Người Đàn Bà Bí Ẩn

Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 1
án mạng

“Giả sử anh bảo em rằng anh từng đứng mặt đối mặt với ông ta trên biên giới Pháp...” Paul Delroze nói.

Elisabeth ngước mắt lên nhìn anh với vẻ thích thú của một cô dâu đang nuốt lấy từng lời người nàng yêu thốt ra như một chủ đề kỳ diệu.

“Anh từng gặp Guillaume II [1] tại Pháp sao?” Cô hỏi.

“Chính xác, từng chi tiết đánh dấu cuộc gặp đó anh không bao giờ quên được. Nhưng chuyện ấy xảy ra đã lâu lắm rồi.”

Anh đang nói với vẻ nghiêm túc bất ngờ, như thể hồi ức ấy sống lại đã đánh thức những suy nghĩ đau đớn nhất trong tâm trí anh.

“Kể em nghe được không, Paul?” Elisabeth hỏi.

“Ừ, anh sẽ kể.” Anh đáp. “Bất luận thế nào, cho dù hồi ấy anh vẫn chỉ là một đứa nhóc, nhưng sự kiện ấy là một phần bi thảm trong cuộc đời anh đến nỗi anh sẽ phải kể em nghe toàn bộ câu chuyện.”

Tàu dừng bánh, cả hai xuống tàu tại Corvigny, ga cuối trên tuyến đường sắt địa phương, khởi đầu từ thành phố chính trong khu hành chính, chạy qua thung lũng Liseron và kết thúc, cách tiền tuyến mười lăm dặm, tại thành phố Lorraine nhỏ bé mà Vauban, như anh kể trong cuốn Hồi ký của mình, là nơi “vây bọc khắp xung quanh là những thành lũy hình bán nguyệt hoàn hảo bậc nhất có thể tưởng tượng được.”

Nhà ga chưng ra một khung cảnh nhộn nhịp khác thường. Có một số quân nhân, trong đó nhiều người là sĩ quan. Một đám đông hành khách - các thương nhân, nông dân, công nhân và du khách muốn đến các khu nghỉ dưỡng chăm sóc sức khỏe gần Corvigny - đứng giữa các chồng hành lý trên sân ga, đợi chờ chuyến tàu tiếp theo khởi hành tới ga đầu mối.

Hôm đó là ngày thứ Năm cuối cùng trong tháng Bảy, ngày thứ Năm trước cuộc tổng động viên quân đội Pháp. Elisabeth nép sát người vào chồng mình.

“Ôi, Paul.” Cô nói, run lên vì lo lắng. “Giá như đừng có chiến tranh!”

“Chiến tranh ư! Ý tưởng gì vậy!”

“Nhưng hãy nhìn tất cả những người đang bỏ đi này xem, tất cả những gia đình này đang chạy trốn khỏi tiền tuyến!”

“Điều này chẳng chứng minh được gì cả.”

“Không, nhưng giờ anh cứ đọc báo mà xem. Tin tức đáng ngại lắm. Đức đang chuẩn bị chiến tranh. Họ đã lên kế hoạch hết rồi... Ôi, Paul, nếu chúng mình bị chia cắt!... Em chẳng biết tin tức gì về anh hết... và anh có thể bị thương… và...”

Anh siết chặt tay cô. “Đừng sợ, Elisabeth. Sẽ không xảy ra chuyện đó đâu. Không thể có chiến tranh trừ phi bên nào đấy tuyên chiến. Kẻ nào mà lại vừa ngu xuẩn, vừa tàn ác đến nỗi làm một chuyện ghê tởm đến thế chứ?”

“Em không sợ.” Cô đáp. “Em chắc chắn nếu anh có đi thật, em sẽ phải kiên cường. Chỉ là... chỉ là với chúng mình chuyện này sẽ tồi tệ hơn với bất kỳ ai khác. Thử nghĩ xem, anh yêu, chúng mình vừa kết hôn sáng hôm nay!”

