Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng

Lượt đọc: 1353 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương sáu

Những cuộc hẹn gặp công chúng chiếm hết thời gian của tôi... Tôi vô cùng hài lòng khi nghe nói đợt in đầu tiên cuốn sách của tôi đã bán sạch… Tôi mong được biết liệu các bạn có đại lý ở New Orleans và ở các thành phố ven sông Mississippi không, ở đó cuốn sách này sẽ bán chạy hơn những nơi khác... gửi cho tôi 10 cuốn nhé vì tôi cần chừng đó để phân phát cho bạn thân. Tôi cũng mong các bạn hiểu rằng Hon. Thos. Chilton[1] ở Kentucky được quyền hưởng một nửa của 62,5% toàn bộ lợi nhuận từ tác phẩm này như thỏa thuận giữa các bạn và tôi...

-Trích một lá thư công việc Davy Crockett gửi cho đơn vị xuất bản hồi ký của ông.

Tháng Năm năm 2000, tôi ngồi đối diện với Eustace Conway bên bàn làm việc trong văn phòng ngập nắng của anh. Giữa chúng tôi là chiếc hộp các tông lớn một thời từng đựng - nếu cái nhãn ban đầu của nó có thể tin được - Dầu nhờn bôi xích và lưỡi cưa hãng Stilh. Đây là chiếc hộp Eustace dùng cất giữ thông tin về tất cả mảnh đất của anh mà bây giờ đã lên tới hơn ngàn mẫu. Chiếc hộp chứa đầy những bì thư giấy xi măng được niêm phong, không theo thứ tự đặc biệt, “Mẫu giấy chứng nhận quyền sở hữu đất”, “Bản đồ Johnson”, “Hóa đơn thuế đất”, “Đất Cabell Gragg”, “Thông tin lộ giới”, “Quản lý rừng” và một bì thư đặc biệt dày có dán nhãn “Những người muốn mua đất và đất để bán”.

Mấy tháng trước, Eustace và tôi đã cùng nhau phi ngựa qua lớp tuyết khô lạnh dày ba mươi phân vòng quanh chu vi Đảo Rùa. Chặng phi kéo dài nhiều giờ, và đôi chỗ chúng tôi phải xuống ngựa để dắt ngựa mà trèo lên hoặc xuống những sườn đồi gần như dốc đứng, nhưng suốt cuộc hành trình Eustace không khi nào ngừng nói. Anh chỉ ra mỗi cái cây và hòn đá đánh dấu địa giới của mình và nói cho tôi biết hiện nay ai đang sở hữu mảnh đất bên kia địa giới, họ làm gì với mảnh đất ấy, và mức giá mà có thể một ngày nào đó anh sẽ sẵn lòng chi trả. Đã từng tận mục sở thị Đảo Rùa, giờ đây tôi muốn hiểu về nó trên bản đồ.

Thế là Eustace lôi một tấm bản đồ to đùng ra trải trước mặt, như thể anh là một tay cướp biển. Khu đất của anh được phác họa ra thành nhiều thửa lớn nhỏ liên thông nhau, và anh kể với tôi anh đã có được từng mảnh như thế nào trong những năm qua. Qua đó có thể thấy rõ chân dung một thiên tài. Eustace đã tập hợp khu đất ấy như một kiện tướng cờ vua. Đầu tiên anh mua 107 mẫu đất tạo thành thung lũng Đảo Rùa, và rồi, nhờ kiếm được tiền qua nhiều năm, anh dần dần mua hết đỉnh mọi ngọn đồi bao quanh thung lũng đó. Nói cho cùng các đỉnh đồi chính là những điền sản giá trị bậc nhất đối với các tay chủ thầu, bởi vì mọi người đều muốn có một ngôi nhà trên đỉnh núi. Thế nên, để giành được những đỉnh đồi này, Eustace đã làm cho những vùng đồi phía dưới chúng trở nên thật kém hấp dẫn đối với những kẻ đầu cơ chuyên đi săn lùng đất đai và bởi thế cũng trở nên rất khó bán được cho ai khác trước khi anh có đủ tiền mua nó.

“Tôi muốn mọi đỉnh núi xung quanh đất của mình”

Eustace nói “Tôi muốn được nhìn lên từ thung lũng của mình mà thấy không khí không hề ô nhiễm, không nhà cửa, không có sự xói mòn phá hủy khu rừng, và tôi không muốn phải nghe thấy một âm thanh nào ngoài âm thanh của thiên nhiên. Đỉnh của các rặng núi cũng hết sức quan trọng, bởi vì các rặng núi là nơi các tay chủ thầu xây đường sá, và một khi đường sá đã đâm xuyên qua một khu rừng thì coi như tiêu đời. Đường sá mang đến con người và con người mang đến sự hủy hoại, tôi cần phải ngăn chặn điều đó. Vậy nên tôi đã mua hết mọi đỉnh núi, nếu tôi không làm thế thì hẳn ngay lúc này đã có một con đường chạy qua đây, tôi có thể khẳng định với cô điều đó.

Ngay khi đã sở hữu được các đỉnh đồi, anh lấp đầy các khoảng trống giữa chúng, mua những triền dốc nối thung lũng của anh với các đỉnh núi bao quanh. Bằng cách này, anh bảo vệ được đường phân nước của mình. Thực sự thì việc anh đang làm là biến điền sản của mình từ một vùng lòng chảo thấp, bằng phẳng, nhỏ bé thành một vùng đất bao la hình chiếc tách - một thung lũng hoàn hảo - được núi non bao bọc từ mọi phía. Anh mua đứt 114 mẫu đất then chốt gọi là Đất Johnson. (“Dick Johnson sở hữu 40.000 mẫu đất cạnh chỗ tôi, và ông ấy rao bán nó. Dĩ nhiên, tôi không đủ tiền mua hết, nhưng tôi phải có bằng được một mảnh đất nhỏ ngay trên vành ngoài của Đảo Rùa, để giữ một tầng đệm giữa khu bảo tồn thiên nhiên của tôi với bất kể thứ gì những tay chủ thầu nào đó có thể làm ở phía bên kia” Đất Johnson cần mua khẩn cấp; Eustace phải kiếm được tiền mặt trong vòng hai ngày để có mảnh đất, và anh đã làm được.) Rồi anh mua một khoảnh đất nho nhỏ khác mà bởi hình dạng của nó nên anh gọi là Đuôi Cá Voi. (“Nó là một mảnh đất đẹp với khung cảnh dốc đứng, và tôi sẵn biết một ngày nào đó sẽ có người tới ngắm nhìn nó mà nghĩ quả là một nơi đắc địa để xây nhà, thế nên tôi phải giành được nó.”) Rồi anh mua mảnh đất nhỏ xíu đắt đỏ nhất của mình, chỉ rộng năm mẫu mà để có được anh đã phải trả với giá cắt cổ (“Tôi nhận ra rằng nếu mua nó tôi sẽ kiểm soát được lối vào khu đất mênh mông phía bên kia đất của mình, bởi vì thửa đất nhỏ xíu này là nơi duy nhất tôi có thể mở đường. Tôi không mua nổi khu đất rộng bát ngát kia nhưng tôi có đủ tiền để lặng lẽ mua khu rào chắn nho nhỏ này ở đây. Đây chẳng qua là phương tiện bảo an. Và biết đâu một này nào đó tôi có thể mua được hết cả phần còn lại mà không phải cạnh tranh gì nhiều.”)

Nhưng mảnh đất then chốt nhất của Đảo Rùa phải là lô 156,16 mẫu có tên gọi là Đất Cabell Gragg. Cabell Gragg là một ông chủ trại già quỷ quyệt người Appalachia, kẻ sở hữu thửa đất nhỏ ngay phía sau Đảo Rùa này. Đây là miếng cuối cùng Eustace cần để hoàn thiện đường phân nước mà nhờ đó cho thung lũng của anh trở nên bất khả xâm phạm. Ngay lần đầu thấy những cánh rừng rày, Eustace biết đây là nơi một ngày nào đó anh sẽ cất nhà. Nó không phải 156,16 mẫu đất đáng xiêu lòng nhất thế gian, nhưng nếu có ai khác sở hữu được nó, chặt hết cây cối, gây ô nhiễm, hoặc xây dựng công trình trên đó, Đảo Rùa sẽ bị đầu độc do nằm liền kề. Mảnh đất này cực kỳ quan trọng. Nó là gót chân Achilles của Eustace.

“Nếu không tóm được miếng Đất Cabell Gragg ấy, giấc mơ của tôi sẽ tan tành” Eustace nói. “Nếu ai đó khác mua điền sản ấy, tôi coi như xong. Tôi sẽ quay lại vào ngày hôm sau để bán tất tật đất đai của mình và biến khỏi toàn bộ mộng tưởng này, bởi vì nó tiêu đời rồi. Tôi sẽ phải bắt đầu lại tất cả ở một nơi khác. Vậy nên tôi cứ phải thế này, ngày nào cũng vậy suốt gần mười năm, hễ thức dậy là vắt óc nghĩ làm sao cho nơi đây đầy ắp thành quả - tạo dựng công trình rồi phát quang đồng cỏ rồi xây cầu - mà luôn luôn ý thức được rằng nếu mình không mua được Đất Cabell Gragg, mọi việc này sẽ đều là vô nghĩa.”

Từ 1987 đến 1997, Eustace cố hết sức để đặt tay lên 156,16 mẫu đất ấy. Không thể đọc mười trang liên tiếp nhật ký của anh trong suốt thập kỷ đó mà không thấy ít nhất một lần đề cập tới Đất Cabell Gragg. Eustace viết cho Cabell Gragg không biết bao nhiêu là thư, nhiều lần đưa ông ta đi dạo quanh Đảo Rùa, tặng quà cáp, và thậm chí, sau nhiều năm, còn tới thăm ông ta ở viện dưỡng lão để thương lượng các điều khoản. Hàng chục lần Eustace ngỡ đâu đã chắc ăn rồi, nhưng rồi ông già Cabell Gragg lại thoái lui hoặc tăng giá gấp đôi hoặc bảo ông ta vừa nhận được đề nghị béo bở hơn. Đến là điên lên được. Eustace thủ sẵn một chai sâm banh để uống mừng khi mua được mảnh đất này, và sau mười năm chai rượu đã tích lại (như anh diễn đạt theo cách đặc biệt điển hình Eustace) “một lớp bụi dày 15 milimét trên mặt”. Anh sẵn lòng thương lượng bất kỳ đề nghị điên rồ nào để có được mảnh đất ấy. Có lúc, khi Gragg tỏ ra thích một ngôi nhà kiến trúc Victoria tuyệt đẹp dưới Boone, Eustace đã sắp sửa mua nó để đổi với Cabell lấy mảnh đất, nhưng rồi thỏa thuận đó không thành.

Cuối cùng Eustace cũng giành được Đất Cabell Gragg quý báu của mình. Nhưng bằng cái giá cá nhân khủng khiếp và theo một cách cực kỳ nguy hiểm và liều lĩnh.

Anh đi đêm với ác quỷ để giành được nó.

Có một ngọn núi ngay cạnh những dãy núi nơi Eustace sống, và suốt rất nhiều năm nơi đó chỉ tịnh có rừng. Mười nghìn mẫu đất của ngọn núi này đứng sừng sững dựa mình vào đất cửa Eustace, và ngay từ lần đầu nhìn thấy Đảo Rùa anh đã mơ ước mua đứt nó để tăng điền sản của mình lên bội phần. Anh không biết mình sẽ làm việc đó bằng cách nào, nhưng anh có ý định quyết liệt phải tìm bằng được một cách. Mỗi lần lái xe từ Boone lên Đảo Rùa, anh đi qua một điểm ngắm cảnh đặc biệt nơi anh có thể dừng xe đứng lại một lúc nhìn qua hẻm núi đó và qua các thung lũng mà thấy một quang cảnh hoàn hảo cả đất đai của anh lẫn ngọn núi phủ kín cây cối hùng vĩ và đẹp đẽ ngay bên cạnh đó. Mỗi lần như thế anh lại nghĩ, một ngày nào đó… Bằng cách nào đó…

Và rồi, một chiều năm 1994, khi đang lái xe từ Boone về Đảo Rùa, anh nhìn thấy một chiếc Cadillac đỗ tại điểm ngắm cảnh yêu thích của mình. Bốn người đàn ông ăn vận sang trọng đang đứng ngoài xe, nhìn bằng ống nhòm qua hẻm núi đó về phía ngọn núi bao phủ rừng cây hùng vĩ và đẹp đẽ kia. Eustace thấy tim mình ngừng đập. Anh biết ngay rằng giấc mơ sở hữu ngọn núi ấy, tại thời điểm này, đã chính thức tan tành. Anh không biết mấy người đó là ai, nhưng anh biết quá chắc họ là cái gì, và anh cũng biết họ đến đây vì cái gì. Đó là bài học của Trở về Rừng Bóng Mát đang lặp lại. Chẳng có lý do chết giẫm nào mà những người đàn ông ăn vận sang trọng lại đi dán mắt vào ống nhòm săm soi kỹ lưỡng những cánh rừng trong cái nẻo xa xôi hẻo lánh này của Appalachia, trừ phi họ định mua gì đó. Eustace tạt xe tải vào ngay sau chiếc Cadillac và bước ra. Giật mình, những người ăn vận sang trọng quay lại. Họ hạ ống nhòm xuống và nhìn anh. Đứng chống nạnh, Eustace nhìn họ chằm chằm. Một người trong số đó mặt đỏ bừng lên đầy căng thẳng, một người khác húng hắng ho. Cứ như thể họ bị bắt quả tang đang ăn trộm hoặc đang làm tình.

“Tôi có thể giúp gì không, thưa các vị?” Eustace hỏi dữ dằn.

Nhưng quá muộn rồi; họ đã tự lo được rồi.

Hôm đó họ không nói với Eustace tiếng nào, nhưng sự thật hé lộ mấy tháng sau. Một anh chàng tên là David Kaplan đã tới thị trấn dò la mua sạch đất đai có bán trong vùng để xây một khu nghỉ mát sang trọng dành riêng cho giới nhà giàu tên là Thánh Sơn, nơi những tín đồ giàu có có thể tới thực hành thiền định hầu siêu việt chính mình trong cảnh xa hoa. Thiên Sơn sẽ cần đường sá, bãi đáp trực thăng, sân golf, sân tennis và rất nhiều đất để xây nhà.

