Chính là nơi này!
- Brigham Young[1], lần đầu tiên nhìn thấy thung lũng Great Salt Lake.
Nước Mỹ từng luôn dâng mình một cách hào phóng - dâng cả cơ thể lẫn tính cách quảng đại của nó - cho mộng tưởng của những nhà xã hội không tưởng. Có thể có người sẽ tranh luận rằng bất kỳ ai từng đến Mỹ với ý chí tự do đều là một nhà xã hội không tưởng thời đầu, một cá nhân có một ý tưởng riêng về việc kiến tạo một thứ thiên đường tại Tân Thế Giới này, bất kể ý tưởng đó có thể thường tình thế nào chăng nữa. Tất nhiên, cũng có thể tranh luận rằng đất nước này đã là một xã hội không tưởng hàng nghìn năm trước khi người châu Âu đến mà bắt đầu phá hỏng mọi thứ cho phù hợp với những kế hoạch cứng nhắc của họ hầu giành lấy không gian. Nhưng hãy nghĩ xem đất nước này hẳn đã trông ra sao trong mắt những người châu Âu đầu tiên đến đây - tự do, bất tận, trống trải. Chắc chắn họ không thể nào không bị cám dỗ nghĩ đến kiểu xã hội mà người ta có thể kiến tạo ở đây.
Tất nhiên người Mỹ không sáng tạo ra ý tưởng xã hội không tưởng. Như thường lệ, đó sẽ là người Hy Lạp và người châu Âu đã trù hoạch những xã hội hoàn hảo từ trước thời kỳ Phục hưng. Ngài Thomas More, Tommaso Campanella và Francis Bacon có những mộng tưởng của họ, cũng như sau đó là Rabelais, Montaigne, Hobbes. Nhưng biến kế hoạch của mình thành hiện thực thì những người này không làm. Họ là nhà tư tưởng và nhà văn, không phải nhà lãnh đạo có khả năng thu hút quần chúng. Vả chăng, chẳng có chỗ nào trên tấm bản đồ chiến sự triền miên của Cựu Thế Giới mà người ta có thể nỗ lực thiết lập một xứ không tưởng đích thực, về phương diện chính trị, địa lý và xã hội, điều đó đều bất khả. Thế nên đây là những người thiết kế ra những con tàu khi mà họ chưa bao giờ nhìn thấy đại dương. Họ có thể tưởng tượng ra những con tàu mơ ước có bất kỳ kích cỡ và hình dạng nào họ muốn; tàu bè ấy sẽ chẳng bao giờ phải ra khơi.
Nhưng khi châu Mỹ được khám phá - hay đúng hơn, khi khái niệm về châu Mỹ được phát minh - chính là khi nhà tư tưởng và nhà văn cũng như nhà lãnh đạo có khả năng thu hút quần chúng đều bắt đầu gặp rắc rối. Bởi vì đây là nơi để thực hiện điều đó. Nếu ta có thể giành cho mình một mảnh đất và thuyết phục được đủ người tới nhập cuộc cùng ta, ta có thể xây nên thiên đường của mình. Và thế là, ngoài những hoạch định xã hội không tưởng vĩ đại của những người như Jefferson (những dự án mà rốt cuộc đã được biết đến như “chính quyền”), chúng ta còn có hàng chục hoạch định về xã hội không tưởng nhỏ hơn và kỳ lạ hơn rải rác khắp vùng đất này.
Từ những năm 1800 đến 1900, có hơn một trăm cộng đồng như thế mọc ra trong làn sóng nhiệt tình trên khắp nước Mỹ. Hội Chân Truyền Amana ban đầu là do người thợ dệt tất ở Đức, một thợ mộc và một cô hầu mù chữ hình dung ra. Nhưng giấc mơ của họ trở thành hiện thực chỉ khi cộng đồng Amana tới Mỹ vào năm 1842 và mua năm ngàn mẫu đất ngoại vi Buffalo. Nhóm dân đầy nghiêm nhặt, hết sức kín tiếng, cực kỳ khéo léo, nghiêm túc và tổ chức tốt này ngày càng phát đạt, cuối cùng họ bán đất đai thu một khoản lợi nhuận rồi chuyển tới Iowa, nơi họ sống phồn vinh cho tới năm 1932. Cộng đồng Shaker cũng rất thịnh vượng, lâu dài hơn mong đợi của bất kỳ ai đối với một cộng đồng người sống độc thân. Và các thành viên hội Harmony chăm chỉ đã gây ấn tượng mạnh khi xây dựng được, ngay trong năm đầu tiên họ sống ở thung lũng Conoquenessing tại Pennsylvania, năm mươi ngôi nhà gỗ, một nhà thờ, một trường học, một nhà xay bột và một nhà kho, cộng thêm 150 mẫu đất phát quang.
Nhưng hầu hết các cộng đồng mẫu hoạt động không tốt được như vậy. Thường thường, chúng sụp đổ dưới những thực tế vô cùng trần trụi như phá sản, tranh giành quyền lực trong nội bộ, bất đồng không thể dung hòa về mặt lý thuyết, và những nỗi khổ rất con người. Cộng đồng Tân Harmony được thành lập ở Indiana khoảng năm 1825 bởi Robert Owen, người đã gọi dự án của mình là “một tân đế chế của thiện ý”, thiện ý ấy sẽ lan rộng ra “từ cộng đồng tới cộng đồng, từ bang tới bang, từ lục địa tới lục địa, rốt cuộc phủ lên toàn bộ trái đất, ta ánh sáng, hương thơm và sự trù phú, trí thông minh và hạnh phúc lên những đứa con của loài người”. Hàng trăm rồi lại hàng trăm người ủng hộ đi theo Owen, nhưng vì không có một kế hoạch kinh tế vững chắc nào cho cộng đồng của mình nên ông nhanh chóng chuồn về Anh khi mọi thứ bắt đầu tan rã. Những tín đồ của ông trải qua tới năm thể chế chỉ trong một năm, tách thành bốn cộng đồng đối địch, và cuối cùng sụp đổ dưới sức ép của hàng chục vụ kiện cáo.
Cộng đồng Bishop Hill được thành lập bởi Eric Janson, một người Thụy Điển, người đã mang tám trăm tín đồ tới Mỹ năm 1846 để thiết lập một cộng đồng xã hội chủ nghĩa mang tính lý thuyết. Các tín đồ trải qua mùa đông đầu tiên trong hang động ở Illinois, nơi mà chỉ qua hai tuần lễ 144 người trong số họ đã chết vì dịch tả, còn Janson chống mắt nhìn, vui vẻ nói, “Hãy đi, chết trong thanh thản” khi đám dân của ông ngã quỵ, hết người này tới người kia. Cộng đồng Mountain Cove của những người theo thuyết duy linh gây dựng xã hội hoàn hảo của họ tại vùng nông thôn Virginia, chính tại điểm mà họ cho là nơi Vườn Địa đàng từng tọa lạc. Tuy nhiên, giống như Adam và Eve, những người theo thuyết duy linh bị đuổi khỏi Địa đàng trước khi họ kịp biết cái gì hất cổ mình; cuộc thử nghiệm của họ kéo dài hai năm. Cộng đồng người Fruitland vô tư lự được thành lập bởi Bronson Alcott, một người có niềm tin sâu sắc vào “thảo luận sâu”, ông nghĩ chỉ khi nào “tinh thần ra lệnh” thì mọi việc mới sẽ hoàn thành. Cộng đồng Fruitland có lẽ đã thiết lập một kỷ lục quốc gia về sự sụp đổ xã hội không tưởng; kế hoạch của họ chỉ kéo dài qua mùa hè năm 1843, cho đến khi mọi người trở về nhà lúc trời bắt đầu trở rét.
Người Icaria từ nước Pháp vội vã tới đây. Thủ lĩnh của họ, Étienne Cabet, tiễn họ đi với tuyên ngôn này: “Ngày mùng ba tháng Hai năm 1848 sẽ là ngày khai mở một kỷ nguyên, bởi vì ngày hôm ấy, một trong những hành động vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại đã hoàn thành - đoàn quân tiên phong, khởi hành trên tàu Rome vừa lên đường đến Icaria... Cầu cho các bạn thuận buồm xuôi gió, những chiến binh của loài người!” Có lẽ không chiến binh nào của loài người từng phải chịu đựng khắc nghiệt như người Iracia, họ đã dừng bước trên một trăm nghìn mẫu đất đầm lầy nóng nực ở ngoại vi New Orleans, bị tàn sát bởi bệnh sốt rét, kiệt sức, đói khát, ruồng bỏ, và chết vì sét đánh.
Tuy nhiên, nhà xã hội không tưởng được mọi người ái mộ nhất phải là Charles Fourier. Fourier đã hoạch định tất cả, như ông trình bày trong nhiều cuốn sách đồ sộ. Các tín đồ của ông xuất hiện mọi nơi trên khắp nước Mỹ vào giữa thế kỷ mười chín, đặc biệt ở New England, nơi một cuộc khủng hoảng kinh tế khốc liệt đã làm cho hàng lo người mất việc. Tuy nhiên, trong bốn mươi hiệp hội theo học thuyết của Fourier được thành lập ở Mỹ, chỉ có ba hiệp hội tồn tại được quá hai năm. Nhìn lại hiện tượng đó, thật khó tưởng tượng nổi rằng những ý tưởng của Fourier có thể mở rộng ra bất kỳ đâu xa hơn những ngóc ngách trong cái đầu ngông cuồng một cách đẹp đẽ của chính ông. Thế nhưng chắc hẳn có cái gì đó nơi sự ngăn nắp đâu vào đó đầy lôi cuốn nơi mộng tưởng của ông làm an lòng người Mỹ vào lúc họ cần nó nhất, khi con người đang tìm kiếm những câu trả lời ngắn gọn, súc tích.
Charles Fourier tuyên bố rất rành mạch rằng kỳ vọng duy nhất cho nhân loại nằm trong một cấu trúc xã hội có trật tự cao - gần giống với loài côn trùng về đặc điểm và hệ thống tôn ti - của các tổ chức người. Tổ chức nhỏ nhất, gọi là Nhóm, sẽ gồm có bảy người, ở mỗi cánh sẽ có hai người bay lượn để biểu lộ các thái cực “lên cao” và “xuống thấp” của ý thích riêng, trong khi ba người còn lại sẽ ở chính giữa để duy trì trạng thái cân bằng. Trong các xã hội lý tưởng, mỗi công việc (nuôi dạy trẻ em, nuôi gia cầm, trồng hoa hồng, v.v) đều có một Nhóm. Năm Nhóm bảy người sẽ tạo thành một Loạt, mỗi Loạt lại có một trung tâm và hai cánh. Và một Phalanx[2] - tổ chức tối cao của con người - được cấu thành bởi nhiều Loạt hợp lại tạo ra những đoàn thể bao gồm từ 1.620 đến 1.800 người. Mỗi Phalanx sẽ phụ trách ba mẫu vuông điền địa và vườn cây ăn trái, và thành viên của mỗi Phalanx sẽ cư trú trong một Phalanstery tươi đẹp, gồm có các phòng ngủ, phòng khiêu vũ, phòng họp hội đồng thư viện và nhà trẻ.
Trong xã hội hoàn hảo của Fourier, công việc sẽ được đánh giá dựa trên tính hữu ích. Do đó, công việc cần thiết và kém thú vị nhất (giữ chất thải, đào huyệt) sẽ được trả công cao nhất và được coi trọng nhất. Mọi người sẽ làm việc dựa trên những ham thích thiên bẩm của họ. Ví như, nếu từ khi còn nhỏ họ đã có ham thích thiên bẩm là đào bới quanh chỗ bẩn thỉu rác rưởi, họ sẽ trở thành nhóm dọn rác đặc biệt gọi là Đội Nhỏ, và họ sẽ được trả công rất cao, đồng thời luôn chiếm vị trí đầu đoàn trong mọi cuộc diễu hành, ở đó thường thường họ sẽ được người dân khác bày tỏ lòng tôn kính bằng câu “Chào Người Khả kính” trang trọng.
