
❖ 1 ❖
Khi tôi trở lại Akhetaton, Pharaon Ekhnaton quả thật đang bị ốm và ngài cần sự chăm sóc của tôi. Hai má ngài hóp lại, gò má nhô cao trên khuôn mặt và cổ ngài còn dài hơn trước, đến mức không thể chịu nổi sức nặng của cả hai vương miện trong các lễ triều, mà đầu ngài ngả trĩu ra sau vì sức nặng ấy. Hai đùi ngài phù thũng, còn cẳng chân gầy như que củi, quầng mắt thâm tím và sưng húp vì những cơn đau đầu triền miên. Ngài không còn nhìn thẳng vào mắt người khác mà ánh mắt cứ lang thang, vô định trong những thế giới nào đó và vì thần của mình, ngài thường quên những người ngài từng nói chuyện cùng. Ngài làm căn bệnh đau đầu càng tồi tệ hơn khi đi ra ngoài giữa trưa nắng chang chang không che ô hay đội mũ hoàng đế, để đầu được hứng những tia sáng phước lành của thần. Nhưng những tia sáng của Aton không ban cho ngài chút phước lành nào mà chỉ đầu độc ngài, khiến ngài mê sảng và thấy những ảo ảnh tồi tệ. Có lẽ thần của ngài cũng như ngài, ban phát lòng tốt và tình yêu thương của mình quá rộng rãi, quá bất ngờ, quá hào phóng và bằng vũ lực, đến mức hậu quả của lòng tốt ấy thật tồi tệ và tình yêu thương ấy gieo rắc hủy diệt xung quanh ngài.
Nhưng vào những khoảnh khắc tỉnh táo, khi tôi dấp khăn ướt lên đầu ngài và dùng các loại thuốc nhẹ để xoa dịu cơn đau cho ngài, ngài nhìn tôi bằng đôi mắt buồn rầu và đau khổ, như thể nỗi thất vọng không nói được bằng lời âm thầm len lỏi vào trái tim ngài. Cái nhìn đó làm tim tôi đau đớn, khiến tôi lại mến yêu ngài trong sự mềm yếu của ngài và sẵn sàng từ bỏ nhiều hơn, nếu có thể giải thoát cho ngài khỏi tình trạng này. Ngài nói với tôi:
- Sinuhe, lẽ nào những linh ảnh của ta là dối trá và sinh ra từ cái đầu ốm yếu của ta? Nếu thật vậy, cuộc đời khủng khiếp hơn ta nghĩ và không phải cái thiện ngự trị trên thế gian mà là cái ác vô biên. Không thể như thế được. Những linh ảnh ta thấy phải là thật. Ngươi có nghe không, Sinuhe, kẻ bướng bỉnh kia, những linh ảnh của ta phải là thật, mặc dù mặt trời của ngài không còn chiếu sáng trong trái tim ta và bạn bè ta nhổ nước bọt vào giường ta. Ta hoàn toàn không phải là kẻ mù, mà ta nhìn thấu trái tim con người. Ta cũng nhìn thấu trái tim yếu mềm của ngươi và biết ngươi coi ta là kẻ điên, Sinuhe, nhưng ta tha thứ cho ngươi vì ánh sáng đã từng chiếu vào trái tim ngươi.
Khi bị những cơn đau hành hạ, ngài rên rỉ và than thở:
- Sinuhe, súc vật ốm được ân xá bằng vồ, sư tử bị thương bằng giáo nhọn, nhưng con người không được ai xá tội. Nỗi thất vọng của ta còn cay đắng hơn cái chết nơi trần gian, mà ta không sợ chết vì ánh sáng của ngài chiếu trong tim ta và thân thể ta có thể chết nhưng linh hồn ta sống mãi muôn đời và tỏa sáng trong ngài trên khắp cõi trần gian. Sinuhe, ta sinh ra từ mặt trời và ta sẽ trở về với mặt trời, ta mong ước được trở về vì tất cả những thất vọng của mình.
Ngài nói với tôi như thế khi bị ốm và tôi không biết liệu ngài có hiểu những gì mình nói không. Nhưng vào mùa thu, ngài bắt đầu hồi phục nhờ công chữa trị của tôi, dù nếu tôi để ngài chết mà không chạy chữa thì có lẽ tốt hơn. Tuy nhiên, thầy thuốc không thể để bệnh nhân của mình chết nếu còn tài năng để chữa trị; điều này thường gây tai họa cho danh y, nhưng danh y làm gì khác được, mà phải chữa lành cho bệnh nhân, không phân biệt người tốt hay kẻ xấu, người sùng đạo hay báng bổ. Khi mùa thu đến, ngài bắt đầu hồi phục và trong thời gian ấy, ngài khép mình, không nói chuyện với tôi và cả những người khác nữa, mà đôi mắt ngài trở nên cứng rắn.
Nhưng ngài đã nói đúng rằng bạn bè ngài nhổ nước bọt vào giường ngài, vì sau khi sinh năm công chúa cho ngài, Hoàng hậu Nefertiti đã chán ngài, bắt đầu hận ngài và chỉ muốn làm tổn thương ngài bằng mọi cách. Vì vậy, khi hạt đại mạch thứ sáu bắt đầu nảy mầm trong bụng Nefertiti, đứa trẻ chỉ mang dòng máu các pharaon trên danh nghĩa, vì bà đã để cho hạt giống lạ lọt vào dạ con của mình. Và một khi đã phá rào, bà không còn coi trọng bất kỳ ranh giới nào nữa mà ăn nằm với bất kỳ ai, vào lúc nào bà muốn, kể cả với bạn Thotmes của tôi. Bà cũng không mất nhiều thời gian tìm người ân ái, vì vẻ đẹp của bà vẫn còn lộng lẫy dù đã qua tuổi thanh xuân, và trong ánh mắt, nụ cười giễu cợt của bà ẩn chứa điều gì đó như bùa ngải khiến cánh đàn ông không thể kiềm chế được mình. Với lòng cay đắng và căm hận, bà cố tình nhằm vào những người trung thành với Pharaon Ekhnaton, ăn nằm với họ để kéo họ ra khỏi ngài, khiến vòng người yêu kính, chở che Pharaon Ekhnaton quanh ngài ngày càng nới lỏng.
Ý chí của Hoàng hậu thật kiên định, trí tuệ sắc bén đến đáng sợ, và một người đàn bà sẽ rất nguy hiểm nếu ý định xấu xa của bà ta đi kèm với trí tuệ và sắc đẹp, càng nguy hiểm hơn nếu tất cả những điều này còn đi kèm với quyền lực của một hoàng hậu. Trong nhiều năm, Nefertiti này đã trói mình vào những xiềng xích bền chắc. Trong nhiều năm, Nefertiti này đã bằng lòng với việc mỉm cười và cai trị bằng sắc đẹp của mình, thỏa mãn với đồ trang sức, rượu bia, thơ phú và bỡn cợt. Nhưng chắc chắn điều gì đó đã vỡ vụn trong bà khi bà sinh cô con gái thứ năm và tin rằng mình sẽ không bao giờ sinh được con trai, do lỗi của Pharaon Ekhnaton. Mà cũng đúng, điều này thật trái với tự nhiên và có thể làm rối trí đàn bà. Tuy nhiên, cần nhớ rằng dòng máu đen của giáo sĩ Eje chảy trong huyết quản của bà ta, dòng máu của dối trá, lừa lọc và tham vọng sai trái, nên không có gì ngạc nhiên khi Hoàng hậu trở thành người như thế này.
Nhưng cũng phải có mấy lời để biện hộ rằng trong ngần ấy năm trước đó không ai có thể nói xấu bà và không có tin đồn xấu nào về bà, mà Hoàng hậu đã chung thủy và bao bọc Pharaon Ekhnaton bằng tất cả sự dịu dàng âu yếm của một người phụ nữ đang yêu, bảo vệ sự điên rồ của ngài và tin vào những ảo ảnh ngài thấy. Chính vì vậy, nhiều người đã vô cùng kinh ngạc trước sự thay đổi đột ngột và sự độc ác của bà và coi đó là dấu hiệu của lời nguyền rủa đang ngự trên Akhetaton như bóng ma chết chóc. Vì bà sa đọa quá đỗi nên người ta đồn rằng bà ăn nằm cả với những người hầu, lính Shardana và phu đào mộ, mặc dù tôi không muốn tin điều này. Khi muốn có điều gì để gièm pha, người ta thích thổi phồng và phóng đại tất cả những gì đã xảy ra, mặc dù trong sự xấu xa tội lỗi của bà ta đâu còn gì để thổi phồng, mà bản thân Hoàng hậu đã là hiện thân của tai ương.
Tuy nhiên, tôi không muốn lên án bà quá gay gắt, vì bất kỳ người đàn bà nào cũng có thể điên lên nếu đã từng là người đẹp nhất và là một hoàng hậu, thông minh, tinh tế, được muôn dân ngưỡng mộ nhưng lại bị trói buộc với một người chồng luôn bị kích động vì những ảo ảnh, buộc bà năm lại năm như bò cái chửa đẻ mà chỉ được cho sinh con gái và chỉ nói về Aton ngay cả trên giường. Hơn nữa, vốn thông minh nên khi đã sáng mắt ra và tình thương biến thành thù hận, Nefertiti nhận thấy Pharaon Ekhnaton chỉ gieo rắc tai ương xung quanh mình và làm lung lay cả vương triều của chính mình nên thảm họa là không tránh khỏi. Vì vậy, ham mê đồi bại của Hoàng hậu đối với đàn ông có thể không phải là sự cuồng nhiệt muộn màng, mà là sự tính toán lạnh lùng khi bà muốn giành sự ủng hộ của những người vốn trung thành với Pharaon và của tầng lớp quyền quý trong vương quốc về cho mình và để đạt được mục đích này, bà dùng phương thức an toàn nhất mà một người đàn bà xinh đẹp được ban cho. Nhưng tất cả những điều này chỉ là suy nghĩ của riêng tôi về bà ấy và cũng hoàn toàn có thể khác với suy nghĩ của người khác.
Pharaon Ekhnaton thu mình trong cô đơn và thức ăn của ngài là bánh của người nghèo, đồ uống của ngài là nước sông Nile, vì ngài muốn thanh lọc cơ thể để lấy lại vầng hào quang của mình và ngài tin rằng rượu và thịt đã làm giảm khải tượng của mình.
Trong khi không có tin tức tốt đẹp nào truyền đến Akhetaton từ thế giới bên ngoài thì từ Syria, Aziru đã gửi cho Pharaon rất nhiều bảng đất sét với đủ điều phàn nàn, ca thán. Ông ta viết rằng lính của ông ta muốn trở về nhà để chăn gia súc, làm ruộng và vui vẻ với vợ con vì họ là những người hiền lành, chỉ muốn bình yên, nhưng từ hoang mạc Sinai, những toán cướp liên tục vượt qua các cột mốc biên giới tàn phá Syria và chúng được trang bị vũ khí Ai Cập, do quân đội Ai Cập chỉ huy và sử dụng cả chiến xa Ai Cập, vì vậy chúng là hiểm họa thường trực cho Syria và Aziru không thể cho lính của mình trở về nhà; cả viên trấn thủ ở Gaza cũng hành xử rất thất lễ, trái với nội dung và tinh thần của hiệp ước hòa bình, khi ông ta đóng cổng Gaza không cho các thương nhân và đoàn lữ hành ôn hòa vào thành mà dựa trên sự cân nhắc tinh quái của mình để chọn thương gia nào được phép buôn bán ở Gaza. Aziru còn ghi ra bao lời than vãn khác và muốn tình hình này phải chấm dứt, bởi vì nếu không ông ta không thể đảm bảo được điều gì sẽ xảy ra.
Cả Babylon cũng rất tức giận vì Ai Cập cạnh tranh với Babylon về lương thực ở Syria, và vua Burraburiash không hài lòng chút nào với những món quà làm của hồi môn mà ông ta nhận được từ Pharaon, cho là không đủ và đưa ra tất cả những yêu cầu tối thiểu mà Pharaon phải đáp ứng nếu muốn giữ trọn tình hữu hảo với Burraburiash.
Sứ giả thường trực của Babylon tại Akhetaton nhún vai, dang tay và dứt râu, nói:
- Quốc vương tôi giống như một con sư tử, bồn chồn gồng người lên trong ổ của mình và căng mũi ra đón gió để ngửi những gì gió mang theo. Ngài đặt niềm tin vào Ai Cập, nhưng nếu Ai Cập thực sự nghèo đến mức không thể gửi cho ngài đủ vàng để tuyển mộ những người đàn ông khỏe mạnh cho đội quân hung bạo của mình và để chế tạo chiến xa, thì tôi không biết điều gì sẽ xảy ra. Quốc vương tôi luôn muốn kết bạn với một Ai Cập hùng mạnh và giàu có, và liên minh này bảo đảm hòa bình thế giới, vì cả Ai Cập và Babylon đều đủ giàu, không cần gây chiến tranh mà muốn giữ tất cả nguyên trạng vì sự giàu có của mình. Nhưng tình bạn với một Ai Cập yếu ớt và nghèo nàn chẳng có nghĩa lý gì đối với quốc vương tôi, mà chỉ là gánh nặng đối với ngài và tôi có thể kể là ngài đã rất sửng sốt và kinh hoàng khi Ai Cập từ bỏ Syria vì sự nhu nhược của mình. Nhưng việc nhà mình cấp thiết hơn việc nhà người và Babylon phải nghĩ về lợi ích Babylon. Mặc dù tôi rất yêu quý Ai Cập và mong muốn mọi điều tốt đẹp nhất cho Ai Cập, nhưng lợi ích của đất nước tôi quan trọng hơn lợi ích của Ai Cập và tôi không lấy làm ngạc nhiên nếu mình phải sớm rời khỏi đây để trở về Babylon, mặc dù điều đó sẽ khiến tôi rất buồn phiền.
Ông ta nói như thế và không người sáng suốt nào có thể phủ nhận sự khôn ngoan trong lời nói đó. Thế là vua Burraburiash không còn gửi đồ chơi và trứng nhuộm phẩm màu đến Akhetaton cho người vợ ba tuổi của mình, mặc dù nàng là con gái của Pharaon và dòng máu thiêng chảy trong huyết quản của Công chúa.
Thay vào đó, một phái đoàn của người Hittite đến Akhetaton, trong đó có nhiều quan lại chủ chốt. Họ nói họ đến để củng cố tình bạn truyền thống giữa Ai Cập và xứ Hatti, đồng thời tìm hiểu về phong tục tập quán của người Ai Cập mà họ đã được nghe kể và làm quen với quân đội Ai Cập để học hỏi những điều bổ ích về kỷ luật và trang bị vũ khí của quân đội. Họ cư xử dễ mến, chân thật và đem tới những món quà lớn cho các quan quyền trong triều. Trong số quà tặng cho Tut trẻ tuổi, chồng của Ankhsenaton và là phò mã của Pharaon Ekhnaton, có một con dao bằng kim loại màu xanh lam, sắc và bền hơn tất cả những con dao khác, khiến cậu trai trẻ rất hài lòng và không biết làm thế nào để đối đãi họ một cách tốt nhất. Ở Akhetaton chỉ có tôi mới có con dao tương tự, con dao mà viên cai đội bến cảng người Hittite được tôi chữa lành bệnh tặng cho, như tôi đã kể, và tôi khuyên Tut mạ vàng và bạc con dao theo kiểu của người Syria, như tôi đã đặt làm ở Simyra. Thế là con dao trở thành một vũ khí được trang trí tuyệt đẹp và Tut thích nó đến mức cậu ta nói rằng cậu muốn mang nó theo cùng khi xuống mồ. Hóa ra cậu ta chỉ là một cậu bé ốm yếu và nghĩ đến cái chết nhiều hơn bạn bè cùng trang lứa.
Các viên quan Hittite này thật sự là những người dễ mến và có học thức, trên khiên và áo choàng của họ có hình mặt trời có cánh và cặp rìu sáng lấp lánh. Cánh mũi to dũng mãnh và khuôn cằm kiên nghị cùng đôi mắt đầy vẻ hoang dã của họ vô cùng quyến rũ với các phụ nữ quyền quý trong hoàng cung, những người yêu thích mọi thứ mới mẻ theo bản tính đàn bà. Vậy nên những viên quan này có rất nhiều bạn ở Akhetaton và từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, họ được chào đón, được mời dự tiệc tùng trong cung điện của các quý tộc cho đến khi mệt nhoài và vừa cười vừa kêu nhức đầu. Họ nói:
- Chúng tôi biết những tộc người hay ganh ghét đã bịa đặt nhiều câu chuyện khủng khiếp về vương quốc chúng tôi. Vì thế chúng tôi rất vui khi chính mình đến chào các quý ngài để quý ngài có thể tận mắt thấy chúng tôi là những người văn minh và nhiều người trong chúng tôi có thể đọc và viết. Chúng tôi hoàn toàn không ăn thịt sống và uống máu trẻ em như người ta bịa đặt, mà chúng tôi biết ăn uống theo cách Syria lẫn Ai Cập. Chúng tôi cũng là những người chuộng hòa bình, không hiếu chiến, sẽ tặng cho quý ngài đủ loại quà cáp và không đòi hỏi lại điều gì ngoài những kiến thức mà chúng tôi thấy có thể có ích nhằm xây dựng đất nước mình đến tầm cao tri thức và văn minh như đất nước các ngài. Chúng tôi đặc biệt quan tâm cách bộ tộc Shardana của các ngài sử dụng vũ khí và cũng rất mê các cỗ chiến xa nhỏ gọn, mạ vàng của các ngài mà những cỗ xe thô thiển, mộc mạc và nặng nề của chúng tôi không thể nào sánh được. Các ngài cũng không nên tin những lời nhảm nhí mà dân tị nạn Mitanni đã bịa đặt về chúng tôi, những lời thốt ra từ miệng họ vì sự uất hận cay đắng khi họ hèn nhát bỏ chạy khỏi đất nước của mình. Chúng tôi thề rằng đã không có gì tồi tệ xảy ra với họ nếu họ ở lại và tiếp tục khuyên họ quay về đất nước của mình, sống hòa thuận với chúng tôi và chúng tôi sẽ không oán giận gì về những chuyện nhảm nhí họ bịa đặt, vì chúng tôi hiểu rõ nỗi khổ đau của họ. Nhưng cả các ngài cũng phải hiểu rằng xứ Hatti là một vùng đất nhỏ bé và chúng tôi có đông trẻ em bởi vì vua Shubbiluliuma vĩ đại của chúng tôi rất yêu con trẻ. Vậy nên chúng tôi cần thêm đất cho trẻ em và đồng cỏ mới cho gia súc, mà ở Mitanni chúng tôi có những thứ ấy vì đàn bà Mitanni chỉ sinh một hoặc nhiều nhất là hai con. Hơn nữa, chúng tôi không thể chịu được khi thấy áp bức và bất công diễn ra ở Mitanni và thành thật mà nói, người dân Mitanni đã cầu cứu chúng tôi, nên chúng tôi tiến vào địa phận của họ để giải phóng chứ không phải xâm lược đất nước họ. Giờ đây, chúng tôi có đủ đất ở Mitanni cho mình, cho con cái và đàn gia súc, chúng tôi không còn nghĩ về cuộc chinh phục mới nào nữa vì chúng tôi là một dân tộc yêu chuộng hòa bình, chúng tôi chỉ muốn có đủ đất cho người dân của mình và khi có được điều đó, chúng tôi hoàn toàn thỏa mãn.
Họ giơ thẳng cốc rượu lên và hết lời ngợi ca Ai Cập và những người đàn bà thèm thuồng nhìn bờ gáy, cơ bắp và đôi mắt man dại của họ. Họ còn nói:
- Ai Cập là một vương quốc tuyệt vời và chúng tôi yêu đất nước này. Nhưng có lẽ đất nước chúng tôi cũng sẽ có điều gì đó để học hỏi và chúng tôi tin rằng quốc vương chúng tôi sẽ rất vui lòng chu cấp một chuyến đi và ăn ở tại đất nước chúng tôi cho các quý tộc Ai Cập yêu mến và muốn học hỏi phong tục của chúng tôi. Có khi quốc vương chúng tôi sẽ tặng quà cho họ nữa, vì ngài rất thích người Ai Cập và yêu trẻ em. Về chuyện trẻ em, đức vua chúng tôi muốn vợ chúng tôi sinh nhiều con, nhưng những phụ nữ xinh đẹp Ai Cập không cần phải sợ chúng tôi, vì chúng tôi biết ân ái với họ như những người văn minh, không làm cho họ mang thai, và chúng tôi ân ái theo cách của người Ai Cập, giống như ở đây chúng tôi ăn uống theo tập quán Ai Cập đấy.
Cứ thế họ nói rất nhiều điều tốt đẹp với các quý tộc Akhetaton và không ai giấu giếm họ điều gì, nhưng tôi nghĩ họ mang mùi chết chóc đến Akhetaton và tôi nhớ về xứ sở buồn tẻ của họ và những phù thủy bị đóng cọc hai bên đường ở đó. Vì vậy, tôi không buồn khi họ rời Akhetaton.
Thành phố Thiên Đường không còn như xưa mà sự náo nhiệt đã chế ngự người dân nơi đây và chưa bao giờ ở Akhetaton người ta ăn uống, chơi bời và đùa giỡn vô độ như trong thời gian này. Những ngọn đuốc rừng rực từ tối đến sáng trước nhà của giới quyền quý và tiếng nhạc, tiếng nói cười từ trong nhà họ vọng ra không dứt từ sáng đến khuya. Sự cuồng nhiệt cũng lây lan sang đám gia nhân và nô lệ, khiến những người này cũng dám say xỉn, lảo đảo trên đường phố giữa ban ngày chẳng nể nang ai, mà những trận đòn roi cũng không làm họ sợ. Nhưng tất cả những niềm vui này là niềm vui bệnh hoạn, không làm con người ta thỏa mãn, mà như cơn sốt bào mòn, thiêu cháy họ, vì họ muốn vui để có thể quên được tương lai. Một sự im ắng đầy chết chóc đột nhiên bao phủ khắp Akhetaton giữa cơn náo nhiệt, mọi người vui vẻ hát hò và nhậu nhẹt say sưa, đến mức tiếng cười đông cứng lại trong cổ họng và họ sợ hãi nhìn nhau, quên mất những lời định nói. Một mùi tơm tởm, lạ lùng, ngọt lợm không ai biết từ đâu cũng lan đến Akhetaton, và những mùi thơm ngào ngạt đến mấy, hương nhang tốt đến mấy cũng không xua được mùi đó khỏi mũi mọi người. Mùi này ngửi thấy rõ nhất vào sáng sớm và chiều tối khi mặt trời lặn, không bốc lên từ sông hay các ao cá, cũng không phải từ hồ thánh Aton, và mặc dù những cống rãnh đã được khai thông, dọn dẹp nhưng mùi vẫn không bớt đi, nhiều người bảo đó là mùi của tai ương, mùi của Amon.
Một niềm đam mê kỳ lạ cũng cuốn hút các nghệ sĩ, họ vẽ, chạm khắc hăng say hơn bao giờ hết, như thể họ thấy thời gian trôi đi rất nhanh không thể nắm bắt được và họ muốn thể hiện hết tài năng của mình trước khi thời gian ngừng lại. Họ nhiệt thành cường điệu sự thật; các nhát đục và nét cọ của họ bóp méo sự thật thành tranh, tượng biếm họa; họ ganh đua xem ai tạo ra được các hình mẫu ngày càng kỳ quái và phóng đại sự thật hơn, cho đến khi khẳng định mình đã thể hiện được đường nét và chuyển động chỉ bằng một vài nét vẽ. Họ bằng lòng thể hiện giấc mơ và ánh mắt con người bằng một đường cong duy nhất; họ vẽ những bức tranh về Pharaon Ekhnaton khiến người già kinh hãi, cường điệu cái cổ gầy và cặp đùi phù thũng của ngài mặc dù thật ra ở những chỗ ấy không còn gì để thổi phồng. Họ đã vẽ những bức tranh về Pharaon Ekhnaton khiến tôi nghĩ chỉ những người hết sức thù hận ngài mới có thể vẽ như thế. Nhưng họ rất hãnh diện về các bức tranh cũng như các bức tượng của mình, và nói: “Quả thật, tranh và tượng trước đây chưa bao giờ được vẽ và tạc như thế này”.
