Ngày hôm sau, thứ Năm, tôi bận rộn dạy học. Thứ Sáu, tôi thử gọi đến căn hộ của Arthur ba lần nhưng đều không có ai nhấc máy. Thứ Bảy tôi đi gặp mấy người bạn ở Hamburg. Mãi tới chiều muộn thứ Hai tôi mới quay về Berlin. Tối đó tôi lại gọi Arthur, muốn kể cho ông nghe về chuyến đi của tôi; vẫn không ai nhấc máy. Tôi gọi bốn lần, cứ ba mươi phút một, và rồi phàn nàn với tổng đài. Cô ta nói với tôi, bằng thứ ngôn ngữ chuẩn chỉnh, rằng “số máy của người đăng ký” đã “không còn sử dụng.”
Tôi không quá ngạc nhiên. Với hiện trạng tài chính của Arthur, khó mà có chuyện ông chi trả được hóa đơn điện thoại. Tuy nhiên, tôi nghĩ, có lẽ ông đã đến gặp tôi hoặc gửi lời nhắn. Nhưng hẳn là ông cũng bận rộn.
Ba ngày nữa trôi qua. Hiếm khi chúng tôi không gặp gỡ suốt một tuần, chí ít cũng là gọi điện thoại. Có lẽ Arthur bị ốm. Thực tế là, càng nghĩ, tôi lại càng cảm thấy chắc chắn đó là lí do cho sự im ắng của ông. Có lẽ ông đã quá lo lắng tới mức đổ bệnh vì các khoản nợ. Và trong suốt khoảng thời gian ấy, tôi đã bỏ bê ông. Đột nhiên tôi cảm thấy rất tội lỗi. Tôi quyết định chiều hôm ấy sẽ chạy qua thăm ông.
Linh tính hay sự cắn rứt lương tâm khiến tôi vội vã. Tôi đến đường Courbierestrasse trong thời gian kỉ lục, hối hả chạy lên gác, và bấm chuông, trong lúc vẫn còn hổn hển. Suy cho cùng, Arthur đâu còn trẻ trung gì. Cuộc đời ông đang sống đủ sức làm bất kì ai khuỵu ngã; mà ông lại có một trái tim yếu đuối. Tôi phải chuẩn bị tinh thần nghe tin dữ. Nhỡ đâu… ô kìa, gì thế này? Trong lúc vội vàng, tôi chắc đã đếm nhầm số tầng. Tôi đang đứng trước một cánh cửa không có biển tên: cánh cửa của một căn hộ lạ lẫm. Đầy quả là một trong những điều bối rối ngớ ngẩn luôn xảy ra khi con người ta để bản thân bị hoảng loạn. Phản xạ đầu tiên của tôi là chạy đi, lên hoặc xuống gác, tôi cũng không chắc nên đi theo hướng nào. Nhưng, dù gì thì tôi cũng đã bấm chuông nhà người ta. Cách tốt nhất nên là đợi cho tới khi có ai đó ra mở cửa, rồi giải thích sự nhầm lẫn của mình.
Tôi đợi; một phút, hai phút, ba phút. Cửa không mở. Có vẻ không có ai ở nhà. Vậy là tôi đã khỏi tự biến mình thành thằng ngốc.
Nhưng giờ tôi nhận ra một thứ khác. Trên cả hai cánh cửa trước mặt tôi có những ô vuông nhỏ sơn đậm màu hơn phần còn lại của cánh cửa. Không còn nghi ngờ gì nữa; chúng chính là vết tích của tấm biển tên mới bị gỡ xuống. Tôi thậm chí còn có thể nhìn thấy những chiếc lỗ nhỏ do bắt vít.
Nỗi hoang mang thâu tóm tôi. Trong vòng nửa phút, tôi đã chạy lên hẳn tầng thượng của tòa nhà, rồi lại chạy xuống tầng một; hối hả và mê man, nhưmột kẻ thỉnh thoảng chạy trong cơn ác mộng. Hai biển tên của Arthur không thấy đâu. Nhưng, hượm đã: có lẽ nào tôi đã tới sai tòa nhà. Trước đây tôi từng làm những việc còn ngu xuẩn hơn. Tôi bước ra ngoài phố và nhìn lại con số ở lối ra vào. Không, không có gì nhầm lẫn cả.
