Khi còn nhỏ, bạn những tưởng mọi người ai ai cũng có cuộc sống giống bạn, ở trong một ngôi nhà hoặc một căn hộ, có bàn ghế giường tủ để ngồi, sự sạch sẽ luôn sẵn, có đồ ăn trong tủ lạnh và có một đứa em trai bé bỏng gặm cả thỏ bông chấm bụi nhặt dưới gầm giường. Cho tới một ngày bạn nhận ra rằng, điều đó thực tình không hề đúng. Năm 16 tuổi, lần đầu tiên tôi nhận thức được rằng có quá nhiều hoàn cảnh sống khác biệt, thậm chí một trong số đó còn rất tệ. Một ngày nọ, tôi và cô bạn Patty băng qua tuyến đường sắt Long Island hướng về khu Village. Chúng tôi không có kế hoạch hay địa điểm cụ thể nào hết, chỉ có ý định sẽ nhập hội với những người bạn tuyệt vời trên con phố MacDougal. Chúng tôi sẽ cứ đi vậy thôi, cho đến khi thấy sự nhộn nhịp, náo động và thật nhiều màu sắc của cuộc sống, những thứ so với khu ngoại ô tẻ nhạt mà chúng tôi đang sống đều thuộc dạng hiếm có khó tìm.
Dừng ở ga Penn, chúng tôi nối chuyến tàu A tới West Fourth. Ở đó, chúng tôi bắt gặp những người sống trong những túp lều bằng bìa cứng vạ vật trên khắp các góc của ga tàu, quần áo trên người họ lấm lem và rách nát, đôi chân trần đỏ ửng và cáu bẩn. Một người trong số họ ngồi im lặng xếp bằng trên vỉa hè. Từ những chiếc ghim bằng đồng thau cài trên áo khoác, có thể suy đoán người này là một cựu chiến binh. Kế đến là một phụ nữ trẻ, đầu quấn chiếc khăn choàng bẩn thỉu có họa tiết hoa lá cách điệu, một tay ẵm đứa nhỏ thò lò mũi xanh, tay còn lại cầm chiếc cốc để ăn xin vài đồng xu lẻ. Tôi chẳng có gì để cho họ và chợt cảm thấy thật xấu hổ, đồng thời cũng nhìn ra cảm xúc tương tự qua vẻ mặt của Patty.
Đó là thời điểm bạn giống như vỡ òa trong khoảnh khắc đau lòng khi nhận ra cuộc sống vốn chẳng công bằng, và đây chính là bất công mà bạn thấy. Bạn giống như vừa tiếp thu một loại nhận thức mới, khiến thế giới quan của bạn thay đổi một thời gian. Tuy nhiên, điều đó không kéo dài lâu, bạn sẽ lại sớm quay về góc nhìn cố hữu, mà biết đâu đấy, bạn vẫn luôn là trung tâm của mọi sự xoay chuyển.
Tuy nhiên, vẫn có những sự việc diễn ra làm thay đổi con người bạn theo chiều hướng tốt lên. Với tôi, đó là vào mùa xuân năm 1994, khi lần đầu tiên tôi đến tham quan khách sạn Nhà Trắng. Nhà Trắng là tên quán trọ rẻ tiền duy nhất còn sót lại trong khu ổ chuột Bowery, cảnh sát thường gọi tắt là SRO cho lịch sự. Căn phòng đơn tồi tàn, bé tí tẹo với duy nhất một chiếc giường, hoặc nếu may mắn hơn thì có thêm tủ đồ hoặc một chiếc bàn viết. Nhà Trắng không có bếp và tất cả khách trọ sử dụng nhà vệ sinh chung. Dạo gần đây SRO đang quay trở lại thành xu hướng dưới cái tên mới mỹ miều hơn là “căn hộ siêu nhỏ”. Chúng được quảng cáo là một giải pháp hiệu quả, vừa tiết kiệm chi phí vừa giải quyết vấn đề giá thuê trọ leo thang cũng như tình trạng thiếu nguồn cung nhà ở. Tôi lại không nghĩ vậy.
Khi Charlene, điều phối viên bộ phận liên lạc gọi tới nói rằng tôi cần đến Nhà Trắng, tôi đã hiểu nhầm tới một nơi nằm ngoài phạm vi quyền hạn của chúng tôi. Hoặc có thể hiểu là nơi thuộc về Tổng thống. Nhưng có là gì đi nữa thì tôi vẫn biết cô nàng ở đầu dây bên kia đang đảo mắt đánh giá. Một trò nho nhỏ mà chúng tôi vẫn hay chơi. Tôi tỏ ra hài hước và cô nàng giả bộ nổi cáu. Tôi bèn thử tếu táo với bác Wells.
