Vụ án mạng kép này, sau một loạt những biến cố bi thảm có liên quan chặt chẽ với nhau, chính là đỉnh điểm hội tụ những nỗi kinh hoàng và những thảm kịch gây sốc khiến cả hai thanh niên không thốt ra nổi một lời nào, không thể nhúc nhích. Vốn đã quá thường xuyên cảm thấy hơi thở của thần chết trên chiến trường, nhưng tử thần không bao giờ xuất hiện trước mặt họ trong cái lốt đầy căm thù hoặc gớm ghiếc hơn thế.
Cái chết! Họ đã nhìn thấy nó, không phải như căn bệnh dịch đáng sợ tấn công gây nguy hiểm, mà như một bóng ma lẩn lút trong bóng tối, theo dõi kẻ thù của nó, lựa chọn đúng lúc thuận tiện liền giơ cao cánh tay ác ý. Và bóng ma này đã xuất hiện trước mặt họ dưới chính hình hài và những đường nét của Thiếu tá Hermann.
Cuối cùng, khi Paul lên tiếng, giọng anh mang sắc thái ảm đạm, đáng sợ, dường như muốn triệu hồi những sức mạnh đáng sợ của bóng tối: “Đêm qua hắn đã tới đây. Như chúng ta đã viết tên của mình lên tường, hắn đã đến và những cái tên Bernard d’Andeville và Paul Delroze tượng trưng cho những cái tên của kẻ thù trong đôi mắt hắn, và hắn đã tận dụng cơ hội đích thân loại bỏ hai kẻ thù này. Tin chắc rằng hai người đang ngủ trong căn phòng này là anh và cậu, hắn đã ra tay... Tuy nhiên, hai nạn nhân của hắn lại là Gériflour tội nghiệp và bạn cậu ấy, họ đã chết thế cho chúng ta.”
Sau khi ngừng một lúc lâu, anh thì thầm: “Họ chết như cha anh đã chết... và như chị Elisabeth đã chết... cả vợ chồng viên quản gia nữa; cũng chính bàn tay ấy, cũng chính bàn tay ấy, Bernard ạ, cậu có hiểu không?... Phải, không thể chấp nhận được, đúng không? Não bộ anh không chịu thừa nhận điều đó... Thế nhưng luôn luôn chính là bàn tay cầm con dao ấy... hồi đó lẫn bây giờ.”
Bernard xem xét con dao găm. Trước hình ảnh bốn chữ cái, cậu ta nói: “Em nghĩ chữ này chắc là Hermann? Thiếu tá Hermann?”
“Đúng!” Paul háo hức đáp. “Đó là tên thật của hắn đúng không? Và hắn thực ra là ai? Anh không biết. Điều anh biết đó là tên tội phạm gây ra những vụ án mạng này, cũng chính là kẻ ký tên bằng bốn chữ cái kia, H, E, R, M.”
Sau khi báo động cho binh sĩ trong tiểu đội của mình và gửi thông báo đến ngài giáo sĩ và các bác sĩ phẫu thuật, Paul quyết tâm hỏi chuyện ngài Đại tá lần nữa và kể cho ông ta nghe toàn bộ câu chuyện bí mật, với hy vọng rằng làm thế sẽ khiến anh hiểu thêm một chút nào đó vào chuyện hành hình Elisabeth và vụ ám sát hai binh sĩ. Nhưng anh được biết viên Đại tá và đại đội của ông ta đang chiến đấu phía bên kia tiền tuyến, rằng Đại đội Ba nhanh chóng được cử đến đó, tất cả cùng lên đường trừ một biệt đội ở lại lâu đài dưới sự chỉ huy của Trung sĩ Delroze. Do đó, Paul tự mình tiến hành điều tra cùng nhóm binh sĩ.
Họ chẳng thu được gì. Không có khả năng phát hiện ra đầu mối nào nhỏ nhất theo tính cách tên hung thủ, vì lần đầu hắn vào trong công viên, tiếp theo vào đống đổ nát rồi cuối cùng là vào phòng ngủ. Vì không có thường dân nào đi qua, họ có nên kết luận rằng kẻ thực hiện cả hai tội ác này là một trong những binh nhì của Đại đội Ba không? Rõ ràng là không. Và vậy thì chúng ta nên đặt ra giả thiết nào?
