Cỗ xe đứng chờ họ cách một quãng không xa. Họ ngồi xuống bên lề con đường dẫn lên mô đất cao trên dốc. Thung lũng xanh, nhấp nhô của Liseron mở ra trước mắt họ, với con sông hơi uốn khúc điểm xuyết thêm hai lối đi màu trắng cuốn theo từng khúc ngoặt của con sông. Sau lưng họ, dưới ánh hoàng hôn, cách khoảng gần một trăm mét phía dưới, là toàn cảnh Corvigny. Sừng sững trước mặt họ cách hai dặm là những tháp canh Ornequin và phế tích của một lâu đài cổ.
Khiếp đảm vì câu chuyện của Paul, Elisabeth im lặng một lúc lâu, rồi nói: “Ôi, Paul, tất cả chuyện này thật khủng khiếp làm sao! Anh đau đớn lắm phải không?”
“Anh chẳng thể nhớ được gì cho đến cái ngày khi anh thức dậy trong một căn phòng xa lạ, trông thấy một nữ tu và một quý bà cao tuổi, chị họ của cha anh, người đang chăm sóc cho anh. Đó là căn phòng đẹp nhất trong một quán trọ nằm đâu đó giữa Belfort và tiền tuyến. Mười hai ngày trước đó, lúc trời hẵng còn sớm lắm, chủ quán trọ phát hiện thấy hai xác chết, cả hai cái xác đều đẫm máu, được đặt ở đó suốt cả đêm. Một trong hai cái xác đã lạnh ngắt. Đó là xác người cha tội nghiệp của anh. Anh vẫn còn thở, nhưng rất khẽ... Anh trải qua quá trình hồi phục dài, bị ngắt quãng vì những lần tái phát và những cơn mê sảng, mà anh cố gắng đầy vất vả để thoát ra. Bà bác già của anh, người họ hàng duy nhất anh có, đã đối xử với anh bằng tình thương tuyệt vời và tận tụy nhất. Hai tháng sau bà đưa anh về nhà. Vết thương của anh đã gần như khỏi rồi, nhưng bị ảnh hưởng nặng nề từ cái chết của cha và những hoàn cảnh đáng sợ xung quanh nó nên phải mất vài năm sức khỏe của anh mới hoàn toàn bình phục. Còn về bản thân bi kịch đó...”
“Thì sao ạ?” Elisabeth hỏi, cô choàng tay ôm lấy cổ chồng, dường như muốn che chở cho anh.
“Họ chẳng bao giờ khám phá được bí ẩn này. Thế nhưng cảnh sát đã tiến hành các cuộc điều tra một cách sốt sắng và tỉ mỉ, cố gắng xác minh thông tin duy nhất mà họ có khả năng thu được, thông tin anh đã cung cấp cho họ. Nhưng tất cả nỗ lực của họ đều thất bại. Em biết đấy, thông tin của anh rất mơ hồ. Ngoài những gì đã xảy ra trong đầm lầy và phía trước nhà thờ nhỏ, anh chẳng biết gì cả. Anh không thể nói cho họ biết cái nhà thờ ấy ở đâu, hay nên đi tìm cái nhà thờ ấy ở chỗ nào, cũng như cái bi kịch ấy đã xảy ra ở nơi nào trong nước.”
“Nhưng dù sao, anh và cha anh, cũng đã đi cả một hành trình để tới được vùng đất đó trong nước, dường như em thấy bằng cách truy theo dấu con đường của anh từ lúc khởi hành từ Strasbourg...”
