Người Chuyển Tàu

Lượt đọc: 846 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương mười lăm

Sau bốn mươi lăm phút tắm rửa và cạo râu tóc, tôi quay lại phòng Arthur. Tôi thấy ông đang núp mình sau lớp rèm ren, thận trọng dòm xuống phố.

“Giờ là một người khác, William ạ,” ông nói với tôi. “Bọn họ đổi ca khoảng năm phút trước.”

Giọng ông nghe vui vẻ; có vẻ như ông đang vui thú với tình hình này. Tôi cùng đứng với ông ở cửa sổ. Quả là thế, một người đàn ông cao đội mũ quả dưa đang đảm đương nhiệm vụ tẻ nhạt, đợi chờ cô bạn gái vô hình.

“Khổ thân,” Arthur khúc khích, “trông anh ta lạnh khiếp ấy nhỉ? Cậu có nghĩ là anh ta sẽ cảm thấy bị xúc phạm nếu tôi chuyển xuống cho anh ta một lọ thuốc bên trong đầy rượu Brandy kèm danh thiếp của tôi không?”

“Có khi anh ta không thấy đó là đùa đâu.”

Kì lạ thay, chính tôi mới là người cảm thấy sượng sùng. Với vẻ nhẹ nhõm khó ưa, Arthur dường như đã quên sạch bách những điều không dễ chịu mà tôi nói với ông chỉ chưa đầy một giờ đồng hồ trước đó. Cách hành xử của ông với tôi tự nhiên như thể chả có gì xảy ra. Tôi cảm thấy bản thân cứng rắn trở lại. Khi tắm tôi đã giãn ra, thấy tiếc nuối những từ ngữ tàn nhẫn, kết tội người khác là cay độc hay ra vẻ đạo đức giả. Tôi đã luyện tập một màn hòa giải hào hiệp. Dĩ nhiên Arthur sẽ phải là người van xin. Nhưng trái lại, giờ đây ông đang điềm nhiên mở tủ rượu với phong thái hiếu khách thường ngày.

“Dù sao thì, William, cậu sẽ không từ chối một ly rượu chứ? Nó sẽ giúp cậu ăn bữa tối ngon miệng.”

“Không, cảm ơn ông.”

Tôi cố tình làm giọng mình đanh lại nhưng nghe chỉ như hờn dỗi. Mặt Arthur ngay lập tức thuỗn ra. Vẻ thong dong của ông, tôi có thể thấy, thực ra chỉ là giả vờ. Ông thở dài thườn thượt, tỏ ra hối hận hơn, khuôn mặt mang cái vẻ giống như chiếc mũ chóp cao trong đám tang, bi thảm, giả tạo, thận trọng. Nó khiến ông trông suy nhược tới mức tôi cũng phải mỉm cười.

“Chả ra sao cả, Arthur. Tôi không thể chịu được!”

Ông quá cảnh giác để đáp lời, chỉ cười bẽn lẽn. Lần này, ông sẽ không mạo hiểm đưa ra phản ứng gì nôn nóng quá.

“Tôi đồ là,” tôi tiếp tục từ tốn, “không một ai trong số bọn họ thực sự nổi cáu với ông, phải không, sau chuyện này ấy?”

Arthur không giả vờ không hiểu. Ngượng ngùng, ông nhìn ngắm móng tay.

“Không phải ai cũng hào hiệp như cậu đâu, William ạ.” Chả ra sao cả; chúng tôi lại trở về ván bài ngôn từ. Khoảnh khắc của sự thẳng thắn, vốn đã có thể đạt được, giờ lại bị khéo léo lảng tránh. Tính nhạy cảm của Arthur rúm ró né tránh màn kéo co dữ dội giữa sự thật phũ phàng và lời thú tội; thay vào đó, ông lại ban cho tôi một lời khen. Cũng như trước, chúng tôi đứng trên lằn ranh mong manh, gần như là vô hình, chia cắt hai thế giới của cả hai. Chúng tôi giờ đây không nên bước qua nó. Tôi chưa đủ già hay thâm trầm để có thể tìm ra cách tiếp cận. Có một khoảng lặng đáng thất vọng, trong lúc đó ông sục sạo tủ rượu.

“Cậu có chắc là không muốn một giọt Brandy nào không?”

Tôi thở dài. Tôi đầu hàng ông. Tôi mỉm cười.

“Được rồi. Cảm ơn. Tôi sẽ uống.”

Chúng tôi uống một cách trang trọng, còn chạm ly với nhau. Arthur chép chép miệng, không che giấu thỏa mãn. Ông có vẻ đang tưởng rằng có điều gì đó đã được hình tượng hóa: một cuộc hòa giải, hay ở một mức độ nào đó, một cuộc đình chiến. Nhưng không, tôi không tài nào cảm thấy thế. Sự thật xấu xí, bẩn thỉu vẫn ở đó, ngay trước mũi chúng tôi, và không lượng Brandy nào có thể cuốn trôi nó được.