“Chúng ta đang trên đường tới Nhà Trắng, ngài Wells. Ngài đã sẵn sàng để cống hiến cho Tổ quốc chưa?”
Bác đáp lại tôi bằng nụ cười nửa miệng cùng một tiếng “Hờ!” duy nhất.
“Cháu từng đến nhà trọ rẻ tiền bao giờ chưa?”
Bác Wells hỏi khi chúng tôi đang trên đường tới khu Bowery. Cách nói chuyện nhẹ nhàng, thể hiện thái độ tôn trọng trái ngược hoàn toàn với ý nghĩa của từ “giá rẻ”. Đây chỉ là một trong rất nhiều điều khiến tôi tin tưởng bác ấy, luôn dành sự tôn trọng cho mỗi địa điểm hoặc con người dẫu cho đó có thể là điều bị người khác coi thường, khinh rẻ. Chính tôi đã từng sống ở một nơi rất tồi tàn nhưng khu nhà kiểu ký túc xá cũ kĩ như thế thì tôi chưa đến bao giờ cả. Tôi đã trả lời ông như vậy. Bác Well nói tiếp.
“Trước đây kiểu nhà như thế nhiều lắm vì nó phù hợp nhu cầu của đại đa số. Không phải ai cũng có tiền để mua một căn hộ, nhưng bất cứ ai cũng cần một chỗ để ngả lưng.”
Tôi im lặng nghe ông kể chuyện, trong thời kỳ Đại suy thoái, những ngôi nhà đá nâu Harlem cổ kính vĩ đại cũng được chia thành những phòng đơn lẻ và cho thuê theo tuần. Từ Upper West Side dọc xuống khu Bowery, các khách sạn cũ trở thành nhà trọ bình dân, và Bowery trở thành khu ổ chuột của New York.
Tôi thích chọn bác Wells chở đi là vì thế, không chỉ là một tài xế thông minh, người bạn đồng hành thẳng thắn mà ở ông còn đầy ắp những câu chuyện về New York mà bạn chẳng thể tìm thấy trong bất cứ cuốn sách lịch sử nào. Lớn lên ở Harlem vào những năm 1940, ông biết tất cả về các nghệ sĩ nhạc Jazz tới đời tư của những người hàng xóm và còn hơn thế nữa. Khi xe chúng tôi ngang qua nền móng khách sạn Theresa trên đại lộ Adam Clayton Powell, ông bắt đầu kể tiếp.
“Giờ họ gọi nơi này là Waldorf of Harlem[*]. Tất cả những nhân vật vĩ đại đều đã ở đây, nào là Muhammad Ali[*], Duke Ellington[*], đến Malcolm X[*] cũng từng xuất hiện ngay trên phố. Bác còn trông thấy cả cô Lena Horne[*], cháu biết cô ấy chứ?”
Tôi gật đầu nghe bác tiếp tục nói.
“Vào khoảng năm 1960, Fidel Castro[*] đến đây để chuẩn bị có một bài phát biểu tại Liên Hợp Quốc. Khi ông đến một khách sạn sang trọng ở trung tâm thành phố, họ yêu cầu ông đặt chỗ trước một phần bằng tiền mặt, như thể ông là dạng vô danh tiểu tốt thay vì là chủ tịch Cuba. Vì thế, Fidel Castro liền đi thẳng đến Theresa, đặt xấp xỉ một trăm phòng cho đội thân cận. Và rồi mọi người bắt đầu rục rịch lên phòng diện kiến, từ tổng thống, bộ trưởng lẫn quan chức cấp cao. Hôm đó với Harlem là một ngày đáng nhớ. Cháu biết đấy, mọi người dồn hết sự chú ý vào vụ đó.”
Trên đường đến Nhà Trắng hôm ấy, chúng tôi có thêm bạn đồng hành, một cậu sinh viên y khoa tên Brian đang trong chương trình bốn tuần luân phiên lâm sàng tại OCME. Khi tôi đề cập tới những vấn đề SRO, kiểu như: “Bằng cách nào mọi thứ đều quy về tiền bạc và bất động sản.” Cậu ta liền xen vào: “Mọi người cứ đổ lỗi cho bất động sản!” Cậu ta nói. “Nhưng rất nhiều người đã kêu gọi đóng cửa loại hình nhà trọ giá rẻ này.”
“Gớm, làm như địa chủ quan tâm tới điều kiện sống ấy.”
