Người Chuyển Tàu

Lượt đọc: 844 | 1 Đánh giá: 8/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương mười ba

Chuyến đi của tồi với Kuno tới Thụy Sĩ giống như cuộc du lịch trăng mật sau một cuộc hôn nhân hợp đồng. Chúng tôi lịch sự, ân cần với nhau và khá ngượng ngùng. Kuno là hình mẫu của sự quan tâm kín đáo. Tự tay ông ta xếp hành lý cho tôi lên giá, chạy ra phút cuối chỉ để mua tạp chí cho tôi, đặt ra hàng loạt câu hỏi vòng vo để biết tôi thích ngủ ở tầng trên hơn tầng dưới, và thoái lui ra hành lang đợi cho tới khi tôi cởi xong đồ. Khi tôi chán đọc sách thì ông ta ở đó, thân thiện và hiểu biết, chực chờ để nói cho tôi nghe tên của những ngọn núi. Chúng tôi trò chuyện rôm rả cứ năm phút một rồi lại đột ngột rơi vào sự im lặng mơ hồ. Cả hai đều có nhiều điều phải nghĩ ngợi. Kuno, tôi đồ rằng, đang lo lắng về chính trường rối loạn ở nước Đức hoặc đang mơ mộng tới hòn đảo với bảy cậu trai; còn tôi đã có dịp rà soát lại vụ Margot khó nhằn kia. Ông ta có thực sự tồn tại? Dù gì, ngay trên đầu tôi là một chiếc va-li da lợn mới toanh, bên trong có chiếc áo vét dạ tiệc được thợ may chuyển tới chỉ một ngày trước. Arthur đã rất rộng rãi với khoản tiền của người thuê chúng tôi. “Hãy mua thứ gì cậu muốn, chàng trai. Tôi sẽ không bao giờ để cậu lôi thôi cả. Vả lại, đây cũng là cơ hội…” Sau hồi lâu ngần ngại, tôi đã bán tín bán nghi nghe theo lời khuyên của ông, mặc dù không tới mức liều lĩnh như ông hối thúc. Arthur thậm chí còn đi quá xa khi diễn giải cụm từ “chi phí đi lại” thành đôi khuy măng-sét bằng vàng, đồng hồ đeo tay và một cây bút máy cho tôi. “Suy cho cùng, William ạ, làm ăn là làm ăn. Cậu không biết mấy người này như tôi đâu.” Giọng điệu của ông, khi nói về Margot, trở nên thực cay đắng: “Nếu cậu nhờ ông ta làm bất cứ điều gì cho cậu thì ông ta sẽ chẳng ngại ngần mà vắt kiệt cậu cho đến đồng xu cuối cùng.”

Vào ngày Tặng quà, buổi sáng đầu tiên của chúng tôi, tôi thức dậy bởi tiếng chuông xe trượt leng keng vọng lên từ con phố đầy tuyết bên dưới, và tiếng lạch cạch đáng ngờ, cũng có âm sắc kim loại, vang lên từ phòng tắm. Từ cánh cửa mở hé có thể nhìn thấy Kuno trong chiếc quần cộc thể thao, đang tập với máy giãn nở ngực. Ông ta đang kéo căng hết sức; các mạch máu ở cổ ông ta lồi lên, lỗ mũi thì hỉnh lên và cứng lại theo từng nỗ lực tuyệt vọng. Rõ ràng là ông ta không ý thức được mình đang không ở một mình. Đôi mắt ông ta, thiếu chiếc mắt kính, cố định trong ánh nhìn trừng trừng vào một điểm ngắm gần, cho thấy ông ta đang nhập tâm vào một nghi lễ tôn giáo riêng tư. Nói chuyện với ông ta lúc này có lẽ sẽ là một sự xâm phạm tương đương với việc quấy rầy một người đang cầu nguyện. Tôi trở mình và vờ như đang ngủ. Một lúc sau, tôi nghe tiếng cửa phòng tắm khẽ đóng lại.

Phòng của chúng tôi ở tầng một khách sạn, nhìn ra những ngôi nhà trong làng rải rác dọc hồ nước bị đóng băng, dẫn tới những sườn trượt tuyết lấp lánh, hùng vĩ và trơn mượt hệt như một cơ thể khổng lồ nằm dưới lớp chăn, bị cắt xẻ bởi mạng lưới dây cáp màu đen vươn ra điểm xuất phát của các xe trượt. Đó dường như là một bối cảnh kì lạ cho một vụ giao dịch quốc tế. Nhưng Arthur đã đúng khi nói tôi chẳng biết gì về cách làm ăn của các nhà tài phiệt. Tôi chậm rãi mặc quần áo, nghĩ về vị chủ tiệc vô hình. Liệu Margot đã đến đây chưa? Khách sạn đã kín chỗ, viên quản lý nói với chúng tôi vậy. Tối qua, khi lướt nhìn các vị khách trong phòng ăn rộng rãi, tôi nghĩ cũng phải vài trăm người nghỉ ở đây.