Paul cũng không phát hiện được gì cho anh biết về cái chết của vợ hoặc về nơi cô được chôn. Và đây mới là thử thách khắc nghiệt nhất trong tất cả.
Thẩm vấn những tên lính Đức bị thương trong số tù nhân cũng chẳng làm sáng tỏ được gì. Tất cả bọn chúng có nghe nói về cuộc hành hình một đàn ông và hai phụ nữ, nhưng chúng đều đến đây sau cuộc hành hình và sau khi nhóm binh lính chiếm cứ lâu đài đã rút đi.
Anh đi tiếp vào làng, nghĩ rằng họ có thể biết chuyện gì diễn ra ở đó; rằng những thường dân có vài chuyện để kể về quý bà trong tòa lâu đài, về cuộc sống của cô, về nỗi đau khổ giày vò và cái chết của cô. Nhưng Ornequin trống trơn, chẳng có phụ nữ nào đã đành, ngay cả người già cũng chẳng thấy ai. Kẻ địch chắc đã lùa hết dân làng sang Đức, không nghi ngờ gì là ngay từ đầu, với mục tiêu rõ ràng nhằm hủy diệt từng người chứng kiến các hành động của chúng trong thời gian xâm chiếm và biến xung quanh lâu đài thành hoang mạc.
Theo cách này, Paul đã mất toi ba ngày theo đuổi những cuộc điều tra vô ích.
“Tuy nhiên...” Anh nói với Bernard. Chi Elisabeth không thể nào bốc hơi hoàn toàn được. Ngay cả nếu anh không thể tìm được mộ cô ấy, ngay cả nếu anh không tìm được dấu vết sự tồn tại của cô ấy dù nhỏ nhất? Cô ấy đã sống ở đây, đã chịu đựng đau khổ ở đây. Anh sẽ đánh đổi bất kể cái gì để tìm được di hài cô ấy.”
Họ đã thành công khi định vị chính xác vị trí căn phòng mà cô thường ngủ, thậm chí còn xác định được chính xác chồng đá và vữa còn lại của phòng ngủ, ngay giữa đống đổ nát. Tất cả đã lẫn lộn lung tung với những mảnh vụn của các căn phòng ở tầng trệt, chưa kể các trần nhà trên tầng một đổ sụp xuống; trong cái đống hoang tàn này, dưới một đống các bức tường và đồ nội thất đã tan thành ngàn mảnh, vào một buổi sáng, anh nhặt lên được một cái gương nhỏ đã vỡ, tiếp theo là cái chải tóc bằng mai rùa, một con dao bấm bằng bạc và một cái kéo, tất cả đều thuộc về Elisabeth.
Nhưng điều ảnh hưởng đến anh nhiều hơn là việc phát hiện ra một cuốn nhật ký dày, mà anh biết rằng vợ mình, trước khi kết hôn với anh, cô thường viết vào đây những khoản chi tiêu của mình, những công việc thường ngày hay những chuyến thăm viếng cần phải nhớ đến, và thi thoảng là vài chi tiết riêng tư hơn trong cuộc đời cô. Giờ tất cả những gì còn lại trong nhật ký của cô là bìa ghi ngày tháng năm 1914, và một phần bao gồm các mục trong vòng bảy tháng đầu tiên trong năm. Toàn bộ các trang nhật ký của năm tháng trước không bị xé mà bị bóc riêng ra khỏi các sợi dây chằng buộc với bìa.
Ngay lập tức, Paul tự nhủ: “Là do Elisabeth đã bóc ra, cô ấy bóc ra vào lúc rảnh rỗi, vào lúc chẳng có gì phải vội vàng hoặc đơn giản là cô ấy chỉ muốn dùng mấy trang đó để viết mỗi ngày. Cô ấy sẽ muốn viết điều gì? Chỉ là vài ghi chép riêng tư hơn mà cô ấy từng viết ra giữa các mục về chi tiêu trong nhật ký. Và khi mà chẳng còn khoản chi tiêu nào phải ghi chép nữa sau khi mình bỏ đi, vì sự tồn tại của cô ấy chẳng còn gì ngoài một bi kịch ghê tởm, nên không nghi ngờ gì, cô ấy đã trút hết những nỗi đau khổ của mình vào các trang giấy đó, những kêu ca, có khả năng là việc cô ấy trốn tránh mình.”
