Đã chín giờ, không bám trụ được nữa, và viên Đại tá đang tức giận.
Lúc giữa đêm, ông ta đã mang theo trung đoàn của mình - đó là tháng đầu tiên của cuộc chiến, ngày Hai mươi hai tháng Tám năm 1914 - đến điểm giao cắt của ba con đường mà một ngả trong số này chạy từ Luxembourg thuộc Bỉ. Quân Đức đã chiếm cứ các phòng tuyến của tiền tuyến, cách đó bảy hoặc tám dặm, từ hôm kia. Viên tướng chỉ huy sư đoàn đã hạ lệnh rõ ràng họ phải cầm chân địch đến trưa, tức là cho đến khi toàn bộ sư đoàn có thể bắt kịp họ. Yểm trợ cho trung đoàn là mâm pháo gồm các khẩu bảy mươi lăm li.
Viên Đại tá bố trí quân dàn hàng ngang trong một chỗ trũng. Mâm pháo cũng được giấu đi theo cách tương tự. Thế nhưng, ngay khi ánh bình minh đầu tiên ló rạng, cả hai trung đoàn lẫn đại đội đều bị kẻ thù phát hiện và nã pháo tới tấp.
Họ đã di chuyển sang bên phải được một dặm hoặc hơn. Năm phút sau, các quả đạn pháo vẫn trút xuống giết chết nửa tá quân lính và hai sĩ quan.
Tiếp tục di chuyển lần nữa, mười phút sau đó, họ lại trần mình chịu đựng đợt nã pháo mới. Viên Đại tá vẫn trung thành với các chiến thuật của mình. Trong vòng một giờ đồng hồ, ba mươi lính của ông ta, kẻ chết, người bị thương. Một trong các khẩu pháo bị phá hủy. Và mới có chín giờ sáng.
“Mẹ kiếp!” Viên Đại tá thốt lên. “Thế quái nào chúng có thể phát hiện ra chúng ta chứ? Cứ như phù thủy ấy.”
Ông ta cùng mấy viên Thiếu tá, Đại úy pháo binh và vài chiến sĩ điệp báo đang trốn sau một bờ đất từ phía trên, nơi thu vào tầm mắt một dải vùng cao nhấp nhô khá rộng. Cách không xa lắm, về phía tay trái, là một ngôi làng bỏ hoang, trước mặt có mấy sào ruộng nằm rải rác, không thấy bóng bất kỳ kẻ thù nào trong toàn bộ vùng đất hoang vắng này. Chẳng hiểu cơn mưa đạn pháo đang bắn ra từ phía nào nữa. Các khẩu bảy mươi lăm li đã “càn quét” một, hai điểm, nhưng không thu được kết quả gì. Pháo vẫn tiếp tục bắn.
“Còn phải chịu đựng ba tiếng nữa.” Viên Đại tá gầm gừ. “Chúng ta sẽ làm được, nhưng sẽ mất một phần tư trung đoàn.”
Đúng lúc này, một trái pháo rít lên giữa các viên sĩ quan và các chiến sĩ điệp báo, rồi rơi phịch xuống con hào. Tất cả bật lùi lại, đợi chờ tiếng nổ. Nhưng có một người, là viên Hạ sĩ, chạy lên phía trước, cầm quả đạn pháo lên xem xét.
“Cậu điên à, Hạ sĩ!” Viên Đại tá rú lên. “Bỏ quả đạn xuống chạy cho nhanh đi!”
Viên Hạ sĩ nhẹ nhàng bỏ lại quả đạn pháo vào cái lỗ nó vừa tạo ra; tiếp theo, không hề vội vã, anh bước đến chỗ viên Đại tá, giậm gót giày rồi đứng nghiêm. “Xin lỗi, thưa ngài, nhưng tôi muốn xem xét kíp nổ để tính những khẩu pháo của địch cách ta bao xa. Hai dặm và năm mươi thước. Đáng để tìm hiểu lắm ạ!”
“Chúa ơi! Giả sử nó phát nổ thì sao đây?”
“À, thưa ngài, không liều làm sao mà biết!”
“Đúng, công nhận, nhưng dù sao vẫn quá mạo hiểm! Tên cậu là gì?”
“Paul Delroze, thưa ngài, hạ sĩ thuộc Đại đội Ba.”
