Người Đàn Bà Bí Ẩn

Lượt đọc: 231 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 6
điều paul thấy tại lâu đài ornequin

Paul Delroze thức dậy lúc bình minh bởi hiệu lệnh kèn. Trong cuộc đấu pháo giờ đã bắt đầu, anh nhận ra ngay tiếng pháo khô, sắc của các khẩu pháo bảy mươi lăm li của quân mình, và tiếng gầm khô khốc của các khẩu pháo bảy mươi lăm li của quân Đức.

“Anh có xuống không Paul?” Bernard gọi từ phòng mình. “Cà phê dưới nhà này.”

Hai anh em tìm thấy hai phòng ngủ nhỏ phía trên một quán rượu. Trong khi cả hai hài lòng với bữa sáng bổ dưỡng, Paul kể cho Bernard những thông tin đặc biệt về việc chiếm Corvigny và Ornequin mà anh thu thập được tối hôm qua: “Vào thứ Tư, ngày Mười chín tháng Tám, Corvigny, niềm tự hào lớn lao của những người dân bản xứ, vẫn cho rằng họ sẽ thoát khỏi những nỗi kinh hoàng của chiến tranh. Có đụng độ tại Alsace và bên ngoài Nancy, có đụng độ tại Bỉ; nhưng có vẻ như mũi nhọn của quân Đức đã làm ngơ tuyến đường gọi mời qua thung lũng Liseron. Thực tế là con đường này vừa hẹp vừa rõ ràng không phải là huyết mạch. Tại Corvigny, một lữ đoàn của Pháp đang bận rộn thúc đẩy các công trình phòng thủ. Grand-Jonas và Petit-Jonas thực sự đang nằm dưới những mái vòm bê tông của họ. Những chàng trai của chúng ta phải chờ thôi.”

“Còn tại Ornequin?” Bernard hỏi.

“Tại Ornequin, chúng ta có một đại đội bộ binh nhẹ. Các sĩ quan xây dựng nhà để ở. Đại đội này, được sự hỗ trợ của các biệt đội kỵ binh, đã tuần tra tiền tuyến cả ngày lẫn đêm. Trong trường hợp có báo động, các mệnh lệnh đưa ra sẽ thông báo cho các pháo đài ngay lập tức và rút lui chiến thuật. Tối hôm thứ Tư, tình hình cực kỳ im ắng. Một tá kỵ binh đã phóng nước kiệu tới tiền tuyến cho đến khi nhìn thấy thành phố Đức nhỏ là Ebrecourt. Phía đó không phát hiện được bất kỳ biến động của đại đội nào hết, cả trên tuyến đường sắt kết thúc tại Ebrecourt cũng thế. Đêm cũng rất thanh bình. Không nghe thấy một phát súng nào. Điều này hoàn toàn cho thấy rằng vào lúc hai giờ sáng không có tên lính Đức nào băng qua tiền tuyến. Đúng hai giờ sáng, anh nghe thấy một tiếng nổ lớn, tiếp theo là bốn tiếng nổ khác nghe rất gần nhau. Chùm tiếng nổ này là của năm quả đạn pháo cỡ bốn nhân hai mươi li ngay lập tức phá tan ba mái vòm bê tông ở Grand-Jonas và hai mái vòm nữa ở Petit-Jonas.”

“Ý anh là sao? Corvigny cách tiền tuyến mười lăm dặm các quả đạn pháo bốn nhân hai mươi li không thể bắn xa được đến thế!”

“Chuyện đó cũng không ngăn được sáu quả đạn pháo nữa rơi xuống Corvigny, toàn nhằm vào nhà thờ hoặc quảng trường. Hai mươi phút sau đó là sáu quả này, tức là vào đúng thời điểm đáng lẽ chuông báo động hẳn đã vang lên và đơn vị đồn trú tại Corvigny hẳn sẽ tụ tập tại quảng trường. Đây là chuyện vừa xảy ra, và cậu có thể tưởng tượng được sức tàn phá của chúng.”

