Cơ quan Khởi tố Hoàng gia cuối cùng cũng liên lạc với tôi về vụ Anthony Pearson. Bạn gái anh ta, Theresa Lazenby bị kết tội giết người, phiên tòa xử cô ta sắp diễn ra.
Chúng tôi có một cuộc họp tiền sơ thẩm (điều “xa xỉ” mà Simpson luôn có trong suốt thời gian hành nghề, đến thời tôi thì không còn), trước đó tôi có thời gian ôn lại những việc đã diễn ra từ hồ sơ của mình. Bên khởi tố gửi tôi thêm tài liệu, bao gồm bản tốc ký lời khai của Theresa với cảnh sát.
Vừa đọc, tôi vừa nhớ lại phía thanh tra đã cảm thấy khó khăn thế nào khi gắng kết nối những chứng cứ họ có với việc cô gái trẻ siết cổ giết người. Cách họ bảo vệ cô gái. Tôi sớm hiểu vì sao.
Trong các buổi thẩm vấn, Theresa cho biết cô ta quen biết Anthony đã năm năm. Hai người họ có một đứa con gái chung, đang sống với bố mẹ cô ta. Cô ta phân chia thời gian của mình, ban ngày ở với bố mẹ và con gái, tối ở cùng Anthony.
Thời điểm Anthony chết, bố mẹ và con gái của Theresa đang đi nghỉ mát. Cô ta tường thuật lại chuyện ngày hôm đó rất chi tiết, tôi chỉ có thể nói một ngày hết sức bình thường đã kết thúc không thể dị thường hơn. Cô ta mua thiệp sinh nhật cho một người bạn, thu hình một chương trình truyền hình cho gia đình để xem lại sau kỳ nghỉ, sang nhà thăm ông đang yếu. Cô ta cũng cố mượn tiền chuẩn bị cho kỳ nghỉ ở Tenerife cô ta đã lên kế hoạch cùng mấy người bạn nhưng không thành công. Chẳng có gì bất thường cho tới lúc đó.
Sau đó cô ta gặp Anthony trong quán rượu. Anh ta đã uống say mèm, nổi đóa khi cô ta đến sớm. Anh ta không đồng tình với dự định du lịch của Theresa (“Con đĩ!”) và đòi thêm tiền để uống tiếp rồi mua “cỏ”.
Theresa mượn tiền của chủ quán rượu cô từng làm nhân viên thời vụ. Một buổi chiều không hề yên ả diễn ra với đầy cồn, “cỏ” và những cơn thịnh nộ. Theresa chỉ uống nửa ly bia, không phê cần, và theo cách cô ta diễn tả rất dễ khiến mọi người liên tưởng tới một người bạn gái chịu đựng tên bạn trai khó chiều, đồng bóng. Khi họ về đến nhà cùng chiếc bánh pizza, theo lời khai của cô ta, Anthony đã ngoài tầm kiểm soát bản thân:
“Tôi đưa pizza cho anh ta ở phòng khách thì anh ta bảo đã làm rơi ‘cỏ’ đâu đó, tôi nói ‘Đừng có điên.’ Thế là tôi bắt đầu lục túi anh ta, anh ta đẩy tôi vào tường... Anh ta ném gạt tàn vào tường... Tôi nói: ‘Sao lúc nào anh cũng phải ném đồ đạc mới chịu thế.’ Anh ta bảo: ‘Ừ đấy.’
Anh ta bắt đầu nổi xung, kéo đổ bộ băng đĩa ra khỏi bệ lò sưởi, ném đồ đạc xung quanh, anh ta la lối, phá nát đầu đĩa. Tôi phải lại gần ôm anh ta để anh ta không tiếp tục vậy nữa (khóc ), rồi anh ta đấm vào đầu tôi, tôi ngã, bị đứt tay ( chìa bàn tay phải có vết đứt ra ), khắp nơi toàn mảnh sành, tôi nằm trên sàn, cạnh cửa phòng khách, anh ta không mở được cửa vì kẹt đầu tôi, thế là anh ta liên tục dộng cánh cửa vào đầu tôi.