“Ờ thì một số nhân vật cấp tiến vẫn quan tâm đó. Nhưng mà chị nói đúng. Đối với hầu hết chính trị gia lẫn doanh nhân thì thứ họ quan tâm là giá trị trường.”
“Thị trường luôn mất giá.” Tôi nói. “Cứ chạy theo đồng tiền rồi cậu sẽ lĩnh hậu quả.”
“Vậy thì phải làm sao, bọn họ được phép dỡ bỏ hết những nơi như thế quanh đây chắc?”
“Nhưng nếu tất cả mọi người chỉ có thể chi trả ở một mức độ như vậy, thì việc đóng cửa hay không còn có ý nghĩa gì?” Tôi cảm thấy khá thất vọng. “Không như một số người, chỉ cần một cú điện thoại với bên môi giới là đã có thể sở hữu thứ gì đó ở Upper East Side.”
Tôi đưa mắt quan sát phản ứng của bác Wells. Ông là người chứng kiến nhiều thế hệ sinh viên đến rồi đi, tôi tò mò không biết ông nghĩ sao về trường hợp này.
Brian vẫn tiếp tục với chương trình đặc biệt sau giờ học của cậu ta. “Cha cháu kể những năm 70 khó khăn lắm. Ông ấy còn nói về dòng tít nổi tiếng hồi đó Ford to City: Drop Dead[*]. (Bỏ mặc thành phố đi: cứ để nó chết.)”
Bác Wells nhếch một bên lông mày, nhìn cậu chàng bằng ánh mắt đánh giá. “Hừm.” Bác lẩm bẩm vừa đủ cho một mình tôi nghe thấy. “Cũng biết nhiều đấy, đúng không?”
Chúng tôi xuôi theo Đại lộ 2, qua nhà hàng Veselka, nơi bạn có thể mua món bánh pierogi, loại bánh bao Ba Lan ngon nhất thành phố, qua các cửa hàng chính trên đường St. Mark’s Place, rẽ vào Đại lộ 3, nơi bác Wells tiếp tục bài học lịch sử còn dang dở.
“Như bác vừa nói khi nãy... đó là Cooper Union[*]. Abraham Lincoln đã từng có bài phát biểu ở đây trước khi ông lên làm tổng thống. Nhắc để các cháu nhớ. Đó là trường đại học cho các kiến trúc sư ngày nay. Rất nhiều người nổi tiếng xuất thân nghèo khó từ đấy mà ra. Anh em nhà Gershwin[*], Thị trưởng La Guardia[*], Robert De Niro[*].”
“Mày đang nói tao hả? Nói tao đúng không?[*] Này, con trai, biết câu đó chứ?”
Brian chỉ gật đầu khi bác Wells bẻ lái lần ba rẽ vào Bowery, càng tiến gần phố Fourth mức độ tồi tàn của những tòa nhà càng tăng. Chúa ơi, dẫu sao tôi vẫn yêu thành phố này. Mỗi khu dân cư đều rất khác biệt, tất cả nhào nặn nên New York và con người nơi đây. Sẽ chẳng thể tìm thấy nơi nào giống nơi đây trên toàn thế giới. Sáng hôm đó, tôi tới khu vực lỗ địa ngục[*] ở Lower East Side tiếp nhận một vụ án, trong thời điểm mà chỉ vài ngày trước, hoàn cảnh đã đưa đẩy tôi tới một căn hộ thông tầng tráng lệ trên Đại lộ 5. Sự hào nhoáng thể hiện ra ngay từ trên địa chỉ. Mỗi tầng của tòa nhà chỉ có duy nhất một căn hộ, điều đó nghĩa là khi thang máy ốp gỗ sồi mở ra, căn nhà sẽ ở ngay trước mặt. Mà cụ thể trong trường hợp tôi đang kể là tiền sảnh màu xanh lục với hai cánh cửa màu trắng khổng lồ, có đường viền tạo thành hình chiếc lá. Dám cá, bà dì Gloria của tôi mà thấy sẽ phải thốt lên rằng: “Sành điệu!”
Tiếp đón tôi là một người đàn ông ngoài 50 tuổi, có vẻ ngoài phong độ với cặp kính mắt đồi mồi, trang phục sơ mi trắng bảnh bao và quần dạ mỏng màu xám, chân không đi tất xỏ đôi giày lười đắt tiền. Ông dẫn tôi vào bên trong, tới một tiền sảnh khác thậm chí còn lớn hơn bên ngoài, dưới sự giám sát của hai sĩ quan tuần tra ngồi không yên trên chiếc ghế Louis 15 ọp ẹp.
“Cảm ơn vì đã tới.” Ông ta nói.