David Kaplan thông minh, tham vọng, và dường như có tất cả tiền của trên thế gian. Lần lượt từng hécta một, anh ta giành được vùng đất anh ta cần. Trang trại cũ, khe núi bỏ hoang, những dòng sông trong lành, bao nhiêu đồng cỏ và thung lũng đầy đá tảng - anh ta mua tất. Người trong vùng có một chuyện tếu rằng các thỏa thuận đất đai của David Kaplan được thực hiện thế này: anh ta đỗ chiếc Jaguar tại một túp lều cũ xập xệ nào đó và nói ngay với cụ già miền núi hom hem nào đó đứng ở cửa, “Chào cụ. Tôi là David Kaplan. Tiền không thành vấn đề. Cụ khỏe chứ?”

thế đấy. Chuyện gì đến rồi cũng đến. Con gà quạ tha chính xác là thế. Eustace xua Thánh Sơn ra khỏi đầu càng xa càng tốt. Anh thậm chí còn pha trò về nơi đó. Khi cây cối đổ xuống và trung tâm thiền nguy nga mọc lên, Eustace bắt đầu gọi khu đất ấy là Chả-Mấy-Thánh Sơn, như khi người ta nói “Chẳng phải giờ nó chả còn thánh là mấy nữa hay sao?” Anh cũng tấu hài về những hàng xóm mới bằng cách làm trò nhại lại chính xác ông Rogers hay dẫn chương trình thiếu nhi, giọng lè nhè, với kiểu nói liến không lẫn vào đâu được, “Thánh Sơn là hàng xóm mới của chúng ta. Các em nói 'neigh-bor' được không nào? Thánh Sơn xây những con đường rất cứng trên môi trường của chúng ta. Các em nói 'hard-on[2]' được không nào?”

Tuy nhiên, anh tự nhủ, một trung tâm thiền định siêu việt hẳn không phải là tên hàng xóm kinh khủng nhất; rõ ràng nó vẫn tốt hơn hàng ngàn mẫu đất toàn nhà ở. Suy cho cùng, những người theo thuyết siêu việt sẽ tới Thánh Sơn để giao cảm với tự nhiên, và với kiến trúc Vệ Đà cùng lối sống chay tịnh, họ đang thành tâm tìm kiếm một mối quan hệ hòa hợp hơn với vũ trụ (dù cho họ đang xây những ngôi nhà rộng gần 400 mét vuông để ở trong đó tìm kiếm sự giao hòa kia). Vả chăng David Kaplan sẽ chỉ xây dựng trên mười phần trăm diện tích mảnh đất, dành chỗ rừng còn lại cho khai thác gỗ, săn bắn và làm đường. Và vì khu nghỉ mát trở thành nơi mọi người tới tìm kiếm thanh thản nên sẽ có một lợi ích đi kèm trong việc giữ cho khu vực lân cận nhiều cây cối và yên tĩnh, và điều đó cũng đáp ứng các quyền lợi của chính Eustace. Vậy nên sự xuất hiện của David Kaplan không phải là sự kiện có khả năng tệ hại nhất trong đời Eustace.

Thành ra anh nhìn nhận chuyện trên theo cách này: OK, thế là David Kaplan muốn tất cả đất đai trên thế giới. Ổn thôi; Eustace không thể trách cứ anh ta vì anh ta muốn vậy. Thay vào đó, điều Eustace phải tập trung vào là bảo vệ những gì anh đã có. Thế có nghĩa là xin mời David Kaplan mua sạch đất Bắc Carolma, ngoại trừ 156,16 mẫu Đất Cabell Gragg.

Nhưng khi ấy Cabell Gragg bắt đầu trở nên ranh mãnh. Khi Eustace tới thảo luận với ông ta về mảnh đất thì Cabell giờ đây nói, “À, anh biết đấy, những người thiền định siêu việt đó rất thích mua chỗ ấy.” Eustace không tưởng tượng nổi chuyện này là thật; mảnh đất đó chẳng có giá trị gì với bất kỳ ai ngoài anh. Nhưng rồi anh nhận thấy điều gì đang xảy ra. Khi Cabell Gragg quan sát hàng xóm của ông ta trở nên giàu sụ nhờ bán sạch những điền trang giá trị cho David Kaplan với chiếc Jaguar bóng loáng của anh ta, Cabell quyết định sẽ không bao giờ bán cho Eustace Conway, kẻ đi chiếc xe tải rệu rã đời 1974. Cabell muốn có niềm mãn nguyện được cảm thấy rằng ông cũng đang dự phần trong cuộc bùng nổ bất động sản này. Ông ta kiên trì đợi lời đề nghị của tay nhà giàu kia.

Bởi vậy, Eustace kêu gọi một cuộc gặp thượng đỉnh với David Kaplan. Thật ra thì chẳng phải vì David Kaplan và Eustace Conway thực sự mến mộ nhau. Họ là những đối thủ trực tiếp - sơn nhân thế hệ mới gặp chủ thầu đất thế hệ mới - và họ có lẽ là hai thanh niên sắc sảo nhất trong hạt này. Họ vốn có một số bất đồng không vui nho nhỏ. David Kaplan đã xây cho mình một ngôi nhà tuyệt đẹp trên Thánh Sơn, bậc thềm nhà anh ta chỉ cách địa giới của Eustace hơn một mét. Eustace cho rằng làm thế là hết sức thô lỗ, và anh đã nói ra như vậy. Thêm nữa, một chiếc trực thăng của Thánh Sơn Resort cứ liên tục bay rù rù sát trên khu bảo tồn thiên nhiên của Eustace, ngày này qua ngày khác, khuấy động luồng gió và tiếng ồn. Trời ơi, sao mà Eustace ghét cay ghét đắng cái thứ ấy! Làm sao có thể giữ được vẻ tôn nghiêm của Đảo Rùa với một chiếc trực thăng bay là là trên đầu? Nhưng bất chấp bao nhiêu cuộc điện thoại đầy phẫn nộ của Eustace, chuyện đó không hề dừng. Cuối cùng anh bực quá đến nỗi một hôm anh cầm súng săn đuổi theo chiếc trực thăng, đưa mặt tên phi công trong tầm ngắm, hét lên, “Cút xéo khỏi không gian của tao ngay!”

David Kaplan cho rằng như thế là hết sức thô lỗ.

Thế nên, với Eustace mà nói, yêu cầu một ân huệ từ David Kaplan quả thật là cả một sự kiện. Đâu chỉ là ân huệ; đó là lời cầu xin giúp đỡ. Eustace, nhận ra rằng mình không còn cách nào khác, đành phải lăn mình tới chìa cổ ra cho kình địch. Anh nói cho David Kaplan nghe mọi điều về Đất Cabell Gragg. Anh nói với anh ta diện tích chỗ đó chính xác là bao nhiêu mẫu, giá của nó là bao nhiêu, anh đã muốn có nó bao năm rồi, tại sao anh cần nó và anh sẽ làm gì nếu có nó. Xin nhớ, anh đưa ra những thông tin này cho một người luôn công khai nỗ lực giành lấy từng li đất anh ta có thể thôn tính. Rồi Eustace đề nghị David Kaplan làm ơn mua Đất Cabell Gragg. Sau đó, Eustace sẽ mua lại miếng đất đó từ David Kaplan. Cabell sẽ có sự mãn nguyện vì đã bán được cho một chủ thầu giàu có; Eustace sẽ có mảnh đất anh cần để gìn giữ giấc mơ; còn David Kaplan sẽ có...? À, David Kaplan hoàn toàn chẳng được gì trong thương vụ này, nhưng chắc chắn anh ta thật tốt bụng nếu anh ta làm vậy.

David Kaplan đồng ý. Hai chàng trai không ký giấy tờ gì; họ bắt tay coi như thỏa thuận. “Nếu anh gạt tôi,” Eustace giải thích một cách lịch sự, “tôi tiêu.” Và anh bỏ đi, biết rằng cuộc đời mình nằm trong tay đối thủ lớn nhất của mình. Đó là một màn đu bay. Đó là trò cò quay Nga. Chẳng khác gì dốc sạch túi vào một đôi quân hai. Nhưng chỉ có hoặc sự liều lĩnh này, hoặc không một cơ hội nào. Dẫu sao, anh nghĩ trong bụng rằng David Kaplan mà người đàng hoàng. Không chỉ đàng hoàng, mà chắc chắn còn đủ thông minh để biết tốt hơn là chẳng nên gây thù truyền kiếp với một gã như Eustace Conway.

Cuối cùng, canh bạc thành công. David đưa ra đề nghị với Cabell Gragg - cùng giá đề nghị Eustace đã đưa ra mấy năm qua - và Cabell mắc câu. David Kaplan mua mảnh đất trọng yếu đó và hai ngày sau quay sang bán cho Eustace với lòng kính trọng tuyệt đối.

Đế chế của Eustace giờ đây đã an toàn.

Cứ cho là Eustace Conway có thể không cập nhật thời sự cho lắm. Có thể anh không đọc báo hay nghe đài, và thật tình thì có lần vào năm 1995, khi một cậu học trò hỏi anh có biết Bill Clinton là ai không, anh đã trả lời, “Anh nghĩ Bill Clinton là một nhân vật chính trị, nhưng anh không chắc lắm.” Vậy là anh không cập nhật thông tin mới nhất, nhưng điều đó không có nghĩa anh không phải là một doanh nhân giỏi giang như những gã ăn vận sang trọng đặt mua báo The Economist dài hạn. Eustace là một người điều hành - trong nghĩa đầy đủ nhất của từ đó - lanh lợi, sắc sảo, và có cả khả năng tàn nhẫn.

Tuy nhiên, khía cạnh kinh doanh này là một khía cạnh trong Eustace mà mọi người thường không thấy, sẽ không thấy được trừ khi tình cờ họ lại là người chịu trách nhiệm lập bản đồ thuế trong Tòa Thị chính của thành phố Boone thuộc Bắc Carolina. Người ta không thấy mặt khôn ngoan tính toán thiệt hơn đó của Eustace Conway vì anh không nói về nó nhiều như nói về chuyện lắng nghe tiếng mưa rơi tí tách hay cách nhóm lửa mà không có diêm. Chậc, thiên hạ đâu có trả tiền để anh nói chuyện kinh doanh. Nhưng đó không phải lý do duy nhất mọi người không để ý đến nó. Người ta không thấy khía cạnh giao dịch rất rắn tay của Eustace chủ yếu là bởi vì họ không muốn thấy nó. Bởi vì họ sợ rằng nếu soi quá tỉ mỉ vào mặt đó của con người anh, nó có thể làm hỏng mất hình ảnh đẹp của bộ đồ da hoẵng, cái lều vải, phát bắn duy nhất với khẩu súng nòng dài kiểu cổ, chiếc bát gỗ tự đẽo gọt, và nụ cười rộng mở thanh bình. Đó là hình ảnh họ cần ngày hôm nay, là hình ảnh họ vẫn luôn luôn cần.

“Phóng khoáng trong phong cách và tự do như ngọn gió,” như nhà văn Anh Isabel Lucy Bird miêu tả người đàn ông miền Tây nước Mỹ của thế kỷ mười chín.

“Chàng trai hoang dã vô thần nguyên thủy của em,” như Valarie Spratlin vẫn gọi, vào thuở ban đầu cô biết yêu Eustace.

Đó là điều chúng ta ai cũng thầm nghĩ, thuở ban đầu ta yêu mến Eustace. Ít ra là những ai trong chúng ta yêu mến anh. Mà số người như chúng ta thì nhiều vô kể.

Tôi hiểu cảm giác đó. Tôi cũng có cái khoảnh khắc thầm nghĩ đây là người đàn ông đích thực đầu tiên mình từng thấy, kiểu người mà thời hai mươi hai tuổi tôi đã lặn lội tới Wyoming để tìm kiếm (đúng hơn là để trở thành) - một tâm hồn thuần khiết không bị vấy bẩn bụi bặm thời hiện đại. Điều khiến cho khi mới gặp ta có cảm giác Eustace giống như thành viên cuối cùng của một giống loài cao quý nào đó là ở chỗ, chẳng có gì là “thực” trong hiện hữu của anh. Đây là người đàn ông sống cái cuộc sống mà, đối với phần còn lại của đất nước này, về căn bản đã trở thành một ẩn dụ đúng với nghĩa của từ.

Hãy nghĩ đến chuyện mỗi năm người ta có thể tìm thấy rất nhiều bài báo trong tờ Wall Street Journal miêu tả một chủ doanh nghiệp hay doanh nhân nào đó là “người khai khẩn tiên phong” hay “kẻ bất kham” hay “tay cao bồi”. Hãy nghĩ xem đã bao nhiêu lần những người đàn ông hiện đại đầy tham vọng này được mô tả là “đóng cọc tuyên bố chủ quyền” hay liều lĩnh dấn sâu “quá vùng biên” hay thậm chí “phóng vào hoàng hôn”. Chúng ta vẫn sử dụng từ vựng thế kỷ mười chín này để miêu tả những công dân dám nghĩ dám làm nhất của chúng ta, nhưng giờ đây đó chỉ còn là lối nói được thừa nhận chung, bởi vì những con người này thực tình không phải là người khai khẩn tiên phong; họ là những lập trình viên tài giỏi, nhà nghiên cứu nguồn gốc phát sinh sinh vật, chính trị gia hoặc những tay có thế lực của ngành truyền thông được dư luận săn đón trong một nền kinh tế hiện đại phát triển vũ bão.

Nhưng khi Eustace Conway nói về đóng cọc tuyên bố chủ quyền thì chàng trai này đúng nghĩa là đóng cọc tuyên bố chủ quyền. Những từ ngữ về biên giới khác mà tất cả chúng ta dùng như ẩn dụ thì Eustace dùng theo đúng nghĩa đen. Anh thật sự ngồi thẳng trên mình ngựa; anh thật sự luôn giữ thuốc súng khô; anh thật sự chi đất làm nhà cửa vườn tược. Khi anh nói về chuyện ghìm cương ngựa hay xua chó hay sửa hàng rào, ta có thể tin chắc ở đây có ngựa thật, chó thật và hàng rào thật. Và khi anh nói dự định đi giết, không phải anh đang nói về việc thôn tính một công ty đối đầu nào đấy; anh đang nói chuyện thật sự bắn giết một cái gì đó.

Tôi nhớ một lần khi tôi ở Đảo Rùa để giúp Eustace làm nghề rèn. Xưởng rèn nhỏ của Eustace lúc nào cũng hoạt động. Anh là một tay thợ rèn thành thạo theo phương thức nông trang kiểu cũ, nghĩa là anh không chế tác đồ chạm trổ sắt nguyên chất; anh chỉ sửa chữa nông cụ và đóng móng ngựa. Ngày hôm ấy, Eustace đang nung nóng que sắt để sửa lại một chỗ bị hỏng trên chiếc máy gặt cổ lỗ. Cùng lúc đó anh đang đặt một số đồ sắt nung trong lò và, sao nhãng vì cố gắng dạy tôi những điểm cơ bản của nghề rèn, anh đã để cho vài món trong số ấy quá nóng, tới mức nhiệt làm tổn hại đến độ cứng của kim loại. Thấy thế anh la lên, 'Trời ạ! Tôi để nhiều đồ sắt trong lửa quá[3].”

Đây là lần đầu tiên tôi từng nghe thấy câu này được dùng trong đúng văn cảnh của nó. Tuy nhiên đó chính là kiểu mãn nguyện khi ở bên Eustace; mọi thứ đột nhiên dường như đều ở trong đúng văn cảnh của nó. Anh hiện thực hóa một khái niệm về bản sắc vùng biên vốn từ lâu đã vượt quá sức hiểu hầu hết thanh niên thuộc thế hệ anh, hầu hết trong đó chỉ còn thừa hưởng được mỗi vốn từ vựng, không hơn. Và ngôn ngữ vùng biên còn tồn tại lâu hơn vùng biên thực sự của chúng ta, bởi vì chúng ta đã xây dựng bản sắc nam nhi kiểu Mỹ của mình dựa trên cái thời kỳ ngắn ngủi ấy, thời kỳ thám hiểm, thời kỳ tự chủ đầy lãng mạn, thời kỳ tiến dần về phía Tây lập đất định cư.