Anh ta vào nhà vệ sinh, anh ta gọi tôi vào, vừa bước vào tôi thấy anh ta đang dùng lưỡi lam cắt tay mình... Tôi vớ lấy cái khăn để cầm máu và bảo: ‘Đừng dại thế.’ Tôi quấn khăn quanh cánh tay anh ta, tôi nhớ là tay phải, tôi nhớ anh ta hất cái khăn ra rồi tiến lại giật dây điện ra khỏi ổ cắm...
Tôi vào phòng ngủ, anh ta vẫn tiếp tục ném đồ đạc, ném các món đồ trang trí của tôi. Anh ta đi vào bếp. Tôi có mua một cái bàn ăn bằng kính, tôi năn nỉ anh ta đừng đập bàn, anh ta cầm lọ muối và tiêu lên, vào phòng ngủ, ném ra ngoài cửa sổ. Anh ta cầm gương lên, tôi lao vào cản anh ta lại, chúng tôi cùng ngã lên giường ( nức nở).
Anh ta cắt cánh tay tôi. Tôi không biết đó là gì nhưng tôi vẫn cố giằng tay mình ra ( cho xem những vết cắt ở mặt trước cẳng tay phải ). Tôi lật tay lại, anh ta tiếp tục cắt và cắn tay tôi ( cho xem những vết bầm, vết cắn trên bắp tay ). Tôi với lấy chiếc cà-vạt trên tủ đầu giường, bắt đầu siết cổ anh ta. Tôi không muốn làm anh ta đau, tôi chỉ muốn anh ta đừng làm đau tôi nữa thôi. Tôi la lên với anh ta để tôi yên, buông tôi ra, buông tôi ra! Khi anh ta ngừng đánh, tôi buông anh ta ra, chạy tới đây.”
Hỏi: Lúc cô siết cổ Tony, cô đang ở trên người anh ta hay anh ta đang ở trên người cô hay cả hai ở cạnh nhau?
Đáp: Chúng tôi gần như ở cạnh nhau. Tôi ở phía bên trái giường. Tôi nằm ngửa. Anh ta ở dưới chân tôi. Tôi không nằm trong thế kẹt. Anh ta đánh vào bụng tôi mấy lần, tôi thắt cà-vạt quanh cổ anh ta... ( nức nở ).
Hỏi: Cô tiếp đi...
Đáp: Tôi quàng cà-vạt vào cổ anh ta, kéo mạnh để anh ta không đánh tôi nữa. Tôi không biết bao lâu nhưng khi anh ta ngừng đánh, tôi chạy ra khỏi nhà, chạy đến đây.
Hỏi: Cô có ý định giết anh ta không?
Đáp ( nức nở ): Không, tôi không muốn giết anh ta.
Hỏi: Cô có nghĩ cô đã giết anh ta không?
Đáp: Tôi biết tôi đã làm hại anh ta vì anh ấy cứ cố thở. Anh ta tím tái đi. Miệng, lưỡi anh ta, lưỡi anh ta thè ra ngoài... Tôi nhìn anh ta. Tôi biết tôi đã làm anh ta đau. Tôi phải ra khỏi nhà. Tôi phải đến đây để nhờ giúp đỡ cứu Tony. Tôi đến đây, kể ngay với cảnh sát.
Theresa tiếp tục kể Anthony đã bạo hành cô ta trong quá khứ nhưng ( lại nức nở ) cô ta yêu anh ta và cảm thấy anh ta cần mình. Có vẻ cô ta là một người mẹ rất trẻ – hai người họ hẳn đã có con khi vừa mới lớn - mắc kẹt trong mối quan hệ bạo hành gia đình nhưng vẫn vững tin anh ta cần mình.