“Xin lỗi đã làm phiền cô, nhưng chúng tôi không thể liên lạc với bác sĩ riêng của mẹ tôi. Bà ấy ở trên lầu. Lối này.”
Ông ra hiệu cho tôi đi về phía cầu thang uốn lượn bên trái, tôi ngập ngừng nhưng thực chất là há mồm kinh ngạc bởi dáng vẻ lộng lẫy của căn phòng trước mặt. Mỗi ô cửa sổ đóng khung một góc của công viên Trung tâm (Central Park)[*] đúng độ thu sang với những tán lá đỏ, vàng rực rỡ. Nội thất cổ nhẹ nhàng và tinh tế, tấm thảm trải sàn dày dặn mềm mượt. Màu lam nhạt và xanh lá là hai màu chủ đạo, tô điểm chút màu hồng tạo sự nhấn nhá. Căn phòng hệt như hình mẫu in trong cuốn tạp chí nổi tiếng của giới kiến trúc AD (Architectural Digest)[*], song vẫn mang tới cảm giác thoải mái, thậm chí hiếu khách là đằng khác.
“Khung cảnh khá đẹp phải không? Mẹ tôi rất yêu thích căn phòng này và dành phần lớn thời gian ở đây. Trên thực tế, đây là văn phòng của bà.”
Tôi hỏi bà ấy làm công việc gì.
“Ồ, mẹ tôi điều hành một quỹ gia đình về giáo dục và sức khỏe trẻ em.”
Ông nhìn mông lung ra cửa sổ như hồi tưởng điều gì đó, rồi quay sang tôi mỉm cười. “Cô nên thấy hình ảnh của bà khi tới trường mẫu giáo mà bà tài trợ ở South Bronx. Bà được vây quanh bởi lũ trẻ và cha mẹ chúng, khi đó bà đã rất hạnh phúc.”
Chúng tôi đi lên cầu thang tới một phòng ngủ lớn, với kích thước gấp hai lần phòng khách vùng ngoại ô, phải nói đây là phòng ngủ lớn nhất mà tôi từng thấy. Một chiếc giường ngủ với đầu giường bằng lụa màu kem chần bông dựa vào một bức tường uốn lượn. Một phụ nữ lớn tuổi khoác áo ngủ màu lam nhạt, dáng vẻ trang nghiêm ngay cả khi đã chết, nằm trên những chiếc gối thêu, tấm chăn mịn đắp đến ngang ngực. “Hãng Frette[*]”, tôi ghi chú. Tôi đang học hỏi những điều tốt đẹp từ ngôi nhà của những người tử vong giàu có.
Con trai của bà cung cấp cho tôi bệnh sử và các loại thuốc bà từng sử dụng. 87 tuổi, huyết áp cao, bệnh động mạch vành, từng hút thuốc và mới đây là bệnh phổi tắc nghẽn mãn tính (COPD), tuy không nghiêm trọng nhưng vẫn gây tức ngực và khó thở.
Ông đứng đợi ngoài hành lang trong khi tôi tiến hành khám nghiệm. Phần chân của xác chết theo tôi quan sát bị phù nề, điển hình của chứng suy tim sung huyết. Không có dấu hiệu chấn thương. Co cứng tử thi, hoen tử thi và nguội lạnh tử thi[*]. Thân nhiệt xác chết phù hợp với thời điểm cuối cùng liên lạc được với người chết. Mặt trong của môi không có vết trầy xước, thường xuất hiện khi người ta chết vì bị ngạt thở. Cụ thể là trường hợp khi dùng tay bịt chặt miệng mũi một người, dẫn tới phản xạ người đó giật đầu ra sau để tìm cách hít thở. Môi cà vào răng có thể dẫn tới tình trạng rách thắng lưỡi – lớp màng mỏng niêm mạc bên dưới lưỡi. Ở đây không có dấu hiệu nào như thế cả.
Đây là một cái chết tự nhiên vốn phải được bác sĩ riêng của người phụ nữ này xử lý, tiếc rằng anh ta đang đi chơi gôn ở đâu đó rồi. Tôi cố gắng tập trung hết sức vào việc điền thông tin định danh cá nhân, nếu không có nó, bạn không thể tồn tại cũng như chết một cách chính thống ở thành phố New York. Mục đích để xác định bạn là ai, nhưng một lần nữa, tôi không cho điều đó là hợp lý.
