Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 230 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
ả nông dân ở corvigny

Ba tuần trước, khi nghe tin có chiến tranh, Paul đã cảm thấy dâng tràn trong anh quyết tâm để mình bị giết bất kỳ lúc nào. Bi kịch của cuộc đời anh, nỗi kinh hoàng của cuộc hôn nhân với người phụ nữ mà trong sâu thẳm trái tim anh vẫn yêu tha thiết, sự chắc chắn anh đã có được tại lâu đài Ornequin; tất cả ảnh hưởng đến anh tới nỗi anh xem cái chết như trò đùa. Với anh, ngay từ đầu và không chần chừ, chiến tranh tượng trưng cho cái chết. Cho dù anh có ngưỡng mộ những sự kiện đầy ấn tượng và vô cùng nghiêm trọng suốt mấy tuần đầu tiên nhiều đến đâu - như trật tự hoàn hảo của lệnh tổng động viên, lòng nhiệt tình hăng hái của các binh sĩ trẻ, sự đoàn kết tuyệt vời bao trùm nước Pháp, sự thức tỉnh của những linh hồn dân tộc - không một cảnh tượng tuyệt vời nào trong số này khiến anh chú ý. Tận sâu thẳm trong tâm hồn anh đã quyết tâm sẽ thực hiện những hành động mà ngay cả phép mầu hoang đường nhất cũng không cứu nổi anh.

Thế nên anh nghĩ mình đã tìm thấy đúng dịp mình muốn ngay ngày đầu tiên. Để khống chế tên gián điệp mà anh đã nghi ngờ hắn có mặt trong tháp chuông nhà thờ, và sau đó là thâm nhập vào chính hàng ngũ kẻ thù, để ra hiệu thông báo về vị trí, nghĩa là đối mặt với cái chết mười mươi. Anh đã dũng cảm tiến bước. Vì anh có ý thức rất rõ ràng về nhiệm vụ của mình, nên đã hoàn thành nó vừa thận trọng vừa quả cảm. Anh sẵn sàng hứng chịu cái chết, nhưng mà là chết sau khi đã hoàn thành nhiệm vụ. Anh chợt nhận thấy một niềm vui bất ngờ lạ lùng trong bản thân hành động ấy và tro cả sự thành công theo sau đó.

Việc phát hiện ra con dao găm tên gián điệp sử dụng có ấn tượng rất mạnh với anh. Mối liên kết mà nó thiết lập giữa tên này và kẻ đã cố đâm chết anh là gì? Mối liên kết giữa hai kẻ này với nữ Bá tước d’Andeville, người đã chết mười sáu năm trước là gì? Làm thế nào, và bằng những liên kết mơ hồ nào, mà tất cả chúng lại có liên quan tới hành động lừa dối và do thám đã khiến Paul kinh ngạc không ít lần?

Nhưng trên hết, lá thư của Elisabeth đã đến với anh như một quả đấm rất mạnh. Cô ấy vẫn ở đó, ngay giữa hòn tên mũi đạn, giữa tâm cuộc chiến đang nóng bỏng quanh lâu đài, giữa sự điên cuồng và cơn thịnh nộ của những kẻ thắng cuộc, giữa lửa cháy, giữa tiếng súng, giữa những nỗi thống khổ và sự bạo tàn! Cô ấy ở đó, hẵng còn trẻ đẹp như thế, gần như một mình, không còn ai bảo vệ! Cô ấy ở lại đó chỉ vì anh, Paul, vì anh đã không đủ gan quay về với cô ấy, gặp lại cô ấy lần nữa và mang cô ấy đi cùng mình!

Những suy nghĩ này khuấy động trong Paul từng cơn tuyệt vọng mà vì chúng anh đã bất thần quăng mình vào con đường nguy hiểm, theo đuổi những sự nghiệp điên rồ đến tận cùng, bất chấp chuyện gì xảy ra đi nữa, với lòng quả cảm, trầm tĩnh và sự cứng đầu mạnh mẽ khiến các đồng đội của anh vô cùng kinh ngạc xen lẫn ngưỡng mộ. Từ đó về sau, dường như thứ anh tìm kiếm không phải cái chết, mà là thứ ảo giác ghê gớm mà con người cảm thấy khi khinh thường cái chết.