“Chà, Hạ sĩ Delroze, xin chúc mừng cậu vì lòng quả cảm và tôi dám nói rằng cậu sẽ chóng đeo lon trung sĩ sớm thôi. Trong khi đó, nghe lời tôi khuyên và đừng làm thế nữa nhé...”
Tiếng nổ bất thình lình của mảnh đạn pháo cắt ngang lời ông ta. Một trong số các tay sĩ quan liên lạc đang đứng cạnh ông ta gục xuống, bị trúng mảnh đạn vào ngực, một viên sĩ quan loạng choạng khi bị đất xung quanh bắn tung tóe vào người.
“Đi thôi!” Viên Đại tá nói, khi mọi thứ đã yên ổn trở lại. “Chẳng còn làm được gì nữa ngoài trần mình chịu bão thôi. Cố gắng nấp cho kĩ vào, rồi đợi.”
Paul Delroze lại bước lên phía trước. “Thứ lỗi cho tôi, thưa ngài, vì dính mũi vào chuyện không phải của mình; nhưng tôi nghĩ chúng ta có thể tránh...”
“Tránh đạn rót vào đầu ấy hả? Tất nhiên, tôi chỉ cần thay đổi vị trí lần nữa. Nhưng đấy, chúng ta sẽ lại bị phát hiện ngay lập tức... Chàng trai à, cậu quay về chỗ đi.”
Paul khăng khăng. “Thưa ngài, có thể vấn đề không phải là thay đổi vị trí, mà là thay đổi hỏa lực của kẻ địch.”
“Thật sao!” Viên Đại tá hỏi, hơi chế nhạo một chút, tuy nhiên ông ta bị ấn tượng trước sự lạnh lùng của Paul. “Và cậu biết cách làm điều đó?”
“Vâng, thưa ngài!”
“Ý cậu là sao?”
“Cho tôi hai mươi phút, thưa ngài, tới lúc đó những trái pháo của địch sẽ bắn sang hướng khác.”
Viên Đại tá không thể ngăn mình mỉm cười. “Xuất sắc! Tôi hiểu là cậu sẽ khiến đạn pháo rơi theo ý mình đúng không?”
“Vâng, thưa ngài!”
“Trên ruộng củ cải đường đằng kia, cách một nghìn năm trăm thước về bên phải ấy hả?”
“Vâng, thưa ngài!”
Viên Đại tá pháo binh, vốn đang lắng nghe cuộc nói chuyện từ nãy giờ, đến lượt ông ta buông lời giễu cợt: “Nhân tiện, Hạ sĩ ạ, vì cậu đã cho tôi biết khoảng cách để từ đó tôi ước chừng được phương hướng, chẳng nhẽ cậu không thể cho tôi con số chính xác để còn biết đường đặt pháo đúng chỗ, tẩn cho trận địa pháo của Đức kia một trận à?”
“Như thế sẽ lâu hơn đấy, thưa ngài, khó khăn hơn nhiều nữa.” Paul đáp. “Nhưng tôi vẫn sẽ cố. Nếu ngài không phiền xem xét đường chân trời, chính xác là vào lúc mười một giờ, hướng về phía tiền tuyến, tôi sẽ phát tín hiệu.”
“Tín hiệu kiểu gì?”
“Tôi không biết, thưa ngài. Ba quả pháo hiệu, tôi nghĩ vậy.”
“Nhưng tín hiệu của cậu sẽ vô dụng trừ phi cậu phát nó đi ngay phía trên vị trí của quân thù.”
“Đúng vậy, thưa ngài!”
“Và để làm được thế, cậu sẽ phải biết nó nằm ở đâu.”
“Tôi sẽ biết, thưa ngài.”
“Và tới được nơi đó.”
“Tôi sẽ tới được, thưa ngài.”
Paul đứng nghiêm chào, quay gót, và khi các viên sĩ quan chưa kịp thể hiện thái độ ủng hộ hay phản đối, anh đã chạy men chân dốc với tốc độ rất nhanh, lao mình sang bên trái xuống một nơi như lòng chảo, có các mép bụi gai mâm xôi tua tủa, rồi khuất khỏi tầm nhìn.
“Đúng là một anh chàng lạ lùng.” Viên Đại tá nói. “Tôi tự hỏi cậu ta thực sự muốn làm cái gì?”