Arthur hình như không hề nhận thức được sự tồn tại của nó trong lúc này. Tôi thấy mừng. Tôi đột nhiên nôn nóng muốn ngăn ông nhận ra những gì ông đã làm. Ăn năn không dành cho người lớn tuổi. Khi nó xảy đến với họ, nó sẽ không giúp thanh lọc cơ thể hay lên dây cót tinh thần, mà chỉ thuần túy làm suy kiệt và khốn cùng, hệt như bệnh thận. Arthur không bao giờ được hối tiếc. Và quả thực, dường như ông sẽ không bao giờ làm việc đó.

“Hãy ra ngoài và ăn đi,” tôi nói, cảm thấy chúng tôi càng sớm ra khỏi căn phòng xúi quẩy này càng tốt. Arthur miễn cưỡng liếc về phía cửa sổ.

“Cậu không nghĩ là Frl. Schroeder sẽ làm ít trứng bác cho chúng ta à, William? Ngay bây giờ tôi không thích mạo hiểm ra ngoài.”

“Dĩ nhiên là chúng ta phải ra ngoài chứ, Arthur. Đừng có dớ dẩn thế. Ông phải cư xử bình thường hết mức có thể, không thì họ sẽ lại nghĩ là ông đang ủ mưu gì đó. Vả lại, cứ nghĩ tới cái gã không may dưới kia mà xem. Chắc chắn cũng buồn chán lắm. Có khi, nếu chúng ta ra ngoài thì gã cũng có thể kiếm cái gì đó bỏ miệng.”

“Chà, tôi phải thừa nhận là,” Arthur bán tín bán nghi đồng tình, “tôi chưa từng nghĩ theo hướng đó. Được rồi, nếu cậu khá chắc rằng như thế là khôn ngoan thì…”

Biết rằng mình đang bị một thám tử bám theo là một cảm giác khá lạ lùng; nhất là trong trường hợp này, khi bạn đang thực sự lo lắng để không thoát khỏi tầm mắt của anh ta. Bước ra phố, cạnh Arthur, tôi cảm thấy như Bộ trưởng Bộ Nội vụ rời Hạ viện cùng Thủ tướng. Người đàn ông đội mũ quả dưa kia hoặc là tay mơ hoặc cực kì chán nản với công việc. Gã không thèm che giấu, cứ đứng dưới luồng sáng rọi xuống từ đèn đường mà nhìn chúng tôi chằm chằm. Vì lịch sự, tôi không quay lại nhìn xem liệu gã có đi theo chúng tôi không; còn với Arthur, sự bối rối của ông lại quá ư rõ ràng, cổ ông dường như thụt sâu xuống, ba phần tư gương mặt giấu trong cổ áo khoác; bước đi của ông như thể của một kẻ sát nhân đang thoái lui khỏi xác chết. Tôi nhanh chóng nhận ra tôi đang điều chỉnh nhịp đi của mình trong tiềm thức; tôi cứ hối hả rảo bước phía trước, như bản năng mong thoát khỏi kẻ bám đuôi, nhưng rồi lại giảm tốc độ, sợ rằng chúng tôi sẽ mất dấu gã. Khi đi bộ tới nhà hàng, Arthur và tôi không nói với nhau lời nào.

Chúng tôi vừa mới ngồi vào bàn thì tay thám tử tới nơi. Không nhìn về phía chúng tôi, gã sải bước tới quầy bar và nhanh chóng xơi một cái xúc xích luộc và một ly nước chanh một cách hậm hực.

“Tôi đoán là,” tôi nói, “họ không được phép uống bia khi đang trực.”

“Suỵtttt, William!” Arthur khúc khích, “anh ta sẽ nghe thấy cậu đấy.”

“Tôi chẳng quan tâm. Anh ta chẳng thể bắt tôi vì đã cười anh ta.”

Tuy nhiên, quả là sức mạnh của bản tính con người, tôi hạ giọng xuống, gần như chỉ nói thầm.

“Tôi nghĩ là họ chi trả các khoản cho anh ta. Ông biết đấy, chúng ta thực sự nên dẫn anh ta tới quán Montmartre và thết đãi anh ta một bữa.”

“Hoặc là tới nhà hát.”

“Tới nhà thờ cũng khá hấp dẫn đấy.”

Chúng tôi cười cợt với nhau, như hai cậu bé đang trêu chọc thầy hiệu trưởng. Gã đàn ông cao lớn kia, nếu có biết về những lời nhận xét của chúng tôi, thì có lẽ đang hết sức kìm nén vì thể diện. Gương mặt gã, quay nghiêng từ góc chúng tôi nhìn, thật u ám, suy tư, thậm chí còn có vẻ triết gia; có khi gã đang viết thơ không chừng. Ăn xong món xúc xích, gã gọi thêm đĩa xa-lát Ý.