Chúng ta bấu víu lấy bản sắc đó, rất lâu sau khi nó chẳng còn chút tương thích với thực tế nào, bởi vì chúng ta vô cùng yêu thích ý tưởng ấy. Tôi tin đó là lý do tại sao rất nhiều đàn ông ở nước này mang một ý niệm mà nay chỉ còn là cặn lắng qua thời gian, ý niệm tự xem mình là kẻ khai khẩn tiên phong.

Tôi đặc biệt nghĩ chú Terry của tôi, chú sinh ra trên một nông trang ở Minnesota và được con cháu của những người đi khai hoang nước Mỹ nuôi dạy. Terry, một cậu bé thông minh và nhạy cảm sinh vào thời kỳ bùng nổ dân số sau Thế chiến Thứ hai, không thể dễ dàng từ bỏ trang ấp đó. Về sau chú đến miền Đông, bắt đầu sự nghiệp lánh doanh, và đến giờ công việc hằng ngày của chú là làm chuyên gia vi tính. Mấy năm trước chú Terry mê trò chơi điện tử tên là Đường mòn Oregon. Ý tưởng của trò chơi là bạn, người chơi, là một người Mỹ đi khai hoang vào thế kỷ mười chín, cùng gia đình thẳng tiến về miền Tây trên xe ngựa. Để chiến thắng trong trò chơi, bạn phải tới được Thái Bình Dương, sống sót qua vô vàn gian khó ảo, bao gồm bệnh tật, bão tuyết bất thình lình, bị thổ dân tấn công, và đói khát khi vượt qua đèo hiểm trở. Càng chuẩn bị tốt - theo nghĩa là mang theo đồ dự trữ hợp lý và chọn được tuyến đường an toàn nhất - cơ hội sống sót của bạn càng cao.

Chú Terry thích trò chơi này lắm, chú thường ngồi nhiều giờ trước máy tính, nỗ lực ảo để đi về miền Tây, hăng hái không kém gì ông bà của chú nỗ lực thật để đi về cùng hướng đó một thế kỷ trước. Nhưng có một điều khiến chú Terry thất vọng về trò chơi này: chương trình máy tính không cho chú tùy cơ ứng biến khi đối mặt thảm họa. Chú bỗng nhiên nhận được một thông điệp trên màn hình cho biết rằng trục xe ngựa của chú đã hỏng và chú sắp tiêu đời vì không thể đi tiếp. Máy tính đã thông báo người đi khai hoang ảo này thua cuộc. Trò chơi kết thúc. Chú Terry đứng dậy khỏi bàn đi tới tủ lạnh, lầm bầm nguyền rủa bực bội. Chú lấy cho mình một lon bia nữa và chê bai những tay sáng chế trò chơi, bực bội đến tức cười.

“Nếu chú thực sự ở ngoài đó trên Đường mòn Oregon, chú biết chú có thể giải quyết ngon lành chuyện này!” chú nói, “chú có thể tìm ra cách để sửa một cái trục xe chết tiệt. Chú đâu có đần! Chú sẽ chặt cành cây, lắp thứ gì đó vào!”

Có lẽ chú làm được thật. Không chỉ vì chú Terry lớn lên ở một nông trại mà còn bởi trong những năm tháng tuổi trẻ đầy lý tưởng chú đã đi khám phá khắp những vùng hoang dã nước Mỹ để tìm kiếm kiểu độc lập của riêng mình. Đối diện với các thử thách của Đường mòn Oregon, chú Terry có lẽ sẽ sống sót. Tuy nhiên chú không ở ngoài đó suốt ngày dài để chứng tỏ điều này. Nhưng Eustace Cornway thì có. Eustace thực sự đưa gia súc đi từ Đông sang Tây lục địa này, thực sự chịu đựng mọi gian khó, thực sự nghĩ được ra cách lắp thứ gì đó vào khi cái trục xe bị gãy.

Vấn đề trở nên tế nhị khi chúng ta quyết định mình muốn Eustace Conway phải như thế nào, để đáp ứng được những ý niệm của chúng ta về anh, và rồi phớt lờ những gì không khớp với hình ảnh lãng mạn như ấn tượng ban đầu của chúng ta. Phản ứng ban đầu của tôi khi chứng kiến cuộc đời của Eustace Conway là thấy nhẹ lòng. Khi lần đầu tiên nghe về cuộc đời và những cuộc phiêu lưu của anh, tất cả những gì tôi có thể nghĩ là Ơn Trời. Ơn Trời là ở nước Mỹ vẫn còn có người còn sống theo cách này. Ơn Trời, ít nhất còn có một sơn nhân đích thực, người đàn ông đích thực của vùng biên, người khai khẩn tiên phong đích thực, kẻ bất kham đích thực ngoài kia. Ơn Trời còn có một tâm hồn hoang dã độc lập và thực sự tháo vát sót lại trên đất nước này. Bởi vì, ở một mức độ cảm xúc sâu sắc, kiểu tồn tại của Eustace cho tôi thấy rằng bằng cách nào đó, đối ngược lại tất cả những biểu hiện dễ thấy khác, người Mỹ chúng ta vẫn thực sự là một dân tộc mà con người phát triển tự do, phóng khoáng, mạnh mẽ, dũng cảm và ngoan cường, chứ không lười biếng, béo phì, tẻ nhạt và không mục đích.

Hoặc đó là cảm nhận của tôi khi gặp Eustace lần đầu, và đó là phản ứng mà tôi chứng kiến ở hàng chục người khi họ gặp Eustace lần đầu. Phản ứng đầu tiên của rất nhiều người Mỹ, đặc biệt là đàn ông, khi họ thoáng thấy cuộc đời của Eustace Conway là: “Tôi muốn làm điều anh đang làm.” Thực ra thì, khi xem xét cẩn thận hơn, có lẽ họ không muốn thế. Mặc dù cảm thấy hơi xấu hổ vì sự dễ dàng và tiện dụng của đời sống hiện đại, nhiều khả năng là họ chưa sẵn sàng để từ bỏ tất cả những thứ đó. Không vội thế được, bạn ạ…

Đa phần người Mỹ chắc hẳn không muốn sống tự cấp tự túc theo nghĩa là thiếu tiện nghi thực sự, nhưng họ vẫn xúc động trước lời đoan chắc liên tục của Eustace rằng “Bạn có thể!” Bởi vì đó là điều hầu hết chúng ta ai cũng muốn nghe. Chúng ta không muốn ở ngoài kia giữa cơn bão tuyết trên Đường mòn Oregon, chữa cái trục gãy của chiếc xe ngựa có mái che; chúng ta muốn cảm thấy như ta có thể làm được việc đó nếu chúng ta phải làm. Và Eustace sống như anh đang sống là để cho chúng ta cái bằng chứng đầy an ủi đó.

“Bạn có thể!” anh không ngừng nói với chúng ta như vậy.

Và chúng ta không ngừng tin ở anh, bởi vì anh đã làm được!

Anh là cái tôi hoang đường bên trong chúng ta, bằng xương bằng thịt, đó là lý do tại sao có cảm giác thật khuây khỏa khi được gặp anh. Giống y như được nhìn thấy một cánh chim đại bàng đầu tr. (Chúng ta nghĩ, một khi còn một người tồn tại thì rốt cuộc có lẽ mọi chuyện không đến nỗi quá tệ.) Tất nhiên, trở thành hiện thân cho ước vọng hoang đường của toàn thể xã hội quả là việc lớn đối với một người, nhưng Eustace vẫn luôn đủ sức cho nó. Và mọi người cũng cảm nhận được điều đó ở anh; họ cảm nhận được niềm tự tin của anh rằng mình đủ lớn để làm một ẩn dụ sống, đủ mạnh để mang trên lưng mình mọi khao khát của chúng ta. Thế nên quả là an toàn khi tôn thờ anh, điều này là một trải nghiệm hết sức thú vị cái thời đại non nớt, vỡ mộng này khi mà thật thiếu an toàn khi tôn thờ bất kỳ ai. Và mọi người tỏ ra hơi mờ mắt trước niềm phấn khích này, hơi thiếu lý tính. Tôi biết, bởi vì tôi đã từng như thế.

Một trong những trò tiêu khiển yêu thích của tôi là tìm đọc lại các đoạn trong nhật ký của mình viết về lần Eustace và Judson Conway tới thăm tôi ở thành phố New York. Tôi đặc biệt thích chỗ kể về lần đầu trông thấy Eustace và miêu tả anh là “người anh trai quyến rũ, hoang dã, và hoàn toàn ngây thơ của Judson.”

Quyến rũ? Chắc chắn rồi.

Hoang dã? Quá đúng.

Ngây thơ? Nghĩ lại đi, cô em.

Không có một tí ngây thơ nào ở chàng trai này, và chẳng ở đâu điều đó sáng tỏ hơn là trong những thương lượng đất đai của anh. Những người lên núi để xem Eustace Conway và đất đai của anh hiếm khi tự hỏi đất ấy từ đâu ra. Đảo Rùa phù hợp với Eustace tới mức người ta tin nó sinh ra từ anh hoặc anh sinh ra từ nó. Cũng như mọi thứ Eustace trình bày trước công chúng, đất đai của anh dường như chẳng dính dáng gì tới những quy trình đầy bẩn thỉu của xã hội hiện đại suy đồi của chúng ta. Trái với mọi suy lý, người ta thấy Đảo Rùa là một mảnh nhỏ xíu cuối cùng của vùng biên nước Mỹ. Và Eustace tất nhiên không thể làm bất kỳ việc gì thô thiển kiểu như tậu miếng đất; hẳn là anh đã cứ thế tuyên bố chủ quyền đối với nó thôi.

Chúng ta có thể thấy Eustace qua cái nhìn của Domingo Faustino Sarmiento, nhà trí thức thế kỷ mười chín người Argentina từng tới thăm nước Mỹ đủ lâu để thấy cách “người nông dân tự chủ này tìm đất đai màu mỡ, một địa điểm ngoạn mục, nơi nào đó cạnh một dòng sâu bè có thể qua lại; và khi anh ta đã quyết định, y như vào thời đại sơ khai nhất trong lịch sử nhân loại, anh ta tuyên bố, 'Chỗ này là của tôi!' và chẳng tốn thêm chút sức nào để trở thành chủ sở hữu của miếng đất nhân danh hai vì Chúa tể Thế gian: Lao động và Thiện ý.” Chúng ta yêu ý tưởng này đến mức nghĩ bất cứ điều gì khác đi về Eustace hay về cách anh giữ lãnh địa của mình cũng sẽ làm hỏng mất trong chúng ta hình tượng hoành tráng và khiến ta an lòng về anh như là Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng. Nhưng câu chuyện của Eustace Conway là câu chuyện về nam tính Mỹ. Linh lợi, giàu tham vọng, đầy nghị lực, xốc vác, rộng mở - anh đứng ở cuối một dòng dõi bao đời đầy vinh quang những người như thế.

Không có gì lỗi thời trong cách làm việc khôn ngoan của anh. Chúng ta muốn Eustace là Davy Fuckin' Crockett chăng? À, tốt thôi. Chính xác thì chúng ta nghĩ Davy Crockett là ai? Ông là dân biểu, chính thế. Ông xuất thân từ vùng núi rừng hẻo lánh, chắc chắn rồi, và ông là tay thợ săn thiên tài đã dùng dao giết gấu (mặc dù có lẽ không phải hồi ông mới chập chững biết đi), nhưng ông cũng cực kỳ mánh khóe và ông biết cách khai thác cái chi tiết đầy sức thu hút là xuất thân từ rừng hoang ấy để phục vụ lợi ích chính trị của bản thân. Trong một cuộc tranh luận với đối thủ chính trị thuộc dòng dõi quý tộc, tay đối thủ đã hỏi vị sơn nhân Tennessee này liệu ông có đồng ý rằng nên có một thay đổi triệt để “trong bộ máy tư pháp tại phiên họp sắp tới của cơ quan lập pháp” hay không. Crockett (mặc bộ đồ da hoẵng thô) chinh phục đám dân địa phương bằng cách dài giọng đầy vẻ ngây thơ nói rằng ông chẳng hề biết có tồn tại thứ gì như cái gọi là “bộ máy tư pháp”. Nói vậy nghe thật quyến rũ và thú vị, rõ là thế, tuy nhiên hẳn là chẳng thật, bởi vì Crockett đã làm việc trong cơ quan lập pháp nhiều năm rồi - làm thẩm phán hòa giải, quan tòa, ủy viên hội đồng thành phố, và lúc này là thành viên của cơ quan lập pháp bang.

Crockett là một người tự quảng cáo tiến thân tài giỏi, người ta luôn có thể kỳ vọng ông đưa ra cho phóng viên một phát biểu dí dỏm của người miền núi hay một câu khoác lác đầy kịch tính về cuộc đương đầu với “con ma mút” hoang dại và nguy hiểm nào đó. Ông đủ khôn khéo để cẩn thận chọn thời điểm phát hành cuốn hồi ký đầy khoa trương Cuộc đời và những chuyến phiêu lưu của Đại tá David Crockett miền Tây Tennessee cho trùng với thời gian diễn ra chiến dịch ứng cử Quốc hội năm 1833 của mình. “Thành phố là một nơi mới khốn khổ làm sao,” Crockett than van. Thế nhưng sau đó ông tới sống ở Washington D.C., nơi ông sẵn lòng bắt tay thân ái với những địch thủ thuộc đảng Whig Đông Bắc để thấy rằng, thật thích đáng, dự luật đất đai yêu quý của ông đã được thông qua.

Thực ra, dĩ các chàng trai rừng núi người Mỹ trứ danh này thảy đều trở thành chàng trai rừng núi người Mỹ trứ danh được là nhờ vào trí thông minh, tham vọng và sự tự thể hiện được trau chuốt chu đáo. Daniel Boone, kiểu mẫu của người đàn ông vùng biên phóng khoáng tự do, là một tay đầu cơ bất động sản (nói đúng hơn là một chủ thầu) hàng đầu. Ông thành lập thành phố Kentucky thuộc Boonesborough rồi sau đó đệ hơn hai mươi chín đơn xin chủ quyền hợp pháp đối với đất đai, cuối cùng sở hữu tới hàng ngàn mẫu đất. Ông dính vào kiện tụng về tranh chấp địa giới, trong đó có một vụ rất kinh khủng trong đó ông phải tranh đấu với cả hệ thống tòa án thuộc địa trong suốt hơn hai mươi ba năm. (Thậm chí vào thế kỷ mười tám, thậm chí với Daniel Boone, quy trình nhận quyền sở hữu đất đai vẫn phức tạp quan liêu hơn nhiều so với câu tuyên bố “Đất này là của tôi!”. Boone hiểu chuyện đời. Như ông có viết cho một người định cư anh em, “Không nghi ngờ gì rằng anh rất mong mỏi thương vụ đất đai của anh xong xuôi, nhưng đó là một việc bất khả nếu không có tiền.”) Hóa ra rất nhiều khoảnh khắc hào hùng trong lịch sử nước Mỹ sẽ không thể xảy ra nếu không có tiền. Lý do Daniel Boone trở nên nổi tiếng là vì ông tiến hành thỏa thuận trao đổi với một giáo viên ở Pennsylvania tên là John Filson, gia đình Filson cũng sở hữu rất nhiều đất ở Kentucky và ông ta đang tìm cách quảng bá về bang này và nhờ đó làm tăng giá trị đất đai của mình. Rốt cuộc Filson viết một cuốn sách ly kỳ, Những cuộc phiêu lưu của Đại tá Daniel Boone. Cuốn sách này bán rất chạy và, đúng như tính toán, những người định cư náo nức đi xuống Kentucky mua hết chỗ đất Boone-Filson tuyệt vời đó. Về phần Boone, đó là một dự án khôn ngoan và mang lại rất nhiều lợi nhuận, và nó cũng khiến ông trở thành một thần tượng lúc sinh thời.

