Có chuyện gì đó đã xảy ra với Arthur. Điều đó quá đỗi hiển nhiên. Nếu không thì ông ấy đã tự gửi điện cho tôi. Và đống lộn xộn mà ông đang mắc vào, dù nó là gì đi chăng nữa, chắc chắn cũng dính dáng tới Đảng, vì Bayer đã kí tên ở bức điện. Suy luận của tôi đến đây là chấm dứt. Nó bị bao phủ bởi những phỏng đoán và những khả năng mập mờ và vô hạn định hệt như bóng đêm đang nuốt lấy đoàn tàu. Nằm trong khoang của mình, tôi cố ngủ mà không được. Toa tàu đung đưa, tiếng bánh xe leng keng hòa cùng nhịp đập lo lắng, hồi hộp của con tim tôi. Arthur, Bayer, Margot, Schmidt; tôi cố giải ngược giải xuôi câu đố. Nó khiến tôi tỉnh suốt đêm.
Có cảm tưởng như đã nhiều năm trôi qua, nhưng kì thực mới chỉ là buổi chiều hôm sau, tôi mở khóa, bước vào căn hộ, vội vàng đẩy mở cửa phòng mình. Giữa phòng là Frl. Schroeder, đang gà gật, trên chiếc ghế bành oách nhất. Bà đã cởi dép lê và đang đặt đôi bàn chân đi tất lên chiếc ghế đẩu. Khi khách trọ của bà đi vắng, bà vẫn thường làm thế. Bà đang chìm trong giấc mơ của hầu hết những bà chủ trọ, rằng toàn bộ nơi này là của mình.
Thức dậy và nhìn thấy bóng dáng tôi ở lối vào, bà thét lên một tiếng chói tai, tôi nghĩ giả thử như tôi từ cõi chết trở về thì bà cũng không thể nào thét chói hơn thế.
“Cậu Bradshaw! Cậu làm tôi giật cả mình!”
“Tôi xin lỗi, Frl. Schroeder. Không, bà không phải đứng dậy đâu. Ông Norris đâu rồi?”
“Ông Norris?” Bà vẫn còn đang hơi ngái ngủ. “Tôi không biết nữa. Ông ấy nói là sẽ quay về lúc 7 giờ.”
“Vậy là ông ấy vẫn sống ở đây?”
“Hả, dĩ nhiên rồi, cậu Bradshaw! Ý tưởng gì mà kì cục thế!” Frl. Schroeder nhìn tôi kinh ngạc và cả lo âu. “Có vấn đề gì ư? Tại sao cậu không báo tôi là sẽ về sớm hơn? Tôi đã định dọn dẹp phòng ốc của cậu chỉn chu vào ngày mai rồi.”
“Không vấn đề gì đâu. Tôi chắc chắn là mọi thứ đều rất ổn. Ông Norris không bị ốm đúng không?”
“Ơ, không.” Sự bối rối của Frl. Schroeder mỗi lúc một tăng. “Nếu ông ấy mà ốm thì ông ấy đã không nói gì với tôi cả, mà ông ấy toàn dậy rồi đi từ sáng tới tận nửa đêm. Thế ông ấy đã viết thư rồi bảo cậu thế à?”
“À không, ông ấy không làm thế… chỉ là… lúc tôi đi thì tôi thấy ông ấy khá là xanh xao. Có ai gọi điện hay để lại tin nhắn gì cho tôi không?”
“Chẳng có gì cả đâu, cậu Bradshaw. Cậu nhớ không, cậu đã bảo học sinh là cậu sẽ đi vắng tới tận sang năm mà.”
“Vâng, đúng rồi.”
Tôi đi về phía cửa sổ, nhìn xuống con phố vắng vẻ, tối tăm. Không, nó không hề vắng vẻ. Ở dưới đó, phía góc phố, có một người đàn ông nhỏ thó mặc áo khoác cài kín cổ và đội mũ nỉ. Ông ta lặng lẽ đi đi lại lại, hai tay chắp sau lưng, như thể đang đợi bạn gái.