Tôi không biết mình sẽ làm gì lúc đó nếu như bà gác cửa không xuất hiện. Bà ấy biết mặt tôi và gật đầu khó chịu. Đơn giản là bà ấy không mấy coi trọng khách khứa của Arthur. Chắc chắn những chuyến viếng thăm của nhân viên tịch biên đã làm xấu danh tòa nhà.
“Nếu cậu đang tìm bạn cậu,” bà ấy cay độc nhấn nhá, “thì cậu muộn quá rồi. Ông ta đi rồi.”
“Đi?”
“Đúng thế. Hai ngày trước. Căn hộ giờ cho thuê. Cậu không biết à?”
Tôi đồ rằng mặt tôi trông thê lương tức cười, vì bà ta khó chịu nói thêm: “Cậu không phải là người duy nhất ông ta không báo đâu. Đã có cả tá người tới đây như thế. Ông ta nợ cậu tiền phỏng?”
“Ông ấy đi đâu?” Tôi ủ rũ hỏi.
“Tôi không biết mà cũng chẳng quan tâm. Tay đầu bếp của ông ta có tới đây để lấy thư đấy. Cậu nên hỏi anh ta.”
“Tôi không thể. Tôi không biết anh ta sống ở đâu.”
“Thế thì tôi chịu rồi,” bà gác cửa nói với vẻ thỏa mãn xấu xa. Arthur chắc chắn đã quên không cho bà ta ít tiền boa. “Sao cậu không thử hỏi cảnh sát ý?” Tung cú châm chích cuối cùng, bà ta đi vào bốt gác và đóng sầm cửa lại. Tôi chậm rãi bước xuống phố, cảm thấy khá choáng váng.
Cầu hỏi của tôi tuy thế lại sớm được trả lời. Sáng hôm sau tôi nhận được một lá thư, đề gửi từ một khách sạn ở Prague:
William thân mến,
Hãy thứ lỗi cho tôi. Tôi buộc phải rời Berlin rất gấp gáp và bí mật nên không thể liên lạc với cậu được. Cuộc tiểu phẫu mà tôi đã nói với cậu, thật đáng buồn, đã không thành công, và bác sĩ yêu cầu phải thay đổi không khí ngay. Thực sự thì ốm đau thế này, nếu tôi ở lại thêm một tuần nữa thì chắc chắn sẽ có biến chứng, nhất là không khí ở Berlin đang trở thành một trong những tác nhân ảnh hưởng tới tình hình quái đản của tôi.
Nhà cửa và tài sản của tôi thì đều đã bán sạch sẽ cả, số tiền thu được phần lớn đều chia cho mấy người giúp việc. Tôi không phàn nàn gì về chuyện đó. Họ, trừ một kẻ, đều đã phục vụ tôi tận tụy và xứng đáng được hưởng đồng lương của mình. Còn kẻ kia, tôi không muốn cái tên xấu xa của hắn phát ra từ miệng mình. Không có gì thái quá khi nói rằng gã đã luôn là một tên vô lại bẩn thỉu nhất, và hành xử đúng với bản chất của gã.
Tôi thấy cuộc sống ở đây khá dễ chịu. Đồ ăn ổn, tuy không ngon bằng ở Paris yêu dấu và không gì sánh nổi của tôi, nơi mà tôi hi vọng sẽ lê được đôi chân rệu rã này tới vào thứ Tư tuần sau, nhưng vẫn hơn hẳn bất cứ thứ gì mà Berlin mọi rợ kia có thể đem lại. Cũng thiếu vắng cả sự vỗ về của phái đẹp tâm nhẫn. Nhờ ơn sự thư thái văn minh này mà tôi đã đâm chồi nảy lộc, tôi trương nở. Tới mức tôi nghĩ rằng mình đã trương nở tới tận Paris mà chẳng cần tốn một xu. Mà thôi. Tiền Của Bất Nghĩa sẽ sẵn sàng tiếp nhận tôi vào chốn cư ngụ, nếu không là đời đời, thì ít nhất cũng cho tôi thời gian để nhìn ngó loanh quanh*.
Hãy gửi tới người bạn chung của chúng ta lời chào thân ái nhất của tôi và nói với cậu ấy rằng tôi sẽ quyết tâm hoàn thành những công việc cậu ấy giao phó khi tới.
Hãy hồi âm cho tôi nhé và khích lệ tinh thần tôi bằng sự dí dỏm độc đáo của cậu.
