Này, Barbara, cô có một gã treo cổ ở phân khu[*] Ba Bốn. Cần tôi gọi tài xế giùm cho không?” Charlene hạ giọng, cứ như thể toàn bộ công việc liên quan đến thi thể người chết này là bí mật ghê gớm lắm.
“Hẳn rồi, Charlene, hãy cử tới đây người giỏi nhất. Tôi chỉ cần 5 phút để thoa chút son môi.”
Cô nàng Charlene bật cười, giống như tôi sắp sửa đi kiếm chồng chứ không phải đi kiểm tra xác chết.
Sau khi gác máy, tôi có chút hồi hộp, vẫn cái cảm giác quen thuộc mỗi lần xuất hiện một vụ án tử tế cần phải điều tra, điều gì đó sâu xa hơn cái chết tự nhiên của một ông già mắc bệnh tim trong căn hộ khóa kín. Tôi thích làm sáng tỏ mọi vấn đề, thích lần theo manh mối và giải đố, mong muốn tìm ra nguyên nhân đằng sau hậu quả. May thay, công việc của tôi chính là như vậy. Với tư cách điều tra viên pháp y (MLI) thuộc Văn phòng Giám định Y khoa Thành phố New York (OCME), tôi quan sát tỉ mỉ hiện trường các vụ tử nạn, tự tử hoặc giết người, từ đó xác định rõ nguyên nhân cũng như cách thức tử vong. Tôi say mê từng khoảnh khắc trong suốt quá trình đó.
Lần này sự phấn khích giảm đi phần nào do một cánh tay của tôi phải bó bột khá phiền phức, hậu quả từ vụ tai nạn ngớ ngẩn cùng cái cưa sắt và khúc gỗ cứng đầu. Nếu không vì hết thời gian nghỉ ốm, có thể giờ này tôi đã nằm ở nhà tĩnh dưỡng rồi. Đó cũng là lý do vì sao tôi ngồi tại văn phòng để giải quyết những ca bệnh án thay vì đi điều tra trên khắp các tuyến phố – “đi lưu diễn” như cách chúng tôi thường hay tếu táo. Lúc này đây, tôi đang trực ca tối một mình, và dù cánh tay bị thương còn treo đó, tôi không có lựa chọn nào khác ngoài việc nhận điện thoại cả. Tôi nhặt chiếc túi nhét đầy thiết bị của mình – chửi bới, than vãn, nói chung là thấy có lỗi với bản thân – rồi ra ngoài tìm gặp tài xế.
Đa phần lái xe của văn phòng (OCME) đều sử dụng tên riêng như Rich hay Na, hoặc ít gặp hơn như là Maureen. Nhưng Everett Wells, chúng tôi còn gọi là “bác Wells”, là một quý ông lớn tuổi lịch thiệp và có cốt cách. Cách gọi ấy thể hiện sự kính trọng của chúng tôi, ngay cả khi điều đó trái ngược hoàn toàn với biệt danh của ông là “lắc và nướng”. Danh hiệu ông có được nhờ thói quen đạp phanh liên tục và thắng gấp trong lúc lao xe nhanh như tên bắn trên đường. Ông chưa chắc đã là tay lái giỏi nhất trong số mười lăm tài xế tại OCME nhưng là người mà tôi quý mến nhất. Bác Wells bảo vệ tôi, khăng khăng cùng tôi đi vào các tòa nhà, trong khi những tài xế khác thường thích ở yên trên xe chợp mắt. Thật vui khi chúng tôi có thể phối hợp ăn ý trong công việc đến vậy.
Ông giành lấy túi du lịch từ tay tôi. “Cháu biết bác không để phụ nữ phải mang vác mà. Nhìn vậy không thuận mắt chút nào.”
“Cảm ơn bác Wells. Bác gái có biết tối nay bác đi cùng cháu không?”
“Bà ấy chuyện gì cũng biết. Xong việc cháu có muốn ăn KFC không?”
KFC hoặc McDonald’s, bởi vì chúng tôi không bao giờ có thể ngồi ăn uống cho đàng hoàng nếu kênh thông báo trên bộ đàm không ngắt sóng.
Chúng tôi đến địa chỉ lưu trên danh sách cuộc gọi – một chung cư xuống cấp ở Washington Heights, nằm kẹp giữa tiệm tạp hóa và nhà tang lễ do hộ kinh doanh sở hữu. Không có thang máy, chúng tôi leo cầu thang bộ, xuyên qua từng lớp mùi tràn ra từ những tòa nhà cũ kĩ ở New York. Mùi cải bắp luộc ở tầng thứ nhất, mùi chất tẩy Pine Sol (có Chúa mới biết nó nói lên điều gì) ở tầng thứ hai. Sau đó chúng tôi tới tầng ba.
Một khi đã biết mùi xác thối thì dù bạn đứng giữa một cửa hàng hoa, bạn vẫn hoàn toàn nhận ra được nó. Thứ mùi kỳ quái ngòn ngọt nhưng hậu vị đắng ngắt, giống như sữa lắc hương dâu bị lẫn mùi tỏi vậy. Chỉ sau vài tuần làm việc, tôi đã có thể đi bộ qua bất cứ dãy nhà nào trong thành phố và chỉ ra đích xác xác chết đang phân hủy nằm ở chỗ nào.
