Người Chuyển Tàu

Lượt đọc: 840 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương chín

Ấy thế mà tôi lại không viết. Vì sao thì tôi không biết. Tôi lười biếng còn thời tiết đã ấm lên. Tôi thường nghĩ tới Arthur; thường xuyên tới mức thư tín dường như không cần thiết. Như thể chúng tôi có thần giao cách cảm. Cuối cùng, tôi đi về vùng nông thôn bốn tháng và phát hiện ra, quá đỗi muộn màng, rằng tôi đã để quên tấm bưu thiếp có địa chỉ của ông trong một ngăn kéo đâu đó ở London. Dù sao thì cũng không thành vấn đề. Có lẽ tầm này ông đã rời Paris từ lâu. Nếu như ông không vào tù.

Đầu tháng Mười, tôi quay lại Berlin. Con phố Tauentzienstrasse cũ kĩ thân thương chẳng hề thay đổi. Nhìn qua cửa sổ xe taxi trên đường từ ga về, tôi thấy mấy tay Quốc xã trong bộ đồng phục S.A mới, giờ đã không còn bị cấm. Họ sải bước cứng nhắc dọc phố, và được những người dân cao niên giơ tay chào nhiệt liệt, số khác đứng gác ở góc phố, khuơ lẻng xẻng các thùng quyên góp.

Tôi leo lên bậc thang quen thuộc. Chưa kịp chạm vào chuông cửa thì Frl. Schroeder đã lao ra, mở rộng vòng tay chào đón tôi. Chắc hẳn bà đang ngóng chờ tôi về.

“Cậu Bradshaw! Cậu Bradshaw! Cậu Bradshaw! Cuối cùng thì cậu cũng về với chúng tôi! Tôi phải ôm cậu một cái! Nom cậu mới khỏe mạnh làm sao! Từ lúc cậu đi mọi việc đã thay đổi quá nhiều.”

“Mọi việc ở đây ra sao hả bà Schroeder?”

“À… tôi nghĩ là tôi không nên kêu ca. Hồi hè thì tệ. Nhưng giờ thì… Vào trong đã, cậu Bradshaw, tôi có một bất ngờ cho cậu.”

Vui vẻ dẫn tôi đi dọc sảnh vào, bà mở toang cửa phòng khách với cử chỉ đầy kịch tính.

“Arthur!”

“William thân mến của tôi, chào mừng tới nước Đức!”

“Tôi không biết là…”

“Cậu Bradshaw, cậu trông già đi nhiều đấy!”

“Chậc… chậc… đây thực sự là một cuộc hội ngộ vui vẻ. Berlin một lần nữa lại là chính mình. Tôi đề nghị chúng ta tới phòng tôi và làm một ly mừng Bradshaw trở về. Bà cũng sẽ chung vui với chúng tôi chứ, Frl. Schroeder?”

“Ôi… ông thật tử tế quá, ông Norris, chắc chắn rồi.”

“Mời bà.”

“Thôi thôi.”

“Xin bà đi trước.”

Phải thêm một hồi lâu khách sáo và cúi đầu trước khi hai người bọn họ chịu đi qua cửa. Sự thân quen dường như không ảnh hưởng tới cung cách lịch thiệp của họ. Arthur vẫn rất đỗi ga-lăng, Frl. Schroeder vẫn rất đỗi điệu đàng.

Căn phòng ngủ lớn phía trước khó mà nhận ra nổi. Arthur đã chuyển chiếc giường vào góc cạnh cửa sổ và đẩy chiếc xô-pha ra gần bếp. Những chậu dương xỉ bốc mùi đã biến mất, cả mấy tấm thảm móc bé bé trên bàn trang điểm cùng đám tượng chó bằng kim loại trên giá sách cũng vậy. Ba bức tranh được phục chế màu có hình những nữ thần rừng đang tắm cũng chẳng còn; thay vào đó tôi nhận ra ba bức tranh từng treo trong phòng ăn của Arthur. Và che chiếc bồn rửa là tấm bình phong sơn mài lớn của Nhật từng được đặt trong sảnh vào của căn hộ trên phố Courbierestrasse.