Nhắc đến đám cưới của họ mới vài tiếng trước, hàm chứa trong đó thật nhiều hứa hẹn niềm hạnh phúc sâu sắc và dài lâu, gương mặt quyến rũ của cô sáng bừng lên, dưới vầng hào quang của những lọn tóc vàng óng ả, kèm một nụ cười tràn đầy tin tưởng, rồi cô thì thầm: “Mới cưới sáng nay thôi, Paul!... Thế nên anh có thể hiểu là niềm hạnh phúc vô ngần ấy em vẫn chưa hưởng hết đâu.”

Giữa đám đông có sự dịch chuyển. Mọi người tập trung lại quanh chỗ cửa ra. Một viên sĩ quan cấp tướng, đi kèm là hai tay sĩ quan phụ tá, tiến vào sân ga, nơi có chiếc ô tô đang đợi chờ ông ta. Ban quân nhạc tấu lên những giai điệu, một tiểu đoàn bộ binh nhẹ hành quân trên đường. Tiếp theo là một nhóm mười sáu con ngựa do các pháo thủ cưỡi, kéo theo một khẩu đại pháo to tướng, mà bất chấp trọng lượng của giá pháo, trông nó lại có vẻ nhẹ nhàng, vì chiều dài ấn tượng của nòng pháo. Theo sau rốt là một đàn bò thiến.

Không thể tìm nổi một phu khuân vác, Paul đang đứng trên vỉa hè, xách hai cái túi du lịch thì một người đàn ông đi đôi ghệt da, mặc quần ống túm bằng vải nhung xanh và chiếc áo khoác săn bắn với hàng cúc áo bằng sừng tiến về phía anh và giơ mũ lên.

“Ngài Paul Delroze phải không?” Ông ta nói. “Tôi là quản gia của lâu đài.”

Ông ta có gương mặt rắn rỏi, cởi mở, làn da đen sạm vì phơi trần nắng gió lạnh lẽo, mái tóc đã ngả bạc với phong cách cục cằn, thô lỗ thường thấy ở những người hầu già nua của những gia đình mà ở đó họ được hưởng sự tự do nhất định. Ông ta đã sống mười bảy năm tại dinh thự rộng lớn ở Ornequin, trên Corvigny, phục vụ cha của Elisabeth, ngài Bá tước d’Andeville.

“Ô, vậy ra ông là Jérôme sao?” Paul thốt lên. “Tốt quá! Tôi chắc ông đã nhận được thư của ngài Bá tước d’Andeville. Những người hầu của chúng tôi đã đến chưa?”

“Sáng nay họ đã đến rồi, thưa ngài, ba người cả thảy; và họ đang giúp đỡ vợ chồng tôi dọn dẹp nhà cửa chuẩn bị sẵn sàng đón cậu chủ và phu nhân.”

Ông ta lại giơ mũ lên chào Elisabeth, cô nói: “Vậy là ông vẫn còn nhớ tôi à, Jérôme? Đã lâu lắm rồi kể từ khi tôi ở đây!”

“Tiểu thư Elisabeth hồi ấy mới bốn tuổi. Vợ chồng tôi đã thực sự rất đau buồn khi nghe tin cô sẽ không trở về nhà nữa... kể cả ngài Bá tước cũng không, bởi vì bà vợ tội nghiệp đã mất. Thế ngài Bá tước năm nay không muốn ghé thăm chúng tôi nữa ạ?”

“Không, Jérôme ạ, tôi không nghĩ vậy. Cho dù đã bao nhiêu năm qua rồi nhưng cha tôi vẫn buồn lắm.”

Jérôme cầm mấy cái túi chất lên chiếc xe độc mã ông ta đã đặt ở Corvigny. Hành lý nặng được chở trên chiếc xe bò đằng sau.

Hôm đó là một ngày đẹp trời, Paul bảo họ hạ mui xe xuống. Rồi anh cùng vợ trèo lên xe ngồi.

“Đi sẽ nhanh thôi.” Viên quản gia nói. “Chưa đến mười dặm. Nhưng đường nào thì cũng phải lên dốc.”

“Căn nhà có phù hợp để ở không?” Paul hỏi.

