Người Chết Biết Điều Gì

Lượt đọc: 94261 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
CHƯƠNG 4
đồng phạm

Tôi từng có một bác hàng xóm tên Monica rất say mê chủ đề về mấy tên giết người hàng loạt. Bác mới ngoài 60 tuổi, tính tình vui vẻ, làm tình nguyện cho tổ chức “Bữa ăn tận nhà” và hay chơi giải đố ô chữ đến tận đêm khuya. Mỗi khi tôi có việc rời thị trấn, bác Monica sẽ giúp cho mèo ăn và tưới nước cho cây môn trường sinh của tôi. Tôi mến bác và lấy làm mừng vì bác sống ngay ở tầng trên, nhưng sự ám ảnh của bác với những kẻ giết người làm tôi thấy bối rối. Tại sao một con người tốt bụng nhường ấy lại có thể bị thu hút đến như vậy bởi những điều xấu xa? Không những bị thu hút, mà còn chìm đắm vào nó đến vậy? Căn hộ của bác đầy ắp sách về những tên giết người tai tiếng nhất, từ Jack đồ tể[*] đến John Wayne Gacy[*]. Bác không bỏ lỡ một tập nào của chương trình 48 Giờ[*] và luôn ghi băng lại chương trình Những bí ẩn chưa được giải đáp[*] để vừa xem vừa ăn tối với đồ mua mang về từ Tio Pepe. Thời điểm đó, tôi yêu thích Jeopardy![*] với những câu đùa trấn an của Alex Trebek, rõ ràng chương trình giải đố Gấp đôi mỗi ngày này hơn đứt mấy kiểu chương trình vụ giết người kép. Thế nhưng tất cả mọi thứ thay đổi kể từ khi tôi bắt đầu làm việc tại OCME. Đến lúc này tôi mới hiểu được lý do tại sao bác Monica thích nhìn xuống gầm giường để tìm kiếm những tên quỷ ngoài đời thật, để chạm trán với thứ mà luật sư của Gacy gọi là “ác tới cùng cực”. Hóa ra bác muốn hiểu điều gì đã khiến những kẻ đó làm ra những hành động kinh hoàng đến vậy. Hóa ra điều bác cần là niềm tin rằng chúng ta khác với chúng.

Theo thời gian, tôi chuyển ra khỏi căn hộ trên phố West Fourth, nhưng dường như tôi luôn gặp những bác Monica khác, những người tử tế dành thời gian nghiên cứu về các vụ giết người liên hoàn với cùng cái cách mà những kẻ chơi xổ số nghiên cứu những quyển sách giải mã giấc mơ – một cách đầy ám ảnh. Tôi hẳn cũng bị ám ảnh về bài tập về nhà của mình theo cách như thế. Tôi thích ra ngoài và xử lý các vụ án, nhưng tôi cũng thích được học hỏi nhiều nhất có thể. Khá khen cho Reuven, anh ấy cũng vậy. Anh ta có thể hơi chơi bời, nhưng rất tận tâm với công việc, và tôi trân trọng điều đó. Chúng tôi đăng ký khóa huấn luyện đặc biệt của FBI và tự lo chi phí để cùng nhau xuống Quantico. Ở đó, chúng tôi học về những dấu hiệu của việc chôn cất lén lút và làm thế nào đào chúng lên mà không làm mất chứng cứ. Chúng tôi cũng học về quy trình xử lý những hiện trường phức tạp trong các khu nhà chứa ma túy, và các dấu hiệu nhận biết đặc trưng của những tên giết người hàng loạt.

Những tên giết người hàng loạt.

Trong lúc nghiền ngẫm một cuốn sách về tâm lý học của kẻ giết người, tôi tình cờ phát hiện ra rằng chúng có hai loại chính. Đó là lần đầu tiên tôi nhận ra rằng những hành động lệch lạc không hề ngẫu nhiên như tôi tưởng. Loại sát nhân đầu tiên là loại “có tính toán”, trong khi loại thứ hai là loại “không có tính toán”. Loại có tính toán luôn có phương thức, có kỷ luật, luôn chuẩn bị sẵn lộ trình và theo dấu nạn nhân. Thông minh, xảo quyệt và tàn ác, tên này sẽ tính toán vụ giết người đến từng chi tiết nhỏ nhất. Loại không có tính toán là loại người ngoài rìa xã hội và hành động hấp tấp. Loại này thường có IQ thấp và hiếm khi che dấu tội ác của mình. Đây chính là loại mà mẹ thường nhắc để cảnh báo, đó có thể là gã đàn ông sẽ tấn công bạn từ trong bụi cây, biến bạn thành một nạn nhân tai bay vạ gió.

Roy Hazelwood[*] tại FBI đề cập đến những cách phân loại này vào năm 1980, sau một thập kỷ nghiên cứu những tội ác gây ra bởi Ted Bundy[*], David Berkowitz[*], tên gọi khác là Con trai của Sam, và Kenneth Bianchi[*], hay còn được biết đến là Hill siết cổ. Hazelwood là người tiên phong trong việc lập hồ sơ tội phạm trong phần Khoa học về hành vi, một phần nổi tiếng trong chương trình truyền hình Tâm lý tội phạm. Bác Monica hẳn là biết rõ những chương trình đó. Roy Hazelwood kết hợp trực giác với kinh nghiệm để phát triển các hình mẫu tâm lý và hành vi cho phép nhận dạng và bắt giữ những kẻ phạm tội. Không giống như những nhân vật hư cấu mà người thường tạo ra, những nhà lập hồ sơ tội phạm như Hazelwood thường không đến hiện trường vụ án. Họ làm việc tại văn phòng, qua ảnh chụp, báo cáo, ghi chú và những quan sát được cung cấp bởi những người như tôi.