Ngày hôm ấy, khi Bernard đi vắng, Paul càng tập trung khám xét triệt để. Anh lục tung dưới từng viên đá và trong từng cái hốc. Các phiến đá cẩm thạch vỡ, những ngọn đèn trần méo mó, những tấm thảm rách nát, những xà nhà đen sì vì khói, anh nhấc hết tất cả lên. Anh kiên trì tìm kiếm suốt hàng giờ liền. Anh phân chia đống đổ nát thành các phần, rồi kiên nhẫn xem xét lần lượt; khi không tìm được câu trả lời nào, anh lại bắt đầu khám xét dưới đất.
Các nỗ lực của anh chẳng thu được gì, Paul biết rằng điều ấy cũng không lạ. Chắc Elisabeth đã gán cho các trang giấy ấy giá trị quan trọng đến nỗi đã phá hủy chúng hoặc giấu vào chỗ kín đáo không dễ phát hiện. Trừ phi...
“Trừ phi...” Anh tự nhủ. “... Chúng đã bị đánh cắp. Tên Thiếu tá chắc phải theo dõi cô ấy sát sạt. Trong trường hợp đó thì ai biết được?”
Một ý tưởng chợt lóe trong tâm trí Paul. Sau khi tìm thấy quần áo và chiếc khăn quàng cổ màu đen của ả nông dân, anh đã bỏ lại chúng trên giường, không xem chúng là quan trọng nữa, và giờ anh tự hỏi mình, vào cái đêm hắn giết chết hai binh sĩ, tên Thiếu tá có hay không có ý định phi tang đống quần áo, hoặc ít nhất là các thứ nhét trong túi áo, túi quần, mà hắn không thể làm vì chúng ở trên chiếc giường binh nhì Gériflour nằm ngủ, cậu ta nằm ngủ trên cả hai bộ. Giờ có vẻ Paul đã nhớ ra, rằng khi mở váy và áo lót của ả nông dân ra, anh đã để ý tới tiếng giấy tờ sột soạt trong một túi áo. Có hợp lý không khi kết luận rằng đây là nhật ký của Elisabeth mà đã bị Thiếu tá Hermann phát hiện và đánh cắp?
Paul chạy ào vào căn phòng diễn ra các vụ giết người, bất ngờ túm lấy tất cả quần áo và xem xét thật kĩ.
“A!” Ngay lập tức anh thốt lên, với niềm vui chân thành. “Chúng đây rồi!”
Có một chiếc phong bì to, màu vàng đựng đầy những trang giấy bóc ra từ cuốn nhật ký. Có vài chỗ bị vò nhàu và đã rách; Paul liếc qua và thấy rằng các trang này chỉ tương ứng với các tháng Tám và tháng Chín, thậm chí vài trang nhật ký ghi vào mấy ngày trong từng tháng này cũng bị mất.
Và anh trông thấy chữ viết tay của Elisabeth.
Đây không phải một cuốn nhật ký đầy đủ hoặc chi tiết. Nó chỉ bao gồm những ghi chép, các ghi chép nhỏ tội nghiệp như thế một trái tim bầm tím đã tìm thấy chỗ bày tỏ nỗi lòng. Thi thoảng khi viết hết trang, cô sẽ ghi tiếp sang trang sau. Những dòng ghi chép vội vã vào ban ngày lẫn ban đêm, lộn xộn, bằng bút máy và bút chì; có lúc viết rất khó đọc; tạo ấn tượng một bàn tay run rẩy, đôi mắt ầng ậng những giọt lệ và tâm trí điên rồ vì những đau khổ.