“Ôi, nó không giống một ngôi nhà từng được ở đâu ạ, rồi chính ngài sẽ thấy thôi. Chúng tôi đã cố gắng sửa sang tốt nhất có thể. Vợ tôi rất vui khi biết ngài cùng phu nhân sẽ tới! Chúng ta sẽ thấy bà ấy đang đứng chờ hai người dưới chân thềm. Tôi đã bảo với bà ấy rằng hai người sẽ về nhà vào khoảng từ sáu rưỡi đến bảy giờ...”

Cỗ xe độc mã phóng vút đi.

“Có vẻ ông ta là người đứng đắn.” Paul nói với Elisabeth. “Nhưng ông ta không có nhiều cơ hội được nói chuyện. Ông ta đang đền bù cho quãng thời gian đó.”

Con đường trèo lên con dốc đứng trên những quả đồi Corvigny, nằm giữa hai dãy cửa hàng, khách sạn và các tòa nhà, chúng tạo thành tuyến giao thông huyết mạch của thị trấn, ngày hôm nay tuyến đường này kẹt cứng vì lưu lượng giao thông không như ngày thường. Rồi cỗ xe xuống dốc chạy men theo các pháo đài cổ xưa của Vauban. Tiếp theo là con đường lồi lõm nhiều khúc quanh gắt cắt ngang một bình nguyên, cả hai bên trái phải được canh gác bởi hai pháo đài nổi tiếng với cái tên Petit và Grand Jonas.

Khi đi men theo con đường lộng gió này, nằm quanh co qua các cánh đồng yến mạch và lúa mì phía dưới mái vòm rậm lá trên đầu tạo thành từ các cây dương đan khít vào nhau, Paul Delroze trở lại với hồi ức tuổi thơ anh đã hứa sẽ kể cho Elisabeth nghe.

“Như anh đã nói, Elisabeth, sự kiện ấy gắn liền với một bi kịch khủng khiếp, gắn bó chặt chẽ tới nỗi chúng hợp lại thành một tập duy nhất trong hồi ức của anh. Hồi ấy bi kịch này được nhắc tới nhiều lắm; và cha em, một người bạn cũ của cha anh, em biết đấy, từng nghe nói về nó qua báo chí. Cái lý do tại sao ông cụ không kể cho em nghe, đó là chính anh đã đề nghị ông đừng kể, vì anh muốn mình là người đầu tiên kể cho em nghe những sự kiện... cực kỳ đau đớn với chính bản thân anh.”

Đôi bàn tay họ gặp nhau và đan vào nhau. Anh biết rằng từng lời anh nói ra sẽ có một người lắng nghe chăm chú; và sau một lúc im lặng, anh nói tiếp: “Cha anh từng là một trong số những người chiếm được sự cảm thông và thậm chí tình cảm của tất cả những ai quen biết họ. Ông là con người hào phóng, nhiệt tình, hấp dẫn và khiếu hài hước không bao giờ cạn, ông có niềm hứng thú nồng nàn với lý tưởng cao đẹp và bất kỳ phong cảnh đẹp đẽ nào, ông yêu mến và hưởng thụ cuộc sống một cách gấp gáp, vội vàng đến quá đáng. Năm 1870, ông tình nguyện đăng lính, được phong hàm đại úy trên chiến trường và nhận thấy sự tồn tại hào hùng của đời lính quá hợp với sở thích của mình, đến nỗi ông đăng lính lần thứ hai đến Bắc Kỳ, và lần thứ ba ông tham gia cuộc chinh phạt Madagascar... Trên chuyến trở về từ chiến dịch này, chiến dịch mà trong đó ông đã được thăng hàm đại tá và được nhận huân chương Bắc Đẩu bội tinh, ông đã kết hôn. Sáu năm sau ông ấy góa vợ.”

“Anh thật giống em, Paul.” Elisabeth nói. “Anh không có diễm phúc biết mẹ mình là ai.”

