Quá trình đào tạo của tôi ở OCME thật thảm hại. Thời điểm báo danh để bắt đầu công việc vào tháng Chín năm 1992, trong niềm tự hào nhưng không kém phần lo lắng, tôi đã rất mong chờ được tận mắt quan sát khám nghiệm tử thi, tham gia nghe giảng và có cơ hội tới những buổi giao ban, nơi các bác sĩ pháp y thảo luận kết quả khám nghiệm tử thi với ban lãnh đạo. Một trong số họ sẽ trình bày về trường hợp mình đang phụ trách. Ví dụ vụ tên côn đồ trấn lột một ông lão chẳng hạn. Kẻ tấn công lúc đó vung dao và quát: “Đưa tiền cho tao, nếu không tao sẽ giết mày, lão khốn!” Ông lão thấy vậy ôm ngực ngã xuống đất, rồi chết ngay sau đó. Ông bị bệnh tim và khám nghiệm tử thi chỉ ra kết quả rằng đó là một cơn nhồi máu cơ tim nghiêm trọng. Nhưng thực tế thì tên kia không tấn công vật lý ông lão. Vậy đây là cái chết tự nhiên hay một vụ sát hại?
Tôi chăm chú theo dõi.
“Phải xác nhận nạn nhân ở tình trạng khi họ được tìm thấy[*]…” Tiến sĩ Hirsch phân tích. “Cái chết được xác nhận bởi một cơn đau tim.”
“Vậy nên viết điều đó vào giấy chứng tử như thế nào ạ?” Vị bác sĩ đó hỏi.
“Cháu chỉ nêu sự thật về nguyên nhân cái chết là bệnh tim do xơ vữa động mạch. Chết như thế nào thì là cố ý giết người. Và ở phần chấn thương xảy ra như thế nào có thể viết do loạn nhịp tim bởi căng thẳng vì gặp cướp có vũ trang.”
Tiếp đến là dùng thuốc quá liều, có cả tá kiểu dùng thuốc quá liều. Chúng tôi cần xác định từng trường hợp là tai nạn ngẫu nhiên hay tự tử có chủ đích. Tiến sĩ sẽ hỏi điều đó khi mở báo cáo của điều tra viên pháp y, những câu hỏi sẽ làm rõ về bối cảnh và mục đích của cái chết: Anh ta muốn khoái lạc, hay đã xác định tìm đến cái chết ngay từ đầu?
Bối cảnh và mục đích. Đó chính xác là những gì tôi phải tìm kiếm. Tôi đã học về những điều này cả lúc ở văn phòng và khi ra ngoài thực địa, khi tôi được theo chân những điều tra viên dày dạn kinh nghiệm hơn. Tôi đã kỳ vọng được gặp nhiều vụ nhất có thể tại hiện trường, cũng như trả lời những cuộc gọi từ các bác sĩ bệnh viện mà bệnh nhân nằm ở đó đủ lâu để tạm dừng ở khoa cấp cứu (ER)[*] trước khi tới điểm đến cuối cùng: nhà xác.
Tôi sớm học được rằng chúng tôi không chỉ điều tra cái chết, mà còn giúp ngăn chặn chúng. Nếu người ta vì gặp tai nạn mà chết, chúng ta có thể ngăn những người khác chết theo cách tương tự. Thật vậy, lý do tồn tại riêng một điều luật quy định về chấn song sắt cửa sổ[*] ở New York là bởi các bác sĩ pháp y nhận ra có quá nhiều trẻ em chết vì vô tình ngã từ đó. Việc đeo dây an toàn khi ngồi trên xe là bắt buộc bởi dữ liệu pháp y phản ánh rất rõ về thương vong trong các vụ tai nạn ô tô. Nhưng nào ai biết điều đó?
Tôi đã dành thời gian ở mỗi phòng ban: quan sát khám nghiệm tử thi ở bộ phận Bệnh lý học, tham quan phòng thí nghiệm mô học và độc chất, tìm hiểu các nhóm đặc điểm nhận dạng đối chiếu người quá cố với gia đình họ như thế nào, cũng như cách thức vận hành của nhà xác, bộ phận hồ sơ và bộ phận hành chính. Bộ phận điều tra của tôi rõ ràng là thú vị nhất. Ở đó thường có hai mươi điều tra viên pháp y và một số điều tra viên kiêm bác sĩ bán thời gian, năm người ở mỗi quận ngoại trừ đảo Staten, khu vực yên bình của thành phố. Tôi đã yêu cầu được làm ở Manhattan[*] và được chấp thuận, thỉnh thoảng tôi sẽ nhận các trường hợp ở Bronx[*] khi công việc bận rộn.
Mọi thứ thật hấp dẫn và mới mẻ. Tôi được thấy một thành phố theo cách ít ai có được, và tôi yêu điều đó. Tôi đặc biệt phấn khích khi được ra hiện trường với đồng nghiệp. Vừa phấn khích lại vừa sợ hãi. Ở đó không chỉ có những cái chết tự nhiên mà còn có những cái chết đáng ngờ. Còn cả án mạng nữa, trời ạ! Nếu tôi phạm sai lầm thì sao? Điều gì sẽ xảy ra nếu tôi không làm đúng quy trình, khiến mọi thứ rối tung lên trước mặt cảnh sát? Còn phải vài tháng nữa tới khi tôi có thể tham gia các khóa học điều tra tội phạm và sát nhân ở Sở Cảnh sát New York (NYPD) – các khóa học sẽ dạy tôi những kỹ thuật phỏng vấn, thu thập và bảo quản bằng chứng, hay giải thích vết máu bắn ra. Vì lợi ích chung, sở cảnh sát sẽ mời hai hoặc ba điều tra viên pháp y tham dự các khóa đào tạo này mỗi năm. Trong thời gian chờ đợi, tôi phải gắng tiếp thu kiến thức ở mọi nơi có thể, và hấp thụ nó như hít thở hằng ngày.