Fourier đi xa đến độ tuyên bố ông đã tính toán ra cả hệ thống vận hành vũ trụ, chứ không chỉ đơn thuần hiểu về hệ thống vận hành của xã hội loài người hoàn hảo. Ông cho rằng mọi hành tinh đều tồn tại 80.000 năm, và các kỷ nguyên này tự nhiên được chia thành nhiều giai đoạn. Khi trái đất bước vào giai đoạn thứ tám, ông ước đoán con người sẽ mọc đuôi có gắn mắt, xác chết sẽ chuyển hóa thành “khí thơm”, các chỏm băng địa cực sẽ tỏa ra khói sương ngào ngạt, sáu ông trăng mới sẽ ra đời, và những con vật khó ưa sẽ được thế chỗ bởi những con vật đối lập có bản chất vô hại (ví dụ: con “phản-cá mập” hoặc con “phản-bọ chét”). Và chính trong suốt khoảng này - giai đoạn thứ tám hoàng kim của trái đất - các Phalanx theo học thuyết Fourier rốt cuộc sẽ mở rộng ra khắp hành tinh, cho đến khi có chính xác 2.985.984 Phalanx, thống nhất trong tình huynh đệ và trong một ngôn ngữ chung.
Thế đấy. Như ta thấy, ta tuyệt nhiên có thể đưa nhưng ý tưởng xã hội không tưởng của mình đi xa tới đâu tùy thích.
Tuy nhiên, dường như có một thời đại dành cho kiểu mộng tưởng này, và thời đại đó là thế kỷ mười chín. Bước sang thế kỷ hai mươi, không chỉ hầu hết các cộng đồng lý tưởng chủ nghĩa của người Mỹ biến mất, mà cũng chẳng còn ai nhắc nhở gì tới chuyện mua đất ở vùng đồng không mông quạnh rồi kiến tạo một xã hội mẫu với một dúm tín đồ. Cũng như với sự suy tàn của rất nhiều hiện tượng khác trên đất nước này, có lẽ trách nhiệm thuộc về thời đại công nghiệp. Khối lượng sản phẩm hàng hóa khổng lồ, sự chuyển đổi từ kinh tế nông nghiệp sang kinh tế thành thị, sự suy tàn của tay nghề cá nhân - tất cả đang bào mòn ý niệm tự cung tự cấp của người Mỹ. Ngày càng khó mà tin một người (hoặc một hội, hoặc một Phalanx) có thể tách rời khỏi cỗ máy khổng lồ nước Mỹ. Mạng lưới bắt đầu xuất hiện. Hay cái thòng lọng bắt đầu thắt chặt, nếu bạn muốn cảm nhận điều này theo cách đó hơn. Khi bước sang thế kỷ hai mươi, nền văn hóa Mỹ - ồn ào, mạnh mẽ, định hình, đồng dạng, phổ quát - có vẻ chẳng có lý do gì phải cố gắng thay đổi. Thật sự thì tới tận thập niên 1960 người Mỹ mới lại cần viện tới năng lượng (hay là sự điên rồ) để một lần nữa nỗ lực hình thành rầm rộ những xã hội không tưởng.
Thập niên 1960, tất nhiên, thực ra là khởi nguồn từ thập niên 1950. Nó bắt đầu bằng sự trỗi dậy của phong trào Beat[3], vốn mang đến sự thay đổi trong âm nhạc, một sự hoài nghi về xã hội, niềm hứng thú thử nghiệm ma túy và sexái độ chung chống đối tính quy ước. Tới giữa thập niên 1950, những ý tưởng Mỹ lãng mạn cũ kỹ thế kỷ mười chín về việc tách mình khỏi những suy đồi của xã hội rộng lớn lại đang bắt đầu tỏ ra hấp dẫn. Những nhà thơ như Allen Ginsberg (người nối gót Walt Whitman) và các nhà văn như Jack Kerouac (tự gọi mình là một “Thoreau thành thị”) bước vào hành trình xác định lại và tìm lại những lối sống ở nước Mỹ mà không phải cật lực với cái Kerouac gọi là hệ thống “lao động, sản xuất, tiêu thụ, lao động, sản xuất, tiêu thụ...” liên miên chẳng có điểm dừng.
Người ta thường liên hệ người của thế hệ Beat với đời sống thành thị, đặc biệt là với San Francisco. Nhưng trong phong cách thế kỷ mười chín cổ điển của Teddy Roosevelt, các nhà thơ phong trào Beat đã tận tụy quay lưng lại với ảnh hưởng làm bạc nhược con người của thành phố để tìm kiếm những trải nghiệm gian khổ hơn nhằm trở thành những người đàn ông thực thụ. Nhà thơ Lew Welch bỏ công việc biên tập tẻ nhạt ở Chicago vào đầu thập niên 1960 để trở thành một ẩn sĩ tại vùng sơn cước dãy Sierra. Chàng trai Jack Kerouac tìm việc tại Cục Quản lý Rừng Liên bang, phụ trách một ngọn lửa canh phòng trong dãy núi Cascade. (Ông còn làm việc trên tàu buôn viễn dương và làm người gác phanh tại tuyến đường sắt Southern Pacific.) Allen Ginsberg và nhà thơ Gary Snyder nhận việc trên tàu biển trong hai thập niên 1940 và 1950. (“Tôi làm mọi việc trong mọi tầng lớp xã hội,” Snyder kiêu hãnh kể. “Tôi có thể tự hào mình đã làm việc chín tháng trên một tàu chở dầu ngoài khơi và chưa hề có ai đoán được tôi đã tốt nghiệp đại học.”)
Thế hệ Beat chán ngán trước những giá trị của đời sống tiêu dùng gây tê liệt cảm xúc của nước Mỹ đương đại; họ thấy vùng hoang dã cùng với lao động chân tay là những phương thức tốt để, như Kerouac nói, “làm cho những cục máu đông bên trong hiện hữu phải bật ra ngoài”. Một lần nữa trở lại vùng biên để rũ sạch tất cả. Tới giữa thập niên 1960, những tư tưởng này ngày càng lan rộng trong giới thanh niên Mỹ. Chỉ các tiểu thuyết của Kerouac không thôi cũng đã khiến không biết bao lớp thanh niên mò mẫm khắp đất nước tìm kiếm định mệnh của mình, tuy nhiên Walden[4] - một tác phẩm đã mai một từ lâu ca ngợi cả tự nhiên lẫn sự tự do vượt trên lề thói - đã được phát hiện lại vào khoảng thời gian này, cũng như các tiểu luận của nhà tự nhiên học vĩ đại thế kỷ mười chín John Muir. Cuộc cách mạng phản văn hóa một lần nữa được thai nghén, và hầu như tất yếu, theo gót chân của sự phản kháng ấy, những xã hội không tưởng mới đang xuất hiện.
Từ 1965 tới 1975, hàng chục nghìn thanh niên Mỹ bắt tay vào những cuộc thử nghiệm xây dựng cộng đồng lý tưởng. Các công xã đa sắc thái và kỳ lạ hơn phiên bản thế kỷ mười chín của chúng. Hầu hết các công xã đều thất bại nhanh chóng, thường là một cách khôi hài, mặc dù ta khó lòng không cảm thấy yêu mến những ý niệm lý tưởng hóa cao độ của chúng.
Nổi tiếng thời bấy giờ có Thành phố Rơi[5] ở Colorado, được một số nghệ sĩ hippy ái mộ cảnh bần hàn lập ra, họ đã xây dựng các công trình bằng nút chai và vải bạt (tôi đang nói rất nghiêm túc) và xã hội không tưởng tồn tại ngắn ngủi của họ tràn ngập “mọi loại nhạc trống và tiếng chuông kêu reng reng, lanh canh, leng keng, và tiếng nguyện cầu.” Những người sáng lập Thành phố Rơi căm ghét luật lệ và mọi phán xét đến độ họ nhất định thu nhận tất tật mọi người, bất kể là ai, vào xã hội không tưởng của họ. Đó là lý do tại sao thành phố này rốt cuộc đã tự hủy hoại mình khi trở thành hang ổ cho dân nghiện ma túy và các băng đảng cưỡi mô tô dữ dằn. Số phận tương tự cũng giáng xuống những người California tốt bụng ở Gorda Mountain, họ đã thành lập một cộng đồng mở rộng vào năm 1962, dự tính rằng chính sách thông thoáng của họ sẽ thu hút nhiều nghệ sĩ và những nhà mộng tưởng. Thế nhưng thay vào đó công xã phải đóng cửa vào năm 1968 sau khi bị quá tải những con nghiện, người không gốc gác, những kẻ đào tẩu và tội phạm.
Bậc thầy LSD[6] vĩ đại Ken Kesey và nhóm Merry Prankster của ông đã sáng lập ra một xã hội không tưởng thu nhỏ tự phát tại nhà ông ở Califonia (tuy nhiên cuối cùng Kesey trở nên quá mệt mỏi với cộng đồng của ông, gọi nó chẳng hơn gì “một trò hùn nhau bịp bợm”, tới mức ông tống cả đám lên xe buýt tới Woodstock vào năm 1969, kèm theo nghiêm lệnh đừng bao giờ trở lại). Timothy Leary thành lập một xã hội không tưởng với trạng thái ảo giác tinh vi hơn. Cộng đồng của ông sống ở điền trang tươi tốt tại Millbrook, New York, nơi đây trước từng thuộc về gia đình Andrew Mellon. Cuộc thử nghiệm của Leary được mô tả là “một trường học, một công xã và một bữa tiệc tại gia có chiều kích vô song”, và - trong khi những hội viên nghiêm túc quả đã đến Millbrook để đàm đạo về văn hóa và thơ ca - chẳng ai chịu làm lụng gì cả, thế nên giấc mơ ấy tan tành vào năm 1965.
Những công xã khác trong thập niên 1960 cũng có đặc điểm thiếu cấu trúc nội tại tương tự. Trại Gấu Đen, dù ban đầu được thành lập trên ý tưởng phi luật lệ, cuối cùng đã phải chịu thua và tạo ra hai luật lệ hết sức nghiêm khắc: (1) không ngồi trên quầy bếp, và (2) không quay tay cầm trên máy gạn kem, bởi vì, như một tay hippy già từng thuộc nhóm này nhớ lại, “người ta thường phát điên lên khi có kẻ ngồi trên quầy bếp và nghịch tay cầm trên máy gạn kem.” Ngoài thế ra, người ta có thể làm rất nhiều điều tùy ý tại Trại Gấu Đen.
Thật chẳng dễ gì giữ cho những xã hội không tưởng này hoạt động. Những cậu bé đã sáng lập ra chúng chỉ là thế thôi - những cậu bé. Những cậu bé da trắng, tầng lớp trung lưu, tốt nghiệp đại học, hầu hết không có kỹ năng đồng áng thực tiễn. Các công xã của họ phải chịu cảnh tả ép hữu dồn, bị phá hoại từ bên trong bởi sự lạm dụng ma túy, tình trạng vô tổ chức, sự thờ ơ, sự o hận và sự phá sản, bị tấn công từ bên ngoài bởi các giá trị và luật lệ truyền thống Mỹ. Ví dụ, Trại Sao Mai ở Califonia chẳng lúc nào ngừng gặp rắc rối với quận trưởng cảnh sát địa phương, vào năm 1967 ông ta bắt giữ thủ lĩnh của công xã này, Lou Gottlieb, vì tội “điều hành một trại có tổ chức vi phạm các quy định về vệ sinh của bang.” Khi bị bắt giam, Gottlieb - vốn là một nhà mộng ảo xã hội không tưởng, đồng thời là một tay vô cùng lém lỉnh - đã châm biếm, “Nếu họ có thể tìm thấy bằng chứng nào về sự có tổ chức tại đây, tôi mong họ sẽ chỉ nó cho tôi.”