“Em đồng ý; nhưng một lần nữa, tiền tuyến cách đây những mười lăm dặm. Khoảng cách ấy chắc phải cho phép các đại đội của chúng ta tập hợp lại và chuẩn bị cho các cuộc tấn công được báo trước nhờ vụ pháo kích. Họ có ít nhất ba hoặc bốn tiếng trước mắt cơ mà.”

“Họ không có nổi mười lăm phút đâu. Vụ pháo kích không kết thúc trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Tấn công không phải là từ đúng: Các đại đội của chúng ta, các đại đội tại Corvigny cũng như các đại đội vội vã tới đây từ hai pháo đài đều đã bị tiêu hao và phải hành quân, bị địch bao vây, bị bắn hạ hoặc buộc phải đầu hàng, trước khi họ kịp tổ chức bất kỳ hình thức phản kháng nào. Tất cả xảy ra rất bất ngờ dưới ánh sáng chói lọi của ánh đèn tín hiệu được dựng lên mà chẳng ai biết nó ở đâu hay như thế nào. Và thảm kịch này sẽ ở trước mắt thôi. Cậu có thể xác định rằng Corvigny sẽ bị địch bao vây, tấn công, phong tỏa và chiếm đóng, tất cả chỉ trong mười phút thôi.”

“Nhưng chúng đến từ đâu? Chúng bắt đầu từ đâu?”

“Không ai biết cả.”

“Nhưng các cuộc tuần tra đêm trên tiền tuyến thì sao? Những lính gác thì sao? Đại đội làm nhiệm vụ tại Ornequin thì sao?”

“Lại chưa hề nghe nói đến. Chẳng ai biết gì cả, một lời nhắc đến cũng không, một lời đồn cũng không, về ba trăm binh sĩ kia thì việc của họ chỉ là canh phòng và cảnh báo cho nhau. Cậu có thể tính thêm cả đơn vị đồn trú ở Corvigny, với những tên lính đào ngũ và những kẻ chết trận được thường dân nhận dạng và đem chôn. Tuy nhiên, ba trăm lính bộ binh nhẹ ở Ornequin đã biến mất không để lại dấu vết, không một kẻ đào tẩu, không một thương binh, không một xác chết, chẳng có gì hết.”

“Có vẻ khó tin quá. Anh đã nói chuyện với ai vậy?”

“Đêm qua anh đã gặp gỡ mười người, những người mà trong vòng một tháng chẳng có ai tiếp xúc với họ ngoài mấy người lính đi nghĩa vụ quân sự được đưa đến Corvigny, nên anh đã có một phút tìm hiểu tất cả những vấn đề này với họ, thay vì phải thiết lập một giả thuyết nghe bùi tai. Chắc chắn duy nhất một điều: Chuyện này đã được trù tính từ lâu lắm rồi, từng chi tiết dù nhỏ nhất đều được tính đến. Phạm vi chính xác lan đến tận các pháo đài, các mái vòm, nhà thờ và quảng trường, súng công thành được đưa vào vị trí từ trước rất chính xác sao cho mười một quả đạn pháo phải bắn trúng mười một mục tiêu đã nhắm trước. Thế thôi. Phần còn lại là bí ẩn.”

“Vậy còn tòa lâu đài? Còn chị Elisabeth?”

Paul đứng dậy khỏi ghế. Những tiếng kèn đang báo hiệu giờ điểm danh buổi sáng. Tiếng súng căng thẳng gấp đôi so với trước. Cả hai cùng chuẩn bị ra quảng trường, Paul nói tiếp: “Về việc này, điều bí ẩn đang trở nên khó hiểu hơn và có lẽ còn trở nên tệ hơn. Một trong những ngã tư chạy qua các cánh đồng giữa Corvigny và Ornequin, địch đã biến nó thành ranh giới, không ai ở đây được phép bước qua, nếu không sẽ bị giết.”