Tôi học được nhiều điều hơn ngoài các kỹ thuật điều tra pháp y, học cách sống trong thế giới mới mà tôi là một phần trong đó. Một trong những cuộc khám nghiệm tử thi đầu tiên mà tôi tham gia là của một đứa trẻ 8 tuổi bị một gã đàn ông trung niên hãm hiếp và bóp chết, sau đó ném xác vào bãi rác. Hắn ta tức giận vì đã đưa cho mẹ cô bé 50 đô để mua cocain cho cuộc thác loạn. Khi cô ả cầm tiền rời đi cũng là lúc hắn lột đồ đứa trẻ. Tiêu đề của phần đăng tải gọi bố cô bé là Thiên thần dưới địa ngục. Tôi phát ốm với những gì mình nhìn thấy và không biết phải xử lý như thế nào. Tôi đã hỏi bác sĩ pháp y làm công tác khám nghiệm tử thi rằng sao cô ấy có thể chịu được công việc này. Cô đã cho tôi một lời khuyên tuyệt vời: “Mỗi ngày sau khi rời khỏi đây, cô hãy bao quanh mình bằng những điều đẹp đẽ. Tận hưởng thiên nhiên, nghệ thuật, đồ ăn, âm nhạc và tình yêu. Chỉ cần làm vậy, và đừng bỏ qua ngày nào cả, nghiêm túc đó.” Cô ấy đã đúng. Rốt cuộc, tôi đã mua cho mình một căn nhà nhỏ cuối tuần ở trên núi, nơi tôi có thể chơi với cỏ cây, và sở hữu vật nuôi (một chú mèo một mắt tên Munkie, một chú khác tên Frank, trông chú giống người phục vụ trong bộ lễ phục thùng thình, và cả Joey, chú chó mà hai đứa kia thích lôi ra làm trò tiêu khiển nữa). Điều đó thực sự hữu ích, nhưng không nhiều bằng việc được có không gian riêng. Cộng đồng điều trị chứng nghiện rượu (Al-Anon)[*], một chương trình chị em của AA, nơi tôi lui tới vì có khuynh hướng vướng vào mối quan hệ với những con nghiện giống mình đã dạy cho tôi điều đó. Họ cũng hướng dẫn tôi cách thoát khỏi những cảm xúc tột độ của mình. Và những gì tôi học được hẳn đang có ích ngay lúc này, khi tôi phải điều tra một số vụ án hết sức phức tạp.
Những điều tra viên pháp y từng dẫn dắt tôi mỗi người một tính cách, không ai giống ai. Nếu đi cùng Randy, chúng tôi có thể thoải mái dành cả giờ đồng hồ khi anh tán gẫu với các thám tử. Anh sẽ nói về những buổi nhạc kịch Broadway[*] anh từng xem, những nhà hàng anh từng ghé qua, bác sĩ pháp y nào hẹn hò với cảnh sát nào. Và anh thích gây sốc. Khi đang điều tra cái chết của người đàn ông trôi dạt vào bờ sông Hudson[*], chúng tôi phải đối mặt với một đoàn khách du lịch trên du thuyền Circle Line[*], những người này bắt đầu chụp ảnh, hẳn là để khoe với họ hàng ở quê nhà Düsseldorf. Tôi vô cùng kinh hoàng, nhưng mọi thứ với Randy lại thật đơn giản, anh giơ cánh tay của người chết lên và vẫy nó một cách vui vẻ. Đám khách du lịch như bùng nổ.
Ánh đèn flash của máy ảnh chớp nháy theo sau sáng rực như pháo hoa trên bầu trời vậy.
Nếu có tâm trạng, Randy sẽ dạy tôi những điều tinh túy của việc điều tra, chẳng hạn như cách xác định vị trí ban đầu của một thi thể qua việc lần theo dấu vết của viên đạn tác động đến góc vết thương (tìm dấu vết đạn trên tường, liên kết nó với vết thương trên người nạn nhân bằng bút laze hoặc một sợi dây, lưu ý hướng của vòng mài mòn[*] viên đạn). Đôi khi anh chỉ cho tôi cách làm một việc gì đó thực sự hữu ích, chẳng hạn như lăn một thi thể để kiểm tra từ mọi phía (vắt tréo một chân của người quá cố qua chân kia, gập cánh tay cùng phía sang bên vai đối diện, sau đó ngồi xổm xuống phía bên đó của cơ thể và đẩy nó ở hông và vai). Việc này diễn ra rất nhiều lần khi chúng tôi tiến hành điều tra.
Một ngày với Reuven giống như trong cuộc đua hết tốc lực, khi mà chúng tôi phải di chuyển liên tục từ hết hiện trường này tới địa điểm khác. Nhanh tới nhanh đi, và chẳng ai bị thương cả. Chụp ảnh, lật xác, chụp thêm vài tấm nữa, ấn vào bụng, và lấy thông tin từ TCTCTNCCĐT – “Tên chết tiệt chịu trách nhiệm cho cuộc điều tra”.
“Nào, anh sẽ kể cho tôi những gì chúng ta vừa làm chứ?” Tôi hỏi Reuven sau khi chúng tôi đã ra ngoài với nhau vài lần.
“Barbara, ca này không khó.” Anh ta thở dài. “Một người hàng xóm gọi cảnh sát tới kiểm tra phúc lợi. Tôi đã kiểm tra thương tích trên người nạn nhân. Chẳng có gì. Có thuốc trợ tim trong tủ phòng tắm và thẻ kiểm tra sức khỏe ở trên bàn. Tất cả cửa sổ và cửa ra vào đều bị khóa từ bên trong, không có ma túy hay rượu ở hiện trường. Người hàng xóm đã ký xác nhận. Rõ ràng là chết tự nhiên, chẳng cần khám nghiệm gì hết. Tôi chỉ đưa anh ta tới để xác nhận lời khai vì không có gia đình nạn nhân ở đó. Và chúng ta sẽ cấp giấy chứng tử bởi không có bác sĩ tư nhân nào làm việc đó.”
“Nếu ông ta bị đầu độc thì sao?”
“Ai lại đi đầu độc một ông lão không có tiền chứ?”
Được rồi anh ta có lý, nhưng tôi muốn giỏi ở việc này thay vì dừng lại ở những điều hiển nhiên.
“Vậy nếu như ông ta là tội nhân Đức Quốc Xã và một trong số các gia đình nạn nhân tìm được ông ta?”
“Tôi hẳn là rất may mắn.” Anh ta nói. “Tin tôi đi, đó là một cái chết hoàn toàn tự nhiên.”
Thỏa mãn vì đã xoa dịu được người mới, Reuven phi về văn phòng để đối phó với các cuộc điện thoại từ bạn gái và vợ. Bà R cho rằng chồng mình làm ca ngày, còn cô bạn gái của Reuven lại nghĩ anh ta làm luân phiên theo ca 4 – 12[*].
Văn phòng Barney Miller nhỏ bé của chúng tôi rất đông đúc. Ở đó không có chỗ cho sự riêng tư, vì vậy dù muốn hay không thì chúng tôi đều phải nghe Reuven tung hứng cuộc sống phức tạp của mình. “Mạn phép, là điện thoại của tôi.”
Mọi người đều ngao ngán.
“Rachel, tối nay anh tan muộn. Bọn anh đang làm chuyện lớn. Anh không thể kể cho em được... Không, không. Thôi nào, đừng như thế... Là chỉ thị trực tiếp từ tòa thị chính. Đúng đó em. Anh phải đi rồi.”
Chúng tôi cười ầm lên. “Tòa thị chính hả? Lý do hay đấy!”
Randy ra ngoài, sau đó vội vã quay lại sau vài phút. “Này Reuve, ngài thống đốc ở đường dây số ba, nói rằng có việc gấp!” Tôi cười đến gập người, cười đau cả bụng.
Reuven vừa toe toét vừa lắc đầu, ban cho chúng tôi cái nhìn trìu mến của người cha già. Sau đó anh ta lại nhấc điện thoại lên. “Chào em Elena, bọn anh đang... Đúng rồi, anh vật lộn mãi mới xong để tan sở đây. Gặp em lúc 6 giờ nhé!”
