
❖ 1 ❖
Chắc ai cũng đã từng nhìn thấy nước chảy ra từ đồng hồ nước như thế nào. Thời gian của con người cũng trôi đi như vậy, nhưng thời gian của con người không đo được bằng đồng hồ nước mà bằng tất cả những gì xảy ra với họ. Đây là một sự thật lớn lao và cao cả mà người ta chỉ có thể hiểu được vào tuổi xế chiều, khi thời gian trôi đi hoài phí và không có gì xảy ra; mặc dù ta luôn nghĩ sẽ có nhiều điều xảy ra, nhưng ngay sau đó lại nhận ra chẳng có gì. Bởi nếu có nhiều chuyện xảy ra trong một ngày, đến mức trái tim con người thay đổi và biến dạng, thì khi ấy một ngày với người đó có thể dài hơn một, hai năm so với khi anh ta làm việc và sống một cuộc đời đơn giản khiến mình không thay đổi. Ở thành phố Akhetaton, tôi đã nhận ra được sự thật này, vì ở đó thời gian của tôi giống như dòng nước chảy và cuộc đời tôi giống như một giấc mơ ngắn hay một bài hát hay ngân lên hoài phí. Mười năm sống dưới bóng của Pharaon Ekhnaton trong cung điện vàng của ngài ở thành phố Akhetaton với tôi còn ngắn hơn cả một năm tuổi trẻ, thời mà tôi có các chuyến đi và những ngày xảy ra nhiều điều khiến mỗi ngày dài hơn cả năm trường.
Trong thời gian này, kiến thức và kỹ năng của tôi không được bổ sung thêm, trái lại tôi đã phung phí những điều mình thụ đắc được những ngày còn trẻ ở nhiều miền đất, như con ong vào những ngày đông tiêu cạn kiệt số mật mà nó đã tích góp được về tổ của mình trong mùa hoa nở. Nhưng có lẽ thời gian đã bào mòn trái tim tôi như nước chảy chầm chậm bào mòn đá và có lẽ trong khoảng thời gian đó trái tim tôi đã đổi thay, mặc dù bản thân tôi không nhận ra, bởi tôi không còn quá cô đơn như trước. Có lẽ tôi cũng đã trầm lặng hơn và không còn khoe khoang về bản thân và kỹ năng của mình nhiều như trước, nhưng đây chắc không phải là công của bản thân tôi mà chỉ vì Kaptah không sống cùng tôi; ông ấy sống trong nhà tôi ở Thebes, trông coi tài sản và lợi tức của tôi cùng với quán rượu có tên Đuôi Cá Sấu của ông.
Thành phố Akhetaton tự thu mình trong vỏ bọc, trong những giấc mơ và ảo vọng của Pharaon Ekhnaton; thế giới bên ngoài không quan trọng đối với nó mà mọi chuyện xảy ra ngoài ranh giới của Aton đều xa vời, không thực như ánh trăng trên mặt nước và sự thật duy nhất là những gì xảy ra bên trong nó. Sau này nghĩ lại, tôi thấy có lẽ tất cả những điều này đã sai, có lẽ thành phố Akhetaton cũng như tất cả những gì đã xảy ra ở đó chỉ là một cái bóng và đẹp đẽ bề ngoài, còn sự thật ở bên ngoài ranh giới của thành phố là đói khổ và chết chóc. Bởi vì tất cả những gì khiến Pharaon Ekhnaton không hài lòng, người ta đều giấu ngài, hoặc nếu có điều gì đó buộc phải có quyết định của ngài, nó được bọc trong vải mềm, tẩm mật ong và lúa mạch đen thơm, cẩn trọng dâng cho ngài để đầu ngài không bị đau nhức.
Điều đó thường xảy ra vì con người ta yếu đuối và không ai muốn mất ân sủng của Pharaon khi thường xuyên kể cho ngài những điều khó chịu. Nhưng tôi tin và biết rằng như thế cũng chỉ vì tình thương yêu ngài, vì bất cứ ai yêu kính ngài đều muốn ngài càng ít đau đớn và buồn phiền càng tốt.
Ngay cả những sự việc và tai ương nhỏ nhặt cũng tác động đến ngài mạnh hơn so với người thường, khiến ngài bất an và trở nên lo lắng bồn chồn, bệnh của ngài sẽ tái phát và nhiều người yêu thương ngài sợ ngài sẽ không sống nổi nếu ngài biết hết mọi chuyện xảy ra bên ngoài ranh giới thành phố của mình. Tôi tin và biết Pharaon Ekhnaton chỉ muốn sống trong sự thật và sẽ là người đầu tiên quở trách những ai muốn che giấu ngài sự thật vì yêu thương ngài. Nhưng vì ngài chỉ chăm chăm nhìn vào cõi vĩnh hằng, nên tất cả đối với ngài chỉ là cái bóng mờ ảo, và vì thế với ngài mọi chuyện xảy ra bên ngoài thành phố của ngài thậm chí còn mỏng manh hơn cái bóng mờ ảo ấy. Sự thật cũng có thể được kể bằng nhiều cách khác nhau, êm dịu và khéo đến mức khó nhận ra đó là sự thật.
Trong thời gian này, giáo sĩ Eje nắm quyền ở Thebes như là người cầm trượng quyền lực bên phải nhà vua và trên thực tế Thebes vẫn là thủ đô thật sự của cả hai vương quốc, vì Pharaon Ekhnaton bỏ lại ở đó tất cả những gì buồn tẻ và khó chịu trong bộ máy triều đình như sưu thuế, thương mại, tòa án và không muốn nghe gì về những điều đó mà hoàn toàn tin tưởng Eje, cha đẻ của Nefertiti, quốc trượng của ngài, một người đầy tham vọng. Như thế trên thực tế, giáo sĩ Eje trị vì cả hai vương quốc, vì mọi việc liên quan đến đời sống của dân chúng, dù là nông dân hay thị dân, đều nằm trong tay ông ta. Khi Amon bị lật đổ, không còn thế lực nào kìm hãm quyền lực của Pharaon, mà trên thực tế là quyền lực của Eje, ông ta rất thỏa mãn với điều này vì hy vọng đất nước sẽ dần dần ổn định, thoát khỏi ách Amon. Bởi vậy không có gì làm ông ta hài lòng hơn thành phố Akhetaton, nơi giữ Pharaon ở xa Thebes, và ông ta đã làm những gì có thể để gom góp tiền của vào việc xây dựng, làm đẹp thành phố và liên tục gửi đến những món quà sang trọng, quý giá khiến Akhetaton ngày càng đẹp hơn trong mắt Pharaon. Như thế, đất nước quả thật đã có thể yên bình và mọi thứ trở lại như trước, chỉ là không có quyền lực của Amon, nhưng Pharaon Ekhnaton là cây gậy giữa tăm bánh xe và là hòn đá làm lật cỗ xe của ông ta.
Bên cạnh giáo sĩ Eje, Horemheb nắm quyền ở Memphis, nằm trên biên giới giữa hai vương quốc, lãnh trọng trách về trật tự, an ninh của đất nước, nên thật ra anh ấy là sức mạnh trong cây gậy của những người thu thuế và là sức mạnh trong những chiếc búa tạ của thợ đục đá khi những người này đục xóa tên của Amon khỏi tất cả các tượng đài, bia ký và xông vào cả các hầm mộ để tẩy xóa cái tên này. Pharaon Ekhnaton cũng sai mở lăng mộ của cha mình để xóa tên Amon. Đến Eje cũng không phản đối ngài, chừng nào ngài vẫn bằng lòng với trò giải trí trẻ con ấy, và ông ta thấy tốt nhất cứ để mọi suy nghĩ của ngài vướng bận vào những việc thần linh, tín ngưỡng này, những việc không ảnh hưởng đến cuộc sống hằng ngày của dân chúng.
Vì vậy, sau những ngày kinh hoàng ở Thebes, cả Ai Cập như mặt nước phẳng lặng, không cơn bão nào tàn phá sự yên bình của nó trong một thời gian. Giáo sĩ Eje đã giao việc thu thuế cho các tổng trấn, điều này giúp ông ta tiết kiệm rất nhiều công sức, còn các tổng trấn bán quyền thu thuế cho các lại viên thuế vụ của các thành phố, làng mạc và trở nên rất giàu có. Đến lượt các lại viên thuế vụ của các thị trấn và làng mạc lại tiếp tục cho không biết bao người giúp việc thuê lại quyền này và trở nên giàu có, và những người giúp việc thu thuế cũng không nghèo đi khi làm việc này, vì họ dùng gậy để đảm bảo quyền lợi của mình. Như thế trong một thời gian, bề ngoài mọi việc vẫn diễn ra như trước và nếu người nghèo kêu than về thân phận mình, rắc tro lên tóc sau khi người thu thuế rời đi, thì đó là điều không lạ với người nghèo trong mọi thời kỳ.
Nhưng sự ra đời của công chúa thứ tư ở Akhetaton là tai họa lớn, hơn cả sự sụp đổ của Simyra ở Syria, và Hoàng hậu Nefertiti bắt đầu nghi ngờ mình bị bỏ bùa, chỉ sinh con gái, nên đã đến Thebes cầu xin các phù thủy da đen của Hoàng thái hậu trợ giúp. Quả thật, hiếm có người đàn bà nào sinh liên tiếp bốn con gái mà không sinh nổi một con trai. Thế nhưng đây chính là số phận của Hoàng hậu, sinh hạ cho Pharaon Ekhnaton cả thảy sáu công chúa mà không có một hoàng tử nào, và cũng là định mệnh của Pharaon Ekhnaton.
Thời gian trôi đi, tin từ Syria ngày càng đáng lo hơn và mỗi khi có thuyền mang tin đến, tôi lại vào văn khố hoàng gia để đọc những lời kêu cứu mới từ các bảng đất sét. Khi đọc chúng, tôi như thấy những làn tên bay chiu chíu xung quanh mình và mùi khói từ những đám cháy bốc lên trong mũi tôi. Tôi nghe trong những lời lẽ tôn kính tiếng gào của những người đàn ông hấp hối và tiếng kêu cứu của trẻ em bị hành hạ, vì quân Amori là đội quân dã man và tràn đến gây chiến dưới sự chỉ huy của các võ quan Hittite, vậy nên dần dần, không một đơn vị đồn trú nào ở Syria có thể chống cự được với chúng. Tôi đã đọc các bảng đất sét của vua Byblos và Thái tử Jerusalem nhắc tới tuổi tác và sự trung thành của họ, những kỷ niệm và tình bạn của họ với phụ vương của Pharaon để mong Pharaon Ekhnaton cứu giúp, cho đến khi ngài quá đau đớn và tức giận trước lời cầu xin của họ, truyền gửi thẳng thư của họ tới văn khố mà không hề đọc, nên chỉ các ký lục và tôi là những người đọc chúng. Nhưng các ký lục chỉ đánh số và sắp xếp chúng theo thời gian nhận được chứ không quan tâm đến nội dung.
Sau khi Jerusalem thất thủ, cả những thành phố cuối cùng trung thành với Ai Cập ở Syria cũng liên minh với vua Aziru, trong số ấy có Joppa. Khi đó Horemheb từ Memphis đến Akhetaton để xin lập quân đội cho cuộc chiến ở Syria, vì anh ấy không thể đến Syria tổ chức phản công nếu không có binh lính, bởi như thế anh sẽ mất hết danh tiếng. Cũng vì danh tiếng mà từ trước đến giờ anh ấy chỉ tiến hành cuộc chiến bí mật bằng thư từ và vàng để giữ lại cho Ai Cập ít nhất một chiến tuyến ở Syria. Anh ấy nói với Pharaon Ekhnaton:
- Xin quốc vương cho phép hạ thần trả lương cho ít nhất một trăm lần một trăm giáo thủ và cung thủ với một trăm cỗ chiến xa, thần sẽ lấy lại toàn bộ Syria cho ngài, vì quả thật, nếu cả Joppa cũng bị thất thủ thì quyền lực của Ai Cập ở Syria sẽ mất.
Pharaon Ekhnaton rất lấy làm tiếc khi biết tin Jerusalem bị tàn phá, vì ngài đã sai làm nhiều việc nhằm biến nó thành thành phố Aton để trấn an Syria. Vì vậy, ngài nói:
- Ông già Jerusalem này, có bộ râu dài mà ta không còn nhớ tên, vốn là bạn của phụ vương ta và ta gặp ông ấy trong cung điện ở Thebes hồi còn bé. Vì thế để bồi hoàn cho ông ấy, ta sẽ tiếp tục cấp hưu bổng cho ông ấy từ Ai Cập, mặc dù doanh thu từ thuế giảm mạnh kể từ khi giao thương với Syria chấm dứt.
Horemheb nói:
- Tâu quốc vương, ông ta không còn vui lòng với tiền hưu và vòng cổ Ai Cập nữa. Vua Aziru đã sai lấy hộp sọ của ông ta làm chiếc bát đẹp, mạ vàng và gửi nó làm quà cho vua Shubbiluliuma ở Khattushash, nếu như quân do thám của thần không nhầm.
Mặt Pharaon thoắt tái nhợt và mắt ngài bắt đầu đỏ lên, nhưng ngài cố kìm cơn đau và bình tĩnh nói:
- Thật khó tin như thế về một vị vua như Aziru, người mà ta đã nghĩ là bạn và ta đã vui lòng gửi thánh giá sự sống, nhưng có lẽ ta đã nhìn nhầm ông ta và tim ông ta đen hơn ta nghĩ. Nhưng Horemheb ạ, đề nghị của khanh về giáo binh và các cỗ xe là bất khả thi, vì ta mới nghe người dân xì xào về mức thuế và mùa màng cũng không như ta mong đợi.
Horemheb nói:
- Tâu quốc vương, vì Aton của ngài, hãy trao cho thần lệnh của ngài cùng với mười cỗ chiến xa và mười lần mười giáo binh để thần có thể đi đến Syria và cứu vãn những gì còn có thể cứu được.
Nhưng Pharaon Ekhnaton nói:
- Vì Aton ta không thể tham chiến, bởi đổ máu là một điều ghê tởm đối với ngài và ta thà buông bỏ Syria còn hơn, hãy để cho Syria được tự do và lập liên minh của họ và chúng ta sẽ giao thương với họ như trước, vì nếu không có ngũ cốc của Ai Cập, Syria sẽ không có đủ cái ăn.
- Quốc vương có thực sự nghĩ họ sẽ bằng lòng với điều đó không, thưa ngài? - Horemheb kinh ngạc hỏi. - Mỗi người Ai Cập bị giết, mỗi bức tường bị phá, mỗi thành phố đầu hàng đều kích động lòng tự tôn của họ và khiến họ cố giành thêm những điều không tưởng. Sau Syria sẽ đến các mỏ đồng ở Sinai và nếu Ai Cập mất chúng, chúng ta sẽ không còn rèn được giáo và tên nữa.
- Chẳng phải ta đã nói giáo gỗ là thích hợp cho các vệ binh ư, - Pharaon Ekhnaton cáu kỉnh nói. - Sao ngươi tra tấn tai ta khi liên tục nói về giáo mác và mũi tên, đến mức những từ ngữ đó ong ong trong đầu khi ta đang cố sáng tác một bài thơ ca ngợi Aton.
- Sau Sinai sẽ đến lượt miền Hạ, thưa quốc vương. - Horemheb chua chát nói. - Như ngài đã nói, Syria sẽ không thể làm gì được nếu không có ngũ cốc của Ai Cập, mặc dù thần biết rằng bây giờ họ nhận ngũ cốc từ Babylon. Nhưng nếu ngài không sợ Syria, ít nhất hãy sợ người Hittite vì tham vọng quyền lực của họ là vô biên.
Pharaon Ekhnaton bật cười tỏ vẻ thương hại, như một người Ai Cập sáng suốt vẫn cười khi nghe lời nói ngớ ngẩn, và ngài nói:
- Chừng nào chúng ta còn nhớ được, không kẻ thù nào đặt chân được đến miền đất đen và sẽ không có kẻ nào dám làm điều đó, vì Ai Cập là vương quốc giàu có và hùng mạnh nhất thế giới. Nhưng ta có thể nói để trấn an ngươi, vì ngươi mê thấy nhiều điều tồi tệ quá. Hittite chỉ là đám mọi rợ chăn thả gia súc trong vùng núi nghèo nàn của họ và đồng minh của chúng ta ở Mitanni sẽ là lá chắn của chúng ta để chống lại họ. Ngoài ra, ta đã gửi thánh giá sự sống cho quốc vương Shubbiluliuma và thể theo đề nghị của ông ta, ta đã gửi cả vàng cho ông ta để ông ta có thể cho dựng tượng ta trong đền của mình, thế nên ông ta sẽ không quấy nhiễu sự bình yên của Ai Cập. Ta gửi vàng cho ông ta mỗi khi ông ta yêu cầu mặc dù dân ta rên rỉ về thuế khóa và ta cũng không muốn lấy sưu thuế đày đọa dân ta.
Các mạch máu trên mặt Horemheb căng phồng lên, nhưng anh ấy đã quen kiềm chế nên không nói gì thêm mà chỉ đi theo tôi khi tôi nói là thầy thuốc, tôi không cho phép anh ấy làm phiền Pharaon thêm nữa. Nhưng khi vừa bước vào nhà tôi, anh lấy roi vàng quất tới tấp vào chân mình và nói:
- Thề với thần Seth và tất cả ma quỷ, cứt bò rải trên đường còn hữu ích hơn thánh giá của ngài ta. Nhưng điều điên rồ nhất là khi ngài nhìn thẳng vào mắt tôi và thân mật đặt tay lên vai tôi như bạn bè, tôi tin sự thật của ngài, mặc dù tôi biết rất rõ rằng mình đúng, ngài sai. Thề có thần Seth và tất cả ma quỷ, ngài ta được nhồi đầy sức mạnh trong thành phố được sơn vẽ loang lổ như một ả điếm và có mùi nhà thổ. Thật vậy, nếu có thể dẫn từng người trên trái đất này đến trước mặt ngài, để ngài có thể tiếp chuyện với từng người và đưa những ngón tay mềm mại của mình chạm vào họ, thì tôi nghĩ thế giới có thể thay đổi, nhưng điều đó là không thể.
Để làm Horemheb vui lên, tôi nói có lẽ điều đó là có thể. Anh ấy phấn chấn hẳn và nói:
- Nếu điều đó có thể, thực sự cần có một cuộc chiến lớn để tôi có thể dẫn tất cả đàn ông, đàn bà và trẻ em trên thế giới đến trước ngài để ngài có thể tiếp năng lượng của mình cho họ và làm mới trái tim họ. Nói thật, tôi nghĩ nếu tôi ở đây lâu, ngực tôi cũng sẽ phồng lên như đám cận thần của ngài và có lẽ tôi đã bắt đầu cho trẻ con bú.
Anh ấy bắt viên ký lục của mình tính xem sẽ mất bao lâu nếu từng người trên thế giới hiện diện trước Pharaon Ekhnaton, trong lúc đó chúng tôi đến xưởng của Thotmes, bạn chúng tôi, vì Horemheb vẫn nhớ lời Thotmes hứa sẽ tạc cho anh một bức tượng và tôi biết trong hầm của Thotmes có rượu ngon. Cửa sổ nhà anh ta nhìn ra hướng bắc, ánh sáng tràn ngập các phòng, anh ta có nhiều nô lệ và môn đệ phụ giúp mọi công việc, nên sân nhà anh ta giống như một mỏ đá với đủ loại đá, không khí trong các phòng đặc quánh bột màu khô và bụi đá vụn. Anh ta ra đón chúng tôi, tóc, mặt ướt đẫm mồ hôi, đôi mắt sáng rực và nói rằng Hoàng hậu Nefertiti đang ngồi làm mẫu, không được phiền người. Nhưng sau khi nghe tiếng chúng tôi, Nefertiti cho phép chúng tôi ngồi lại nhìn người, vì càng được nhiều đàn ông nhìn và ngưỡng mộ thì Hoàng hậu càng thêm phấn khích. Người hầu của Thotmes mang rượu cho chúng tôi và cả Nefertiti cũng uống với chúng tôi. Hoàng hậu đưa bàn tay xinh đẹp đặt khẽ lên ngực, mắt sáng long lanh nhìn Horemheb và nói:
- Horemheb, ta thường lấy làm ngạc nhiên tại sao ngươi chưa chịu chọn hôn thê cho mình, dù bao nhiêu cung nữ than vắn thở dài vì ngươi? Hãy nói cho ta biết lý do vì sao để tiêu khiển ta một chút, vì ta ngồi đây thật khó chịu và Thotmes này rất buồn tẻ, lạnh lùng nhìn ta và nói rằng má ta tóp lại, đang xấu đi trong mắt anh ta.
Horemheb sững sờ trước câu hỏi của Hoàng hậu, mặt thoắt đỏ tía, nhưng anh ấy có thời gian để nghĩ câu trả lời của mình, vì Thotmes ném đục và búa xuống sàn, bật khóc vì mệt mỏi và nói:
- Nói thật, Hoàng hậu này làm tôi phát điên với những lời nói của người và ngày lại ngày Hoàng hậu lấy móng tay cào cấu trái tim tôi vì biết rất rõ ai đã từng nhìn thấy người thì không thể nghĩ tới bất cứ điều gì khác ngoài vẻ đẹp của người. Vì Aton, hãy để tôi yên, người phụ nữ khủng khiếp kia, vì tôi đã năm lần tạc người vào đá nhiều màu và cả người tôi nóng bừng bừng, khi nhìn khuôn mặt, thân hình và chiếc cổ mảnh mai của người thì đá không còn nằm trong tay tôi nữa. Thưa Nefertiti, lần sau thần sẽ tạc người vào gỗ, thần sẽ tạc người và vương miện vào gỗ cứng để có thể tô màu của người lên gỗ, vì có lẽ người sẽ sống trên gỗ tốt hơn trên đá. Với đôi má hóp, người xinh đẹp, sống động hơn bao giờ hết và không người phụ nữ nào có thể đội vương miện hoàng hậu tốt hơn người.
Nhờ thế, Horemheb có thời gian để suy nghĩ, trấn tĩnh lại và nói theo Thotmes:
- Thưa Hoàng hậu Nefertiti, làm sao thần có thể nghĩ đến ai khác khi đã thấy người, và cũng không thèm bận tâm đến các cung nữ của Hoàng hậu, vì thần đã nhiều lần vui thú cùng họ đủ để biết rằng thịt da họ mịn như vỏ trứng, mềm như lông tơ, nhưng đầu họ đặc sệt như phân và thần không hề ngạc nhiên khi họ buộc phải dùng chỏm đầu giả. Nhưng Hoàng hậu là một phụ nữ thông minh và được thừa hưởng ánh mắt sáng lạnh lùng từ quốc trượng, người có tài cai quản đất nước tuy có cổ hủ. Sao Hoàng hậu không khuyên Pharaon mà lại để ngài ngày càng chìm sâu vào những điên rồ, khiến chúng ta không còn biết mình đứng bằng đầu hay bằng chân và màu đen hóa thành trắng trong mắt chúng ta.
Nefertiti nhìn quanh và khi không thấy ai khác ở gần, người mới nói:
- Trong ngài ấy âm thịnh dương suy và nếu ta nói điều gì khiến ngài khó chịu thì tất cả chất đàn ông của ngài biến mất. Vì vậy, tốt hơn hết ta không nói chuyện quốc gia đại sự với ngài, dù vận mệnh vương quốc rơi hết xuống vực sâu của địa ngục cũng kệ, vì điều quan trọng hơn tất cả là ta phải sinh cho ngài một hoàng tử. Vì vậy, ta không thể để ngài bỏ ta quay sang phi tần nào khác. Nhưng theo thời gian, tiếng cười đông cứng trong miệng ta và thái dương ta đau nhức khi nghĩ đến sự điên rồ của ngài, đến nỗi mỗi cái động chạm của ngài đều khiến ta khó chịu và bụng ta bắt đầu đau nhói khi buộc phải nuốt từng từ sắc bén có thể làm tổn thương ngài. Sinuhe, là một danh y, chắc ngươi có thể giải thích điều đó tốt hơn ta, vì quả thực ta đã từng nghĩ một hoàng hậu vĩ đại như ta phải có một cuộc sống tốt hơn nhiều, thế nhưng ngài đã biến ta thành bò cái sinh nở hết năm này đến năm khác, khiến má ta hóp lại, ánh mắt bớt long lanh và thân hình ta trở nên xấu xí, mặc dù ở độ tuổi này đáng ra ta vẫn còn rực rỡ lắm.
Chúng tôi đồng thanh nói với Hoàng hậu rằng người đã quá lời về tác hại của kỳ thai nghén tới vóc dáng của mình, vì thân hình người vẫn còn mảnh mai và xinh đẹp như của thiếu nữ và Hoàng hậu làm như vô tình hở vạt váy để chúng tôi có thể chiêm ngưỡng cái bụng mịn màng, trơn bóng của người. Nhưng Thotmes trở nên trầm tư và nói:
- Hạ thần hiểu gần như tất cả những điều Hoàng hậu nói, chỉ một điều thần không rõ là tại sao Hoàng hậu có thể nói trong Pharaon âm thịnh dương suy, vì theo thần biết thì Hoàng hậu làm gì có ai khác để mà so sánh.
Lần này đến lượt Nefertiti đỏ mặt và nhìn sang hướng khác, ra chiều lưỡng lự; điều này khiến tôi rất vui vì rõ ràng Hoàng hậu vẫn còn rất ngây thơ. Nghĩ một lát, Hoàng hậu nói:
- Thotmes thật khiếm nhã, nhưng ta không thể mong đợi điều gì khác ở anh ta, vì anh ta được sinh ra với phân dính giữa các ngón chân. Nhưng dù sao ta cũng đã đọc thơ và nếu như ta không có ai khác để so sánh, ít nhất ta đã từng thấy những người thợ xây cởi bỏ khố, áo ướt đẫm mồ hôi và nhảy xuống sông bơi. Nhưng những bài thơ cho ta biết nhiều điều hơn mắt mình.
Hoàng hậu mỉm cười mơ màng và trầm giọng nhắc lại:
Nếu ta là mảnh vải quấn quanh hông em,
Nếu ta là mùi dầu xức trong mái tóc em,
Nếu ta là rượu ngọt trong miệng em.
Rồi người thở dài và nói:
- Các nhà thơ nói như vậy đấy, nhưng còn ngài, ngài nói về Aton cả khi trên giường và ta không nghĩ người đàn bà nào có số phận hẩm hiu hơn ta. Ta có gì vui đâu, dù khuôn mặt ta xinh đẹp, vì làn gió xuân chưa bao giờ vuốt ve mơn trớn nó.
Thotmes lại gần Hoàng hậu, đôi mắt nâu vui vẻ thẫm đen lại vì cảm xúc và anh nói:
- Nefertiti, xin người đừng giễu cợt nguồn gốc xuất thân của thần, bởi vì thần sinh ra trong xưởng chứa các cỗ chiến xa và máu của người lính chảy trong huyết quản của thần, nhưng đôi tay thần làm đá sống lại. Nefertiti, hãy giơ tay lên, để gió xuân hôn lên mặt Hoàng hậu và dòng máu nóng hôn khắp thân thể người.
Nefertiti mỉm cười, mơ màng nhìn về nơi xa xăm bằng đôi mắt sáng và nghiệt ngã. Hoàng hậu từ từ nghiêng chiếc cốc trong tay để phần rượu còn lại trong cốc tràn xuống đất và ngắm nhìn rượu thấm vào nền đất. Rồi người đặt cốc sang bên và đứng dậy bước tới chỗ Thotmes, vuốt mớ tóc đẫm mồ hôi trên trán anh ta và nhè nhẹ áp môi mình lên đó. Hoàng hậu không hối tiếc vì đã nói chuyện với chúng tôi, trái lại rất vui và khi ra về người vẫn còn lảo đảo. Nhưng khi người đi khuất, tôi nói với Thotmes:
- Mắt anh đỏ như bị sốt và anh ra quá nhiều mồ hôi. Tôi nghĩ một chuyến đi ngắn sẽ giúp anh sảng khoái và khỏe khoắn lên. Vì Aton, anh nên theo Horemheb đến Memphis và tạc tượng của anh ấy ở đó để anh ấy có thể dựng tượng ở quê hương Hetnetsut của mình như đã dự định. Ở Memphis cũng có những cô gái xinh đẹp và rượu ở đó nghe nói rất ngon.
Nhưng Thotmes nói:
- Cậu nói ngu như một mụ già ấy, Sinuhe ạ, vì tôi có vô số công việc dở dang ở đây và ý tưởng sáng tạo sôi sục trong tôi như nhựa trong cây. Tôi có thể tạc tượng Horemheb ở đây, chỉ cần đầu tiên vẽ anh ấy, rồi lấy các điểm chính ở thân hình và đúc mẫu khuôn mặt vào thạch cao.
- Sinuhe ạ, - Horemheb chen vào, - nhân nói về chuyến đi, cậu cũng nên đến Thebes để nhìn ngó xung quanh vì ở đây, trong thành phố của những người thong manh và mơ ngủ này, các cậu sẽ không tin nếu tôi kể những gì đang xảy ra ở Ai Cập và những gì dân chúng đang xì xào. Đúng đấy Sinuhe, cậu nên đến Thebes rồi về kể lại cho Pharaon những gì cậu thấy, vì Pharaon tin cậu và nghe cậu.
Anh ấy nhổ nước bọt xuống đất rồi dùng chân chà nước bọt và nói:
- Nefertiti này có lẽ không phải là người chung giường dễ chịu, dù nhìn ngắm bà ta thì cũng thích đấy, vì trí thông minh của bà ta sắc nhọn như dao, miệng bà ta đầy ong độc và tôi nghĩ không chóng thì chầy bà ta sẽ bắt đầu vui thú với những người lạ, nếu như tôi am hiểu đủ về đàn bà.
Thotmes nổi xung lên vì những lời này, nhưng tôi trấn an anh ta và nói:
- Đúng là tôi nên đi Thebes để gặp Kaptah, nhưng giường của tôi ở đây dễ chịu, tôi đã quen với những món ăn đầu bếp của tôi nấu, chân tay tôi đã mềm yếu và thân thể tôi không còn chịu được sự rung lắc của thuyền. Hơn nữa, tôi không biết mình có đủ dũng khí để kể cho Pharaon những gì mình nhìn thấy không, bởi vì ngài chỉ muốn nghe nói về những đứa trẻ béo tốt, những người vợ hay cười và cả những người chồng không ngớt chửi rủa nhân danh Aton, trong khi từ lời khuyên của anh, tôi có thể đoán mình sẽ phải kể cho ngài nghe điều gì đó làm ngài buồn. Horemheb ạ, tôi cũng nghe nói những con cá sấu đã chứng tỏ sự khôn ngoan của chúng khi theo anh đến Memphis, vì quản giáo và lính canh của anh thường hay cho chúng ăn cho dù lượng đánh bắt không được nhiều như ở Thebes.
Horemheb uống cạn cốc rượu của mình, đổ đầy cốc rồi lại nốc cạn một hơi và nói:
- Thật tình tôi chỉ ước mình là cá sấu mỗi khi nghĩ đến tương lai Ai Cập. Thôi kệ. Nếu Sinuhe cũng không muốn giúp, có lẽ tôi không biết làm gì khác ngoài việc say xỉn như trước đây mỗi khi nghĩ về tương lai của Ai Cập dưới thời Pharaon Ekhnaton.