“Vậy thì chị Elisabeth...?”

“Anh không biết, anh chẳng biết gì hơn nữa. Và điều đó thật khủng khiếp, bóng ma chết chóc đang treo lơ lửng trên mọi thứ, trên mọi tình huống. Có vẻ - mà anh không thể kiểm chứng được tin đồn này xuất phát từ đâu - ngôi làng Ornequin, gần lâu đài, không còn tồn tại nữa. Nó đã hoàn toàn bị phá hủy, còn hơn thế, bị xóa sổ; và bốn trăm dân thường của làng đã bị địch bắt sống đưa đến nơi giam cầm. Và rồi...” Paul nhún vai, hạ thấp giọng, anh nói tiếp: “Và rồi... họ đã làm gì ở lâu đài? Em có thể thấy ngôi nhà, em vẫn có thể trông thấy nó từ khoảng cách xa, những bức tường và những tháp canh vẫn còn đó. Nhưng chuyện gì đã xảy ra đằng sau những bức tường đó? Chuyện gì đã xảy ra với Elisabeth? Cô ấy đang sống ngay giữa những kẻ súc vật ấy đã gần bốn tuần rồi, người phụ nữ tội nghiệp, xung quanh là đầy nỗi oán hận!...”

Mặt trời vừa mọc khi hai anh em tới được quảng trường. Ngài Đại tá đến gặp Paul, gửi đến anh những lời chúc mừng nồng nhiệt nhất của Tổng Tư lệnh sư đoàn, ông ta bảo rằng anh đã có tên được nhận huân chương anh dũng bội tinh và được phong hàm thiếu úy, và anh sẽ làm chỉ huy tiểu đội của ông ta từ giờ trở đi.

“Thế thôi.” Viên Đại tá nói, phá lên cười. “Trừ phi cậu còn yêu cầu nào nữa với tôi.”

“Tôi có hai yêu cầu, thưa ngài.”

“Nói đi.”

“Thứ nhất là em vợ tôi, Bernard d’Andeville, cậu ấy đang ở đây, có thể ngay lập tức được chuyển sang tiểu đội của tôi với hàm hạ sĩ. Cậu ấy xứng đáng với điều đó.”

“Rất tốt! Tiếp tục đi!”

“Yêu cầu thứ hai của tôi đó là hiện tại, khi chúng ta tiến ra tiền tuyến, tiểu đội của tôi có thể được cử đến lâu đài Ornequin, nó nằm trên tuyến đường chính.”

“Ý cậu là muốn tiểu đội tham gia cuộc tấn công vào lâu đài sao?”

“Cuộc tấn công?” Paul hỏi lại, hốt hoảng. “Tại sao chứ, kẻ địch đang tập trung dọc tiền tuyến, cách lâu đài bốn dặm cơ mà!”

“Hôm qua tôi đã tin là thế. Thực ra chúng tập trung tại lâu đài Ornequin, một vị trí phòng thủ tuyệt vời nơi kẻ thù đang tuyệt vọng bám trụ chờ tiếp viện đến. Bằng chứng rõ nhất là chúng đang bắn trả chúng ta. Cứ nhìn quả đạn pháo đang nổ ở phía đó... xa hơn nữa, mảnh đạn pháo đó... hai... ba mảnh. Đó là những khẩu pháo trong các trận địa pháo chúng tôi đặt trên các quả đồi xung quanh, và giờ đang nã đạn xuống đầu chúng như rắc tiêu. Chắc phải có đến hai mươi khẩu.”

“Vậy trong trường hợp đó...” Paul lắp bắp, đau khổ bởi một ý nghĩ khủng khiếp. “...Trong trường hợp đó, trận địa pháo của chúng ta chĩa thẳng….”

“Chĩa thẳng vào chúng, tất nhiên. Các khẩu bảy mươi lăm li của chúng ta đang pháo kích lâu đài Ornequin suốt một giờ rồi.”