Cả Boone lẫn Crockett đều là những doanh nhân sắc sảo hơn nhiều so với ta hẳn sẽ đoán khi xem các chương trình truyền hình về họ trong thập niên 1950. (“Người đàn ông ưu tú nhất, thành công nhất, năng động nhất vùng biên mà người ta từng biết!”) Và họ không chỉ là những người khôn ngoan duy nhất. Có hàng tá tiểu thuyết phiêu lưu viết về Kit Carson được xuất bản ở thành phố New York khi ông còn sống (ví dụ như: Kit Carson: Hiệp sĩ của dân da đỏ; Kit Carson: Ông hoàng của dân tìm vàng). Và ông chủ cũ của Carson, nhà thám hiểm John Frémont, đủ thông minh để thêm thắt dăm nét lãng mạn vào các báo cáo về cuộc thám hiểm mà ông được Quốc hội giao phó viết, khiến chúng thành tác phẩm bán chạy nhất nước. Ngay cả Lewis và Clark cũng biết cách làm cao giá. Khi từ cuộc thám hiểm nổi tiếng trở về, họ ăn mặc sao cho thật bắt mắt thật phong trần khi đi tàu ngược sông vào thành phố St. Louis để được cả ngàn người dân reo hò và một số không nhỏ phóng viên báo chí chào đón, trong đó có một phóng viên viết với lòng ngưỡng mộ, “Họ quả thực có dáng vẻ của Robinson Crusoe, mặc toàn đồ da hoẵng.”

Thế nên khi Eustace Conway dấn thân vào “một thương vụ nhỏ khôn ngoan” hay khi anh đổi đất lấy đất hay khi anh viết trong nhật ký, “Tôi vừa gom một gói lớn các bài báo mới để đưa ra công chúng; có lẽ có 35 bài báo chính thực hiện về tôi trong những năm qua - đây sẽ là một tập hợp ấn tượng để tôi tự quảng bá mình” hay khi anh khai thác khía cạnh bản tính người rừng của mình để có được khán giả, anh hoàn toàn không phản bội các bậc tiền nhân trên vùng biên nước Mỹ; anh làm vinh danh họ. Họ hẳn sẽ công nhận ngay anh có thể làm những gì, và họ sẽ ngưỡng mộ điều ấy, bởi vì tiến hành kiểu chiến dịch khôn ngoan đó luôn là cơ sở dẫn đến thành công trên lục địa này.

“Làm việc bảy ngày mỗi tuần, suốt ngày suốt đêm không nghỉ cả một năm trời nay,” Eustace viết trong nhật ký sau khi Đảo Rùa mở cửa vài năm. “Tôi nghĩ mình là một hình mẫu tốt về nỗ lực cho một mục tiêu cao, không phải dựa trên những thành quả trước mắt mà dựa trên tầm nhìn về tương lai, toàn bộ điều này là một phần nền giáo dục triết lý và xã hội mà tôi thụ hưởng hồi còn nhỏ. Ông ngoại tôi đã nêu gương trên nhiều phương diện thông qua Trại Sequoyah. Ngay lúc này đây, một con cú mèo kêu, gọi tôi nhớ đến ông như sức nóng từ ngọn lửa sưởi ấm bên tôi.”

Anh không còn nợ tiền bố nữa (“và cái ngày giải thoát được gánh nặng này quả thật là một ngày hạnh phúc”), song thách thức khác trước mắt anh thì vẫn tới không ngừng. Đó là nỗ lực tổ chức để mùa hè nào Trại Thiếu nam và Trại Thiếu nữ cũng hoạt động. Và có những chuyện cần phải xử lý với chính bọn trẻ. Một em bị đứt tay do đá sắc và cần được khâu lại; em khác ngộ độc thường xuân dại; em khác bị bắt quả tang đang hút cần sa và buộc phải trở về nhà vì Eustace vĩnh viễn không bao giờ dung thứ ai dùng ma túy.

Đó là còn chưa kể những vấn đề về nhân sự. Vì tiêu chuẩn của cá nhân anh về sự hoàn hảo là như vậy, Eustace sớm nhận ra rằng tìm được những nhân viên kiên định mà anh có thể tin cậy quả là nhiệm vụ khó khăn. Có một thời gian các em trai anh, Judson và Walton, làm nhân viên tư vấn cho Eustace. Hai người rất tuyệt, nhưng ai cũng đều có cuộc sống riêng nên không thể trông mong họ dạy tại Đảo Rùa mãi mãi. Walton đã tốt nghiệp cao đẳng và đang dự định sang châu Âu sống vài năm. Judson vốn đang khao khát được đến ở miền Tây trong các mùa hè và sẽ sớm khởi hành những chuyến phiêu lưu của riêng mình, rong ruổi trên toa chở hàng và đi nhờ xe. (“Mới rồi em khoác ba lô trên vai đi bộ trên dãy núi Wind River ở Wyoming,” Judson viết cho Eustace trong một tấm bưu thiếp với lời văn bay bổng đặc trưng. “Em đã chiến đấu với một trận bão tuyết đầu mùa trong suốt mười lăm dặm, cao hơn vành đai cây cối 350 mét. Suýt chút nữa thì em mất mạng. Thú vị vô cùng. Em hy vọng trại vẫn đang hoạt động tốt. À mà, giờ em đã là chàng cao bồi đích thực rồi.”)

Ngoài các em trai ra, Eustace thấy cực kỳ khó tìm được những người có thể làm việc cật lực bằng (hoặc gần bằng) anh mà vẫn dành cho anh niềm kính trọng mà anh nghĩ mình xứng đáng. Vốn là người thường nói mình thấy cái ý tưởng mỗi ngày chỉ làm việc tám tiếng quả là “đáng tởm”, Eustace hiếm khi hài lòng với nỗ lực của nhân viên. Họ tới Đảo Rùa “kính sợ, kinh ngạc, và phải lòng mảnh đất này” (như một nhân viên cũ từng viết) nhưng rồi dường như choáng váng thấy mình phải làm việc quá cật lực. Hết lần này đến lần khác, anh đánh mất đội của mình, có khi do họ bỏ đi, cũng có khi do anh sa thải.

Anh ước gì bỗng nhiên mình có thể có nhóm nhân viên đáng tin cậy mà ông ngoại anh đã cộng tác tại Trại Sequoyah vào thập niên 1930, thay vì những thanh niên hiện đại nóng nảy bộp chộp này với tất cả cảm xúc và nhu cầu của họ. Ông ngoại anh đã đòi hỏi sự trong sạch và sự hoàn hảo, và nói chung ông đạt được những thứ đó. Chỉ cần Tư lệnh nghe bàn tán có người thấy một nhân viên tư vấn đang hút thuốc dưới phố vào ngày nghỉ, thế là khi trở lại trại viên tư vấn đó sẽ thấy túi đồ của mình đã được ai đó đóng sẵn rồi. Tư lệnh không bao giờ bận tâm liệu mình có xúc phạm cảm xúc của người khác hay bị trách cứ là “bất công” hay không. Ông có quyền lực tối cao, đó cũng là tất cả những gì Eustace đòi hỏi. Điều ấy, cộng với một sự cam kết của mọi người cố làm việc chăm chỉ như anh. Đó là một đòi hỏi quá cao.

Tôi từng làm việc với Eustace Conway. Không ai tới thăm Đảo Rùa mà không làm việc. Tôi ở trên đó một tuần vào một mùa thu để giúp Eustace xây lán. Chúng tôi có ba người cùng làm việc đó - Eustace, tôi, và một cậu thanh niên học việc cần mẫn và kiệm lời tên Christian Kaltrider. Chúng tôi làm việc mười hai tiếng mỗi ngày, và theo tôi nhớ thì chẳng hề nghỉ ăn trưa. Làm việc lặng lẽ luôn tay. Cách Eustace làm việc chẳng khác gì một cuộc diễu hành - đều đặn và liên tục, đến độ cảm giác mụ cả đi. Ta có cảm giác mình đang ở trong một trung đội. Ta không nghĩ gì nữa mà cứ thế hòa theo nhịp độ. Rốt cuộc trong lúc làm việc thì Eustace là người duy nhất nói, và anh nói là để ra lệnh, anh ra lệnh với quyền uy không thể chối cãi, mặc dù mọi mệnh lệnh đều lịch sự. Trong cả buổi làm việc chỉ có một khoảnh khắc duy nhất Eustace ngừng tay. Eustace nhờ tôi tới chỗ đống dụng cụ lấy cho anh một cái cuốc c

“Xin lỗi,” tôi nói, “tôi không biết nó là thế nào.”

Anh miêu tả cái cuốc chiim cho tôi - một công cụ tương tự như chiếc rìu, nhưng có lưỡi cong tạo thành một góc vuông với cán, dùng để đẽo gỗ. Tôi tìm thấy thứ đó và đang quay lại phía cái lán để đưa thì bỗng nhiên Eustace đặt búa xuống, đứng dậy, đưa tay quệt trán rồi nói, “Tôi chắc mẩm mình đã từng thấy từ 'cuốc chim' sử dụng trong văn học. Có phải Hemingway là người đã viết về tiếng cái cuốc chim vang lên từ sân trước nơi có ai đó đang đóng quan tài không?”

Tôi đập một con mòng đậu trên cổ và gợi ý, “Có lẽ anh đang nghĩ đến Faulkner? Tôi nghĩ có một cảnh trong cuốn As I Lay Dying Faulkner miêu tả tiếng ai đó đang đóng quan tài trong sân trước.”

“Đúng, phải rồi,” Eustace nói. “Faulkner.”

Rồi quay lại làm việc. Bỏ mặc tôi đứng đó với cây cuốc trong tay, nhìn anh trân trân. Đúng, phải rồi. Faulkner. Giờ quay lại làm việc đi mọi người.

Eustace muốn làm xong cái sàn lán vào lúc hoàng hôn ngày hôm đó, thế nên chúng tôi làm việc hối hả. Vô cùng mong mỏi làm xong công việc nên Eustace đã dùng một chiếc cưa xích để xẻ những khúc gỗ quá khổ. Eustace đang cưa ngang một khúc gỗ thì chiếc cưa xích đụng phải mắt gỗ, bật ngược trở lại và bắn lên mặt anh. Anh đưa tay trái hất chiếc cưa ra khiến chiếc cưa cắt vào hai ngón tay.

Anh thoáng kêu lên một tiếng nghe như “Rạt!” rồi rụt tay lại. Máu bắt đầu bắn ra. Christian và tôi chết trân, im thin thít. Eustace vẩy tay một cái làm tóe ra cả vạt máu, và rồi lại tiếp tục cưa. Chúng tôi đợi anh nói gì đó hoặc cố cầm dòng máu lúc này đang chảy ra khá nhiều, nhưng anh không làm vậy. Thế là hai chúng tôi tiếp tục công việc. Anh tiếp tục chảy máu và tiếp tục cưa, tiếp tục đóng gỗ tiếp tục chảy máu và tiếp tục cưa thêm nữa. Đến cuối ngày, cả cánh tay của Eustace, những khúc gỗ, dụng cụ, cả hai bàn tay tôi, cả hai bàn tay Christian thảy đều đầy máu.

Và tôi đã nghĩ, À, vậy đây là điều đón đợi chúng tôi. Chúng tôi làm việc cho tới khi trời tối mịt rồi mới đi trở lại trại chính. Tôi ạnh Eustace, cánh tay anh buông thõng, máu nhỏ tong tong. Chúng tôi đi qua một bụi cây nở hoa và với phẩm chất nhà giáo thường trực, anh nói, “Này, cảnh kia thú vị lắm đấy. Chẳng dễ gì thấy được hoa màu vàng lẫn hoa màu cam trên cùng một cây bóng nước đâu. Cô biết không, ta có thể lấy thân cây này làm thuốc mỡ để chữa cơn ngứa vì thường xuân độc đấy.”

“Hay quá,” tôi nói.

Chỉ sau khi ăn tối xong Eustace mới băng bó bàn tay kinh khủng. Anh chỉ nhắc tới tai nạn đó đúng một lần. Anh nói, “May là tôi không cưa đứt ngón tay.”

Đêm muộn hôm đó tôi hỏi Eustace vết thương nghiêm trọng nhất của anh từ trước tới nay là gì, và anh nói anh chưa bao giờ bị thương nghiêm trọng. Một lần anh đã xẻ toạc ngón cái trong một phút bất cẩn khi đang lột da một con nai. Đó là một vết cắt sâu, dài “miếng thịt treo lửng lẳng rồi lại còn gì gì nữa ấy chứ,” và tất nhiên là cần khâu nó lại. Thế nên Eustace dùng kim chỉ khâu lại, mà cách khâu thì anh vốn biết rất rõ nhờ khâu đồ da hoẵng. Khâu một đường thẳng tắp.

“Tôi thì chắc không thể tự khâu da mình đâu,” tôi nói.

“Cô có thể làm bất cứ điều gì cô tin mình có thể làm.”

“Tôi không tin tôi có thể tự khâu da mình.”

Eustace cười lớn và công nhận, “Vậy thì có lẽ cô không làm được thật.”

 

“Mọi người rất vất vả mới làm được mọi thứ đâu ra đó ở đây,” Eustace phàn nàn trong nhật ký vào năm 1992.

“Môi trường quá mới. Thực ra đó chẳng phải là vấn đề với họ. Chính nỗi căng thẳng bực bội của tôi đối với nhịp độ chậm chạp trì độn của họ mới là thứ khiến tôi cứ phải bận tâm. Họ đang hưởng thụ từng phút một cách khoan khoái.