“Tôi lấy cho cậu ít nước nóng nhé?” Frl. Schroeder nhẹ nhàng hỏi. Tôi nhìn mình trong gương. Mệt mỏi, bẩn thỉu và râu ria xồm xoàm. “Không sao, cảm ơn bà,” tôi nói, mỉm cười. “Trước hết tôi có chút việc phải làm cái đã. Một tiếng nữa tôi sẽ quay lại. Lúc đó thì phiền bà đun nóng nước giúp tôi nhé?”
“Vâng, Ludwig đang ở đây,” mấy cô gái ở văn phòng phía ngoài tại Wilhelmstrasse nói với tôi. “Cứ vào trong.”
Bayer chẳng có vẻ gì là ngạc nhiên khi nhìn thấy tôi. Anh ta ngước mắt lên khỏi đống giấy tờ và mỉm cười.
“Vậy là anh đã tới, anh Bradshaw! Mời ngồi. Chắc anh đi nghỉ vui chứ?”
Tôi mỉm cười.
“À, thực ra thì tôi cũng mới chỉ bắt đầu…”
“Thì nhận được điện của tôi? Tôi xin lỗi, nhưng việc này cần thiết, anh sẽ thấy.”
Bayer ngừng lời; nhìn tôi trầm tư; rồi tiếp tục: “Tôi sợ là những gì tôi sắp nói có thể sẽ không dễ chịu với anh, anh Bradshaw ạ. Nhưng không nên để anh trong tình cảnh mù mờ mãi như thế này.”
Tôi có thể nghe thấy tiếng kim đồng hồ đang chạy đâu đó trong phòng; mọi thứ dường như đều trở nên rất yên lặng. Tim tôi đập thịch thịch khó chịu trong lồng ngực. Cảm giác như tôi đã hơi đoán được điều gì sắp đến.
“Anh tới Thụy Sĩ,” Bayer tiếp tục, “với một vị tên là Nam tước Pregnitz?”
“Đúng, đúng thế.” Tôi liếm môi.
“Giờ thì tôi sẽ hỏi anh một câu mà có thể hơi thọc mũi vào chuyện riêng của anh. Xin anh đừng tự ái. Nếu anh không muốn thì không trả lời, anh hiểu chứ?”
Cổ họng tôi trở nên khô khốc. Tôi cố hắng giọng, và tạo ra tiếng kèn kẹt to tướng, lố bịch.
“Tôi sẽ trả lời bất cứ câu hỏi nào anh muốn,” tôi nói, giọng khàn khàn.
Đôi mắt Bayer sáng bừng đồng thuận. Anh ta nhoài người trên bàn làm việc, hướng về phía tôi.
“Tôi mừng là anh có thái độ này, anh Bradshaw ạ… Anh muốn giúp chúng tôi. Thế là tốt… Giờ, xin hãy nói cho tôi biết Norris đã đưa ra lý do gì để bảo anh nên đi với vị Nam tước Pregnitz kia tới Thụy Sĩ?”
Tôi lại nghe thấy tiếng kim đồng hồ. Bayer, chống khuỷu tay trên bàn, nhìn tôi trìu mến cùng sự chăm chú đầy khích lệ. Lần thứ hai, tôi hắng giọng.
“Thì,” tôi bắt đầu, “trước tiên, anh biết đấy…”
Đó là một câu chuyện ngớ ngẩn dài dòng, dường như phải mất hàng giờ mới kể xong. Tôi chưa từng nhận ra có những phần lại nghe xuẩn ngốc, ti tiện đến thế. Tôi thấy xấu hổ về bản thân kinh khủng khiếp, mặt đỏ bừng, cố gắng hài hước để rồi thất bại, biện hộ để rồi kết tội động cơ của bản thân, lảng tránh những đoạn nhất định, chỉ để buột miệng phun ra chúng trong tích tắc sau đó, dưới con mắt thân thiện nhưng chất vấn của anh ta. Câu chuyện dường như thú nhận mọi điểm yếu của tôi trước người đàn ông đang chăm chú và lặng yên kia. Tôi chưa bao giờ cảm thấy nhục nhã dường ấy trong đời.