“Tới rồi.” Tôi nói với bác Wells.
“Tốt quá.” Ông đáp. “Nếu không đầu gối bác tê cứng mất.”
Một cảnh sát trẻ dẫn tôi vào bên trong căn hộ tối đen như mực. Thông qua những ô cửa sổ xám xịt hầu như không thể trông thấy ánh đèn đường, cảm tưởng căn phòng dù vào ban ngày cũng sẽ tối om như vậy.
“Không có điện.” Viên cảnh sát nói. “Chắc chắn quỵt tiền điện rồi! Đội thám tử đi cả rồi. Chỉ còn tôi ngồi đây canh xác.”
“Vậy đấy, mấy anh chàng xấu tính. Tôi mất cả đoạn đường tới đây chỉ để gặp họ, vậy mà họ không thể đợi tôi lấy vài phút. Cậu nghĩ, có phải đội thám tử sợ quá rồi không?”
“Nơi này quỷ quái thấy gớm, tối như hũ nút cộng thêm một xác chết đu dây.” Cảnh sát Kennedy không hề che giấu sự thương cảm với tôi. Anh chàng đã xem trọng tôi như thế thì tôi cũng được thể hùa theo.
“Chà, xem ra cậu nên kéo bọn họ quay lại đây. Nếu bọn họ còn sợ, tôi bị ngu mới vào đó một mình mà không có sự yểm trợ, đúng không?”
“Đúng vậy nhỉ, ờ ha!” Ngay khi nhận ra tôi chỉ đang ba hoa, cậu ta vội nói. “Cô không sợ gì hết đúng chứ? Thế nên họ mới gọi cô là bác sĩ đồ tể[*]?”
“À, không. Butcher là tên tôi.”
Lần này tới lượt cậu ta cười to. “Tôi biết chứ, ăn miếng trả miếng nhé. Đèn của tôi sắp hết pin rồi, cô có mang cái khác không?”
Kennedy nói với tôi trường hợp này hoàn toàn giống một vụ tự tử, người thuê nhà đối diện đã gọi cảnh sát khi anh ta tới tìm gã đàn ông này trong hai ngày mà không nhận được phản hồi. Những người hàng xóm biết quan tâm luôn luôn yêu cầu kiểm tra phúc lợi[*] vào nửa đêm, tương đương với số lượng cuộc gọi chúng tôi nhận được lúc 3 giờ sáng. Cái chết là như vậy đó. Bạn có thể ngửi thấy chúng từ những kẽ nứt nhỏ trên tường, và chúng dựng bạn dậy dù đang trong mộng đẹp.
Tôi đảo mắt quan sát, hòng tìm ra dấu vết đột nhập, trộm cắp hoặc xô xát, nhưng lớp bụi dày phủ khắp mọi nơi vẫn còn nguyên hiện trạng. Căn hộ có chống trộm, cửa ra vào lẫn cửa sổ đều đã khóa. Nhưng như thế cũng không loại trừ được khả năng mưu sát. Ngay cả khi hung thủ có chìa khóa hay đa số cửa chính sử dụng chốt sập thay thế cho ổ khóa chìa. Treo cổ cũng có thể là một tai nạn, chẳng hạn trong trường hợp “ngạt dâm[*]”. Tôi vẫn ưa gọi chúng bằng cái tên (khá mỉa mai) “kiểu chơi ngông của đàn ông hư hỏng”.
Chúng tôi sục sạo quanh căn hộ bừa bộn, ám mùi và xập xệ, thứ mùi đặc trưng được đà “thừa thắng xông lên”, mùi chua từ các loại giấy mục nát và nấm mốc. Tôi nhìn mặt sàn ốp gỗ sồi, lớp sơn vecni đã bay màu để lộ ra lớp mùn cưa nhợt nhạt. Chiếc ghế bành không có gì khác ngoài việc lò xo đã bật cả ra ngoài. Một chồng báo giấy chắc chưa đọc bao giờ và một chiếc điều khiển ti vi cũ rích. Tôi dám cá lần cuối nơi này được sơn sửa phải từ thập niên 70, dựa vào bức tường và tủ lạnh cùng một màu xanh bơ phổ biến vào thời gian đó.
Ánh đèn pin rọi tới thi thể của một người đàn ông trung niên da trắng, thân hình nặng nề bị treo trên ống nước chắn trước cửa phòng ngủ. Đôi chân trần chạm tới mặt sàn tạo thành tư thế đứng chùng chân, phần lưng trông như bị còng và đầu gối hơi khuỵu xuống. Ở gần đó còn có một chiếc ghế đẩu đổ chỏng chơ. Gương mặt người đàn ông bị treo cổ phù nề, tấy đỏ. Sợi dây siết cổ kéo tới vị trí sát cằm, một phần lấp sau những ngấn mỡ mập mạp, chúng thít chặt, ép chiếc lưỡi dày tím tái từ trong miệng thò hẳn ra ngoài.
