Cảm xúc đầu tiên của Paul là khao khát trả thù mạnh mẽ, ngay lập tức, bằng bất cứ giá nào, nhu cầu lấn át hết tất cả nỗi kinh hoàng hay tuyệt vọng. Anh nhìn trừng trừng xung quanh, như thể tất cả những kẻ bị thương đang nằm hấp hối trong công viên đều phạm phải tội ác khủng khiếp.
“Bọn hèn mạt!” Anh gầm gừ. “Quân sát nhân!”
“Anh có chắc không?” Bernard lắp bắp. “Anh có chắc đó là tóc của chị Elisabeth không?”
“Sao chứ, tất nhiên là anh chắc chắn. Chúng đã bắn chết cô ấy cũng như bắn chết hai người kia. Anh biết cả hai người họ: Đó là vợ chồng ông quản gia. Ôi, những kẻ đê tiện...”
Anh giơ báng súng lên định giáng xuống đầu tên Đức đang tự kéo lê thân mình ra bãi cỏ, thì viên Đại tá tiến đến chỗ anh. “Này, Delroze, cậu đang làm cái gì thế? Đại đội của cậu đâu?”
“Ôi, thưa ngài, giá mà ngài biết được!...” Anh lao đến chỗ ngài Đại tá. Trông anh như một kẻ điên, vừa vung vẩy khẩu súng trường vừa nói. “Chúng đã giết cô ấy, thưa ngài, đúng vậy, chúng đã bắn chết vợ tôi... Ngài nhìn đi, tựa vào bức tường đằng kia, cùng với hai người hầu của cô ấy... Chúng đã bắn cô ấy... Cô ấy mới hai mươi tuổi, thưa ngài... Ôi, chúng ta phải giết hết bọn chúng như những con chó!”
Nhưng Bernard đang kéo anh ra xa. “Đừng phí thời gian của chúng ta nữa, Paul; chúng ta có thể trả thù những kẻ vẫn đang chiến đấu với chúng ta kìa... Em nghe thấy tiếng súng ở đằng đó. Em mong là vài tên trong số chúng đang bị bao vây.”
Paul không còn biết mình đang làm gì nữa. Anh lại bắt đầu chạy, lảo đảo vì phẫn nộ và đau khổ.
Mười phút sau, anh quay lại với đại đội của mình và băng qua không gian lộ thiên nơi cha anh từng bị đâm. Nằm trước mặt anh là nhà thờ. Xa hơn nữa, thay vì cánh cửa nhỏ từng thụt vào trong tường, xuất hiện một lỗ hổng lớn, cho phép các đoàn xe bò chở gia súc đi qua. Cách đó tám trăm thước, một tiếng súng trường mạnh mẽ vang khắp các cánh đồng, tại điểm giao cắt giữa đường cái và đường cao tốc.
Hơn mười tên lính Đức rút lui đang cố gắng mở đường máu băng qua các lính kỵ binh đã đến cạnh đường cao tốc. Chúng bị đại đội của Paul tấn công từ phía sau, nhưng vẫn tìm được chỗ trú ẩn trong một khoảnh rừng già hình vuông, ở đây chúng tự bảo vệ mình một cách quyết liệt, rút lui từng bước một và từng tên một.
“Tại sao chúng không đầu hàng?” Paul càu nhàu, súng anh đang nhả đạn liên tục, dần dần anh cũng bình tĩnh lại nhờ sức nóng của tình huống căng thẳng. “Rất có thể chúng đang cố tận dụng thời gian.”
“Nhìn đằng kia kìa!” Bernard nói, giọng khàn khàn.
Dưới những cái cây, một chiếc ô tô vừa chạy đến từ tiền tuyến, trên xe chật ních lính Đức. Có phải nó mang quân cứu viện tới không? Không, chiếc xe gần như quay ngoắt lại, ngăn cách nó với những tên lính cuối cùng là một viên sĩ quan mặc chiếc áo khoác không tay màu xám, với khẩu súng lục trong tay, hắn cổ vũ chúng kiên cường kháng cự, trong khi bản thân hắn thì vội vã chạy về phía cái xe được gửi đến giải cứu hắn.
“Nhìn kìa, Paul!” Bernard lặp lại. “Nhìn kìa!”
Paul chết điếng người. Tên sĩ quan mà Bernard kêu anh để ý ấy là... Nhưng không, không thể nào. Thế nhưng...