Nhưng tôi nói với Thotmes bạn tôi:
- Pharaon Ekhnaton đã nhấc anh lên từ cát bụi và cho anh thành bạn của ngài, sao anh lại tạc ngài như thể đang thù hận ngài, và sao anh lại nhổ nước bọt lên giường ngài và làm hoen ố tình bạn của ngài?
- Đừng dí mũi vào những điều anh không hiểu, Sinuhe ạ, - Thotmes vặc lại tôi. - Có thể tôi ghét ông ta, nhưng tôi còn ghét bản thân mình hơn. Cơn sốt sáng tạo đang hừng hực trong tôi và chưa bao giờ đôi tay tôi khéo léo hơn lúc này; có lẽ khi không hài lòng với chính mình và thù hận mình thậm tệ, người nghệ sĩ sáng tạo được những điều lớn lao hơn là khi tự mãn và yêu quý bản thân. Tất cả màu sắc và hình khối tôi tạo ra đều từ chính mình, sự đa dạng tôi tạo ra cũng từ chính mình và tôi khắc mình vào trong mỗi bức tượng đá để sống mãi muôn đời. Vì vậy, không ai có thể bằng tôi, tôi hơn tất cả những người khác, không có quy tắc nào mà tôi không thể phá bỏ, tôi vượt lên mọi chuẩn mực trong nghệ thuật của mình và tôi là thần linh hơn là một con người. Khi tạo ra màu sắc và hình thể, tôi ganh đua với Aton của ông ta và tôi sẽ thắng, bởi vì tất cả những gì Aton tạo ra đều sẽ mất đi, còn những gì tôi sáng tạo ra sẽ còn mãi mãi.
Nhưng bạn tôi nói như thế khi đã uống rượu cả buổi sáng trước đó và tôi đã tha thứ cho anh ấy, vì sự đau khổ hiện rõ trên khuôn mặt anh và từ trong sâu thẳm ánh mắt anh, tôi thấy anh thật bất hạnh.
Tất cả những điều này xảy ra khi mùa màng đã được thu hoạch trên các cánh đồng và nước dâng lên rồi nước lại rút đi. Mùa đông đến kéo theo nạn đói vào đất Ai Cập, khiến không ai còn biết những ngày tới điều bất hạnh gì sẽ xảy ra. Vừa lúc đó, tin đồn lan khắp nơi là Aziru đã mở hầu hết các thành phố Syria cho người Hittite, các chiến xa tấn công của Hittite đã tràn qua sa mạc Sinai và tấn công Tanis, tàn phá các vùng hạ lưu xung quanh Tanis.
❖ 2 ❖
Trong khi những tin này lan rộng, Eje từ Thebes và Horemheb từ Memphis đến Akhetaton để triều kiến Pharaon Ekhnaton xem còn cứu được gì. Là ngự y riêng của ngài, tôi có mặt tại cuộc triều kiến này vì tôi sợ Pharaon sẽ bị kích động và cơn đau của ngài lại tái phát khi phải nghe và chịu đựng những điều tồi tệ. Nhưng Pharaon dè dặt, lãnh đạm đến lạ lùng và hoàn toàn không mất bình tĩnh mà lắng nghe những gì Eje và Horemheb muốn nói.
Giáo sĩ Eje nói với ngài:
- Các kho lương của Pharaon trống rỗng và năm nay xứ Kush đã không đóng thuế như các năm trước, mặc dù thần đã đặt tất cả hy vọng của mình vào đấy. Nạn đói đang hoành hành khắp vương quốc và dân chúng đào rễ các loài cây sống trong bùn để ăn, họ xé vỏ cây ăn quả để ăn, bắt cào cào, bọ cánh cứng và cả ếch để ăn. Đã có nhiều người đã chết và sẽ còn nhiều người hơn nữa, vì ngay cả khi được coi sóc chặt chẽ, kho lương của Pharaon vẫn không đủ cho tất cả mọi người, còn các thương nhân lại bán ngũ cốc với giá quá đắt khiến người nghèo không thể mua được. Dân chúng đang rất lo lắng, sợ hãi và rời bỏ các vùng quê chạy vào thành phố, còn dân các thành phố chạy về các làng quê và ai cũng nói:
“Đây là sự trả thù của Amon và chúng ta phải chịu đựng vì thần mới của Pharaon”. Vì vậy, tâu quốc vương, xin ngài hãy thỏa hiệp với các giáo sĩ và trả lại quyền lực cho Amon để muôn dân có thể cầu nguyện và dâng cúng cho thần này và bình tâm trở lại. Hãy trả lại đất của Amon cho Amon để Amon canh tác, vì người dân không dám gieo trồng trên đất của Amon, còn đất của ngài bị bỏ hoang, bởi người ta nói đó là đất bị nguyền rủa. Xin quốc vương hãy thỏa hiệp ngay với Amon, nếu không thần sẽ rũ bỏ mọi trọng trách và sẽ không gánh chịu các hậu quả.
Còn Horemheb nói:
- Tâu quốc vương, Burraburiash đã mua hòa bình từ người Hittite, Aziru đã quy phục trước áp lực của họ, mở cửa thành phố cho họ vào và liên minh với họ. Binh lính của họ ở Syria nhiều như cát biển, chiến xa của họ nhiều như sao trời và đây là ngày tận thế của Ai Cập, vì họ rất mưu mẹo, chở nước trong các chum và vò vào sa mạc, vì họ không có hải đội. Họ đã chuyển đến sa mạc một lượng nước khổng lồ đựng trong chum, để khi mùa xuân đến, một đội quân lớn nhất cũng có thể hành quân qua hoang mạc mà không sợ chết khát. Phần lớn chum sành này, họ đã mua từ Ai Cập và các thương lái đã bán chum vò rỗng cho họ vì lòng tham. Các chiến xa của Aziru và quân Hittite, vì quá nôn nóng nên đã tiến vào đánh thăm dò tại Tanis và phần đất thuộc Ai Cập, như vậy là phá vỡ hiệp ước hòa bình. Mặc dù những xâm phạm này nhỏ và không gây ra những thiệt hại lớn, nhưng thần đã cho lan truyền trong dân chúng những thông tin về sự xúc phạm ghê gớm này cùng với sự tàn ác vô độ của quân Hittite để dân chúng sẵn sàng cho chiến tranh. Thời gian vẫn còn, Pharaon Ekhnaton. Xin ngài hãy truyền lệnh thổi tù và, giương cao cờ hiệu và tuyên bố chinh phạt. Xin hãy chiêu tập tất cả những ai còn sức cầm vũ khí đến nơi luyện tập; hãy ra lệnh thu gom tất cả đồng trên khắp cả nước để rèn giáo và mũi tên, để quyền lực của ngài sẽ được bảo vệ. Thần sẽ bảo vệ và đem lại cho Ai Cập một cuộc chiến chưa từng có, đánh bại lũ Hittite và lấy lại Syria cho ngài. Thần sẽ làm được tất cả những việc này nếu tất cả quốc khố và lương thảo của Ai Cập được chu cấp cho quân đội của thần. Khi đó cái đói sẽ biến cả một kẻ hèn nhát thành người lính. Amon hay Aton đều như nhau, vì dân chúng sẽ phải quên Amon khi có chiến tranh và trong chiến trận, nỗi lo của họ sẽ bùng phát ra ngoài và chiến thắng vẻ vang sẽ củng cố quyền lực của ngài mạnh hơn trước. Thần hứa với bệ hạ một cuộc chiến thắng lợi, Ekhnaton, bởi vì thần là Horemheb, con trai của chim ưng, được sinh ra để lập những chiến công hiển hách và đây là thời khắc mà thần mong đợi suốt cả đời mình.
Nghe thế, Eje vội vàng nói:
- Đừng tin Horemheb, Pharaon Ekhnaton, con trai yêu quý của ta, vì miệng lưỡi anh ta nói lời dối trá và anh ta thèm khát quyền lực của con. Hãy thỏa hiệp với các giáo sĩ của Amon và tuyên chiến, nhưng đừng bao giờ trao quyền thống lĩnh cho Horemheb mà giao cho một chiến binh già dặn, giàu kinh nghiệm, người đã đọc kỹ binh thư từ trong các bảng viết thời các pharaon vĩ đại và người mà Pharaon có thể hoàn toàn tin tưởng.
Horemheb nói:
- Giáo sĩ Eje, nếu chúng ta không đứng trước Pharaon, tôi sẽ không ngần ngại vả vào cái mồm thối của ông. Ông suy bụng mình ra bụng người và miệng lưỡi ông nói lời dối trá, vì ông đã bí mật thương lượng với các giáo sĩ Amon và thỏa hiệp với họ sau lưng Pharaon. Nhưng thưa quốc vương, thần sẽ không phản lại chàng trai trẻ mà thần đã lấy tấm vải choàng vai của mình đắp cho nơi sa mạc gần Thebes, mà mục đích của thần là sự vĩ đại của Ai Cập và chỉ thần mới có thể bảo vệ được Ai Cập.
Pharaon Ekhnaton hỏi họ:
- Các khanh đã nói hết chưa?
Cả hai cùng đáp:
- Chúng thần đã nói hết.
Lúc đó Pharaon nói:
- Ta phải thức và cầu nguyện trước khi đưa ra quyết định của mình. Nhưng ngày mai, hãy triệu tập muôn dân, tất cả mọi người, những ai yêu mến ta, quan quyền cũng như hạ dân, ông chủ cũng như tôi tớ; hãy triệu cả những phu mỏ trên núi rời nơi ở của họ, vì qua họ ta muốn nói với tất cả thần dân của mình và cho họ biết quyết định của ta.
Họ tuân lệnh ngài và truyền gọi dân chúng tập trung lại vào ngày hôm sau. Eje nghĩ rằng Pharaon sẽ hòa giải với Amon, còn Horemheb tin rằng ngài sẽ tuyên chiến với Aziru và quân Hittite. Nhưng suốt đêm hôm đó, Pharaon đã thức, cầu nguyện và bồn chồn đi đi lại lại trong các sảnh, không ăn uống gì và không nói chuyện với bất kỳ ai, khiến tôi là ngự y rất lo lắng cho ngài. Ngày hôm sau, người ta kiệu ngài ra ngự trước dân chúng và với nét mặt sáng láng và rạng rỡ như mặt trời, ngài giơ tay lên cao và từ trên ngai nói với dân chúng:
- Vì sự yếu đuối của ta mà hiện giờ nạn đói hoành hành tại Ai Cập, vì sự yếu đuối của ta nên kẻ thù đe dọa biên giới vương quốc, và các ngươi phải biết người Hittite đang chuẩn bị tấn công Ai Cập từ Syria và gót chân kẻ thù sẽ sớm giày xéo lên xứ đất đen. Tất cả những điều này đang xảy ra vì sự yếu đuối của ta, vì ta không thật sự hiểu hết ý định của thần mình và không thực hiện ý muốn của ngài. Nhưng bây giờ thần của ta đã hiển linh với ta. Aton đã hiện lên với ta và lẽ phải của ngài đang bùng cháy trong trái tim ta, nên ta không còn yếu đuối và ta không do dự nữa. Ta đã lật đổ thần giả, nhưng vì sự yếu đuối của mình, ta đã để tất cả các thần khác của Ai Cập cai trị cùng với vị thần duy nhất Aton và bóng của những thần ấy đã phủ kín Ai Cập. Vì vậy ngày hôm nay, hãy hạ bệ tất cả những thần cổ xưa của xứ Kemet và hãy để hào quang của Aton là ánh sáng duy nhất cai trị Kemet. Ngày hôm nay, hãy hạ bệ tất cả các thần cũ để vương quốc Aton được khai sinh trên mặt đất.
Dân chúng bắt đầu ầm ào rộ lên kinh hoàng khi nghe những lời này của Pharaon, nhiều người giơ tay cao, nhiều người quỳ mọp xuống đất trước mặt ngài. Nhưng Pharaon Ekhnaton đã cao giọng và tiếp tục nói to hơn:
- Này các ngươi, những kẻ yêu quý ta, hãy đi đi và hạ bệ tất cả các vị thần cũ của xứ Kemet, hãy dỡ bỏ bàn thờ, đập vỡ tượng thần, đổ nước thánh của họ xuống đất, dỡ bỏ đền thờ họ, tẩy xóa tên họ khỏi tất cả bia ký; hãy vào tất cả hầm mộ đục xóa hết tên họ để bảo vệ Ai Cập. Hỡi các triều thần, hãy cầm chùy trong tay; hỡi các nghệ sĩ, hãy đổi đục lấy rìu; hỡi những người thợ xây, hãy cầm lấy búa của mình và đi đến tất cả các vùng đất, tất cả các thành phố và làng mạc lật đổ các vị thần cũ và xóa tên của họ. Như thế, ta sẽ xóa bỏ quyền lực của quỷ dữ khỏi Ai Cập.
Lúc đó, rất nhiều người quá hoảng sợ đã bỏ chạy khỏi quảng trường trước Pharaon, nhưng ngài đã hít một hơi thật sâu, mặt đỏ bừng cuồng nhiệt, và tiếp tục gào lên:
- Từ hôm nay, vương quốc Aton ngự trị trên mặt đất, vậy nên sẽ không còn nô lệ và quý tộc, ông chủ và người hầu, mà tất cả sẽ bình đẳng và tự do trước Aton, không ai bị bắt phải gieo trồng trên đất của người khác và không ai bị buộc phải quay cối đá của người khác, mà ai cũng được tự do đi và đến theo ý muốn của mình. Pharaon đã ban truyền!
Dân chúng không còn ầm ào nữa mà đứng câm lặng và nhìn ngài chằm chằm. Một sự câm lặng chết chóc bao trùm Akhetaton và tôi ngửi thấy mùi tử thần trong mũi mình. Nhưng khi họ chằm chằm nhìn Pharaon Ekhnaton, hình ảnh ngài lớn dần trong mắt họ và sự phấn khích, rạng rỡ trên mặt ngài làm họ lóa mắt; sức mạnh của ngài truyền sang mọi người, khiến họ bắt đầu gào hét đầy hứng khởi và nói với nhau: “Điều này trước đây chưa bao giờ xảy ra, nhưng chắc chắn thần của ngài đã nói qua ngài và chúng ta phải vâng lời ngài”.
Thế là dân chúng tản đi trong kích động và tranh cãi với nhau, bắt đầu đánh đấm nhau và những người trung thành với Pharaon đã đánh chết những người già cả dám chống lại ngài ở các góc phố của Akhetaton.
Khi dân chúng tản đi hết, giáo sĩ Eje mới nói với Pharaon:
- Ekhnaton, hãy vứt ngay vương miện và bẻ gãy trượng trong tay đi, vì những lời người nói đã lật đổ ngai vàng.
Pharaon Ekhnaton nói với ông ta:
- Những lời ta nói đã làm tên ta trở thành bất tử và quyền lực của ta trường tồn trong trái tim mọi người.
Eje xoa tay và nhổ nước bọt xuống đất trước mặt Pharaon, rồi lấy chân di đám nước bọt xuống cát và nói:
- Nếu vậy, ta sẽ rũ bỏ mọi trách nhiệm và làm theo cách ta nghĩ là tốt nhất vì trước kẻ điên, ta không có nghĩa vụ phải biện bác cho những việc làm của mình.
Ông ta định đi, nhưng Horemheb đã tóm lấy cánh tay và gáy ông ta, dễ dàng giữ ông ta lại, mặc dù ông ta là một người đàn ông to khỏe. Horemheb nói:
- Eje, ngài là quốc vương của ông, ông phải tuân lệnh, Eje ạ! Chớ có phản lại ngài, vì nếu ông làm vậy chắc chắn tôi sẽ đến và đâm dao lút bụng ông, dù tôi phải dùng tiền của mình chiêu mộ quân lính cho mình để làm điều đó. Điều này tôi đã từng nói và tôi thường không nói dối. Đúng là ngài ấy quá điên và tôi không tin sự điên rồ này sẽ đem đến điều gì tốt đẹp, nhưng tôi vẫn yêu quý quốc vương cả trong sự điên rồ của ngài; tôi sẽ trung thành đứng bên ngài, bởi vì tôi đã tuyên thệ trước ngài và đã một lần lấy tấm choàng vai đắp cho ngài khi ngài ốm yếu. Cũng có chút khôn ngoan trong sự điên rồ ấy của ngài, vì nếu ngài chỉ lật đổ tất cả thần linh cũ, nội chiến sẽ xảy ra, nhưng bằng cách giải phóng nô lệ ở các cối xay và trên các cánh đồng, ngài sẽ xáo trộn những hỗn loạn do giáo sĩ gây ra và kéo dân chúng về phía mình, mặc dù hậu quả của những việc này là hỗn loạn hơn trước. Với tôi, dĩ nhiên, mọi việc đều như nhau, nhưng chúng ta phải làm gì với quân Hittite, Pharaon Ekhnaton?
Pharaon Ekhnaton ngồi buông thõng tay trên đầu gối, không trả lời. Horemheb nói tiếp:
- Xin quốc vương hãy cấp cho hạ thần vàng và lương thảo, vũ khí, chiến xa và ngựa, quyền chiêu mộ binh lính và quyền chiêu tập lính canh từ tất cả các thành phố ở miền Hạ, thần tin rằng thần sẽ đẩy lùi cuộc tấn công của quân Hittite.
Lúc đó, Pharaon ngước đôi mắt đỏ hoe trên khuôn mặt đã tắt ngấm mọi cuồng tín mê say và nói nhỏ:
- Horemheb, ta cấm ngươi tuyên chiến. Nhưng nếu dân chúng muốn bảo vệ xứ đất đen, ta không thể ngăn cản. Ta không có lương ăn và vàng, nói chi đến vũ khí để cấp cho ngươi; mà nếu có, ta cũng không cấp, vì ta không muốn lấy cái ác chống lại cái ác. Ngươi có thể cho quân phòng thủ ở Tanis theo cách ngươi muốn, nhưng đừng để máu chảy, đầu rơi và chỉ tự vệ nếu ngươi bị tấn công.
- Được, sẽ như ý ngài. - Horemheb nói. - Đều là rác rưởi cả. Tôi sẽ chết ở Tanis theo lệnh ngài, vì ngay cả đội quân dũng cảm nhất và thiện chiến nhất cũng không thể phòng thủ được lâu nếu không có lương thảo và vàng. Nhưng tôi bỏ qua mọi do dự, thưa Pharaon Ekhnaton, và tôi sẽ phòng thủ theo cách của mình. Xin ngài bảo trọng!
Anh ta bỏ đi và Eje cũng rời đi, chỉ còn tôi ở lại với Pharaon Ekhnaton. Ngài nhìn tôi với đôi mắt mệt mỏi khôn tả và nói:
- Nói xong ta kiệt sức, Sinuhe ạ, nhưng ta vẫn thấy hạnh phúc dù mệt mỏi. Ngươi định làm gì, Sinuhe?
Những lời Pharaon nói khiến tôi hoảng sợ, nên tôi kinh ngạc nhìn ngài. Ngài mệt mỏi cười và hỏi:
- Ngươi có yêu quý ta không, Sinuhe?
Khi tôi thừa nhận rằng tôi yêu quý ngài, bất kể ngài điên khùng đến độ nào, Pharaon nói:
- Sinuhe, nếu yêu quý ta, ngươi biết rất rõ ngươi phải làm gì. Lý trí tôi phản đối ý định của ngài, dù trong thâm tâm tôi biết rõ ngài muốn tôi làm gì. Cuối cùng, tôi cáu kỉnh nói:
- Thần nghĩ ngài cần thần như cần một ngự y, còn nếu không, thần sẽ ra đi. Nhưng thần là một kẻ đập phá tượng tồi, cánh tay thần quá yếu để cầm búa, song hãy để ý muốn của ngài thành hiện thực. Dân chúng chắc chắn sẽ xé toạc da thần, lấy đá đập nát óc thần và treo ngược xác thần lên tường, nhưng điều đó sẽ khó làm ngài cảm động. Vì vậy, thần sẽ đi Thebes vì ở đó có rất nhiều đền và mọi người biết thần.
Pharaon không trả lời tôi thêm bất cứ điều gì và tôi tức giận bỏ đi, vì theo tôi những điều này quả là điên rồ nhất. Ngài ngồi lại một mình trên ngai vàng, còn tôi đến gặp Thotmes vì tôi cần trút bỏ nỗi lòng với một người bạn. Horemheb ngồi trong xưởng của Thotmes và một họa sĩ già nát rượu tên là Bek đang uống rượu cùng với họ, còn những người hầu của Thotmes đang gói buộc đồ đạc để chuẩn bị cho chuyến đi của anh ấy.
- Nhân danh Aton, - Thotmes nói, nâng cao cốc vàng của mình. - Không còn người giàu sang hay kẻ thấp hèn, nô lệ hay ông chủ, và tôi, người có đôi bàn tay thổi hồn cho đá, sẽ đi phá bỏ những bức tượng thần xấu xí. Vì vậy, chúng ta hãy uống cùng nhau, hỡi các bạn thân mến, vì tôi nghĩ rằng cuộc sống của chúng ta chỉ còn dăm ba ngày nữa thôi.
Chúng tôi cùng uống và Bek bảo:
- Ngài đã nâng tôi từ bùn đen lên ngang hàng mình và nói tôi là bạn ngài, mỗi khi tôi bán hết cả áo quần để có tiền uống, ngài lại cho tôi quần áo mới, lẽ nào tôi không làm việc này để ngài vui lòng. Tôi chỉ mong cái chết không đau đớn lắm, vì ở làng tôi, những người nông dân đều ác độc và có thói quen đáng buồn là khi tức giận vung liềm lên, dùng nó rạch bụng những kẻ không ưa họ.
Horemheb nói:
- Tôi thật tình không ghen tị với các ông, dù tôi có thể cam đoan rằng quân Hittite có nhiều cách giết người ghê tởm hơn nhiều. Dù sao tôi cũng sẽ tuyên chiến với quân Hittite và đẩy lùi chúng, vì tôi rất tin vào vận may của mình. Một lần trong hoang mạc ở Sinai, tôi đã thấy một bụi cây cháy mà không tàn đi và từ đó tôi biết mình sinh ra để làm những việc lớn. Tuy nhiên, làm việc lớn mà tay không thì thật khó, nhưng quân lính của tôi có lẽ sẽ khiến quân Hittite kinh hồn bằng cách ném cứt vào chúng.
Tôi chêm vào:
- Nhân danh Seth và tất cả ác quỷ, hãy nói cho tôi biết tại sao chúng ta yêu quý và nghe lời ngài, mặc dù chúng ta biết ngài điên và những lời ngài nói là điên rồ. Hãy giải thích điều này cho tôi, nếu các anh biết.
- Ông ấy chẳng ảnh hưởng gì đến tôi, - Bek nói. - Nhưng tôi là một gã già nát rượu và cái chết của tôi không gây hại cho bất cứ ai, vì thế tôi làm ông ấy hài lòng và trả giá bằng tất cả những năm tháng say xỉn mà tôi đã trải qua bên cạnh ông ấy.
- Tôi không hề yêu quý ông ta, mà đúng ra là ghét, - Thotmes gay gắt nói. - Chính vì thế tôi đi và làm theo các mệnh lệnh của ông ta, vì tôi căm thù ông ta và muốn ông ta biến thật nhanh. Quả thực, tôi quá ngán ngẩm với tất cả và tôi hy vọng cái chết sẽ đến thật nhanh.
Nhưng Horemheb lại nói:
- Các cậu nói dối, mấy con lợn kia. Hãy thừa nhận đi, rằng khi ngài nhìn vào mắt các cậu, cột sống bẩn thỉu của các cậu bắt đầu run lên và các cậu muốn mình lại là trẻ thơ, chơi đùa với những chú cừu non trên cánh đồng. Tôi là người duy nhất mà ánh mắt ngài không tác động đến, nhưng số phận của tôi gắn liền với số phận ngài theo cách khác và tôi phải thừa nhận rằng tôi yêu ngài, mặc dù ngài hành xử như một mụ đàn bà ẩm ương và có giọng nói chói tai.