Thế rồi cũng đến ngày mùng Sáu tháng Chín, cái ngày kỳ diệu chưa từng thấy khi vị Tổng Tư lệnh vĩ đại của chúng ta phát biểu trước các hàng quân mấy lời không thể nào quên, cuối cùng ông ta cũng ra lệnh cho họ tung đòn giáng trả kẻ thù. Cuộc rút lui đầy gan dạ và hiểm nghèo đã đến hồi kết thúc. Kiệt sức, không kịp thở, căng sức chống lại quân thù vượt trội về quân số suốt mấy ngày liên tiếp, không có thời gian ngủ nghệ hay ăn uống, hành quân bằng những nỗ lực phi thường, thậm chí khi họ còn không được tỉnh táo, không thể giải thích tại sao họ lại không gục xuống trong những con hào bên đường, đợi chờ cái chết, nhưng lúc đó họ sẽ nhận được mệnh lệnh sau: “Dừng lại! Đằng sau quay! Giờ nhìn thẳng vào quân thù đi!”

Và họ quay ra đằng sau. Những binh sĩ sắp chết này bỗng cảm thấy sức mạnh trào dâng. Từ những người khiêm nhường nhất đến những người mạnh mẽ nhất, ai ai cũng đều nỗ lực bằng hết sức mình và chiến đấu như thể sự an toàn của cả nước Pháp đều chỉ đặt vào tay họ. Có bao nhiêu người lính sẽ có bấy nhiêu anh hùng vinh quang. Họ chỉ có hai lựa chọn: chinh phục hoặc chết. Và họ đã chinh phục.

Paul là ngôi sao chói sáng trong hàng ngũ binh sĩ tuyến đầu quả cảm. Bản thân anh biết rõ mình làm gì và trải qua những gì, anh cố gắng làm cái gì và đạt được thành công gì khi vượt qua cả giới hạn của chính mình. Vào ngày mùng Sáu, mùng Bảy và mùng Tám, rồi lại từ các ngày Mười một đến Mười ba, bất chấp đã sức cùng lực kiệt, bất chấp sự mệt mỏi vì thiếu ngủ và đói khát mà con người bình thường không thể nào vượt qua nổi, trong anh không cảm thấy gì hết ngoài khao khát tiến lên, tiếp tục tiến lên - và không ngừng tiến lên. Không cần biết dưới nắng gắt hay trong bóng râm, không cần biết trên các bờ con sông Marne hay trên những sườn dốc lắm cây cối của vùng Argonne, không cần biết là phía bắc hay phía đông, chỉ biết khi sư đoàn của anh được phái đi tiếp viện cho các đại đội ở tiền tuyến, thì không cần biết đang nằm sát đất hay bò dọc theo các luống cày, hay khi đứng dậy và đánh giáp lá cà bằng lưỡi lê, lúc nào anh cũng xông pha lên phía trước, mỗi bước chân là để giải cứu, mỗi bước chân là để chinh phạt.

Mỗi bước chân cũng làm tăng lòng hận thù trong trái tim anh. Ôi, cha anh đã đúng làm sao khi ông ghê tởm những hạng người này! Giờ đây Paul đã thấy chúng hành động. Trên mọi nẻo đường là khung cảnh tàn phá ngu xuẩn và hủy diệt phi lý, là đốt phá, cướp bóc và chết chóc, là những con tin bị bắn chết, phụ nữ bị sát hại, một cách vô nhân tính, chỉ vì chúng yêu thích việc làm như thế. Những nhà thờ, những trang viên, những thái ấp của người giàu và những căn nhà gỗ nhỏ của người nghèo: không thứ gì còn nguyên vẹn. Ngay cả những đống hoang tàn cũng bị san phẳng, ngay cả các xác chết cũng bị tra tấn.

Ôi, thật vui sướng làm sao khi đánh bại một kẻ địch như thế. Cho dù chỉ còn lại một nửa sức mạnh, trung đoàn của Paul vẫn ào ạt xông lên như bầy chó săn, không ngừng cắn xé những con thú hoang là mồi săn của chúng. Dường như mỏ đá càng đến gần hơn càng trở nên nguy hiểm và ghê gớm; binh sĩ của chúng ta vẫn bất chấp tất cả lao vào chúng với hy vọng điên cuồng giáng một đòn trí mạng.