Tôi bị xúc động với những lời khẩn khoản cho rằng đây là lần đầu tiên cô ta phản kháng trước sự đe dọa của Tony. Đôi khi kẻ thủ ác trông như nạn nhân, và Theresa trông như vừa phải chịu khổ vừa ôm cả nỗi ân hận. Nhưng phía công tố định sẽ dựa vào các bằng chứng của tôi, bởi vậy tôi không cho phép sự thiên vị chen vào. Tôi quyết tâm bám sát sự thật, những sự thật đơn sắc, không cho phép cảm xúc và mọi sự bội bạc của nó chen vào.
Cuộc hội ý về vụ án diễn ra tại phòng của Cơ quan Khởi tố Hoàng gia, phía trên Tòa án Old Bailey. Phòng xử án hoành tráng, dát gỗ toàn bộ, không một tòa án nào khác ở Anh có thể mang tới sức mạnh công lý lớn hơn Tòa án Old Bailey.
Tuy nhiên chẳng có gì hoành tráng diễn ra trong những căn phòng hội ý cả.
Tôi ngồi chờ trong căn phòng toàn nội thất cũ mèm và cửa sổ gió lùa, đột nhiên hai luật sư một già một trẻ xộc vào. Họ mới từ phiên tòa phía dưới nhà chạy lên, vẫn còn mặc nguyên đồng phục, quăng hai bộ tóc giả lên bàn, chào tôi bằng tên trước khi những quy trình theo thủ tục bắt đầu. Hai thanh tra xuất hiện sau đó không lâu. Sát cánh cùng nhau qua những ca khám nghiệm tử thi là một trải nghiệm đầy gắn kết, chúng tôi bắt tay nhau như những người bạn.
Chúng tôi ngồi quanh một cái bàn lớn, uống trà bằng tách sứ, dân luật sư không dùng đồ nhựa tổng hợp. Chúng tôi bày tất cả hình ảnh, hồ sơ trước mặt. Tất cả hình ảnh của bên Cảnh sát Đô thị (*) để trong bìa nâu cứng với những khoen tròn đen.
Tôi ngồi im lặng nghe mọi người thảo luận về những lời bào chữa trong vụ Theresa Lazenby. Cô ta bị cáo buộc tội giết người, nhưng họ nghĩ khả năng cao luật sư của cô ta sẽ đề xuất sửa bản án thành ngộ sát với các tình tiết giảm nhẹ, dĩ nhiên việc thi hành án cũng sẽ nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Các thanh tra khá mong mỏi điều này sẽ thành hiện thực. Quá dễ thấy họ thích Theresa và tin cô ta chỉ tự vệ. Đến mức họ không phản đối gì khi cô ta được bảo lãnh tại ngoại dù đang bị cáo buộc tội giết người.
“Anh đã đọc lời khai của cô ta với cảnh sát chưa bác sĩ?” Vị luật sư trẻ tuổi hỏi tôi.
“Tôi đọc rồi.”
“Anh cũng đã xem các bức ảnh bằng chứng về những việc anh ta gây ra cho cô ấy trước khi cô ấy với lấy cà-vạt rồi chứ?” Viên thanh tra hỏi.
“Chưa. Tôi chưa nhận được những bức ảnh ấy.”
Luật sư sục sạo rất lâu rồi đưa tôi một tập hồ sơ. Hồ sơ cảnh sát tôi vẫn thường thấy, gồm ảnh hiện trường và các buổi khám nghiệm tử thi. Nhưng ở hồ sơ này, tôi thấy một phụ nữ trẻ xinh xắn, đầy sức sống.
“Vậy”, tôi nói: “... ra đây là Theresa.”
Sự trẻ trung, sức sống của cô ta làm sáng bừng các bức ảnh. Cô ta có gương mặt tươi tắn, mái tóc dài màu hung đỏ được buộc cẩn thận. Đúng như phía thanh tra đã nói với tôi vài tháng trước, cô ta rất ưa nhìn. Khác xa một trời một vực với những kẻ tình nghi giết người.