Tôi cung cấp cho người lập hồ sơ tội phạm những chất liệu ban đầu để bắt đầu công việc của họ. Do đó, các tư liệu phải tỉ mỉ, và những quan sát của tôi phải thật sắc bén. Nếu tôi bỏ qua việc chụp lại một dáng tay bất thường của nạn nhân, hay một góc dao xiên vào vùng bụng, các cơ quan thực thi pháp luật có thể sẽ không có thông tin cần thiết để nhận dạng và bắt giữ tội phạm nguy hiểm. Theo ước tính, mỗi năm tại Mỹ, có 6.000 vụ án mạng chưa được giải quyết. Không đời nào tôi sẽ thêm vào con số đó bằng việc điều tra cẩu thả.

Không một ngày nào trôi qua mà tôi không nhìn thấy một vụ án mạng. Tôi gia nhập OCME năm 1992, năm đó thành phố New York có 2.397 vụ án mạng. Đến khi tôi nghỉ việc vào năm 2015, con số này chỉ còn 285. Đã có rất nhiều biện pháp được áp dụng, rất nhiều tranh luận ở hiện trường thực tế. Tôi đã từng thấy hai đến ba vụ án mạng trong một ngày, cộng thêm với đó là những vụ tự tử thông thường, tai nạn và những cái chết tự nhiên. Tôi vẫn không ngừng đọc về các cách phân loại và bệnh lý học, nhưng không gì sánh bằng việc có mặt tại hiện trường, quan sát thi thể và học hỏi từ những điều tra viên cao cấp. Một sách và sành đời, tôi muốn mình là cả hai thứ ấy.

Không mất nhiều thời gian để tôi nhận ra rằng một tâm trí cởi mở là tài sản quan trọng nhất mà mình có. Như ai đó đã nói với tôi trong các buổi điều trị cai nghiện: “Thay vì lấy hai tay bịt lấy tai, hãy dùng chúng mà bịt lấy miệng.” Đó không phải là một việc dễ dàng với tôi, kẻ biết tuốt thích tranh luận rõ ràng về mọi thứ, nhưng tôi đã học được cách lắng nghe, quan sát mà không đưa ra giả định, đồng thời kiềm chế ham muốn vẽ ra toàn bộ câu chuyện khi không có đủ các dữ kiện. Có một lần khi tôi mới tham gia khóa tập huấn, tôi đến hiện trường để tìm dấu chân trên chiếc giường của nạn nhân. Tôi đi chậm rãi quanh thi thể, mày nhướn lên như trong một chương trình truyền hình thám tử nào đó. Sau rất nhiều lần hắng giọng, tôi cho ra kết luận: “Nếu thủ phạm đứng trên đệm, để lại dấu chân bẩn thỉu, sau đó cúi xuống đập đầu cô ấy trước khi siết cổ, điều đó sẽ giải thích cho X, hoặc Y, hoặc Z.” Tôi nói điều này với chất giọng như trong chương trình Thám tử Columbo, trước sự thích thú của viên cảnh sát khi thông báo với tôi rằng các dấu vết trên giường đến từ một kỹ thuật viên thiếu kinh nghiệm đã chụp ảnh nạn nhân từ trên cao xuống trước khi tôi đến hiện trường. Hẳn là một bài học nhớ đời.

Nếu không có việc điều tra hiện trường một cách kĩ lưỡng và không thiên kiến, bi kịch của một cái chết có thể còn bị nhân lên. Nó thậm chí có thể dẫn đến việc bắt oan một ai đó. Tôi không bao giờ chấp nhận điều này. Vì vậy, tôi đã thật cẩn thận và tỉ mỉ. Tôi giữ cho mình sự tò mò và phát triển sở trường đặt ra những câu hỏi đúng. Thật nhiều câu hỏi đúng. Từ kinh nghiệm cá nhân, tôi hiểu sự nguy hiểm của các giả định. Tôi cũng quá hiểu việc bị đánh giá, nhận định chỉ qua một cái liếc mắt là như thế nào. Khi con người hài lòng với thứ họ cho rằng đang hiện hữu, người ta thường bỏ qua việc đặt câu hỏi về những thứ không nằm trong tầm mắt mình. Như Tiến sĩ Hirsch hay nói:

“Không gì hủy hoại một lý thuyết hay bằng một sự thật xấu xí.” Vậy nên, việc tìm ra những sự thật đó phụ thuộc vào tôi, bằng cách cưỡng lại việc kết luận. Đó là lý do vì sao tôi đã lật ngược vấn đề khi nhận được một cuộc gọi từ bộ phận liên lạc, thông báo về “một vụ án mạng bên bờ Tây”.

“Một vụ án mạng. Sao anh biết điều đó?”

“Cảnh sát bảo tôi như vậy.” Người điều phối nói.

“Không, như thế là không đủ.” Tôi đáp. “Ta sẽ không biết chắc cho đến khi tôi xem xét hiện trường và thi thể nạn nhân. Vụ này chưa thể coi là một vụ án mạng cho đến khi…”

“Biết rồi, biết rồi... Vụ này chưa thể coi là một vụ án mạng cho đến khi ta nói nó là một vụ án mạng.”

Tôi bất lực. Chính xác là vậy. Một điều tra viên giỏi sẽ không nhận định khi chưa có chứng cứ. Và cô ấy sẽ không dựa trên lời của một người khác để làm điều đó.