Một hôm, Paul đọc trên tấm biển tại một ngã tư:

Corvigny, mười bốn cây số nữa.

Ornequin, ba mươi mốt cây bốn nữa.

Tiền tuyến, ba mươi ba cây hai nữa.

Corvigny! Ornequin! Cơn buốt lạnh chạy dọc sống lưng anh khi nhìn thấy những từ ngữ bất ngờ ấy. Theo quy định, khi lọt giữa tâm xung đột và khi có nhiều mối bận tâm riêng tư, anh chẳng bao giờ quan tâm đến tên gọi những nơi anh đã đi qua; và anh chỉ tình cờ biết đến chúng. Nhưng giờ bỗng nhiên anh chỉ còn cách lâu đài Ornequin một đoạn nữa! Corvigny, mười bốn cây số, chưa đến chín dặm... Quân Pháp có đến được Corvigny không, vì cái nơi được phòng thủ sơ sài này đã rơi vào tay quân Đức trong cuộc tấn công và bị chiếm trong những hoàn cảnh lạ lùng?

Ngày hôm ấy, từ ban ngày họ đã chiến đấu với một kẻ thù có sức kháng cự dường như mỗi lúc càng yếu ớt. Là chỉ huy nhóm đặc nhiệm, Paul được cử đến ngôi làng Bléville với mệnh lệnh phải vào được trong làng nếu kẻ thù đã rút lui, nhưng không được tiến xa thêm nữa. Vừa đi qua những ngôi nhà cuối cùng trong làng thì anh đọc được tấm biển nói trên.

Vào lúc này, tâm trí anh vẫn chưa hoàn toàn ổn. Một chiếc Taube cánh đơn đã bay qua vùng này vài phút trước. Có khả năng là một trận phục kích.

“Về làng thôi.” Anh nói. “Trong khi chờ đợi, chúng ta sẽ lấy thân mình làm công sự.”

Nhưng sau lưng một ngọn đồi lắm cây cối cắt ngang con đường theo hướng Corvigny vang lên một tiếng ồn lạ lùng, mỗi lúc lại nghe rõ hơn trước, cho tới khi Paul nhận ra âm thanh mạnh mẽ của một chiếc ô tô, không nghi ngờ gì nữa, là xe có gắn súng liên thanh.

“Nhảy xuống hào mau lên.” Anh kêu lên với đám lính. “Trốn trong đống cỏ khô. Chuẩn bị lưỡi lê đi. Và không ai được cử động!”

Anh nhận ra mối nguy hiểm khi chiếc xe ấy đi qua làng, chúng sẽ lao vào giữa đội hình của nhóm đặc nhiệm, gieo rắc sự hốt hoảng rồi biến mất tăm theo hướng khác.

Anh nhanh chóng trèo lên một thân cây sồi già nứt nẻ, chọn cho mình vị trí trên mấy cành cây cách mặt đường vài mét.

Không lâu sau, chiếc xe xuất hiện trong tầm nhìn. Đúng như anh nghĩ, xe có vũ trang nhưng theo kiểu cũ, với mấy cái mũ sắt và đầu người trên xe nhô lên phía trên lớp bọc thép.

Chiếc xe chạy với một vận tốc khôn ngoan, sẵn sàng lao về phía trước trong trường hợp có biến. Bọn lính trên xe đang khom lưng cúi thấp đầu. Paul đếm được có gần mười tên cả thảy. Chĩa ra ngoài là nòng hai khẩu súng máy.

Anh vác khẩu súng trường lên vai và nhắm vào tên tài xế, một tên người Đức béo ị với gương mặt đỏ lựng như thể được nhuộm bằng máu. Thế rồi khi đến đúng tầm, anh nổ súng.

“Các cậu, xung phong!” Anh kêu lên khi trèo xuống khỏi cái cây.