“Không, vì lúc ấy anh mới bốn tuổi thôi. Nhưng cha anh, đã rất đau khổ sau cái chết của mẹ anh, nên ông đã trao cho anh trọn tình thương. Đích thân ông là người dạy anh những chữ đầu tiên. Ông dành trọn tâm sức giáo dục thể chất hoàn hảo cho anh, biến anh thành anh chàng khỏe mạnh và can trường. Anh yêu ông bằng tất cả trái tim mình. Đến tận bây giờ anh luôn luôn nghĩ đến ông với niềm xúc động chân thành... Mười một tuổi, anh tháp tùng ông trong hành trình xuyên nước Pháp, chuyến đi ông đã trì hoãn suốt bao nhiêu năm chỉ vì muốn có anh cùng đi, khi anh ở cái tuổi có thể nhận thức được đầy đủ ý nghĩa của nó. Đó là một chuyến hành hương đến những nơi giống hệt nhau, dọc theo những con đường nơi ông đã đấu tranh trong suốt những tháng năm khủng khiếp.”

“Cha anh có tin vào khả năng xảy ra một cuộc chiến khác không?”

“Có, và ông muốn chuẩn bị cho anh đón nhận nó. “Paul này!” Ông nói. “Không nghi ngờ gì nữa, một ngày nào đó con sẽ phải đối mặt với chính kẻ thù mà cha đã từng chống lại. Kể từ lúc này đừng để tâm đến những lời nói về hòa bình con nghe được, mà hãy căm ghét kẻ thù kia bằng tất cả nỗi căm thù con có thể nghĩ đến. Người ta nói gì không cần biết, hắn chính là một kẻ man rợ, kiêu ngạo, tự phụ, là con thú săn mồi khát máu. Hắn từng nghiền nát chúng ta một lần và hắn vẫn chưa hài lòng cho đến khi nghiền nát chúng ta lần nữa, và lần này, là vĩnh viễn. Khi cái ngày ấy đến, Paul, hãy nhớ lại tất cả những cuộc hành trình cha con ta đã cùng đi với nhau. Những cuộc hành trình sau này con sẽ đi và sẽ ghi dấu rất nhiều những khoảnh khắc vinh quang, cha chắc chắn điều đó. Nhưng đừng bao giờ quên tên của tất cả những địa danh ấy, Paul; đừng bao giờ để men say chiến thắng của con xóa mờ những cái tên đau buồn và nhục nhã ấy của chúng: Froeschwiller, Mars-la-Tour, Saint-Privat và phần còn lại. Đừng quên đấy Paul, nhớ lấy!” Và rồi ông mỉm cười. “Nhưng sao cha phải buồn phiền chứ? Bản thân hắn, tên kẻ thù kia, việc của hắn là gieo rắc lòng căm thù trong trái tim những ai đã lãng quên hắn và những ai chưa từng gặp hắn. Hắn có thay đổi không? Không hề! Rồi con sẽ thấy, Paul, rồi con sẽ thấy. Chẳng điều gì cha nói với con bây giờ sánh được với thực tế kinh hoàng đâu. Chúng là những con quỷ!”.”

Paul Delroze ngừng lời. Vợ anh hỏi hơi rụt rè: “Anh có cho rằng cha anh hoàn toàn đúng không?”

“Có thể ông chịu ảnh hưởng của những kỷ niệm tàn nhẫn vẫn còn quá nóng hổi trong hồi ức của ông. Anh đã du lịch sang Đức kha khá lần, thậm chí còn từng sống tại đó, và anh tin rằng tư duy của quốc gia này đã thay đổi. Thế nên anh thừa nhận đôi khi anh thấy khó khăn trong việc thấu hiểu những lời nói của cha mình. Thế nhưng... thế nhưng chúng rất hay khiến anh thấy khó chịu. Và rồi chuyện xảy ra sau đó thật không thể lý giải nổi.”

Cỗ xe đã giảm tốc độ. Con đường hơi dốc lên những ngọn đồi nhô ra trên thung lũng Liseron. Mặt trời đang lặn xuống về phía Corvigny. Họ đi qua một chiếc xe ngựa chở khách, chất đầy các rương hòm, hai chiếc xe ô tô chật kín khách và hành lý. Một nhóm cảnh sát kỵ binh phi nước kiệu băng qua các cánh đồng.