Đó là một ngày tháng Sáu bình thường, tôi tới địa chỉ được điều phối viên cung cấp, khu đại lộ West End, một con phố yên bình với sự pha trộn giữa những căn nhà ống, nhà đá nâu và những căn hộ cho thuê, đích thị là một khu dân cư chính hiệu. Cách đó một dãy nhà về phía Đông, khu Broadway luôn hối hả và náo nhiệt với các quán bar, nhà hàng, cửa hiệu bán đồ ăn mang về và tiệm giặt là công cộng. Một sự đối lập hoàn toàn với đại lộ West End này, không quán cà phê, cũng không có nhà hàng nào hết. Thậm chí còn không có cả tiệm sửa giày, cái kiểu cửa hàng nhỏ nơi giúp bạn sửa cái máy bơm xịn nhất trong nhà, thay pin cho đồng hồ đeo tay của bạn, và bán cho bạn loại ô giá rẻ mà sẽ gãy ngay khi dùng trong cơn giông bão đầu tiên. Tòa nhà chật cứng cảnh sát khi tôi đến nơi, nhưng tôi chẳng cần chứng minh nhân thân gì hết. Có thể tôi làm ở văn phòng bác sĩ pháp y chưa lâu, nhưng tôi biết ra dáng sao cho đúng. Tôi lịch sự gật đầu chào người gác cổng và đi tới thang máy.

Tôi thấy có chút căng thẳng trên đường lên căn hộ. Thực ra là nhiều hơn một chút. Tôi là nhân viên mới ở OCME và mới hoàn thành cai nghiện. Tôi cần “chấp nhận cuộc sống như nó vốn vậy”, như người ta vẫn thường nói trong các chương trình truyền hình. Quá khứ nghiện ngập đã bị bỏ lại phía sau, và nó cần ở mãi phía sau như thế. Nhưng đây là một công việc nghiêm túc. Cảnh sát. Tội phạm. Xác chết. Nhỡ đâu mọi thứ là quá sức với tôi? Nhỡ đâu tôi sẽ lại ngựa quen đường cũ? Mình phải mạnh mẽ hơn. Mình đã có những gì cần thiết để đương đầu. Cuối cùng tôi tự nhủ như vậy.

Đó là một vụ án mạng kép[*], vụ đầu tiên của tôi, và tôi muốn chứng minh rằng mình có thể đảm đương nhiệm vụ, rằng tôi có thể làm tốt công việc như bất kì đồng nghiệp nam nào khác. Tôi là nữ điều tra viên pháp y thứ hai và giờ là duy nhất ở Manhattan. Trước đó, một phụ nữ đã nghỉ việc chỉ sau hơn một tháng. “Cô ấy không đảm đương được”, đó là tất cả những gì tôi được biết.

Tôi không muốn họ cũng nói điều tương tự về mình, vì vậy tôi bước qua cửa đầy tự tin và chắc chắn. Tôi vẫn đang hành động như thể mình làm được, cho đến ngày tôi không cần phải “diễn” chút nào nữa. Quan trọng là tôi phải giúp giải mã vụ án mạng kép này một cách nhanh chóng, làm bên cảnh sát kinh ngạc với kỹ năng điều tra của mình và giành lấy sự tôn trọng từ các đồng nghiệp. Để chứng minh rằng tôi là người có thể đảm đương.

Thế nhưng mỗi khi vừa thấy thi thể thì tôi đều như chết cứng. Một vũng máu đỏ bầm tràn ra từ người thanh niên trẻ bị cắt cổ. Không từ nào có thể diễn tả cảnh đó. Cổ họng nạn nhân bị cắt từ bên này sang bên kia, vết cắt sâu tới nỗi đầu anh ta ngửa hẳn về sau, để lộ phần cột sống. Cái đầu gần như lìa hẳn. Tôi nhớ cái cách mà thi thể nằm, và cả tấm thảm màu xanh lam tinh xảo đó. Cái cách mà màu máu đỏ sẫm cuộn thành vòng và thấm vào trong màu xanh của tấm thảm, tạo nên hình thù như mấy mẫu họa tiết paisley[*], gần như có thể coi là đẹp.

“Hừm... còn cái xác kia đâu?”

Tôi hỏi viên thám tử.

“Tôi nghe nói có hai người chết.”

Không biết anh ta có nhận ra rằng tôi đang giả vờ can đảm, như mang một tấm mặt nạ để che đậy nỗi bất an? Có thể. Nhưng anh ta đủ tử tế để không nói gì khi dẫn tôi qua phòng ngủ đến chỗ cái xác thứ hai, của một người đàn ông khác lớn tuổi hơn. Cổ họng ông ta cũng bị rạch mở, tạo ra một khoảng trống như miệng một con rối. Sẽ cần rất nhiều thời gian và công sức để trải qua những chuyện như thế này với một thái độ chuyên nghiệp. Tôi bị thôi thúc nhìn chằm chằm vào những gì còn sót lại của những con người ấy, gắng lý giải chuyện đã diễn ra. Nhưng giờ tôi có việc phải làm.

Tôi hít sâu một vài hơi, khởi động bản năng điều tra của mình và bắt tay vào việc.

Trước khi mở túi dụng cụ, tôi ngừng lại một chút, lặng lẽ quan sát một lượt. Những ấn tượng đầu tiên về hiện trường rất quan trọng, do vậy quan sát trong im lặng là yêu cầu thiết yếu. Một số lối sống có tỷ lệ tử vong cao hơn so với những lối sống khác, nên bạn cần hiểu được lối sống cũng như cách làm việc của mỗi người, để có một hình dung về địa điểm trước khi xảy ra án mạng. Nạn nhân đã sống như thế nào? Anh ta là một kẻ buôn thuốc phiện hay là một giáo viên địa lý ở trường trung học? Ngay cả một chiếc cân kỹ thuật số, đống chai lọ và những chiếc túi nhựa nhỏ cũng có thể kể một câu chuyện. Giày Birkenstocks, giá sách hay túi vải canvas từ PBS có thể kể một câu chuyện khác. Tôi không đưa ra bất kì phán xét nào, bởi chắc chắn rồi, loài người luôn có thể làm bạn ngạc nhiên. Thay vào đó, tôi chỉ cố tìm hiểu về những thói quen cơ bản của người đã chết, cảm nhận cách mà người đó đã sống.