Sau khi thử bật bóng điện nhưng vô dụng, tôi rọi đèn pin kiểm tra cái xác một lượt, hoàn toàn không phát hiện ra dấu vết vật lộn, phản kháng hay chấn thương nào khác. Thông thường một vụ xô xát ít nhiều sẽ để lại vết cào cấu, dấu móng tay hay vết xước trên gương mặt. Tôi lật mí mắt, kết mạc có nhiều đốm xuất huyết[*]. Đây là hậu quả của sự gia tăng áp lực tĩnh mạch vùng đầu và cổ gây đứt vỡ mạch máu tại lớp màng mỏng của nhãn cầu và ở trong mí mắt. Một người khi bị treo lơ lửng, động mạch vẫn tiếp tục bơm máu lên não, nhưng tĩnh mạch mềm mỏng hơn thì bị nén và máu không thể lưu thông. Nếu không thấy những đốm xuất huyết hay gương mặt đỏ bấy phù nề cũng như tình trạng xác chết lè lưỡi hiện giờ, thì tôi đã có thể đặt ra một vài nghi vấn. Luôn có một giả thiết khác rằng nạn nhân đã chết trước khi bị treo lên, nhằm ngụy tạo hiện trường thành một vụ tự tử. Tuy rằng trong tình huống hiện tại, giả thiết đó rất khó xảy ra. Để nâng được xác nạn nhân lên cao cần tới sức của hai người đàn ông lực lưỡng, và chí ít sẽ lưu lại dấu vết xáo trộn trong phòng. Ví như một chiếc cốc vỡ, một chiếc bàn nước chỏng chơ hoặc một góc thảm trải sàn xộc xệch. Nếu toàn bộ cơ thể bị treo lơ lửng, chân buông thõng giữa không trung thì hệ thống động mạch sẽ bị dồn nén, gương mặt người chết trên vị trí thít cổ sẽ tái nhợt vì thiếu lượng cung cấp máu. Trong những căn hộ ở New York thì điều này rất hiếm thấy, lý do vì trần nhà quá thấp.
Tôi chụp ảnh nạn nhân dưới ánh đèn pin của viên cảnh sát. Khi mới bắt đầu công việc vào năm 1992, chúng tôi sử dụng loại máy in ảnh tức thời[*], mỗi khi ánh đèn chớp nháy trên thi thể sẽ gây ảo giác như xác chết đang cử động. Điều này thật quái dị. Tôi không thích làm việc trong bóng tối, nếu không cần thiết cũng sẽ không nấn ná lâu lơn, song việc ghi chép cẩn thận tình trạng xác chết lẫn hiện trường là nhiệm vụ bắt buộc. Bởi theo cách nói của mấy vị luật sư thì: “Nếu không có ghi chép đồng nghĩa không có chuyện gì xảy ra”. Tôi chụp lại bố cục căn phòng từ bốn phía, tiếp đến là trước mặt và sau lưng xác chết ở cự li gần. Tập trung vào vùng cổ và đầu, tôi chụp sợi dây tại hai vị trí: quanh cổ nạn nhân và nút thắt trên ống nước. Nếu có ai thắc mắc, lượng hình ảnh phong phú mà tôi có ngoài dùng để chứng minh cho bản báo cáo của mình, thì chúng còn dành để đối phó với sự soi mói của Laurie, thư ký phụ trách cung ứng, người chuyên bắt bẻ rằng mình tôi bòn hết số phim chụp.
Tôi soi đèn pin tìm quanh căn hộ, xem thử có thư tuyệt mệnh, giấy khám bệnh, thông tin về thân nhân, chất cồn hoặc chất gây nghiện hay thông báo trục xuất nào không – bất cứ tài liệu gì giúp hé lộ danh tính người quá cố hoặc chút manh mối về nguyên nhân tự tử. Tuy nhiên một mẩu ghi chú cũng không thấy. Tôi không ngạc nhiên cho lắm. Tỷ lệ người chết để lại thư tuyệt mệnh chỉ chiếm một phần ba trên tổng số ca tự tử. Ngay cả những tín hiệu xếp vào loại “biến cố” khiến cuộc sống đảo lộn như trát hầu tòa, chẩn đoán mắc bệnh nan y hoặc thư chia tay kiểu “Thân gửi John!” cũng chẳng thấy đâu. Nếu không có căn cứ xác đáng thì lý do người đàn ông này từ bỏ mạng sống sẽ vẫn bị chôn vùi.
Cảm thấy không có điểm bất thường, tôi đánh giá đây đơn thuần là một vụ tự tử. Căn hộ hoang tàn đã phản ánh chính xác sự chán nản và bất lực của chủ nhân. Nó không tạo ra chút thiện cảm nào cho thấy người này đang tận hưởng cuộc sống. Thực tế căn phòng vốn chỉ lác đác vài dấu hiệu của sự sống mà thôi. Lẽ ra tôi sẽ thích tìm tòi nguyên nhân và tích cực điều tra, song ở một nơi bừa bộn và tối om như ở đây, việc đó là không tưởng. Chốt hạ thêm sự vụ ConEd[*] cắt điện là đủ bộ. Tôi rút từ trong bao da một con dao găm Buck, kéo ghế đến sát nạn nhân để hạ thi thể xuống. Tôi thường cầm dao tay phải, tay trái nắm dây rồi cắt một nhát phía trên vị trí thắt nút, cố gắng hết mức đưa người chết xuống một cách nhẹ nhàng. Mục đích để giữ gìn sợi dây và nút thắt cho chuyên gia nghiên cứu bệnh lý, đồng thời cũng để tránh các vết thương sau khi chết làm quá trình giải phẫu có sai số.