“Cậu định gợi ý điều gì hả Bernard?” Anh hỏi.
“Vẫn là gương mặt đó.” Bernard thì thầm. “Vẫn là gương mặt ngày hôm qua, anh biết không, Paul; gương mặt ả đàn bà đã hỏi em về anh đấy, Paul.”
Về phần mình, không nghi ngờ gì nữa, Paul đã nhận ra kẻ bí ẩn từng cố giết anh bên cánh cửa nhỏ dẫn ra công viên, tên tay sai này cho thấy có sự tương đồng không thể nhầm lẫn với ả đàn bà đã giết chết cha anh, với người đàn bà trên bức chân dung, với Hermine d’Andeville, mẹ của Elisabeth và Bernard.
Bernard nâng súng lên để bắn.
“Không, đừng làm thế!” Paul kêu lên, khiếp sợ trước hành động ấy.
“Tại sao không?”
“Cố gắng bắt sống hắn đi.”
Anh lao về phía trước trong cơn bốc đồng căm ghét điên rồ, nhưng tên sĩ quan đã chạy tới chiếc xe. Bọn lính Đức giơ tay ra nâng hắn lên ngồi vào giữa. Paul bắn tên lính đang ngồi ở ghế lái. Tên sĩ quan vừa kịp giữ bánh lái đúng lúc chiếc xe suýt đâm sầm vào một cái cây, hắn đổi hướng đi khéo léo, lái chiếc xe vượt qua các chướng ngại vật cản trở, ngoặt tại một giao điểm trên đường rồi tiến về phía tiền tuyến. Hắn đã an toàn.
Ngay sau khi đã lùi xa khỏi tầm đạn bắn, bọn lính Đức vẫn tiếp tục vừa bắn vừa lùi.
Paul đang run lên vì tức giận mình bất lực. Đối với anh, tên này là hiện thân chuẩn đến từng li của loài ác quỷ; và từ phút đầu tiên cho tới phút cuối cùng của một loạt bi kịch, những kẻ sát nhân, những nỗ lực do thám và ám sát, những trò phản bội và những phát súng có chủ ý, tất cả đều có một mục đích với một tinh thần giống nhau, và cái tên này nổi bật lên như một thiên tài tội ác đích thực.
Chỉ có cái chết của tên tay sai mới đủ sức làm dịu đi sự căm phẫn của Paul. Chính là hắn, tên ác quỷ, Paul cảm thấy chắc chắn như bắp hắn là kẻ đã ra lệnh bắn chết Elisabeth. Elisabeth bị bắn! Ôi, thật xấu hổ làm sao! Ôi, hình ảnh ghê rợn ấy khiến anh khốn khổ...
“Hắn là ai?” Anh kêu lên. “Làm sao chúng ta tìm hiểu được? Làm sao chúng ta bắt giữ, tra tấn rồi giết chết hắn đây?”
“Tra hỏi một tù binh thử xem.” Bernard nói.
Viên Đại tá cho rằng thông minh hơn thì nên tiếp tục hành quân và ra lệnh cho đại đội lùi lại, cũng như giữ liên hệ với phần còn lại của trung đoàn. Paul là người được chọn cho nhiệm vụ đặc biệt chiếm tòa lâu đài và đưa các tù binh tới đó.
Anh không bỏ phí thời gian, lập tức tra hỏi vài tên hạ sĩ quan và mấy tên lính, khi họ đã bỏ đi. Nhưng anh chẳng thu được gì ngoài một đống thông tin xung đột nhau, vì chúng vừa mới đến Corvigny hôm qua và chỉ mới ngủ một đêm trong lâu đài.
Thậm chí chúng còn chẳng biết tên của viên sĩ quan mặc áo choàng dài màu xám, kẻ mà vì hắn, chúng sẵn sàng hy sinh mạng sống. Hắn được gọi là Thiếu tá, và chấm hết.
“Nhưng dẫu vậy...” Paul khăng khăng. “... Hắn thực sự là sĩ quan chỉ huy của các ngươi?”