Trong một căn phòng ngăn nắp, bạn có thể tìm thấy những chi tiết nhỏ, chẳng hạn như ngăn kéo hé mở, dấu vết trên ngói, những chiếc lá rụng hơi quá xa từ một ngôi nhà trồng cây. Nhưng nhiều căn hộ lại bẩn thỉu và lộn xộn, một đống thư chưa mở, một chồng đồ cần giặt trên sàn phòng ngủ, bát đĩa bẩn trong bồn. Nếu có một sự nhất quán trong mớ hỗn độn, nếu cả căn phòng đều có một lớp mỏng bụi bao phủ, thì tức là nó chưa từng bị xâm phạm. Ngay cả trong một không gian nhếch nhác nhất, luôn có một sự logic, một khuôn mẫu nhất định. Tôi sẽ tìm xem khuôn mẫu đó bị phá vỡ ở đâu. Một khi bạn đã hiểu rõ những thay đổi trước và sau của hiện trường, bạn có thể tập trung vào chính bản thân sự kiện. Điều này được đúc kết từ phần bản năng mà tôi có, và phần kinh nghiệm mà tôi đang tích lũy. Bạn không nên vội vã kết luận, và chắc chắn đừng cố chứng minh điều gì đó. Hãy chỉ tập trung và để căn phòng tự kể ra câu chuyện của mình.

Tiếp theo, cái gì đã bị thay đổi? Ta đều thấy trong những bộ phim ngày xưa, có những phân cảnh khoảng tường trống báo hiệu cho một vụ trộm bức họa vô giá, hay một vết son môi trên ly rượu nói lên điều gì đó về nghi phạm giết người. Thực tế thì hiếm khi mọi việc lại rõ rành rành như vậy, mặc dù những điều rõ ràng hẳn nhiên là một xuất phát điểm tốt. Liệu đèn có đang bật? Cửa có bị khóa? Tủ treo quần áo có mùi thuốc lá hay nước hoa? Thùng rác thì sao? Liệu trong nó có giống như đã bị ai đó lục lọi? Tôi đã có được bài học từ kinh nghiệm cay đắng của mình rằng phải hỏi cảnh sát những gì họ đã thay đổi khi đến hiện trường. Họ có mở cửa sổ hay di chuyển một khẩu súng hay không? Tôi cần biết tất cả những điều đó.

Nhìn nhanh một lượt tòa nhà số 900, đại lộ West End, ta có thể thấy dân cư ở đây khá sạch sẽ, gọn gàng và có văn hóa. Trọng tâm của phòng khách là một cây đàn piano Baby Grand sáng loáng. Ngoài ra, đây là một căn hộ trang nhã ít đồ đạc. Sạch sẽ. Gọn gàng. Không lộn xộn và không có đồ trang trí lặt vặt. Tôi tìm kiếm dấu hiệu của một cuộc vật lộn. Đồ nội thất bị lật ngược, quần áo bị xé rách, thủy tinh vỡ... nhưng hoàn toàn không có, chỉ có duy nhất một vệt máu nhỏ phun trên tường tương ứng với vết cắt vào động mạch cảnh. Đánh giá hướng máu phun và làm xét nghiệm mẫu máu có thể cho ta biết kẻ tấn công lúc đó đang đứng ở đâu, hoặc thậm chí có thể xác định được liệu gã đàn ông đó, đúng, thường là đàn ông, thuận tay phải hay tay trái.

Tôi nghiên cứu kĩ hiện trường. Hai nạn nhân nam trưởng thành. Người trong phòng khách dường như bị giết bởi một người, với ý định rõ ràng là cắt cổ nạn nhân. Vết cắt mịn và không có dấu hiệu của việc do dự. Nạn nhân lớn tuổi hơn trong phòng ngủ có nhiều vết rạch trên cổ, những vết dao đâm trên ngực, và một vài vết cắt nhỏ trên tay đến từ việc phòng thủ. Không ai trong số họ bị trói. Đó là điều tôi biết. Từ đó, tôi chuyển sang điều mà tôi không biết. Người trẻ tuổi hơn trong số hai người đàn ông đã bị tấn công trong phòng khách. Tại sao họ lại ở các địa điểm khác nhau? Không có cách nào để biết ai đã bị giết trước, nhưng có thể nếu người đàn ông trong phòng khách bị tấn công trước, người còn lại trong phòng ngủ đã phải nghe thấy tiếng, thậm chí nhìn thấy. Cũng có thể anh ta đã đến giúp bạn của mình. Liệu có phải một người đã bị tấn công bất ngờ và người kia đã đánh trả kẻ tấn công? Nếu vậy, có thể sẽ có DNA trong móng tay của nạn nhân. Rất khó cho một người có thể đánh bại hai người, và còn càng khó hơn cho một người để giết hai người đàn ông, do vậy có khả năng vụ phạm tội đã được thực hiện bởi nhiều kẻ tấn công. Qua đánh giá các vết thương, mỗi kẻ tấn công giết người bằng một cách khác nhau. Một kẻ làm việc lạnh lùng và hiệu quả, kẻ kia lại ngập ngừng do dự. Giờ đây tôi đang dựng nên câu chuyện trong đầu mình, hình dung điều có thể đã xảy ra, cách mà cuộc tấn công đã được thực hiện, nơi mà mỗi người đã đứng. Một bản vũ đạo của vụ giết người.

Tôi chụp ảnh bức tường có vết máu phun ở cự li gần, rồi dịch ra xa và chụp thêm ảnh từ nhiều góc độ khác nhau, đo lường khoảng cách giữa nạn nhân và bức tường. Tôi chụp các bức thông thường, từ lối vào phòng và bốn hướng Đông, Tây, Nam, Bắc. Ngoài những gì tôi đã thấy, tôi còn để ý thêm một thứ trong bồn rửa mặt của nhà tắm, vệt đỏ mờ của máu bị rửa trôi. Tôi cũng chụp lại và cẩn thận dán nhãn mỗi bức ảnh.