Paul xúc động tận đáy tâm can. Anh chỉ có một mình, bèn mở ra đọc:
“Chủ nhật, ngày mùng Hai tháng Tám,
Nhẽ ra anh ấy không nên viết cho mình lá thư đó. Nó quá tàn nhẫn. Và tại sao anh ấy lại đề nghị mình nên rời khỏi Ornequin? Bởi chiến tranh ư? Phải chăng anh ấy nghĩ rằng bởi vì tình cờ có chiến tranh, nên mình sẽ không có can đảm ở lại đây hoàn thành bổn phận của mình? Anh ấy hiểu mình mới ít làm sao! Vậy thì anh ấy phải nghĩ hoặc mình là con đàn bà hèn nhát hoặc tin mình có khả năng nghi ngờ người mẹ tội nghiệp của mình!... Paul, Paul thân yêu, lẽ ra anh không nên rời bỏ em...
Thứ Hai, ngày mùng Ba tháng Tám,
Jérôme và Rosalie là những người tử tế và chu đáo hơn bao giờ hết, và giờ khi những người hầu đã đi hết, Rosalie đã van xin và cầu nguyện mình cũng nên đi khỏi đây. “Thế còn hai người thì sao, Rosalie?” Mình hỏi. “Hai người sẽ đi cùng chứ?”
“Ôi, chúng tôi thì quan trọng gì chứ, chúng tôi chẳng có gì phải sợ cả! Hơn nữa, nhà của chúng tôi là ở đây.”
Mình bảo rằng đây cũng là nhà của mình, nhưng mình thấy bà ấy không thể hiểu.
Jérôme, khi mình gặp ông ấy, ông ấy chỉ lắc đầu và nhìn mình buồn bã.
Thứ Ba, ngày mùng Bốn tháng Tám,
Mình không hề nghi ngờ bổn phận của mình là gì. Mình thà chết còn hơn quay lưng bỏ đi. Nhưng mình sẽ hoàn thành bổn phận đó và đến gần sự thật như thế nào? Mình có thừa can đảm, thế nhưng mình luôn luôn khóc, như thể mình chẳng còn việc gì tốt hơn để làm. Thực ra là mình đang luôn nghĩ về Paul. Anh ấy đang ở đâu? Chuyện gì đã xảy đến với anh ấy rồi?
Sáng nay khi Jérôme nói với mình rằng chiến tranh đã bắt đầu, mình đã nghĩ rằng mình sẽ ngất lịm. Vậy là Paul sẽ đi chiến đấu. Có lẽ anh ấy sẽ bị thương. Anh ấy có thể bị giết. Có Chúa mới biết tại sao mình lại không được ở gần anh ấy, ở một thành phố gần nơi anh ấy đang chiến đấu! Mình phải hy vọng vào điều gì khi ở lại đây? Bổn phận của mình với mẹ, phải, mình biết. À mẹ ơi, con cầu xin mẹ tha thứ cho con... nhưng, mẹ thấy đấy, con yêu chồng con và con rất sợ hãi bất kỳ chuyện gì không may xảy ra với anh ấy!...
Thứ Năm, ngày mùng Sáu tháng Tám,
Vẫn còn khóc. Mỗi ngày trôi qua mình càng thấy u uất hơn. Nhưng ngay cả nếu tâm trạng mình chìm trong u uất hơn thế nữa, mình cảm thấy không thể cải thiện được. Thêm vào đó, làm sao mình đến gặp anh ấy khi anh ấy còn chẳng muốn liên quan gì với mình nữa, thậm chí còn chẳng thèm biên thư cho mình? Yêu mình ư? Anh ấy ghê tởm mình thì có! Mình là con gái của ả đàn bà anh ấy căm ghét hơn tất thảy mọi thứ trên thế gian này. Thật khủng khiếp không bút nào tả xiết! Nếu anh ấy nghĩ như thế về mẹ mình và nếu mình không làm tròn được bổn phận của mình, mình và anh ấy sẽ không bao giờ còn gặp lại nhau nữa! Đó là cuộc sống đang trải dài trước mắt mình đây.
Thứ Sáu, ngày mùng Bảy tháng Tám,
Mình đã bắt Jérôme và Rosalie kể hết cho mình nghe về mẹ mình. Họ chỉ quen biết bà ấy trong vòng có vài tuần, nhưng họ nhớ bà ấy rất rõ; và những gì họ nói với mình khiến mình cảm thấy hạnh phúc vô ngần! Có vẻ bà ấy rất tốt bụng, rất xinh đẹp; ai ai cũng ngưỡng mộ bà ấy.