“Tất nhiên họ đã cố gắng hết sức bám theo tuyến đường đó; và cảnh sát Pháp, không hài lòng khi kêu gọi sự giúp đỡ của cảnh sát Đức, đã cử những thám tử sành sỏi nhất tới hiện trường. Nhưng chính chuyện xảy ra sau đó, khi anh đã ở cái tuổi biết suy nghĩ được mọi thứ, trở nên lạ lùng đến nỗi khiến anh kinh ngạc: Họ không tìm được một dấu vết nào cho thấy cha con anh lưu trú tại Strasbourg. Em có hiểu không? Không một dấu vết nào hết cả. Giờ đây nếu có một điều anh hoàn toàn chắc chắn về chuyện này, thì đó là cha con anh ít nhất đã nghỉ tại Strasbourg hai ngày hai đêm. Viên thẩm phán nắm vụ này, nhìn anh như một đứa trẻ con, lại còn bị hành hung, bị thương nặng và đang đau buồn, đã đi đến kết luận rằng trí nhớ của anh chắc là không chính xác. Nhưng anh biết không phải thế, hồi ấy anh biết và đến bây giờ anh vẫn biết như thế.”
“Thế rồi sao hả Paul?”
“Anh không thể không nhìn ra mối liên kết trong việc loại bỏ hoàn toàn những sự thật không thể chối cãi - những sự thật có thể dễ dàng được kiểm chứng hoặc tái tạo lại, như chuyến du lịch của hai cha con người Pháp đến Strasbourg, hành trình bằng xe lửa của họ, hành lý họ để lại trong phòng chứa đồ ở một thành phố tại Alsace, hai chiếc xe đạp họ đã thuê - và sự thật quan trọng, đó là tên Hoàng đế đã trực tiếp, đúng, trực tiếp có dính líu đến chuyện này.”
“Nhưng lão thẩm phán đó lẽ ra phải nhìn ra rõ ràng bằng chứng này như anh chứ, Paul?”
“Không nghi ngờ gì nữa, nhưng cả lão viên chức dự thẩm hay bất kỳ ai trong số đồng nghiệp của lão cũng như các viên chức khác tiếp nhận bằng chứng của anh đều không sẵn sàng thừa nhận tên Hoàng đế có mặt tại Alsace vào ngày hôm đó.”
“Tại sao không?”
“Bởi vì báo chí Đức tuyên bố rằng đúng vào giờ ấy lão đang ở Francfort [2] .”
“Ở Francfort ư?”
“Tất nhiên, lão được tuyên bố có mặt ở bất kỳ nơi nào mình muốn và không bao giờ ở cái nơi mà lão không muốn. Dù sao đi nữa, về chuyện này anh còn bị buộc tội đã phạm sai lầm và cuộc điều tra gặp phải cản trở vì sự kết hợp của những ngăn cản, những điều không thể xảy ra, những lời dối trá và những chứng cứ ngoại phạm, mà theo anh biết, đã cho thấy có sự nhúng tay của thẩm quyền vô hạn một cách liên tục và đầy quyền lực. Không còn lời giải thích nào khác nữa. Cứ nghĩ xem: Làm sao hai đối tượng người Pháp lại nghỉ ở một khách sạn tại Strasbourg nếu không ký tên trong số đăng ký của khách sạn? Chà, hoặc là vì cuốn sổ ấy đã bị tiêu hủy hoặc trang tài liệu ấy đã bị xé đi, không tìm thấy bất kỳ cái tên nào được ghi chép lại. Thế nên một bằng chứng, một đầu mối đã biến mất. Còn về tay Giám đốc khách sạn và các nhân viên bồi bàn, các viên thư ký đặt tàu và phu khuân vác, chủ nhân các xe đạp cho thuê: có quá nhiều cấp dưới, quá nhiều kẻ đồng lõa, tất cả những người này đều nhận được lệnh phải câm miệng; và không ai trong số họ dám kháng lệnh.”
“Paul, nhưng sau đó chắc anh phải tự tìm kiếm một mình chứ?”
“Anh đã làm kha khá! Kể từ khi đến tuổi trưởng thành, đã bốn lần anh đi khắp tiền tuyến từ Thụy Sĩ đến Luxembourg, từ Belfort đến Longwy, hỏi han những người cư trú ở đó, xem xét vùng quê này. Anh đã dành hàng giờ, hàng giờ liền vận dụng trí não tìm ra được hồi ức nào đó dù nhỏ nhất có thể rọi cho anh ánh sáng nào đó. Nhưng chẳng có kết quả gì. Không có một tia sáng nào xua tan đi tất cả bóng tối ấy. Chỉ có ba hình ảnh hiện lên xuyên qua lớp sương mù của quá khứ, những hình ảnh về nơi chốn và những thứ làm chứng cho tội ác: những cái cây trong đầm lầy, nhà thờ cũ và lối đi xuyên qua rừng. Rồi là bóng hình của tên Hoàng đế và... bóng hình của ả đàn bà đã giết chết cha anh.”