Khi, cuối cùng, tôi cũng kết thúc, Bayer khẽ cử động.
“Cảm ơn anh Bradshaw. Tất cả những điều này, anh thấy đấy, đều rất giống những gì chúng tôi hình dung… Người của chúng tôi ở Paris biết ông van Hoorn này rất rõ. Ông ta là một tay thông minh. Ông ta đã khiến chúng tôi gặp khá nhiều rắc rối.”
“Ý anh là… ông ta là cảnh sát?”
“Không chính thức. Ông ta thu thập đủ loại thông tin rồi bán cho những ai sẵn lòng trả tiền. Có rất nhiều kẻ làm việc này nhưng phần lớn khá ngu dốt và không hề nguy hiểm.”
“Tôi hiểu rồi… Và van Hoorn đã lợi dụng Norris để thu thập thông tin?”
“Chính là vậy. Đúng thế.”
“Nhưng làm thế quái nào mà ông ta lại dụ được Norris giúp mình? Ông ta đã kể chuyện gì chứ? Tôi thấy lạ là Norris lại không nghi ngờ.”
Dù đang u ám nhưng đôi mắt của Bayer lại lóe lên tia hứng thú.
“Có khả năng là Norris thực sự rất nghi ngờ. Không. Anh đã hiểu lầm tôi rồi, anh Bradshaw. Tôi không nói là van Hoorn lừa dối ông ta. Không cần làm thế.”
“Không cần?” Tôi ngu ngốc nhắc lại.
“Không cần. Không… Anh thấy đấy, Norris biết khá rõ những gì van Hoorn muốn. Họ rất hiểu nhau. Kể từ khi Norris quay lại Đức, ông ta đã thường xuyên nhận tiền từ van Hoorn thông qua Sở Mật vụ Pháp.”
“Tôi không tin!”
“Ấy thế mà đó là sự thật. Tôi có thể chứng minh, nếu anh muốn. Norris đã được trả tiền để theo dõi chúng tôi, để cung cấp thông tin về những kế hoạch và động thái của chúng tôi.” Bayer mỉm cười và giơ bàn tay tựa hồ như chặn trước một sự phản đối. “Ồ, nghe có vẻ khủng khiếp nhưng cũng không đến nỗi thế đâu. Thông tin mà ông ta cung cấp chẳng quan trọng gì. Trong hoạt động của chúng tôi, chúng tôi không cần phải lập ra những âm mưu lớn như tờ Press tư bản hay các tiểu thuyết diễm tình hình sự vẫn hay mô tả. Chúng tôi hoạt động công khai. Sẽ tiện lợi hơn cho tất cả nếu họ biết về những gì chúng tôi làm. Khả năng là Norris đã tiết lộ cho bạn bè ông ta tên một vài người đưa tin của chúng tôi vẫn thường đi lại giữa Berlin và Paris. Và cũng có thể cả một số địa chỉ nữa. Nhưng đây mới chỉ là giai đoạn đầu.”
“Vậy là anh đã biết về ông ấy từ lâu?” Tôi không thể nhận ra giọng của mình.
Bayer mỉm cười rạng rỡ.
“Khá lâu. Đúng vậy.” Giọng nói của anh ta trơn tru. “Norris thậm chí còn rất hữu ích với chúng tôi, mặc dù ông ta không nhận ra. Thi thoảng, chúng tôi có thể tạo ấn tượng giả với các đối thủ thông qua kênh này.”