Câu chuyện đùa cứ như thế diễn ra trong suốt bữa ăn. Tôi cố tình kéo dài nó, hết mức có thể. Và tôi nghĩ Arthur cũng vậy. Chúng tôi giúp nhau lộ liễu. Cả hai đều sợ một khoảng lặng. Im lặng sẽ dẫn đến tò mò. Và chúng tôi chẳng còn gì để bàn tán. Chúng tôi rời nhà hàng ngay khi có thể, hộ tống chúng tôi về nhà chính là cái đuôi kia, như một điều dưỡng viên, để nhìn chúng tôi lên giường đi ngủ. Qua cửa sổ phòng Arthur, chúng tôi thấy gã lại quay lại vị trí cũ, dưới cột đèn đối diện với ngôi nhà.

“Cậu nghĩ anh ta sẽ ở đó bao lâu nhỉ?” Arthur lo lắng hỏi tôi.

“Có lẽ cả đêm.”

“Ôi trời, tôi không mong là thế. Nếu thế thì tôi sẽ không chợp mắt được mất.”

“Có lẽ nếu ông mặc đồ ngủ và đứng ở cửa sổ thì anh ta sẽ rời đi đấy.”

“Thực là, William, tôi chẳng thể nghĩ nổi còn việc gì phô trương hơn thế.” Arthur ghìm cơn ngáp.

“Chậc,” tôi đáp lại, có phần gượng gạo, “tôi sẽ đi ngủ giờ đây.”

“Cũng đúng là điều tôi tự nhủ đấy, chàng trai thân mến.” Khẽ nắm lấy cằm, Arthur nhìn vơ vẩn quanh phòng; nói thêm, bằng vẻ ngây thơ, thiếu mọi dấu vết của sự mỉa mai. “Cả hai đều có một ngày thật mệt mỏi.”

Sáng hôm sau, chẳng còn thời gian mà ngượng ngùng. Chúng tôi có quá nhiều việc phải làm. Đầu Arthur vừa rời khỏi tay cậu thợ cạo xong là tôi vào ngay phòng ông, trong bộ đồ ngủ, để họp bàn. Tay thám tử nhỏ con hơn trong chiếc áo choàng giờ đang trực. Arthur phải thú thật là ông còn chả biết ai là người trực đêm nữa. Rốt cuộc, lòng trắc ẩn đã không quấy rầy giấc ngủ của ông.

Dĩ nhiên, vấn đề đầu tiên là quyết định điểm đến của Arthur. Cần phải tới phòng du lịch gần nhất để hỏi về các chuyến tàu và lộ trình. Arthur cuối cùng đã quyết định không đến châu Âu.

“Tôi cảm thấy mình cần một cảnh sắc mới hoàn toàn, như để tách mình ra khỏi đây vậy. Người ta quá bó buộc ở đây, quá kìm kẹp. Khi cậu già đi, William ạ, cậu sẽ thấy thế giới này nhỏ hơn. Các biên giới dường như co lại, cho tới khi chẳng còn chỗ để thở.”

“Cảm giác ấy chắc khó chịu lắm.”

“Đúng thế.” Arthur thở dài. “Thực sự là thế. Có lẽ lúc này tôi hơi căng thẳng, nhưng tôi phải thú nhận rằng, với tôi, các nước châu Âu chẳng là gì ngoài mấy cái bẫy chuột. Ở một vài nước, miếng phô-mai có thể là loại thượng hạng; đó là khác biệt duy nhất.”

Chúng tôi tiếp đó bàn về việc ai sẽ ra ngoài và đi hỏi thông tin. Arthur rất chần chừ trước việc này.

“Nhưng, William ơi, nếu tôi đi một mình, anh bạn bên dưới kia chắc chắn sẽ theo tôi.”

“Dĩ nhiên là anh ta sẽ làm thế. Đó chính là điều chúng ta muốn mà. Ngay khi ông đánh động cho chính quyền biết là ông có ý rút lui thì ông đã làm cho họ yên tâm rồi. Tôi chắc chắn là họ sẽ chẳng đòi hỏi gì hơn ngoài việc để ông đi đâu.”

“Có lẽ cậu đúng…”

Nhưng Arthur không thích thế. Những chiêu trò ấy đảo lộn mọi bản năng kín đáo của ông. “Thật là kém tử tế,” ông nói thêm.

“Nhìn này,” tôi ma mãnh nói. “Tôi sẽ đi nếu ông muốn tôi đi. Nhưng chỉ với điều kiện là ông phải báo tin với Frl. Schroeder khi tôi không có mặt.”

“Thực sao, chàng trai thân mến… Không, tôi có lẽ không làm được việc đó đâu. Thôi được rồi, cứ làm theo cách của cậu đi…”

Từ cửa sổ phòng mình, nửa tiếng sau, tôi thấy ông bước ra phố. Tay thám tử rõ ràng chẳng hề nhận ra ông đi ra ngoài; gã còn đang mải mê đọc các biển tên trên cửa của căn nhà đối diện. Arthur rảo bước đi, chẳng nhìn trái hay nhìn phải. Ông gợi cho tôi nhớ đến người đàn ông trong bài thơ, một kẻ sợ hãi nhìn thấy quỷ dữ đang lần theo bước chân mình. Tay thám tử kia vẫn đang tiếp tục say mê nghiền ngẫm các biển tên. Và rồi cuối cùng, khi tôi bắt đầu phát cáu vì sự mù dở của gã thì gã thẳng lưng, giơ đồng hồ, nhìn nó với vẻ ngạc nhiên thấy rõ, chần chừ, có vẻ đang cân nhắc, và cuối cùng bước đi với những sải chân dài, thiếu kiên nhẫn, giống như người bị bắt phải đợi quá lâu. Tôi nhìn theo dáng hình nhỏ bé của gã khuất khỏi tầm mắt trong sự cảm thán ngỡ ngàng. Gã là một nghệ sĩ.