Tôi cẩn thận xem xét từng bức ảnh trong khi mọi người uống trà, nói chuyện. Sau cùng tôi ngẩng lên.
Tôi nói: “Tôi nghĩ.”
Rồi tôi ngưng lại. Tôi có chắc không nhỉ? Tôi không muốn mình mù quáng vì bất cứ thiên kiến nào mà quên đi hậu quả nghiêm trọng của một lỗi lầm nhỏ.
Phía cảnh sát nhìn tôi chăm chú, chờ đợi. Phía luật sư chau mày. Sự im lặng kéo dài quá lâu.
“Sao thế?” Vị luật sư già lên tiếng đánh động, sự ngập ngừng của tôi có thể phá vỡ tính đáng tin của mọi lời tôi định nói.
Rồi tôi chợt nhớ đến cảm giác đeo bám kỳ lạ trong buổi khám nghiệm tử thi. Nó xảy ra do một sự không “khớp” giữa thực tế và câu chuyện được kể. Giờ đây tôi vừa tìm được cách biệt quan trọng khác giữa sự thật và phiên bản Theresa kể về sự thật.
Vâng. Tôi dám chắc.
Tôi nói: “Tôi nghĩ tất cả các vết thương của Theresa đều do tự hoại.”
Bên công tố há hốc miệng nhìn tôi.
“Gì chứ?”
“Cô ta đã tự gây thương tích cho mình.”
Vị luật sư trẻ nhoài ra cầm mấy bức ảnh.
“Các vết cắt trên tay cô ta, anh nói là do cô ta tự gây ra?”
“Tôi tin vậy. Tôi không tin cô ta giết Anthony để tự vệ hay anh ta tấn công cô ta bằng mảnh sành, lưỡi lam, hay những điều các anh vừa nói.”
Họ nhìn nhau.
“Anh sẽ trình bày những điều này trước tòa chứ?”
“Có chứ. Dĩ nhiên tôi cũng cần thêm thời gian để xem xét vụ này.”
“Sao?” Viên thanh tra không có vẻ bị sốc, nhưng rõ ràng trông rất khổ sở. “Sao anh chắc được Anthony Pearson không gây ra những chuyện đó?”
Kỳ thực, các vết thương trong những bức ảnh lúc nãy chỉ là dấu hiệu thường gặp nhất của hành vi tự hoại. Khi bị tấn công, người ta thường cố vùng thoát ra, giằng, giật, chuyển động hay bất cứ hành động nào khác. Trừ phi họ bị khóa chặt xuống sàn – Theresa khai cô ta không bị, hoặc bị phê cần hay phê cồn - Theresa chắc chắn không phê, còn chẳng lý gì họ lại để mặc người khác “xắt” da mình hết vết này đến vết khác ở cùng một vị trí.
Thêm một bằng chứng nữa. Các vết thương đa phần nằm ở những vị trí phổ biến khi nạn nhân tự hủy hoại bản thân (phổ biến do dễ với tới) và lực chỉ mức trung bình. Không khó để dùng vũ lực khi người ta đang nổi điên và định “xắt” ai đó. Nhưng sẽ rất khó nếu người ta đang làm chính mình bị thương.
Tôi giải thích tất cả những điều này.
“Những vết thương này chắc chắn không phải do tự vệ.”
Hai luật sư nhìn nhau rồi nhìn sang phía cảnh sát. Tôi để ý lần nữa, dù phía thanh tra đã buộc tội Theresa giết người, chắc chắn họ vẫn thích cô ta. Một người trong số họ cầm tập hồ sơ lên, xem lại các bức ảnh.
“Nhìn mặt cô ta đi, chắc chắn Anthony Pearson đã cào cô ta.” Tôi lắc đầu.
“Không, những vết thương này đều do móng tay.”
Tôi giơ một tay lên mặt, diễn lại cảnh tự cào mặt mình ở đúng vị trí đó.