“Bà ấy không phải lúc nào cũng vui vẻ.” Rosalie nói. “Tôi không biết có phải vì chứng bệnh của bà ấy đang ảnh hưởng đến tinh thần không, nhưng ở bà ấy có cái gì đó, khi bà ấy mỉm cười thì nó đi thẳng vào trái tim mọi người.”
Người mẹ đáng yêu, tội nghiệp của mình!
Thứ Bảy, ngày mùng Tám tháng Tám,
Sáng hôm nay chúng mình nghe thấy tiếng súng, cách rất xa. Họ đang bắn pháo cách hai mươi nhăm dặm.
Vài binh lính Pháp đã tới. Mình rất thường xuyên thấy vài binh sĩ trong số họ từ lỗi đi trên cao, đang đi xuống thung lũng Liseron. Nhưng mấy người này sẽ ở lại nhà. Viên Đại tá có xin lỗi mình. Thế nên để không gây bất tiện cho mình, ông ta cùng các Trung úy sẽ ngủ và dùng bữa trong căn nhà nhỏ nơi Jérôme và Rosalie từng ở.
Chủ nhật, ngày mùng Chín tháng Tám,
Vẫn không có tin tức gì của Paul. Mình đã thôi không còn cố gắng viết thư cho anh ấy nữa. Mình không muốn anh ấy nghe tin tức gì của mình cho đến khi mình có đủ bằng chứng. Nhưng mình biết làm gì đây? Làm sao mình có thể có được bằng chứng về chuyện đã xảy ra mười sáu năm về trước? Truy tìm, suy nghĩ và ngẫm nghĩ thì mình có thể thử, nhưng mình chẳng tìm được gì cả.
Thứ Hai, ngày mùng Mười tháng Tám,
Những tiếng pháo vẫn không ngừng vang lên từ phía xa. Tuy nhiên, viên Đại tá bảo mình rằng không cần phải lo đến chuyện kẻ thù có thể tấn công vào phía này.
Thứ Ba, ngày Mười một tháng Tám,
Một lính gác cắm chốt trong rừng, gần cánh cửa bé nhỏ dẫn ra dinh thự, vừa bị giết - bị đâm bằng dao. Họ nghĩ rằng chắc cậu ta đang cố gắng chặn một kẻ muốn ra khỏi công viên. Nhưng làm sao kẻ kia vào được bên trong?
Thứ Tư, ngày Mười hai tháng Tám,
Có thể xảy ra chuyện gì được chứ? Đây là một chuyện để lại ấn tượng rất lớn với mình và dường như không hiểu nổi. Ngoài ra có vài chuyện khác cũng khá là phức tạp, cho dù mình chẳng nói được tại sao. Mình rất kinh ngạc khi viên Đại tá và tất cả binh sĩ của ông ta mà mình gặp đều tỏ vẻ không quan tâm, thậm chí họ còn có thể vui vẻ đùa cợt với nhau. Mình cảm thấy nỗi tuyệt vọng trào dâng trước cơn bão cận kề. Chắc mình bị điên mất rồi.
Chà, sáng nay...”
Paul ngừng đọc. Phía dưới trang giấy chỉ còn vài dòng cuối và cả trang giấy đã bị xé mất. Có vẻ như tên Thiếu tá, sau khi đánh cắp nhật ký của Elisabeth, vì lý do nào đấy mà chỉ mình hắn biết, đã xé đi những trang giấy tường thuật một biến cố nhất định. Nhật ký tiếp tục:
“Thứ Sáu, ngày Mười bốn tháng Tám,
Mình cảm thấy cần phải nói với viên Đại tá. Mình dẫn ông ta đến chỗ cái cây chết được lá thường xuân bao phủ, đề nghị ông ta nằm sát xuống đất và lắng nghe. Ông ta rất kiên nhẫn và chăm chú làm theo. Nhưng ông ta chẳng nghe thấy gì và nói: “Phu nhân thấy không, mọi chuyện hoàn toàn bình thường mà.”