Tôi bị phân tâm khỏi công việc giấy tờ bởi những bức tranh treo trên khắp các bức tường phòng ngủ. Người phụ nữ được bao quanh bởi nghệ thuật và có thể nằm trên giường của mình ngắm chúng. Che chắn cho bà cẩn thận xong tôi gọi con trai bà vào. Ông ta bắt gặp khoảnh khắc tôi liếc mắt tới bức tường, nơi có những kiệt tác của trường phái ấn tượng từ các danh họa nổi tiếng như Degas[*], Monet[*], Cézanne[*]. Các bức vẽ trông như thật, tiếc rằng không thuộc lĩnh vực tôi am hiểu. Tôi là đối tượng đến Bảo tàng Fric chỉ vì đó là một nơi lãng mạn để hẹn hò.
“Mẹ tôi là một nhà sưu tập tranh kỳ cựu. Cô có muốn xem thử không?”
Tôi hơi do dự, liệu làm vậy có trái với quy định của thành phố hoặc có vẻ gì đó vô cảm với một người vừa mất mẹ hay không?
“Không cần đâu.” Tôi đáp. “Cảm ơn tấm lòng của ông, nhưng có lẽ ông sẽ còn nhiều chuyện phải lo liệu đấy.”
“Không sao. Nếu biết có người yêu thích bộ sưu tập, bà sẽ vui lắm, tin tôi đi.”
Tôi chậm rãi dạo quanh căn phòng lộng lẫy, mỗi bức tranh được phủ một lớp ánh sáng từ đèn trần trang nhã. Sắc màu như khiêu vũ thông qua điệu nhảy của những người phụ nữ thướt tha dưới tán lá mù sương, những chiếc váy trắng mỏng manh nổi bật trên thảm cỏ ngọc lục bảo. Một bức tranh về buổi dã ngoại với rượu và hoa quả khiến tôi bất giác mỉm cười, thật muốn góp mặt trong khung cảnh đó. Thoạt nhìn ở khoảng cách gần, nhiều bức tranh tưởng chừng là những mảng màu đơn thuần, cùng một tông nhàn nhạt mà tôi thấy dưới phòng khách. Nhưng khi lùi ra xa, mỗi điểm đều trở nên rõ nét. Tôi thấy những vườn hoa, thấy mặt hồ phản chiếu bóng tối và ánh sáng, một nông trại bằng đá chơi vơi trên sườn đồi. Không phải nâu trầm cũng chẳng phải đỏ sẫm như các tác phẩm của các danh hoạ thời trước. Ở đây có sự sống, chuyển động và tiếng cười. Chúng là niềm hạnh phúc.
Ông mỉm cười khi chứng kiến tôi ngắm nghía, khoảnh khắc khi bạn thực sự thưởng thức và cảm được điều gì đó qua tranh. Mỗi câu chuyện như được truyền tải qua từng bức vẽ.
Tôi cảm kích vì đặc quyền mình có, trước khi rời khỏi phòng, tôi dừng lại và gật đầu với người phụ nữ trên giường, thầm bày tỏ lòng biết ơn.
Tôi mải nghĩ về bà cùng người con trai khi đặt chân tới khách sạn Nhà Trắng. Chắc không tìm được hai địa điểm nào có sự khác biệt hơn thế. Lối vào kiểu cũ của khách sạn đã xuống cấp, cửa chính nguếch ngoác những vệt sơn vẽ tường, tàn dư của nỗ lực dọn dẹp không tới nơi tới chốn. Gạch lát sàn khảm men trắng li ti chằng chịt những vết nứt vỡ kéo tới tận cầu thang bằng kim loại với những bậc thang bong tróc gần hết lớp vải sơn. Cửa sổ chia ngăn, tường gạch cáu bẩn với khu vực tiền sảnh tồi tàn bày một vài chiếc ghế nhựa. Nhà Trắng không khuyến khích ngồi, vậy mà vẫn có một người đàn ông gầy gò ốm yếu với đôi má trũng sâu như xác chết ngồi ghé mép bàn chơi bài, như thể chờ chực việc bị đuổi bất cứ lúc nào. Tại góc gần cửa ra vào, một cậu chàng đôi mươi tỏ vẻ tỉnh táo, giống như đang chờ đợi đứa bạn nào đó. Cứ được một lát, mắt cậu ta lại lờ đờ và mất dần tiêu cự, cậu gãi gãi cánh tay và khụt khịt mũi giống mấy con nghiện ma túy lâu năm.
Khi chúng tôi lái xe qua, bác Wells kể rằng, Nhà Trắng được xây dựng vào khoảng những năm 1820 với mục đích ban đầu là cửa hàng bán đồ khô trên nền cũ của nhà hát thành phố. Sau một thời gian, tới đầu những năm 1900, nó được chuyển đổi thành “nhà trọ giá rẻ” và quả thật Nhà Trắng không phục vụ cho mục đích nào khác ngoài bản chất là cung cấp một chỗ ngả lưng với mức giá 6 đô, phải nói là nhà kho cho người theo đúng nghĩa.