Paul hạ giọng xuống. Gương mặt anh méo mó vì đau khổ và ghê tởm.
“Về phần ả...” Anh tiếp tục. “... Nếu anh còn sống đến một trăm tuổi, anh vẫn sẽ nhìn thấy ả tường tận bằng xương bằng thịt rõ nét dưới ánh sáng ban ngày. Hình dáng đôi môi ả, cái nhìn trong ánh mắt ả, màu tóc ả, dáng đi đặc biệt của ả, nhịp điệu trong những cử động của ả, đường nét cơ thể ả: Tất cả những điều này đã in hằn trong tâm trí anh, không phải là ảo ảnh có thể triệu hồi theo ý muốn, mà là một thứ tạo nên con người anh. Cứ như thể toàn bộ sức mạnh bí ẩn trong não bộ anh đã hợp lực lại để thẩm thấu hoàn toàn những hồi ức đáng ghét ấy, trong thời gian anh bị mê sảng. Từng có thời gian tất cả những chuyện này là một sự ám ảnh không lành mạnh. Giờ thì anh chỉ chịu đựng nó vào những giờ khắc nhất định thôi, khi màn đêm buông xuống và anh chỉ có một mình. Cha anh đã bị giết; và ả đàn bà đã giết ông ấy vẫn còn sống, không bị trừng phạt, hạnh phúc, giàu có, được vinh danh, theo đuổi cái công việc hủy diệt và đáng ghê tởm của mình.”
“Nếu anh gặp lại ả, anh có nhận ra không, Paul?”
“Nếu anh gặp lại ả ư! Anh có thể nhận ra ả trong một nghìn người. Ngay cả nếu ả bị tuổi tác bào mòn, nhìn những nếp nhăn của một bà già, anh có thể phát hiện ra gương mặt một phụ nữ trẻ tuổi hơn đã đâm cha anh đến chết vào buổi tối tháng Chín đó. Gặp lại ả ư! Trời ạ, anh còn để ý cả sắc thẫm của bộ váy ả mặc! Có vẻ khó tin đấy, nhưng đó là sự thật. Một chiếc váy xám, với khăn quàng cổ ren màu đen quàng qua vai; và ở đây, trong vạt áo trên, cạnh chiếc trâm cài đầu, một viên đá chạm thô kệch, có hình con rắn màu vàng với đôi mắt bằng ngọc. Em thấy không, Elisabeth, anh đã không quên và sẽ không bao giờ quên.”
Anh ngừng lời. Elisabeth đang khóc. Quá khứ mà người chồng vừa thổ lộ khiến cảm giác khiếp sợ và cay đắng dâng tràn trong cô. Anh kéo cô sát lại gần mình và hôn lên trán cô.
“Anh đã đúng khi không quên.” Cô nói. “Hung thủ sẽ bị trừng phạt vì ả đáng bị trừng phạt. Nhưng anh không được để cuộc đời mình phải gắn mãi với những hồi ức của hận thù. Giờ chỉ có em và anh thôi, và chúng ta yêu nhau. Hãy cùng hướng về tương lai, anh nhé.”
◇
Lâu đài Ornequin là một tòa nhà từ thế kỷ XVI tuyệt đẹp có thiết kế đơn giản, với bốn tháp canh có chóp nhọn, những ô cửa sổ cao với các tháp nhọn có kiến trúc răng cưa và hàng chấn song nhẹ nhô ra phía trên tầng một. Lối dành cho người đi bộ được tạo thành từ các bãi cỏ được chăm chút tỉ mỉ bao quanh sân và rẽ sang hai bên trái phải dẫn tới những khu vườn, khu rừng và những vườn cây ăn quả. Một phía các bãi cỏ này là bãi đất cao rộng nhìn ra thung lũng Liseron. Trên bãi đất này, song song với ngôi nhà, là những phế tích hùng vĩ của tòa tháp khép kín hình vuông.