“Hàng trôi dạt,” Arthur dõi theo ánh mắt của tôi, “mà tôi đã vui vẻ vớt được từ vụ đắm tàu.”

“Giờ thì, cậu Bradshaw,” Frl. Schroeder chen vào, “hãy nói cho tôi ý kiến thẳng thắn của cậu. Ông Norris thấy mấy nữ thần này xấu xí. Tôi thì vẫn nghĩ là họ đẹp ngọt ngào. Dĩ nhiên, tôi biết có người vẫn bảo mấy bức tranh đó cổ lỗ.”

“Tôi sẽ không nói chúng xấu,” tôi xã giao đáp lại. “Nhưng thi thoảng thay đổi một chút cũng hay mà, phải không?”

“Thay đổi là gia vị của cuộc sống,” Arthur lầm bầm, khi lấy ly trên chạn xuống. Bên trong, tôi nhìn thấy một dãy chai: “Tôi nên mời cậu loại nào đây, William - Kümmel hay Benedictine? Tôi biết Frl. Schroeder thích Brandy sơ-ri.”

Giờ khi tôi có thể nhìn thấy hai con người họ dưới ánh sáng ban ngày, tôi mới giật mình vì sự tương phản. Frl. Schroeder tội nghiệp có vẻ như già đi nhiều; bà thực sự là một bà lão. Gương mặt bà chảy sệ và nhăn nheo vì lo lắng, da dẻ mặc dù được phủ dày phấn son, trông vẫn thật nhợt nhạt. Bà không đủ ăn. Arthur, ngược lại, trông thực sự trẻ hơn. Hai má ông phúng phính và tươi mới như nụ hồng; râu tóc gọn gàng, móng tay cắt tỉa và nước hoa thơm nức. Ông đeo chiếc nhẫn ngọc xanh cổ vịt mà tôi chưa từng thấy, và vận bộ vét nâu mới sang trọng. Bộ tóc giả của ông rõ xa xỉ và táo bạo với những lọn gợn sóng, bóng mượt, rậm rì phủ quanh thái dương. Có điều gì đó sống động, thậm chí là phá cách, trong tổng thể dáng vẻ của ông. Ông nom như một diễn viên nổi tiếng hoặc một nghệ sĩ vĩ cầm giàu có.

“Ông đã quay về bao lâu rồi?” Tôi hỏi.

“Để xem nào, chắc phải gần hai tháng… thời gian trôi thật nhanh! Tôi thực sự phải xin lỗi vì lười viết thư. Tôi đã rất bận rộn; còn Frl. Schroeder lại không chắc về địa chỉ của cậu ở London.”

“Tôi e là cả hai chúng ta không ai giỏi viết thư tay.”

“Vấn đề là tấm lòng ấy, chàng trai thân mến. Tôi hi vọng là cậu cũng tin thế. Cậu luôn hiện diện trong lòng tôi. Thực sự rất vui khi gặp lại cậu ở đây. Chưa gì tôi đã cảm thấy tâm trí mình như vừa cất được gánh nặng.”

Câu này nghe như điềm gở. Có lẽ ông lại đang ngấp nghé bờ vực. Tôi chỉ hi vọng rằng Frl. Schroeder tội nghiệp sẽ không phải gánh chịu điều gì. Bà ngồi ở đó, ly trong tay, trên ghế xô-pha, nhấm nháp từng từ; chân bà ngắn quá nên đôi giày nhung đen của bà đung đưa cách thảm cả tấc.

“Hãy nhìn mà xem, Herr Bradshaw,” bà giơ cổ tay ra, “Herr Norris đã tặng quà sinh nhật cho tôi đấy. Cậu có tin là tôi vui đến độ phát khóc không?”

Đó là chiếc vòng tay vàng thanh nhã chắc chắn phải năm mươi mác là ít. Tôi thực sự cảm động: “Ông tốt quá, Arthur!”

Má ông ửng hồng. Ông có vẻ khá bối rối.

“Chỉ là một chút lòng thành thôi. Tôi không thể nói hết cho cậu nghe Frl. Schroeder đã tử tế với tôi nhường nào. Tôi muốn mời bà ấy làm thư ký vĩnh viễn cho tôi ấy.”