Luôn yêu thương cậu,
Arthur
Có lẽ có phần vô lý, phản ứng đầu tiên của tôi là cảm thấy tức giận. Tôi phải thừa nhận với bản thân rằng cảm xúc của tôi dành cho Arthur trước giờ có tính sở hữu cao. Ông là khám phá của tôi, tài sản của tôi. Tôi bị tổn thương như một bà cô không chồng bị con mèo mình nuôi xa lánh. Ấy thế nhưng, sau rốt, tôi ngu ngốc làm sao. Arthur làm chủ chính mình; ông không có trách nhiệm tường trình với tôi về những hành động của ông. Tôi bắt đầu quờ quào tìm kiếm lý do cho cách cư xử của ông, và như một bậc phụ huynh nuông chiều, dễ dàng tìm thấy những lý do ấy. Thực ra thì, chẳng phải ông đã cư xử rất cao quý hay sao? Bị đe dọa từ mọi phía, ông đã một mình đương đầu với các vấn đề. Sau rốt, ông đã tự nói với bản thân rằng, mình sẽ rời khỏi đất nước này, nhưng William phải ở lại đây và kiếm sống; mình không có quyền để cậu ấy phải vướng bận những vấn đề cá nhân của mình. Tôi hình dung cảnh Arthur rảo bước lần cuối trên con phố của chúng tôi, liếc nhìn ô cửa sổ phòng tôi, nỗi buồn dâng đầy trong ánh mắt, ngần ngại và rồi đau khổ quay gót. Kết cục là cảnh tượng tôi ngồi xuống và viết cho ông một lá thư dài đầy yêu thương, không hỏi một lời và thực tế là tránh bất cứ lời nhận xét có thể làm tổn hại tới ông hay tôi. Frl. Schroeder, vô cùng buồn khổ khi biết tin Arthur rời đi, đã thêm hẳn một đoạn tái bút dài. Ông sẽ không bao giờ được quên, bà viết, rằng có một ngôi nhà ở Berlin nơi ông luôn được chào đón.
Trí tò mò của tôi chẳng hề được thỏa mãn. Rõ ràng là nên hỏi Otto, nhưng tôi tìm cậu ta ở đâu đây? Tôi quyết định thử bắt đầu từ chỗ của Olga. Tôi biết Anni có thuê một phòng ngủ ở đó.
Tôi không gặp Olga từ sau bữa tiệc Năm mới kéo dài mấy giờ đồng hồ; nhưng Arthur, thi thoảng vẫn tới thăm cô ta kiểu bàn công chuyện, đã kể cho tôi rất nhiều về cô ta. Giống như hầu hết những người phải vật lộn để sống trong chuỗi ngày đói tiền, cô ta là một phụ nữ đa-zi-năng. “Nói xổ toẹt ra,” như Arthur vẫn hay nói, cô ta làm gái, buôn ma túy, tàng trữ đồ ăn trộm; cô ta còn cho thuê nhà, nhận giặt là và khi có hứng, sẽ thêu thùa rất điệu nghệ.
Arthur có lần đã cho tôi xem tấm khăn trải bàn mà cô ta tặng ông dịp Giáng sinh; quả là một tác phẩm nghệ thuật.
Tôi tìm thấy nhà cô ta không mấy khó khăn và đi vào sân trong dưới chiếc cổng vòm. Cái sân vừa hẹp vừa sâu, hệt như một cỗ quan tài dựng đứng. Đầu quan tài cắm xuống đất, bởi mặt tiền của các ngôi nhà đều hơi ngả vào trong. Chúng được tách ra nhờ những thanh dầm gỗ lớn, nối liền khoảng trống, vươn cao, in bóng trên khoảng trời vuông xám xịt. Phía dưới này, nơi ánh nắng mặt trời không bao giờ lọt tới, là chạng vạng sâu thẳm, như ánh sáng trong hẻm núi. Ba mặt sân đều là cửa sổ; mặt còn lại, một bức tường trống khổng lồ, cao khoảng hai mươi lăm mét, lớp thạch cao đã bị phồng rộp và bong tróc, để lại những vết sẹo thô ráp, lem luốc. Dưới chân bức vách rùng rợn ấy có một lán nhỏ nom đáng ngờ, có lẽ là nhà vệ sinh ngoài trời. Cạnh đó là một chiếc xe kéo tay đã hỏng, chỉ còn một bánh, và một tờ thông báo, giờ gần như không thể đọc được, nêu ngày giờ mà dân cư của khu cư xá được phép đập bụi thảm.