“Không! Chỉ huy biệt đội bọc hậu của chúng tôi là một trung úy, ông ấy đang bị thương do giẫm phải mìn khi chúng tôi chạy trốn. Chúng tôi muốn đưa ông ấy đi cùng, nhưng Thiếu tá không chịu, hắn chĩa súng vào chúng tôi, bảo chúng tôi phải hành quân đi trước mặt hắn, và đe dọa bắn chết kẻ đầu tiên dám bỏ rơi hắn trong hoạn nạn. Và vừa nãy, trong khi chúng tôi đang chiến đấu, hắn chạy sau chúng tôi mười bước chân, không ngừng đe dọa chúng tôi bằng khẩu súng lục, ép buộc chúng tôi phải bảo vệ cho hắn. Thực ra hắn đã bắn chết ba người của chúng tôi.”
“Hắn đã tính toán đến chuyện dùng xe chạy thoát thân đúng không?”
“Vâng, và còn quân tiếp viện để cứu tất cả chúng tôi, đó là hắn nói vậy. Nhưng chỉ có chiếc xe đến thôi, và chỉ cứu mình hắn thôi.”
“Tất nhiên tên Trung úy kia sẽ biết tên hắn. Gã bị thương có nặng không?”
“Ông ấy bị gãy một chân. Chúng tôi đã bỏ ông ấy lại rất thoải mái trong căn nhà nhỏ ở công viên.”
“Căn nhà nhỏ mà bọn lính các ngươi tra tấn đến chết... những thường dân đó sao?”
“Vâng!”
Họ đang đến gần ngôi nhà nhỏ, một kiểu vườn cam nhỏ nơi các cây cam được mang đi vào mùa đông. Hai xác chết của Rosalie và Jérôme cũng được mang đi. Nhưng sợi xích đáng sợ kia vẫn đang treo lơ lửng trên tường, bắt vào ba cái móc bằng sắt; một lần nữa Paul lại phải thấy, với cái rùng mình kinh sợ, những dấu vết để lại như vết đạn và mảnh đạn pháo cỡ nhỏ dính tóc của Elisabeth trong lớp vữa. Một quả đạn pháo của quân Pháp! Nỗi kinh hoàng tăng thêm trước sự bạo tàn của kẻ giết người!
Thế nên Paul, người mà mới hôm qua thôi, bằng cách cướp được chiếc xe gắn vũ khí và có cuộc đột kích táo bạo vào Corvigny, qua đó mở đường đến với quân Pháp, chính là nguồn cơn cho các sự kiện dẫn đến việc vợ anh bị sát hại! Để trả thù cho nỗi nhục phải rút lui, kẻ địch đã bắn chết những người dân thường sống trong lâu đài! Elisabeth bị trói vào sợi dây xích gắn trên bức tường lỗ chỗ những vết đạn. Và thật mỉa mai đau khổ làm sao, những mảnh đạn pháo đầu tiên pháo binh Pháp bắn trước buổi đêm, từ trên đỉnh các quả đồi gần Corvigny còn găm vào xác cô nữa.
Paul lôi những mảnh đạn pháo ra, thò tay vào lấy ra các sợi tóc vàng óng, để sang một bên đầy thành kính. Anh cùng Bernard tiến vào căn nhà nhỏ, nơi các chiến sĩ quân y của Hội y Chữ thập đỏ đã thiết lập trạm sơ cứu tạm thời. Họ phát hiện tên Trung úy đang nằm trên một bó rơm, được chăm sóc tốt và có thể trả lời vài câu hỏi.
Một vấn đề ngay lập tức trở nên rõ ràng, có thể nói rằng nhóm quân Đức đã đồn trú tại lâu đài Ornequin chẳng có liên quan chút nào đến nhóm quân mới ngày hôm trước rút lui từ Corvigny và các pháo đài liền kề. Đơn vị đồn trú đã sơ tán ngay lập tức sau khi các nhóm quân chiến đấu đến nơi, như thể lảng tránh bất kỳ hành động khinh suất nào liên quan đến chuyện xảy ra trong thời gian chiếm lâu đài.
Tên Trung úy, từng thuộc biên chế của đơn vị chiến đấu thay vì đơn vị đồn trú, nói: “Lúc đó là bảy giờ sáng. Các khẩu pháo bảy mươi lăm li của các người có tầm bắn đến tận lâu đài; và chúng tôi phát hiện ở đó chẳng có ai ngoài một số viên tướng và các sĩ quan cao cấp khác. Các xe ngựa chở quân nhu của họ đang rời đi, mấy chiếc ô tô của họ cũng sắp đi. Tôi được lệnh phải cố thủ càng lâu càng tốt để làm nổ tung lâu đài. Viên Thiếu tá đã sắp xếp hết tất cả từ trước.”