Cơ thể của một người vốn có sức nặng – thêm trọng lực nên “nặng” được hiểu theo đúng nghĩa đen. Ngay cả một người đàn ông khỏe mạnh chưa chắc đã nhấc nổi thi thể bằng một tay. Nhưng tôi thì có thể giữ xác nạn nhân ổn định và đưa xuống dễ hơn chút. Chỉ cần vài lần thực hiện, bạn sẽ ước lượng được sức nặng và biết ứng phó để xác chết không rớt bịch xuống sàn.
Nhưng mà chết tiệt... Giờ tôi làm việc đó kiểu gì chứ!
Cánh tay trái lẫn bàn tay tôi đang bó bột, cũng không thể để bác Wells đang đợi ngoài hành lang leo lên đó được, mà nhờ vả viên cảnh sát làm nhiệm vụ thay mình thì không hợp quy củ chút nào.
Thôi không sao.
Xe chở xác sắp tới nơi sẽ mang thêm cho tôi sự trợ giúp của hai người đàn ông lực lưỡng, họ sẽ thay tôi lo liệu mọi việc. Tôi gọi tới văn phòng báo qua tình hình hiện tại, yêu cầu họ phải đảm bảo việc cắt dây suôn sẻ cũng như hạ xác chết xuống thật nhẹ nhàng.
Tôi ký lên thẻ ngón chân[*] để viên cảnh sát hoàn tất vụ việc trình sở cảnh sát, cũng là để chứng minh việc tôi có mặt ở hiện trường. Gần đây, một đồng nghiệp của tôi bị buộc tội vì tác phong điều tra kiểu “cưỡi ngựa xem hoa”. Nói vui là anh ta làm việc qua quýt tới mức không để chân mình dính bụi, và chỉ việc ngồi lì trên xe công vụ ra vẻ với cảnh sát viên kiểu: “Nhìn là biết chết tự nhiên, ném thẻ ngón chân đây tôi ký.”
Rời khỏi hiện trường, chúng tôi không còn thời gian để ngồi ăn gà rán nữa, vì thế bác Wells và tôi chọn tiệm tạt xe[*] trên Đường 125, gọi bánh mì kẹp phô mai rồi ở yên trên xe dùng bữa. Đồ ăn vùng ngoại ô, nơi có cuộc sống về đêm sôi động, sẽ tươi ngon hơn chút.
Bác Wells sụt sịt.
“Hừm, Randy chuyên đưa bác tới một tiệm cà phê dùng bữa trưa. Cậu ta thuộc nằm lòng hết mấy điểm kha khá, cháu xem, Randy coi bộ cũng sành sỏi.”
“Được thôi ạ, chờ cháu chuyển về ca làm việc ban ngày, cháu sẽ dẫn bác tới cái quán chết tiệt ấy.” Cánh tay đau nhói khiến tôi nổi quạu.
Chúng tôi về thẳng văn phòng, bác Wells vẫn luôn miệng cằn nhằn việc tôi phải nhận nhiệm vụ trong lúc đang bó bột.
“Vô lý thực sự.” Ông nói. “Mấy việc vớ vẩn chỉ khiến vết thương nặng thêm.”
Trở lại bàn làm việc với những bức ảnh được in tự động cùng một tá những ghi chép, tôi bắt đầu viết báo cáo gửi tới chuyên gia giám định pháp y (gọi tắt là bác sĩ pháp y hay ME[*]) để sáng mai họ tiến hành giải phẫu. Trái ngược với hầu hết những gì chiếu trên truyền hình, bác sĩ pháp y hiếm khi ra ngoài điều tra hiện trường tử vong. Ngày tháng của họ được tận dụng triệt để và liên tục bận rộn với nhiệm vụ khám nghiệm tử thi, nghiên cứu chất độc, xét nghiệm mô bệnh học và giải phẫu thần kinh. Đó là chưa kể tới một đống số liệu, báo cáo. Sẽ không có chuyện bác sĩ pháp y giữa lúc đang khám nghiệm lại có thể bỏ dở mà chạy tới hiện trường vụ án. Tôi mặc dù bắt đầu ngày làm việc tại văn phòng nhưng phần lớn thời gian là chạy việc bên ngoài, khi cần, sẽ có mặt ở hiện trường để tiếp ứng.