Paul thốt lên kinh hoàng: “Thưa ngài, ý ngài là chúng ta đang pháo kích lâu đài Ornequin...”

Và Bernard d’Andeville, đang đứng bên cạnh anh, cũng lặp lại bằng giọng kinh hoàng: “Pháo kích lâu đài Ornequin? Ôi thật khủng khiếp!”

Viên Đại tá ngạc nhiên hỏi: “Hai cậu biết nơi đó à? Có lẽ nó thuộc về các cậu? Đúng vậy không? Có ai trong số người thân của các cậu ở đấy không?”

“Có, thưa ngài, là vợ tôi.”

Mặt Paul cắt không còn giọt máu. Cho dù anh đã cố gắng đứng vững, kiềm chế cảm xúc, nhưng hai bàn tay anh hơi run rẩy và cằm anh cũng run run.

Trên Grand-Jonas, ba khẩu pháo nặng nề đang bắt đầu nhả đạn, ba khẩu Rimailho được đưa vào vị trí bằng các máy kéo. Bổ sung thêm vào mâm pháo ngoan cường của các khẩu bảy mươi lăm li, những khẩu này có tầm quan trọng khủng khiếp sau những lời của Paul Delroze. Viên Đại tá cùng nhóm sĩ quan bên cạnh ông ta đồng loạt im lặng. Đây là kiểu tình hình mà trong đó những rủi ro của chiến tranh chạy hỗn loạn trong tất cả những bi kịch khủng khiếp của họ, mạnh hơn cả những thảm họa thiên nhiên, và giống như chúng, những rủi ro ấy mù quáng, bất công và không thể nguôi ngoai. Chẳng làm được gì nữa. Không người nào trong số họ dám mơ đến việc đề nghị ngừng bắn hoặc trì hoãn hành động này. Paul cũng không dám mơ chuyện đó. Anh chỉ đơn giản nói: “Có vẻ như địch đang nã pháo chậm lại. Có lẽ chúng sẽ rút lui...”

Ba quả đạn pháo nổ tung ở đầu kia thành phố, phía sau nhà thờ, đã dập tắt hy vọng này. Viên Đại tá lắc đầu. “Rút lui ư? Chưa đâu! Nơi này quá quan trọng đối với chúng, chúng đang đợi quân tiếp viện và sẽ không bỏ đi cho đến khi các trung đoàn của chúng ta tham chiến... mà sẽ không còn lâu nữa đâu.”

Thực ra, chỉ một lúc sau, lệnh tiến quân được gửi đến viên Đại tá. Trung đoàn sẽ đi theo con đường này và sẽ dàn trận trên các bãi cỏ bên tay phải.

“Đi thôi, các quý ông.” Ông ta nói với các sĩ quan. “Tiểu đội của Trung sĩ Delroze sẽ đi tiên phong. Mục tiêu của cậu ấy sẽ là lâu đài Ornequin. Có hai lối tắt nhỏ. Sử dụng cả hai đi.”

“Rất tốt, thưa ngài.”

Tất cả nỗi buồn và cơn thịnh nộ của Paul như tăng thêm cường độ, biến thành khao khát hành động không giới hạn, khi hành quân cùng binh lính dưới quyền, anh cảm thấy sức mạnh trong anh đang tăng lên không ngừng, như thể chỉ cần mình anh cũng có thể quét sạch toàn bộ vị trí của địch. Anh liên tục chạy hết chỗ nọ sang chỗ kia không biết mệt, như con chó chăn cừu đang săn đuổi con mồi của nó. Miệng không ngừng khuyên bảo và động viên binh lính: “Cậu là một trong những người lính gan dạ, anh bạn ạ, cậu không phải là những kẻ chạy trốn trách nhiệm... Cậu cũng không phải... Chỉ là cậu suy nghĩ quá nhiều đến làn da của mình, cậu không ngừng càu nhàu, khi mà đáng ra các cậu phải vui vẻ... Ai là kẻ chán nản ở đây hả? Chỉ phải làm một tí việc nặng nhọc thôi và chúng ta sẽ làm mà cóc cần ngoảnh mặt về phía sau, thế nào?”