Với tốc độ nhanh đến chóng mặt, bức tranh ghép đang tự động ráp lại trong đầu tôi. Trong chớp mắt, một mảnh nữa được thêm vào. Tôi nhớ tới buổi sáng sau cuộc bầu cử, Bayer ngay trong chính căn phòng này đã đưa cho Arthur một tập tài liệu được niêm phong, rút từ trong ngăn kéo bàn viết của anh ta.
“Vâng… giờ tôi hiểu rồi…”
“Anh Bradshaw thân mến.” Giọng điệu của Bayer thật tử tế, gần như một vị cha chú. “Xin đừng để bản thân mình vướng bận quá nhiều. Norris là bạn của anh, tôi biết chứ. Hãy nhớ rằng, tôi không nói điều này để lên án nhân phẩm của ông ta; cuộc sống riêng tư không phải là điều chúng tôi quan tâm. Chúng tôi đều tin là anh không hề biết gì về chuyện này. Anh đã hành động với niềm tin dành cho chúng tôi. Tôi ước gì có thể không phải nói cho anh biết về chuyện này.”
“Điều mà tôi vẫn không hiểu là, làm thế nào mà Pregnitz…”
“À, tôi sắp nói đến chuyện đó… Norris phát hiện ra mình không còn có thể thỏa mãn đám bạn Paris với những báo cáo này. Chúng thường không hữu ích hoặc là giả. Thế là ông ta đề xuất với van Hoorn ý tưởng gặp gỡ Pregnitz.”
“Và nhà máy thủy tinh?”
“Nó chỉ tồn tại trong trí tưởng tượng của Norris thôi. Ở đây ông ta đã lợi dụng sự thiếu kinh nghiệm của anh. Không phải vì chuyện này mà van Hoorn chi trả cho anh tới Thụy Sĩ. Nam tước Pregnitz là chính trị gia, đâu phải là nhà tài chính.”
“Anh không có ý là…?”
“Đúng, đó chính là điều tôi muốn nói với anh. Pregnitz tiếp cận được rất nhiều bí mật của chính phủ Đức. Ông ta có thể lấy được bản sao các sơ đồ, kế hoạch và tài liệu tư mà nhân viên của van Hoorn sẽ trả rất nhiều tiền để có được. Có lẽ Pregnitz sẽ bị lôi kéo. Việc này chúng tôi không quan tâm. Chúng tôi chỉ muốn cảnh báo cho cá nhân anh, rằng anh sẽ có thể không phát hiện ra mình bị tống vào tù oan vì tội phản quốc.”
“Chúa ơi… Làm thế nào mà anh lại biết hết mấy chuyện này?”
Bayer mỉm cười.
“Anh nghĩ là chúng tôi cũng có mật vụ sao? Không, điều đó là không cần thiết. Mọi thông tin kiểu này người ta có thể lấy được dễ dàng từ cảnh sát.”
“Vậy là cảnh sát cũng biết?”
“Tôi không nghĩ là họ biết hết. Nhưng họ đang rất nghi ngờ. Hai người trong số họ đã tới đây hỏi về Norris, Pregnitz và cả anh nữa. Từ những câu hỏi này có thể đoán ra được rất nhiều điều. Tôi tin là chúng tôi đã làm cho họ tin rằng anh không phải là một tay chủ mưu nguy hiểm,” Bayer mỉm cười, “tuy nhiên, có vẻ đánh điện cho anh ngay lập tức là cách tốt nhất, để anh không bị dính sâu vào vụ này.”
“Thực sự là anh quá tử tế khi bận tâm tới việc của tôi.”
“Chúng tôi luôn cố gắng giúp những người đã giúp chúng tôi; mặc dù, thật không may, đôi lúc việc này là bất khả thi. Anh vẫn chưa gặp Norris?”
“Chưa. Ông ấy ra ngoài khi tôi về.”