Thách thức tấn công Eustace từ mọi hướng. Một người bạn chỉ ra rằng việc Eustace không có bảo hiểm sức khỏe cá nhân là một sai lầm. “Nhưng tôi khỏe!” anh phản đối. Thế là người bạn liền giải thích rằng nếu Eustace không may bị thương nghiêm trọng trong một vụ tai nạn và cần chăm sóc đặc biệt, bệnh viện có thể tước tất cả tài sản của anh, kể cả giá trị của đất đai, để trang trải chi phí. Chúa ơi! Trước đây Eustace chưa bao giờ nghĩ tới điều gì như thế. Hơn nữa, anh liên tục có tiền thuế phải lo và phí vẽ trắc địa phải trả. Hơn nữa, anh phải đối phó với những kẻ săn bắn trái phép trên đất đai của mình. Anh thượng cẳng chân với một thằng bé béo lùn đã bắn hạ một nai đực không phải trong mùa săn bằng một khẩu súng bất hợp pháp ở cách nhà bếp của Eustace chỉ chừng dăm chục mét. Thậm chí còn kinh khủng hơn, bản thân anh từng bị cáo buộc săn bắn trái phép trên đất của người khác.

Một chiều nọ khi anh đang dạy một lớp học có tầm mươi sinh viên thì tám tay luật sư đỗ bốn chiếc xe công lại và bắt anh vì tội săn trộm nai. Được một tay hàng xóm có lòng ganh ghét mách cho, nhân viên đội quản lý thú rừng đi thẳng tới nơi cất giữ hàng chục tấm da nai của Eustace và buộc tội anh đã giết nhiều con thú mà không được phép. Thực ra, người ta đưa cho Eustace những tấm da đó là để nhờ anh thuộc cho. Khoảnh khắc đó thật đáng sợ.

Eustace đã phải bỏ cả tháng sau đó thu thập thư từ làm bằng chứng từ những người đã đưa da nai cho anh, cũng như giấy tờ của những nhà môi trường và chính trị gia khắp miền Nam cam đoan rằng Eustace Conway là một nhà tự nhiên tận tụy không bao giờ săn bắn vượt quá quy định của luật pháp. Tuy nhiên vào ngày mở phiên tòa anh làm cái chuyện ngớ ngẩn là mặc chiếc quần da hoẵng tới phòng xử án. Tại sao không? Đó là món đồ lúc nào anh cũng mặc. Anh đường hoàng đi tới phiên tòa của mình cực giống với Jeremiah Johnson. Ma-Maw, bà cụ hàng xóm người Appalachia sống dưới thung lũng vốn ghét cay ghét đắng luật pháp chẳng kém gì kẻ sơn nhân nhà bên, đi cùng với Eustace để ủng hộ tinh thần anh. (“Cháu sợ là thẩm phán có thể sẽ lột phăng chiếc quần da hoẵng của cháu và ném cháu vào tù,” Eustace đùa với Ma-Maw. Bà đáp lại vững vàng, “Cháu đừng lo. Ta có mặc quần buộc túm dưới chiếc váy này. Nếu chúng cướp mất quần của cháu, ta sẽ cởi ngay chiếc quần buộc túm của ta đưa cho cháu. Cháu có thể cứ thế mặc quần buộc túm của ta mà vào tù, Houston!”) Ma-Maw yêu quý cả mấy cậu con trai nhà Conway, nhưng bà chẳng bao giờ nói đúng được tên bọn họ...

Khi tới lượt anh nói, Eustace say sưa hùng biện trước vị thẩm phán về cuộc đời về những giấc mơ và mộng tưởng cứu thiên nhiên của anh, cho tới khi, hết sức kinh ngạc và ấn tượng, vị thẩm phán lên tiếng, như thể ông đang ký vào giấy tờ bác bỏ những cáo buộc săn trộm, “Có việc gì ta có thể làm giúp cậu cho Đảo Rùa không, con trai?”

Eustace cũng đã phải đối phó với những khốn đốn kiểu như một lá thư mà Hội Thổ dân Mỹ vùng Triangle gửi tới thị trưởng thành phố Gamer, Bắc Carolina. Lá thư bày tỏ mối quan ngại của hội về “thông tin chúng tôi vừa nhận được về một cá nhân, người sẽ tham gia vào sự kiện mà thành phố của ngài bảo trợ vào ngày 12 tháng Mười này - Người được nói đến ở đây là ông Eustace Conway... Theo chúng tôi hiểu thì ông Conway trình bày thông tin trước đại chúng và các nhóm có quan tâm đặc biệt về cách sống sót và tự cấp tự túc nhờ vào Đất Mẹ theo cách giản tiện nhất khả dĩ. Ông ta cũng đã dựng lên những công trình được người ta gọi là lều vải. Thổ dân sống ở những khu vực Đông Bắc và Đông Nam của đất nước này chưa bao giờ sống trong lều vải. Thổ dân Bắc Carolina sống trong những công trình gọi là 'nhà dài'. Chúng tôi vô cùng lo ngại rằng những cá nhân tham gia sự kiện đặc biệt này sẽ ra về với ba ấn tượng hết sức sai lầm: (a) Ông Conway là một thổ dân Mỹ, (b) Ông Conway đại diện và phát ngôn cho các dân tộc bản địa, và (c) Thổ dân Bắc Carolina sống trong lều vải. Chúng tôi tha thiết đề nghị ngài không cho phép ông Conway xây dựng công trình được người ta gọi là lều vải vì những lý do nêu trên.”

Đây đúng là kiểu chuyện nhảm nhí mà Eustace chẳng có thời gian dành cho. Lạy Chúa, nếu có ai trên hành tinh này biết rằng thổ dân Bắc Carolina không sống trong lều vải thì đó là Eustace Conway, người đã nghiên cứu ngôn ngữ của hầu hết các bộ tộc thổ dân Bắc Carolina, người có thể nhảy hầu hết các điệu nhảy huyền bí nhất của các bộ tộc thổ dân Bắc Carolina, là người thường xuyên nuôi sống mình bằng cách sử dụng kỹ thuật săn bắn của các bộ tộc thổ dân Bắc Carolina, và là người luôn chú ý giải thích với khán giả rằng bản thân anh là sản phẩm từ nền văn hóa của người Mỹ da trắng hiện đại (để chứng minh rằng bất kỳ ai cũng có thể sống như anh) và lều vải là phương pháp dựng nhà ở vùng Đồng bằng Lớn. Anh cũng giải thích trong thư hồi đáp, “Tôi không đơn giản là 'một gã Anglo bắt chước cách thức của thổ dân Mỹ', không đơn giản là 'kẻ tìm trò giải khuây'. Tôi có sự thấu hiểu và sự hòa hợp sâu sắc với lối sống thổ dân... Tôi nghĩ ta không thể truyền đạt nhũng tình cảm như thế trong một lá thư tay... nhưng với việc cầu nguyện bằng tẩu hút[4], sống nhờ Đất Mẹ, lắng nghe sinh vật có cánh trên trời và sinh vật bốn chân dưới đất, tôi đang ngợi ca mọi sức mạnh của vũ trụ.”

Và rồi có những tay thanh tra y tế chết toi.

“Vào một trong những ngày đầu tiên lập trại,” anh viết trong nhật ký vào tháng Bảy năm 1992, “Judson chạy ngược lên tìm tôi. Tôi cứ nghĩ có ai đó bị thương vong. Hóa ra là có những viên thanh tra y tế đóng bộ com lê đang lên kiểm tra trại. Ồ, tôi mặc một chiếc áo trắng vào rồi đi xuống gặp cái bọn quỷ sứ đó. Tôi giữ thái độ hợp tác - giải thích đây là một khu trại độc đáo như thế nào. Tôi đưa họ đi xem khắp một vòng - các địa điểm trong khu trại, nhà xí, bếp (chỗ này rất sạch) - và làm vui họ hết sức mình. Bọn họ tỏ ra ngưỡng mộ những gì chúng tôi đang làm. David Shelly, một trại viên trẻ, cho họ xem một pha trình diễn và bài học mài dao - rất ấn tượng. Họ đã bảo tôi họ sẽ 'nghĩ kỹ thêm' xem liệu họ có thể tìm ra một cách chấp nhận tình trạng vô chuẩn mực của chúng tôi không.”

Anh chẳng bao giờ ngơi tay. Với tất cả tình yêu dành cho sinh vật có cánh trong không trung và sinh vật bốn chân trên mặt đất, anh khó mà có thời gian dù chỉ để ghi những quan sát tự nhiên của mình vào nhật ký.

“Tôi thực sự thích nhìn chim gõ kiến mào đỏ bổ xuống từ trên không,” cuối cùng một hôm vào lúc bốn giờ sáng khi ngày làm việc vừa kết thúc, anh cũng xoay xở để nguệch ngoạc được đôi dòng. “Dường như tôi nghe thấy chúng suốt cả ngày. Thật tuyệt khi có loài chim quý này làm nhạc nền. Quạ rất nhiều, thỉnh thoảng lại kêu quạc quạc. Chim tước mào hồng ngọc rập rờn; một con suýt nữa bay vào mặt tôi khi tôi đang ở tại chỗ thiêng phía trên nơi sẽ là đồng cỏ. Dấu chân hươu nai khắp xung quanh, nhưng năm nay tôi không thấy con gà tây nào. Tôi yêu sự giao mùa, tôi mong chờ (và tôi không nói hay nghĩ rằng chỉ mong chờ thôi là đủ) đến ngày tôi sẽ được tự do thưởng thức vô vàn thay đổi thường nhật đầy tinh tế của thời tiết và đời sống vùng thung lũng Appalachia, đây là nơi níu giữ trái tim tôi, đây là nơi tôi đang bén rễ, đây là nơi tôi đang chiến đấu, tôi hy vọng mình sẽ được chết ở chốn này.”

Tuy nhiên, lúc này, đó chỉ là một giấc mộng xa vời. Một đoạn nhật ký điển hình hơn là, “Đêm qua tôi gọi để xác minh lại lịch hẹn với một số trường, công việc giấy tờ không khi nào hết. Có khi làm ba tiếng một ngày mà cũng không xuể. Đêm qua tôi phải nói với một quý bà rằng tôi không thể thực hiện chương trình mùa xuân này cho trường của bà. Tôi có cảm giác tự hào kỳ lạ khi biết mình đã có đủ lời đề nghị nên phải từ chối việc này, nhưng tôi e là mình đã không có sự thông cảm đúng mực cho tình cảnh của bà. Tôi phải hiểu mặt kia của sự việc.”

Anh nhận được quá nhiều lời mời diễn thuyết đặt lịch trước thế nên anh chi một khoản tiền để sản xuất một cuốn băng 45 phút gọi là Tất cả họ hàng của tôi: vòng đời, thứ mà anh miêu tả trong lá thư gửi các hiệu trưởng khắp miền Nam là “một tài liệu giảng dạy trong lớp có thể dùng bất kỳ lúc nào trong năm.” Cuốn băng cho phép Eustace ở hai địa điểm cùng một lúc. “Không chỉ cho các lớp lịch sử, Tất cả họ hàng của tôi còn phù hợp cho các môn khoa học đời sống như sinh thái học và sinh vật học cũng như nhân học,” Eustace viết trong lá thư giải thích gửi kèm cuốn băng. “Tờ bướm gửi theo đây sẽ cung cấp thêm thông tin, nhưng đọc về cuốn băng không phải là cách thưởng thức nó đúng đắn; quý vị cần phải xem băng. Tôi rất hài lòng với sản phẩm này và hạnh phúc rằng có thể chào bán nó với một mức giá hợp lý như vậy đến quý trường.”

Thế nhưng, sự thật là Eustace đã không còn tin tưởng lắm rằng các chuyến đi diễn thuyết có ích lợi gì. Với một người thật lòng nghĩ mình có thể thay đổi thế giới nếu anh ta có thể kêu gọi đủ số người lắng nghe trong một thời gian đủ dài, cái thủ tục thường lệ tẻ nhạt là đến thăm lớp học trong một thời gian ngắn ngủi không còn làm anh thỏa mãn nữa.

“Hôm nay tôi đã phải đối phó với một lớp sáu,” anh viết sau một cuộc gặp gỡ khó chịu. “Tôi không tin nổi vào sự thiếu giáo dục và vô cảm mình đã gặp phải! Chúng [đám học sinh] thật đáng thương hại... Hoàn toàn không có động lực. Chẳng hiểu gì về thế giới. Chỉ là những con robot đang thực hiện khuôn mẫu sống đã định sẵn. Ở đây thực tình chúng ta chỉ đang tồn tại - không nghệ thuật hay sáng tạo. Không đam mê. Chỉ là một sự tồn tại đều đều chậm chạp trong sự trì độn nặng nề. Tôi hỏi bọn chúng có biết từ 'thiêng' nghĩa là gì không. Chúng không biết. Chúng đặt tiền bạc, xe hơi mới, điện thoại vào danh sách những thứ có giá trị với chúng. Một trong số năm mươi học sinh đó có một ý niệm về sự thiêng liêng. Cậu bé đáp, 'Sự sống'. Một linh hồn nhỏ bé trong lớp học đang đi đúng hướng, tránh coi thói hám lợi như một động cơ, xin trời phù hộ cho cậu bé... Tình huống ấy thách thức tôi mạnh mẽ, và tôi đã cố sức thúc đẩy, cố khiến bọn trẻ thức tỉnh mà suy nghĩ, nhưng tôi cho rằng mình không thành công lắm. Thế nên chúng ta ở đây giữa thập niên 1990, nơi bọn trẻ giờ đây chẳng nên người.”

Chỉ hai năm ngắn ngủi sau khi thành lập Đảo Rùa, Eustace đã bắt đầu kiệt sức. Anh viết trong nhật ký vào tháng Bảy năm 1991, “Tôi nhận ra rằng tôi thực sự khao khát khoảng thời gian ở một mình. Tôi chẳng muốn gần người ta. Áp lực của cộng đồng người tại Đảo Rùa đây làm tôi càng lúc càng mệt mỏi. Họ chiếm thời gian của tôi và vắt kiệt đời tôi… Văn phòng - ai cũng muốn ngồi quanh đó, và tôi chẳng thể làm xong việc gì. Hôm qua trong khi tôi đang cố gắng làm việc giấy tờ thì Valarie, Ayal và Jenny đi vào và bắt đầu thảo luận về nhân sự. Không gian của tôi bị xâm phạm thật khủng khiếp! Đêm qua ai đó đã tắt máy trả lời tự động nên nó không trả lời - sau khi tôi đã trải qua 200 giờ đồng hồ làm việc qua điện thoại. Sáng nay tôi chuẩn bị sẵn sàng tắm ở con lạch lạnh ngắt để hạ hỏa nhưng ai đó đã lấy cái xô tôi để bên lạch đi đâu mất. Tôi bắt gặp một chiếc tất hôi thối trong sân... Hôm nay đám cừu bị bỏ quên trong chuồng (không phải phận sự của tôi). Tôi cho chúng ra và nghĩ về cái ngày tôi đã trải qua khi xây dựng cái chuồng này, thế mà giờ đây chẳng ai muốn nhận trách nhiệm với lũ cừu cả.