Nhưng hóa ra chẳng cần thiết phải tấn công như vũ bão. Trúng đạn vào ngực, tên tài xế vẫn đủ sáng suốt đạp phanh cho xe tấp vào lề đường. Nhận thấy đang bị vây chặt, bọn Đức đều giơ hai tay lên. “ Kamerad! Kamerad [3] !”

Một người trong bọn bỏ vũ khí xuống, nhảy khỏi xe chạy đến chỗ Paul. “Một người Alsace, thưa Trung sĩ, một người Alsace từ Strasbourg! A, Trung sĩ, đã bao nhiêu ngày rồi tôi chờ đợi giây phút này!”

Trong khi đồng đội của anh áp giải đám tù binh về làng, Paul nhanh chóng thẩm vấn anh chàng Alsace kia: “Chiếc xe này đến từ đâu?

“Corvigny.”

“Còn người nào của các anh ở đó không?”

“Ít lắm. Một đội bọc hậu gồm hai trăm năm mươi lính người Baden là nhiều nhất.”

“Còn trong các pháo đài?”

“Cũng khoảng đó. Họ nghĩ không cần thiết phải sửa các tháp pháo và giờ họ bị chiếm mà không kịp phòng bị gì hết. Họ đang băn khoăn xem nên cố thủ hay quay lại tiền tuyến, đó là lý do chúng tôi được cử đi trinh sát.”

“Vậy thì chúng tôi có thể tiếp tục tiến quân à?”

“Được, nhưng đi ngay đi, trước khi quân cứu viện mạnh mẽ của họ đến, hai sư đoàn.”

“Khi nào?”

“Ngày mai. Họ sắp băng qua tiền tuyến rồi, vào ngày mai, lúc gần trưa

“Lạy Chúa! Không còn thời gian nữa rồi!” Paul nói.

Trong lúc xem xét súng ống, khám xét và tước vũ khí của đám tù nhân xong xuôi, và Paul đang cân nhắc những giải pháp tối ưu nhất, thì một trong các đồng đội của anh, người ở phía sau làng, chạy đến báo cho anh biết có một biệt đội của Pháp vừa đến, chỉ huy là một viên Trung úy.

Paul nhanh chóng báo lại cho viên sĩ quan chuyện đã xảy ra. Những sự kiện cần thiết phải hành động ngay. Anh đề nghị được tiếp tục đi trinh sát tìm hiểu bằng chiếc ô tô vừa cướp được.

“Rất tốt!” Viên sĩ quan nói. “Tôi sẽ đi chiếm làng và thu xếp thông báo cho sư đoàn càng sớm càng tốt.”

Chiếc xe chạy về phía Corvigny, trong xe có tám người. Hai người trong số này phụ trách các khẩu liên thanh, kiểm tra máy móc. Cậu người Alsace đứng dậy để mũ sắt và quân phục được nhìn thấy dễ dàng hơn, đưa mắt nhìn khắp đường chân trời cả hai bên.

Tất cả việc này được quyết định và tiến hành trong có vài phút, không cần thảo luận và mọi khâu được tiến hành nhanh chóng.

“Chúng ta phải trông đợi vào may mắn thôi.” Paul nói, ngồi vào ghế lái. “Các cậu có sẵn sàng hoàn thành việc này không nào?”

“Có, và hơn thế nữa.”

Anh nhận ra ngay giọng nói vừa vang lên ở sau lưng.

Đó là Bernard d’Andeville, em trai của Elisabeth. Bernard thuộc biên chế Đại đội Chín; và Paul đã thành công trong việc tránh cậu ta, hoặc ít nhất không nói chuyện với cậu ta. Nhưng anh biết thằng nhóc này chiến đấu rất cừ.

“A, vậy là cậu đang ngồi đó à?” Anh hỏi.

“Bằng xương bằng thịt ạ.” Bernard nói. “Em đến cùng viên Trung úy; và khi em thấy anh đang trèo lên xe và chọn bất kỳ người nào có mặt, anh có thể tưởng tượng em đã nhảy cẫng lên như thế nào trước cơ hội này!” Bằng giọng ngượng ngùng hơn, cậu ta nói thêm: “Cơ hội được làm một việc tốt dưới quyền anh, và cơ hội được nói chuyện với anh, Paul... vì cho đến tận bây giờ em vẫn là người không gặp may... Em đã từng nghĩ rằng… anh không có thiện cảm với em như em hy vọng…”

“Vớ vẩn nào.” Paul nói. “Chỉ là anh đang phiền chuyện...”