“Cùng xuống xe đi bộ đi.” Paul Delroze nói.

Bằng chân trần, họ đi theo cỗ xe; Paul nói tiếp: “Phần còn lại của câu chuyện anh phải kể cho em nghe, Elisabeth, nổi bật lên trong hồi ức của anh với từng chi tiết rất chính xác, như thể xuất hiện từ một đám sương mù dày đặc mà anh chẳng thể nhìn thấy gì. Chẳng hạn, anh vừa biết rằng, sau giai đoạn ấy của cuộc hành trình, cha con anh sẽ đi từ Strasbourg đến khu Rừng Đen. Tại sao các kế hoạch của cha con anh thay đổi, anh không biết được... Anh có thể thấy chính mình có mặt tại nhà ga ở Strasbourg vào một buổi sáng, bước lên chuyến tàu hỏa đến Vosges... phải, đến Vosges... Cha anh vẫn đang đọc một lá thư mà ông vừa nhận được và dường như lá thư ấy khiến ông hài lòng. Lá thư có thể đã ảnh hưởng tới những thu xếp của ông, anh chẳng biết được. Cha con anh ăn trưa trên tàu. Có một cơn bão đang hoành hành, trời rất nóng nực và anh ngủ thiếp đi, thế nên tất cả những gì anh có thể nhớ được là tại một thành phố nhỏ nào đấy ở Đức, cha con anh đã thuê hai chiếc xe đạp và gửi lại mấy cái túi của mình ở phòng gửi đồ. Tất cả chuyện này rất mơ hồ trong tâm trí anh. Cha con anh đạp xe đi khắp vùng quê ấy.”

“Nhưng anh không nhớ vùng quê ấy trông như thế nào à?”

“Không, anh chỉ biết rằng bất ngờ cha anh nói: “Paul, chúng ta đang băng qua tiền tuyến rồi, giờ chúng ta đang ở Pháp.” Sau đó - anh không thể nói chắc được là bao nhiêu lâu - ông đã dừng lại hỏi đường một người nông dân, ông ta chỉ cho ông một con đường tắt xuyên qua rừng. Nhưng con đường và lối tắt ấy chẳng còn lưu lại gì trong tâm trí anh ngoài bóng tối mịt mùng nơi những suy nghĩ của anh bị chôn vùi... Thế rồi, hoàn toàn bất ngờ, bóng tối bỗng biến mất, với sự thẳng thắn đến kinh ngạc, anh trông thấy một đầm lầy trong khu rừng, những cái cây cao, rêu mốc mượt như nhung và một nhà thờ nhỏ. Rồi cơn mưa rơi xuống xối xả, dày hạt, cha anh nói: “Vào trú mưa đi Paul.” Ôi, sao anh lại nhớ giọng nói của ông và hình dung chính xác của anh về cái nhà thờ nhỏ ấy thế, với những bức tường xanh ngắt vì ẩm ướt! Cha con anh tìm chỗ trú mưa, cất hai cái xe đạp dưới mái hiện phía sau nhà thờ, nơi mái hiên nhô ra một chút phía trên gian dành cho ca đoàn. Đúng lúc ấy, âm thanh một cuộc trò chuyện vẳng đến tai cha con anh từ bên trong, và cha con anh nghe thấy tiếng rít lên kẽo kẹt của một cánh cửa mở ra ở góc phòng. Ai đó bước ra ngoài và nói, bằng tiếng Đức: “Không có ai ở đây hết. Ta hãy làm nhanh lên đi.” Đúng lúc ấy, bọn anh đang đi vòng quanh nhà thờ nhỏ, với ý định tiến vào trong bằng lối cửa bên, thế nên mới có chuyện cha anh, người đang đi trước dẫn đường, bỗng thấy mình đang nhìn người đàn ông vừa nói bằng tiếng Đức kia. Cả hai người họ cùng bước lùi lại, người xa lạ rõ ràng rất tức tối và cha anh cũng giật mình trước cuộc gặp gỡ bất ngờ. Trong một hay hai giây, có lẽ thế, hai bên đứng nhìn nhau mà không nhúc nhích. Anh nghe thấy cha anh nói, kèm theo hơi thở: “Không thể nào? Là Hoàng đế?” Đến chính anh cũng kinh ngạc trước những lời nói ấy. Không nghi ngờ gì nữa, vì anh đã thường xuyên được thấy chân dung của Nhà vua; người đàn ông đứng trước mặt cha con anh chính là Hoàng đế nước Đức.”