Đúng thế đấy, thưa ngài cảnh sát, thật khó mà tìm được bất kỳ dấu hiệu nào của sự có tổ chức trong hầu hết các xã hội không tưởng thập niên 1960 này. Giờ đây người ta rất dễ nghĩ về chúng chẳng gì hơn là một hiệu ứng phụ vô dụng của phong trào thanh niên quá khích vốn thực tình chỉ đi tìm kiếm những cách thức sáng tạo và mới mẻ để trốn tránh trách nhiệm trưởng thành. Mặc dù vậy, khi xem xét kỹ càng hơn, phải nói rằng không phải mọi công xã của người Mỹ trong thập niên 1960 đều là cuộc vui trá hình của những kẻ bạt mạng. Một số công xã được thành lập dựa trên những nguyên tắc tôn giáo nghiêm chỉnh; một số có những chương trình nghị sự chính trị sôi nổi; một số may mắn có được những thành viên nỗ lực tận tình và chỉn chu cố sống một cuộc sống tốt đẹp và giản dị. Và một số công xã hippy thực sự đã hình thành đủ kỹ năng quản lý để có thể kéo sự tồn tại của họ dài hơi.
Cộng đồng có cái tên đơn giản Trang trại đã cùng nhau hoạt động hiệu quả ở Tennessee từ 1971, sau một số điều chỉnh quan trọng trong chính sách mà lúc ban đầu chủ trương tình trạng vô tổ chức toàn diện. Qua nhiều năm, các luật lệ và hạn chế mang tính truyền thống đã được đưa ra, và những ý tưởng thực tế hơn về việc duy trì các quyền cá nhân trong khuôn khổ rộng hơn của lối sống cộng đồng xã hội không tưởng đã giữ cho các thành viên sống lành mạnh và tương đối tránh được khổ đau cùng oán giận. Cũng như với bất kỳ cuộc thử nghiệm công xã nào tồn tại lâu hơn một năm, Trang trại phải đánh đổi nhiều phần chủ nghĩa lãng mạn lúc đầu để lấy một nguyên tắc tổ chức thực tế hơn. Tuy nhiên, các dự án xã hội lâu dài và thành công của Trang trại (nhiều chương trình giáo dục môi trường; một hãng luật công) vẫn phản ánh giấc mơ lý tưởng chủ nghĩa lúc ban đầu của các nhà sáng lập.
Thực vậy, ý thức về chủ nghĩa lý tưởng phát triển mạnh đó dường như cũng là một nhân tố gìn giữ công xã tồn tại lâu bền qua năm tháng quan trọng không kém gì thực hiện công việc kế toán tốt và các chính sách nghiêm ngặt đối với khách tham quan - y như trong một cuộc hôn nhân êm ấm, đôi vợ chồng sẽ chịu đựng những th thách qua nhiều thập kỷ dễ dàng hơn nếu một ngọn lửa khởi nguồn câu chuyện tình thời trẻ của họ còn âm ỉ cháy. Như một thành viên lâu năm của Trang trại giải thích, “Chúng tôi đã kề vai sát cánh trải qua nhiều thời khắc khó khăn. Đương nhiên là có tình cảm tha thiết mong được thấy nó thành công.”
Trên luận điểm này, hãy xem xét Trang trại Lợn nổi tiếng ở Califonia. Trang trại Lợn vẫn thịnh vượng khoảng hai mươi lăm năm sau khi thành lập, sự lâu bền này có được chủ yếu là nhờ vai trò dẫn dắt đầy thu phục của người thủ lĩnh hippy nhìn xa trông rộng vĩ đại, Hugh Romney, còn được biết đến với cái tên Wavy Gravy (tự hào là nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng Mỹ duy nhất từ trước tới nay có một vị kem của hãng Ben & Jerry vinh danh tên mình). Suốt nhiều năm, Wavy Gravy cương quyết từ chối thỏa hiệp những giá trị cải cách và tự-do-cho-tất-cả-mọi-người (free-for-all) trong thập niên 1960 của mình, và xã hội không tưởng trong mơ của ông phát triển thịnh vượng như một tượng đài vinh danh sức mạnh của chủ nghĩa lý tưởng thuần túy. Trại hè của Trang trại Lợn (Trại Winnarainbow) là một tổ chức phát triển ở California, cũng như nhánh hoạt động từ thiện của công xã, nhánh này có nhiều thành tựu trong đấu tranh chống bệnh mù lòa ở các nước thế giới thứ ba trong nhiều năm.
Tất cả những người sống trong Trang trại Lợn ngày nay vẫn tin theo cả người lãnh đạo lôi cuốn lẫn chương trình nghị sự nghiêm túc của họ một cách kiên định và với tâm trạng vui vẻ. Thành công lâu dài của họ thách thức những người khăng khăng cho rằng tuân theo các chuẩn mực xã hội là con đường tồn tại duy nhất trong nước Mỹ hiện đại. Với tất cả những nhượng bộ và thất vọng mà có thể họ đã phải trải qua suốt mấy thập kỷ, các trại viên của Trang trại Lợn vẫn hạnh phúc vai kề vai chiến đấu, khăng khăng giữ nguyên ý niệm ngông cuồng khởi thủy tự xem mình là “một đại gia đình, một ảo giác di động, một đội quân những anh hề.”
Eustace Conway sinh vào đầu thập niên 1960. Anh trải qua tuổi thành niên đúng vào giữa cuộc cách mạng phản văn hóa trọng đại này, song những giá trị tự do phóng khoáng của thời đại này dường như ảnh hưởng rất ít tới tư tưởng của anh. Những kiểu người lập dị ngày nay tích cực ủng hộ Eustace vì họ nghĩ anh giống bọn họ. Thực sự thì thoạt nhìn anh có vẻ là một kẻ lập dị, nào tóc dài nào râu quai nón bờm xờm, nào hệ giá trị đạo đức trở về với tự nhiên, và cả tấm dán vui mắt trên xe tải của anh có ghi “Bạn bè thuộc mọi màu da”. Tuy nhiên, Eustace thực ra khá thủ cựu. Anh ghét cay ma túy và bọn nghiện ngập, không kiên nhẫn nổi với sông thả tình dục, và đôi khi bị than phiền là thích kỷ luật hơn tự do. Ví dụ, nếu muốn lấy khẩu súng khỏi tay anh, có lẽ ta sẽ thấy mình đang cạy nó ra khỏi những ngón tay lạnh giá tê cóng của anh. Thế nên, không phải, Eustace Conway của chúng ta không hẳn là một ảo giác di động hay một tên lính bộ binh say thuốc từ một đội quân những anh hề nào đó.
Nhưng điều Eustace thực sự chia sẻ với những nhà mộng ảo xã hội không tưởng kiểu hippy của thập niên 1960 (cũng như với bậc tiền bối theo đuổi xã hội không tưởng lãng mạn của thập niên 1860) chính là tư tưởng rất Mỹ này: xã hội vừa có thể thay đổi vừa sẵn sàng thay đổi. Nếu ta có thể kiếm cho mình một mảnh đất và một động lực nghiêm túc nào đó, ta có thể khởi sự một dự án nhỏ mà rồi đây sẽ phát triển và truyền nhiệt cho một cuộc chuyển biến vĩ đại khắp một đất nước. Eustace Conway, như bất kỳ nhà xã không tưởng giỏi giang nào, không e ngại thử điều này. Anh không e ngại quả quyết rằng anh có tất cả câu trả lời. Anh không e ngại đề ra một thế giới quan hoàn toàn mới.
Anh muốn Đảo Rùa trở thành cái gì đó lớn lao hơn chứ không đơn thuần là một khu bảo tồn thiên nhiên. Lớn lao hơn điều mà ông ngoại anh đã làm với Trại Sequoyah. Mảnh đất này không chỉ để trở thành trại hè nơi trẻ em có thể tạm thời lánh khỏi những mặt trái của thành thị và phát triển thành những công dân khỏe mạnh. Không, Eustace muốn Đảo Rùa trở thành môi trường cho một cuộc thử nghiệm xã hội không tưởng khổng lồ mà trong đó anh sẽ cố gắng tận lực thay đổi và cứu nước Mỹ. Đó sẽ chính là đồ án cho tương lai. Anh rất hay nghe thấy câu châm ngôn cũ đầy xúc động này, “Chỉ cần chạm tới một cuộc đời là ta vừa có một ảnh hưởng đối với thế giới.”
Chà, nói thẳng thì Eustace Conway nghĩ câu đó thật nhảm. Chẳng cớ gì lại nghĩ tủn mủn tới thế, thưa mọi người! Tại sao lại hài lòng khi chạm tới chỉ một cuộc đời? Tại sao không cứu toàn bộ hành tinh? Rõ ràng đây phải là sứ mệnh của anh.
“Thượng đế chỉ tạo ra một người trên đời giống như con,” mẹ Eustace viết, bà luôn có mặt để nhắc nhở cậu con trai về thiên chức không ai khác có của anh. “Và Người có một công việc đặc biệt để con thực hiện, để con sử dụng những năng lực Người đã trao cho con.”
Eustace hoàn toàn đồng tình, và khi bước vào giữa độ tuổi hai mươi, anh sôi sục khao khát thành lập xã hội không tưởng của riêng mình. Ý chí đã sẵn; tất cả những gì anh cần là đất.
Anh chưa bao giờ mong tìm thấy Đảo Rùa trong mộng ở Bắc Carolina, nơi bất động sản lúc này đã trở nên đắt đỏ và tình trạng đông dân đã thành vấn đề. Nhưng hóa ra ẩn mình trên cao trong dãy núi phía sau trường cao đẳng và điểm nghỉ mát của thành phố Boone lại là những thung lũng nhỏ rợp bóng râm đủ mọi hình dạng nơi đời sống đã không biến chuyển qua nhiều thập kỷ. Đất rất rẻ, và con người trên những đỉnh núi này sống rất bằng lặng, thế nên Eustace hỏi quanh xem liệu có ai có một khoảnh đất lớn cần bán không. Khi nghe nói có thể mua đất “chỗ nhà thờ Alley cũ”, anh liền đi lên đó cùng với một giáo sư từng dạy anh ở trường cao đẳng, người rất thông thạo việc mua đất cũng như đọc bản đồ thuế, hai kỹ năng mà Eustace không thạo vào thời điểm đó nhưng rồi sẽ sớm đạt được.
Thứ họ tìm ra phía cuối con đường đất gập ghềnh ấy quả thực vô cùng hoàn hảo. Đó là 107 mẫu của cái mà nay Eustace mô tả như là “một khu rừng cây lá rộng vỡ hoang đặc trưng của vùng Nam Appalachia”, và nó đẹp mê hồn. Nó chứa đựng mọi thứ Eustace đang tìm kiếm - nước suối trong vắt, ngập tràn ánh nắng, địa giới nối từ đỉnh núi này qua đỉnh núi khác thật quyến rũ, đất đai bằng phẳng phù hợp để làm đồng, bạt ngàn cây lấy gỗ cất nhà, và một hệ sinh thái đa dạng vô cùng thú vị. Nơi đây phong cảnh miền rừng phong phú, nổi bật nhất là cây bồ kết, cây bu lô và cây lá lụa chua. Không khí ẩm và nặng, thực vật tầng đáy rất tươi tốt, dày đặc cây dương xỉ. Khí hậu thật thuận lợi cho cây thường xuân độc và cho cả rắn hổ mang, tuy nhiên cũng có nhiều loài sinh vật hiền hòa phát triển mạnh ở đây như cá hồi, chim gõ kiến, lan hài màu vàng và màu hồng, nhân sâm, phong lan, cây rễ máu, đỗ quyên...