Kuno cùng ăn sáng với tôi. Ông ta ăn vận thường phục nhưng cầu kì với quần dài vải flanel màu xám, áo vét và một chiếc khăn lụa thắt nút màu biểu trưng của trường đại học Oxford của ông ta.

“Cậu ngủ ngon chứ?”

“Rất ngon, cảm ơn ngài. Ngài thì sao?”

“Tôi thì không ngon lắm.” Ông ta mỉm cười, đỏ mặt, hơi xấu hổ. “Không vấn đề gì. Buổi tối tôi có đọc một chút, cậu có biết không nhỉ?”

Ngượng ngùng, ông ta cho tôi nhìn tựa đề cuốn sách mình đang cầm trên tay. Đó là Billy Trên Hoang Đảo.

“Có hay không vậy?” Tôi hỏi.

“Tôi thấy có một chương rất hay…”

Tôi chưa kịp nghe về nội dung của chương rất hay ấy thì người bồi bàn xuất hiện với bữa sáng của chúng tôi đặt trên một chiếc xe đẩy nhỏ. Chúng tôi lại quay về cách hành xử tuần trăng mật thận trọng của mình.

“Tôi có thể mời cậu chút kem chứ?”

“Chỉ một chút thôi.”

“Như thế này đúng kiểu cậu thích chứ?”

“Cảm ơn ngài, rất ngon.”

Giọng nói của chúng tôi nghe lố bịch đến độ tôi có thể bò ra cười. Chúng tôi như hai nhân vật không quan trọng trong màn đầu của một vở kịch, được đặt vào để đối thoại câu giờ cho diễn viên chính xuất hiện.

Đến khi chúng tôi ăn sáng xong thì những sườn núi trắng khổng lồ kia đã lố nhố những dáng hình bé xíu, một số đang bay là là hay đi chéo giống các con chuồn chuồn, số khác loạng choạng và ngã sụp xuống như những con kiến bị thương. Trên hồ, cả tá người đang trượt băng. Trong một vòng vây được chăng dây, một người dẻo như bún mặc quần bó đen đang diễn xiếc trước đám đông khán giả chăm chú. Đeo ba-lô, đội mũ bảo hiểm và đi ủng, mấy người khách tích cực bắt đầu hành trình du ngoạn dài và nguy hiểm ở các đỉnh cao hơn, giống như các chiến sĩ từ một trại lính xa hoa. Đâu đó, giữa quân đoàn vĩ đại ấy, là những thương binh, tập tễnh chống gậy hoặc tay bó bột, đang trong hành trình hồi phục đau đớn.

Chăm chú hơn bao giờ hết, Kuno nghiễm nhiên cho rằng ông ta phải dạy tôi trượt tuyết. Tôi thì lại thích tự đi loanh quanh hơn, nhưng những nỗ lực từ chối lịch sự của tôi đều vô ích. Ông ta coi đó là trách nhiệm của mình; không có gì phải bàn thêm. Thế là chúng tôi dành hai tiếng mướt mải mồ hôi trên sườn trượt cho kẻ nhập môn; tôi lướt đi và lộn nhào, Kuno mắng mỏ và động viên. “Không, thứ lỗi cho tôi, lại không đúng rồi… cậu gồng người quá, cậu hiểu không?” Sự nhẫn nại của ông ta thật phi thường. Tôi mong mỏi tới bữa trưa.

Khoảng giữa buổi sáng, một thanh niên lượn vòng thật điệu nghệ giữa đám chập chững chúng tôi. Cậu ta dừng lại quan sát chúng tôi; có lẽ sự vụng về của tôi khiến cậu ta hứng thú. Sự có mặt của cậu ta khiến tôi khó chịu; tôi không muốn có khán giả. Nửa tai nạn, nửa cố tình, tôi đã làm một cú lượn trúng cậu ta khi cậu ta ít ngờ tới nhất và xô cậu ta ngã nhào. Chúng tôi xin lỗi nhau rối rít. Cậu ta giúp tôi đứng lên và thậm chí còn dùng tay phủi bớt tuyết trên người tôi nữa.

“Cho phép tôi… Van Hoorn.”

Cái cúi chào, cái ván trượt và mọi thứ khác của cậu ta đơ cứng tới mức như thể cậu ta đang thách thức tôi đấu tay đôi.

“Bradshaw… Rất hân hạnh.”

Tôi cố gắng nhại lại và ngay lập tức ngã cắm mặt xuống đất, lần này được Kuno đỡ. Có phần kém trang trọng hơn, tôi giới thiệu hai người bọn họ.