“Nếu tôi không nhầm, móng tay nạn nhân bị cắn cụt ngủn. Chúng quá ngắn để có thể gây ra những vết cào đó.”
Tôi chồm tới, với tập hồ sơ khám nghiệm tử thi. Những tờ ghi chú của tôi được đính kèm trong đó. Khi tôi di chuyển các tờ giấy, một thứ mùi hăng hắc của những cành già gãy bốc lên, mùi của nhà xác.
Tôi lướt nhanh qua các bức ảnh cho tới khi tìm được một bức nhìn rõ bàn tay Anthony Pearson.
“Đúng, rõ ràng anh ta đã cắn móng tay. Móng tay anh ta không đủ dài để cào mặt cô ta gây thương tích đến mức đó.”
Tôi chuyền bức ảnh qua bàn. Phía thanh tra xem xét xong chuyền qua luật sư già. Ông ấy đeo kính, xem thật gần rồi chuyển sang luật sư trẻ, người này xem bức ảnh một cách khó khăn rồi gập thật nhanh tập hồ sơ lại.
Tôi nhặt những bức ảnh của Theresa lên.
“Ngược lại”, tôi giơ các bức ảnh thấy rõ móng tay Theresa lên: “.. móng tay cô ta đủ dài để có thể tự gây ra những vết cào đó.”
Họ chuyền nhau những bức ảnh. Rồi lại rơi vào thinh lặng.
“Còn những vết cắn trên cánh tay cô ta?” Một luật sư hỏi.
“Cô ta có thể tự cắn tay mình.
Tôi chứng minh, dù hơi khó khăn, nhưng vẫn tự cắn được. Rồi tôi mở tập hồ sơ lần nữa.
“Mời nhìn kỹ, theo vết cắn có thể thấy từ khuôn miệng nhỏ, quá nhỏ so với miệng một người đàn ông. Chúng ta có thể xác nhận lại bằng cách đo miệng cô ta, tất nhiên rồi. Chúng ta sẽ cần một nha sĩ pháp y làm việc này. Các dấu răng mang tính dị biệt rất lớn.”
Lại im lặng.
“Tôi có để ý một chi tiết trong bản tường trình của anh.” Tôi nói và nhìn viên thanh tra: “Lúc Theresa đến đồn cảnh sát tự thú, ban đầu anh gọi xe cứu thương. Sau đó...”
“Sau khi kiểm tra các vết thương của cô gái, chúng tôi hủy cuộc gọi.” Anh ta xác nhận.
“Vì anh không thấy chúng quá nghiêm trọng” Tôi nhắc.
Phía luật sư hỏi: “Mục đích hôm nay anh đến đây là để nói với chúng tôi điều này à?”
“Tôi chưa từng thấy những bức ảnh trước đó. Nhưng tôi chắc chắn phiên bản Theresa kể không phải sự thật. Tôi biết điều đó sau khi đọc lời khai của cô ta.”
Phía luật sư trông rất phấn khích còn bên cảnh sát trong mệt mỏi như vừa bị bịp.
Tôi tự tin vì từng thảo luận những bằng chứng này với các đồng nghiệp ở Bệnh viện Guys, chúng tôi đều đồng tình với nhau. Nhìn những vết siết cổ, tôi biết cô ta không quấn hung khí thành vòng tròn quanh cổ Anthony rồi kéo chặt như đã kể. Chiếc cà-vạt không thắt lại, nó chỉ siết phần trước cổ anh ta mà thôi.
Tôi nói: “Ban đầu tôi nghĩ cô ta đã siết cổ Anthony từ phía sau, bằng cách kéo cả hai đầu cà-vạt, nhưng cô ta đã mô tả rất kỹ gương mặt anh ta lúc bị siết cổ.”
“Cô ta nói mình ở trên anh ta.”
“Tôi tin điều đó, nhưng nếu cô ta đã làm những gì như cô ta kể, người đàn ông trưởng thành tỉnh táo nào cũng có thể dễ dàng ngăn lại được.
