngẩn và tự trấn an rằng thời gian không bao giờ kết thúc và nước không bao giờ cạn trong đồng hồ nước. Cho đến khi những chiếc xe lại lăn bánh dọc phố qua nhà tôi với những chùm lông nhuộm màu sặc sỡ phất phơ trên đầu ngựa và tiếng lọc cọc vui tai của bánh xe hòa lẫn tiếng của những người hầu đang vặt lông chim trong sân bếp. Khi đó tôi mới bình tâm lại và nghĩ mình vừa có một cơn hung mộng.

Nhưng trong những khoảnh khắc lạnh giá, tôi cảm thấy cả thành phố Akhetaton chỉ như một trái cây có vỏ xinh đẹp mà ruột bên trong đã bị sâu đục rỗng. Bụi thời gian đã gặm nhắm cốt lõi cuộc sống hạnh phúc của nó, khiến niềm vui vụt tắt và tiếng cười im bặt ở Akhetaton. Vì vậy, tôi bắt đầu khát khao trở lại Thebes, không cần tìm kiếm lý do mà trái lại, trái tim tôi đã nhanh chóng liệt kê vô vàn lý do quan trọng khiến Pharaon Ekhnaton không thể khước từ. Điều tương tự cũng xảy ra với nhiều người khác, trái tim họ tin rằng mình yêu quý Pharaon Ekhnaton, nhưng rồi họ đã rời khỏi Akhetaton. Tôi trở lại Thebes vì sự giàu có của mình và tôi đã bảo Kaptah gửi đến cho tôi rất nhiều giấy tờ để tôi tâu trình với Pharaon rằng mình phải đi không chậm trễ và Pharaon không thể ngăn cản việc ra đi của tôi.

❖ 4 ❖

Khi đã lên thuyền và dong buồm ngược sông, tâm trí tôi nhẹ nhõm như vừa thoát khỏi bùa phép. Mùa xuân lại về, nước lũ đã rút và đàn én lướt nhanh trên dòng nước sẫm màu bùn đang trôi. Phù sa màu mỡ lắng xuống đồng ruộng, cây trái đang nở hoa và tôi vội vã lên đường, lòng tràn đầy nỗi mê đắm hương vị ngọt ngào của mùa xuân, như thể tôi là một chàng rể đang vội vàng đến với vị hôn thê của mình. Thế đấy, con người là nô lệ của trái tim mình nên thường nhắm mắt trước những gì mình không vừa ý và chỉ tin vào điều mình mong muốn. Được thoát khỏi phép thuật và nỗi sợ hãi đang rình rập Akhetaton, trái tim tôi vui sướng như chim được sổ lồng, vì con người ta cảm thấy nặng nề khi bị ràng buộc vào ý chí của người khác và bất cứ ai từng sống ở Akhetaton cũng đều bị trói buộc vào ý chí sôi sục và đầy áp lực của Pharaon cũng như những cơn giận dữ bột phát của ngài. Đối với tôi, ngài là một con người bởi tôi là ngự y của ngài, chính vì vậy sự ràng buộc của tôi với ngài nặng nề hơn với những người mà ngài chỉ là Pharaon hay những người sùng tín ngài như đấng thần linh.

Tôi mừng vui vì lại được nhìn bằng mắt của mình, nghe bằng tai của mình, nói bằng miệng của mình và sống theo ý muốn của riêng mình. Sự tự do như thế này hoàn toàn không có hại cho con người, mà nó khiến tôi trở nên khiêm nhường trên hành trình ngược sông, xua tan đi nỗi cay đắng trong tim tôi, để tôi thấy Pharaon như chính con người ngài. Càng rời xa Pharaon Ekhnaton, tôi càng hiểu rõ hơn chính con người ngài và càng rời xa ngài chừng nào, tôi càng yêu ngài hơn và cầu mong cho ngài mọi điều tốt lành. Càng đến gần Thebes, những ký ức tràn ngập trong trái tim tôi càng sống động, Pharaon Ekhnaton cũng như thần Aton của ngài càng lớn dần lên trong trái tim tôi, xua tan bóng tối của tất cả vị thần khác cũng như của Amon trong tôi.

Tôi lại nhớ tới nỗi sợ hãi mà Amon đã dùng để giam hãm tâm hồn con người, bóp nghẹt khát khao hiểu biết và ngăn không cho bất cứ ai hỏi: “Vì sao?”. Tôi cũng nhớ đến vị thần của đảo Crete đã chết, nổi lềnh bềnh trong vịnh nước thối rữa và những người bị hiến tế cho thần này được dạy nhảy trước đàn bò để có thể tiêu khiển cho con bò biển. Nhớ lại tất cả những điều này, tâm trí tôi tràn ngập nỗi căm hờn đối với các vị thần trước đây và bên cạnh họ, Aton tỏa sáng hào quang, vì Aton giải phóng con người khỏi nỗi sợ hãi, Aton là gì đó ở trong tôi và bên ngoài tôi, ngoài tầm hiểu biết của tôi; Aton là vị thần sống động như tạo hóa, hít thở trong tôi và ngoài tôi, như ánh nắng mặt trời rực rỡ sưởi ấm mặt đất và mặt đất bừng nở hoa. Nhưng Aton chỉ ngời sáng trong trái tim tôi, khi tôi ở xa Pharaon Ekhnaton, bởi khi sống gần ngài như ngự y riêng, tôi nhìn ngài như nhìn một con người, trong khi cuộc sống bên ngài là không thể chịu đựng được với những ai muốn giữ tự do cho trái tim mình, bởi Pharaon Ekhnaton muốn áp đặt Aton của ngài cho tất cả mọi người và sự áp đặt đó khiến Aton trở nên đáng ghét với họ và làm họ xa lánh thần, khiến họ thờ Aton vì sợ hãi chứ không phải vì Aton tốt hơn Amon.

Tôi nhận ra tất cả những điều này khi ngược dòng sông dưới bầu trời xanh rực rỡ, trong những tia nắng ấm áp và hoa nở rực trên mặt đất hai bên bờ xung quanh tôi, vì không có gì khiến tâm trí con người thư thái và thanh thản hơn một chuyến đi dài không vướng bận, được thoát khỏi môi trường cũ và sự cô đơn. Khi nghĩ về mình, tôi thấy xấu hổ với chính mình vì sự giàu sang ở Akhetaton đã làm tôi no đủ và thỏa mãn; hành trình đến Syria đã khiến tôi trở nên kiêu căng, ngạo mạn đến mức tin rằng mình biết phải cai trị các vương quốc thế nào và liên minh các dân tộc ra sao. Những lần đàm đạo cùng sứ thần Babylon đã bồi bổ cho trí não tôi, khiến nó đầy ắp sự thông thái trần thế, bởi vì giờ đây khi tôi nghĩ về ông ta, khi những tấm màn che đã rơi khỏi mắt mình, tôi biết rằng sự thông thái của ông ta và của Babylon là sự thông thái nơi trần thế và sự thông thái đó hướng đến trần thế.

Bởi lẽ họ không đọc thiên tính con người từ gan cừu, không giải mã tâm hồn con người, mà xem xét việc làm và thành công của con người khi nhìn vào hôn nhân, số con cái anh ta có và tội ác của anh ta. Các vì sao di chuyển trên bầu trời đúng như tính toán chính xác của họ và họ thấy các ngôi sao ở những điểm mà họ đã tính toán theo ý muốn của mình, thấy ở đó mùa màng bội thu và những cơn lũ, thời gian trị vì của các vị vua và sự suy tàn của các vương quốc, nhưng họ không thấy được thiên tính trong con người từ các vì sao; như vậy tri thức của họ cũng không phải siêu phàm. Nghĩ về những điều này trên hành trình ngược dòng sông khiến tôi một lần nữa phải cúi đầu thần phục vị thần hiện hữu trong tôi và trong mỗi người, vị thần mà Pharaon Ekhnaton gọi là Aton và coi là vị thần duy nhất. Nhưng tôi không có ý chí và lòng dũng cảm của Pharaon, vì vậy trước trái tim mà chính bản thân mình còn chưa hiểu thấu, tôi cúi đầu thú nhận rằng có bao nhiêu trái tim con người trên thế gian này thì có từng ấy vị thần. Dù vậy, tôi tin vẫn có những người từ khi sinh ra cho đến lúc xuống mồ cứ lang thang mà không hề biết ai là vị thần trong tim mình. Thần linh của mỗi người không phải là tri thức và sự hiểu biết mà còn hơn cả tri thức và sự hiểu biết.

Vậy nên tôi tin vào điều mình hy vọng và thấy mình là một người tử tế và tốt hơn nhiều người khác. Là người thành thật với bản thân và muốn sống trong sự thật, tôi phải thừa nhận rằng trong thâm tâm tôi cảm thấy mình còn tốt hơn cả Pharaon Ekhnaton, bởi vì tôi không cố tình mang điều ác đến cho ai, không ép buộc ai phải tin theo đức tin của mình và thời còn trẻ tôi đã chữa trị cho những người nghèo khó mà không đòi họ quà. Bởi vì khi dong buồm ngược dòng sông cũng như lúc ghé vào bờ để nghỉ lại qua đêm trên thuyền, tôi thấy dấu vết thần của Pharaon Ekhnaton ở khắp nơi. Mặc dù đây là thời điểm tốt nhất để gieo hạt, một nửa ruộng đồng của Ai Cập nằm phơi mình, cỏ dại và ké mọc kín, không ai cày bừa, không ai gieo hạt, và nước lũ đổ đầy bùn vào các kênh rạch mà không ai vét dọn đi.

Amon đã thử thách lòng tin của mọi người và đuổi các cư dân mới ra khỏi vùng đất trước đây là của họ, lại còn nguyền rủa những cánh đồng của Pharaon, khiến nô lệ và nông dân chạy trốn khỏi ruộng đồng của Pharaon vào ẩn náu trong các thành phố vì sợ lời nguyền của Amon. Nhưng một số cư dân mới vẫn sống trong lều của họ, sợ hãi và phẫn nộ, nên tôi đã nói với họ:

- Những kẻ điên kia, sao các người không cày bừa và gieo cấy trên đồng của mình, vì nếu không các người sẽ chết đói khi mùa đông đến?

Nhưng họ giận dữ nhìn tôi, vì tôi mặc trên người loại vải lanh mịn nhất, và đáp:

- Sao chúng tôi phải gieo cấy, khi mà bánh mì mọc lên từ đó đã bị nguyền rủa rằng người ăn nó sẽ chết, như hạt đại mạch bị lốm đốm đã giết con cái chúng tôi.

Akhetaton xa vời với cuộc sống thực đến thế, nên bây giờ tôi mới nghe người dân nói hạt đại mạch lốm đốm giết chết trẻ em. Trước đây tôi chưa bao giờ nghe nói về một căn bệnh như vậy, nhưng nó đã lây lan từ đứa trẻ này sang đứa trẻ khác, bụng chúng bị trướng đến nỗi không chỉ các thầy thuốc mà cả các phù thủy cũng không thể chữa trị, mặc dù những người dân thôn quê theo tập quán vẫn dựa vào phép thuật của phù thủy. Nhưng tôi nghĩ bệnh này không phải do hạt đại mạch mà tin rằng mầm bệnh đến từ nước lũ dâng cao, vì tất cả các căn bệnh mùa đông đều phát sinh từ đó. Nhưng khi nhìn những người không dám làm ruộng mà thà chết đói đó, tôi thấy căn bệnh này đã hủy hoại trái tim họ. Từ đó, tôi không còn kết tội Pharaon mà chỉ buộc tội Amon, kẻ đã đầu độc cuộc sống của người dân bằng nỗi sợ hãi, khiến họ thấy chết còn hơn sống.

Khi dong buồm ngược sông về Thebes, tôi nhìn thấy nhiều điều, thấy đám nô lệ trán đẫm mồ hôi, lưng đầy vết roi và gậy, đang nguyền rủa chủ họ trên những vùng đất màu mỡ, nơi ruộng được cày bừa và hạt giống được gieo trỉa xuống đất bùn. Trong tim tôi, sự bất công này không khác gì điều sai trái trên những cánh đồng bỏ hoang của Aton và sự vô lý của vạt kế sữa trên những cánh đồng màu mỡ. Nhưng sự bồn chồn đã kéo tôi tiến về phía trước và tôi vội vàng giục các tay chèo, khiến mồ hôi vã ra từ trán họ. Họ giơ bàn tay sưng phồng, nổi đầy những vệt da rộp lên tỏ vẻ trách tôi giục họ chèo nhanh. Tôi muốn xoa dịu vết thương của họ bằng bạc và làm dịu cơn khát nơi cổ họng họ bằng bia vì tôi muốn cư xử tốt, nhưng khi họ chèo đến mức mạn sườn uốn sang bên, tôi nghe thấy họ nói với nhau: “Sao chúng ta phải chèo cho con lợn béo này, nếu mọi người đều bình đẳng trước thần của hắn? Để hắn tự chèo một lần cho hắn nếm trải chèo thuyền là như thế nào, để cổ họng hắn khát khô, lòng bàn tay sưng rộp, và hắn thử xoa dịu lòng bàn tay mình bằng bạc nếu có thể”.