“Tôi phải làm gì đây? Tôi cần nghĩ ra cách xử trí với bản thân và đất đai của mình sao cho rồi đây sẽ không quá kiệt quệ về mặt cảm xúc. Tự nhiên thấy chỉ muốn dừng quách mọi hoạt động chúng tôi thực hiện ở đây. Như thế sẽ giải quyết được vấn đề, nhưng điều đó sẽ không tốt cho khu trại và mục đích của trung tâm... Cái gì là quan trọng? Ranh giới (cá nhân) ở đây đang lâm nguy. Tôi nên làm hài lòng người khác hay bản thân? Tôi đã làm việc cật lực để làm cho nơi này được như ngày hôm nay. Họ đã làm gì vậy? Họ có đã từng đầu tư cho thứ gì đó đáng gọi là thử thách hay chưa? Tôi làm cách nào chịu đựng được họ đây? Tôi có nên chịu đựng không? Chuyển tiền là một cách mà người ta có thể giúp - để cho tôi một thứ tôi cần... Mức độ tổn hại chuyện này gây ra cho tôi mới khủng khiếp làm sao. Giờ tôi mới tính sau sáu tiếng ngủ vùi mệt nhọc vào giữa trưa ngày hôm nay… Phải làm gì? Các ý tưởng - phân quyền - khiến mọi người nhận thức được một cách sâu sắc những nhu cầu của tôi và trao cho họ trách nhiệm hãy tránh xa ra. Tôi nghĩ tôi thậm chí không thể ở đây. Đó là một ý tưởng. Hãy mường tượng ra điều ấy. Quá nhiều người tôi phải đối phó... Ôi, chúc may mắn, Eustace.”

Tới năm tiếp theo, Eustace cảm thấy tịnh chẳng có lấy một chút may mắn. Anh quá kiệt sức và vỡ mộng đến mức thậm chí không phàn nàn nổi trong nhật ký. Suốt cả năm anh chỉ viết mỗi một mục đầy chán nản: “Điều khiến tôi muốn viết hôm nay là nỗi thất vọng sâu sắc trong lòng về của thời đại chúng ta - chính quyền nhũng nhiễu - con người giả ngụy - những giá trị suy đồi và những con người vô thức sống cuộc đời vô nghĩa.”

Và, ở trang tiếp theo, được viết đúng mười hai tháng sau, là thông điệp này: “Vẫn thế, hay phải nói là y nguyên nhỉ, sao cũng được, so với mục năm ngoái. Ngoại trừ còn tệ hơn. Có thể cả mất lòng tin hơn.”

Điều tồi tệ nhất, anh đang mất Valarie.

Quá mải miết với công việc và thường xuyên trên đường, Eustace hiếm khi ở bên bạn gái. Cô cũng làm việc cật lực, và cô vẫn yêu Eustace, nhưng càng ngày cô càng cảm thấy cô đã đánh mất mình trong anh.

“Tới giờ tôi vẫn yêu người đàn ông này,” Valarie nói với tôi, khi nhớ lại mối quan hệ đó sau mười lăm năm xa cách. “Tôi vẫn còn giữ mọi món quà anh làm cho tôi, từ một chiếc vỏ bọc dao có trang trí hạt cườm tới cây rìu nhỏ tôi vẫn luôn dùng hồi ở Đảo Rùa cho tới đôi bông tai tuyệt đẹp. Mai kia chết đi, tôi muốn đeo đôi hoa tai đó mà nằm dưới mộ. Tôi rất thích được học hỏi từ Eustace Conway. Tôi yêu chuyện anh luôn tặng tôi những món quà tự làm vào dịp sinh nhật. Một lần tôi đã bảo anh rằng tôi muốn có một cái tẩu hút của riêng mình cho các dịp lễ và cầu nguyện, và một hôm khi về nhà tôi thấy một phiến đá xtê-a-tít rất đẹp trên quầy bếp. Tôi hỏi, ‘Cái gì đấy anh?’ Anh bảo, ‘Tẩu của em đấy, Valarie.’ ‘Em không hiểu,’ tôi đáp. ‘Nó đâu anh?’ Và anh cười đúng điệu cười tuyệt diệu của riêng Eustace Conway rồi nói, ‘Nó nằm trong phiến đá, em yêu. Chúng ta chỉ phải cùng nhau lấy nó ra thôi.’

“Tôi đã yêu anh ấy, nhưng tôi đánh mất bản sắc của

mình trong bản sắc của anh, bởi vì anh quá uy lực và quá lấn lướt. Trước khi gặp anh, tôi có những thứ riêng để sống trên đời, nhưng tôi mau chóng trở thành con người nấp dưới bóng anh, và thế giới của tôi bắt đầu quay quanh thế giới của anh. Anh đã và vẫn luôn là một người đầy yêu thương nhưng quá cố chấp. Ý kiến của người khác chẳng bao giờ được anh chào đón. Anh bị ám ảnh chuyện kiếm tiền, mua đất, thành công, và anh lúc nào cũng trên đường. Tới mức tôi chẳng khi nào trông thấy anh. Thời gian duy nhất chúng tôi nói chuyện là khi anh ra lệnh c

Valarie và Eustace có một người bạn chung rất tốt, một chàng trai thổ dân tên là Henry, anh ta thường tới tế lễ cùng họ và giảng dạy ở Đảo Rùa. Sau mấy năm sống cô đơn và bất mãn, sau khi càng ngày càng cảm thấy cô chẳng là gì ngoài “Đệ nhất phu nhân của Đảo Rùa”, Valarie dan díu với Henry. Cô che giấu mối quan hệ ấy với Eustace và chối rằng chuyện đó chưa bao giờ xảy ra, ngay cả khi, do cảm thấy nghi ngờ, anh hỏi thẳng cô. Biết có chuyện gì đó đang xảy ra, một tối nọ Eustace bèn gọi Henry ra gặp riêng, hai người hút chung tẩu với nhau, sau đó Eustace hỏi thẳng Henry có ngủ với Valarie chưa. Không nói dối khi hút tẩu chung là nguyên tắc tâm linh thiêng liêng bậc nhất của thổ dân da đỏ, nhưng Henry nhìn vào mắt Eustace mà chối bỏ chuyện dan díu.

Eustace chìm trong dằn vặt. Trong thâm tâm anh biết có gì đó sai quấy nhưng anh không có mọi bằng chứng. Quá khổ sở, anh chia tay với Valarie vì anh cảm thấy anh không thể tin cô. Mấy tháng sau khi chia tay, Valarie quay lại nói với anh sự thật và cầu xin tha thứ.

Nhưng ta chẳng thể nói dối Eustace Conway rồi mong có cơ hội thứ hai. Anh quá kinh hãi nên không thể dù chỉ nghĩ đến chuyện nối lại với cô hay vượt qua nỗi tổn thương. Lòng anh tan nát khi nhận ra rằng anh không thể tìm kiếm lòng tin cậy trong mối quan hệ thân thiết nhất này. Và sau tất cả nỗi đau anh phải gánh chịu từ bố mình, anh đã tự hứa sẽ lập tức xua đuổi khỏi đời mình bất kỳ ai cố ý làm tổn thương hay phản bội anh. Cô sẽ phải ra đi. Eustace suy ngẫm và đau đớn vật vã suốt một năm với câu hỏi liệu có bao giờ anh có thể lại tin được cô, và cuối cùng anh nhận ra rằng anh không thể đạt tới điểm đó của sự tha thứ.

“Sự thật vô cùng thiêng liêng với anh,” anh viết cho Valarie để nói rõ vì sao họ không thể tiếp tục bên nhau nữa. “Nó là anh. Anh sống bằng nó. Anh chết vì nó. Anh đã yêu cầu em sự thật. Anh đã bảo rằng em luôn phải nói với anh sự thật... rằng anh không bận tâm chuyện sẽ đau đớn đến mức nào. Anh cầu xin em sự thật... Em phỉ báng anh. Em phỉ báng sự thật của chúng ta. Điều này cho thấy gì về khả năng em có thể đáp ứng những nhu cầu của anh? Biến đi. Khốn kiếp! Thế đủ rồi... Anh có thể chịu đựng chừng nào cái nỗi bị hành hạ đây? Anh đã chứng kiến sự tàn nhẫn của bố anh… Anh cần nương tựa em - anh nhận một nhát dao đâm lén. Anh yêu em rất nhiều. Em vô cùng quý giá. Anh có thể cứ thế ôm em và âu yếm mái đầu ngọt ngào của em mãi mãi, nhưng cái tôi chân thật trong anh đã nói rằng, quá đủ là quá đủ!”

Cn với người bạn Henry?

“Hút tẩu với tôi khi tôi đang cần cậu và đang cầu nguyện và đang muốn biết sự thật ư? Thế mà cậu đã dối trá như một thằng khốn nạn. Cậu nên chết đi. Bẻ đôi cái tẩu rồi thọc đầu ống xuyên qua tim, cậu sẽ phần nào hiểu được nỗi đau tôi biết rõ. Giờ người phụ nữ tôi đã muốn cưới làm vợ lại là một con điếm. Cậu không xứng đáng làm người. Khốn kiếp, chết quách đi!”

“Em thực sự biết và hiểu,” Valarie viết cho Eustace, mấy tháng sau khi họ chia tay, “anh có thể cảm thấy nhu cầu tránh thừa nhận bất cứ trách nhiệm nào trong sự tan vỡ và cuối cùng là thất bại trong mối quan hệ của chúng ta như thế nào, bởi vì điều đó có nghĩa là anh sẽ phải thừa nhận rằng có thể, chỉ là có thể, anh gánh một phần trong việc gây nên nỗi đau mà giờ đây anh và em phải trải. Thừa nhận điều đó có thể buộc anh sẽ phải có cái nhìn khắt khe, nghiêm túc về bản thân, và như cả hai ta đều biết, anh đâu có thời gian, thiện ý, hay thậm chí, tha lỗi cho sự thẳng thắn của em, sự khiêm tốn để xem xét điều này. Xin hãy tin em, không phải em đang cố gắng giảm bớt trách nhiệm của em với những gì mình đã làm, chỉ là em đang cố giúp anh nhìn bao quát sự việc. Và, phải, thật dễ dàng hơn nhiều khi đổ được mọi lỗi lầm gây ra nỗi đau lên đầu người khác: 'Gia đình đã khiến anh thành ra thế này', 'Chính phủ này đang phá hoại hành tinh', hay 'Valarie làm tan nát trái tim tôi'... Anh muốn bỏ em, với lý do, như anh nói, 'Em phỉ báng trái tim anh' và anh không thể không giữ lời hứa với bản thân là không chấp nhận bất cứ thứ gì ngoài sự thật nghe có vẻ thật tuyệt cho anh đấy, chắc chắn rồi... Nhưng nếu tình yêu là thật thì nó chịu đựng tất cả, tha thứ tất cả, thậm chí tồn tại qua tất cả... Trong quá trình trải qua một cảm nghiệm đau buồn, anh có thể sẽ có được người phụ nữ mà cuối cùng đã nhận ra cách yêu và được yêu, người phụ nữ hiểu anh, yêu anh, tin anh, ủng hộ anh và đã từ bỏ mọi thứ để được là một phần trong giấc mơ của anh. Anh không nhận thấy anh đang vứt đi món quà tuyệt diệu nhất sao? Một người phụ nữ luôn chấp nhận mọi sai trái, thiếu sót, những giày vò tinh thần của anh, và, phải, thậm chí cả sự lập dị của anh, và vẫn yêu anh bất chấp tất cả. ANH LÀ KẺ KHỐN KIẾP TỰ PHỤ NGU NGỐC CHẾT TIỆT.”

Đó là một năm khủng hoảng.

Nhưng năm tháng qua đi. Nỗi đau cũng vậy. Chẳng

bao lâu sau khi Valarie ra đi, Mandy xuất hiện. “Chào người đẹp,” Eustace viết cho tình yêu mới. “Anh được biết rõ hơn về em... em có rất nhiều điều đáng tìm hiểu. Khi em có thể mở lòng ra với thế giới này thì chúng ta sẽ vô cùng hạnh phúc vì điều đó. Anh nao nức muốn tìm hiểu em, nao nức muốn gặp em. Anh thực sự cảm thấy chúng ta sinh ra là để đến với nhau… Khi ở bên em anh cảm thấy mình thanh xuân thơ trẻ. Anh có thể mỉm cười với đôi mắt em mãi mãi…”

Rồi Mandy đi, và Marcia đến. “Tôi ngây ngất khi gặp được Marcia. Cô ấy là niềm may mắn đối với tôi - một cảm hứng và một hy vọng mới. Tôi cầu xin Thượng đế soi đường trong mọi điều tôi làm.”

Rồi Dale đến. “Rất tốt bụng, đầy thông cảm, cô ấy chia sẻ mộng tưởng của tôi cũng như ai.”

Rồi đến Jenny. “Một cô gái xinh đẹp với mái tóc huyền và chiếc váy lanh dài trắng muốt… điều gì sẽ xảy đến với em, với anh, với những khao khát, với những ước mơ?”

Rồi có Amy. “Mái tóc dài tuyệt đẹp, nụ cười hồn nhiên rạng rỡ, tôi gặp cô ấy khi tôi đang dạy tại xưởng thực hành ở một trường học, cô ấy đẹp tới nỗi tôi khó lòng tập trung vào lời lẽ của mình. Tôi cứ nhìn cô chằm chằm rồi khi tan lớp tôi đi lại chỗ cô mà nói, 'Anh ở bên em một lát được không?'”

Cuối cùng Eustace có một khoảng thời gian dài tốt đẹp với Amy. Cô là nghiên cứu sinh ngành khoa học, xuất sắc và nghiêm túc, và không ngờ cô lại là một trợ thủ vô cùng đắc lực. Anh ở bên cô một tuần trong ngôi nhà nghỉ của gia đình cô ở Cape May, New Jersey, và viết trong nhật ký:

“Suốt cả tuần tôi ở đó chúng tôi chẳng ra khỏi nhà. Chúng tôi mắc vào công việc giấy tờ cho Đảo Rùa, Amy thì đánh máy mọi thứ vào máy tính của cô và in những bản copy thật đẹp cho tôi để sao chụp về sau hoặc để gửi đi hoặc để làm bất kỳ điều gì phù hợp... tập quảng cáo giới thiệu trại hè, phiếu đăng ký tham dự trại hè, thông tin sức khỏe và phiếu xác nhận, danh sách những thứ nên có trong bộ đồ sơ cứu, sơ đồ bệnh viện và thiếp in bản đồ thoát hiểm... một lá thư gửi Cabell Gragg khuyến khích ông ta bán miếng đất cho tôi vào năm 1994, một lá thư gửi nhân viên của Đảo Rùa để cảm ơn và khích lệ họ, danh sách nhân viên, tên và số điện thoại cho quyển lịch của tôi, tờ quảng cáo về xưởng thực hành cho các lớp học mùa xuân, danh sách những thứ cần và không cần mang (được chỉnh sửa) và định hướng cho trại viên khi họ đến... hợp đồng xác nhận và những thứ khác nữa.,. Chà! Amy rất giỏi đạt tới những kết quả hạng nhất - một sản phẩm được hoàn thành hơi chậm nhưng chất lượng hàng đầu.”

Rồi Amy đi, những lá thư của cô cất trong một chiếc phong bì lớn mà Eustace đề bên ngoài: “Câu chuyện thần tiên với Amy mà thực tế đã phá hỏng - những giấc mơ trở thành bài học. Ít nhất tôi đã sống đúng theo nó và đã học được nhiều điều.”