Như thế, chúng tôi vừa nói chuyện vừa cùng nhau uống rượu, ngắm nhìn những con thuyền căng buồm xuôi, ngược sông và rất nhiều người rời bỏ Akhetaton. Nhiều người quyền quý, giàu sang bỏ chạy với những đồ đạc quý nhất của họ, nhưng cũng nhiều người đi phá tượng các vị thần Ai Cập theo lệnh của Pharaon, vừa đi vừa hát thánh ca ca tụng Aton. Tôi nghĩ họ sẽ không hát được lâu nữa mà bài ca sẽ nghẹn lại trong cổ họng khi họ đối mặt với những người dân đang giận dữ trong các đền thờ. Chúng tôi uống rượu cả ngày, nhưng rượu không làm chúng tôi vui vì tương lai như một cái hố đen ngòm trước mặt và câu chuyện của chúng tôi càng lúc càng đượm vị đắng cay.
Hôm sau, Horemheb lên thuyền trở lại Memphis và từ đó đến Tanis. Trước khi anh ấy đi, tôi hứa sẽ cho anh ấy vay thật nhiều vàng mà tôi có thể lấy được từ Thebes và sẽ gửi cho anh một nửa số lúa mạch mà tôi có, nửa còn lại tôi định để dùng cho mục đích riêng của mình. Có lẽ đây đúng là sai lầm do sự yếu đuối của tôi gây ra và nó quyết định cuộc đời tôi: Tôi đã phân ra hai nửa, một cho Ekhnaton và một cho Horemheb, mà không đưa cho riêng ai tất cả.
❖ 3 ❖
Thotmes và tôi đi Thebes. Còn cách Thebes rất xa, chúng tôi đã thấy những cái xác lập lờ trôi về phía mình. Những cái xác trương phồng, nổi lềnh bềnh, trôi xuôi và chúng tôi thấy trong số đó có những cái đầu cạo trọc của giới giáo sĩ, những thi thể quý tộc và bình dân, lính canh và nô lệ; từ tóc tai, quần áo và nước da, có thể phân biệt được những cái xác này đã từng là ai trong cuộc đời cho đến khi chúng đen sậm lại và phân hủy hay bị cá sấu nuốt trọn. Cá sấu không cần phải bơi ngược sông lên Thebes để ăn được thịt người, mà khắp các thị trấn và làng mạc ven sông, nhiều người chết trong những ngày này, xác bị ném xuống sông khiến bầy cá sấu trở nên kén chọn khi lựa tìm thức ăn. Cá sấu là một loài cá khôn ngoan, thích ăn thịt mềm của đàn bà, trẻ em và xác béo mẫm của những người quyền quý hơn là thịt dai nhằng của nô lệ và phu khuân vác. Nếu cá sấu có trí khôn, điều này là chắc chắn, tôi nghĩ chúng đã ca tụng Aton rất nhiều trong những ngày này.
Cả dòng sông dậy mùi chết chóc và gió thổi mùi khói khen khét từ Thebes xộc vào mũi chúng tôi trong màn đêm. Thotmes nhạo báng nói:
- Có vẻ như vương quốc Aton đã thực sự đến trên mặt đất rồi.
Nhưng trái tim yếu đuối của tôi đã trơ lỳ ra và tôi nói:
- Thotmes, điều thế này trước đây chưa từng xảy ra và thế giới sẽ không bao giờ có được cơ hội như thế này nữa, nướng bánh mà không xay hạt. Hiện giờ cối xay của Aton đang nghiền ngũ cốc, chúng ta hãy lấy bột nướng bánh vì Pharaon Ekhnaton, bởi chắc chắn thế giới đang thay đổi và cuối cùng trước Aton tất cả mọi người đều là anh em.
Nhưng Thotmes uống rượu để xua mùi tử thần ra khỏi mũi và nói:
- Tha lỗi cho tôi nếu tôi lấy rượu để kìm nén sự yếu đuối của mình, vì thành thật mà nói tôi đang rất sợ và đầu gối tôi như nhũn thành nước khi nghĩ rồi đây chúng ta sẽ phải chứng kiến những gì. Vì thế trong những lúc như thế này, đơn giản nhất là uống đến say mèm, vì khi say con người ta không nghĩ quá nhiều về cả sự sống lẫn cái chết và trong mắt anh ta, con người và thần linh trở nên bình đẳng như nhau.
Khi chúng tôi đến Thebes, nhiều nơi trong thành phố đang cháy, nhiều ngọn lửa cũng bốc lên từ thành phố chết khi dân chúng đào mộ và đốt thi thể đã ướp của các giáo sĩ. Từ trên tường thành, người ta bắn tên vào thuyền chúng tôi mà không ai thèm hỏi chúng tôi đang tìm gì, và khi cập bờ, chúng tôi thấy những người cuồng tín phe thánh giá đang đẩy những người theo phe sừng xuống nước và dùng cọc đâm, chọc cho đến khi họ sặc nước chết. Vậy nên chúng tôi đoán các vị thần cũ đã bị lật đổ và Aton đã chiến thắng.
Chúng tôi đến quán Đuôi Cá Sấu và gặp Kaptah ở đó. Ông ấy đã cởi quần áo đắt tiền, bôi bùn lên tóc và mặc lên người bộ đồ xám tồi tàn. Ông ấy cũng đã tháo miếng vàng che con mắt mù và sốt sắng cho những kẻ nô lệ rách rưới và phu khuân vác có vũ khí nốc rượu thoải mái rồi nói với họ:
- Hỡi những người anh em, hãy vui chơi và ăn mừng, vì hôm nay là ngày hội lớn, không còn ông chủ hay nô lệ, người quyền quý hay kẻ thấp hèn, mà tất cả mọi người đều được tự do đi và đến. Do đó, hôm nay hãy uống rượu tôi khoản đãi và tôi hy vọng anh em sẽ nhớ đến quán của tôi khi vận may mỉm cười với anh em, mỗi khi vớ được bạc hoặc vàng trong các đền thờ thần giả hay từ nhà của những tên chủ độc ác. Bởi tôi cũng là nô lệ như anh em, sinh ra là kiếp nô lệ và lớn lên cũng là nô lệ; một mắt của tôi, bị lão chủ độc ác dùng bút gỗ chọc mù, là bằng chứng cho điều đó; lão ta tức giận vì tôi đã uống cạn một hũ bia của lão và đổ đầy nước vào đó. Những bất công như vậy sẽ không bao giờ xảy ra nữa, sẽ không ai phải nếm gậy chỉ vì là nô lệ, cũng không ai phải làm việc tay chân chỉ vì là nô lệ, mà tất cả đều được vui chơi và hưởng thụ, chạy nhảy và giải trí, bao lâu tùy thích.
Huyên thiên xong những điều này, ông ấy mới nhận ra tôi với Thotmes và hơi xấu hổ về lời nói của mình, ông vội vã dẫn chúng tôi vào một phòng kín và nói:
- Tốt nhất là các ông khoác những bộ quần áo rẻ tiền hơn lên người và lấy bùn bôi bẩn tay và mặt mình, vì nô lệ và cửu vạn đang đi trên khắp các đường phố ngợi ca Aton, nhân danh Aton dùng gậy đánh tất cả những người mà họ cho là quá béo và không lao động chân tay. Nhưng họ đã tha thứ cho sự phì nộn của tôi, bởi trước đây tôi đã từng là nô lệ và đã phát lúa mạch cho họ, giờ lại cho họ uống rượu không phải trả tiền. Nhưng hãy cho tôi biết điều xui xẻo nào đưa các ông đến Thebes vào đúng lúc này, vì Thebes là một thành phố đáng sợ với giới quyền quý trong những ngày này.
Chúng tôi cho ông ấy xem rìu và búa tạ của chúng tôi và nói chúng tôi đến phá bỏ tượng của các thần giả và đục xóa tên thần khỏi tất cả các dòng chữ khắc chạm. Kaptah gật đầu tỏ vẻ khôn ngoan và nói:
- Kế hoạch của các ông nghe có lẽ khôn đấy và được lòng dân chúng, miễn là các ông cẩn thận để người dân không biết các ông là ai, vì nhiều thay đổi có thể xảy ra và lũ sừng sẽ trả thù các ông nếu chúng giành lại quyền lực. Tôi không tin cuộc sống này có thể kéo dài, vì người nô lệ lấy ngũ cốc từ đâu để sống và trong khi nổi loạn, họ đã làm những việc khiến nhiều người trước kia theo phe thánh giá phải do dự và chuyển sang phe sừng để lập lại trật tự. Tuy nhiên, sắc lệnh giải phóng nô lệ của Pharaon Ekhnaton là rất sáng suốt và có tầm nhìn xa, vì như thế tôi có thể đuổi tất cả nô lệ không biết việc và già nua của tôi đi để khỏi tốn lương ăn và dầu rán đắt đỏ. Tôi không còn phải nuôi và lo chỗ ở cho nô lệ với phí tổn cao nhất, mà chỉ cần thuê họ làm việc bất cứ khi nào tôi muốn, trả công cho họ theo ý mình và đuổi họ đi khi không cần nữa. Vì tất cả những điều này, tôi hết lời ca ngợi Pharaon Ekhnaton về sự thông thái của ngài và tôi nghĩ những người khác cũng sẽ ngợi ca ngài một khi đã chịu khó ngẫm nghĩ về vấn đề và hiểu ra quyền lợi của mình.
Tôi nói với ông ấy:
- Kaptah, về ngũ cốc, hãy nhớ là ta đã hứa dành cho Horemheb một nửa lúa mạch của chúng ta để anh ta có thể tuyên chiến với quân Hittite và ngươi phải nhanh chóng cho thuyền chở số này đến Tanis. Nửa còn lại, ngươi cho xay thành bột, làm bánh và phát cho những ai đang đói khát trong tất cả các thị trấn và làng mạc mà ngươi trữ ngũ cốc của chúng ta. Khi phát bánh cho dân chúng, tôi tớ của ngươi không được nhận tiền mà phải nói: “Đây là bánh của Aton, hãy nhận lấy và nhân danh Aton cầu nguyện cho Pharaon Ekhnaton và thần của ngài”.
Nghe thế, Kaptah giật xé quần áo của mình, vì đó chỉ là quần áo của nô lệ và xé nó không thiệt hại gì lớn, rồi ông ấy lấy tay giật tóc khiến bùn khô bay mù và kêu van thảm thiết:
- Việc đó sẽ khiến ông trở nên nghèo khổ, thưa ông chủ, và sau này tôi sẽ kiếm tiền từ đâu được. Sự điên rồ của Pharaon đã nhiễm sang ông và ông đang đi giật lùi bằng đầu mình. Ôi, tội nghiệp thân tôi khi buộc phải thấy cả cái ngày mà đến cả bọ hung cũng không thể giúp chúng ta nữa, vì sẽ không ai cầu phúc cho ông về việc phát chẩn bánh và gã Horemheb đáng nguyền rủa đó sẽ rất trơ tráo đáp lại những cái thư đòi nợ của tôi và bảo tôi đích thân đến chỗ hắn nhận lại số vàng mà tôi đã cho hắn vay nhân danh ông. Hắn ta còn tệ hơn một tên cướp, gã Horemheb bạn của ông ấy, vì kẻ cướp sẽ chỉ lấy những gì hắn muốn lấy, còn Horemheb hứa sẽ trả lãi cho những gì gã lấy, làm các chủ nợ điên lên bằng hy vọng viển vông để rồi họ vỡ mật vì tức giận. Nhưng ông chủ ơi, từ ánh mắt của ông, tôi thấy ông không đùa và vì vậy lời kêu ca của tôi chẳng ích gì, mà tôi phải làm theo ý ông, mặc dù điều đó sẽ làm ông nghèo đi.
Chúng tôi bỏ Kaptah lại cho ông ấy gạ gẫm nô lệ và cò kè mặc cả các đồ vật quý giá mà cửu vạn trộm được từ đền ở phòng phía sau quán. Tất cả những ai thật thà, lương thiện đều đóng chặt cửa, ở lại trong nhà; đường phố vắng tanh, một vài ngôi đền mà các giáo sĩ ẩn trốn đã bị đốt và đang cháy. Chúng tôi vào những ngôi đền đã bị cướp phá để đục xóa tên các vị thần khỏi những dòng chữ khắc và gặp những người trung thành khác của Pharaon cũng đang làm việc đó. Chúng tôi quai mạnh búa tạ và đập búa tay, hăng đến nỗi lửa bắn ra từ đá. Bằng cách này, chúng tôi cố thuyết phục bản thân rằng mình đang làm một việc quan trọng, rằng những nhát búa sẽ giúp chúng tôi mở ra một kỷ nguyên mới cho Ai Cập, nên chúng tôi đập búa không ngừng, cổ tay tê cứng, lòng bàn tay bong rát. Chúng tôi làm công việc đó hết ngày này sang ngày khác không kịp nghỉ, không cả ăn, không cả ngủ vì nơi cần đập phá nhiều vô kể và đôi khi những người ngoan đạo bị các giáo sĩ xúi giục xông đến quấy nhiễu công việc của chúng tôi, ném đá vào chúng tôi, lấy gậy đe dọa chúng tôi, nhưng chúng tôi đã vung búa đuổi họ đi và trong cơn cuồng nhiệt, Thotmes đã dùng búa bổ đôi đầu một tư tế già nhất quyết bảo vệ thần của ông ta. Vì sự cuồng si mỗi ngày một dâng cao, chúng tôi cắm cúi làm để có thể nhắm mắt trước tất cả mọi việc đang diễn ra xung quanh mình.
Dân chúng bị đói khát, thiếu thốn và các nô lệ và cửu vạn, sau thời gian mừng vui cho tự do của mình, đóng những cây gậy xanh, gậy đỏ ở bến cảng và lập những đội quân tự vệ riêng, đi cướp nhà của phe sừng và những người giàu có để lấy lương thực, dầu ăn và những đồ đạc quý của những người này phát cho dân chúng mà lính canh của Pharaon không thể ngăn cản. Thật ra, Kaptah có thuê người xay đại mạch và nướng bánh, nhưng người dân đã giật ngay bánh từ những đầy tớ này và nói: “Bánh này là bánh cướp của người nghèo, vì thế phát cho người nghèo là đúng”. Không ai cầu phúc cho tôi vì tôi đã sai phát đại mạch cho họ mà vì việc này tôi đã làm mình khánh kiệt chỉ trong một tuần trăng.
Bốn mươi ngày, bốn mươi đêm đã trôi qua như thế, sự hỗn loạn ngày càng gia tăng ở Thebes, những người trước đây chỉ ngồi cân vàng giờ đứng ăn xin ở các góc phố, còn những người vợ của họ bán khuyên vòng, trang sức cho đám nô lệ để có thể mua bánh mì cho con cái họ. Rồi một đêm Kaptah đến nhà tôi và nói:
- Ông chủ ơi, đã đến lúc ông phải trốn đi vì vương quốc Aton sắp sụp đổ hoàn toàn rồi và tôi nghĩ không người lương thiện nào sẽ tiếc nuối khi điều đó xảy ra. Luật pháp và trật tự sẽ được lập lại nhưng trước tiên người ta sẽ cho cá sấu ăn và cho ăn nhiều hơn bao giờ hết, vì các giáo sĩ muốn tẩy sạch dòng máu ác quỷ khỏi Ai Cập.
- Sao ngươi biết? - Tôi hỏi ông ấy.
Ông ấy thản nhiên đáp:
- Chẳng phải tôi luôn là một người theo phái sừng trung thành và đã bí mật cầu nguyện cho Amon đó sao? Tôi cũng đã cho các giáo sĩ vay nhiều vàng, vì họ sẽ trả lãi một phần tư, có khi đến một nửa và cầm đất của Amon lấy vàng. Eje đã thỏa hiệp với các giáo sĩ để cứu mạng sống của mình và các giáo sĩ đã lôi kéo được nửa số vệ binh đứng về phía họ. Tất cả những người giàu có và giới quý tộc của Ai Cập cũng đã quy tụ dưới bóng Amon, các giáo sĩ đã cho gọi người da đen từ xứ Kush đến, chiêu mộ lính Shardana đến nay vẫn đang cướp bóc các làng quê về đánh thuê cho họ. Thật vậy, ông chủ Sinuhe ơi, không lâu nữa đâu, cối xay sẽ bắt đầu quay và đại mạch sẽ được xay, nhưng bánh nướng từ bột đại mạch ấy là công của Amon, vì tôi đã quá vất vả với sự hỗn loạn này mặc dù nó đã khiến tôi trở nên rất giàu có.
Tôi vô cùng sửng sốt trước những lời ông ấy nói và hét lên:
- Pharaon Ekhnaton sẽ không bao giờ chuẩn thuận việc ấy.
Nhưng Kaptah vừa cười ranh mãnh vừa chà ngón trỏ lên con mắt mù và nói:
- Họ không còn xin phép Pharaon nữa. Thành phố Akhetaton đã bị nguyền rủa và bất cứ ai còn ở lại đó đều chết dần chết mòn. Khi giành được quyền lực về tay mình, họ sẽ chặn tất cả các con đường dẫn đến đó; họ cũng chặn cả sông, khiến bất cứ ai ở lại đó đều sẽ chết đói. Ông thấy đấy, họ sẽ buộc Pharaon trở lại Thebes và cúi đầu thờ phụng Amon.
Lúc ấy mọi suy nghĩ của tôi sáng rõ hơn và tôi thấy trước mắt mình khuôn mặt của Pharaon Ekhnaton với đôi mắt phản chiếu nỗi thất vọng còn đau đớn hơn cả cái chết. Vì thế tôi nói:
- Kaptah, điều nhục nhã này không bao giờ được xảy ra. Ta và ngươi đã cùng nhau đi qua nhiều con đường, vì vậy, Kaptah, chúng ta hãy cùng nhau đi hết con đường này. Mặc dù ta đã nghèo đi vì phân phát hết lúa mạch của mình, nhưng ngươi vẫn còn giàu. Vì thế hãy mua vũ khí, giáo và cung tên, càng nhiều càng tốt; hãy lấy vàng của mình mua lính canh về phe mình và ngươi phải phát vũ khí cho nô lệ và phu khuân vác nơi bến cảng, thuê các đội lính canh bảo vệ họ và Pharaon. Kaptah, ta không biết những chuyện này rồi sẽ ra sao, nhưng thế giới chưa bao giờ có được một cơ hội thế này để tất cả trở nên mới mẻ so với trước. Khi đất đai được phân chia, của cải của những người giàu có được phân phát cho dân nghèo, vườn cây của họ trở thành sân chơi cho con cháu nô lệ thì chắc chắn thiên hạ sẽ bình yên, của ai nấy giữ, ai nấy làm việc theo ý mình và mọi việc sẽ tốt đẹp hơn trước.
Nhưng Kaptah bắt đầu run bần bật và nói:
- Ông chủ của tôi ơi, tôi hoàn toàn không muốn lại bắt đầu làm việc tay chân khi về già. Họ đã bắt các quý tộc quay cối xay đá, lấy gậy đánh họ, bắt vợ và con gái các nhà quyền quý và người giàu sang phục vụ kẻ nô lệ và cửu vạn trong các tửu điếm, những việc làm hoàn toàn không tốt mà chỉ thấy tồi tệ. Sinuhe, ông chủ ơi, đừng bắt tôi theo con đường đó, vì khi nghĩ về nó, tôi nhớ đến ngôi nhà tối tăm mà tôi đã một lần theo ông đi vào, mặc dù tôi đã thề với ông là sẽ không bao giờ nói với ông về nó nữa, nhưng bây giờ tôi nói vì phải nói. Ông chủ ơi, ông lại quyết bước vào ngôi nhà tối tăm mà không biết điều gì chờ mình ở đó, có thể khi vào đó ông sẽ lại thấy một quái vật đang thối rữa và một cái chết bốc mùi tanh nồng, tởm lợm đang đợi mình. Bời vì từ tất cả những gì đã và đang xảy ra, tôi thấy thần này của Pharaon Ekhnaton cũng khủng khiếp như thần đảo Crete. Không, thưa ông chủ, một lần nữa tôi sẽ không theo ông đến nhà của Minotauros.
Ông ấy không khóc lóc, van xin như ngày trước mà nói với tôi nghiêm nghị và bắt tôi thề sẽ từ bỏ ý định của mình. Cuối cùng ông nói:
- Nếu ông không nghĩ đến bản thân và tôi thì ít nhất hãy nghĩ đến Merit và bé Thoth, những người yêu quý ông. Hãy đưa họ ra khỏi đây và giấu họ ở một nơi an toàn vì khi Amon bắt đầu xay ngũ cốc, tính mạng của họ ở đây sẽ không còn an toàn nữa.
Nhưng sự cuồng tín đã làm tôi mù quáng và tôi nghĩ những lời cảnh báo của ông ấy là điên rồ nên tôi ngạo mạn nói với ông ấy:
- Ai lại bức hại một phụ nữ và một thằng bé kia chứ? Trong nhà ta họ sẽ được an toàn, vì Aton sẽ thắng và Aton phải thắng. Nếu không, cuộc đời không còn đáng sống nữa. Dân chúng có trí khôn của mình và biết Pharaon chỉ muốn tốt cho mình. Làm sao dân chúng lại muốn quay trở lại vương quốc của bóng tối và sống trong sợ hãi. Ngôi nhà tối mà ngươi nói đến chính là nhà của Amon chứ không phải là nhà của Aton. Một vài vệ binh bị mua chuộc và một vài kẻ quyền quý hèn nhát chắc chắn sẽ không thể lật đổ Aton khi ngài có phía sau mình tất cả dân chúng.
Kaptah nói:
- Tôi đã nói điều cần nói và sẽ không nhắc lại nữa. Nhưng tôi đang điên tiết muốn kể cho ông một bí mật nho nhỏ, nhưng vì bí mật đó không phải của tôi nên tôi không thể kể và có lẽ điều đó cũng không tác động đến ông khi ông đang trong cơn cuồng dại của mình. Vì vậy, đừng buộc tội tôi, thưa ông chủ, nếu sau này ông quỳ sụp và chà xát mặt mình vào đá trong tuyệt vọng. Đừng buộc tội tôi nếu quái vật nuốt chửng ông. Còn tôi thì đâu quan trọng gì, vì tôi vốn chỉ là một nô lệ và tôi không có con cái để chúng khóc than trước cái chết của tôi. Vì vậy, tôi sẽ đi theo ông, thưa ông chủ, trên con đường cuối cùng này, mặc dù tôi biết việc ta làm là vô ích. Vậy chúng ta hãy cùng nhau bước vào ngôi nhà tối, thưa ông chủ, như một lần trước đây, và tôi sẽ đi theo ông, nhưng nếu ông cho phép, tôi sẽ lại mang theo một vò rượu.
Từ hôm đó trở đi, Kaptah bắt đầu uống và uống từ sáng đến tối, từ tối đến sáng, nhưng khi say ông ta vâng lệnh tôi và sai người hầu của mình phát vũ khí ở bến cảng theo những nhóm gậy xanh, đỏ và bí mật cho gọi các cai đội cảnh binh đến Đuôi Cá Sấu và mua chuộc họ gia nhập phe người nghèo chống người giàu. Mà khi uống khó phân biệt được Kaptah với những người khác, vì họ cũng uống không ngừng nghỉ, Thotmes uống, nô lệ uống chiến lợi phẩm cướp được, người giàu bán đồ trang sức cuối cùng cũng để mua rượu và tất cả đều nói: “Hãy ăn và uống đi, bởi ai biết ngày mai chuyện gì sẽ đến”.