Cầu thang vẫn rất tối tăm, kể cả ở tầm giờ này buổi chiều. Tôi lập cập bước lên, đếm tầng và gõ vào cánh cửa mà tôi hi vọng sẽ đúng địa chỉ. Có tiếng dép lê loạt xoạt, tiếng khóa lách cách, và cánh cửa mở hé một chút, vẫn còn dây xích chốt.
“Ai đó?” Giọng nữ vang lên.
“William,” tôi đáp.
Cái tên không gợi chút ấn tượng nào. Cánh cửa bắt đầu đóng lại, nghi ngại.
“Một người bạn của Arthur,” tôi vội vàng nói thêm, cố làm giọng mình nghe thật chắc chắn. Tôi không thể nhìn thấy người tôi đang nói chuyện cùng; bên trong căn hộ tối đen như mực. Giống hệt như đang xưng tội với cha xứ.
“Đợi một chút,” tiếng nói cất lên.
Cánh cửa đóng lại và tiếng dép lê loẹt xoẹt xa dần. Các bước chân khác lại quay lại. Cánh cửa mở ra và ánh đèn điện ở lối vào chật hẹp bật lên. Ở khe cửa chính là Olga. Dáng hình cao lớn của cô ta được bao bọc trong chiếc áo kimono lòe loẹt mà cô ta đã mặc với phong thái của một vị thày tu trong bộ lễ phục. Tôi không nhớ là cô ta cao to đến thế.
“Thế nào?” Cô ta hỏi. “Cậu muốn gì?”
Cô ta không nhận ra tôi. Chắc cô ta đoán tôi là một thám tử. Giọng điệu cô ta hung hăng và gay gắt; không một chút gì ngần ngại và sợ hãi. Cô ta sẵn sàng đối diện với mọi kẻ thù. Đôi mắt xanh lơ cứng rắn, không ngừng quan sát, hệt như đôi mắt của hổ cái, quét về phía sau vai tôi, nhìn thẳng vào khoảng đen hun hút nơi cầu thang. Cô ta đang băn khoăn liệu tôi có đến một mình.
“Tôi có thể nói chuyện với Frl. Anni được không?” Tôi lịch sự hỏi.
“Không. Cô ấy đang bận.”
Tuy nhiên, giọng Anh của tôi đã khiến cô yên tâm, bởi cô nói thêm rất nhanh: “Vào trong,” rồi quay người, dẫn đường vào phòng khách. Cô để mặc tôi đóng cửa ra vào. Tôi khẽ khàng đóng cửa và đi theo.
Đứng trên bàn phòng khách chính là Otto, trong chiếc áo cộc tay, đang nghịch chiếc đèn khí đốt.
“Ôi, là Willi!” Cậu ta reo lên, nhảy xuống và tặng tôi một cú vỗ vai lệch cả người.
Chúng tôi bắt tay. Olga ngồi xuống ghế đối diện ghế tôi với dáng vẻ cẩn trọng và bí hiểm của một bà thày bói. Những chiếc vòng tay va chạm vào nhau trên hai cổ tay sưng phồng. Tôi tự hỏi không biết cô ta bao nhiêu tuổi; có lẽ không thể quá ba mươi lăm, bởi trên gương mặt căng bóng kia không có nếp nhăn. Tôi không thích cô ta ngồi nghe những gì tôi phải nói với Otto nhưng rõ ràng cô ta không hề có ý định rời đi khi tôi còn ở trong căn hộ. Đôi mắt búp bê xanh lơ của cô ta nhìn trừng trừng tôi không chớp.
“Tôi đã thấy anh ở đầu chưa nhỉ?”
“Cô đã nhìn thấy tôi trong căn phòng này,” tôi nói, “bị say.”
“Ồ.” Ngực áo Olga khẽ rung. Cô ta đã cười.
“Anh có gặp Arthur trước khi ông ấy rời đi không?” Tôi hỏi Otto, sau hồi lâu im lặng.