Tôi không biết anh ta đã làm thế nào để sống hai mặt như vậy. Tôi cũng từng thử nhiều năm về trước, vào ban ngày là chuyên viên ở bệnh viện, còn khi đêm về chè chén và hít cocain. Phải che giấu điều đó thật sự mệt mỏi. Có hàng tá cách để giải thích cho đôi mắt đỏ ngầu và việc bạn ngủ gật trên bàn làm việc, nhưng chẳng có ai “phải chiến đấu với cơn cảm lạnh” mỗi tuần.
Bob phụ trách hầu hết các khóa đào tạo thực địa của tôi, và cậu là một người thầy tốt, một người đàn ông ngọt ngào và chu đáo. Bob từng là cựu chiến binh Việt Nam, cậu bị rối loạn căng thẳng sau sang chấn (PTSD)[*] không trị được dứt điểm, nên có thói quen ngủ gật giữa chừng, mà theo lời cậu là chứng ngủ rũ[*]. Tôi biết đó chỉ là cái cớ. Đánh giá từ việc cậu ta lén lút lục lọi trong ngăn kéo dưới cùng của bàn làm việc, căn bệnh của Bob có vẻ gây ra bởi những viên thuốc được rửa bằng rượu vodka thì đúng hơn. Nhưng Bob thực sự đã dành thời gian với tôi ở hiện trường, cậu nói về ảnh hưởng của sự thay đổi thời tiết trong tính toán thời gian tử vong hoặc cách tránh chất lỏng phun ra trong khi lăn một vật phân hủy. Cậu chỉ cho tôi những dấu vết không dễ phát hiện mà từ đó phân biệt được một cái chết do ngạt khí. Bob nói: “Hãy kiểm tra mũi xác chết. Nếu lỗ mũi bị bóp chặt, người đó có thể bị trầy xước và bị bầm. Hãy kiểm tra các vết hằn của răng dưới môi. Đó là dấu hiệu khá chắc chắn về một bàn tay đã bịt chặt miệng và mũi của ai đó.” Cậu nói với tôi về tiếng động mà cơ thể con người tạo ra khi va chạm với mặt đất từ một độ cao vừa phải. Một số cơ quan trong cơ thể chúng ta là rỗng, hoặc gần như vậy, và có thể phát nổ khi va đập. Ai biết trước điều đó? Ở khóa đâm, cậu ta dạy tôi cách ghép đôi giữa vết thương và hung khí: “Cô thấy những vết đâm hình chấm và gạch ngang cách nhau khoảng một mét ba đến hai mét sáu không? Chúng lặp đi lặp lại khắp ngực. Đó là hình dạng mẫu mực của vết đâm gây ra bởi một cái kéo. Nó có một lưỡi nhọn, lưỡi còn lại thì rộng hơn.”
Bob gọi một thám tử tới, chỉ cho anh ta cái bàn trên hành lang.
“Tôi cho rằng vũ khí giết người anh cần tìm đang nằm trong cốc bút chì đó.”
Bob là một điều tra viên giỏi và một anh chàng tốt bụng, nhưng rắc rối vẫn ập đến với cậu. Vài tháng sau khi khóa đào tạo của tôi kết thúc, khi đang nói chuyện với thân nhân người chết tại hiện trường một vụ chết tự nhiên, Bob đột nhiên mất ý thức và ngã khỏi ghế trong phòng bếp. Cảnh sát kiểm tra mạch đập và hơi thở của cậu ta, trong khi người phụ nữ bị hoảng và gọi cứu hộ y tế[*]. Một đội tương tự quay trở lại, là đội vừa thông báo cái chết của dì người này một giờ trước đó. Kỹ thuật viên cấp cứu[*] hẳn phải là một kẻ khôn ngoan. Anh ta nói: “Này, bà dì sống lại hả?”
Họ khám cho Bob “đáng thương”, biệt danh của cậu. Tại phòng cấp cứu, việc Bob đột nhiên mất ý thức được xác định là do ngáo đá. Chúng tôi đã gửi cậu đi cai nghiện tới hai lần, nhưng không thành công, Bob bị sa thải. Mọi thứ sau đó trở nên tồi tệ, rồi tình hình khả quan hơn. Khi chạm đáy, Bob tìm đến AA và NA[*]. Chuyện mắc kẹt ở đó. Cậu ta dần minh mẫn, tìm được việc làm và có mối quan hệ tốt đẹp với một người phụ nữ cùng tham gia chương trình. Về sau, cậu còn có công việc mới ở một phòng khám kiểm soát cơn đau[*], nơi mà đôi khi chỉ là vỏ bọc hợp pháp hóa cho hoạt động mua bán chất gây nghiện. Sự cám dỗ đẩy mọi thứ xuống địa ngục. Bob trở lại vòng xoáy, cho đến khi không thể tiếp tục được nữa, cậu ta treo cổ tự tử.
“Có phải một kẻ nghiện rượu sẽ là điều tra viên giỏi?” là câu hỏi mà tôi tự vấn đặt cho mình rất nhiều lần thuở ban đầu đó. Dân nhậu có quá nhiều kinh nghiệm trong việc bao biện: giấu nhẹm những cái chai, đi thành đường thẳng, giữ mí mắt khỏi sụp xuống, phát âm rõ ràng, không nói nhịu. Chúng tôi có thể nhìn thấu những điều đó để thấy thứ ẩn giấu phía sau: phần tối tăm, vụn vỡ trong con người, những điều mà người ta không muốn bị phát hiện. Chúng tôi dùng rượu để che giấu chính mình, sự nhạy cảm, nỗi đau vì phải thử thách cảm xúc quá nhiều. Ít nhất là tôi đã làm như vậy. Vui hơn nhiều khi uống thêm vài ly, làm tê liệt nỗi lo lắng, che giấu sự nhút nhát và mang tới một màn trình diễn xuất sắc. Một điều tra viên giỏi biết điều gì được che đậy phía sau, nghe thấy những lời người ta không nói, nhìn thấy những thứ không nằm đúng chỗ. Ai giỏi hơn một kẻ với kinh nghiệm lấp liếm đầy mình? Trong chuyện này, tôi hẳn là người có thiên phú.
Giữa những lúc không phải tra án, tôi đọc ngấu nghiến cuốn Medicolegal Investigation of Death (Điều tra pháp y về cái chết), được mệnh danh là cuốn thánh kinh của điều tra viên pháp y. Tôi đã đọc nó cả tháng trời trước khi bắt đầu công việc, trong lúc nhàn rỗi chờ cơ quan hành chính thành phố xử lý giấy tờ thủ tục. Cuốn sách dày 1.300 trang gần như không rời tay tôi, bất chấp nỗi phiền muộn của những người bạn cùng trọ trong căn hộ mùa hè nhỏ bé ở Southampton. Tôi vừa đọc vừa đi loanh quanh, thỉnh thoảng vô thức ậm ừ hoặc càu nhàu về một phát hiện thú vị nào đó. “Lại gì nữa, Barbara, gì vậy?! Làm ơn đi mà, tớ chẳng muốn biết thêm vụ đuối nước kỳ quặc nào nữa, dừng lại đi!” Các bạn tôi thường làm việc trong lĩnh vực quảng cáo hoặc ngân hàng, và họ chẳng thể hiểu được một vết thương gây ra bởi con dao găm vào vị trí chuẩn xác đẹp đến thế nào. Tôi sẽ để cuốn sách trên bàn trong căn phòng kính tắm nắng[*], bên cạnh một chồng tạp chí People để tăng thêm sức nặng trí tuệ cho căn hộ.