Cây gậy bên hông nôn nóng réo gọi tôi, nhưng trái tim tôi tràn ngập niềm vui vì tôi đang trên đường trở về Thebes nên tôi ngẫm nghĩ lời họ nói và hiểu rằng họ đã nói sự thật, vì thế tôi đến bên họ và bảo:

- Này các tay chèo, hãy đưa cho ta một mái chèo.

Rồi tôi đứng chèo cạnh họ, mái chèo bằng gỗ cứng cọ xát làm lòng bàn tay tôi rộp lên, nổi đầy mụn nước và những mụn nước này vỡ ra thành vết thương. Lưng tôi còng xuống, các đường gân nóng như lửa đốt và tôi nghĩ xương sống mình sắp gãy, mỗi hơi thở đau nhói trong lồng ngực. Nhưng tôi tự nhủ lòng: “Lẽ nào mình bỏ dở việc mà mình đã chọn, để cho nô lệ cười và chế nhạo mình? Hằng ngày họ phải chịu đựng như thế này và nhiều hơn nữa. Hãy nếm trải vị mồ hôi và lòng bàn tay sưng phồng của họ để biết cuộc sống của người chèo thuyền như thế nào. Sinuhe, chính ngươi đã từng xin cuộc sống cho được hưởng tràn ly”. Vì thế tôi chèo cho đến khi hết hơi và những người hầu khênh tôi lên giường.

Nhưng hôm sau, tôi lại chèo với lòng bàn tay bong da, những tay chèo không cười nhạo tôi nữa mà giục tôi dừng lại và nói:

- Ngài là ông chủ của chúng tôi và chúng tôi là nô lệ của ngài. Ngài đừng chèo nữa, nếu không, sàn sẽ dựng dậy thành mái trên đầu chúng tôi và chúng tôi sẽ đi giật lùi bằng đầu của mình. Đừng chèo nữa, thưa ông chủ Sinuhe của chúng tôi, nếu không ông sẽ kiệt sức, vì mọi thứ đều cần có tôn ti và mỗi người đều có chỗ đứng do thần linh chỉ định, chỗ của kẻ chèo thuyền không phải dành cho ngài.

Nhưng từ đó đến tận Thebes, tôi vẫn chèo cùng họ; thức ăn của tôi là bánh mì và cháo của họ, đồ uống của tôi là bia đắng của nô lệ. Ngày tiếp ngày, tôi đủ sức chèo lâu hơn; ngày lại ngày, chân tay tôi dẻo dai hơn; và ngày qua ngày, tôi vui hơn khi nhận thấy mình không đứt hơi nữa.

Nhưng những người hầu của tôi lo lắng cho tôi và nói với nhau:

- Chắc chắn bọ cạp đã cắn ông chủ của chúng ta hoặc ông ấy hóa điên giống như bao người ở Akhetaton, vì chứng điên rồ dễ bị lây lan nếu như không có bùa chú của phù thủy bảo vệ. Chúng ta không sợ chứng đó, vì chúng ta có sừng của Amon giấu trong quần áo mình.

Dĩ nhiên, tôi không điên, vì tôi không có ý định chèo quá Thebes và hoàn toàn không có ý định trở thành người chèo thuyền trong suốt phần đời còn lại của mình, vì nghề này quá vất vả với tôi.

Thế là chúng tôi đến Thebes và hương vị Thebes ngập tràn đón chúng tôi từ rất xa trên sông. Với một người sinh ra ở Thebes, không mùi hương nào tuyệt vời hơn mùi hương ngọt ngào trong mũi anh ta, thơm hơn mùi mộc dược. Tôi sai đầy tớ xức thuốc mỡ vào lòng bàn tay cho tôi rồi tắm cho tôi sạch sẽ, mặc cho tôi quần áo đẹp nhất. Chiếc xà rông quàng hông lỏng lẻo trên người tôi, vì bụng tôi đã tóp lại sau những ngày chèo thuyền, khiến họ phải dùng ghim để nó vừa được với tôi. Họ than vãn:

- Ông chủ chúng ta bị bệnh, bụng ông tóp lại, không còn vẻ quý tộc nữa, khiến chúng ta xấu hổ với các đầy tớ quý tộc khác.

Nhưng tôi cười với họ và sai họ đi đến nhà đúc đồng cũ để báo cho Muti biết tôi đã về, vì tôi không còn dám về nhà mình mà không báo trước. Tôi phân phát bạc, vàng cho những người chèo thuyền và nói:

- Vì Aton, hãy đi ăn cho thật căng bụng, sưởi ấm tinh thần các ngươi bằng bia ngọt và vui vẻ với những cô gái Thebes xinh đẹp, vì Aton là người ban phát niềm vui, yêu thích niềm vui giản dị và thương yêu người nghèo hơn người giàu, bởi niềm vui của họ giản đơn hơn niềm vui của những người giàu sang.

Nhưng khi nghe thế, những tay chèo thuyền của tôi sầm mặt, họ di di ngón chân xuống ván thuyền, tay vừa búng búng bạc và vàng của tôi vừa nói:

- Chúng tôi không muốn xúc phạm ông, thưa ông chủ, nhưng liệu bạc và vàng của ông có phải là bạc và vàng bị nguyền rủa không, vì ông nói với chúng tôi về Aton? Chúng tôi không thể nhận bạc, vàng bị nguyền rủa, bởi nó làm bỏng tay chúng tôi và ai cũng biết rằng nó sẽ biến thành đất sét trong tay chúng tôi.

Họ sẽ không bao giờ nói với tôi điều này nếu tôi không chèo thuyền cùng họ khiến họ tin tôi. Tôi trấn an họ:

- Hãy mau đi đi và đổi vàng và bạc lấy bia, nếu các ngươi sợ điều như thế. Nhưng đừng lo, vàng của ta không phải là vàng bị nguyền rủa và bạc của ta cũng không phải là bạc bị nguyền rủa. Nhìn vào dấu in trên đó, các ngươi sẽ thấy đó là vàng và bạc thật từ ngày xa xưa, không bị pha với đồng của Akhetaton. Tuy nhiên, ta vẫn phải nói rằng các ngươi là những kẻ ngu dại, không hiểu điều gì lợi ích cho mình khi sợ Aton, vì Aton không có gì đáng sợ.

Họ đáp lại:

- Chúng tôi không sợ Aton, vì ai lại sợ một vị thần không có quyền năng. Ông biết rõ chúng tôi sợ ai, thưa ông chủ của chúng tôi, mặc dù chúng tôi không dám nói tên của ngài vì Pharaon.

Nhưng nỗi bồn chồn như than hồng trong tim tôi và tôi cũng không muốn đôi co thêm với họ. Vì vậy, tôi để họ đi và họ đi ngay ra cảng, vừa nhảy múa vừa cười và hát những bài hát của người chèo thuyền. Tôi cũng muốn nhảy cẫng lên, cười và hát, nhưng nhảy không hợp với địa vị của tôi và bài hát sẽ tắc nghẹn trong cổ họng tôi. Vì thế tôi đi thẳng đến quán Đuôi Cá Sấu mà không chờ gọi kiệu. Thế là tôi gặp lại Merit sau một thời gian dài xa cách và khi nhìn thấy nàng, niềm khát khao của tôi như tăng lên và trong mắt tôi nàng đẹp hơn bao giờ hết. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận rằng tình yêu, như bao đam mê khác, làm mờ mắt con người ta. Merit không còn quá trẻ nữa mà vào độ chín đẹp nhất của mùa hè cuộc đời nàng, nàng là bạn của tôi và không ai trên thế gian này gần gũi với tôi như nàng. Khi nhìn thấy tôi, nàng cúi đầu rất thấp chào tôi và giơ tay lên, rồi nàng đến bên tôi, để tay lên vai tôi, rồi chạm vào má tôi và mỉm cười nói:

- Sinuhe, Sinuhe, chuyện gì xảy ra với anh mà mắt anh sáng bừng lên như vậy, và anh đã vứt mỡ bụng xuống đường phải không?

- Merit, em yêu của anh, - tôi đáp, - mắt anh sáng vì nỗi khát khao em, mắt anh sáng vì cơn sốt tình yêu và mỡ bụng anh rơi rụng vì đau khổ, dạ dày anh rơi xuống đường khi anh vội vã đến với em đấy, em yêu của anh ạ.

Nàng chùi mắt và nói:

- Ôi, Sinuhe, lời nói dối mới ngọt ngào hơn sự thật làm sao, khi người ta cô đơn và mùa xuân đã bừng nở trong vô vọng. Nhưng vì anh trở về và mang lại mùa xuân cho em, em tin vào những câu chuyện cổ tích, anh yêu quý của em ạ.

Tôi không muốn kể nhiều hơn về cuộc gặp gỡ này với Merit, vì cũng phải kể về Kaptah nữa. Bụng của ông ấy hoàn toàn không xẹp bớt, trái lại ông ấy còn đồ sộ hơn và có nhiều đồ trang sức hơn trước, vòng đeo quanh cổ và cổ tay lẫn cổ chân, và ông ấy đã cho gắn những viên đá quý vào chiếc đĩa vàng che con mắt mù của mình. Khi nhìn thấy tôi, ông ấy vừa khóc vừa mừng rỡ hét lên:

- Đội ơn ngày đưa ông chủ tôi trở về nhà.

Rồi ông ấy dẫn tôi vào một phòng kín, để tôi ngồi trên những tấm thảm mềm và Merit mang đến cho chúng tôi những gì tốt nhất mà Đuôi Cá Sấu có và chúng tôi cùng ăn uống thật vui. Kaptah kể cho tôi nghe về sự giàu có của tôi:

- Sinuhe, ông chủ của tôi, ông khôn ngoan hơn tất cả mọi người, vì ông còn ranh mãnh hơn những người buôn bán ngũ cốc, vì cho đến nay không mấy ai lừa được họ, vậy mà mùa xuân năm ngoái, ông đã lừa họ bằng sự láu cá của mình, mặc dù có lẽ trong việc này bọ hung cũng có công. Như ông còn nhớ, ông đã lệnh cho tôi phân phát cho cư dân mới tất cả đại mạch của ông để họ làm giống và chỉ yêu cầu họ trả một lấy một, khiến tôi phải kêu lên rằng ông bị điên, vì theo suy nghĩ thông thường đó là một việc làm ngu xuẩn. Ông biết không, nhờ sự tinh ranh của mình mà ông giàu có hơn, giàu gấp đôi so với trước đây. Vậy nên tôi không thể nhớ số tài sản của ông trong đầu nữa và tôi đến khổ với những tay thu thuế của Pharaon, vì lòng tham và sự trơ trẽn của họ ngày càng khủng khiếp hơn trước. Giá đại mạch giảm ngay khi các thương lái nghe tin những cư dân mới nhận được hạt giống, và khi tin đồn về hòa bình lan truyền, giá đại mạch càng giảm mạnh hơn, vì ai cũng bán đại mạch để từ bỏ những cam kết của mình và các thương lái đại mạch bị lỗ nặng, nhiều người nghèo đi. Nhưng khi đại mạch rẻ hơn, tôi mua để tích trữ và mua nhiều không kể xiết với giá cực rẻ, mặc dù đại mạch chưa chín và chưa được thu hoạch. Vào mùa thu, tôi cũng thu gom số lượng đại mạch mà tôi đã phân phát, một lấy một, như ông đã ra lệnh, vậy nên tôi có thể cất giữ số đại mạch trước của tôi vào kho và tôi có thể nói với ông, thưa ông chủ, với tất cả sự tin tưởng, rằng người ta đã lừa dối khi nói lúa mạch của những cư dân mới bị lốm đốm, vì nó sáng như hạt đại mạch khác và không gây hại cho ai cả. Vì vậy, tôi nghĩ các giáo sĩ và các tín đồ của họ đã bí mật vẩy máu vào đại mạch trong các chum của cư dân mới để hạt bị lốm đốm và bắt đầu bốc mùi. Tuy nhiên, đây là một điều nguy hiểm và tôi không muốn ông tiết lộ với bất kỳ ai, hơn nữa không ai tin ông, vì mọi người đều tin rằng đại mạch của cư dân mới bị nguyền rủa và bánh của họ là bánh bị nguyền rủa. Người ta tin như vậy cũng là một lợi thế cho ông, thưa ông chủ. Vì mùa đông đến, giá đại mạch bắt đầu tăng trở lại khi Eje bắt đầu chở nó đến Syria nhân danh Pharaon để đẩy đại mạch của Babylon ra khỏi Syria sau khi đình chiến. Vì vậy đại mạch đắt hơn trước, chưa bao giờ đắt như hiện giờ, cho chúng ta lợi nhuận vô kể, và còn tăng lên nhiều vì ta sẽ giữ đại mạch lâu hơn trong kho, bởi vào mùa thu tới nạn đói sẽ tràn vào Ai Cập. Vì tất cả những lý do này, tôi không biết nói gì hơn là ca ngợi sự tinh ranh tuyệt vời của ông, thưa ông chủ, bởi vì trong thương vụ này, ông còn ranh ma hơn tôi, mặc dù tôi từng nghĩ ông bị điên.