❖ 2 ❖
Sau khi Horemheb đã trở lại Memphis, những lời anh ấy nói bắt đầu hành hạ tâm trí tôi và tôi tự trách mình là người bạn xấu của anh ấy và là phò tá tồi cho Pharaon. Nhưng giường của tôi rất mềm và dễ chịu, đêm đến tôi ngủ dưới lọng che và đầu bếp của tôi tẩm ướp những con chim nhỏ trong mật ong cho tôi, trên bàn ăn không thiếu món linh dương nướng và nước chảy nhanh trong đồng hồ nước của tôi. Meketaton, công chúa thứ hai của Pharaon, mắc bệnh suy nhược, rồi sốt và bắt đầu ho, hai má đỏ bừng vì sốt và Công chúa gầy rộc khiến xương đòn nhô cao dưới làn da. Tôi cố gắng tăng lực cho cô bé bằng thuốc bổ và bắt cô uống vàng pha loãng. Tôi nguyền rủa số phận mình vì những cơn bệnh của Pharaon vừa dứt thì con gái ngài lại phát bệnh nên tôi không thể yên thân cả ngày lẫn đêm. Cả Pharaon cũng bắt đầu lo lắng, vì ngài rất yêu thương các hoàng nhi; hai công chúa lớn, Meritaton và Meketaton, được theo ngài lên ban công cung điện vào những ngày ngài xuất hiện trước dân chúng và ném dây chuyền vàng hay biểu tượng hoàng gia cho những người mà Pharaon muốn ban thưởng.
Bản tính của con người là vậy, vì ốm yếu, bệnh tật mà công chúa này được Pharaon yêu quý nhất trong bốn hoàng nhi, ngài cho con gái những quả bóng bằng bạc và ngà voi và một con chó nhỏ để nó theo Công chúa từng bước và nằm bên chân giường canh giấc ngủ cho Công chúa. Bản thân Pharaon cũng trằn trọc, hao gầy vì lo lắng và ngài thức dậy nhiều lần trong đêm lắng nghe hơi thở của hoàng nhi đang bệnh tật, từng tiếng ho của Công chúa như nhát dao cứa trái tim ngài.
Bản tính con người cũng thật kỳ lạ, cô bé ốm yếu này có ý nghĩa đối với tôi hơn cả tài sản của tôi ở Thebes và Kaptah, hơn cả năm mất mùa ở Ai Cập cũng như trận đói khát khiến nhiều người chết ở Syria vì Aton. Tôi đã dồn tất cả kiến thức và tài nghệ của mình để chữa cho cô bé và lơ là các bệnh nhân thuộc giới thượng lưu bị các căn bệnh do quá no đủ, đặc biệt là đau đầu, bởi chính Pharaon cũng bị đau đầu. Tôi có thể thu được rất nhiều vàng nếu chịu xoa dịu cơn đau đầu của họ, nhưng tôi chán vàng và chán phải khom lưng cúi đầu, vì vậy tôi thường xuyên gắt gỏng với bệnh nhân của mình nên mọi người nói: “Danh tiếng danh y hoàng gia đã bốc lên đầu Sinuhe và khi tưởng Pharaon nghe lời mình, ông ta quên những gì người khác nói với mình”.
Nhưng khi nghĩ đến Thebes, Kaptah và quán rượu Đuôi Cá Sấu, nỗi sầu muộn xâm chiếm tâm trí tôi và lòng tôi dâng lên cơn thèm khát, như thể không thức ăn nào có thể khiến nó nguôi ngoai. Tôi cũng nhận thấy tóc mình rụng dần, đỉnh đầu bắt đầu lộ ra dưới lớp tóc giả và có những ngày tôi quên việc của mình, hết mơ màng lại lang thang trên những con phố của Babylon và ngửi thấy mùi ngũ cốc đang dần khô trên nền đất sét cứng. Tôi nhận thấy mình mập ra và đêm đêm có những giấc mộng nặng nề dai dẳng; tôi thở dốc khi tản bộ ngay cả những quãng đường ngắn, mặc dù trước đây tôi chưa từng hụt hơi sau những quãng đường dài, vì vậy ghế kiệu không thể rời tôi.
Trái tim tôi cũng quá lười biếng, nói với tôi:
- Ngươi sướng thật, Sinuhe, chiếc giường của ngươi thật dễ chịu, là danh y khoan sọ hoàng gia, ngươi không cần lo kiếm miếng ăn. Ngươi có những người bạn vui vẻ rót rượu cho ngươi, tôn trọng lời nói của ngươi và luôn coi ngươi là người thông thái. Mắt ngươi chiêm ngưỡng vẻ đẹp của nghệ thuật mới và nhiều nghệ sĩ đã vẽ những hình ảnh kỳ diệu và sống động trên bức tường trong phòng ngươi khi ngươi chữa cho tay họ khỏi run vì say xỉn sau khi uống. Ngươi còn được Pharaon ban cho một ngôi mộ ở vùng núi phía đông, được Pharaon và các công chúa ban phước và sẽ tồn tại vĩnh hằng trong những bức tường của hầm mộ. Vì sao ngươi phải lo lắng về ngày mai, vì những ngày sắp tới của ngươi cũng sẽ chỉ giống như hôm nay. Còn nếu ngày mai không như thế, ngươi cũng không thể thay đổi được gì, bởi vì ngươi chỉ là con người, ngươi đã làm tiêu tan quá nhiều niềm vui và trộn ngải đắng vào cốc vui của Aton. Sao ngươi phải chuốc vạ vào thân và làm mình buồn khổ, vì biết nhiều chỉ buồn thêm, và không có từ nào diễn tả đúng hơn về điều đó.
Tôi đã có những cuộc trò chuyện như vậy với trái tim mình, nhưng đột nhiên tôi cảm thấy ghê sợ với ý nghĩ ngày mai sẽ lại như hôm nay và cuộc đời tôi sẽ không có gì khác hơn những điều đã xảy ra hôm nay. Trái tim con người thật điên rồ, không bao giờ hài lòng với phận mình mà làm mọi cách để xáo trộn sự bình yên và gieo rắc bất ổn, vì vậy tôi đã quá chán trái tim mình.
Nhưng khi mùa thu đến, nước lại dâng lên và chim én từ bùn dưới đáy sông lại ngoi lên và bay vút vào không trung với đôi cánh đập không ngừng nghỉ, sức khỏe của con gái Pharaon có những dấu hiệu bình phục, Công chúa đã mỉm cười và không còn thấy đau ở ngực nữa. Trái tim tôi bay theo cánh én và tôi lên thuyền để ngược sông trở về Thebes. Pharaon cho phép tôi đi và qua tôi gửi lời chào đến những người đã chia nhau đất của thần giả và bắt đầu trồng trọt bên bờ sông. Ngài cũng qua tôi gửi lời chào đến những ngôi trường mà ngài đã cho dựng lên và hy vọng tôi sẽ có nhiều điều tốt lành để kể cho ngài khi trở lại.
Vì vậy, tôi thường cho thuyền ghé vào bờ nơi có làng mạc và cho phép các già làng đến gặp để tôi có thể nói chuyện với họ. Và chuyến đi của tôi không gặp rắc rối như tôi lo ngại vì cờ của Pharaon treo trên cột buồm và giường của tôi trong khoang rất dễ chịu. Đầu bếp của tôi cũng đi theo và dân tất cả các làng đều mang quà lên cho anh ta nên đồ ăn của tôi luôn tươi ngon. Nhưng những cư dân mới đến gặp tôi, chồng thì gầy giơ xương, vợ lấm lét, sợ hãi nhìn quanh, giật mình trước từng tiếng động và con cái họ ốm đau, chân vòng kiềng. Họ cho tôi xem chỗ hạt lúa mạch mới được non nửa thùng và đầy những đốm đỏ như thể máu chảy trên đó rồi nói với tôi:
- Lúc đầu chúng tôi nghĩ mùa màng thất bát là do thiếu kinh nghiệm, bởi trước đây chúng tôi chưa gieo cấy bao giờ. Chúng tôi nghĩ vì lỗi của mình nên được ít lúa mạch như vậy và gia súc bị chết, nhưng bây giờ chúng tôi mới biết đất Pharaon ban cho chúng tôi là đất bị nguyền rủa và người gieo trồng nó cũng bị nguyền rủa. Đêm đêm những bàn chân vô hình giẫm nát ruộng đất của chúng tôi, đêm đêm những bàn tay vô hình chặt cây ăn trái của chúng tôi, gia súc của chúng tôi tự nhiên chết, kênh mương tưới tiêu của chúng tôi bị tắc nghẽn và chúng tôi thấy xác súc vật trong giếng nước, khiến cả nước chúng tôi cũng không có để uống. Nhiều người đã bỏ ruộng đất của họ, trở về thành phố thậm chí còn nghèo hơn trước và nguyền rủa tên của Pharaon và thần của ngài. Nhưng chúng tôi đã gắng gượng cho đến nay vì hy vọng và tin vào thánh giá nhiệm mầu cùng các chiếu, cáo Pharaon ban mà chúng tôi treo lên cọc giữa cánh đồng để xua đuổi châu chấu. Nhưng phép nhiệm mầu của Amon mạnh hơn phép của Pharaon, dù chúng tôi liên tục cầu xin thần của Pharaon, song điều đó cũng không giúp ích được gì. Vì vậy, đức tin của chúng tôi lung lay và sẽ không lâu nữa đâu, chúng tôi sẽ từ bỏ vùng đất bị nguyền rủa để không bị mất mạng như vợ con của nhiều người.
Tôi cũng đã đến xem trường học của họ và khi thấy thánh giá của Aton trên quần áo của tôi, các thầy giáo đã thành kính giấu ngay gậy của họ và đưa tay làm dấu thánh Aton, còn những đứa trẻ ngồi xếp chéo chân thành hàng ngay ngắn trên nền đất nện và nhìn tôi quên lau cả nước mũi. Các thầy giáo nói:
- Tất nhiên chúng tôi biết không có gì điên rồ hơn cho rằng mọi đứa trẻ đều nên học đọc và học viết, nhưng điều gì chúng tôi không làm cơ chứ vì chúng tôi yêu Pharaon và ngài là cha, là mẹ của chúng tôi và chúng tôi tôn kính ngài vì ngài là con trai thần của ngài. Tuy nhiên, chúng tôi là những người đàn ông có học và sao có thể ngồi trên sàn đất nện lau mũi những đứa trẻ bẩn thỉu và vẽ những ký tự xấu xí lên cát, vì chúng tôi thậm chí không có bảng viết cũng như bút sậy để dùng, và những chữ cái mới này hoàn toàn không biểu thị được học vấn và kiến thức mà chúng tôi đã học được với rất nhiều khó khăn và phí tổn. Cha mẹ bọn trẻ trả công cho chúng tôi thất thường và ít ỏi, thật không xứng; bia của họ nhạt và chua, dầu bị ôi thiu trong vò của chúng tôi. Mặc dù vậy chúng tôi vẫn làm tất cả những việc này để Pharaon thấy không thể dạy tất cả trẻ em đọc và viết, mà chỉ những đứa trẻ giỏi nhất với cái đầu thật mềm mới học đọc và học viết được. Chúng tôi cũng nghĩ bắt lũ con gái học viết là điên rồ, vì điều đó chưa bao giờ xảy ra và chúng tôi đoán ký lục của Pharaon đã mắc lỗi khi viết điều này, điều đó cũng cho thấy cách viết mới này không hợp và không hoàn thiện như thế nào.
Tôi đã xem thử học vấn của họ và trình độ của họ không làm tôi hài lòng, tôi còn không hài lòng hơn khi nhìn vào khuôn mặt sưng phù và cái nhìn lảng tránh của họ, vì họ là những viên ký lục kém cỏi không được ai thuê làm nữa. Trình độ có hạn, họ nhận ấn triện của Aton chỉ để kiếm bánh mì cho mình và nếu trong số họ có bất kỳ ngoại lệ nào để tôi có thể khen ngợi, thì một con én cũng không làm nên mùa xuân.
Những cư dân mới và người già trong làng cũng nhân danh Aton và nói:
- Thưa ngài Sinuhe, xin ngài tâu với Pharaon rằng ít nhất nên gỡ gánh nặng học hành này cho chúng tôi vì nếu không, chúng tôi không thể sống được nữa khi con trai chúng tôi từ trường về nhà với những vết gậy bầm tím trên lưng, tóc trên trán bị giật đứt và những ông thầy ghê gớm này ăn thịt chúng tôi một cách vô độ như bầy cá sấu. Không có gì vừa lòng họ, mà họ còn khinh rẻ bánh và bia của chúng tôi, moi đến tấm đồng và tấm da bò cuối cùng của chúng tôi để mua rượu và khi chúng tôi ra đồng, họ vào nhà chúng tôi, ăn nằm với vợ chúng tôi rồi nói đó là ý muốn của Aton, rằng không có sự khác nhau giữa người đàn ông này với người đàn ông khác và người đàn bà này với người đàn bà kia.
Nhưng Pharaon chỉ cho phép tôi chào đón họ nhân danh ngài nên tôi không thể giúp họ được gì. Tuy nhiên, tôi nói:
- Pharaon không thể làm tất cả mọi việc thay các ông, mà lỗi cũng ở từng người các ông một khi Aton không ban phước cho các ông và đồng ruộng của các ông. Tôi cũng biết các ông là những người đàn ông tham lam, không muốn cho con cái mình đi học vì các ông cần chúng làm công việc đồng áng, và các ông bắt con trai của mình đào kênh tưới tiêu trong khi bản thân nằm dài lười biếng. Tôi cũng không thể giữ sự trong trắng của vợ các ông, vì họ tự quyết định muốn ăn nằm với ai. Tôi xấu hổ thay Pharaon khi nhìn các ông vì ngài đã giao cho các ông nhiệm vụ lớn lao và các ông tự quyết làm sao để hoàn thành nó, để có thể tạo ra một thay đổi lớn trên thế giới. Nhưng thay vào đó, các ông đã tàn phá những cánh đồng màu mỡ nhất của Ai Cập, giết mổ và bán đàn gia súc đã được các giáo sĩ mất công thuần hóa.
Nhưng họ hét to:
- Thật tình chúng tôi không muốn thay đổi gì trong cuộc sống của mình, vì ở thành phố dù nghèo nhưng chúng tôi vẫn thấy hạnh phúc và mỗi ngày đều được thấy điều gì đó mới mẻ, còn ở đây chúng tôi không thấy gì ngoài những cái rãnh đất sét và những con bò cái luôn kêu ò ọ. Những người từng cảnh báo chúng tôi đã đúng khi họ nói: “Hãy coi chừng từng sự đổi thay, vì đối với người nghèo mọi thay đổi đều theo hướng tồi tệ hơn và dù có bất cứ thay đổi nào trên thế giới, anh có thể chắc chắn rằng đồng thời, lương thực của người nghèo cũng giảm dần và dầu vơi đi trong các hũ của họ”.
Trái tim tôi mách bảo rằng về điều này họ đã đúng nên tôi không muốn đôi co thêm với họ nữa mà tiếp tục hành trình của mình. Nhưng tim tôi trĩu nặng và tôi tự hỏi vì sao tất cả những gì Pharaon Ekhnaton động đến đều đem lại tai họa, khiến những người siêng năng trở nên lười biếng và chỉ những người khốn khổ nhất quây quần bên Aton như ruồi bu quanh xác chết. Nhưng tôi cũng nhớ lại mình đã nghĩ gì khi xuôi dòng sông trước khi xây dựng Akhetaton, rằng tôi không còn gì để mất, vậy tại sao không theo Aton chứ. Vậy tôi có quyền gì trách cứ những kẻ lười biếng, tham lam và đáng thương, những kẻ không có gì để mất nếu đi theo Aton, mang theo sự lười biếng, khốn khổ và tham lam của họ. Vì điều tôi đã làm trong những năm qua là sống như một con mồi ký sinh trong hoàng cung của Pharaon và chỉ trong một tháng duy nhất, với tư cách là thầy thuốc của người nghèo ở Thebes, tôi đã làm được nhiều việc cho mọi người hơn tất cả những năm vàng son và no đủ ở thành phố Akhetaton.
Một ý nghĩ đáng sợ cũng xâm chiếm trái tim tôi: Pharaon muốn đến một lúc nào đó sẽ không còn kẻ nghèo hay người giàu, mà tất cả sẽ như nhau. Nhưng nếu đúng như vậy và điều này là mục đích duy nhất thì lúc đó dân chúng, những người làm công việc tay chân, sẽ là chính, còn những người khác chỉ là lớp vỏ vàng trên bề mặt. Và có lẽ chính Pharaon và cận thần trong cung điện vàng của ngài cùng với những người giàu sang và quyền quý cũng như những người rỗi rãi, nhàn hạ, và cả bản thân tôi trong những năm tháng cuối này, chỉ là những kẻ ăn bám, ký sinh trên đôi vai người dân như bọ chét sống trong lông chó. Có lẽ bọ chét trong lông chó nghĩ rằng nó mới là chính, còn con chó sống chỉ để nuôi nó béo mầm. Có lẽ cả Pharaon và Aton của ngài cũng chỉ là con bọ trong lông chó, chỉ gây ra phiền hà cho chó chứ không đem lại điều gì tốt đẹp, vì chó có thể sống khỏe hơn nếu không có bọ chét.
Thế là trái tim tôi lại bừng tỉnh sau một giấc ngủ dài, chối bỏ thành phố Akhetaton. Tôi nhìn xung quanh với cặp mắt mới và không thấy điều gì tốt đẹp quanh mình. Nhưng có lẽ tất cả là vì ma thuật của Amon vẫn bí mật cai trị toàn bộ Ai Cập, lời nguyền của thần này đã khiến mắt tôi nhìn thấy ngược và Thành phố Thiên Đường là nơi duy nhất ở Ai Cập mà quyền lực của thần này không với tới được. Cái gì là sự thật trong tất cả những điều này, tôi không thể nói, vì có những người luôn nghĩ theo một cách và rụt đầu vào mai như những con rùa khi thấy điều gì đó mới mẻ, còn suy nghĩ của tôi luôn thay đổi theo những gì tôi đã thấy, đã nghe và đã hiểu, và nhiều điều tôi đã thấy hoặc nghe cũng đã ảnh hưởng đến suy nghĩ của tôi, mặc dù tôi chưa hiểu nó.
Vậy là tôi lại nhìn thấy ba ngọn núi ở đường chân trời, ba vệ sĩ vĩnh cửu của Thebes; mái và những bức tường thành của ngôi đền cũng hiện lên trước mắt tôi, song đỉnh của các tháp hình kim không còn lấp lánh như lửa trong ánh sáng ban ngày vì không ai mạ vàng chúng lại. Nhưng cảnh quan này thật thân thương với trái tim tôi và tôi đã đổ rượu từ cốc của mình xuống dòng nước sông Nile, giống như các thủy thủ khi trở về nhà sau một chuyến đi dài, mặc dù họ đổ bia vào nước sông chứ không phải rượu, vì đồng của họ ít nên nếu có được và đủ mua rượu trên đường trở về nhà, họ thà uống nó còn hơn. Tôi lại nhìn thấy những cầu thuyền bằng đá lớn của Thebes và ngửi thấy mùi của bến cảng Thebes, mùi hạt mốc thối và nước nhiễm bẩn, mùi các gia vị và nhựa cây, những mùi rất đỗi thân thương với trái tim tôi.
Nhưng khi tôi về lại ngôi nhà của người thợ đúc đồng ngày trước tại khu phố nghèo gần bến cảng, nó quá nhỏ bé trong mắt tôi; con hẻm phía trước bẩn thỉu, hôi hám và đầy ruồi. Cây sung trong sân không làm tôi mừng rỡ, mặc dù chính tay tôi trồng nó và nó đã mọc cao khi tôi đi vắng. Như thế, sự giàu có và xa hoa của Akhetaton đã làm tôi hư hỏng, khiến tôi xấu hổ về mình và lòng tôi trở nên buồn bã khi không còn thấy vui với nếp nhà cũ của mình.
Kaptah cũng không ở nhà mà chỉ có đầu bếp Muti ra đón tôi và khi nhìn thấy tôi, bà ta hờn giận nói:
- Đội ơn ngày tốt lành đã đưa ông chủ tôi về nhà, nhưng phòng chưa được dọn dẹp, chăn gối đã đưa đi giặt giũ và ông trở về mang lại cho tôi nhiều phiền muộn, lo âu mặc dù tôi thường không đợi chờ niềm vui từ cuộc đời. Nhưng tôi không ngạc nhiên chút nào trước sự trở về bất ngờ của ông vì đây là thói quen của đàn ông và đàn ông chưa bao giờ mang lại điều tốt lành.
Tôi trấn an bà ta rằng tối nay tôi sẽ ngủ trên thuyền và hỏi về Kaptah, nhưng bà ta đạp cầu thang, đá bụi cây trong sân, giậm chân thình thịch trong bếp và tỏ ra rất buồn bực với sự trở về của tôi, vì tôi về chỉ làm phiền bà ta và bà đã già. Vì vậy tôi kệ bà ta ở đó và đi đến quán Đuôi Cá Sấu. Merit ra đón tôi ở cửa và chắc chắn không nhận ra tôi vì trang phục và chiếc kiệu quyền quý của tôi, nàng hỏi:
- Ông đã đặt chỗ cho buổi tối chưa vì nếu chưa, tôi không thể cho ông vào được.
Nàng hơi mập ra, gò má không còn nhô cao trên khuôn mặt như trước, nhưng đôi mắt nàng vẫn như khi tôi nhìn vào trước đây, chỉ có điều xung quanh có nhiều nếp nhăn li ti hơn. Vì vậy, lòng tôi ấm lại, tôi đặt tay lên eo nàng và nói:
- Tôi hiểu rằng em không còn nhớ tôi nữa sau khi ôm ấp nhiều người đàn ông cô đơn và buồn rầu khác trên thảm của em, nhưng tôi tin mình sẽ tìm thấy một chỗ trong nhà em và một cốc rượu lạnh, dù tôi không dám nghĩ đến thảm của em.
Nàng kinh ngạc reo lên:
- Sinuhe, là anh thật ư? - Và nói thêm - Cảm ơn ngày đã đưa ông chủ tôi về nhà.
Rồi nàng đặt đôi bàn tay xinh đẹp, rắn chắc lên vai tôi và nhìn tôi, nói đầy trách móc:
- Sinuhe, Sinuhe, anh đã làm gì với chính mình thế, vì trước đây sự cô đơn của anh là của một con sư tử thì bây giờ là sự cô đơn của một con chó được o bế, béo mẫm và anh còn có dây xích quàng quanh cổ thế này.
Nàng nhấc bộ tóc giả trên đầu tôi rồi nhẹ nhàng vuốt ve cái đầu trọc lốc của tôi và nói:
- Ngồi xuống đi, Sinuhe, em sẽ mang rượu ướp lạnh cho anh vì anh đầy mồ hôi thế này và còn thở dốc nữa sau chuyến hành trình vất vả.
Nhưng tôi vội vã nhắc nàng:
- Đừng mang đuôi cá sấu cho tôi nhé vì bụng tôi chắc không thể chịu được nó nữa và đầu tôi có thể bị đau.
Nàng đưa tay chạm vào má tôi và nói:
- Em già, béo và xấu đến nỗi điều đầu tiên anh nghĩ đến là bụng của mình khi gặp lại em sau nhiều năm phải không? Trước kia anh không hề sợ đau đầu khi có em bên cạnh, trái lại còn tham lam uống hết bao nhiêu đuôi cá sấu khiến em phải ngăn anh.
Tôi thấy buồn vì những lời nói thật lòng của nàng và sự thật thường khiến người ta buồn chán. Vì vậy tôi nói với nàng:
- Ôi, Merit, bạn của anh, anh cũng già đi và chẳng còn làm được gì nữa.
Nhưng nàng nói:
- Anh chỉ tưởng tượng mình đã già đi nhưng mắt anh không hề già đi tí nào khi nhìn em và điều đó khiến em vui thích.
Lúc đó tôi nói với nàng:
- Merit, vì tình bạn của chúng ta, hãy mau mang ra cho anh một đuôi cá sấu, nếu không anh sợ mình sẽ cư xử thô bạo với em và danh tiếng danh y khoan sọ hoàng gia không thích hợp để gây ồn ào, nhất là ở Thebes và trong quán rượu bến cảng.
Merit mang đồ uống ra và đặt vào lòng bàn tay tôi cốc vỏ sò. Tôi nâng cốc lên uống và đuôi cá sấu thiêu đốt cổ họng vốn quen với các loại rượu nhẹ của tôi, nhưng sự bỏng rẫy này thật dễ chịu vì tay kia của tôi vẫn đặt trên eo nàng. Tôi nói với nàng:
- Merit, có lần em bảo với anh lời nói dối có thể ngọt ngào hơn sự thật nếu người ta cô đơn và mùa xuân đầu tiên của người ấy đã tàn lụi. Vì thế anh nói với em rằng trái tim anh vẫn còn trẻ và sục sôi khi anh nhìn thấy em; trong những năm tháng dài đằng đẵng chúng ta xa cách, không ngày nào anh không thì thầm vào gió tên em, mỗi cánh én bay qua lên phía nguồn sông, anh đều gửi lời chào đến em và mỗi sáng mai thức dậy, môi anh thầm thì tên em.
Nàng nhìn tôi, trong mắt tôi nàng vẫn mảnh mai, xinh đẹp, thân thương và trong đáy mắt nàng vẫn ẩn chứa nụ cười và nỗi buồn, như khi ta nhìn vào đáy giếng sâu. Nàng áp tay vào má tôi và nói:
- Anh nói rất hay, Sinuhe, bạn của em. Vậy sao em lại không thừa nhận với anh trái tim em rất mong nhớ anh, và bàn tay em ao ước đôi tay anh khi em nằm cô đơn trong đêm trên thảm của mình. Mỗi lần đuôi cá sấu ngấm, khi đám đàn ông bắt đầu nói những điều ngu ngốc với em thì em lại nhớ đến anh và thấy buồn vô hạn. Nhưng trong cung điện vàng của Pharaon chắc chắn có rất nhiều phụ nữ xinh đẹp và là danh y hoàng gia, chắc anh đã tận dụng hết thời gian rảnh rỗi của mình để chữa trị cho họ.
Quả là tôi đã từng ăn nằm với một vài cung nữ, những người trong cơn buồn chán đã đến xin tôi lời khuyên với tư cách thầy thuốc, vì da của họ mịn như vỏ quả mọng, mềm như lông tơ và nhất là vào mùa đông, hai người nằm bên nhau sẽ ấm hơn đơn chiếc. Nhưng những điều này đều thật phù phiếm và vô nghĩa đến mức tôi thậm chí không buồn viết bất cứ điều gì về nó trong cuốn sách của mình, vì nó không hề để lại dấu ấn trong tôi. Vì thế tôi nói với nàng:
- Merit ạ, đúng là đôi lúc anh không ngủ một mình, nhưng em vẫn là người phụ nữ duy nhất là bạn của anh.
Đuôi cá sấu bắt đầu ngấm, cơ thể tôi trở nên trẻ trung như trái tim tôi, một ngọn lửa yêu đương chạy dọc theo huyết quản và tôi nói với nàng:
- Chắc chắn trong thời gian này có nhiều người đàn ông đã chung thảm với em, nhưng tốt nhất em nên cảnh báo họ về anh, chừng nào anh còn ở Thebes, bởi vì khi tức giận, anh là một người hung dữ. Trong trận chiến chống lại quân Khabiri, những người lính của Horemheb đã đặt cho anh biệt danh “Con Trai Lừa Hoang”.
Nàng làm bộ hoảng sợ giơ tay lên và nói:
- Đây là điều em vô cùng lo sợ và Kaptah đã kể cho em nghe về nhiều cuộc cãi cọ và ẩu đả ác liệt anh đã dính vào ở nhiều miền đất chỉ vì tính nóng nảy của mình, mà chỉ có sự bình tĩnh và trung thành của ông ấy mới giúp anh giữ được cái đầu nguyên vẹn. Tuy nhiên, anh phải nhớ là cha em luôn có một cây gậy giấu dưới chỗ ngồi và sẽ không để cho bất kỳ cuộc ẩu đả nào xảy ra trong ngôi nhà này.
Nhưng khi nghe đến tên Kaptah và đoán ra tất cả những chuyện bịa đặt mà ông ấy đã kể cho Merit về tôi và cuộc sống của tôi nơi xứ lạ, tôi vô cùng cảm động, nước mắt giàn giụa và tôi kêu lên:
- Kaptah, nô lệ và đầy tớ ngày xưa của anh, giờ ở đâu, để anh có thể ôm ông ấy, vì anh rất nhớ ông ấy, mặc dù điều này không thích hợp với danh vị của anh vì ông ấy trước đây đã từng là nô lệ của anh.
Merit vừa ngăn tôi lại vừa nói:
- Em thấy anh không quen uống đuôi cá sấu, mà cha em đang giận dữ nhìn về phía này và tìm gì dưới ghế vì anh làm ầm lên. Nhưng anh không gặp được Kaptah trước tối nay, vì ông ấy phải dành thời gian cho việc làm ăn trong các thương vụ lớn ở chợ ngũ cốc và ở các quán rượu, nơi ký kết các vụ bán mua ngũ cốc, và em nghĩ anh sẽ vô cùng ngạc nhiên khi thấy ông ấy, vì ông ấy hầu như không nhớ mình từng là nô lệ và xách dép của anh với cái gậy trên vai. Vì vậy tốt hơn là em nên đưa anh ra ngoài hít thở không khí trong lành để đuôi cá sấu bay hết khỏi đầu anh trước khi ông ấy về, vì chắc anh muốn thấy Thebes đã thay đổi thế nào trong thời gian anh đi vắng và như vậy chúng ta được chỉ mình với nhau.
Nàng đi thay đồ, xoa lên mặt dầu thơm đắt tiền và đeo thêm đồ trang sức bằng vàng, bạc khiến chỉ có thể phân biệt được nàng với phụ nữ quý phái qua tay chân nàng, mà thật ra ít phụ nữ quý phái nào có ánh mắt rạng rỡ, tự tin và cái miệng kiêu hãnh như nàng. Tôi bảo các nô lệ đưa chúng tôi đi dọc theo con hẻm Nhân Sư và thấy Thebes vẫn chưa được như trước, những vườn hoa bị giẫm nát, những cành cây bị chặt vẫn chọc lên lổn nhổn và dọc theo vài con phố, người ta xây những ngôi nhà mới thay cho những ngôi nhà bị cháy rụi. Chúng tôi ngồi sát bên nhau trong kiệu và tôi hít ngửi mùi dầu thơm của nàng, đó là mùi của Thebes, hăng hơn và nồng say hơn mùi của tất cả các loại dầu đắt tiền của Akhetaton. Tôi cầm tay nàng và trong lòng không còn một ý nghĩ xấu xa nào nữa, mà như thể tôi trở về nhà sau một chuyến đi dài.