Sau vụ này, tôi thở phào khi cơn hứng thú dạy dỗ tôi của Kuno đã giảm đi đáng kể. Van Hoorn là một chàng trai cao lớn, trắng trẻo, đẹp trai kiểu Viking bạo liệt, mặc dù cậu ta đã tự làm hỏng dung mạo của mình bằng cách cạo hết tóc. Cái đầu trọc hếu của cậu ta bị cháy nắng đỏ gắt. Cậu ta kể với chúng tôi rằng mình đã học ba kì ở Đại học Hamburg. Cậu ta ngượng ngùng dữ dội và đỏ lựng lên mỗi khi Kuno, với nụ cười phỉnh nịnh ý tứ, nói chuyện với mình.

Van Hoorn có thể làm một cú xoay khiến Kuno hào hứng cực độ. Họ rời đi một quãng để minh họa và thực hành. Hiện đã đến bữa trưa. Trên đường đi xuống khách sạn, anh chàng giới thiệu với chúng tôi chú của cậu ta, một người Hà Lan nhỏ, mập, vui vẻ, đang tạc tượng trên băng rất điệu nghệ. Ngài van Hoorn lớn tuổi kia tương phản hoàn toàn với cậu cháu trai nghiêm nghị. Đôi mắt ông lấp lánh tươi vui, ông có vẻ hớn hở làm quen với chúng tôi. Gương mặt ông sạm nâu như chiếc ủng cũ và bị hói khá nặng. Ông để râu quai nón và chỏm râu nhọn hoắt.

“Vậy là cháu đã kiếm được bạn rồi cơ đấy?” Ông nói với cậu cháu trai bằng tiếng Đức. “Đúng thế.” Đôi mắt lấp lánh của ông nhìn Kuno và tôi. “Tôi đã bảo Piet là nó phải đi làm quen với một cô gái xinh đẹp, nhưng mà nó không chịu; nó nhát quá. Hồi bằng tuổi nó, tôi đâu có thế đâu.”

Piet van Hoorn đỏ mặt, cau mày và quay đi, từ chối đáp lại cái nhìn thông cảm ý nhị của Kuno. Ông van Hoorn vẫn nói chuyện với tôi khi đang gỡ giày trượt.

“Cậu thích ở đây chứ? Tôi cũng thế! Đã lâu lắm rồi tôi không vui vẻ như thế này. Tôi cá là mình đã giảm được ba, bốn cân rồi ấy. Ôi chà, sáng nay tôi cảm thấy mình mới chỉ hai mươi mốt.”

Khi chúng tôi bước vào phòng ăn, Kuno đã đề nghị chú cháu nhà van Hoorn tới ngồi cùng bàn; ông ta liếc nhìn Piet đầy ẩn ý khi nói. Tôi cảm thấy khá sượng sùng. Kuno rõ ràng là hơi sỗ sàng. Nhưng ông van Hoorn lại đồng ý ngay tắp lự, vô cùng hồ hởi. Có vẻ như ông chả thấy lời đề nghị đó có gì kì cục. Có thể ông thấy vui khi có thêm người nói chuyện.

Trong bữa trưa, Kuno gần như hoàn toàn chú tâm vào Piet. Dường như ông ta đã rã băng thành công chút đỉnh, bởi vài lần chàng trai bật cười. Van Hoorn, trong lúc đó, lại rót vào tai tôi một chuỗi những câu chuyện hài bậy bạ cũ rích. Ông thấy đặc biệt khoái trá và vui thích. Tôi chả nghe gì mấy. Sự ấm áp của phòng ăn làm tôi thấy buồn ngủ, sau khi vừa trải qua bầu không khí lạnh như cắt ở bên ngoài; sau những tán cọ, ban nhạc đang chơi bản nhạc mơ màng. Thức ăn ngon miệng; hiếm khi tôi được ăn một bữa trưa như thế. Và trong suốt thời gian ấy, tôi phấp phỏng tự hỏi Margot ở đâu, ông ta sẽ xuất hiện khi nào và như thế nào.

Trong lúc tôi mơ mơ màng màng thì mấy câu tiếng Pháp xâm nhập vào não bộ tôi mỗi lúc một nhiều. Tôi chỉ có thể hiểu được lõm bõm vài ba từ: “thú vị”, “gợi mở”, “cực kì điển hình.” Chính giọng nói khiến tôi chú ý. Nó vang lên từ chiếc bàn cạnh chúng tôi. Tôi uể oải quay đầu.