Kaptah rất hào hứng khi kể chuyện và còn tiếp tục:

- Tôi cầu mong phước lành cho thời gian này, khi người giàu càng giàu hơn và con người ta cứ thế giàu lên dù họ muốn hay không. Cả các thương lái ngũ cốc cũng vui mừng, tổ chức tiệc tùng từ sáng đến tối, từ tối đến sáng và rượu chảy tràn trong các bữa tiệc, vì bất cứ ai mua đại mạch về trữ trong kho cũng giàu có hơn. Quả thực, thời gian này thật kỳ diệu, vì bạc và vàng chảy vào hòm và rương từ những chỗ không ai ngờ. Ông phải biết là, ông chủ của tôi ạ, chỉ bán những chiếc chum không, tôi đã thu được số tiền tương đương với ngũ cốc, và đây không phải là lời nói xạo mà là sự thật rõ ràng, dù không ai tin. Tức là trên khắp Ai Cập, người ta tìm mua những chiếc chum không đã qua sử dụng, bất kể loại nào, khiến những người nấu bia và nấu rượu kêu la ầm ĩ và giật đầu bức tóc vì không còn chum đựng. Quả thực đây là thời gian đáng kinh ngạc, khi một người từ tay không trở nên giàu có, nhưng khi nghe được tin này, tôi đã thuê hàng trăm nô lệ đi săn lùng và kịp thu gom hết tất cả chum rỗng ở Thebes và thực tình, người ta đã cho không nô lệ của tôi những chiếc chum đã sử dụng để họ mang đi cho sân hết mùi hôi. Nếu tôi nói trong mùa đông này tôi đã bán được một ngàn lần một ngàn chiếc chum không, có thể hơi quá một chút nhưng tôi không nói dối nhiều. Có lẽ tôi cũng không nên nói dối nữa, vì sự thật về những cái chum này khó tin hơn tất cả những lời nói dối tuyệt vời nhất của tôi.

- Ai điên mà đi mua những chiếc chum không cơ chứ?

- Tôi hỏi.

Kaptah nheo nheo con mắt còn lại vẻ ranh mãnh và nói:

- Người mua khăng khăng bảo người ở miền Hạ đã tìm ra một cách mới để trữ cá trong nước và muối, nhưng khi tìm hiểu việc này, tôi được biết những chiếc chum này sẽ được chuyển đến Syria. Những chuyến hàng chum lớn được dỡ xuống ở Tanis, và cả ở Gaza, sau đó được các đoàn lữ hành vận chuyển đến Syria, nhưng người Syria làm gì với những chiếc chum rỗng thì không ai có thể hiểu được, mặc dù tôi đã đưa ra câu hỏi này cho nhiều nhà thông thái. Không ai biết tại sao họ trả cho những chiếc chum đã qua sử dụng như trả cho chum mới và họ làm gì với những chiếc chum này.

Chuyện Kaptah kể về những chiếc chum thật đáng ngạc nhiên, nhưng tôi không bận tâm về nó vì chuyện đại mạch quan trọng hơn đối với tôi. Khi nghe Kaptah kể xong, tôi nói:

- Kaptah, hãy bán tất cả những thứ ngươi có, nếu cần, và mua đại mạch, để vào kho nhiều hết mức ngươi có thể và đừng quan tâm đến giá cả. Nhưng đừng mua đại mạch còn chưa nảy mầm trong đất mà chỉ mua những hạt mà mắt ngươi nhìn thấy và có thể rơi lọt qua kẽ ngón tay ngươi. Ngươi cũng cần xem liệu có thể mua lại số đại mạch đã được chuyển sang Syria hay không, vì mặc dù hiệp ước hòa bình yêu cầu Pharaon giao đại mạch cho Syria, nhưng Syria cũng nhận được đại mạch từ Babylon nên không cần tất cả số đại mạch đó. Bởi vào mùa thu tới, nạn đói sẽ lan đến xứ Kemet, vì thế kẻ bán lúa mạch từ các kho của Pharaon cho Syria để cạnh tranh với đại mạch của Babylon sẽ bị nguyền rủa.

Nghe tôi nói thế, Kaptah lại khen ngợi sự khôn ngoan của tôi và nói:

- Ông nói đúng, thưa ông chủ, vì ông sẽ là người giàu nhất Ai Cập khi những thương vụ này kết thúc may mắn. Tôi nghĩ mình vẫn có thể mua được đại mạch, mặc dù tôi phải trả với giá cắt cổ. Nhưng kẻ mà ông đang nguyền rủa là vị giáo sĩ ngu ngốc Eje, người đã bán đại mạch của Pharaon cho Syria trong khi đại mạch vẫn còn rẻ sau chiến tranh; và với sự ngu ngốc của mình, ông ta đã bán quá nhiều đại mạch cho Syria, đến mức nước này đủ lương thực trong nhiều năm. Ông ta làm điều này vì Syria trả bằng vàng ngay khi mua và ông ta cần vô số vàng cho lễ kỷ niệm tam thập chu niên của Pharaon. Người Syria sẽ không muốn bán lại số đại mạch này nữa, mặc dù các thương lái đã hỏi mua, họ thu gom đại mạch trong suốt mùa đông mà không bán lại hạt nào. Người Syria là những thương lái xảo quyệt và tôi tin rằng họ sẽ đợi đến khi đại mạch được cân bằng vàng ở Ai Cập. Chỉ khi đó, họ mới bán lại cho chúng ta số đại mạch của chính chúng ta và vơ vét vào hòm của họ tất cả vàng từ Ai Cập, ý tôi là số vàng mà chúng ta, ông và tôi, không đủ sức thu gom, thưa ông chủ.

Nhưng rồi tôi mau chóng quên đại mạch và sự khan hiếm đang đe dọa Ai Cập và cả tương lai đã chìm vào màn đen khi hoàng hôn hắt tia sáng cuối cùng rực màu máu của nó lên Akhetaton, vì tôi nhìn vào đôi mắt của Merit và trái tim tôi uống no say vẻ đẹp của nàng, nàng là rượu trong miệng tôi, là dầu xức trên tóc tôi. Chúng tôi chia tay Kaptah, Merit trải thảm của mình cho tôi nằm và tôi không còn ngần ngại gọi nàng là em gái của tôi, mặc dù đôi khi tôi đã nghĩ rằng tôi không bao giờ có thể gọi bất kỳ người phụ nữ nào là em gái nữa. Nhưng sau tất cả những đam mê và thất vọng tuổi trẻ, tình bạn của Merit với tôi như bánh và rượu, làm cho kẻ đói được no và làm dịu cơn khát của người đang khát và nụ hôn từ đôi môi nàng làm tôi say đắm hơn tất cả các loại rượu của vùng núi và của bến cảng. Nhưng sau khi tôi làm dịu cơn đói nàng và dập tắt cơn khát nàng trong tôi, nàng đã nắm tay tôi trong đêm tối và thở đều đều bên cổ tôi; chúng tôi tâm tình với nhau và trái tim tôi không giấu giếm nàng điều bí mật nào. Tuy nhiên, trái tim nàng vẫn giữ điều bí mật với tôi, mà tôi không đoán được nó là gì, nhưng chắc nó đã được viết trên các vì sao ngay cả trước ngày tôi được sinh ra, vì vậy tôi không muốn bực bội với ký ức của nàng.

Như thế, tình yêu của mình khiến tôi mê đắm và tôi cảm thấy bản lĩnh đàn ông của mình mạnh mẽ hơn thời thanh xuân, vì tuổi trẻ đầy ảo tưởng và yêu đương đau đớn vì ngu ngốc và dại dột, và người trẻ không hiểu được sức mạnh của chính mình, coi sức mạnh là hiển nhiên mà không biết rằng sức mạnh thể chất của con người mất dần đi theo năm tháng khi chạm đến tuổi già. Dẫu vậy, vào những ngày tháng của tuổi già, tôi vẫn ngợi ca tuổi trẻ cùng với những năm tháng trưởng thành của mình, vì có lẽ đói tốt hơn no và có lẽ cơn khát truyền lửa cho suy nghĩ của con người tốt hơn là khi tâm trí đã được rượu làm cho thỏa mãn. Dù sao, trong thời gian ở Thebes này, tôi đã nhận thấy bản lĩnh đàn ông của mình mạnh mẽ hơn cả thời tuổi trẻ, nhưng có lẽ đó chỉ là sự tưởng tượng mà cuộc sống dùng để bịt mắt con người. Vì sự tưởng tượng này, mọi thứ đều đẹp trong mắt tôi và tôi không muốn điều ác cho bất kỳ ai mà muốn tốt cho tất cả mọi người. Thư giãn bên Merit, tôi không còn cảm thấy mình là người xa lạ trên thế gian nữa, mà vòng tay của nàng là nhà của tôi và đôi môi nàng xóa đi sự cô đơn của tôi, thế nhưng cả những điều này cũng chỉ là ảo ảnh mà tôi buộc phải trải qua để rồi không thể nào chịu đựng nổi khi nó tan dần.

Ở Đuôi Cá Sấu, tôi còn gặp lại bé Thoth và lòng tôi ấm lại khi nhìn thấy nó. Cậu bé quàng tay ôm cổ tôi và gọi tôi là “Bố”, khiến tôi không thể không mềm lòng vì nó nhớ quá tốt. Merit nói mẹ bé Thoth đã qua đời và nàng đưa nó về sống với mình vì chính nàng đã bế nó trên tay để người ta cắt bao quy đầu cho nó, do vậy theo tập quán tốt đẹp, nàng cam kết chăm sóc, nuôi dưỡng cậu bé vì bố mẹ nó không thể. Thoth cũng đã về sống ở Đuôi Cá Sấu và khách của quán rượu rất yêu chiều cậu bé, mang đến cho Thoth quà và đồ chơi để làm vui lòng Merit. Cả tôi cũng thích Thoth và khi ở Thebes, tôi đã đưa nó về ở cùng ở xưởng đúc đồng trước đây, khiến Muti vô cùng thích thú. Khi nhìn Thoth chơi dưới gốc cây sung dâu, nghe tiếng nó chơi và cãi nhau với những đứa trẻ đường phố, tôi nhớ lại thời thơ ấu của mình ở Thebes và ghen tị với Thoth bé nhỏ. Cậu bé thích ở nhà tôi đến mức thường ngủ lại và tôi đã dạy nó học để giải khuây, mặc dù cậu bé chưa đến tuổi đi học. Khi thấy Thoth là một đứa trẻ thông minh, nhận diện được rất nhanh các ký tự bằng hình vẽ và ký hiệu, tôi quyết định gửi nó vào trường tốt nhất ở Thebes, nơi chỉ con cái giới quyền quý theo học, và Merit xiết đỗi vui mừng về quyết định của tôi. Muti không bao giờ chán nướng bánh mật ong cho Thoth và kể chuyện cổ tích cho nó nghe, vì bà ấy đã đạt được ước muốn là trong nhà tôi có một đứa bé mà không có mụ vợ, vì mụ vợ có thể quấy rầy bà ấy và hắt nước nóng vào chân bà như các bà vợ thường làm với người hầu sau khi cãi nhau với chồng.