Thế là chúng tôi đến ngôi đền và bầy quạ đen bay lượn, quang quác phía trên ngôi đền hoang vắng vì chúng chưa trở về núi mà ở lại Thebes, không ai quấy rầy chúng trong khu vực đền vì đây là vùng đất bị nguyền rủa và mọi người sợ hãi tránh xa nơi này. Chúng tôi xuống kiệu và dạo bộ qua những khoảng sân vắng vẻ. Không bắt gặp bóng người nào ngoại trừ ở sân trước Nhà Sống và Nhà Chết, vì việc dời hai nhà này đi nơi khác rất nhiêu khê và tốn kém. Nhưng Merit kể mọi người cũng tránh xa cả Nhà Sống, vì thế hầu hết các thầy thuốc đã chuyển vào thành phố để hành nghề và giành nhau bệnh nhân. Chúng tôi cũng đi bộ trong vườn của đền, nhưng cỏ mọc đầy trên các lối đi, cây cối bị đốn trộm, cá cụ kỵ ở hồ thánh bị đâm xuyên, bắt hết và nếu chúng tôi nhìn thấy ai trong khu vườn mà Pharaon đã dành làm nơi cho dân chúng tản bộ và sân chơi cho trẻ em, thì đó là một người rách rưới, bẩn thỉu, sợ sệt và lén lút nhìn theo chúng tôi.
Tâm hồn tôi trống vắng hơn khi đi qua khu đền thờ hoang vắng và bóng của thần giả nặng nề đè xuống người tôi, tất cả những điều này minh chứng rằng quyền lực của thần ấy không mất đi cho dù tượng bị phá bỏ, mà ngài vẫn còn lấy sự hoảng sợ thống trị trái tim con người. Chúng tôi cũng đến ngôi đền lớn, cỏ mọc um tùm giữa những phiến đá trên nền, không ai ngăn chúng tôi bước vào nơi linh thiêng nhất và những thánh thư trên tường thật xấu xí và bị báng bổ khi những người thợ đá bất cẩn đục bỏ tên và ảnh của các thần giả trên bản khắc. Merit nói:
- Đây là nơi đầy tai họa và cái lạnh bóp nghẹt trái tim em khi anh đưa em đến đây, nhưng chắc rằng thánh giá của Aton sẽ bảo vệ anh, mặc dù em muốn anh tháo nó ra khỏi cổ, bởi vì ở nơi vắng vẻ, anh có thể bị ném đá hay xỉa dao vào bụng khi trên người có thánh giá Aton. Hận thù vẫn còn rất lớn ở Thebes.
Nàng nói đúng, vì khi chúng tôi đang tay trong tay trở lại sân trước đền, người ta nhổ nước bọt xuống đất khi nhìn thấy thánh giá của Aton trên cổ áo tôi. Tôi cũng vô cùng kinh ngạc khi thấy một giáo sĩ Amon mặc đồ trắng, công khai đi lại giữa đám đông, đầu cạo nhẵn bất chấp lệnh cấm của Pharaon. Khuôn mặt anh ta sáng nhờn mỡ, chiếc áo choàng là loại vải lanh tốt nhất và dường như không một tai ương hay thiếu thốn nào làm anh ta bận tâm, và mọi người vẫn kính trọng nhường lối cho anh ta. Cẩn tắc vô áy náy, tôi liền đưa tay lên ngực để che cây thánh giá Aton, vì tôi không muốn gây náo động vô ích. Tôi không muốn xúc phạm cảm xúc của mọi người một cách không cần thiết, bởi vì không như Pharaon, tôi muốn để mỗi người có đức tin của mình và có lẽ vì Merit, tôi cũng muốn tránh bị quấy rầy.
Thế là chúng tôi dừng lại chỗ tường thành để nghe một người kể chuyện đang ngồi trên nền đất theo cách của những người kể chuyện ngồi trên thảm với một cái hũ không trước mặt, người nghe đứng thành vòng tròn xung quanh ông ta và những người nghèo nhất ngồi bệt xuống đất vì họ không phải lo xống áo mình bị lấm. Nhưng câu chuyện ông ta kể tôi chưa bao giờ nghe trước đây, về một pharaon giả mà thần Seth đã thụ tinh vào dạ con của một phù thủy da đen sống cách đây đã rất lâu, vì phù thủy này đã chiếm trọn trái tim của pharaon tốt bụng bằng phép thuật của mình. Theo ý muốn của thần Seth, vị pharaon giả này muốn hủy diệt dân tộc Ai Cập, bắt người dân sống phận nô lệ cho dân da đen và lũ người man rợ. Để làm điều đó, ông ta đã giật đổ các bức tượng của Ra, khiến Ra nguyền rủa đất nước này nên đất đai không còn sinh hoa kết trái, lũ lụt giết chết người dân, châu chấu phá hoại mùa màng, ao hồ tanh tưởi mùi máu, ếch nhái nhảy lên thảm nằm vào những hũ bột của con người. Nhưng pharaon giả sắp đến ngày tận số, vì sức mạnh của Ra mạnh hơn sức mạnh của Seth, mặc dù đã cố gắng lấy những cái tên giả để gọi sức mạnh của Seth. Vì vậy, pharaon giả chết đau đớn, phù thủy đã đẻ ông ta ra cũng chết đau đớn và Ra đạp tất cả những ai đã từ bỏ mình xuống đất đen, chia nhà cửa, tài sản và đất đai của họ cho những người vẫn trung thành với Ra giữa muôn vàn thử thách và tin tưởng vào sự trở lại của ngài.
Câu chuyện rất dài và cuốn hút, khiến mọi người giậm chân xuống đất và giơ tay lên cao vì nóng lòng muốn nghe hết câu chuyện và tôi cũng há hốc mồm lắng nghe. Khi câu chuyện kết thúc, pharaon giả bị trừng phạt và bị đẩy xuống địa ngục, tên của ngài ta bị nguyền rủa và Ra chia cho các tín hữu nhà cửa và đất đai, gia súc và hàng hóa, người nghe vui mừng nhảy lên la hét, thả đồng vào hũ của người kể chuyện, có người còn thả cả bạc. Tôi hết sức ngạc nhiên và nói với Merit:
- Quả thật đây là một câu chuyện mới mà anh chưa bao giờ được nghe, mặc dù ngày còn nhỏ anh nghĩ mình đã nghe hết mọi chuyện trên đời vì mẹ Kipa của anh rất thích chuyện cổ tích và yêu quý những người kể chuyện, đến nỗi bố Senmut của anh đôi khi dọa bà và những người kể chuyện bằng gậy của mình khi bà cho họ ăn trong nhà bếp của nhà anh. Đây đúng là một câu chuyện mới và nguy hiểm, vì anh nghĩ nó ám chỉ Pharaon Ekhnaton và thần giả mà chúng ta không được phép nhắc đến tên. Vì vậy, cần cấm kể câu chuyện này.
Merit cười và nói:
- Ai có thể cấm kể chuyện cổ tích, chuyện này được kể ở cả hai vương quốc gần tất cả các cổng và tường thành, trên nền đất nện của những làng nhỏ nhất và ai cũng thích nó. Nếu lính canh lấy gậy đe dọa những người kể chuyện, họ nói đây là một câu chuyện có từ xưa và họ có thể chứng minh điều đó, vì các giáo sĩ đã tìm thấy câu chuyện này trong các bia ký có tuổi đời hàng trăm năm. Vậy nên lính canh không thể làm gì với những người kể chuyện, mặc dù em nghe nói Horemheb, một người tàn bạo, không quan tâm tới bằng chứng và văn bản, đã treo một vài người kể chuyện lên tường thành ở Memphis và cho cá sấu ăn xác họ, kết tội họ không phải vì kể chuyện mà vì những tội khác.
Merit nắm chặt tay tôi, cười và còn kể thêm:
- Ở Thebes cũng có nhiều lời tiên đoán và bây giờ bất cứ khi nào hai người nào đó gặp nhau, họ đều kể cho nhau nghe những lời cảnh báo và điềm xấu mà họ nghe được, bởi vì như anh hẳn biết, đại mạch ngày một đắt đỏ, dân nghèo đói khát và thuế má đè nặng lên cả người nghèo lẫn người giàu. Nhưng những lời tiên đoán nói rằng điều tồi tệ hơn vẫn còn ở phía trước và em hoảng sợ khi nghĩ đến tất cả những điều tồi tệ mà những lời tiên đoán luôn cảnh báo một cách trùng khớp thế nào cho Ai Cập. Vì vậy em sẽ kể cho anh nghe một lời tiên đoán mà em nghe được từ người rửa tường Đuôi Cá Sấu, người này đã nghe nó từ người bán khoai sắn ở chợ và người kia đã nghe nó từ một người bạn của ông ta. Người bạn này là một người đàn ông rất đáng tin và chính ông ta đã gặp góa phụ của một người thợ dán giấy giàu có, người đã trải qua chuyện này và kể lại cho ông ta. Chuyện thế này: Vào một ngày lễ thánh trước khi nước lên, góa phụ của người thợ dán giấy đã lên một con thuyền nơi tường thành để đến gặp chồng mình ở thành phố của người chết và dâng đồ cúng tế nơi mộ ông ta. Ngồi đối diện với bà trên thuyền là một bà tiên, mặc dù thoạt đầu không ai biết đó là tiên, vì quần áo của bà ta bẩn thỉu, rách rưới và tóc bà ta không xức dầu. Nhưng bà tiên này nói với bà góa rằng: “Người quá cố của bà chắc thích bánh hạnh nhân lắm, vì bà mang bánh hạnh nhân đến”. Bà góa lấy làm ngạc nhiên, vì những chiếc bánh hạnh nhân được đựng trong cái giỏ đậy kín đặt bên chân bà và bà kia không thể nhìn thấy chúng. Nhưng bà ta nói: “Ta lấy làm lạ, vì ta chưa hề thấy ai mang bánh hạnh nhân cho người đã khuất, còn trong hũ kia là cháo nấu với sữa, trong giỏ đó là vịt quay, còn hũ kia đựng thứ bia sền sệt theo cách của người Syria”. Cứ thế, bà ta kể ra tất cả những gì mỗi người trên thuyền có trong các giỏ và hũ đậy kín, bà còn kể ra tên những người quá cố của họ, khiến mọi người hết sức kinh ngạc và tin rằng bà là một bà tiên. Cuối cùng, bà ta nói: “Người Ai Cập hiện đang sống giữa những thử thách lớn vì một lời nguyền mà các ngươi ai cũng biết và vì lời nguyền này, sẽ có ngày vàng không đổi lấy bánh được nữa, nhưng những người can đảm hãy giữ vững đức tin, vì các vị thần Ai Cập không bỏ rơi ai, trừ những kẻ từ bỏ thần linh và quay sang thần phục một thần giả, và đó là dấu hiệu cho thấy mụ phù thủy mà các ngươi đều biết sẽ phải chết thật đau đớn trước khi ngũ cốc chín trên đồng”. Nghe bà tiên nói tất cả những điều này, mọi người ai cũng run và sợ những người lính canh, nhưng khi thuyền cập bến nơi thành phố người chết, bà tiên này đã biến mất, sau đó không ai nhìn thấy bà ấy nữa.
Tôi hết sức tức giận và hỏi Merit:
- Em tin câu chuyện vớ vẩn này ư, những người thợ rửa tường, người buôn khoai sắn và những mụ góa ngồi lê đôi mách, khi em biết lời tiên đoán này vừa nghe đã sặc mùi giáo sĩ? Anh hiểu rồi, họ muốn dân nổi loạn bằng các câu chuyện của họ.
Merit nói:
- Em không biết phải tin điều gì nữa, nhưng nếu sống ở Thebes một tháng hoặc một năm, có lẽ anh sẽ tin, vì ở đây xảy ra nhiều điều lạ lùng nhờ thần mà chúng ta không được nhắc đến tên. Nhưng em biết nếu mụ phù thủy ấy chết trước khi đại mạch chín thì em cũng sẽ bắt đầu tin. Bởi vì em thậm chí còn chưa nghe nói người đó bị ốm.
- Em muốn nói ai là phù thủy? - Tôi gắt gỏng hỏi nàng.
Nàng nhìn thẳng vào mắt tôi như thách thức, cặp mắt buồn buồn và nói:
- Anh biết rõ đó là ai và anh đã nghe câu chuyện vừa rồi, người da đen chỉ luôn làm Ai Cập khốn khổ mà thôi.
Khi ấy tôi buông tay nàng và trái tim tôi thấy nàng xa lạ, đuôi cá sấu đã bốc hơi khỏi đầu tôi từ lâu khiến đầu tôi đau nhức, tôi thấy mình mệt rã rời và sự ngu ngốc, bướng bỉnh của nàng không làm tôi đỡ hơn. Thế là chúng tôi bực bội đi bên nhau trên đường trở lại Đuôi Cá Sấu và tôi nhận ra điều mà Pharaon Ekhnaton từng nói là đúng: “Aton sẽ tách đứa trẻ khỏi người mẹ và trái tim người đàn ông khỏi người tình của mình cho đến khi vương quốc của ngài được hoàn toàn thiết lập trên trái đất”. Nhưng tôi không bao giờ muốn rời xa Merit vì Aton, vì thế tôi thật sự rất buồn cho đến khi gặp Kaptah vào buổi tối.
❖ 3 ❖
Không ai còn có thể có tâm trạng buồn chán khi nhìn thấy Kaptah, phì nộn và đồ sộ như một con lợn sề, và béo đến nỗi phải lách nghiêng mới lọt qua cửa quán rượu, lăn ào vào trong. Mặt ông ấy tròn như mặt trăng và lấp lóa dầu xức đắt tiền, đầu đội mái tóc giả đẹp màu xanh lam và con mắt mù được che bằng một lá vàng. Ông ấy không còn mặc theo kiểu người Syria nữa mà theo kiểu của người Ai Cập và mặc thứ tốt nhất mà thợ dệt Thebes có thể dệt, vòng vàng to bự trên cổ, cổ tay và cổ chân ông ấy kêu leng keng vì sức nặng của chúng.
Vừa thấy tôi ông ấy gào to, hai tay giơ lên tỏ vẻ kinh ngạc và vui mừng rồi cúi xuống thật thấp trước mặt tôi, hai tay để thẳng ngang đầu gối, mặc dù ông ấy làm điều đó rất khó khăn vì cái bụng của mình, và nói:
- Đội ơn ngày đã đưa ông chủ của tôi trở về.
Thế rồi nỗi xúc động chiếm ngự tâm trí và ông ấy vừa bắt đầu khóc vừa quỳ gối xuống sàn, ôm chân tôi và gào khóc to hơn khiến tôi nhận ra một Kaptah ngày trước trong lớp vải lanh hoàng gia với nhẫn vàng, dầu thơm đắt tiền và bộ tóc giả màu xanh. Tôi đưa tay đỡ ông ấy dậy rồi ôm lấy ông ấy, ngửi hai vai, hai má ông và tôi thấy như thể mình đang ôm một con bò đực béo tốt và ngửi thấy mùi bánh mì nóng ấm, vì mùi của chợ ngũ cốc đã thấm quyện vào người ông. Ông ấy cũng cung kính dí mũi ngửi vai tôi, rồi lau nước mắt, bật cười và hét toáng lên:
- Đây là một ngày hạnh phúc với tôi, vì thế tôi cho tất cả những ai đang ngồi trong nhà tôi một đuôi cá sấu miễn phí. Còn nếu ai muốn đuôi thứ hai, phải tự trả tiền.
Nói rồi ông ấy dẫn tôi sang phòng sau, bắt tôi ngồi xuống tấm thảm mềm, cho phép Merit ngồi cạnh tôi rồi sai nô lệ và người hầu bê ra cho tôi những thứ ngon nhất có trong quán, rượu của ông ấy có thể sánh với rượu của pharaon, món ngỗng quay Thebes của ông ấy không nơi nào ở Ai Cập sánh nổi, vì ngỗng này được nuôi bằng cá ươn tanh tưởi nên thịt của nó có vị ngon đến khó tin. Sau khi chúng tôi ăn uống xong, ông ấy nói:
- Ông chủ Sinuhe của tôi ạ, tôi hy vọng ông đã đọc kỹ tất cả các giấy tờ, sổ sách mà tôi sai các thư lại ghi chép và gửi đến cho ông trong thời gian ông ở thành phố Akhetaton. Chắc ông cũng cho phép tôi tính bữa ăn này với rượu và ngỗng vào chi phí tiếp khách và có lẽ tôi cũng tính gộp cả những đuôi cá sấu mà tôi đã lỡ đem đãi cho tất cả khách khứa trong quán của tôi. Điều này không làm ông thiệt hại, trái lại chỉ có lợi, vì tôi sẽ vất vả để thay ông đánh lừa thuế vụ của Pharaon và như vậy tôi sẽ lấy cắp được từ họ một chút gì đó cho mình.
Tôi nói với ông ấy:
- Lời nói của ngươi như tiếng lắp bắp của người da đen và ta không hiểu từ nào cả, nhưng hãy làm điều đó nếu thấy thích hợp vì ngươi biết là ta hoàn toàn tin tưởng vào ngươi. Ta đã xem các sổ sách và chứng từ của ngươi nhưng nói thật ta không hiểu nhiều về chúng, bởi vì có quá nhiều con số, giống như những tờ giấy đầy con số mà viên ký lục của Horemheb tính để xem sẽ mất bao lâu nếu tất cả dân trên thế giới đến diện kiến trước Pharaon Ekhnaton và ngài sẽ tiếp từng người một. Nhưng ông ta tính toán không xong, vì ông ta tính cả số trẻ em liên tục được sinh ra trên khắp các miền và chúng sẽ già trước khi kịp đến diện kiến Pharaon, rồi những đứa trẻ mới vẫn tiếp tục được sinh ra, do vậy Pharaon sẽ không bao giờ kịp nói với tất cả người trên khắp thế giới, cho dù thời gian ngài dùng để nói với từng người chỉ là một nhịp tim đập và ngài tiếp họ từ sáng đến tối, từ tối đến sáng. Tương tự như vậy, Kaptah, ta sẽ không thể đến gặp ngươi nếu phải kiểm tra hết các giấy tờ và sổ sách mà ngươi gửi đến, vì đầu ta đã đau nhức trước khi kịp đọc hết các chứng từ.
Kaptah cười rất vui và tiếng cười ùng ục trong bụng ông ấy như đang rung lên từ chiếc đệm mềm, cả Merit cũng cười vì nàng đã uống rượu cùng tôi và ngả người ra sau, tay đặt sau gáy để tôi có thể thấy đôi gò bồng đào nhô lên dưới lớp áo của nàng vẫn còn đẹp như thế nào. Kaptah vừa cười vừa nói:
- Ôi, Sinuhe, ông chủ của tôi, tôi rất vui khi thấy ông vẫn giữ được những suy nghĩ ngây thơ của mình và vẫn không hiểu những điều hợp lẽ của cuộc sống thường ngày như lợn không hiểu gì về ngọc trai, mặc dù tôi không có ý ví ông với lợn, mà chỉ thay ông ca ngợi và cảm tạ tất cả thần linh Ai Cập đã trao tôi cho ông, vì thực ra họ có thể cho ông một tên ăn trộm hay gã vô lại làm đầy tớ làm ông khánh kiệt, còn tôi đã giúp ông trở nên giàu có.
Tôi nhắc để ông ấy nhớ là không cần cảm ơn thần linh về việc đó mà chỉ phải cảm ơn sự sáng suốt của tôi vì tôi đã mua ông ấy ở chợ nô lệ với một đồng bạc, giá rẻ bởi một mắt của ông đã bị chọc mù trong quán bia. Nhớ lại những điều này, tôi xúc động nói:
- Đúng là ta không bao giờ quên được cái ngày mà lần đầu tiên ta nhìn thấy ngươi đứng trong chợ nô lệ, chân bị trói chặt vào cột dành cho nô lệ, hét lên những lời tục tĩu với đàn bà đi ngang qua và xin đám đàn ông cho bia uống. Nhưng không nghi ngờ gì nữa, ta đã khôn ngoan khi mua ngươi, mặc dù lúc đầu ta rất nghi ngờ điều đó. Dĩ nhiên, hồi đó ta không có nhiều bạc hơn vì ta chỉ là một thầy thuốc trẻ và một mắt của ngươi bị chọc thủng thích hợp với mục đích của ta, như ngươi nhớ rất rõ.
Mặt Kaptah tối sầm lại, đầy nếp nhăn và ông ấy nói:
- Tôi không muốn ông nhớ lại những việc xưa cũ và buồn đau ấy nữa vì chúng không xứng với địa vị của tôi.
Rồi ông ấy hết lời ca tụng bọ hung của chúng tôi:
- Ông đã rất sáng suốt khi giao bọ hung cho tôi để tôi lo công việc cho ông, vì bọ hung đã làm cho ông giàu có và chắc chắn giàu có hơn ông có thể mơ tưởng, mặc dù lại viên thu thuế của Pharaon như bầy ruồi bu trên cổ tôi và tôi đã phải thuê hai thư lại Syria lo làm các sổ sách, chứng từ khác nhau để khai thuế, vì không ai - kể cả thần Seth với tất cả các ma quỷ của thần - có thể hiểu hết cách tính toán của người Syria. Nói đến Seth, tôi lại nhớ đến ông bạn cũ Horemheb của chúng ta, người mà tôi đã lấy vàng của ông cho vay như ông hẳn biết. Nhưng tôi đâu cần nói về anh ta lúc này, khi mọi suy nghĩ của tôi tự do bay vút lên như đàn chim trong không trung vì quá vui sướng khi lại được nhìn bộ mặt ngây thơ của ông chủ mình và có lẽ vì vậy mà tôi sẽ cho ghi vào chi phí tiếp khách của chúng ta, vì vậy hãy uống đi, ông chủ của tôi, hãy uống những gì bụng ông chứa được, vì rượu như thế này có lẽ hầm rượu của Pharaon cũng không có, và tôi cũng không lấy trộm của ông nhiều hơn giá của chai rượu. Đúng thế, tôi cần nói chuyện với ông chủ về sự giàu có của ông, mặc dù ông hầu như không hiểu nhiều về việc ấy, nhưng tôi chỉ nói rằng nhờ có tôi mà ông giàu có hơn nhiều người giàu Ai Cập và ngang với những người quyền cao chức trọng nhất, vì người thực sự giàu có không phải là người có vàng mà là người sở hữu nhà cửa và kho tàng, ghe thuyền và bến cảng, cầu thuyền và gia súc, đất đai và cây ăn quả, bò cừu và nô lệ. Ông sở hữu tất cả những thứ này, mặc dù có thể ông không biết, vì tôi buộc phải cho những người hầu, thư lại và cả nô lệ của chúng ta đứng tên rất nhiều thứ để che giấu tài sản của ông trước thuế vụ. Những người giàu bị Pharaon đánh thuế rất nặng và người giàu phải nộp thuế nhiều hơn người nghèo, giả dụ nếu người nghèo nộp một phần năm số thóc mình có cho Pharaon thì người giàu phải nộp một phần ba, thậm chí một nửa số thóc cho những kẻ thu thuế đáng nguyền rủa, vậy mà những kẻ này vẫn như bầy kền kền luôn bu quanh cổ họ. Việc này thật sai trái và vô đạo nhất mà Pharaon giả đã làm, một việc chưa từng xảy ra từ trước đến nay; mức sưu thuế và việc để mất Syria của ông ấy đã làm đất nước khánh kiệt. Tuy nhiên, ngạc nhiên nhất là điều chỉ xảy ra nhờ thần linh này: khi đất nước nghèo đi thì người nghèo nghèo hơn trước, còn những người thực sự giàu sẽ trở nên giàu có hơn, mà chính Pharaon cũng không thể làm gì được. Sinuhe, hãy vui mừng đi vì ông thực sự giàu có và tôi nói cho ông biết điều bí mật, vì cuối cùng đó là bí mật của riêng ông, sự giàu có của ông đến từ đại mạch.
Vừa dứt lời Kaptah lại uống rượu, nhiều đến mức rượu trào ra từ bên mép và nhỏ giọt xuống làm bẩn cả quần áo, nhưng ông ấy không thấy phiền lòng mà nói rằng sẽ tính quần áo vào sổ thu chi, xem như phí tiếp khách hay quà tặng cho những người môi giới ngũ cốc và do đó sẽ kiếm được nhiều hơn tiền mua quần áo. Ông ấy bắt đầu khoác lác về các thương vụ lúa mạch của mình:
- Ông chủ ạ, bọ hung của chúng ta thật thần kỳ vì ngay vào ngày đầu tiên chúng ta trở về đây sau những chuyến đi dài, nó đã dẫn tôi đến quán rượu của những người buôn lúa mạch, nơi họ uống say xỉn sau khi thắng đậm những phi vụ lớn. Vậy nên tôi cũng bắt đầu lấy tiền của ông mua lúa mạch và ngay trong năm đầu tiên tôi đã lời rất nhiều, khi một số cánh đồng rộng lớn bị bỏ hoang, như ông thấy. Và lúa mạch kỳ diệu ở chỗ có thể mua và bán nó ngay cả khi nước chưa lên và trước cả khi hạt được gieo xuống đất và kỳ diệu hơn nữa là giá của nó tăng lên năm tiếp năm giống như có bàn tay phù thủy, vì vậy những ai mua lúa sẽ không bao giờ lỗ mà luôn luôn có lời. Vì vậy, từ nay trở đi tôi định không bán lúa mạch nữa, mà sẽ mua tất cả các loại mạch và cất giữ trong kho cho đến khi đổi được chúng thành vàng và điều này chắc chắn sẽ xảy ra nếu mọi việc cứ tiếp tục như thế này, và những người buôn bán lúa mạch già cả sẽ không còn tin vào mắt mình mà sẽ xé áo quần và buồn rầu khóc lóc nghĩ về tất cả số lúa mạch mà họ đã bán vì sự ngu ngốc của mình.
Kaptah nhìn tôi thăm dò và uống thêm rượu rồi rót thêm cho cả tôi và Merit, sau đó nghiêm túc nói:
- Dĩ nhiên, không ai bỏ tất cả vàng của mình vào một lần tung xúc xắc, vì thế ông chủ ạ, tôi đã chia đều lợi nhuận của ông và chơi bằng nhiều con xúc xắc, thưa ông chủ quý mến. Đây là thời gian thích hợp nhất cho việc này, nhờ Pharaon, bởi vậy có lẽ tôi nên cầu nguyện cho ngài ta, vì các chiếu chỉ và sắc lệnh, ít nhất là vì chính sách thuế đáng nguyền rủa của ngài, mà tất cả những ai không đủ giàu đều bị phá sản, mất hết cơ nghiệp, buộc phải bán nhà cửa và đồ đạc của họ với giá rẻ mạt. Thế nên những người từng buôn bán ở Syria, trước đây vàng nhiều vô kể, hợm hĩnh với quần áo và đồ trang sức, nay đã buộc phải bán bớt ghe thuyền và cầm cố đồ đạc, thế là ông sở hữu nhà ở Thebes nhiều hơn mức ông đủ sức đếm, mặc dù trước thuế vụ, ông sở hữu chúng dưới những tên khác nhau, như tôi đã nói với ông. Vậy nên bây giờ ông rất giàu có, thưa ông chủ của tôi, tôi không lấy trộm của ông nhiều hơn trước đây tôi từng lấy và tôi trộm của ông không đến một nửa, có lẽ chưa chắc đến một phần ba những gì tôi kiếm được cho ông nhờ sự khôn ngoan của tôi, vì vậy đôi khi tôi tự trách mình quá tốt bụng và cảm ơn thần linh vì tôi không có vợ hay con cái, những kẻ luôn cằn nhằn và trách cứ khi tôi không lấy trộm của ông nhiều hơn, mặc dù tôi không biết người nào đáng bị lấy trộm hơn ông, Sinuhe, ông chủ yêu quý và cao cả của tôi ạ.
Merit ngả lưng trên thảm của nàng, nhìn tôi tủm tỉm cười rồi cười phá lên trước vẻ mặt nghệch ra của tôi vì không hiểu được tất cả những điều Kaptah vừa nói. Kaptah giải thích thêm:
- Thưa ông chủ, ông phải hiểu rằng khi tôi nói về lời lãi và sự giàu có của ông thì đó là lãi ròng và của cải ông có sau khi trừ thuế. Ngoài ra, tôi đã trừ đi từ lợi nhuận đó tất cả quà cáp mà tôi buộc phải biếu xén cho đám thuế vụ vì cách tính thu chi theo kiểu Syria của tôi và số rượu mà tôi buộc phải cho họ uống để mắt họ nhảy múa khi nhìn những con số của tôi. Số rượu đó không phải là ít vì họ là những bợm rượu, tinh ranh và giàu kinh nghiệm nghề nghiệp. Đây là thời kỳ béo bở nhất cho đám thuế vụ, trước đây họ chưa bao giờ có, nên tôi rất muốn làm một lại viên thu thuế nếu tôi không phải là Kaptah, cha của lúa mạch và bạn của người nghèo. Thỉnh thoảng tôi phát chẩn lúa mạch cho người nghèo để họ cầu nguyện cho tôi, vì cẩn tắc vô áy náy và nên sống hòa thuận với người nghèo trong thời buổi nhiễu nhương này. Nhưng khoản này, tôi cũng đã trừ từ lợi nhuận của ông và đó là một loại bảo hiểm cho các ngôi nhà của ông trong tương lai, bởi lẽ kinh nghiệm cho thấy những vụ hỏa hoạn dễ dàng bùng phát trong nhà ở và kho chứa ngũ cốc của giới quyền quý và giàu sang trong thời kỳ loạn lạc. Thực lòng mà nói, việc phân phát lúa mạch cho người nghèo là một khoản thu tốt nhất, vì với sự điên rồ của mình, Pharaon đã cho phép được khấu trừ thuế vào lợi nhuận từ số lúa mạch phân phát cho người nghèo và khi phát cho người nghèo một đấu lúa mạch, tôi buộc họ dùng ngón tay điểm chỉ đã nhận được năm đấu, vì người nghèo không biết đọc mà nếu biết, họ vẫn biết ơn khi nhận được dù một ít đại mạch, cầu nguyện cho tôi và điểm chỉ vào mọi bảng đất sét tôi đưa cho họ.
Kể hết từng này việc, Kaptah bắt chéo hai cánh tay trước ngực vẻ mãn nguyện và vươn thẳng cổ chờ đợi lời khen của tôi. Nhưng những lời của ông ấy đã khiến tôi bừng tỉnh, ngẫm nghĩ và cuối cùng tôi hỏi:
- Như vậy chúng ta có nhiều lúa mạch trong kho phải không?
Kaptah hào hứng gật đầu chờ đợi lời cảm ơn, nhưng tôi nói:
- Nếu đúng thế, ông phải mau mau đến nơi ở của những cư dân mới đang làm lụng ở vùng đất bị nguyền rủa và phát lúa mạch cho họ làm giống, vì họ không có hạt giống và hạt họ thu hoạch đầy vệt lốm đốm như thể bị rưới máu. Lũ rút đi rồi, đã đến lúc phải cày bừa và gieo hạt, theo như ta hiểu về việc đồng áng, nên ông phải mau đi đi.