Sự gan dạ và quyết định của tay lính trẻ khiến viên Đại tá muốn ủng hộ anh; cho dù cảm thấy không mấy tin tưởng vào kết quả của hành động này, nhưng ông ta cũng không thể ngăn mình xem đồng hồ, hết lần này đến lần khác, trong từng phút ở bên cạnh các sĩ quan, phía sau thành lũy làm bằng cỏ khô yếu ớt. Đó là những phút giây căng thẳng cùng cực, tới nỗi không một phút nào viên sĩ quan chỉ huy dám nghĩ đến an nguy của bản thân, mà chỉ nghĩ đến những binh lính dưới quyền ông ta, mà ông ta xem như con, đang gặp nguy hiểm.
Ông ta thấy họ xung quanh mình, đang nằm dài trên gốc rạ, với những cái ba lô gối đầu, hoặc ngồi thu mình gọn ghẽ trong các bụi cây nhỏ, hoặc ngồi chồm hỗm trong các chỗ trũng trên mặt đất. Cơn cuồng phong thử lòng gan dạ ngày càng cuồng loạn. Nó không ngừng trút xuống như thể trận mưa cuồng nộ lăm le muốn kết thúc nhanh công cuộc hủy diệt của nó. Đám binh sĩ đứng bật dậy, giậm giậm chân rồi đứng đó bất động, chìm giữa những tiếng la hét của những người bị thương, tiếng quát tháo của các binh lính đang nhận xét hay bông đùa với nhau, và át hết tất cả mọi thứ, là những tiếng nổ không ngừng như tiếng sấm của những trái đạn pháo.
Và rồi, bỗng im lặng! Sự im lặng hoàn toàn, rõ nét, sự yên tĩnh rõ nét trên không trung và dưới mặt đất, mang lại cảm giác nhẹ nhõm không thể nói nên lời!
Viên Đại tá bày tỏ nỗi vui sướng bằng cách phá lên cười. “Chúa ơi, Hạ sĩ Delroze biết rõ mình đang làm gì! Chiến tích vĩ đại nhất chính là ruộng củ cải đường sẽ là nơi hứng đạn pháo, đúng như cậu ta đã hứa.”
Ông ta còn chưa nói xong thì một trái đạn pháo cách đó một nghìn năm trăm thước về phía tay phải bỗng phát nổ, không phải trên ruộng củ cải đường, mà là gần phía trước ruộng một chút. Quả thứ hai còn xa hơn thế. Quả thứ ba rơi đúng chỗ. Và trận pháo kích bắt đầu đẩy mạnh mẽ.
Sự chính xác về mặt tính toán trong việc thực hiện nhiệm vụ đầy chấn động của tay Hạ sĩ đã khiến viên Đại tá cùng các sĩ quan của ông ta không hề nghi ngờ rằng anh sẽ hoàn thành nó đến cùng, và bất chấp vô vàn những chướng ngại, anh sẽ phát tín hiệu thành công đúng như thỏa thuận.
Họ không ngừng quan sát khắp đường chân trời bằng ống nhòm, trong khi kẻ địch tăng cường gấp đôi nỗ lực pháo kích ruộng củ cải đường.
Lúc mười một giờ năm phút, một quả pháo hiệu đỏ rực phóng lên. Có vẻ như nó bay sang bên phải nhiều hơn họ tưởng. Tiếp theo là hai quả pháo hiệu khác.
Bằng ống nhòm, viên Đại tá pháo binh sớm phát hiện ra một gác chuông nhà thờ vừa xuất hiện trên một thung lũng, mà thực sự không thể nhìn thấy nó giữa những nhấp nhô của bình nguyên; chóp nhọn của tháp chuông chỉ nhô lên có một tí, đến nỗi rất dễ nhầm nó thành một cái cây. Liếc nhanh trên bản đồ cho thấy đó là làng Brumoy.
Từ trái đạn pháo mà cậu Hạ sĩ đã xem xét, biết được khoảng cách chính xác của trận địa pháo Đức, viên Đại tá gọi điện cung cấp chỉ dẫn cho viên Trung úy. Nửa giờ sau, các trận địa pháo Đức đã câm họng; và khi quả pháo hiệu thứ tư bắn lên thì toàn bộ các khẩu bảy mươi lăm li liên tục oanh kích nhà thờ cũng như ngôi làng và khu vực liền kề gần nhất.
Hơn mười hai giờ một chút, đại đội có sự gia nhập của một nhóm lính đi xe đạp phía trước sư đoàn. Mệnh lệnh được đưa ra là tiến quân bằng mọi giá.