Họ chờ đợi. Một viên thanh tra nét mặt đầy khó hiểu ấp úng: “Vậy tại sao...?”
“Anthony Pearson rất say, vượt ngưỡng cồn cho phép được lái xe ít nhất ba lần. Đã vậy anh ta còn hít cần, cần lại khuếch đại tác dụng của cồn. Kịch bản tôi nghĩ đến là anh ta đang nằm trên giường, bất động. Tôi nghĩ cô ta chỉ đơn giản là dùng cà-vạt vòng qua phần trước cổ anh ta rồi nhấn xuống giường. Anh ta quá say để có thể kháng cự. Cũng có khả năng anh ta nằm sấp, cô ta siết cà-vạt qua trước cổ, kéo ngược lên, nhưng trong trường hợp đó cô ta không thể miêu tả được gương mặt anh ta khi bị thắt cổ chết.”
Vị luật sư rướn người ra trước.
“Anh đang nói với chúng tôi là không có cuộc xô xát nào à? Và cô ta đã bịa ra mọi chuyện để che giấu sự thật...”
“Tôi nghĩ có xảy ra cãi cọ, hàng xóm nghe thấy gì đó mà, nhưng không đến mức như cô ta kể. Chẳng có bằng chứng nào cho thấy cô ta là nạn nhân bị bạo hành thể xác và phải tự vệ cả. Ngược lại, tôi nghĩ cô ta siết cổ Anthony khi anh ta không còn tỉnh hoặc nửa tỉnh nửa mê, sau đó tự gây thương tích cho mình.”
Mọi người lại nhìn nhau.
“Không thể chấp nhận vụ này chỉ là ngộ sát được.” Vị luật sư già nói. “Nếu đúng là giết người, chúng ta sẽ không để cô ta thoát tội với lý do tự vệ.”
Chúng tôi bắt tay nhau, tản đi các hướng. Vài tuần nữa chúng tôi sẽ gặp lại nhau trên tòa.
Những lần làm chứng đầu tiên, tôi run tới nỗi chỉ dám nhìn luật sư đang hỏi mình, cùng lắm là nhìn thẩm phán.
Iain West từng đến xem tôi làm nhân chứng. Sau đó trong quán rượu, ông ấy hỏi: “Ai sẽ tin cậu và hiểu các chứng cứ của cậu?”
Đúng với phong cách Iain, ông ấy tự trả lời luôn câu hỏi của mình.
“Tất nhiên không phải luật sư rồi. Anh ta biết cậu sẽ nói gì và phải làm gì để bắt cậu nói những điều đó. Cũng chẳng phải thẩm phán, việc của cậu không phải là thuyết phục họ.”
“Bồi thẩm đoàn.”
Iain gật gật cái đầu khổng lồ của ông ấy.
“Bồi thẩm đoàn, Dick.” Ông ấy the thé chất giọng đặc Scotland. “Bồi thẩm đoàn nha, đừng quên bồi thẩm đoàn.
Tất nhiên Iain đúng. Tại tòa, Iain tỏa sáng. Mười hai công dân kiểu mẫu, công chúng và báo giới là lượng khán giả Iain muốn và ông ấy không bao giờ làm họ thất vọng. Tôi chỉ đơn giản không phải một kịch sĩ và không thể đóng vai kịch tính nào trước tòa tốt hơn vai người chồng tình cảm, biết quan tâm.
Dù vậy tôi vẫn cố gắng học Iain. Tôi học Iain cách đón câu hỏi của luật sư, dừng lại nghĩ một lát, quay sang đối diện bồi thẩm đoàn, lại dừng hít một hơi thật sâu, đặt hai tay lên gờ bàn nhân chứng từ góc mà họ có thể “tạo dáng liên hoàn”, và trả lời câu hỏi như thể chính bồi thẩm đoàn đã đặt ra câu hỏi. Mắt ông ấy liên tục lướt qua gương mặt họ. Ông ấy dùng ngôn từ tràn đầy tự tin. Đối với bồi thẩm đoàn, cảnh đó chẳng khác nào xem Đoàn kịch Hoàng gia Shakespeare (*) diễn ở phòng khách nhà mình.