Toàn bộ lâu đài chìm trong bầu không khí rất trang nghiêm. Dinh thự này, bao quanh là các trang trại và cánh đồng, đòi hỏi quá trình bảo dưỡng tu sửa phải được tiến hành cẩn thận và tích cực. Đó là một trong những tòa lâu đài lớn nhất trong vùng.
Mười bảy năm trước, tại một phiên chợ được tổ chức sau cái chết của viên Nam tước d’Ornequin cuối cùng, cha của Elisabeth, ngài Bá tước d’Andeville, đã mua nó theo ước nguyện của vợ. Ông kết hôn đã năm năm và đã giải ngũ khỏi đoàn kỵ binh để toàn tâm toàn ý chăm sóc người phụ nữ mà ông yêu. Một chuyến du lịch tình cờ đã đưa họ đến với Ornequin đúng dịp phiên chợ, vốn không được quảng bá trên báo chí địa phương, sắp được tổ chức. Hermine d’Andeville đắm đuối với ngôi nhà cùng khu đất; và ngài Bá tước, sẵn đang rảnh rỗi nên cũng muốn tìm kiếm một dinh thự để bận bịu quản lý đã đồng ý nhờ các luật sư thu xếp mua bằng một thỏa thuận riêng.
Suốt mùa đông sau đó, ông chỉ đạo công việc phục hồi từ Paris vì sự xuống cấp đã ở mức đáng báo động, vì người chủ cũ đã bỏ hoang căn nhà. Bà d’Andeville thì mong muốn nó không chỉ thoải mái mà còn phải trang nhã; ông liền gửi về, từng chút một, tất cả các thảm thêu, các bức tranh, các đồ nghệ thuật và đồ trang trí lặt vặt từ ngôi nhà của mình ở Paris.
Phải tới tháng Tám họ mới có thể dọn vào nhà ở. Sau đó là vài tuần lễ đầy hạnh phúc của họ cùng Elisabeth đáng yêu, lúc này mới bốn tuổi, cùng cậu con trai, Bernard, một thằng bé mạnh mẽ, đầy sức sống mà bà Bá tước hạ sinh cùng năm đó. Hermine d’Andeville dành hết tâm lực chăm sóc lũ trẻ và không bao giờ cho phép mình đi ra khỏi khuôn viên tòa lâu đài. Ngài Bá tước chăm sóc các trang trại của mình và đi săn thú, cùng với Jérôme, người trông coi khu săn bắn của ông, một người bản xứ vùng Alsace đáng giá, từng phục vụ ông chủ trước và là người hiểu rõ từng mét vuông dinh thự này.
Vào cuối tháng Mười, bà Bá tước mắc phong hàn; cơn đau ốm theo sau đó thực sự nghiêm trọng; ngài Bá tước d’Andeville quyết định đưa bà cùng các con quay về miền Nam. Hai tuần lễ tiếp theo, bệnh của bà tái phát, ba ngày sau bà qua đời.
Ngài Bá tước trải qua nỗi tuyệt vọng có thể khiến một người cảm thấy cuộc sống đã chấm dứt, rằng dù có chuyện gì xảy ra, ông sẽ không bao giờ còn biết tới niềm vui hay thậm chí là sự an ủi khỏi nỗi đau ở bất kỳ hình thức nào. Giờ ông sống không hẳn vì các con mà phần nhiều là sống để yêu thương bóng hình người vợ cũ đã mất tận trong thâm tâm, nâng niu hồi ức là lý do duy nhất cho sự tồn tại của ông.