Rồi đến Tonya, vận động viên leo núi gốc thổ dân Úc bí ẩn và xinh đẹp. Eustace và Tonya đi New Zealand và Úc trong mấy tháng và trèo lên mọi vách đá và dãy núi họ trông thấy. Cô xuất sắc và mạnh mẽ, và Eustace yêu cô thật lòng, nhưng anh tin có cái gì đó ẩn sâu trong tâm hồn cô nó khiến cho cô không thể hoàn toàn yêu anh, và, dù sao đi nữa, Eustace khó lòng trao trái tim mình cho cô trọn vẹn như anh muốn bởi ký ức về người phụ nữ chừng như đã xẻ đôi trái tim anh bằng sự cuồng si và khao khát cũng như thống khổ hãy còn chưa phai.

Đó là Carla. Carla, nữ ca sĩ hát dân ca Appalachia bí ẩn và xinh đẹp, là tình yêu dữ dội của đời Eustace Conway. Anh gặp cô tại một lễ hội dân gian nơi anh tới giảng bài còn cô tới hát. (“Khi ngắm nhìn cô gái có mái tóc dài và mặc váy ngắn này chơi ghita và nhảy múa khắp trên sân khấu bạn gần như phải quên sạch mọi thứ trên thế gian, nàng nóng bỏng như vậy đấy.”) Eustace hoàn toàn tan chảy và rơi vào lưới tình với Carla, và tới giờ anh vẫn nghĩ rằng trong đời anh cô là người gần giống nhất với hình mẫu lý tưởng mà anh từng gặp.

“Nàng vô cùng kỳ diệu. Đây là người con gái Appalachia hiện đại, xinh đẹp, con gái của một người thợ mỏ than đích thực từ Kentucky, nàng có đủ kỹ năng từ bốn thế hệ những người tôi ngưỡng mộ nhất trong nền văn hóa của tôi. Với tôi, nàng giống như một nữ thần. Nàng chơi nhạc, viết lách, nhảy múa, và là người nấu ăn ngon nhất tôi từng gặp... hoang dã, tự do, dũng cảm, chói ngời, tự tin, có thân hình rắn rỏi, uyển chuyển lạ thường với làn da nâu bóng. Nàng điều khiển ngựa, biết chơi mọi nhạc cụ, biết nướng bánh trên ngọn lửa ngoài trời, chế thảo dược, tự làm ra xà phòng của riêng mình, biết làm thịt gia súc, muốn có thật nhiều con cái... là người tình giỏi giang và bốc lửa và đầy ham muốn nhất tôi từng gặp. Chúa ơi, tôi có thể tiến lên tiến lên hoài!... Nàng thực sự là đứa con của tự nhiên, nàng mặc những chiếc váy vải bông kẻ kiểu cũ gợi tình và nhảy nhót khắp khu rừng như một con nai nhỏ. Và nàng tài năng tới mức khiến tôi cảm thấy mình có thể vứt bỏ mọi thứ để hỗ trợ nàng phát triển sự nghiệp âm nhạc. Và nàng thông minh hơn tôi nhiều! Nàng còn biết khâu vá và nàng biết vẽ! Và nàng biết xem bói! Nàng có thể làm mọi thứ! Người con gái này là một giấc mơ thậm chí còn lớn lao hơn khả năng mơ mộng của tôi, mà tôi thì rõ thực là một kẻ mộng mơ có hạng!”

Gần như ngay lập tức, Eustace hỏi cưới Carla. Và cô ngửa đầu ra sau cười lớn rồi nói, “Em rất hân hạnh, Eustace.”

Thế là họ đính hôn, và Carla chuyển lên Đảo Rùa. Giờ đây khi nhớ lại, Carla nói rằng có những vấn đề nghiêm trọng ngay từ đầu. “Thoạt tiên tôi cảm thấy anh là một người bạn tri kỷ. Nhưng chẳng quá sáu tuần sống trong mối quan hệ đó thì tôi thấy nhiều điều ở anh khiến tôi sợ hãi. Tôi xuất thân từ chế độ gia trưởng khắt khe lạc hậu của người Appalachia, nên tôi rất nhạy cảm với một số vai trò giới mà tôi thấy Eustace đang thể hiện. Trên một số phương diện, anh có ý thức bình đẳng thực sự về phụ nữ, nhưng mỗi lần anh nổi cơn tam bành với tôi vì không dọn bữa tối lên đúng giờ quy định là tôi lại thấy thực sự căng thẳng.

“Vả chăng, gia đình tôi hết sức không ưa Eustace. Họ nghĩ anh không trung thực, là một nghệ sĩ bịp bợm. Họ lo lắng về chuyện anh áp chế tôi. Hai chúng tôi chỉ mới gặp nhau chưa lâu là anh tới đã nhà chúng tôi, ăn tối vội vội vàng vàng với bố mẹ tôi, đóng gói đồ đạc của tôi rồi đưa tôi đi. Gia đình tôi rất gần gũi nhau, thế nên họ cảm thấy như thể tôi bị cướp mất. Eustace nghĩ gia đình tôi muốn tôi quay lưng lại với anh, vậy nên anh ra sức giữ tôi xa lánh họ. Khi bố và các anh em trai tôi nhận ra điều đó, họ quả thực đã xếp súng lên xe tải để tới đưa tôi về.”

Chẳng bao lâu Carla, một linh hồn tự do vô đối, bắt đầu buông thả. Cô sớm dính líu với một người khác. Eustace phát hiện sự sơ xuất của cô theo cách rất lạ lùng. Anh thấy tờ hóa đơn điện thoại khổng lồ của một tháng nọ - hàng trăm đô la tiền điện thoại gọi từ văn phòng của anh vào lúc nửa đêm tới cùng một số máy. Tò mò, Eustace nhấn số đó, và khi một người đàn ông trả lời, Eustace giải thích sự tình. Rồi anh chợt nảy ra một ý nghĩ.

“Chẳng hay anh có biết ai tên là Carla không?” anh

hỏi.

“Có,” thanh niên kia nói. “Cô ấy là bạn gái của

“Đừng đùa,” Eustace nói. “Tôi lại nghĩ cô ấy là vợ chưa cưới của tôi.”

Dường như đêm đêm Carla vẫn lẻn ra ngoài lều vải và đi bộ xuống văn phòng để gọi điện cho tay chơi đàn banio quyến rũ mà cô đang dan díu. Thêm một sự phản bội. Đây không phải, như lời một bài hát cao bồi cũ vang lên, cuộc thi cưỡi ngựa chứng đầu tiên của Eustace Conway. Và như chúng ta biết, Eustace không phải là người đàn ông có thể sống với một người anh biết đã lừa dối và phản bội. Carla phải ra đi. Đó là một chuyện tình dài, và giờ nó đã kết thúc.

Eustace rã rời bởi chuyện đó. Anh bẹp rúm. Anh tan nát.

Tháng Mười hai năm 1993, anh viết trong nhật ký: “Nỗ lực chống lại nỗi tuyệt vọng, oán hận và đau thương. Thực sự đau đớn, mối quan hệ với Carla, sự chối bỏ, sự 'không thành'. Tôi chưa bao giờ gồng mình cố gắng tới vậy - tôi đã trao cho nó mọi thứ tôi có. Tôi chưa bao giờ đau khổ đến thế này.”

Ở tuổi ba mươi hai, anh bàng hoàng khi nhìn quanh và chợt nhận ra rằng, dù đã đạt được nhiều điều thuần bằng sức mạnh ý chí, anh vẫn chưa có vợ con. Giờ phút này lẽ ra anh đã có vợ con đề huề. Đâu rồi người phụ nữ xinh đẹp với những lọn tóc quăn buông xõa và chiếc váy vải bông, làm bánh kếp bơ sữa trong buổi bình minh ló rạng? Đâu rồi những bé con vững vàng khỏe mạnh đang lặng lẽ chơi trên sàn lán và học từ người cha ân cần của chúng cách đẽo gậy gỗ mại châu? Eustace đã đi sai ở nước nào? Tại sao anh không giữ được những người phụ nữ anh yêu? Họ dường như luôn bị anh đè nén hoặc lấn lướt. Còn anh không cảm thấy họ hiểu hay ủng hộ anh. Có thể anh đang chọn nhầm kiểu người. Có thể anh không có khả năng duy trì sự thân mật hoặc anh quá sợ bị tổn thương nên không để cho mối tình đón nhận những tháng trầm của nó. Có thể anh cần phải thử một phương thức mới. Đã trở nên rõ ràng rằng trong tình yêu, Eustace đang thất bại trong việc thiết lập mối quan hệ thiết yếu nhất này.

Một hôm anh mời một người bạn là nhà tâm lý tới Đảo Rùa đi dạo. Anh đưa cô vào rừng và nói với cô rằng anh sợ có điều gì đó không ổn với anh về mặt cảm xúc, rằng anh không thể đưa những mối quan hệ của mình với người khác tiến triển. Những người anh làm việc cùng ở Đảo Rùa luôn tức giận anh hoặc hiểu lầm anh, và anh không gần gũi được với các em trai như anh hằng muốn, và anh luôn khiến cho phụ nữ xa anh hoặc không gần gũi đúng mức để tin tưởng mọi người. Anh kể cho cô nghe về tuổi thơ của mình và thú nhận rằng anh vẫn còn ôm nhiều nỗi đau về người cha và băn khoăn không biết liệu có phải tất cả những điều này có liên quan với nhau không.

“Tôi nghĩ mình cần nói chuyện với một chuyên gia,” anh nói.

Nhà tâm lý trả lời, “Mọi điều anh cần để khiến anh hạnh phúc, Eustace, đều ở ngay đây trong khu rừng này. Tâm lý học hiện đại không dành cho anh. Anh là con người lành mạnh nhất tôi biết.”

Ôi chao, thực sự mọi người đã định hình một giấc mơ về Eustace Conway trong tâm trí và rồi làm cho giấc mơ ấy dính chặt. Người phụ nữ này hẳn vô cùng say mê một ảo mộng lý tưởng hóa mang tinh thần Thoreau về cuộc sống trong rừng hoang (“Không thể nào có nỗi u sầu quá tăm tối đối với người sống giữa thiên nhiên và để cho các giác quan của mình tĩnh tại”) tới mức cô không muốn nhìn kỹ hơn vào ai đó vốn không phải một ý niệm mà là một con người bằng xương bằng thịt đang đau khổ. Có thể cô sẽ mất quá nhiều nếu buông bỏ ý niệm của mình về Eustace.

Ta khó lòng trách cứ được cô; cô không phải người phụ nữ đầu tiên phủ nhận mọi bề ngoài trên thực tế để giữ gìn bằng được hình ảnh con người hoang dã vô thần này trong tim cô thuần khiết y như con người anh vào ngày cô gặp anh lần đầu tiên.

Không thấy thuyết phục đủ mức cần thiết, và tiếp tục chìm sâu trong tuyệt vọng. Eustace cố gắng với cha mình lần nữa.

“Con đang chịu tâm bệnh,” anh viết cho bố, “gục ngã bởi những năm tháng bị đè nén. Con tàn lụy. Con tổn thương. Hằng ngày cứ thức dậy là con lại thấy đau đớn bởi điều này. Hãy đưa lá thư này cho một nhà tâm lý xem liệu họ có lời khuyên nào cho con không. Đừng hiểu lầm lòng biết ơn chân thật nhất của con về sự giúp đỡ bố dành cho con trong những việc như quản lý tiền bạc nhé. Con thực sự vô cùng cảm kích điều đó. Con hy vọng rằng tình cảm chân thực của con không bị xem như một sự 'tấn công', mà có thể được hiểu như điều kiện cho sự phát triển và thấu hiểu. Mục đích của con là một mối quan hệ lành mạnh hơn chứ không phải tệ đi. Trân trọng, Eustace.”

Lần nữa, không lời hồi đáp

Tôi biết khá rõ bố mẹ của Eustace Conway. Tôi từng là khách trong nhà họ và ăn tối với họ nhiều lần. Như mọi người, tôi gọi bà Conway “Mẹ Cả”, và như mọi người, tôi yêu mến bà. Tôi yêu sự rộng lượng của bà, yêu những câu chuyện bà kể về khoảng thời gian bà sống ở Alaska. Tôi yêu mỗi lần đến cửa nhà bà, bà lại ôm tôi và nói, “Cô sơn nữ của chúng ta này!”

Và tôi phải thừa nhận rằng tôi thích ở bên bố Eustace Conway. Tôi mến sự thông minh và hóm hỉnh của ông, và tôi thấy ông có kiểu hiếu kỳ không ngớt cũng lạ lùng và đặc biệt y hệt như cậu con trai; ông muốn biết chính xác tôi mất mấy tiếng đồng hồ để lái xe từ Boone tới Gastonia, và khi tôi bảo với ông, ông tính ngay ra (và rất chính xác) rằng chắc chắn tôi đã dừng lại ăn uống mất bốn mươi lăm phút, nếu không tôi đã đến sớm hơn. Đương nhiên, ông lúc nào cũng chuẩn xác. Là một “tạo vật của logic hoàn hảo”, ông không nhường nhịn lấy một li, và tôi có thể hiểu điều gì thì ông không thể chịu đựng được. Những cuộc hội thoại của ông với vợ luôn đầy ắp những trận đấu khẩu kỳ cục kiểu như:

BÀ CONVVAY: Có chút khả năng là mai Judson sẽ về thăm đấy.

ÔNG CONVVAY: Sao em nói thế? Em không hề biết nói thế có đúng tí nào không. Nó đã gọi bảo sẽ sang sao?

BÀ CONVVAY: Không, nhưng em nhắn vào máy rủ con đến.

ÔNG CONWAY: Anh thật chẳng tài nào hiểu nổi sao em lại nói rằng có chút khả năng là nó sẽ về thăm chúng ta. Chính xác thì em nghĩ có bao nhiêu phần trăm khả năng chuyện đó xảy ra hả Karen, khi mà chúng ta hoàn toàn không có tin gì từ thằng bé? Rõ ràng chúng ta chẳng biết gì về chuyện liệu nó có về hay không. Em nói “có chút khả năng” là sai rồi.

BÀ CONYVAY: Em xin lỗi.

ÔNG CONVVAY: Nhưng chẳng ai lắng nghe ý kiến của anh cả.

Bạn có thể hình dung ra rồi đó

Tuy nhiên, tôi có thể nói chuyện với người đàn ông này. Khi tới thăm gia đình Conway, tôi thường nói chuyện với Eustace Cha về những tập Phù thủy xứ Oz, bộ truyện kỳ ảo tuyệt vời mà L. Frank Baum viết hồi đầu thế kỷ. Dường như cả Eustace Cha lẫn tôi đều lớn lên với cùng những ấn bản bìa cứng tuyệt đẹp của các cuốn sách này. (Thời thơ ấu, mỗi năm ông Conway nhận được một cuốn như quà Giáng sinh, còn tôi thừa hưởng toàn bộ bộ sách cũ xưa từ bà tôi.) Đa số người ta không biết rằng có những cuốn viết nối tiếp câu chuyện nguyên bản về Dorothy Gale, thế nên Eustace Cha rất vui khi thấy tôi biết rất rõ những chuyện đó và có thể nhắc lại từng bức tranh minh họa đặc sắc mang phong cách Art Deco và thảo luận đến cả những nhân vật mờ nhạt nhất. Tik-Tok, Billina Gà con, Hổ Đói, Vua Thần lùn, Ngũ Sắc (con gái của cầu vồng) - tôi biết rõ tất cả, và ông cũng vậy, nên chúng tôi có thể trò chuyện về chủ đề đó hàng giờ.

