Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 228 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 3
lệnh nhập ngũ

Sau lời buộc tội ghê tởm là sự im lặng khủng khiếp. Elisabeth đang đứng trước mặt chồng, cố gắng hiểu những lời anh nói, mà cô vẫn chưa nắm bắt được ý nghĩa thực sự, nhưng chúng khiến cô tổn thương như thể con dao đâm thẳng vào tim.

Cô tiến về phía anh, đôi mắt nhìn xoáy vào đôi mắt anh, nói bằng giọng thấp đến nỗi anh hầu như không nghe thấy: “Chắc chắn anh không định nói như thế, đúng không Paul? Chuyện này quá khủng khiếp!”

Anh đáp lại cũng bằng giọng ấy: “Phải, là một chuyện khủng khiếp. Đến anh còn không tin nổi chính mình. Anh không muốn tin điều đó.”

“Vậy thì là nhầm lẫn đúng không? Anh thừa nhận đi, anh vừa nhầm.”

Cô van xin anh bằng tất cả nỗi đau buồn đang dâng đầy trong cô, như thể cô đang hy vọng khiến anh chịu thua. Anh lại nhìn trừng trừng bức chân dung bị nguyền rủa, nhìn qua vai vợ mình, rồi run rẩy từ đầu tới chân.

“Ôi, đúng là bà ta!” Anh tuyên bố, siết chặt tay thành nắm đấm. “Là bà ta... anh nhận ra bà ta... đó là người đàn bà đã giết cha...”

Sức ép muốn phản đối chạy khắp người cô, đấm tay vào ngực mình, cô kêu lên: “Mẹ em! Mẹ em là kẻ sát nhân! Mẹ em, người mà cha em từng tôn thờ và vẫn tiếp tục tôn thờ! Mẹ em, người đã từng bế em trên đầu gối mình và hôn em!... Em đã quên hết tất cả mọi thứ về bà, ngoại trừ chuyện đó, những nụ hôn và những ve vuốt âu yếm của bà! Nhưng anh lại bảo em rằng bà ấy là kẻ sát nhân sao!”

“Điều đó là sự thật.”

“Ôi, Paul, anh không được nói bất kỳ điều gì khủng khiếp vậy nữa! Làm sao anh có thể chắc chắn sau khoảng thời gian quá lâu như vậy? Anh lúc ấy mới chỉ là đứa bé, còn chưa nhìn thấy rõ ràng ả đàn bà đó... chỉ trong vài phút thôi.”

“Anh nhìn ả rõ hơn cách mà một con người có thể nhìn.” Paul lớn tiếng thốt lên. “Từ lúc xảy ra vụ giết người, hình ảnh ả chưa bao giờ phai nhạt trong anh. Nhiều lúc anh đã cố gắng xua nó đi, như thể xua tan đi một cơn ác mộng, nhưng anh không thể. Hình ảnh ấy vẫn ở đó, lơ lửng trên tường. Rõ mồn một như anh đang đứng đây bây giờ, nó ở đó; anh biết chắc chắn như thể anh biết rõ hình ảnh của em hai mươi năm sau. Đó chính là ả… trời ạ, hãy nhìn vào ngực ả, cái trâm cài có nền hình con rắn vàng!... Một viên đá chạm, như anh đã nói với em, và đôi mắt rắn... Hai viên ruby!... Và chiếc khăn quàng cổ ren màu đen quàng trên vai! Anh nói cho em biết, đó là ả, đó là ả đàn bà anh đã thấy!”

Cơn phẫn nộ trào dâng khiến anh như điên dại, anh giơ thẳng nắm đấm về phía bức chân dung của Hermine d'Andeville.

“Im đi!” Elisabeth kêu lên, quá đau khổ vì những lời nói của anh. “Anh thôi đi! Em sẽ không cho phép anh...”

Cô cố gắng đưa tay lên miệng anh ép anh im lặng. Nhưng Paul có cử chỉ kháng cự, như thể muốn tránh xa khỏi cú chạm của vợ mình; cử động ấy quá đột ngột và theo bản năng đến nỗi khiến cô ngồi thụp xuống đất khóc nức nở, trong khi lửa giận trong anh bừng bừng, ngày càng bốc lên cao bởi nỗi phiền muộn và lòng căm thù, bị thúc đẩy nhờ hình ảnh ảo giác khủng khiếp xui khiến anh bước ra cửa, thét lên: “Nhìn ả đi! Hãy nhìn ánh mắt quỷ quyệt, hãy nhìn đôi mắt máu lạnh của ả đi! Ả đang nghĩ đến chuyện giết người!... Anh nhìn thấy ả, anh nhìn thấy ả!... Ả bước đến chỗ cha anh... ả dẫn ông ấy đi... ả giơ tay lên... và giết chết ông ấy!... Ôi, mụ đàn bà ác độc, gớm ghiếc!...”

Anh lao ra khỏi phòng.