Trước đây, chuyên gia pháp y phụ thuộc nhiều vào cảnh sát hoặc giới chức sắc (thường là Giám đốc tang lễ) trong việc giám định thi thể tại hiện trường. Nhưng nếu không có kiến thức y khoa, những hiện tượng giả từ xác chết thối rữa hay những di chứng tự nhiên của bệnh tật sẽ dễ dàng đánh lừa họ. Cố vấn của tôi, Tiến sĩ Charles Hirsch là người đưa ra ý tưởng xây dựng đội ngũ trợ lý bác sĩ được đào tạo bài bản, có kinh nghiệm trong việc điều tra và giám định cho hệ thống pháp y nói chung và sở cảnh sát New York nói riêng. Công việc giám định là quá trình tìm kiếm nguyên nhân và cách thức tử vong. Lấy ví dụ cụ thể trong trường hợp người chết do đạn bắn: ở đây nguyên nhân dẫn đến cái chết đã rõ nhưng chết như thế nào thì lại có nhiều cách khác nhau: bị giết, tự tử hoặc tai nạn ngoài ý muốn. Khi đó công việc của điều tra viên pháp y (MLI) là tới hiện trường để khảo sát tình huống cụ thể: Có dấu hiệu bạo lực không? Căn hộ an toàn không? Có dấu hiệu mắc bệnh không? Và trên hết, dựa trên những bằng chứng sẵn có thì kết luận cuối cùng được đưa ra có hợp lý hay không? Chúng tôi là tai mắt của đội ngũ giám định. Nếu thiếu đi trợ thủ đắc lực thì bác sĩ pháp y sẽ giống như bị che mắt, bịt tai trong phòng khám nghiệm tử thi.
Rà soát trên các bức ảnh chụp, tôi thấy thi thể lẫn căn phòng đều rõ ràng hơn nhờ sự trợ sáng từ ánh đèn flash. Điều này cũng dễ hiểu. Khi bạn đang ở hiện trường, bạn phải tiếp nhận thông tin ngay lập tức. Đôi khi, để phân tích chuyện gì đang diễn ra, bạn cần lùi về sau một bước. Khi chiếc hộp chứa bên trong là xác chết, bạn sẽ học được cách suy nghĩ vượt ngưỡng. Nhất là khi chiếc hộp đó tối đen sì sì và trước mặt bạn thì thứ chết tiệt nào cũng không nhìn thấy. Hiện trường trong ảnh thậm chí còn tồi tàn hơn thực tế, đồ đạc nhuốm màu bùn đất. Phía sau xác chết treo lơ lửng, tôi trông thấy chiếc giường ngủ bừa bộn, tấm ga trải giường ố vàng không biết mùi máy giặt. Từ sau đầu người chết thòng xuống đoạn dây dài úa vàng, loại dây chuyên được sử dụng ngoài trời. Đây là công cụ mà gã này dùng để tự kết liễu. Quả là một sự lựa chọn khôn ngoan. Sợi dây sẽ không đứt giữa chừng hay khiến kế hoạch tìm đến cái chết của gã đổ bể. Nhưng trong bức ảnh kế tiếp – tôi thấy phích cắm đang cắm vào ổ điện trên tường. Một đường dây tải điện?
Chết tiệt thật, tôi cứ đinh ninh ở đó cắt điện rồi!
Tôi bấm số căn hộ, ngón tay run lên bần bật, hy vọng viên cảnh sát nào đó nhấc máy. Thôi nào, thôi nào… trả lời đi chứ. Tôi ngàn lần cầu nguyện kỹ thuật viên nhà xác chưa đến.
“Vâng, xin chào?”
“Nghe này, tôi muốn anh trông chừng, không cho bất cứ ai đụng vào xác chết.”
“Đã rõ. Nhưng xảy ra chuyện gì sao?”
“Anh giúp tôi kiểm tra tất cả các bóng đèn, xem chúng có được vặn đúng vị trí đui đèn hay không?”
“Xem bóng có vặn chặt không?”
“Đúng... kiểm tra xem tất cả bóng đèn đã vặn chặt chưa. Tôi chờ máy.”
Tôi nghe thấy âm thanh ống nghe đặt lên mặt bàn, ít phút sau Kennedy quay lại.
“Điện đã về làng.” Anh ta nói.
Tôi thở dài thườn thượt.
“Chuyện quái quỷ gì thế, sao cô biết bóng đèn không vặn chặt?”
Sau khi xác nhận rằng kỹ thuật viên nhà xác chưa kịp đến, tôi nói rõ những manh mối tìm được cho viên cảnh sát, nạn nhân đã dựng một cái bẫy để bất cứ ai cắt sợi dây hung khí nhằm đưa xác anh ta xuống đều sẽ bị giật điện. Để căn hộ tối đen như mực, và để nguyên bóng bên trong chụp đèn nhưng không vặn chặt, mục đích để tạo ấn tượng rằng nơi này mất điện, kéo dây nối tới ổ cắm cách xa cơ thể. Tất cả những việc này cần có sự tính toán. Tôi tiếp tục cuộc gọi trong lúc Kennedy rút phích và kiểm tra những cái bẫy khác.
Đây là một trường hợp phẫn nộ tự tử.
Gã này hận đời đến mức tự tử thôi chưa đủ, mà còn muốn kéo theo người khác bằng cách để điện giật chết nếu người đó cắt sợi dây treo cổ. Gã còn lên kế hoạch một cách tỉ mỉ. Nếu không bởi một cánh tay bó bột – thứ bị tôi chửi bới và nguyền rủa suốt mấy ngày nay – có lẽ tôi đã lên đường cùng hắn.
Sự đen đủi nhỏ nhoi đến từ một sợi gân bị cứa đứt đã cứu mạng tôi – ý nghĩ ấy chợt lóe lên, trong cái rủi có cái may, đúng là một trải nghiệm đáng nhớ. Đâu đó trong một vài khoảnh khắc của cuộc sống sẽ chứa đựng những bài học đắt giá. Tôi đã luôn luôn làm như thế, lưu giữ những chiêm nghiệm cho một ngày không vui.