“Tôi đảm bảo với ngài...” Mình đáp. “...Rằng hai hôm trước từ cái cây này phát ra âm thanh lạ lắm, đúng chỗ này này. Và nó kéo dài trong vài phút.”
Ông ta đáp, vừa nói vừa cười: “Chúng ta có thể dễ dàng đốn hạ cái cây. Nhưng phu nhân, bà không nghĩ trong trạng thái căng thẳng thần kinh, tất cả chúng ta đều sẽ phạm sai lầm, rằng chúng ta nhìn và nghe thấy những âm thanh ảo hay sao? Vì rốt cuộc âm thanh này xuất phát từ đâu?
Tất nhiên ông ta nói đúng. Thế nhưng chính tại mình vẫn nghe, chính mắt mình vẫn thấy...
Thứ Bảy, ngày Mười lăm tháng Tám,
Hôm qua, hai viên sĩ quan Đức được đưa vào và bị nhốt trong phòng giặt, phía cuối sân. Sáng nay, chẳng tìm thấy gì hết ngoài đồng phục của chúng trong phòng giặt. Người ta có thể cho rằng chúng đã phá cửa. Nhưng viên Đại tá lại phát hiện ra chúng đã trốn thoát bằng đồng phục của lính Pháp, chúng đã đi qua các chốt gác, giả vờ nói rằng chúng được cử tới Corvigny.
Ai có thể cung cấp đồng phục lính Pháp cho chúng? Còn nữa, chúng phải biết mật khẩu: Ai cho chúng biết mật khẩu?
Có vẻ như ả nông dân đến đây vài hôm trước liên tiếp mang trứng và sữa, một ả đàn bà ăn mặc quá đẹp so với địa vị của ả, nhưng hôm nay ả lại không đến nữa. Nhưng chẳng có điều gì chứng minh được sự đồng lõa của ả.
Chủ nhật, ngày Mười sáu tháng Tám,
Viên Đại tá mạnh mẽ thúc giục mình nên đi ngay. Ông ta không còn vui vẻ nữa, dường như ông ta lo lắng rất nhiều.
“Chúng ta đang bị các gián điệp bao vây.” Ông ta nói. “Có nhiều dấu hiệu cho thấy khả năng của một cuộc tấn công chớp nhoáng. Không phải tấn công lớn nhằm mở đường qua Corvigny, mà là nỗ lực tấn công bất ngờ hòng chiếm lâu đài. Bổn phận của tôi là phải cảnh báo bà, thưa phu nhân, rằng vào bất kỳ lúc nào chúng ta cũng có thể buộc phải rút về Corvigny, nếu phu nhân ở lại đây, đó sẽ là quyết định sai lầm.”
Mình đã nói là sẽ không thay đổi quyết định của mình. Jérôme và Rosalie cũng van xin mình bỏ đi. Nhưng liệu có ích gì không? Mình muốn ở lại.”
Một lần nữa Paul lại dừng. Có một trang bị mất trong phần này của quyển nhật ký, và ở trang kế tiếp cái dòng đề ngày Mười tám tháng Tám bị xé ở đầu trang và cuối trang, chỉ còn lại một mẩu nhật ký mà Elisabeth đã viết ngày hôm đó:
“... Và đó là lý do tại sao mình không hề nói về chuyện này trong lá thư vừa gửi cho Paul. Anh ấy sẽ biết rằng mình vẫn ở lại và những lý do mình đưa ra quyết định này; nhưng anh ấy không được phép biết đến những hy vọng của mình.
Những hy vọng hẵng còn mơ hồ và dựa trên một chi tiết không quan trọng. Cho dù là vậy, mình cảm thấy cực kỳ sung sướng. Mình không nhận ra ý nghĩa của chi tiết đó, nhưng mình cảm nhận được tầm quan trọng của nó. Viên Đại tá đang gấp gáp, tăng cường các đội tuần tra; các binh sĩ đang lau những khẩu súng và gào thét muốn được chiến đấu; kẻ thù có thể chiếm đóng các doanh trại của ông ta tại Ebrecourt, họ nói vậy. Mình quan tâm làm gì chứ? Mình chỉ nghĩ đến một chuyện: Mình đã tìm thấy chìa khóa chưa? Và mình có đang đi đúng đường không? Để mình nghĩ xem...”