“Ôi, ông Norris, sao ông có thể nói vớ vẩn thế!”

“Tôi đảm bảo với bà, Frl. Schroeder, tôi thực sự chân thành.”

“Cậu xem ông ấy đùa cợt bà già tội nghiệp kìa, cậu Bradshaw?”

Bà hơi say. Khi Arthur rót cho bà ly Brandy sơ-ri thứ hai, bà đã đánh đổ một ít ra váy. Khi cơn lộn xộn theo sau sự cố này dịu xuống, ông nói mình phải ra ngoài.

“Hãy thứ lỗi vì tôi phải gián đoạn buổi hội ngộ vui vẻ này… nhiệm vụ tới. Tôi hi vọng sẽ gặp cậu vào tối nay, William. Chúng ta ăn tối với nhau nhé? Có được không?”

“Được chứ.”

“Vậy thì tôi xin tạm biệt, tới 8 giờ.”

Tôi đứng dậy để rời đi và dỡ đồ. Frl. Schroeder theo tôi vào phòng của tôi. Bà khăng khăng đòi giúp. Bà vẫn còn say và liên tục để đồ đạc nhầm chỗ; xếp áo sơ mi vào ngăn kéo bàn làm việc, sách vào ngăn để tất. Bà không ngớt lời khen ngợi Arthur.

“Ông ấy như thể được trời phái xuống vậy. Tôi rơi vào cảnh nợ nần tiền thuê nhà, vì tôi chẳng kiếm được mấy kể từ lúc lạm phát. Vợ của người phu khuân vác đã tới gặp tôi về việc đó nhiều lần. ‘Frl. Schroeder,’ bà ấy nói, ‘chúng tôi biết bà, và chúng tôi cũng không muốn làm khó bà. Nhưng ai cũng phải sống.’ Tôi thề là có những tối khi tôi quá trầm cảm, tôi đã từng có ý nghĩ cho đầu vào lò nướng. Và rồi Herr Norris tới, tôi cứ nghĩ ông ấy chỉ tới thăm tôi thôi. ‘Bà cho thuê phòng ngủ phía trước bao nhiêu tiền?’ Ông ấy hỏi. Lúc ấy tôi bủn rủn cả người. ‘Năm mươi,’ tôi đáp. Tôi không dám nói giá cao hơn, vì thời điểm thật quá khó khăn. Tôi lo ông ấy kêu đắt quá tới run cả người. Thế rồi cậu nghĩ ông ấy nói gì nào? ‘Frl. Schroeder,’ ông ấy nói, ‘tôi không dám mơ tới chuyện trả cho bà dưới sáu mươi. Như thế là ăn cướp.’ Tôi bảo thật, cậu Bradshaw ạ, tôi có thể hôn tay ông ấy ý chứ.”

Nước mắt dâng đầy trong mắt Frl. Schroeder. Tôi sợ là bà sắp quỵ xuống.

“Và ông ấy trả tiền cho bà đều chứ?”

“Đúng hạn, cậu Bradshaw ạ. Ông ấy rất nghiêm túc như chính cậu vậy. Tôi chưa từng quen ai chu toàn đến thế. Cậu có biết vì sao ông ấy thậm chí còn không để tôi trả tiền sữa cho cả tháng không? Ông ấy trả theo tuần đấy. ‘Tôi không thích cảm giác nợ ai đó một đồng phen-ních nào,’ ông ấy nói… Tôi ước gì có nhiều người như ông ấy.”

Tối đó, khi tôi đề xuất ăn tối ở nhà hàng quen, Arthur, trước sự ngạc nhiên của tôi, đã phản đối: “Chỗ đó ồn ào quá, chàng trai thân mến. Dây thần kinh nhạy cảm của tôi run sợ trước ý tưởng về một buổi tối nhạc jazz. Xét về đồ ăn, kể cả trong thành phố thô thiển này, đúng là nhà hàng đó quá tệ. Hãy tới quán Montmartre.”

“Nhưng Arthur thân mến, chỗ đó đắt kinh khủng.”

“Đừng ngại. Đừng ngại. Trong cuộc đời ngắn ngủi này, không thể lúc nào cũng so đo tiền bạc. Cậu là khách của tôi tối nay. Hãy tạm quên thế giới khắc nghiệt này đi trong vài giờ đồng hồ và hưởng thụ.”