“Ý anh là về chị Elisabeth?”

“Ừ!”

“Em hiểu. Dầu sao đi nữa, chuyện này không giải thích được một điều gì đó giữa chúng ta, như một kiểu gượng gạo ấy...”

Đúng lúc này, anh chàng Alsace thốt lên: “Nằm thấp xuống!... Kỵ binh Đức ở trước mặt...”

Một đơn vị tuần tra đang phóng nước kiệu xuống ngã tư, rẽ ngoặt phía góc rừng. Anh ta la hét với chúng khi chiếc xe đi qua: “Tránh ra nào, các đồng chí! Nhanh nhất có thể đi! Người Pháp sắp tới rồi!”

Paul tận dụng ngay biến cố này để tránh phải trả lời cậu em vợ. Anh tăng tốc; chiếc xe giờ gầm rú, leo lên các ngọn đồi rồi phóng vun vút xuống dưới như một tảng thiên thạch.

Các biệt đội của kẻ thù ngày càng nhiều thêm. Anh chàng Alsace lớn tiếng gọi hoặc ra tín hiệu bằng tay bảo chúng tốt nhất nên rút lui ngay lập tức.

“Đúng là vui thật.” Anh ta nói, phá lên cười. “Tất cả bọn chúng đang phi nước kiệu sau lưng chúng ta như lũ điên ấy.” Rồi anh ta nói thêm: “Tôi cảnh cáo anh, Trung sĩ, rằng với tốc độ này thì chúng ta sẽ đâm thẳng vào Corvigny. Có phải đó là điều anh muốn làm không?”

“Không!” Paul đáp. “Chúng ta sẽ dừng lại khi thấy bóng thành phố.”

“Và nếu chúng ta bị bao vây?”

“Ai bao vây cơ? Dù sao đi nữa, các nhóm đào tẩu này sẽ không phản đối chúng tôi quay về đâu.”

Bernard d’Andeville lên tiếng: “Anh Paul. Em không tin anh đang nghĩ đến chuyện quay về.”

“Cậu nói hoàn toàn đúng. Cậu có sợ không?”

“Ôi, đúng là một từ ngữ ghê tởm!”

Nhưng lúc này Paul nói tiếp, bằng giọng nhẹ nhàng hơn: “Anh xin lỗi đã lôi cậu đi, Bernard.”

“Phải chăng so với anh hay những người khác, em sẽ gặp nguy hiểm lớn hơn?”

“Không phải!”

“Vậy thì làm ơn đừng nói xin lỗi với em.”

Vẫn đang đứng và cúi người xuống viên Trung sĩ, anh chàng Alsace đưa tay chỉ. “Tháp nhọn thẳng ngay trước mặt kìa, phía sau những cái cây là Corvigny. Theo tính toán của tôi, chỉ cần lên các ngọn đồi về bên trái, chúng ta có thể thấy được chuyện gì đang xảy ra trong thành phố.”

“Vào trong thành phố chúng ta sẽ thấy được nhiều hơn.” Paul nhận xét. “Chỉ là sẽ rất mạo hiểm... đặc biệt là với anh đấy, anh bạn Alsace ạ. Nếu chúng bắt anh làm tù binh, chúng sẽ bắn chết anh. Vậy tôi thả anh xuống phía này ở Corvigny nhé?”

“Anh còn chưa nhớ gương mặt tôi, Trung sĩ.”

Lúc này con đường chạy song song với đường sắt. Không lâu sau, những ngôi nhà đầu tiên ở vùng ngoại ô xuất hiện trong tầm nhìn. Vài người lính xuất hiện.

“Đừng nói gì với họ hết.” Paul ra lệnh. “Như thế sẽ không làm họ giật mình... nếu không vào đúng lúc quan trọng, họ sẽ đâm sau lưng ta đấy.”