Paul qua đêm trong công viên, bỏ chạy như một kẻ điên tới bất cứ nơi nào những lối đi tối om dẫn anh đi, hoặc khi đã mệt lử, anh thấy mình ngã gục xuống cỏ và nức nở, nức nở mãi không thôi.

Paul Delroze chẳng biết đến nỗi đau khổ nào ngoài hồi ức về vụ án mạng, nỗi đau anh đã kiềm chế, nhưng vào những thời khắc nhất định, nó càng nhức nhối cho đến khi khiến anh đau đớn như thể một vết thương mới. Lần này nỗi đau còn lớn và bất ngờ đến nỗi, bất chấp khả năng giữ bình tĩnh và kiểm soát bản thân như thường lệ, anh đã hoàn toàn mất trí. Những suy nghĩ, những hành động, thái độ và những lời nói anh thét vào bóng tối là những biểu hiện của một người đánh mất tự chủ.

Một suy nghĩ và chỉ một suy nghĩ cứ trở đi trở lại trong bộ não đang hỗn loạn của anh, bộ não mà những ý tưởng và ấn tượng trong đó đang xoay tròn như những chiếc lá trong con lốc; một ý nghĩ khủng khiếp: “Mình biết ả đàn bà đã giết cha mình, và con gái của ả lại là người phụ nữ mình yêu.”

Liệu anh còn yêu cô nữa không? Không nghi ngờ gì nữa, anh đang tuyệt vọng khóc than cho một hạnh phúc mà anh biết nó sắp tan vỡ; nhưng anh còn yêu Elisabeth nữa không? Anh có thể yêu thương con gái của Hermine d’Andeville không?

Khi anh quay về nhà lúc rạng sáng và bước qua phòng của Elisabeth, trái tim anh không còn đập nhanh như trước. Sự căm thù ả sát nhân của anh đã hủy hoại tất cả những tình cảm khác cuộn lên trong anh: tình yêu, tình thương, sự nhớ nhung hay thậm chí là chút thương xót thuần khiết nhất của con người.

Trạng thái lờ đờ mà anh lâm vào trong vài giờ khiến các dây thần kinh của anh thư giãn một chút, nhưng không làm thay đổi trạng thái tinh thần của anh. Mà ngược lại, thậm chí dù chẳng buồn nghĩ đến nó, anh vẫn cảm thấy có lẽ chuyện gặp gỡ Elisabeth trở nên miễn cưỡng còn hơn cả trước đó. Thế nhưng anh muốn biết, anh muốn tìm hiểu, muốn thu thập tất cả thông tin cơ bản để hoàn toàn chắc chắn trước khi đưa ra giải pháp quyết định bi kịch lớn trong đời mình theo cách này hay cách khác.

Trên hết, anh phải hỏi han Jérôme và vợ ông ta, những người nắm giữ bằng chứng khá giá trị, nhờ thực tế là họ đã quen biết nữ Bá tước d’Andeville. Những vấn đề nhất định liên quan đến ngày tháng, chẳng hạn, có thể được làm sáng tỏ phần nào.

Anh tìm thấy họ trong phòng nghỉ, cả hai đều cực kỳ phấn khích, Jérôme đang đọc tờ báo trong tay, còn Rosalie đang có những cử chỉ bất an.

“Đã quyết rồi thưa ngài.” Jérôme kêu lên. “Ngài có thể chắc chắn điều đó, nó đang đến.”

“Cái gì cơ?” Paul hỏi.

“Tổng động viên, thưa ngài, lệnh nhập ngũ. Rồi ngài sẽ thấy. Tôi đã gặp vài tay hiến binh, bạn bè của tôi, và họ bảo tôi thế. Các tấm áp phích cũng sẵn sàng rồi.”

Paul nhận xét, ra vẻ thờ ơ: “Áp phích thì lúc nào mà chẳng sẵn sàng.”

“Vâng, nhưng họ sẽ treo chúng lên đồng thời đấy ạ, rồi ngài sẽ thấy, thưa ngài. Cứ xem báo đi. Những thằng súc vật này - thứ lỗi cho tôi, thưa ngài, nhưng đó là từ ngữ duy nhất dành cho chúng - những thằng súc vật này muốn có chiến tranh. Nước Áo sẽ sẵn sàng đàm phán, nhưng trong khi đó các nước khác lại đang tổng động viên mấy ngày nay rồi. Bằng chứng là họ sẽ không cho phép ngài băng qua biên giới nữa. Còn tệ hơn cơ, hôm qua chúng đã phá hủy một nhà ga ở Pháp, cách đây không xa lắm, và nhổ hết các đường ray. Tự ngài đọc đi, thưa ngài!”

Paul lật qua vài trang điện báo đăng vào giờ chót, và cho dù anh nhận thức được chúng rất quan trọng, nhưng dường như với anh chúng chỉ là một thứ mơ hồ mà anh không muốn chú ý nhiều.

“Tất cả rồi sẽ ổn thôi.” Anh nói. “Bàn tay đặt trên chuôi kiếm thực ra chỉ là cách nói của họ thôi, nhưng tôi không tin nổi...”