Ông không thể quay về lâu đài Ornequin, nơi ông đã từng trải qua hạnh phúc quá hoàn hảo; nhưng mặt khác, ông lại không muốn bất cứ kẻ xa lạ nào vào sống ở đó, ông ra lệnh cho Jérôme luôn đóng kín hết tất cả cửa sổ, cửa ra vào, khóa chặt phòng của bà Bá tước và phòng ngủ để không ai có thể vào được bên trong. Jérôme cũng cho thuê các trang trại và thu tiền thuê từ các tá điền.
Sự đoạn tuyệt với quá khứ này vẫn chưa đủ làm hài lòng ngài Bá tước. Có vẻ thật lạ lùng đối với một người đàn ông chỉ còn tồn tại vì hồi ức của người vợ cũ, nhưng mọi thứ nhắc ông nhớ đến bà - những vật dụng quen thuộc, những vùng đất quanh nhà, những nơi chốn và cảnh quan - đều như muốn tra tấn ông; ngay cả chính những đứa con cũng khiến cảm giác khó chịu dâng trào trong ông không kiểm soát được. Ông có một bà chị gái, góa chồng, sống trong vùng này tại Chaumont. Ông gửi con gái Elisabeth và cậu con trai Bernard đến cho bà chăm sóc, còn mình bỏ ra nước ngoài.
Bác Aline là người tận tụy nhất và hào phóng nhất trong số phụ nữ; với sự chăm sóc của bà, Elisabeth đã trải qua một tuổi thơ nghiêm khắc, siêng năng và đầy tình thương, cô bé phát triển đầy đủ cả thể xác lẫn tâm hồn. Cô bé được giáo dục, dạy dỗ gần như con trai, cùng với đó là kỷ luật đạo đức nghiêm khắc. Ở tuổi hai mươi, cô lớn phổng lên thành thiếu nữ cao ráo, tháo vát, thông minh, không biết sợ, gương mặt hay vương nét u buồn, thi thoảng lại sáng bừng lên khi đôi môi cô nở những nụ cười đáng yêu nhất, hồn nhiên nhất. Gương mặt sầu muộn như thế luôn được báo trước sẽ phải hứng chịu những đòn roi nghiệt ngã của số phận. Những giọt lệ chưa một lần ngừng rơi trên đôi mắt cô, như thể chúng cũng muộn phiền trước sóng gió của cuộc đời. Mái tóc cô, với những lọn tóc sáng, khiến vẻ ngoài của cô mang chút sắc màu tươi tắn.
Cứ mỗi lần đến thăm con gái giữa những chuyến lang thang, ngài Bá tước d’Andeville đều cảm thấy cô ngày càng quyến rũ. Một mùa đông nọ, ông đưa cô sang Tây Ban Nha rồi sang Ý. Chính nhờ chuyến đi này, cô quen biết Paul Delroze tại Rome, để rồi gặp lại anh hai lần nữa tại Naples và Syracuse, và từ thành phố này, Paul đã tháp tùng cha con ngài d’Andeville trong chuyến du ngoạn dài ngày xuyên Sicilia. Sự thân mật hình thành từ đó đã gắn bó đôi trẻ bằng một mối ràng buộc mạnh mẽ mà họ hoàn toàn không nhận ra cho đến lúc chia tay.
Giống như Elisabeth, Paul cũng lớn lên ở vùng này, và cũng giống cô, một người phụ nữ nhân hậu đã nuôi lớn anh bằng tình thương vô bờ bến, giúp anh quên đi bi kịch thuở ấu thơ. Cho dù anh không thể lãng quên được nó, nhưng dù sao đi nữa bà ấy cũng đã thành công tiếp tục công trình của cha anh, biến Paul trở thành chàng thanh niên nam tính và cần cù, yêu thích sách, yêu cuộc sống và con người. Anh đi học và sau khi hoàn thành nghĩa vụ quân sự, anh mất hai năm ở Đức, học thêm một ít trong số hai chủ đề ưa thích của anh là công nghiệp và cơ khí.
Cao to, thể hình vạm vỡ, với mái tóc đen chải ngược về sau trên gương mặt hơi gầy và cái cằm quả quyết, anh tạo nên ấn tượng về sự mạnh mẽ và nguồn năng lượng dồi dào.