Khi tôi đang nghiền ngẫm cuốn sách, Tiến sĩ Hirsch đi ngang qua bàn làm việc của tôi.
“Ngày hôm nay của cháu thế nào, vẫn ổn như mọi khi chứ Barbara?”
“Cháu ổn lắm, cảm ơn bác. Dù một ngày với cháu cũng không dễ dàng lắm, cháu cần học hỏi thêm nhiều ở đây.”
“Phải rồi, nhưng cháu có biết cách nào để ăn một con voi không?”
“Cháu không rõ lắm.”
“Mỗi lần một miếng, từ từ sẽ hết thôi.” Chúng tôi cùng cười phá lên. “Nếu cháu có bất cứ câu hỏi nào, hãy nhớ cửa phòng bác luôn mở nhé.”
“Ồ thực ra có đó ạ, dù không hẳn là về khoa học pháp y.”
“Không sao cả, cháu cứ nói.”
“Cháu từng tham gia điều tra một vụ hỏa hoạn với Bob. Vài ngày sau khi người nhà tới làm công tác xác minh nhân thân, họ có câu hỏi thế này. Anh trai người quá cố muốn biết liệu anh ấy (người chết) có phải chịu đau đớn không. Cháu đã nói cháu không biết, nhưng sẽ giúp anh ta kết nối với bác sĩ pháp y của vụ này.”
“Câu trả lời chính xác, nếu cháu không biết, cháu không thể đưa ra được câu trả lời.”
“Dù vậy cháu vẫn nghĩ mãi, phải chăng tốt nhất là cứ nói không, không có thương tổn nào xảy ra sau đó?”
“Và nếu họ hỏi sâu hơn, cháu sẽ trả lời thế nào?” Tiến sĩ hỏi lại. “Cháu sẽ bịa chuyện hả?”
Tôi ngẫm nghĩ rồi nói: “Nhưng tại sao phải nói sự thật nếu việc biết điều gì đã xảy ra sẽ khiến họ tổn thương ghê gớm hơn chứ ạ?”
Tiến sĩ Hirsch khi đó mới giảng giải: “Nếu cháu nói dối gia đình nạn nhân một điều, họ sẽ hoài nghi tất cả những điều còn lại. Những gì cháu có là ngôn từ, và nó phải thật chính xác. Cháu không cần phải tô điểm bằng những chi tiết đẫm máu mà hãy trình bày các phát hiện một cách đơn giản và đúng sự thực. Hầu hết các vết bỏng của anh ta đều là sau khi chết và nồng độ carbon monoxide trong cơ thể anh ta ở mức cao. Điều đó nói lên rằng nạn nhân chết vì ngạt khói. Có những vết bỏng nhỏ cấp độ hai trên tay anh ta, chắc chắn là rất đau đấy. Nếu họ hỏi anh ta phải chịu đựng bao lâu, hãy cho họ một ước tính hợp lý. Mọi người có thể chấp nhận sự thật, chứ không phải sự không chắc chắn. Thực tế thì hầu như những điều người ta tưởng tượng ra luôn đau đớn hơn sự thật.”
Hợp lý một cách ấn tượng. Tiến sĩ dạy tôi những điều mà rõ ràng chẳng cuốn sách nào có thể viết ra.
Một vài tuần sau khi tôi tham gia đào tạo, Richard, Giám đốc Điều tra gọi tôi vào văn phòng riêng và cho tôi biết anh ta đã được nghe “những điều tốt đẹp” về tôi.
“Các bác sĩ pháp y cho tôi biết cô thông minh và có những câu hỏi hay. Mọi người thích cô lắm, Reuven khen cô luôn bình tĩnh ở hiện trường. Điều đó rất quan trọng. Hãy tiếp tục sắc sảo và chú tâm như thế nhé. Anh ta nói cô sẽ trở thành một điều tra viên giỏi.”
Tôi cười toét miệng: “Cảm ơn anh, thật tốt khi nghe những điều đó.”
Richard mở ngăn kéo bàn, thò tay vào lấy ra một một cái bao da màu đen. Anh đặt nó lên bàn, đẩy về phía tôi bằng hai ngón tay.
“Tôi có thứ nho nhỏ này cho cô. Hãy mở nó ra đi.” Anh nói và ngả người ra sau ghế.
Tôi lật mở cái bao và thấy một tấm huy hiệu bằng vàng sáng choang, bên trên là dòng chữ màu xanh lam ghi: Văn phòng Giám định Y khoa Thành phố New York – Điều tra viên pháp y. Số huy hiệu của tôi được chèn vào một cửa sổ cắt: 1-11. Tôi thở hổn hển vì sung sướng. Nó thật đẹp, thứ đẹp nhất mà một người đàn ông từng tặng cho tôi.
Richard nháy mắt. “Nhận nhiệm vụ và làm cho tôi tự hào nhé.”
Tôi đứng dậy, nhét tấm huy hiệu vào thắt lưng, chào anh ta rồi nháy mắt đáp lại. “Vâng thưa sếp!”
Tôi chạy lại phòng điều tra viên pháp y và khoe thứ xinh đẹp này với mọi người.
“Cô biết mà Barbara, cô không cần phải đeo nó trong văn phòng đâu. Chúng tôi biết tỏng cô là ai rồi.” Reuven cười phá lên.
Randy khịt mũi, nói: “Ôi làm ơn đi, anh thừa biết là cô ấy còn kẹp nó lên pajama mà mặc đi ngủ ấy chứ.”
Anh ta nói vậy chẳng sai, tôi nghĩ đeo như thế quyến rũ chết đi được!
Thời gian làm trợ lý bác sĩ trong phòng phẫu thuật đã giúp tôi nắm bắt khá tốt về giải phẫu học, vì vậy tôi không mấy hứng thú với việc mổ xẻ nội tạng trong quá trình khám nghiệm tử thi. Tôi thích tập trung vào các dấu hiệu thương tích bên ngoài hơn: dấu vết bầm tím của vân tay lưu lại trên người nạn nhân bị siết cổ, vết cán dao trên vết thương do bị đâm cho chúng tôi biết loại hung khí được sử dụng, vòng cháy sém quanh vết thương do đạn bắn ở cự li tiếp xúc toàn diện. Đối với tôi những thứ này hữu ích hơn.