“Ngài sai rồi, thưa ngài.” Rosalie lẩm bẩm.

Anh không muốn nghe nữa, lòng chỉ nghĩ đến tấn bi kịch của số phận mình và nghĩ ra cách vẹn toàn nhất để làm sao moi được những thông tin anh cần từ Jérôme. Nhưng anh không thể chịu đựng nổi nữa nên vào thẳng đề luôn: “Tôi dám nói ông nghe này, Jérôme, rằng phu nhân và tôi đã vào trong phòng của nữ Bá tước d’Andeville rồi.”

Lời tuyên bố này tạo ra hiệu ứng lạ thường lên vợ chồng ông quản gia, như thể đối với họ việc đi vào căn phòng luôn bị khóa kín như thế, căn phòng của bà chủ, như họ vẫn luôn gọi thế với nhau, là một hành vi báng bổ.

“Ý ngài không phải thế đúng không?” Rosalie buột miệng.

Và Jérôme nói thêm: “Không, tất nhiên là không, vì chiếc chìa khóa duy nhất mở ổ khóa đó, một chiếc khóa an toàn, tôi đã đưa cho ngài Bá tước rồi.”

“Sáng hôm qua ông ấy đã trao nó cho chúng tôi.” Paul nói.

Và không muốn bận lòng thêm nữa trước vẻ kinh ngạc của họ, anh lập tức đặt những câu hỏi: “Có một bức chân dung nữ Bá tước d’Andeville treo giữa hai cửa sổ. Nó được treo ở đó từ bao giờ?”

Jérôme không trả lời ngay. Ông ta suy nghĩ một lúc, quay sang nhìn vợ rồi đáp: “À, câu này thì trả lời dễ thôi. Đó là khi ngài Bá tước chuyển hết đồ nội thất của ngài ấy sang căn nhà này... trước khi họ dọn vào ở.”

“Là khi nào?”

Nỗi đau khổ của Paul trở nên không thể chịu đựng nổi trong ba hoặc bốn giây chờ đợi câu trả lời.

“Thế nào?” Anh hỏi.

Cuối cùng câu trả lời vang lên dứt khoát: “Vào mùa xuân năm 1898.”

“1898!” Paul lặp lại những từ này bằng giọng u ám: 1898 là năm cha anh bị giết!

Không buồn ngừng lời để suy nghĩ, với vẻ lạnh lùng của một vị thẩm phán không thay đổi nguyên tắc mình đặt ra, anh hỏi: “Vậy ngài Bá tước và nữ Bá tước d’Andeville đã đến...”

“Ngài Bá tước và phu nhân đã đến lâu đài vào ngày Hai mươi tám tháng Tám năm 1898, rồi rời khỏi đây để vào Nam ngày Hai mươi tư tháng Mười.”

Paul giờ đã biết sự thật, bởi vì cha anh bị giết vào ngày Mười chín tháng Chín. Và tất cả mọi hoàn cảnh phụ thuộc vào sự thật đó, những hoàn cảnh giải thích sự thật ấy trong từng chi tiết chính hoặc những hoàn cảnh khai triển từ đó ngay lập tức rõ ràng với anh. Anh nhớ cha mình có giao tình với ngài Bá tước d’Andeville. Anh tự nhủ rằng cha anh, trong thời gian đi chu du tại Alsace, chắc phải biết ông bạn d’Andeville của mình đang sống tại Lorraine và chắc sẽ có kế hoạch đến thăm khiến ông bạn bất ngờ. Anh tính toán khoảng cách giữa Ornequin và Strasbourg, một khoảng cách tương ứng với quãng thời gian trên xe lửa. Rồi anh hỏi: “Từ đây cách tiền tuyến bao xa?”

“Gần bốn dặm thưa ngài.”

“Phía bên kia cách không xa đây lắm, có một khu phố Đức nhỏ đúng không?”

“Vâng, thưa ngài, phố Ebrecourt.”

“Từ đấy có lối tắt nào ra tiền tuyến không?”

“Có, thưa ngài, đỡ được khoảng nửa đường: một lối đi phía đầu kia công viên.”

“Xuyên qua rừng à?”

“Xuyên qua khu rừng của ngài Bá tước.”

“Và trong khu rừng đó...”

Để hoàn toàn chắc chắn tuyệt đối, sự chắc chắn không phải đến từ việc giải thích các thông tin mà từ chính các thông tin đó, những thứ nổi bật dễ nhìn thấy và dễ nắm bắt, tất cả những gì anh phải làm là đưa ra câu hỏi cuối cùng: Trong khu rừng ấy có nhà thờ nhỏ giữa đầm lầy không? Paul Delroze không đưa ra câu hỏi ấy. Có lẽ anh nghĩ nó quá đích xác, có lẽ anh lo sợ câu hỏi sẽ kích động ông quản gia nảy sinh những suy nghĩ và so sánh mà bản chất cuộc đối thoại này đã quá đủ để chứng minh. Anh chỉ hỏi: “Trong suốt sáu tuần ở Ornequin, bà Bá tước d’Andeville có đi vắng lúc nào không? Ý tôi là trong hai, ba ngày chẳng hạn?”