Một người đàn ông trung tuổi, cao lớn đang ngồi đối diện một cô gái tóc vàng xinh đẹp lạ thường, đúng kiểu Paris. Cả hai bọn họ đều đang nhìn về phía chúng tôi và rõ ràng đang nói về chúng tôi, bằng giọng hết mực ghìm nén. Người đàn ông có vẻ đặc biệt hứng thú. Ông ta có cái đầu hói hình quả trứng; đôi mắt nghiêm nghị, tròn, cứng rắn và vô cùng quyền uy; mái tóc vàng nhạt chải quanh sọ giống như một đôi cánh khép lại. Giọng ông ta rung và khàn. Ngoại hình của ông ta toát ra vẻ gì đó khó chịu và xấu xa không tả nổi. Tôi cảm thấy cơn rùng mình bí ẩn đang chạy dọc hệ thần kinh; đối kháng, bất an, chờ đợi. Tôi liếc nhanh những người khác; nhưng không, dường như họ hoàn toàn không ý thức được sự dò xét hồ nghi, không che giấu của người lạ kia. Kuno đang cúi người nói chuyện với Piet: ám muội, âu yếm và ngọt ngào. Ông van Hoorn cuối cùng cũng ngừng nói chuyện và đang tập trung vào miếng bít tết. Ông nhét khăn ăn vào cổ áo và nhai theo kiểu không cần quan tâm tới vết nước sốt giây trên chiếc áo gi-lê. Tôi tin là mình đã nghe thấy những người Pháp bàn bên nói từ “kinh tởm”.

Tôi thường xuyên hình dung dáng vẻ của Margot. Tôi đã tưởng tượng ông ta béo hơn, già hơn, và dung tục hơn. Hóa ra hình dung của tôi thật quá tầm thường; tôi đã không nghĩ về thứ gì thật nguyên bản, thật thuyết phục, đập thẳng vào mắt như thế này. Trực giác không thể sai được. Tôi chắc chắn về nhân dạng của ông ta như thể đã biết ông ta từ lâu.

Đó là một khoảnh khắc rùng mình. Hối tiếc duy nhất của tôi là không có ai để chĩa sẻ sự hứng khởi này. Arthur chắc hẳn sẽ thích thú lắm! Tôi có thể hình dung ra sự kích động vui sướng không che giấu nổi của ông; những dấu hiệu riêng của ông mà ai cũng có thể nhìn ra; những nỗ lực gượng gạo lố bịch của ông nhằm che giấu điều bí ẩn bằng cách bông đùa tếu táo. Suy nghĩ về chúng khiến tôi muốn phá lên cười lớn tiếng. Tôi không dám liều liếc những người bàn bên thêm lần nữa, phòng khi họ có thể nhìn thấy từ mặt tôi những gì tôi biết. Rất lâu trước đó, tôi đã quyết định rằng ở bất kì giai đoạn nào trong nhiệm vụ này, tôi sẽ không bao giờ để lộ hành vi đồng lõa của mình dù chỉ là cái chớp mắt. Margot đã giữ lời trong vụ mặc cả; giờ đây tôi cũng sẽ cho ông ta thấy tôi có thể tin tưởng được và kín mồm kín miệng.

Ông ta sẽ tiến công như thế nào đây? Đây thực sự là một câu hỏi lý thú. Tôi cố đặt mình vào vị trí của ông ta; bắt đầu hình dung những âm mưu tinh vi ngông cuồng nhất. Có lẽ ông ta, hoặc cô gái kia, sẽ móc túi Kuno và sau đó giới thiệu bản thân, vờ như đã tìm thấy cuốn sổ của Kuno trên sàn. Có lẽ một đêm sẽ có chuông báo cháy. Margot sẽ thả bom khói vào phòng ngủ của Kuno rồi nhanh chóng lao vào cứu ông ta khỏi đám khói. Dường như với tôi rõ ràng là họ sẽ làm điều gì đó rất kịch tính. Margot trông không giống người thích làm nửa vời. Tới giờ họ đang mưu đồ điều gì? Tôi không thể nghe thấy tiếng họ nữa. Vờ vụng về đánh rơi khăn ăn xuống sàn, tôi cúi xuống để nhặt khăn và lén nhìn, chỉ để thất vọng phát hiện ra rằng hai người bọn họ đã rời phòng ăn. Tôi chán nản, nhưng nghĩ lại thì không quá ngạc nhiên. Đây đơn thuần là một cuộc thăm dò. Margot có lẽ sẽ chẳng làm gì trước buổi tối nay.

Sau bữa trưa, Kuno chân thành khuyên tôi đi nghỉ. Ông ta giải thích, mới tập thì đừng nên bắt bản thân cố quá sức trong ngày đầu. Tôi đồng ý, thấy hơi lạ. Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng ông ta hẹn Piet van Hoorn đi ra ngoài xe trượt băng. Ông van Hoorn đã về phòng.