Kaptah nhìn tôi vẻ thương hại rồi lắc đầu nói:
- Ông chủ yêu quý của tôi, ông đừng làm tội cái đầu cao quý của mình với những điều ông không hiểu gì cả mà hãy để tôi nghĩ thay ông. Việc là thế này, lúc đầu những người buôn bán ngũ cốc được lợi từ việc cho cư dân mới vay hạt ngũ cốc vì trong hoàn cảnh nghèo khó, họ buộc phải trả gấp đôi hoặc nhiều hơn số lượng đã vay và nếu họ không trả được, chúng ta cho họ giết bò và lấy da để trả nợ. Nhưng khi ngũ cốc ngày càng đắt lên, việc buôn bán này cũng kém và lợi nhuận ít đi, sẽ tốt hơn nếu vụ xuân này chúng ta để đất nghỉ không gieo hạt vì như vậy giá ngũ cốc sẽ càng lên cao. Có điên khùng mới cho cư dân mới vay lúa mạch làm hạt giống, vì điều này sẽ tổn hại cho lợi tức của chính chúng ta. Nếu tôi làm vậy, tôi sẽ biến tất cả những người buôn ngũ cốc thành kẻ thù của mình.
Nhưng tôi đã quyết nên nghiêm khắc nói với ông ta:
- Hãy làm như ta nói, Kaptah, vì lúa mạch là của ta và bây giờ ta không nghĩ về lợi tức của mình mà nghĩ đến những người đàn ông da bọc xương như những nô lệ ở hầm mỏ, nghĩ đến những người vợ ngực hõm xuống như túi da khô và nghĩ đến những đứa trẻ còm nhom, cà nhắc trên bờ sông với ruồi bu trên mắt. Vì vậy, ta muốn ngươi cho họ tất cả lúa mạch để làm giống và giúp họ mọi cách để họ gieo được hạt. Ta muốn ngươi làm tất cả những điều này vì Aton và vì cả Pharaon Ekhnaton, vì ta yêu đức vua. Nhưng đừng bao giờ cho họ lúa mạch làm quà vì ta đã thấy những món quà chỉ sinh ra bạc nhược, lười biếng và trễ nải, bởi vì họ đã nhận cả đất canh tác lẫn gia súc làm quà mà chúng không đem lại kết quả. Nếu cần, có thể nói với họ bằng gậy của ngươi, Kaptah, và hãy lo sao cho hạt giống được gieo xuống và lúa mạch được gặt về. Nhưng khi bắt họ trả nợ, ngươi không được tính lãi mà chỉ đòi họ một trả một mà thôi.
Nghe đến đây Kaptah gào lên, vò xé quần áo mình, điều này cũng chẳng ngẫu nhiên bởi quần áo ông ta đã dính đầy vết rượu, và ông ấy nói:
- Một trả một thôi sao, thưa ông chủ? Thế thì tôi trộm từ đâu, vì làm sao có thể lấy cắp lúa mạch của ông khi chỉ bớt xén được từ lời lãi tôi kiếm cho ông. Dù sao đi nữa, điều ông nói thật ngớ ngẩn và báng bổ, vì như thế tôi phải đương đầu với những tay buôn ngũ cốc và với cả các giáo sĩ Amon. Tôi gào gọi thần vì chúng ta đang ở trong phòng kín và không người lạ nào nghe thấy để buộc tội chúng ta. Tôi gào to tên của thần này, thưa ông chủ, vì thần vẫn sống và sức mạnh của thần đáng gờm hơn bao giờ hết, thần sẽ nguyền rủa nhà cửa của chúng ta, ghe thuyền của chúng ta, nhà kho và cửa hàng của chúng ta, cả quán rượu này ngài ta cũng nguyền rủa, nên có lẽ tốt nhất là sang tên cho Merit nếu cô ấy đồng ý. Thật sự tôi rất mừng vì nhiều tài sản của ông được ghi dưới tên người khác bởi như thế, các giáo sĩ không thể biết để phán lời nguyền, cả đám thuế vụ cũng không biết, mặc dù dấu vết họ để lại sạch hơn cả chỏm đầu của người hói. Nói đến sự hói đầu, tôi không muốn xúc phạm ông, thưa ông chủ, vì bây giờ chỉ sau khi ông bỏ tóc giả ra để uống rượu, tôi mới thấy ông đã hơi hói và nếu ông muốn, tôi có thể tìm cho ông một loại kem dưỡng tóc đã niệm bùa ngải rất khéo giúp tóc mọc dài hơn, đồng thời làm các lọn tóc của ông xoăn hơn, và tôi sẽ tặng kem đó cho ông làm quà mà không ghi nó vào bất cứ sổ sách nào, vì tôi lấy nó từ cửa hàng của chúng ta. Tôi có nhiều bằng chứng về tác dụng kỳ diệu của nó, mặc dù một nhân chứng cứ khăng khăng kem này làm cái đầu hói của ông ta mọc mớ tóc dày và xoăn như tóc của người da đen, buộc ông ta phải cho cạo trọc đầu, nhưng ông ta say xỉn trước tòa nên tôi không trả cho ông ta nhiều như với những người khác.
Kaptah kể lể tất cả những điều này nhằm kéo dài thời gian để tôi từ bỏ quyết định của mình, nhưng khi thấy tôi vẫn kiên quyết, ông tức giận, la lối và cầu cứu sự giúp đỡ từ các thần mà ông đã học được tên trong các chuyến đi của chúng tôi:
- Thưa ông chủ, có phải ông bị chó dại cắn hay bị bọ cạp đốt không, vì lúc đầu khi ông nói đến việc đó, tôi thực sự nghĩ đây là một trò đùa nhạt phèo. Quyết định này của ông sẽ làm cho chúng ta nghèo đi, nhưng có lẽ bọ hung có thể giúp chúng ta. Mà nói thật lòng, tôi cũng không thích nhìn những kẻ gầy gò nên thường nhìn sang chỗ khác và tôi khuyên ông cũng nên làm như vậy, ông chủ của tôi ạ, vì những gì ta không thấy thì ta không cần biết đến và để an ủi lương tâm mình, tôi đã phân phát đại mạch cho người nghèo và hưởng lợi từ đó nhờ việc đánh thuế ngu ngốc của Pharaon. Nhưng điều khó chịu nhất với tôi trong ý định của ông là ông bắt tôi phải đi những chuyến đi vất vả, phải nhúng chân vào bùn bẩn và nhỡ đâu tôi vấp ngã, rơi xuống một con mương trên đường đi thì mạng sống của tôi sẽ ám ảnh lương tâm ông, thưa ông chủ, vì tôi thực sự là một lão già mệt mỏi rồi, chân tay lóng ngóng, run rẩy và hổn hển thở dốc khi đi bộ, chỉ muốn chiếc giường mềm của mình cũng như các món súp và món rán của Muti.
Nhưng tôi không tỏ ra thương xót mà nhẫn tâm nói:
- Đúng là ngươi còn dối trá nhiều hơn trước, Kaptah, vì trong những năm này, ngươi trẻ lại chứ có già đi đâu, tay không còn run như trước, mắt không đỏ khi vừa đến đây mà chỉ sau khi uống quá nhiều rượu. Vậy nên ta giao cho ngươi thực hiện chuyến đi khó khăn này và là thầy thuốc, ta để ngươi chịu tất cả những vất vả trong suốt chuyến đi bởi ta yêu quý ngươi, vì ngươi quá béo và điều đó có hại cho tim ngươi, làm ngươi khó thở và ta hy vọng ngươi gầy bớt trong chuyến đi này để có một thân hình ra hồn, cho ta khỏi xấu hổ vì đầy tớ của mình quá béo. Này Kaptah, hãy nhớ ngươi từng vui sướng thế nào khi chúng ta đi trên những con đường đầy bụi của Babylon, đã thích thú thế nào khi ngồi trên lưng lừa ở vùng núi Li-băng và còn vui mừng hơn khi được rời khỏi lưng lừa ở Kadesh. Thực tình mà nói, nếu ta trẻ hơn, ý ta là nếu không phải làm nhiều việc quan trọng ở đây cho Pharaon, ta sẽ đi cùng ngươi để thỏa lòng, bởi vì sau chuyến đi này, nhiều người sẽ cầu nguyện cho ngươi.
Trong lúc tôi nói, Kaptah ôm đầu ngẫm nghĩ, chỉ cau mày khi tôi nhắc đến việc cưỡi lừa và xòe ngón tay làm các phép tính phức tạp. Cuối cùng, ông ấy nói:
- Tôi sẽ phải cố làm tất cả mọi việc trong vụ gieo hạt này, sẽ phải bắt tất cả tôi tớ của mình làm và thuê thêm người giúp để kịp phân phát hạt giống. Tôi cũng cần đưa nhiều thư lại theo để mọi việc được làm đúng theo luật pháp, vì những người phụng sự Aton này là những kẻ rất láu cá và tôi sẽ cho chúng nhừ đòn nếu hạt giống không nảy mầm hay không có gì để thu hoạch. May là chúng ta có đội thuyền của mình nên việc đi lại không quá khó khăn và tôi cũng sẽ đưa đầu bếp theo vì cái bụng bị ông chế giễu của tôi không được khỏe, chỉ tiêu hóa nổi loại thức ăn tốt nhất. Ít nhất tôi cần được khênh trên kiệu qua mương rạch bởi vì hãy nhìn tôi, thưa ông chủ, nhảy choi choi qua mương rạch có xứng với địa vị của tôi không, nếu tôi có thể làm được điều đó với đôi chân đã già và cứng của mình? Còn những lời khác của ông có thể là khôn ngoan, vì lũ con gái trong các nhà vui đã bắt đầu cười nhạo tôi, bụng tôi to phệ làm tôi mất hứng khi vui vẻ với đàn bà, bởi tôi thở mạnh quá khi muốn cố sức vui vẻ với họ và điều này khiến tôi buồn, vì tôi có đủ vàng để vui vẻ với bất kỳ người đàn bà nào ở Thebes nếu tôi thích. Tuy nhiên, ông không nên hiểu là tôi lãng phí vàng của mình vào đám đàn bà con gái, vì tôi không hề ngu dại đến mức ấy mà biết rõ rằng một đứa nô tỳ ngốc nghếch cũng được việc như gái làng chơi xức dầu thơm và đeo vòng vàng nơi cánh mũi. Nhưng tôi không nên nói với ông về đàn bà vì ông vẫn chưa hiểu gì về họ và niềm vui cuộc sống, mà mặt ông vẫn ủ ê như trước. Tôi hy vọng nhờ bọ hung mà quyết định điên rồ của ông sẽ đem lại cho chúng ta may mắn chứ không phải tai họa, vì vậy tôi sẽ làm vô số việc mà không hoài công nói với ông, bởi vì ông sẽ không hiểu gì về chúng cả. Tôi chỉ ước ông bị ai đó bắt đi một chuyến khó khăn hơn vì một quyết định điên rồ kiểu này, để ông có thể cảm nhận bằng xương bằng thịt mình những gì ông buộc tôi làm bây giờ.
Ước muốn này của ông ấy chẳng bao lâu đã thành hiện thực, như sau này tôi sẽ kể. Còn khi ấy, chúng tôi không tranh cãi nữa, mà Kaptah phục tùng quyết định của tôi và chúng tôi ngồi uống rượu đến tận khuya, cả Merit cũng uống với chúng tôi và để lộ đầu gối màu nâu của nàng cho tôi áp miệng vào đó. Kaptah kể cho chúng tôi nghe ký ức của ông ấy về những con đường và nền đất nện ở Babylon, và nếu ông ấy thật sự đã kịp làm tất cả những gì ông ấy kể thì chắc chắn tôi đã mù và điếc vì Minea. Vì tôi không quên Minea, dù đêm đó tôi nằm trên thảm của Merit và vui vẻ với nàng để trái tim tôi ấm áp và nỗi cô đơn của tôi tan chảy. Nhưng tôi không bảo nàng là em gái của mình, mà làm tất cả những điều này vì nàng là bạn tôi, và điều nàng đem đến cho tôi là điều thân thiết nhất mà một người đàn bà có thể làm cho một người đàn ông. Vì vậy, tôi đã sẵn sàng đập vỡ vò với nàng, nhưng nàng không đồng ý vì nàng sinh ra trong một quán rượu, còn tôi, theo nàng, lại quá quyền quý và giàu sang với nàng. Nhưng tôi nghĩ nàng chỉ muốn giữ tự do cho mình để tôi có thể làm bạn với nàng mãi mãi.
❖ 4 ❖
Hôm sau tôi phải đến cung điện để diện kiến Hoàng thái hậu, người mà cả Thebes gọi là phù thủy, phù thủy da đen, vậy nên không cần giải thích với người khác khi nói đến phù thủy. Tuy nhiên, tôi nghĩ cho dù Hoàng thái hậu rất thông thái và tài giỏi, nhưng chính bà khiến người đời gọi mình như thế vì bà thật sự là một bà già độc ác, xảo quyệt và quyền lực to lớn đã xóa sạch mọi điều tốt đẹp từng có ở bà. Nhưng ở trên thuyền, khi tôi vừa mặc xong trang phục vải lanh hoàng gia và đeo lên người những biểu tượng danh giá của mình, đầu bếp Muti từ ngôi nhà ngày trước là xưởng đúc đồng đến và giận dữ nói với tôi:
- Đội ơn cái ngày đã đưa ông trở về nhà, thưa ông chủ, nhưng cả đêm ông lại la cà, vạ vật ở các nhà vui theo đúng thói quen của lũ đàn ông mà không thèm về ăn sáng, mặc dù tôi đã rất vất vả để chuẩn bị những món ăn ngon cho ông; tôi đã thức đêm để nướng và rán, lấy gậy đánh lũ nô lệ lười biếng để bắt chúng dọn dẹp nên bây giờ cánh tay phải của tôi rã rời và đau nhức. Tôi đã già và mệt mỏi, không tin vào lũ đàn ông nữa, mà cái cách ông xử sự vào tối qua rồi sáng nay hoàn toàn không làm suy nghĩ của tôi về đàn ông tốt đẹp hơn. Vậy nên bây giờ về nhà ăn sáng ngay và mang theo cả ả đĩ đó nếu ông không thể thiếu ả ta dù chỉ một ngày.
Bà ấy nói như thế mặc dù tôi biết bà rất quý mến và ngưỡng mộ Merit, nhưng đó là cách nói của bà và tôi đã quen với nó khi còn là thầy thuốc của người nghèo sống trong ngôi nhà từng là xưởng đúc đồng, nên những lời nói cay nghiệt của bà êm dịu trong tai tôi và tôi thấy mình đã trở về nhà. Vì vậy, tôi vui lòng đi theo bà và nhắn cho Merit ở Đuôi Cá Sấu; và khi mệt mỏi lê bước bên cạnh kiệu của tôi, Muti vẫn không ngớt rầy la:
- Tôi từng nghĩ ông đã đằm tính lại và học sống đàng hoàng khi được ở nơi hoàng cung, nhưng dường như ông không học được gì mà vẫn phóng túng như trước, dù tôi nghĩ tôi đọc được sự bình yên và thanh thản trên khuôn mặt ông khi nhìn thấy ông ngày hôm qua. Tôi cũng mừng trong bụng khi thấy má ông bầu bĩnh hơn, vì khi mập ra đàn ông trầm tĩnh lại và chắc chắn không phải lỗi của tôi nếu ông gầy đi khi ở Thebes, mà lỗi là bản tính hoang tàng của chính ông, vì tất cả đàn ông đều giống nhau và tất cả những điều xấu xa trên thế giới đều bắt nguồn từ cái của nợ nhỏ bé mà họ giấu trong chiếc khố của mình vì họ xấu hổ về nó và tôi không hề lấy làm ngạc nhiên mà nói với họ.
Bà ấy tiếp tục lảm nhảm như thế khiến tôi nhớ đến mẹ Kipa và nước mắt chực trào ra nếu như tôi không vội vàng gắt:
- Im ngay đi, bà già kia, vì lời bà làm xáo trộn suy nghĩ của tôi và như tiếng ruồi vo ve trong tai tôi.
Bà ấy im bặt và rất vui sướng vì đã buộc tôi phải hét lên với mình và như vậy mới thật sự thấy chủ của mình đã trở về nhà.
Muti đã dọn nhà rất sạch đẹp để đón tôi, nhiều vòng hoa được buộc vào hàng cột hiên, sân và cả đoạn đường trước sân cũng được quét sạch, xác mèo trước cửa nhà đã được vứt sang trước nhà hàng xóm. Bà còn thuê trẻ em đứng trên đường phố reo to:
- Đội ơn ngày lành đưa ông chủ chúng ta về nhà.
Nhưng bà ấy làm vậy vì bà rất khổ tâm với việc tôi không có con và bà chỉ cần tôi có những đứa trẻ này mà không cần vợ, nhưng làm sao được như thế thì tôi không thể giải thích nổi. Nhưng bà nghĩ thế nên tôi cho bọn trẻ đồng và Muti phát cho chúng bánh mật ong nên bọn trẻ ra về rất sung sướng. Merit cũng đến, ăn vận thật đẹp, trên đầu nàng cài hoa và tóc lấp lánh dầu xức làm Muti khóc sụt sịt và chùi mũi khi giội nước lên tay chúng tôi. Thức ăn bà nấu ngọt lịm trong miệng tôi vì đó là những món ăn của Thebes và khi ở Akhetaton tôi đã quên rằng thức ăn ở nơi nào cũng không thể sánh với đồ ăn Thebes. Nhưng có lẽ cơn đói của tôi là do Merit gây nên, vì nàng khiến cả tâm hồn lẫn thể xác tôi đều trẻ lại. Muti luôn mồm lảm nhảm khi tiếp đồ ăn cho cả hai chúng tôi:
- Chắc ông trách tôi lắm, thưa ông chủ, vì chim này rán hơi quá lửa và tôi không vừa lòng chút nào với nước xốt. Cô nếm chưa, Merit, đây là lõi của chồi cọ, tôi nghiền với bầu dục. Tôi thường nấu món này rất ngon, nhưng tất nhiên hôm nay nó hơi quá nhừ. Còn ông, thưa ông chủ, ông không hề biết tôi đã nói điều này bao nhiêu lần với người phụ nữ xinh đẹp và danh giá này, tôi không ngớt cảnh báo cô về ông, cho cô thấy tính khí ông thất thường, hay thay đổi như thế nào, bản chất ông là ngu ngốc và điên rồ, nhưng cô không tin vào lời tôi và tôi không hiểu cô thấy gì ở ông khi ông lại còn hói thế này. Nhưng khi còn trẻ, đàn bà cũng điên rồ như đàn ông và họ bị cái của nợ ấy của đàn ông cuốn hút, mà thôi, lần này tôi không thèm nhắc đến nữa, nhưng ông biết rõ tôi muốn nói gì và tôi nghĩ Merit cũng biết, vì cô ấy không còn thật trẻ nữa. Tuy nhiên, kinh nghiệm vẫn tốt với cả đàn bà lẫn đàn ông và càng quan trọng hơn với đàn bà, vì nó dạy họ cẩn trọng trong quan hệ với đàn ông và không dễ tin những lời lừa dối. Những con cá nhỏ này, chính tôi ngâm trong dầu theo cách của người Hy Lạp mà tôi nghĩ người Hy Lạp cũng không ngâm được tốt hơn, mặc dù cá lần này đã hơi có mùi ôi ôi.
Tôi cảm ơn Muti và tấm tắc khen tài nấu nướng của bà khiến bà rất vui lòng, mặc dù ra sức cau mày, khịt mũi và Merit cũng khen bà. Tôi không biết bữa ăn trong ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng này có gì đặc biệt hay đáng nhớ không, nhưng tôi kể về nó cho chính mình, bởi lúc đó tôi cảm thấy hạnh phúc và nói:
- Đồng hồ nước ơi hãy dừng lại và nước ơi đừng chảy nữa, vì thời khắc này thật tuyệt và ta không muốn thời gian trôi đi nữa để giây phút này không bao giờ mất.
Nhưng khi chúng tôi đang ăn, một nhóm người từ khu phố nghèo, ăn vận quần áo đẹp nhất và xức dầu lên mặt như vào ngày lễ thánh, kéo đến tập trung trong sân nhà tôi để chào tôi và phàn nàn với tôi về bệnh tật và những cơn đau của họ:
- Sinuhe, chúng tôi mong chờ ông lắm vì khi ông ở bên chúng tôi, chúng tôi đã không coi trọng ông đúng mức nhưng khi ông đi khỏi, chúng tôi mới nhận ra ông đã tốt như thế nào với chúng tôi, chúng tôi đã thiệt thòi biết bao nhiêu khi mất ông.
Họ mang quà cho tôi, những món quà nhỏ mọn và bình thường, bởi họ nghèo hơn trước rất nhiều vì thần của Pharaon Ekhnaton. Người thì mang cho tôi một đấu yến mạch, người thì mang cho tôi con chim họ ném được bằng cành cây, có người mang chà là khô và có người mang hoa vì họ không còn gì khác để mang đến và khi nhìn thấy số hoa trong sân nhà mình, tôi không còn ngạc nhiên vì sao những vườn hoa ở hẻm Nhân Sư lại trơ trụi và như bị vặt trộm. Trong số họ có viên ký lục già đầu vẹo sang bên vì cái bướu ở cổ và tôi ngạc nhiên vì ông vẫn còn sống. Trong số họ có nô lệ được tôi chữa lành các ngón tay, tự hào giơ và cử động các ngón cho tôi xem, anh ta chính là người mang đấu yến mạch đến, vì vẫn còn làm việc ở cối xay nên có thể lấy trộm từ đó. Trong số họ có người mẹ dẫn đứa con trai đến gặp tôi, cậu bé đã lớn đẹp và khỏe mạnh; mắt bị đánh thâm tím và chân có vết sứt xước, cậu tự hào khoe sẽ đánh bại bất cứ cậu bé nào bằng tuổi trong xóm. Trong số họ có cô gái bán hoa từng được tôi chữa lành mắt và chính là người khiến tôi không bao giờ hết việc vì đã bảo tất cả con gái trong nhà vui đến chỗ tôi để tôi cắt tẩy những vết chàm và mụn cóc trên da. Tất cả đều mang quà đến cho tôi và nói:
- Sinuhe, đừng chê quà của chúng tôi, mặc dù ông là danh y hoàng gia và ông sống trong cung điện của vua, vì chúng tôi rất vui khi gặp lại ông, chỉ cần ông đừng nói với chúng tôi về Aton nữa.
Tôi không nói với họ về Aton, mà tiếp từng người một tùy theo cơn đau của họ, lắng nghe những lời kêu van của họ, viết toa thuốc và chữa trị cho họ. Merit cởi bỏ bộ đồ đẹp của nàng để nó không bị vấy bẩn và giúp tôi rửa những ổ áp xe, làm sạch dao của tôi trên lửa và khuấy thức uống giảm đau cho những người có răng đau phải nhổ. Mỗi lần nhìn nàng tôi lại thấy vui và thỉnh thoảng tôi lại nhìn nàng giữa chừng, vì nàng rất đẹp, thân hình đầy đặn và mảnh mai; nàng không ngượng nghịu mặc dù phải bỏ bớt xống áo để làm việc như những đàn bà bình dân trong khi lao động và không bệnh nhân nào của tôi ngạc nhiên về điều đó vì họ có quá nhiều điều phải suy nghĩ về bệnh tật của mình.
Thế là thời gian của tôi trôi đi khi tiếp nhận bệnh nhân, như trước đây, và khi nói chuyện với họ, tôi vui mừng vì kiến thức và tài năng của mình có thể giúp họ và vui vì vừa làm việc vừa được ngắm nhìn Merit, người bạn của tôi. Nhiều lần tôi hít vào thật sâu và nói:
- Đồng hồ nước ơi hãy dừng lại, nước ơi đừng chảy vì khoảnh khắc đẹp như thế này của tôi không thể kéo dài lâu hơn nữa.
Như thế, tôi hoàn toàn không nhớ rằng mình phải đến hoàng cung và chuyến viếng thăm của tôi đã được thông báo cho Thái hậu. Nhưng tôi nghĩ là tôi không nhớ ra vì không muốn nhớ khi tôi đang hạnh phúc.
Cuối cùng, khi bóng chiều ngả dài và sân nhà tôi vắng lặng hẳn, Merit giội nước lên tay tôi và giúp tôi rửa tay, tôi cũng giúp nàng rửa tay và thấy thật vui khi làm việc đó. Nhưng khi tôi muốn chạm tay tôi vào má nàng và môi tôi vào môi nàng thì nàng đã đẩy tôi ra và nói:
- Sinuhe, hãy nhanh nhanh đi gặp mụ phù thủy của anh đi, đừng chần chừ nữa, để có thể trở về trước khi đêm đến, vì em nghĩ tấm thảm của em đang nôn nóng chờ anh. Thật vậy, em cũng như tấm thảm trong phòng mình đang nóng lòng đợi anh, dù em không hiểu vì sao lại vậy, Sinuhe ạ, bởi vì dù chân tay của anh rất mềm, thịt da anh mềm nhão và em cũng không nói là anh biết vuốt ve, nhưng với em, anh vẫn đặc biệt hơn tất cả những người đàn ông khác, vì thế em hiểu rõ tấm thảm của mình.
Nàng quàng buộc lại các tước hiệu của tôi quanh cổ tôi, đặt mái tóc giả danh y lên đầu tôi và lấy tay vuốt ve má tôi khiến tôi không hề muốn rời nàng đến hoàng cung, mặc dù tôi vô cùng hoảng hốt khi chợt nhớ đến Thái hậu. Tôi giục nô lệ chạy, thúc họ bằng gậy và bạc, tôi cũng dùng gậy và bạc đốc thúc những người chèo thuyền làm nước kêu rào rào trước mũi thuyền khi chúng tôi chèo đến bên tường thành của hoàng cung. Cứ như vậy, thuyền của tôi cập bến và tôi kịp vào hoàng cung khi mặt trời vừa chìm xuống sau dãy núi phía tây và các vì sao lấp lánh trên bầu trời.
Nhưng trước khi kể về cuộc trò chuyện của tôi với Thái hậu, tôi phải kể rằng trong suốt những năm này, bà chỉ đến thành phố Akhetaton hai lần để gặp con trai mình và cả hai lần đều khiển trách ngài về sự điên rồ của ngài, khiến Pharaon Ekhnaton rất buồn vì ngài yêu quý Thái hậu và mù quáng vì người, như đám con trai thường mù quáng vì mẹ mình cho đến khi lấy vợ mới nhờ vợ mà sáng mắt ra. Nhưng Nefertiti đã không giúp Ekhnaton mở mắt được chỉ vì cha của người. Tôi buộc phải thừa nhận rằng trong thời gian này giáo sĩ Eje và Thái hậu Teje hoàn toàn tự do sống với nhau, thậm chí không thèm giấu giếm hạnh phúc mà cùng nhau xuất hiện và theo sát nhau từng bước như thể canh chừng cho nhau. Tôi không biết liệu hoàng gia đã bao giờ trải qua nỗi nhục công khai đến mức như vậy chưa, nhưng có lẽ những điều như thế không được ghi chép lại mà bị chôn vùi và lãng quên theo những người từng là nhân chứng. Nhưng tôi vẫn không muốn nói gì về dòng dõi của Pharaon Ekhnaton mà tin rằng dòng dõi của ngài là linh thiêng, vì nếu trong huyết quản của ngài không có dòng máu hoàng tộc của cha mình thì trong huyết quản ấy hoàn toàn không có dòng máu hoàng gia, vì ngài không được thừa hưởng dòng máu hoàng tộc từ mẹ mình, khi đó ngài đúng là một pharaon giả, như các giáo sĩ đã tuyên bố, và mọi điều đã xảy ra sẽ còn sai trái hơn, vô ích và điên rồ hơn. Vì vậy, tôi hoàn toàn không muốn tin vào các giáo sĩ mà tin vào lý trí và trái tim mình hơn.
Dù sao, Thái hậu Teje đã tiếp tôi trong sảnh riêng của bà, nơi có rất nhiều loài chim nhỏ đã bị cắt ngắn lông cánh, nhảy nhót, ríu rít trong lồng. Có vẻ như Thái hậu vẫn chưa quên được việc mình đã làm thời trẻ, vẫn thích dùng nhựa và giăng lưới bắt chim trong vườn thượng uyển. Khi tôi đến gần, bà đang bện thảm từ những cọng sậy được nhuộm màu, cáu kỉnh chào tôi và mắng tôi đã đến muộn rồi hỏi:
- Bệnh điên của con trai ta đã đỡ chút nào chưa, hay đã đến lúc phải khoan sọ của nó, vì nó nói quá nhiều về Aton của mình khiến dân chúng không yên, điều mà giờ đây không cần thiết nữa, bởi vì thần giả đã bị lật đổ và không còn ai tranh giành quyền lực với Aton.
Tôi kể cho Thái hậu nghe về sức khỏe của Pharaon Ekhnaton, về các công chúa nhỏ, những trò họ thích chơi, những con linh dương và chó cũng như những chuyến chèo thuyền trên hồ thánh Akhetaton của họ cho đến khi Thái hậu nguôi giận và cho phép tôi ngồi cạnh chân bà và mời tôi bia. Nhưng Thái hậu mời tôi bia hoàn toàn không phải vì hà tiện, mà giống như những dân quê, bà thích bia hơn rượu; bia của bà rất mạnh và ngọt, bà có thể uống nhiều hũ một ngày, đến nỗi vì bia cơ thể bà phồng căng và mặt bà cũng phị ra gớm ghiếc, nên khuôn mặt bà quả thực trông giống như mặt người da đen, cho dù da không đen đến thế. Nếu có dịp diện kiến bà, chắc không ai có thể nghĩ bà già phì nộn này từng chiếm được trái tim của Pharaon Đại đế bằng sắc đẹp của mình trước đây. Vì thế dân chúng mới nói bà đã giành được sự sủng ái của Pharaon nhờ ma thuật của người da đen, bởi hiếm khi một pharaon phong một cô gái bẫy chim bên bờ sông làm hoàng hậu vĩ đại.
Khi uống bia, Thái hậu bắt đầu nói chuyện với tôi một cách tin cậy và cởi mở; điều đó không có gì lạ, vì tôi là thầy thuốc và đàn bà thường tin thầy thuốc hơn người khác, về mặt này Thái hậu Teje không khác những người phụ nữ khác. Nhưng thông thường khi cảm thấy cái chết đang cận kề, con người ta bắt đầu nói chuyện với người lạ cởi mở hơn và tin cậy hơn là với những người thân cận của mình, đây là chỉ dấu báo hiệu cái chết, mặc dù bản thân người đó thường không nhận ra, vì vậy tim tôi dần ớn lạnh trong khi bà nói với tôi với vẻ tin cậy đến phát sợ. Và tôi hỏi về những lần đau yếu của bà, nhưng bà cười tôi và nói không thấy có bệnh gì ngoại trừ bệnh do bia gây nên và bụng đầy hơi, nhưng tôi hoài công khuyên bà từ bỏ bia vì bà không có ý định từ bỏ nó, không coi bia là nguy hiểm và vẫn chưa mơ thấy con hà mã nào.