Trong khi đó, tôi có nhiệm vụ riêng, không dễ chịu gì. Tôi thấy Frl. Schroeder trong phòng khách, bày các lá bài như bà vẫn làm mỗi sáng, để bói xem chuyện gì sẽ xảy ra trong ngày. Vòng vo chẳng ích gì.

“Frl. Schroeder, ông Norris vừa nhận vài tin xấu. Ông ấy sẽ phải rời Berlin ngay lập tức. Ông ấy nhờ tôi nói với bà…”

Tôi dừng lời, cảm thấy cực kì khó chịu, nuốt nước bọt, và rồi thốt ra: “Ông ấy nhờ tôi nói với bà là… Ông ấy muốn trả tiền phòng cho tháng Một và cả tháng Hai nữa…”

Frl. Schroeder im lặng. Tôi chốt lại, một cách vụng về - “Vì ông ấy phải rời đi gấp gáp thế này, bà biết đấy…”

Bà không ngẩng lên. Có tiếng sột soạt, và một giọt nước mắt lớn rớt trên mặt lá bài đặt trên bàn trước mặt bà. Tôi cũng cảm thấy muốn khóc.

“Có lẽ…” Tôi yếu ớt nói. “Chỉ là vài tháng thôi. Ông ấy có lẽ sẽ quay lại…”

Nhưng Frl. Schroeder hoặc không nghe thấy hoặc không tin điều này. Tiếng sụt sùi của bà lại càng lớn; bà không có ý ghìm nén. Có lẽ việc Arthur ra đi là giọt nước làm tràn ly; một khi bắt đầu, bà sẽ có vô vàn thứ để khóc. Tiền nhà và tiền thuế còn đang khất lần, các hóa đơn bà không thể trả, sự lỗ mãng của người bán than, cái lưng đau của bà, bình đun nước, cái nghèo khổ, nỗi cô đơn, cái chết đang cận kề. Nghe tiếng bà khóc thực sự thê lương. Tôi bắt đầu đi quanh phòng trong đỉnh điểm của cơn khổ sở, lo lắng chạm vào các đồ đạc.

“Frl. Schroeder… sẽ ổn thôi, thực sự mà, sẽ ổn… xin bà… đừng…”

Cuối cùng bà cũng bình tĩnh lại. Lau mắt bằng góc khăn trải bàn, bà thở dài não nề. Buồn bã, đôi mắt sưng húp của bà lướt qua dãy lá bài. Bà thốt lên, bằng giọng đắc thắng thê lương: “Trời đất, tôi chưa bao giờ! Cứ nhìn mà xem, cậu Bradshaw. Con át bích… lật ngược! Tôi có lẽ đã biết chuyện như thế này sẽ xảy ra. Các lá bài chưa bao giờ sai cả.”

Khoảng một tiếng sau, Arthur quay về từ văn phòng du lịch bằng taxi. Tay ông đầy giấy tờ và các trang quảng cáo có hình minh họa. Ông có vẻ mệt mỏi và xuống tinh thần.

“Tình hình thế nào rồi?” Tôi hỏi.

“Cho tôi nghỉ tí đã, William. Cho tôi nghỉ tí đã…

Tôi đang hết hơi…”

Đổ sụp người xuống ghế, ông lấy mũ quạt mát. Tôi bước ra cửa sổ. Tay thám tử không còn ở vị trí thường ngày. Quay đầu sang trái, tôi lại thấy gã, đứng xa hơn về phía cuối phố, ngắm nghía cửa hàng tạp hóa.

“Anh ta đã quay lại rồi sao?” Arthur hỏi.

Tôi gật đầu.

“Thật sao? Có ghét cũng phải thừa nhận là gã thanh niên ấy sẽ còn tiến xa trong cái sự nghiệp khốn nạn ấy của gã… Cậu có biết không, William, anh ta còn có gan đi hẳn vào văn phòng và đứng ngay cạnh tôi ở quầy. Tôi thậm chí còn nghe thấy anh ta hỏi về chuyến đi tới Harz nữa cơ đấy.”

“Có khi anh ta thực sự muốn tới đó thì sao. Chả biết được. Có khi anh ta sắp đi nghỉ.”

“Chậc, chậc… gì thì gì, quả là đáng buồn… Tôi đã rất khó nhọc để đi đến quyết định vô cùng khổ sở.”

“Và kết quả chung cuộc là?”