Thám tử hiện trường và tôi chụp xong ảnh mà không hề dịch chuyển thi thể hay xáo động bất cứ thứ gì, chúng tôi không bao giờ làm điều đó cho đến khi mọi tư liệu về hiện trường đã được hoàn tất. Sau đó, tôi băng tay của cả hai nạn nhân, cố định chúng bằng băng dính dùng cho chứng cứ. Bộ phận pháp y sau đó sẽ lấy mẫu từ móng tay, chúng có thể chứa thịt, tóc hay máu của kẻ giết người.

Giờ đây, tôi có thể kiểm tra cái xác, đánh giá sự co cứng tử thi[*] của tứ chi, ghi chép các vết hoen tử thi[*] (tình trạng lắng máu). Liệu xác chết đã bị dịch chuyển chưa? Sau khi lấy nhiệt độ trực tràng để phỏng đoán thời điểm tử vong, tôi rà soát lần cuối để xem có vết thương nào khác không, chụp ảnh lại bất cứ điều gì bất thường, chẳng hạn như một vết bầm tím hay quần áo mới bị xé rách. Ta sẽ không thể biết chứng cứ nằm ở đâu, nên phải thật cẩn thận không làm xáo trộn quần áo quá mức cần thiết.

Trong lúc tôi thực hiện nhiệm vụ, thám tử hiện trường cũng sẽ chụp ảnh và tiến hành đánh giá, bao quát mọi thứ trong cùng khu vực đó. Các thi thể có thể thuộc phần việc của tôi, và hiện trường thuộc phần việc của cảnh sát, nhưng sẽ thật ngớ ngẩn khi nghĩ rằng người này có thể không để tâm đến việc của người kia. Chắc chắn phải có một điểm giao, một mối quan hệ giữa nạn nhân và bối cảnh xung quanh. Dù sao găng tay của tôi đã dính máu, nên tôi có thể hỗ trợ các thám tử khi họ chụp ảnh thi thể. Xoay đầu nạn nhân lại để thấy được nhiều vết rạch, dơ bàn tay có vết dao cắt lên, bất cứ việc gì mà cảnh sát cần. Chẳng việc gì phải để tay họ cũng bị bẩn theo.

Tôi nói: “Này các anh, có cần tôi giúp không? Có khá nhiều máu văng trên giày của anh ta, nên có thể nạn nhân bị hành hung khi đang đứng. Để tôi xoay bàn chân lại nhé.”

“Cảm ơn nhé, thế thì tốt quá!” Viên thám tử đáp.

“Ồ, nhìn này, tôi nghĩ ta tìm được dấu vết của sự do dự trong vết cắt. Thấy phần lởm chởm không?” Tôi gợi mở câu chuyện.

Bố tôi là một cảnh sát, vì vậy tôi biết khá rõ cần phải làm thế nào để giao tiếp với họ. Tỏ ra không bị ảnh hưởng bởi vụ án, giữ thái độ thoải mái và hài hước. Tôi tự hỏi các cảnh sát nghĩ gì về tôi, người phụ nữ dễ mến bị kích động bởi một vết thương đặc trưng, người mặc bộ đồ hiệu Talbots đến hiện trường vụ án. Tôi biết nếu mình trông chuyên nghiệp, thì các đồng nghiệp sẽ cho rằng tôi thạo việc. Vì vậy mà tôi luôn mặc một bộ đồ tươm tất, như các thám tử đã làm. “Cô điều tra viên pháp y” này đã quyết tâm để được chấp nhận là một phần trong số họ.

Các nạn nhân tạm thời được xác định là Milton Setzer và Eric Price, 60 và 25 tuổi. Tạm thời, mặc dù chúng tôi tìm thấy tài liệu trong căn hộ như bằng lái xe, chứng minh thư, mấy thứ kiểu vậy, việc kết luận về nhân dạng cần phải có dấu vân tay hoặc xác nhận trực tiếp từ người thân. Trong những năm sau này, chúng tôi cũng sẽ lấy mẫu DNA (trong trường hợp có tranh cãi), nhưng vào năm 1993, nhận dạng trực quan là đủ.

Trong lúc tôi tác nghiệp ở căn hộ hiện trường, đoàn thám tử đi rà soát từng căn trong tòa nhà, nói chuyện với hàng xóm và người gác cổng. Chính người gác cổng kể cho cảnh sát việc có hai người đàn ông đã đến căn hộ trước đó trong ngày để hỏi mua một chiếc piano. Hai thủ phạm đây rồi. Các thám tử không mất nhiều thời gian để liên kết những kẻ giết người này với một vụ án mạng xảy ra gần đây tại đại lộ Park[*] mà nạn nhân là một cặp vợ chồng. Những vụ án mạng kép vốn không phải điều thường gặp, đặc biệt nếu chúng chỉ xảy ra cách nhau một vài tuần thì hiếm khi chỉ là trùng hợp thông thường. Hoàng tử Khedker được tìm thấy trong bồn tắm đầy máu với các vết cắt trên cổ, trong khi vợ ông, Công nương Nenescha bị siết đến chết ngạt bởi dây thắt lưng và gối úp lên mặt. Nếu không tính các cảnh trong những bộ phim kinh dị giết người thì những vụ cắt cổ thường hiếm xảy ra. Đó là một hành động kịch tính và khoa trương, bởi nó quá thân mật. Cũng giống như siết cổ là điều phổ biến mà cảnh sát nghĩ tới đầu tiên trong các vụ bạo lực gia đình, những trường hợp tử vong của tầng lớp giàu có thường có thể là một vụ giết người hoặc tự tử.