Vào giờ uống trà, có khiêu vũ ở phòng giải trí. Piet và Kuno không xuất hiện; may quá, cả ông van Hoorn cũng thế. Tôi khá vui vẻ một mình, quan sát khách khứa. Lúc này, Margot đích thân bước vào. Ông ta ngồi xuống phía đối diện bậc thềm kính lớn, chỉ cách bàn tôi vài thước. Lén liếc về phía ấy, tôi bắt gặp ánh mắt ông ta. Chúng lạnh lẽo, uy quyền, và tọc mạch một cách sống sượng. Tim tôi đập rộn lên bất an. Tình hình đang ngày càng quái đản. Vậy là tôi sẽ phải bước qua để nói chuyện với ông ta sao? Suy cho cùng, tôi có thể đỡ cho ông ta cả đống phiền phức. Tôi chỉ việc giới thiệu ông ta là người quen của mình, tình cờ gặp nhau ở đây. Chẳng có lý do gì để Kuno nghi ngờ rằng đây là chuyện sắp đặt. Tại sao chúng tôi lại cứ phải vờ diễn vở kịch có phần ám muội như vậy? Tôi ngần ngừ, nhấp nhổm. Lần thứ hai ánh mắt tôi chạm ánh mắt ông ta. Và giờ thì dường như tôi hiểu được ông ta một cách rõ ràng. “Đừng có ngốc như thế,” ông ta đang nói. “Cứ để việc này cho tôi. Đừng cố nhúng mũi vào những thứ cậu không hiểu.”

“Được thôi,” tôi đáp trả ông ta trong tâm trí, khẽ nhún vai. “Cứ làm như ông muốn. Là chuyện riêng của ông mà.”

Cảm thấy khá hằn học, tôi đứng dậy và bước ra khỏi phòng trà; tôi không thể chịu nổi màn đối đáp ngoại cảm câm lặng này hơn nữa.

Bữa tối hôm đó, cả Kuno và ông van Hoorn, theo cách riêng của mình, rất cao hứng. Piet trông chán chường. Có lẽ cậu ta, y như tôi, thấy lễ phục của mình cứng và khó chịu. Nếu là thế thì cậu ta có sự cảm thông chân thành nơi tôi. Ông chú cậu ta phàn nàn liên tục về việc cậu ta câm như hến, còn tôi thì chiêm nghiệm mình sẽ ghét đi du lịch cùng ông van Hoorn tới mức nào.

Chúng tôi sắp ăn xong thì Margot và người bạn đồng hành của ông ta tiến vào phòng. Ngay lập tức tôi nhìn thấy bọn họ, vì trong tiềm thức tôi đã luôn để mắt tới cửa ra vào kể từ khi chúng tôi ngồi vào bàn. Margot đang vận một chiếc áo đuôi tôm, có bông hoa gài ở khuyết áo. Cô gái ăn vận thật lộng lẫy, một thứ chất liệu óng ánh tỏa sáng tựa bộ giáp bạc. Họ đi dọc lối đi dài giữa các bàn trong vô vàn ánh mắt dõi theo.

“Nhìn kìa, Piet,” ông van Hoorn thốt lên, “có một cô gái xinh đẹp cho cháu kìa. Hãy mời cô ấy nhảy tối nay đi. Bố cô ấy sẽ không cắn cháu đâu.”

Để tới bàn của họ, Margot phải đi qua ghế của chúng tôi cách chừng mười xăng-ti-mét. Khi làm vậy, ông có hơi nghiêng đầu. Kuno, lịch thiệp hơn bao giờ hết, đáp lễ. Trong tích tắc, tôi nghĩ Margot sẽ tiếp tục tiến tới, kể cả chỉ là một câu nhận xét thông thường về thời tiết. Nhưng không. Hai người bọn họ vào chỗ. Gần như ngay lập tức, chúng tôi đứng dậy rời đi và uống cà phê trong phòng hút thuốc.

Tại đây, cuộc hội thoại của ông van Hoorn bất ngờ chuyển hướng. Như thể ông đã nhận ra rằng sự nhiệt tình và những câu chuyện đáng ngờ kia đã bão hòa. Khá đột ngột, ông bắt đầu nói về nghệ thuật. Ông có một ngôi nhà ở Paris, đầy ắp đồ nội thất cũ và các bản khắc a-xít. Mặc dù ông nói một cách khiêm nhường nhưng rất nhanh sau đó, ai cũng thấy ông ta là một chuyên gia. Kuno cực kì hứng thú. Piet vẫn thờ ơ. Tôi thấy cậu ta liên tục bồn chồn nhìn đồng hồ, kiểu như xem đã đến giờ đi ngủ chưa.

“Xin thứ lỗi, các quý ông.”

Giọng nói khàn khàn làm tất cả chúng tôi giật mình; không ai nhìn thấy Margot tiến tới. Ông ta đứng cao lớn bên chúng tôi, dáng hình tao nhã và kiêu ngạo, bàn tay vàng lấm tấm đồi mồi cầm điếu xì gà.

“Tôi cần hỏi chàng thanh niên này một câu.”

Cặp mắt lồi của ông ta dính chặt vào Piet như thể ông ta đang quan sát một con côn trùng bé nhỏ nào đó, khó có thể nhìn thấy nếu không dùng kính lúp. Chàng trai tội nghiệp lúng túng, bắt đầu toát mồ hôi. Về phần mình, tôi sửng sốt trước bước đi mới mẻ trong chiến lược của Margot tới mức tôi chỉ có thể nhìn chằm chằm vào ông ta và há hốc miệng. Ngay chính Margot rõ ràng cũng thích thú hiệu ứng tạo ra bởi sự xuất hiện kịch tính của mình. Đôi môi ông ta cong lên thành nụ cười thâm hiểm.