“Ông tốt quá.”

Ở Monmartre, Arthur gọi sâm-panh.

“Đây thực sự là một sự kiện may mắn lạ kì đến mức tôi cảm thấy chúng ta có lý do chính đáng để thả lỏng tiêu chuẩn cách mạng cứng nhắc của mình.”

Tôi bật cười: “Tôi phải nói là có vẻ ông đang ăn nên làm ra.”

Arthur cẩn trọng bóp cằm.

“Tôi không kêu ca gì, William ạ. Vào lúc này. Không. Nhưng tôi sợ là tôi nhìn thấy những chướng ngại phía trước.”

“Ông vẫn làm xuất nhập khẩu à?”

“Không hẳn thế… Không… À, theo một nghĩa nào đó thì có lẽ thế.”

“Vậy từ bấy lâu ông đều ở Paris?”

“Ít nhiều là thế. Lúc ở lúc không.”

“Ông làm gì ở đó?”

Arthur liên tục liếc quanh nhà hàng nhỏ sang trọng, mỉm cười duyên dáng: “Đó là một câu hỏi rất trọng yếu đấy, William thân mến của tôi.”

“Ông làm việc cho Bayer ư?”

“À… một phần. Đúng thế.” Một thoáng mơ hồ lan tỏa trong mắt Arthur. Ông đang cố gắng giãy ra khỏi chủ đề này.

“Vậy là ông vẫn gặp anh ta kể từ khi ông quay lại Berlin?”

“Dĩ nhiên.” Ông đột nhiên nhìn tôi nghi ngờ. “Sao cậu hỏi thế?”

“Tôi không biết nữa. Lần cuối tôi gặp ông, ông không có vẻ gì là hài lòng về anh ta, chỉ vậy thôi.”

“Bayer và tôi vô cùng hợp nhau.” Arthur nhấn mạnh, rồi ngưng lại và nói thêm: “Cậu vẫn chưa nói với ai là tôi đã cãi nhau với anh ta phải không?”

“Không, dĩ nhiên là không, Arthur. Tôi nói được với ai bây giờ?”

Arthur trông nhẹ nhõm đến lộ liễu.

“Tôi xin cậu, William. Tôi biết là tôi có thể tin tưởng cái miệng kín tiếng tuyệt vời của cậu. Nhưng nếu, lỡ như, câu chuyện lan ra là Bayer với tôi có xích mích thì có thể sẽ rất khó xử cho tôi, cậu hiểu không?”

Tôi bật cười.

“Không, Arthur. Tôi chẳng hiểu gì cả.”

Mỉm cười, Arthur nâng ly.

“Hãy chịu khó với tôi nhé, William. Cậu biết đấy, tôi luôn thích có mấy bí mật nho nhỏ. Chắc chắn đến một lúc nào đó tôi sẽ có thể giải thích cho cậu.”

“Hoặc là phịa ra một lý do nào đó.”

“Ha ha. Ha ha. Tôi thấy là cậu vẫn ngoa ngoắt như ngày nào… và khiến tôi sực nhớ ra là tôi đã bất cẩn hẹn Anni lúc 10 giờ… có lẽ chúng ta nên ăn thôi.”

“Dĩ nhiên rồi. Ông không được để cô ấy đợi.”

Trong suốt bữa ăn Arthur hỏi tôi về London. Berlin và Paris đều bị khéo léo lảng tránh.

Arthur rõ ràng đã thay đổi sinh hoạt thường ngày ở nhà Frl. Schroeder. Vì ông nhất quyết tắm nước nóng vào mỗi sáng nên bà phải dậy sớm hơn một giờ đồng hồ, để đun chiếc nồi nước nóng nhỏ kiểu cũ. Bà không phàn nàn gì về việc này. Trái lại, bà còn có vẻ ngưỡng mộ Arthur vì phiền toái mà ông gây ra cho bà.