Cuộc gặp gỡ của anh với Elisabeth đã mở mắt cho anh thấy muôn vàn những ý tưởng và cảm xúc mà bấy nay anh khinh khi. Với anh, cũng như với cô, nó như thể một cơn say trộn lẫn với sự kinh ngạc. Tình yêu nảy nở trong hai tâm hồn thanh tân, nhẹ nhàng và tự do như gió trời, với sự nhiệt tình và cởi mở sẵn có tạo nên sự tương phản rõ nét với những thói quen hình thành do xu hướng nghiêm túc áp đặt lên cuộc đời họ. Trên đường quay về Pháp, anh đã cầu hôn Elisabeth và được cô đồng ý.
Ba ngày trước đám cưới, lúc cử hành hôn lễ, ngài Bá tước d’Andeville tuyên bố mình sẽ cộng thêm lâu đài Ornequin làm của hồi môn cho Elisabeth. Cặp vợ chồng trẻ quyết định sẽ sống tại lâu đài và Paul nên đi tìm việc làm trong các thung lũng của hạt sản xuất liền kề, nơi anh có thể buôn bán hay làm công việc quản lý.
Họ kết hôn vào hôm thứ Năm, ngày Ba mươi tháng Bảy, tại Chaumont. Đó là một đám cưới thầm lặng, bởi những xì xầm về cuộc chiến tranh, cho dù ngài Bá tước d’Andeville, với sức mạnh của thông tin mà ông một mực tin tưởng, đã tuyên bố rằng sẽ không diễn ra một cuộc chiến tranh nào hết. Trong bữa sáng mà cả hai gia đình cùng ăn, Paul làm quen với Bernard d’Andeville, em trai của Elisabeth, cậu bé vẫn còn đang đi học, chưa đến mười bảy tuổi, với những kỳ nghỉ hè chỉ vừa mới bắt đầu. Paul bắt đầu yêu thích thằng bé, vì phong cách thẳng thắn và tâm hồn cao quý; và cả hai thỏa thuận rằng Bernard sẽ đến thăm hai anh chị vài ngày tại Ornequin. Lúc một giờ chiều, Elisabeth và Paul đáp chuyến xe lửa rời khỏi Chaumont. Cặp đôi tay trong tay tiến vào lâu đài nơi họ sẽ trải qua những năm tháng đầu tiên của cuộc hôn nhân, và có lẽ một tương lai ngập tràn hạnh phúc và thanh bình đang mở ra trước đôi mắt long lanh của cặp tình nhân.
Khi họ trông thấy vợ của ông Jérôme đang đứng dưới chân bậc thềm thì đã sáu rưỡi chiều. Rosalie là người đàn bà mập mạp, rất ra dáng một bà mẹ với đôi má hồng hào, lốm đốm và gương mặt phúc hậu.
Trước khi ăn tối, họ vội vã quay ra vườn rồi lại vào nhà. Elisabeth không thể kiềm chế cảm xúc của mình. Cho dù không còn hồi ức nào khiến cô phấn khích, nhưng dường như cô đã tìm lại được bóng dáng người mẹ mà cô chỉ được sống cùng trong một khoảng thời gian ngắn ngủi, là người với những đường nét cô chưa kịp nhớ hết, người đã ở đây trong những ngày tháng hạnh phúc cuối cùng của cuộc đời bà. Với cô, bóng dáng người phụ nữ đã mất vẫn đang bước đi trên các lối đi trong vườn. Những bãi cỏ rộng, xanh mơn mởn tỏa ra hương thơm đặc biệt. Những chiếc lá trên cây xì xào theo gió với tiếng thì thầm mà dường như cô đã từng nghe tại đúng nơi này, vào đúng giờ khắc này trong ngày, và mẹ cô đang lắng nghe cùng cô.
“Em có vẻ không vui, Elisabeth.” Paul nói.