Trường hợp ngoại lệ có nhiều vết thương do đạn bắn thì lại là một vấn đề hoàn toàn khác. Theo dõi quỹ đạo để tìm nguyên nhân chính gây tử vong là công việc đòi hỏi sự chính xác liên quan đến việc đặt các thanh dài dọc theo đường đạn để xác định vị trí của kẻ bắn súng so với nạn nhân, và cuối cùng tìm ra đâu là phát súng chí mạng. Một mảnh xương bị bật ra hoặc một viên đạn rơi xuống đất có thể làm hỏng toàn bộ quá trình ấy. Nếu có hai hay nhiều hơn hai xạ thủ? Điều đó giống như việc chơi trò ghép hình trong bóng tối vậy.
Bạn không bao giờ quên được nạn nhân bị xả súng đầu tiên của mình đâu. Của tôi là vào một buổi sáng thứ Tư lạnh giá, khi tôi đang đi cùng với một số bác sĩ nội trú cho buổi thăm khám mỗi sáng thì nghe thấy một bác sĩ lẩm bẩm: “Như Tiến sĩ Hirsch nói đó, tôi thà khám nghiệm tử thi bảy người bị bắn một lần còn hơn là một người bị bắn bảy phát.”
“Đó là ai thế?” Tôi hỏi người phụ nữ đi bên cạnh.
“Hayes.” Cô ấy thì thào.
Tôi đã từng nghe về Jonathan Hayes, một nhà nghiên cứu bệnh học pháp y[*] người Anh được biết đến với những ham muốn mãnh liệt đối với đồ ăn ngon và phụ nữ tồi. Quanh bàn của Hayes thường tụ tập cả đám học sinh quan sát anh, những người thấy anh ta là một giáo viên giỏi và thú vị. Lần đầu tiên tôi để mắt đến Hayes là vài tuần trước, khi anh đi mô tô vào khu nhà xác, trên chiếc xe do một phụ nữ chân dài mặc đồ da màu đen điều khiển. Cô gái cởi mũ bảo hiểm để hôn tạm biệt anh chàng và những lọn tóc xoăn đen dài xõa xuống vai giống như quảng cáo Pantene vậy.
Tôi cố gắng tham gia nhiều nhất có thể số buổi giải phẫu của Hayes. Một chiều nọ, khi đang cố gắng nhích vào gần bàn của anh ta hơn, nơi đặt thi thể của một người đàn ông gốc Tây Ban Nha khoảng 40 tuổi với đám bọt hình nón màu hồng trên khắp mũi và miệng.
“Hãy xem dấu vết của việc sử dụng ma túy bất hợp pháp và hậu quả gần như không thể tránh khỏi của nó, quá liều dẫn đến tử vong.” Bác sĩ Hayes phân tích.
“Hãy lưu ý những vệt cũ trên cánh tay của người chết và những chỗ thủng mới hơn trên mắt cá chân. Bọt này là bọt phổi, kết quả của việc phổi bị phù nề khi hoạt động của tim chậm lại. Tôi cho là anh ta có một kết thúc không dễ chịu gì.”
Mọi thứ đều nghe thật tuyệt với giọng Anh bản địa, chất giọng rất Masterpiece Theater[*].
“Bây giờ, hãy nhìn vào những hình xăm. Chúng cho các cô cậu biết khá nhiều điều về cuộc sống của anh chàng này đấy. Mực màu xanh và được làm thô sơ, thứ thường thấy ở các tù nhân. Giọt nước nơi khóe mắt có thể hàm chứa ý nghĩa anh ta đã phạm tội giết người hoặc đang để tang cho cái chết của một thành viên nào đó trong băng đảng. Băng đảng này có thể là Latin Kings, bằng chứng là chiếc vương miện năm cánh trên ngực người này. Vậy đó.”
Ấn tượng làm sao! Đây là bài giảng bệnh lý học hay nhất tôi từng nghe, khác xa với Sinh lý học Lá lách, Phần I. Anh chàng này là cuốn bách khoa toàn thư di động về những điều thú vị cần biết. Tôi cũng nhanh chóng phát hiện ra rằng anh là một chuyên gia trong dòng nhạc House và nhạc điện tử, khách ruột của những câu lạc bộ khiêu vũ ở trung tâm thành phố, và anh còn là cây viết cho những tạp chí thời thượng nữa.
Tôi từng tham dự một lớp học, nơi Hayes giới thiệu về chấn thương lực cùn[*] và sau đó ra về với cảm giác như mình đã là một chuyên gia, quả thực anh rất biết cách thổi hồn vào những cuốn sách giáo khoa khô khan tôi vẫn đọc. Sự khác nhau giữa vết rách và vết cắt? Anh sẽ cho chúng tôi xem phần mô bắc cầu giữa thịt bị xẻ ra khỏi hộp sọ bởi một cái cần nạy vỏ xe, đó là một vết rách. Lát cắt gọn gàng và trơn láng của một con dao rựa là một vết cắt, được minh họa bởi câu chuyện về một chủ thầu bị nhân công hành hung bởi cả hai dụng cụ trên. Người chủ thầu này từ chối trả công sau hai tuần lao động, thay vào đó là gọi INS[*] và đề nghị trục xuất những người này. Thế là công lý thô bạo được thực thi.
Tôi đã muốn nắm vững mọi thứ theo cách tiếp thu của Jon Hayes, và tận dụng mọi cơ hội đào tạo mà tôi tranh thủ được. Tại NYPD có những khóa đào tạo về các nạn nhân đặc biệt và giáo phái giết người, bên cạnh các vụ giết người và điều tra tội phạm. Khi Richard không đưa tôi ra khỏi lịch trình, tôi sẽ sử dụng thời gian nghỉ phép của mình để tham dự. Thật là thiên đường khi được học hỏi từ những người kỳ cựu trong ngành, được họ giảng giải về những ca khó nhằn nhất và cách giải quyết chúng, dành thời gian nghe họ kể những câu chuyện chiến tranh. Tôi muốn hòa nhập và được chấp nhận trở thành một phần của họ theo cách là “một trong số những anh chàng này”, và tôi đã thấy cơ hội của mình một buổi chiều nọ, khi tôi len vào một thang máy chật kín các thám tử bên trong.
Tôi xoay người, liếc qua vai và nói: “Thề có Chúa, tôi mong đó là khẩu súng của anh.”
Tiếng cười của họ đã nói lên tất cả. Tôi đã hòa nhập được rồi.
Đó là một buổi sáng trong lành và mát mẻ vào tháng Mười hai năm 1992, mặt trời tỏa ánh sáng rực rỡ, và có một cái xác trong con hẻm phía sau tòa chung cư ở Morningside Heights. Gần như thuộc khu Harlem[*], nhưng bị chia cắt bởi địa chất và sự ảnh hưởng của trường Đại học Columbia, nơi quản lý (và sở hữu) phần lớn khu phố.