Tôi không có mặt ở hiện trường vụ việc ở đại lộ Park, nhưng tôi đã trao đổi với Joe lùn, điều tra viên của vụ đó. Joe lùn, như tên gọi, là một anh chàng thấp bé, nhiệt tình và hay chuyện. “Cô nên xem căn hộ này, Barbara. Căn hộ thực sự cao cấp, nhưng đồ đạc lại lòe loẹt. Tôi thấy trang sức còn làm trang phục xấu thêm. Anh ta cho tôi xem mấy bức ảnh về đồ trang sức, chúng tinh xảo đến mức thật khó lòng có thể tin rằng chúng có thật.”

Kẻ cướp có vẻ như có động cơ trong cả hai vụ. Hoàng tử và công nương rõ ràng là rất giàu có, và thủ phạm cho rằng bất cứ ai đang bán một chiếc piano Baby Grand tại nhà cũng thuộc dạng khá giả. Dẫu vậy, mặc cho những điểm tương đồng từ những cái chết, các hiện trường lại có nhiều dấu vết khác nhau. Căn hộ của hoàng tử ở đại lộ Park đã bị lật tung lên “như vừa trải qua một vụ đua xe tử thần vậy”, có thể sau này thẩm phán sẽ nhận định như thế khi kết án. Trong khi đó, căn hộ ở đại lộ West End lại gần như không bị xáo trộn.

Liệu rằng hai vụ được gây ra bởi cùng một nhóm hung thủ, nhưng đã có kinh nghiệm hơn trong lần thứ hai ra tay để làm việc hiệu quả hơn? Hay một trong số chúng cho thấy nỗ lực của loại sát nhân không có tính toán, trong khi tên còn lại cố gắng sắp xếp để thể hiện sự tính toán hơn so với đồng phạm của mình? Tôi tự hỏi HazelWood ở FBI sẽ nói gì về hai vụ giết người kép gây ra bởi hai thủ phạm. Người tiên phong trong lĩnh vực lập hồ sơ tội phạm đó sẽ nhận định tất cả như thế nào?

Cảnh sát không mất nhiều thời gian để xác định hung thủ cho cả bốn vụ giết người là George Cobo, 56 tuổi và Tony Lee Simpson, 21 tuổi. Chúng đã bay từ New York đến Nevada, sử dụng thẻ tín dụng của Setzer và Price để sống và trốn tội. Không những là đồng phạm trong vụ án, Cobo và Simpson còn có quan hệ tình dục với nhau, điều dẫn đến sự rã đám của chúng. Mười ngày sau khi tới Reno, hai tên này xảy ra xung đột. Simpson đã bỏ lại Cobo. Với mục đích trả thù bằng cách khiến cho cả hai bị bắt, Cobo gọi cho cảnh sát tại Reno, thông báo rằng hắn đang có “một số vấn đề” với người tình của mình, không quên thêm vào đó rằng Simpson đang bị truy nã bởi vụ giết người ở Manhattan. Lúc chúng bị dẫn độ trở lại New York chính là lúc tôi quay lại với vụ án.

Công việc của tôi không giới hạn ở việc kiểm tra và nhận dạng người chết tại hiện trường. Tôi thường tiếp tục làm việc trong khâu xử lý nghi phạm, thu thập các hình mẫu để nhận dạng, các bằng chứng sinh học như máu hay lông vùng kín để so sánh với bằng chứng tại hiện trường. Đây cũng là giai đoạn đầu khi DNA được sử dụng trong khoa học pháp y. Hai năm sau, công chúng có đầy ắp thông tin về DNA, nhờ vào phiên tòa xét xử vụ giết người của O. J. Simpson được chiếu trên ti vi. Nhưng vào năm 1993, gần như tất cả những gì người ta biết đều đến từ chương trình Thế giới khủng long, nơi mà một nhân vật hoạt hình có sừng bé xíu tên là “ngài DNA” giải thích cách các phân tử được sử dụng để tái hiện lại những con khủng long như thế nào.

Ngày nay, đơn giản chỉ cần lấy một chiếc que lấy mẫu quệt nhẹ vào trong má, nhưng hồi tôi được giao nhiệm vụ lấy mẫu DNA của Cobo và Simpson, phải dùng đến cả một bàn tay, theo nghĩa đen, cho việc đó. Cộng thêm vào việc lấy một lọ nhỏ máu, tôi còn phải giật một mảng tóc còn nguyên chân tóc để đảm bảo có đủ nang để xét nghiệm. Chính nhờ quá trình này mà tôi đã bắt đầu phát triển tư tưởng của mình về những tên giết người hàng loạt, trong khi quan sát những khác biệt của hai gã này.

Tony Lee Simpson là loại lạnh lùng và biết phân tích, loại không cố gắng kết nối một chút nào với người khác và có thể chỉnh bạn chỉ bằng một cái nhìn lạnh lẽo. Hoạt động chính của hắn là đánh giá, và hắn đánh giá xem tôi có thể làm được gì. Đối với hắn, ai cũng là con mồi. Mảnh ghép của loại sát nhân lạnh lùng này là kẻ có sức quyến rũ, trong trường hợp này là George Cobo. Hắn là loại sẽ cười và bắt tay bạn, hỏi thăm xem ngày hôm nay của bạn như thế nào, làm bất cứ điều gì để lấy lòng bạn, để bạn đứng về phe hắn.

Liệu chúng có biết rằng tôi cũng cần chúng về phe tôi không?

Sự đồng thuận của nghi phạm là cần thiết để có thể lấy được DNA. Ta có thể xin lệnh của tòa để sử dụng vũ lực, nhưng đó là điều mà không ai muốn làm. Hãy tưởng tượng việc sẽ phải có nhiều nhân viên giữ một người đàn ông cao lớn đang không đồng thuận trên một cái bàn để có thể lấy mẫu. Thêm vào đó là một chiếc kim tiêm, một thảm kịch có khả năng xảy ra chỉ với một vài mũi đâm.