“Cậu thuộc chủng người Aryan thuần phải không?”

Và trước khi Piet đang sửng sốt kia kịp trả lời, ông ta nói thêm: “Tôi là Marcel Janin.”

Tôi không biết liệu những người khác có thực sự nghe nói về ông ta chưa, hay sự hứng thú lịch sự của họ chỉ đơn thuần là vờ vĩnh. Trước khi có chuyện này, tôi đã nghe tên ông ta khá nhiều. M. Janin là một trong những tác gia yêu thích của Fritz Wendel. Fritz đã có lần cho tôi mượn một cuốn sách của ông ta - Nụ hôn dưới mặt trời nửa đêm. Nó được viết theo phong cách Pháp thời thượng, nửa lãng mạn, nửa bút kí, và mô tả một cách sống động, đầy tính tưởng tượng về đời sống khiêu dâm của Hammerfest. Và có cả nửa tá cuốn khác, cũng nhục dục chẳng kém, đa dạng bối cảnh từ Santiago tới Thượng Hải. Kiểu khiêu dâm của M. Janin, nếu phán đoán từ quần áo của ông ta, có thể đã đánh trúng gu của công chúng. Ông ta vừa hoàn thành xong cuốn thứ tám, ông ta nói với chúng tôi: về những chuyện tình kì thú tại một khách sạn ở khu thể thao mùa đông. Do đó ông ta đến đây. Sau màn tự giới thiệu sống sượng, ông ta chứng tỏ mình là kẻ thân thiện bằng cách thết đãi chúng tôi một bài diễn thuyết về sự nghiệp, mục đích và phương pháp viết lách của mình, mà không cần được yêu cầu.

“Tôi viết nhanh lắm,” ông ta nói. “Với tôi, một cái liếc nhìn là đủ. Tôi không tin vào ấn tượng lần hai.”

Một vài ngày ở trên bờ trong hành trình bằng du thuyền đã giúp M. Janin có được ngữ liệu cho phần lớn tác phẩm của mình. Và giờ, Thụy Sĩ cũng thế. Tìm kiếm những thế giới mới để chinh phạt, ông đã để mắt tới động thái của Đảng Quốc xã. Ông ta và thư kí sẽ tới Munich vào ngày mai. “Chỉ trong một tuần thôi,” ông ta kết luận nguy hiểm, “tôi sẽ biết tất cả.”

Tôi tự hỏi thư kí của M. Janin (ông ta cứ nhắc đi nhắc lại chức danh này) sẽ đóng vai trò gì trong những nghiên cứu chớp nhoáng của ông. Có thể cô ta như một kiểu chất xúc tác tự nguyện và mạnh mẽ; trong những kết hợp nhất định cô ta sẽ đem lại kết quả chắc chắn. Có vẻ như chính cô ta là người đã phát hiện ra Piet. M. Janin, hăm hở hệt như tay thợ săn trong lãnh thổ xa lạ, và hớt hải tấn công. Tuy nhiên, có vẻ như ông ta cũng không thất vọng mấy khi phát hiện ra đây không phải là con mồi mình đang theo đuổi. Những nhận định chung của ông ta, vốn được hình thành từ trước đó để tiết kiệm thời gian, không dễ gì bị xô đổ. Người Hà Lan hay người Đức, tất cả đều cho vào máy xay được tất. Tôi ngờ là Piet sẽ xuất hiện trong cuốn sách mới, xúng xính trong chiếc áo nâu vay mượn. Một tay viết với kĩ thuật của M. Janin đâu thể để phí phạm thứ gì.

Một bí ẩn thế là được giải đáp, bí mật kia lại càng sâu sắc. Tôi trăn trở với nó suốt cả buổi tối. Nếu Margot không phải là Janin thì ông ta là ai? Có vẻ lạ lùng khi ông ta đã để phí hai mươi tư tiếng như thế này, sau khi sốt sắng kéo Kuno tới đây. Ngày mai, tôi nghĩ, ông ta chắc chắn sẽ xuất hiện. Dòng suy nghĩ của tôi bị ngắt quãng khi Kuno gõ cửa để hỏi liệu tôi đã ngủ chưa. Ông ta muốn nói chuyện về Piet van Hoorn, và dù đã buồn ngủ, tôi vẫn không thể thô lỗ mà từ chối ông ta.

“Hãy nói cho tôi… Cậu có thấy cậu ta hơi giống Tony không?”

“Tony?” Tối nay tôi hơi bị trì độn. “Tony nào?”

Kuno nhìn tôi hơi trách móc.

“Sao cơ, xin lỗi… Ý tôi là Tony trong cuốn sách ấy.”

Tôi mỉm cười.

“Ngài nghĩ là Tony giống Piet hơn là giống Heinz?”