Những lần khác, ông đưa tôi ra ngoài sân và dạy cho tôi về chim chóc vùng Bắc Carolina. Và một lần chúng tôi ra ngoài lúc nửa đêm để ngắm sao. “Gần đây cháu có thấy Sao Hỏa không?” ông Conway hỏi. Tôi thừa nhận là không, thế là ông liền chỉ ra ngôi sao ấy cho tôi. Ông bảo tôi ông thích ra ngoài hằng đêm để theo dõi quỹ đạo của hành tinh đó để thấy sao Hỏa đang trôi lại gần đến mức nào về phía sao Thổ.

“Trong suốt ba tháng qua, hai ngôi sao ấy tới ngày một gần nhau hơn,” ông nói. “Tóm lại, hãy nhớ nghĩa của từ 'hành tinh' - thiên thể trôi lang thang.”

Vậy đấy, khi thì Eustace Cha và tôi trò chuyện về sách vở rồi khi thì chúng tôi trò chuyện về opera rồi đôi khi chúng tôi trò chuyện về những chòm sao. Nhưng chủ yếu là chúng tôi nói chuyện về con trai ông. Eustace Cha luôn muốn biết Eustace Con đang thế nào trên Đảo Rùa đó. Những người học việc của anh là ai? Anh có đang lên kế hoạch cho những chuyến đi lớn nào không? Anh có vừa xây dựng thêm nhà cửa không? Con đường gập ghềnh lên dãy núi đó trông thế nào? Anh có vẻ làm việc quá sức hay suy nhược không?

Tôi cố gắng trả lời ông thật đầy đủ. Và một lần - bởi vì tôi không thể đứng ngoài những tình cảm lặng lẽ nhất trong đời sống riêng tư của người khác - tôi nói, “Anh ấy rất ổn bác Conway ạ, nhưng cháu tin rằng anh ấy tha thiết mong chờ sự chấp thuận của bác.”

“Chuyện đó thật vô lý

“Không, không hề vô lý đâu. Sự thật đấy ạ.”

“Nó chưa từng nói với bác,” ông trả lời, “nên bác không bao giờ biết chuyện gì đang xảy ra với nó. Rõ ràng là nó chẳng muốn dính dáng gì tới bác cả.”

Thật ra, hai Eustace Conway hiếm khi trò chuyện và họ thậm chí còn ít gặp nhau hơn. Những đợt Giáng sinh sẽ là dịp gặp gỡ duy nhất trong năm giữa hai người đàn ông, và Eustace Con bất đắc dĩ mới ngủ lại trong nhà bố mẹ bởi vì anh rất không thích ở gần bố. Tuy nhiên, một tối mùa xuân năm 2000, Eustace trở về nhà ở Gastonia để ngủ qua đêm. Thật kỳ lạ đến độ kinh ngạc nếu có khi anh xuất hiện bên ngưỡng nhà họ vào giữa tháng Năm, khi chẳng có dịp lễ lớn nào của gia đình làm lý cớ. Nhưng Eustace muốn kiểm tra một số gỗ xẻ ở gần Gastonia nên anh nghĩ anh sẽ ghé qua ăn tối. Tôi đi cùng anh.

Chúng tôi dừng xe lại trước nhà, ngôi nhà nơi Eustace đã sống những năm tồi tệ nhất đời mình, và thấy bố anh đứng trong sân trước, đang lôi ra một chiếc máy xén cỏ cũ, nhỏ, có tay đẩy, hỏng hóc, hoàn toàn gỉ sét. Eustace bước ra khỏi xe tải và mỉm cười.

“Bố có gì ở đằng ấy thế?” anh hỏi.

“Chiếc máy xén cỏ cực tốt đêm qua bố tìm thấy trong thùng rác nhà ai đó khi bố đạp xe qua ấy mà.”

“Không đùa đấy chứ ạ? Ai đó vứt thứ kia đi sao?”

“Chẳng phải thế thật nực cười à? Nó cực tốt đấy.”

“Chiếc máy xén cỏ ấy trông xinh lắm bố ạ. Rất xinh.”

Chiếc máy xén thực tình trông như thể nó đã được vớt lên từ đáy hồ vậy.

“Nó vẫn chạy chứ?” Eustace h

“Đương nhiên nó chạy.”

“Ồ, hay quá.”

Trước đấy tôi chưa bao giờ thấy Eustace Conway và bố anh ở cạnh nhau. Sau tất cả những năm kết giao với gia đình này, đây là cuộc gặp mặt đối mặt đầu tiên mà tôi chứng kiến. Tôi không thể nói mình đã chờ thấy điều gì nhưng rõ là không phải thế này - không phải cảnh Eustace dựa người vào xe tải với nụ cười tự nhiên, đang khen ngợi cái máy xén cỏ đi lượm được của bố anh. Và không phải người cha đang cười tươi rói này, say sưa khoe món đồ mới tìm thấy của mình.

“Con trai, con có thể thấy ở đây có một vết gãy ở tay cầm, nhưng bố đã hàn một mẩu kim loại vào nó như vầy, thế nên giờ nó có thể hoạt động hoàn hảo.”

“Hay quá.”

“Thứ này có được việc ở Đảo Rùa không?”

“Để con nói bố nghe nhé. Con có thể tìm ra công dụng cho cái máy xén cỏ đó. Con có thể lôi cái động cơ ra dùng vào mục đích khác, hoặc con có thể tháo rời nó ra và sử dụng các bộ phận, hay bản thân con có thể sử dụng cái máy xén hay đưa cho hàng xóm mượn cũng được. Thế sẽ rất tuyệt. Con sẽ rất vui nếu có nó. Con luôn có thể tìm ra chỗ dùng cho đồ đạc; bố biết điều đó mà.”

Phút sau, người cha và con trai, cả hai cùng cười vui vẻ, chất cái máy xén vào phía sau xe tải của Eustace.

Chúa ơi, bữa tối ở Gastonia hôm đó quả là cực kỳ! Hai Eustace trò chuyện vui vẻ với nhau suốt cả buổi chiều muộn ấy. Họ chẳng để mắt tới bất kỳ ai khác. Tôi chưa bao giờ thấy ông Conway sôi nổi đến thế, và cả Eustace cũng vô cùng phấn khởi. Tôi thề là họ đang phô trương với nhau trước mặt tôi. Họ đang say sưa với nhau. Và nhìn thấy hai người đàn ông này khao khát sự tán thành của nhau tôi lại càng thấy xót xa hơn là nếu phải chứng kiến họ cãi nhau. Dường như họ đang hết sức bền lòng tìm kiếm sự thân tình

Họ thúc khuỷu tay nhau khi kể những câu chuyện yêu thích của gia đình. Eustace bắt bố kể lại lần anh tới phòng cấp cứu với vết thương nghiêm trọng ở chân và đã hết sức tức giận vì bị các y tá bỏ mặc đến nỗi anh nằm giữa sàn nhà phía trước quầy tiếp tân và không chịu nhúc nhích cho tới khi có người tới chăm sóc. Rồi ông Conway cười tươi trong khi Eustace kể những câu chuyện phiêu lưu về cuộc đi bộ trên Đường mòn Appalachia, đặc biệt là lần do quá khát, anh uống nước ở quanh xác một con gấu trúc Mỹ đã thối rữa nằm trong vũng tù đọng “với những dải thịt ôi xanh lè dập dờn trong nước”. Ông Conway kêu ré lên, rùng mình khi nghĩ tới cảnh tượng đó.

“Bố không thể tưởng tượng nổi có ai khác làm được một chuyện như thế!” ông la lên.

Sau bữa tối, Eustace và cha anh bước ra sân để bàn về tình trạng của một bụi cây nhựa ruồi nào đó có lẽ cần bứng đi trồng chỗ khác. Đó là một buổi chiều tà miền Nam yên ả, mặt trời lặn trên nền trời giữa những đám mây mỏng tang, thấp đến độ khắp cả không gian được điểm tô một màn sương vàng rực. Hai người đàn ông đứng trong sân, tay đút túi, trò chuyện về cây nhựa ruồi. Rồi, đột nhiên, có tiếng chim hót - du dương và ngân nga mãi. Như những diễn viên được cùng một đạo diễn chỉ đạo, người cha và cậu con trai cùng ngước lên.

“Con gì thế nhỉ? Eustace hỏi. “Chim nhại có phải không?”          

“Bố không biết…”

Một lần nữa, tiếng chim hót.

“Chà,” Eustace thốt lên, đứng im phắc.

“Bố chưa bao giờ nghe chim nhại hót như thế này,” ông Conway hạ thấp giọng nói đầy thân mật. “Bố nghĩ có khi là một con chim nhại mèo.”

Giai điệu lại vang lên - ngọt ngào, ngân xa.

“Chẳng giống tiếng chim nhại mèo nào con từng nghe cả,” Eustace nó

“Phải thừa nhận là bố cũng vậy. Nghe như tiếng sáo ấy nhỉ? Bố không nghĩ đó có thể là chim nhại. Bố chắc chắn đó là chim nhại mèo nhưng bố chưa bao giờ nghe chim nhại mèo hót... du dương đến thế.”

“Chỉ ở trong các rừng mưa con mới được nghe nhiều loài chim hót giống như thế,” cậu con trai nói.

“Nghe gần như tiếng opera vậy,” người cha tiếp lời.

Họ đứng yên lặng cùng nhau, ngửa đầu nhìn chăm chú vào vệt lá sum suê của cây sơn thù du và cây hoa mộc lan mọc um tùm. Con chim hót như thể đang đọc nhạc, giống một giọng nữ cao luyện giọng cho buổi hòa nhạc, thang âm nối tiếp thang âm. Loài chim thông thường nào của Bắc Carolina có khả năng cất lên bài hát phi thường đến vậy? Họ cân nhắc các lựa chọn. Vào mùa này, vào giờ này, có thể là loài gì nhỉ? Hai người đàn ông biểu lộ một vẻ mặt băn khoăn đầy say mê y hệt nhau khi họ lắng nghe tiếng chim cũng như lắng nghe những suy đoán thông minh của người kia.

“Con có thấy nó không?” ông Conway hỏi.

“Bố biết không, con nghĩ nó bay ra từ quanh chái nhà,” Eustace thì thào.

“Đúng! Bố nghĩ con nói đúng.”

“Để con đi xem liệu con có thể chỉ ra nó, đoán ra nó là loài gì không.”

“Phải rồi! Đi đi!”

Eustace rón rén đi quanh góc nhà của cha trong khi con chim vẫn véo von. Ông Conway quan sát cậu con trai với vẻ vui sướng khoan khoái tuyệt đỉnh. Khuôn mặt ông ngập tràn tự hào và thích thú. Đó là một khoảnh khắc đáng yêu.

Thế nên tôi phải hỏi. “Bác Conway này, bác có nghĩ Eustace tìm ra con chim không?”

Sự vui sướng của ông Conway biến mất ngay lập tức thay vào đó là một vẻ nặng nề quen thuộc hơn - bực mình. Sự chuyển hóa diễn ra trong chớp mắt, nhưng giống như thể đang quan sát một cánh cửa ga ra xấu xí bằng kim loại đóng sầm xuống đằng trước cửa tiệm đầy quyến rũ. Một biện pháp bảo an cực xấu xí. Rõ ràng, ông đã quên mất tôi đang ở đó. Vừa rồi tôi có nghe trộm không? Tôi có quan sát toàn bộ khung cảnh bày ra trước mắt không? Và có phải giờ tôi đang đề nghị ông công nhận con trai của mình không?

“Không,” ông Conway quả quyết. “Nó sẽ không tìm thấy đâu. Nó không giỏi những chuyện như thế. À, một trong hai thằng em nó mà ở đây thì chắc sẽ tìm thấy đấy. Hai thằng đó giỏi về chim chóc lắm. Nhưng Eustace thì không. Nó bất lực trước những chuyện như thế.”

Nói đoạn, ông Conway bỏ vào nhà. Đóng sầm cửa sau lưng. Ông bỏ đi ngay vào giờ khắc đẹp đẽ nhất của buổi hoàng hôn hôm ấy. Tôi thật sự kinh ngạc. Sẽ là quá đau đớn đối với người đàn ông rõ ràng đang đầy ắp vui sướng này nếu nói ra một lời tốt đẹp về con trai mình ư? Sau tất cả khoảng thời gian này sao? Ông sẽ chết mất nếu chịu nhường một phân dù chỉ một lần trong đời mình sao?

Hình như là thế.

Phần kết của câu chuyện này, chẳng cần phải nói, là Eustace Conway chỉ ra chỗ con chim đó. Tất nhiên anh làm được. Anh len lén đi phía dưới con chim bởi vì anh đã quyết định làm thế, và bởi vì anh có thể làm bất cứ điều gì anh quyết định làm. Anh thấy nó đang hót và cuối cùng thừa nhận đó là một chú chim nhại mèo - nhưng giọng hót thật tuyệt vời! Đã có chú chim nhại mèo nào cất lên một tiếng hót đẹp đẽ hơn thế? Eustace xác nhận điều này và rồi nhanh như tên bắn quành trở lại góc nhà, ngập tràn phấn khích.

“Con thấy nó rồi, bố ơi!” Eustace Con kêu lên với Eustace Cha, nhưng muộn quá rồi.

Anh nhìn quanh sân một lát.

Bố đâu nhỉ?

Đi rồi.?

Nhưng tại sao?

Ai mà hiểu nổi?

Eustace đã chạy quanh ngôi nhà với niềm phấn khích mạnh mẽ như vậy là bởi anh muốn nói với bố điều anh đã nhìn thấy và học được. Anh không làm thế vì bất kỳ ai khác. Nhưng bố anh sẽ không nghe điều ấy, sẽ không có mặt để chứng kiến điều ấy. Thế là Eustace hít một hơi. Xốc lại tinh thần. Rồi một lần nữa, anh lấy cái giọng của người thầy nghiêm trang và mệt mỏi nhất thế gian.

Và để thay thế, anh nói với tôi về điều đó.

Chú thích:

[1] Tên thật là Thomas Chilton (1798-1854), người chấp bút hồi ký của David Crokett.

[2] Trò nhạo bằng cách chơi chữ. Neighbor: hàng xóm. Neigh: tiếng như ngựa hí. Hard: cứng. Hard-on: hứng tình.

[3] Nguyên văn: too many iron in the fire, thường được dùng như một thành ngữ chỉ việc ôm đồm nhiều việc một lúc.

[4] Theo quan niệm của người thổ dân, khói từ tẩu thuốc sẽ đem những lời cầu nguyện tới thần linh.

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của elizabeth gilbert