Bác Wells đánh xe vào chỗ trống bên cạnh một chiếc xe đậu sẵn bên đường và ngồi đợi chúng tôi luôn trên xe. Brian theo tôi vào bên trong. Ông Ivy League trong chiếc áo sơ mi cứng còng và cà vạt, hơi loạng choạng khi trông thấy chúng tôi tiến tới bàn tiếp tân. Trông ông có phần lạc lõng giữa khung cảnh xung quanh, giống với hình ảnh đám cảnh sát chúng tôi đứng giữa căn phòng hạng sang trên Đại lộ số 5 thời thượng. Đáng lẽ tôi phải yêu cầu ông ta không trả lời bất cứ câu hỏi nào liên quan tới nhân chứng hay bắt chuyện với bất cứ người nào khác trừ tôi, nhưng có lẽ điều đó không cần thiết. Ông ta lùi lại, dựa sát vào tường. Đứa trẻ này giãy khỏi sự bảo hộ và nổi loạn nhưng lại nhận được một bài học mà nó không hề mong muốn, tôi hiểu loại cảm giác đó. Bạn có thể gọi nó theo nhiều cách: “tỉnh mộng”, “sáng mắt” cho thời khắc bạn nhận ra sự thiếu hiểu biết của bản thân về lòng người sẽ phải trả giá đắt. Khi mới bắt đầu công việc này, tôi cũng đã từng ngây thơ như thế.
Người quản lý bước ra từ một căn phòng bé tí bên góc sảnh chờ, vươn tay tới trước mặt tôi rồi nói.
“Tôi là Nate. Rất vui được gặp cô. Mời theo tôi, anh ta ở phía sau.”
Nate là một gã trai đẹp, nước da vàng đen bóng, mái tóc bạch kim vuốt ngược ra sau đầu và khóe miệng luôn ngậm một điếu thuốc. Khi gã nói, điếu thuốc sẽ chuyển động lên xuống như cây đũa chỉ huy (đũa bato) của nhạc trưởng và ngắt lời gã khi bị chọc tức.
“Xin lỗi, thưa cô.” Gã chỉ kịp nói với tôi có thể và sau đó. “NÀY!!! Tránh xa ra. Bố mày đã nói là không được lảng vảng rồi cơ mà!”
Một người đàn ông gầy gò đội mũ bóng chày hét lại gã. “Mẹ nó! Tạo đếch thèm ngồi đâu, tao bị ngã. Tao sẽ gọi luật sư riêng và kiện mày phải xin lỗi mông tao.”
“Mày kiện đi, xem mày nhận được gì. Nhanh tìm thêm cho mình trái đắng tiếp theo nữa đi.”
Gã kia lúc này cũng đã đỏ mặt tía tai, bò dậy và tập tễnh bước đi, vừa đi vừa xoa hông một cách dữ dội.
“Anh có nghĩ hắn cần khám bác sĩ không?” Tôi hỏi.
“Ai cơ? Billy ấy hả? Tuần nào mà hắn chẳng thế. Mấy tháng trước có vài gã luật sư chẳng đâu vào đâu ghé khách sạn và truyền bá cách kiếm tiền. Chúng tôi gọi hắn là Paul trượt ngã.”
Nate nhìn hắn đi khuất rồi quay sang tôi, điếu thuốc vẫn ngậm trên môi, đôi mắt nheo lại nhìn qua làn khói. Gã đưa tôi tới cầu thang dẫn lên một trong ba tầng khách sạn, nơi có những dãy hành lang sâu hun hút phủ kín những ô cửa bằng gỗ dán. Kích thước mỗi ô cửa chỉ nhỉnh hơn chiếc quan tài chút đỉnh. Rộng một mét hai, sâu một mét sáu, cao hai mét tư, chúng chỉ đủ kê vừa một chiếc giường gấp lò xo và một thùng đựng sữa làm bàn đầu giường.