Lẽ ra tôi đã có thể hạnh phúc, nhưng nhiều sự hỗn loạn xảy ra ở Thebes trong thời gian này khiến tôi không thể nhắm mắt làm ngơ. Không ngày nào không có đánh nhau trên đường phố và các khu chợ, người ta ẩu đả nhau đến bị thương, chém toạc đầu nhau trong cơn giận dữ vì Amon và Aton. Lính canh của Pharaon cũng như các quan tòa rất bận rộn vì tuần nào cũng vậy, đàn ông, đàn bà, cả người già và trẻ nhỏ bị trói bằng dây sậy và bị bắt ra khỏi nhà rồi dẫn ra bến cảng, đưa đi lao động khổ sai trên các cánh đồng của Pharaon, và cũng vì Amon mà một số người bị bắt đến các hầm mỏ. Thế nhưng họ không hề ra đi như nô lệ và tội phạm, mà người dân tập trung nơi cầu cảng để tiễn họ và đám đông chen chúc trắng cả các cầu thuyền, gào lên chào họ và ném hoa vào họ, phớt lờ lính canh. Còn họ giơ hai bàn tay bị trói lên và hét to:

- Chúng tôi sẽ sớm trở về.

Một số người còn lắc lắc mạnh đôi tay bị trói và phẫn uất gào lên:

- Nhất định chúng tôi sẽ sớm trở lại và nếm máu của Aton.

Họ kêu lên như thế, và vì dân chúng nên lính canh không dám ngăn cản họ mà chỉ dùng gậy đánh họ khi thuyền đã rời bến.

Như thế, người dân Thebes bị chia rẽ, con xa bố, vợ xa chồng, vì Aton. Như thế, người tôn thờ Aton thì đeo thánh giá sự sống trên cổ hoặc cài trên quần áo, còn những kẻ sùng kính Amon thì xem sừng của Amon là biểu tượng mà từ đó họ nhận ra nhau, và họ đeo sừng Amon lộ liễu trên quần áo hay trên cổ và không ai có thể ngăn cản, vì sừng luôn là hình trang trí được cho phép trên quần áo và đồ trang sức. Nhưng vì sao họ dùng sừng làm dấu hiệu, tôi không biết. Có lẽ đây là sừng con cừu đực của Amon, nhưng một trong nhiều tên khác nhau của Amon cũng được viết giống như từ “sừng” và các giáo sĩ đã tìm được cái tên bị quên lãng này để trao nó cho dân chúng như một dấu hiệu. Nhưng dù là sừng hay tên của Amon, những người đeo nó lật tung giỏ của những người bán cá ngoài chợ, đập vỡ cửa sổ các ngôi nhà, đánh bị thương những người đi lại phía họ và hét lên:

- Chúng tao sẽ húc, sẽ đâm sừng vào Aton.

Còn những người sùng tín Aton bắt đầu giấu trong quần áo những con dao được rèn theo hình thánh giá. Họ dùng những con dao này để tự vệ và gào lên:

- Chắc chắn thánh giá của chúng tao sắc hơn sừng và bằng thánh giá sự sống, chúng tao sẽ cho chúng bay cuộc đời vĩnh cửu.

Và đúng là với những con dao này, họ đã cho nhiều người đến Nhà Chết để sẵn sàng cho cuộc sống vĩnh cửu. Lính canh không hề săn đuổi mà chỉ bao che cho họ ngay cả khi họ xông lại đánh một sừng đơn độc, giết anh ta, lột hết quần áo rồi vứt xác anh ta ra đường phố.

Tôi ngạc nhiên thấy lực lượng của Aton đã tăng lên rất nhiều ở Thebes trong năm qua và lúc đầu tôi không hiểu tại sao lại thế. Nhưng nhiều cư dân đã trốn đi giờ trở lại Thebes và sau khi mất tất cả và nghèo hơn bao giờ hết, họ cay đắng mang Aton theo và bắt đầu buộc tội các giáo sĩ đã đầu độc đại mạch của họ, các quý tộc đã làm tắc nghẽn hệ thống tưới tiêu và lùa gia súc giẫm nát ruộng đồng của họ. Ngoài ra, những người được học chữ viết mới và theo học tại các trường học của Aton rất cuồng nhiệt với Aton, giống như giới trẻ luôn lớn tiếng chống lại lớp người già nua. Tương tự như vậy, các nô lệ và phu khuân vác tụ tập thành nhóm và nói với nhau:

- Chúng ta đã tiêu hao còn một nửa thế này và còn có gì hơn để mất nữa đâu. Với Aton không có chủ nô và nô lệ, không có gia chủ và đầy tớ, còn với Amon chúng ta phải trả cho mọi thứ.

Nhưng những kẻ cuồng nhiệt nhất với Aton lại là bọn trộm cắp, những kẻ trộm mộ và những kẻ phản bội đã giàu lên rất nhanh qua việc bán đứng, khai sai về người khác và bây giờ sợ bị trả thù. Tương tự như vậy, những kẻ bám lấy Aton là những kẻ nhận bổng lộc từ Aton bằng cách này hay cách khác và muốn được Pharaon ân sủng. Cứ thế, dân Thebes bị chia rẽ, cho đến lúc những người ôn hòa và lương thiện chán ngán tất cả, không còn tin tưởng vào thần linh nào, buồn bã than vãn:

- Amon hay Aton đều cùng một giuộc. Chúng tôi chỉ muốn được yên ổn làm việc của mình, miễn sao no đủ, nhưng lại bị lôi kéo từ phía này sang phía khác đến mức không còn biết mình đang đứng bằng chân hay đầu nữa.

Trong thời gian này, người chịu khổ nhiều nhất chính là người trung dung và để cho người khác giữ đức tin của mình. Rốt cuộc, tất cả xông vào tấn công anh ta, vừa buộc tội vừa gièm pha anh ta là lười biếng và thờ ơ, ngu ngốc và chai lì, bướng bỉnh và phản bội, cho đến khi anh ta phát bẳn, xé quần áo và nhắm mắt lấy bừa một cây thánh giá hoặc mẩu sừng, theo cách anh ta nghĩ ít phiền toái nhất cho mình.

Thế là mỗi nhà mỗi dấu hiệu, mỗi khu phố mỗi dấu hiệu, các hầm rượu, quán bia và cả nhà vui cũng chọn cho mình một dấu hiệu, vì thế các sừng uống rượu trong hầm rượu riêng, các thánh giá uống bia trong quán bia riêng; còn các cô gái bán hoa, những người hành nghề bên tường thành, lúc đeo thánh giá, lúc đeo sừng ở cổ, tùy theo dấu hiệu nào làm hài lòng khách của họ. Nhưng đêm đêm, khi thánh giá và sừng say xỉn rời hầm rượu và quán bia, họ đều loạng quạng ra đường phố, đập vỡ đèn và thổi tắt đuốc hay nện thình thịch vào cửa sổ các ngôi nhà và choảng nhau mẻ đầu sứt trán, khiến tôi không còn nói được phe nào tệ hơn, thánh giá hay sừng, nhưng cả hai đều làm tôi khiếp sợ.

Cả Đuôi Cá Sấu cũng buộc phải chọn cho mình một dấu hiệu, mặc dù Kaptah không hề muốn như vậy mà chỉ muốn đứng về bất kỳ bên nào ông ấy có thể lấy được bạc. Tuy nhiên, điều này không còn phụ thuộc vào sự lựa chọn của ông ấy nữa, mà đêm đêm người ta vẽ thánh giá sự sống lên tường của quán cùng với những cảnh dâm dục xung quanh. Điều này khá tự nhiên, vì các lái buôn đại mạch rất hận ông ấy vì đã phân phát đại mạch cho cư dân mới khiến họ bị thiệt hại nặng, nên dù ông ấy đã để Merit đứng tên quán trong sách thuế cũng không giúp được gì. Người ta còn nói các giáo sĩ của Amon đã bị đánh đập trong hầm rượu của ông. Khách thường xuyên của quán là những người giàu có đáng ngờ ở bến cảng, những kẻ không chọn cách làm ăn mà bất chấp để giàu có; thủ lĩnh các nhóm trộm mộ cũng rất thích nốc những bát đuôi cá sấu ở đó và bán đồ đào được từ các ngôi mộ cho những kẻ buôn hàng cấm ở phòng sau của quán. Tất cả những người này đều đứng về phía Aton vì Aton đã làm giàu cho họ và họ có thể nhân danh Aton diệt đối thủ của mình, đưa đối thủ của mình đến hầm mỏ bằng cách làm chứng sai trước quan tòa. Cả những kẻ trộm mộ cũng có thể tự bào chữa việc làm của mình khi giải thích rằng, vì đức tin của mình với Aton, họ đã đập phá các ngôi mộ với lòng nhiệt thành để xóa bỏ tên của thần bị nguyền rủa trên các bia mộ.

Khi tôi ở Thebes, không còn nhiều bệnh nhân đến sân nhà tôi nhờ giúp đỡ mà người ta lảng tránh, không nhìn vào mắt tôi, và khi gặp tôi ở một nơi vắng vẻ, họ nói:

- Chúng tôi không muốn điều gì không tốt cho ông, Sinuhe, vợ con chúng tôi bị nhiều căn bệnh hành hạ, khiến chúng tôi tuyệt vọng và không biết phải làm gì vì không có thầy thuốc nào như ông. Nhưng chúng tôi không còn dám đến nhà ông vì sợ sân nhà ông đã bị nguyền rủa và chúng tôi không muốn tự hại mình.

Họ còn nói thêm:

- Chúng tôi không sợ lời nguyền, vì chúng tôi đã chán ngấy thần linh và của cải chúng tôi còn ít đến nỗi chúng tôi không còn quan tâm đến việc mình sống hay chết. Nhưng chúng tôi sợ lũ sừng, vì chúng phá cửa lều chúng tôi và đánh đập con cái chúng tôi khi chúng tôi đi vắng. Ông cũng biết là ông đã nói quá nhiều về Aton và trên cổ áo ông có dấu hiệu đáng ghét đó.

Tôi nói với họ:

- Ta không bực vì sự ngu ngốc của các ngươi và ta hiểu sự rắc rối mà các ngươi phải chịu. Hãy đến với Amon đi, vì ta nghe nói Amon có cách chữa bệnh rất thần diệu.

Họ nói:

- Sinuhe, ông là một người dũng cảm khi dám nói to mà không sợ lính canh. Thật ra Amon đã chữa nhiều bệnh bằng cách rất khó tin, nhưng bệnh chỉ khỏi trong một thời gian ngắn và chẳng bao lâu sau lại tái phát và còn nặng hơn. Chúng tôi đã biết điều đó, vì thế chúng tôi sợ những cách chữa trị thần bí của Amon, bởi vì chúng trói buộc chúng tôi với lũ sừng đến hết đời, trong khi chúng tôi hoàn toàn không muốn can dự, chỉ muốn tự do sống cuộc sống của mình, không sợ hãi và được yên thân làm việc của mình. Nhưng người ta không cho phép chúng tôi làm điều đó. Vì vậy, hãy tha thứ cho chúng tôi, Sinuhe, nếu vì quyền lợi của mình và của gia đình mình mà chúng tôi không còn dám chào và công khai cúi đầu trước ông như địa vị của ông đáng được nhận.

Nhưng nô lệ và phu khuân vác ở bến cảng vẫn đến nhà tôi khi ngón tay bị kẹt giữa hai thớt cối đá, khi đầu gối bị thương và khi cánh tay bị gãy vì hàng nặng từ tời của cảng rơi trúng. Họ sợ sệt thăm dò xem tôi thế nào và hỏi tôi:

- Có đúng là Aton không, vị thần mà chúng tôi không hiểu vì không có ảnh và tượng, vị thần xếp người giàu và người nghèo ngang nhau và nới lỏng dây trói cho nô lệ? Chúng tôi cũng rất thích được ngả mình dưới những lọng che sang trọng, uống rượu từ những chiếc cốc vàng và để những người khác làm việc cho mình. Chúng tôi biết rằng những người giàu ngày xưa từng làm việc trong hầm mỏ và vợ của họ ăn xin nơi góc phố, những người trước đó không có gì bây giờ đã nhúng bánh vào rượu và nằm nghỉ đêm dưới bóng râm của những lọng vàng. Nếu đã từng có thời gian như vậy, sao nó không thể quay trở lại và có lẽ Aton này sẽ cho chúng tôi thời gian như vậy chăng?