“Vậy ư? Tuyệt vời. Sẽ tốt hơn nếu anh tự mình nói cho ông ấy những điều này. Ông ấy không đến đây được một tuần rồi. Hãy nói với ông ấy rằng, chúng tôi hi vọng là ông ấy sẽ bình yên, nhưng tốt nhất ông ấy nên rời khỏi Đức ngay lập tức. Và hãy cảnh báo với ông ấy rằng cảnh sát đã theo dõi ông ấy. Họ xem mọi lá thư mà ông ấy nhận hay viết; việc này tôi chắc chắn.”
“Được rồi,” tôi nói, “tôi sẽ báo với ông ấy điều đó.”
“Anh sẽ làm ư? Tốt quá.” Bayer đứng dậy. “Còn giờ thì, anh Bradshaw, xin đừng làm bản thân mình bối rối. Có lẽ anh đã thật khờ khạo. Không sao, tất cả chúng ta đều có lúc rất, rất khờ khạo. Anh chẳng làm gì để phải xấu hổ cả. Tôi nghĩ giờ anh sẽ cẩn thận hơn với người mình chơi, nhỉ?”
“Vâng, đúng thế.”
Bayer mỉm cười. Anh ta vỗ lên vai tôi vẻ khích lệ.
“Thế thì giờ chúng ta sẽ quên đi vấn đề không hay này. Anh có muốn nhận dịch thêm một số tài liệu cho chúng tôi không? Tuyệt vời… Anh sẽ nói với Norris những gì tôi nói, nhỉ? Tạm biệt.”
“Tạm biệt.”
Tôi bắt tay anh ta và rời khỏi tòa nhà như thường lệ. Chắc hẳn tôi đã hành xử khá bình thường, bởi không một ai ở văn phòng ngoài nhìn tôi lom lom. Chỉ khi ra đến phố thì tôi bắt đầu chạy. Đột nhiên tôi trở nên hối hả; tôi muốn vượt qua chuyện này thật nhanh.
Một chiếc taxi đi qua; tôi lên xe khi tài xế còn chưa kịp giảm tốc. “Hãy lái nhanh nhất có thể,” tôi nói với anh ta. Chúng tôi vút đi, lao vào rồi lao ra khỏi đám xe cộ; trời đang mưa, đường sá nhơ nhớp toàn bùn. Đèn đường đã lên; trời đang tối. Tôi châm một điếu thuốc và ném nó đi sau một vài hơi. Tay tôi run rẩy; nhưng tôi lại hoàn toàn bình tĩnh, không tức giận, thậm chí còn không thấy ghê tởm, không gì hết. Bức tranh ghép đã hoàn chỉnh. Chỉ cần liếc qua tôi cũng có thể nhìn thấy toàn bộ bức tranh sắc nét và chặt chẽ, nếu muốn. Tôi nghĩ giờ mình chỉ cần vượt qua chuyện này. Ngay bây giờ.
Arthur đã về nhà. Ông đang nhìn ra ngoài cửa phòng ngủ khi tôi mở cửa chính của căn hộ.
“Vào đi nào, chàng trai thân mến! Vào đi! Đây thực sự là một sự ngạc nhiên dễ chịu! Lúc Frl. Schroeder nói với tôi là cậu đã quay về, tôi còn không thể tin nổi. Điều gì khiến cậu về sớm thế? Có phải cậu nhớ Berlin hay vì cậu nhớ tôi? Xin hãy nói là cậu có nhớ đi! Ở đây chúng tôi aỉ cũng rất nhớ cậu. Bữa tối Giáng sinh của chúng tôi thực sự vô vị khi không có cậu. Vâng… tôi phải nói là trông cậu không được khỏe như tôi kì vọng; hay là cậu bị mệt sau chuyến đi? Ngồi xuống đây. Cậu đã uống trà chưa? Để tôi pha cho cậu ly gì đó cho tỉnh người nhé?”
“Không, cảm ơn ông, Arthur.”
“Không ư? Chà, chà… Thế có khi cậu sẽ đổi ý sau. Thế ông bạn của chúng ta Pregnitz như thế nào? Vui vẻ chứ hả?”