“Tên Thiếu tá ấy tên là gì?”
“Tôi không biết. Ông ta đi khắp nơi cùng một tên sĩ quan tuy trẻ nhưng viên tướng nào cũng phải kính nể y. Cũng tên sĩ quan này đã gọi tôi đến gặp y và bắt tôi phải tuân lệnh viên Thiếu tá “như tuân chỉ của hoàng đế”.”
“Tên sĩ quan trẻ này là ai?”
“Hoàng tử Conrad.”
“Một trong những người con trai của Hoàng đế Đức à?”
“Đúng! Hôm qua y đã rời khỏi lâu đài, vào lúc cuối ngày.”
“Tên Thiếu tá có qua đêm ở đây không?”
“Tôi cho là có; dù sao đi nữa, sáng nay ông ta đã ở đó. Chúng tôi đã cho nổ mìn rồi bỏ đi... hơi muộn một chút, vì tôi bị thương gần căn nhà nhỏ này... gần bức tường...”
Paul gắng kiềm chế cảm xúc và nói: “Ý ngươi là bức tường mà lính của ngươi đã trói ba thường dân Pháp vào đó rồi giết, đúng chứ?”
“Đúng!”
“Họ bị bắn vào lúc nào?”
“Khoảng sáu giờ chiều, tôi nghĩ vậy, trước khi chúng tôi tới từ Corvigny.”
“Kẻ nào ra lệnh bắn chết họ?”
“Thiếu tá.”
Paul cảm thấy mồ hôi đang chảy tong tỏng từ đỉnh đầu anh xuống cổ và trán. Đúng như anh nghĩ: Elisabeth đã bị bắn theo lệnh của cái tên vô danh và còn hơn cả bí ẩn đó, cái tên có gương mặt giống hệt hình ảnh gương mặt của Hermine d’Andeville, mẹ của Elisabeth!
Anh nói tiếp, giọng run rẩy: “Vậy là có ba người bị bắn chết à? Ngươi hoàn toàn chắc chứ?”
“Vâng, những người trong lâu đài. Họ đã phạm tội phản bội.”
“Một đàn ông và hai phụ nữ?”
“Đúng!”
“Nhưng chỉ có hai xác chết bị trói vào bức tường của căn nhà nhỏ.”
“Đúng, chỉ có hai xác chết. Thiếu tá đã chôn cất vị phu nhân của ngôi nhà này theo lệnh của Hoàng tử Conrad.”
“Ở đâu?”
“Ông ta không nói cho tôi biết.”
“Nhưng tại sao cô ấy bị bắn chết?”
“Tôi hiểu rằng cô ta đã nắm giữ những bí mật rất quan trọng.”
“Chúng có thể đã mang cô ấy đi và giam giữ như tù binh.”
“Chắc chắn, nhưng Hoàng tử Conrad đã phát ốm vì cô ta.”
Paul nhảy dựng lên. “Ngươi nói vậy nghĩa là gì?”
Tên sĩ quan nói tiếp, với một nụ cười có thể mang rất nhiều ý nghĩa: “Chết tiệt, ai chả biết Hoàng tử Conrad! Y chính là Don Juan trong gia đình. Y đã ở lại lâu đài này trong vài tuần và có đủ thời gian tạo ấn tượng đúng không... Và rồi... và rồi y phát chán... Thêm vào đó, viên Thiếu tá khăng khăng buộc tội người đàn bà này cùng hai người hầu của cô ta đã cố gắng hạ độc Hoàng tử. Nên anh thấy đấy...”
Hắn không nói hết câu. Paul đang cúi xuống người hắn và, với gương mặt méo mó vì tức giận, anh tóm chặt lấy cổ họng hắn và thét lên: “Nói thêm một câu nữa thôi, con chó, tao sẽ giết chết mày ngay lập tức! À, mày có thể cảm ơn thần may mắn vì mày đã bị thương sẵn rồi!... Bằng không...bằng không….!”
Đứng bên cạnh anh, Bernard cũng phẫn nộ không kém, nói thêm vào: “Đúng, mày có thể cho rằng mình đã gặp may. Còn về tên Hoàng tử Conrad, hắn là đồ con lợn, để tao nói cho mày biết... và tao rất muốn nói thẳng vào-mặt-hắn-câu-đó... Hắn là một con lợn giống như tất cả cái gia đình thú vật ấy của hắn, giống như tất cả các ngươi!”