Đất dưới chân anh màu mỡ, đen và ẩm. Giống như hầu hết vùng rừng ở miền Đông nước Mỹ, đây không phải rừng nguyên sinh. Đây là rừng thứ sinh tự phục hồi, loại rừng đã tái phát triển sau khi bị phát quang hơn một thế kỷ trước, được người ta canh tác đều đặn rồi sau đó bị bỏ hoang qua nhiều thập kỷ (trong trường hợp này là khi dân vùng núi địa phương bị lôi cuốn xuống dưới thị trấn để làm việc trong các nhà máy). Thú hoang đã quay về đông đảo, cây cối cũng vậy. Có rất nhiều sóc và mọi dấu hiệu cho thấy số hươu nai đang gia tăng. Độ đông đúc của chim chóc thật đáng kinh ngạc; trong không khí ẩm ướt của ban mai, Eustace cảm thấy như tiếng chim là tiếng kêu rền của sự sống mang tầm vóc rừng già nguyên thủy. Anh cũng ngờ rằng quanh đây có sư tử núi. Và cả gấu.
Eustace đi xem mảnh đất ấy lần đầu là vào mùa đông 1986. Lúc lái xe tải ra khỏi đường lớn, anh thấy mình đang ở giữa vùng Appalachia đúng nghĩa, tất cả điều này trở nên rõ ràng hơn khi anh leo mỗi lúc một cao lên dãy Blue Ridge. Số dân ít ỏi sống ở đây chính là người nguyên thủy. Những người miền núi đích thực, đáng tin, có lối sống cổ xưa. Nhà họ ở là lán lợp thiếc bám sơ sài vào những triền núi dốc đứng này. Sân nhà họ đầy ắp dụng cụ xưa như trái đất và những chiếc xe tự thời tiền sử, và người ta nuôi thú như thỏ và gà trên mái nhà để tránh xa lũ cáo. Cụm từ “khó khăn và thiếu thốn” không đủ để miêu tả hết mức độ khó khăn và thiếu thốn của những cuộc đời này.
Những con đường quanh co không được phân giới, và Eustace không chắc anh có đến đúng chỗ không, thế nên anh lái xe vào sân một trong những cái lều xiêu vẹo và gõ cửa để hỏi đất nhà thờ Allen cũ ở đâu. Một phụ nữ gầy gò xanh xao đeo tạp dề hoa đi ra cửa và nhìn Eustace chằm chằm từ phía sau tấm phên với vẻ kinh sợ tột độ. Có lẽ bà ta chưa bao giờ thấy một người nào ở cửa nhà mình mà không phải người trong gia đình.
“Bà ấy đang nhào bột làm bánh quy,” anh nhớ lại, “thế nên bàn tay bà dính đầy bột, nhưng mặt bà cũng trắng không thua gì bột trên tay, và bà ấy sợ run cầm cập khi thấy tôi. Khi cuối cùng bà ấy cũng cất tiếng được, giọng yếu ớt và hụt hơi, tôi cứ sợ bà sẽ xỉu mất. Giống y như nói chuyện với một người tuy bị ốm đang nằm viện nhưng vẫn cố nói vậy. Ta thấy muốn nói, ‘Giữ sức nào! Đừng cố nói!’ Bà ấy quá thẹn như vậy đó.”
Người phụ nữ nơi khung cửa hôm đó là Susie Barlow, thành viên của một mạng lưới quan hệ giữa các gia đình vùng Appalachia đó, những người rồi đây sẽ sớm trở thành láng giềng của Eustace. Gia tộc Barlow, gia tộc Carlton, và gia tộc Hicks (Dân nhà quê) (thật sự là họ được đặt tên như thế) đã cùng sống trong thung lũng núi hiểm trở này từ đời thuở nào lâu lắm rồi. Họ là những người tốt bụng sống ẩn dật, những người hễ cần nhổ răng thì vẫn sử dụng sợi dây sắt tự chế. Họ nuôi lợn và làm ra những cái đùi lợn muối nặng hai yến rưỡi ngon hảo hạng. Họ nuôi chó săn vừa để mang đi săn vừa để bán. Họ đặt ổ chó trong gian chính, lũ chó con chưa mở mắt dò dẫm trong một cái thùng gỗ lớn, tè lên khắp tấm thảm thổ cẩm thủ công đã bạc phếch, thứ chắc chắn có thể bán được vài trăm đô la tại cuộc bán đấu giá ở thành phố New York. Các gia tộc Carlton, Hick và Barlow đều nghèo nhưng rất sùng đạo, họ làm lễ ngày Sabbath với niềm sùng kính và nâng niu Kinh thánh với sự nghiêng mình.
“Tôi sẽ nói với cô thế này,” Eustace nói. “Cô biết tôi có nhiều vấn đề với Thiên Chúa giáo rồi phải không ? Nhưng khi tôi tới thăm những láng giềng người Appalachia và họ nói, ‘Cầu nguyện với bọn tôi nhé, anh Eustace?’ tôi liền khuỵu gối xuống sàn mà cầu nguyện. Tôi quỳ ở đó trong bếp nhà họ, trên tấm vải sơn lót cũ mòn, tôi nắm lấy những bàn tay chai sần của họ mà cầu nguyện bằng cả trái tim, bởi vì đây là những tín đồ mộ đạo nhất tôi từng biết.”
Họ là những người hàng xóm tuyệt vời. Đó là một mảnh đất lý tưởng. Eustace đã sẵn sàng khởi cuộc hành trình không tưởng của mình. Nhưng anh không muốn làm một mình.
Dù rằng Eustace là hình mẫu lãng mạn Mỹ của kiểu đàn ông một mình trong rừng hoang, anh vẫn vô cùng khao khát có một người bạn gái đồng hành chia sẻ giấc mơ với mình. Y như chuyện anh đang tưởng tượng ra ngôi nhà lý tưởng như mơ, anh cũng đang kiến thiết (cũng tỉ mỉ và đầy phóng tưởng như vậy) cô dâu như mơ. Anh biết chính xác người con gái ấy sẽ là ai, sẽ trông ra sao, sẽ mang đến điều gì cho cuộc đời anh.
Nàng sẽ xinh đẹp, thông minh, mạnh mẽ, đầy yêu thương, giỏi giang, và là người đồng hành chung thủy của anh, cái chạm nhẹ sẽ làm kế hoạch cuộc đời được thực hiện một cách xuất sắc của anh thêm giàu tính người hơn và ủng hộ cho mộng tưởng của anh. Trong giấc mơ của anh nàng thường giống với dung nhan một người đẹp da đỏ trẻ trung, lặng lẽ, đầy yêu thương và thanh thản. Nàng là Eve giúp Eustace xây Địa đàng của anh. Nhân thể nói thêm, nàng cũng chính là cô gái trong mơ mà Henry David Thoreau từng mơ màng trước đây khi ông một mình ẩn dật tại hồ Walden - một đứa con hoàn hảo của tự nhiên, một tuyệt phẩm theo mẫu á thần trong thần thoại Hy Lạp “Hebe, người dâng rượu của thần Jupiter, vốn là con gái của Juno và rau diếp dại, và là người có quyền năng hoàn trả cho thần thánh lẫn con người sức mạnh tuổi thanh xuân... có lẽ là thiếu nữ vô cùng dồi dào sinh lực, khỏe khoắn, sung sức duy nhất từng sống giữa trần gian, bất cứ nơi nào nàng đến đều thành mùa xuân.”
Đây là người phụ nữ trong mơ của Eustace, là chính hiện thân cho vẻ duyên dáng, sự tươi trẻ và nét phồn thực. Nhưng anh không dễ dàng tìm thấy nàng. Không phải vì anh khó gặp phụ nữ. Anh gặp rất nhiều phụ nữ, nhưng tìm ra người phù hợp thật quá khó.
Một ví dụ, mối tình của anh với cô gái tên Belinda là điển hình cho trải nghiệm của anh về quan hệ khác phái. Belinda, vốn sống ở Azona, đã xem Eustace Conway nói về cuộc đời của anh trong rừng trên chương trình truyền hình phát khắp cả nước tên là “Tạp chí PM”. Ngay lập tức cô phải lòng anh, xúc động bởi tư tưởng lãng mạn của anh chàng người rừng hoang dã hùng biện lưu loát này, và cô bắt liên lạc được với anh qua thư. Họ viết thư tình cho nhau, và rồi Eustace tới sống với cô một thời gian ngắn ở miền Tây, nhưng chuyện giữa hai người không bao giờ trở thành nghiêm túc cả. Belinda có con từ trước, đây chỉ là một trong số những lý do khiến cuối cùng họ chia tay. Eustace chẳng bao giờ hoàn toàn chắc chắn liệu Belinda yêu con người anh hay tư tưởng của anh.
Rồi đến Frances “cô gái mạnh khỏe từ Anh đến”, và Eustace cũng yêu cô.
“Cô ấy dường như hội đủ trí tuệ, sức mạnh và độ bền bỉ làm nên một người đồng hành tuyệt vời,” Eustace viết về Frances trong nhật ký. “Tôi cần tình yêu và tình bạn mà tôi vốn có quá ít này. Tôi biết mình là người lãng mạn. Đôi khi tôi nghĩ và cảm thấy mình quá lý trí, lạnh lùng và quy tắc, nhưng tôi cũng có thể rất trẻ trung, ngây thơ và phi thực tế.”
Nhưng Frances sớm ra đi, và rồi Bitsy đến. Eustace yêu Bitsy cuồng dại. Bitsy là một bác sĩ người Apache xinh đẹp và bí ẩn. Không phải một người Apache bình thường, mà là hậu duệ thuộc nhánh Geromino[7], và cô có mọi điều mà Eustace luôn yêu thích: nụ cười rộng mở, mái tóc dài, làn da ngăm, cơ thể tráng kiện, và “đôi mắt thiêu đốt người ta”, sự tự tin, vẻ yêu kiều. Nhưng mọi chuyện lại không dễ dàng với Bisty.
“Em vẫn khao khát anh,” cô viết, trong lá thư cuối cùng cắt đứt quan hệ của họ. “Nhưng em đã không thể đến cùng anh. Anh là người đáng say mê. Nhưng em cảm thấy anh chỉ muốn có em cho những nhu cầu của bản thân anh. Lúc này, em không thích được cứu vớt hay dạy dỗ hay dẫn dắt vào bất kỳ con đường nào ngoài con đường của riêng em. Anh là người ban tặng, người thầy. Điều này tốt, đối với một số người. Nhưng em cảm thấy anh muốn em làm vật tô cho anh. Tha lỗi cho em nếu nói vậy nghe quá tàn nhẫn. Em không định thế. Những nhu cầu của anh che khuất nhu cầu của em.”
Anh đón nhận cuộc chia ly này không dễ.
“ÔI! TRỜI ƠI! BITSY!” anh tan nát cõi lòng trong nhật ký vào tháng Hai năm 1986. “Anh đang khóc, điên cuồng, gào thét trong đau đớn. Ôi trời ơi, không làm sao khuây khỏa. Anh không vượt qua nổi chuyện này! Em! Anh cần gặp em. Em là con đường duy nhất... trái tim anh rỏ máu vì em. Anh yêu em như bản thân cuộc sống, như toàn vũ trụ! Anh tàn lụy bởi yêu em! Anh có thể làm gì? Anh không thể làm được gì hết. Không hề không hề không hề KHÔNG HỀ KHÔNG HỀ. Ôi, làm sao anh chịu được nỗi mất em? Anh muốn em làm vợ, làm bạn đồng hành, để sẻ chia mọi chuyến phiêu lưu của cuộc đời. Anh sẽ không bao giờ tìm thấy ai khác giống em... Thượng đế ơi, định mệnh, nguồn năng lượng dồi dào của vũ trụ, nói sao về điều này?”