Tôi báo danh và số hiệu với viên sĩ quan thứ nhất đang đứng gác ở lối vào: “Butcher từ ME, số hiệu 1-11.” Nói như thế nghe thật tuyệt. Tôi tiến vào qua cửa sau và xuống hầm. Từ đây, tôi thấy xác người đàn ông với cái đầu bị đập nát đang nằm sấp trong con hẻm, gần một mô nhỏ đầy những mảnh vụn của vôi gạch xây dựng. Một cái xô xi măng nhựa màu cam, mảnh vỡ thạch cao[*], vài mẩu còn lại của súng của nòng cỡ hai nhân bốn, và một vài chiếc túi xi măng[*] rỗng. Máu của anh ta trộn lẫn với bụi bê tông, lan rộng phía dưới cơ thể và chuyển hồng như màu lọ thuốc Pepto Bismol. Trên nền nhựa đường tối màu, những vệt máu dài trộn lẫn với mẩu tế bào dẫn tới một khối não to bằng quả chanh cách đầu anh ta khoảng 3m. Có vẻ đó là tiểu não của anh này.
Đây là một trong số những vụ án đầu tiên tôi được làm việc độc lập, và có vẻ là một vụ không quá khó nhằn. Sau khi khám nghiệm tử thi, bác sĩ pháp y sẽ viết như thế này: “Nguyên nhân cái chết: chấn thương sọ não do lực cùn”. Thế nhưng cái chết diễn ra theo cách nào? Điều này cũng quan trọng không kém. Cảnh sát có mặt để tìm ra kẻ nào gây ra chuyện này, nếu thực sự đó là “ai”. Các nhà nghiên cứu bệnh học pháp y sẽ tìm nguyên nhân của cái chết, trả lời cho câu hỏi “điều gì”. Về phần tôi, công việc của tôi là khám phá khía cạnh “như thế nào”. Hay nói cách khác là phương thức diễn ra của cái chết.
Có khả năng là kẻ nào đó đã đập đầu người này với một cây gậy bóng chày, hoặc ném anh ta xuống từ một tòa nhà. Nạn nhân cũng có thể đã nhảy xuống hoặc ngã nhào khi đang làm việc trên mái nhà nào đó. Là một vụ giết người, tự vẫn hay tai nạn đây? Cũng giống như tai mắt của bác sĩ pháp y, công việc của tôi là thu thập chứng cứ để tìm ra câu trả lời. Áp lực đó không khỏi khiến tôi thấy bồn chồn.
Tôi từng đọc một bài báo, trong đó Tiến sĩ Hirsch viết về tầm quan trọng của việc diễn giải kết quả khám nghiệm tử thi, với sự cân nhắc trên toàn bộ cuộc điều tra. “Không ai trong chúng ta có thể nghỉ ngơi thoải mái với lòng tin rằng mình có thể đã bỏ sót một tội ác hoặc giải thích sai những tổn thương do cố ý giết người thành một tai nạn. Dù vậy, bất cứ sự khó chịu nào phát sinh từ những kết luận sai lầm như vậy vẫn là xa xỉ khi so sánh với nỗi khiếp đảm của chúng ta đối với điều ngược lại.” Không, chết tiệt! Đây đâu chỉ là chuyện có người chết. Rõ ràng còn là công lý và sức khỏe cộng đồng. Tốt hơn hết là tôi nên thể hiện thật tốt. Giống như niệm chú, tôi nhẩm lại điều đầu tiên tiến sĩ đã dạy tôi trước đây: “Cháu có thể không bao giờ sai hướng nếu cháu luôn làm điều đúng đắn.” Vì thế tôi thường xuyên làm những điều đúng đắn, tất nhiên là trong phạm vi công việc rồi. Làm đúng khiến tôi cảm thấy an ủi rằng dù chuyện gì xảy ra, tôi cũng không phải cảm thấy tội lỗi. Tôi có thể phạm sai lầm và không tự trách mình, miễn là sai lầm đó có thể chấp nhận được. Cuối cùng, niềm tự hào trong tôi đã thay thế nỗi lo lắng về trách nhiệm với công việc.
Tôi nhìn quanh các cảnh sát và cả những người mặc thường phục, cố gắng định vị đâu là “tên chết tiệt chịu trách nhiệm cho cuộc điều tra” để báo danh và lấy thông tin câu chuyện. Anh ta sẽ khoác trên mình chiếc áo choàng màu nâu ánh hung đen bên ngoài bộ com lê tươm tất, và mang một đôi giày bóng loáng. Tôi tự giới thiệu bản thân. Theo cách không mấy thân thiện, anh ta đeo kính lên và đọc từ cuốn sổ ghi chép của mình: “Nam giới, không rõ danh tính, 911 nhận cuộc gọi từ quản lý tòa nhà, người này phát hiện ra nạn nhân lúc 7 giờ 30 khi đang đi đổ rác. Cứu hộ y tế có mặt lúc 7 giờ 45, không can thiệp vào cái xác. Cư dân L. Shapiro ở trạng thái 2D bị đánh thức bởi một tiếng nổ lớn vào lúc rạng đông. Vẫn đang xác minh sự việc.” Nói xong anh ta giật mạnh tập giấy và quay gót. Có thể viên cảnh sát này thuộc kiểu không thích người từ phòng ban khác làm rối cuộc điều tra của họ. Có nhiều người như thế, những cảnh sát làm mọi cách để bảo vệ địa bàn của mình, thỉnh thoảng thì cả lính cứu hỏa cũng vậy. Họ tự hào vì là những người tiên phong, một vài trong số họ chế nhạo chúng tôi vì là những kẻ có mặt vào phút cuối. Tôi sẽ cho anh ta thấy. Khi vụ này kết thúc, anh ta sẽ nhận ra tôi có giá trị tới mức nào.
Tiếng nổ lớn là manh mối đầu tiên, và là một manh mối tốt. Khi các thám tử điều tra xung quanh để tìm xem có ai đó biết thêm điều gì hoặc nhận ra người chết, tôi đã hỏi người sĩ quan thứ nhất ở hiện trường, rằng điều gì đã thay đổi kể từ khi cái xác được phát hiện: có ai di dời xác chết đi không, di chuyển bất cứ vật gì, hoặc lật anh ta lại? Không có, tất cả đều tốt. Một hiện trường còn nguyên vẹn. Thường thì những người tiên phong hay tò mò để biết điều gì đã diễn ra, và đôi lúc họ di chuyển những thứ không nên đụng tới. Tôi đã từng có một tân binh là kỹ thuật viên cấp cứu như thế, anh ta lật một cái xác không đầu lại, với lý do để “kiểm tra xem đã chết hay chưa”.
Và chứng cứ bị mất luôn theo cách đó.
Tôi phải ghi chép tất cả mọi thứ ở hiện trường đầu tiên. Mặt sau của tòa nhà bằng gạch xám, cầu thang kim loại rỉ sét từ cửa tầng hầm dẫn lên con hẻm, những chiếc đinh cong queo và những mảnh gỗ vụn gần xác chết. Nếu tôi thấy bất cứ hung khí khả thi nào trong hẻm, một khẩu súng của nòng cỡ hai nhân bốn đẫm máu hay cái cần nạy vỏ xe, tôi cũng sẽ chụp lại. Tôi chụp cái xác theo cách nó được tìm thấy, từ đầu tới chân, sau đó tập trung vào bất kì vết thương nào tôi có thể thấy mà không phải di chuyển cái xác. Tôi ghi chép về trang phục. Anh ta mặc đồ đường phố, áo com lê của công nhân xây dựng hoặc một bộ đồ ngủ sẽ kể lên một câu chuyện khác. Sau đó, tôi kiểm tra tới trang sức, giấy tờ tùy thân và tiền trong túi anh ta, tất cả những thứ này tôi đã đưa cho sĩ quan thứ nhất để làm chứng từ. Tôi nghĩ đến việc làm một vài đánh giá và nhớ ra một lời khuyên khác từ Tiến sĩ Hirsch: “Nếu cháu nghĩ ra điều gì, hãy làm điều đó.” Khoảng cách giữa cái xác với tòa nhà, khoảng cách giữa đống não và đầu của xác chết, độ cao tương đối của tòa nhà, có thể chúng sẽ cho chúng ta biết điều gì đó.