Tôi chữa lành các ngón tay của họ, bó chân hay tay bị gãy của họ vào chỗ cũ, băng đầu gối của họ và nói:

- Thật tình, đừng hỏi ta điều đó vì ta không biết, chỉ Pharaon Ekhnaton mới có được sự khôn ngoan của Aton và Aton đã cho ngài biết kế hoạch của mình. Nhưng ta biết Aton đặt từng người vào chỗ đứng của riêng họ, ban cho họ màu da và ngôn ngữ. Từ xưa đến nay luôn luôn có nô lệ và từ giờ về sau cũng thế; con người ta phải làm việc bằng chính đôi tay mình, chúng ta không thể làm gì với điều đó, vì thế từng người hãy làm việc theo khả năng của mình. Ta e rằng lời các ngươi nói là những lời nguy hiểm, suy nghĩ của các ngươi là những suy nghĩ đáng sợ mà ta thật không muốn lính canh nghe thấy.

Họ nói:

- Sinuhe, chúng tôi giãi bày với ông vì chúng tôi biết ông là một người ngây thơ và chất phác, khi ông chữa bệnh cho chúng tôi mà không đòi quà và ông không muốn điều ác cho cả một con ruồi. Vì thế chắc chắn ông sẽ không tiết lộ những gì chúng tôi nói. Nhưng ông đã hiểu sai lời chúng tôi, vì bản thân chúng tôi cũng hiểu rằng con người ta phải làm việc bằng đôi tay mình, nhưng vì sao chúng tôi sinh ra làm kiếp nô lệ, làm tôi tớ và tại sao những người khác sinh ra ở lầu son và uống bằng cốc vàng, điều đó chúng tôi không hiểu và muốn có lời giải thích. Nếu không, chúng tôi sẽ bắt đầu tin rằng tất cả những điều này là sai trái, nhầm lẫn và có gì đó rất đáng ngờ ẩn giấu phía sau chúng. Rồi một lúc nào đó, có lẽ chúng tôi sẽ đào điều nghi ngờ đó lên và cho những người quyền quý, giàu có và những người bây giờ đánh chúng tôi bằng gậy nếm trải những điều này.

Sự láo xược của họ khiến tôi kinh ngạc nhưng trong đó có ẩn giấu sự thật và tôi vắt óc suy nghĩ để có thể trả lời họ, nhưng tất cả những hiểu biết của tôi không đủ để trả lời, do đó tôi nói:

- Con người là nô lệ nếu tự cảm thấy mình là nô lệ, nhưng trong thâm tâm, mọi người đều biết mình được tự do.

Nghe thế, họ cười, nhạo báng tôi và nói:

- Nếu ông từng một lần bị gậy nện vào lưng, ông sẽ không nói như thế.

Họ còn nói thêm:

- Chúng tôi thích ông, Sinuhe ạ, bởi vì ông là một người dại dột và ngớ ngẩn, ông chữa bệnh cho chúng tôi mà không đòi quà. Vì thế, hãy đến cảng với chúng tôi, chúng tôi sẽ giấu ông trong một sọt sậy rỗng và bảo vệ ông khi cuộc săn lùng chó hung sa mạc bắt đầu. Chúng tôi nghĩ nó sẽ sớm bắt đầu thôi, bởi sức chịu đựng của chúng tôi ngày càng suy giảm, dầu của chúng tôi bốc mùi và chúng tôi không còn gì để mất.

Tuy nhiên, không ai dám săn đuổi tôi vì tôi là danh y hoàng gia và tất cả mọi người trong khu nghèo nơi bến cảng đều biết tôi và công việc của tôi. Vì vậy, tường nhà tôi không bị vẽ thánh giá và hình ảnh dâm dục nào, sân nhà tôi cũng không bị ném xác súc vật và ngay cả những kẻ say rượu nói cười ầm ĩ vào buổi tối cũng tránh nhà tôi khi họ hò hét trên các con phố, gọi tên Amon để chọc tức lính canh. Bởi vì sự tôn kính dành cho những người đeo dấu của Pharaon đã ăn sâu trong máu người dân, cho dù các giáo sĩ đã làm tất cả những gì có thể để người dân tin rằng Pharaon Ekhnaton là một pharaon giả.

Nhưng vào một ngày nóng nực, Thoth bé nhỏ đi chơi bị đánh và chạy về nhà, máu chảy ra từ cái mũi nhỏ xíu và nó bị mất một chiếc răng, mặc dù không nên mất răng vào độ tuổi đang thay răng và miệng nó vốn nhìn đã rất nực cười rồi, giờ càng nực cười hơn. Thoth khóc nức nở mặc dù đã cố gắng tỏ ra dũng cảm, còn Muti vô cùng sợ hãi và bắt đầu khóc vì tức giận khi rửa mặt cho thằng bé. Rửa mặt cho Thoth xong, Muti không thể kìm được cơn tức, bàn tay gầy xương xẩu vớ lấy chiếc chày giặt và hét: “Amon hay Aton gì cũng kệ, nhưng lũ con nhà thằng đan sậy phải ăn cái này”. Tôi chưa kịp cản thì bà ấy đã đi ra và một lúc sau, tiếng khóc của mấy thằng nhóc cùng với tiếng chửi bới và cầu cứu của một người đàn ông to tợn bắt đầu vang lên ngoài đường phố. Từ cổng nhà, tôi cùng Thoth hốt hoảng nhìn theo Muti, thấy bà nhân danh Aton đánh cả năm thằng con trai lẫn người đan sậy và vợ anh ta, khiến anh ta hoài công giơ tay che đầu và bắt đầu chảy máu mũi.

Khi quay trở lại, Muti vẫn thở hổn hển vì tức giận, và khi tôi mắng bà và cố gắng giải thích rằng hận thù sẽ làm nảy sinh hận thù, sự trả thù sẽ gieo rắc trả thù, bà ấy còn giơ chày giặt suýt đánh tôi. Nhưng một lát sau, bắt đầu thấy hối hận, bà để vào giỏ mấy cái bánh mật ong với một hũ bia, lấy quần áo chưa dùng cho người đan sậy và làm lành với anh ta cùng với vợ và các con trai anh ta: “Hãy mắng bọn nhóc của các người, cũng như tôi mắng thằng bé của tôi, ý tôi là con trai của ông chủ tôi. Thật không hay khi những người hàng xóm tốt bắt đầu gây lộn, chửi rủa nhau vì sừng với thánh giá, vì chắc chắn tôi chổng mông mình với bất cứ thần nào làm con trai tôi bị thương và chảy máu mũi”.

Sau lần đó, người đan sậy bắt đầu coi trọng Muti, mặc quần áo bà ấy tặng vào những ngày lễ thánh, các con trai của anh ta làm bạn với Thoth, rủ nhau lấy trộm bánh mật ong từ bếp của chúng tôi và ẩu đả với lũ trẻ thuộc cả phái sừng lẫn phái thánh giá đi vào phố chúng tôi gây rối, và Thoth đã tham gia cùng chúng mà ngay cả đến Seth chắc cũng không phân biệt được thằng bé là sừng hay thánh giá. Nhưng mỗi lần Thoth ra phố chơi tim tôi lại run lên, song tôi không muốn ngăn cản nó, bởi thằng bé phải học cách bảo vệ mình và trưởng thành lên. Tuy nhiên, hằng ngày tôi đều nói với nó: “Thoth ạ, hãy tin ta, lời nói mạnh hơn nắm đấm và kiến thức mạnh hơn sự thiếu hiểu biết”.

❖ 5 ❖

Tôi không còn nhiều điều để kể về lần ở lại Thebes này của mình, nhưng tôi vẫn muốn nói về Thebes vì sau lần này tôi chỉ có tai họa để kể. Vậy nên tôi xin kể: theo lệnh Pharaon, tôi cũng phải đến hoàng cung, mặc dù tôi rất sợ đến đó vì sợ gặp Mehunefer và phải luồn lách qua lính gác lẫn các cận thần như thỏ luồn lách giữa những bụi cây vì sợ bị đại bàng cắn xé. Tôi đã gặp quốc trượng Eje ở đó và ông ta rất buồn rầu, lo lắng nói thẳng với tôi:

- Sinuhe, mọi việc tuột khỏi tay ta và ta sợ rằng ngày mai sẽ còn tồi tệ hơn. Ngươi hãy cố gắng làm cho Pharaon tỉnh ngộ đi, nếu ngươi có thể, còn nếu không, hãy cho ngài uống thuốc mê để ngài ngủ và quên đi hung mộng của mình, vì lệnh ngài ban ra càng ngày càng điên rồ và ta nghĩ ngài hoàn toàn không hiểu được điều gì đang xảy ra. Nói thật, vị của quyền lực đắng ngắt trong miệng ta, cả tên Horemheb chết tiệt đó cũng đang âm mưu chống lại ta, cho chặn những chuyến hàng đại mạch ta đã gửi đến Syria ở Memphis theo thỏa thuận đình chiến để đổi lấy vàng. Tên Horemheb đó ngày càng láo xược, không còn tuân theo mệnh lệnh của ta mà tự ý cai trị Memphis như là người thay Pharaon, mặc dù hắn biết rất rõ rằng ở đây ta là phụ chính. Quả thật, cây trượng trong tay ta chẳng mấy nữa sẽ mất hết quyền năng và roi của ta sẽ không còn đắc dụng vì Pharaon đã cấm tử hình và không cho dùng gậy đánh kẻ phạm tội. Làm sao dân chúng có thể tuân thủ pháp luật một khi kẻ trộm không bị chặt tay làm gương cho kẻ khác và không ai còn bị cắt mũi hay tai. Ta thật không thể hiểu, vì những việc này đã luôn được làm ở mọi thời và lẽ ra cần tiếp tục duy trì để giữ nghiêm quốc pháp. Nhưng sự tôn trọng luật pháp có thể được duy trì như thế nào khi luật pháp bị thay đổi hằng ngày theo ý thích bất chợt của Pharaon và những cuộn giấy trước ngai vàng của ta ngày càng mỏng và sờn thủng khi các thư tịch được cào tẩy và sửa chữa liên tục?

Ông ta đau khổ than vãn:

- Các giáo sĩ của Amon như ong, kiến bâu ở cổ ta, họ là những người khôn ngoan và tôn trọng những tập tục trước đây, sẵn sàng hòa giải theo những điều kiện phải chăng và chấp nhận sự cai trị của Aton bên cạnh Amon, vì họ cũng đã hoảng lên với những hạt mầm đáng sợ của Aton và sợ cả sự gieo rắc chúng của chính mình, bởi đến khi dân chúng không còn tôn kính thần linh nào nữa, họ sẽ sống như sắp đến ngày tận thế và nói rằng: “Hãy ăn nào, hãy uống nào, vì ngày mai chúng ta sẽ chết và chết là hết”. Hãy tin ta, Sinuhe, tất cả những việc này sẽ kết thúc trong cảnh tan hoang khủng khiếp, nếu Pharaon không tỉnh ra, và nếu ngài không thuận lòng tỉnh lại thì cần phải khoan sọ ngài, vậy nên chúng ta cần ngươi, Sinuhe. Ngươi không phải sợ trách nhiệm của ngự y, vì những người khác sẽ chia sẻ trách nhiệm đó với ngươi; ta đã thu thập rất nhiều lời chấp thuận từ các danh y giải phẫu và nghiên cứu hộp sọ của Nhà Sống và họ đinh ninh rằng bệnh của Pharaon Ekhnaton đã quá nặng, vì vậy khoan sọ là việc làm cấp thiết để chữa những cơn đau đầu liên miên của ngài. Cả hai đùi của ngài cũng ngày một sưng tấy và phù lên đến biến dạng và, như ngươi biết, chỉ ngày một ngày hai thôi, ngài sẽ không nhúc nhích được nữa. Nhiều danh y hàng đầu chẩn đoán rằng nước làm người ngài phù lên cũng sẽ dâng lên đầu nên cần phải hút hết nó ra khỏi đầu ngài.

Tôi không muốn tranh luận về y học với ông ta mà chỉ giễu cợt hỏi:

- Lẽ nào những người chủ phái sừng đã chọn người kế vị ngài hay ông sẽ chọn, giáo sĩ Eje?