Ủa? Chết tiệt!
Tôi nghĩ mãi về gã đàn ông treo cổ. Vì sao gã muốn gây tổn thương, thậm chí là cướp đi mạng sống của người khác. Liệu đây có phải một ca “yêu nhầm bạn thân” trong truyền thuyết, khiến gã thê thảm tới mức phải tìm mọi cách để thấy người khác cũng đau khổ giống mình? Gã muốn trừng phạt thế giới vì thờ ơ trước nỗi đau của gã? Hay là đang cố tạo dấu ấn, mong mỏi được ai đó nhắc tên? Cũng có thể gã là một kẻ đơn độc, nên bằng cách nào cũng khao khát được người đời nhớ đến. Chi tiết này khiến tôi nhớ tới tất cả những vụ xả súng, một gã trước hết là nã đạn vào đám đông không quen biết, sau đó mới tự bắn vào đầu. Tại sao không một mình tự tử, đến đây là chấm hết?
Tại sao không một mình tự tử, đến đây là chấm hết? – Cách đây không lâu, tôi cũng đã nhiều lần hỏi mình như thế. Khoảng bốn năm trước, chính là lúc cuộc đời tôi chạm đáy. Một kẻ nghiện rượu bị ruồng bỏ sống trong một căn hộ tồi tàn chật chội, làm việc chui rúc tại cửa tiệm bán khuy áo trên đại lộ Madison. Song với tất cả những điều này, tôi chỉ cảm thấy đáng đời mình lắm.
Tôi đã từng chật vật trong độ tuổi thiếu niên, từ nhỏ đã mắc chứng trầm cảm và luôn có khuynh hướng muốn tự tử. Tôi từng là một đứa trẻ sợ hãi và bất ổn, ngay cả hormone dậy thì cũng chẳng giúp tôi khá hơn. Lên phổ thông, tôi giao du với một người bạn mới, người đã đưa tôi đến một cuộc sống thác loạn với chất gây nghiện, rượu và tình dục – cho tôi nếm những vui thú chưa từng trải qua trong đời. Tôi lao vào chúng như thiêu thân. Và luôn muốn đạt trạng thái hưng phấn mọi lúc. Dù thời gian vui vẻ ngắn ngủi và kéo theo nhiều rắc rối về sau thì tôi vẫn thèm khát sự cuồng loạn. Thế nhưng điều gì sẽ xảy ra khi thói hư tật xấu làm cản trở con đường học tập hay khép lại cánh cửa vào đại học của tôi. Khi ấy tôi chỉ thấy mọi thứ đều tốt đẹp. Không, phải là “thật tuyệt vời” mới đúng.
Tôi đã từng được nhận học bổng của trường đại học bang, nhưng những bữa tiệc thâu đêm khiến tôi chẳng còn dư thời gian hoàn thành đơn nộp học. Sau khi tốt nghiệp trung học, tôi nhận công việc ở mức thu nhập thấp, bảy mươi đô một tháng chỉ đủ cho tôi thuê phòng trọ trên gác của một phòng thí nghiệm nha khoa. Nơi ở của tôi nằm ngay sát Sở Cứu hỏa Massapequa và đối diện với nhà ga đường sắt Long Island, bởi vậy tôi không ngủ được nhiều. Nhà tắm phải dùng chung cùng sáu người khác. Ở đây không có bếp, chỉ có đĩa hâm nóng[*] nên hiển nhiên tôi không dùng bữa đàng hoàng. Tuy vậy, chỉ cần đủ tiền trả cho một vài ly rượu ở vũ trường là tôi thấy ổn.
Lạy chúa tôi, còn có người nhìn ra ở bạn những thứ mà chính bản thân bạn không thấy. Bà chủ của tôi, Celia Strow, thấy tôi thông minh và có năng lực nên bà ta luôn thắc mắc tại sao tôi không làm thứ gì đó cho bản thân. Là giám đốc của một viện dưỡng lão ở Long Island, bà thuê tôi trông coi kho cung ứng và yêu cầu tôi thực hiện liệu pháp “điều hướng tâm lý” cho bệnh nhân mất trí nhớ. Bằng cách giơ những tấm biển ghi ngày tháng và hỏi liệu họ có biết Tổng thống đương nhiệm khi đó là ai. Tôi sẽ luôn nhắc nhở những người già kém minh mẫn rằng họ đang ở một ngôi nhà chung, bạn đời của họ đã mất còn con cháu họ thì sống ở nơi khác – những điều mà chẳng một ai muốn nhớ.