Họ bỏ mặc tên Trung úy hết sức choáng váng, không hiểu nổi nguyên nhân do đâu tự dưng họ nổi đóa lên như thế. Nhưng khi đã ra ngoài, Paul cảm thấy tuyệt vọng trào dâng. Những dây thần kinh của anh chùng xuống. Tất cả cơn giận dữ và căm thù trong anh giờ biến thành sự tuyệt vọng vô bờ bến. Thậm chí anh còn không kìm được những giọt nước mắt.
“Thôi nào, Paul.” Bernard thốt lên. “Chắc chắn anh không tin một lời nào...”
“Không, không và một lần nữa là không! Nhưng anh có thể đoán được chuyện đã xảy ra. Tên súc vật Hoàng tử say khướt ấy chắc đã cố gắng tăm tia Elisabeth và lợi dụng quyền hạn của hắn. Cứ nghĩ mà xem! Một người phụ nữ, cô độc và không có khả năng tự vệ, một cuộc chinh phục rất đáng giá! Chị gái tội nghiệp của em chắc đã phải trải qua những giày vò khốn khổ làm sao, nhục nhã làm sao!... Một cuộc tranh đấu hằng ngày, với những lời đe dọa và những thói bạo tàn... Và đến phút cuối cùng, cái chết chính là hình phạt cho sự chống trả kiên cường của cô ấy...”
“Chúng ta sẽ trả thù cho chị ấy, Paul.” Bernard nói bằng giọng thấp.
“Chúng ta sẽ trả thù; nhưng làm sao anh quên được tất cả là do anh, do lỗi của anh nên cô ấy mới ở lại đây chứ? Anh sẽ giải thích ý anh muốn nói sau, rồi cậu sẽ hiểu anh đã nghiệt ngã và bất công đến thế nào... Thế nhưng...”
Anh đứng đó suy tư một cách ủ rũ. Anh bị ám ảnh bởi hình ảnh tên Thiếu tá và lặp lại: “Thế nhưng… thế nhưng... có những chi tiết có vẻ rất lạ lùng.”
◇
Cả chiều hôm ấy, quân Pháp tiếp tục tràn vào qua thung lũng Liseron và làng Ornequin nhằm bẻ gãy bất kỳ đòn phản công nào của địch. Tiểu đội của Paul được nghỉ ngơi, lợi dụng điều này, anh cùng Bernard tiến hành khám xét tỉ mỉ trong công viên và giữa đống đổ nát của tòa lâu đài. Nhưng chẳng có đầu mối nào cho họ biết nơi chôn cất xác của Elisabeth.
Lúc năm giờ, họ tổ chức chôn cất tử tế cho Rosalie và Jérôme. Hai cây thánh giá được cắm trên mô đất nhỏ rải đầy hoa. Một giáo sĩ trong quân đội đã đến đọc lời cầu nguyện cho những người chết. Paul xúc động đến bật khóc khi quỳ trước nấm mồ của hai kẻ hầu cận trung thành mà sự cống hiến của họ hãy còn dở dang.
Và Paul cũng hứa sẽ trả thù cho họ. Lòng mong mỏi báo thù gợn lên trong tâm trí anh, với cường độ gây đau đớn nhất, hình ảnh đáng căm ghét của tên Thiếu tá, hình ảnh ấy giờ đây trở nên không thể tách rời khỏi những hồi ức của anh về nữ Bá tước d’Andeville.
Anh dẫn Bernard rời khỏi nấm mộ rồi hỏi: “Cậu có chắc mình không nhìn nhầm khi liên kết tên Thiếu tá với kẻ được cho là ả nông dân từng hỏi han cậu tại Corvigny chứ?”
“Chắc chắn ạ.”
“Thế thì đi với anh. Anh từng kể cho cậu nghe về bức chân dung người đàn bà rồi. Chúng ta sẽ đi xem nó, rồi cậu nói cho anh biết bức tranh ấy để lại trong cậu ấn tượng gì.”
Paul đã để ý phía ấy của tòa lâu đài, nơi có phòng ngủ và phòng khuê của Hermine d’Andeville không bị phá hủy hoàn toàn bởi vụ nổ, bởi những quả mìn hay những quả đạn pháo. Có khả năng phòng khuê vẫn giữ nguyên tình trạng cũ.
