Giống như hàng trăm nhà hàng Trung Hoa khác giữa trung tâm thành phố, nhà hàng tọa lạc trên Đại lộ Amsterdam được biết đến với đồ ăn ngon và thực đơn giá rẻ, và bất kể điều kiện thời tiết có ra sao, bên ngoài tiệm vẫn luôn có thực khách xếp hàng dài chờ đợi. Mặc dù trên biển hiệu sáng ánh đèn nhấp nháy dòng chữ “Phúc Lạc Quán”, thì cả tôi lẫn cô bạn gái Leigh vẫn thích gọi nơi đó là “quán Frank”– theo tên của người quản lý nhà hàng tính tình nóng nảy. Người đàn ông trung niên dáng dấp nhỏ thó, khi thấy chúng tôi thì cố tỏ vẻ ngạc nhiên dù cả hai đều đã ở đây vào đêm hôm trước.
“Hoan nghênh sự có mặt của quý khách. Hoan nghênh! Hoan nghênh! Nào, mời vào, mời vào, khách hàng là thượng đế!”
Đồ ăn đảm bảo vệ sinh, tốc độ phục vụ mau lẹ, nhưng điều khiến tôi thường xuyên quay lại là rượu được phục vụ miễn phí không giới hạn trong suốt bữa tối. Leigh và tôi sẽ dùng chung một món khai vị cùng hai khẩu phần nhỏ, nhưng sẽ uống cả lít rượu vang vị nhựa thông chứa trong những chiếc thùng giấy lít. Chúng tôi có thể ngồi hai tiếng rưỡi chỉ bằng một chiếc bánh kếp hành lá cộng thêm một suất gà rang gừng, đương nhiên mục đích chính là để chờ phục vụ rượu. Bồi bàn ghét chúng tôi ra mặt.
Dạo đó, tôi không những nốc rượu mỗi ngày mà còn uống không hề ít, chủ yếu là loại có độ đậm vừa phải có tên là Concha y Toro với mức giá 5,99 đô cho nửa lít. Hương vị tinh tế và dễ phối hợp, đặc biệt hoàn hảo khi uống cùng gà rán mang về hay bánh quế vòng. Thường thì giữa ban ngày, tôi hiếm khi uống tại nơi làm việc, vậy nên ly đầu tiên mỗi tối chẳng khác nào bật công tắc khởi động chế độ ham muốn không ngừng. Một chiếc ly rỗng sẽ khiến tôi bồn chồn, vì thế tôi liên tục rót đầy cho nó. Trong quá trình tôi và Leigh cạn hết ly này tới ly khác, cuộc trò chuyện giữa chúng tôi sẽ càng trở nên xa rời thực tế. Tôi cho rằng mình đang đưa ra một triết lý sống – để có thể lý giải vì sao tôi vẫn tiếp tục công việc bán thời gian ở cửa hàng cúc áo nhưng thực tế đó chỉ một chuỗi những lời ca thán.
“Tại sao phải lịch sự với họ kia chứ?”
“Vì đó là một phần của công việc, Barbara, khách hàng là thượng đế.”
“Nhưng họ coi thường tôi và rõ ràng đang tỏ vẻ. Tôi ghét công việc bán hàng này.”
“Vậy thì hãy phấn đấu để mình tốt hơn, ngoảnh mặt làm ngơ theo lời dạy của Chúa[*].”
“Để xem. Nếu Chúa cũng phải đối phó với mấy kẻ ám ảnh bởi cúc nhựa, dám cá Ngài sẽ không thể ngoảnh mặt làm ngơ. Nhân tiện cho tôi hỏi luôn, ngoảnh mặt sang phía nào được nhỉ?”
Khi chai rượu gần cạn, câu chuyện đã chuyển thành một lời hứa hão.
“Tôi đảm bảo sẽ tốt hơn. Tôi sẽ sống tốt. Nhưng vũ trụ vần tôi chóng mặt, thế giới này làm tôi choáng ngợp, tôi không biết nơi đâu phù hợp với mình.”
“Hả?”
Đó là ca khúc của một kẻ bợm rượu đang sinh sống trong căn phòng chưa đầy 16 mét vuông[*], với cái bệ cửa sổ đầy chất thải của bồ câu và có một công việc làm chui tạm bợ, không có tiền tài cũng chẳng có tương lai, kế hoạch cho bản thân cũng không có nốt.
Cuộc đời tôi hèn mọn như thế đấy.
Càng về sau càng say xỉn, nửa ngày tiếp theo của tôi trôi qua trong đau đầu, ói mửa và bủn rủn chân tay. Loại rượu rẻ tiền tôi uống đã khiến mọi việc thêm tồi tệ. Tôi nghiện đường và Concha y Toro góp phần khiến điều đó càng khó kiểm soát. Có lẽ tôi nên chuyển sang loại rượu khác ít ngọt hơn – giả dụ như vodka, tôi nghĩ. Nhưng ngoài mê mẩn hương vị thì tôi cho rằng rượu vang sẽ tốt hơn cho sức khỏe, phải vậy không?
Một vài người đã nhắc khéo tôi, trong đó có cả vị bác sĩ trị liệu, kiểu như: “Chị uống nhiều quá đấy.” Hoặc như Kate, cô bạn gái từng bóng gió: “Chị gái, đời chị thật sự là một mớ bòng bong lộn xộn.”
Đương nhiên, tôi sẽ tìm cách bơ họ. Không tiếp nhận nổi những suy nghĩ tiêu cực, tốt hơn là duy trì thái độ tích cực.
Tôi có thể bỏ nếu tôi muốn.
Tôi cố gắng kiểm soát việc uống rượu bằng cách xen kẽ mỗi ly rượu với một ly nước, không uống trước 7 giờ và sau 10 giờ mỗi tối, chỉ uống khi dùng bữa, thứ Ba và thứ Năm được uống duy nhất một ly. Kết quả là tôi chỉ uống một ngụm nước, quên luôn giờ giấc và ăn suốt cả ngày. Một là rất nhiều, và năm là chưa đủ. Chỉ cần chạm vào ly đầu tiên, cơn thèm sẽ khiến bạn không thể nào dừng lại.
Đã tới lúc cần thêm sự giúp đỡ.
Vào một chiều tháng Bảy năm 1991, trên đường tới nhà hàng Frank, tôi nói với Leigh mình đang giảm uống rượu và nhờ cô ấy nhắc nhở khi tôi đạt ngưỡng ba ly.
Việc đó chẳng tốn nhiều thời gian.
“Này, ly thứ ba đó, chị ngà ngà say rồi. Muốn gọi soda hay cái gì khác không?” Leigh gợi ý.