Có, hóa ra cả Anni và Otto đều gặp ông, mặc dù chỉ là tình cờ. Vô tình ghé qua vào chiều Chủ nhật, họ phát hiện ra Arthur đang đóng gói đồ. Đã có rất nhiều cuộc điện thoại và chạy qua chạy lại. Rồi Schmidt xuất hiện. Gã ta và Arthur đi vào phòng ngủ để nói chuyện, chẳng mấy chốc Otto cùng Anni nghe thấy những giọng nói giận dữ và sừng sộ. Schmidt ra khỏi phòng ngủ, còn Arthur đi sau trong cơn giận dữ bất lực. Otto không tài nào hiểu được tất cả mọi chuyện, nhưng vị Nam tước có dính dáng gì đó, và tiền nong. Arthur tức tối vì Schmidt đã nói gì đó với Nam tước; còn Schmidt thì hết nhục mạ lại khinh khỉnh. Arthur đã gào lên: “Anh đã cho thấy không chỉ thái độ vô ơn bạc nghĩa mà còn là sự phản bội trắng trợn!” Otto khá chắc về câu này. Lời nói ấy có vẻ đã gây cho cậu ta một ấn tượng đặc biệt vì từ “phản bội” trong tâm trí cậu ta có mùi vị chính trị rõ nét. Quả thực là cậu ta đã điềm nhiên cho rằng Schmidt theo một cách nào đó đã phản bội phe cánh tả. “Lần đầu tiên nhìn thấy gã ta, tôi đã nói với Anni rằng, tôi chẳng lấy làm lạ nếu gã được cử tới để theo dõi Arthur. Với cái đầu to tướng, trông gã y hệt một tên Quốc xã.”
Những gì diễn ra sau đó đã khẳng định ý kiến của Otto. Schmidt chuẩn bị rời căn hộ thì quay lại và nói với Arthur: “Này, tôi đi đây. Tôi sẽ để ông lại với tình thương của đám bằng hữu cánh tả quý giá nhà ông. Và khi chúng nó vơ vét đến đồng phen-ních cuối cùng của ông…”
Gã không nói thêm nữa. Bởi Otto, bối rối trước toàn bộ cuộc nói chuyện và rốt cuộc cũng thấy nhẹ nhõm vì nghe được thứ gì đó có thể hiểu được và bức xúc, đã xách cổ Schmidt ra khỏi căn hộ và tặng gã một cú sút tung mông bay xuống cầu thang. Otto, khi tường thuật, đã nhấn nhá vào cú sút ấy trong men say tự hào và thích thú. Đó là một trong những cú sút để đời của cậu ta, một cú sút được truyền cảm hứng, đúng mục tiêu, đúng thời điểm. Cậu ta sốt sắng mô tả chính xác cú sút ấy đã được thực hiện như thế nào và vào đâu. Cậu ta bắt tôi đứng dậy, khẽ chạm ngón chân vào mông tôi. Tôi hơi khó chịu, nhưng biết rằng cậu ta đã nỗ lực khống chế bản thân lắm mới không để lỡ chân.
“Tôi thề, Willi ạ, anh phải nghe thằng đó hạ cánh! Bịch! Bịch! Bép! Trong một phút nó có vẻ không biết mình đang ở đâu hay chuyện gì đã xảy ra với nó. Xong rồi nó bắt đầu lèm bèm, y như thằng trẻ con. Tôi rủn cả người chỉ vì mắc cười, đến mức anh chỉ cần búng ngón tay thôi là tôi lăn xuống cầu thang luôn.”
Và giờ thì Otto bắt đầu cười. Cậu ta cười sảng khoái, không chút hằn học hay giễu cợt. Cậu ta chẳng hề hận thù gì gã Schmidt khó chịu kia.
Tôi hỏi liệu có còn thông tin gì về gã không nhưng Otto không biết. Schmidt tự mình đứng dậy, chậm rãi và đau đớn, làu bàu vài lời đe dọa không rõ, rồi tập tễnh đi xuống. Còn Arthur, người vẫn đứng đó từ đầu, lắc đầu nghi ngại và phản đối.
“Cậu không nên làm thế, cậu hiểu không?”
“Arthur quá ư tử tế,” Otto nói thêm khi kể xong câu chuyện của mình. “Ai ông ấy cũng tin tưởng. Mà ông ấy được cái gì chứ? Chả được gì cả. Lúc nào cũng bị lừa đảo và phản bội.”
Không bình luận gì cho lời nhận xét cuối có lẽ là hợp lý. Tôi nói rằng mình phải đi.
Có điều gì đó về tôi khiến Olga hứng thú. Ngực cô ta khe khẽ phập phồng. Không nói trước, khi chúng tôi tiến ra cửa, cô ta cố ý véo má tôi một cái khá đau, như thể đang vặt một trái mận khỏi cành.