Cầu thang đã bị phá hủy, và họ phải chật vật trèo qua bức tường nham nhở để lên được tầng một. Những dấu vết của hành lang hiện ra ở một vài nơi. Toàn bộ cửa ra vào đã biến mất, các căn phòng chưng ra vẻ ngoài hỗn loạn đến đáng thương.
“Nó ở đây.” Paul nói, chỉ vào một không gian mở giữa hai mảnh tường vẫn còn nguyên vẹn như thể một phép mầu.
Đó thực sự là phòng khuê của Hermine d’Andeville, tan hoang và đổ nát, nứt nẻ từ trên xuống dưới, sàn nhà bừa bãi vữa và rác rưởi, nhưng vẫn hoàn toàn có thể nhận ra được bao gồm toàn bộ đồ đạc nội thất mà Paul đã để ý vào buổi tối ngày họ cưới nhau. Các cánh cửa chớp che ánh sáng một phần căn phòng, nhưng vẫn đủ sáng để Paul thấy được vị trí của bức tường đối diện. Ngay lập tức, anh thốt lên: “Bức chân dung bị mang đi rồi!”
Đó là nỗi tuyệt vọng vô bờ đối với anh, đồng thời còn là bằng chứng về tầm quan trọng của bức chân dung đối với kẻ địch, nó chỉ có thể bị lấy đi bởi nó là một bằng chứng không thể chối cãi.
“Em đảm bảo với anh...” Bernard nói. “... Rằng điều này không hề ảnh hưởng chút nào đến ý kiến của em. Chẳng cần phải xác minh niềm tin vững chắc của em về tên Thiếu tá và ả nông dân tại Corvigny nữa. Bức chân dung vẽ ai thế?”
“Anh đã nói rồi, là một phụ nữ.”
“Phụ nữ nào? Có phải bức tranh mà cha em treo ở đó không một trong những bức tranh trong bộ sưu tập của ông ấy?”
“Là nó đấy” Paul đáp, tận dụng ngay cơ hội đánh lạc hướng cậu em vợ.
Mở một trong những cánh cửa chớp ra, anh trông thấy một dấu vết trên bức tường của không gian hình chữ nhật nơi treo bức tranh; và từ những chi tiết nhất định, anh có thể hiểu rằng việc lấy cắp bức tranh đã diễn ra khá vội vàng. Chẳng hạn, cuộn sơn son thếp vàng đã bị rớt khỏi khung và đang nằm trên sàn. Paul nhặt nó lên nhanh đến nỗi Bernard không kịp nhìn thấy hàng chữ khắc trên đó.
Nhưng trong khi mải xem xét tấm ván tường chăm chú hơn sau khi Bernard đóng lại cánh cửa chớp kia, anh bỗng thốt lên.
“Có chuyện gì vậy?” Bernard hỏi.
“Đó... nhìn xem... chữ ký trên bức tường... nơi từng treo bức tranh: chữ ký và ngày tháng.”
Nó được viết bằng bút chì; hai dòng trên lớp vữa trắng, cao bằng người thật. Dòng ngày tháng: “Tôi thứ Tư, ngày Mười sáu tháng Chín năm 1914” , sau đó là chữ ký: “Thiếu tá Hermann” .
Thiếu tá Hermann! Khi Paul còn chưa kịp nhận thức được cái tên này, đôi mắt anh đã chú mục vào một chi tiết hội tụ đầy đủ ý nghĩa của cả hai dòng chữ này, và khi Bernard tiến lên phía trước để xem, anh đã lẩm bẩm, với sự kinh ngạc không giấu giếm: “Hermann!... Hermine!...”