“Ừm, tôi ổn. Rót tôi thêm ly nữa.”
Cô ấy đã nhắc nhưng tôi không thực hiện.
Tôi loạng choạng đi ra, lách qua mấy người bồi bàn đang nhìn mình chằm chằm và một vài khách hàng thiếu kiên nhẫn. Băng qua mấy dãy nhà, tôi tìm tới Nice Matin để giao lưu bạn bè và uống thêm lúc nữa. Đó là một nơi rất đẹp, quán rượu cao cấp đắt khách theo phong cách Pháp giữa lòng New York với một quầy bar dài, sàn nhà lát gạch, hệ thống đèn điện lung linh và những chiếc bàn cà phê nhỏ xinh gợi nhớ tới “Paris thời kỳ tươi đẹp”[*]. Dẫu không có rượu miễn phí thì cũng không phải vấn đề ngăn cản được bước chân tôi.
Câu chuyện kết thúc lúc nửa đêm, khi tôi đứng giữa Đường 70-92[*], móc ít tiền mặt cuối cùng cho một tên ăn mày, gã ta nói với tôi rằng muốn dùng tiền để mua thuốc phiện. Tôi đánh giá cao sự thành thật của gã hoặc từ những gì mà tôi nghe được. Điều cuối cùng tôi nhớ được là hình ảnh tôi cúi đầu nhấp một ly Sancerre trong khi gắng sức giải thích một điều gì đó rất vô nghĩa – kiểu như nguồn gốc cuộc chiến tranh Hy Lạp. Tôi thuộc tuýp người khi say thì khá ương ngạnh, kiểu người sẽ nói năng cực kì cẩn trọng với đôi mắt trợn ngược để cố tỏ vẻ mình không say. Tôi không có chút ấn tượng gì với việc mình ra đường bằng cách nào, về nhà, hay bị ngã ra sao. Mất trí nhớ toàn tập. Tình trạng của tôi giống kiểu “hồn lìa khỏi xác”, hoàn toàn không biết bản thân đang làm gì. Giống như sập nguồn vậy.
Sáng hôm đó, tôi thức dậy trên sàn nhà trong tình trạng ê ẩm và đau nhức, bán khỏa thân và co quắp trong tấm ga trải giường ẩm ướt, toàn thân đẫm mồ hôi. Tôi hẳn đã lăn khỏi giường ngủ. Tôi xoa xoa cái đầu đau như búa bổ, cùng lúc phát hiện vết máu khô trên tay. Leigh nói tôi bị ngã ở cả trên đường lẫn cầu thang.
Đờ ra mất một lúc lâu tôi mới có thể đứng dậy, cảm giác vừa nhộn nhạo vừa tội lỗi khi nghĩ tới việc có thể mình đã làm điều gì đó tồi tệ. Nỗi bất an xâm chiếm toàn bộ tâm trí còn khủng khiếp hơn cả khi sợ hãi.
Chính việc nhận thức được bản thân không ổn đã khiến tôi phát hoảng, tôi đã không thể nhớ nổi bất cứ điều gì xảy ra tối hôm qua. Mất trí nhớ, có phải đó là lời khẳng định chắc nịch rằng tôi là một kẻ nghiện rượu? Tôi không muốn là người như thế. Tôi muốn mọi việc diễn ra một cách bình thường, tôi chỉ đơn thuần “mượn rượu giải sầu” giống như bao người khác. Là một người bình thường, tôi căm ghét ý nghĩ “có vấn đề”, mất kiểm soát.
Sau khi tống một vốc thuốc giảm đau, tôi gọi cho Kate, chắc chắn cô ấy biết những chuyện đã xảy ra.
“Này Kate? À, ừm... tối qua uống ở quán Frank nhưng mọi chuyện thảm hại lắm.”
Tôi kể cho Kate về việc mình đã ngã rách trán ở đâu đó, về việc sau vài chiếc bánh quy may mắn, mình chẳng nhớ nổi bất cứ điều gì. Với thái độ nửa đùa nửa thật, tôi hy vọng mọi chuyện được xí xóa. Cứ xem đó như một lần mạo hiểm nho nhỏ, một đêm điên rồ trong thị trấn.
Song Kate lại không hề cợt nhả.
“Người chị thân mến của tôi, chị ổn không? Bỏ đi, chị rõ ràng không ổn.”
Nghe cô ấy nói, tôi bật khóc.
“Cần em qua đó với chị không? Hay chị tham gia một buổi gặp mặt nhé?”
Những người nghiện rượu ẩn danh – AA.[*]
Chết tiệt, tôi thực sự đến mức này rồi hả?
Kate nói sẽ gọi tới đường dây nóng của AA và lựa giúp tôi một buổi gặp phù hợp. Tựa như nhà hàng Trung Hoa, giữa thành phố New York này bạn có thể bắt gặp hàng trăm cái.
Đó sẽ là đêm cuối cùng tôi uống rượu.
Buổi chiều cùng ngày, tôi tìm tới phố Perry thuộc West Village để tham gia gặp mặt. Nằm trên con đường rợp bóng cây ở dãy phố đá nâu, căn phòng bé như cái lỗ mũi có lẽ đã từng là văn phòng của bộ phận tiền sảnh vào cái thời tòa nhà được xem như một công trình vĩ đại. Căn phòng tối om, song tôi lấy làm mừng vì điều đó. Tôi khom lưng trốn xuống phía dưới cùng, một vị trí thuận lợi cho việc hô biến ra ngoài nhanh chóng. Tôi không muốn bị bắt gặp ở đây. Khi sự việc chưa bại lộ, tôi càng không thể để bất kì ai nghĩ mình nghiện rượu.
Căn phòng chật chội, hai mươi người chen chúc ngồi lên những chiếc ghế ọp ẹp, hầu hết trên tay bọn họ là những chiếc cốc giấy hai màu xanh trắng có nguồn gốc từ cửa hàng bán đồ ăn nhanh ở góc phố. Trên tường treo mấy tấm áp phích bạc màu xem chừng là danh sách các quy tắc dài vô tận: “Những gì bạn được nghe ở đây, sẽ ở lại đây”, “Cho đi những gì bạn có thể. Nếu không thể, hãy tiếp tục trở lại”, “Mười hai bước, mười hai truyền thống”
Trong lòng tôi bắt đầu dấy lên chút nghi hoặc: Quy tắc không dành cho bạn – bạn là người thông minh, bạn có thể tự mình khắc phục. Điều đó không đến nỗi tệ. Tôi không đến nỗi tệ. Nhưng cảm giác bất an kỳ lạ nhanh chóng lấn át và rồi tôi đầu hàng.