Phía trên đầu, những quả đạn pháo bắn vào không trung theo đường hành quân của họ, chúng rít lên, than vãn và nổ tung cho đến khi hình thành một cái mái như mái vòm của vỏ thép và tiếng đạn chùm.

“Cúi đầu xuống! Nằm sấp xuống!” Paul hét lên.

Nhưng chính anh thì vẫn đứng, chẳng buồn bận tâm đến đường bay của những quả đạn pháo. Thứ anh đang lắng nghe là nỗi khiếp đảm trong chính tâm hồn mình, những nỗi kinh hoàng đến từ phía sau, đến từ tất cả những quả đồi gần đó, đang phóng vút về phía trước, mang tới sự hủy diệt và chết chóc. Quả pháo này sẽ rơi xuống đâu? Quả kia nữa, cơn mưa tàn sát của những viên đạn và những mảnh đạn sẽ trút xuống đâu?

Hình ảnh vị hôn thê ám ảnh anh, cô bị thương, đang hấp hối, anh không ngừng lẩm bẩm gọi tên cô. Đã nhiều ngày nay rồi, kể từ cái ngày mà anh biết rằng Elisabeth không chịu rời khỏi lâu đài Ornequin, anh không thể không nghĩ đến cô mà thiếu đi tình cảm yêu thương, bất chấp bất kỳ cơn bốc đồng nổi loạn nào, bất kỳ hành động phẫn nộ nào. Anh không còn lẫn lộn giữa những hồi ức đáng ghét trong quá khứ với thực tế quyến rũ của tình yêu trong trái tim mình nữa. Khi nghĩ đến người mẹ đáng căm ghét, hình ảnh cô con gái không còn xuất hiện trong tâm trí anh. Họ là sinh vật không cùng loài, chẳng có mối liên kết nào với nhau hết. Elisabeth, đầy quả cảm, dám mạo hiểm cả thân mình để hoàn thành bổn phận mà với cô nó còn quý giá hơn cả sinh mạng, mà trong mắt Paul, đó là một hành động cao cả phi thường. Cô thực sự là người phụ nữ anh đã yêu thương và nâng niu, là người phụ nữ anh vẫn còn yêu.

Paul dừng lại. Anh đã mạo hiểm đưa lính của mình vào một vùng đất lộ thiên, có khả năng địch nhắm tới từ trước, lúc này địch trút mảnh đạn pháo xuống như mưa. Một số lính đã bị thương.

“Dừng lại!” Anh quát lên. “Tất cả nằm sấp xuống!”

Anh tóm chặt lấy Bernard. “Nằm xuống nhóc, có làm được không hả? Sao cứ phơi mình ra một cách vô lý thế hả?... Nằm yên đây. Không được cử động.”

Anh nhẹ nhàng ép cậu ta nằm gí xuống đất, vòng tay quanh cổ Bernard và khẽ trò chuyện với cậu ta, như thể anh đang cố giãi bày cho cậu ta tất cả tình cảm anh dành cho Elisabeth thân thương trong trái tim của mình. Anh quên hết những lời lẽ cộc cằn mình vừa nhắm vào Bernard và thốt ra những lời khác hẳn, đong đầy yêu mến mà tối qua anh vừa phủ nhận.

“Nằm yên nào nhóc. Cậu thấy chưa, anh chẳng có việc gì lại kéo cậu theo anh hay lôi cậu vào cái nơi nóng bỏng này. Anh chịu trách nhiệm về cậu và sẽ không để cậu bị thương đâu.”