Hai từ này gần giống nhau. Hermine cũng bắt đầu bằng những chữ cái như tên Thánh hoặc cái họ mà tên Thiếu tá đã viết ra, sau chức danh của hắn, trên tường. Thiếu tá Hermann! Nữ Bá tước Hermine! H, E, R, M: Bốn chữ cái khắc trên con dao găm đã suýt giết chết Paul! H, E, R, M: Bốn chữ cái khắc trên con dao găm của tên gián điệp mà anh bắt giữ trên tháp chuông nhà thờ
Bernard nói: “Với em, đây có thể là nét chữ của phụ nữ. Nhưng nếu thế...” Rồi cậu ta nói tiếp, chìm trong suy nghĩ: “Nếu thế... chúng ta có thể rút ra kết luận gì? Hoặc là ả nông dân và Thiếu tá Hermann cùng là một người, thế có nghĩa ả nông dân là đàn ông hoặc tên Thiếu tá ấy là đàn bà, bằng không chúng ta đang phải đương đầu với hai kẻ riêng biệt, một nam và một nữ. Em tin rằng đây là đáp án đúng, bất chấp sự tương đồng kỳ lạ giữa người đàn ông và ả đàn bà đó. Mà rốt cuộc, làm sao chúng ta có thể cho rằng cũng là một người tối hôm qua vừa viết chữ ký này, lại vừa vượt qua các phòng tuyến quân Pháp đến nói chuyện với em tại Corvigny, ăn mặc giả làm ả nông dân... xong xuôi lại quay trở về đây, ăn mặc đóng giả thiếu tá Đức, giật mìn làm nổ tung căn nhà này, bỏ trốn, sau khi giết chết vài tên lính dưới quyền, tháo chạy bằng xe ô tô?”
Mải chìm đắm trong những suy nghĩ của mình nên Paul không đáp. Lúc này anh bước vào căn phòng liền kề, ngăn cách phòng khuê với dãy phòng vợ anh ở. Trong các phòng này chẳng còn gì ngoài rác rưởi. Nhưng căn phòng ở giữa lại không bị ảnh hưởng nhiều; điều đó rất dễ thấy, nhờ cái giá rửa tay và tình trạng của chiếc giường căn phòng từng được dùng làm phòng ngủ và ai đó đã ngủ trong phòng này đêm hôm trước.
Trên bàn Paul tìm thấy vài tờ báo của Đức và một tờ báo của Pháp, đề ngày mùng Mười tháng Chín, trong đó có một bản thông cáo báo chí kể về chiến thắng vĩ đại tại Marne bị gạch xóa rất đậm bằng bút chì đỏ và chú thích bên cạnh từ “Dối trá!”, tiếp theo là một chữ cái H.
“Chắc chắn bây giờ chúng ta đang ở trong phòng của Thiếu tá Hermann.” Paul nói với Bernard.
“Và đêm qua...” Bernard tuyên bố. “...Thiếu tá Hermann đã đốt cháy vài tờ báo sỉ nhục mình. Cứ nhìn tro tàn chất đống trong lò sưởi thì rõ.”
Cậu ta cúi xuống nhặt lên vài cái phong bì, một vài tờ giấy đã cháy mất một nửa viết những từ ngữ nối liền nhau, chẳng có gì ngoài những câu không liền mạch. Tuy nhiên, khi đưa mắt nhìn sang cái giường, cậu ta trông thấy dưới cái gối ôm là một bọc quần áo được giấu kín hoặc có thể là bị quên khi bỏ đi quá vội vàng. Cậu ta lôi chúng ra, ngay lập tức thốt lên: “Em nói mà, nhìn này!”
“Nhìn cái gì?” Paul hỏi, anh đang lục soát phía bên kia căn phòng.
“Nhìn xem, những bộ đồ này là quần áo nông dân, em đã thấy ả đàn bà tại Corvigny mặc nó. Không thể nhầm được, cũng có màu nâu và cùng là loại vải chéo. Còn đây là cái khăn quàng cổ màu ren đen mà em đã kể với anh...”
“Cái gì thế?” Paul thốt lên, chạy đến chỗ cậu ta.
“Đây anh tự xem đi, khăn quàng cổ chất lượng tầm thường vả lại cũng không còn mới. Mòn xơ rách hết cả rồi! Trong này vẫn còn cả cái trâm cài đầu em đã tả cho anh. Anh thấy không?”
Paul đã để ý cây trâm cài đầu ngay lập tức với nỗi khiếp sợ kinh khủng nhất. Việc phát hiện ra bộ quần áo trong căn phòng Thiếu tá Hermann ở, sát ngay cạnh phòng khuê của Hermine d’Andeville có ý nghĩa mới lớn lao làm sao! Viên đá chạm khắc hình con thiên nga đang dang rộng cánh với cảnh nền là hình con rắn vàng với đôi mắt ngọc. Paul đã biết tới viên đá chạm đó kể từ thuở thiếu niên, từ việc nhìn thấy nó trên bộ đồ của ả đàn bà đã giết chết cha anh, ngoài ra anh còn có cơ hội nhìn thấy nó lần nữa, rõ tới từng chi tiết nhỏ nhất được tái hiện lại, trên bức chân dung nữ Bá tước Hermine. Và giờ đây anh đang thấy cây trâm cài đầu thực sự, được nhét vào chiếc khăn quàng cổ màu đen giữa đống quần áo của ả nông dân Corvigny bị bỏ lại trong căn phòng của Thiếu tá Hermann!