“Hoàng đế nước Đức?” Elisabeth hỏi lại. “Không phải chứ!”

“Đúng, Hoàng đế đang ở nước Pháp! Ông ta nhanh nhẹn cúi đầu xuống kéo cổ áo nhung trên chiếc áo choàng rộng, dài chấm đất của ông ta lên đến vành mũ, vốn đã kéo sụp xuống mắt. Ông ta nhìn về phía nhà thờ nhỏ. Một quý bà bước ra ngoài, theo sau là một người đàn ông mà anh chưa từng thấy, chắc là người hầu hay sao đó. Quý bà kia cao ráo, trông vẫn còn trẻ lắm, da sậm màu và khá dễ coi... Hoàng đế siết chặt cánh tay bà ta rất thô bạo, lôi đi xềnh xệch, miệng thốt ra những lời giận dữ mà cha con anh không nghe ra được. Họ đi đúng con đường mà cha con anh đã đi, lối dẫn đến tiền tuyến. Tay người hầu vội vã lẩn ngay vào rừng và cứ thế đi tiếp. “Đúng là một chuyến phiêu lưu thú vị.” Cha anh nói, phá lên cười. “Guillaume II đang làm cái quái gì ở đây thế nhỉ? Cũng dám mạo hiểm ra ngoài giữa thanh thiên bạch nhật! Cha tự hỏi nhà thờ này có gì thú vị về mặt nghệ thuật nhỉ? Vào xem thử nào Paul...” Cha con anh vào trong nhà thờ. Làn ánh sáng mờ mờ chiếu vào xuyên qua ô cửa sổ đen ngòm vì bụi và mạng nhện. Nhưng thứ ánh sáng này vẫn đủ soi cho cha con anh thấy mấy cái cột xấu xí, những bức tường tróc lở, dường như chẳng có cái quái gì nổi tiếng đến mức người hoàng gia phải đến thưởng lãm, như cha anh nêu rõ, rồi ông nói thêm: “Rõ ràng là Guillaume II đi dạo chơi qua đây, bất chấp nguy hiểm, và ông ta rất tức giận khi chuyến phiêu lưu này bị phát hiện. Cha đoán quý bà đi cùng ông ta bảo rằng không cần phải bỏ trốn như thế. Điều này giải thích được sự tức giận và những tiếng rủa của ông ta.”.”

Paul lại ngừng lời. Elisabeth rụt rè nép sát vào người anh.