Đại đội tiến quân, không gặp phải sự phản kháng nào, khi họ đến gần Brumoy, ngoại trừ vài phát súng lẻ tẻ. Nhánh quân tập hậu của địch đang rút lui.
Ngôi làng chỉ còn là một đống đổ nát hoang tàn, một vài ngôi nhà trong làng vẫn đang bốc cháy, phơi ra một đống bừa bãi, hỗn loạn khó tin nhất với những xác chết, những người bị thương, những con ngựa chết, những khẩu súng bị hỏng, những hòm đạn dược và các xe hành lý. Nguyên một lữ đoàn kinh ngạc trước khoảnh khắc cầm chắc đã quét sạch đám quân phía bên kia khỏi mặt đất, thì họ lại hành quân đến tấn công.
Nhưng một tiếng quát vẳng xuống từ nóc nhà thờ, phía mặt tiền và gian chính điện vốn đã đổ sụp phơi ra khung cảnh hỗn độn không bút nào tả xiết. Chỉ có ngọn tháp, bị dính một lỗ đạn pháo và bị khói súng nhuộm đen từ những rầm nhà đang cháy, là vẫn đứng vững, nhờ trạng thái cân bằng kỳ diệu nào đó, ngự trên đỉnh là chóp nhọn bằng đá mảnh mai. Với thân người đang vươn ra khỏi chóp nhọn này, một người nông dân đang vẫy tay và la hét nhằm thu hút sự chú ý.
Các viên sĩ quan nhận ra Paul Delroze.
Bước qua đống rác rưởi, các binh sĩ trèo lên cầu thang dẫn đến nền tháp. Ở đây, đang nằm chất đống tựa vào cánh cửa dẫn lên chóp nhọn là xác của tám tên lính Đức; cánh cửa ra vào đã hư hỏng với dấu thánh giá cũng rơi đâu mất nằm bịt kín lối vào đến nỗi buộc phải chặt nó ra thành từng mảnh mới có thể đưa Paul ra ngoài.
Đến cuối chiều, khi biết rõ các chướng ngại ngăn cản việc truy đuổi kẻ thù khó khăn đến thế nào, viên Đại tá ôm chầm lấy Hạ sĩ Delroze trước mặt cả trung đoàn đang tập trung lại trên quảng trường.
“Nói về phần thưởng cho cậu trước nhé.” Ông ta nói. “Tôi sẽ trao tặng cậu huân chương quân sự, chắc chắn cậu sẽ nhận được nó. Còn giờ, chàng trai của tôi, kể câu chuyện của cậu cho chúng tôi nghe đi.”
Và Paul đứng giữa đám đông các sĩ quan và hạ sĩ quan của từng đại đội vây xung quanh trả lời các câu hỏi.
“Chà, thực sự đơn giản lắm, thưa ngài.” Anh nói. “Chúng ta đang bị theo dõi.”
“Thì rõ rồi, nhưng kẻ nào là gián điệp và hắn đang ở đâu?”
“Tôi vô tình biết được điều đó. Cạnh vị trí mà chúng ta chiếm cứ sáng nay, có một ngôi làng và một nhà thờ đúng không?”
“Đúng, nhưng khi đến nơi tôi đã cho sơ tán ngôi làng, không còn ai trong nhà thờ hết.”
“Thưa ngài, nếu không còn ai trong nhà thờ, vậy tại sao đầu nhọn cái chong chóng lại chỉ hướng gió từ phía đông, khi mà nó đang thổi từ phía tây? Và tại sao khi chúng ta đổi vị trí, thì nó lại xoay theo hướng của chúng ta?”
“Cậu có chắc không?”
“Có, thưa ngài! Đó là lý do tại sao sau khi được ngài cho phép rời đi, tôi đã không chần chừ lẻn vào trong nhà thờ, lên tháp chuông gắng hết sức không gây tiếng động. Và tôi đã không nhầm. Có một người ở đó mà tôi đã cố gắng không chế, khó khăn lắm đấy ạ.”
“Tên vô lại! Người Pháp à?”
“Không thưa ngài, tên người Đức ăn mặc giả nông dân.”
“Hắn sẽ bị xử tử.”
“Không, làm ơn thưa ngài. Tôi đã hứa giữ mạng sống cho hắn.”
“Không bao giờ!”
“Thưa ngài, ngài nghĩ xem. Tôi phải tìm hiểu làm thế nào mà hắn liên tục thông báo được cho kẻ địch.”