“Cậu là một cậu trai ngoan,” cô ta cười khùng khục. “Tối nào cậu phải qua đây. Tôi sẽ dạy cho cậu thứ mà cậu trước nay chưa biết.”
“Cậu nên thử một lần với Olga, Willi ạ.” Otto nghiêm túc khuyên. “Đáng đồng tiền bát gạo lắm.”
“Tôi chắc chắn là đáng,” tôi lịch sự đáp lại và vội vã xuống thang.
Một vài ngày sau, tôi có cuộc hẹn với Fritz Wendel ở Troika. Tới quá sớm, tôi ngồi ở quầy bar và phát hiện ra Nam tước ngồi ngay ghế bên cạnh.
“Xin chào, Kuno!”
“Chào cậu.”
Ông ta khó khăn cúi cái đầu bóng mượt. Thật ngạc nhiên là ông ta trông không hề vui vẻ khi nhìn thấy tôi. Hoàn toàn ngược lại. Con mắt đeo kính của ông ta ánh lên sự thù hằn ẩn nhẫn, còn mắt không đeo kính thì lảng tránh và hoài nghi.
“Lâu quá rồi không gặp ông,” tôi vui vẻ nói, cố tỏ ra không để ý tới thái độ của ông ta.
Con mắt ông ta đảo quanh phòng, rõ ràng ông ta đang cầu cứu, nhưng không ai đáp lại. Nơi này gần như không có người. Nhân viên quầy bar đang tiến lại gần chỗ chúng tôi.
“Ông định uống gì?” Tôi hỏi. Vẻ khó chịu của ông ta bắt đầu làm tôi tò mò.
“À… không có gì, cảm ơn cậu. Cậu thấy đấy, tôi cũng phải đi bây giờ.”
“Gì thế, ngài đi về sớm thế, ngài Nam tước?” Nhân viên quầy bar niềm nở; vô tình gia tăng sự khó chịu cho vị Nam tước: “Ngài ở đây còn chưa được năm phút mà.”
“Ông có nghe tìn gì từ Arthur Norris không?” Với sự ác ý cố tình, tôi không thèm quan tâm tới nỗ lực tuột xuống khỏi chiếc ghế đẩu của ông ta. Ông ta sẽ không thể xuống ghế chừng nào tôi không đẩy ghế tôi ra phía sau một chút.
Cái tên khiến Kuno co rúm người.
“Không.” Giọng ông ta lạnh băng. “Tôi không nghe được gì.”
“Ông ấy đang ở Paris.”
“Thật sao?”
“Ôi chà,” tôi hồ hởi nói, “tôi không nên quấy quả ông thêm.” Tôi chìa tay ra. Ông ta chẳng hề chạm vào.
“Tạm biệt.”
Cuối cùng cũng được giải thoát, ông ta lao như tên bắn ra khỏi cửa. Người ta có khi sẽ tưởng ông ta đang trốn khỏi một bệnh viện có nạn dịch hạch. Tay nhân viên quầy bar ý nhị mỉm cười, nhặt mấy đồng xu và ném chúng vào ngăn kéo để tiền. Ông ta đã từng thấy những tên ăn bám bị hắt hủi.
Tôi bị bỏ lại với một bí ẩn nữa cần phải giải đáp.
Giống như một chuyến tàu dài dừng lại ở tất cả các ga nhỏ tồi tàn dọc đường, mùa đông chậm rãi lết mình. Mỗi tuần lại thêm các nghị định mới. Tiếng nói rệu rã như giám mục của Brüning* ban hành các mệnh lệnh cho những người làm ăn, và chúng không được chấp hành. “Đó là Chủ nghĩa Phát xít,” giới Dân chủ Xã hội kêu ca. “Ông ta yếu xìu,” Helen Pratt nói. “Thứ mà mấy con lợn ấy cần là một gã đàn ông có lông ngực.” Văn bản Hessen* được phát hiện, nhưng chẳng ma nào thèm quan tâm. Có quá nhiều ì xèo. Công chúng kiệt quệ đã chán ngấy những bất ngờ tới độ không thể tiêu hóa nổi. Người ta nói tới Giáng sinh, Đảng Quốc xã sẽ lên nắm quyền; nhưng Giáng sinh tới và chuyện đó vẫn chưa xảy ra. Arthur gửi lời chúc tới tôi trên một tấm bưu thiếp có hình tháp Eiffel.