“Vâng. Ông ấy ổn cả.”
“Tôi mừng khi nghe thấy thế. Rất mừng. Bây giờ, William ạ, tôi thực sự phải chúc mừng cậu vì kĩ năng và kĩ nghệ đáng ngưỡng mộ mà nhờ nó cậu đã hoàn thành được sứ mạng bé nhỏ của mình. Margot vô cùng hài lòng. Và cậu biết đấy, ông ấy đặc biệt khó tính…”
“Ông đã nghe tin từ ông ấy?”
“Ồ đúng thế. Sáng nay tôi đã nhận được một bức điện dài. Tiền sẽ chuyển tới vào sáng mai. Phải nói là về khoản này, Margot rất đúng hẹn và chính xác. Có thể luôn tin tưởng ông ấy.”
“Ý ông là Kuno đã đồng ý?”
“Không, không phải vậy. Vẫn chưa. Những thứ này không phải chuyện ngày một ngày hai. Nhưng Margot đang rất hi vọng. Có vẻ như ban đầu Pregnitz hơi khó để thuyết phục. Anh ta không nhìn thấy lợi lộc gì từ vụ giao dịch này đối với nhà máy của mình. Nhưng giờ thì chắc chắn là anh ta đã quan tâm. Anh ta muốn có thời gian để suy nghĩ kĩ, đương nhiên. Tôi đã có được một nửa số tiền như chúng tôi đã thỏa thuận, ơn trời là chỗ đó thừa sức trang trải tiền đi lại của tôi; thế là tôi bớt đi một gánh nặng. Phần còn lại, cá nhân tôi nghĩ là cuối cùng thì Pregnitz sẽ đồng ý thôi.”
“Vâng… tôi đồ là tất cả bọn họ sẽ đồng ý thôi.”
“Gần như tất cả, đúng thế…” Arthur lơ đễnh đáp để rồi tích tắc sau, ông nhận thấy có điều gì đó là lạ trong giọng nói của tôi. “William à, tôi không nghĩ là mình hiểu ý cậu.”
“Ông không hiểu sao? Thế thì tôi sẽ nói thẳng luôn: tôi đoán là van Hoorn rất giỏi thuyết phục người ta bán cho mình bất cứ thứ gì ông ta muốn mua?”
“À, ờm, tôi không biết là trong trường hợp này, người ta có thể coi nó là một vụ mua bán. Tôi nghĩ là tôi đã nói với cậu…”
“Arthur,” tôi giận dữ ngắt lời, “ông có thể ngừng nói dối được rồi. Tôi biết cả rồi.”
“Ôi,” ông thốt lên, rồi im lặng. Cơn chấn động dường như đã khiến ông ngừng thở. Trầm mình xuống ghế, ông nhìn ngắm móng tay với sự hoảng loạn không che giấu.
“Thực sự, tất cả đều là lỗi của tôi. Tôi là một thằng khờ khi đã tin ông. Dù sao thì ông cũng đã ít nhiều cảnh báo tôi rồi.”
Arthur ngẩng lên liếc nhanh tôi, như con chó spaniel* chuẩn bị ăn roi. Đôi môi ông mấp máy nhưng không nói gì.
Vết cằm xẻ sâu xuất hiện trong chốc lát. Ông len lén gãi cằm, rồi rụt tay lại như thể sợ rằng cử chỉ ấy sẽ khiến tôi khó chịu.
“Tôi lý ra nên biết là sớm muộn gì ông cũng tìm cách lợi dụng tôi; dù chỉ là một con vịt mồi. Ai ông cũng tìm ra được công dụng nào đó, phải không? Nếu tôi có bị tống vào tù thì cũng là đáng thôi.”