“Không, thưa ngài, phu nhân không bao giờ rời khỏi đây.”

“Bà ấy chỉ đến công viên thôi à?”

“Vâng, thưa ngài! Ngài Bá tước gần như chiều nào cũng lái xe đến Corvigny hoặc vào thung lũng, nhưng phu nhân chưa bao giờ đi quá xa khỏi công viên và khu rừng.”

Paul đã biết điều anh muốn biết. Không quan tâm đến chuyện Jérôme và vợ ông ta có thể suy nghĩ gì, anh cũng chẳng buồn kiếm cớ giải thích cho một loạt câu hỏi rõ ràng là rời rạc, lạ lùng của mình. Rời khỏi căn nhà của người quản gia, anh quay lưng bước đi.

Mặc dù nóng lòng muốn hoàn thành quá trình tìm kiếm thông tin, nhưng anh đã hủy bỏ các cuộc điều tra mình định theo đuổi ở phạm vi ngoài công viên. Như thể anh sợ phải đối mặt với bằng chứng cuối cùng, thứ mà đã thực sự trở nên thừa thãi sau những bằng chứng anh tình cờ thu thập được. Cho nên anh quay vào lâu đài, và trong giờ ăn trưa, anh quyết tâm chấp nhận cuộc gặp gỡ không tránh khỏi với Elisabeth. Nhưng hầu gái của vợ anh đến gặp anh trong phòng khách nói rằng bà chủ sai cô ta đến xin lỗi. Bà chủ cảm thấy không khỏe lắm nên xin phép nếu ông chủ không phiền thì bà chủ muốn ăn trưa trong phòng mình. Anh hiểu rằng cô muốn rời bỏ anh hoàn toàn, từ chối sát cánh bên anh, từ chối xuất hiện trước anh thay mặt người mẹ mà cô tôn trọng, và nếu cần thiết, từ chối ủng hộ ngay lập tức bất kỳ quyết định cuối cùng nào chồng cô có thể đưa ra.

Ăn trưa một mình với sự có mặt của quản gia và người hầu đang đợi ở bàn, tận sâu thẳm trong thâm tâm anh cảm thấy rằng hạnh phúc của anh đã tan biến, rằng Elisabeth và anh, vì những hoàn cảnh mà không ai trong hai người phải chịu trách nhiệm, vào đúng ngày cưới của mình đã biến thành kẻ thù và không tài nào có thể hàn gắn lại. Chắc chắn anh không ghét bỏ hay căm thù cô và không giày vò cô vì tội ác của mẹ mình; nhưng một cách vô thức anh đã giận dữ với cô, bởi anh đã sai, và bởi vì cô là con gái của mẹ cô.

Suốt hai giờ đồng hồ sau bữa trưa, anh giam mình trong căn phòng với bức chân dung: Một cuộc thẩm vấn bi kịch mà anh ước gì mình đã có với ả sát nhân, để lấp đầy đôi mắt anh bằng hình ảnh đáng nguyền rủa của ả và khiến những hồi ức của anh thêm mạnh mẽ. Anh xem xét từng chi tiết nhỏ nhất. Anh xem xét viên đá chạm, khắc họa hình ảnh con thiên nga dang rộng đôi cánh đuổi theo con rắn vàng làm nền, vị trí của các viên ngọc, thậm chí cả nếp gấp chiếc khăn ren quàng qua vai, đó là chưa kể hình dáng cái miệng, màu tóc và đường nét gương mặt ả.

Không nghi ngờ gì nữa, chính là ả đàn bà anh đã thấy vào buổi tối tháng Chín ấy. Dưới góc bức tranh có chữ ký của họa sĩ; và bên dưới khung tranh, là một hình trang trí dạng cuộn với dòng chữ khắc: Chân dung nữ Bá tước H.

Không nghi ngờ gì rằng bức chân dung được thể hiện với sự ám chỉ tới nữ Bá tước Hermine.

“Giờ thì...” Paul nói. “...Vài phút nữa, toàn bộ quá khứ sẽ lại sống dậy. Mình đã tìm ra tên tội phạm, giờ mình chỉ cần tìm kiếm hiện trường nữa thôi. Nếu cái nhà thờ ấy còn ở đó, trong khu rừng kia, sự thật sẽ hoàn chỉnh.”

Anh quyết tâm đi tìm kiếm sự thật. Giờ anh đã bớt sợ hãi hơn, vì nó không thể thoát khỏi bàn tay của anh được nữa. Thế nhưng trái tim anh lại đập những nhịp đập mạnh mẽ, đau đớn làm sao, và cái ý tưởng đi trên con đường dẫn đến ngả đường mà cha anh từng đi mười sáu năm trước mới đáng sợ làm sao!