“Không phải không vui, mà là bối rối. Em cảm thấy như thể mẹ em đang chào đón chúng ta đến đây, nơi bà nghĩ rằng mình sẽ sống và nơi chúng ta đến với ý định tương tự. Không hiểu sao em thấy lo lo. Như thể em là một kẻ xa lạ, một kẻ đột nhập, quấy rối sự tĩnh lặng và bình yên của căn nhà này. Nghĩ mà xem! Mẹ em đã hoàn toàn cô độc ở đây một khoảng thời gian! Cha em sẽ không bao giờ tới đây; còn em đang tự nhủ mình rằng chúng ta cũng không có quyền đến đây, với sự lãnh đạm của chúng ta với tất cả mọi thứ không phải là của mình.”
Paul mỉm cười. “Elisabeth, em yêu của anh, đơn giản là em đang cảm thấy cái ấn tượng khó chịu mà người ta luôn cảm thấy khi đến một nơi mới vào buổi tối.”
“Em không biết.” Cô đáp. “Em cho rằng anh nói đúng... Nhưng em không thể rũ bỏ được sự khó chịu ấy, điều này hoàn toàn chẳng giống em chút nào. Anh có tin vào những điềm báo không, Paul?”
“Không, còn em?”
“Em cũng không!” Cô đáp, phá lên cười và hôn môi anh.
Cả hai cùng ngạc nhiên khi thấy các căn phòng trong nhà trông như thể luôn có người ở. Theo lệnh của ngài Bá tước, tất cả mọi thứ vẫn được giữ y nguyên như hồi Hermine d’Andeville vẫn còn sống. Những món trang trí lặt vặt vẫn ở nguyên chỗ cũ, từng mảnh đồ thêu, từng chiếc khăn trải bàn ren, từng món đồ xinh xắn, tất cả những chiếc ghế đẹp đẽ từ thế kỷ XVIII, toàn bộ thảm thêu của vùng Flemish, toàn bộ đồ nội thất mà ngài Bá tước đã sưu tầm từ những ngày xưa nhằm trang trí cho căn nhà thêm đẹp. Và như thế, ngay từ đầu cả hai đã được sống trong khung cảnh quyến rũ và ấm áp của một gia đình.
Sau bữa tối, cặp đôi lại quay ra các khu vườn, nơi họ thả bộ tới lui trong im lặng, hai cánh tay quàng qua eo nhau. Từ lối đi trên cao, họ nhìn xuống thung lũng chìm trong bóng tối, với những ánh đèn le lói lập lòe đây đó. Phế tích khổng lồ của ngọn tháp canh già vươn lên chọc thủng bầu trời nhàn nhạt, nơi vẫn còn vương lại chút ánh sáng mơ hồ.
“Paul này!” Elisabeth nói bằng giọng thấp. “Khi chúng ta bước vào nhà, anh có nhận ra một cánh cửa đóng chặt với cái ổ khóa rất to không?”
“Ý em là ở giữa hành lang chính, gần phòng ngủ của em à?”
“Vâng! Đó là căn phòng của người mẹ tội nghiệp của em. Cha em khăng khăng đòi khóa kín căn phòng ấy lại, cũng như phòng ngủ từ đó dẫn ra; Jérôme đã lắp ổ khóa trên cửa, còn chìa khóa đưa cho cha em. Kể từ đó, chưa ai đặt chân vào trong phòng. Nó vẫn còn y nguyên như lúc mẹ em bỏ đi. Tất cả mọi vật dụng của bà - tác phẩm chưa hoàn thiện, những cuốn sách của bà - tất cả vẫn còn nguyên đó. Và trên bức tường đối diện cửa ra vào, giữa hai ô cửa sổ luôn được đóng chặt, có treo tấm chân dung của bà, năm ngoái ông đã thuê một họa sĩ nổi tiếng mà ông quen biết vẽ nó, một bức chân dung to bằng người thật mà em hiểu đó là hình ảnh của chính bà. Bên cạnh nó là cái ghế cầu kinh của bà. Sáng nay cha em đã trao cho em chiếc chìa khóa phòng, em đã hứa với ông là em sẽ quỳ xuống trên chiếc ghế cầu kinh, và đọc lời cầu nguyện trước tấm chân dung người mẹ em không còn nhớ mặt, với những đường nét em không thể hình dung ra được, vì em chưa từng có một bức ảnh nào của bà.”