“Ôi, đúng vậy,” Kuno rất quả quyết về điểm này. “Giống hơn nhiều.”

Thế là Heinz tội nghiệp đã bị trục xuất khỏi hòn đảo. Miễn cưỡng đồng ý điều này, chúng tôi chúc nhau ngủ ngon.

Sáng hôm sau tôi quyết định tự mình điều tra. Trong khi Kuno ở phòng trà nói chuyện với nhà van Hoorn thì tôi đi nói chuyện với nhân viên khuân đồ ở sảnh. Ôi vâng, cậu ta trấn an tôi dạo này ở đây có vô khối thương nhân đến từ Paris; một vài người quan trọng lắm.

“Ví dụ như M. Bernstein này, chủ nhà máy. Ông ấy sở hữu hàng triệu ấy… Nhìn kìa thưa ngài, ông ấy ở đằng kia, cạnh bàn.”

Tôi chỉ kịp nhìn thấy một người đàn ông béo, da ngăm, gương mặt như đứa trẻ đang dỗi hờn. Tôi chưa từng nhận ra người này ở gần chỗ chúng tôi. Ông ta đi qua cửa để vào phòng hút thuốc, tay cầm cả tập thư từ.

“Có phải ông ấy sở hữu nhà máy thủy tinh không?” Tôi hỏi.

“Tôi chắc là không thể trả lời được, thưa ngài. Mà như thế thì tôi cũng không lạ. Người ta nói thứ gì ông ấy cũng làm…”

Ngày trôi đi mà không thêm chút tiến triển. Vào buổi chiều, ông van Hoorn cuối cùng cũng ép được cậu cháu ngượng ngùng hộ tống mấy cô gái Ba Lan sôi nổi. Bọn họ cùng nhau đi trượt tuyết. Kuno rõ là không vui vẻ nhưng ông ta chấp nhận tình hình với sự trang nhã thường thấy. Ông ta có vẻ đã quen với kiểu của ông van Hoorn. Hai người bọn họ ở trong khách sạn cả buổi chiều.

Sau bữa trà, khi đang rời khỏi phòng giải trí, chúng tôi mặt đối mặt với M. Bernstein. Ông ta đi qua chúng tôi không đoái hoài.

Đêm đó khi nằm trên giường, suýt chút nữa tôi đã đi tới kết luận rằng Margot chắc chắn là sản phẩm tưởng tượng của Arthur. Vì mục đích gì mà ông ta được tạo ra thì tôi không tài nào lý giải nổi. Mà tôi cũng không quan tâm. Ở đây rất dễ chịu. Tôi đang tận hưởng; một, hai ngày tới tôi sẽ học trượt tuyết. Tôi sẽ vui chơi thả ga ở đây, tôi quyết định thế; và theo lời khuyên của Arthur, quên đi lý do vì sao tôi đến. Còn về Kuno, nỗi sợ của tôi đã được hóa giải. Ông ta chẳng hề bị lừa mất một xu. Thế thì còn gì mà phải lo lắng nữa chứ?

Vào chiều ngày thứ ba của chuyến đi, Piet tự đề xuất rằng tôi và cậu ta nên đi trượt băng riêng trên hồ. Tôi đã nhận ra trong bữa trưa, anh chàng tội nghiệp sắp đến độ bùng phát. Cậu ta đã chán ngấy ông chú, chán ngấy Kuno và chán ngấy mấy cô nàng Ba Lan; cậu ta cần phải trút giận sang ai đó, và trong cả một đám người tồi tệ, tôi có vẻ là kẻ đở vô duyên nhất. Chúng tôi vừa mới ra sân băng thì cậu ta đã bắt đầu: Không thể tưởng tượng nổi là cậu ta lại có thể nói lắm và nói hăng say đến vậy.

Tôi nghĩ gì về nơi này ạ, cậu ta hỏi. Chẳng phải tất cả những thứ xa xỉ này thật bệnh hoạn sao? Còn những con người này? Chẳng phải họ quá ngu muội và đáng tởm sao? Làm sao họ có thể cư xử như thế, khi mà châu Âu đang trong tình trạng như thế này? Chẳng nhẽ họ không có chút phép tắc nào sao? Chẳng lẽ họ không còn tự tôn dân tộc, chịu sống chung với đám người Do Thái đang hủy hoại đất nước họ hay sao? Chính tôi cảm thấy như thế nào về tình hình ấy?

“Chú của cậu nói gì về điều đó?” Tôi hỏi ngược lại để tránh phải trả lời.

Piet nhún vai giận dữ.

“Ôi trời, chú tôi… Ông ấy có hứng thú gì với chính trị đâu cơ chứ. Ông ấy chỉ lo cho mấy bức tranh cũ rỉn của mình. Ông ấy giống người Pháp hơn là người Hà Lan, bố tôi bảo thế.”