Một cử động mơ hồ của bàn tay Jérôme chỉ cho anh biết nên đi đường nào. Anh băng qua công viên hướng về phía tiền tuyến, rẽ trái đi qua một nhà trọ. Trên lối vào rừng, anh đi xuống một con đường dài có hai hàng cây linh sam. Sau bốn trăm thước, con đường tách ra thành ba lối hẹp. Hai lối trong số này chắc chắn dẫn tới những bụi cây dày không thể xuyên qua. Lối thứ ba dẫn lên một gò đất, từ đấy anh đi xuống, vẫn rẽ về bên trái, đến một lối đi khác cũng có hai hàng cây linh sam.

Khi lựa chọn con đường này, Paul nhận ra rằng chính hình ảnh của nó với hai hàng cây linh sam và sự tương đồng không kể xiết về hình dáng và cách sắp xếp, đã gợi lên những hồi ức rõ nét dẫn bước cho anh. Con đường chạy thẳng thêm một lúc nữa, sau đó bất ngờ rẽ ngoặt vào một khóm cây sồi cao với tán lá dày phủ kín trên đầu. Sau đó con đường dốc lên phía trên, phía cuối con đường hầm tối mà anh đang bước qua, Paul nhận thấy chùm sáng hướng vào một không gian mở.

Nỗi đau đớn từ mọi chuyện dồn lại khiến hai đầu gối anh nhũn ra, anh buộc phải nỗ lực bước tiếp. Phải chăng đây là cái đầm lầy nơi cha anh hứng chịu nhát đâm trí mạng? Khoảng không gian sáng chói hiện ra trước mắt anh càng rõ bao nhiêu, anh càng cảm thấy niềm tin của mình vững chắc bấy nhiêu. Như khi ở trong phòng với bức chân dung, quá khứ đang tái hiện chính khía cạnh của sự thật trong trái tim anh và trước mắt anh.

Vẫn cái đầm lầy ấy, cây cối kết thành một vòng tròn bao xung quanh tạo nên bức tranh tương tự, bao phủ bằng một thảm cỏ và rêu với những lối đi rẽ nhánh như ngày xưa. Trên đầu anh vẫn là khoảng trời ấy, có đường viền là những thảm lá rộng bất thường. Và Paul đã nhận ra ngay ở đó, phía bên trái, được bảo vệ bằng hai cây thông đỏ, là nhà thờ.

Nhà thờ! Căn nhà thờ to lớn hơi cũ kĩ, bản thân các đường nét như khắc vào trong não anh thành những nếp nhăn! Hai cái cây đã lớn, cao hơn trước, hình dáng chúng đã thay đổi. Dáng vẻ của đầm lầy có thể cũng thay đổi. Các lối đi của nó đôi khi đan xen vào nhau theo kiểu khác. Trí nhớ của con người có thể đùa giỡn anh. Nhưng một tòa nhà bằng đá granit và xi măng thì không thể nhầm được. Sắc xanh xám như dấu mốc thời gian trên mặt đá phải mất hàng thế kỷ để tạo nên, vẻ đẹp rực rỡ mang tính thời đại này sẽ mãi mãi không thay đổi. Ngôi nhà thờ đứng đó, khoe ra một ô cửa sổ hoa hồng hình ô vuông bẩn thỉu ở mặt tiền phía đông, không nghi ngờ gì nữa, tên Hoàng đế Đức đã bước từ đây ra, theo sau là ả đàn bà, kẻ mà mười phút sau đó đã phạm tội giết người.

Paul bước đến chỗ cửa trước. Anh muốn thăm lại cái nơi cha anh từng nói chuyện với anh lần cuối cùng. Đó là khoảnh khắc của cảm xúc căng thẳng. Hai chiếc xe đạp của cha con anh đã trú dưới chính cái mái nhỏ nhô ra ở phía sau này; cánh cửa ra vào vẫn thế, với những cái khóa gỉ quèn gỉ quẹt.

Anh đứng trên một bậc thềm dẫn vào trong, giơ chốt khóa lên rồi đẩy cửa. Nhưng khi anh vừa định bước vào thì hai người đàn ông nấp trong bóng tối ở hai bên lao bổ vào anh.

Một trong hai tên giơ khẩu súng ngắn nhắm vào mặt anh. Nhờ phép mầu nào đó, Paul nhận ra cái nòng súng lấp lánh và kịp thời cúi xuống trước khi viên đạn trúng đầu. Phát súng thứ hai vang lên, nhưng anh đã xô ngã tên kia và giật phắt khẩu súng ngắn khỏi tay hắn, trong khi tên thứ hai đe dọa anh bằng một con dao găm. Anh bước lùi ra xa khỏi nhà thờ, một bên cánh tay vươn dài, và bóp cò hai lần. Mỗi lần đều chỉ vang lên một tiếng cạch nhẹ nhưng chẳng có tiếng nổ nào. Tuy nhiên, chỉ riêng việc anh chĩa súng vào hai tên côn đồ cũng đủ khiến chúng khiếp đảm, cúp đuôi chuồn lẹ.