Anh nhận ra nhà ga và thấy nó đã bị chiếm giữ hoàn toàn. Các mũ sắt có mấu nhọn đang đi tới đi lui dọc theo các đại lộ dẫn vào thành phố.

“Tiến lên nào!” Paul kêu lên. “Nếu có bất kỳ đại đội lớn nào, chúng chỉ có thể ở trong quảng trường thôi. Súng ống sẵn sàng chưa? Súng trường thế nào? Xem súng đạn cho anh đi, Bernard. Và ngay khi có tín hiệu đầu tiên, cứ tự động mà bắn rõ chưa!”

Chiếc xe lao hết tốc lực vào quảng trường. Đúng như anh dự tính, có khoảng một trăm tên lính ở đó, tất cả đều đang tập trung phía trước các bậc thềm nhà thờ, gần nơi các khẩu súng trường của chúng xếp thành chồng. Nhà thờ lúc này chỉ còn là một đống đổ nát, gần như tất cả các ngôi nhà trên quảng trường đã bị san phẳng bằng đạn pháo.

Những tên sĩ quan đứng riêng một bên, reo hò và vẫy tay khi thấy chiếc xe chúng đang chờ đi trinh sát quay về trước khi quyết định về việc phòng thủ. Chúng rất đông, và không nghi ngờ gì quân số của chúng có bao gồm vài sĩ quan thông tin liên lạc. Một viên tướng đứng cao hơn hẳn tất cả những tên còn lại. Mấy xe ô tô đang đỗ cách đó một quãng đợi chờ.

Con phố được lát đá cuội và không có vạch kẻ đường nào giữa con phố với quảng trường. Paul đi theo nó, nhưng khi còn cách đám sĩ quan hai mươi thước nữa, anh bỗng cua gắt và cỗ máy khủng khiếp đó lao thẳng đến nhóm sĩ quan, đâm ngã một vài tên rồi cán qua người chúng, anh hơi nghiêng xe để huých đổ các chồng súng trường, cuối cùng lao thẳng chiếc xe chẳng khác gì một khối thép không thể cản phá vào giữa biệt đội địch, gieo rắc cái chết suốt đoạn đường nó đi qua, lọt thỏm giữa biển người đang nháo nhào chạy trốn, giữa những tiếng la hét đau đớn và khiếp sợ.

“Bắn thoải mái đi!” Paul hét lên, dừng xe lại.

Và màn bắn giết bắt đầu từ giữa lô cốt không thể xuyên phá này, tiếng súng bất ngờ vang lên ngay giữa quảng trường, kèm theo đó là âm thanh tằng tằng đáng sợ của hai khẩu súng máy.

Trong vòng năm phút, quảng trường ngập đầy những người bị giết và bị thương. Viên tướng và mấy tên sĩ quan nằm chết thẳng cẳng. Những kẻ sống sót nhanh chóng bỏ trốn.

Paul ra lệnh ngừng bắn rồi lái xe đến đầu đại lộ dẫn tới nhà ga. Các đại đội từ nhà ga đang rất khẩn trương, vì bị màn bắn giết này thu hút. Vài loạt đạn từ những khẩu súng đủ khiến chúng bị phân tán.

Paul nhanh chóng vòng đi vòng lại quảng trường ba lần liền, để xem xét những lối vào. Phía nào cũng thấy quân thù đang tháo chạy dọc các con đường và lối đi đến tiền tuyến. Ở chỗ nào cũng thấy những thường dân Corvigny bước ra từ các ngôi nhà của mình sung sướng reo hò.

“Đi tìm xem có ai bị thương không.” Paul hạ lệnh. “Rồi đi tìm người kéo chuông nhà thờ, hoặc ai đó biết đánh chuông. Việc gấp đấy!”

Một người trông giữ nhà thờ xuất hiện.

“Chuông báo động, ông già, chuông báo động và hãy làm hết sức mình! Và khi nào ông mệt rồi, nhớ gọi người khác đến làm thay nhé! Chuông báo động, không được dừng một giây nào hết!”

Đây là tín hiệu như Paul đã thỏa thuận với viên Trung úy người Pháp, nhằm tuyên bố cho sư đoàn biết nhiệm vụ đã thành công và các đại đội có thể tiến quân.