Những dãy buồng nhỏ hẹp co cụm trong một khoảng không gian chung, trần cao và mặt sàn xi măng. Cửa thoát hiểm ở một đầu, đầu còn lại là phòng tắm. Mỗi cánh cửa được ghép từ nhiều tấm ván gỗ công nghiệp màu đỏ sẫm, trông hệt như đồ thừa từ những vật liệu bỏ đi của một công trường xây dựng hoặc phế thải từ việc phá dỡ một khách sạn nào đó sang xịn hơn. Chúng cách nhau khoảng một mét hai, trên cùng đánh số phòng và khóa bằng chốt móc. Thứ mà những căn buồng này thiếu chính là “mái”. Chúng được đậy bằng những tấm lưới thép mỏng, tạo điều kiện cho lực lượng an ninh kiểm tra phúc lợi. Nói trắng ra, chính là kiểm tra những khách trọ còn sống hay đã chết. Nếu một vị khách không xuất hiện hoặc không trả lời tiếng gõ cửa buổi sáng, sẽ có người kéo chiếc thang cót két và nhìn xuống căn phòng, gọi tên anh chàng vài lần xem có dậy nữa hay không. Nếu không, họ gọi 911 hoặc tệ nhất là gọi cho tôi. Brian hết nhìn lại ngó. Cậu chàng quan sát mọi thứ như thể sẽ ghi nhớ bằng hết, và rằng những thứ cậu thấy sẽ có trong bài kiểm tra. Đây đã không còn là một câu chuyện cậu nghe từ cha mình. Đây là thực tế.
Thật ra mùi của Nhà Trắng chưa đến nỗi không thể chấp nhận được. Thứ mùi hỗn tạp pha trộn từ mồ hôi, thuốc lá, xà phòng công nghiệp và mùi chua nồng của những bãi nôn say rượu, nhưng là mùi thuần túy của con người, chưa hề bị lẫn bởi mùi của thảm trải sàn, mùi nội thất, nấu nướng hay của cải vật chất. Tôi đã thấy nhiều căn phòng nhỏ được trang trí bằng những bức ảnh xé ra từ cuốn tạp chí dán trên ván ép, một bó hoa giả vứt đi bị bụi bẩn phủ đầy, một bức ảnh phai màu chụp một đứa bé đứng cạnh chiếc siêu xe Dodge Charger[*] của thập niên 70. Những chiếc bàn đầu giường bằng thùng đựng sữa có vỏ bao thuốc Kools[*] hay Newports[*] bị vò nát, hoặc cũng có thể là hộp thuốc lá hương bạc bà. Rượu rởm và ma túy được giấu dưới tấm nệm phủ ga giường màu trắng xám mỏng tang, còn nguyên vết lằn ố vàng tại đúng vị trí họ từng nằm trên đó.
Không có bất cứ địa điểm hay đồ đạc cá nhân nào để xác định danh tính, những người đã chết ở nơi này trống rỗng hệt như những hành lang ngoài kia. Không cuộc sống, không quá khứ, cũng chẳng có những câu chuyện về sau. Có một lần Tiến sĩ Hirsch nói: “Xác chết chỉ là chiếc xe cho thuê mà chúng ta từng một lần cầm lái. Một số đã tàn tạ và mục rữa, một số khác dù sớm tàn nhưng vẫn còn tỏa sáng và mới mẻ.”
Song, không có thứ gì tỏa sáng và mới mẻ về nơi này cả.
Tôi đứng yên một chỗ và cố gắng tiếp nhận mọi thứ. Tất cả những hành lang tối tăm, những phòng đơn bụi bặm, đằng sau mỗi cánh cửa là cả một cuộc đời bên trong. Thật khó để tưởng tượng ra một cuộc sống khác của những người trú ngụ nơi đây, là “họ” của những ngày trước đó. Không có gì ngạc nhiên khi hầu hết mọi người gọi thời điểm này bằng hai từ “chạm đáy”. Nơi này không có hy vọng, chỉ có ngày qua ngày, chẳng có điều gì đáng để chờ mong. Điểm dừng tiếp theo là nắp cống ngầm nguy hiểm trên vỉa hè. Nhưng đây không thể là tất cả. Chắc chắn một vài người trong số họ, đã được sinh ra trong tình yêu thương của mẹ, đã từng là người anh em, người cha, người chồng, đã từng có rất nhiều bè bạn. Đã từng yêu và cũng đã được yêu.
Họ cũng có một câu chuyện riêng, phải không?
Ngày đầu tiên tôi đến Nhà Trắng, người đàn ông có cái tên Richard đã dạy tôi điều đó. Ông đứng bên ngoài căn phòng của Felix, người đang nằm cứng đờ và lạnh cóng trên chiếc giường nhỏ hẹp của mình. Cơ thể gầy gò của Felix rất dễ lăn khiến quá trình kiểm tra chấn thương của tôi diễn ra nhanh chóng và dễ dàng. Ừm, người này vừa chết. Tôi sẽ đưa Felix đi làm xét nghiệm nhiễm độc và ngoại khoa, hoặc khám nghiệm tử thi nếu như tôi có thể tìm thấy bệnh sử của ông ấy. Tôi nhìn trong số ít tài sản để lại: một tờ Reader’s Digest[*] xuất bản từ tháng Mười năm 1986 bị ố nước, hai điếu thuốc lẻ, một chứng minh thư, một bức ảnh đen trắng nhàu nát chụp một người phụ nữ da đen, hai tay chống nạnh, nét cười xinh đẹp.