Bia khiến bà hào hứng khi tiếp chuyện tôi:
- Sinuhe, người mà con trai ta với sự ngu ngốc của mình đã đặt cho tên Người Cô Đơn, mặc dù ngươi không có vẻ cô đơn chút nào và ta cược rằng đêm đêm ở Akhetaton, ngươi vui vẻ với nhiều phụ nữ khác nhau, vì ta quá biết những mụ đàn bà ở Akhetaton. Sinuhe, ngươi là một người trầm tĩnh, có lẽ là trầm tĩnh nhất trong số những người ta biết và sự trầm tĩnh của ngươi thực sự khiêu khích ta, nên ta chỉ muốn lấy kim đồng châm ngươi để nhìn ngươi nhảy dựng và hét lên. Ta không biết ngươi lấy tính trầm tĩnh này từ đâu, nhưng ngươi chắc chắn là người tốt bụng, mặc dù ta không hiểu con người ta được lợi lộc gì khi tốt bụng cơ chứ, vì ta nhận thấy chỉ những kẻ ngu ngốc, không biết làm gì mới tốt bụng. Dù sao, sự có mặt của ngươi làm ta vô cùng yên tâm và ta muốn nói với ngươi rằng Aton này, vị thần mà trong cơn ngu dốt của mình ta đã bỏ mặc, đang khiến ta rất lo lắng. Ta không muốn mọi chuyện đi quá xa như thế này mà chỉ nghĩ ra Aton để lật đổ Amon, để quyền lực của ta và con trai ta lớn mạnh hơn, và thực ra Aton là do Eje nghĩ ra; Eje là chồng ta như ngươi biết hoặc có thể ngươi thực sự ngây thơ đến mức không biết, nhưng cứ nói thẳng ra ông ấy là chồng ta, mặc dù chúng ta không thích hợp để cùng nhau đập bể vò. Ta chỉ muốn nói là Eje đáng nguyền rủa đó, tinh lực giờ đây không hơn núm vú con bò, đã mang Aton theo ông ta từ Heliopolis đến và đầu độc thằng bé. Ta thực sự không hiểu con trai ta nghĩ nó sẽ tìm thấy gì ở thần ấy, nhưng hồi nhỏ nó có những giấc mơ vào ban ngày và ta không thể nghĩ gì khác hơn là nó bị điên và sọ nó cần được khoan. Ta cũng không hiểu điều gì trù yểm nó khi vợ nó, con gái xinh đẹp của Eje, chỉ sinh cho nó toàn con gái, mặc dù các phù thủy yêu quý của ta đã cố giúp hết sức. Ta cũng không hiểu tại sao thiên hạ lại ghét các phù thủy của ta, vì họ là những người rất đáng yêu, mặc dù họ là người da đen, xâu ngà voi vào mũi, căng môi và kéo đầu con cái họ. Nhưng ta biết dân chúng căm thù họ nên ta phải giấu họ trong hang của hoàng cung, vì nếu không họ sẽ bị giết, mà ta lại không thể từ bỏ họ, vì không ai biết cù lòng bàn chân ta như họ và chế cho ta các loại thuốc để nhờ chúng ta được tận hưởng khoái lạc của đàn bà. Nếu ngươi nghĩ ta không còn chút vui thú nào từ Eje thì ngươi đã nhầm to, mà ta cũng thực không hiểu tại sao ta lại bám lấy ông ta như vậy, mặc dù hạ bệ ông ta thì tốt hơn. Ý ta muốn nói là tốt hơn cho bản thân ta. Nhưng có lẽ ta không thể loại bỏ ông ta được nữa dù ta muốn và cả điều này cũng khiến ta lo lắng. Vì thế ta chỉ còn có niềm vui duy nhất bên những người da đen thân yêu của mình.
Thái hậu khẽ cười khinh khích một mình như các bà thợ giặt ở bến cảng cười khi họ uống bia và khi họ đang vui. Vừa cười khinh khích bà vừa nói tiếp:
- Những người da đen này của ta là những thầy thuốc lành nghề, Sinuhe ạ, mặc dù dân chúng gọi họ là phù thủy nhưng đó chỉ là do ngu dốt mà thôi, và cả ngươi cũng nên học thêm kỹ năng của họ, nếu ngươi bỏ qua định kiến về màu da lẫn mùi của họ và nếu họ bằng lòng truyền cho ngươi kỹ năng của mình, điều mà ta không tin, vì họ luôn giấu kín. Màu da của họ ấm áp, mùi của họ không khó chịu mà nếu quen sẽ làm ta vui và phấn khích, và một khi đã quen rồi sẽ không sống thiếu nó được nữa. Ta có thể kể cho ngươi, Sinuhe, vì ngươi là danh y và chính vì vậy không thể tiết lộ điều ta nói, rằng đôi khi ta cũng vui vẻ với họ, vì là thầy thuốc, họ đã kê đơn thuốc đó cho ta và mụ già như ta đôi lúc cũng phải được tận hưởng lạc thú. Nhưng ta vui thú không phải để trải nghiệm điều gì đó mới mẻ, giống như đám cung nữ lăng loàn trong cung vui thú với người da đen khi đã nếm đủ mọi thứ và chán mọi khẩu vị nên cho rằng thịt thối rữa đến mức thích hợp mới là món ngon nhất. Không, ta hoàn toàn không vì lý do này mà yêu những người da đen của mình, vì máu của ta còn tươi trẻ và đỏ, không cần những chất kích thích nhân tạo, mà người da đen là bí ẩn đối với ta, giúp ta đến gần hơn với nguồn sống ấm áp, gần hơn với bùn đất, mặt trời và muông thú. Tuy nhiên, ta khuyên ngươi không nên tiết lộ chia sẻ này của ta với người khác, nhưng nếu ngươi tiết lộ cũng không sao, vì ta luôn có thể nói rằng điều đó là do ngươi bịa đặt. Dân chúng lại tin tất cả những gì người ta kể về ta nên danh tiếng của ta đối với thần dân không còn có thể bị tổn hại hơn thế nữa và do đó ngươi nói gì với mọi người không quan trọng, song ta vẫn khuyên ngươi không nên kể vì ngươi là một người tốt, còn ta thì không.
Thái hậu buồn hẳn và không uống bia nữa mà tiếp tục đan tấm thảm sậy bằng những thân sậy sặc sỡ, còn tôi nhìn chằm chằm vào những ngón tay đen sạm của bà bởi tôi không dám nhìn thẳng vào mắt bà. Vì tôi im lặng và không hứa gì nên bà tiếp tục:
- Chỉ với lòng tốt, con người sẽ không đạt được bất cứ điều gì, mà điều duy nhất có chút ý nghĩa trên đời là quyền lực. Nhưng chính những người sinh ra nơi quyền lực lại không thể hiểu giá trị của quyền lực, mà chỉ có những người sinh ra giữa các ngón chân đầy phân như ta mới hiểu được giá trị của nó. Quả thật, Sinuhe, ta nhận ra giá trị của quyền lực và tất cả những gì ta đã làm là vì quyền lực, là để giữ quyền lực cho con trai ta và cho con trai của con trai ta, để dòng máu của ta sẽ sống mãi trên ngai vàng của pharaon, và ta đã không từ bất cứ việc gì nhằm đạt được điều đó. Có thể những việc ta làm là xấu xa trước các vị thần, nhưng thành thật mà nói ta không quan tâm lắm đến thần linh vì các pharaon là những người cao hơn các vị thần và cuối cùng không có việc tốt hay xấu, mà việc tốt là việc đã thành công, việc xấu là việc thất bại và bị bại lộ. Tuy nhiên, đôi khi trái tim ta rung động và ruột gan như tan thành nước khi ta nghĩ về những việc mình làm, vì ta chỉ là đàn bà và tất cả đàn bà đều mê tín, nhưng trong việc này ta hy vọng những người da đen của ta có thể giúp ta. Ta hết sức kinh hoàng khi thấy Nefertiti sinh hết đứa con gái này đến đứa con gái khác, vì bốn lần liên tiếp nó đã sinh con gái và mỗi lần nó sinh, ta thấy như thể mình đã ném hòn đá ra sau lưng nhưng rồi lại thấy nó trước mặt trên đường mình đi, ta không giải thích được điều này, nhưng sợ rằng bằng những việc làm của mình, ta đã gây ra lời nguyền độc địa luôn rình rập ta phía trước.
Bà ta lẩm bẩm vài lời cầu nguyện giữa đôi môi dày và luống cuống xê dịch hai bàn chân to trên sàn, nhưng những ngón tay vẫn thoăn thoắt, khéo léo luồn những cây sậy màu đan tiếp tấm thảm và tôi chằm chằm nhìn những ngón tay đen sạm của bà ta mà tim ớn lạnh. Vì bà ta đan tấm thảm sậy bằng những múi đan của người săn chim, và tôi biết những múi đan này, là những múi đan hiếm gặp của miền Hạ mà khi còn là một cậu bé, tôi đã nhìn thấy chúng trong nhà bố tôi, trên chiếc thuyền sậy đầy bồ hóng treo trên giường của mẹ tôi. Khi nhận ra điều này, lưỡi tôi khô lại và chân tay tôi cứng đờ, vì vào đêm tôi ra đời, một làn gió tây nhè nhẹ thổi qua, đưa chiếc thuyền sậy trôi xuôi dòng sông vào mùa nước lũ và nó đã dạt vào bờ gần nhà của bố tôi. Ý nghĩ nảy sinh trong tôi, khi tôi nhìn những ngón tay đan của Thái hậu, khủng khiếp và điên rồ đến nỗi tôi không muốn nghĩ về nó mà chỉ tự nhủ rằng bất cứ ai cũng có thể dùng những múi đan của người bẫy chim để đan một chiếc thuyền sậy. Nhưng những người bẫy chim hành nghề của họ ở miền Hạ, chứ tôi chưa thấy ai ở Thebes đan những múi đan tương tự. Vì thế khi còn nhỏ, tôi thường nhìn chằm chằm vào chiếc thuyền sậy đầy bồ hóng với những thân sậy bị mủn và ngạc nhiên trước những múi đan giữ chúng lại với nhau, mặc dù lúc ấy tôi không hề biết chiếc thuyền sậy đó liên quan gì đến số phận của mình.
Nhưng Thái hậu Teje vĩ đại không nhận thấy sự ớn lạnh kinh hoàng của tôi, cũng không cần câu trả lời, mà chìm vào suy nghĩ và ký ức của riêng mình rồi nói:
- Sinuhe, có lẽ ngươi nghĩ ta là một mụ đàn bà xấu xa và đáng ghét, khi ta bộc bạch với ngươi như thế, nhưng đừng quá khắt khe với những việc làm của ta mà hãy thử hiểu ta. Thật không dễ dàng để một cô gái bẫy chim nghèo khổ đến được hậu cung của Pharaon, nơi cô ta bị khinh thường vì làn da sẫm màu và đôi chân quá cỡ, bị hàng ngàn mũi kim đâm chọc và không gì cứu giúp được cô ta ngoài tính khí thất thường của Pharaon cùng với vẻ đẹp và sự trẻ trung của thân thể cô. Có lẽ ngươi không ngạc nhiên khi ta tìm mọi cách chinh phục trái tim của Pharaon, đêm đêm tập cho ngài quen dần với những tập tục kỳ lạ của người da đen cho đến khi người không thể sống thiếu những cái vuốt ve âu yếm của ta và để ta cai trị Ai Cập thông qua người. Bằng cách đó, ta đã đánh bại mọi mưu mô trong cung đình, tránh được mọi cạm bẫy và xé toạc mọi tấm lưới người ta giăng chặn trên đường ta đi, ta cũng không ngại trả thù nếu ta có lý do làm điều đó. Rồi ta lấy nỗi sợ hãi khóa miệng lưỡi của mọi người xung quanh ta và thống trị hoàng cung theo ý muốn của ta, và ý muốn của ta là không một phi tần nào được sinh con trai cho Pharaon cho đến khi ta sinh được con trai cho ngài. Vì vậy, không phi tần nào trong hậu cung của Pharaon sinh được con trai cho Pharaon, và khi những đứa con gái của ngài được sinh ra, ta gả chúng cho các quý tộc ngay khi chào đời. Ý chí của ta mạnh như vậy, nhưng lúc đó bản thân ta cũng không dám sinh đẻ, sợ rằng mình sẽ xấu đi trong mắt ngài, vì lúc đầu ta chỉ có thân xác để điều khiển ngài cho đến khi kịp quấn trái tim ngài vào ngàn tấm lưới. Nhưng ngài bắt đầu già đi và những cái vuốt ve âu yếm mà ta dùng để trói buộc ngài đã làm ngài yếu đi, vì vậy khi thời điểm chín muồi để sinh nở, ta đã sinh con cho ngài nhưng trời ơi lại là một đứa con gái. Nhưng nó đã lớn lên, là Baketaton đấy, và ta chưa gả nó cho ai mà nó vẫn là một mũi tên trong ống tên của ta, vì người khôn ngoan giữ nhiều mũi tên trong ống chứ không chỉ trông vào một mũi tên duy nhất. Thời gian trôi đi và ta đã sống trong nỗi thống khổ cùng cực cho đến cuối cùng ta sinh được cho ngài một đứa con trai, mặc dù con trai ta mang đến cho ta ít niềm vui hơn ta mong đợi vì nó bị điên, vì thế ta gửi gắm hy vọng vào con trai của nó, tuy đứa bé vẫn chưa chào đời. Quyền lực của ta lớn đến mức không một phi tần nào trong hậu cung của Pharaon sinh được con trai cho ngài suốt ngần ấy năm mà chỉ sinh rặt con gái. Sinuhe, với tư cách là một danh y, ngươi có thừa nhận rằng tài năng và phép thuật phù thủy này của ta rất kỳ lạ không?
Lúc đó tôi run lên, nhìn thẳng vào mắt bà ta và nói:
- Phép thuật của người quá đơn giản và đáng khinh, thưa Thái hậu vĩ đại, vì Thái hậu đan nó vào những thân sậy loang lổ bằng ngón tay mình, khiến ai cũng có thể nhận ra.
Bà ta đánh rơi những thân sậy như thể chúng đốt cháy ngón tay bà và đôi mắt đỏ mọng vì bia của bà đảo đi đảo lại một cách sợ hãi khi bà nói:
- Sinuhe, cả ngươi cũng là một phù thủy hay sao mà nói như thế, hay là bàn dân thiên hạ đã biết điều đó rồi?
Tôi đáp:
- Dân chúng biết tất cả, mặc dù không ai nói với họ, vì trước sau gì cũng không giấu được họ. Có thể không ai nhìn thấy những việc người làm, thưa Thái hậu vĩ đại, nhưng đêm đen nhìn thấy người và gió đêm thì thầm những việc làm của người vào biết bao nhiêu đôi tai và người không thể chặn tiếng thì thầm của gió, cho dù người có thể khóa miệng lưỡi mọi người. Tuy nhiên, tấm thảm được ngón tay Thái hậu đan dệt là một tấm thảm ma quỷ tuyệt đẹp và thần sẽ rất biết ơn nếu Thái hậu tặng cho thần làm quà, vì thần sẽ rất quý và trân trọng tấm thảm của người, chắc chắn là hơn bất kỳ ai khác mà Thái hậu định tặng nó.
Thái hậu dần bình tĩnh lại trong lúc tôi nói, tiếp tục đan với những ngón tay run rẩy và uống bia. Khi tôi dứt lời, bà ta nhìn tôi đầy gian xảo và nói:
- Có lẽ ta sẽ tặng tấm thảm này cho ngươi, Sinuhe, khi ta làm xong nó. Đây là tấm thảm đẹp và đắt tiền vì chính tay ta đan nó và như vậy nó là tấm thảm hoàng gia. Người tặng quà muốn được đền đáp, vậy ngươi định tặng lại ta quà gì, Sinuhe?
Tôi bật cười và dửng dưng đáp:
- Thưa Thái hậu, người sẽ được nhận lưỡi của thần. Nhưng thần mong Thái hậu cho phép thần giữ nó trong miệng mình cho đến lúc chết. Bởi lưỡi thần sẽ không nói ra điều gì tổn thương Thái hậu. Vì thế thần tặng nó cho Thái hậu.
Bà ta lầm bầm một mình rồi liếc xéo tôi và nói:
- Sao ta lại chấp nhận món quà mà ta đã có chứ? Không ai ngăn cản nếu ta lấy lưỡi của ngươi và ta cũng có thể lấy tay ngươi, để ngươi không thể ghi chép lại những gì ngươi không thể nói. Ta cũng có thể đưa ngươi đến hầm của mình để chào những người da đen đáng yêu của ta, từ đó có lẽ ngươi sẽ không bao giờ trở về, vì họ thích lấy người để hiến tế.
Nhưng tôi nói với bà ta:
- Người đã uống quá nhiều bia rồi thưa Thái hậu. Tối nay người đừng uống thêm nữa, nếu không người có thể thấy hà mã trong mơ. Lưỡi của thần là của Thái hậu và thần mong sẽ được tặng tấm thảm này khi người đan xong.
Tôi đứng dậy và bà ta không ngăn tôi mà còn cười khinh khích như một mụ già cười trong lúc say và nói:
- Ngươi khiến ta vui lắm, Sinuhe, ngươi làm ta vui lắm.
Thế là tôi rời hoàng cung trở về thành phố mà không bị ai ngăn cản và Merit đã cho tôi nằm cùng trên tấm thảm của nàng. Nhưng hạnh phúc của tôi không còn trọn vẹn, khi tôi nghĩ đến chiếc thuyền sậy đen vì bồ hóng từng treo trên giường của mẹ tôi, nghĩ đến những ngón tay sạm đen đan sậy thành thảm với những múi đan của người bẫy chim và tôi nghĩ đến làn gió đêm đẩy những chiếc thuyền nhẹ rời khỏi tường thành của hoàng cung trôi theo sông và dạt vào Thebes. Nghĩ đến tất cả những điều này, tôi không còn thấy thật hạnh phúc nữa, vì càng biết thêm chỉ càng thấy đau buồn hơn, và tôi ước gì mình không biết đến nỗi đau buồn này vì tôi không còn trẻ nữa.
❖ 5 ❖
Nhà Sống là lý do để tôi trở lại Thebes vì đã nhiều năm tôi không đến đó, mặc dù là danh y khoan sọ hoàng gia, tôi có trách nhiệm phải đến và tôi cũng sợ kỹ năng của mình mai một vì trong suốt thời gian ở Akhetaton, tôi không khoan hộp sọ nào. Vì vậy, tôi đã đến Nhà Sống, giảng một vài bài ở đó và dạy những y sinh đã chọn hộp sọ người làm chuyên ngành của họ. Nhưng Nhà Sống không còn được như trước và tầm quan trọng của nó đã giảm đi rất nhiều vì mọi người, ngay cả những người nghèo, không muốn đến khám ở đó và các danh y giỏi nhất cũng thôi việc ở Nhà Sống, chuyển đến thành phố hành nghề. Tôi cứ nghĩ tri thức đã được tự do phát triển vì học trò không cần có bằng giáo sĩ bậc một mới được vào Nhà Sống và không ai ngăn cấm họ hỏi “Vì sao?”, nhưng tôi rất thất vọng, vì các học trò còn trẻ người non dạ và cũng không muốn hỏi “Vì sao?”, mà mong muốn lớn nhất của họ là tiếp nhận được kiến thức từ người thầy và có tên trong sách của Nhà Sống để họ có thể bắt đầu hành nghề và kiếm vàng bạc bằng kiến thức của mình.
Có ít bệnh nhân đến mức phải sau vài tuần tôi mới có dịp được khoan ba hộp sọ, vì tôi muốn kiểm tra lại kỹ năng của mình. Khoan xong các hộp sọ này, tôi trở nên nổi tiếng, cả các danh y lẫn y sinh đều tán dương tôi, ngợi khen sự khéo léo và nhanh nhẹn của đôi tay tôi. Nhưng tôi lại cảm thấy rất buồn vì đôi tay mình không còn được thuần thục và điêu luyện như những ngày hoàng kim. Mắt tôi cũng mờ đi nên tôi không nhanh nhạy, dễ dàng nhìn ra và chẩn đoán được bệnh của bệnh nhân như trước mà phải đưa ra nhiều câu hỏi, phải khám rất lâu và kỹ để chắc chắn về bệnh của họ. Vì thế, hằng ngày tôi vẫn tiếp nhận bệnh nhân tại nhà mình và chữa bệnh cho họ mà không yêu cầu họ tặng quà, nhằm lấy lại các kỹ năng ngày trước.
Dù sao, tôi cũng đã khoan ba hộp sọ trong Nhà Sống, một trong ba ca đó rất đáng thương vì bệnh vô phương cứu chữa và người bệnh quá đau đớn. Hai ca còn lại rất đáng lưu tâm, cần đến tất cả kỹ năng của tôi. Ca thứ nhất là một người đàn ông trước đó vài năm đã ngã xuống đường từ trên mái một ngôi nhà nơi anh ta bỡn cợt với vợ người khác vào một ngày hè nóng bức. Anh ta ngã khi trốn chồng người kia song không bị thương nặng lắm. Nhưng sau đó một thời gian, anh ta mắc phải một căn bệnh bí hiểm, không ngớt lên cơn động kinh và bây giờ vẫn bị co giật mỗi khi uống rượu. Anh ta không bị ác mộng mà chỉ luôn hét lên giọng hung hãn, đá chân, cắn lưỡi và đái dầm. Anh ta sợ những lần lên cơn của mình đến mức muốn được mổ và bản thân cầu xin điều đó. Vì vậy, tôi đồng ý khoan sọ cho anh ta và theo lời khuyên của các thầy thuốc ở Nhà Sống, tôi đã bảo người cầm máu phụ giúp, mặc dù tôi không quen dùng người này mà chủ yếu dựa vào kỹ năng của mình. Người cầm máu này thậm chí còn đờ đẫn và mơ ngủ hơn người cầm máu đã chết trong hoàng cung của Pharaon mà tôi đã kể trước đây, nên phải đẩy và thúc anh ta trong suốt ca phẫu thuật để anh ta tỉnh táo và nhớ việc của mình. Thế mà thỉnh thoảng máu vẫn rỉ ra từ vết mổ. Dù sao tôi đã mở vỏ hộp sọ của người bệnh và thấy nhiều chỗ trong não anh ta thâm đen vì máu chảy ra lúc ngã. Vì vậy phải mất nhiều thời gian để làm sạch và tôi không thể rửa sạch hoàn toàn lớp vỏ não mà không làm tổn thương anh ta. Dù sao anh ta không còn lên cơn động kinh nữa, vì đã chết vào ngày thứ ba sau khi mổ, như nhiều ca mổ khác. Nhưng ca mổ này vẫn được đánh giá là rất thành công và kỹ năng của tôi được ca ngợi rất nhiều, các học trò ghi lại tất cả những gì tôi đã làm và chỉ cho họ xem.
Ca thứ hai đơn giản, bệnh nhân là một cậu bé được lính canh phát hiện thấy khi nằm bất tỉnh trên đường phố và hộp sọ bị móp vào trong. Tôi tình cờ ở trong Nhà Sống khi lính canh khênh cậu bé vào và tôi biết mình không có gì để mất, vì người ta nghĩ chắc chắn cậu sẽ chết và không danh y nào muốn động vào cậu. Vì vậy, tôi khoan cái đầu bị vỡ của cậu nhanh hết khả năng, nhặt những mẩu xương vụn ra khỏi não và bịt kín chỗ hở trên đầu bằng miếng bạc đã được sát trùng. Cậu bé đã hồi phục và đến tận hai tuần sau khi tôi rời khỏi Thebes vẫn còn sống, nhưng cậu khó cử động tay và không cảm thấy nhột khi bị cù vào lòng bàn tay cũng như lòng bàn chân. Song tôi tin thời gian qua đi, cậu ấy sẽ hoàn toàn lành lặn. Tuy nhiên, ca khoan sọ này không thu hút nhiều sự chú ý bằng ca mổ cho người bị động kinh, mà mọi người đều coi thành công của tôi với ca này là tất nhiên và rõ ràng và chỉ ca ngợi sự thuần thục của đôi tay tôi. Nhưng ca này đáng chú ý ở chỗ vết thương ở đầu và vì khẩn cấp nên tôi không thể cạo sạch tóc trên đầu cậu bé trước khi khoan hộp sọ, nên sau khi kéo da đầu trùm lên miếng bạc và khâu kín lại, tóc cậu lại tiếp tục mọc như trước và vì vậy không ai còn nhìn thấy vết mổ.
Mặc dù tôi được kính trọng trong Nhà Sống đúng với danh vị của mình, nhưng các danh y già vẫn lảng tránh và không dám tin tưởng, nói chuyện với tôi, vì tôi từ Akhetaton đến và họ vẫn sợ hãi quyền lực của thần giả. Tôi không nói chuyện với họ về Aton và chúng tôi chỉ nói với nhau về những việc liên quan đến nghề y. Ngày này qua ngày khác, họ thăm dò suy nghĩ của tôi và đánh hơi tôi như chó ngửi đất tìm kiếm thứ gì đó cho đến khi tôi lấy làm ngạc nhiên về việc làm của họ. Cuối cùng, sau lần khoan sọ thứ ba của tôi, một danh y khôn ngoan và sử dụng dao mổ thành thạo đã đến gặp tôi và nói:
- Danh y hoàng gia Sinuhe ạ, chắc ông thấy Nhà Sống vắng vẻ hơn trước nhiều và ít người cần đến kỹ năng của chúng tôi như trước, mặc dù ở Thebes vẫn có nhiều người bệnh và có thể nhiều hơn cả trước đây. Ông đã đi đến nhiều quốc gia và được thấy nhiều cách chữa bệnh, nhưng tôi nghĩ ông chưa bao giờ thấy những cách chữa đang được âm thầm, bí mật thực hiện ở Thebes ngày nay, bởi vì những cách ấy không cần dao hay lửa, không cần thuốc, cũng không cần băng. Tôi được giao trách nhiệm kể cho ông biết về những cách thức này và hỏi ông có muốn đến mục kích không. Nhưng ông phải hứa không tiết lộ với bất kỳ ai về những gì ông nhìn thấy, ông cũng phải chịu bị bịt mắt khi được dẫn vào nơi chữa trị linh thiêng để không được biết chỗ ấy là đâu.
Điều ông ta nói khiến tôi khó chịu, vì tôi sợ sẽ đi ngược với Pharaon về việc này. Song tôi rất tò mò nên nói:
- Quả thật tôi có nghe nói hiện giờ có rất nhiều điều kỳ lạ đang diễn ra ở Thebes. Đàn ông kể chuyện cổ tích và phụ nữ nhìn thấy ảo giác, nhưng tôi chưa hề nghe nói về cách thức chữa trị mới nào. Là thầy thuốc tôi cũng rất nghi ngờ về những cách chữa không cần dao và lửa, không cần thuốc và băng. Vì thế tôi không muốn can dự vào việc lừa bịp nào để tên tôi không bị lợi dụng làm chứng cho những gì không đúng sự thật và không thể xảy ra.
Ông ta liền phản bác lại lời tôi:
- Chúng tôi đã nghĩ ông không có định kiến gì, danh y hoàng gia Sinuhe, vì ông đã chu du nhiều nước và thụ đắc những kiến thức không được biết đến ở Ai Cập. Chẳng phải máu cũng ngừng chảy mà không cần dùng kẹp hoặc sắt nóng rẫy? Vậy sao không thể chữa lành bệnh khi không có dao hoặc lửa? Tên của ông sẽ không bị ảnh hưởng vì việc này, nhưng chúng tôi có những lý do đặc biệt muốn ông chứng kiến và biết không có sự bịp bợm nào trong cách chữa trị này. Ông là Người Cô Đơn, Sinuhe, và là một nhân chứng trung thực, do đó chúng tôi cần chính ông.
Lời ông ta nói khiến tôi kinh ngạc và tò mò. Là danh y, tôi cũng muốn nâng tầm hiểu biết của mình. Vì vậy tôi đồng ý với đề nghị của ông ta và tối đến, ông ta đưa kiệu của mình tới nhà đón tôi, khi lên kiệu ông ta dùng vải bịt mắt tôi lại để tôi không biết mình được đưa đi theo hướng nào. Khi kiệu dừng, ông ta dắt tôi đi dọc theo nhiều hành lang và lên xuống nhiều bậc thang cho đến khi tôi thấy chán ngấy và nói rằng tôi không còn muốn dính vào trò hề này nữa. Nhưng ông ta trấn an tôi và tháo vải bịt mắt rồi đưa tôi đến một sảnh có nhiều ngọn đuốc đang cháy và các bức tường bằng đá. Trên sàn sảnh có ba người bệnh nằm trên cáng; một giáo sĩ đầu cạo trọc, mặt bóng nhẫy dầu thánh đi đến bên tôi. Ông ta gọi tên tôi và đề nghị tôi kiểm tra những người bệnh thật cẩn thận để thấy ở đây không hề có gì mờ ám. Giọng ông ta nghiêm trang và trầm ấm, đôi mắt nhìn đầy vẻ cẩn trọng, vì vậy tôi đã làm theo đề nghị của ông ta và khám cho các bệnh nhân với sự trợ giúp của danh y Nhà Sống.
Tôi thấy ba bệnh nhân này bị ốm thật và không thể tự đứng dậy bước khỏi cáng. Một người là một thiếu phụ, thân hình gầy gò, tay chân khô và hoàn toàn không còn sức sống, đến nỗi trên khuôn mặt hốc hác chỉ còn đôi mắt lờ đờ, sợ hãi. Người thứ hai là một cậu bé toàn thân nổi mẩn đỏ dày và đầy mụn ghẻ mọng nước. Người thứ ba là một ông già, hai chân bị tê đến mức không thể đi được, mà ông ta cũng không giả vờ, vì tôi châm mũi kim vào chân ông mà ông không cảm thấy đau ở những chỗ đó. Cuối cùng, tôi nói với giáo sĩ: “Tôi đã kiểm tra cả ba bệnh nhân này bằng tất cả kinh nghiệm của mình, và nếu tôi là danh y của họ, tôi không thể làm gì khác hơn là gửi họ đến Nhà Sống. Ngay cả Nhà Sống cũng khó chữa được cho thiếu phụ và cụ già, nhưng bệnh của cậu bé có thể thuyên giảm nếu được tắm lưu huỳnh hằng ngày”.
Vị giáo sĩ mỉm cười và bảo cả hai thầy thuốc chúng tôi ngồi xuống ghế dưới bóng tối ở phía sau sảnh và kiên nhẫn chờ. Sau đó, ông gọi nô lệ vào sảnh và họ nâng bệnh nhân và cả cáng lên bàn thờ rồi thắp hương trầm trong các lư hương để gây mê. Từ phía hành lang vọng lại tiếng hát, một nhóm giáo sĩ vừa hát những bài thánh ca của Amon vừa đi vào sảnh. Họ đứng từng nhóm xung quanh bệnh nhân và bắt đầu cầu nguyện, nhảy múa và hò hét. Họ cứ thế nhảy và hét cho đến khi mặt bắt đầu toát mồ hôi, rồi họ dứt bỏ vải choàng trên vai, rung lắc những cái xúc xắc trong lòng bàn tay và dùng đá nhọn cào lên ngực đến chảy máu. Tôi đã từng chứng kiến cảnh tượng tương tự ở Syria và là thầy thuốc, tôi lạnh lùng nhìn sự cuồng nhiệt của họ cho đến khi họ bắt đầu gào nhiều hơn trước và đấm nắm tay vào tường đá.