Tôi cần sự giúp đỡ.
Ít phút sau, một người đàn ông xuất hiện, anh ta bước tới bục nhỏ, bật đèn rồi lẩm nhẩm đọc gì đó mà tôi đoán là “yêu cầu duy nhất để trở thành hội viên là quyết tâm bỏ rượu”.
Chưa chắc đâu nhé. Một lần nữa tôi nghĩ. Rõ ràng từ bỏ là cả một quá trình lâu dài và bền bỉ.
Anh ta giới thiệu mình là một diễn giả, người sẽ chia sẻ những trải nghiệm về rượu thông qua câu chuyện của bản thân. Một doanh nhân có vẻ ngoài bình thường, mặc âu phục với quần tây và áo sơ mi cài cúc, người có thể là bất cứ ai đang đọc tờ Thời báo New York[*] mà bạn dễ dàng bắt gặp trên chuyến tàu số 2. Thoạt nhìn, anh ta chẳng có chút liên quan nào tới mấy từ “nghiện rượu”. Và kỳ thực, không ai trong số họ giống vậy.
Anh ta mang tới câu chuyện mà tôi có thể tóm gọn bằng uống rượu “có kiểm soát”.
“Tôi đã từng thử qua nhiều cách, hoặc uống rượu chay hoặc kết hợp dùng bữa, luân phiên giữa các ngày, hoặc riêng cuối tuần mới được phép. Nhưng nếu tôi có thể kiểm soát được cơn nghiện thì đã tốt. Chỉ tiếc rằng tôi bất lực trước rượu. Một khi bắt đầu uống, tôi sẽ chẳng thể biết điểm dừng.”
Điều này quen tai thật.
Tiếp đến, anh ta nói về cách thỏa hiệp với bản thân: giả như anh ta sẽ ghé AA một thời gian để xả hơi, sau đó quay lại một cách thận trọng hơn, giống như người bình thường uống rượu.
Chúa ơi! Cứ như anh ta đang đọc suy nghĩ của tôi vậy.
Diễn giả trình bày xong, hội viên sẽ cùng chia sẻ kinh nghiệm hoặc bày tỏ cảm xúc của bản thân. Vui có, buồn có. Họ hoặc đã mỉm cười thoải mái hơn, hoặc nghiêng người vỗ vai đồng cảm. Điều quan trọng là họ đã được giải tỏa. Duy chỉ có tôi vẫn mắc kẹt trong sự ngại ngần.
Lát sau, một người đàn ông đứng lên và chuyền đi một chiếc giỏ, mọi người sẽ ném vào đó đồng một hoặc hai đô la. Sau khi thông báo một vài điều, anh ta hỏi liệu ở đây có ai mới gia nhập AA? Tôi vươn cánh tay run rẩy lên không quá một găng tay[*], miệng lý nhí.
“Chào, tôi là Barbara. Đây là... lần đầu tôi tham gia.”
Hai mươi người đồng loạt nhìn tôi. Họ tươi cười hào sảng.
“Chào mừng cô gia nhập. Tiếp tục quay lại nhé.”
Cảm giác tốt đẹp và ấm áp ban đầu rất nhanh được thay thế bằng một cơn nóng bừng vì ngượng. Đây không phải kiểu của tôi.
Nhưng theo sau lại là sự hoang mang khó hiểu. Ủa rồi sao? Hướng dẫn đâu?
Sau buổi gặp, tôi để ý thấy một anh chàng đẹp trai, sơ mi trắng bó sát đang nhìn tôi với một nụ cười đầy ẩn ý. Anh ta bước tới và đưa tôi cách thức liên lạc. Không đúng lúc chút nào! Đừng tiếp cận tôi lúc này, đừng ở ngay đây chứ.
“Gọi cho tôi bất cứ khi nào cô muốn uống rượu nhé.” Anh ta nói.
Tôi ngớ người trước khi kịp nhận ra anh chàng không hề có ý định tán tỉnh, chỉ đơn giản đang ném cho tôi một cọng dây cứu mạng, không hơn không kém. Tôi còn nhận được một cuốn sổ tay, mấy tờ rơi và lời đề nghị tiếp tục quay lại.
Cảm giác tệ hại vẫn chưa vơi bớt, tôi quyết định đến một địa điểm gặp mặt khác ngay trong đêm – tạm coi như một công đôi việc. Từ vùng ngoại ô đến tầng hầm nhà thờ trên Đường 70-9 bờ Tây, nơi diễn ra cuộc gặp hoành tráng và náo nhiệt, ở đó dường như ai ai cũng có quan hệ thân thiết. Tôi có chút e ngại, tâm trạng vẫn còn bất an và sợ hãi. Tôi nhìn quanh, muốn kiếm cho mình chỗ ngồi tít phía cuối thì trông thấy một gã to béo, niềm nở tiến thẳng về phía mình. Đùa nhau à!
“Chào, người mới hả? Đằng kia còn chỗ trống, tới tham gia với tụi anh không?”
Anh ta chỉ tay về phía một nhóm gồm cả nam lẫn nữ đang vui vẻ cười nói, thoải mái như đang tham dự tiệc rượu. Họ chào đón tôi như đứa em gái thất lạc, để tôi nhập hội và tặng tôi đủ thứ quà – những cuốn sách, số điện thoại, rủ tôi tới những buổi cà phê. Tôi bị choáng ngợp và khó hiểu trước sự hào phóng đó. Tôi chắc hẳn sẽ trở thành con mồi được săn đón nếu ai đó muốn vươn tay giúp đỡ những người có vẻ kém may mắn hơn, tất cả họ (đều đối xử với tôi) như vậy. Tay chân run rẩy, nói năng lộn xộn lắp bắp, tôi chính là điển hình cho một ngày thiếu rượu. Mất chút thời gian để tôi hiểu, họ duy trì sự tỉnh táo bằng cách giúp người khác cùng tỉnh táo. Vậy là tôi đã tìm đúng chỗ.
Tôi chẳng thể làm gì khác ngoài việc tới những buổi gặp mặt vào tất cả các ngày nguyên một tuần đó, đôi khi là hai buổi. Một số mang tính xã hội, đôi khi là giải trí, một số khác thì nghiêm túc, thậm chí nghiêm túc đến phát sợ. Thành viên tham dự thuộc mọi tầng lớp xã hội, từ những góa phụ giàu có tới kẻ mới ra trại ở Upper East Side[*], từ những đại gia trắng tay tới những người vô gia cư gây dựng lại sự nghiệp. Từ trung tâm tài chính Park Row[*] đến băng ghế công viên, từ khu ổ chuột Skid row[*] đến khu SoHo[*] sang trọng. Từ giám đốc đến lái xe, từ nghệ sĩ đến nhân viên bình thường, ở đây, họ không cần công khai danh tính của mình, chỉ cần muốn chia sẻ về cuộc đời chính họ. Tôi ngạc nhiên khi thấy có cả những đối tượng thanh thiếu niên nhưng cũng ghen tị vì họ còn cơ hội sửa sai trước khi lãng phí nhiều năm cuộc đời.