Một hôm, nhà thơ nọ của Thebes, từng uống nợ Kaptah rất nhiều khiến Kaptah buộc phải liên tục cho ông ta uống để thỉnh thoảng lấy lại tiền, đến quán Đuôi Cá Sấu. Ông ta bước vào quán, mắt sáng ngời, tay vò tóc và nói:
- Tôi vừa nghĩ ra một điều rất tuyệt, điều lớn lao nhất và quan trọng nhất trong những gì từng được nghĩ ra, huyền diệu hơn tất cả suy nghĩ và linh ảnh của Pharaon. Mọi thứ xảy ra xung quanh chúng ta đều xấu xa và sai trái, điều trái đạo lý lại chiến thắng công lý, sự nhẫn tâm đè bẹp lòng hào hiệp và tính hiểm độc thắng sự ngây thơ. Nhưng điều này không đáng buồn, bởi tất cả chỉ là một giấc mơ và khi chúng ta tỉnh giấc sau cái chết, giấc mơ biến mất và không làm phiền chúng ta nữa. Tôi sẽ không nói gì nếu những giấc mơ của chúng ta vẫn đẹp như trước đây, nhưng bây giờ những điều chúng ta mơ đều khủng khiếp, những hung mộng mà ta thà thức dậy còn hơn. Vì vậy, tôi nói: Không có Thebes, không có dòng sông, không có Ai Cập, không có cánh đồng, không có thành phố, không có người giàu, không có kẻ nghèo, không có ông chủ hay nô lệ, mà tất cả chỉ là một giấc mơ buồn tẻ và cả Pharaon cùng ảo ảnh của ngài cũng chỉ là một giấc mơ của tôi. Nhưng bây giờ tôi ngán những giấc mơ của tôi lắm rồi vì chúng còn tệ hại hơn dư vị chua lòm, đắng ngắt khi giã rượu sau nhiều ngày uống. Vì thế tôi muốn thúc mình thức dậy và khi tôi thức dậy sẽ không còn Ai Cập hay Pharaon.
Nói xong, ông ta lấy con dao đá cứng mà ông thường cạo râu đâm toạc cổ họng mình, bất ngờ đến mức không ai kịp cản; máu của ông dính vào ghế và thảm, khiến Kaptah bị thiệt hại nặng vì cái chết của ông ta.
Nhưng những lời ông ta nói đã lan truyền khắp Thebes, khiến nhiều người vốn hiền lành và điềm đạm quá mệt mỏi với sự điên loạn của thời cuộc đã nói với nhau: “Cuộc đời chúng ta chỉ là một giấc mơ tồi tệ và cái chết là sự thức tỉnh ngọt ngào. Vì vậy, chúng ta hãy bình tâm bước từ hành lang tối tăm của cuộc sống ra nơi bình minh của tử thần”. Thế là nhiều người đã tự sát và một số cũng giết cả vợ con mình để họ không phải chứng kiến và hứng chịu tất cả sự tàn ác xảy ra ở Thebes chỉ vì Aton.
Nạn đói và sự hỗn loạn hoành hành Thebes vào những ngày này, khi vương quốc Aton đến mặt đất và cơn mê sảng chiếm lĩnh tâm trí con người, khiến họ không uống rượu mà vẫn ngất ngưởng. Ai ủng hộ thánh giá, ai không, cũng thế cả, chỉ duy nhất một điều còn có nghĩa, đó là vũ khí và nắm đấm chắc nịch với tiếng hô to, vì ai có sức hét to nhất, lời của người đó sẽ được lắng nghe. Nếu trên phố ai đó nhìn thấy bánh mì trong tay người khác, anh ta liền giật lấy và nói: “Hãy đưa tôi bánh mì của anh vì chẳng phải trước Aton chúng ta là anh em hay sao và thật không phải khi tôi đói mà anh tọng bánh đến ních bụng”. Nếu ai đó thấy người đi lại phía mình mặc đồ vải lanh mịn, anh ta sẽ nói: “Hãy cho tôi quần áo của anh, vì nhân danh Aton chúng ta là anh em và thật không phải là anh em khi kẻ mặc đẹp người mặc xấu”.
Nếu thấy một mẩu sừng trên cổ áo hoặc trong áo quần ai đó, họ sẽ bắt anh ta quay cối đá, đào rễ cây hoặc phá dỡ những căn nhà bị cháy, nhưng cũng có người bị đâm chết và số khác bị ném xuống nước làm mồi cho cá sấu, vì cá sấu đến cầu thuyền Thebes mà không ai xua chúng đi, tiếng quai hàm táp mồi và tiếng đuôi đập nước của chúng hòa lẫn với tiếng người cãi lộn quanh đống gậy xanh và gậy đỏ.
Không còn trật tự, luật lệ nào nữa vì những kẻ hét to nhất đã gào lên: “Nhân danh Aton, chúng ta phải duy trì trật tự và kỷ luật, vì thế chúng ta hãy gom tất cả ngũ cốc và chia cho nhau; không được mạnh ai nấy lấy mà chỉ chúng ta, những người khỏe nhất, cùng nhau cướp, giật rồi phân chia thứ cướp được cho những người khác”.
Rồi những kẻ to mồm nhất lập nhóm và lấy gậy đánh những kẻ tự ý giành giật, cướp bóc dữ tợn hơn bao giờ hết và giết bất cứ ai chống lại mình. Trong số họ có những kẻ bị cắt mũi và tai vì đã phạm những tội nhục nhã, những kẻ có vết cùm ở cổ chân và dấu gậy vụt trên lưng, nhưng họ rất tự hào về những vết này, phô bày sự nhục nhã đó cho dân chúng thấy và nói: “Chúng tôi đã phải chịu đựng những điều này vì Aton, lẽ nào chúng tôi lại không được đền bù?”.
Không thể phân biệt được họ với những người phe sừng từng bị đày tới các hầm mỏ và với những người phe thánh giá vừa trở về chen lẫn trong dân chúng. Nhưng không ai động vào khu hoàng cung ở bên kia sông vì đó là nhà của Pharaon và Eje vẫn mang trượng và roi của Pharaon, bảo vệ các giáo sĩ của Amon ở đó.
Thế là hai lần ba mươi ngày đã trôi qua, vương quốc Aton trên mặt đất không tồn tại được lâu hơn thế mà tan rã vì các đội quân da đen được thuyền chở đến từ xứ Kush và lính Shardana mà Eje thuê đã bao vây thành phố, chặn tất cả các con đường và cửa sông nên không ai có thể chạy thoát. Quân sừng nổi dậy khắp thành phố, các giáo sĩ lấy vũ khí từ trong hang sâu của Amon phát cho họ; ai không có vũ khí nung đầu gậy trong lửa, lấy thiếc bọc nùi bếp, dùi gỗ cán bột và lấy vòng khuyên đàn bà rèn làm đầu mũi tên. Phe sừng nổi dậy và cùng với họ là tất cả những ai mong muốn điều tốt lành cho Ai Cập, cả những người hiền lành, trầm tính, khoan dung và muốn bình yên cũng vùng dậy phản kháng: “Chúng tôi muốn trật tự cũ được thiết lập lại, vì chúng tôi đã ngán đến tận cổ thứ trật tự mới và Aton đã cướp của chúng tôi quá đủ rồi”.
❖ 4 ❖
Nhưng tôi, Sinuhe, đã nói với dân chúng: - Có thể quá nhiều điều sai trái đã xảy ra trong những ngày này, có thể bất công đã chà đạp lên công lý và nhiều người vô tội đã phải chịu đựng oan khiên, nhưng Amon là thần của nỗi sợ hãi, của bóng tối và thống trị mọi người vì sự thiếu hiểu biết của họ. Aton là vị thần duy nhất vì ngài sống trong chúng ta và bên ngoài chúng ta, không có thần linh nào khác. Vì vậy, hãy chiến đấu cho Aton, tất cả nô lệ và kẻ nghèo hèn, cửu vạn và đầy tớ, vì các người không còn gì để mất và nếu Amon thắng, chắc chắn các người sẽ chịu ách nô lệ và chết. Hãy chiến đấu vì Pharaon Ekhnaton, bởi chưa bao giờ có ai như ngài được sinh ra trên mặt đất và thần linh đã nói qua miệng của ngài; chưa bao giờ có cơ hội như thế này để đổi thay thế giới, trước ngài đã không có và sau ngài cũng sẽ không có.
Nhưng đám nô lệ và cửu vạn cười tôi và nói:
- Sinuhe, đừng nói với chúng tôi những điều nhảm nhí về Aton, vì tất cả thần linh đều giống nhau và tất cả pharaon đều như nhau. Nhưng ông là một người tốt, Sinuhe, mặc dù ông rất cô đơn, ông đã băng bó cánh tay bị gãy, chữa lành đầu gối bị đâm của chúng tôi mà không đòi quà cáp. Vì vậy hãy buông cây chùy trong tay, đằng nào ông cũng không vung được nó vì ông không thể thành chiến binh và quân sừng sẽ giết ông nếu họ nhìn thấy nó trong tay ông, còn chúng tôi không muốn tai họa đến với ông. Với chúng tôi chết cũng không sao vì tay chúng tôi đã nhuốm máu và chúng tôi đã sống những ngày tốt đẹp, nằm dưới bóng râm của lọng che lấp lánh và uống rượu từ cốc vàng, mặc dù chúng tôi không còn biết tất cả những thứ đó có đáng hay không. Dù sao bữa tiệc của chúng tôi đang đến hồi kết và chúng tôi muốn chết với vũ khí trên tay, bởi sau khi được tự do và có những ngày tốt đẹp, chúng tôi sẽ không vào tròng nô lệ lần nữa. Hãy chữa lành vết thương và xoa dịu cơn đau cho chúng tôi nếu ông muốn, nhưng đừng nắm chùy vung vẩy giữa chúng tôi, vì cảnh này làm chúng tôi tức cười ôm bụng, lăn lộn, giáo rơi khỏi tay, dễ dàng thành mồi cho người da đen, lính Shardana và lũ sừng của Amon.
Những lời họ nói khiến tôi thấy xấu hổ, vì vậy tôi đã quẳng cây chùy, về nhà lấy tráp đồ nghề thầy thuốc và đi đến Đuôi Cá Sấu để chữa vết thương cho họ. Cuộc chiến ở Thebes đã diễn ra ba ngày ba đêm, biết bao người đã đổi thánh giá thành sừng và gia nhập phe sừng, nhiều người hơn đã hạ vũ khí và trốn trong nhà, trong hầm rượu, kho chứa ngũ cốc và chui vào những sọt rỗng ở bến cảng. Nhưng nô lệ và phu khuân vác vẫn chiến đấu, những người dũng cảm nhất lại là những người ít nói nhất; sát cánh bên cạnh họ là những người đã bị cắt mũi, xẻo tai, vì họ biết đằng nào cũng bị nhận ra. Suốt ba ngày ba đêm liền, nô lệ và cửu vạn đốt các khu nhà và hỗn chiến trong đêm dưới ánh lửa; cả binh lính da đen và Shardana cũng đốt nhà, cướp phá và giết chết bất cứ ai chẳng may hiện ra trước họ, dù người đó là thánh giá hay sừng. Chỉ huy của họ và kẻ bao vây thành phố chính là Pepitaton, kẻ đã ra lệnh tàn sát dân chúng trên Đại lộ Nhân Sư và trước đền thờ Amon, nhưng bây giờ tên của lão ta lại là Pepitamon và Eje đã chọn lão vì lão là người có chức vị và học thức cao nhất trong các võ quan của Pharaon.
Nhưng tôi, Sinuhe, tôi băng vết thương cho các nô lệ và chữa những cái đầu bị đâm toạc của dân cửu vạn ở Đuôi Cá Sấu; Merit cắt tất cả quần áo của tôi và xống áo của nàng cũng như của Kaptah làm băng băng vết thương cho họ, còn bé Thoth mang rượu cho những người cần xoa dịu cơn đau. Những người bị thương đều trở lại trận chiến, nếu có thể, và vào ngày cuối cùng, cuộc chiến chỉ còn diễn ra trong bến cảng và khu phố nghèo; lính da đen và Shardana vốn quen với chiến trận chém dân như gặt lúa, đến nỗi máu chảy dọc theo các ngõ hẹp và máu từ bờ đá cầu thuyền chảy xuống sông. Chưa bao giờ ở xứ Kemet thần chết có một mùa bội thu như vào ngày đó, vì nếu một người phe thánh giá gục xuống và nằm dài không thể đứng lên, thì lính da đen và phe sừng dùng giáo đâm anh ta và nô lệ cũng như cửu vạn cũng làm vậy với người phe sừng. Nhưng tôi không biết nhiều về việc này, vì tôi băng bó vết thương ở Đuôi Cá Sấu và tôi làm tất cả những điều này vì Pharaon Ekhnaton, tôi nghĩ vậy mặc dù không chắc lắm, bởi vì con người ta thường không hiểu trái tim của chính mình.
Nhưng cửu vạn và nô lệ đã chọn trong số họ những người khỏe nhất, có tiếng hô to nhất làm người dẫn đầu và những người này đã tới Đuôi Cá Sấu giữa trận hỗn chiến để dùng rượu lấy lại sức. Họ đã say mùi máu và mê mẩn trận mạc, cười với tôi và vỗ bàn tay rắn chắc vào vai tôi, nói:
- Chúng tôi đã dành cho ông một cái sọt tốt ở cảng để ông có thể trốn, Sinuhe ạ, vì chắc chắn ông không muốn bị treo ngược trên tường cạnh chúng tôi vào tối nay. Chẳng phải đã đến lúc ông phải trốn đi sao, Sinuhe, vì những vết thương được băng sớm hay muộn cũng sẽ bị đâm toạc ra, vô ích lắm.
Nhưng tôi nói lại với họ:
- Tôi là danh y hoàng gia, không ai dám động vào tôi. Nghe thế, họ cười tôi nhiều hơn trước và uống thêm nhiều rượu rồi quay lại trận chiến.
Cuối cùng Kaptah đến bên tôi và nói:
- Nhà ông cháy rồi, ông Sinuhe ơi! Quân sừng đã lấy dao đâm Muti, vì bà ấy đã dùng chày giặt đe dọa chúng khi chúng đốt nhà ông. Đã đến lúc ông phải khoác lên người vải lanh mịn nhất và đeo, cài lên tất cả những biểu hiệu chứng tỏ địa vị của ông, may ra mới thoát được. Vì vậy, hãy bỏ những nô lệ và tên cướp bị thương này lại và theo tôi vào phòng sau, chúng ta phải thay quần áo để đàng hoàng theo địa vị của mình đón tiếp các thủ túc của giáo sĩ Eje. Tôi đã giấu khỏi bọn cướp một vài vò rượu để có thể làm dịu cơn giận dữ của các giáo sĩ lẫn các cai đội và tiếp tục nghề nghiệp lương thiện của mình.
Cả Merit cũng quàng tay qua cổ tôi và van xin tôi:
- Sinuhe, hãy cứu lấy mình, nếu không vì mình thì hãy vì em và bé Thoth.
Nhưng những đêm mất ngủ, nỗi thất vọng, chết chóc và âm thanh ầm ào của bạo loạn đã làm tôi cuồng điên lên, đến nỗi tôi không còn biết mình muốn gì mà chỉ nói:
- Ta làm gì với nhà của ta, ta làm gì với chính bản thân mình, ta làm gì đây với nàng và với bé Thoth. Máu đổ xuống là máu của anh em ta trước thần Aton và ta không muốn sống nữa nếu vương quốc Aton sụp đổ.
Nhưng tại sao tôi lại nói những lời điên rồ như vậy, tôi không biết; ai đó khác trong tôi đã nói chứ không phải trái tim yếu đuối của tôi.
Tôi không biết liệu mình có kịp trốn thoát hay cứu được gì nữa không, vì chỉ lát sau lính da đen và Shardana đã phá cửa quán rượu xông vào, dẫn đầu là một giáo sĩ đầu cạo trọc, mặt bôi dầu thánh bóng nhẫy. Họ bắt đầu giết những người bị thương đầy máu me đang nằm trên sàn; tay giáo sĩ dùng sừng thánh chọc thủng mắt họ; lính da đen, người vẽ đầy sọc trắng, nhảy nhảy trên đầu họ khiến máu từ vết thương của họ phun ra. Tay giáo sĩ gào lên:
- Đây là ổ của Aton, hãy lấy lửa tẩy sạch nó đi.
Chúng đâm thủng đầu Thoth bé nhỏ và dùng giáo giết chết Merit đang cố sức ôm bé vào lòng để che chắn ngay trước mặt tôi mà tôi không thể bảo vệ họ. Tay giáo sĩ đã đập sừng vào đầu tôi, tiếng kêu của tôi tắc nghẹn trong cổ họng và tôi không còn biết những gì xảy ra sau đó.
Tôi tỉnh lại trong con hẻm trước Đuôi Cá Sấu và lúc đầu không biết mình đang ở đâu, chỉ nghĩ rằng tôi đã mơ hoặc đã chết. Tay giáo sĩ đã đi, toán lính đã hạ giáo xuống và uống rượu mà Kaptah mời, tay cai đội vung chiếc roi bện bạc xua chúng đi tiếp tục cuộc chiến và Đuôi Cá Sấu cháy rừng rực trước mặt tôi như bãi sậy khô ven bờ sông vì nó toàn bằng gỗ. Lúc đó tôi nhớ lại tất cả và gượng đứng dậy, nhưng sức tôi đã phản tôi. Không thể đứng dậy được, tôi bắt đầu bò đến cánh cửa đang cháy rồi trườn vào đống lửa để đến chỗ Merit và Thoth. Lửa khiến những sợi tóc thưa thớt sém quăn, quần áo tôi bén lửa, tay và đầu gối cũng cháy cho đến khi Kaptah gào khóc lao đến và kéo tôi ra khỏi đống lửa, rồi vần tôi trong cát để dập tắt lửa trên quần áo tôi. Nhìn tất cả cảnh tượng này, đám lính cười phá lên, đập tay xuống đầu gối và Kaptah nói với chúng:
- Chắc ông ấy hơi lẫn rồi vì giáo sĩ đập sừng vào đầu ông ấy, vì thế tay giáo sĩ sẽ bị trừng phạt. Ông ấy là ngự y hoàng gia, nên không ai được động vào; ông ấy cũng là giáo sĩ bậc nhất, dù phải mặc xuềnh xoàng rách rưới và che giấu các sắc hiệu danh giá của mình để tránh cơn phẫn uất của dân chúng.
Tôi ngồi trong cát bụi đường phố, hai bàn tay bỏng ôm đầu, nước mắt chảy ròng ròng từ đôi mắt cháy sém và gào khóc thảm thiết:
- Merit ơi, Merit ơi, ơi Merit của ta!
Nhưng Kaptah thúc tôi rất mạnh và lắp bắp:
- Im đi, lão điên. Bao tai họa ông gây ra cho tất cả chúng ta vẫn chưa đủ sao mà còn điên rồ thế?
Khi tôi vẫn không im, ông ấy ghé mặt sát gần tôi và đau đớn thì thầm:
- Liệu tất cả những việc này có đủ làm ông sáng mắt ra không, thưa ông chủ, vì bây giờ ông thực sự đã mất hết rồi, mất nhiều hơn là ông biết. Bởi vậy tôi bảo cho ông hay, mặc dù đã quá muộn, rằng Thoth là con trai ông, thằng bé là hạt giống của ông, nảy mầm khi lần đầu tiên ông ôm ấp Merit và ân ái với cô ấy. Tôi kể với ông điều này để ông tỉnh lại, vì cô ấy đã không muốn kể cho ông biết, bởi cô ấy bản lĩnh và cô đơn, còn ông bỏ cô ấy lại vì Pharaon và Akhetaton. Nó là giọt máu của ông, thằng Thoth bé nhỏ ấy, nếu ông không điên đến mất trí thì hẳn ông đã thấy mắt mình trong mắt thằng bé và nét môi khóe miệng của nó giống hệt ông. Tôi có thể từ bỏ mạng sống của mình, nếu tôi có thể cứu nó, nhưng vì sự điên rồ của ông mà tôi không thể cứu thằng bé, còn Merit không muốn bỏ ông đi. Vì sự điên rồ của ông mà cả hai đã chết nên tôi hy vọng bây giờ ông sẽ tỉnh lại, thưa ông chủ.
Điều Kaptah nói khiến tôi chết lặng và tôi chằm chằm nhìn ông ấy, hỏi:
- Có đúng thật thế không?
Nhưng khi nghĩ về mọi chuyện, tôi không cần câu trả lời của ông ấy để biết rằng đó là sự thật. Vì vậy tôi ngồi trong cát bụi đường phố, không khóc nổi và cũng không còn cảm thấy đau đớn, mà tất cả đông cứng và khép lại trong tôi, trái tim tôi cũng lạnh cứng và tôi không còn bận tâm đến những gì đã xảy ra với mình.
Đuôi Cá Sấu cháy trước mặt tôi, lửa bốc ngùn ngụt, cuồn cuộn phun khói và bồ hóng lên đầu tôi, thi thể nhỏ bé của Thoth và cơ thể xinh đẹp của Merit bốc cháy cùng với quán. Thi thể họ bị thiêu rụi cùng các nô lệ và cửu vạn và tôi thậm chí không thể giữ họ sống mãi muôn đời. Thoth là con trai tôi và nếu điều tôi nghĩ là đúng thì dòng máu thánh của các pharaon đã chảy trong huyết quản của nó như trong huyết quản của tôi. Nếu tôi biết điều đó có lẽ tất cả đã khác, bởi lẽ vì con trai mình, con người ta có thể làm những việc mà anh ta không bao giờ làm nếu chỉ vì bản thân mình. Nhưng giờ tất cả đã quá muộn và máu thánh của con tôi đã cháy cùng với máu của nô lệ và cửu vạn, con tôi không còn nữa và tôi biết có lẽ Merit đã giấu không cho tôi nhận con cũng vì bí mật khủng khiếp của tôi, chứ không chỉ vì niềm kiêu hãnh và sự cô đơn của chính nàng. Do đó tôi ngồi trong cát bụi đường phố giữa khói than và đau đớn, những ngọn lửa từ thi thể họ nóng rát mặt tôi.
Sau lúc này, mọi việc với tôi đều rối loạn, mơ hồ nên tôi để mặc Kaptah ẩn tôi đến nơi ông ấy muốn và đi theo mà không cưỡng lại. Ông ấy đưa tôi đến chỗ Eje và Pepitamon đang ngồi xét xử trên những chiếc ghế vàng ở cầu thuyền bằng đá nơi bến cảng, vì cuộc hỗn chiến đã kết thúc, tuy lửa vẫn còn cháy trong khu phố nghèo, và lính cùng quân sừng dẫn tù nhân đến trước họ. Những ai bị bắt với vũ khí trên tay đều bị treo ngược trên tường; những ai bị phát hiện có đồ vật cướp được trong người bị ném xuống nước làm mồi cho cá sấu; những ai trên cổ áo hay quần áo có thánh giá của Aton bị đánh bằng gậy và bị bắt đi lao động khổ sai; đàn bà bị giao cho lính và người da đen để mua vui cho họ, còn trẻ em được giao cho Amon để nuôi dạy trong đền. Vì thế, xác chết rải đầy trên bờ sông ở Thebes và vì muốn có được sự ủng hộ của các giáo sĩ, Eje thật nhẫn tâm nói:
- Ta sẽ tẩy sạch máu ác khỏi đất Ai Cập.
Pepitamon cũng trong cơn cuồng nộ vì nô lệ và phu khuân vác đã cướp phá nhà của ông ta, mở chuồng mèo và ăn thức ăn của mèo, lấy sữa và kem của mèo cho con cái của họ nên mèo của ông ta bị chết vì đói khát và trở nên hoang dại. Vì thế, cả ông ta cũng không tha thứ, xót thương, mà chỉ hai ngày sau, tất cả tường thành trong thành phố đều đầy những xác đàn ông bị treo ngược trên tường.
Còn các giáo sĩ vui mừng dựng lại tượng Amon trong đền thờ của thần và dâng cúng đồ lễ lớn cho thần. Tượng của tất cả các vị thần khác cũng được dựng lại về chỗ cũ và các giáo sĩ tuyên bố với dân chúng:
- Đói khát và nước mắt sẽ không bao giờ có ở xứ Kemet nữa, vì Amon đã trở lại và sẽ ban phước cho tất cả những ai tin vào thần. Chúng ta lại gieo trồng trên các cánh đồng của Amon, hạt giống của Amon sẽ cho vụ mùa bội thu gấp ngàn lần, sự no đủ và giàu có sẽ trở lại Ai Cập.