Lúc đó là hai giờ. Lúc năm giờ, Ban Tham mưu và lữ đoàn đã chiếm Corvigny, các khẩu pháo bảy mươi lăm li đã bắn vài quả. Mười giờ tối, đoàn người còn lại của sư đoàn cũng đã đến và chờ đợi, quân Đức đã rút khỏi Grand-Jonas và Petit-Jonas đang co cụm lại trước tiền tuyến. Tất cả hạ quyết tâm đuổi cổ quân Đức khỏi tiền tuyến vào lúc bình minh.

“Anh Paul.” Bernard nói với anh rể, tại phiên điểm danh buổi tối. “Em có chuyện cần nói với anh, một chuyện cứ khiến em trăn trở mãi, nó rất lạ lùng, tự anh cũng sẽ thấy thế. Em vừa mới bước xuống một trong những con phố gần nhà thờ thì một phụ nữ tới bắt chuyện với em. Ban đầu em không thể nhìn rõ mặt bà ta hay quần áo của bà ta, vì trời vẫn còn tối mò, nhưng có vẻ là một bà nông dân do tiếng đôi giày gỗ vang trên mặt đường đá cuội. “Chàng trai trẻ...” Bà ta nói, với một người nông dân mà nói như cách bà ta tự thể hiện bản thân khiến em hơi ngạc nhiên. “Chàng trai trẻ, cậu có thể giải thích cho tôi một chuyện được không?” Em đáp mình hân hạnh phục vụ bà ta, và bà ta bắt đầu nói: “Chuyện thế này, tôi sống trong một ngôi làng nhỏ gần đây. Vừa nãy tôi nghe nói các quân đoàn của cậu đang ở đây. Thế nên tôi tới đây, vì tôi muốn gặp một người lính từng thuộc về nơi này, chỉ là tôi không biết số hiệu trung đoàn của anh ta. Tôi tin là anh ta đã được thuyên chuyển, vì tôi chưa bao giờ nhận được lá thư nào của anh ta; và tôi dám nói rằng anh ta cũng thế. Ồ, nếu mà cậu tình cờ quen biết anh ta! Anh ta đúng là một chàng trai tốt bụng, rất ga lăng.” Em hỏi bà ta về tên người lính kia, bà ta đáp: “Delroze, Hạ sĩ Paul Delroze!”.”

“Cái gì!” Paul kêu lên. “Bà ta muốn tìm anh à?”

“Vâng, anh Paul, và sự trùng hợp này khiến em kinh ngạc vì tò mò tới nỗi liền cho bà ta số hiệu trung đoàn của anh và đại đội của anh, nhưng lại không nói rằng anh em mình có quan hệ. “Tốt quá!” Bà ta nói. “Và trung đoàn này ở Corvigny đúng không?” Em trả lời là trung đoàn vừa tới. “Và cậu có biết Paul Delroze không?” “Chỉ biết tên thôi ạ.” Em đáp. Em không thể nói cho anh biết tại sao mình lại trả lời như thế, hay tại sao em lại tiếp tục cuộc trò chuyện để bà ta không đoán được là em ngạc nhiên. “Anh ấy đã được phong hàm trung sĩ rồi.” Em nói. “Và hay được cử đi biệt phái. Đó là lý do tại sao cháu nghe đến tên anh ấy. Vậy để cháu đi tìm xem anh ấy ở đâu rồi dẫn bác đến gặp nhé?” “Chưa cần đâu.” Bà ta đáp. “Chưa cần. Tôi vẫn còn bối rối quá.”.”

“Ý bà ta là thế quái nào nhỉ?”

“Em không thể hình dung nổi. Nó khiến em càng ngày càng tò mò hơn. Người đàn bà này háo hức tìm kiếm anh thế mà lại bỏ đi cơ hội được gặp anh. Em đã hỏi có phải bà ta rất quan tâm đến anh không thì bà ta bảo đúng, rằng anh là con trai bà ta.”

“Con trai bà ta!”