Tại mỗi buổi gặp mặt, họ yêu cầu những người mới giới thiệu bản thân. Cho tới một ngày, tôi đã lấy hết can đảm để nói rằng. “Xin chào, tôi là Barbara và tôi nghiện rượu.” Nghiện rượu. Hai từ đó không biến tôi thành kẻ thất bại, mà ngược lại, cho tôi cảm giác nhẹ nhõm khi dám thừa nhận điều đã tồn tại từ lâu. Không rõ từ bao giờ, cảm giác xấu hổ ban đầu đã thay bằng một loại cảm xúc tự hào. Tôi thuộc về một tập thể vĩ đại hơn cả bản thân mình – nơi gắn kết những con người mạnh mẽ và thú vị, ngày ngày nỗ lực để vượt qua nghịch cảnh. AA không dành cho những kẻ yếu đuối.
Vượt qua 90 ngày không một giọt rượu, đây là khoảng thời gian cần thiết để hình thành hoặc từ bỏ một thói quen. Chính tại nơi tôi kỷ niệm dấu mốc quan trọng trên, cũng chính là ngày tôi nhận được đồng xu đầu tiên, một kỷ vật bằng đồng đánh dấu thành tích trong 90 ngày cai rượu, tôi đã vô tình bắt gặp và tìm được cho mình một nhóm tại gia dành cho những người đồng tính nữ. Mọi người vỗ tay và tôi đã khóc, nhưng đó là những giọt nước mắt hạnh phúc. Tôi cảm thấy tuyệt vời. Tôi tiếp tục tìm lại bản thân. Tới một ngày, tôi đã không đụng một ly nào nữa cả. Một khi đã bắt đầu việc gì đó thì tôi phải làm cho thật tốt, vì thế tôi dồn toàn bộ tâm huyết cho AA. Tôi có người bảo trợ, thực hiện đủ mười hai bậc, đọc cuốn sách khổng lồ, mỗi ngày đều tham gia gặp mặt và cùng một nhóm sau đó tiếp tục hẹn hò. Tôi pha cà phê, chuyền tay chiếc giỏ và chào đón thành viên mới. Sự sốt sắng của tôi có lẽ đã chạm đến nhiều người, đại để là một thành viên lâu năm đã cho tôi lời khuyên. Tôi nên thư thả và tận hưởng năm đầu tiên của mình. Cô ấy còn tiết lộ với tôi một công cụ rèn luyện hữu hiệu gọi là “Ba chữ T”, bao gồm: Thức tỉnh – Thừa nhận – Thực hiện.
“Luôn duy trì tỉnh thức.” Cô ấy nói.
Tôi đã nhận ra mình là con nghiện cần được giúp đỡ. Điều này cực kì quan trọng, gọi là “hồi chuông cảnh tỉnh” cũng không ngoa. Song đây sẽ không phải là điều kiện tiên quyết.
Khi đầu óc minh mẫn, tôi trở nên chú tâm tới nhiều thứ, ví như tôi đã lừa dối mình tới đâu. Lời nói dối đầu tiên của một con nghiện là tự hạ thấp chính mình. Hạ bệ quá khứ bằng cách đánh giá lại những việc đã qua để thấy bản thân đã nốc cồn nhiều ra sao, cư xử tồi tệ như thế nào. Bạn cố tình vờ như không có chuyện gì nhưng chẳng lừa nổi một ai và chỉ khiến bản thân thêm hèn mọn. Để rồi, tôi thực sự không biết trạng thái nào mới được coi là tồi tệ hơn, từ giảm thiểu biến thành cường điệu. Giống như cái cách tôi phóng đại tầm quan trọng của bản thân ở tiệm cúc áo nơi tôi làm việc, khi cho rằng mình là vendeuse, một nữ nhân viên bán hàng sành điệu và tinh tế. Như thể việc sử dụng tiếng Pháp sẽ giúp tôi cảm thấy đỡ lãng phí những năm tháng học hành.
Thức tỉnh là điều tốt, nhưng không phải tất cả đều tốt.
Những khiếm khuyết tích tụ trong nhiều năm dần dần bại lộ, và tôi cảm thấy thật đáng xấu hổ. Thứ cảm giác quen thuộc đưa tôi trở về lần đầu say rượu vào năm 12 tuổi, khi bà cho tôi ăn bỗng rượu trong một dịp cả nhà mở tiệc ngoài trời. Lúc đầu thì cũng vui đấy. Tôi thích cảm giác thoải mái, lâng lâng mà nó mang lại, cảm giác mọi thứ đều tốt đẹp. Nhưng bắt gặp ánh mắt của mẹ, tôi đã xấu hổ.
Tuy vậy, quá khứ là quá khứ, còn hiện tại là hiện tại, như người bảo trợ của tôi đã nhắc nhở thế này: “Thả lỏng chút nhé? Cô không thể thay đổi cho đến khi tự biết bản thân cần thay đổi điều gì. Hãy chấp nhận và tiến về phía trước.”
Chấp nhận. Tiến lên.
Điều đó thật không dễ dàng, nhưng sự đồng cảm của những người xung quanh đã thực sự giúp ích cho tôi.
Với tôi, AA đã trở thành lẽ sống.
Hệ thống và logic đã thu hút tôi, thậm chí tới bây giờ tôi vẫn áp dụng nguyên tắc “ba chữ T” mỗi khi cần có những thay đổi lớn. Thức tỉnh. Thừa nhận. Thực hiện. Khẩu hiệu của AA chính là “Bình cũ rượu mới” hay “Không có gì thay đổi nếu không thay đổi điều gì”. Nếu bạn không chịu thay đổi và trưởng thành, bạn sẽ lại say xỉn, tạm gọi là “say khổ”, được hiểu là khi bạn không hề uống rượu nhưng vẫn cư xử và có thái độ tồi tệ, loại hành vi ngay từ đầu đã hủy hoại cuộc đời bạn. Thi thoảng tôi nghe ai đó hứa hẹn về “một cuộc sống vượt xa cả những mơ ước ngông cuồng nhất bạn từng có”. Tôi nghĩ mấy lời đó đơn giản là đang bốc phét. Trên hết là những giấc mơ tôi từng ôm ấp vốn đã bị quên lãng từ lâu.