Công cuộc học hành ở Đức đã biến Piet thành một tên Phát xít đầy nhiệt huyết. Hóa ra, trực giác của M. Janin lại không quá sai. Tay thanh niên này còn nâu hơn cả đám áo nâu kia.

“Thứ mà đất nước tôi cần là một người như Hitler. Một thủ lĩnh thực sự. Một dân tộc mà không có tham vọng thì không đáng tồn tại.” Cậu ta quay gương mặt đẹp trai, không chút hài hước sang và nhìn tôi lạnh lùng. “Anh, với Đế quốc của anh, anh phải hiểu điều đó.”

Nhưng tôi từ chối bị cuốn theo.

“Cậu có thường đi du lịch với chú mình không?” Tôi hỏi.

“Không. Thực ra tôi cũng ngạc nhiên khi ông ấy rủ tôi đi cùng tới đây. Cũng gấp nữa; chỉ một tuần trước. Nhưng tôi thích trượt tuyết, vả lại tôi nghĩ khung cảnh sẽ khá nguyên sơ và đơn giản, giống như chuyến đi của tôi và mấy sinh viên vào dịp Giáng sinh năm ngoái. Chúng tôi đến Riesengebirge. Mỗi sáng, chúng tôi đã tắm rửa bằng cả xô tuyết. Con người phải biết cách tôi luyện cơ thể. Kỉ luật là thứ quan trọng nhất ở thời buổi này…”

“Cậu đến đây hôm nào?” Tôi ngắt lời.

“Để xem nào. Chắc là một ngày trước anh.” Một suy nghĩ đột nhiên lóe lên trong đầu Piet. Cậu ta trở nên nhân từ hơn. Thậm chí còn mỉm cười. “Nhân tiện, có một chuyện buồn cười mà tôi suýt nữa đã quên mất… Chú tôi rất muốn biết về anh.”

“Về tôi?”

“Đúng thế…” Piet bật cười và đỏ mặt. “Thực ra, ông ấy bảo tôi cố tìm hiểu xem anh là ai.”

“Ông ấy làm thế?”

“Ông ấy cứ nghĩ anh là con trai của một người bạn: một người Anh. Nhưng ông ấy chỉ gặp cậu con trai đó có một lần, lâu lắm rồi, và ông ấy không dám chắc. Ông ấy sợ là, nếu anh gặp ông ấy và ông ấy không nhận ra anh thì anh sẽ không vui.”

“À, vậy là tôi đã giúp anh làm quen tôi phải không?”

Cả hai chúng tôi đều bật cười.

“Phải, đúng thế.”

“Ha, ha! Thật buồn cười!”

“Đúng thế phải không? Thực sự rất buồn cười.”

Khi quay về khách sạn để uống trà, chúng tôi gặp chút khó khăn khi đi tìm Kuno và ông van Hoorn. Họ đang ngồi cùng nhau ở một góc xa trong phòng hút thuốc, cách xa các vị khách khác. Ông van Hoorn không còn cười lớn tiếng nữa; ông ta nói khẽ và nghiêm túc, mắt nhìn Kuno. Còn bản thân Kuno thì trang nghiêm hệt một vị thẩm phán. Tôi có ấn tượng rằng ông ta vô cùng khó chịu và bối rối bởi chủ đề cuộc đối thoại. Nhưng đây chỉ là ấn tượng mà thôi, lại còn là ấn tượng tạm thời. Ngay khi ông van Hoorn nhìn thấy tôi tiến lại gần, ông ta cười to và huých cùi chỏ vào Kuno như thể đang lên tới cao trào của một câu chuyện hài. Kuno cũng cười, nhưng không nhiệt tình bằng.

“Nào, nào!” Ông van Hoorn thốt lên. “Các cậu bé đây rồi! Đói mềm như những gã thợ săn, tôi chắc chắn thế! Còn chúng ta hai kẻ già nua này đã lãng phí cả một buổi chiều trốn trong nhà. Trời đất, đã muộn đến thế này rồi sao? Tôi muốn uống trà quá!”

“Có điện tín cho ngài ạ,” tiếng cậu nhân viên đưa tin vang lên, ngay phía sau lưng tôi. Tôi đứng dạt sang bên, nghĩ rằng cậu ta đang nói với một trong mấy người kia; nhưng không, cậu ta đưa chiếc khay bạc về phía tôi. Không hề nhầm lẫn. Trên phong bì, tôi đọc được tên mình.

“Aha!” Ông van Hoorn reo lên. “Người yêu cậu đang sốt ruột rồi. Cô ấy muốn cậu quay về với mình.”

Tôi xé bì thư, giở tờ giấy. Tin nhắn chỉ có bốn từ: về ngay lập tức.

Tôi đọc đi đọc lại mấy lần. Tôi mỉm cười. “Quả là,” tôi nói với ông van Hoorn, “ông đã đoán đúng. Cô ấy muốn thế thật.” Bức điện kí tên “Ludwig”.

« Lùi
Tiến »