Rồi, theo nhật ký của Eustace Conway, tháng Hai 1987: “Valarie Spratlin. Yêu. Tình Yêu Mới. Em từ đâu đến vậy? Thượng đế đã gửi em xuống ư? Em có thật không? Em có thực là của anh? Anh yêu em nhiều như anh nghĩ, hay anh chỉ yêu tình yêu em trao anh thôi? Anh muốn nghĩ em là câu đáp cho mọi lời cầu nguyện anh dâng. Em có phải là bước tiếp theo trong cuộc đời đi đây đi đó, giáo dục mọi người mà sứ mệnh đã trao cho anh? Phải chăng định mệnh là đấng chúa tể quyền uy và đôi ta đã được se duyên tri kỷ?”
Valarie Spratlin, một phụ nữ mạnh mẽ và quyến rũ lớn hơn Eustace mười tuổi, đang làm việc cho Cục Tài nguyên Thiên nhiên ở Georgia vào năm 1987. Cô phụ trách một phần năm số công viên của bang. Cô đã nghe một người bạn ở Bắc Carolina nói về Eustace Conway và “màn trình diễn cầu kỳ” của anh, thế nên cô mời anh tới Georgia để chỉ đạo một số xưởng thủ công trong hệ thống công viên của cô. Họ phải lòng nhau rất nhanh. Cô bị lôi cuốn bởi cuộc đời anh, bởi sức lôi cuốn của anh, bởi những kế hoạch cứu thế giới đầy quả cảm của anh. Cô viết cho anh những lá thư đề gửi tới “Người vô thần hoang dã nguyên thủy của em”. Cô say mê toàn bộ hình tượng của anh - đồ da hoẵng, lều vải, công việc. Bạn trai cũ của cô là một nhạc sĩ của ban Allman Brothers, và mười năm qua cô đã chu du khắp nước cùng ban nhạc, thế nên cô đã tự luyện mình thành một người luôn sẵn sàng phiêu lưu.
“Em biết chúng ta mới quen nhau chưa đầy hai tuần,” Valarie viết cho Eustace một vần thơ tự do nho nhỏ, “nhưng tình cảm em dành cho anh đang lớn dần.”
Gặp nhau chưa lâu, Eustace rủ Valarie cùng anh đi một chuyến hành trình ba tuần về hướng Tây Nam, xuống Mesa Verde và mọi miền đất xưa cũ của thổ dân. “Quá đỉnh, đi chứ,” cô nói, thế là họ chất đồ lên chiếc Toyota nhỏ của cô và lên đường. Cô nhớ rằng anh chẳng hề cho họ mua lấy một chút thức ăn; họ phải tự tìm thức ăn, hoặc phải ăn yến mạch và nho khô ba lần mỗi ngày. “Lạy trời,” giờ đây cô nhớ lại, “anh ấy là gã keo kiệt nhất tôi từng gặp.” Anh đưa cô đi bộ xuống Grand Canyon - “không phải thong dong dạo chơi, mà là đi cả ngày trong khi chẳng có gì để ăn ngoài món yến mạch và nho khô hãi hùng” - rồi ngày hôm sau họ đi vào Bryce Canyon, thêm ba ngày nữa đi bộ không ngừng. Đây đều là những chuyến đi bộ kiểu Eustace: một mạch hai lăm dặm không nghỉ mỗi ngày.
“Eustace Conway,” cuối cùng cô lên tiếng, khi một chiều nọ anh cứ khăng khăng trèo thêm một đỉnh núi nữa để ngắm thêm một cảnh mặt trời lặn, “anh đang thúc ép em kinh khủng quá.”
Anh nhìn cô, ngờ vực. “Nhưng Valarie, có thể em chẳng bao giờ tới đây lần nữa. Anh không thể tin em sẽ bỏ cơ hội ngắm nhìn một khung cảnh đẹp tới vậy.”
“Mình thỏa thuận nhé,” cô nói với anh. “Em sẽ leo lên ngọn núi chết tiệt cuối cùng đó với anh nếu anh hứa với em rằng khi chúng ta ra khỏi đây anh sẽ đưa em tới một nhà hàng tử tế và mời em một cái hamburger cùng với khoai tây chiên và một cốc Coke ngay lập tức.”
Anh cười to và đồng ý, thế là cô leo tiếp. Cô rất lãng mạn và yêu mê muội, nhưng cô không phải người dễ điều khiển. Cô điềm tĩnh và gan góc. Cô biết cách vạch ra một giới hạn cho Eustace, trong khi những người khác nghĩ rằng không thể đối đầu anh. Và cô cuồng si anh. Cô là một nhà môi trường tự trong phẩm chất và là một nhà giáo dục thông qua rèn luyện, còn chàng trai này là người có mọi đức tin ở trong cô về thế giới song nhân nó lên năm mươi lần. Cô đứng sau anh trong mọi kế hoạch của anh, và chẳng mấy chốc đã xuất hiện một sự chuyển đổi đại từ tinh tế trong các cuộc thảo luận về tương lai. Eustace không còn nói “anh cần tìm một mảnh đất tốt” mà là “ta cần tìm mảnh đất tốt”. Người phụ nữ này về mọi phương diện dường như là người anh luôn mong tìm được: một bạn đồng hành đích thực. Cùng nhau, Eustace và Valarie sục sạo khắp miền Nam kiếm một nơi tốt lành cho xã hội không tưởng của anh - của hai người.
Và thế là cuối mùa đông năm 1986, Eustace Conway chở Valarie Spartlin lên dãy núi phía sau Boone để chỉ cho cô nơi anh muốn mua. Lúc đó là buổi tối. Trời mưa lạnh. Họ lái một chiếc xe tải cũ ọp ẹp Eustace mới mua có nhiều lỗ hổng trên sàn khiến khói thải cứ tràn vào. Đường lên núi giống lòng suối khô cạn đầy đá cuội và khe rãnh hơn là giống bất cứ thứ gì được làm ra cho ô tô đi. Khi cuối cùng họ bước ra khỏi xe, Eustace vui vẻ hét lên với Valarie, “Chúng ta tới rồi! Chính chỗ này đây!”
Trời giá căm căm. Tối như bưng. Gió gào rú. Valarie chẳng thấy được gì. Cô chui xuống một cây độc cần lớn để tránh rét, nhưng mấy con gà rừng đậu trên cây bắt đầu kêu quang quác, và cử động của chúng càng khiến nhiều nước lạnh buốt đổ xuống lưng cô.
“Em không thích chỗ này đâu Eustace,” cô nói.
“Vào buổi sáng thì em sẽ thấy thích thôi,” anh hứa hẹn.
Chẳng có lấy một ngôi nhà trên mảnh đất này. Đêm hôm đó họ ngủ dưới vải bạt, và trời bắt đầu đổ tuyết. Khoảng nửa đêm, Eustace một mình leo lên điểm cao nhất của mảnh đất mà hút tẩu để cầu tạ ơn trời đã cho anh tìm ra định mệnh. Valarie đang run lập cập dưới tấm bạt thì nghĩ, “Trời đang mưa tuyết, mình chẳng biết mình đang ở chỗ quỷ tha ma bắt nào và mình lạnh sắp chết vậy mà anh chàng chết giẫm đó cứ thế bỏ mình để đi hút tẩu được sao?”
Tuy nhiên, sáng hôm sau khi Eustace đưa cô đi dạo một vòng quanh toàn bộ khu đất, cô bắt đầu hiểu anh yêu điều gì ở nơi này. Chẳng có gì ngoài rừng rậm, nhưng Eustace đã vạch sẵn thế giới của riêng anh trên 107 mẫu đất này - những chiếc cầu để tới chỗ này; một trại lều vải phù hợp với chỗ kia; nơi đây làm đồng cỏ sẽ rất tuyệt, chỗ này có thể xây nhà kho; chỗ này chúng mình có thể xây phòng ở dành cho khách; một ngày nào đó anh sẽ mua mảnh đất sườn bên kia ngọn núi này, và chúng mình sẽ trồng kiều mạch đằng này...
Anh có thể thấy tất cả. Thế còn cách anh giải thích thật rõ ràng mọi điều? Ồ, cô cũng có thể tự mình thấy tất cả.
Mảnh đất sẽ tiêu tốn của anh gần 80.000 đô.
Eustace đã tiết kiệm được một ít tiền, nhưng không phải ngần ấy. Và chẳng có chủ ngân hàng nào trên thế giới buồn ngó lần thứ hai tới một cậu thanh niên mặc đồ da hoẵng sống trong lều vải. Vậy đâu là nơi một sơn nhân thời hiện đại có thể kiếm được 80.000 đô khi anh ta cần gấp? Người duy nhất Eustace Conway biết chắc có số tiền đó là bố anh.
Eustace chẳng hề thấy thoải mái với việc gặp ông cụ về chuyện tiền bạc. Đúng hơn là anh chẳng hề thấy thoải mái chút nào khi ở gần ông cụ. Bố anh từ trước tới nay chưa bao giờ nói một lời tử tế với anh. Chẳng bao giờ công nhận rằng cậu con trai “ngu độn” của ông đã tốt nghiệp cao đẳng hạng ưu. Chẳng bao giờ tới nghe Eustace diễn thuyết trước thính phòng đầy ắp những thính giả háo hức; chưa bao giờ lắng nghe lấy một câu chuyện hay nhìn lấy một tấm hình về những chuyến phiên lưu của Eustace; chưa bao giờ đọc bất cứ bài báo hay chuyên đề tạp chí nào viết về con trai ông. (Bà Conway thường cắt những bài báo đó ra để trên bàn nước cho chồng xem, nhưng ông chẳng động tới; ông cứ thế đè tờ Wall Street Journal hoặc cốc nước lên trên, như thể chúng vô hình.) Trên mọi phương diện, Eustace Cha ngày càng xa lánh con cái khi mà giờ đây chúng đã thoát ly khỏi nhà ông.
“Mẹ mong bố sẽ viết cho con,” mẹ Eustace viết cho con trai khi cậu đi học cao đẳng ở xa, “nhưng ông ấy dường như có quá nhiều mối ưu tư. Hôm sinh nhật, Martha đã nhận được lá thư đầu tiên bố con từng gửi cho nó, và điều đó sốc tới nỗi con bé bảo nó đọc mà khóc nức nở.”
Eustace ngạc nhiên nhận ra rằng ngay cả bây giờ, khi anh đã bước sang tuổi hai mươi, anh vẫn ám ảnh nỗi đau thời thơ ấu. Anh đã nghĩ chuyện này rồi sẽ tan biến một khi anh lớn lên, một khi thể xác anh đã rời xa không gian ngôi nhà đó. Tại sao cha anh vẫn còn có thế khiến anh phải khóc? Tại sao vẫn có những giấc mơ đánh thức anh vào bốn giờ sáng, “khơi lên những ký ức cũ buồn đau”? Eustace kinh ngạc khi nhận ra, trong một dịp Giáng sinh về thăm Gastonia, rằng bố anh vẫn là “người hung dữ nhất tôi từng gặp, người khắc nghiệt nhất tôi từng gặp, người cay độc nhất tôi từng gặp.”
Nói như thế không có nghĩa Eustace đã không cố gắng giảng hòa với ông cụ. Xưa kia, từ dạo thiếu niên, cậu đã cố. Mẹ cậu luôn khuyến khích Eustace Con “cố hết sức mình để cải thiện mối quan hệ với Eustace Cha.