Theo thời gian, tôi học cách thuyết phục, nói chuyện bằng tông giọng, sử dụng lý lẽ, và khơi gợi thứ mà đối phương muốn. “Ai cũng mong muốn một thứ gì đó. Nếu cháu tìm được lời giải và trao nó cho người cần, cháu sẽ tìm được cách để có thứ mà cháu muốn.” Tiến sĩ Hirsch đã bảo tôi vậy. Nếu một nghi phạm từ chối, tôi sẽ bắt đầu khơi gợi sự tự tôn đàn ông của hắn.

“Anh biết đấy, anh X, họ sẽ không ngần ngại trói anh lại và bắt anh ngồi đây như một con vật. Nhưng đâu cần thiết phải làm vậy. Bằng cách này hay cách khác, họ sẽ lấy được máu của anh. Vậy nên, hoặc là anh tự chủ và phối hợp với tôi, hoặc anh sẽ phải để họ kiểm soát anh... đối xử với anh không ra gì. Tùy anh thôi.”

Cảnh sát đưa cả hai nghi phạm tới số 520 Đại lộ 1, trụ sở của OCME. Dĩ nhiên, nhiều mẫu vật chúng tôi lấy được không chứng minh được gì, nhưng các thám tử đã kể cho tôi về chi tiết của vụ bắt giữ.

“Hai tên này được lắm nhé, Barbara. Cobo trở mặt với người tình của hắn nhanh đến mức luật sư của hắn phải tát một phát để hắn ta ngừng nói.”

Tony Lee Simpson được đưa vào trước. Đó là một thanh niên đẹp trai với mái tóc xoăn tối màu, hắn có gương mặt gầy, dạng mặt sói cùng đường xương hàm rõ nét. Hắn không để lộ điều gì.

Nhưng có điều gì đó trong ngôn ngữ cơ thể của hắn – sự thách thức hay thờ ơ, tôi không chắc nữa, báo hiệu cho tôi rằng cần có một lối tiếp cận thận trọng. Tôi tự giới thiệu bản thân và giải thích những gì cần làm, chủ yếu là lấy máu và tóc của hắn.

Simpson giữ yên lặng trong lúc tôi chuẩn bị kim tiêm và giấy tờ. Trong khi nhìn tôi chằm chặp bằng cặp mắt hoang dã, hắn ngồi sâu trong ghế, mặc cho tôi nói từ đầu đến cuối. Hẳn hắn biết mình không còn đường thoát. Dù lý do là gì, hắn gật đầu thể hiện sự đồng thuận mà chẳng nói một lời nào. Tim tôi nảy mạnh lúc vào việc. Tôi cảm nhận được vị kim loại trong miệng, giống vị của sắt mạ kẽm. Nghĩ đến việc tận mắt chứng kiến những gì tên này đã làm với nạn nhân, phản ứng đầu tiên của tôi là muốn bỏ chạy, nhưng tôi cần phải vượt qua nó. Thế nhưng trong suốt quá trình, hắn chỉ lẳng lặng ngồi yên.

Cobo thì ngược lại, tên này nói không ngừng. “Ôi, xin chào cô gái thân mến, giờ chúng ta phải làm những gì ấy nhỉ? Cô sẽ làm gì tôi thế?”

So với Tony, George Cobo già hơn nhiều, thực ra xét tuổi ấy đủ vào hàng cha, chú. Vóc người lùn tịt và chắc nịch với cái bụng phệ, Cobo còn đeo kính và bị hói đầu. Nếu thấy Cobo trên phố, chắc tôi sẽ cho rằng hắn là chủ một cửa hàng nhỏ, loại xuất hiện đầy rẫy ở Lexington[*], nơi bán những thứ đồ sưu tầm và đồ cổ thu thập được sau mỗi giao dịch bất động sản nào đó. Tôi hình dung ra cảnh hắn khom người trước chiếc tủ kính, lấy từ trong đó ra bức tượng nhỏ bằng sứ làm món quà hoàn hảo cho một bà cô lớn tuổi. Tôi cũng hình dung ra cách hắn khom người như thế để nhìn xuống thi thể nạn nhân.

Tôi tự giới thiệu với Cobo y hệt như với bạn tình của hắn. Nếu nghe cái cách mà hắn trả lời, bạn còn tưởng chúng tôi đang trong bữa tiệc cocktail nào đó. Khi tôi nói rằng tôi cần nhổ ba mươi sợi tóc từ cái đầu hói của Cobo, hắn còn hét lên bông đùa: “Không đời nào! Tôi đã rụng mất bao nhiêu tóc rồi, còn giữ được mấy sợi nữa đâu. Cô phải lấy nhiều thế cơ à?”

Tôi suýt bật cười nhưng kiềm chế lại ngay. Hắn duyên dáng đấy, tôi thừa nhận. Nhưng hắn cũng là kẻ tâm thần ác độc, một tên giết người máu lạnh không hơn, không kém. Nhớ tới lời khuyên từ sếp tôi, tôi quyết định để hắn thắng thế một chút, để đổi lại sự phối hợp.

“Xin lỗi ông Cobo, chúng tôi cần ba mươi sợi. Nếu ông muốn, tôi có thể nhổ chúng vòng quanh đầu để tóc ông vẫn giữ được đều.”

“Sao vậy được, cảm ơn cô, cô gái trẻ. Làm ơn, cứ gọi tôi là George.”