“Thế sao?”
“Ôi, hóa ra đơn giản lắm! Nhà thờ có một cái đồng hồ ngoảnh về phía bắc, thế nên từ chỗ chúng ta không thể nhìn thấy mặt số. Từ bên trong, anh bạn của chúng ta lấy tay điều chỉnh sao cho kim phút, lần lượt dừng ở ba hoặc bốn con số, cho biết chính xác khoảng cách từ chỗ chúng ta đến nhà thờ, theo hướng chỉ của chong chóng gió. Sau đó đích thân tôi đã làm thế, ngay lập tức quân địch lại chuyển hướng pháo kích theo chỉ dẫn của tôi, liên tục nã pháo xuống ruộng củ cải đường.”
“Bọn chúng đã làm thế thật.” Viên Đại tá nói, phá lên cười.
“Tôi chỉ còn một việc duy nhất phải làm, đó là tiếp tục chạy đến trạm quan sát khác, nơi tiếp nhận những tin nhắn của tên gián điệp này. Tại đó tôi sẽ biết được những chi tiết cơ bản mà bản thân tên gián điệp này còn mù tịt, tôi muốn nói là nơi địch giấu trận địa pháo của chúng. Thế nên tôi chạy đến nơi này, và chỉ khi tới đây tôi mới trông thấy những trận địa pháo này và cả một lữ đoàn Đức đồn trú ngay dưới chân nhà thờ, đóng vai trò như một trạm phát tín hiệu.”
“Nhưng đúng là hành vi khinh suất điên rồ! Chúng không nổ súng bắn cậu à?”
“Tôi mặc quần áo của tên gián điệp, thưa ngài, tên gián điệp của chúng. Hơn nữa tôi nói được tiếng Đức, nên tôi biết mật mã và chỉ một tên trong bọn chúng quen biết tên gián điệp, đó là tên sĩ quan có nhiệm vụ quan sát. Không một chút nghi ngờ, viên tướng chỉ huy lữ đoàn bảo tôi đến gặp hắn, ngay sau khi tôi bảo tên tướng địch rằng quân Pháp đã phát hiện ra tôi và tôi đã cố gắng thoát khỏi bọn chúng.”
“Cậu hơi liều đấy...”
“Tôi buộc phải thế, thưa ngài, hơn nữa tôi đã nắm trong tay những quân bài tẩy. Viên sĩ quan không chút nghi ngờ gì, khi tôi lên đến chỗ nền tháp nơi hắn đang gửi tín hiệu, tôi chẳng gặp chút khó khăn gì khi tấn công hắn và bắt hắn im lặng. Công việc của tôi đã xong và tôi chỉ việc gửi tín hiệu như đã thỏa thuận.”
“Chỉ có thế thôi hả? Trong vòng vây của sáu, bảy ngàn tên địch!”
“Thưa ngài, tôi đã hứa là gửi tín hiệu lúc mười một giờ. Trên nền tháp có đầy đủ trang thiết bị cần thiết để gửi các tín hiệu ban ngày hoặc ban đêm. Thế sao tôi lại không dùng nhỉ? Tôi bắn một quả pháo hiệu, quả thứ hai, rồi quả thứ ba và thứ tư; và trận chiến đã bắt đầu.”
“Nhưng những quả pháo hiệu đó là chỉ dẫn pháo kích vào đúng ngọn tháp cậu đang ở bên trong! Tức là chúng tôi đang bắn vào chính cậu!”
“Ôi, tôi đảm bảo với ngài, vào lúc ấy chẳng ai nghĩ đến những chuyện như thế cả! Tôi chào đón trái đạn pháo đầu tiên bắn trúng nhà thờ. Sau đó kẻ địch chẳng cho tôi lấy một giây suy nghĩ. Nửa tá tên lính ngay lập tức trèo lên tháp. Tôi hạ gục một vài tên bằng khẩu súng lục của mình; nhưng đợt tấn công thứ hai tràn lên, rồi một đợt nữa. Tôi buộc phải nấp sau cánh cửa ra vào chắn đường lên chóp nhọn. Khi chúng phá được cửa, vừa hay nó tạo cho tôi một lá chắn; và tôi lấy được súng đạn của mấy tên lính đầu tiên, với lá chắn vững chãi và chỗ nấp hoàn hảo không bị phát hiện, quá dễ cho tôi bẻ gãy cuộc vây hãm bình thường.”