Bấy giờ, cư dân của mấy tòa nhà quanh đó cũng quan sát từ các khung cửa sổ. Một phụ nữ trung niên đeo bộ uốn tóc màu hồng đang nhấm nháp ly cà phê sáng và nhai nhóp nhép món bánh mì nướng, khuỷu tay thì chống trên bậu cửa. Một thanh niên trong bộ đồ ngủ ngồi hút thuốc bên cửa sổ và chăm chú nhìn vào cái xác. Tôi chẳng lấy làm ngạc nhiên. Mấy thứ này đều thú vị cả. Tôi còn thấy biết ơn vì không ai la toáng lên gợi ý “Kiểm tra mạch của anh ta chưa?” như ta vẫn thường thấy.
Ngày hôm đó, chúng tôi có một đám đông tuyệt vời, rất yên lặng và lịch sự. Tôi để túi du lịch của mình ở một nơi sạch sẽ và bày biện các thiết bị. Máy ảnh, găng tay bằng nhựa mủ dày, dây đo, nhiệt kế, bộ nhíp, phong bì chứa bằng chứng và băng dính, bút, sổ ghi nhớ. Những chiếc bọc giày nhỏ màu xanh mà bạn được yêu cầu đeo khi vào các tòa nhà sang trọng. Túi giấy lớn nhỏ. Bằng chứng sinh học luôn được đặt trên giấy thay vì đồ nhựa, để tránh việc chúng bị khô. Môi trường ẩm ướt tạo nên nấm mốc, thứ sẽ phá hủy các vật liệu. Cũng tương tự như thế với các bàn tay. Đó là lý do tại sao chúng ta bọc chúng trong túi giấy và băng lại ở phần cổ tay nếu nghi ngờ có máu hoặc mô lưu lại dưới móng.
Tôi đeo bao tay lên và quan sát gần hơn. Lật người chết lại, tôi quan sát để xác định thời gian tử vong. Dựa trên màu tóc và kết cấu da, người chết khoảng tầm bốn nhăm tới năm nhăm tuổi. Anh ta mặc một chiếc sơ mi kẻ sọc và quần jean denim, đeo giày thể thao Fila màu đen. Đế và đáy giày có một lớp bụi trắng mịn phủ dày. Tôi kiểm tra túi của anh ta cẩn thận để tránh bị đâm bởi một con dao, hoặc tệ hơn là cây kim nào đó. Một số người trong chúng tôi đã bị như vậy và phải điều trị dự phòng bằng AZT[*]. (Đó là vào năm 1992, và AZT gần như là một loại thuốc kỳ diệu chống lại HIV.) Nếu có bất cứ khoản tiền mặt nào, tôi sẽ yêu cầu sĩ quan thứ nhất đếm và lập hóa đơn trước mặt mình, sau đó tôi sẽ ký tắt vào sổ ghi nhớ của anh ta. Thân nhân đôi khi tuyên bố rằng người quá cố mang theo một nghìn đô la và những người có mặt đầu tiên tại hiện trường đã đánh cắp nó. Số tiền ấy luôn luôn là một nghìn đô, vì lý do thần kỳ nào đó.
Trán của người đàn ông phủ đầy những vết trầy lớn, một vệt xước của nhựa đường và sạn hằn sâu trên da anh ta. Tôi chưa từng thấy thứ này trong sách. Phần sau của đầu anh ta mở toang với một vạt hộp sọ được giữ bởi da đầu. Tôi có thể thấy não của anh ta bên dưới, trừ cái khối ở phía bên kia bãi đất. Đó là manh mối thứ hai của chúng tôi, tổn thương dội đối vị[*]. Tôi biết điều này từ bài giảng chiều thứ Năm của Jon Hayes và một bài báo mà tôi đã đọc trên tạp chí y khoa có tên Vật lý và Kỹ thuật pháp y. Tôi học được rằng khi một người bị đập vào đầu bởi một vật di chuyển, ví dụ như gậy bóng chày, thì hộp sọ sẽ bị nứt và não bị dập hoặc rách dưới cú đánh. Nếu hộp sọ là vật di chuyển, chẳng hạn như khi một người ngã và bị đập đầu, chúng ta thấy vết thương ở điểm va chạm cũng như vết thương ở phía đối diện điểm đó. Đó là bởi não bộ tăng tốc khi rơi và nảy lên đập vào vỏ cứng của hộp sọ. Nếu bạn thả một quả cà chua chín được đựng trong hộp tupperware xuống sàn, bạn sẽ thấy nó bị dập nát ở cả mặt trên và mặt dưới. Điều tương tự như vậy xảy ra trong trường hợp này.
Giờ đây tôi có thể nói một cách hợp lý rằng anh ta không bị đập vào đầu bởi gậy bóng chày hay cần nạy vỏ xe. Mỗi tác động đều nhận về một phản ứng tương đương ở chiều ngược lại, vì thế một cú đánh là không đủ để tống một phần não bộ vọt ra xa 3m tới bên kia đường. Tất cả hiện ra trong tâm trí tôi, có vẻ như người đàn ông đã rơi xuống từ tòa nhà và tiếp đất bằng trán, truyền lực qua hộp sọ và khiến phần sau đầu của anh ta bị nổ tung. Xác nhận thứ ba về việc anh ta bị rơi đến từ chiếc thắt lưng bung ra, không phải ở chỗ cái khóa, mà ở ngay lớp da dày màu nâu. Khi chạm đất bằng đầu, cơ thể anh ta nén lại, và sự bành trướng của chiếc bụng làm bục quần và xé toạc cái thắt lưng làm đôi. Một lực đáng kinh ngạc. Ngực anh ta như bị vò nát, giống một cái bao đựng đầy que gãy. Hẳn là xương sườn cũng đã gãy hết rồi.
Có vẻ nạn nhân mới chết chưa lâu, nhưng để chắc chắn thì tôi phải kiểm tra thân nhiệt. Điều này đòi hỏi phải kéo quần anh ta xuống và sử dụng nhiệt kế trực tràng.
“Cô đang làm cái quái gì vậy?” Một cảnh sát bồn chồn hỏi khi thấy tôi rút bao cao su ra để bọc lấy nhiệt kế.
“Ồ, xin lỗi, anh có muốn làm trước không?” Tôi nói.