Hoang mang vì tính bất ngờ của cuộc tấn công, Paul đứng im phân vân một lúc. Tiếp theo anh lại nổ súng vào những kẻ đào tẩu, nhưng chẳng ích lợi gì. Khẩu súng ngắn rõ ràng chỉ nạp đạn vào hai ổ đạn duy nhất, vang lên tiếng cạch cạch mà chẳng bắn ra viên đạn nào.

Tiếp theo anh bắt đầu chạy đuổi theo hai kẻ tấn công kia; anh nhớ ra trước kia tên Hoàng đế và kẻ đi cùng hắn, khi rời nhà thờ, cũng đi theo hướng tương tự, rõ ràng là lối đi ra tiền tuyến.

Gần như đúng lúc này, hai tên kia, khi nhận thấy mình bị truy đuổi, đã lao mình vào rừng, len lỏi giữa đám cây cối; nhưng Paul, với đôi chân thanh thoát hơn, nhanh chóng bám theo sát nút, còn dễ dàng hơn nữa khi anh vòng qua một chỗ trũng đầy cây dương xỉ diều hâu và bụi cây mâm xôi mà những người khác đã đi.

Bất chợt một trong hai tên huýt sáo nghe rất chói tai, có lẽ là nhằm cảnh báo cho tên đồng bọn nào đấy. Ngay sau đó, chúng biến mất sau một đám bụi rậm rất dày. Khi đang chen qua đám bụi rậm này, ở khoảng cách xa tầm sáu mươi thước trước mặt, Paul nhìn thấy một bức tường dường như bao quanh khu rừng. Hai tên kia đang trên đường chạy tới đó, và anh hiểu rằng chúng đang muốn chạy thẳng đến phía bức tường có gắn cánh cửa ra vào nhỏ.

Paul chạy hết tốc lực để tới được cánh cửa đó trước khi chúng kịp mở nó ra. Mặt đất bằng phẳng giúp anh tăng tốc, trong khi đó hai tên kia, rõ ràng đã thấm mệt, đang bị chậm lại.

“Mình tóm được chúng rồi, bọn lưu manh!” Anh lẩm bẩm. “Cuối cùng mình sẽ biết...”

Một tiếng huýt sáo nữa vang lên, theo sau là một tiếng thét khàn khàn. Lúc này anh còn cách chúng hai mươi thước và có thể nghe thấy chúng nói chuyện.

“Mình tóm được chúng rồi, mình tóm được chúng rồi!” Anh nhắc lại, cực kỳ vui sướng.

Anh hạ quyết tâm đánh vào mặt một trong hai tên bằng báng khẩu súng lục rồi sẽ nhảy xổ vào cổ họng tên kia.

Tuy nhiên, khi chúng còn chưa kịp chạy đến chỗ bức tường, cánh cửa đã bật mở từ bên ngoài và tên thứ ba xuất hiện để chúng đi qua.

Paul quẳng khẩu súng lục đi, đà chạy mạnh mẽ cộng thêm nỗ lực không biết mệt mỏi giúp anh chụp được cánh cửa, kéo nó về phía mình.

Cánh cửa chịu khuất phục. Những gì anh trông thấy sau đó khiến anh khiếp sợ tới nỗi dợm lùi lại, thậm chí không dám nghĩ đến chuyện tự vệ chống lại đòn tấn công mới. Tên thứ ba - Ôi, cơn ác mộng ghê tởm! Còn có thể là cái gì ngoài cơn ác mộng? - tên lưu manh thứ ba đang giơ con dao lên nhắm vào anh; và Paul biết gương mặt này... đó là gương mặt giống y sì đúc gương mặt anh đã từng thấy, gương mặt của đàn ông chứ không phải đàn bà, nhưng vẫn là gương mặt đó, không nghi ngờ gì nữa, vẫn nét mặt đó: Gương mặt lưu dấu ấn của mười sáu năm sau, với nét mặt thậm chí còn khắc nghiệt và quỷ quyệt hơn, nhưng vẫn là nét mặt đó, vẫn là nét mặt đó!

Và người đàn ông đâm vào Paul bằng dao, giống hệt như ả đàn bà mười sáu năm trước, giống hệt ả đàn bà đã chết từ lâu đâm con dao vào cha anh.

Paul Delroze loạng choạng, nhưng phần nhiều là do cú sốc tinh thần trước sự xuất hiện của bóng ma quá khứ này; về lưỡi dao, nó đâm trúng cái cúc trên dây đeo vai chiếc áo khoác săn bắn của anh, khiến nó vỡ tan thành từng mảnh. Sững sờ và đôi mắt mờ đi, anh nghe thấy tiếng cánh cửa ra vào đóng lại, tiếng chìa khóa nghiến chói tai trong ổ khóa và cuối cùng là tiếng xe ô tô ầm ì đang khởi động phía bên kia bức tường. Khi Paul thoát khỏi trạng thái lờ đờ thì chẳng còn việc gì để anh làm nữa. Người đàn ông và hai tên đồng bọn đã biến mất.