“Tôi rất tiếc phải nói,” Arthur ủ rũ nhìn hàng khuy trên đôi ủng của mình, “rằng sẽ phải là Mexico.”

“Ôi Chúa ơi!”

“Cậu biết đấy, chàng trai thân mến, khi gấp gáp thế này thì chẳng còn mấy cơ hội… Dĩ nhiên tôi vẫn thích Rio hơn nhiều, hoặc là Argentina. Tôi thậm chí còn nghĩ tới cả Trung Quốc. Nhưng bây giờ, nơi nào cũng đầy rẫy những thủ tục hành chính nực cười. Đủ thể loại câu hỏi ngu xuẩn và lỗ mãng. Hồi tôi còn trẻ, khác lắm… Một quý ông người Anh được chào đón ở khắp mọi nơi, nhất là với chiếc vé hạng nhất.”

“Thế khi nào ông đi?”

“Trưa mai có một chuyến tàu. Tôi nghĩ là hôm nay tôi sẽ đến Hamburg bằng tàu đêm. Như thế sẽ thoải mái hơn, và có lẽ sẽ sáng suốt hơn; cậu có đồng ý không?”

“Tôi còn nói gì được nữa. Đúng thế… Đây có vẻ là một bước đi ngoạn mục, đầy bất ngờ. Ông có bạn ở Mexico không?”

Arthur khúc khích. “Tôi có bạn ở khắp nơi, William ơi, hay tôi nên nói là tòng phạm nhỉ?”

“Vậy ông sẽ làm gì khi tới đó?”

“Tôi sẽ tới thẳng thành phố Mexico (một nơi chán ngán; mặc dù tôi kì vọng là nó đã thay đổi nhiều kể từ khi tôi ở đó vào năm một ngàn chín trăm mười một). Sau đó tôi sẽ đặt phòng ở khách sạn hạng nhất và đợi chờ khoảnh khắc thăng hoa… Tôi không nghĩ là mình sẽ chết đói được.”

“Không, Arthur ạ,” tôi bật cười, “tôi chắc chắn là ông sẽ không chết đói đâu!”

Chúng tôi tươi tỉnh hẳn. Uống với nhau vài li. Trở nên thật hoạt bát.

Frl. Schroeder được gọi vào, bởi cần bắt đầu bằng việc đóng đồ cho Arthur. Lúc đầu bà rất âu sầu, và có vẻ hờn giận, nhưng một ly cognac đã làm nên điều kì diệu. Bà đã tự mình lý giải việc Arthur đột nhiên rời đi.

“Ông Norris ơi là ông Norris! Ông lý ra phải cẩn thận hơn. Một quý ông tầm tuổi ông lý ra cũng phải nếm đủ những chuyện này rồi chứ…” Bà nhấm nháy với tôi ở sau lưng ông. “Tại sao ông không chung thủy với Schroeder già nua của ông chứ? Bà ấy sẽ giúp ông mà, bà ấy biết hết!”

Arthur, ngơ ngác và hơi bối rối, nhìn tôi như muốn một lời giải thích. Tôi giả vờ không hay biết gì. Và giờ các hòm xiểng đã tới, được bố con người khuân vác mang xuống từ gác xép của căn nhà. Frl. Schroeder phải cảm thán khi đóng đồ, trước mức độ quần áo hoành tráng của Arthur. Bản thân Arthur, hào phóng và vui vẻ, bắt đầu phân chia quà cáp. Người khuân vác được bộ vét; vợ ông ta được chai rượu sherry, cậu con trai được một đôi giày da rắn quá nhỏ nhưng cậu ta vẫn khăng khăng là sẽ nhét vừa. Đống báo chí và ấn phẩm định kì sẽ được chuyển tới một bệnh viện. Arthur rõ ràng là tặng đồ rất có phong cách: ông biết làm thế nào cho ra vẻ bề trên. Gia đình người khuân vác kia ra về đầy biết ơn và ấn tượng sâu sắc. Tôi có thể thấy những đoạn mở đầu cho một huyền thoại đã được hình thành.

Về phần Frl. Schroeder, bà đương nhiên là nhận vô khối quà. Bên cạnh những bản khắc a-xít và tấm bình phong Nhật Bản, Arthur tặng bà ba bình nước hoa, mấy lọ kem dưỡng tóc, miếng bông thoa phấn, toàn bộ những gì còn trong tủ rượu của ông, hai chiếc khăn xinh đẹp, và với hai má đỏ lựng, đôi quần áo lót bằng lụa của ông.

“William ạ, tôi thực sự mong là cậu cũng lấy thứ gì đó. Chỉ ít đồ lặt vặt nào đó…”

“Được rồi, Arthur, cảm ơn ông rất nhiều… Tôi nói ông nghe này, ông hẵng còn cuốn Căn phòng Tra tấn của cô Smith không? Tôi vốn thích cuốn đó nhất trong số mấy cuốn sách của ông.”