“Trong khi các khẩu pháo bảy mươi lăm li của chúng ta đang nã đạn vào cậu.”
“Trong khi các khẩu pháo bảy mươi lăm li của chúng ta đang giải phóng cho tôi, thưa ngài; vì ngài có thể hiểu là, một khi nhà thờ bị phá hủy và gian chính điện bốc cháy, sẽ không còn tên nào dám mạo hiểm bò lên tháp nữa. Tôi chẳng có việc gì để làm ngoài việc kiên nhẫn đợi mọi người đến.”
Paul Delroze đã kể câu chuyện của mình một cách đơn giản nhất, như thể đó là một chuyện rất tự nhiên. Sau khi chúc mừng anh lần nữa, viên Đại tá khẳng định sẽ phong quân hàm cho anh lên trung sĩ và nói: “Cậu không có gì để hỏi tôi à?”
“Vâng thưa ngài, tôi nên dành vài câu hỏi cho tên gián điệp Đức tôi đã bỏ lại, cùng lúc đó, tôi sẽ lấy lại bộ quân phục của mình mà tôi đã giấu.”
“Rất tốt, cậu sẽ ăn tối ở đây, rồi chúng tôi sẽ tặng cậu một chiếc xe đạp.”
Paul quay lại chỗ nhà thờ đầu tiên vào lúc bảy giờ tối. Chờ đón anh là nỗi thất vọng tràn trề. Tên gián điệp đã bẻ gãy xích và bỏ trốn.
Paul đã tìm khắp nhà thờ và cả trong làng nhưng vô vọng. Tuy nhiên, trên một trong các bậc thềm cầu thang, gần cái nơi anh lao mình vào tên gián điệp, anh nhặt được một con dao găm mà kẻ địch đã cố đâm vào anh. Nó giống hệt con dao găm anh đã nhặt lên trên bãi cỏ, ba tuần trước, bên ngoài cánh cổng nhỏ trong khu rừng Ornequin. Nó cũng có lưỡi dao ba cạnh, cũng có cán dao làm bằng sừng màu nâu và cũng có bốn chữ cái: H, E, R, M.
Tên gián điệp và ả đàn bà có sự tương đồng lạ lùng với Hermine d’Andeville, ả sát nhân đã giết chết cha anh kia, cả hai cùng sử dụng vũ khí giống nhau.
◇
Hôm sau, sư đoàn có trung đoàn của Paul tiếp tục thế tấn công và tiến vào Bỉ sau khi đẩy lui quân thù. Nhưng vào buổi tối, viên tướng nhận được lệnh rút lui.
Cuộc rút lui bắt đầu. Đau đớn là điều ai ai cũng cảm thấy, nó còn nặng nề gấp đôi đối với những binh lính từng nếm hương vị chiến thắng ngay từ đầu. Paul cùng các đồng đội của mình trong Đại đội Ba không thể giấu được sự phẫn nộ và tuyệt vọng. Suốt nửa ngày của họ ở Bỉ, chứng kiến đống đổ nát của một thành phố nhỏ bị quân Đức phá hủy, xác của tám mươi phụ nữ bị bắn chết, những ông già bị treo cổ, xác trẻ em bị sát hại chất chồng. Thế mà họ phải rút quân trước bầy ác quỷ này!
Một số binh sĩ người Bỉ đã gia nhập đại đội; với những gương mặt vẫn còn chưa nguôi nét kinh hoàng trước những hình ảnh gớm ghiếc mà họ phải chứng kiến, mấy anh chàng này kể các câu chuyện mà ngay cả đầu óc giàu trí tưởng tượng nhất cũng chào thua. Thế mà các binh sĩ của chúng ta phải rút lui. Họ phải rút lui với lửa căm thù bóp nghẹt con tim và khao khát trả thù bừng bừng thể hiện qua đôi tay ngày một siết chặt thêm những khẩu súng trường.
Vậy tại sao họ phải rút lui? Đây không phải là vấn đề sợ bị thất bại, bởi vì họ đang rút lui một cách có trật tự, thi thoảng có chợt dừng lại và giáng những đòn phản công mạnh mẽ vào quân thù đang rối loạn. Nhưng số lượng của chúng áp đảo sự kháng cự. Làn sóng những kẻ man di dần tập hợp lại. Nơi có nghìn người chết thì bị chiếm cứ bởi hai nghìn người sống. Nên binh sĩ của chúng ta phải rút lui.