Ông ta tối sầm mặt, giơ tay lên và nói:

- Giá như ta vẫn là giáo sĩ và được sống yên ổn ở Heliopolis, thu gom mật từ những đàn ong và xức mặt mình bằng dầu thánh. Nhưng mụ đàn bà đáng nguyền rủa đó đã đưa ta đến đây và truyền ham muốn quyền lực của mụ vào máu của ta, khiến ta mất hết tự do và bà ta vẫn đuổi theo ta cả trong mơ. Dù đã chết, nhưng bóng ma của bà ta vẫn nhiều lần xuất hiện trong vọng lâu vườn thượng uyển và trong sảnh cung điện. Không, Sinuhe, ai đã từng nếm trải quyền lực, người đó ngày càng muốn nhiều quyền lực hơn và sự thèm khát này là khủng khiếp nhất trong tất cả những ham muốn của con người, nhưng nó cũng mang lại ánh sáng rực rỡ hơn bất kỳ ham muốn nào khác, nếu được thỏa mãn. Ngươi hãy cảm ơn vận may của mình vì đã không biết đến điều này, Sinuhe, Người Cô Đơn ạ. Thật thế, nếu ta là chúa tể của Ai Cập, ta sẽ biết cách trấn an dân chúng và khôi phục tất cả lại như cũ; quyền lực của Pharaon sẽ mạnh mẽ hơn bao giờ hết khi Amon và Aton cùng nhau cai trị và cạnh tranh quyền lực. Tuy nhiên, để làm được như vậy, Aton nên có ảnh tượng để dân chúng có thể hiểu được thần và nhận ra rằng thần không khác gì các vị thần khác, vì Pharaon Ekhnaton đã hiểu sai điều này đến tai hại và phá hết học thuyết và lý tưởng mà ta đã nhồi nhét cho ngài khi ngài vẫn còn là một đứa trẻ. Ông, Sinuhe ạ, ông biết rõ thầy thuốc phải xử trí như thế nào khi bệnh nhân giận phát điên và trở nên cuồng bạo đến mức không thể kiềm chế. Chẳng phải danh y sẽ lấy dao chọc anh ta và cắm sừng vào cổ anh ta cho máu chảy cho đến khi anh ta bình tĩnh lại? Thật thế, giá mà ta có quyền lực, ta sẽ để cho máu chảy và như vậy chắc chắn dân chúng sẽ hết bạo loạn.

Tôi vẫn không muốn tranh luận với ông ta vì tôi không thể chữa được sự dốt nát của ông ta về các vấn đề y khoa. Vì vậy, tôi lại hỏi:

- Ông đã chọn người kế vị ngài rồi sao, giáo sĩ Eje?

Ông ta khùng lên, giơ cao tay phản đối và nói:

- Đừng nói điều đó với ta, vì ta thật sự không phải là một kẻ phản bội quốc vương mà ta trung thành với ngài, như ông biết. Nếu ta có thảo luận với các giáo sĩ cũng chỉ vì lợi ích của ngài và để bảo toàn quyền uy cho ngài. Nhưng một người khôn ngoan luôn có nhiều mũi tên trong ống để chọn chứ không sử dụng một mũi tên duy nhất. Vì vậy, ta chỉ bóng gió cho ông rằng Sekenre ấy chỉ là một cậu trai và Hoàng hậu vĩ đại trước đây cũng từng treo bộ râu hoàng đế quanh cằm và ngồi trên ngai pharaon để trị vì. Như ngươi biết, ta là cha của Hoàng hậu Nefertiti và dòng máu của ta gắn liền với triều đại của quốc vương. Ta không muốn nói gì khác với ngươi, chỉ ám chỉ điều này để ngươi biết điều gì có lợi cho mình. Theo ta biết, ngươi là người bạn quá tốt của tay Horemheb kiêu kỳ và hợm hĩnh, nhưng anh ta chỉ ngồi trên mũi những ngọn giáo, chỗ ngồi như vậy vốn dĩ không thoải mái và anh ta có thể ngã bất ngờ. Chỉ dòng máu của các pharaon mới kết buộc các ngai vàng với nhau và dòng máu này phải chảy từ trăm năm này sang trăm năm khác như máu thánh trong hoàng cung, gắn kết các vương miện lại với nhau. Nhưng dòng máu này cũng có thể do đàn bà cai trị nếu Pharaon không có con trai.

Những lời ông ta nói khiến tôi kinh hãi, tôi hỏi:

- Ý ông là Horemheb, người bạn của tôi, Horemheb, sẽ ngước lên để giành chiếc vương miện màu đỏ và trắng ư? Điều này thật quá điên rồ và chắc chắn ông đã bị chó dại cắn khi nói như vậy. Chính ông cũng biết là anh ta được sinh ra với phân giữa các ngón chân và đến hoàng cung với tấm vải xám nghèo nàn vắt qua vai.

Nhưng Eje, khuôn mặt sạm đen, sưng phù, u ám và đôi mắt trũng sâu dưới hàng lông mày rậm nhìn tôi vẻ dò xét, rồi nói:

- Ai đọc được lòng dạ con người? Ham muốn quyền lực là ham muốn lớn nhất của con người, nhưng nếu anh ta dám mạo muội nghĩ đến quyền lực, ta sẽ bất ngờ hất anh ta từ trên ngai xuống đất.

Ông ta để tôi đi và những ý nghĩ ong ong trong đầu tôi như ong vỡ tổ, đến nỗi tôi không còn nhớ nhìn ra xung quanh và cứ đi men theo bức tường, vì tất cả những gì ông ta nói về dòng máu hoàng tộc làm lòng tôi như bị thiêu đốt. Hoàng hậu Nefertiti hoàn toàn không có dòng máu hoàng tộc, nhưng nếu Pharaon Ekhnaton qua đời, bà có thể trị vì cho đến khi con gái Meritaton của bà trưởng thành và Sekenre khi đó mới có thể cai trị với tư cách là phu quân của Meritaton. Ngoài Meritaton, chỉ có các con gái khác của Ekhnaton và em gái của Ekhnaton là Baketaton mang dòng máu hoàng gia, không có người con trai nào mang dòng máu hoàng gia ngoài Ekhnaton, điều này được Thái hậu Teje đảm bảo bằng những ma thuật phù thủy và tội ác của mình. Mà không ai biết rằng tôi, Sinuhe, lại có thể là người mang trong mình dòng máu hoàng tộc, dòng máu của Pharaon Đại đế và Công chúa Mitanni. Chỉ những ai có dòng máu thánh mới có quyền kế thừa ngai vàng của các pharaon, do đó tôi có thể có quyền với ngai vàng của các pharaon và chiếc vương miện màu đỏ và trắng, mặc dù không ai biết điều đó.

Nhưng chỉ ý nghĩ đó thôi đã khiến tim tôi run lên, vì trái tim cừu của tôi đã từng khiếp sợ khi chứng kiến việc gieo rắc quyền lực là như thế nào. Tự trong thâm tâm, tôi thấy không có gì đáng sợ và khủng khiếp hơn trách nhiệm với ngai vàng và vương miện, và tôi không thể hiểu nổi tại sao có người lại tình nguyện tranh giành trách nhiệm như vậy. Vì thế tôi coi lời nói của Eje về những toan tính bí mật của Horemheb là điên rồ và tôi thấy may mắn là số phận đã cho tôi vượt sông trên một chiếc thuyền sậy đến khu dân nghèo vào đêm tôi sinh ra, và tôi đã cầu chúc phước lành cho những ngón tay đen của Hoàng hậu Teje, những ngón tay đã đan sậy và giải thoát tôi khỏi vương miện và tất cả những trách nhiệm này. Nhưng tâm trí con người điên rồ và bất nhất đến nỗi bất chấp tất cả những lý lẽ thuyết phục của lý trí, tâm hồn tôi vẫn phải chịu đựng nỗi cay đắng và cảm thấy điều đã xảy ra thật bất công, cho dù lý trí nói rằng đây là một điều may mắn cho tôi vì trái tim tôi không phải là trái tim của một kẻ cai trị mà là của một người trầm lặng.

Tôi bước đi vô định với những ý nghĩ cay đắng nóng rực trong tim, lang thang không nhìn ra phía trước trong hành lang của cung điện và tất nhiên lao thẳng vào vòng tay của Mehunefer, người quản gia của hoàng gia, mặc dù tôi đã nhất quyết làm mọi cách để tránh gặp bà ta. Nhưng có lẽ những suy nghĩ thầm kín của mình, bất chấp ý định trước đó, đã dẫn tôi thẳng đến chỗ bà ta, vì con người ta nhiều lúc không biết đôi chân mình đang làm gì. Tôi vô cùng hoảng sợ khi nhìn thấy khuôn mặt được tô vẽ dày và đôi mắt đen nhỏ ấy, tiếng lẻng xẻng của vô số trang sức quanh cổ và cổ tay bà ta khiến tôi liên tưởng đến tiếng kêu lọc xọc của chiến xa và tiếng loảng xoảng của khiên khi tôi chạy trên cát sa mạc, cổ tay bị buộc vào sau chiến xa của lính Aziru. Nhưng Mehunefer cũng hốt hoảng không kém khi nhìn thấy tôi, vội vàng nắm lấy tay tôi, chớp chớp mắt liếc nhìn xung quanh và kéo tôi vào sau hàng cột, mặc cho tôi ra sức chống cự. Bà ta vừa đưa tay vuốt ve má tôi vừa sợ sệt, lấm lét nhìn xung quanh và nói:

- Sinuhe, Sinuhe, bồ câu nhỏ của tôi, bò đực trung thành của tôi, vậy là cuối cùng anh đã đến đón tôi. Tôi nói như vậy vì tôi đã đi theo anh đến Akhetaton, nhưng bọn đầy tớ của anh đã đối xử rất tệ với tôi, bắt tôi trở lại thuyền và khi tôi nhảy xuống nước để quay trở lại bờ, chúng lại ném tôi xuống nước lần nữa rồi lấy cọc ẩn tôi khiến tôi suýt chết đuối, phải bơi trở lại thuyền và được những người chèo thuyền lấy mái chèo vớt lên, khiến tôi thấy thật nhục nhã. Tuy nhiên, tôi không thù oán anh vì chuyện này, Sinuhe, mà tôi tin rằng đó là do sự dại dột của bọn đầy tớ nhà anh và bản thân anh không có lỗi. Sau đó, tôi nghe nói anh đã từ Akhetaton đi đến Syria vì một nhiệm vụ nguy hiểm và đã có được danh tiếng lớn trong chuyến đi này. Nhưng Sinuhe, tôi không biết sẽ kể tất cả với anh ra sao và tôi sợ sẽ làm tổn thương trái tim anh. Bà ta vặn vẹo đôi tay, vô cùng bối rối, đôi mắt đen tránh không nhìn tôi khiến tôi bắt đầu thấy hoảng sợ hơn trước và không thể nghĩ được điều gì khác ngoài việc bà ta có thể điên khùng khăng khăng rằng đã mang bầu với tôi, mặc dù thật ra tôi không hề đụng vào bà ta theo cách ấy. Nhưng bà ta bắt đầu khóc và níu cánh tay tôi, nói:

- Sinuhe, Sinuhe à, bạn yêu quý của tôi, tôi chỉ là một người đàn bà tội nghiệp và lẽ ra anh đừng để tôi một mình như thế. Tôi không biết làm sao để anh hiểu được tôi khi chính anh cũng thủy chung song nhút nhát, nhưng tôi hy vọng anh sẽ hiểu. Anh nên biết là khi anh đi vắng, một người đàn ông khác đã nhìn tôi đầy thèm muốn và tôi đã xiêu lòng.

Bà ta khóc nức nở và đưa tay vỗ nhẹ vào má tôi để an ủi tôi rồi nói tiếp:

- Thực ra anh ta không phải là người xấu và tôi rất hài lòng về anh ta, mặc dù anh ta không phải dạng người như anh, nhưng lại khỏe như bò đực, đánh đập tôi và giật véo tai tôi. Vì thế tôi van anh, Sinuhe, hãy đi đi để anh ta không thấy anh ở đây với tôi, vì sau đó anh ta sẽ đánh tôi dữ hơn trước và tôi không muốn điều đó, mặc dù tôi thấy sự đau đớn mà anh ta gây ra cũng ngọt ngào. Tha lỗi cho tôi, Sinuhe, nếu chuyện này làm trái tim anh tan nát, nhưng tôi không dám ở bên anh lâu hơn nữa.

Bà ta sợ hãi nhìn tôi, có lẽ cũng sợ bị tôi đánh. Tuy nhiên, nhẹ bỗng người như trút được gánh nặng, tôi chỉ muốn cười to và nhảy cẫng lên vì sung sướng, nhưng tôi giả vờ buồn và nói với bà ta:

- Mehunefer xinh đẹp, chúc bà may mắn, vì hạnh phúc của bà là hạnh phúc của tôi. Nhưng hãy biết rằng hình ảnh bà sẽ luôn ở trong trái tim tôi và tôi sẽ không bao giờ quên bà.