Anh nói: “Không, ý tôi là người đàn ông tội nghiệp này nằm phơi ở đây, ai cũng có thể thấy anh ấy như vậy.”
Chúng tôi vẫn chưa biết được liệu cái chết của người đàn ông này có phải là kết quả của hành vi chơi xấu hay không, và tôi rất ghét nếu phải làm chứng trước tòa về lý do tại sao tôi không thể đưa ra ước tính về thời gian tử vong theo kiểu: “Vì làm như thế quá xấu hổ.” Tuy nhiên, tôi hiểu quan điểm của viên cảnh sát và phủ một ít giấy lên khu vực đó trong khi chờ nhiệt kế trả kết quả.
Vị thám tử không mấy thân thiện kia vẫn lảng vảng xung quanh. Nhưng tôi đã quá mải mê với công việc, tìm kiếm các manh mối, ghi chép, phân tích, tổng hợp những kiến thức thông thường, nghiên cứu trong sách và huấn luyện tại thực địa, đến nỗi tôi quên khuấy mất việc gây ấn tượng với anh ta. Tôi thực sự yêu việc tìm ra lời giải cho câu đố.
Tôi chắc chắn rằng người đàn ông đã rơi xuống từ tòa nhà và chết bởi va đập vào lúc người hàng xóm nghe thấy tiếng động. Anh ta tự nhảy xuống hay bị đẩy? Hay là anh ta bị ngã? Không có thương tích tự vệ nào trên tay anh ta, như các vết trầy xước hay vết cắt. Không có vết đâm cũng như vết thương do súng nào. Không có gì là phù hợp với một trận chiến cam go tới chết. Rất khó để ném một người đàn ông từ mái nhà xuống, bởi điều đó sẽ lưu lại dấu vết. Một thám tử khác đã đưa ra gợi ý rất hữu ích rằng tôi nên kiểm tra lan can xung quanh cửa sau và cầu thang để tìm máu hoặc mô. Tìm ra bất kì thứ gì tương tự sẽ chỉ ra rằng người đàn ông rơi xuống đó đầu tiên, sau đó nảy lên mặt đất. Nhưng không có gì cả. Cơ thể của anh ta tiếp đất cách tòa nhà 2m4, điều này phù hợp hơn với việc người này nhảy ra khỏi tòa nhà thay vì lộn nhào xuống, bởi nếu như thế thì cái xác sẽ ở gần tòa nhà hơn. Từ một độ cao nhất định, cơ thể có thể nảy lên khỏi một số bề mặt, thế nhưng tòa nhà này chỉ có sáu tầng, tính cả khoảng cách xuống tận con hẻm. Một tầng cao 3m7 tới 4m3, và tôi ước chừng độ sâu của con hẻm vào khoảng 4m6, như vậy tổng cộng là khoảng 29m.
Xem chừng anh ta đã nhảy xuống. Nhưng phải chứng minh điều đó thế nào?
Đó là lúc cơ quan thi hành pháp luật và bác sĩ pháp y gặp nhau, cùng làm việc để liên kết cái xác với hiện trường của nó. Mặc dù OCME là cộng sự mật thiết với NYPD, chúng tôi vẫn hoạt động vô cùng độc lập. Tiến sĩ Hirsch quyết liệt bảo vệ sự độc lập đó, ông coi chúng tôi là “khoa học phục vụ công lý”, đó là câu châm ngôn mà ngày nay được trang trí khắp sảnh của tòa nhà OCME DNA mới trên Đại lộ 1. Về mặt kỹ thuật thì xác chết thuộc về điều tra viên pháp y và hiện trường thuộc về cảnh sát, nhưng mối quan hệ đó là lúc vụ án đã được giải quyết, vì thế họ phải làm việc cùng nhau. Trong một vài thẩm quyền nhất định sẽ xuất hiện xung đột và những thứ tương tự. Tôi đã nghe từ một đồng nghiệp ở Boston rằng cảnh sát ở đó không để điều tra viên pháp y vào hiện trường cho đến khi xong việc. Họ gần như ném cái xác ra khỏi cửa cho đồng nghiệp tôi, theo cách anh ấy diễn đạt. Điều này không xảy ra ở New York, tạ ơn Chúa.
Hiện trường đầu tiên là nơi người đàn ông này chết, và giờ chúng tôi phải tìm ra hiện trường thứ hai, xem anh ta đến từ đâu. Những chiếc giày thể thao Fila với đế phủ bột mịn màu trắng đã cung cấp manh mối. Cảnh sát tìm thấy một căn hộ trống trên tầng cao nhất khi họ tra xét trong tòa nhà. Căn hộ không chỉ trống không, mà còn mở toang và đang trong quá trình cải tạo. Tấm thạch cao mới phủ lên lớp vữa cũ, chúng đã được dán keo, trám bột bả và cát xây dựng, để lại một lớp bụi trắng dày ở khắp mọi nơi, bao gồm cả chiếu nghỉ ở tầng sáu. Vị thám tử không mấy thân thiện kia hào hứng gọi tôi lại và chỉ vào một cửa sổ đang mở trên cầu thang, ở nơi đó, có dấu chân của một đôi giày thể thao trên bậu cửa sơn còn mới cứng. Trên khung trượt nơi ta nâng cửa sổ lên có bốn dấu vân tay của một người đàn ông. Khoảnh khắc đó chúng tôi bật ra “À há!” y như trên ti vi vậy. Với những công nhân xây dựng vào ra liên tục, thật dễ dàng để ai đó đi lang thang vào tòa nhà và tìm thấy khung cửa sổ trên một tầng cao. Để chắc chắn, chúng tôi đi bộ lên mái nhà khóa kín và thấy không có gì bất thường. Không có dấu hiệu nào cho thấy công nhân đã ở trên đó. Chúng tôi đã có thể giả định một cách hợp lý rằng người đàn ông đã lao ra khỏi cửa sổ tầng sáu và chết do tự tử.
Thế nhưng phải tới ngày hôm sau, giả thuyết của chúng tôi mới được khẳng định khi thông qua dấu vân tay, người chết được xác định danh tính là một bệnh nhân tâm thần vô gia cư có tiền sử tự tử bất thành. Không ai ở hiện trường biết trước về điều đó, vậy nên chúng tôi sử dụng ngôn ngữ của riêng mình, thứ ngôn ngữ của sự không chắc chắn. Dựa trên các bằng chứng hữu hình, chúng tôi “giả định một cách hợp lý” rằng người đàn ông đã tự mình lên tầng sáu. “Có vẻ như”, anh ta đã nhảy xuống dưới. Các vết thương của anh ta “phù hợp với” một cú ngã từ độ cao lớn. Bởi không có ai thực sự biết điều gì đã xảy ra trừ bản thân người chết, chúng tôi phải đưa ra các giả định dựa trên những gì phù hợp với các phát hiện và hoàn cảnh bấy giờ. Công việc của tôi là vậy đấy, tìm hiểu xem những chứng cứ nói lên điều gì và từ đó tìm ra phương thức của cái chết.
Người chết thực sự “kể” chuyện. Việc bạn cần làm chỉ là lắng nghe thôi.