Bức tường đá mở ra và dưới ánh sáng của những ngọn đèn, tượng Amon linh thiêng siêu phàm và đáng sợ hiện lên trước mặt họ. Đúng lúc đó các giáo sĩ im bặt, một sự im lặng đến rợn người sau tiếng ồn ào ầm ĩ. Khuôn mặt của Amon hừng lên ánh sáng thiên đàng từ một vòm tối hắt ra, chiếu vào chúng tôi và đột nhiên vị giáo sĩ thượng phẩm từ giữa đám giáo sĩ bước đến trước các bệnh nhân, hét gọi tên từng người và nói: “Hãy đứng dậy và bước đi, vì Amon vĩ đại đã ban phước cho các ngươi vì các ngươi tin tưởng ở ngài”.
Lúc ấy, tôi tận mắt chứng kiến cả ba người bệnh bắt đầu lần mò ngồi dậy trên cáng, mắt chằm chằm nhìn vào ảnh của Amon như thế nào. Tay chân run rẩy, họ nhổm dậy trên đầu gối rồi đứng lên, hoài nghi quờ quạng chân tay cho đến khi bật khóc và bắt đầu cầu nguyện cho tên của Amon. Nhưng rồi bức tường đá khép lại, các giáo sĩ rời đi, các nô lệ cất lư hương đi và thắp sáng nhiều đèn cầy để thầy thuốc chúng tôi có thể khám lại cho họ. Thiếu phụ có thể cử động được chân tay và bước được vài bước khi chúng tôi dìu cô đi; ông già tự đi bộ được; còn cậu bé, ban mẩn đỏ đã biến mất khiến da cậu sạch và mịn. Những điều này diễn ra trong một vài giờ đồng hồ đo nước chảy và nếu không tận mắt chứng kiến, tôi sẽ không bao giờ tin điều như thế có thể xảy ra.
Vị giáo sĩ đã đón chúng tôi bước lại gần, mỉm cười đắc chí và hỏi:
- Bây giờ ông nói gì, danh y hoàng gia Sinuhe?
Tôi không hề sợ hãi nhìn thẳng vào mắt ông ta và nói:
- Tôi nhận thấy thiếu phụ và ông già bị ma thuật phù phép và quản thúc ý chí của họ, ma thuật sẽ trị được ma thuật nếu ý chí của phù thủy mạnh hơn ý chí của người đang bị bùa yểm. Nhưng mẩn ngứa là mẩn ngứa và không thể chữa khỏi bằng phép thuật mà phải điều trị dài ngày hàng tháng trời và tắm nước thuốc. Vì thế tôi thừa nhận là từ trước đến giờ tôi chưa bao giờ nhìn thấy bất cứ điều gì như thế.
Ông ta nhìn tôi, mắt sáng lên và hỏi:
- Như vậy là ông thừa nhận rằng Amon vẫn là vua của tất cả thần linh chứ, Sinuhe?
Tôi nói với ông ta:
- Tôi mong ông đừng nói to tên của thần giả, vì Pharaon đã cấm điều đó và tôi là công bộc của ngài.
Tôi thấy rõ ông ta nổi giận trước những lời tôi nói, nhưng ông ta là một giáo sĩ thượng phẩm và lý trí của ông ta mạnh hơn cảm xúc. Vì thế ông ta kìm nén nỗi tức giận của mình và nhoẻn cười nói:
- Tên tôi là Hrihor, để ông có thể báo cho lính canh biết, nhưng tôi không sợ lính của Pharaon giả và cũng không sợ roi vọt và hầm mỏ của y, mà tôi sẽ chữa lành cho tất cả những ai đến với tôi nhân danh Amon. Nhưng chúng ta đừng tranh cãi về những vấn đề này mà hãy nói chuyện với nhau như những người hiểu biết. Vậy hãy cho phép tôi mời ông về phòng tôi uống rượu vì ông chắc hẳn đã thấm mệt sau khi ngồi trên ghế cứng trong nhiều giờ.
Ông ta dẫn tôi đi dọc những hành lang đá đến buồng mình. Không khí nặng nề ở các hành lang cho tôi biết chúng tôi đang ở dưới lòng đất và tôi đoán chúng tôi đang ở trong các hang sâu của Amon. Không biết bao nhiêu câu chuyện đã được kể về những cái hang này, nhưng chắc chưa người thường nào được thấy chúng. Hrihor bảo danh y của Nhà Sống đi ra và hai chúng tôi đến buồng của ông ta, nơi không thiếu bất kỳ tiện nghi nào để làm thỏa mãn con người. Trên giường của ông ta có lọng che, rương và hòm đều bằng ngà voi và gỗ mun, những tấm thảm mềm mại và toàn bộ căn phòng sực nức mùi dầu thơm đắt tiền. Ông ta lịch sự rưới nước thơm lên tay tôi rồi bảo tôi ngồi xuống và mời tôi bánh mật ong, trái cây và rượu mạnh lâu năm pha với mộc dược của đồi rượu Amon. Chúng tôi cùng uống rượu và ông ta nói với tôi:
- Sinuhe, chúng tôi biết ông và đã dõi theo những bước đi của ông, biết ông rất yêu quý Pharaon giả và vị thần giả của ông ta không xa lạ với ông như chúng tôi mong muốn. Tuy nhiên, tôi đảm bảo với ông rằng vị thần của ông ta không có gì hơn Amon, vì sự ngược đãi và thù hận của Pharaon đã thanh tẩy Amon và khiến ngài trở nên mạnh mẽ hơn. Nhưng tôi không viện dẫn những điều thần thánh khi nói với ông mà chỉ kêu gọi ông, một thầy thuốc đã chữa bệnh cho người nghèo mà không đòi quà và một người Ai Cập yêu xứ đất đen hơn đất đỏ. Vì vậy, tôi nói với ông rằng Pharaon Ekhnaton là sự nguyền rủa với dân nghèo, là thảm họa đối với toàn bộ Ai Cập và phải hạ bệ ông ta trước khi tai họa mà ông ta gây nên lớn đến mức máu đổ cũng không thể cứu vãn được.
Tôi nhấp ngụm rượu của ông ta và nói:
- Với tôi các vị thần đều giống nhau và tôi đã quá ngán thần linh, nhưng thần của Pharaon Ekhnaton khác với tất cả thần linh đã từng có, thần của ngài không có ảnh tượng, tất cả mọi người đều bình đẳng trước thần và bất cứ ai, người nghèo, nô lệ và cả những người lạ đều có chỗ đứng của mình trước thần của ngài. Vì thế tôi tin rằng một năm thế giới vừa kết thúc và một năm thế giới mới đang bắt đầu. Do đó, ngay cả điều không tưởng cũng có thể xảy ra, một điều gì đó trái với lý trí của con người. Bởi từ trước đến nay chưa bao giờ có một dịp như thế này để làm mới, thay đổi tất cả và làm cho mọi người trở thành anh em của nhau.
Hrihor cười, giơ tay phản bác và nói:
- Sinuhe, tôi nhận ra là ông đang nằm mơ giữa ban ngày, dù tôi đã tin ông là một người sáng suốt. Mục đích của tôi nhỏ mọn hơn nhiều. Tôi chỉ mong mọi thứ vẫn như trước, người nghèo được no đủ và luật pháp nghiêm minh. Tôi chỉ muốn ai ai cũng được an toàn để hành nghề và tin vào những gì họ muốn tin. Tôi muốn tất cả những gì làm cho cuộc sống xưa nay tiếp tục, tôi muốn có sự khác biệt giữa nô lệ, đầy tớ và chủ của chúng. Tôi muốn sức mạnh và vinh quang của Ai Cập vẫn được giữ gìn nguyên vẹn, tôi muốn những đứa trẻ được sinh ra ở mỗi vùng đất đều có vị trí riêng của mình, công việc của từng người đều được định rõ từ đầu cho đến cuối cuộc đời và không có sự bất ổn nào tổn hại trái tim của bất kỳ ai. Tôi muốn tất cả những điều đó, vì thế phải lật đổ Pharaon Ekhnaton.
Ông ta chạm vào cánh tay tôi như van nài, rồi cúi đầu về phía tôi và nói:
- Sinuhe, ông là người hiền lành, tốt bụng và không muốn làm hại bất cứ ai. Nhưng chúng ta đang sống trong thời kỳ mà mỗi người phải lựa chọn và không ai có thể né tránh. Người nào không đi cùng chúng ta tức là người đó chống lại chúng ta và sẽ phải chịu hậu quả, vì chắc ông không dại dột đến mức nghĩ rằng quyền uy của Ekhnaton sẽ kéo dài lâu. Với tôi, việc ông tôn sùng hay không tôn sùng thần nào cũng như nhau, vì không cần đức tin của ông, Amon vẫn hiện hữu. Nhưng, Sinuhe, việc xóa bỏ lời nguyền cho Ai Cập nằm trong tầm tay ông. Việc xóa bỏ nghèo đói, khốn cùng và bất ổn khỏi miền đất đen nằm trong khả năng của ông. Việc phục hồi lại sự hùng mạnh cho Ai Cập nằm trong tay ông, Sinuhe.
Lời nói của ông ta khiến tôi băn khoăn, vì vậy tôi nhấp thêm rượu và cả miệng lẫn mũi tôi phả mùi thơm mộc dược ngọt ngào. Tôi gượng cười và nói với ông ta:
- Chắc ông đã bị chó dại cắn hoặc bọ cạp đốt, vì tôi thật sự không có quyền hành về bất cứ điều gì, tôi cũng không chữa lành người bệnh tài tình như ông.
Ông ta đứng dậy và nói:
- Tôi sẽ cho ông xem một thứ.
Rồi ông ta cầm đèn và dẫn tôi ra hành lang, mở một cánh cửa được khóa bằng nhiều ổ khóa; ánh đèn của ông chiếu sáng căn buồng lấp lánh muôn vàn vàng bạc và đá quý chứa trong những vò, hũ bằng vàng cao ngang đầu người. Ông ta nói với tôi:
- Đừng sợ. Tôi hoàn toàn không định dùng vàng để mua chuộc ông, tôi không ngu ngốc đến như thế, mặc dù để ông thấy Amon vẫn còn giàu có hơn Pharaon có lẽ cũng không sao. Không, tôi không cám dỗ ông bằng vàng, tôi chỉ muốn cho ông xem một thứ.
Ông ta mở một cánh cửa khác bằng đồng rất nặng và chiếu đèn vào một hốc nhỏ, trong hốc có một bức tượng sáp ngự trên giường đá, đầu tượng đội vương miện hai tầng, ngực và thái dương cắm những ghim nhọn bằng xương. Theo bản năng, tôi giơ tay lên và đọc những câu thần chú chống lại ma thuật, những câu mà tôi đã học thuộc trước khi được thụ phong giáo sĩ bậc thấp nhất. Hrihor mỉm cười nhìn tôi, tay nắm chặt cây đèn.
- Ông tin rồi chứ, - ông ta nói, - thời của Pharaon Ekhnaton sắp hết, vì chúng tôi đã nhân danh Amon yểm ông ta vào bức tượng này và xuyên những mũi kim thần thánh của Amon qua đầu và tim ông ta. Tuy nhiên, ma thuật tác động chậm khiến nhiều điều ác vẫn kịp xảy ra và chắc chắn ở một mức độ nào đó, thần của ông ta có thể bảo vệ ông ta trước ma thuật của chúng tôi. Bởi vậy tôi muốn nói chuyện thêm với ông sau khi ông nhìn thấy cảnh này.
Ông ta cẩn thận khóa tất cả các cửa rồi dẫn tôi trở lại phòng mình và rót thêm rượu vào cốc của tôi. Nhưng rượu tràn ra cằm tôi và miệng cốc lập cập đập vào răng tôi, vì tôi biết tôi đã tận mắt chứng kiến một phép thuật quyền năng hơn tất cả các loại ma thuật và không ai có khả năng chống lại nó. Bùa phép yểm vào bức tượng sáp này khủng khiếp đến mức các giáo sĩ Amon không dám nói nó thành tiếng trong đền thờ thần, mà chỉ đọc được nó từ những kinh sách cổ và nhiều người tin rằng hai ngàn năm sau khi xây dựng các kim tự tháp, phép thuật như vậy không còn được thực hiện. Hrihor nói:
- Từ đây ông có thể thấy rằng sức mạnh của Amon lan đến tận Akhetaton, vì thế đừng hỏi tôi làm thế nào chúng tôi lấy được tóc của ông ta, có được những mẩu móng tay và móng chân cắt ra của ông ta để cho vào tượng sáp, nhưng tôi có thể nói với ông rằng chúng tôi không dùng vàng mua chúng mà chúng tôi nhận được chúng nhân danh Amon.
Ông ta nhìn tôi dò xét và cân nhắc lời nói của mình, cuối cùng ông nói:
- Quyền năng của Amon lớn lên từng ngày như chính ông đã thấy khi tôi chữa lành người bệnh nhân danh Amon. Lời nguyền của Amon đối với Ai Cập sẽ ngày càng tồi tệ hơn. Pharaon càng sống lâu, người dân càng phải đau khổ vì ông ta, vì phép thuật tác động chậm. Nhưng dù sao Pharaon giả sẽ phải chịu những cơn đau đầu khiến sức lực của ông ta dần cạn kiệt. Ông sẽ nói gì, Sinuhe, nếu tôi cho ông một loại thuốc chữa đau đầu cho Pharaon, để ông ta không bao giờ bị đau nữa?
- Con người ta luôn dễ bị ốm đau, - tôi nói. - Chỉ những người chết mới không bao giờ phải chịu đau đớn nữa.
Ông ta nhìn tôi đôi mắt rực lửa và ý chí của ông ta trói chặt tôi lại khiến tôi không thể giơ tay lên khi ông ta nói:
- Có lẽ là vậy, nhưng thuốc này không để lại dấu vết và không ai có thể buộc tội ông, ngay cả những người ướp xác cũng không nhận thấy điều gì khác lạ trong cơ thể ông ta. Nhưng ông không cần phải biết gì thêm về những điều này, chỉ cho Pharaon thuốc để chữa trị cơn đau đầu của ông ta. Sau khi uống thuốc, ông ta sẽ ngủ và sẽ không bao giờ phải đau đớn hay buồn phiền nữa.
Ông ta giơ tay lên ngăn tôi và nói:
- Tôi không mua chuộc ông bằng vàng, nhưng nếu ông làm việc ấy, ông sẽ được lưu danh muôn thuở, thi thể ông sẽ không tan vào cát bụi mà sẽ trường tồn. Những bàn tay vô hình sẽ che chở ông mỗi ngày trong suốt cuộc đời và bất cứ điều ước nào của con người cũng sẽ thành hiện thực với ông. Tôi hứa với ông tất cả những điều này vì tôi có quyền hứa như vậy với ông.
Ông ta giơ cả hai tay lên, nhìn tôi với ánh mắt sáng rực và tôi không thể né tránh ánh mắt đó. Ý chí của ông ta ghìm tôi xuống khiến tôi không thể cử động, không thể giơ tay và không thể đứng dậy. Ông ta bảo:
- Nếu tôi nói với ông: “Đứng dậy”, ông đứng dậy. Nếu tôi nói với ông: “Giơ tay lên”, ông giơ tay lên. Nhưng tôi không thể ra lệnh cho ông thờ phụng Amon nếu ông không muốn và tôi không thể bắt ông làm những việc trái ý ông. Điều này giới hạn quyền lực của tôi với ông. Vì vậy hãy thề với tôi đi, Sinuhe, vì lợi ích của Ai Cập, hãy nhận thuốc tôi đưa cho ông và chữa lành vĩnh viễn bệnh đau đầu của Ekhnaton.
Ông ta buông tay xuống và tôi lại cử động được, nâng cốc rượu lên môi mà không run nữa. Mùi mộc dược theo rượu tràn vào miệng, mũi tôi và tôi nói với ông ta:
- Hrihor, tôi không hứa với ông điều gì, nhưng hãy đưa thuốc cho tôi. Đưa cho tôi thứ thuốc từ bi đó, vì có thể nó còn tốt hơn cả nước anh túc và biết đâu đến một lúc nào đó, chính Pharaon sẽ không bao giờ muốn thức dậy nữa.
Ông ta đưa cho tôi thuốc đựng trong lọ thủy tinh sặc sỡ và nói:
- Tương lai của Ai Cập nằm trong tay ông, Sinuhe. Vì thật không phải nếu ai đó giơ tay hại Pharaon, nhưng nỗi khốn khổ và nôn nóng của dân chúng rất lớn và có thể đến một lúc nào đó người ta nhớ ra rằng Pharaon cũng là con người và máu ông ta sẽ chảy nếu da của ông ta bị giáo hay dao xé toạc. Điều đó không bao giờ được xảy ra, vì khi đó quyền lực pharaon sẽ suy yếu. Vì vậy, số phận của Ai Cập bây giờ nằm trong tay ông, Sinuhe.
Tôi giắt lọ thuốc vào thắt lưng và chua chát nói:
- Số phận của Ai Cập có lẽ đã nằm trong những ngón tay đen ngày tôi ra đời, những ngón tay đan những thân sậy với nhau. Nhưng có những điều cả ông cũng không biết, Hrihor, dù ông nghĩ mình biết tất cả. Cho dù tôi có thuốc, nhưng hãy nhớ rằng tôi không hứa điều gì chắc chắn với ông.
Ông ta mỉm cười, giơ tay chào và nói theo thói quen:
- Phần thưởng của ông sẽ rất lớn.
Sau đó ông ta tiễn tôi đi dọc những hành lang và không giấu tôi bất cứ điều gì nữa vì mắt ông ta nhìn thấu tim gan mọi người và ông ta biết tôi sẽ không tiết lộ về ông ta. Vì vậy, tôi có thể kể rằng dưới ngôi đền lớn có các hầm của Amon, nhưng làm thế nào để vào được thì tôi không muốn nói vì bí mật đó không phải của tôi.
❖ 6 ❖
Vài ngày sau, Thái hậu Teje qua đời trong cung điện vàng. Bà chết vì bị một con rắn cát nhỏ cắn khi bà đang thử bẫy chim trong vườn thượng uyển. Người ta không tìm được danh y riêng của bà ngay lúc đó, bởi thường khi người ta cần đến thầy thuốc nhất thì lại không thể gặp được. Vậy nên người ta đến Thebes đón tôi, nhưng khi tôi đến được hoàng cung thì chỉ có thể chứng thực là bà đã chết. Nhưng không thể đổ lỗi cho các thái y của bà, vì người bị rắn cát nhỏ cắn sẽ chết nếu trong một trăm nhịp tim đập đầu tiên, vết cắn không được mổ ra và mạch máu ở trên nó không được thắt chặt.
Theo tập quán, tôi phải nán lại hoàng cung để giao thi thể cho người mang đến Nhà Chết. Tôi gặp giáo sĩ Eje lầm lì bên thi thể Thái hậu, ông ta đưa tay chạm vào gò má sưng phù của Thái hậu và nói: “Đã đến lúc bà ấy phải chết, vì bà ấy là mụ già đã cùng ta nghĩ ra bao mưu kế làm ta phát ngán. Những việc làm của bà ấy đã trừng phạt chính bà và ta hy vọng dân chúng sẽ nguôi đi sau khi bà ấy về với tổ tiên”. Nhưng tôi không nghĩ Eje giết Thái hậu, vì chắc Eje không dám làm điều đó. Thật ra những tội ác và những bí mật khủng khiếp gắn kết con người với nhau hơn cả tình yêu và tôi biết rằng dù nói những lời lạnh lùng đó, Eje sẽ nhớ Thái hậu sau cái chết của bà, bởi trong nhiều năm qua họ đã quá gần gũi nhau.
Khi tin Thái hậu qua đời lan đến Thebes, dân chúng tràn ra đường phố và bãi chợ ăn mừng trong những bộ váy áo đẹp nhất. Những lời tiên đoán lan truyền từ miệng này sang miệng kia và ngày càng nhiều nữ thánh xuất hiện trong dân chúng kể lể những điềm gở. Đám đông cũng tụ tập bên ngoài tường thành hoàng cung và để trấn an dân chúng cũng như thu phục được lòng tin yêu của họ, Eje đã ra lệnh đánh đuổi các phù thủy da đen của Thái hậu Teje ra khỏi hầm của hoàng cung. Họ gồm năm người, một trong số đó là đàn bà, xấu xí và béo như một con hà mã. Lính cấm vệ đã quất roi đuổi họ ra khỏi cổng sậy và dân chúng xông đến xé họ ra từng mảnh; lúc đó phép thuật của họ không thể bảo vệ được họ. Eje cũng cho phá hủy và đốt tất cả đồ dùng làm ma thuật và thuốc cũng như các gốc cây thiêng của họ ở trong hầm; điều này thật đáng tiếc vì tôi rất muốn biết về thuốc và phép thuật của họ.
Không ai trong cung điện tiếc thương Thái hậu và số phận những phù thủy của bà. Chỉ Công chúa Baketaton đến bên thân mẫu, đặt bàn tay xinh đẹp vào đôi bàn tay đen sạm của bà và nói:
- Chồng của mẫu hậu đã làm điều độc ác khi cho dân chúng xé xác phù thủy da đen của mẫu hậu.
Công chúa cũng nói với tôi:
- Những phù thủy này hoàn toàn không độc ác và họ cũng không thích ở lại đây mà chỉ luyến nhớ những khu rừng và những mái nhà tranh của họ. Lẽ ra không nên trừng trị họ vì những việc làm của thân mẫu ta.
Thế là tôi được gặp Công chúa Baketaton, người nhìn tôi, nói chuyện với tôi và tôi yêu mến Công chúa ngay vì vẻ kiêu hãnh và dáng đầu đẹp của người. Công chúa hỏi tôi về Horemheb và giễu cợt bạn tôi:
- Horemheb xuất thân thấp hèn và ăn nói thô lỗ, nhưng nếu lấy vợ, anh ta có thể sinh ra một dòng dõi quyền quý. Sinuhe, ngươi có thể nói vì sao anh ta không chọn cho mình một vị hôn thê không?
Tôi nói với Công chúa:
- Thưa Công chúa Baketaton, Công chúa không phải là người đầu tiên dò hỏi điều đó, nhưng vì vẻ đẹp kiêu sa của người, tôi sẽ chỉ nói cho Công chúa những gì tôi chưa dám nói với bất kỳ ai. Khi còn là một thanh niên và lần đầu tiên đến cung điện, Horemheb đã vô tình nhìn lên mặt trăng. Từ đó, anh ta không thể nhìn đến bất kỳ thiếu nữ nào để cùng đập vò. Nhưng còn Công chúa thì sao, Baketaton? Không cây nào cứ mãi trổ hoa, mà cây cần một lần kết trái, với tư cách là một thầy thuốc, tôi muốn được thấy vòng eo của Công chúa bung hoa, đơm quả.
Công chúa kiêu ngạo lắc đầu và nói:
- Sinuhe, ngươi biết rõ dòng máu ta quá thiêng liêng để có thể hòa trộn với dòng máu của những người cao quý nhất Ai Cập. Vì thế sẽ tốt hơn nhiều nếu như em trai ta chọn ta làm hôn thê theo phong tục và như vậy chắc chắn ta đã sinh con trai cho Pharaon từ lâu rồi. Hơn nữa nếu có quyền lực, ta sẽ cho chọc mù mắt gã Horemheb đó, vì thật nhục nhã khi nghĩ anh ta đã dám nhìn lên mặt trăng. Sinuhe, ta cũng nói thẳng với ngươi là chỉ cần nghĩ về đàn ông thôi cũng khiến ta kinh hãi, vì sự đụng chạm của họ thật thô bạo, đáng hổ thẹn và thân thể rắn chắc của họ đè bẹp người phụ nữ mảnh mai. Vì vậy, ta nghĩ rằng người ta thổi phồng quá mức niềm vui sướng mà đàn ông có thể mang lại cho phụ nữ.
Nhưng đôi mắt Công chúa bắt đầu lóe sáng vẻ kích động và người thở gấp gáp khi nói làm tôi thấy những lời như vậy đem đến cho người niềm đam mê lớn. Vì vậy tôi khích lệ thêm:
- Tôi đã từng nhìn Horemheb bạn tôi lên gân, căng cơ bắp làm đứt chiếc vòng đồng rắn chắc mà người ta luồn vào cánh tay anh ấy. Tay chân anh ấy dài và rắn chắc, lồng ngực anh ấy căng phồng như chiếc trống khi anh đấm vào ngực mình vì tức giận. Cung nữ rên rỉ như mèo chạy theo anh ấy và anh ấy có thể làm bất cứ điều gì mình muốn với bất cứ ai.
Công chúa Baketaton nhìn tôi, đôi môi tô son run lên, cặp mắt lóe sáng, và tức giận nói:
- Sinuhe, lời ngươi nói với ta thật đáng giận và ta không hiểu tại sao ngươi lại lải nhải với ta về gã Horemheb đó. Dù gì đi nữa, anh ta sinh ra phân dính giữa các ngón chân và cái tên của anh ta cũng đáng ghét với ta. Ta thật không đủ sức hiểu tại sao ngươi lại kể chuyện đó với ta bên cạnh thi thể của thân mẫu ta.
Tôi không muốn nhắc Công chúa ai mới là người nói về Horemheb trước. Vì thế tôi vờ hối lỗi:
- Ồ, Công chúa Baketaton, vậy người hãy cứ như cây đang nở hoa, vóc dáng người sẽ không tàn phai và người sẽ tươi tắn xinh đẹp trong nhiều năm nữa. Nhưng chẳng lẽ thân mẫu người không có cung nữ thân tín nào khóc than và kêu van bên thi thể bà cho đến khi Nhà Chết đến đón bà và những mụ khóc mướn được thuê đến khóc và dứt tóc xung quanh bà ấy? Nếu biết khóc, tôi sẽ khóc, nhưng là thầy thuốc, nước mắt tôi đã cạn từ lâu trước cái chết. Cuộc đời là ngày nóng bức, Công chúa Baketaton ạ, cái chết có lẽ là đêm mát mẻ. Cuộc đời là vũng nước nhỏ nông choèn, cái chết là vịnh nước sâu rộng.
Công chúa kêu lên:
- Ôi, Sinuhe, đừng nói với ta về cái chết, khi cuộc đời vẫn dâng vị ngọt trong miệng ta. Nhưng đúng là thật hổ thẹn khi không có ai khóc bên thi thể thân mẫu ta. Tất nhiên, ta không thể khóc vì việc đó không thích hợp với địa vị của ta và màu son sẽ bắt đầu chảy xuống hàng mi và làm nhờ nhoẹt lớp phấn trên má ta. Nhưng ta sẽ sai một cung nữ nào đó đến khóc cùng ngươi, Sinuhe ạ.
Tôi đùa đùa nói với Công chúa:
- Baketaton thiên thần ơi, sắc đẹp của Công chúa đã làm tôi phấn khích và lời nói của Công chúa như thêm dầu vào ngọn lửa tôi. Công chúa hãy sai một ai đó già và xấu đến than khóc, để tôi không quyến rũ bà ấy trong cơn kích động của mình và không làm ô uế nhà tang lễ.
Công chúa lắc đầu vẻ chê trách và nói:
- Sinuhe, ngươi không thấy hổ thẹn với điều ngu ngốc mà ngươi vừa nói ư? Dù ngươi không sợ thần linh như người ta nói, ít nhất ngươi cũng nên kính trọng thần chết chứ.
Nhưng là đàn bà, Công chúa không hề xem lời tôi nói là thất lễ mà người đi sai một cung nữ đến khóc bên thi thể mẹ mình cho đến khi phu khiêng của Nhà Chết đến.
Nhưng tôi có mục đích khi báng bổ thần thánh như thế bên thi thể của người quá cố và nôn nóng đợi cung nữ đến.
Và bà ta đã đến, một người già và xấu hơn bất cứ ai mà tôi dám mong đợi, vì tất cả các phi tần của Thái thượng hoàng, của Pharaon Ekhnaton cũng như các vú nuôi và cung nữ của họ vẫn đang sống trong hậu cung của Thái hậu. Tên cung nữ đó là Mehunefer và dù bà ta từ hậu cung đến, tôi vẫn nhận ra trên khuôn mặt bà ta hương vị đàn ông và rượu. Biết bổn phận của mình, bà ta bắt đầu khóc nức nở và vò đầu dứt tóc bên cạnh thi thể Thái hậu, trong lúc đó tôi đi lấy rượu. Khóc được một lúc, bà ta đồng ý uống rượu sau khi tôi bảo đảm với bà ta với tư cách thầy thuốc rằng rượu sẽ tốt cho bà ta trong nỗi đau tang tóc này. Trong khi bà ta uống, tôi bắt đầu gợi nhắc lại vẻ đẹp trước kia của bà. Tôi cũng nói với bà ta về trẻ con và về các công chúa nhỏ của Pharaon Ekhnaton, rồi tôi bất ngờ giả vờ ngốc nghếch hỏi bà ta:
- Người ta đồn rằng Hoàng thái hậu là hoàng phi duy nhất của thánh thượng sinh con trai cho người, thật vậy ư?
Mehunefer vừa hốt hoảng nhìn người quá cố vừa lắc đầu ngăn tôi nói, vì thế tôi tiếp tục nói với bà ta những lời có cánh, tâng bốc bà ta về tóc tai, xiêm áo và trang sức. Tôi cũng nói về cặp mắt và đôi môi của bà ta, cho đến khi bà ta quên hẳn việc khóc than và thích thú lắng nghe tôi. Vì đàn bà luôn tin những lời như vậy dù biết rất rõ đó không phải là sự thật; càng già, càng xấu, họ lại càng tin hơn vì họ muốn tin. Thế rồi chúng tôi trở thành bạn tốt của nhau, và sau khi phu khiêng xác của Nhà Chết đến và đưa thi thể đi, bà ta mời tôi về phòng mình trong hậu cung của Pharaon và vừa uốn éo, ve vãn nhiều kiểu vừa uống rượu với tôi. Khi say, miệng lưỡi bà ta liến láu thoải mái hơn và mọi ổ khóa trong bà ta bật mở. Bà ta đưa tay vuốt má tôi, khen tôi đẹp trai và kể cho tôi nghe nhiều chuyện phiếm đáng xấu hổ nhất trong cung để làm tôi dạn dĩ hơn. Bà ta cũng khúc khích cười kể cho tôi chuyện Thái hậu thường công khai vui thú với những phù thủy da đen của mình:
- Bà ta, Thái hậu ấy, là một người đàn bà kinh khủng và đáng sợ. Tôi thở phào nhẹ nhõm hơn khi bà ấy đã chết, tôi không thể hiểu được sở thích của bà ấy khi bà ấy vẫn có những thanh niên Ai Cập trẻ đẹp, da nâu, bóng bẩy và thơm tho.
Bà ta hít hà ngửi vai và tai tôi, nhưng tôi ẩn bà ta ra và nói:
- Thái hậu Teje vĩ đại là một người đan sậy tài giỏi nhỉ? Chẳng phải Thái hậu đã đan những chiếc thuyền nhỏ từ những thân sậy rồi đêm đêm sai thả chúng xuôi dòng xuống hạ lưu ư?