Chết tiệt. Tôi đang trò chuyện thân tình với một tên giết người hàng loạt. Công việc này mới thú vị làm sao. Thật tiếc là tôi chẳng thể kể với ai về điều này. Sẽ thật tuyệt biết bao nếu có thể kể với bác Monica về hai kẻ này và sự khác biệt to lớn giữa chúng. Tôi đã có thể cho bác thấy Simpson và Cobo là sự phóng đại của tất cả những gì ta hằng sợ hãi, là câu trả lời cho câu hỏi: “Điều tồi tệ nhất có thể xảy ra là gì?” Bác sẽ gật đầu, mắt mở to lắng nghe trước khi dồn dập đặt ra cho tôi cả loạt nghi vấn. Có khi bác còn giúp tôi cắt nghĩa toàn bộ câu chuyện này. Nhưng cũng may là tình bạn của chúng tôi đã xảy ra ở một địa điểm cụ thể khác và đã lâu chúng tôi chưa gặp lại nhau. Nghề điều tra viên pháp y có quy định rằng chúng tôi không bao giờ được phép thảo luận ngoài cơ quan về một vụ việc vẫn đang trong quá trình thụ lý. Nên tôi giữ kín mọi thứ cho riêng mình. Mãi rồi tôi cũng đã quen với điều đó.

Cùng ở trong căn phòng nhỏ với một kẻ bị buộc tội giết người, tôi không sao thoát khỏi những liên tưởng về khung cảnh chết chóc ở đại lộ West End. Kẻ nào đã ra tay? Có phải Tony Lee là kẻ đứng sau lưng thanh niên trẻ Eric Price và cắt lìa đầu cậu một cách lạnh lùng mà gọn ghẽ? Liệu George đã do dự khi xuống tay với Milton Setzer, người đàn ông trạc tuổi hắn với ngoại hình có chút tương đồng? Trong quá trình thẩm vấn, kẻ này đổ tội cho kẻ kia là đã ra tay thực hiện hành vi giết người. George khai rằng mình là nô lệ và bị giam hãm bởi tình yêu với Tony Lee. Tony Lee lại đổ lỗi cho George, khai rằng người tình lớn tuổi giữ những bức ảnh chụp hắn trình diễn mấy màn dâm dục và đe dọa sẽ gửi chúng tới cho người nhà. Tony Lee thừa nhận có tham gia vào các vụ cướp, nhưng hắn cũng khai rằng mình giết người vì bị ép buộc mà thôi. Lời bào chữa này ngay lập tức bị bác bỏ bởi hắn có “đóng góp đáng kể” trong việc khống chế và giết hai người.

Cả hai tên này đều bị kết án giết người và cướp tài sản. George sau đó chết trong tù. Tony Lee thì vẫn đang thụ án, với mức một trăm năm tù giam. Dẫu vậy, mặc cho việc trình tòa và kiến nghị, mặc cho những tiêu đề khủng khiếp của những bài báo mà tờ Nhật báo New York đã đặt cho, như Máu lạnh chẳng hạn, ta vẫn không biết điều gì đã thực sự xảy ra, cũng như không thể biết bản chất của sự đồng phạm gớm ghiếc này.

Phần lớn những tên giết người hàng loạt bắt đầu việc giết chóc vào cuối những năm 20 tuổi, nhưng George Cobo vào năm 16 tuổi đã liên tiếp gây ra bốn vụ án mạng tại New York. Điều gì đã thôi thúc hắn bắt đầu phạm tội ở độ tuổi đó? Có lẽ hắn là kẻ trưởng thành chậm, giống như tôi. Một chỉ dẫn từ Chúa đã dẫn tôi đến với công việc này, nỗi bất hạnh của việc nghiện ngập may thay lại trở thành phước lành giúp tôi tìm được phương hướng. Có thể Cobo đã nhận được một chỉ dẫn từ quỷ dữ để bắt đầu hành trình khủng khiếp mà hắn chọn lựa. Hoặc cũng có thể đây là một ca rối loạn tâm thần chia sẻ[*], trong đó cả hai tên đã đến với nhau, truyền cho nhau sự hoang tưởng và chia sẻ sự điên loạn. Có một thời, tôi đã nghĩ rằng vụ giết người đầu tiên vốn chỉ là một vụ cướp nhưng sau đó đã tiến triển tệ đi, và mọi chuyện tiếp diễn từ đó. Nhưng hiện trường vụ án mạng quá tàn nhẫn và dữ dội, quá cố ý đến mức cách giải thích này không phù hợp.

Tôi tự hỏi cách mà một nhà lập hồ sơ tội phạm sẽ phân loại hai tên này. Rõ ràng, Cobo và Simpson đều là loại giết người có tính toán. Cobo đã thu xếp để tham gia uống cocktail với hoàng tử và công nương, nhằm giới thiệu họ với “trợ lý trẻ” của hắn. Tương tự như vậy, chúng đã sắp đặt một cuộc hẹn đến nhà Milton Setzer và Eric Price để xem chiếc piano đang được rao bán. Cả hai vụ đều đã được lên kế hoạch từ trước.

Nhưng có điều gì đó vẫn chưa được giải thích trong hai phổ tính cách rộng lớn này. Tony Lee lạnh lùng và xảo quyệt. Đôi mắt hoang dã của hắn nhìn mọi thứ lãnh đạm, không chút cảm xúc. Hắn nhìn tôi nhưng không thấy tôi, hắn không phát ra bất cứ tín hiệu gì. Tony Lee như một loại thú săn mồi, một con sói. Hắn theo dõi từng cử động của tôi và gợi lên trong tôi phản ứng sợ hãi rất bản năng. George Cobo lại không có tính đe dọa chút nào. Có điều gì đó bình thường ở gã đàn ông mập mạp, như hấp dẫn, hài hước và nhún nhường. Hắn làm tất cả những gì có thể để kết nối với tôi. Khen ngợi và hợp tác, nói chuyện phiếm, cố làm cho tôi cười. Tôi đã phải tự nhắc nhở mình rằng hắn đã giết bốn người một cách dã man, bởi nếu trong một hoàn cảnh khác, có lẽ tôi đã nảy sinh lòng quý mến hắn. Điều đó mới thực đáng sợ.

« Lùi
Tiến »