“Vợ nó đấy.”
Người đàn ông từ cửa nhìn vào áng chừng 70 tuổi, khuôn mặt đậm chất Bắc Âu[*], dáng người vừa cao vừa mảnh khảnh. Ông khoác chiếc áo khoác thể thao bằng chất liệu vải tốt, đường may đẹp đẽ, mặc dù vạt áo và tay áo đã sờn hết cả.
Tôi bước tới gần, giới thiệu xong bèn hỏi. “Bác biết người kia à?”
“Tôi là Richard. Ừm đúng, đó là bạn tôi. Là cựu chiến binh từng tham chiến tại Triều Tiên mà phải trải qua một khoảng thời gian tồi tệ. Chắc sẽ được chôn cất ở nghĩa trang quốc gia đúng chứ nhỉ?”
Tôi trả lời “Đúng”, rằng chúng tôi có đội làm làm việc với hội cựu chiến binh để đảm bảo ông Felix được chôn cất xứng đáng.
Tôi hỏi thêm về tờ Reader’s Digest cũ, tại sao ông ấy lại giữ nó.
“Vì trên đấy có một câu chuyện mà nó yêu thích, hẳn nó đã đọc đi đọc lại cả ngàn lần. Tôi nghĩ chắc hẳn là một chuyện lãng mạn, bởi vì nó rất hay ngại nên tôi không hỏi. Dù sao thì cũng là điều khiến nó hạnh phúc.”
Chúng tôi đã nói chuyện một lúc, được biết hai người họ đã cùng uống rượu và cả hai đều quan tâm lẫn nhau. Richard ăn nói khéo léo, thể hiện rõ là người có học thức. Tôi hỏi về công việc và liệu ông đã nghỉ hưu chưa.
Ông cười. “Cách cô hỏi rất khéo. Tôi là kiểm toán viên CPA[*] của một công ty kiểm toán thuộc Big8[*]. Đúng hơn là giám đốc. Nhưng tôi đã muốn thoát khỏi điều đó, bằng cách riêng của mình, là uống rượu. Tôi có vợ con nhưng mười lăm năm qua tôi không gặp họ. Họ đang ở đâu đó, có thể vẫn ở Syosset[*], tôi không biết nữa.”
Ông suy nghĩ một lúc.
“Felix là gia đình của tôi.”
Ông nói với tôi những gì mình biết về tiểu sử bệnh của Felix, sau đó chúng tôi bắt tay tạm biệt. Lúc ông rời đi, tôi để ý dáng đi của ông là biểu hiện của chứng rối loạn thất điều tiểu não, hệ lụy của thần kinh bị tổn thương do nghiện rượu. Tôi quan sát tất cả các buồng xung quanh, rất nhiều người đàn ông đã uống cạn cuộc đời họ ở đó. Nó khiến tôi nghĩ về căn phòng đơn chật chội nơi tôi từng ở trong những ngày uống rượu cuối cùng. Một căn bếp nhỏ với chiếc tủ lạnh trong đó quá nửa là vodka và đồ ăn Trung Quốc bỏ dở đã quá hai ngày. Một ô cửa sổ cáu bẩn, bậu cửa phủ đầy phân chim. Căn phòng với một chiếc giường, một chiếc ti vi, và tôi. Mọi thứ đã khép lại.
Tôi còn quay lại Nhà Trắng nhiều lần, lần đầu khoảng bảy tháng sau khi tiếp nhận vụ của ông Felix. Richard khi ấy không còn ở Nhà Trắng. Nate nói, mọi người đôi khi chỉ muốn đi đâu đó vài ngày, nhưng rồi không bao giờ quay lại nữa. Gã đoán họ có thể ngã xuống sông, dùng thuốc quá liều hoặc đụng vào xe tải. Một ý nghĩ xẹt qua trong đầu tôi: Biết đâu sau cái chết của Felix, ông tới tham dự một cuộc gặp của AA.
Hiện không còn những căn phòng trọ giá rẻ ở New York, chúng đã bị xóa sổ theo quy định. Tôi không biết chuyện gì đã xảy ra với tất cả những người khách vãng lai. Không một ai biết cả.