Lúc này, anh nói tiếp: “Elisabeth, đúng là tò mò làm sao, khi tất cả những chi tiết vụn vặt mà một thằng nhóc ở tuổi anh thực sự chẳng quan tâm lại ghi rất sâu đậm trong tâm trí anh, trong khi rất nhiều thông tin khác quan trọng hơn nhiều thì anh lại chẳng nhớ gì. Tuy nhiên, anh đang kể em nghe tất cả những chuyện này như thể anh đang chính mắt nhìn thấy tất cả, như thể những câu nói vẫn đang văng vẳng trong tai anh. Và vào đúng lúc này, anh có thể trông thấy, rất rõ nét như khi anh trông thấy bà ta lúc cha con anh rời khỏi nhà thờ, người bạn đồng hành của Hoàng đế quay lại và đang băng qua đầm lầy với bước chân vội vã; anh có thể nghe thấy bà ta nói với cha anh: “Tôi có thể nhờ ngài giúp tôi một chuyện không, thưa ngài?” Bà ta vừa phải chạy nên đang thở hồng hộc, nhưng không đợi cha anh trả lời, bà ta lập tức nói thêm: “Quý ông ngài đã trông thấy muốn nói chuyện với ngài.” Câu này được nói ra bằng thứ tiếng Pháp hoàn hảo không hề có trọng âm... Cha anh ngần ngừ. Nhưng sự ngần ngừ này dường như khiến bà ta bị sốc như thể sự xúc phạm tồi tệ đối với người đã cử bà ta tới; bà ta liền nói tiếp, bằng giọng gấp gáp: “Chắc chắn ngài không định từ chối!” “Tại sao không?” Cha anh hỏi, hơi sốt ruột. “Tôi không phải đến đây để nhận lệnh.” Bà ta đứng thẳng người lên và nói. “Đó không phải là mệnh lệnh, mà là mong muốn.” “Rất tốt!” Cha anh nói. “Tôi sẽ đồng ý gặp gỡ. Tôi sẽ đợi bạn của bà tới đây.” Bà ta choáng váng. “Không, không!” Bà ta nói. “Ngài phải...” “Tôi phải đích thân đến trình diện đúng không?” Cha anh kêu lên, cao giọng. “Bà mong tôi băng qua tiền tuyến đến nơi kẻ nào đó đang hạ cố chờ tôi à? Tôi xin lỗi, thưa quý bà, nhưng tôi sẽ không cho phép điều đó. Về nói với bạn bà rằng nếu ông ta sợ tôi là kẻ thiếu thận trọng thì ông ta có thể yên tâm. Đi thôi, Paul!” Ông bỏ mũ ra rồi cúi chào quý bà. Nhưng bà ta chắn đường ông. “Không, không!” Bà ta nói. “Ngài phải làm việc tôi yêu cầu ngài. Lời hứa về sự thận trọng đáng giá đến nhường nào? Việc này phải được giải quyết bằng cách này hay cách khác, và chính ngài cũng sẽ thừa nhận...” Đó là những lời cuối cùng anh nghe được. Bà ta đang đứng trước mặt cha anh với thái độ mạnh mẽ và thù địch. Gương mặt bà ta biến dạng với biểu hiện hung dữ khiến anh khiếp sợ. Ôi, tại sao anh lại không đoán trước được chuyện sẽ xảy ra cơ chứ?... Nhưng anh hẵng còn quá nhỏ! Và mọi chuyện diễn ra quá nhanh!... Bà ta bước đến chỗ cha anh, và có thể nói là ép ông phải lùi đến một gốc cây to, phía bên phải nhà thờ. Họ cùng nhau nói lớn giọng. Bà ta phác một cử chỉ mang tính đe dọa. Còn ông bắt đầu cười. Thế rồi, bỗng ngay lập tức, bà ta rút phắt ra một con dao - giờ anh vẫn có thể trông thấy lưỡi dao, sáng lóe lên trong bóng tối - rồi đâm thẳng vào ngực ông, hai lần... hai lần, ngay đó, con dao cắm sâu vào ngực. Cha anh ngã gục xuống đất.”

Paul Delroze dừng lại, mặt tái nhợt vì hồi ức về tội ác.

“Ôi!” Elisabeth ấp úng. “Cha anh bị giết à?... Tội nghiệp Paul của em, tội nghiệp anh yêu của em!” Và bằng giọng đau đớn, cô hỏi: “Tiếp theo xảy ra chuyện gì hả Paul? Anh có khóc không?”

“Anh đã hét lên, anh lao về phía ông ấy, nhưng một bàn tay đã giữ chặt anh lại, không vùng ra được. Chính là người đàn ông đó, tay người hầu, kẻ đã phóng ra ngoài từ phía khu rừng và ôm chặt lấy anh. Anh trông thấy con dao của hắn giơ lên trên đầu mình. Anh cảm thấy một cú đấm mạnh khủng khiếp xuống vai mình. Rồi anh cũng gục xuống.”

« Lùi
Tiến »