“William, tôi lấy danh dự của tôi ra để thề, tôi không bao giờ…”
“Tôi sẽ không vờ vĩnh,” tôi tiếp tục, “rằng tôi đếch thèm quan tâm tới chuyện gì xảy đến với Kuno. Nếu ông ta ngu ngốc đến mức tự đẩy mình vào chuyện này thì ông ta chỉ có thể trách mình… Nhưng tôi phải nói điều này, Arthur ạ, trước đây nếu có bất kì ai ngoài Bayer nói với tôi là ông sẽ hành động bỉ ổi với Đảng thì tôi sẽ gọi kẻ đó là tên nói dối khốn nạn. Ông nghĩ như thế là tôi rất tình cảm phải không?”
Arthur rõ ràng là rùng mình khi nghe thấy cái tên kia.
“Vậy là Bayer biết phải không?”
“Dĩ nhiên.”
“Ôi trời, ôi trời…”
Cả cơ thể ông dường như sụp đổ, như tên bù nhìn rơm ướt sũng nước mưa. Hai má râu ria, chảy xệ lốm đốm đồi mồi và xanh nhợt, đôi môi hé ra nỗi thống khổ không thành lời.
“Tôi chưa bao giờ tiết lộ điều gì quan trọng cho van Hoorn cả, William ơi. Tôi thề với cậu là tôi không làm thế.”
“Tôi biết. Ông chưa bao giờ có cơ hội ấy chứ. Với tôi, dường như ông chẳng giỏi gì cả, kể cả là làm một thằng khốn.”
“Xin cậu đừng giận tôi, chàng trai thân mến. Tôi không tài nào chịu nổi.”
“Tôi không giận ông; tôi giận chính bản thân tôi vì đã là một thằng ngu. Tôi cứ nghĩ ông là bạn tôi cơ đấy.”
“Tôi không cầu xin cậu tha thứ,” Arthur hèn mọn nói. “Dĩ nhiên cậu sẽ không bao giờ làm thế. Nhưng xin đừng phán xét tôi quá khắc nghiệt. Cậu còn trẻ. Các tiêu chuẩn của cậu rất hà khắc. Khi cậu bằng tuổi tôi rồi, có lẽ cậu sẽ thấy mọi thứ khác đi. Rất dễ kết tội khi người ta không bị mê hoặc. Hãy nhớ điều đó.”
“Tôi chẳng kết tội gì ông cả. Còn về chuẩn của tôi, nếu như tôi có, thì ông cũng đã làm chúng lộn tùng phèo hết cả rồi. Tôi hi vọng là ông đúng. Ở địa vị của ông, có lẽ tôi cũng sẽ làm như thế.”
“Cậu thấy không?” Arthur hăm hở bấu víu vào lợi thế của mình. “Tôi biết là cậu sẽ nhìn sự việc theo góc độ đó mà.”
“Tôi không muốn nhìn nó theo góc độ nào cả. Tôi cảm thấy buồn nôn tột độ với cái công việc kinh tởm này… Chúa ơi, tôi ước gì ông sẽ đi đâu đó mà tôi sẽ không bao giờ phải gặp lại!”
Arthur thở dài.
“Cậu thật cứng rắn, William ạ. Tôi chưa bao giờ ngờ đấy. Với tôi cậu dường như lúc nào cũng có bản tính cảm thông.”
“Tôi đồ rằng đây chính là điều mà ông bám vào phải không? Chà, tôi nghĩ là ông sẽ nhận ra những người mềm yếu phản đối việc bị lừa dối mạnh mẽ hơn những người khác đấy. Họ thấy buồn bực hơn vì họ cảm thấy chỉ có thể đổ lỗi cho chính bản thân mình.”
“Dĩ nhiên là cậu hoàn toàn có lý. Tôi đáng nhận mọi điều xấu xa mà cậu nói. Đừng khoan nhượng với tôi. Nhưng tôi hứa với cậu, lời hứa trang nghiêm nhất, rằng suy nghĩ gài bẫy cậu vào bất kì thể loại tội ác hình sự nào chưa bao giờ có trong đầu tôi. Cậu thấy đấy, mọi thứ đều diễn ra y như những gì chúng ta lên kế hoạch. Suy cho cùng, nguy hiểm ở đâu chứ?”