Berlin đang trong tình trạng nội chiến. Sự căm ghét đột nhiên bùng nổ, không báo trước, bất thình lình; tại mọi góc phố, nhà hàng, rạp phim, sàn nhảy, bể bơi; lúc nửa đêm, sau bữa sáng, giữa chiều. Dao vung lên, các cuộc ẩu đả nổ ra với nhẫn đinh, vại bia, chân ghế hay dùi cui chì; đạn sượt qua các yết thị dán trên cột bích chương, bật lại từ các mái tôn nhà xí. Giữa con phố đông đúc một thanh niên trẻ có thể bị tấn công, lột trần, đánh túi bụi và vứt lại trên vệ đường, máu me be bét; trong vòng mười lăm giây tất cả kết thúc và những kẻ hành hung đã mất dạng. Otto bị một vết dao cạo sượt qua mắt trong một vụ ẩu đả ở hội chợ gần phố Cöpernickerstrasse. Bác sĩ đã khâu ba mũi và cậu ta phải nằm viện một tuần. Báo chí tràn ngập ảnh chết trên giường bệnh của những tử sĩ đối đầu, Đảng Quốc xã, Reichsbanner* và Đảng Cộng sản. Học sinh của tôi nhìn những bức ảnh ấy và lắc đầu, xin lỗi tôi vì tình trạng của nước Đức. “Ôi, ôi!” Họ nói, “thật kinh khủng. Không thể tiếp diễn thế này được.”
Phóng viên đưa tin các vụ giết hại và các nhà soạn nhạc jazz đã làm biến nghĩa tiếng Đức tới mức bất khả vãn hồi. Ngôn ngữ thóa mạ của báo chí (kẻ phản bội, tay sai Versailles, con lợn sát nhân, thằng lừa đảo theo Marx, vũng lầy Hitler, Mặt trận Đỏ sầu bọ) do bị lạm dụng mà đã trở thành thứ giống như uyển ngữ mà người Trung Quốc vẫn dùng. Từ “Liebe” yêu thương, vượt chuẩn Goethe, còn chẳng đáng một nụ hôn của gái điếm. Mùa xuân, ánh trăng, tuổi trẻ, hồng hoa, thiếu nữ, người thương, tâm can, Tháng Năm: đó là vài từ ngữ bị phá giá thê thảm bởi tác giả của tất thảy những bản tango, valse và fokstrot hô hào lối thoát riêng. Hãy tìm một người tình bé nhỏ yêu dấu, họ khuyên nhủ, và quên đi cuộc khủng hoảng, phớt lờ đám thất nghiệp. Hãy cất cánh, họ thúc giục, tới Hawaii, Naples, tới Vienna Mộng-mơ. Hugenberg*, đứng sau Ufa*, đang phục vụ món chủ nghĩa dân tộc cho hợp khẩu vị của toàn dân. Ông ta sản xuất những bản anh hùng ca chiến trận, những vở hài kịch về cuộc sống doanh trại, những vở opera mà trong đó những hoạt cảnh vui nhộn của giới quý tộc quân sự tiền chiến được phục sức kiểu thời trang 1932. Những tay đạo diễn và quay phim xuất sắc của ông ta đã dồn tâm sức cho ra những góc quay đẹp đầy mỉa mai đặc tả bọt rượu sâm-panh và ánh đèn điện lấp lánh trên lụa là.
Rồi sáng sáng, trên toàn thị trấn thê lương, ẩm ướt, mênh mang và những căn nhà tranh thuộc địa bé tí trong các khu đất ngoại ô, thanh niên trai tráng thức giấc chỉ để đón thêm một ngày trống rỗng vô công rỗi việc mà họ phải tính toán giết thời gian; bán dây giày, ăn xin, chơi cờ tại sảnh Giao dịch Lao động, vạ vật đi đái bậy, mở cửa ô tô, khuân vác thùng hàng trong chợ, buôn chuyện, hát dân ca xin mấy đồng groschen trong sân các khu nhà và giữa các nhà ga tàu điện ngầm. Sau Giao Thừa, tuyết rơi, nhưng không đọng lại; không thể kiếm tiền nhờ quét dọn tuyết. Người bán hàng rung lắc tất cả số xu trong ngăn để tiền vì sợ tiền giả. Nhà chiêm tinh học của Frl. Schroeder đã tiên báo về ngày tận thế của thế giới. “Nghe này,” Fritz Wendel nói, giữa những ngụm cốc-tai trong quầy bar khách sạn Eden, “tôi cóc thèm quan tâm nếu cái đất nước này theo cánh tả. Ý tôi là, chúng ta giờ phải thay đổi suy nghĩ một tí. Mẹ, ai thèm quan tâm chứ?”