Tôi không có “cửa” làm như Iain nhưng vào thời điểm vụ Theresa, tôi cố nhìn bồi thẩm đoàn càng nhiều càng tốt. Tôi đến tòa để đưa ra các bằng chứng khoa học, kể cả lúc đó lẫn bây giờ tôi luôn cố gắng không nhìn bị cáo. Tuy nhiên thời gian đầu đôi khi tôi vẫn bị nỗi tò mò khuất phục. Tôi không thể cưỡng lại việc nhìn người đã gây ra vụ án ghê tởm mà tôi phải chứng kiến mọi hệ quả. Rất nhiều người trông chẳng khác nào cái người điềm đạm ngồi cạnh tôi trên chuyến tàu về nhà, tôi không để ý gì tới họ cho đến khi làm rơi vé tàu và họ cúi xuống nhặt giúp.
Tôi bước lên bục nhân chứng ghi chữ Regina v. Lazenby, khẽ liếc nhìn bị cáo.
Tôi thấy một người phụ nữ trẻ, giống y như trong bức ảnh chụp ngay sau án mạng, trẻ trung, tươi tắn và tỉnh táo. Mái tóc dài hung đỏ buộc đuôi ngựa duyên dáng. Khi tôi đưa ra bằng chứng, hai mắt cô ta nhòa lệ. Luật sư đưa cô ta khăn tay. Cô ta thấm nước mắt, gục đầu xuống. Tôi thấy các thành viên bồi thẩm đoàn nhìn cô ta đầy thương xót.
Sao người phụ nữ bé nhỏ này có thể trở thành một trong những kẻ siết cổ là nữ hiếm hoi trong lịch sử nước Anh? Sao cô ta có thể máu lạnh giết người mà vẫn tỉnh táo tự gây thương tích cho mình trước khi đến đồn cảnh sát khóc lóc tự thú? Nghe thật hoang đường. Tôi suýt thì nghi ngờ các kết luận của mình.
Nhưng tôi vẫn giữ vững quan điểm trong quá trình kiểm tra chéo. Sau này tôi được biết bác sĩ pháp y của bên bị cáo cũng đồng ý với các kết luận của tôi rằng đa số, nếu không muốn nói hầu hết các vết thương của Theresa đều do cô ta tự gây ra.
Bên công tố dựa trên các chứng cứ của tôi đã quả quyết rằng Theresa có thể dễ dàng siết cổ bạn trai khi anh ta không tỉnh táo hoặc bất động, quá bất động để chống trả. Không có bằng chứng nào cho thấy cô ta phải tự vệ trước một Anthony đã say xỉn. Nhưng đối với mọi người, thật khó tin nổi người phụ nữ dịu dàng, đầy ân hận trước mắt họ lại có thể gây ra tội ác tày đình như vậy nếu không phải vì tự vệ. Quá khó để khiến bồi thẩm đoàn tin vào điều này. Họ đã chấp nhận lời bào chữa của cô ta rằng cô ta chỉ tự vệ và không cho rằng cô ta có tội.
Luật sư của Theresa đã thành công bảo vệ cô ta, họ cho rằng bên công tố không thể chứng minh vụ này là “không còn nghi ngờ gì nữa. “Không còn nghi ngờ gì nữa” là một rào chắn cao phải nhảy qua, tôi sẽ muốn điều này được thực hiện nếu một ngày tôi ở sai phía trước vành móng ngựa. Dù hiểu điều này, tôi vẫn kinh ngạc khi thấy Theresa được trả tự do. Thông qua tôi, Anthony Pearson đã lên tiếng, nhưng quá rõ ràng, bồi thẩm đoàn không lắng nghe. Tôi cảm thấy họ phớt lờ các bằng chứng và đưa ra nhận định dựa trên cảm thông đơn thuần dành cho một người phụ nữ được cho là bị bạo hành.