Chúng tôi được học những kỹ năng sống bao gồm: trung thực, khiêm tốn, lao động, chấp nhận, lễ phép, giữ lời và tử tế. Tất cả các yếu tố của một cuộc sống trong sạch và tỉnh táo được cô đọng thông qua những khẩu hiệu dễ nhớ, đặc biệt gửi tới những bộ óc u mê. Tôi giác ngộ từ chính những căn phòng đó, tôi đang bay trên “đám mây hồng”[*] – sự ấm áp dâng trào khi tôi ngừng đầu độc từng tế bào trong cơ thể. Tôi yêu thích sự tỉnh táo lẫn cảm giác mình sắp gặt hái thành công. Ngày nào không uống rượu, ngày đó như thể tôi vừa mới gửi tiền vào ngân hàng. Sự tỉnh táo chính là món quà mà tôi không đời nào đánh đổi.
Trong suốt năm đầu tiên, khi tư tưởng của tôi vẫn còn mông lung, người bảo trợ đã cho tôi lời khuyên, tốt hơn là không nên có bất kì thay đổi lớn nào hết. Thế nhưng khi ấy, Leigh và tôi đã nảy sinh mâu thuẫn, mỗi người một định hướng, một lối sống riêng. Tôi cần giữ tỉnh táo, còn cô ấy thì không. Có lẽ một thời gian sau nữa tôi mới đụng tới rượu bia, còn cô ấy luôn kêu ca: “Chỉ một chút bia nhẹ hều thôi chứ mấy?” Vài tháng sau, chúng tôi đã chia tay trong êm đẹp. Tôi mừng vì cô ấy tìm được hạnh phúc mới và sống một cuộc sống đúng như cô ấy hằng mong.
Sau đó nữa, tôi bị một vài người bạn kém thân thiết nghỉ chơi, vì không vui khi có tôi trong bàn rượu, dù tôi chẳng bận tâm họ uống ít hay nhiều. Tôi biết rõ trước đây mình hay phê phán mọi người, có thể lập tức lấy điểm yếu của người khác ra làm bia đỡ đạn, né tránh rắc rối của bản thân. Hiện tại, tôi lo chuyện của mình thôi đã mệt, lấy đâu thời gian để đánh giá điều gì. Tôi có thêm nhiều bạn mới và tham gia hoạt động khiêu vũ một cách tỉnh táo – thoạt nghe ngỡ như một ý tưởng kỳ quái.
Tôi hình dung những con người mang nụ cười giả dối đứng khép nép bên những bức tường, cực kì miễn cưỡng với việc nhảy nhót giữa mặt sàn trống trải. Nhưng thực tình nó tương tự như mọi bữa tiệc tôi từng tham gia, ngoại trừ thiếu vắng vài cảnh tượng đánh nhau, ngã gục hoặc ai đó trốn trong góc phòng nức nở. Điều tuyệt vời là bạn không những có niềm vui mà sáng hôm sau bạn còn nhận ra mình đã không làm gì dại dột.
Nếu không tỉnh táo lại, cuộc đời tôi sẽ vẫn mãi hèn mọn. Khi tôi bắt đầu thường xuyên uống rượu, tôi đã quên mất việc đi du lịch, tới nhà hàng hay rạp hát. Thậm chí còn chẳng buồn nghĩ tới chuyện xem phim. Điều đó bỗng chốc trở nên thực sự phiền phức. Tôi vốn tự nhận mình hài hước, nhưng thực tế, phải nói là “mồm miệng độc ác, bụng dạ hẹp hòi” mới đúng. Tồi tệ nhất là tôi đã đánh mất bản tính ham học hỏi vốn có.
Khi còn nhỏ, tôi thường vui vẻ một mình, mắt không rời những thiết bị tiện dụng và không ngại tháo chúng ra tìm hiểu nguyên lý hoạt động. Có lần tôi tháo rời từng bộ phận chiếc đài bán dẫn Zenith của cha để rồi kinh ngạc trước những điện trở và tụ điện nhỏ xíu nhiều màu sắc. Tôi dùng chính những mảnh rời rạc đó để chế tạo chiếc máy thu thanh khuếch đại thẳng[*] của riêng mình. Bất ngờ nhất là nó đã hoạt động! Mỗi sáng thứ Bảy, khi tôi ngồi trước ti vi xem Ngài Wizard làm thí nghiệm, tôi biết rằng mình là một nhà khoa học. Tôi muốn có một phòng thí nghiệm. Tôi đam mê khám phá và tha thiết tìm hiểu ngọn nguồn sự việc. Câu hỏi thường xuyên gây ức chế của tôi là: “Tại sao?” Dĩ nhiên, khi đó câu trả lời tôi nhận được là: “Tại vì nó vốn thế.” Dẫu vậy, tôi vẫn thành công thuyết phục ba mẹ mua cho mình một bộ thí nghiệm hóa học Gilbert và một cuốn sách giải phẫu có hình ảnh minh họa kèm lời hứa: “Đó là vì tương lai con em chúng ta.”
Bộ dụng cụ dạng ấn phẩm bằng kim loại gập ba, hoành tráng tới độ tôi có thể trốn sau nó được. Bình hóa chất ở vị trí trung và tâm, ống nghiệm và cốc đặt bên phải, bên trái đặt dụng cụ sách hướng dẫn. Tôi như cá gặp nước. Việc các anh chị em của tôi không được quấy rầy khi tôi làm mấy thí nghiệm quan trọng và nguy hiểm đã không còn xa lạ. Bởi lỡ như có gì đó phát nổ thì sao? Là chị cả trong số chín anh chị em, tôi nghiêm túc tiếp nhận vai trò mới. Không chỉ là đứa có trách nhiệm mà còn biết dập lửa, biết sơ cứu, tôi là đứa sở hữu bộ hóa học của riêng mình. Năm tiếp theo, quà Giáng sinh của tôi là một chiếc kính hiển vi và một mô hình hoàn chỉnh về cấu tạo cơ thể người bằng chất liệu nhựa và có thể nhìn xuyên thấu được. Vào dịp sinh nhật, tôi nhận được một con ếch ngâm trong dung dịch formol cùng bộ dụng cụ giải phẫu. Những thứ đó thực sự cuốn hút. Trẻ con hàng xóm sẽ mang cho tôi thứ chúng nhặt được và háo hức làm khán giả chờ tôi mổ xẻ. Tôi sẽ phanh xác động vật để tìm hiểu hoạt động của các bộ phận bên trong, quan sát sự tác động lẫn nhau của khung xương, múi cơ và cơ quan nội tạng. Điều này mang tới cho tôi cảm giác hồi hộp chưa từng có. Trải nghiệm thuở ấu thơ trong hành trình đi tìm ranh giới giữa sự sống và cái chết dường như có gì đó rất bản năng. Nhưng cuối cùng, ước mơ trở thành nhà khoa học của tôi vừa mới đâm chồi đã bị nhấn chìm trong sự mơ hồ vì nghiện rượu, trong nỗi thất vọng và sự mất mát không sao bù đắp được.