Hỏa lực đã giảm về cường độ. Nằm dán xuống đất, những người lính bò đến hai hàng cây dương, với mùi hương nhẹ nhàng, dẫn họ đến một luống đất giao nhau với một con đường hẹp. Khi trèo lên con dốc nhìn ra lâu đài Ornequin, Paul trông thấy những đống đổ nát của ngôi làng ở phía xa, với nhà thờ tả tơi, và xa hơn về bên trái, là đống hoang tàn của cây cối và những viên đá từng một thời bao quanh tòa nhà. Đây là tòa lâu đài. Bốn mặt xung quanh đều là những căn nhà nông trại, những đống cỏ khô và kho thóc đang bốc cháy.

Phía sau tiểu đội, các nhóm quân Pháp đang tản ra, về tất cả mọi hướng. Một trận địa pháo đã chọn vị trí ẩn mình trong khu rừng gần đó và đang nã đạn không ngừng. Paul có thể thấy những quả đạn pháo đang nổ tung phía trên lâu đài và giữa đống đổ nát.

Không thể chịu nổi cảnh tượng này lâu hơn, anh tiếp tục tiến bước dẫn đầu tiểu đội. Súng đạn của địch không còn ầm ầm như sấm động nữa, không nghi ngờ gì, chúng đã buộc phải câm họng. Nhưng khi họ chỉ còn cách Ornequin hai dặm, những viên đạn vẫn rít lên xung quanh họ và Paul trông thấy một biệt đội Đức đang rút lui vào trong làng, vừa đi vừa bắn. Các khẩu pháo cỡ bảy mươi lăm li lẫn các khẩu Rimailho vẫn đang tiếp tục gầm lên. Âm thanh từ những khẩu pháo thật khủng khiếp.

Paul siết chặt lấy cánh tay Bernard, nói bằng giọng run rẩy: “Nếu anh có mệnh hệ gì, nhớ nói với Elisabeth rằng anh xin cô ấy hãy tha thứ cho anh. Cậu có hiểu không? Anh xin cô ấy tha thứ cho anh.”

Bỗng anh thấy lo sợ định mệnh sẽ không cho phép anh gặp lại vợ mình nữa; và anh nhận ra mình đã hành xử với cô một cách tàn nhẫn không thể tha thứ được, ruồng bỏ ngay cả khi cô không hề phạm phải tội lỗi anh nghĩ cô đã gây ra, bỏ rơi cô chìm trong từng khoảnh khắc tuyệt vọng và đau khổ. Anh mạnh mẽ dấn bước, bỏ cách tiểu đội của mình một quãng xa.

Tuy nhiên, tại lối tắt giao với đường cái, nhìn về phía Liseron, một người đi xe đạp chạy đến bắt kịp anh. Viên Đại tá đã hạ lệnh cho tiểu đội phải đợi chờ quân chủ lực của trung đoàn đến để tấn công tổng lực.

Đây mới là thử thách tàn nhẫn nhất trong tất cả. Paul, một nạn nhân của nỗi lo âu ngày một tăng, run lên vì xúc động và phẫn nộ.

“Thôi nào, Paul.” Bernard nói. “Anh đừng tự đưa mình vào trạng thái như thế! Chúng ta sẽ tới đó kịp mà.”

“Kịp để làm gì?” Anh vặc lại. “Để thấy cô ấy chết hay bị thương à? Hay là không tìm thấy được cô ấy nữa? À, chờ chút, tại sao súng của chúng ta không thể chặn đứng cái hàng ngũ chó chết đó của chúng? Dù cho chúng đang bắn cái thứ gì, thì giờ đây chúng không còn bắn nữa mà? Những xác chết và những ngôi nhà bị phá hủy...”

“Thế còn đạo quân tập hậu yểm trợ cho quân Đức rút lui thì sao?”

“Chẳng phải chúng ta ở đây là bộ binh sao? Đây là việc của chúng ta. Tất cả những gì chúng ta phải làm là cử mấy tay thiện xạ đi, sau đó là đánh giáp lá cà...”

Cuối cùng tiểu đội lại lên đường, được tiếp viện là Đại đội Chín dưới quyền chỉ huy của viên Đại tá. Một biệt đội lính kỵ binh phóng nước kiệu lên trước, nhắm về phía ngôi làng nhằm kết liễu những kẻ đào tẩu. Đại đội rẽ ngoặt về phía tòa lâu đài.