Câu hỏi của tôi làm bà ta hoảng sợ và hỏi:
- Sao anh có thể biết được điều đó?
Nhưng rượu đã làm bà ta mất khả năng suy xét và vì mong muốn khoe khoang chế ngự nên bà ta nói:
- Nhưng ta biết nhiều hơn anh và ta biết có ít nhất ba cậu bé vừa chào đời đã bị bỏ vào thuyền thả trôi sông như những đứa trẻ nghèo khổ nhất. Trước khi Eje đến đây, mụ phù thủy già đó sợ thần linh và không muốn tay mình nhuốm máu. Chính Eje đã dạy bà ta cách đầu độc người khác, khiến Công chúa Tadukhipa của Mitanni chết trong khi khóc than, gào thét gọi tên con trai và tìm cách thoát khỏi cung điện để tìm con trai mình.
- Ôi, Mehunefer xinh đẹp, - tôi nói và đưa tay chạm vào đôi má trát đầy phấn của bà ta. - Chắc chắn bà nghĩ tôi còn trẻ và không có kinh nghiệm nên bắt tôi phải tin vào những câu chuyện không có thật đó. Công chúa Mitanni không thể sinh con trai, mà nếu bà ấy sinh được thì đó là khi nào cơ chứ?
- Còn lâu anh mới là một chàng trai trẻ và thiếu từng trải, danh y Sinuhe ạ, - bà ta nói và bật cười khanh khách.
- Trái lại, bàn tay anh xảo trá và gian dối, đôi mắt anh quỷ quyệt, và quỷ quyệt nhất chính là lưỡi anh, cái lưỡi đã trút vào tai tôi những lời dối trá trơ trẽn. Nhưng những lời dối trá của anh như mật ngọt rót vào tai bà già, Sinuhe ạ, khiến tôi không thể kiềm chế được, mà tôi sẽ kể cho anh nghe tất cả về Công chúa Mitanni, người đã có thể trở thành hoàng hậu vĩ đại, mặc dù những lời này có thể quàng sợi dây mỏng mảnh quanh cổ tôi nếu Teje còn sống. Sinuhe ạ, thực ra Công chúa Tadukhipa chỉ là một cô bé khi người từ vùng đất xa xôi đến hậu cung của Pharaon. Công chúa chỉ là một đứa trẻ và chơi búp bê cho đến lớn trong hậu cung, giống như nàng công chúa bé nhỏ được gả cho Ekhnaton và cũng đã chết. Pharaon Amenhotep không động đến người mà yêu Công chúa như yêu một đứa trẻ, chơi đồ hàng với Công chúa và tặng cho Công chúa biết bao nhiêu đồ chơi bằng vàng. Nhưng khi Tadukhipa trở thành thiếu nữ và tròn mười bốn tuổi, nàng trông mới xinh đẹp làm sao, tay chân nàng mảnh mai và thanh tú, đôi mắt sâm sẫm của nàng nhìn về những vùng đất xa xăm và làn da nàng như tro trắng, giống như tất cả phụ nữ Mitanni. Khi đó Pharaon làm tròn nghĩa vụ của mình đối với Công chúa, cũng như ngài vui vẻ làm tròn nghĩa vụ của mình đối với nhiều phi tần bất chấp mọi mưu đồ của Teje, vì trong những việc như vậy, người đàn ông khó có thể kiềm chế mình, chừng nào chùm rễ cây của anh ta chưa bị khô. Thế là hạt mạch bắt đầu nảy mầm xanh cho Tadukhipa, nhưng không lâu sau đó hạt mạch cũng bắt đầu đâm mầm xanh cho Teje và bà ta vô cùng sung sướng, bởi vì bà ta chỉ mới sinh cho Pharaon một con gái, tức Baketamon hống hách và ngạo mạn này, tất nhiên, tôi muốn nói là Baketaton nhưng lưỡi tôi hay bị líu lại.
Bà ta lấy rượu tiếp sức cho lưỡi và nó không hề líu lại mà tiếp tục liến thoắng:
- Nhưng những ai biết điều gì đó đều biết rằng hạt mạch trong Teje nảy mầm từ Heliopolis, nhưng không nói gì thêm về điều này là tốt nhất. Dù sao Teje đã sống trong nỗi thống khổ tột cùng trong thời gian Tadukhipa mang thai và cố dùng mọi cách để phá cái thai của Công chúa, như cách bà ta đã làm với nhiều phi tần trong hậu cung của Pharaon với sự trợ giúp của các phù thủy da đen. Mấy năm trước đó, bà ta đã thả hai bé trai sơ sinh trên thuyền sậy cho xuôi dòng sông nhưng chuyện này không đáng kể, vì chúng là con của những phi tần hèn mọn rất sợ Teje và bà ta đã bồi hoàn cho họ rất nhiều quà, khiến họ bằng lòng với phận mình khi thấy bên mình là con gái thay vì con trai. Nhưng Công chúa Mitanni là một đối thủ đáng gờm hơn, vì người thuộc dòng dõi hoàng tộc, có những người bạn luôn bảo vệ người và người hy vọng mình được phong hoàng phi thay cho Teje nếu người sinh được con trai. Tuy nhiên, quyền lực của Teje quá lớn và khi hạt mạch nảy mầm xanh trong bà ta thì nỗi điên khùng của bà đáng sợ đến mức không ai dám chống lại, và Eje, người bà ta mang theo từ Heliopolis, luôn ở bên bà ta. Vì vậy, khi Công chúa Mitanni lâm bồn, bạn bè của Công chúa bị đuổi đi nơi khác, các phù thủy da đen vây quanh giả vờ làm dịu cơn đau của người. Khi Công chúa muốn nhìn con trai mình, người ta cho người nhìn một bé gái đã chết. Nhưng Công chúa không tin Teje. Cả tôi, Mehunefer, cũng biết Công chúa đã sinh được một bé trai, bé trai còn sống và bị bỏ xuống thuyền sậy trôi xuôi theo dòng sông vào ngay đêm đó.
Tôi cười ầm lên và hỏi:
- Làm sao mà chính bà lại biết được điều đó cơ chứ, Mehunefer xinh đẹp?
Bà ta phát cáu, dốc ngược cốc uống thêm làm rượu đổ tràn xuống cằm, rồi gắt gỏng:
- Thề với tất cả thần linh, tự tay tôi bứt sậy vì Teje không muốn lội xuống nước khi đang mang thai.
Tôi kinh hoàng trước câu nói của bà ta, đứng bật dậy và đổ rượu trong cốc xuống sàn rồi dùng chân chà rượu ra thảm để biểu lộ sự ghê tởm của mình. Nhưng Mehunefer đã nắm lấy tay tôi, ép tôi ngồi xuống cạnh mình và nói:
- Tôi không định nói điều này và chỉ tự hại mình khi kể nó ra, nhưng tôi không biết điều gì trong anh tác động đến tôi mạnh mẽ đến thế, khiến tôi không thể giữ được điều bí mật nào trước anh, Sinuhe ạ. Vì thế tôi thú thật: chính tôi đã cắt sậy và Teje lấy chúng để đan thuyền, vì bà ta không tin tưởng các nô tỳ và bà ta đã trói buộc tôi bằng phép thuật và những việc làm của chính tôi, vì khi còn trẻ và ngu ngốc, tôi đã làm những việc mà nếu bị phát hiện tôi sẽ bị đánh và đuổi khỏi hậu cung, nhưng ai lại không làm những việc như vậy trong hậu cung cơ chứ, còn bây giờ tôi chẳng lo sợ gì khi kể cho anh nghe về những việc đó. Dù sao thì bà ta cũng đã khống chế tôi, buộc tôi lội xuống nước cắt sậy, còn bà ta vừa đan thuyền trong đêm tối vừa cười một mình và nói những lời báng bổ thần linh, vì bà ta rất hài lòng đã thắng được Công chúa Mitanni bằng cách này. Còn tôi tự an ủi mình với ý nghĩ ai đó chắc chắn sẽ tìm thấy đứa trẻ, mặc dù tôi biết điều đó không thể xảy ra, bởi vì những đứa trẻ trong những chiếc thuyền sậy trôi trên sông không chết vì cái nóng thiêu đốt thì cũng làm mồi cho cá sấu hay bị các loài chim ăn thịt cắp đi. Nhưng Công chúa Mitanni không chịu yên với bé gái chết yểu mà các phù thủy đặt bên cạnh mình, vì màu da của đứa bé khác với màu da của người, hình dáng đầu cũng khác với đầu của người và Công chúa không tin mình đã sinh ra đứa bé đó. Da của phụ nữ Mitanni mịn màng như vỏ trái cây và có màu khói hoặc tro nhạt, đầu họ nhỏ và thon. Vì thế, Công chúa bắt đầu kêu van, khóc lóc, giật đầu dứt tóc, đổ tội cho các phù thủy và Teje cho đến khi Teje sai các thầy thuốc bắt người uống nhiều loại thuốc mê rồi nói rằng Công chúa bị mất trí vì đau khổ khi sinh ra một đứa trẻ đã chết. Và Pharaon, theo thói thường của đàn ông, tin vào Teje hơn là Tadukhipa. Từ đó trở đi, Tadukhipa dần mòn mỏi, héo hon và chết, nhưng trước khi chết, Công chúa đã nhiều lần tìm cách trốn khỏi hoàng cung để đi tìm con trai, vì thế ai cũng tin Công chúa dần bị mất trí.
Tôi nhìn bàn tay mình, thấy chúng trắng nhợt nhạt cạnh những ngón tay như tay khỉ đuôi dài của Mehunefer và da tay tôi có màu khói. Quá kinh hoàng và khiếp đảm, tôi khẽ khàng hỏi:
- Mehunefer xinh đẹp, bà có thể nói thêm tất cả những việc này đã xảy ra khi nào vậy?
Bà ta vuốt ve cổ tôi bằng những ngón tay thâm sì và nói với giọng bỡn cợt:
- Ôi, chàng trai đáng yêu, sao lại phí thời gian quý báu của mình cho những việc xửa xưa như vậy, khi chàng có thể dùng thời gian của mình tốt hơn. Nhưng vì không thể giấu giếm chàng bất cứ điều gì, thiếp cho chàng biết là tất cả những việc này xảy ra khi Pharaon Đại đế đã trị vì được hai mươi hai năm và vào mùa thu khi lũ dâng cao ở mức đỉnh điểm. Nếu chàng thắc mắc vì sao thiếp nhớ mọi việc tốt đến thế, thì thiếp có thể giải thích là Pharaon Ekhnaton được sinh ra cùng năm đó, mặc dù ngài ra đời vào mùa xuân tiếp theo vào vụ gieo hạt khi sao Thiên Lang mọc. Đó là những gì thiếp nhớ.
Những lời nói của bà ta khiến tôi cứng người vì kinh hãi, đến mức tôi không thể chống cự, thậm chí không có cảm giác gì khi bà ta áp cái miệng sặc mùi rượu vào má tôi và dùng miệng với má mình nhuộm má tôi thành màu gạch. Bà ta cũng quàng tay quanh người tôi rồi siết chặt vòng ôm và gọi tôi là bò đực nhỏ, là bồ câu trống đáng yêu. Tôi lơ đãng đẩy bà ta ra và tâm trí tôi sôi sục như biển cả, mọi thứ trong tôi trỗi lên dữ dội để chống lại điều khủng khiếp này, vì nếu những gì bà ta nói là đúng, có lẽ dòng máu Pharaon Đại đế chảy trong huyết quản của tôi và tôi là anh cùng cha khác mẹ của Pharaon Ekhnaton. Tôi có thể là Pharaon trước ngài, nếu như sự lọc lừa của Teje không thắng được tình yêu của thân mẫu quá cố của tôi. Tôi chằm chằm nhìn về phía trước và nghĩ rằng tôi đã hiểu ra vì sao mình luôn cảm thấy cô đơn và xa lạ trên trái đất, vì dòng máu hoàng tộc luôn đơn độc giữa đám đông loài người. Tôi cũng đã hiểu ra vì sao khi ở xứ Mitanni, tôi lại có tâm trạng kỳ lạ và vì sao tôi lại cảm thấy bóng dáng của thần chết ngự trị trên vùng đất xinh đẹp và thanh lịch đó.
Nhưng những động tác bạo dạn của Mehunefer khiến tôi tỉnh táo trở lại, tôi lấy hết khả năng để chịu đựng những cái vuốt ve và lời tán tỉnh của bà ta, vì bàn tay và lời nói của bà ta làm tôi kinh hãi, cũng như tất cả mọi việc trong hoàng cung giờ đây khiến tôi khiếp sợ. Nhưng lý trí buộc tôi phải chịu đựng bà ta và tôi ép bà ta uống nhiều rượu hơn để bà ta say hơn và quên đi tất cả những gì đã nói với tôi. Nhưng càng say bà ta càng trở nên quái gở, nên cuối cùng tôi phải pha nước anh túc vào rượu cho bà ta ngủ để tôi thoát khỏi bà.
Cuối cùng, tôi rời khỏi phòng bà ta và hậu cung khi màn đêm đã buông xuống, người hầu và lính canh của hoàng cung chỉ tay vào tôi và cười khúc khích với nhau, nhưng tôi nghĩ họ cười chỉ vì chân tôi run, mắt tôi nhìn lơ ngơ về phía trước và quần áo của tôi nhăn nhúm. Merit thao thức đợi tôi ở nhà, bồn chồn lo lắng vì tôi vắng mặt quá lâu từ khi nàng nghe tin Thái hậu qua đời. Khi thấy tôi, nàng đưa tay lên miệng, cả Muti cũng đưa tay lên miệng và họ nhìn nhau. Cuối cùng, Muti nói với Merit, giọng chua chát:
- Chẳng phải tôi đã ngàn lần nói với cô rằng tất cả đàn ông đều giống nhau và không thể tin được hay sao?
Nhưng tôi mệt mỏi và muốn ở một mình với những suy nghĩ của mình, vì thế tôi bực tức nói với họ:
- Tôi đã có một ngày mệt mỏi và không muốn nghe lời xỉa xói của các người nữa.
Lúc đó, đôi mắt của Merit đầy vẻ sắc lạnh và nét mặt tối sầm lại vì tức giận, rồi nàng giơ một cái gương đồng ra trước mặt tôi và nói:
- Hãy nhìn mặt anh đi, Sinuhe! Tôi không hề cấm anh vui vẻ với đàn bà lạ, nhưng tôi mong anh ít nhất hãy làm điều đó khuất mắt tôi để nó không xúc phạm trái tim tôi. Anh cũng không thể nói anh đã ở một mình và buồn bã khi ra khỏi nhà hôm nay.
Tôi nhìn mặt mình và vô cùng kinh hãi vì mặt tôi lem luốc phấn son, mặt Mehunefer và môi bà ta để lại những vết đỏ trên má, cổ và thái dương tôi. Vì xấu xí và quá nhiều nếp nhăn, bà ta đã trát mặt dày đến mức mặt bà ta như có lớp vữa trát tường và với thói phù phiếm của mình, bà ta còn quết thêm son mới lên đôi môi tái nhợt sau mỗi lần uống một ngụm rượu từ trong cốc. Vì vậy, mặt tôi trông giống như mặt người mắc bệnh dịch hạch. Hết sức hổ thẹn, tôi vội vàng lau mặt trong khi Merit vẫn nhẫn tâm giơ gương trước mặt tôi.
Sau khi lau sạch mặt bằng dầu, tôi nói với vẻ hối hận:
- Em đã hiểu lầm mọi chuyện rồi, Merit, em cưng của anh. Hãy nghe anh giải thích.
Nhưng nàng cáu kỉnh nhìn tôi và nói:
- Tôi không cần lời giải thích của anh, Sinuhe, tôi cũng không muốn anh vì tôi mà làm bẩn miệng mình bằng những lời nói dối, vì trong chuyện này, không ai có thể hiểu lầm điều gì khi nhìn thấy cái mồm lấm lem nhem nhuốc của anh. Chắc chắn anh không nghĩ tôi còn thức và đợi anh vì anh thậm chí không thèm xóa dấu vết cơn hoan lạc trên mặt mình. Hay anh muốn khoe với tôi về chiến tích của mình và chứng tỏ rằng lũ đàn bà trong hoàng cung yếu ớt như đám sậy trước mặt anh? Hay đơn giản là anh say khướt như một con lợn, đến nỗi không còn nhận ra việc mình làm lố bịch đến thế nào?
Tôi đã phải mất nhiều thời gian và công sức để làm nàng bình tĩnh lại, còn Muti bật khóc vì thương nàng và che mặt đi vào bếp, biểu lộ sự coi thường tất cả đàn ông. Nói đúng ra, tôi mất nhiều công sức để xoa dịu Merit hơn cả thoát khỏi Mehunefer, vì thế rốt cuộc tôi đã nguyền rủa tất cả đám đàn bà và nói:
- Merit, em hiểu anh hơn bất kỳ ai khác, vì thế em có thể tin ở anh. Em hãy tin rằng nếu muốn, anh có thể giải thích tất cả những điều này để em hoàn toàn hiểu ra, nhưng điều bí mật có thể không phải của anh mà của hoàng cung, vì vậy tốt hơn là em không nên biết vì tính mạng của mình.
Nhưng lưỡi nàng nhọn hơn cả vòi ong khi nàng nói đầy châm chọc:
- Tôi đã nghĩ rằng tôi hiểu anh, Sinuhe, nhưng giờ đây tôi mới thấy trong trái tim anh có những vực thẳm mà tôi chưa từng biết đến. Nhưng chắc chắn là anh làm đúng khi bảo vệ danh dự của một người phụ nữ và tôi không hề tò mò dò hỏi về những bí mật của anh. Hãy tránh xa tôi ra, vì với tôi anh được tự do đi và đến mặc lòng và tôi cũng cảm ơn tất cả các vị thần đã cho tôi hiểu phải giữ mình được tự do và từ chối đập vò cùng anh, nếu quả thật khi đó anh nói thật lòng mình. Ôi, Sinuhe, tôi đã ngu ngốc làm sao khi tin vào những lời dối trá của anh, vì có lẽ anh cũng đã thì thầm những lời như thế vào đôi tai xinh đẹp nào đó suốt cả tối hôm nay. Ôi, ước gì tôi đã chết.
Tôi cố gắng chạm tay vào nàng để xoa dịu nàng, nhưng nàng tỏ vẻ kinh tởm tránh ra và nói:
- Đừng động vào tôi, Sinuhe, chắc chắn anh đã quá mệt mỏi vì lăn lộn trên những tấm thảm mềm của hoàng cung suốt đêm rồi. Tôi không hề nghi ngờ là chúng mềm hơn thảm của tôi, và anh tìm thấy ở đó những bạn chơi trẻ và xinh đẹp hơn tôi.
Nàng đã nói như thế với tôi, đâm chọc vào trái tim đầy những vết thương nhỏ, đau nhói của tôi đến mức tôi thấy mình sắp phát điên. Chỉ đến lúc đó, nàng mới để tôi lại một mình và bỏ đi, không cho tôi tiễn nàng trở lại Đuôi Cá Sấu. Tôi sẽ còn đau khổ hơn nữa vì việc nàng bỏ đi nếu những suy nghĩ không trào dâng, sục sôi như biển cả trong đầu tôi và nếu tôi không muốn được ở lại một mình với chúng. Vì vậy, tôi để nàng đi và tôi nghĩ chắc nàng chẳng thể ngờ rằng tôi để nàng đi mà không phản ứng gì thêm.
Đêm đó, tôi trằn trọc suy tư trên tấm thảm và khi đêm trôi đi, những ý nghĩ trở nên lạnh lẽo hơn và xa vời hơn khi hơi rượu bốc hết khỏi đầu và cái lạnh cắt xén chân tay khi không có ai bên cạnh sưởi ấm. Tôi lắng nghe tiếng nước ti tách trong đồng hồ nước, dòng nước không ngừng trôi và thời gian cũng trôi đi vô định khiến tôi cảm thấy xa lạ với chính bản thân mình. Tôi cũng tự nhủ trong lòng: “Tôi, Sinuhe, là người bị những việc làm của mình, không phải của ai khác, nhào nặn nên. Tôi, Sinuhe, đã đẩy bố mẹ nuôi của mình đến cái chết tức tưởi chỉ vì một người đàn bà độc ác. Tôi, Sinuhe, vẫn còn giữ dải ruy băng bạc trên tóc của Minea, người tôi yêu. Tôi, Sinuhe, đã nhìn thấy xác bò biển trương phình trên mặt nước và khuôn mặt của người tôi yêu trôi nổi khi loài giáp xác rỉa thịt nàng. Huyết thống của tôi quan trọng gì đâu vì tất cả những việc này đều được ghi lên các vì sao trước ngày tôi được sinh ra và số phận buộc tôi làm người xa lạ trên mặt đất này. Vậy nên sự bình yên của Akhetaton với tôi chỉ là sự giả dối kinh hoàng và tôi cần sự thật khủng khiếp này để trái tim tôi thức dậy khỏi cơn mê mụ và để tôi biết mình luôn phải cô đơn”.
Nhưng khi mặt trời dát vàng nhô lên sau rặng núi phía đông, lập tức xua tan mọi bóng đen của màn đêm, trái tim con người lạ lùng đến mức tôi cười cay đắng trước cơn mê sảng của mình. Cho dù đúng đêm đó tôi đã trôi xuôi dòng sông trên chiếc thuyền sậy với những thân sậy đầy bồ hóng được đan bởi những múi đan của người bẫy chim và cùng thời gian đó hằng đêm những đứa trẻ vẫn bị bỏ rơi trên thuyền sậy trôi sông và những người đàn bà vẫn được đám thủy thủ từ miền Hạ đến đây quyến rũ và dạy cho cách đan của họ mà không ai nhận ra bằng chứng gì mặc dù da tôi có màu khói và nhợt nhạt hơn mọi người, vì các danh y sống cả đời dưới mái hiên nhà và da họ dần nhạt hơn. Không, trong ánh sáng chói chang ban ngày, tôi không tìm thấy bằng chứng thuyết phục nào cho sự ra đời của tôi.
Tôi cũng nghĩ mình đã nhìn thấy Pharaon Amenhotep Đại đế nằm hấp hối trên giường của ngài, nhìn ông lão đang chờ chết mà tôi không có cảm xúc gì, chỉ thấy vui với sự khéo léo của đôi tay mình vì là học trò của Nhà Sống, tôi được phép tẩy trùng và đưa cho Ptahor dụng cụ của ông ấy. Và tim tôi không quặn thắt khi ông ấy khoan sọ Pharaon. Nếu ngài thật sự là cha tôi, nếu hạt giống của ngài thật sự đã tạo ra tôi trong dạ con của Công chúa Mitanni, thì chắc chắn tim tôi đã run lên xúc động khi lần đầu tiên thấy ngài vào đêm ngài mất. Nhưng không có bất cứ cảm xúc chào đón ngài nào trong tôi, mà tôi chỉ thấy một người đàn ông già nua sắp rời bỏ tất cả quyền uy của mình. Tôi cũng nghĩ một khi những ngón tay đen đúa của Thái hậu Teje đã từng giữ tôi vào đêm tôi sinh ra và để tôi vào chiếc thuyền sậy thả trôi sông đi vào cái chết, tim tôi hẳn đã run lên khi nhìn thấy bà ta, nhưng tôi luôn nhìn bà ta với sự tò mò và trước khi bà ta qua đời, tôi đã bình thản nói chuyện với bà ta mà trong tim không có cảm giác chống cự nào. Tôi đã nghĩ như thế và đối với tôi những ý nghĩ này mạnh hơn tất cả những bằng chứng mà đôi mắt và lý trí đưa ra, khiến tôi chỉ muốn tưởng tượng mình đã nằm mơ, nên tôi gạt cơn mê sảng này về sự ra đời của mình ra khỏi tâm trí.
Tôi tắm rửa và mặc quần áo, Muti thết tôi bia và cá muối, hai mắt đỏ hoe vì khóc và lộ rõ vẻ khinh thường tôi vì tôi là đàn ông. Tôi sai kiệu đưa mình đến Nhà Sống và ở lại đó để khám bệnh, nhưng không có thêm bệnh nhân nào cần khoan sọ. Từ Nhà Sống, tôi đi ngang qua ngôi đền hoang vắng, ra khỏi tháp môn và nghe tiếng những con quạ béo kêu quàng quạc từ những ô cửa sổ đá bắt chéo hình mắt cáo phía trên sát rìa mái đền.
Rồi một con én lướt vèo ngang tôi về phía đền Aton và những bước chân tôi theo cánh én đến đền thờ, nơi các giáo sĩ đang hát thánh ca ca ngợi Aton và dâng hương, trái cây, ngũ cốc cho ngài. Trong đền thờ Aton, rất nhiều người đang chăm chú lắng nghe các bài thánh ca của Aton, giơ tay ngợi ca Aton và các giáo sĩ dạy họ triết thuyết của Pharaon. Tuy nhiên, cảnh tượng này chưa có ý nghĩa gì nhiều vì trong một thành phố lớn như Thebes, có bao nhiêu nơi người ta kéo đến chỉ vì tò mò. Một con én chấp chới chao liệng phía trước tôi, tôi dõi mắt theo nó và thấy những bức tượng được khắc vào đá trên tường ngôi đền, và từ hàng chục cột đá Pharaon Ekhnaton nhìn tôi trong nỗi kích động của ngài với những nét mặt rất đáng sợ. Cũng ở đó, tôi tìm thấy một bức tượng được chạm theo phong cách mới, Pharaon Amenhotep vĩ đại đang ngồi trên ngai vàng, già nua và ốm yếu, đầu cúi xuống trước sức nặng của những chiếc vương miện và Hoàng hậu Teje ngồi bên cạnh ngài. Tôi cũng đã tìm thấy tất cả các tượng của hoàng gia và tôi dừng lại xem bức tượng Công chúa Tadukhipa của Mitanni đang dâng đồ tế lễ cho các vị thần của Ai Cập, nhưng văn bản gốc đã bị cạo khỏi tượng và nội dung chạm khắc mới ghi là Công chúa dâng lễ tạ Aton, mặc dù lúc người sinh thời, Aton chưa hề được thờ cúng tại Thebes.
Tượng này được tạc theo phong cách nghệ thuật cổ, mô tả một thiếu phụ trẻ và đẹp, đầu đội chiếc mũ hoàng gia, chân tay thanh tú, mảnh mai, đầu thon đẹp và duyên dáng. Tôi ngắm bức tượng rất lâu, thỉnh thoảng con én lại bay liệng quanh đầu tôi hót chíu chít đầy mừng rỡ, cho đến khi một nỗi cảm kích rất đáng sợ xâm chiếm tâm trí đã quá mỏi mệt vì suy nghĩ và thao thức của tôi và tôi cúi đầu khóc thương cho số phận của người thiếu nữ cô đơn đã từ một đất nước xa lạ đến nơi đây. Nghĩ đến người, tôi ước mình xinh đẹp như người, nhưng chân tay tôi khẳng khiu, thô kệch, đầu tôi cạo trọc dưới mái tóc giả của danh y, bao điều suy nghĩ đã rạch xoi những nếp nhăn trên trán tôi và khuôn mặt tôi sưng phồng lên vì cuộc sống quá dư dả ở Akhetaton. Không, so sánh mình với người, tôi không thể hình dung ra mình là con trai của người, nhưng cảm xúc vẫn tràn ngập trong tâm trí tôi và tôi khóc cho sự cô đơn của người trong hậu cung của Pharaon; con én vẫn chao liệng quanh đầu tôi mừng rỡ. Tôi nhớ những ngôi nhà xinh đẹp và những con người sầu muộn ở Mitanni, tôi cũng nhớ những con đường đầy bụi và sàn đất sét nện ở Babylon, tôi cảm thấy thời trai trẻ của mình đã mãi mãi trôi qua và những năm tháng trai tráng của tôi đã chìm vào bùn lầy và nước đọng ở Akhetaton.
Ngày của tôi đã trôi qua như thế, tối đến tôi trở lại bến cảng, đến Đuôi Cá Sấu để ăn tối và làm lành với Merit. Nhưng Merit đã cáu kỉnh đón tôi và đối xử với tôi như một khách lạ, mang cho tôi đồ ăn rồi đứng bên cạnh ghế và lạnh lùng nhìn tôi. Khi tôi ăn xong, nàng hỏi:
- Anh đã gặp người yêu của mình chưa?
Tôi bực tức nói rằng tôi không đi gặp đàn bà con gái mà đi làm nghề của mình trong Nhà Sống và ghé lại đền Aton. Để biểu lộ sự phẫn nộ của mình, tôi liệt kê cụ thể cho nàng từng nơi bước chân tôi đã ghé qua trong ngày, song suốt buổi hôm ấy nàng chỉ nhìn tôi với một nụ cười giễu cợt. Khi tôi dứt lời, nàng nói:
- Tôi không nghĩ anh đi kiếm đàn bà con gái, vì đêm qua anh đã kiệt sức rồi, béo và hói thế này thì làm gì được hơn nữa. Tôi chỉ định nói là người anh yêu cũng đến cả đây tìm anh, và tôi bảo người ấy đến Nhà Sống mà tìm.
Tôi đứng phắt dậy mạnh tới mức ghế đổ chỏng và hét lên:
- Ý cô là gì, hả đồ điên kia?
Merit đưa tay sửa mái tóc, mỉm cười châm chọc và nói:
- Đúng thật là người anh yêu đã đến đây tìm anh, ăn vận như cô dâu, đồ trang sức treo trên người sáng loáng, mặt tô vẽ như khỉ và mùi dầu xức bốc tới tận sông. Bà ta gửi lời chào anh, để lại một phong thư phòng trường hợp không gặp được anh và tôi thực lòng mong anh hãy khuyên bà ta tránh xa nơi đây đi, vì đây là một ngôi nhà trong sạch mà bà ta cư xử như một mụ chủ lầu xanh.
Nàng đưa cho tôi một phong thư chưa niêm phong và tay tôi run rẩy mở ra. Máu bốc lên đầu khi tôi đọc thư và tim tôi bắt đầu đập gấp gáp. Vì Mehunefer đã viết thế này cho tôi:
“Mehunefer, quản gia hậu cung của Pharaon gửi lời chào tới danh y Sinuhe.
Sinuhe, bò tót nhỏ của thiếp, bồ câu trống đáng yêu của thiếp. Thiếp thức dậy một mình trên thảm, đầu đau nhức, nhưng trái tim thiếp còn nhức nhối hơn cả đầu vì thảm của thiếp trống không, còn chàng đã rời thiếp ra đi và thiếp chỉ có thể ngửi thấy mùi dầu xức của chàng trên tay mình. Sinuhe ơi, ước gì thiếp là tấm vải quấn quanh hông chàng, là dầu xức trên tóc chàng, là rượu trong miệng chàng. Thiếp sẽ cho kiệu khênh mình từ nhà này sang nhà khác để tìm chàng và thiếp sẽ không ngại vất vả cho đến khi tìm thấy chàng, vì thân thể thiếp nhột nhạt đầy kiến khi thiếp nghĩ về chàng và đôi mắt chàng thật dễ thương trong mắt thiếp. Chàng không cần phải ngại ngùng khi đến với thiếp, mặc dù chàng hay thẹn thùng, như thiếp biết, vì ai trong hoàng cung cũng đã biết mọi bí mật của thiếp và những người hầu lờ đi coi như không thấy chàng. Hãy mau đến với thiếp khi chàng nhận được thư này, hãy đến nhanh như chim bay, người yêu dấu của thiếp ơi, vì trái tim thiếp khao khát chàng. Nếu như chàng không đến được với thiếp, thiếp sẽ bay đến với chàng còn nhanh hơn chim.