Tuy nhiên, nạn đói ở Thebes còn lớn hơn bao giờ hết và không nhà nào không có nước mắt rơi, vì lính Shardana và lính da đen đã tàn nhẫn cướp bóc Thebes. Thậm chí không phân biệt ai thánh giá ai sừng, chúng hãm hiếp đàn bà, bán trẻ em làm nô lệ mà Pepitamon hay Eje không thể ngăn cản chúng vì chúng nói:
- Quyền lực ở trên đầu ngọn giáo của chúng ta và ở đầu cây chùy chiến đấu của chúng ta. Vì vậy, hãy câm miệng và chớ làm phiền chúng ta.
Không còn pharaon nào nữa ở Ai Cập, vì các giáo sĩ đã tuyên bố Ekhnaton là pharaon giả và nguyền rủa thành phố của ngài, người kế vị ngài phải trở về Thebes, quy phục Amon và dâng lễ cho Amon trước khi các giáo sĩ đồng ý công nhận người đó là pharaon.
Thấy sự hỗn loạn này, Eje giao cho Pepitamon quyền chỉ huy Thebes và vội vàng đi Akhetaton để khuyên Pharaon Ekhnaton từ bỏ ngai vàng và củng cố quyền lực của mình với sự giúp đỡ của người kế vị Pharaon. Ông ta nói với tôi:
- Sinuhe, hãy đi theo tôi, có lẽ tôi cần lời khuyên của thầy thuốc để thuyết phục Pharaon giả.
Tôi nói với ông ta:
- Eje, tôi sẽ đi theo ông, vì tôi muốn nhận đủ những mất mát của mình.
Nhưng ông ta không hiểu tôi muốn nói gì với câu nói ấy.
❖ 5 ❖
Thế là tôi đi cùng giáo sĩ Eje trở lại Akhetaton để gặp Pharaon bị nguyền rủa. Ở Tanis, Horemheb cũng đã nghe được những gì xảy ra ở Thebes và những gì xảy ra ở khắp nơi hai bên bờ sông nên vội vàng lệnh cho binh lính cùng quân khí lên các thuyền chiến và dong buồm đến Akhetaton. Khi đội chiến thuyền của anh ấy ngược sông, các thị trấn và làng mạc hai bên sông đã trở lại bình yên, các ngôi đền lại được mở cửa, tượng của các thần được dựng lại vào chỗ cũ và tôi nghĩ cá sấu lại thả sức cầu phúc cho Horemheb. Nhưng anh ấy vội đến Akhetaton cùng lúc với Eje để tranh giành quyền lực với vị giáo sĩ, nên anh ân xá cho tất cả những nô lệ đã hạ vũ khí và không trừng phạt bất cứ ai tự nguyện đổi thánh giá của Aton lấy sừng của Amon. Vì vậy, dân chúng nhiệt liệt ca ngợi sự khoan dung của anh ấy, mặc dù sự khoan dung ấy không đến từ tâm, mà anh ấy chỉ muốn giữ lại những người đàn ông đủ sức cho cuộc chiến. Cả các giáo sĩ ở khắp nơi dọc hai bên sông cũng hết lời ca ngợi anh ấy khi đoàn thuyền chiến lướt qua, vì anh ấy cho mở lại các ngôi đền đã đóng cửa, dựng lại các tượng thần đã bị dỡ bỏ và thỉnh thoảng cũng dâng cúng cho các thần vào những lúc anh ấy vui vẻ.
Nhưng thành phố Akhetaton là vùng đất bị nguyền rủa, các giáo sĩ và quân sừng canh gác tất cả các con đường dẫn đến đó và giết tất cả những ai chạy trốn khỏi đó, nếu họ không đồng ý đổi thánh giá của mình thành sừng và dâng cúng cho Amon. Họ cũng lấy dây xích đồng chặn sông để không ai có thể thoát ra ngoài theo đường sông. Tuy nhiên, hầu hết những người tị nạn đều vui lòng thờ phụng Amon và nguyền rủa Aton, bởi vì ngay cả dân chúng ở Akhetaton cũng đã mệt mỏi chán ngán với Aton. Tôi cũng không nhận ra Akhetaton nữa khi từ trên thuyền nhìn vào thành phố vì sự im lặng chết chóc bao trùm khắp nơi, hoa đã tàn héo trong các công viên, cỏ xanh cháy khô vàng úa vì các vườn cây không còn ai vun tưới và chăm tỉa. Cũng không còn chim chóc hót trong những bụi cây đã bị mặt trời thiêu cháy mà thành phố tràn ngập vị ngọt lợm giọng, cái mùi đáng sợ của lời nguyền mà không ai rõ nguyên nhân. Giới quyền quý đã rời bỏ nhà mình, đám gia nhân bỏ trốn từ trước, thợ xây và thợ mỏ cũng rời bỏ thành phố của họ, để lại tất cả nồi niêu trong bếp, vì không ai dám mang theo thứ gì ra khỏi thành phố bị nguyền rủa. Những con chó đã chết trong chuồng sau khi tru sủa và những con ngựa mòn mỏi, thiếu ăn chết trong chuồng vì đám người hầu đã cắt đứt gân chân của chúng trước khi trốn chạy. Như thế, Akhetaton tuyệt đẹp đã là thành phố chết và phả mùi tang tóc vào tôi khi tôi đến đó.
Nhưng Pharaon Ekhnaton vẫn còn trong cung điện Akhetaton, thân quyến của ngài ở lại đó cùng ngài và những người hầu cận trung thành nhất cũng ở lại với ngài vì Aton; các cận thần già cả nhất trong triều, những người không thể nghĩ đến cuộc sống ở đâu khác ngoài ở cạnh Pharaon, cũng ở lại hoàng cung, vì họ đã sống suốt đời ở đó. Họ cũng không biết gì về những gì xảy ra ở thế giới bên ngoài, vì vài tuần trăng qua, không có sứ giả nào đến Akhetaton. Thực phẩm trong hoàng cung cũng đã hết, nên theo ý muốn của Pharaon Ekhnaton, thức ăn của tất cả mọi người là bánh khô và cháo mạch của người nghèo. Tuy nhiên, những người táo bạo nhất đã lấy giáo đâm cá dưới sông hay ném gậy giết chim và ăn trong bí mật.
Giáo sĩ Eje bảo tôi đến gặp Pharaon trước để kể cho ngài biết tất cả những chuyện đã xảy ra, vì Pharaon tin tưởng tôi bởi tôi từng là bạn ngài. Thế là tôi lại diện kiến Pharaon, nhưng mọi thứ trong tôi đã đông cứng, chai sạn và tôi không còn thấy nỗi buồn hay niềm vui, mà trái tim tôi lãnh đạm với ngài. Pharaon ngước khuôn mặt xám xịt, gầy mòn về phía tôi, đôi bàn tay mềm nhũn để trên đầu gối, nhìn tôi với đôi mắt mờ đục và hỏi:
- Sinuhe, lẽ nào ngươi là người duy nhất quay lại với ta? Tất cả những người trung thành với ta đâu? Tất cả những người yêu quý ta và ta quý mến ở đâu?
Tôi nói với ngài:
- Tâu Pharaon, các thần cũ lại cai trị Ai Cập và các giáo sĩ dâng lễ cho Amon ở Thebes trước sự vui mừng của dân chúng. Họ đã nguyền rủa ngài, Pharaon Ekhnaton, nguyền rủa thành phố của ngài và đời đời nguyền rủa tên ngài; họ đang đục bỏ tên ngài khỏi tất cả các kinh sách và dòng chữ thánh.
Ngài nôn nóng động đậy bàn tay, sự cuồng tín lại hiện rõ trên mặt khi ngài nói:
- Ta không hỏi điều gì đã xảy ra ở Thebes, mà ta hỏi: “Những kẻ trung thành của ta đâu, những người ta đã yêu thương ở đâu?”.
Tôi đáp lại ngài:
- Thưa Pharaon, Hoàng hậu kiều diễm Nefertiti của ngài vẫn ở bên cạnh ngài. Các công chúa con ngài cũng ở bên cạnh ngài. Sekenre trẻ tuổi đâm cá dưới sông và Tut chơi trò đám tang với búp bê như trước. Những người khác có gì cần bận tâm đâu ạ?
Ngài hỏi:
- Bạn Thotmes của ta, cũng là bạn của ngươi và là người ta yêu mến, ở đâu? Anh ta ở đâu, người nghệ sĩ đã thổi hồn vào đá?
- Anh ấy đã chết vì ngài, thưa Pharaon Ekhnaton, - tôi đáp.
- Lính da đen đã đâm anh ấy và ném xác anh ấy xuống sông làm thức ăn cho cá sấu, vì anh ấy trung thành với ngài. Có thể anh ấy đã khạc nhổ vào giường ngài, nhưng bây giờ đừng nhớ đến chuyện đó, khi chó hung sa mạc đang sủa trong khu xưởng hoang tàn của anh ấy và các môn đệ của anh ấy đã chạy trốn, bỏ lại chỏng chơ đồ nghề và các bức tượng mà có thể anh ấy đã tạc sự bất tử vào.
Pharaon Ekhnaton động đậy bàn tay như thể đang gỡ mạng nhện trên mặt. Sau đó, ngài đọc cho tôi tên của tất cả những người mà ngài từng yêu quý, và về một số tên, tôi nói:
- Anh ấy đã chết vì ngài, thưa Pharaon Ekhnaton. Còn phần lớn tên khác, tôi nói:
- Anh ta đã vận bộ quần áo đẹp nhất khi dâng đồ tế cho Amon và nguyền rủa tên của ngài, thưa Pharaon Ekhnaton.
Cuối cùng, tôi nói:
- Vương quốc Aton đã bị lật đổ, thưa Pharaon Ekhnaton. Không còn vương quốc Aton trên mặt đất, mà Amon đã nắm quyền trở lại.
Ngài nhìn chằm chằm về phía trước với đôi mắt lờ đờ, bồn chồn cử động đôi bàn tay nhợt nhạt và nói:
- Được rồi, được rồi, ta đã biết tất cả những điều ấy. Ảo giác của ta đã nói với ta điều đó. Vương quốc vĩnh hằng không vừa với những giới hạn trần gian. Tất cả sẽ lại như trước và nỗi sợ hãi, sự oán giận và bất công sẽ thống trị thế giới. Vì vậy, có lẽ tốt hơn nếu ta chết đi và có lẽ sẽ tốt hơn nếu ta không bao giờ được sinh ra trên cõi đời này để thấy tất cả những điều xấu xa đang xảy ra trên mặt đất.
Lúc đó, sự mù quáng của ngài khiến tôi tức giận và tôi nóng nảy nói:
- Ngài đã không thấy dù chỉ một chút những điều ác độc đã xảy ra chỉ vì ngài, thưa Pharaon Ekhnaton. Máu của con ngài không chảy xuống tay ngài và trái tim ngài đã không đông cứng vì tiếng kêu gào trước khi chết của người phụ nữ ngài yêu. Vì thế, lời ngài nói là những lời ngu ngốc, thưa Pharaon Ekhnaton.
Pharaon mệt mỏi nói:
- Vậy hãy tránh xa ta ra, Sinuhe, bởi vì ta xấu xa độc ác đến thế. Tránh xa ta để ngươi không phải đau khổ thêm vì ta nữa. Tránh xa ta ra vì ta đã phát ngán khi nhìn mặt ngươi cũng như tất cả những người mà ta chỉ thấy vẻ dã thú trên khuôn mặt họ.
Nhưng tôi ngồi xuống sàn trước mặt ngài và nói:
- Tôi sẽ không rời xa ngài, thưa Pharaon Ekhnaton, vì tôi muốn nếm trải hết số phận mình và chắc chắn vì số phận ấy mà tôi đã sinh ra trên thế gian này và điều này đã được viết trên các vì sao trước ngày tôi được sinh ra.
Vậy nên ngài hãy biết là giáo sĩ Eje đang đến với ngài và ở biên giới phía bắc thành phố này, Horemheb đã lệnh thổi tù và và cắt đứt dây xích đồng chặn ngang dòng sông để dong buồm đến với ngài.
Ekhnaton khẽ mỉm cười rồi dang tay ra và nói:
- Eje và Horemheb, tội đồ và chiến binh, vậy họ là những người trung thành duy nhất và đang đến với ta.
Sau đó, ngài không nói gì với tôi nữa, mà tôi cũng không nói gì thêm với ngài, chúng tôi chỉ lắng nghe âm thanh tí tách êm nhẹ của đồng hồ nước cho đến khi giáo sĩ Eje và Horemheb bước tới trước mặt Pharaon. Họ đã to tiếng cãi nhau trước khi đến, mặt cả hai tối sầm vì giận dữ. Họ nặng nhọc thở và cùng lúc lên tiếng với Pharaon, không thèm để ý gì đến tước vị của ngài nữa.
Eje nói:
- Pharaon Ekhnaton, người phải thoái vị, nếu muốn giữ mạng sống của mình. Hãy nhường ngôi cho Sekenre và để cậu ấy trở về Thebes làm lễ hiến tế Amon, các giáo sĩ sẽ xức dầu cho cậu ấy lên làm Pharaon và đội vương miện màu đỏ và trắng lên đầu cậu ấy.
Còn Horemheb nói:
- Ngọn giáo của thần sẽ bảo vệ vương miện cho ngài, Pharaon Ekhnaton, nếu ngài trở về Thebes và làm lễ hiến tế Amon. Các giáo sĩ có thể quở trách, nhưng thần sẽ quất roi bắt họ yên và họ sẽ thôi rền rĩ khi ngài tuyên bố thánh chiến để giành lại Syria cho Ai Cập.
Pharaon Ekhnaton nhìn cả hai với khuôn mặt tiều tụy và nở nụ cười chết chóc.
- Ta sống và chết là Pharaon, - ngài nói. - Ta không đời nào chịu hiến tế cho thần giả, và sẽ không bao giờ chịu tuyên bố chiến tranh để giữ lấy quyền lực của mình bằng máu. Đây là lời của Pharaon.
Nói xong ngài kéo vạt áo che mặt và bỏ đi, để lại ba chúng tôi với nhau trong đại sảnh với mùi tử thần trong cánh mũi.
Eje bất lực dang tay ra và nhìn Horemheb. Cả Horemheb cũng dang hai tay ra và nhìn ông ta. Tôi ngồi bệt xuống sàn vì đầu gối chỉ chực khuỵu xuống và nhìn họ. Bất ngờ Eje mỉm cười rất gian manh và nói:
- Horemheb, những ngọn giáo ở dưới quyền của anh và ngai vàng là của anh. Hãy đội lên đầu mình hai chiếc vương miện mà anh khao khát.
Nhưng Horemheb cười nhạo ông ta và nói:
- Tôi không ngu đến thế. Hãy giữ vương miện bẩn thỉu của mình nếu ông muốn, vì những ngọn giáo sẽ xuyên qua mông tôi nếu tôi gắng ngồi lên mũi giáo, mà tôi còn không có dòng máu hoàng tộc sau mình nữa. Ông thừa biết rằng mọi thứ không thể trở lại như xưa sau tất cả những gì đã xảy ra, mà nạn đói và chiến tranh đang đe dọa Ai Cập, nếu tôi giành lấy vương miện bây giờ, dân chúng sẽ buộc tội tôi về tất cả những điều xấu xa sẽ xảy ra và ông sẽ dễ dàng lật đổ tôi khi thấy thời cơ đến.
Eje nói:
- Vậy thì Sekenre, nếu cậu ấy đồng ý trở lại Thebes. Nếu không thì Tut. Tut chắc chắn đồng ý. Vợ của cả hai mang dòng máu thánh. Hãy để các cậu ấy chịu cơn thịnh nộ của dân cho đến thời điểm thuận lợi hơn.
- Vậy là ông muốn nấp dưới bóng họ để trị vì, - Horemheb nói.
Nhưng Eje đáp:
- Anh quên là anh có quân đội và anh phải đánh bại lũ Hittite. Nếu anh làm được điều đó, không ai mạnh hơn anh ở xứ Kemet.
Họ cãi nhau như thế cho đến khi nhận ra rằng số phận của họ gắn liền với nhau và người này không thể thiếu người kia. Vì vậy, cuối cùng Eje nói:
- Horemheb, thành thật mà nói, ta đã cố gắng lật đổ anh bằng tất cả khả năng của mình, nhưng bây giờ anh đã mạnh hơn ta, con trai chim ưng ạ, không có anh, ta không làm được gì, bởi nếu quân Hittite kéo đến, ta sung sướng gì với quyền lực của mình và thậm chí ta còn không tưởng tượng nổi người như Pepitamon có thể tuyên chiến với quân Hittite, dù hắn ta rất thạo làm đao phủ hay gây đổ máu. Vì vậy, Horemheb, hãy lấy ngày này làm ngày bắt đầu của liên minh giữa hai chúng ta, vì cùng nhau chúng ta có thể cai trị Ai Cập, còn thiếu nhau, cả hai chúng ta sẽ bị lật đổ. Không có ta, quân đội anh sẽ bất lực và không có quân đội của anh, Ai Cập sẽ sụp đổ. Vì vậy, nhân danh tất cả các vị thần của Ai Cập, chúng ta hãy thề rằng kể từ ngày này trở đi, chúng ta là một. Ta đã là một ông già, Horemheb, ta muốn nếm trải vị ngọt của quyền uy, còn anh còn trẻ và anh vẫn còn thời gian để chờ đợi.
- Tôi không thèm khát những chiếc vương miện, mà chỉ muốn một cuộc chiến tốt cho lũ bọ bẩn thỉu của mình, - Horemheb nói. - Nhưng về những chuyện này, tôi cần một sự cam kết của ông, Eje, vì nếu không ông sẽ phản lại tôi ngay khi có cơ hội. Tôi quá hiểu con người ông.
Eje vung tay ra, nói:
- Ta có thể đảm bảo gì cho anh, Horemheb? Quân đội không phải là sự bảo đảm lâu dài hay sao?
Mặt Horemheb đỏ bừng, anh ta bối rối nhìn dọc theo các bức tường và chà dép trên nền đá, như thể muốn dí ngón chân mình vào sâu trong cát. Rồi anh ta nói:
- Tôi muốn có được Công chúa Baketaton làm vợ. Đúng vậy, tôi muốn đập vỡ vò cùng nàng, dù bầu trời và mặt đất có nứt toác, ông cũng không ngăn được tôi.
Eje kêu lên:
- A ha, giờ thì ta hiểu anh muốn gì và anh thông minh hơn ta nghĩ, nên ta tôn trọng anh. Công chúa đã đổi tên lại thành Baketamon, các giáo sĩ cũng không có gì chê trách Công chúa và dòng máu thánh của Pharaon Đại đế chảy trong huyết quản của người. Quả thật, khi kết hôn với Công chúa, anh sẽ có quyền hợp pháp với vương miện, Horemheb, và quyền ấy tốt hơn quyền của chồng các con gái Ekhnaton, vì chúng chỉ mang dòng máu Pharaon giả. Quả là anh đã tính toán rất khôn ngoan, Horemheb, nhưng ta không thể đồng ý việc này, ít nhất là chưa, vì khi đó ta hoàn toàn nằm trong tay anh và ta không còn quyền uy gì đối với anh nữa.
Horemheb hét lên:
- Hãy giữ lấy vương miện bẩn thỉu của ông, Eje. Tôi thèm khát nàng hơn cả vương miện và tôi thèm muốn nàng ngay từ lần đầu tiên tôi nhìn thấy sắc đẹp của nàng trong hoàng cung. Tôi khát khao được hòa lẫn máu mình với dòng máu của Pharaon Đại đế, để các vị vua của Ai Cập có thể được sinh ra từ bên hông tôi. Ông chỉ thèm khát vương miện thôi, Eje. Vậy hãy lấy nó khi thời cơ chín muồi, những ngọn giáo của tôi sẽ gìn giữ ngai vàng của ông, nhưng hãy cho tôi Công chúa, tôi sẽ trị vì sau ông, dù ông sống lâu đến đâu, vì tôi có thời gian để đợi, như ông nói.
Eje đưa tay xoa miệng và suy nghĩ một lúc lâu, nét mặt ông ta càng lúc càng tỏ ra vừa lòng hơn khi đã thấy ra được một cái móc để có thể móc hàm Horemheb đến nơi ông ta muốn. Tôi ngồi trên sàn nghe họ nói chuyện và ghê sợ về tâm địa con người khi họ có thể chia sẻ vương miện với nhau, dù Pharaon Ekhnaton vẫn đang sống và hít thở trong cung thất kế bên. Cuối cùng, Eje nói:
- Anh đã chờ Công chúa của mình rất lâu rồi và có lẽ phải kiên nhẫn chờ thêm một thời gian nữa, vì trước tiên anh sẽ tiến hành một cuộc chiến khốc liệt và chiến tranh không thích hợp cho việc chuẩn bị đám cưới. Mà thuyết phục Công chúa cũng cần có thời gian, vì Công chúa rất khinh rẻ anh khi anh sinh ra với phân giữa các ngón chân. Nhưng ta, chỉ có ta, mới có đủ phương cách để thuyết phục Công chúa, và Horemheb ạ, nhân danh tất cả các vị thần của Ai Cập, ta thề với anh rằng vào ngày ta đội lên đầu mình chiếc vương miện đỏ và trắng, chính tay ta sẽ đập vỡ vò giữa các người và anh sẽ có được Công chúa. Ta không mặc cả thêm về chuyện này nữa, vì lúc đó ta cũng sẽ đặt mình vào tay anh.
Horemheb cũng không cố nì nèo thêm mà chỉ nói:
- Thôi được, chúng ta hãy lo xong cho tốt cả cái việc bẩn thỉu này, và tôi cũng không tin là ông sẽ dềnh dàng với những việc vô ích, vì ông quá thèm khát những chiếc vương miện mà thật ra chỉ là đồ chơi trẻ con.
Trong niềm phấn khích, anh ta đã hoàn toàn quên tôi, nhưng khi nhìn ra quanh mình, anh thấy tôi và quá đỗi sửng sốt nói:
- Sinuhe, cậu vẫn ở đây ư? Đây là một ngày tồi tệ, vì cậu đã nghe những điều không thích hợp với những cái tai không xứng, bởi vậy tôi nghĩ rằng tôi phải giết cậu, mặc dù tôi không hề muốn vì cậu là bạn của tôi.
Những lời của anh khiến tôi chỉ muốn cười khi nghĩ rằng cả hai, Eje và Horemheb, đều không xứng đáng chia nhau vương miện, trong khi tôi, có lẽ là người chính danh xứng đáng, người thừa kế duy nhất của các pharaon vĩ đại và dòng máu thánh chảy trong huyết quản, lại ngồi im trên sàn nghe. Vì thế tôi không thể nén được tiếng cười của mình, mà đưa tay che miệng và cười khinh khích, the thé như một bà già. Eje rất bực tức vì giọng cười của tôi và nói:
- Không đáng cười chút nào, Sinuhe, vì đây là những chuyện nghiêm trọng. Tuy nhiên, chúng ta sẽ không giết ngươi ngay cả khi ngươi đáng bị như vậy, nhưng vì ngươi đã nghe tất cả, nên có thể sẽ tốt hơn nếu ngươi làm chứng giữa chúng ta. Ngươi không bao giờ được kể với bất kỳ ai những gì mình đã nghe ở đây ngày hôm nay, vì chúng ta cần ngươi và chúng ta trói buộc ngươi vào mình, chúng ta trói buộc ngươi với mình bằng sợi dây bền chắc hơn mọi lời thề nguyền, vì có lẽ chính ngươi cũng hiểu đã đến lúc Pharaon Ekhnaton phải chết. Vì vậy, là ngự y của Pharaon, ngươi phải khoan hộp sọ của Pharaon ngay hôm nay và phải đảm bảo rằng con dao của ngươi cắm đủ sâu vào sọ ngài để ngài chết như tục lệ đòi hỏi.