“Ông ấy thật tỉ mẩn, cậu Bradshaw ạ. Giống một tiểu thư hơn là một quý ông. Mọi thứ trong phòng ông ấy đều có trật tự cả, và tôi sẽ gặp rắc rối nếu chúng không đúng như những gì ông ấy muốn. Mặc dù vậy, tôi phải nói thật vinh dự khi được là người chăm nom đồ đạc cho ông ấy. Cậu nên nhìn mấy cái áo sơ mi và cà vạt của ông ấy. Đẹp như mơ! Cả quần áo lót bằng lụa nữa! ‘Ông Norris,’ tôi từng nói với ông ấy, ‘ông nên để tôi mặc mấy đồ này mới phải; chúng quá xinh xẻo cho một người đàn ông.’ Dĩ nhiên tôi chỉ đùa thôi. Ông Norris thích đùa lắm. Ông ấy đặt bốn tờ nhật báo, cậu biết không, chưa kể tuần san biếm họa, và tôi không được phép vứt bất cứ tờ nào. Tất thảy đều chất đống theo thứ tự ngày tháng, nếu cậu thích, trên chốc chạn. Có lúc tôi cũng phát điên khi nghĩ tới đám bụi ở đó. Rồi thì, hàng ngày, trước khi ra ngoài, ông Norris đều đưa cho tôi một danh sách dài các tin nhắn tôi phải trả lời cho những người gọi tới. Tôi phải nhớ hết tên của bọn họ, và những ai ông ấy muốn gặp và không muốn gặp. Bây giờ, chuông cửa cứ réo suốt thôi, toàn điện tín cho ông Norris, rồi thư nhanh, thư hàng không và tôi chẳng biết còn gì nữa. Nửa tháng trước đặc biệt tệ luôn. Nếu cậu hỏi thì tôi nghĩ điểm yếu nho nhỏ của ông ấy chính là mấy quý cô.”

“Sao bà lại nghĩ thế hả Frl. Schroeder?”

“Thì tôi để ý thấy ông Norris rất hay nhận được điện tín từ Paris. Hồi đầu tôi hay mở ra xem vì nghĩ có thể đó là chuyện gì quan trọng mà ông Norris muốn biết ngay. Nhưng tôi chẳng hiểu đầu cua tai nheo gì cả. Chúng toàn từ một cô tên là Margot. Có những bức rất là mùi mẫn. “Em gửi tới ông một cái ôm,” rồi “Lần trước ông quên không gửi kèm những nụ hôn.” Tôi phải nói là bản thân tôi cũng chả bao giờ đủ gan mà viết ra những điều như thế; thật phục cái người ở bưu điện ngồi đọc chúng! Mấy cô gái Pháp này chắc chắn không biết xấu hổ là gì. Từ kinh nghiệm của tôi, một phụ nữ cứ phô trương cảm xúc như thế thì cô ta chả đáng giá mấy… Xong rồi cô ta lại viết rất nhiều thứ vớ vẩn.”

“Vớ vẩn kiểu gì cơ?”

“Ôi, tôi quên gần hết rồi. Những thứ kiểu ấm trà, bình đun nước rồi bánh mì rồi bơ và bánh ngọt.”

“Nghe kì cục thế.”

“Cậu nói đúng, cậu Bradshaw. Rất kì cục… Tôi sẽ nói cho cậu nghe tôi nghĩ gì.” Frl. Schroeder hạ giọng và liếc nhìn về phía cửa; có lẽ bà đã học được mánh này từ Arthur. “Tôi tin chắc đây là một loại mật ngữ. Cậu biết không? Mỗi từ đều có nghĩa kép ấy.”

“Mật mã?”

“Đúng rồi, là thế đấy.” Frl. Schroeder gật đầu bí hiểm.

“Nhưng tại sao cô gái này lại đánh điện cho ông Norris bằng mật mã chứ? Nghe chừng vô nghĩa quá.”

Frl. Schroeder mỉm cười trước sự ngây thơ của tôi.

“Ôi, cậu Bradshaw, cậu thông minh và học thức là thế mà chẳng hiểu sự đời. Phải là một bà già như tôi mới hiểu được những bí ẩn nho nhỏ kiểu này. Đơn giản lắm: cái cô Margot như cô ta tự gọi mình thế (tôi không nghĩ đấy là tên thật của cô ta), chắc chắn là sắp sinh con.”