Đôi khi tôi nhớ về những ngày đầu gia nhập AA và quá trình tôi từng bước bị khuất phục – đúng vậy, đó chính là cách mọi thứ diễn ra. Bản thân tôi cũng không hiểu làm thế nào tôi có thể hạ mình cầu xin sự giúp đỡ. Điều đó không giống với tính cách của tôi. Tôi thích đương đầu với thử thách và luôn muốn làm chủ bản thân, nhưng thực ra tôi chỉ làm chủ những điều nhỏ nhặt.
Người bảo trợ ở AA chỉ rõ rằng tôi “vô công rồi nghề”. Có lẽ vậy! Nhưng tôi miễn cưỡng từ bỏ công việc của người bình thường, dù tính chất của nó tạm bợ và chẳng hề đòi hỏi trình độ hay áp lực gì nhiều. Tuy nhiên quãng thời gian đó là cần thiết để tôi “xốc lại tinh thần”. Thật lòng mà nói tôi hơi sợ, giống như việc bị ném ra ngoài xã hội và phải tự học cách trưởng thành. Tôi hết cách để biện minh cho sự thiếu quyết tâm cũng như thái độ sống không mục đích của mình. Cô ấy chỉ cho tôi về dịch vụ tư vấn và phục hồi cai nghiện kéo dài trong tám tuần, gọi tắt là EPRA[*], một chương trình việc làm cho những người nghiện rượu tái hòa nhập xã hội. Ở Tiểu bang New York, nghiện rượu bị coi là khuyết tật vì vậy sẽ được nhận sự hỗ trợ và dịch vụ miễn phí. Tôi đã đăng ký tham gia, bởi vì tại AA, họ chỉ chỗ nào bạn đánh chỗ đó.
Trải qua vài buổi phỏng vấn và tư vấn đầu vào, tôi được thông báo mình bắt đầu quá trình kéo dài bốn tháng với việc Đánh giá Nghề nghiệp Chẩn đoán (DVE)[*] và Đánh giá Tình huống (SAP)[*]. Những tên gọi chính thống nghe khô khan đó thực chất là niềm vui. Chúng tôi làm một số bài kiểm tra liên quan tới nghề nghiệp như: Đánh giá năng lực[*], MAPP[*], Myers-Briggs[*] và cung cấp thông tin về lĩnh vực bản thân thực sự hứng thú. Ở đó bạn sẽ trả lời những câu hỏi liên quan tới “làm gì hơn”.
Bạn thích soạn một lá thư hay thích chải lông cho ngựa hơn?
Bạn thích sửa chữa động cơ ô tô hay thiết kế trang phục hơn?
Bạn thích đi săn đám sóc hay lập bản đồ tiểu hành tinh hơn?
Tôi tham gia các buổi họp nhóm, một nơi để chúng tôi cùng ngồi xuống và bày tỏ cảm nhận về công việc. Người nghiện rượu thường hay tự cao tự đại, cho rằng bản thân ngoài vòng pháp luật. Họ sẽ dạy chúng tôi biết cách khiêm tốn, hòa đồng và trở thành công dân có ích cho xã hội. Tôi vẫn tích cực lắng nghe dù trình độ học vấn của tôi cao hơn mọi người ở đây một bậc. Điều này chỉ đúng cho đến khi một trong số hội viên, người phụ nữ bệ vệ với nụ cười khinh khỉnh, phát biểu cảm nhận về việc trở thành một công dân có ích.
“Mọi người thấy đó, tôi là một luật sư. Đúng hơn là một thẩm phán luật hành chính (ALJ)[*]. Không một ai mong đợi tôi sẽ có việc làm.”
Tôi rùng mình như bị nói trúng tim đen.
Đã tới lúc phải thay đổi.
Chúng tôi phải dành ra vài tuần cho công việc thiện nguyện, vì tấm bằng thạc sĩ Y tế công mà tôi được cử tới phụ trách nhà bếp tại God's Love We Deliver, một tổ chức chuyên cung cấp bữa ăn miễn phí tới tận nhà những bệnh nhân mắc AIDS, với nhiệm vụ là thái nhỏ hành tây và cần tây. Tôi không hề thích việc họ liên tục nói những lời lặp đi lặp lại rằng: “Hãy trở thành một phần của công việc. Làm việc với niềm kiêu hãnh. Vượt lên chính mình.” Tôi đã nỗ lực nhưng tôi không giỏi việc cắt thái, vì thế họ giao cho tôi nhiệm vụ mở phong bì và phân loại thư. Rõ ràng tôi biết cách tốt hơn để mở bì thư, nhưng lại được yêu cầu phải làm theo ý họ.
Được thôi Barbara, làm đại cho xong.
Chẳng mấy chốc kết quả kiểm tra đã được gửi tới, chính xác đến kỳ lạ. Sau khi xem xét, cố vấn của tôi thông báo tôi thích hợp làm bác sĩ thú y hoặc nhân viên điều tra.
“Tại sao lại là bác sĩ thú y?” Tôi thắc mắc.
Cố vấn ân cần giải thích rằng những chú cún ốm yếu sẽ khiến tôi đau lòng.
“Còn lũ gà.” Ông nói tiếp. “với đôi mắt nhỏ tí như hạt cườm? Ai thương cảm chúng cho được.”
Đã từng là một trợ lý bác sĩ, tôi thường xuyên gắn bó với bệnh nhân và dễ trở nên ủ rũ khi họ không thể vượt qua bệnh tật. Nhưng nếu là xác chết....
Tôi không chút do dự liền đáp: “Tôi sẽ làm nhân viên điều tra.”
Đó là cách mọi thứ tìm đến với tôi. Với tư cách một nhân viên điều tra, tôi có thể tìm hiểu chuyện gì đã xảy ra, đánh giá khoa học và sửa chữa mọi thứ.
Tôi có thể hỏi tại sao không.