Điều đó hoàn toàn đúng, vì tôi biết mình không thể nào quên được người đàn bà gớm ghiếc này. Bà ta cảm động và vỗ nhẹ đôi bàn tay nhăn nheo của mình lên má tôi, khiến tôi nghĩ bà ta sẽ hôn tôi nếu không sợ tình nhân của mình nhìn thấy. Cuối cùng bà ta nói:

- Sinuhe, rượu và nỗi buồn thương đã khiến tôi nói với anh những điều kỳ quặc vào đêm Thái hậu qua đời, mà tôi cũng không nhớ tất cả những gì mình đã nói và tôi hy vọng cả anh cũng sẽ không nhớ. Nhưng nếu anh nhớ, hãy biết rằng tất cả những gì tôi nói chỉ là lời dối trá và đó là rượu nói qua miệng tôi chứ không phải tôi. Thái hậu là một người phụ nữ tốt, đáng kính trọng và chúng tôi dâng cúng hằng ngày để tưởng nhớ bà và nói về những điều tốt đẹp của bà, nhất là sau khi linh hồn của bà bắt đầu xuất hiện trên lầu trong vườn thượng uyển và đôi khi vào ban đêm ngồi trên ngai vàng của nhà vua trong cung điện với bộ râu hoàng gia trên cằm.

Như thế, tất cả càng thật hư lẫn lộn trong tâm trí tôi, vì rất có thể Mehunefer đã nói dối tôi và bịa ra câu chuyện của mình để khoe khoang khi bị rượu làm cho chếnh choáng. Nhưng Mehunefer đột nhiên ngừng bặt và hét lên, rồi bà ta nhảy ra xa tôi và vừa cố tỏ ra hết sức vui mừng vừa chạy tới viên cai đội Shardana đang đi dọc hành lang về phía chúng tôi. Viên cai đội này là một người to béo, phương phi, đôi mắt đỏ ngầu vì bia và thô lố như mắt bò, hai bàn tay to bè như cái xẻng. Hắn ta vung cây roi có treo những vòng tròn bằng đồng quất vào lưng Mehunefer rồi vừa lắc cổ bà ta vừa nói:

- Nhân danh Seth và tất cả ác quỷ, mày lại lén lút với những thằng đàn ông khác đấy hả, con bò cái già kia.

Từ đó tôi suy ra viên cai đội là tình nhân của Mehunefer, người bà ta vừa kể, và tôi vội vàng lẻn đi, vì hắn đúng là một gã to con và dữ tợn.

Tôi còn đến hậu cung chào Công chúa Babylon, người đã đập vỡ vò với Pharaon Ekhnaton, vì Hoàng hậu Nefertiti đã vội vàng gửi nàng từ Akhetaton đến Thebes, nơi những phi tần khác của Pharaon đang ở. Công chúa là một phụ nữ trẻ và đẹp. Nàng thân mật gợi chuyện với tôi vì tôi biết nói ngôn ngữ của nàng, còn nàng đã học chút ít tiếng Ai Cập, nàng nói nghe ngồ ngộ, đáng yêu. Mặc dù rất không hài lòng với việc Pharaon đã không làm tròn bổn phận của ngài đối với mình, nhưng nàng vẫn tận hưởng cuộc sống của mình ở Thebes và hài lòng với việc ở Ai Cập hơn ở trong hoàng cung của Babylon cửa đóng then cài. Rất ngạc nhiên và ngưỡng mộ cuộc sống ở Thebes, nàng nói với tôi:

- Tôi không hề biết rằng phụ nữ có thể được tự do như ở Ai Cập. Tôi không cần phải che mặt trước đàn ông và có thể nói chuyện với bất cứ ai; tôi không phải làm gì mà chỉ việc ra lệnh là có người chèo thuyền đưa mình sang Thebes; tôi được chào đón ở các yến tiệc trong các nhà quyền quý và không ai thấy khó coi nếu tôi cho phép những người đẹp trai đặt tay lên cổ tôi và hôn má tôi. Nhưng tôi vẫn muốn Pharaon làm tròn nghĩa vụ của mình đối với tôi, để sau đó tôi được tự do hơn nữa và tôi có thể vui vẻ với người mình muốn, bởi vì, nếu tôi hiểu đúng, tập quán ở Ai Cập cho phép làm điều đó, chỉ cần không để lộ cho ai khác biết. Ông có nghĩ Pharaon sẽ sớm gọi tôi đến với ngài để tôi làm tròn nghĩa vụ đối với ngài không, vì khi những người khác vui vẻ xung quanh tôi và kể với tôi bao chuyện thích thú, tôi bắt đầu thấy khó chịu khi mình vẫn chưa được động đến, mặc dù chiếc vò đã bị vỡ ngay trước mặt tôi từ lâu.

Nàng có làn da trắng hơn và đôi mắt nồng nàn hơn mắt của phụ nữ Ai Cập, nên tôi hiểu rõ sự thèm muốn của đàn ông khi họ quàng tay qua cổ nàng. Quả thật, khi nhìn tôi, đôi mắt nàng ánh lên lấp lánh cả một chùm tia nghịch ngợm tinh quái, khiến tôi vô cùng ngượng ngập trước lời nàng nói và không thể trả lời được. Nàng khẽ hé vạt áo trước ra và nói:

- Tôi đoán Pharaon đang lo lắng cho sức khỏe của tôi và đã cử ông là ngự y đến khám cho tôi. Nhưng tôi có thể đảm bảo với ông rằng khí hậu Ai Cập rất thích hợp cho sức khỏe của tôi và điều duy nhất tôi băn khoăn là có lẽ tôi hơi mập để có thể hoàn toàn đáp ứng sở thích của đàn ông Ai Cập. Ông hãy cho tôi biết liệu tôi có mập quá không và tôi có cần giảm cân không? Hãy thật lòng nói điều đó cho tôi với tư cách là một người đàn ông Ai Cập và là người bạn để tôi có thể sửa khiếm khuyết này của mình, vì ở Babylon, phụ nữ càng mũm mĩm thì càng được đàn ông ưa thích, vậy nên tôi đã ăn nhiều đồ ngọt và uống váng sữa để thêm chút da thịt trên người.

Quên mất mình là một danh y, tôi nhìn nàng với con mắt của một người đàn ông Ai Cập và của một người bạn như nàng yêu cầu, tôi đảm bảo với nàng rằng người nàng không có khiếm khuyết gì, rằng phần lớn đàn ông thích thảm mềm hơn thảm cứng và trong việc này không có sự khác biệt giữa đàn ông Babylon và đàn ông Ai Cập. Tuy nhiên, tôi vẫn khuyên nàng nên bỏ đồ ngọt và váng sữa vì cả Pharaon và Hoàng hậu đều gầy và cổ cao, vì vậy cả các quan quyền trong triều đình cũng phải thanh mảnh, có cổ cao và xiêm áo của phụ nữ cũng theo đó mà được thiết kế. Tôi nghĩ những lời tham vấn của tôi đã làm dấy lên những hy vọng hão huyền trong nàng, vì nàng nhìn tôi tin tưởng và nói:

- Tôi có một nốt ruồi nhỏ dưới vú trái, như ông có thể thấy. Nó quá nhỏ nên hơi khó nhận ra, vì vậy ông phải ghé mắt gần hơn để nhìn thấy nó. Mặc dù nhỏ, song nốt ruồi này làm tôi rất khó chịu và tôi muốn ông cắt bỏ nó giúp tôi, vì một số cung nữ từng ở Akhetaton kể với tôi rằng ông làm rất khéo những ca phẫu thuật kiểu này, khiến người bệnh và cả chính mình cũng thỏa mãn.

Cặp bồng đào của nàng quả thật mơn mởn đầy thanh xuân và thật đáng ngắm nhưng qua lời nói và cử chỉ của nàng, tôi nhận thấy nàng đã bị nhiễm sự cuồng nhiệt của Thebes và tôi không dám phá dấu niêm phong khỏi vò của Pharaon. Vì thế tôi xin lỗi nàng, bảo tôi không mang theo hộp đồ nghề rồi vội vàng rời đi, vì cẩn tắc vô ưu và vì với tôi, cơ thể Merit là tuyệt vời nhất, hơn tất cả các công chúa Babylon. Nhưng tôi đã hiểu hơn về Công chúa và qua nàng tôi thấy được Thebes và hoàng cung qua con mắt của người ngoài, hiểu ra đời sống ở hoàng cung sa đọa đến thế nào, vì thế Công chúa, như một đứa trẻ dễ bắt chước, đã bị lây nhiễm những phong tục tồi tệ nhất của Ai Cập. Vì thế tôi kể lại điều này. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận rằng khi bỏ đi, tôi cảm thấy một nỗi sầu muộn nào đó, nhưng không rõ là vì Công chúa hay vì tất cả những suy nghĩ đang ong ong trong đầu mình, tôi không biết. Dù sao, việc tôi rời khỏi hoàng cung sau khi gặp nàng vẫn dễ dàng hơn so với việc phải nhổ những cái gai nhọn mà Eje đã đâm vào tim tôi.

Tôi vẫn cần kể thêm rằng khi tôi ở Thebes, tư tế Hrihor đã đến nhà tôi trong đêm tối để gặp tôi. Ông ấy nhắc tôi nhớ lại tất cả những gì đã xảy ra giữa chúng tôi và nói:

- Sinuhe, hãy nhớ lời hứa của mình! Thuyền đang lao nhanh theo dòng nước xiết, nhưng ông vẫn kịp nhảy vào khoang nếu muốn.

- Tôi không nhớ đã hứa với ông điều gì, - tôi nói với ông ta.

Ông ta nở nụ cười thông thái, xoay xoay chiếc nhẫn thánh của Amon ở ngón tay cái, gương mặt sáng loáng vì dầu thánh và nói:

- Có thể đầu ông không hứa nhưng lòng ông đã hứa, dù ông không biết điều đó. Tuy nhiên, đầu ông phải nhanh lên để theo kịp trái tim mình, vì mùa đông năm sau nạn đói sẽ đến với xứ Kemet, bệnh tật sẽ theo sát gót nạn đói và máu sẽ chảy theo gót bệnh tật, khi đó người khôn ngoan nhất cũng không còn biết điều gì có thể xảy ra.

- Có thể lũ sẽ dễ dâng cao, - tôi nói với ông ta, - khi đó, nước sẽ tràn ra và cuốn trôi tất cả các con đập. Có thể cơn lũ ông gây ra sẽ cuốn trôi ông và các giáo sĩ của ông, Hrihor ạ, tôi hoàn toàn không thể nói được liệu tôi có lấy làm tiếc vì điều đó hay không. Một trận lũ lớn có thể gây ra nhiều thiệt hại nhưng khi rút đi, nó sẽ để lại một lớp bùn màu mỡ hơn bao giờ hết, vì vậy mùa màng sẽ tốt hơn trước gấp trăm lần.

Hrihor không nổi giận, vẫn giữ được sự trầm tĩnh khôn khéo của mình, và nói:

- Sinuhe, ông nghĩ mình khôn ngoan khi nói bóng gió như vậy, nhưng phép ẩn dụ của ông sai rồi. Tôi có thể nói thẳng với ông rằng người ta đang rèn gươm trong bóng tối và ông có thể nhìn thấy những tia lửa bắn ra từ lưỡi gươm. Gươm được rèn bằng sự điên khùng của Pharaon, bằng sự cuồng nhiệt của phe thánh giá, bằng đói khát, bệnh tật và người ta rèn nó cả bằng máu, cho đến khi nó xuyên qua trái tim của Ai Cập. Nhưng khi trái tim một người bị đâm thủng, người đó sẽ chết và không sống dậy được, chỉ có giòi bọ được hưởng lợi từ anh ta và béo ú. Ông muốn để mặc Ai Cập biến thành một vương quốc giòi bọ ư, Sinuhe? Nhưng dù là lũ lụt hay gươm kiếm, thuyền sẽ lao về phía trước với tốc độ ngày càng nhanh, nhưng ông vẫn có thể nhảy vào, Sinuhe, nếu ông muốn. Nếu nhảy quá muộn, có khi ông sẽ rơi xuống nước và chết đuối. Ông sẽ nhảy, Sinuhe, bụng dạ con người là như thế, ít nhất theo tôi hiểu, và tôi có thể bảo đảm điều đó với ông.