Jen nhướn mày khi nghe tôi kể lại phiên tòa vào chiều hôm đó, bằng toàn bộ con tim đầy nhiệt huyết. Tôi giải thích việc một người phụ nữ tôi tin là có tội đã được trả tự do, tôi ngờ chính sự trẻ trung, sắc đẹp đã giúp cô ta thoát tội, thật thiếu công bằng.
“Ừ, sẽ còn khác biệt nữa nếu nạn nhân là một cô gái trẻ trung xinh đẹp.” Jen chỉ ra. Cô ấy đã không còn hiểu nổi ông chồng vô cảm bỗng nhiên hôm nay lại có quá nhiều cảm xúc sau phiên tòa như vậy. Đến nỗi tôi còn thấy không thoải mái với chính mình khi bước vào khu vực “giận dữ” tôi luôn tránh né.
“Tốt hơn anh nên xốc lại bản thân” Tôi nói. “Anh không thể sồn sồn lên như vậy sau mỗi phiên tòa chệch quỹ đạo được.”
Lẽ dĩ nhiên, tôi đã xốc lại bản thân. Vụ Theresa Lazenby có lẽ là lần cuối cùng tôi cho phép mình có những dây dưa cảm xúc với kết quả phiên tòa. Phận sự của tôi là đồng hành cùng sự thật. Tôi nói với bồi thẩm đoàn sự thật đó. Họ có quyền làm gì với chúng, sau cùng họ đã nghe tất cả các chi tiết, lời khai về vụ án, điều tôi hiếm khi làm. Giờ tôi không còn muốn dính líu gì sau khi đã cung cấp hết sự thật nữa.
Vậy nên cũng chẳng còn gánh nặng tình cảm nào. Không còn những ánh mắt tò mò nhìn bị cáo, không còn phẫn nộ cảnh sát khi kết quả phiên tòa được công bố. Thường tôi không được biết nhận định của bồi thẩm đoàn sau khi đã đưa ra các bằng chứng. Ngày trước nếu không đọc được trên báo, tôi sẽ tìm cách hỏi những cảnh sát hoặc đồng nghiệp có liên quan. Sau vụ Lazenby, tôi không bao giờ hỏi nữa. Tôi bàng quan với tất cả nhận định và chỉ điều hướng sự quan tâm của mình quanh các bằng chứng. Tôi không cho phép mình có sự sốt sắng của quân thập tự chinh muốn nhìn thấy kẻ thủ ác bị tống vào tù, cũng chẳng có nhu cầu được minh oan cho những phát hiện của mình.
Hãy cứ để Iain West được thể hiện màn trình diễn của mình tại tòa và rơi vào hố sâu cảm xúc khi bồi thẩm đoàn tuyên ngược lại bằng chứng của ông ấy. Từ giờ trở đi, ở vị trí ghế nhân chứng tôi sẽ thành thạo “nghệ thuật lãnh cảm” tôi đúc kết được từ nhà xác.
Tôi nói với Jen điều này, trông cô ấy có vẻ buồn.
“Còn chưa đủ lãnh cảm.” Cô ấy nói. “Đó là câu trả lời của anh đối với mọi thứ sao?”
“Anh không nên để mình bận tâm tới những lời tuyên án. Anh chắc chắn đó là việc anh nên làm” Tôi nói.
Jen nhún vai. “Em chỉ thấy thú vị khi nghe anh thuật lại vụ án với niềm đam mê như thế. Có lẽ anh nên làm vậy thường xuyên hơn.”
Tôi rùng mình. Đam mê. Chắc chắn tôi không hề muốn cảm giác đó chút nào chứ chưa nói tới cảm thấy thường xuyên hơn. Đó là thứ có thể gây ra cho chúng ta rất nhiều phiền phức.