Mehunefer yêu dấu của lòng chàng xin chào chàng.”
Tôi đọc những dòng huyên thiên khủng khiếp này vài lần mà không dám nhìn Merit cho đến khi nàng giật lá thư từ tay tôi và bẻ gãy que dùng để cuộn lá thư vào rồi xé vụn tờ giấy, vứt xuống dưới chân và điên lên nói:
- Tôi vẫn có thể hiểu được, Sinuhe, nếu đó là người trẻ và đẹp, đằng này mụ ta già nua, nhăn nheo và xấu xí như cái bao tải, dù mụ ta trát mặt dày như tường đất sét. Tôi hoàn toàn không hiểu anh nghĩ gì nữa, Sinuhe, hay sự lộng lẫy hào nhoáng của hoàng cung làm mờ mắt anh đến mức anh nhìn tất cả lộn ngược như thế. Anh biến mình thành trò cười khắp bàn dân thiên hạ ở Thebes với cách cư xử như thế và cũng biến tôi thành trò cười theo.
Tôi vò quần áo mình và lấy móng tay cào ngực, gào lên:
- Merit, anh đã làm một việc ngu dại khủng khiếp, nhưng anh có lý do để làm việc đó mà không ngờ rằng mình sẽ phải nhận hình phạt kinh khủng thế này! Merit, hãy cho người đi gọi các tay chèo thuyền của anh và bảo họ đến ngay vì anh phải chạy trốn. Nếu không mụ đàn bà ghê tởm này sẽ đến dùng vũ lực ăn nằm với anh và anh không thể chống cự, vì mụ ta viết rằng mụ ta sẽ bay đến chỗ anh nhanh hơn chim và anh tin lời mụ.
Merit nhận thấy nỗi đau và sự hốt hoảng của tôi và tôi nghĩ chắc cuối cùng nàng tin rằng tôi không có gì với Mehunefer, vì đột nhiên nàng bắt đầu cười rất thật lòng, cười sặc sụa khiến thân hình xinh đẹp của nàng cong vòng xuống đầu gối khi nói:
- Tôi hy vọng việc này sẽ dạy anh thận trọng hơn với đàn bà, Sinuhe ạ, vì đàn bà chúng tôi dễ vỡ như bát đĩa và chính tôi cũng biết anh quyến rũ đến thế nào, Sinuhe, tình yêu của tôi.
Nàng nhẫn tâm chế nhạo tôi và vờ nhún nhường nói:
- Tôi nghĩ người đàn bà tinh tế ấy đã làm anh hài lòng hơn là tôi trên tấm thảm của bà ấy, và ít nhất bà ấy đã có gấp đôi số năm tôi có để luyện kỹ năng yêu, vì vậy tôi không thể địch nổi với bà ấy và tôi đoán vì bà ấy, anh sẽ nhẫn tâm hắt hủi tôi.
Nỗi đau khổ của tôi quá lớn nên tôi đã kéo Merit đến ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng và kể cho nàng nghe mọi chuyện. Tôi kể với nàng bí mật về sự ra đời của tôi và kể cho nàng nghe tôi đã dụ dỗ như thế nào để Mehunefer kể ra mọi chuyện, và tôi cũng nói với nàng lý do tại sao tôi không muốn tin sự ra đời của mình có liên quan đến hoàng cung và Công chúa Mitanni. Khi nghe tôi kể, nàng trầm hẳn lại và không còn cười nữa. Nàng nhìn chằm chằm về phía trước và nỗi buồn trong đáy mắt nàng mỗi lúc một sẫm lại, cuối cùng nàng khẽ chạm tay lên vai tôi và nói:
- Giờ thì em hiểu ra nhiều điều, Sinuhe ạ, em hiểu được điều mà trước đây em không hiểu được ở anh, em hiểu vì sao sự cô đơn của anh thét gào trong câm lặng với em khi lần đầu tiên em thấy anh và tại sao em yếu đuối đến vậy khi gặp ánh mắt anh nhìn. Cả em cũng có một bí mật, và trong những ngày này em đã thấy muốn kể nó với anh, nhưng bây giờ em vui mừng và cảm ơn các đấng thần linh khi em đã không làm điều đó, vì bí mật thường quá nặng nề để mang và còn nguy hiểm nữa, vì thế tốt hơn là gánh nó một mình chứ không chia sẻ để cả hai phải gánh. Nhưng dù sao em rất vui vì anh đã kể với em tất cả mọi chuyện. Nhưng như anh nói, tốt hơn hết là anh đừng hành hạ trái tim mình khi nghĩ về những việc có thể chưa bao giờ xảy ra, mà hãy quên đi như thể nó chỉ là một giấc mơ và em cũng sẽ quên.
Tôi đâm ra tò mò và dò hỏi nàng về bí mật của nàng, nhưng nàng không muốn kể cho tôi mà chỉ khẽ áp môi vào má tôi và quàng tay quanh cổ tôi rồi nước mắt trào ra. Cuối cùng, nàng nói:
- Nếu anh ở lại Thebes, anh không thể không gặp người đàn bà đó và Mehunefer sẽ ngày này qua ngày khác săn đuổi anh bằng sự điên rồ của mình cho đến khi anh không thể chịu đựng nổi, vì em đã thấy những người đàn bà như thế và em biết họ có thể kinh khủng đến nhường nào. Anh cũng có lỗi, vì đã làm bà ta tin đủ mọi thứ và làm việc ấy quá tài. Vì vậy có lẽ tốt nhất là anh nên trở lại Akhetaton, vì anh đã có các ca khoan sọ quan trọng và không có việc gì thật cấp thiết để làm nữa. Nhưng chắc chắn nhất là trước khi đi hãy viết cho bà ta một bức thư và bắt bà ta hứa sẽ để anh yên, nếu không bà ta còn lần theo dấu chân anh và đập vò cùng anh khi anh không biết cách tự bảo vệ mình, mà em thì không muốn anh phải chịu số phận như vậy.
Lời khuyên của nàng quá hay và tôi bảo Muti thu gom đồ đạc của tôi, bọc nó trong thảm. Tôi cũng sai mấy người nô lệ đi gom những người chèo thuyền của tôi từ các quán bia và tửu điếm ở cảng về. Trong khi chờ đợi, tôi viết một lá thư, nhưng vì không muốn xúc phạm Mehunefer, tôi đã viết rất lịch sự cho bà ta như sau:
“Danh y khoan sọ hoàng gia Sinuhe chào Mehunefer, quản gia hoàng cung ở Thebes.
Bà ạ, tôi lấy làm tiếc nếu sự chân thành của tôi đã khiến bà hiểu lầm về tình cảm của tôi, bởi tôi không bao giờ có thể gặp lại bà nữa, vì việc gặp bà có thể dẫn tôi đến tội lỗi và trái tim tôi đã có sự ràng buộc rồi. Vì thế tôi rời khỏi đây và sẽ không bao giờ muốn gặp lại bà nữa, nhưng tôi hy vọng bà sẽ chỉ nhớ đến tôi như một người bạn. Tôi gửi cho bà bức thư này cùng với hũ đồ uống có tên đuôi cá sấu, hy vọng nó có thể giúp bà vơi đi nỗi buồn mà bà có thể đang chịu, mặc dù tôi cam đoan với bà không có gì phải buồn vì tôi, một lão già, nhu nhược và buồn chán; một người phụ nữ như bà khó có thể có niềm vui thú gì với tôi. Tôi rất vui vì bằng cách này, tôi bảo vệ được cả hai chúng ta khỏi tội lỗi và tôi không bao giờ muốn gặp lại bà nữa.
Người bạn trung thành Sinuhe, danh y hoàng gia, tha thiết mong điều đó.”
Merit đọc thư tôi viết và lắc đầu nói lời lẽ khiêm nhường quá. Nàng nghĩ lẽ ra tôi cần viết gay gắt hơn, nói rằng Mehunefer là mụ già xấu xí trong mắt tôi và rằng tôi trốn chạy để thoát khỏi bà ta. Nhưng tôi không thể viết như vậy cho một phụ nữ và sau một lúc tranh cãi, Merit để tôi cuộn lá thư lại và niêm phong nó, mặc dù vẫn tiếp tục lắc đầu ngán ngẩm. Tôi sai nô lệ mang bức thư đến hoàng cung và cùng với bức thư, tôi đã gửi thêm một hũ rượu để bảo đảm rằng bà ta sẽ không còn truy đuổi tôi nữa, ít nhất là trong đêm đó. Bằng cách này, tôi nghĩ mình có thể thoát khỏi Mehunefer và thở phào nhẹ nhõm, nhưng đó chỉ là điều tôi nghĩ.
Bị nỗi hoảng loạn làm cho mê mụ, tôi đã quên Merit và nỗi khát khao có nàng, nhưng khi lá thư được gửi đi và Muti đang quấn tráp đồ nghề và rương của tôi trên thảm cho chuyến đi, tôi nhìn Merit và một nỗi buồn không thể tả nổi dâng lên trong lòng khi tôi nghĩ chỉ vì sự ngu dại của mình mà tôi mất nàng, dù tôi có thể ở lại Thebes một thời gian nữa. Merit cũng trầm ngâm suy nghĩ và bất chợt hỏi tôi:
- Anh có thích trẻ con không, Sinuhe?
Câu hỏi của nàng khiến tôi hết sức bối rối. Nàng nhìn vào mắt tôi rồi mỉm cười buồn buồn và nói:
- Ồ, đừng sợ, Sinuhe. Em không có ý định sinh con cho anh. Nhưng người bạn gái của em có một bé trai lên bốn và cô ấy thường nói rằng giá như thằng bé có thể lên thuyền xuôi dòng sông để được ngắm nhìn những đồng cỏ xanh mướt, những cánh đồng nhấp nhô cùng đàn vịt trời và bầy gia súc thay vì chó, mèo trên những con đường đá bụi bặm của Thebes thì tuyệt vời biết bao.
Tôi hoảng quá và nói:
- Em không định nói là anh sẽ đưa cậu bé nghịch ngợm của cô bạn nào đó của em lên thuyền, khiến sự bình yên của anh theo đó mà đi tong và anh sẽ giật mình thon thót trong suốt chuyến đi và phải canh chừng kẻo nó rơi xuống nước hoặc thò tay vào miệng cá sấu đó chứ?
Merit nhìn tôi cười, nhưng nỗi buồn sẫm lại dưới đáy mắt và nàng nói:
- Tất nhiên em không muốn phiền anh, nhưng hành trình dọc dòng sông có ích với thằng bé, và chính em đã bế nó trên tay khi người ta cắt bao quy đầu cho nó, vì vậy em phải có trách nhiệm với nó, như anh hẳn biết. Tất nhiên em sẽ đi cùng để chắc chắn nó không bị rơi xuống nước, và như thế em sẽ có lý do để theo anh trong suốt hành trình. Nhưng em sẽ không làm gì trái ý anh và vì vậy chúng ta hãy quên điều này đi.
Nghe thế tôi sung sướng hét lên và vỗ tay đánh bốp trên đầu nói:
- Nếu vậy, em có thể đưa theo em thậm chí cả vườn trẻ to như ngôi đền. Quả thật, đây là một ngày rất vui đối với anh, vì anh thật ngốc quá, đến mức không nghĩ ra rằng em có thể đi cùng anh đến Akhetaton. Danh tiếng của em sẽ không bị hoen ố vì anh nếu em có một đứa trẻ đi cùng, đó sẽ là lý do của chuyến đi trên sông này.
- Đúng vậy đấy, Sinuhe, - nàng nói, mỉm cười châm chọc như phụ nữ thường mỉm cười với những việc đàn ông không thể đoán ra. - Đúng thế, danh tiếng của em không bị tổn hại khi em có một đứa trẻ đi cùng và anh là chỗ dựa của em. Chính anh nói điều đó ra. Ôi, đàn ông đúng là đồ ngốc, nhưng em sẽ tha thứ cho anh.
Chúng tôi vội vã ra đi vào lúc bình minh khi bầu trời chuyển màu trắng ngà trước khi mặt trời mọc, vì tôi rất sợ Mehunefer đến. Vậy nên Merit đi đón đứa bé và đưa xuống thuyền khi nó đang ngủ, người được quấn trong chăn. Mẹ nó không đi tiễn, mặc dù tôi rất muốn gặp người phụ nữ dám đặt tên cho con mình là Thoth, vì người ta ít khi dám lấy tên thần linh đặt cho con mình. Hơn nữa, Thoth là vị thần của chữ viết và tri thức của con người và cả thần linh, nên sự hỗn xược của người đàn bà này càng lớn. Nhưng thằng bé vẫn ngây thơ ngủ trong vòng tay Merit mà không hay biết đến trách nhiệm nặng nề do tên mình mang lại và chỉ thức dậy khi chúng tôi đã đi xa trên sông, lính canh của Thebes đã khuất khỏi tầm mắt và mặt trời đổ nắng rang vàng dòng sông. Thằng bé kháu khỉnh, mập mạp, da nâu với mớ tóc đen mượt mà xõa trán, nó không hề sợ tôi mà chạy đến sà vào lòng tôi và tôi âu yếm ôm nó vào lòng, vì nó là một đứa bé hiền lành, không đạp chân và vươn với trong vòng tay tôi mà nhìn tôi bằng đôi mắt sẫm màu và trầm ngâm như thể đang suy ngẫm tất cả những bí ẩn của tri thức trong cái đầu nhỏ bé của mình. Tôi rất thích thằng bé vì sự trầm tĩnh của nó và tôi đan cho nó những chiếc thuyền nhỏ bằng sậy, cho nó chơi với đồ nghề của tôi và ngửi đủ loại thuốc, vì thằng bé thích mùi của các vị thuốc và thích thú chúi mũi vào từng cái bình.
Thằng bé không hề gây phiền toái cho chúng tôi trên thuyền và nó không ngã xuống nước hay đút đôi tay nhỏ bé của mình vào miệng cá sấu hay bẻ những cây bút sậy của tôi, mà chuyến đi của chúng tôi thật vui và hạnh phúc, vì tôi được đi cùng Merit. Hằng đêm nàng nằm trên thảm bên cạnh tôi và bé Thoth thở đều đều ngủ yên gần chúng tôi. Đây là một chuyến đi hạnh phúc và cho đến ngày lìa đời, tôi vẫn sẽ nhớ tiếng sậy lao xao trong gió và những đàn gia súc được lùa xuống sông uống nước lúc xẩm tối. Có những phút giây trái tim tôi trào dâng hạnh phúc, giống như trái chín nứt vỏ ứa ra mật ngọt tràn trề, và tôi nói với Merit:
- Merit, em yêu của anh, chúng ta hãy cùng nhau đập bể vò để chúng ta luôn được sống bên nhau và biết đâu một lúc nào đó em sinh cho anh một cậu con trai, như bé Thoth này, một bé trai hiền lành, da nâu và điềm đạm như nó. Quả thật là từ trước đến nay anh chưa hề muốn có con, nhưng bây giờ tuổi trẻ của anh đã trôi qua, dòng máu của anh đã thôi sục sôi mãnh liệt và khi ngắm nhìn bé Thoth, anh khát khao có con với em, Merit ạ.
Nàng đưa tay bịt miệng tôi, quay mặt đi và trầm giọng nói:
- Sinuhe, đừng nói đến những điều không thể, vì anh biết là em lớn lên trong một quán rượu và có thể em không sinh con được nữa. Và anh, người mang số phận mình trong tim, có lẽ sẽ tốt hơn nên sống một mình để có thể quyết định đời mình và hành động theo lương tâm mình mà không phải nghĩ đến vợ hay con, vì em đọc được điều này từ mắt anh vào ngày đầu tiên chúng ta gặp nhau. Không, Sinuhe, đừng nói với em như thế, bởi vì lời nói của anh khiến em yếu đuối và em có thể bật khóc, mà em không muốn khóc khi hạnh phúc đang tràn ngập quanh mình. Những người khác tự mình làm nên số phận và trói mình bằng hàng ngàn mối ràng buộc, nhưng số phận anh ở trong trái tim anh và nó lớn lao hơn số phận của em. Nhưng cả em cũng rất yêu cậu bé này và phía trước chúng ta còn nhiều ngày quang đãng và nóng nực trên sông. Vì vậy, hãy tưởng tượng rằng chúng ta đã cùng đập vỡ vò, chúng ta là vợ là chồng và Thoth là con đẻ của chúng ta. Em sẽ dạy nó gọi anh là bố và gọi em là mẹ, vì nó còn nhỏ, sẽ sớm quên và điều đó không hại gì cho nó. Và chúng ta sẽ lấy trộm từ thần linh một quãng đời nho nhỏ mà chúng ta có được trong những ngày này. Đừng để nỗi buồn hay lo lắng về tương lai làm lu mờ niềm vui của chúng ta.
Thế là tôi xóa hết mọi suy nghĩ tai ương hiểm họa ra khỏi tâm trí mình, nhắm mắt để khỏi nhìn thấy sự khốn khổ của Ai Cập và những người đói rách trong các ngôi làng bên bờ sông và tôi chỉ sống từng ngày từng ngày một khi chúng tôi xuôi dòng sông. Bé Thoth vòng tay ôm cổ tôi, áp má vào má tôi và gọi tôi là “Bố”. Cơ thể con trai nhỏ bé của nó thật ấm áp trong vòng tay tôi. Hằng đêm, tôi cảm nhận tóc Merit vương quanh cổ mình, tay nàng nắm tay tôi và nàng thở đều đều vào má tôi. Nàng là bạn tôi và những giấc mơ xấu không còn quấy rầy tôi nữa. Những ngày này trôi qua như một giấc mơ, lướt qua nhanh như hơi thở và không trở lại. Tôi không muốn kể thêm về những ngày này, bởi vì những ký ức như những vỏ trấu đâm chọc cổ họng tôi và nước mắt làm nhòe những con chữ. Đúng là con người ta đừng bao giờ hạnh phúc quá, bởi không có gì dễ tiêu tan và biến mất nhanh hơn hạnh phúc của con người.
❖ 7 ❖
Thế là tôi đã quay lại Akhetaton, nhưng không còn là tôi của lúc ra đi mà bây giờ tôi nhìn Thành phố Thiên Đường với con mắt khác. Những ngôi nhà thanh thoát trong tất cả màu sắc rực rỡ của chúng dưới ánh nắng vàng và bầu trời xanh đậm khiến cho thành phố chỉ như một bong bóng dễ vỡ hay một ảo ảnh dần tan. Và sự thật không có ở trong Akhetaton, mà nằm bên ngoài Akhetaton, là cái đói, cái khổ, sự khốn cùng và tội phạm, những điều mà nạn đói đem theo đến Ai Cập. Merit và Thoth trở lại Thebes, mang theo họ trái tim tôi. Vì thế, tôi lại nhìn mọi thứ với đôi mắt lạnh lùng không còn tấm màn nào che chắn và mọi thứ đều quá xấu xa trong mắt tôi.
Nhưng không lâu sau ngày tôi trở lại, sự thật cũng đến Akhetaton và Pharaon Ekhnaton buộc phải đối diện với nó, nhìn thẳng vào nó từ ban công cung điện của mình, vì Horemheb đã sai một nhóm tị nạn Syria khốn cùng từ Memphis đến cầu khẩn Pharaon. Anh ấy đã trả tiền đi đường cho họ và tôi nghĩ anh ấy còn khuyến khích họ nói vống lên nỗi khốn khổ của mình, tạo nên một cảnh tượng thật khủng khiếp ở Thành phố Thiên Đường, khiến các triều thần hoảng sợ, lui về nhà ẩn náu, còn lính cấm vệ đóng kín các cổng hoàng cung khi nhìn thấy họ. Nhưng họ gào thét rất to, lấy đá đập vào các cánh cổng và ném đá vào tường hoàng cung cho đến khi Pharaon buộc phải nghe thấy tiếng họ và cho họ vào sân trong.
Tại đây, họ kêu lên với Pharaon:
- Xin ngài hãy nghe tiếng thét đau đớn của dân chúng qua cái miệng đã bị đánh bầm dập của chúng tôi, vì xứ Kemet hùng vĩ giờ chỉ như một bóng ma run rẩy trước nấm mồ, máu của tất cả những ai tin tưởng vào ngài và đặt tất cả hy vọng vào ngài đã đổ xuống vô ích trong các thành phố ở Syria khi những kẻ phá tường tông gỗ thình thịch trong tiếng lửa cháy phừng phừng.
Họ giơ những cánh tay cụt về phía ban công vàng của Pharaon và gào thét lên:
- Hãy nhìn tay chúng tôi, Pharaon Ekhnaton. Bàn tay của chúng tôi đâu?
Họ đẩy ra trước những người đàn ông đã bị chọc mù mắt và để họ dò dẫm bước lên, những người già đã bị cắt lưỡi, miệng há hốc phát ra những tiếng khàn khàn trong cổ họng. Họ gào lên với Pharaon:
- Đừng hỏi đến vợ và con gái của chúng tôi, vì số phận của họ trong tay lũ đàn ông Aziru và Hittite còn khủng khiếp hơn cả cái chết. Chúng đã chọc thủng mắt chúng tôi và chặt tay chúng tôi vì chúng tôi tin tưởng vào ngài, thưa Pharaon Ekhnaton!
Pharaon yếu đuối và nhu nhược đưa tay che mặt và run lẩy bẩy nói với họ về Aton. Lúc đó, họ cười ngài bằng điệu cười man dại và xỉ vả ngài:
- Chúng tôi biết ngài cũng đã gửi thánh giá sự sống cho kẻ thù của chúng ta. Chúng treo nó vào cổ ngựa và tại Jerusalem, chúng chặt chân các giáo sĩ của ngài và bắt họ nhảy những điệu nhảy mừng vui để tỏ lòng kính trọng với thần của ngài.
Lúc đó, Pharaon Ekhnaton hét lên một tiếng kinh hoàng, căn bệnh thần thánh lại tra tấn ngài khiến ngài ngã vật xuống, co giật và bất tỉnh ngay trên ban công. Nhìn thấy thế, lính cấm vệ kinh hoàng lao đến đánh những người tị nạn Syria, còn những người này vì quá tuyệt vọng đã chống lại, máu của họ chảy xuống những khe đá lát sân trong hoàng cung và xác họ bị ném xuống sông. Nefertiti và Meritaton, Meketaton ốm yếu và Ankhsenaton bé nhỏ đã nhìn thấy cảnh tượng này từ ban công của hoàng cung và không bao giờ quên, vì đó là lần đầu tiên họ nhìn thấy những biểu hiện của chiến tranh, khổ đau và chết chóc.
Tôi lấy khăn ướt đắp cho Pharaon Ekhnaton và khi ngài bắt đầu tỉnh, tôi cho ngài uống thuốc an thần và thuốc mê, vì cơn động kinh này quá khủng khiếp nên tôi sợ ngài sẽ chết. Nhờ đó, ngài ngủ được, nhưng khi thức dậy mặt ngài tái xám và đôi mắt đỏ hoe vì cơn đau đầu, ngài nói với tôi:
- Sinuhe, bạn của ta, phải chấm dứt chuyện này. Horemheb nói ngươi quen Aziru, hãy đến gặp hắn ta và mua cho ta sự bình yên. Hãy mua hòa bình cho Ai Cập, dù phải tiêu tốn hết vàng của ta và cho dù Ai Cập sau này chỉ là một vương quốc nghèo.
Tôi kiên quyết phản đối ngài:
- Bẩm Pharaon Ekhnaton, xin ngài hãy gửi vàng cho Horemheb, anh ta sẽ mua hòa bình cho ngài bằng giáo mác với chiến xa và Ai Cập sẽ không hổ thẹn.
Ekhnaton ôm đầu và nói:
- Vì Aton, Sinuhe, ngươi không hiểu tội ác sinh ra tội ác, hận thù gieo rắc hận thù và máu sinh ra máu cho đến khi chúng ta chìm trong bể máu. Những nạn nhân sẽ nhận được gì nếu nỗi đau của họ được báo thù bằng nỗi đau của người khác, còn hổ thẹn ư, đó chỉ là định kiến. Vì thế ta lệnh cho ngươi: hãy đến gặp Aziru và mua hòa bình cho ta.
Tôi sợ ý định thất thường của ngài nên nói:
- Muôn tâu Pharaon, họ sẽ chọc mù mắt thần và rút lưỡi ra khỏi miệng thần trước khi cho thần vào tiếp kiến Aziru. Mà tình bạn của ông ta cũng không ích gì cho thần vì chắc ông ta đã quên thần từ lâu. Thần cũng không quen với những gian khổ của chiến trận mà kinh sợ chúng. Chân tay thần đã xơ cứng, thần đi lại không còn được nhanh nhẹn và không biết sắp đặt câu từ khéo léo như những người từng được dạy nói dối từ khi còn nhỏ và làm sứ giả của ngài đến gặp các quốc vương ngoại bang. Vì thế, xin quốc vương hãy sai người khác nếu ngài muốn mua hòa bình, chứ đừng buộc thần đi.
Nhưng ngài vẫn nhất quyết phán:
- Hãy làm theo lời ta. Đây là lệnh của Pharaon.
Nhưng tôi đã nhìn thấy những người tị nạn trong sân cung điện. Tôi đã nhìn thấy những cái miệng bị bầm dập của họ, những con mắt bị đâm thủng và những cánh tay cụt. Vì vậy, tôi hoàn toàn không có ý định đi Syria mà định sẽ về nhà lên giường nằm và đổ bệnh cho đến khi Pharaon quên đi ý muốn bất chợt này. Nhưng khi tôi về gần đến nhà, người đầy tớ ra đón tôi và nói với giọng hốt hoảng:
- Thật tốt là ông đã về, Sinuhe ông chủ của tôi, vì một con thuyền từ Thebes vừa cập bến mang theo một người đàn bà tên là Mehunefer, nói là bạn của ông. Bà ấy đang đợi ông trong nhà, ăn vận như một cô dâu, ngôi nhà sặc sụa mùi dầu xức của bà ấy.
Khi ấy tôi quay phắt lại và vội vàng đến hoàng cung nói với Pharaon:
- Bẩm quốc vương, thần xin phụng mệnh. Thần sẽ đi Syria, máu của thần sẽ nhuộm đỏ đầu ngài. Nhưng thần muốn đi ngay lập tức, vì vậy ngài hãy lệnh cho các ký lục chuẩn bị tất cả những bảng đất sét cần thiết biên chép địa vị và quyền hạn của thần, vì Aziru rất coi trọng những bảng đất sét.
Trong khi các ký lục viết các bảng đất sét, tôi trốn đến xưởng của Thotmes, người bạn không bỏ rơi tôi lúc tôi hoạn nạn. Anh ấy vừa tạc xong bức tượng Horemheb bằng đá sa thạch nâu sau khi lấy mẫu bằng thạch cao khuôn mặt của Horemheb trong lần Horemheb đến thăm Akhetaton, như tôi đã kể trước đây. Bức tượng này được tạc theo nghệ thuật mới, rất sống động và tạo ấn tượng tốt về Horemheb, mặc dù tôi thấy Thotmes tạc hơi quá độ dày của bắp tay và bề rộng của ngực khiến Horemheb trong bức tượng trông giống một đô vật hơn là một thống lĩnh quân đội hoàng gia. Nhưng phong cách nghệ thuật mới là phóng đại mọi thứ mà mắt thường nhìn thấy, đến mức xấu xí, vì theo cách nhìn của nghệ thuật mới, đó là sự thật và nghệ thuật cũ đã che giấu sự xấu xí của con người và nhìn con người từ mặt tốt nhất, làm dịu đi những khiếm khuyết của anh ta, trong khi nghệ thuật mới nhìn con người từ mặt xấu nhất, kẻo sự thật bị lãng quên.
Tuy nhiên, tôi không biết việc phóng đại sự xấu xí của con người có thật sự là theo sự thật không, nhưng Thotmes tin rằng anh ấy biết điều đó và tôi không muốn phản đối vì anh ấy là bạn của tôi. Anh ấy lấy giẻ ướt lau bức tượng để cho thấy đá sa thạch tỏa sáng đẹp như thế nào nơi cơ bắp của Horemheb và màu sắc của đá phù hợp với màu da của anh ta như thế nào rồi nói với tôi:
- Tôi nghĩ tôi sẽ đi cùng anh đến Hetnetsut và mang theo bức tượng để biết chắc chắn nó sẽ được dựng lên ở một nơi trong ngôi đền tương xứng với địa vị của Horemheb và cả với danh tiếng của tôi với tư cách là một nhà điêu khắc đá. Chắc chắn tôi sẽ đi với anh, Sinuhe ạ, và để gió thổi bay hơi rượu của Akhetaton khỏi đầu tôi, bởi đôi tay tôi run lên vì sức nặng của đục và búa, và cơn sốt bào mòn trái tim tôi.
Các ký lục mang bảng đất sét và vàng cho chuyến đi của tôi cùng với lời chúc phúc của Pharaon Ekhnaton đến xưởng của Thotmes và chúng tôi cho khiêng tượng Horemheb lên thuyền của Pharaon rồi lên đường ngay lập tức. Tôi bảo người hầu của mình nói với Mehunefer rằng tôi đã tham chiến ở Syria và chết ở đó. Tôi không lừa dối khi nói vậy, vì tôi thật sự nghĩ mình sẽ bỏ mạng đau đớn trong chuyến đi này. Tôi cũng ra lệnh cho người hầu của mình tiễn Mehunefer xuống một con thuyền đi đến Thebes, với tất cả sự tôn trọng cần thiết và thậm chí nếu cần thì bằng vũ lực. Vì, tôi nói, nếu tôi vẫn trở lại được, trái với mọi ước đoán, và thấy Mehunefer trong nhà mình, tôi sẽ cho cả người hầu và nô lệ của tôi no đòn, sai cắt tai và mũi của họ và bắt họ sống trong hầm mỏ suốt đời. Người hầu đã nhìn vào mắt tôi và nghĩ tôi nói thật, vì vậy y vô cùng sợ hãi và hứa sẽ làm theo lệnh tôi. Sau đó, tôi nhẹ nhõm xuống thuyền của Pharaon cùng với Thotmes, và vì tôi tin mình có thể đang cưỡi thuyền đến cái chết trong tay quân Amori và Hittite nên chúng tôi đã không tiếc rượu trong chuyến hành trình. Cả Thotmes cũng nói anh ấy không có thói quen tiết kiệm rượu khi đang trên đường chinh chiến, anh ấy chắc chắn biết điều đó vì đã sinh ra trong trại lính.
Nhưng để kể về chuyến xuôi dòng sông của tôi đến Syria và tất cả những chuyện xảy ra sau đó, tôi phải bắt đầu một cuốn sách mới.