“Mẹ hy vọng và cầu nguyện rất nhiều rằng mọi thứ sẽ trở nên tốt đẹp hơn cho con và cho cả gia đình chúng ta trong năm tới,” bà đã viết cho Eustace trước khi cậu bước vào năm cuối trung học. “Cũng y như con luôn vô cùng mong muốn có tình yêu và sự tôn trọng của bố, ông ấy cũng muốn tình yêu, lòng kính trọng và sự vâng lời của con. Đó là điều con cái nợ cha mẹ. Mẹ cảm thấy rõ một trong những nguyên nhân lớn tại sao con vẫn luôn khó hòa hợp với bố là vì ông luôn ‘giữ vai trò thứ yếu’ trong suốt cuộc đời con, vì con đã dành cho mẹ nhiều quan tâm nhất, nhiều thời gian và sự nương tựa nhất trong mọi thứ con cần, và trong tình yêu thương. Điều này khởi nguồn từ xưa khi con còn rất nhỏ, và bởi sự thật là mẹ đã dành cho con quá nhiều thời gian và quan tâm, nó đã nảy nở thành một mối quan hệ vô cùng bất hạnh. Lúc này, vẫn có cơ hội để một mối quan hệ hạnh phúc mới nảy nở giữa con và bố, nhưng nó tùy thuộc vào hành động của hai người. Với sức trẻ con có khả năng uyển chuyển hơn trong việc thay đổi lối cư xử và thái độ của con. Dẹp lòng tự ái của con đi để nhún nhường trước bố và thừa nhận rằng trong quá khứ con đã làm và nói nhiều điều khiến bố buồn lòng nhưng giờ đây con sẵn sàng cố gắng tận lực làm vui lòng bố.”
Thế nên Eustace, từ dạo mới mười hai tuổi, đã viết nhiều thư cho bố. Cậu biết rằng bố cậu nghĩ bản thân ông là một người có tài truyền đạt, và cậu hy vọng cậu có thể cải thiện mối quan hệ giữa họ nếu cậu thể hiện được mình tương xứng. Cậu thường nắn nót những lá thư đó hằng tuần, cố gắng tìm cách thức kính trọng và chững chạc nhất để tiếp cận Eustace Cha. Cậu viết rằng cậu tin hai bố con đã có một mối quan hệ khó khăn và nay cậu muốn hàn gắn. Cậu gợi ý rằng có lẽ một ai đó có thể giúp họ nói chuyện cùng nhau. Cậu nói với bố rằng cậu xin lỗi vì đã làm ông thất vọng, và nếu họ trao đổi những khúc mắc mà không ai lớn tiếng, biết đâu cậu có thể sửa đổi thái độ để khiến bố thấy vui hơn.
Bố cậu không bao giờ đáp lại bất kỳ lá thư nào trong số này, tuy vậy thỉnh thoảng ông đọc to một lá lên kiểu như nhạo báng, để mua vui cho các em của Eustace. Có quá nhiều thứ để pha trò: lỗi chính tả, ngữ pháp của Eustace, cái lối cậu to gan nói như với người bằng vai phải lứa - đại loại thế. Eustace Cha đặc biệt khoái trá với một lá thư Eustace Con viết thời trung học, trong đó cậu gợi ý rằng Walton, cậu em trai có trí tuệ xuất sắc và tư chất nhạy cảm, có thể phát triển ở trường tư, nơi thằng bé sẽ không bị bọn trẻ con lỗ mãng ở trường Trung học Gastonia bắt nạt. Nực cười chưa! Eustace Cha đọc lá thư đó cho mấy đứa con nghe hết lần này sang lần khác, và cả mấy đứa, ngay Walton, cũng được khuyến khích nhạo báng Eustace Con vì dám đánh bạo bảo bố điều gì hẳn là tốt nhất cho gia đình.
Thế nhưng, khi tới tuổi trưởng thành, Eustace vẫn thấy mình thử lại lần nữa.
“Con không viết để mang đến cho bố nỗi đau hay sự chán nản,” một lần anh viết, như giữa cánh đàn ông với nhau. “Mà là ngược lại. Con xin lỗi vì đã mang đến đau đớn hay bất cứ gì khác ngoại trừ điều lành cho cuộc đời bố. Con vẫn luôn muốn mình tốt. Tốt cho bố, tốt cho mẹ, tốt cho mọi người. Con vô cùng khao khát được bố chấp thuận, hiểu rõ, công nhận, nhìn nhận rằng con không phải là một thứ vứt đi (ngu ngốc, ngây ngô, sai quấy, vô giá trị). Con có một khoảng trống mênh mông trong lòng nơi con tìm kiếm yêu thương. Tất cả những gì con từng mong mỏi trên đời là tình yêu của bố. Con cảm thấy mình như con bướm đêm bay gần ngọn nến. Có lẽ con nên chấp nhận thất bại và tránh thật xa bố. Nhưng chối bỏ và khoảng cách không làm vơi niềm khao khát được bố chấp nhận.”
Lần nữa, không lời đáp.
Thế nên, không, mối quan hệ đó hầu như không tiến triển, nhưng Eustace cần mượn số tiền lớn, và bố anh, vốn tằn tiện và khôn ngoan, có nó. Eustace chưa bao giờ xin bố một xu; đó là vấn đề tự trọng. Khi có lần ông Conway nói với Eustace rằng họ nên bàn đến vấn đề chu cấp, Eustace nói, “Con không nghĩ mình xứng đáng được chu cấp,” và chuyện chấm dứt ở đó. Eustace không bao giờ đề nghị bố trả giúp học phí đại học, mặc dù ông Conway vui vẻ trả chi phí học đại học cho các em anh. Thế thì vào năm 1987 làm sao Eustace Conway tới chỗ bố như một người trưởng thành để đề nghị một khoản vay? Một khoản vay rất lớn.
Cuộc trò chuyện, như chúng ta có thể tưởng tượng, không trôi chảy. Eustace lãnh một trận rát tai từ ông cụ: số anh cầm chắc thất bại trong dự án mạo hiểm này; anh chẳng nên mong đợi sự độ lượng từ bố khi quận trưởng cảnh sát tới cho đòi cùng với giấy tờ vỡ nợ; và tóm lại thì anh nghĩ anh là ai mà có thể lãnh trách nhiệm coi sóc 107 mẫu đất và lập nghiệp kia chứ?
“Con thật sai lầm khi nghĩ con có thể thành công trong chuyện này,” bố anh đay đi đay lại.
Eustace ngồi như phiến đá bên suối, để mặc cơn thác lũ lạnh băng chảy qua ngay nh mình, miệng ngậm câm, mặt vô cảm, lặp lại liên tục với chính mình Con biết mình đúng, con biết mình đúng, con biết mình đúng... Và, cuối cùng, bố anh đưa khoản tiền cho anh vay.
Với mức lãi suất cạnh tranh, dĩ nhiên rồi.
Ngày 15 tháng Mười năm 1987, Eustace Conway mua mảnh đầu tiên của Đảo Rùa. Và ngay lập tức bắt tay vào làm việc cật lực để trả tiền cho bố. Trong vòng một năm, họ lại không còn nợ nần gì nhau nữa. Anh kiếm được khoản tiền kếch xù đó trong khoảng thời gian ngắn như thế bằng cách lèo lái chính mình vượt qua cơn thác lũ làm việc điên cuồng, đi khắp miền Nam làm một chương trình thuyết giảng vắt kiệt cả cảm xúc lẫn thể lực, để dạy, để trình bày, để vươn tới mọi người. Valarie dùng những mối quan hệ với Cục Quản lý Công viên để nhận về cho anh hợp đồng biểu diễn tại các trường học và trung tâm tự nhiên, và Eustace trở thành một nhà tự quảng bá rất năng động.
“Đó là một khoảng thời gian sôi động,” giờ đây Valarie nhớ lại, “hai năm đầu ở Đảo Rùa ấy. Eustace sống cùng tôi trong căn hộ ngoại ô xinh đẹp của tôi ở Georgia một thời gian, cùng nhau sắp xếp những buổi nói chuyện của anh và cố gắng trả tiền cho bố anh. Tôi làm người đại diện cho anh, giúp anh đặt lịch làm việc khắp toàn bang. Và cuối cùng tôi bỏ công việc tốt và bán ngôi nhà đẹp của mình để chuyển tới Đảo Rùa. Tôi đi theo niềm hạnh phúc nhất đời mình. Đó là nơi tôi muốn ở. Chúng tôi chăm chỉ làm việc để nơi ấy phát triển. Tôi giúp anh xây công trình đầu tiên ở đó, một nhà kho để dụng cụ, bởi vì thứ quan trọng nhất với Eustace là một nơi anh có thể tập hợp các công cụ anh cần để kiến tạo phần còn lại của mộng tưởng của anh. Chúng tôi sống trong lều vải, và hằng ngày tôi nấu ăn trên một cái lò gỗ cũ, nhưng tôi hạnh phúc được sống theo cách này vì tôi muốn học những kỹ năng ấy. Tôi tin tưởng những gì chúng tôi đang làm. Tôi tin tưởng những gì chúng tôi đang dạy. Tôi đang thực hiện một sứ mệnh thiêng liêng của chính mình, và sứ mệnh của tôi song hành với sứ mệnh của anh.”
Phương cách họ sống quả là một ác mộng kiêm một hài kịch. Eustace đi suốt, anh thường phải mang về mọi bài báo, mọi tấm séc, tờ lịch, và hàng đống thư trong một cái túi chéo bằng da cũ kỹ. Họ cất hàng chồng địa chỉ và tờ bướm về các trường học trong những chiếc hộp để trong lều vải, các thứ này thường thấm bục nước mưa và rồi bị chuột, nấm mốc, giòi bọ ăn mòn. Họ không có điện thoại. Một lần, Eustace đi bộ xuống thung lũng hỏi một người hàng xóm, cụ Lonnie Carlton, xem anh có thể mượn điện thoại của ông gọi mấy cuộc gọi đường dài việc rồi trả tiền sau được không. Với một người chủ trại già vùng Appalachia như Lonnie, một cuộc gọi đường dài có thể là sự kiện một-năm-một-lần, hẳn là phải liên quan đến chuyện ai đó trong gia đình qua đời và chắc chắn không bao giờ kéo dài quá hai phút. Thế là, Eustace nhận lấy chiếc điện thoại rồi nói chuyện với hiệu trưởng các trường và các lãnh đạo Hướng đạo sinh, và phóng viên báo chí khắp miền Nam trong suốt sáu tiếng đồng hồ liên tục. Cụ Lonnie cứ ngồi yên đó quan sát anh từ đầu chí cuối, há hốc mồm kinh ngạc.
Khi đã hiển nhiên là anh cần có điện thoại riêng, Eustace chạy đường dây điện thoại từ một nhà hàng xóm lên cái hang cạnh nhà, nơi đó trở thành văn phòng của anh. Trong đêm đông, anh thường đi bộ xuống núi rồi leo vào cái hang đó và làm cái mà giờ đây nhớ lại anh gọi là “một số thương vụ nhỏ khôn ngoan”, kết nối mạng lưới quan hệ và viết ghi chú, soi sáng công việc suốt đêm bằng ánh lửa bập bùng, về sau, anh được phép kéo đường dây điện thoại vào một chuồng gia súc kiểu nhà sàn của ông hàng xóm Will Hicks. Valarie đặt chiếc điện thoại trong hộp xốp để nó không bị hơi ẩm làm gỉ. Đến giờ cô vẫn nhớ rằng, ở ngay đó, giữa vựa cỏ khô, trong khi lũ bò rống ầm rống ĩ bên dưới, cô đã gọi nhiều cuộc gọi công việc và thương lượng không nhân nhượng mức phí trả cho các buổi thuyết giảng của Eustace.
“Những người bên kia đầu dây thường hỏi, ‘Tiếng gì nhao nhác nãy giờ thế?’ và tôi nói, ‘Ồ, chỉ là ti vi đang bật ở phòng khác thôi mà.’ Tôi nói cho mà nghe, đấy thực sự là cả một sự sắp xếp kiểu như trong ‘Green Acres’[8] chứ chẳng chơi. Rồi cái điện thoại bị ẩm nên hỏng. Tôi cố sấy khô nó bằng cách đặt bên lò gỗ ấm. Tất nhiên, nó chảy nhựa ra khắp chỗ đó, như một bức tranh của Salvador Dali. Chúng tôi đã sống như thế đấy.”