Trang này bị xé ở đây, đúng đến cái đoạn mà Elisabeth sắp giải thích mọi chuyện một cách chính xác? Liệu đây có phải là biện pháp đề phòng của Thiếu tá Hermann? Không nghi ngờ gì nữa, nhưng tại sao?
Phần đầu trang đề ngày Mười chín tháng Tám cũng bị xé tương tự. Ngày Mười chín là ngày trước khi quân Đức tấn công vào Ornequin, Corvigny và toàn bộ huyện này. Elisabeth đã viết cái gì vào buổi chiều hôm thứ Tư ấy? Cô ấy đã phát hiện ra cái gì? Cái gì mà được chuẩn bị trong bóng tối?
Paul cảm thấy nỗi sợ hãi dâng ngập trái tim mình. Anh nhớ tiếng súng đầu tiên vang như tiếng sấm trên Corvigny vào lúc hai giờ sáng ngày thứ Năm, và mang tâm trạng lo âu, anh tiếp tục đọc nửa trang thứ hai:
“Mười một giờ đêm,
Mình thức dậy và mở cửa sổ. Lũ chó đang sủa khắp nơi. Chúng đáp lại tiếng sủa của nhau, rồi dừng lại, có vẻ như đang lắng nghe rồi lại đồng loạt hú lên, mình chưa bao giờ nghe thấy chúng sủa như thế. Khi chúng dừng lại, sự câm lặng đong đầy đến nỗi tới lượt mình cũng lắng nghe và cố gắng nhận ra những âm thanh đặc biệt khiến lũ chó mất ngủ như vậy.
Những âm thanh này dường như khiến đôi tại mình sống dậy. Chúng nghe không hề giống tiếng xào xạc của lá cây. Chúng cũng chẳng hề giống những âm thanh quấy rồi bầu không khí tĩnh lặng của đêm như thường lệ. Mình chẳng biết chúng xuất phát từ đâu; và mình bị ấn tượng mạnh mẽ đến nỗi cùng lúc đó mình đã tự hỏi thứ mình đang nghe là nhịp đập trái tim mình, hay có thể là tiếng bước chân nặng nề của một đoàn quân đang tiến bước.
Ôi, chắc mình điên mất rồi! Một đoàn quân đang tiến bước! Và các tiền đồn của chúng ta ở trên tiền tuyến? Các chốt gác của chúng ta rải khắp quanh lâu đài? Ôi, sẽ có đánh nhau, bắn nhau!...
Một giờ sáng,
Mình không rời khỏi cửa sổ. Lũ chó đã ngưng sủa. Mọi thứ đã yên ắng. Bỗng mình trông thấy ai đó bước ra từ dưới những cái cây và bước qua bãi cỏ. Ban đầu mình tưởng đó là một trong những binh sĩ. Nhưng khi người đó đi qua dưới cửa sổ phòng mình, ánh sáng từ trên bầu trời hắt xuống đủ để mình nhận ra thân hình của một phụ nữ. Trong một lúc, mình nghĩ chắc là Rosalie. Nhưng không, cái dáng người này cao hơn, di chuyển nhẹ nhàng hơn và bước chân nhanh hơn.
Mình đã định đánh thức Jérôme dậy và rung chuông báo động. Nhưng mình đã không làm thế. Cái bóng đã biến mất về hướng lối đi trên cao. Ngay lập tức một con chim bỗng kêu lên, khiến mình giật bắn người thật lạ lùng. Theo sau là một chùm sáng phóng thẳng lên bầu trời, như một ngôi sao băng phóng lên từ dưới mặt đất.
Sau đó chẳng còn gì nữa. Im lặng, tất cả mọi vật cùng im hơi. Chẳng còn gì nữa. Thế nhưng mình vẫn không dám quay lại giường. Mình thấy sợ hãi, nhưng chẳng hiểu tại sao. Tất cả những nguy hiểm dường như sẽ ào đến từ từng góc đường chân trời. Chúng kéo đến gần hơn, vây quanh mình, đồn mình vào giữa, làm mình chết ngạt, nghiền nát mình. Mình không thể thở nổi. Mình khiếp sợ... mình sợ lắm...”