Còn Horemheb nói:
- Tôi không nhúng tay mình vào chuyện này, vì nó đã quá bẩn rồi khi chạm vào tay Eje. Tuy nhiên, Eje nói đúng. Pharaon Ekhnaton phải chết để Ai Cập được giải nguy. Không còn cách nào khác.
Tôi tiếp tục bịt miệng khúc khích cho đến khi bình tĩnh lại và nói:
- Là một thầy thuốc, tôi không thể khoan hộp sọ của Pharaon vì không có đủ lý do và trách nhiệm nghề nghiệp không cho phép tôi làm việc đó. Nhưng các người đừng lo, với tư cách một người bạn, tôi sẽ pha thuốc tốt cho ngài. Uống thuốc đó rồi, ngài sẽ ngủ và không bao giờ thức dậy, như thế tôi sẽ tự trói buộc mình với các người để các người không bao giờ sợ tôi nói điều gì về các người.
Nói rồi, tôi lấy cái lọ thủy tinh sặc sỡ mà một lần Hrihor đã đưa cho tôi và pha thuốc vào rượu trong một cái cốc vàng; mùi thuốc cũng dễ chịu. Tôi bê cái cốc trên tay và cả ba chúng tôi cùng đến phòng của Pharaon Ekhnaton. Ngài đã cởi vương miện, để roi và cây trượng xuống bên cạnh vương miện và nằm nghỉ trên giường, khuôn mặt xám xịt và đôi mắt đỏ ngầu. Eje tò mò đến sờ mó những chiếc vương miện và thử sức nặng của chiếc roi vàng trên tay rồi nói:
- Pharaon Ekhnaton, bạn Sinuhe của ngài đã pha cho ngài một loại thuốc tốt. Hãy uống đi, ngài sẽ khỏi và ngày mai chúng ta sẽ tiếp tục bàn về những việc khó khăn.
Pharaon ngồi dậy trên giường, đưa tay cầm chiếc cốc và lần lượt nhìn từng người chúng tôi, ánh mắt mệt mỏi của ngài xuyên qua tôi khiến sống lưng tôi run rẩy vì sức mạnh từ cái nhìn của ngài. Rồi ngài nói với tôi:
- Người ta lấy chùy ân xá cho một con vật ốm. Ngươi thương xót và ân xá ta, phải vậy không, Sinuhe? Nếu vậy, ta cảm ơn ngươi vì điều đó, vì sự thất vọng của ta còn cay đắng hơn cái chết trần thế và cái chết ngày hôm nay với ta ngọt ngào hơn cả mộc dược.
- Xin uống đi, thưa Pharaon Ekhnaton, - tôi nói với ngài.
- Uống vì Aton của ngài.
Cả Horemheb cũng nói:
- Uống đi, Ekhnaton, bạn của tôi. Uống đi để cứu Ai Cập. Tôi sẽ lại che chở sự yếu ớt của ngài bằng tấm choàng vai của tôi, như một lần trước đây trong sa mạc ngoài Thebes.
Pharaon Ekhnaton uống, nhưng tay ngài run mạnh khiến rượu tràn ra quai hàm. Khi ấy, ngài đưa cả hai tay cầm lấy cốc, uống cạn rồi lại nằm thẳng xuống giường, tựa gáy xuống gối gỗ. Cả ba chúng tôi nhìn chằm chằm vào ngài một lúc lâu song ngài không nói với chúng tôi lời nào nữa, mà nhìn chằm chặp vào những ảo ảnh của mình với đôi mắt đỏ và mờ dần. Sau một lúc, cơ thể ngài bắt đầu run lên như thể ngài bị lạnh, Horemheb cởi tấm vải choàng trên vai và phủ lên người ngài, còn Eje lấy các vương miện của ngài và đội lên đầu mình bằng cả hai tay.
Thế là Pharaon Ekhnaton tắt thở; tôi đã cho ngài uống tử thần và ngài uống cái chết từ tay tôi. Nhưng tại sao tôi làm điều đó, tôi không biết, bởi con người ta không hiểu được lòng mình. Tuy nhiên, tôi không nghĩ mình làm đến mức đó vì Ai Cập mà chính là vì Merit và Thoth bé nhỏ, con trai tôi. Tôi cũng không làm điều đó vì tình yêu đối với ngài mà vì sự hận thù và cay đắng của tôi và vì tất cả những tai họa mà ngài đã gây ra. Nhưng trên tất cả, tôi đã làm điều đó vì nó được viết trong các ngôi sao rằng tôi phải sống hết số phận mình. Khi nhìn ngài chết, tôi nghĩ mình đã nhận đủ phận mình, nhưng con người ta không biết được chính lòng mình và lòng người vô độ, vô độ hơn cá sấu dưới sông.
Thấy Pharaon đã chết, chúng tôi rời hoàng cung, cấm người hầu quấy rầy vì ngài đã ngủ. Mãi đến sáng hôm sau, người hầu mới thấy thi thể ngài và lớn tiếng khóc than, tiếng kêu than, khóc lóc vang khắp hoàng cung, mặc dù tôi nghĩ rằng nhiều người thấy nhẹ nhõm bớt nhờ cái chết của ngài. Nhưng Hoàng hậu Nefertiti đứng bên cạnh giường ngài không khóc và không ai có thể hiểu nổi bà đang nghĩ gì. Tuy nhiên, bà vẫn đưa bàn tay xinh đẹp chạm vào những ngón tay gầy guộc của Pharaon Ekhnaton và vuốt má ngài khi tôi đến để giao thi thể ngài cho Nhà Chết theo trọng trách của mình. Nhà Chết và hoàng cung là nơi duy nhất còn sống động ở thành phố Akhetaton. Rồi tôi tiễn đưa Pharaon Ekhnaton đến Nhà Chết và giao thi thể ngài vào tay những người ngâm tẩm thi thể để họ bảo quản thi thể ngài sống mãi đời đời.
Theo quốc pháp và truyền thống, Sekenre trẻ tuổi là Pharaon, nhưng cậu ta thất thần vì đau buồn và nhìn chằm chằm xung quanh mà không thể thốt ra một lời nào rõ ràng, vì cậu ta đã quen nhận lấy tất cả suy nghĩ của mình từ Pharaon Ekhnaton. Eje và Horemheb thuyết phục cậu ta và bảo cậu ta phải gấp rút đến Thebes để dâng đồ hiến tế Amon nếu cậu ta muốn giữ vương miện trên đầu mình. Nhưng cậu ta không tin họ, vì cậu ta rất trẻ con và nằm mơ giữa ban ngày. Vì vậy, cậu ta nói:
- Tôi sẽ đem ánh sáng của Aton đến với dân chúng, xây dựng đền thờ phụ vương tôi, Ekhnaton, và thờ phụng ông như một vị thần trong đền, bởi vì phụ vương không giống như những người khác.
Người ta kể về tính nết trẻ con của cậu Sekenre này là khi đội lính canh theo hàng ngũ chỉnh tề, trật tự trốn khỏi thành phố bị nguyền rủa, cậu ta chạy theo sau họ khóc lóc, cầu xin họ trở lại vì Pharaon và nói với họ: “Chắc chắn các ngươi không thể từ bỏ nhà cửa, vợ con mình như thế này”. Nhưng lính Shardana và người Syria đã cười và chế nhạo cậu ta, một viên đội Shardana vạch quần mình ra và vừa cho cậu ta xem “chim” vừa nói: “Cái của này ở đâu, ở đấy là nhà và vợ con chúng ta”. Như thế, với tính trẻ con, Sekenre đã làm ô uế phẩm giá hoàng gia của mình khi khóc lóc và cầu xin những người lính đánh thuê quay trở lại.
Nhận thấy sự cứng đầu của cậu ta, Eje và Horemheb bỏ đi. Ngày hôm sau xảy ra chuyện, rằng vì đói nên cậu ta xuống sông để ném lao đâm cá, thuyền sậy của cậu ta bị lật và cậu bị cá sấu ăn thịt. Ít nhất là nghe kể lại như vậy, song tôi không biết thực hư thế nào. Tuy nhiên, tôi không tin Horemheb là người đã sai giết cậu ta mà có nhiều khả năng hơn là Eje, người đang muốn trở lại Thebes thật nhanh để giành lấy quyền lực.
Sau đó, Eje và Horemheb đến gặp Tut trẻ tuổi; cậu bé đang ở trong cung điện, chơi trò đám tang với búp bê trên sàn nhà như thường lệ và vợ cậu là Công chúa Ankhsenaton cùng chơi với cậu ta. Horemheb nói:
- Chào Tut, đã đến lúc cậu phải đứng dậy khỏi sàn nhà bẩn thỉu đó, bởi bây giờ cậu là pharaon.
Tut ngoan ngoãn đứng dậy, đi ngay đến ngồi lên ngai vàng và nói:
- Tôi là pharaon à? Tôi hoàn toàn không ngạc nhiên về điều đó, vì tôi luôn cảm thấy mình giỏi hơn những người khác và việc tôi trở thành pharaon là đúng. Tôi sẽ lấy roi trừng phạt tất cả những kẻ làm những điều sai trái và với cây trượng của mình, tôi sẽ chăm nom những người ngoan hiền và mộ đạo.
Eje nói:
- Đừng nói những điều ngu dốt nữa, Tut. Hãy làm theo mọi điều ta bảo, không được cằn nhằn gì hết. Trước tiên, chúng ta phải theo một đoàn rước trang trọng đến Thebes và ở Thebes, cháu cúi lạy Amon trong đền thờ lớn của ngài và dâng lễ cho ngài, các giáo sĩ sẽ xức dầu cho cháu và đặt chiếc vương miện màu đỏ và trắng lên đầu cháu. Cháu hiểu không?
Tut ngần ngừ một lúc rồi hỏi:
- Nếu cháu đến Thebes, người ta có xây cho cháu một lăng mộ giống như cho tất cả các pharaon vĩ đại không, các giáo sĩ có lấy đồ chơi, và ngai vàng, và giường đẹp cho vào đầy lăng mộ của cháu không? Vì những ngôi mộ này ở Akhetaton chật chội và xấu xí, mà cháu không muốn chỉ có những bức tranh trên tường mộ của mình, cháu muốn đồ chơi thật và cả con dao xanh tuyệt vời mà cháu được người Hittite tặng, cháu muốn mang nó theo xuống mộ.
- Chắc chắn các giáo sĩ sẽ xây cho cháu một ngôi mộ lớn, - Eje quả quyết. - Tut, cháu là một cậu bé khôn ngoan vì việc đầu tiên cháu nghĩ đến ngay khi trở thành pharaon là lăng mộ của mình, khôn ngoan hơn chính cháu nghĩ đấy. Nhưng trước hết, cháu phải đổi tên của mình. Tên Tutankhaton sẽ không được các giáo sĩ Amon chấp thuận. Vậy nên kể từ hôm nay, tên của cháu là Tutankhamon.
Tut hoàn toàn không phản đối mà chỉ muốn học cách viết tên mới của mình vì cậu ta không biết các ký hiệu để viết tên Amon. Thế là lần đầu tiên, tên Amon được viết xuống ở Akhetaton. Nhưng khi thấy Tutankhamon trở thành pharaon và mình bị quên hoàn toàn, Nefertiti đã mặc lên người bộ xống áo đẹp nhất, cho xức dầu thơm lên tóc và thân thể mình, mặc dù đang là góa phụ để tang chồng, rồi đi đến thuyền của Horemheb để gặp anh ta và nói:
- Thật nực cười khi một đứa con trai chưa đến tuổi thành niên trở thành pharaon và người cha Eje đáng nguyền rủa của ta đã tước đoạt từ tay ta quyền nuôi dưỡng nó và dùng quyền lực của nó để trị vì Ai Cập, cho dù ta là hoàng thái hậu. Cả cánh đàn ông cũng thích ngắm nhìn ta, gọi ta là một phụ nữ đẹp và ta được cho là người phụ nữ đẹp nhất Ai Cập, mặc dù điều này dĩ nhiên là tâng bốc. Vì vậy hãy nhìn ta xem, Horemheb, cho dù nỗi buồn đã làm mắt ta mờ đi và làm lưng ta còng xuống. Hãy nhìn ta, Horemheb, vì thời gian là quý giá; ngươi có các tay giáo dưới quyền mình, ngươi và ta có lẽ nên cùng nhau lên kế hoạch cho mọi việc, những điều có lợi cho Ai Cập. Ta công khai nói với ngươi những điều này, vì ta chỉ mong điều tốt nhất cho Ai Cập và ta biết rằng cha ta, Eje đáng nguyền rủa ấy, là lão già tham lam và xảo quyệt, có thể sẽ gây nhiều tai họa cho Ai Cập.
Horemheb nhìn Nefertiti và bà ta hé mở vạt áo trước mặt anh, vừa đung đưa quyến rũ vừa nói lều chỉ huy trên thuyền này quá nóng. Bà ta không biết chút gì về thỏa thuận bí mật giữa Horemheb và Eje, và vì là một phụ nữ, có lẽ bà ta đoán được phần nào nỗi niềm khát khao Horemheb dành cho Baketamon, nhưng bà ta nghĩ với sắc đẹp của mình, bà ta dễ dàng đánh bật nàng công chúa khờ khạo và kiêu ngạo ra khỏi tâm trí Horemheb. Trong hoàng cung này, bà ta đã quá quen với những chiến thắng dễ dàng khi để những vị khách khạc nhổ vào giường của Pharaon.
Nhưng sắc đẹp của bà ta không tác động gì đến Horemheb, mà anh ta chỉ lạnh lùng nhìn bà ta và nói:
- Tôi đã bôi trát quá đủ phân, rác lên người mình ở thành phố bị nguyền rủa này rồi nên không còn muốn làm bẩn mình thêm vì bà nữa, Nefertiti xinh đẹp. Hơn nữa, tôi còn phải đọc cho các lục sự viết nhiều văn thư liên quan đến cuộc chiến nên không có thời gian để đùa giỡn với bà.
Những điều này Horemheb đã kể cho tôi nghe sau đó, và chắc chắn có hơi thổi phồng khi kể, nhưng tôi nghĩ điểm chính là có thật, vì kể từ ngày ấy Nefertiti thù Horemheb đến uất hận, tìm đủ mọi cách để hại và làm hoen ố danh tiếng của anh ta; ở Thebes, bà ta làm thân với Công chúa Baketamon và việc này đã gây cho Horemheb bao nhiêu hậu họa, như sau này tôi sẽ buộc phải kể ra. Sẽ khôn ngoan hơn nhiều nếu như Horemheb không xúc phạm bà ta mà vẫn giữ tình bạn và bày tỏ sự trìu mến với bà trong nỗi buồn tang tóc. Nhưng Horemheb không còn muốn nhổ nước bọt xuống thi thể của Pharaon Ekhnaton nữa, bởi có một điều kỳ lạ là Horemheb vẫn yêu quý Pharaon Ekhnaton, dù đã cho xóa tên và hình ảnh của ngài khỏi tất cả các kinh sách, bia ký và phá nát đền thờ Aton ở Thebes. Để làm chứng cho điều này, tôi phải kể là chính Horemheb đã sai những người thân tín chuyển thi thể của Pharaon Ekhnaton ra khỏi mộ của ngài ở Akhetaton và bí mật giấu nó như một thi hài vô danh trong mộ của mẹ ngài ở Thebes để thi thể của Ekhnaton không rơi vào tay các giáo sĩ. Vì các giáo sĩ muốn đốt xác Ekhnaton và rải tro xuống sông để linh hồn đáng nguyền rủa của ngài phải muôn đời lang thang trong các hốc hẻm của địa ngục, nhưng Horemheb đã kịp hành động trước họ, cho giấu xác của Ekhnaton. Tuy nhiên, điều này chỉ xảy ra rất nhiều năm về sau.
❖ 6 ❖
Được Tutankhamon ưng thuận, Eje vội vàng sai kiếm thuyền và cả triều đình lên thuyền rời bỏ thành phố Akhetaton, khiến nơi đây không còn ai sinh sống trừ những người ngâm tẩm thi thể của Nhà Chết, những người sẽ giữ xác ướp của Pharaon Ekhnaton sống mãi muôn đời trong lăng mộ mà ngài đã sai đục đá, xây cho mình ở trái núi phía đông. Thế là những người dân cuối cùng chạy trốn khỏi Thành phố Thiên Đường, vội vã đến mức không ai ngoái nhìn lại. Trong hoàng cung, nồi bát vẫn chỏng chơ trên bàn giữa bữa ăn và đồ chơi của Tut vẫn nằm lăn lóc trên sàn để cậu chơi mãi trò đám tang không chán.
Gió sa mạc thổi bật tung các ô cửa sổ và cát rơi khắp sàn nhà, những đàn vịt chập chờn bay mãi muôn đời trong các bãi sậy xanh ngắt và đàn cá sặc sỡ bơi trong làn nước mát. Các khu vườn Akhetaton lại trở thành hoang mạc, những ao cá trong vườn khô trơ đáy, các mương tưới bị tắc nghẽn và cây ăn trái chết khô. Đất sét vỡ vụn từ tường các ngôi nhà, các mái nhà đổ sụp vào trong, thành phố Akhetaton biến thành đống đổ nát, chó hung sa mạc tru sủa trong các phòng sảnh trống trơn và làm ổ trên những chiếc giường êm ái dưới lọng che sặc sỡ. Thành phố Akhetaton đã chết như thế và chết nhanh hệt như khi ý muốn của Pharaon Ekhnaton đã thổi nó mọc lên nơi hoang vắng. Không ai dám lẻn vào đống đổ nát của nó để lấy những đồ quý giá bị chôn vùi hoài phí dưới lớp đất sét rã vụn, vì vùng đất này vĩnh viễn bị nguyền rủa và Amon sấy khô tay chân bất kỳ ai dám bước vào đây. Vì vậy, thành phố Akhetaton biến mất như chưa từng tồn tại, biến mất tựa một giấc mơ, một ảo ảnh.
Phía trước đoàn thuyền của Pharaon Tutankhamon, đội thuyền chiến của Horemheb lao đi như cơn lốc, trấn an dân chúng các vùng hai bên sông. Anh ta lập lại trật tự cho Thebes, chấm dứt nạn cướp bóc và không ai còn bị treo ngược trên tường vì Aton, bởi anh ta cần tất cả những ai còn sức chiến đấu cho cuộc chiến. Eje ra lệnh giương cờ hiệu của Pharaon mới dọc hai bên Đại lộ Nhân Sư và các giáo sĩ đã chuẩn bị nghi lễ hoành tráng nghênh đón Pharaon mới trong ngôi đền lớn. Tôi, Sinuhe, đã thấy Pharaon mới ngồi trong kiệu được rước đi dọc theo Đại lộ Nhân Sư, theo sau là Hoàng hậu Nefertiti và các con gái của Pharaon Ekhnaton; chiến thắng của Amon thật hoàn hảo. Các giáo sĩ xức dầu cho Pharaon mới trước tượng Amon ở nơi linh thiêng nhất và trước dân chúng, đặt chiếc vương miện màu đỏ và trắng, vương miện hoa huệ và giấy cói, vương miện của miền Thượng và miền Hạ lên đầu ngài để dân chúng thấy rằng Pharaon đã được họ tận tay trao quyền lực. Đầu họ cạo nhẵn, mặt họ bôi dầu thánh và Pharaon dâng cho Amon tất cả sự giàu có mà Eje đã vắt kiệt được từ đất nước đang kiệt quệ. Nhưng Hrihor đã thỏa thuận với Horemheb rằng Amon sẽ cho anh ta vay của cải của mình để phục vụ chiến tranh, vì những thông điệp đáng báo động lại đến từ hạ lưu và Horemheb đã thổi phồng lên để gieo rắc nỗi kinh hoàng và sợ hãi về quân Hittite trong dân chúng.
Dân chúng Thebes reo mừng cho Amon và Pharaon mới, dù ngài vẫn còn là một đứa trẻ, bởi lòng người thật khờ dại, luôn đặt hy vọng và niềm tin vào tương lai mà không học được chút gì từ những sai lầm của mình và luôn tưởng tượng ngày mai sẽ tốt hơn ngày hôm nay. Vậy nên dân chúng đứng đầy hai bên Đại lộ Nhân Sư, trước đền thờ và tất cả sân trước, vui mừng hò hét chào đón Pharaon mới và rắc hoa trên đường đi của ngài. Nếu ai đó không hò hét mà chỉ đứng lặng thinh và lầm lì thì cán giáo của binh lính Eje và Horemheb dạy họ biết phải làm gì nếu muốn yên lành.
Nhưng ở bến cảng và trong các khu phố nghèo, các đống đổ nát vẫn âm ỉ cháy, mùi khói khét lẹt từ đó bốc lên và sông sặc mùi tanh nồng của máu và xác chết. Từ trên mái đền, quạ và chim ăn thịt vươn chiếc cổ dính đầy máu quàng quạc, no nê đến mức không còn sức cất cánh bay lên; cá sấu dưới sông cũng no nê đến mức không còn muốn quẫy đuôi mà chỉ nằm ườn trên bờ, há rộng mõm cho những con chim nhỏ rỉa và làm sạch đồ ăn gớm ghiếc còn dính đầy trên răng chúng. Đây đó, len lỏi giữa đống đổ nát và những ngôi nhà bị cháy, đàn bà và trẻ nhỏ sợ hãi đào bới, tìm những đồ dùng trong ngôi nhà cũ của mình; con cái của những nô lệ và phu khuân vác đã bị giết đi theo sau các cỗ chiến xa của Pharaon để nhặt những hạt ngũ cốc chưa tiêu từ phân ngựa, vì nạn đói khủng khiếp vẫn hoành hành ở Thebes. Đi trên những cầu thuyền vẫn còn bốc mùi máu tanh tưởi, nhìn những chiếc sọt trống rỗng và thuyền bè không có hàng hóa, tôi, Sinuhe, nghĩ đến Merit và Thoth bé bỏng đã chết vì Aton và trái tim điên dại của tôi.
Bước chân đưa tôi đến đống đổ nát của Đuôi Cá Sấu và tôi nghĩ đến lời Merit từng nói với tôi: “Có lẽ em chỉ là tấm chăn che nỗi cô đơn của anh, khi em không phải là tấm thảm của anh”. Tôi cũng nghĩ đến Thoth bé bỏng, con trai tôi, dù khi ấy tôi không biết điều này, tôi thấy Thoth mũm mĩm trước mặt mình, vòng tay ôm cổ tôi và áp má vào má tôi. Mùi khói cay xè xộc vào mũi tôi khi tôi đi trong cát bụi bến cảng, và tôi thấy trước mặt mình thi thể Merit bị giáo đâm xuyên và cái mũi cùng mái tóc xoăn mềm đẫm máu của Thoth bé nhỏ. Tôi thấy tất cả hình ảnh này trước mắt mình và nghĩ cái chết của Pharaon Ekhnaton thật dễ dàng quá. Tôi nghĩ trên thế gian không có gì khủng khiếp hơn và nguy hiểm hơn những ảo mộng của các pharaon, vì chúng gieo rắc máu me, chết chóc và chỉ vỗ béo cá sấu. Tôi nghĩ như vậy khi bước đi trên bến cảng hoang vắng và từ phía xa trước ngôi đền vẳng đến tai tôi tiếng hò reo vui mừng của đám đông khi họ chào đón Pharaon Tutankhamon và tưởng tượng rằng cậu bé ngớ ngẩn chỉ mơ có lăng mộ đẹp này sẽ xóa bỏ bất công và lập lại hòa bình, đem lại thịnh vượng cho xứ Kemet.