“Và bà nghĩ là ông Norris…”

Frl. Schroeder gật đầu như bổ củi.

“Rõ ràng như ban ngày vậy đó.”

“Thực sự thì, tôi phải nói là, khó mà nghĩ rằng…”

“Ôi, cậu cứ cười thoải mái đi, cậu Bradshaw, nhưng cậu cứ xem xem tôi đúng hay không. Suy cho cùng thì ông Norris vẫn đang trong thời đỉnh cao. Tôi biết nhiều người có gia đình còn đáng tuổi bố ông ấy ý chứ. Vả lại, còn lý do nào khác để cô ta viết tin nhắn kiểu đó nữa?”

“Tôi chắc là tôi không biết.”

“Cậu thấy chưa?” Frl. Schroeder reo lên hân hoan. “Cậu không biết. Tôi cũng thế.”

Mỗi sáng Frl. Schroeder sẽ hối hả chạy lòng vòng trong căn hộ, hệt như đầu máy hơi nước tí hon, la lối: “Ông Norris! Ông Norris! Nước tắm của ông xong rồi! Nếu ông không ra nhanh thì nồi hơi nổ mất!”

“Ôi trời!” Arthur thốt lên bằng tiếng Anh. “Để tôi đội tóc giả đã.”

Ông sợ vào trong phòng tắm cho tới khi nước đã được bật lên và mọi nguy cơ về một vụ nổ được dập tắt. Frl. Schroeder sẽ lao vào đầy anh dũng, mặt đã che kín, tay bọc khăn tắm, siết chặt vòi nước nóng. Nếu điểm nổ đã cận kề, việc làm này trước hết sẽ chỉ nhả hơi nóng ra trong khi nước trong nồi hơi ì ùng như sấm. Arthur, đứng ở cửa, quan sát cuộc vật lộn của Frl. Schroeder với một nụ cười lo âu và méo xệch, sẵn sàng vọt thoát thân bất cứ lúc nào.

Sau giờ tắm là đến cậu bé cắt tóc, vẫn thường được tiệm làm đầu ở góc phố cử tới hàng ngày để cạo râu và chải bộ tóc giả cho Arthur.

“Kể cả khi ở nơi rừng rú châu Á,” Arthur có lần kể với tôi, “tôi cũng không tự cạo râu khi còn có thể chịu được. Đó là một trong những cuộc phẫu thuật khó chịu bẩn thỉu khiến con người ta mất hứng cả ngày.”

Khi cậu cắt tóc đi rồi, Arthur sẽ gọi tôi: “Vào đi, chàng trai thân mến, giờ tôi hiện hình rồi. Vào nói chuyện với tôi trong lúc tôi dặm phấn cho mũi.”

Ngồi trước bàn trang điểm trong chiếc khăn tắm màu hoa cà thanh nhã, Arthur sẽ tiết lộ cho tôi vô số bí mật trong thói quen làm đẹp của ông. Ông đỏm dáng đến ngỡ ngàng. Sau lần này, quả là tôi được mở mắt về quy trình chuẩn bị phức tạp giúp ông có được dáng vẻ khi ra ngoài. Tỉ như, tôi chưa từng mơ rằng ông dành ba lần một tuần tỉa lông mày bằng nhíp hết mười phút. (“Tỉa mỏng, William ạ, chứ không phải nhổ. Cái từ thô thiển ấy là tôi rất ghét.”) Thêm mười lăm phút quý báu mỗi ngày cho máy mát-xa; rồi thoa kem mặt kĩ lưỡng (bảy hay tám phút) và dặm ít phấn nước (ba hoặc bốn phút). Dĩ nhiên, tỉa móng chân là thêm thắt; nhưng Arthur thường xuyên dành chút thời gian thoa thuốc mỡ lên ngón chân để tránh phồng rộp và chai. Ông cũng chưa bao giờ bỏ qua việc khò họng và súc miệng. (“Cứ phải tiếp xúc suốt ngày với tầng lớp vô sản như tôi đây, thì tôi phải tự bảo vệ mình khỏi màn tấn công của vi trùng, vi khuẩn chứ.”) Ấy là còn chưa kể đến những ngày ông thực sự trang điểm. (“Tôi cảm thấy mình cần chút màu sắc cho sáng nay; thời tiết u ám quá.”) Hay thanh tẩy bàn tay và cổ tay với kem tẩy lông nửa tháng một lần. (“Tôi không thích bị gợi nhớ tới mối quan hệ họ hàng với loài vượn.”)