“Cậu thích à? Thực sao?” Arthur đỏ bừng mặt vì sung sướng. “Cậu thật có duyên quá đi mất thôi! Cậu biết không, William, tôi thực sự phải nói cho cậu một bí mật. Bí mật cuối cùng của tôi… Chính tôi viết cuốn đó đấy!”

“Arthur, không phải chứ?”

“Là tôi mà, tôi đảm bảo với cậu!” Arthur khúc khích, rạng rỡ. “Nhiều năm trước rồi… Ấy là nỗi niềm về những gì tôi vẫn còn cảm thấy xấu hổ vào thời thanh xuân… Nó được in riêng tại Paris. Tôi được biết một vài nhà sưu tầm nổi tiếng ở châu Âu cũng có một bản trong thư viện của họ. Nó cực kì hiếm đấy.”

“Vậy ông không viết gì thêm sao?”

“Không bao giờ… Tôi dành thiên tài của tôi vào cuộc đời này, chứ không phải vào nghệ thuật. Lời nói ấy không phải của tôi đâu. Đừng bận tâm. Tiện đây, vì chúng ta đang nói tới chủ đề này, cậu có biết là tôi chưa bao giờ chào tạm biệt Anni yêu dấu của tôi không? Tôi thực sự nghĩ là tôi nên mời cô ấy tới đây vào chiều nay, có được không? Đằng nào thì cũng phải sau bữa trà chiều tôi mới đi mà.”

“Không nên, Arthur. Ông cần phải giữ sức cho chuyến đi.”

“Chà, ha, ha! Cậu có thể đúng. Nỗi đau chia ly quả là dữ dội nhất…”

Sau bữa trưa, Arthur nằm nghỉ. Tôi bắt taxi, chở hòm xiểng của ông tới ga Lehrter và gửi chúng ở phòng gửi đồ. Arthur muốn tránh khởi hành rề rà. Giờ là ca trực của tay thám tử cao lớn kia. Gã hứng thú quan sát việc chất đồ lên xe taxi nhưng không đi theo.

Tại bữa trà, Arthur bồn chồn và xuống tinh thần. Chúng tôi ngồi với nhau trong căn phòng bừa bộn, cửa tủ mở toang, thảm cuộn lại ở chân giường. Tôi cảm thấy bất an vô cớ. Arthur lo lắng gãi cằm và thở dài: “Tôi cảm thấy như Năm Cũ ấy, William ạ, tôi sẽ sớm ra đi.”

Tôi mỉm cười. “Một tuần sau, ông sẽ ngồi trên boong tàu sưởi nắng còn chúng tôi vẫn chết cóng hoặc ngập lụt trong cái thành phố thê lương này. Tôi ghen tị với ông đấy.”

“Thực sao, chàng trai thân mến? Đôi lúc tôi ước rằng mình không phải đi lại nhiều đến thế. Bản tính tôi là người thích ở nhà. Tôi chẳng mong gì ngoài được an cư.”

“Vậy thì tại sao lại không chứ?”

“Đó cũng là điều tôi thường tự hỏi bản thân… Dường như luôn có điều gì ngăn cản việc này.”

Cuối cũng cũng đến giờ phải đi.

Cuống quýt vô hạn, Arthur mặc áo khoác, rối rít tìm găng tay, chỉnh chang lại bộ tóc giả lần cuối. Tôi xách va li của ông và chúng tôi cùng nhau ra sảnh. Chẳng còn gì ngoài việc tồi tệ nhất, nói lời tạm biệt với Frl. Schroeder. Bà bước ra từ phòng khách, mắt ướt nhòe.

“Thế là, ông Norris…”

Chuông cửa ré lên, và có hai tiếng gõ cửa. Tiếng động cắt ngang này khiến Arthur giật mình.

“Trời đất ơi! Có thể là ai vào lúc này chứ?”

“Chắc là bưu tá rồi,” Frl. Schroeder. “Xin lỗi, cậu Bradshaw…”

Bà vừa hé cửa thì người đàn ông bên ngoài đã đẩy bà bước vào sảnh. Là Schmidt.

Gã chưa cần mở miệng cũng có thể thấy rõ là gã đang say. Gã đứng nghiêng ngả, không đội mũ, cà vạt vắt sang một bên vai, cổ áo nhàu nhĩ. Gương mặt to tướng của gã đang bị viêm và sưng phồng đến nỗi hai mắt gã chỉ như một đường chỉ. Không gian sảnh quá bé cho bốn người. Chúng tôi đứng sát vào nhau tới mức tôi có thể ngửi thấy hơi thở của gã. Bốc mùi ghê tởm.

Arthur, đứng cạnh tôi, ú ớ hoảng sợ, còn bản thân tôi cũng chỉ có thể đứng nhìn. Có vẻ lạ nhưng tôi hoàn toàn không hề ngờ tới gã cô hồn này. Trong vòng hai mươi tư giờ qua, tôi hoàn toàn quên mất sự tồn tại của Schmidt.

Gã đương làm chủ tình thế, và gã biết vậy. Gương mặt gã lóe lên tia hận thù. Đá cánh cửa trước đóng sập lại phía sau, gã quét mắt dò xét hai chúng tôi; chiếc áo khoác của Arthur, chiếc va li trong tay tôi.