Ở EPRA tôi được giao một bài tập về nhà, đó là phỏng vấn người mà theo nhận định của tôi, có công việc tốt nhất thành phố. Năm ngoái, tôi nhớ trên chuyên mục quảng cáo tuyển dụng của tờ Thời báo New York có thông tin gì đó liên quan tới vị trí điều tra viên cho Văn phòng Giám định Y khoa. Tôi thường để ý tới một cái tên trong các vụ phạm tội đăng trên tờ New York Post hoặc Thời báo New York.
“Người phát ngôn của Văn phòng Giám định Y khoa, Tiến sĩ Charles Hirsch công bố, nguyên nhân cái chết là…”
Vị cố vấn của tôi nói rằng mọi người đều thích nói về công việc của họ, vậy tại sao không thử kết nối với người đó nhỉ? Tôi đã gọi cho Tiến sĩ Hirsch và đề nghị sắp xếp một cuộc phỏng vấn để đưa tin. Ông đã vui vẻ đồng ý.
Ngày hẹn đã tới, tôi đánh bóng đôi giày cao gót và chải chuốt phần tóc mái, trang điểm nhẹ nhàng cho đôi mắt và thoa một chút son bóng. Tôi tới Phố 30, Đại lộ 1 trong bộ váy duy nhất còn sót lại từ những ngày còn làm trợ lý bác sĩ và sau đó là quản lý bệnh viện tại St. Barnabas. Tôi đã mặc đồ đen lâu đến nỗi nảy sinh ám ảnh rằng mình dễ bị chú ý trong họa tiết kẻ sọc màu xanh đậm. Tòa nhà có hình dáng một khối lập phương ốp gạch màu xanh nhạt, một công trình tồi tàn theo phong cách kiến trúc Bauhaus[*] nổi bật trên dãy nhà bệnh viện, đoạn dọc theo Đại lộ 1, nơi tọa lạc của cả bệnh viện Bellevue[*] lẫn Trung tâm Y tế VA[*], Đại học New York. Cụm chữ cái bằng nhôm đề tên một cách ngạo nghễ.
“THÀNH PHỐ NEW YORK
VĂN PHÒNG GIÁM ĐỊNH Y KHOA”
Khu vực tiền sảnh đìu hiu, là sảnh chờ dành cho thân nhân người chết. Song những bức tường ốp đá cẩm thạch màu nâu tím rất bắt mắt. Trên bàn tiếp tân nổi bật tấm biển nhôm với dòng chữ: Taceant colloquia. Effugiat risus. Hic locus est ubi mors gaudet succurrere vitae. Kỳ quặc.
Qua ít phút chờ đợi, tôi được dẫn vào văn phòng của Tiến sĩ Hirsch, một không gian rộng rãi xếp rất nhiều sách và một bức tường treo những bức ảnh về các bác sĩ áo trắng. Ông xuất hiện trong tất cả các bức ảnh đó, giữa một tập thể nghiên cứu sinh bệnh lý pháp y sắp tốt nghiệp, với nét mặt dần mất đi vẻ xuân xanh theo năm tháng.
Tôi đến đây mang theo sự thấp thỏm và sợ sệt nhưng đã có thể nhanh chóng lấy lại bình tĩnh. Với chiếc tẩu thuốc và quần âu có dây đai, Tiến sĩ Hirsch giống một giáo sư Lịch sử hơn là một nhà cầm quyền. Ông toát ra phong thái jolie laide – cách diễn đạt mà người Pháp dùng cho sự hấp dẫn ở người có cả những nét quê mùa. Sống mũi nổi bật của Tiến sĩ Hirsch lệch sang một bên, dấu ấn từ trận đấu quyền anh hồi đại học, và đôi tai to hơi vểnh ra ngoài. Nhưng đôi mắt ông ánh lên sự thông tuệ và hài hước, nụ cười nhếch mép có thể ngay lập tức khiến bạn bồn chồn. Bằng cách nào đó, ông tạo cho tôi cảm giác mình là một vị khách quan trọng.
Ông nói: “Cảm ơn vì đã đến gặp chúng tôi. Vui lòng giới thiệu bản thân một chút.”
Tôi nói về công việc của mình với tư cách là một trợ lý bác sĩ và cảm giác buồn chán khi phải chuyển sang làm quản lý bệnh viện. Nghe vậy, ông mỉm cười.
“Bác cũng như cháu.” Ông nói. “Bác không thích công việc đó, nên bác thuê những người giỏi nhất và lắng nghe họ.”
Thật lòng mà nói, tôi chưa chuẩn bị kĩ càng cho buổi hôm ấy, tôi mất thời gian lựa chọn trang phục hơn là suy nghĩ về những vấn đề muốn tìm hiểu. Tôi chính là đại diện tiêu biểu cho một kẻ nghiện rượu kiêu căng. Nhưng qua cách trò chuyện cởi mở của ông, tôi đã dễ dàng đưa ra nhiều câu hỏi.
“Làm việc với xác chết thì như thế nào ạ?” Tôi hỏi.
“Thì yên bình.” Ông trả lời ngắn gọn.
“Nhưng sự thật thì chúng ta làm việc với gia đình của người đã khuất, đấy là cái khó. Chúng ta đang chứng kiến thời điểm khó khăn nhất trong đời họ, cái họ cần là câu trả lời và công lý. Vậy nên đây là công việc cao cả.”
Chúng tôi nói chuyện rất hợp cạ, tôi được ông đối xử tôn trọng hệt như người có địa vị xã hội. Có không ít người thích lấn át người khác như một cách để chứng tỏ quyền lực và sự kiểm soát. Nhưng Charles Hirsch thì không. Ông ấy muốn tôi thoải mái và cảm nhận giá trị của bản thân. Lòng tự tôn của ông tuyệt vời đến mức ông chưa bao giờ phải cảm thấy mình quan trọng.
Khi dẫn tôi qua sảnh để tới gặp Richard, Giám đốc Điều tra, ông dừng trước bàn tiếp tân và dịch cho tôi ý nghĩa dòng chữ Latin trên tường.
“Hãy ngưng trò chuyện và tạm cất tiếng cười ở một nơi cái chết sẵn lòng giúp người còn sống.”
Richard tính tình năng nổ và vui vẻ với chất giọng pha trộn giữa miền Tây và Trung Tây.
“Xin chào, xin chào, kéo ghế đi, cứ ngồi thoải mái. Hôm nay cô thế nào? Tốt hả? Tốt lắm!”