“Thêm cái này là bằng chứng hoàn chỉnh.” Bernard nói. “Thực tế bộ quần áo ở đây chứng tỏ ả đàn bà từng hỏi em về anh tối qua đã quay lại đây, nhưng giữa ả với tên sĩ quan giống ả y hệt có liên quan gì? Có phải là người từng hỏi han em về anh cũng là kẻ ra lệnh bắn chết chị Elisabeth hai tiếng trước không? Những kẻ này là ai? Chúng ta đang phải chống lại một băng nhóm những kẻ sát nhân và gián điệp kiểu gì?”
“Chúng đơn giản là người Đức.” Đó là câu trả lời của Paul. “Với chúng, việc do thám và giết người là điều rất tự nhiên, là những hình thức chiến tranh được phép áp dụng... trong chiến tranh, cậu nhớ lấy, mà chúng đã bắt đầu và đang triển khai ngay trong thời đại tưởng chừng như an toàn tuyệt đối này. Anh đã kể cậu nghe rồi, Bernard: Bọn anh từng là nạn nhân của cuộc chiến tranh gần hai mươi năm rồi. Vụ giết cha anh đã khơi mào cho bi kịch. Và hôm nay chúng ta đang khóc than cho Elisabeth tội nghiệp. Nhưng tất cả vẫn chưa kết thúc đâu.”
“Dù sao đi nữa...” Bernard nói. “... Hắn cũng đã bỏ trốn mất rồi.”
“Chúng ta sẽ gặp lại hắn, anh chắc chắn điều đó. Nếu hắn không quay lại, anh sẽ đi tìm hắn. Và khi cái ngày đó đến...”
Có hai cái ghế bành trong phòng. Paul và Bernard quyết định sẽ qua đêm ở đây, không một phút chậm trễ, họ đều viết tên mình lên trên bức tường trong hành lang. Tiếp theo Paul quay lại với binh sĩ của mình, để thấy họ đã kiếm được những chỗ ngủ thoải mái trong các kho thóc và các căn nhà phụ vẫn còn đứng vững. Đến đây, một người lính được phân làm lính liên lạc của anh, một người Auvergnat lịch thiệp có tên là Gériflour, bảo anh rằng cậu ta đã kiếm được hai cặp ga trải giường và hai tấm đệm sạch sẽ từ căn nhà nhỏ phòng bảo vệ, rằng mấy cái giường đã sẵn sàng cả rồi. Paul chấp nhận lời mời vì cả Bernard lẫn chính anh. Mọi người thỏa thuận rằng Gériflour cùng một trong các đồng đội của cậu ta sẽ vào trong tòa lâu đài và ngủ trên hai cái ghế bành.
Đêm qua đi mà không hề có báo động. Đó là một đêm bồn chồn và thức trắng của Paul, suy nghĩ về Elisabeth khiến anh bị ám ảnh. Đến sáng anh mới chìm vào giấc ngủ sâu, với những cơn ác mộng quấy rối. Anh giật mình thức dậy bởi hiệu lệnh đánh thức. Bernard đang đợi anh.
Phiên điểm danh được tiến hành ở sân sau tòa lâu đài. Paul để ý thấy cậu lính liên lạc của mình, cùng đồng đội của cậu ta đã mất tích.
“Chắc họ ngủ quên thôi.” Anh nói với Bernard. “Đi đánh thức họ dậy đi.”
Họ quay vào trong, bước qua đống đổ nát, lên tầng một và tìm trong phòng ngủ hoang tàn. Trong căn phòng Thiếu tá Hermann từng ở, họ tìm thấy binh nhì Gériflour, nằm thành một đống lộn xộn trên giường, chìm trong vũng máu và đã chết. Bạn cậu ta đang nằm ngửa trên một trong những cái ghế, cũng đã chết. Không có sự xáo trộn, không có dấu vết cuộc vật lộn nào xung quanh hai cái xác. Hai người lính chắc chắn đã bị giết khi đang ngủ.
Ngay lập tức, Paul trông thấy hung khí giết chết họ. Đó là con dao găm với những chữ cái H, E, R, M khắc trên cán dao.