“Định chạy trốn à?” Gã hét lớn, như thể đang nói với cả một đám đông khán giả ở khoảng cách tầm trung. “Tao thấy rồi… tưởng là đánh bài chuồn được hả?” Gã tiến lên một bước; đứng trước Arthur đang hoảng sợ và run rẩy. “Thật may là tao đến, phải không? Thật là không may cho mày…”

Arthur lại phát ra một âm thanh khác, lần này là tiếng the thé kinh sợ. Dường như nó khiến Schmidt phấn khích tới mức nổi điên. Gã siết nắm tay, và gầm lên đầy giận dữ: “Thằng khốn nạn bẩn thỉu!”

Gã vung tay. Có lẽ gã định thực sự táng Arthur; nếu vậy thì tôi sẽ không kịp ngăn gã lại. Trong tích tắc ấy, tất cả những gì tôi có thể làm được là thả rơi chiếc va li xuống đất. Nhưng Frl. Schroeder lại phản ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn. Bà hoàn toàn không có ý niệm đống lộn xộn này nghĩa là gì. Điều đó cũng chẳng khiến bà quan tâm. Chỉ cần ông Norris đang bị một kẻ lạ mặt say khướt nhục mạ là đủ. Thét lên một tiếng như xung trận, bà lấy đà. Hai bàn tay bà vươn ra, túm lấy lưng của Schmidt, đẩy gã về phía trước, như những động cơ giúp đổi hướng tàu. Đứng không vững và hoàn toàn bị bất ngờ, gã loạng choạng, bổ nhào qua cánh cửa mở dẫn vào phòng khách và ngã cắm mặt xuống thảm. Frl. Schroeder nhanh nhẹn vặn khóa. Toàn bộ sự việc chỉ diễn ra trong năm giây.

“Đồ vô liêm sỉ!” Frl. Schroeder thốt lên. Hai má bà đỏ ửng vì hành động vừa rồi. “Gã đến đây lớn tiếng như thể đây là nhà của gã vậy. Lại còn say khướt… hứ… con lợn bẩn thỉu!”

Bà dường như chẳng thấy sự việc này có gì bí ẩn. Có lẽ bà đã liên hệ Schmidt với Margot và đứa trẻ xấu số. Nếu vậy thì bà quả là ý tứ khi nói như vậy. Tiếng xoay khóa loạt xoạt ở cửa phòng khách vang lên khiến tôi không thể nghĩ thêm bất kì lời giải thích nào nữa.

“Liệu gã có thể thoát ra từ lối sau không?” Arthur lo lắng hỏi.

“Ông có thể yên tâm, ông Norris. Cửa bếp được khóa mà.” Frl. Schroeder quay lại phía gã Schmidt vô hình kia, đe dọa. “Trật tự đi, đồ khốn! Bà đây sẽ sớm quay lại đấy!”

“Gì thì gì…” Arthur nhấp nhổm, “tôi nghĩ là chúng tôi nên đi…”

“Bà định xử trí gã ấy như thế nào?” Tôi hỏi Frl. Schroeder.

“Ôi, cậu không phải lo chuyện đó đâu, cậu Bradshaw. Ngay khi hai người rời đi, tôi sẽ gọi con trai ông khuân vác lên. Sẽ xong ngay thôi, tôi hứa với cậu. Nếu gã mà không chịu đi thì gã sẽ phải hối hận…”

Chúng tôi vội vã chia tay, Frl. Schroeder quá hứng khởi và vui sướng nên không ủy mị gì. Arthur hôn cả hai má bà. Bà đứng trên đỉnh cầu thang vẫy tạm biệt chúng tôi. Một đợt đập cửa ầm ầm vang lên sau lưng bà.

Chúng tôi lên xe taxi, phải đi được nửa đường tới ga thì cái miệng Arthur mới bắt đầu linh hoạt trở lại.

“Ôi trời ơi… Hiếm khi tôi lại rời thành phố theo kiểu khó chịu thế này…”

“Ông có thể gọi là một cuộc đưa tiễn náo nhiệt.” Tôi liếc nhìn đằng sau để chắc chắn chiếc xe taxi chở tay thám tử cao kều kia vẫn đi theo chúng tôi.

“Cậu nghĩ là gã sẽ làm gì hả, William? Có khi gã sẽ tới thẳng chỗ cảnh sát?”

“Tôi chắc chắn là gã không làm thế đâu. Miễn là gã đang say thì họ sẽ không nghe lời gã, mà đến lúc gã tỉnh rồi thì gã cũng sẽ tự thấy làm như thế cũng chẳng ích gì. Gã cũng chẳng biết ông sẽ đi đâu. Tất cả những gì gã biết là đêm nay ông sẽ rời khỏi đây.”

“Chắc là cậu nói đúng, chàng trai thân mến. Tôi phải nói là tôi ghét để cậu ở lại đối diện với cơn điên của gã. Cậu sẽ cẩn thận chứ?”