“Thật ư? Sao lại thế?”
“Anh biết đấy, cha em yêu mẹ em nhiều đến nỗi để phục tùng theo cảm xúc mà ông không thể lý giải nổi, ông đã mong muốn được một mình tưởng nhớ đến bà. Ông muốn những hồi ức của ông sẽ được giữ kín tận đáy tâm hồn mình, ông không muốn bất kỳ điều gì khác gợi ông nhớ đến bà ấy ngoại trừ ước nguyện và nỗi đau khổ của ông. Sáng nay, ông gần như đã cầu xin em tha thứ cho điều đó, ông nói rằng có thể ông đã làm điều không phải với em; rằng đó là lý do tại sao ông muốn chúng mình được ở bên nhau. Paul, trong buổi tối đầu tiên này, em muốn anh hãy cầu nguyện trước bức chân dung người mẹ quá cố tội nghiệp của em.”
“Chúng ta cùng đi thôi, Elisabeth.”
Bàn tay cô run rẩy trong bàn tay chồng khi họ lên cầu thang đến tầng một. Những ngọn đèn khắp hành lang đều đã thắp sáng. Họ dừng chân trước một cánh cửa ra vào cao, rộng trang trí bằng những hình chạm khắc mạ vàng.
“Mở khóa đi, Paul.” Elisabeth nói.
Khi nói, giọng cô run rẩy. Cô trao chìa khóa cho anh. Anh mở khóa và xoay tay nắm cửa. Nhưng bỗng Elisabeth siết chặt cánh tay chồng. “Chờ chút đã, Paul, chờ một chút! Em cảm thấy rất bối rối. Đây là lần đầu tiên em nhìn thấy gương mặt mẹ em... và anh, anh yêu, đứng bên cạnh em... Em cảm thấy như thể mình chợt bé lại thành đứa bé gái.”
“Đúng!” Anh nói, nồng nàn siết chặt bàn tay cô. “Vừa là một bé gái vừa là một phụ nữ trưởng thành.”
Cảm thấy dễ chịu nhờ cái siết tay của anh, cô thả lỏng tay mình và thì thầm: “Giờ chúng ta sẽ cùng vào trong, anh yêu của em.”
Anh mở cửa, quay ra hành lang lấy một ngọn đèn gắn trên giá treo tường rồi đặt nó xuống bàn. Trong khi đó, Elisabeth bước ngang phòng đến đứng trước một bức tranh. Gương mặt mẹ cô chìm trong bóng tối, cô thay đổi vị trí cái đèn để có thể chiếu toàn bộ ánh sáng lên bức tranh.
“Bà ấy mới đẹp làm sao, Paul!”
Anh bước đến chỗ bức tranh và ngẩng đầu lên. Elisabeth quỳ xuống trên chiếc ghế cầu kinh. Nhưng lúc này, nghe thấy Paul quay người lại, cô ngước mắt lên nhìn anh và choáng váng trước những gì mình thấy. Anh đang đứng đó bất động, mặt tím tái, đôi mắt mở to, như thể đang nhìn trừng trừng vào một hình ảnh đáng sợ nhất.
“Paul!” Cô kêu lên. “Có chuyện gì thế?”
Anh bắt đầu quay ra phía cửa, bước lùi lại về đằng sau, không thể rời mắt khỏi bức chân dung của bà Bá tước Hermine d’Andeville. Anh đang loạng choạng như một người say, đôi cánh tay vung lên giữa không trung xung quanh.
“Đó.. đó...” Anh lắp bắp, giọng khàn khàn.
“Paul!” Elisabeth van nài. “Chuyện gì thế? Anh đang cố nói điều gì?”
“Đó... đó là người đàn bà đã giết chết cha anh!”