Một buổi tối, Paul biết được một trong những lý do của cuộc rút lui này từ một tờ tạp chí số ra đã mấy tuần; và tin tức ấy khiến anh đau đớn đến rụng rời. Vào ngày Hai mươi tháng Tám, Corvigny đã thất thủ trong trận tấn công, sau vài giờ bị oanh kích dưới những điều kiện không thể giải thích nổi, trong khi thành trì này được tin là có khả năng chống chọi trong ít nhất vài ngày, và sẽ hỗ trợ mạnh mẽ thêm cho các hoạt động của quân ta thọc vào sườn trái quân Đức.
Vậy là Corvigny đã thất thủ; và lâu đài Ornequin, đáng lẽ đã được Jérôme và Rosalie bỏ hoang như Paul dự tính, giờ đã bị phá hủy, bị cướp bóc một cách triệt để, có phương pháp, như bọn man di hay làm trong tội ác hủy diệt của chúng. Ở phía này cũng vậy, bọn phát xít tàn bạo đang hối hả tập hợp lại.
Đó là những tháng ngày kinh hoàng, vào cuối tháng Tám, có lẽ là những ngày tháng bi kịch nhất mà nước Pháp từng trải qua. Paris bị đe dọa, một tá cơ quan bị xâm chiếm. Hơi thở giá buốt của tử thần treo lơ lửng trên đất nước hào hoa của chúng ta.
Vào buổi sáng của một trong những ngày như thế, Paul nghe thấy một giọng nói vui vẻ gọi mình từ nhóm binh sĩ trẻ sau lưng anh: “Anh Paul! Anh Paul! Cuối cùng em cũng tìm được anh! May mắn thật, đúng không?”
Các binh sĩ trẻ này là những chàng trai đăng lính tình nguyện được biệt phái vào đại đội; và Paul ngay lập tức nhận ra cậu em trai của Elisabeth, Bernard d’Andeville. Anh không có thời gian nghĩ tới thái độ tốt nhất mà anh nên có. Phản ứng đầu tiên của anh hẳn sẽ là quay lưng đi, nhưng Bernard đã nắm lấy hai bàn tay anh, siết chặt chúng với tất cả sự nồng hậu tử tế, cho thấy cậu ta vẫn chưa biết gì về trục trặc giữa Paul với vợ anh.
“Phải, là em đây, ông bạn già.” Cậu ta hồ hởi nói lớn. “Em có thể gọi anh là ông bạn già được chứ? Sao thấy em đây anh có vẻ không tin nổi nhỉ? Anh đang nghĩ đây là cuộc gặp gỡ may mắn, như sự trùng hợp nào đó chưa từng thấy, anh rể và em vợ lại tình cờ ở cùng một đại đội. Không phải thế đâu, tất cả là nhờ đề nghị trực tiếp của em đấy. Em đã nói với các nhà chức trách thế này: “Tôi đăng lính vừa vì bổn phận cũng vừa vì tôi thích nữa”, hoặc những lời có hiệu ứng tương tự vậy: “Nhưng với tư cách là một vận động viên xuất sắc, cũng như là người luôn đoạt giải thưởng trong các môn thể thao và ở các câu lạc bộ huấn luyện mình tham gia, tôi muốn được ra tiền tuyến ngay lập tức, được xung vào cùng một đại đội với anh rể tôi, Hạ sĩ Paul Delroze.” Và vì họ không thể làm được gì nếu không có sự phục vụ của em, nên em được phái về đây... Thế nào? Trông anh có vẻ không được vui lắm nhỉ...?”
Paul hầu như không lắng nghe. Anh tự nhủ với mình: “Đây là con trai của Hermine d’Andeville. Thằng nhóc giờ đang chạm vào mình là con trai ả đàn bà đã giết...”
Nhưng gương mặt Bernard cho thấy sự thật thà và niềm vui nồng nhiệt khi gặp anh đến nỗi anh nói: “Vui chứ! Chỉ là cậu vẫn còn trẻ quá thôi!”
“Em ư? Em già chát rồi mà. Em tròn mười bảy vào ngày đăng lính đấy.”
“Nhưng cha em không nói gì à?”
“Ông cụ để em đi mà. Nhưng tất nhiên, lẽ ra em không nên để ông đi.”
“Ý cậu là sao?”
“Sao gì nữa, ông cụ cũng đăng lính luôn rồi.”