“Tới lúc đó em chắc chắn bà ta không phút nào nghi ngờ rằng em đang kiểm tra chéo bà ta. Nhưng sự kinh ngạc của em lớn tới nỗi bà ta vội lẩn vào bóng tối, như thể muốn tự bảo vệ mình. Em thọc tay vào túi, lấy ra ngọn đèn điện nhỏ, bước đến chỗ bà ta, nhấn lò xo và chiếu nguồn sáng vào mặt bà ta. Bà ta có vẻ lúng túng, đứng im một lúc không nhúc nhích. Rồi bà ta nhanh chóng kéo chiếc khăn quàng quấn quanh đầu xuống, và bằng một sức mạnh mà em không tin nổi, bà ta phát rất mạnh vào cánh tay em, khiến em đánh rơi cả cái đèn. Một lần nữa, sau đó là sự im lặng tuyệt đối. Em không thể đoán ra được bà ta đang ở đâu: hoặc ngay trước mặt em, bên trái hay bên phải. Không có một âm thanh nào cho em biết bà ta còn đứng ở đó hay không. Nhưng giờ thì em đã hiểu, khi nhặt cái đèn lên và lại hắt luồng sáng lần nữa, em đã trông thấy đôi dép gỗ của bà ta trên mặt đất. Bà ta đã bỏ dép lại và bỏ đi bằng đôi chân đi tất. Em đuổi theo bà ta, nhưng không tìm thấy. Bà ta đã biến mất.”

Paul ngày càng bị lôi cuốn vào câu chuyện của cậu em vợ.

“Vậy là cậu đã trông thấy mặt bà ta?” Anh hỏi.

“Ôi, rất đặc biệt! Một gương mặt mạnh mẽ, tóc đen và đôi lông mày đen với ánh mắt cực kỳ quỷ quyệt... Quần áo bà ta đúng là của nông dân, nhưng nó quá sạch sẽ và cắt may rất khéo, em cảm tưởng đó là đồ giả trang.”

“Bà ta khoảng bao nhiêu tuổi?

“Bốn mươi tuổi.”

“Cậu sẽ nhận ra bà ta lần nữa chứ?”

“Không một phút chần chừ luôn.”

“Cậu nói cái khăn quàng cổ ấy màu gì?”

“Màu đen.”

“Nó được thắt như thế nào? Ở cái nút ấy?”

“Không, cố định bằng trâm cài đầu.”

“Viên đá chạm khắc à?”

“Vâng, một viên đá rất to bằng vàng. Làm sao anh biết?”

Paul im lặng một lúc rồi nói: “Ngày mai tôi sẽ cho cậu xem, ở một trong những căn phòng tại Ornequin, một bức chân dung có sự tương đồng đến kinh ngạc với người đàn bà đã nói chuyện với cậu, sự tương đồng chỉ tồn tại giữa hai chị em, có lẽ vậy... hoặc... hoặc...” Anh khoác tay cậu em vợ, kéo đi bên nhau rồi nói tiếp: “Nghe anh này, Bernard. Quanh bọn anh đang có những chuyện khủng khiếp, cả hiện tại lẫn trong quá khứ, những thứ ảnh hưởng tới cuộc đời anh và cả của chị Elisabeth... lẫn cuộc đời cậu nữa. Do đó, anh đang phải vật lộn trong đám sương mù của sự mơ hồ gớm ghiếc, trong đó những kẻ thù mà anh không biết suốt gần hai mươi năm nay đang theo đuổi một kế hoạch mà anh không tài nào hiểu nổi. Ngay từ đầu cuộc chiến, cha anh đã chết, là nạn nhân của một vụ mưu sát. Giờ đây đến lượt anh tiếp tục bị đe dọa. Cuộc hôn nhân của anh với chị gái cậu đã tan vỡ và dù có làm gì thì bọn anh cũng không trở về với nhau được nữa, cũng như chẳng làm được gì để cho phép em và anh tiếp tục trao nhau tình bạn và sự tin tưởng, như chúng ta có quyền hy vọng như thế. Đừng hỏi anh câu hỏi nào nữa, Bernard, và đừng cố gắng tìm hiểu nữa. Có lẽ một ngày nào đó - và anh không hề mong cái ngày ấy đến - cậu sẽ biết tại sao anh lại cầu xin cậu hãy im lặng.”

« Lùi
Tiến »