Cứ thế, tôi bước đi theo sự dẫn lối của đôi chân mình và nhận ra tôi lại chỉ còn một mình; dòng máu tôi đã chảy phí hoài trong Thoth và chảy đi không trở lại nữa, tâm trí tôi không còn chút hy vọng nào về sự bất tử hay cuộc sống trường tồn, mà cái chết với tôi như sự nghỉ ngơi, như giấc ngủ và như nồi than hồng nóng ấm trong đêm lạnh lẽo. Thần của Pharaon Ekhnaton đã tước hết của tôi tất cả niềm vui và hy vọng, và tôi hiểu ra tất cả thần linh đều trú ngụ trong những ngôi nhà tối không có đường ra. Pharaon Ekhnaton đã uống cái chết từ tay tôi, nhưng điều này không đền bù được cho tôi bất cứ điều gì và với cái chết, ông đã uống vào trái tim mình sự quên lãng khoan dung. Nhưng tôi sống và không thể quên. Vậy nên nỗi phẫn uất như nước kiềm bào mòn tim tôi và tôi thấy căm giận tất cả mọi người, thấy căm giận cả đám dân chúng đang như bầy gia súc la hét trước đền thờ, ngu ngốc, dại dột hệt như trước đây và không học được gì từ những điều họ từng phải nếm trải.
Trên bến cảng đầy những đống đổ nát, tan hoang, chết chóc, nhưng từ đống sọt rỗng xuất hiện một hình người bò đến gần tôi. Đó là một người đàn ông nhỏ thó, gầy gò, chân tay teo tóp vì thiếu ăn từ nhỏ. Anh ta lè cái lưỡi đen thấm ướt môi và nhìn tôi với đôi mắt điên dại rồi hỏi:
- Có phải ông là Sinuhe, ngự y hoàng gia đã băng bó vết thương cho người nghèo vì Aton không?
Anh ta bật cười ghê rợn, rồi nhổm dậy, chỉ ngón tay vào tôi và nói:
- Có phải ông là Sinuhe, người đã phân phát cho dân chúng bánh mì và nói: “Đây là bánh của Aton, hãy lấy và ăn vì Aton”. Nếu phải, hãy vì tất cả thần linh âm phủ cho tôi một mẩu bánh mì, vì tôi đã trốn lũ lính canh mấy ngày nay và không dám xuống sông uống nước. Nhân danh tất cả các thần linh địa ngục, hãy cho tôi một mẩu bánh mì, vì nước miếng đã khô trong miệng tôi và bụng tôi sẽ xanh lại như cỏ.
Nhưng tôi không có bánh mì để cho, mà anh ta cũng không chờ đợi điều đó, vì anh ta đến chỉ để chế giễu tôi bởi nỗi phẫn uất của chính mình. Anh ta nói:
- Tôi từng có một túp lều, dù nó tồi tàn và tanh nồng mùi cá, song đó là lều của tôi. Tôi từng có vợ, dù cô ấy xấu xí, đói khát và gầy gò, nhưng cô ấy là vợ tôi. Tôi đã có những đứa con, dù chúng chịu đói khát ngay trước mắt tôi, nhưng chúng là con tôi. Túp lều của tôi giờ ở đâu, vợ tôi và các con tôi giờ ở đâu? Sinuhe, thần Aton của ông đã đưa họ đi, Aton, kẻ hủy diệt và tàn phá tất cả, đã đưa họ đi và tôi không còn gì khác ngoài rác rưởi trong nắm tay mình, và tôi sắp chết, nhưng tôi không hối tiếc.
Anh ta ngồi bệt xuống trước mặt tôi, ấn nắm tay vào cái bụng sưng phồng, đôi mắt điên dại nhìn chằm chằm về phía trước và thì thầm với tôi:
- Sinuhe, có lẽ trò chơi của chúng ta dù sao cũng có ích, vì dù tôi sẽ chết và đồng đội của tôi cũng chết, có thể ký ức về chúng tôi vẫn còn lại ở miệng dân chúng. Ký ức về chúng tôi có thể còn mãi trong trái tim của những người làm việc chân tay và bị gậy đánh vào lưng; họ sẽ vẫn nhớ đến chúng tôi khi Aton của ông đã bị lãng quên từ lâu và cái tên của Pharaon bị nguyền rủa của ông đã bị tẩy xóa khỏi tất cả kinh sách. Có thể ký ức mờ nhạt về chúng tôi sẽ còn mãi trong tâm trí dân chúng, trẻ em sẽ biết về chúng tôi qua những giọt sữa đắng cay của mẹ chúng và sẽ học từ sai lầm của chúng tôi. Khi đó, chúng sẽ biết ngay khi mới sinh ra điều mà chúng tôi phải học. Chúng sẽ biết không có sự khác biệt giữa người với người và máu là máu, dù nó chảy ra từ một trái tim đói khát hay từ một trái tim no đủ. Chúng biết nô lệ và người nghèo không nên tin lời các pharaon hay ngự y hoàng gia, không nên tin luật pháp hay lời của người quyền quý, mà chỉ dựa vào sức mạnh nắm đấm của mình và chúng cần ban hành luật lệ của riêng mình. Ai không đứng về phía mình là chống lại mình và trong việc này không có sự thương xót hay phân biệt giữa mọi người. Trong trái tim mình, Sinuhe, cả ông cũng không đứng về phía chúng tôi. Vì thế ông chống lại chúng tôi, mặc dù ông đã phát cho chúng tôi bánh mì và nói với chúng tôi những lời sáo rỗng về Aton của Pharaon. Tất cả thần linh đều giống nhau, tất cả các pharaon đều giống nhau và tất cả các quan quyền đều giống nhau, cho dù chính họ không thừa nhận điều đó. Tôi, Meti, người làm cá, nói điều này mà không có gì phải ân hận về lời nói của mình, bởi vì tôi sẽ sớm chết, xác tôi sẽ bị ném xuống sông và biến mất, không còn tôi nữa. Nhưng cái gì đó của tôi sẽ còn lang thang trên mặt đất và điều khiến ông nhận ra tôi là sự bồn chồn trong trái tim người nô lệ, là đốm than bí mật trong mắt họ và là vị đắng trong sữa của những bà mẹ gầy gò khi họ cho những đứa con khốn khổ của mình bú. Tôi, Meti, người làm cá, sẽ làm mọi thứ lên men cho đến khi tất cả nở bùng và mẻ bột lớn cuối cùng được nướng.
Qua lời nói và ánh mắt của anh ta, tôi nhìn thấy nỗi bất hạnh và sợ hãi đã khiến tâm trí anh ta trở nên u tối. Nhưng anh ta đã đưa bàn tay đầy sẹo quờ quạng chạm vào đầu gối tôi, giữ tôi lại và lầm bầm:
- Ông, Sinuhe, người biết đọc, biết viết và đã học rất nhiều, tất nhiên ông nghĩ rằng người làm cá không biết nghĩ, nhưng tôi đã có nhiều ngày đêm suy nghĩ trong khi nhai cỏ và mút lớp muối mặn mòi trên nan đan giỏ cá, dù suy nghĩ là việc làm rất khó và khiến người ta đau đầu. Vì thế, tôi đã biết sai lầm của chúng tôi là gì và tại sao chúng tôi phải chết. Vì chúng tôi từng có quyền lực và đất đai từng là của chúng tôi, nhưng chúng tôi không biết sử dụng quyền lực của mình mà chỉ bằng lòng với việc cướp bóc, tranh giành mồi thu được và nhậu nhẹt đến say xỉn vì ai cũng muốn được lợi nhiều nhất từ quyền lực của mình. Chúng tôi ăn và uống đến no nê khi lẽ ra phải giết, giết và giết không ngừng cho đến khi không còn ai không đứng về phía mình. Nhưng chúng tôi đã không học được nghệ thuật giết người trong sự khốn khổ, nghèo đói của mình, mà chúng tôi quá coi trọng sinh mạng con người, cho đến khi con mèo Pepitamo và lão Eje đen đúa dạy chúng tôi nghệ thuật chém giết bằng việc giết tất cả chúng tôi. Bài học này đã quá muộn để chúng tôi học, nhưng khi trốn trong chiếc sọt sậy rỗng, tôi đã mơ thấy rất nhiều cảnh giết chóc và tôi để lại những ác mộng này cho các thế hệ sau làm của thừa kế, những giấc mộng lẻn đi trong bóng tối khi tôi đã chết, len lỏi vào giấc mơ của những nô lệ và người nghèo khổ cho đến khi ngón tay và ngón chân họ bắt đầu run lên; họ mơ những giấc mơ của tôi khi tôi đã chết từ lâu.
Anh ta chằm chằm nhìn tôi với đôi mắt bừng bừng như đang sốt và siết chặt đầu gối tôi bằng đôi tay đầy sẹo. Lúc đó tôi quỳ xuống chỗ đầy bụi đất trước mặt anh ta, giơ hai tay lên và nói:
- Người làm cá Meti, ta thấy ngươi giấu dao dưới tấm áo rách rưới của ngươi. Hãy giết ta đi, nếu nghĩ ta có tội. Hãy giết ta đi, Meti, vì ta quá mệt mỏi khi mơ thấy những giấc mơ và ta không còn vui thích gì nữa. Hãy giết ta nếu ngươi thấy việc ấy có thể trả thù cho mình. Ta không thể làm gì khác cho ngươi được nữa.
Anh ta lấy con dao đánh vảy cá từ thắt lưng ra, quệt đi quệt lại lưỡi dao vào lòng bàn tay đầy sẹo của mình và nhìn tôi cho đến khi mắt trở nên mờ đục, rồi anh ta bắt đầu khóc, vứt con dao đi và nói:
- Giết người chẳng ích gì, bây giờ tôi hiểu điều đó, việc chém giết không đem lại lợi ích gì cả vì lưỡi dao mù quáng đâm vào kẻ có tội và cả người vô tội. Không, Sinuhe, hãy quên lời tôi nói và tha thứ cho sự độc ác của tôi, vì khi một người cầm dao đâm vào người khác chính là đâm vào anh em mình và có lẽ chúng tôi, những người nô lệ khốn khổ, hiểu điều đó trong tim mình, vì thế chúng tôi không thể giết người. Và có lẽ vì thế, cuối cùng chúng tôi mới là người chiến thắng, chứ không phải những người đã giết chúng tôi. Họ là người thua và đánh mất chính mình khi giết người. Sinuhe, người anh em của tôi, có lẽ sẽ đến ngày con người coi người khác là anh em mình mà không giết người ấy. Vậy hãy để tiếng khóc của tôi làm của thừa kế cho những người anh em khi tôi chết. Hãy để tiếng khóc của Meti, người làm cá, len lỏi vào giấc mơ của người nghèo và nô lệ. Hãy để những bà mẹ ru những đứa con gầy guộc của họ bằng tiếng khóc của tôi. Thỉnh thoảng, hãy để tiếng khóc của tôi nức nở khi các thớt đá đang xay, để bất cứ ai nghe được bằng trái tim có thể tìm thấy những người anh em xung quanh họ.
Anh ta vỗ nhẹ bàn tay đầy sẹo vào má tôi, những giọt nước mắt nóng hổi từ mắt anh ta rơi xuống tay tôi và mùi tanh nồng của người làm cá từ anh ta xộc vào mũi tôi khi anh ta nói:
- Hãy đi đi, Sinuhe, người anh em của tôi, kẻo lính gác bắt gặp ông và ông có thể bị hại vì tôi. Đi đi, nhưng hãy để tiếng khóc của tôi theo từng bước chân ông cho đến khi đôi mắt ông mở to nhìn thấy tất cả những gì tôi thấy lúc này, để cuối cùng những giọt nước mắt của tôi sẽ quý giá hơn ngọc trai và đá quý với ông. Vì vào giây phút này, tôi không chỉ khóc một mình, mà trong tôi, họ hàng của những người bị bắt làm nô lệ và những người thua đang khóc. Nước mắt của tôi là nước mắt của hàng triệu, hàng triệu con người đã làm mặt đất già nua và đầy sẹo từ nước mắt của họ. Nước chảy trong sông là nước mắt của những người sống trước chúng ta, còn nước mưa rơi xuống mặt đất nơi xứ lạ là nước mắt của những người sinh ra sau chúng ta nơi trần thế. Khi biết điều này, ông không còn cô đơn nữa, Sinuhe ạ.
Anh ta gục xuống đất trước mặt tôi, những ngón tay co quắp của anh cào bụi đất trên cầu thuyền, và nước mắt anh rơi xuống thành những hạt ngọc tròn xam xám trong cát bụi. Nhưng tôi không hiểu lời anh ta nói dù tôi đã sẵn sàng chết dưới tay anh ta, do đó tôi chạy khỏi anh ta và đưa bàn tay ướt đẫm nước mắt của anh ta chùi vào tấm choàng vai của mình, mùi của anh ta đọng lại ghê ghê trong mũi tôi. Thế là tôi quên anh ta và đi theo bước chân mình, sự phẫn uất như nước kiềm bào mòn trái tim tôi, vì tôi thấy nỗi buồn đau và cô đơn của chính mình lớn hơn nỗi buồn đau và cô đơn của bất cứ ai.
Thế là đôi chân đã đưa tôi đến đống đổ nát của ngôi nhà đúc đồng trước đây. Những đứa trẻ giật mình sợ hãi, vội vã lẩn đi và những người vợ đang đào đống đổ nát để tìm kiếm đồ dùng gia đình cũng che mặt lại khi thấy tôi.
Ngôi nhà trước đây là xưởng đúc đồng đã bị cháy trụi, những bức tường đất sét dính đầy bồ hóng nhô cao, ao trong vườn đã cạn nước, những cành sung trụi lá và đen thui. Nhưng ai đó đã dựng một cái lều trên đống hoang tàn và tôi thấy một vò nước ở đó. Muti, mái tóc hoa tiêu dính bùn, đi về phía tôi với đôi chân bị thương khập khiễng. Tôi nghĩ có khi đó là bóng ma của bà ấy và tôi chợt rùng mình, nhưng bà ấy cúi gập người trước mặt tôi, đầu gối run run và chua chát nói:
- Đội ơn ngày đã đưa ông chủ tôi về nhà.
Bà ấy không thể nói thêm lời nào nữa, vì nỗi uất hận làm giọng bà nghẹn lại và bà ngồi bệt xuống đất, đưa tay che mặt để không phải nhìn tôi. Cơ thể gầy guộc của bà đầy vết thương do quân sừng đánh, chân bà bầm tím, nhưng các vết thương đã thành sẹo và tôi thấy không thể làm gì được nữa sau khi đã kiểm tra chúng bất chấp sự ngăn cản của bà. Tôi hỏi bà:
- Kaptah ở đâu?
- Kaptah đã chết, - bà đáp. - Người ta nói những người nô lệ đã giết ông ta khi thấy ông ta cho lính của Pepitamon uống rượu và phản bội họ.
Nhưng tôi không tin lời bà ấy, vì tôi biết Kaptah không thể chết, Kaptah sẽ luôn sống sót dù chuyện gì xảy ra đi nữa.
Thấy tôi không tin, Muti vô cùng bực tức và nói:
- Sinuhe, chắc bây giờ ông thấy nhẹ nhõm và dễ dàng cười, sau khi đã đạt được tất cả điều mình mong muốn và nhìn thấy Aton của ông ăn mừng. Tất cả đàn ông đều giống nhau và tất cả những điều xấu xa trên thế gian đều xuất phát từ đàn ông, vì đàn ông không bao giờ chịu trưởng thành mà mãi mãi là những đứa trẻ ranh, lấy đá ném nhau và đánh nhau bằng gậy, đấm vào mũi nhau đến chảy máu và ham muốn lớn nhất của họ là mang lại đau khổ cho những ai yêu thương họ và mong cho họ điều tốt lành. Sinuhe, không phải tôi lúc nào cũng thực sự mong điều tốt cho ông sao, vậy mà tôi được trả công bằng gì? Một cái chân què, những vết thương trên người do quân sừng đánh và một nắm đại mạch mốc để nấu cháo. Nếu vì bản thân thì tôi không bao giờ than vãn, mà vì Merit, người đã quá tốt với ông, người mà ông đã cố tình đẩy vào cái chết, như thể chính ông đâm dao vào trái tim cô ấy, bởi vì ông là một gã đàn ông. Tôi đã khóc đến cạn nước mắt vì bé Thoth mà tôi coi như con đẻ của mình, nướng bánh mật ong và hết lòng yêu thương để hãm bớt bản tính đàn ông hung dữ của cậu bé. Nhưng ông đâu để ý đến những điều này, mà chắc chắn ông hài lòng về đây, thân thể bị đánh đập, mặt mày ghẻ lở và phung phí hết của cải của mình, để nghỉ ngơi dưới căn lều mà tôi đã khó nhọc, vất vả dựng lên trên đống đổ nát của nhà ông và để tôi cho ông ăn. Tôi cược rằng khi mặt trời chưa kịp lặn, ông lại bắt đầu mè nheo đòi bia và ngày mai, ông sẽ đánh tôi bằng gậy khi tôi không chăm chỉ hầu hạ ông, bắt tôi thay ông làm việc để ông có thể nằm khoèo vì đó là bản chất của đàn ông và tôi không hề ngạc nhiên vì điều đó.
Bà đay nghiến tôi như thế mà không nghĩ gì tới lời mình nói, cho đến khi tiếng rầy la của bà trở nên quá thân thuộc với tôi khiến tôi nhớ đến mẹ Kipa, nhớ đến Merit và lòng tôi tràn ngập nỗi xót xa, uất ức không thể nào tả nổi và nước mắt tôi trào ra. Thấy thế, bà hốt hoảng nói:
- Ông phải biết chứ, Sinuhe, gã đàn ông điên rồ kia, rằng tôi không có ý xấu với lời mình nói mà chỉ cốt để ông sáng mắt ra. Thực ra tôi vẫn còn cất giấu một vốc hạt và sẽ xay ngay bây giờ rồi nấu cho ông bát cháo ngon, rồi tôi sẽ rải sậy khô trên đống đổ nát kia làm nệm cho ông nằm, dần dần ông nên hành nghề lại và chúng ta sẽ sống qua ngày được. Nhưng ông cũng đừng lo lắng về việc này, vì tôi đã đi giặt thuê cho các nhà giàu có nhiều quần áo dính máu và tôi còn có thể kiếm thêm được nữa. Tôi nghĩ tôi có thể vay được một hũ bia từ nhà vui, nơi quân lính lấy làm doanh trại, để ông có thể khuây khỏa lòng mình. Đừng khóc lóc thảm thiết thế, Sinuhe con trai ta, vì khóc đâu còn ích lợi gì; con trai là con trai, là phải nghịch ngợm, khiến những người mẹ, người vợ phải khổ sở vì những trò quái quỷ, và ta làm gì được với những điều ấy, xưa đã thế và sau này vẫn thế. Nhưng tôi không muốn ông mang những vị thần mới về ngôi nhà này nữa, bởi nếu ông làm vậy, tôi e rằng khắp Thebes sẽ không còn đá. Tôi không muốn thế, mặc dù tôi chỉ là một mụ già tầm thường và không thể khuyên nhủ một người đàn ông có học. Tôi yêu quý Merit hơn cả con gái ruột của mình, nếu như tôi biết chút gì về việc này, vì tôi không có con đẻ, vì tôi là mụ đàn bà xấu xí và rất khinh thường đàn ông. Nhưng tôi cũng buộc phải nói rằng Merit không phải là người phụ nữ duy nhất trên thế gian, mà trên thế gian còn có những người đàn bà khác để ông vui cùng, miễn là ông ngừng khóc, bình tĩnh lại và để thời gian trôi đi. Thực vậy, Sinuhe, thời gian là liều thuốc nhân từ nhất, thời gian sẽ như cát phủ lên nỗi buồn của ông, và ông sẽ thấy trên thế gian này còn có những người đàn bà khác có thể xoa dịu thứ của quý nhỏ bé dưới khố ông, rồi ông sẽ thỏa mãn và lại béo lên, một khi đó là cái việc quan trọng nhất đối với đàn ông. Ôi trời ơi, Sinuhe, ông chủ của tôi, sao ông lại gầy đến thế, má đã hõm sâu đến nông nỗi này. Nhưng tôi sẽ nấu cháo ngon cho ông ăn, sẽ làm món rau nghiền từ mầm sậy non và vay cả bia cho ông uống, miễn là ông đừng khóc nữa.
Lời bà ấy nói khiến tôi xấu hổ vì đã để nước mắt rơi, nên tôi bình tĩnh lại và nói:
- Tôi hoàn toàn không đến đây để làm phiền bà, Muti yêu quý, mà tôi lại đi ngay đây và có thể rất lâu không trở lại, nếu như có trở lại một lúc nào đó. Vì vậy trước khi đi, tôi muốn nhìn lại ngôi nhà nơi tôi đã từng hạnh phúc, tôi muốn xòe tay vuốt ve thân cây sung dâu sần sùi của tôi, và tôi muốn đưa tay chạm vào ngưỡng cửa bằng đá nhà mình, nơi gót chân Merit và Thoth nhỏ bé đã làm mòn vẹt.
Đừng lo cho tôi, Muti ạ, tôi không thể ăn hạt mì của bà vì tôi biết ở Thebes đang rất thiếu thốn, mà tôi sẽ cố gắng gửi cho bà ít bạc để bà có thể chi dùng khi tôi đi vắng. Nhưng vì những lời của bà, tôi cầu xin phước lành cho bà, Muti ạ, như thể bà là mẹ tôi, vì bà là một phụ nữ nhân hậu, mặc dù lời nói của bà đôi khi chọc đau như ong bắp cày.
Muti bắt đầu sụt sịt và dùng mu bàn tay thô ráp lau nước mũi, không cho tôi đi mà nhóm lửa và chuẩn bị thức ăn cho tôi từ chỗ lương thực còn lại ít ỏi của mình, khiến tôi buộc phải ăn để không làm phật lòng bà, dù mỗi miếng ăn cứ nghẹn đắng lại trong cổ họng. Muti nhìn tôi ăn, gật gù và vừa khịt mũi vừa nói:
- Ăn đi, Sinuhe, ăn đi, gã đàn ông điên rồ kia, mặc dù hạt mạch của tôi ẩm mốc, thức ăn của tôi kinh khủng và cháy khét, mà tôi không hiểu chuyện gì xảy ra với tôi hôm nay, khi loay hoay mãi mới nhóm được lửa và bánh mì lấm đầy tro. Nhưng ăn đi, Sinuhe, vì thức ăn sẽ chữa lành mọi phiền muộn, thức ăn làm người khỏe ra, làm tâm hồn sảng khoái và không gì tốt hơn thức ăn khi con người ta đã khóc rất nhiều và thấy mình quá cô đơn. Tôi đoán ông lại đi và cái đầu ngu ngốc của ông lại lao vào mọi ô lưới và cạm bẫy giăng trên đường ông đi, nhưng tôi không thể làm gì được và tôi không thể ngăn cản ông. Vì vậy, hãy ăn đi để có đủ sức, Sinuhe, rồi trở lại nữa. Tôi sẽ cầu nguyện cho ngày ông quay lại, thưa ông chủ, và tôi sẽ trung thành đợi ông. Cũng đừng lo lắng cho tôi, nếu ông thiếu bạc, như tôi đoán, vì ông đã phân phát hết của cải của mình cho nô lệ và người nghèo, những người không cảm ơn ông về điều đó mà chế nhạo sự ngu dại của ông. Đừng lo lắng cho tôi, tuy tôi đã già và khập khiễng vì bị thương, nhưng tôi rất dẻo dai và sẽ kiếm đủ bánh ăn bằng việc giặt thuê và nấu nướng, chừng nào ở Thebes còn bánh, miễn là ông trở lại, thưa ông chủ.
Thế là tôi ngồi đến tối trên đống đổ nát của ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng trước đây và ngọn lửa nhỏ bà Muti nhóm đã chiếu ánh sáng cô đơn lên bóng tối đầy muội than. Nhưng dù sao đây là ngôi nhà duy nhất mà tôi có trên thế gian. Vì thế, tôi đưa tay vuốt ve cái thân sần sùi của cây sung dâu và nghĩ có thể mình sẽ không bao giờ trở lại; tôi đưa tay vuốt ve bậc cửa cũ nát của ngôi nhà và nghĩ chắc chắn mình sẽ không bao giờ trở lại; rồi tôi đưa tay chạm vào các nốt sần trên bàn tay người mẹ, Muti, và nghĩ có lẽ tốt nhất là tôi không bao giờ trở lại vì tôi luôn mang đau khổ và bất hạnh đến cho những người yêu thương tôi. Bởi vậy, thà tôi sống và chết trong cô đơn, như tôi đã cô đơn đến trong đêm tối trên con thuyền sậy trôi xuôi dòng sông vào đêm tôi được sinh ra.