Một số thứ sẽ phải thay đổi. Một hôm Eustace đưa Valarie ra ngoài ăn một bữa tối ngon lành tại Red Onion Café ở Boone, để thết đãi cô vì tất cả việc cô đang làm. Suốt bữa tối, anh phác họa lên khăn ăn bản thiết kế tòa nhà văn phòng mà anh đã quyết định là họ đang cần. Nhận thấy mình có một đợt bốn mươi ngày không phải đi diễn thuyết - dịp nghỉ ngơi hiếm hoi, anh suy tính trong bữa ăn tối ấy rằng anh sẽ xây văn phòng vào khoảng thời gian trống nhỏ nhoi đó. Nếu không thì sẽ chẳng khi nào xây được. Thế là hôm sau, trời còn chưa sáng, Eustace liền bắt tay xây dựng.
Ngôi nhà sẽ sử dụng năng lượng mặt trời, rộng gần bốn mươi mét vuông, được làm bằng táp lô, kính và gỗ thô. Eustace không biết chính xác cách dựng một ngôi nhà mặt trời và chưa bao giờ xây bất cứ gì phức tạp hơn một cái lán đựng dụng cụ, nhưng anh cực tin chắc anh làm được việc này. Anh chọn một điểm ngập tràn ánh nắng gần lối vào Đảo Rùa để văn phòng vừa có thể làm nơi chào đón khách vừa cách xa phần trung tâm đậm vẻ nguyên thủy hơn của khu trại vốn sẽ nằm sâu hơn trong rừng. Anh cắm sâu ba mặt của ngôi nhà xuống lòng đất để giúp giữ nhiệt, và Valarie giúp anh lát sàn gạch để thu năng lượng mặt trời. Cửa vào là một hệ thống cửa Pháp tuyệt đẹp mà Eustace đã mang từ chợ trời về với giá chỉ năm đô la. Nắm tay cửa được anh làm lại từ gạc nai. Anh lắp những khung cửa sổ lớn ở mặt trước văn phòng và đặt những tấm cửa sổ trần - tất cả đều được nhặt từ đống phế thải - lên mái để đón ánh sáng và nhiệt.
Vì đập vào mắt mọi người nên phần mái nhà phía trước được lợp bằng những tấm ván lợp so le cho đẹp. Nhưng mái sau thì thực dụng hơn, chỉ là tấm thiếc. Mặt trong của tường có đóng những tấm ván bề ngang sáu mươi phân làm từ gỗ thông trắng bạc màu mưa nắng mà Eustace lấy được từ một nhà kho cũ bỏ hoang, thứ này làm cho căn phòng trở nên trầm ấm. Từ phần ván gỗ còn lại trong nhà kho đó, anh đóng hai cái bàn làm việc rộng và còn đóng cả mấy cái giá chắc chắn vừa để sách vừa làm vách ngăn văn phòng ra thành hai ô làm việc ngập nắng. Trên sàn là tấm thảm cổ anh tìm được tại một buổi đấu giá của người Navajo. Những chiếc giá treo cao dọc theo mép tường đặt những món đồ đan và đồ gốm quý hiếm, trong đó có cả một chiếc bình cổ của người da đỏ mà một chiều nọ Eustace đã để ý thấy bên hè một ngôi nhà cũ tại Raleigh. Ngay lập tức nhận ra giá trị của nó, anh đề nghị với chủ nhà giá hai mươi đô la cho chiếc bình. “Được,” bà chủ nhà nói. “Lấy đi. Tôi chán phải quét rác quanh cái thứ cổ lỗ đó lắm rồi.” Sau đó, Eustace gửi một bức hình chụp chiếc bình tới một chuyên gia của công ty đấu giá Sotheby, người này ước lượng giá trị của chiếc bình lên đến mấy nghìn đô la.
Văn phòng trên Đảo Rùa là một ngôi nhà thật đáng yêu. Kiến trúc đẹp mắt, trong nhà đâu đâu cũng sách, và khắp xung quanh khuôn viên bên ngoài Eustace trồng đầy hoa dại - hoa diên vĩ, hỏa diễm thảo, lan hài. Đó là một cấu trúc sử dụng năng lượng mặt trời hết sức hiệu quả, cởi mở, ấm áp, có tính hữu cơ, với điện thoại và máy trả lời động riêng. Và Eustace thiết kế, xây dựng, trang trí và làm đẹp không gian toàn bộ nơi đó trong vòng bốn mươi ngày.
Đến lúc này Eustace đã trở nên nổi tiếng khắp dãy núi là một người chàng thanh niên lúc nào cũng tất bật. Ví dụ, anh mua gỗ từ một ông già miền núi Appalachia tên là Taft Broyhill, ông này sở hữu một xưởng cưa. Eustace thường bận rộn xây nhà suốt ngày rồi lại xây suốt cả đêm nhờ ánh sáng đèn pha xe tải. Khi cần thêm gỗ xẻ, anh sẽ lái xe tới ngọn núi kế bên thăm xưởng của Taft Broyhill vào khoảng nửa đêm, đánh thức ông chủ trang trại dậy và thương lượng với ông ngay ở đó giữa lúc đêm về sáng, để không lãng phí thời gian ban ngày vàng ngọc vào việc mua bán. Rồi anh sẽ quay trở lại Đảo Rùa, ngủ ba bốn tiếng, và lại bắt tay vào việc xây dựng trước khi trời kịp sáng.
Một đêm nọ khi lái xe tới nhà Taft Broyhill vào lúc nửa đêm, anh đi cùng một người bạn đã tới giúp anh vài ngày. Trong khi ông già đang xếp gỗ, Eustace chú ý thấy trong đống gỗ phế liệu một súc gỗ mại châu rất ngon lành, quá đẹp không thể nào cưa thành gỗ xẻ được. Anh liền hỏi liệu anh có thể mua súc gỗ mại châu đó không, và liệu ông Broyhill có thể giúp anh cưa nó thành từng khúc dài vừa tay được không.
“À, cậu muốn dùng nó làm gì?” ông già hỏi.
“Thế này, ông ạ,” Eustace giải thích, “cháu chỉ đang nghĩ sẽ hay biết bao nếu sử dụng chỗ gỗ mại châu cứng chắc đó để đẽo cán công cụ hay đại loại thế.”
Ông già sốt sắng khởi động cái máy cưa xích và bắt đầu xẻ súc gỗ mại châu dưới ánh đèn pha xe tải của Eustace vào giữa đêm trong làn mưa tuyết. Đột nhiên ông dừng lại, tắt máy cưa xích, đứng lên. Ông nhìn chằm chằm Eustace và bạn anh hồi lâu. Eustace lòng băn khoăn không biết có gì không phải, đành đợi Taft Broyhill lên tiếng.
“Các cậu biết không,” cuối cùng ông già cất giọng lè nhè, “ta chỉ đang tự hỏi đám thanh niên các cậu làm gì vào lúc rảnh rỗi?”
Eustace làm việc trối chết. Ngay khi văn phòng đã đâu ra đó, Eustace lại lên đường, kiếm tiền bằng cách đi giảng về niềm hạnh phúc của lối sống nguyên thủy và trí tuệ của thổ dân da đỏ Mỹ và sự thuận tiện của “cuộc đời đơn giản”. Eustace điên cuồng phóng từ bang này sang bang khác, cố thuyết phục mọi người từ bỏ cuộc chiến mưu sinh để tắm mình trong giao hòa nồng ấm với thiên nhiên. Đó là một lối sống vô cùng khẩn trương. Một người bạn thậm chí còn mua cho anh chiếc máy dò thiết bị đo tốc độ để anh đỡ phải nhận phiếu phạt chạy quá tốc độ trên những lộ trình phóng vèo vèo chạy show bất tận của anh. Và tới tháng Hai năm 1988, Eustace dường như đang nhìn qua vách núi xuống một vực thẳm điên rồ khi anh viết:
“Chạy đường trường, lộ trình dằng dặc, vắt sức để hoàn thành điều tôi đang thực hiện lúc này, một thanh niên nghèo đang trả tiền cho một mảnh đất mênh mông. Rơi quá sâu vào đó, ngày nào tôi cũng làm việc, cố gắng cật lực, và ngay cả ngày hôm nay - một ngày không có lớp học hay bài giảng - tôi vẫn dành 12 tiếng đồng hồ cho việc giấy tờ, hồi đáp, chèo kéo và tìm thêm việc, thêm việc thêm việc thêm việc THÊM VIỆC chồng chất lên. Tôi có thể xử lý tất, giống như vận động viên cử tạ năng nổ lúc adrenaline dâng lên nóng hổi - tôi làm việc cả trong khi ngủ - ngủ-làm, tôi gọi thế - cắt bỏ thời gian dành cho yêu đương với Valarie, cắt bỏ thời gian hái hoa bẻ lá... Atlanta, rồi Augusta, làm việc ở Toccoa và rồi Clarksville - đem thời gian của tôi bán cho hàng trăm người - ngày này qua ngày khác thình thịch trên sân khấu, trên sân khấu, trên sân khấu HÒ HÉTTTTTT!
“Tôi sống bằng sức mạnh sân khấu và năng lượng đang chảy, tập trung sức mạnh đó lại … ngủ 7 phút, rồi tỉnh dậy - lái xe - vẫn tuyệt. Mi là số một! Họ lủng lẳng trên dây của mi như con rối để mi giật, điều khiển, bắt phải nghe và khuyên nhủ - tới tới lui lui... aaa, nhưng mà chẳng hiểu được gì đâu! Các người không biết tôi cần nghỉ sao? Các người không biết tôi cần không khí à? Tôi cần thở, chết tiệt! Để tôi yên, lũ khốn khiếp ngu độn các người! Các người không thấy sao? Đám ngớ ngẩn các người, chẳng hiểu gì sao? Đó là chương trình hay nhất tôi từng xem, anh làm tuyệt lắm! Tôi nghe nó ti tỉ lần rồi, chẳng khác gì nhai bìa các tông sống qua ngày đoạn tháng. Khốn kiếp. Tôi đã có đất. Tôi có khu bảo tồn thiên nhiên yên tĩnh để một hôm nào đó có thể ngủ sau khi qua hết một đường hầm dài dặc - thật là tương phản... Tôi sẽ đón nhận bao nhiêu người khác vào đây? Ồ, những người tốt trên đời của tôi ơi, TÔI YÊU CÁC BẠN - xin Thượng đế cho con sức mạnh để đi cho rốt con đường gian khó của mình. Một ngày nào đó tôi sẽ tìm thấy thảm dương xỉ mềm mại tràn ánh nắng để nằm xuống nghỉ. Bình an.”
Và ở phần cuối một đoạn văn cường điệu tương tự thế này mà Eustace viết trong nhật ký mấy tuần sau, anh chua thêm: “Chưa kể là đang xem liệu mình có muốn Valarie là bạn đời không.”
Mùa hè năm 1989, Eustace đã có những trại viên đầu tiên tại Đảo Rùa.
Đảo Rùa không còn là một ý tưởng nữa - nó đã thực sự là một cơ sở. Eustace đã chuẩn bị tờ bướm, danh thiếp, chương trình bảo hiểm, bộ dụng cụ sơ cứu, quy chế tổ chức hoạt động phi lợi nhuận. Nó đã trở thành sự thật. Và bọn trẻ yêu nơi này, hằng năm. Thay vì để các bậc phụ huynh chở trại viên lên vùng núi này vào bãi đỗ xe xây tạm, Eustace cho nhân viên xuống dưới đường đón các gia đình rồi dẫn họ đi bộ vào Đảo Rùa. Nếu các bậc phụ huynh không đi bộ nổi quãng đường đó? Chà, tệ quá. Vậy thì Chào tạm biệt dưới này luôn đi các thân nhân. Bằng cách này, bọn trẻ có thể đi ngang thung lũng phì nhiêu của Đảo Rùa xuyên qua rừng thẳm, đi bộ, bước vào vương quốc như thể đi qua một cánh cửa ẩn mật thiêng liêng. Khu rừng rốt cuộc sẽ dẫn tới những đồng cỏ ngợp nắng của khu trại, và đây sẽ là thế giới tân-cổ kỳ diệu ấy, khác với bất kỳ thứ gì bọn trẻ từng biết đến. Không điện, không vòi nước, không giao thông, không thương mại.