Sau từng đấy công đoạn tỉ mẩn, chẳng lấy làm lạ khi Arthur háu đói vào mỗi bữa sáng. Ông đã thành công trong việc huấn luyện Frl. Schroeder nướng bánh mì; không như bà đã có lần làm cho ông một quả trứng luộc quá kĩ sau vài ngày đầu. Ông ăn mứt cam nhà làm, do một phụ nữ người Anh sống ở Wilmersdof bán với giá gần như gấp đôi giá thị trường. Ông dùng ấm pha cà phê đặc biệt mang theo từ Paris, và uống loại cà phê đặc biệt được gửi thẳng từ Hamburg. “Chính những thứ nho nhỏ,” Arthur nói, “mà qua trải nghiệm và đau đớn, tôi đã quyết trân trọng hơn nhiều thứ xa xỉ được quảng cáo và tung hô quá đà trong đời.”

Mười rưỡi ông đi ra ngoài, và tôi hiếm khi nhìn thấy ông cho tới tối. Việc dạy học của tôi cũng khá bận. Sau bữa trưa, ông thường về nhà và nằm nghỉ trên giường trong một tiếng. “Tin hay không thì tùy, William ạ, nhưng tôi có thể làm đầu óc tôi hoàn toàn trống rỗng trong nhiều phút. Dĩ nhiên, đấy là do luyện tập. Không ngủ trưa thì tôi sẽ rất dễ bị bồn chồn.”

Ba đêm một tuần, Frl. Anni tới; và Arthur lại chìm đắm vào những khoái lạc kì cục của ông. Tiếng ồn nghe rất rõ trong phòng khách, nơi Frl. Schroeder ngồi khâu vá.

“Ôi, ôi!” Có lần bà nói với tôi, “tôi hi vọng là ông Norris không tự làm mình bị thương. Ông ấy nên cẩn thận hơn vào cái tuổi này.”

Một buổi chiều, khoảng một tuần sau khi quay lại, tôi tình cờ ở nhà một mình. Kể cả Frl. Schroeder cũng ra ngoài. Chuông cửa reo. Đó là một bức điện tín cho Arthur, gửi từ Paris.

Cám dỗ đơn thuần là không thể cưỡng lại; tôi thậm chí còn chẳng thèm tranh đấu chống lại nó. Để tiện cho tôi, phong bì thư còn không được dán cho cẩn thận; nó bung ra trong tay tôi.

“Em rất khát,” tôi đọc, “hi vọng một siêu nước nữa sẽ sớm sôi, gửi nụ hôn cho chàng trai ngoan -Margot.”

Tôi lấy lọ hồ dán trong phòng mình và cẩn thận dán lại phong thư. Rồi tôi đặt nó lên trên bàn của Arthur và đi tới rạp chiếu bóng.

Vào bữa tối hôm đó, Arthur trông ủ rũ rõ ràng. Ông có vẻ không muốn ăn, ngồi nhìn trân trân phía trước, mày nhíu lại kịch liệt.

“Có chuyện gì thế?” Tôi hỏi.

“Mọi thứ chung chung thôi, chàng trai thân mến. Về tình hình thế giới xấu xa này. Một thoáng Weltschemerz* - nỗi đau nhân tình thế thái mà thôi.”

“Vui lên nào. Chân ái có bao giờ êm ả, ông biết đấy.”

Nhưng Arthur không phản ứng. Thậm chí ông còn chẳng hỏi tôi có ý gì. Cuối bữa ăn, tôi phải ra phía sau nhà hàng để gọi điện. Khi quay lại, tôi thấy ông đang chăm chú đọc một mẩu giấy rồi vội vàng nhét vào túi khi tôi tiến lại gần. Ông không đủ nhanh. Tôi đã nhận ra bức điện tín.

« Lùi
Tiến »