“Ở tuổi của ông ấy sao?”
“Vớ vẩn nào, ông ấy vẫn còn trẻ mà. Ngày đăng lính ông ấy mới năm mươi thôi! Họ tìm cho ông ấy công việc làm thông dịch viên cùng một nhân viên người Anh. Toàn gia đình làm lính, anh thấy đấy... À mà quên mất, em có lá thư của chị Elisabeth gửi anh!”
Paul giật mình. Anh đã cố tình lảng tránh không hỏi han về vợ. Giờ khi nhận lá thư, anh nói: “Vậy là cô ấy trao cho cậu lá thư...?”
“Không ạ, chị ấy gửi thư cho em từ Ornequin.”
“Từ Ornequin? Sao có thể thế được? Elisabeth đã rời Ornequin từ cái hôm tổng động viên, vào buổi tối rồi mà. Cô ấy sẽ đến Chaumont, ở nhà bà bác.”
“Không anh ạ. Em đã đến chào từ biệt bác em rồi, bà ấy không còn nghe được tin tức gì về chị Elisabeth kể từ khi chiến tranh bắt đầu. Hơn nữa, anh nhìn phong bì mà xem: “Paul Delroze, nhờ ngài d’Andeville chuyển giúp, ở Paris...” Dấu bưu điện là ở Ornequin và Corvigny.”
Paul nhìn rồi nói lắp bắp: “Phải, cậu nói đúng; anh có thể đọc được ngày tháng trên dấu bưu điện: Mười tám tháng Tám . Ngày Mười tám tháng Tám... Corvigny bị thất thủ vào tay quân Đức hai ngày sau đó, ngày Hai mươi tháng Tám. Thế mà Elisabeth vẫn ở đó.”
“Không, không phải!” Bernard kêu lên. “Chị Elisabeth có còn là trẻ con nữa đâu! Chắc chắn anh không nghĩ chị ấy chỉ biết ngồi yên chờ bọn Đức tới sát tiền tuyến đấy chứ! Chị ấy lại chẳng rời khỏi lâu đài ngay sau tiếng súng đầu tiên ấy. Em hy vọng chị ấy cũng sẽ nói với anh như thế trong thư. Tại sao anh không đọc thư ngay đi, Paul?”
Về phần mình, Paul không hiểu mình sẽ biết cái gì khi đọc lá thư này, rồi anh run rẩy mở phong bì.
Elisabeth đã viết như sau:
“Anh Paul,
Em không thể hạ quyết tâm rời khỏi Ornequin. Nơi này níu chân em vì một bổn phận mà em sẽ phải hoàn thành, bổn phận chứng minh sự trong sạch cho hồi ức của mẹ em. Hãy hiểu cho em, Paul. Trong trái tim em thì mẹ chính là tạo vật thuần khiết nhất. Là người phụ nữ đã một tay bế ẵm và nuôi dưỡng em, là người mà cha em mãi dành trọn tình yêu, không được nghi ngờ bà ấy. Nhưng chính anh đã buộc tội bà ấy, và ước muốn bảo vệ bà ấy khiến em buộc phải chống lại anh. Để anh tin tưởng em, em sẽ tìm kiếm bằng chứng mà không nhất thiết thuyết phục được em. Dường như với em, chỉ cần ở lại đây em mới có thể tìm thấy những bằng chứng đó. Thế nên em sẽ ở lại.
Jérôme và Rosalie cũng ở lại với em, cho dù bọn em biết kẻ thù đang ở rất gần. Cả hai người đó đều có trái tim quả cảm, nên anh không việc gì phải sợ hết, vì em sẽ không ở đây một mình đâu.
ELISABETH DELROZE.”
Paul gập lá thư lại. Gương mặt anh còn hơn cả tái nhợt.
Bernard hỏi: “Chị ấy đi rồi ạ?”
“Không, cô ấy ở lại.”
“Nhưng làm thế đúng là điên rồ! Với những con thú điên khắp xung quanh đó! Một dinh thự trơ trọi!... Nhưng nghe này, anh Paul, chắc chắn chị ấy phải biết đến những nguy hiểm khủng khiếp đe dọa mình!... Chuyện gì có thể khiến chị ấy ở lại đó? Ôi trời, nghĩ đến thôi đã thấy sợ rồi...”
Paul im lặng đứng đó, gương mặt đăm chiêu và hai nắm tay siết chặt...