“Có nhiều nguy hiểm hơn ông tưởng đấy. Cảnh sát đã biết hết về hành trình nho nhỏ của chúng ta thậm chí còn trước khi chúng ta bắt đầu kìa.”
“Cảnh sát ư? William, cậu đang nói đùa!”
“Không phải ông nghĩ là tôi đang cố hài hước đấy chứ? Bayer đã nói tôi cảnh báo cho ông. Bọn họ đã tới chỗ anh ta và tra hỏi.”
“Chúa ơi…”
Những dấu vết cứng cỏi cuối cùng đã chuồi khỏi Arthur. Ông ngồi đó như chiếc túi giấy bị vò nát, đôi mắt xanh lơ hiển hiện nỗi kinh hoàng.
“Nhưng họ không thể nào…”
Tôi đi ra cửa sổ.
“Hãy tới đây và nhìn xem, nếu ông không tin tôi. Anh ta vẫn đang ở đó.”
“Ai vẫn đang ở đó cơ?”
“Tay mật thám đang theo dõi căn nhà này.”
Không một lời nào, Arthur vội vã đi ra cạnh tôi bên cửa sổ và lén nhìn người đàn ông trong chiếc áo khoác cài kín cổ.
Rồi ông chậm rãi bước về ghế. Đột nhiên ông trở nên bình tĩnh hơn.
“Tôi sẽ làm gì đây?” Hình như ông đang tư duy thành lời chứ không phải hỏi tôi.
“Dĩ nhiên, ông phải xóa mọi dấu vết khi nhận được số tiền này.”
“Họ sẽ bắt giam tôi, William ơi.”
“Ô không, họ sẽ không làm thế. Nếu họ muốn thì họ đã bắt ông từ trước rồi. Bayer nói họ đã và đang đọc mọi thư từ của ông… Ngoài ra, anh ta cho là họ cũng chưa biết chắc chắn mọi thứ.”
Arthur suy nghĩ hồi lâu trong im lặng. Ông ngước mắt nhìn tôi vẻ lo lắng.
“Vậy cậu sẽ không…” Ông dừng lại.
“Sẽ không gì?”
“Nói với họ, ờm, mọi chuyện?”
“Chúa ơi, Arthur!” Tôi há hốc miệng. “Chính xác thì ông coi tôi là cái gì thế?”
“Không, dĩ nhiên, chàng trai thân mến… Tha thứ cho tôi, lý ra tôi phải biết…” Arthur ho hắng hối lỗi. “Chỉ là, trong lúc này, tôi thấy sợ. Có thể họ sẽ treo giải lớn, cậu biết đấy…”
Trong vài giây tôi hoàn toàn câm nín. Hiếm khi tôi bị choáng đến vậy. Mở miệng, tôi nhìn ông trong sự giận dữ lẫn kinh ngạc, tò mò lẫn khinh bỉ. Mắt ông chạm mắt tôi, ủy mị. Không còn gì phải nghi ngờ nữa. Ông quả thực không ý thức được mình đã nói bất cứ điều gì gây ngạc nhiên hay xúc phạm. Cuối cùng tôi cũng cất lời.
“Ồ, trong tất cả…”
Nhưng mọi cơn bùng nổ đều bị cắt ngang bởi tràng gõ cửa dồn dập.
“Cậu Bradshaw! Cậu Bradshaw!” Frl. Schroeder đang cuống quýt hoảng sợ. “Nước đang sôi mà tôi không thể bật được vòi! Hãy ra nhanh không thì tất cả chúng ta sẽ bị nổ tan xác mất!”
“Chúng ta sẽ thảo luận chuyện này sau,” tôi nói với Arthur, rồi vội vã lao ra khỏi phòng.