Ngoài ra, trong một lúc, anh hoàn toàn thấu hiểu được bí ẩn về sự tương đồng giữa bóng ma của quá khứ với bóng người anh vừa thấy. Anh chỉ có thể nghĩ đến một chuyện: “Nữ Bá tước d’Andeville đã chết, nhưng ả đã tái sinh ở đây dưới hình hài một người đàn ông có gương mặt giống hệt gương mặt ả sẽ mang ngày hôm nay. Đó là gương mặt của người họ hàng nào đó, của một người em trai nào đó mà mình chưa từng biết, sinh đôi chăng?”

Và anh trầm ngâm. “Rốt cuộc có phải mình nhầm không? Phải chăng mình là nạn nhân của ảo ảnh, một hệ quả tự nhiên của cơn khủng hoảng mà mình đang lâm vào? Làm sao mình biết chắc được có mối liên hệ nào đó giữa quá khứ và hiện tại? Mình phải có bằng chứng.”

Bằng chứng đã nằm trong tay anh, và nó mạnh mẽ tới nỗi Paul không thể nghi ngờ lâu hơn được nữa. Anh chợt nhìn thấy phần còn lại của con dao găm nằm trên cỏ, bèn cầm cán dao lên. Trên cán dao có bốn chữ cái được khắc bằng sắt nung đỏ: một chữ H, một chữ E, một chữ R và một chữ M. H, E, R M; bốn chữ cái đầu tiên của từ Hermine!...

Vào lúc này, trong khi anh đang nhìn trừng trừng vào các chữ cái đầy ý nghĩa với mình; vào lúc này, vào thời điểm mà Paul không bao giờ quên, tiếng chuông từ nhà thờ gần đó bắt đầu vang lên một cách lạ lùng nhất: Một tiếng chuông bình thường, trầm đục, không hề bị ngắt quãng, nghe vừa vui tươi đồng thời lại như một điềm xấu không thể nói ra.

“Chuông báo động.” Anh lẩm bẩm một mình, không hoàn toàn hiểu ý nghĩa của câu mình nói. Rồi anh nói thêm: “Có lẽ có cháy ở đâu đó.”

Vài phút sau, Paul đã trèo được qua bức tường nhờ những cành cây vươn ra ngoài. Anh nhìn thấy dải rừng bị một con đường cắt ngang. Anh đi theo các vết xe ô tô dọc con đường này và tới được tiền tuyến trong một giờ đồng hồ.

Một đội cảnh sát Đức đang ngồi quanh một bốt gác tiền tuyến, anh trông thấy một con đường màu trắng có mấy tên lính kỵ binh đang chạy nước kiệu. Phía cuối đường xuất hiện những mái nhà màu đỏ và những khu vườn. Phải chăng đây là thành phố nhỏ nơi cha con anh từng thuê xe đạp ngày hôm đó, thành phố nhỏ Ebrecourt?

Tiếng chuông u sầu không hề ngừng lại. Anh nhận thấy rằng âm thanh này phát ra từ nước Pháp; một tiếng chuông khác đang ngân lên ở đâu đó, tương tự tiếng chuông ở nước Pháp; tiếng chuông thứ ba vọng đến từ hướng Liseron; tất cả ba tiếng chuông này cùng có âm thanh gấp gáp, như thể chúng đang truyền qua lại lẫn nhau lời kêu gọi điên cuồng.

Anh nhắc lại, đầy lo âu: “Chuông báo động!... Báo động!... Và nó đang được truyền đi từ nhà thờ này đến nhà thờ khác... Có thể có nghĩa là...”

Nhưng anh vội xua đi ý nghĩ đáng sợ này. Không, đôi tai anh đang đánh lừa anh; hoặc giả nó là tiếng vọng của một tiếng chuông duy nhất từ tít các thung lũng trũng vang động khắp các bình nguyên.

Trong khi đó, anh đang nhìn chằm chằm con đường trắng chạy từ thành phố Đức nhỏ, anh quan sát thấy một dòng kỵ binh dài dằng dặc đang đi tới đó và tản ra khắp vùng. Ngoài ra còn một biệt đội kỵ binh Pháp xuất hiện trên đỉnh một quả đồi. Viên sĩ quan chỉ huy xem xét đường chân trời bằng cặp ống nhòm, sau đó phóng đi cùng biệt đội của ông ta.

Ngay sau đó, không thể đi xa hơn nữa, Paul đành quay về bức tường anh đã trèo qua và thấy nó kéo dài bao quanh toàn bộ khu vực, bao gồm cả khu rừng lẫn công viên. Hỏi chuyện lão nông dân đi ngang qua, anh biết bức tường được xây từ khoảng mười hai năm trước, điều này giải thích lý do tại sao Paul không bao giờ tìm thấy nhà thờ trong suốt những chuyến khám phá dọc tiền tuyến. Giờ anh đã nhớ ra, từng có lần ai đó đã kể cho anh về một nhà thờ; nhưng nó lại nằm trong khuôn viên một khu đất tư, và những nghi ngờ của anh vì thế mà không dấy lên.