Khi các vì sao đã nhấp nháy và lính gác bắt đầu dùng thân giáo đập vào khiên của họ trong các con hẻm đổ nát của bến cảng để làm dân chúng sợ, tôi tạm biệt Muti và rời ngôi nhà vốn là xưởng đúc đồng ở khu nghèo của Thebes để trở lại hoàng cung của Pharaon một lần nữa. Khi tôi đi dọc các con phố ra bờ sông, bầu trời đêm lại rực đỏ phía trên Thebes, ánh đèn từ các con phố chính chiếu sáng vào màn đêm và âm thanh dữ dội của các nhạc cụ từ phố trung tâm vọng đến tai tôi, vì đêm nay là đêm lên ngôi của Pharaon Tutankhamon và đêm lễ hội ở Thebes.
❖ 7 ❖
Nhưng cũng trong đêm đó, các giáo sĩ già đã miệt mài làm việc trong đền thờ Sekhmet, dọn sạch cỏ mọc giữa các viên đá lát nền, đặt tượng đầu sư tử vào chỗ cũ, phủ lên nó vải lanh đỏ và trang trí với những phù hiệu của chiến tranh và chết chóc. Vì sau khi đặt lên đầu Tutankhamon vương miện của cả hai vương quốc, đỏ và trắng, hoa huệ và giấy cói, Eje nói với Horemheb:
- Thời khắc của tướng quân đã đến, con trai chim ưng. Hãy ra lệnh thổi tù và tuyên bố cuộc chiến bắt đầu. Hãy để máu như cơn lũ tẩy sạch vùng đất Kemet để tất cả trở lại như trước và dân chúng quên đi ký ức về Pharaon giả.
Vì vậy ngày hôm sau, khi Pharaon Tutankhamon cùng hoàng phi của mình chơi trò đám tang với búp bê trong hoàng cung và các giáo sĩ Amon say quyền lực, đốt hương thánh trong ngôi đền lớn và nguyền rủa tên Pharaon Ekhnaton đến muôn đời, Horemheb ra lệnh thổi tù và ở tất cả các góc phố, các cánh cổng bằng đồng của đền Sekhmet được mở tung và Horemheb cùng đội quân danh dự của mình diễu hành dọc theo Đại lộ Nhân Sư vào hiến tế cho thần Sekhmet. Các giáo sĩ đã được nhận phần của mình, thợ đục đá đã dùng đục phá đá ở tất cả các thánh đường, cung điện và lăng mộ để vĩnh viễn xóa sạch cái tên Pharaon Ekhnaton bị nguyền rủa khỏi tất cả các kinh sách, bia ký để ký ức về ngài sẽ bị lãng quên. Pharaon Tutankhamon đã có phần của mình, vì các thợ xây hoàng gia đã bàn bạc với nhau về địa điểm xây lăng mộ cho ngài. Eje đã nhận được phần của mình, là cánh tay phải của Pharaon, ông ta cai trị xứ Kemet, ấn định thuế, luật lệ, việc cống nạp, việc thưởng phạt và đồng ruộng của pharaon. Giờ đến lượt Horemheb cũng được nhận phần mình và tôi theo anh ta đến đền Sekhmet vì anh ta muốn cho tôi thấy quyền lực của mình trong sự huy hoàng vĩ đại của nó, khi giờ đây, cuối cùng anh ta cũng có được cuộc chiến mà anh ta đã mưu tính và theo đuổi suốt cuộc đời.
Tuy nhiên, tôi cũng phải có lời khen Horemheb rằng vào thời điểm anh ta thắng cuộc, anh ta coi khinh mọi sự hào nhoáng bề ngoài và chỉ muốn gây ấn tượng với dân chúng bằng cách ứng xử mộc mạc của mình. Vì vậy, anh ta đến đền thờ trong cỗ chiến xa vững chắc, trên bờm ngựa không có ngù rủ và hai bên bánh xe không có vàng sáng loáng. Thay vào đó, những mảnh đồng ở hai bên xe được đánh bóng sắc lẹm; lính giáo và lính cung diễu hành thẳng tắp phía sau anh ta, tiếng bước chân trần của họ trên đá Đại lộ Nhân Sư nhịp nhàng, dũng mãnh như tiếng sóng biển vỗ vào vách đá và lính da đen đánh thùng thùng những chiếc trống bọc da người lúc diễu hành.
Dân chúng lặng lẽ và sợ hãi nhìn theo dáng người cao lớn của anh ta nhô cao lên trên cỗ chiến xa dẫn đầu và các đội quân của anh ta lấp loáng sự no đủ trong khi cả vương quốc đang đương đầu với nạn đói. Dân chúng im lặng nhìn đoàn diễu hành của Horemheb đến đền Sekhmet như thể họ đoán được sau đêm lễ hào nhoáng, say sưa này, những đau khổ của họ sẽ bắt đầu. Đến trước đền, Horemheb rời cỗ xe và đi bộ vào đền, theo sau là các phò tá; các giáo sĩ, mặt mũi, tay chân và quần áo vẫn còn dính máu tươi, đón họ rồi dẫn họ đến trước tượng Sekhmet. Nữ thần được khoác một chiếc áo choàng đỏ thẫm, chiếc áo đẫm máu vật hiến tế dính chặt vào thân hình đá của thần, bộ ngực đá vồng lên đầy kiêu hãnh và máu rỉ xuống từng giọt từ dưới chiếc áo. Trong ánh nhập nhoạng của ngôi đền, cái đầu sư tử hung dữ của thần dường như đang chuyển động và đôi mắt đá quý nhìn chằm chằm vào Horemheb khi anh ta bóp đến vỡ quả tim vẫn còn nóng hổi của vật hiến tế trong bàn tay mình trước bàn thờ và cầu xin nữ thần ban cho chiến thắng. Các giáo sĩ vừa hoan hỉ nhảy điệu múa ăn mừng xung quanh anh ta vừa dùng dao tự gây thương tích cho mình và đồng thanh hét lên:
- Hãy là người chiến thắng trở về, Horemheb, con trai chim ưng. Hãy trở về là người chiến thắng, nữ thần sẽ hạ xuống bên tướng quân, sống động và trần truồng ôm ấp ngài.
Nhưng Horemheb không để điệu nhảy múa và tiếng reo hò của các giáo sĩ quấy rầy sự bình tâm của mình mà lạnh lùng, trang nghiêm thực hiện các nghi lễ theo phong tục, sau đó rời khỏi đền. Trong khi anh ta làm lễ hiến tế, đám đông dân chúng hoảng sợ theo tiếng tù và mời gọi kéo đến tập trung ở sân đền và quảng trường phía ngoài đền. Khi ra khỏi đền, Horemheb giơ hai bàn tay dính máu lên và nói với dân chúng:
- Hãy nghe ta nói, hỡi muôn dân xứ Kemet, vì ta là Horemheb, con trai chim ưng, ta mang chiến thắng và vinh quang muôn đời trong tay mình cho tất cả những ai muốn theo ta vào cuộc thánh chiến. Ngay lúc này đây, các cỗ chiến xa của quân Hittite đang làm rung chuyển sa mạc Sinai, tiền quân của chúng đang tàn phá miền Hạ và chưa bao giờ xứ Kemet bị đe dọa nghiêm trọng như lúc này, bởi vương triều Kykos cổ xưa so với quân Hittite vẫn còn hiền lành và nhân đức. Quân Hittite đang đến đông vô kể và sự tàn ác của chúng thật khủng khiếp với tất cả các bộ tộc. Chúng sẽ phá hủy nhà của các ngươi, chọc mù mắt các ngươi, hãm hiếp vợ các ngươi và bắt con các ngươi làm kiếp nô lệ xoay cối, xay đá. Hạt đại mạch không mọc được nơi chiến xa của chúng đi qua và đồng ruộng biến thành hoang mạc nơi vó ngựa của chúng giày xéo. Vì vậy, cuộc chiến mà ta tuyên bố chống lại chúng là một cuộc chiến thần thánh, bởi đó là cuộc chiến vì mạng sống của các ngươi và vì các thần linh của xứ Kemet, vì con cái và nhà cửa của các ngươi. Nếu chiến thắng, chúng ta sẽ chinh phục lại Syria sau khi đánh bại quân Hittite và lấy lại sự giàu có của xứ Kemet; sự thịnh vượng trước đây cũng sẽ trở lại và mỗi một người dân lại được no đủ. Những kẻ ngoại bang đã làm nhục xứ Kemet quá lâu rồi, sự yếu kém thảm hại và các loại vũ khí nực cười của chúng ta đã bị chế nhạo một thời gian quá dài rồi. Thời khắc đã điểm và ta sẽ khôi phục lại danh tiếng thiện chiến của Kemet. Những ai tự nguyện theo ta, ta sẽ bảo đảm đủ lương thực, ta sẽ bảo đảm đủ phần chiến lợi phẩm cho người ấy, và chiến lợi phẩm sẽ nhiều vô kể để những ai cùng ta trở về trong ngày chiến thắng sẽ giàu có, hơn nhiều so với những gì họ từng mơ ước. Còn ai không tự nguyện theo ta mà chỉ đi vì bắt buộc, người đó sẽ phải è cổ vác quân dụng của những người khác, phải chịu đựng sự chế nhạo và thấy nhục nhã vì không được nhận phần chiến lợi phẩm. Vì vậy, ta tin tưởng và hy vọng rằng tất cả đàn ông trên đất Ai Cập, những ai có trái tim đàn ông và có thể giơ giáo bằng cánh tay mình sẽ tự nguyện theo ta. Bây giờ chúng ta thiếu thốn mọi thứ và nạn đói bám sát gót chúng ta, nhưng sự dư dả sẽ đến sau chiến thắng và tất cả những ai chết trong trận chiến giành tự do cho xứ Kemet sẽ bước thẳng vào cánh đồng hạnh phúc, không phải lo lắng về việc lưu giữ thi thể của mình mà thần linh Ai Cập sẽ chăm sóc anh ta. Chỉ cố gắng hết sức mới giành được đại thắng. Vì vậy, hỡi đàn bà Ai Cập, hãy bện tóc mình thành dây cung và vui vẻ tiễn chồng và con các ngươi vào cuộc thánh chiến. Hỡi đàn ông Ai Cập, hãy rèn vòng của các ngươi thành mũi giáo và đi theo ta, ta sẽ cho các ngươi một cuộc chiến chưa từng thấy trên mặt đất. Linh hồn của các pharaon vĩ đại sẽ sống dậy chiến đấu cùng chúng ta. Tất cả thần linh Ai Cập, trước tiên là Amon linh thiêng, sẽ chiến đấu bên cạnh chúng ta. Chúng ta sẽ đuổi quân Hittite khỏi xứ đất đen như một trận lũ cuốn lùa rơm trên đường đi của nó. Chúng ta sẽ giành lại sự giàu có của Syria và lấy máu rửa sạch nỗi nhục của Ai Cập. Hãy nghe ta, tất cả quốc dân. Horemheb, con trai chim ưng, người chiến thắng, hiệu triệu.
Nói xong, anh ta hạ bàn tay đầy máu xuống bên hông, vồng ngực rắn chắc phập phồng gấp gáp vì anh ta đã cố sức nói, gào rất to. Anh ta vừa dứt lời, tiếng tù và vang lên, quân lính đập mũi giáo vào khiên và giậm chân xuống đất, đây đó vang lên tiếng hô từ trong đám đông, cho đến khi tiếng hô ấy nổi lên thành bão, cả đám đông gào lên mừng vui và giơ cao tay, máu dâng lên đầu, họ gào to hơn, mặc dù tôi nghĩ nhiều người không biết tại sao họ lại gào. Horemheb mỉm cười và bước lên cỗ chiến xa. Quân lính dẹp đường cho anh ta, dân chúng cuồng lên vì mừng vui chào đón anh ta ở cả hai bên Đại lộ Nhân Sư. Lúc ấy, tôi hiểu ra rằng niềm vui lớn nhất của người dân là được hò hét cùng nhau, chứ không phải họ hét vì điều gì, vì khi hét lên cùng người khác, ai nấy đều cảm thấy mình mạnh mẽ và việc để họ vui mừng gào lên là việc luôn luôn đúng. Còn Horemheb khá hài lòng và từ trên cỗ chiến xa kiêu hãnh giơ tay lên vẫy vẫy.
Anh ta cho đánh chiến xa thẳng đến bến cảng để bước lên chiến thuyền của thống lĩnh và vội vã rời đi Memphis, vì anh ta đã ở lại Thebes quá lâu và theo các nguồn tin thân cận nhất, quân Hittite đang chăn thả ngựa ở Tanis. Tôi lên thuyền theo anh ta và không ai ngăn tôi khi tôi đến gần anh ta và nói:
- Horemheb, Pharaon Ekhnaton đã chết, vì thế tôi không còn là danh y khoan sọ hoàng gia nữa, mà có thể tự do đi, về theo ý muốn của mình và không gì cản được tôi. Vì vậy tôi định theo anh và ra trận cùng anh, vì với tôi bây giờ, tất cả đều như nhau và tôi không còn vui vẻ với bất cứ điều gì. Nói thật, tôi muốn được thấy cuộc chiến mà cả đời mình anh luôn nhắc đến sẽ mang lại điều phúc lành gì. Tôi thật sự muốn thấy điều đó và muốn thấy liệu quyền lực của anh có tốt hơn của Ekhnaton hay không, hay chỉ các linh hồn của địa ngục cai trị thế giới.
Horemheb hết sức mừng rỡ và nói:
- Cầu mong đây là điềm tốt, mặc dù tôi không thể nghĩ rằng anh, Sinuhe, sẽ là người đầu tiên tình nguyện bước vào cuộc chiến này. Không, tôi không tin được điều này từ anh vì tôi biết anh thích sự nhàn hạ và chiếc giường êm ái hơn là những gian khổ của chiến trường. Thực tình tôi đã nghĩ anh sẽ canh giữ những lợi ích của tôi ở Thebes khi cần mẫn gieo trồng sự quen biết của anh trong hoàng cung, nhưng có lẽ như thế này tốt hơn, vì anh là người đàn ông chân chất, ai cũng có thể dắt mũi anh và kể lể cho anh nghe chuyện của mình, vậy nên nếu anh theo tôi, ít nhất tôi sẽ có một thầy thuốc giỏi bên mình và tôi nghĩ mình cần một người như thế. Quả thật, Sinuhe, lính của tôi đã đúng khi gọi anh là Con Trai Lừa Hoang khi chúng ta cùng nhau chiến đấu chống lại quân Khabiri, vì rõ ràng anh có trái tim của lừa hoang bởi anh không sợ quân Hittite.
Trong khi anh ta nói chuyện với tôi, các tay chèo đẩy thuyền rời cầu thuyền rồi hạ mái chèo xuống nước và con thuyền căng buồm lướt trên sông, hàng cờ hiệu bay phấp phới. Dân đứng trắng kín bến cảng của Thebes và tiếng reo hò của họ như một cơn bão tràn đến tai chúng tôi. Horemheb hít một hơi thật sâu, mỉm cười và nói:
- Lời hiệu triệu của tôi đã có sức khích lệ mạnh với dân chúng, anh thấy chứ. Nhưng chúng ta vào khoang thống lĩnh của tôi đi, vì tôi muốn rửa sạch máu thiêng khỏi tay.
Tôi theo anh ta vào khoang thống lĩnh trên thuyền, anh ta đuổi viên ký lục của mình ra ngoài rồi rửa sạch vết máu trên tay, ngửi ngửi tay và lạnh lùng nói:
- Nhân danh Seth và tất cả các ác quỷ, tôi không thể nào tin là các giáo sĩ của Sekhmet vẫn làm lễ hiến tế người. Nhưng mấy lão già đó chắc rất phấn khích, vì ít nhất là đã bốn mươi năm cổng đền Sekhmet không được mở. Khi họ đòi tù nhân Hittite và Syria cho lễ hiến tế, tôi không khỏi ngạc nhiên, nhưng đã chiều theo ý họ.
Nghe lời này của anh ta, tôi kinh hãi đến nỗi đầu gối mềm rũ, nhưng Horemheb vẫn thản nhiên nói tiếp:
- Nếu biết điều đó, chắc chắn tôi không cho phép, và Sinuhe, anh có thể tin là tôi đã rất kinh hoảng khi nhận vào tay mình một trái tim người còn ấm máu trước bàn thờ. Vì thế tôi phải rửa tay ngay, nhưng nếu Sekhmet chịu hỗ trợ vũ khí cho chúng tôi, thì việc đó cũng đáng, vì tôi thật sự cần nhiều sự trợ giúp nhất có thể và hơn thế nữa, mặc dù tôi nghĩ một vài lưỡi giáo được rèn có lẽ sẽ tốt hơn và chắc chắn hơn sự ban phước của Sekhmet. Nhưng chúng ta hãy trao cho các giáo sĩ những gì thuộc về họ, họ sẽ để chúng ta yên.
Anh ta lại bắt đầu tự khen lời hiệu triệu dân chúng của mình và hy vọng tôi cũng sẽ tán dương tài hùng biện của anh ta, nhưng tôi nói rằng tôi thích lời kêu gọi của anh ta với các binh sĩ của mình ở Jerusalem hơn. Horemheb không giấu tự ái và nói:
- Nói chuyện trước binh lính và kêu gọi dân chúng là hai chuyện rất khác nhau và khi có dịp anh sẽ lại nghe tôi nói trước binh lính. Nhưng lời hiệu triệu tôi nói trước đền thờ Sekhmet cũng là nói cho hậu thế, vì tôi đoán nó sẽ được khắc vào đá và được lưu giữ cho muôn đời sau. Do đó, phải chọn ngôn từ khác với khi nói với binh lính trước khi ra trận và phải dùng những từ ngữ đẹp đẽ, hùng hồn khiến dân chúng thán phục, khiến họ lóa mắt nhìn đen thành trắng. Chắc tôi đã không hoài công học đọc và tìm đọc các ghi chép ngày xưa những gì các pharaon và tướng lĩnh đã nói với dân chúng. Nhưng vì anh không am hiểu, tôi phải giải thích cho anh biết bài nói của tôi có tất cả những gì mà lời hiệu triệu mọi thời cần có khi tuyên bố bắt đầu cuộc chiến. Thứ nhất, tôi tuyên bố cuộc chiến chống lại người Hittite là một cuộc chiến tự vệ và khích lệ người dân vùng lên chống lại kẻ xâm lược đã vượt qua biên giới Ai Cập vào tàn phá đất nước. Điều này nói rộng ra là đúng, mà tôi cũng không giấu giếm rằng tôi muốn giành lại Syria về cho Ai Cập. Thứ hai, tôi chỉ ra rằng mọi việc sẽ tốt đẹp với tất cả những ai tự nguyện đi theo tôi, còn sẽ rất thảm hại với những ai miễn cưỡng ra trận. Thứ ba, tôi giải thích rằng đây là một cuộc thánh chiến và tôi kêu gọi tất cả thần linh Ai Cập giúp đỡ. Thật ra, tôi không hiểu tại sao đất nước này lại thiêng liêng hơn đất nước khác, hay các vị thần Ai Cập lại mạnh hơn các vị thần Hittite, nhưng theo như những gì tôi đã đọc từ các bản khắc và nghe các chiến binh xưa kể lại thì trong lời hiệu triệu khi bắt đầu cuộc chiến phải có lời kêu gọi các thần linh và một vị tướng giỏi luôn phải nhớ đến thần linh khi nói. Dân chúng thích điều ấy dù nó có thật sự có ích hay không và cả anh nữa, Sinuhe, cũng phải công nhận rằng lời hiệu triệu của tôi tác động mạnh tới dân chúng, mặc dù để cho chắc chắn, tôi đã sai người của mình lẫn vào đám đông, hét lên ca ngợi tôi. Anh cũng cần lưu ý, Sinuhe ạ, là tôi đã hứa với họ chiến thắng mà không thổi phồng những khó khăn đang ở phía trước chúng ta, vì theo thời gian dân chúng sẽ phải nếm trải khó khăn và đau khổ nên không có lý do gì để làm họ lo sợ quá sớm. Nhưng trong cuộc chiến này, phải qua nhiều gian khổ mới đến được chiến thắng và khi ra trận với những đội quân chưa qua rèn luyện, không giáo mác và không chiến xa chống lại quân Hittite, tôi thấy mình như một cậu bé lấy thân sậy khô chọc vào mõm sư tử. Tuy nhiên, tôi tin tưởng chiến thắng cuối cùng sẽ thuộc về mình, vì tôi được sinh ra để làm những việc lớn lao, chỉ sợ rằng rất nhiều người sẽ phải chết trước khi đến được lúc đó.
- Horemheb, - tôi hỏi anh ta, - điều gì không thiêng liêng với anh?
Anh ta ngẫm nghĩ một lúc rồi đáp:
- Một người cầm quân và cai trị vĩ đại phải nhìn thấu qua tất cả ngôn từ và mọi điều tưởng tượng, nhưng bản thân phải biết sử dụng ngôn từ và khả năng tưởng tượng như vũ khí trong tay mình. Tôi thừa nhận, Sinuhe ạ, rằng chiến tranh là gian truân và làm cuộc sống tẻ nhạt, nhưng có lẽ cảm giác mình cai trị người khác bằng ý chí của mình và dùng họ làm nên việc lớn sẽ mang lại niềm vui khác. Khi còn trẻ hơn, tôi tin vào giáo và chim ưng của mình, bây giờ tôi chỉ còn tin vào ý chí và tôi biết rằng ý chí của mình là số phận của mình. Nhưng ý chí của tôi bào mòn tôi như thể viên mài bào mòn đá. Vì thế, tôi không có một phút nghỉ ngơi, đêm cũng như ngày, khi thao thức cũng như khi ngủ và khi muốn nghỉ ngơi một lát, tôi không có cách nào ngoài việc uống đến say xỉn. Khi còn trẻ hơn, tôi tin vào tình bạn và cũng tin rằng mình yêu người phụ nữ ấy, sự miệt thị và chống đối của nàng làm tôi điên lên, nhưng bây giờ tôi biết với tôi không ai là cái đích để đạt được mà ai cũng chỉ là công cụ, và người phụ nữ ấy chỉ còn là công cụ đối với tôi. Tôi, Horemheb, là trung tâm của tất cả, mọi thứ bắt đầu từ tôi và tất cả sẽ quay lại với tôi. Tôi là Ai Cập, tôi là muôn dân. Vì vậy, khi làm cho Ai Cập vĩ đại và hùng mạnh trở lại, tôi làm cho mình trở nên vĩ đại và hùng mạnh. Không điều gì đúng đắn và vừa vặn hơn, như anh hiểu, Sinuhe ạ.
Lời nói của anh ta có lẽ sẽ tác động đến ai đó chưa từng biết anh ta, nhưng tôi biết anh ta khi còn là một thanh niên khoác lác và ở Hetnetsut tôi đã gặp cha mẹ anh ta, hai người sặc mùi pho mát và gia súc, cho dù anh ta đã nâng họ lên tầng lớp cao quý. Vậy nên tôi không thể kính trọng anh ta, dù rõ ràng anh ta đang cố gắng dùng lời nói biến mình thành thần thánh trước mặt tôi. Nhưng tôi giấu suy nghĩ của mình trước anh ta và bắt đầu kể cho anh ta nghe về chuyện Công chúa Baketamon đã rất phẫn nộ khi không được dành cho một vị trí danh giá trong đoàn hộ giá lễ ăn mừng của Tutankhamon. Horemheb lắng nghe tôi như nuốt từng lời và mời rượu tôi để tôi có thể kể cho anh ta nghe nhiều hơn về Baketamon. Thế là chúng tôi uống rượu khi xuôi dòng sông về phía Memphis và khi chiến xa của quân Hittite đang tàn phá miền Hạ.