Phía trước họ câm lặng như một nấm mồ. Phải chăng là cái bẫy? Phải chăng chẳng có lý do gì để không tin rằng các lực lượng địch, sau khi đã đào hào và dựng chướng ngại vật mạnh mẽ như thế này, sẽ chuẩn bị cho một đòn phản công cuối cùng? Thế nhưng chẳng có gì đáng nghi ngờ trên lối đi những cây sồi già dẫn đến sân trước, chẳng nhìn thấy hay nghe thấy một dấu hiệu nào của sự sống.

Paul và Bernard, vẫn đang đi đầu, với những ngón tay đặt trên súng trường, căng mắt ra tìm kiếm ánh sáng le lói của tầng cây thấp. Các cột khói bốc lên phía trên bức tường, mà giờ đã ở rất gần, hở hoác ra với những lỗ đạn chi chít. Khi đến gần, họ nghe thấy những tiếng khóc than, ngay sau đó là tiếng nấc hấp hối não nề của một tên lính Đức bị thương.

Bỗng mặt đất rung chuyển như thể cơn đảo lộn từ bên trong làm rạn nứt lớp vỏ, và từ phía bên kia bức tường vang lên tiếng nổ kinh hoàng, hoặc là một tràng tiếng nổ, giống như rất nhiều tiếng sấm. Bầu không khí tối sầm vì đám mây cát và bụi lẫn toàn rác rưởi và gạch đá. Kẻ địch đã cho nổ tung tòa lâu đài.

“Em nghĩ thứ này là dành cho chúng ta.” Bernard nói. “Chúng ta được định đoạt sẽ bị nổ tung cùng lúc. Chúng đã tính toán sai.”

Khi họ đi qua cổng, cảnh tượng sân sau bị phá hoại, những tháp canh tan nát, tòa lâu đài bị hủy hoại, những ngôi nhà bên ngoài chìm trong lửa, kẻ hấp hối trong những cơn đau đớn cuối cùng và những xác chết chất thành đống tướng khiến họ giật bắn mình lùi lại.

“Tiến lên! Tiến lên!” Viên Đại tá quát, phóng ngựa lên phía trước. “Có mấy nhóm chắc đã băng qua công viên bỏ trốn rồi.”

Paul biết con đường ấy, mới vài tuần trước anh đã đi qua đó trong hoàn cảnh bi kịch. Anh lao qua những bãi cỏ, lao qua những khối đá và những cái cây bật gốc. Tuy nhiên, khi anh đi qua gần một căn nhà nhỏ nằm ở cửa rừng, anh dừng chân, đứng im tại chỗ. Bernard cùng tất cả đám binh lính cũng kinh ngạc dừng cả lại, há hốc mồm, mắt mở to khiếp đảm.

Hai xác chết đang đứng tựa vào căn nhà nhỏ, dây xích vòng quanh thắt lưng họ bắt vào những cái vòng trên tường. Xác chết của họ uốn cong trên những sợi xích và hai cánh tay lơ lửng trên mặt đất.

Hai xác chết ấy là của một nam, một nữ. Paul đã nhận ra Jérôme và Rosalie. Họ đã bị bắn chết.

Dây xích tiếp tục đi xa hơn nữa. Có cái vòng thứ ba trên tường. Trên tường có những vết máu và vết đạn rõ nét. Không nghi ngờ gì nữa, còn một nạn nhân thứ ba, xác chết đã bị mang đi.

Khi đến gần, Paul nhận thấy một mảnh đạn pháo găm vào lớp vữa tường. Xung quanh cái lỗ nó tạo ra ấy, giữa vữa tường và mảnh đạn, là một nhúm tóc óng ánh vàng nhạt, lọn tóc cắt ra từ mái đầu của Elisabeth.

« Lùi
Tiến »