Do đó, khi men theo con đường vòng quanh mảnh đất này, anh ngày càng đến gần hơn ngôi làng Ornequin, nơi có một nhà thờ bất ngờ mọc lên cuối một khoảng đất trống trong rừng. Tiếng chuông, mà mới đây anh không còn nghe thấy vang lên, giờ lại ngân lên với âm thanh riêng biệt rõ nét. Đó là tiếng chuông của Ornequin. Tiếng chuông bạc nhược, đinh tai nhức óc, chua xót và nghe trang nghiêm hơn một hồi chuông cáo chung, vì tất cả tính chất gấp gáp và nhẹ nhàng của nó.

Paul bước về phía phát ra âm thanh. Một ngôi làng quyến rũ, tất cả hoa hoét với những cây phong lữ và cây cúc tây đứng sát vào nhau quanh nhà thờ. Các nhóm thực vật câm lặng này đang nghiên cứu một tờ thông báo màu trắng dán trên văn phòng của ngài Thị trưởng. Paul bước về phía trước và đọc dòng đề mục: “LỆNH TỔNG ĐỘNG VIÊN”.

Vào bất kỳ giai đoạn nào trong cuộc đời mình, những từ ngữ như thế này hẳn sẽ khiến anh khiếp sợ với tất cả ý nghĩa u ám và đáng sợ của nó. Nhưng cơn khủng hoảng mà anh đang trải qua quá mạnh mẽ đến nỗi trong anh gần như không còn chỗ cho bất kỳ cảm xúc mạnh mẽ nào nữa. Chắc chắn anh thậm chí còn không hình dung được những hậu quả không thể tránh khỏi của tuyên bố này. Rất tốt, tổ quốc đang tổng động viên; và nó sẽ bắt đầu vào lúc nửa đêm... Rất tốt, ai ai cũng phải đi hết, anh cũng sẽ đi... Trong tâm trí anh điều này hiện lên như một hành động rất khẩn thiết, tầm vóc của bổn phận ấy hoàn toàn vượt trội hơn bất kỳ trách nhiệm nhỏ nhặt nào, bất kỳ nhu cầu cá nhân hẹp hòi nào mà anh cảm thấy, ngược lại, một cảm giác nhẹ nhõm tiếp nhận từ bên ngoài chi phối cách hành động của anh. Chẳng cần gì phải ngần ngừ nữa. Bổn phận của anh đã bày ra trước mắt: Anh phải đi.

Đi ư? Nếu thế thì sao còn không đi ngay! Quay trở về nhà, gặp lại Elisabeth, tìm kiếm một lời giải thích đau đớn và vô ích, ban sự tha thứ hoặc từ chối sự thứ tha mà người vợ của anh không đòi hỏi ở anh, sự thứ tha mà con gái của Hermine d’Andeville không đáng được nhận, phỏng có ích gì?

Một chiếc xe khách đang đợi trước cổng quán trọ chính, trên thân xe ghi rõ: “Dịch vụ hỏa xa Corvigny-Ornequin”. Vài hành khách đang lên xe. Chẳng cần nghĩ ngợi sâu xa thêm những chuyện này sẽ dẫn mình đến đâu, anh trèo vào xe.

Tại nhà ga Corvigny, anh được biết chuyến xe lửa của anh phải nửa tiếng nữa mới chuyển bánh và là chuyến cuối cùng bởi vì chuyến tàu đêm, có liên kết với chuyến tàu tốc hành ban đêm trên đường ray chính, đang không chạy. Paul mua vé, sau đó hỏi đường đến gặp người cho thuê xe ngựa trong làng, thấy ông ta còn sở hữu hai chiếc ô tô, anh bèn thu xếp với ông ta đánh ngay chiếc to hơn trong hai chiếc đến lâu đài Ornequin để phu nhân Paul Delroze tùy ý sử dụng.

Và anh đánh một bức điện ngắn gửi cho vợ:

“Elisabeth,

Tình hình đang nghiêm trọng đến nỗi anh phải đề nghị em rời khỏi Ornequin. Các chuyến xe lửa đang dừng chạy rất thất thường, nên anh gửi đến em chiếc xe ô tô đêm nay sẽ đưa em đến nhà bác em ở Chaumont. Anh cho rằng những người hầu sẽ đi cùng em, và nếu chiến tranh có xảy ra (mà theo anh thấy là không có khả năng đâu, bất chấp tình hình thế nào), thì Jérôme và Rosalie sẽ khóa cửa nhà lại và chuyển đến Corvigny.

Về phần anh, anh sẽ gia nhập vào trung đoàn của mình. Không cần biết tương lai trước mắt chúng ta có như thế nào, Elisabeth, anh sẽ không bao giờ quên người phụ nữ từng là vợ anh và mang họ của anh.

PAUL DELROZE.”

« Lùi
Tiến »