Và khi bọn trẻ đến, Eustace Conway sẽ chờ sẵn đó để tiếp chúng, anh mặc bộ đồ da hoẵng và nở nụ cười điềm tĩnh nhất. Suốt khóa học hè đó, anh dạy bọn trẻ ăn những thứ chúng chưa từng nếm, mài và sử dụng dao, tự đẽo thìa cho mình, thắt gút, chơi các trò chơi của thổ dân da đỏ, và - mỗi khi bọn trẻ bẻ cành một cây đang sống - cắt một mớ tóc của chính chúng mà để lại như phẩm vật tạ ơn cây. Anh dạy bọn trẻ phải biết kính trọng nhau và kính trọng tự nhiên. Anh nỗ lực hàn gắn cái anh xem là sự hủy hoại tinh thần mà nền văn hóa Mỹ hiện đại gây ra cho trẻ em. Ví như, anh sẽ vào rừng cùng với nhóm trẻ và tới chỗ một vạt tầm xuân. Anh vừa nói cho bọn trẻ biết lá tầm xuân ngon đến thế nào thì bọn trẻ đã bu lại quanh bụi cây đó như một bầy châu chấu, bẻ xuống từng nắm cành hoa.
“Đừng,” Eustace sẽ nói. “Đừng phá hủy cả cây! Hãy biết để ý là nó hiếm hoi đến chừng nào. Ngắt một lá thôi, nhấm một miếng, rồi chuyền cho nhau. Nhớ rằng toàn thể thế gian không bày sẵn đây cho các em dùng kiệt và phá hủy. Nhớ rằng các em không phải những người cuối cùng đi trong khu rừng này. Hay là người cuối cùng sẽ sống trên hành tinh này. Các em phải chừa lại gì đó.”
Anh thậm chí dạy bọn trẻ cầu nguyện. Sau khi các trại viên thức dậy lúc bình minh, Eustace sẽ dẫn chúng tới chính ngọn đồi nơi anh đã cầu nguyện với cái tẩu hút vào đêm đông đầu tiên anh ngủ lại Đảo Rùa. Họ gọi nơi này là “đồi bình minh”, và họ sẽ ngồi đó trong im lặng, ngắm mặt trời lên, tất cả bọn họ quán tưởng về ngày hôm đó. Anh đưa bọn trẻ cuốc bộ tới các thác nước và chuôm hồ, và anh mua một con ngựa già để chúng cưỡi loanh quanh. Anh dạy chúng cách bắt rồi ăn thịt tôm càng dưới suối và cách đặt bẫy những con mồi nhỏ.
Nếu có em nói, “Em không thích giết một con vật không có khả năng tự vệ,” Eustace sẽ mỉm cười giải thích, “Để anh nói cho em một bí mật nho nhỏ nhé, bạn của anh. Em sẽ không bao giờ tìm được trong toàn thể tự nhiên một thứ gọi là con vật ‘không có khả năng tự vệ’ đâu. Có lẽ là ngoại trừ một số người anh quen.”
Rốt cuộc anh đã có được nơi ở của mình, một nơi mà anh có thể dạy dỗ trong môi trường tương tác suốt hai mươi tư tiếng, không bị sao nhãng hay bị giới hạn về thời gian hay nguồn lực. Mọi thứ anh muốn chỉ cho các học viên của mình đều nằm ngay đó. Giống như thể họ đang sống trong một bộ bách khoa thư.
Trên hành trình giữa thiên nhiên, có thể anh sẽ nói, “Cây nấm kia có chất sữa. Tuy nhiên, các em phải hết sức cẩn thận với loài này, bởi vì trên thế giới có bốn loại nấm trông y hệt thế. Hai loại trong số đó là độc còn hai loại thì không. Vậy nên đừng vội quyết định loại nào ăn được! Cách duy nhất để phân biệt là các em bẻ đôi cái nấm ra rồi đưa lưỡi vào dòng nhựa ngay bên trong này. Thấy chưa? Nếu có vị đắng là cây có độc, hãy tránh xa nó.”
Hoặc anh kể cho bọn trẻ nghe người nguyên thủy tự chăm sóc sức khỏe bằng cây phỉ như thế nào. “Loài cây ấy mọc khắp nơi, và nó tốt cho mọi loại vết thương.”
Hoặc anh sẽ nói, “Kia là cây bu lô đen. Sao các em không nhai nó xem? Vị ngon phải không? Lớp vỏ trong là phần giá trị nhất. Nó là nguyên liệu người Appalachia ngày xưa dùng để làm bia bu lô. Có thể sau này chúng ta nên thử làm thế xem.”
Anh vô cùng mãn nguyện với tất cả thành tựu từ những gì anh đã tạo dựng nên. Dường như điều anh có thể giảng dạy ở đây là vô tận. Các trại viên sẽ trở về nhà để sống cuộc đời thành thị, và cha mẹ chúng thường viết thư gửi Eustace: “Anh đã làm gì với thằng con nhà tôi m giờ cháu nó trưởng thành lên quá nhiều vậy? Anh đã dạy gì cho cháu mà khiến nó quan tâm đến thế giới của mình đến thế?”
Eustace cũng tổ chức các chuyên đề kéo dài cả tuần cho người lớn. Có lần khi anh đưa một nhóm chuyên đề như vậy ra ngoài để đi bộ xuyên rừng, họ đang bước ven bờ sông thì một phụ nữ trước đây chưa từng vào rừng bắt đầu la toáng lên. Chị nhìn thấy một con rắn đang bơi ngược dòng. Eustace lúc này chỉ có mỗi chiếc khố trên người, thế nên anh lặn xuống nước và dùng hai tay chộp con rắn rồi ôn tồn trình bày về sinh lý của con vật cho người phụ nữ thành phố. Anh bảo chị ta chạm vào nó và nhìn vào miệng nó. Cuối cùng chị ta cầm con rắn để cho bạn bè chụp ảnh.
Trong một dịp khác, Eustace đưa một nhóm trẻ mẫu giáo đi bộ vào rừng. Anh chỉ lên vòm lá ken dày và nói cho chúng nghe về các loài cây khác nhau. Anh cho chúng uống nước suối, để cho chúng thấy rằng nước sinh ra từ lòng đất, chứ đâu chỉ từ vòi. Anh cho chúng nhai cây lá lụa chua, và chúng ngạc nhiên khi thấy quả là anh nói đúng, loài cây này có vị như kẹo chua. Khi họ đi bộ băng rừng, anh giải thích cách hoạt động của tầng thảm mục, chu trình của nó. Lá từ trên cây rơi xuống rồi vụn vỡ và phân hủy để trở thành đất. Anh giải thích cách nước thấm vào lòng đất và nuôi dưỡng rễ cây; cách côn trùng và thú vật sống nhờ vào tầng thảm mục, ăn thịt lẫn nhau và ăn mọi thứ chất hữu cơ mà chúng tìm được, giữ cho vòng đời tiếp tục diễn tiến.
“Rừng rất sống động,” anh nói, nhưng anh có thể thấy rằng lũ trẻ không hiểu lắm. Thế là anh đặt một câu hỏi. “Ai muốn làm trợ lý cho anh nào?” Khi một cậu bé nhỏ xíu bước lên, Eustace - với sự giúp sức của lũ trẻ - đào hai cái rãnh nông dài trên tầng thảm mục. Rồi anh và cậu bé nhỏ xíu nằm vào rãnh và những đứa trẻ khác lấp họ lại, chỉ còn chừa mặt ló ra nhìn thẳng lên trên.
“Giờ hai đứa ta đây là tầng thảm mục,” Eustace nói. “Và ta hãy nói cho các bạn khác nghe chúng ta nhìn thấy và cảm nhận gì. Hãy giải thích chuyện gì đang xảy ra với chúng ta.”
Họ nằm đó một lúc trong đất rừng mềm mại, Eustace cùng một cậu bé lên năm, và mô tả điều họ nhìn thấy và cảm nhận. Cách mặt trời chiếu lên mặt họ một lát rồi bóng râm kéo đến với làn cây lá rung rinh phía trên. Họ mô tả những chiếc lá kim đã héo rơi xuống họ, những giọt ẩm từ cơn mưa vừa qua đọng trên má họ, lũ côn trùng và lũ nhện bước qua mặt họ. Quá tuyệt vời. Bọn trẻ thấy mê ly. Và rồi tất nhiên đứa nào đứa nấy đều muốn được vùi mình. Thế là Eustace lần lượt vùi từng em nhỏ, biến mỗi em thành tầng thảm mục một chốc và mỉm cười khích lệ khi giọng các em, náo nức bởi những điều đang lĩnh hội được, ngập tràn không gian trong lành ẩm ướt.
“Nó thật sự sống!” bọn trẻ không ngừng kêu lên. “Nó thật sự sống!”
Bọn chúng khó mà tin nổi.
Chú thích:
[1] Brigham Young (1801-1877): nhà lãnh đạo của giáo hội Mặc Môn (Mormon). Ông đã đưa các tín đồ của giáo hội này tới thung lũng Salt Lake định cư, trở thành người sáng lập thành phố Salt Lake, kiêm thống đốc đầu tiên của vùng lãnh thổ Utah, sau này là bang Utah.
[2] Phalanx vốn là từ dùng để chỉ một kiểu đội hình chiến đấu vào thời Hy Lạp cổ đại, được Charles Fourier sử dụng với ý nghĩa có phần thay đổi. Từ đó có từ Phalanstery – dùng để chỉ chỗ ở của các tín đồ theo học thuyết Fourier.
[3] Phong trào của các nhà văn hóa nổi lên vào thập niên 1950 ở Mỹ. Một trong số những nhân vật tiêu biểu nhất thế hệ này là nhà văn Jack Kerouac (1922-1969), nổi tiếng với tác phẩm Trên đường (1957).
[4] Tác phẩm của Henry David Thoreau.
[5] Năm 1961, Gene Bernofsky và Clark Richert, hai sinh viên mỹ thuật Đại học Kansas đã phát triển một khái niệm nghệ thuật tên là Nghệ thuật Rơi. Họ thu hút nhiều bạn bè tham gia và đi biểu diễn ở nhiều nơi. Hình thức biểu diễn đầu tiên là trang trí sỏi rồi thả từ trên nóc nhà xuống đường để quan sát phản ứng của người qua lại. Năm 1965, các nghệ sĩ mua 7 mẫu đất ở Colorado, sáng lập ra Thành phố Rơi (Drop City).
[6] LSD là một loại thuốc gây ảo giác cực mạnh. Ken Kesey đã thành lập ra nhóm Merry Prankster (Người ưa đùa vui vẻ) và tổ chức chuyến vòng quanh nước Mỹ trên một chiếc xe buýt để quảng bá cho LSD năm 1964. Các hoạt động của họ có ảnh hưởng khá lớn tới xã hội đương thời.
[7] Geromino (1829-1909): một thầy thuốc, một thủ lĩnh vĩ đại của một nhánh thổ dân thuộc tộc người Apache. Nhánh thổ dân do ông cầm đầu đã dũng cảm chiến đấu bảo vệ người bản địa suốt nhiều năm.
[8] Một bộ phim truyền hình Mỹ phát sóng từ năm 1965-1971, nội dung là một đôi vợ chồng chuyển từ New York về sống trong một trang trại.