Bà Strow giới thiệu cho tôi về ngành nghề gọi là trợ lý bác sĩ, một dạng giống bác sĩ tuyến dưới với bốn năm học. Lương cũng khá và quan trọng là tôi sẽ thực sự có nghề trong tay. Lời nói của bà ấy khiến tôi như bị thuyết phục. Tôi nộp đơn vào một trường duy nhất, Đại học Stony Brook, vì nếu phải hoàn thiện một lượng lớn đơn từ thì thực tình quá rắc rối. Buổi tối trước hôm trường phỏng vấn, tôi đến một câu lạc bộ và uống đến say khướt, sau đó trở về nhà lúc năm giờ sáng; cuộc phỏng vấn là lúc chín giờ. Stony Brook cách chỗ tôi một giờ lái xe. Tôi nhẩm tính, cái chết tiệt gì thế, tôi làm được gì chỉ trong một cái chớp mắt này cơ chứ. Tôi bàng hoàng tỉnh giấc, còn hoang mang không biết mình đang ở đâu thì đã quá trễ. Không có thời gian để tắm giặt thay đồ, tôi cứ thế lao ra khỏi nhà với bộ dạng ám mùi thuốc lá và rượu gin không nhãn mác và gần như không mở nổi đôi mắt đỏ ngầu của chính mình.
Stony Brook đã đánh trượt tôi ngay tắp lự – hiển nhiên là vậy. Tôi cảm thấy xấu hổ vì bị từ chối và thất vọng với việc say khướt của bản thân. Nhưng bằng cách nào đó, một năm sau, tôi đã vượt qua kỳ tuyển sinh và được nhận vào Đại học Long Island. Ngôi trường có khuôn viên nằm giữa trung tâm thành phố Brooklyn với những bài giảng được thiết kế ngay tại nhà hát cổ Brooklyn Paramount. Trần nhà lộng lẫy theo phong cách Rococo khiến tôi sao nhãng cả trong tiết học về chức năng của lá lách. Mặc dù không có những bức tường phủ kín dây thường xuân lẫn hội nữ sinh nhưng suy cho cùng, việc trở thành tân sinh viên đã đủ khiến tôi tự hào. Tần suất các bữa tiệc rượu giảm dần, trong tôi bừng lên niềm vui học tập và ước muốn chinh phục tri thức. Khóa học là sự kết hợp giữa khoa học và đào tạo thực hành: giải phẫu và sinh lý học, hóa học và bệnh lý, cách để khâu vết thương hay đặt ống thông mũi dạ dày, phân tích điện tâm đồ (EKG)[*] và cả xử lý gãy tay. Chính những bài học về chẩn đoán đã giúp tôi khai sáng – đây là tố chất quan trọng. Tôi có thể khảo sát các triệu chứng, xây dựng cơ sở kiến thức bệnh lý, làm sáng tỏ nguồn cơn, tháo gỡ vướng mắc và giúp đỡ mọi người. Điều này khơi dậy tình yêu khoa học vẫn luôn tồn tại trong tôi từ thuở nhỏ, đồng thời cho tôi cảm giác mình làm được những việc quan trọng và có ích cho xã hội. Mình cũng rất gì và này nọ đó thôi.
Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời, tôi thực sự được trải nghiệm “thông điệp từ Chúa” – khoảnh khắc định mệnh khi đấng tối cao mang tới điều gì đó bất ngờ và may mắn. Đó có thể là cú túm tóc giật đầu của một người xa lạ ngay tích tắc bạn bước một chân ra trước mũi ô tô, hoặc là khi bạn gặp ai đó cho bạn những lời khuyên bổ ích chỉ với tách cà phê và bánh xốp ngô nướng trong một tiệm đồ uống. Nếu không có Celia Strow khuyến khích, có lẽ tôi vẫn là y tá của một viện dưỡng lão, ngày ngày nói ra điều mà những người ở đó muốn quên đi.
Với vai trò mới là một trợ lý bác sĩ (PAs)[*], tôi nhận được công việc tuyệt vời trong phòng phẫu thuật tại một bệnh viện ở South Bronx, nơi có hàng tá nhiệm vụ khiến tôi luôn bận rộn. Bệnh viện vào thời đó còn nghèo nàn và không có chương trình nội trú[*] vì thế họ để mặc cho những trợ lý như chúng tôi tự xoay sở. Tôi nhận công việc tình nguyện viên tại một phòng khám miễn phí dành cho phụ nữ trên phố Mark's Place cùng với bốn nữ bác sĩ đầy nhiệt huyết. Chúng tôi có nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe lâm sàng và tầm soát ung thư cổ tử cung[*]. Chính tại đây, tôi đã có thêm một người bạn mới, người đã cho tôi tiếp quản hợp đồng thuê căn hộ sau khi cô ấy chuyển đi. Căn hộ một phòng ngủ với mức giá thuê ổn định nằm trong dãy nhà đá nâu[*] trên khu phố West Village với đầy đủ những chi tiết nguyên bản như: lò sưởi, viền đúc vương miện[*] hay ô cửa ngang[*] ngay trên cửa phòng ngủ. Tôi không bận tâm tới việc đồ đạc đều phủ một lớp sơn hàng thế kỷ. Lần đầu tiên có cho mình căn hộ theo phong cách New York cổ đã đủ khiến tôi phấn khích.
Trải qua một vài thay đổi cùng thăng tiến trong công việc, bao gồm cả kỳ hoạt động công ích tại trạm y tế Kaiser[*], bang California, tôi lấy tấm bằng thạc sĩ Y tế công tại Đại học Columbia. Đây là mốc thời gian AIDS lần đầu tiên xuất hiện, cơn ác mộng kinh hoàng đối với sức khỏe cộng đồng. Tôi học chuyên ngành Dịch tễ, bộ phận phụ trách điều tra trong lĩnh vực y tế nhằm truy tìm nguồn phát của căn bệnh kỳ lạ, nguyên nhân do đâu mà ra, đối tượng nguy cơ lây nhiễm cao và tại sao như vậy.