“Ôi, Schmidt chẳng thèm đoái hoài đến tôi đâu. Từ góc nhìn của gã, tôi không đáng một xu. Có lẽ gã sẽ dễ dàng tìm thấy một nạn nhân khác. Tôi dám nói là gã ghi sổ nhiều lắm.”

“Khi gã vẫn còn làm cho tôi, chắc chắn gã có cơ hội,” Arthur trầm ngâm đồng tình. “Mà tôi cũng chẳng nghi ngờ gì việc gã đã tận dụng tối đa. Thứ sinh vật ấy có tài mà - một thể loại biến thái… Ôi, miễn bàn luôn… Đúng thế…”

Cuối cùng thì mọi việc cũng xong. Hiểu lầm ở phòng gửi đồ, nhặng xị vì lấy hành lý, tìm được một ghế ở trong góc, đưa tiền boa. Arthur nhoài người ra ngoài cửa sổ toa tàu; tôi đứng ở sân ga. Chúng tôi còn năm phút nữa.

“Hãy gửi lời tới Otto giúp tôi nhé?”

“Tôi hứa.”

“Và gửi tình yêu của tôi tới Anni?”

“Dĩ nhiên rồi.”

“Tôi ước gì họ có thể ở đây.”

“Quả là đáng tiếc nhỉ?”

“Nhưng như thế sẽ là không sáng suốt, trong hoàn cảnh này. Cậu đồng ý không?”

“Đúng thế.”

Tôi mong chờ đoàn tàu khởi hành. Dường như chẳng còn gì để nói, ngoại trừ những điều không được phép nói, bởi đã quá muộn. Arthur dường như nhận ra sự im lặng ấy. Ông bất an tìm từ.

“Tôi ước gì cậu có thể đi cùng tôi, William ạ… Tôi sẽ nhớ cậu lắm.”

“Thật sao?” Tôi gượng gạo mỉm cười, cảm thấy vô cùng khó chịu.

“Thật, tôi sẽ nhớ cậu… Cậu đã luôn là nguồn động viên của tôi. Ngay từ giây phút đầu tiên chúng ta gặp nhau…”

Tôi đỏ mặt. Thật kinh ngạc khi ông có thể khiến tôi cảm giác bản thân là một tên ti tiện. Liệu, sau tất cả, tôi đã hiểu lầm ông? Tôi đã đánh giá sai về ông? Liệu tôi, theo một cách mơ hồ nào đó, đã cư xử rất tồi tệ? Để đổi chủ đề, tôi hỏi: “Ông nhớ chuyến đi đó ư? Tôi còn chẳng hiểu nổi vì sao họ lại cứ phải gây phiền nhiễu ở cửa khẩu nữa. Tôi đồ là họ đã để mắt tới ông?”

Arthur không quan tâm lắm tới đoạn gợi nhắc này.

“Tôi đoán là thế… Phải.”

Lại một khoảng lặng nữa. Tôi tuyệt vọng liếc nhìn đồng hồ. Còn một phút nữa. Lập bập, ông lại cất lời.

“Hãy cố đừng quên tôi, William nhé… Tôi ghét thế…”

“Vớ vẩn gì thế, Arthur…” Tôi cố gắng gạt đi nhẹ nhàng. “Ông buồn cười quá!”

“Cuộc đời này quá ư phức tạp. Nếu hành động tôi có gì không nhất quán thì tôi có thể thực lòng mà nói rằng tôi đã và sẽ luôn luôn trung thành với Đảng, trong tâm can… Hãy nói là cậu tin điều đó đi mà?”

Ông thật vô liêm sỉ, xấu xa, hoàn toàn không biết xấu hổ. Nhưng tôi phải đáp lại gì đây? Trong khoảnh khắc ấy, nếu ông yêu cầu thì tôi cũng sẽ thề là hai với hai bằng năm.

“Đúng thế, Arthur, tôi tin.”

“Cảm ơn cậu, William… Ôi trời ơi, giờ thì chúng ta thực sự phải chia tay rồi. Tôi hi vọng là tất cả đống hòm của tôi đều đã ở trên tàu. Chúa phù hộ cậu, chàng trai thân mến. Tôi sẽ luôn nhớ về cậu. Áo mưa của tôi đâu rồi nhỉ? À, đây rồi. Mũ tôi có bị lệch không? Tạm biệt. Hãy viết thư đều cho tôi nhé. Tạm biệt.”

“Tạm biệt, Arthur.”

Con tàu tăng tốc, tách bàn tay được tỉa tót của ông khỏi tay tôi. Tôi đi thêm một đoạn dọc sân ga và đứng vẫy tay cho tới khi toa tàu cuối cùng khuất dạng.

Khi tôi xoay người rời ga, suýt chút nữa tôi va vào một người đứng ngay phía sau tôi. Chính là tay thám tử.

“Xin lỗi, ngài thám tử.” Tôi lẩm bẩm.

Nhưng gã thậm chí còn không mỉm cười.

« Lùi
Tiến »