Tôi chỉ có thể trả lời ông ta:

- Không ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến.

Ông ta nghĩ tôi yếu đuối, nhưng ông ta không biết dòng máu vương giả có lẽ đang chảy trong huyết quản của tôi. Điều này có thể lý giải cho nhiều hành động của tôi mà tôi không hiểu và không thể tự lý giải. Nhưng có thể ngay cả điều này cũng là giả dối và huyễn hoặc, giống như mọi điều tưởng tượng khác. Vậy thì có lẽ không ai hiểu được trái tim của chính mình, trong khi nó khiến con người làm những việc mà chính mình không hiểu, cả việc xấu xa lẫn tốt đẹp.

Sau khi nói xong những điều này, Hrihor rời nhà tôi trong đêm tối và chúng tôi chia tay nhau, không như kẻ thù nhưng cũng không phải là bạn hữu. Tôi đã ở Thebes suốt cả mùa xuân, rồi hè đến cùng với nắng nóng và ruồi muỗi trong khu phố của người nghèo, nhưng tôi vẫn ở lại mà không muốn rời đi. Cuối cùng, Pharaon Ekhnaton đã cho tìm tôi vì cơn đau đầu của ngài lại tái phát và tồi tệ hơn nên tôi không thể lần lữa được nữa. Vì thế tôi tạm biệt Kaptah tại Đuôi Cá Sấu và Kaptah nói:

- Thưa ông chủ, tôi đã mua cho ông nhiều đại mạch hết mức có thể và trữ trong kho ở nhiều thành phố. Tôi cũng đã cất giấu đại mạch - người khôn ngoan nhìn về phía trước chứ không ngoái lại đằng sau - bởi vì tất cả những quy định và điều luật điên rồ liên tục được ban bố gây trở ngại cho công việc hợp pháp của thương lái và biết đâu đại mạch của ông có thể sẽ bị tịch thu, nếu nạn đói xảy ra, để bán cho người dân và thuế vụ sẽ đút túi lợi nhuận, mặc dù điều này chưa từng xảy ra trước đây vì động vào tài sản và đại mạch của người khác là trái với tập quán tốt đẹp. Nhưng tôi tin bất cứ điều gì cũng có thể xảy ra, như quy định mới cấm đưa chum rỗng sang Syria, khiến cho lợi nhuận của tôi bị giảm đáng kể vì phải tốn kém rất nhiều để bí mật chở chúng sang đó. Tôi thực sự không biết mình đang đứng bằng đầu hay trên đôi chân của mình nữa, vì quy định này cũng vô lý như việc người Syria muốn mua chum rỗng. Việc cấm vận chuyển đại mạch sang Syria cũng vậy, nhưng quy định này là điều hiển nhiên, có thể hiểu được, tuy nó được đưa ra quá muộn, bởi vì khắp Ai Cập không còn đến một hạt để mua và gửi đến Syria. Tôi hoàn toàn không phản đối những quy định hay điều luật đó, bởi vì chúng trấn an người dân và theo tập quán, họ dềnh dàng khi ban chúng ra để thương lái có thời gian kiếm lời và không bị thiệt. Nhưng điều luật liên quan đến chum rỗng thật đáng chê trách và vô lý, mặc dù dĩ nhiên có thể lách luật bằng cách đổ đầy nước vào chum trước khi vận chuyển để không còn là chum rỗng và việc chở nước vẫn chưa bị đánh thuế, cho dù thuế vụ của Pharaon đã nghĩ ra nhiều cách đánh thuế khác nhau.

Kaptah còn nói thêm:

- Cứ yên tâm, ông chủ ạ, vì qua mùa đông, nhờ đại mạch của mình, ông sẽ là người giàu nhất Ai Cập, chỉ kém Pharaon, nếu không có gì bất ngờ xảy ra. Nhưng tôi vẫn phải thừa nhận rằng tôi đang hết sức bối rối vì tình hình bất ổn giữa sừng với thánh giá. Nếu tôi công nhận Pharaon là một vị vua giỏi thì chỉ vì tôi đã giàu lên rất nhiều trong thời gian trị vì của ngài, tuy vậy, tôi vẫn muốn quyền trị vì của ngài chấm dứt và tất cả trở lại như trước để tôi có thể bình an và yên tâm tận hưởng sự giàu có của mình dưới sự bảo vệ của các quy định và luật pháp tốt. Tôi không hiểu nổi đám nô lệ của mình nữa, vì bây giờ chúng rất táo tợn và ngày càng hỗn láo hơn, không chịu ăn bột mốc, dầu thiu nữa mà chúng ném bát ăn vào mắt cai đội; thậm chí tôi không dám dùng gậy đánh chúng, vì đã có chuyện nô lệ nhào đến bẻ gãy gậy của chủ và đánh chủ rồi bỏ trốn, điều mà trước đây chưa bao giờ xảy ra. Thế nên cần treo ngược mấy đứa nô lệ đó lên tường để làm gương cho những đứa khác và tôi sẽ không phàn nàn về thiệt hại của mình, cho dù trong số đó có nô lệ của tôi.

Tôi nhắc ông ấy nhớ rằng bản thân ông ấy cũng từng là nô lệ và đã trải qua cuộc sống của nô lệ, nhưng Kaptah rất bực bội về điều này và nói:

- Đúng, nô lệ là nô lệ và ông chủ là ông chủ, trật tự này là sự xếp đặt tốt nhất, xưa đã thế và sau này vẫn thế. Sự sắp đặt này không có gì sai và tôi là minh chứng tốt nhất cho điều này, vì tôi, vốn là một nô lệ, bây giờ là một người giàu có và béo tốt nhờ khả năng và tài trí vốn có của mình. Điều tương tự có thể xảy ra với bất cứ nô lệ nào nếu hắn có trí thông minh và tài giỏi, biết cách nói dối và trộm cắp như tôi. Chẳng phải trật tự này là sự sắp xếp tốt nhất có thể hay sao, vì nó mang lại cơ hội như nhau cho tất cả mọi người. Ngoài ra, đồ ăn của nô lệ luôn là bột mốc, dầu thiu và bia chua, trong việc này không có gì cần thay đổi. Tương tự như vậy, nô lệ phải bị đánh bằng gậy thường xuyên và thật đau để hắn tin và tôn trọng chủ của mình cũng như ca ngợi với nhau sức mạnh của cánh tay chủ mình, vì một nô lệ không bị đánh bằng gậy sẽ lập tức trở nên táo tợn và nghĩ chủ của mình yếu đuối. Tôi biết rõ hơn ai hết tất cả những điều này, vì bản thân tôi từng là nô lệ, mông và chân tôi đã sưng tấy nhiều lần vì những trận gậy ngọt ngào và điều này không hại tôi mà đã dạy tôi cách ăn trộm và nói dối ngày càng tinh ranh hơn, đến mức tôi cũng vui lòng dạy cho nô lệ của mình.

Thật vô bổ khi tranh cãi với ông ấy về chuyện này, vì thế tôi chia tay ông ấy cũng như Merit và bé Thoth. Thật tệ hại khi tôi không thể đưa họ đi cùng trong chuyến xuôi sông này như tôi từng muốn, vì lệnh của Pharaon yêu cầu tôi phải đi gấp và đương nhiên họ chẳng thích thú gì điều này. Tôi nói với Merit:

- Em và bé Thoth hãy đi cùng anh và ở nhà anh ở Akhetaton, để chúng ta có thể hạnh phúc bên nhau.

Nhưng Merit nói:

- Anh bứng hoa nơi hoang mạc trồng vào đất màu mỡ và tưới nước hằng ngày, hoa sẽ héo rồi chết. Em nghĩ mình cũng thế nếu đến Akhetaton, và tình bạn của anh với em sẽ héo úa, lụi tàn khi anh so sánh em với các cung nữ trong cung, khi họ chỉ trỏ để anh thấy những gì em khác biệt với họ, vì em quá biết đàn bà và cả đàn ông nữa. Ngoài ra, thật không xứng với địa vị của anh, một ngự y, khi có trong nhà một người đàn bà từng lớn lên trong quán rượu, hông với eo bị những kẻ say xỉn sờ mó, cấu véo hết năm này sang năm khác.

Tôi nói với nàng:

- Merit, em yêu của anh, anh sẽ về bên em ngay khi có thể, vì mỗi phút giây thiếu vắng em, anh thấy đói và khát. Nhiều người đã rời Akhetaton mãi mãi không quay lại, có lẽ anh cũng sẽ về với em và sẽ không bao giờ trở lại Akhetaton nữa.

Nhưng Merit nói:

- Anh nói nhiều hơn những gì trái tim anh có thể chịu đựng, Sinuhe ạ. Em hiểu anh và em biết rằng địa vị của anh không cho phép anh từ bỏ Pharaon khi những người khác rời bỏ ngài. Anh có thể từ bỏ ngài vào những quãng thời gian tốt đẹp, nhưng trong những ngày tồi tệ anh không thể làm thế. Trái tim anh là vậy, Sinuhe ạ, có lẽ chính vì thế em là bạn của anh.

Những lời nói của nàng khiến tim tôi nổi loạn và họng tôi như bị kim châm khi nghĩ rằng mình có thể sẽ mất nàng. Vì thế tôi tha thiết nói:

- Merit ạ, trên thế gian có rất nhiều miền đất chứ không phải chỉ có Ai Cập. Anh thấy mệt mỏi với những mâu thuẫn, tranh giành giữa các thần linh và sự điên khùng của các pharaon. Vì vậy, chúng ta hãy cùng nhau trốn đi đâu đó thật xa và sống cùng nhau, em, anh và bé Thoth, không cần lo lắng về ngày mai.

Nhưng Merit mỉm cười, vẻ buồn rầu trong mắt, và nói:

- Lời anh nói thật hão huyền và chính anh cũng biết là không thực tế, nhưng lời nói dối của anh lại làm lòng em vui vì nó chứng tỏ anh yêu em. Tuy nhiên, em không nghĩ anh có thể sống hạnh phúc ở bất kỳ nơi nào khác ngoài Ai Cập một khi anh đã trở lại nơi đây, cũng như em không tin mình có thể sống hạnh phúc ở bất cứ đâu ngoài Thebes. Ai đã từng một lần uống nước sông Nile, anh hẳn biết điều đó. Không, Sinuhe, không ai trốn được khỏi trái tim mình, và anh phải có được tất cả. Vì vậy, theo thời gian, khi em già đi, xấu xí và béo phì, anh sẽ chán em và bắt đầu hận em vì tất cả những gì anh không được nếm trải do em. Em không muốn thế, mà em thà từ bỏ anh.

- Merit ạ, em là nhà của anh và là tổ quốc của anh, - tôi nói. - Em là bánh mì trong tay anh và rượu trong miệng anh, em biết rõ điều đó. Em là người duy nhất trên thế gian khiến anh không còn cô đơn khi ở bên và anh yêu em vì điều đó.

- Đúng thế, - Merit nói với giọng hơi chua chát. - Quả thực, em chỉ là tấm chăn đắp lên nỗi cô đơn của anh, khi em chưa là tấm thảm sờn của anh. Nhưng có lẽ chỉ cần như vậy và em không mong điều gì khác. Vì vậy, em cũng không kể cho anh bí mật giày vò trái tim em, dù có lẽ anh nên biết, nhưng em sẽ giữ nó cho riêng mình, mặc dù những lúc mềm lòng em từng định nói với anh. Nhưng vì chính anh, em sẽ giấu nó, Sinuhe, chỉ vì chính anh.

Nàng không thổ lộ bí mật của mình với tôi, vì nàng tự trọng hơn tôi và có lẽ cũng cô đơn hơn tôi, mặc dù lúc đó tôi không hiểu và lúc nào cũng chỉ nghĩ đến mình. Tôi tin rằng tất cả đàn ông đều như vậy khi yêu, mặc dù tôi nói điều này không phải để bào chữa cho mình, bởi nếu đàn ông tin rằng họ nghĩ về điều gì khác ngoài bản thân khi yêu thì đó chỉ là ảo tưởng, cũng như bao nhiêu điều khác trên thế gian cũng chỉ là ảo tưởng.

Thế là một lần nữa, tôi rời Thebes trở lại Akhetaton và sau lần này, tôi không còn gì khác để kể ngoài tai họa. Vậy nên tôi muốn kể lể dài dòng như thế về thời gian tôi ở Thebes, mặc dù tất cả những điều này có lẽ cũng chẳng đáng để kể, nhưng tôi vẫn kể vì chính bản thân mình.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của mika waltari