Anh ta có nụ cười hào sảng và cái bắt tay mạnh mẽ. Bất chấp vẻ ngoài đáng yêu, Richard dần dần lộ rõ cho tôi chính xác mình là người như thế nào. Ngả người trên chiếc ghế văn phòng ngoại cỡ, đan hai tay sau đầu, tư thế thể hiện anh ta đang nghỉ ngơi và việc đó thực sự cần thiết. Tôi tự hỏi sẽ ra sao nếu chiếc ghế lật ngửa và đầu anh ta bị đập xuống sàn. Tôi hiểu rõ con người Richard – đe dọa người khác đem lại cho anh ta cảm giác quyền lực – người này sẽ dễ dàng bị lôi kéo.
Sau đó, Richard giới thiệu tôi với các điều tra viên pháp y dưới chướng. À chưa đúng lắm, chính là “giới thiệu” bằng cách ném tôi vào phòng.
“Nào, mọi người.” Anh nói. “Đây là Barbara. Cho cô ấy biết chúng ta làm gì ở đây.”
Văn phòng của các điều tra viên chỉ rộng hơn chục mét vuông, ô cửa sổ nhỏ duy nhất bên trong đã bị chặn bằng một chiếc điều hòa không hề hoạt động, bốn chiếc bàn màu xám bằng kim loại cồng kềnh, vài tủ hồ sơ, mặt sàn lót vải sơn màu nâu sờn cũ thường thấy trong các cơ quan chính phủ từ khoảng những năm 1950.
Đội MLI là một nhóm đàn ông kỳ lạ. Đó là Reuven, anh chàng đẹp trai gốc Do Thái với bộ râu kèm chiếc mũ trùm đầu, đóng nguyên một bộ com lê tối sì cùng cà vạt. Randy ăn mặc bảnh bao, mái tóc vàng hoe chải chuốt với những sợi gẩy màu tinh tế. Cả hai đều chọn quần âu có dây đai để tỏ lòng kính trọng đối với Tiến sĩ Hirsch, Reuven màu đen và Randy màu đỏ. Tiếp đến là Bob, bộ dạng luộm thuộm trong chiếc quần kaki nhàu nhĩ và gương mặt lún phún râu. Tất cả đều quan sát tôi chăm chú. Tại sao tôi lại ở đây? Bọn họ vừa được chấp thuận cho việc có thêm một điều tra viên, nhưng xem ra tôi không phải là một ứng cử viên phù hợp. Rõ ràng tôi trong suy nghĩ của họ là “em gái ngoan hiền” hoặc một người quản lý trong bộ đồ công sở và đôi giày cao gót tôi mang.
Bọn họ đã kiểm tra phản ứng của tôi bằng cách cho tôi xem những bức ảnh của những vụ giết người khủng khiếp lẫn tai nạn thảm khốc.
Bob nói qua cho tôi một trường hợp cậu ta vừa tiếp nhận buổi sáng. Một người đàn ông nằm trên đường, sát bên cửa ô tô đang mở, máu chảy từ đầu xuống cống thoát nước.
“Thấy những dấu vết ở một bên mặt anh ta không? Đó là vết bầm và trầy xước do kính an toàn gây ra, có nghĩa người này đã bị bắn xuyên qua cửa chắn gió đóng kín.”
“Ồ. Vì thế nên kể cả anh ta bị ném khỏi xe, anh vẫn có thể nhận định rằng anh ta bị bắn xuyên qua cửa sổ. Hay thật đó.”
Reuven đẩy tới trước mặt tôi một bức ảnh khác. Đó là một cơ thể trương phềnh, trên da hằn lên những đường gân xanh tím, đôi mắt lồi ra như một con quái vật khổng lồ.
“Cô biết đây là cái gì không? Là thứ chúng ta thấy sau một mùa hè dài. Sự phân hủy, một cơ thể bị phân hủy. Thật tiếc khi đây không phải miếng dán cào và đánh hơi[*]. Cô sẽ không tưởng tượng nổi mùi thối rữa là như thế nào.”
“Thú vị thật đó. Nguyên nhân cái chết là gì?”
“Ai mà nhớ nổi? Tôi nhận được cả ngàn vụ, không biết từ đâu chui ra.”
Randy cười khúc khích. “Không biết cũng phải, cậu chưa bao giờ đi quá ngưỡng cửa.” Rồi quay sang tôi lý giải. “Reuven không thích bị bẩn giày.”
Tôi không chớp mắt trong suốt quá trình xem hình chụp, cười trước mấy lời trêu đùa của họ và đặt câu hỏi về các trường hợp. Sau đó Randy đưa tôi xuống phòng khám nghiệm, nơi có xác chết nằm trên bàn mổ cùng một con dao trên ngực và nhiều vết đâm trên thân thể. Tôi tự hỏi liệu thủ phạm thuận tay phải hay tay trái, điều này khiến nhà nghiên cứu bệnh học bắt đầu một cuộc thảo luận thú vị về góc của vết thương.
Hấp dẫn thật đấy.
Sau đó, tôi trở lại văn phòng của Richard, trò chuyện thêm một chút về việc trở thành một điều tra viên pháp y, nhiệm vụ như thế nào và khó khăn ra sao. Lại thêm một lát sau, anh ta một lần nữa ngả người ra ghế và hỏi.
“Cô có muốn làm việc cho chúng tôi không?”
“Thật chứ?”
“Đúng vậy. Tôi trống một vị trí điều tra viên, đó sẽ là của cô nếu cô muốn.”
Của tôi nếu tôi muốn ư.
Tôi muốn chứ.
Tôi phấn khích đến nỗi muốn nhảy qua bàn để nhận nữa ấy. Nghiện rượu đã mang tới cho tôi một công việc trong mơ! Nhưng không vì thế mà tôi không lo lắng. Đồng ý đồng nghĩa tôi sẽ bước ra khỏi vùng an toàn vốn có, một thế giới mà ở đó toàn bộ những việc gần đây của tôi không đòi hỏi quá nhiều nỗ lực. Dưới kén bảo vệ của chương trình Mười hai bước, tôi chỉ có thể chậm chạp thay đổi. Cuộc sống của một số người sẽ bị ảnh hưởng bởi các cuộc điều tra pháp y – tôi là cái thá gì mà dám nghĩ mình phù hợp? Nhưng trước đây tôi đã đảm nhận nhiều vị trí chuyên nghiệp, với tư cách là trợ lý bác sĩ và sau đó là quản lý bệnh viện. Tôi đã từng làm những điều tốt đẹp và có giá trị. Tôi có thể xây dựng một nhân cách mới cho vai trò này. Đây là điều tôi làm rất tốt.
Trong chương trình, tôi được yêu cầu “hành động như thế..”.
Hành động như thể bạn đang tỉnh táo, tự tin và không hề sợ hãi.
Hành động như thể đó là vai trò của bạn cho đến khi đó là chính bạn.
Tôi có thể làm được.