Khởi đầu sự nghiệp đầy hứa hẹn với tư cách là một nhà quản lý bệnh viện, tôi bắt tay vào việc tân trang căn hộ, nhằm khoe ra những chi tiết lịch sử khiến nơi ở trở nên đặc biệt. Những thứ như lò sưởi, sao nó nông vậy nhỉ? À, hóa ra đó là nơi dùng để đốt than trước khi hệ thống sưởi trung tâm được hợp chuẩn. Mặt bên của cửa sổ âm có vẻ rỗng, hay là chứa thứ gì bên trong? Cửa chớp bằng gỗ bắt mắt sẽ đóng kín vào mùa đông để tránh gió lùa.
Đẹp thực sự! Tôi quan sát mọi thứ xung quanh và nhìn lại bản thân. Cảm giác nhà cửa lẫn công việc đều thuận lợi khiến tôi bắt đầu tin rằng mình cũng có chút năng lực để cống hiến cho đời. Nói ra thì buồn cười, nhưng tôi cảm thấy mình sắp trở thành một công dân gương mẫu. Tôi mãn nguyện và hạnh phúc, cũng yêu đương với một người phụ nữ tuyệt vời. Thế nhưng, nghiện ngập đâu dễ gì biến mất, chỉ vài năm sau, con quỷ đó đã trở lại ám tôi. Tôi đã si mê nhầm người để rồi bắt đầu nốc rượu triền miên, cuối cùng chia tay với người bạn đồng hành thông minh, xinh đẹp và đáng được nể trọng sau 7 năm gắn bó. Tôi tìm kiếm sự hưng phấn và đón nhận điều đó hết lần này đến lần khác. Tôi chơi thuốc, rượu bia và lang chạ khắp nơi. Tôi nói dối những người mình yêu thương, một cách vô tâm và tàn nhẫn. Tôi lừa gạt tất cả mọi người. Dường như tôi có năng lực làm tốt mọi việc, nhưng việc tốt nhất lại là biến mình thành một con nghiện.
Tôi đã phá hủy tất cả.
Hết vướng vào rắc rối này rồi đến rắc rối khác, tôi liên tiếp bị cuốn vào vòng xoáy của những hành vi bất thường. Tôi mất công việc trong mơ của mình. Chủ căn hộ vì ấn tượng với những gì tôi làm với ngôi nhà mà một mực muốn đòi lại nó. Bà ta từ chối gia hạn hợp đồng và đá tôi ra khỏi cửa. Tôi buộc phải chuyển tới căn hộ một phòng ngủ tồi tàn ở khu Upper West Side. Mối tình gần nhất kết thúc trong bực dọc. Anh trai tôi – John Luke, vĩnh biệt cuộc đời ở tuổi 24 vì lạm dụng chất kích thích. Sự mất mát đó khiến tôi gục ngã, tôi không chịu nổi nữa. Tôi rơi vào trạng thái chán nản tột độ. Tôi đã không làm được gì, cũng chẳng là cái thá gì. Sao không chết quách đi cho xong chuyện?
Nghĩ thế, trong cơn say mèm, tôi đã tập tành tự kết liễu đời mình. Tôi sử dụng khẩu súng ngắn 32 li[*] mua ở California cách đây vài năm, không lắp đạn, chĩa thẳng vào đầu. Tôi bóp cò, tính toán làm sao để vào thời khắc quyết định, đầu tôi sẽ không giật ra xa theo phản xạ. Tôi lặp lại vài lượt với khẩu súng không lên nòng trước khi bị một vài ly vodka hạ gục. Đó là lần hiếm hoi tôi dám phát biểu, rằng say rượu đã giúp tôi thoát chết.
Cuộc đời tôi biến thiên như chỉ số điện tâm đồ: các bước sóng lên – xuống biểu thị cho từng thời kỳ lên voi xuống chó. Chỉ trong hơn một năm, tôi cứ vậy chậm rãi chìm sâu vào vực thẳm. Một đêm no, tôi uống say tới mức bất tỉnh nhân sự, khi mở mắt đã thấy mình vạ vật trên sàn, cuộn người trong tấm ga trải giường ẩm ướt và bốc mùi mồ hôi nồng nặc. Trán tôi thâm tím và bị rách một vệt, hậu quả của việc ngã cầu thang mà nguyên nhân không gì khác ngoài say xỉn. Lòng dâng trào thứ cảm giác nôn nao kỳ lạ – còn khó chịu hơn cả khi ói mửa – đang thao túng toàn bộ tâm trí tôi. Trong đầu tôi văng vẳng toàn những tiếng ong ong đáng sợ, không giống với bất cứ lần say rượu nào trước đó. Ngay cả âm thanh ríu rít của lũ bồ câu đậu bên cửa sổ cũng biến thành mũi khoan xuyên thủng hộp sọ. Tôi muốn chết quá đi mất. Tôi cần lập tức đưa ra quyết định.