Đầu tháng Ba, các áp phích về Bầu cử Tổng thống bắt đầu xuất hiện. Chân dung của Hindenburg*, với dòng chữ kiểu gô-tích bên dưới, toát lên vẻ tôn giáo thẳng thừng: “Người đã gửi niềm tin nơi bạn; hãy tin tưởng Người.” Đảng Quốc xã triển khai thành công một công thức vừa thông minh để đối đầu với biểu tượng chân phước này lại vừa tránh được cảnh mang tiếng là báng bổ: “Vinh danh Hindenburg! Bỏ phiếu cho Hitler.” Otto và các đồng chí của anh hàng đêm lại khởi hành những chuyến đi mạo hiểm, với sơn thùng và chổi quét. Họ vượt các bức tường cao, bò dọc các mái nhà, oằn mình dưới các hàng rào gỗ; tránh cảnh sát và lính tuần tra S.A*. Và sáng hôm sau, người qua kẻ lại sẽ nhìn thấy tên của Thälmann được viết đậm nét tại một số vị trí nổi bật và không dễ với tới. Otto đưa cho tôi một đống nhãn nhỏ có đính miếng dán phía sau: Bỏ phiếu cho Thälmann*, ứng viên của Công nhân. Tôi mang những chiếc nhãn này trong túi và dính lên cửa sổ và cửa ra vào các quán khi không ai để ý.
Brüning diễn thuyết tại Cung thể thao. Chúng ta phải bầu cho Hindenburg, và cứu nước Đức, ông ta nói với chúng tôi. Điệu bộ của ông ta quyết liệt và có tính cảnh cáo; mắt kính của ông ánh lên cảm xúc dưới ánh đèn sân khấu. Giọng ông run rẩy với niềm nhiệt huyết giáo điều khô cứng. “Lạm phát”, ông đe dọa; và khán giả lẩy bẩy. “Tannenberg*,” ông kính cẩn gợi nhắc: có tiếng vỗ tay kéo dài.
Bayer phát biểu tại Lustgarten, giữa trận bão tuyết, trên nóc một chiếc xe tải; một hình hài nhỏ tí xíu, đầu trần, cử động phía trên một biển người và biểu ngữ cuồn cuộn mênh mang. Phía sau anh ta là mặt tiền Điện Berlin lạnh lẽo; và dàn hàng theo hành lang đá của nó là lớp lớp cảnh sát được vũ trang đứng yên lặng. “Hãy nhìn họ mà xem,” Bayer nói to. “Những thanh niên tội nghiệp! Thật ngại thay khi bắt họ đứng ngoài cửa trong tiết trời như thế này. Nhưng không hề gì; họ có áo khoác dày đẹp để giữ ấm. Ai đã cho họ những tấm áo ấy? Chúng ta. Chẳng phải chúng ta đã tử tế hay sao? Vậy còn ai sẽ cho ta tấm áo đây? Biết chết liền!”
“Vậy là cậu trai già lại làm trò,” Helen Pratt nói. “Tôi biết thừa là anh ta sẽ làm thế. Kiếm được mười mác ở văn phòng, đám ngốc tội nghiệp.”
Đó là thứ Tư sau đợt bầu cử, và chúng tôi đang đứng ở sân ga Zoo. Helen đến tiễn tôi lên tàu về Anh.
“Nhân tiện,” cô nói thêm, “cái tay kì quặc mà cậu mang tới tối nọ giờ làm gì rồi? Morris à, tên ông ta ý?”
“Norris… Tôi không biết. Đã lâu rồi tôi không nghe tin gì từ ông ấy.”
Thật lạ khi cô ấy lại hỏi tôi câu đó, vì chính tôi, chỉ tích tắc trước đó, cũng đang nghĩ về Arthur. Trong tâm trí tôi, tôi luôn liên hệ ông với nhà ga này. Cũng sắp sáu tháng kể từ ngày ông rời đi, vậy mà như thể mới tuần trước. Giây phút tôi tới London, tôi quyết định sẽ viết cho ông một lá thư dài.