Trải ra trước mặt anh là một lục địa bao la bát ngát, và anh vội vã tiến bước như thể thời gian thúc ép và anh sợ chẳng tìm thấy chỗ nào cho những nỗ lực của mình.
- Alexis de Tocqueville
Hiện nay Eustace sở hữu mười con ngựa. Anh là người đầu tiên thừa nhận rằng sở hữu mười con ngựa là ngớ ngẩn, dở hơi và hoàn toàn thừa thãi với kích thước trang trại nhỏ bé của anh, nhưng anh không thể khước từ được khi mà chúng đẹp nhường ấy.
À, tôi vốn rất gần gũi với loài ngựa. Tôi lớn lên bên những người có kỳ tài điều khiển ngựa. Ông tôi nuôi một đàn ngựa tuyệt vời, và tôi từng làm việc tại trang trại của một người đàn ông trông coi bảy mươi lăm con ngựa mà chẳng tốn sức là bao, nhưng tôi chưa bao giờ thấy ai có thiên khiếu về ngựa xuất sắc hơn Eustace. Loài ngựa lắng nghe anh. Chúng tập trung chú ý. Khi Eustace đi qua đồng cỏ, bọn ngựa ngừng gặm cỏ ngước lên nhìn anh, đứng yên không nhúc nhích, chờ lệnh - một hậu cung nhiệt tình dâng hiến, một đoàn cô dâu khấp khởi chờ mong.
Điều này càng ấn tượng hơn nếu ta xét rằng Eustace không lớn lên cùng ngựa và tới tận mười năm trước anh mới sở hữu một con. Anh nấn ná một thời gian dài bởi vì nuôi ngựa rất công phu và cần rất nhiều đất đai cũng như tiền bạc. Khi ta sống tự cấp tự túc, nuôi sống bản thân ta dễ hơn rất nhiều so với nuôi một con ngựa. Nhưng anh luôn biết một ngày nào đó anh sẽ có ngựa. Đó là một phần trong kế hoạch tổng thể. Ví như, anh mua cái máy cắt cổ lỗ hoạt động dựa vào sức kéo của ngựa nhiều năm trước khi anh có hoặc một đồng cỏ để cắt hoặc một con ngựa để phối hợp cắt xén với cái máy đó.
Khi cuối cùng đã phát quang đủ cây cối để tạo ra đồng cỏ chăn gia súc phù hợp trên Đảo Rùa, anh mượn một con ngựa cái Percheron già to lớn từ một nông dân trong vùng và dùng con ngựa cái ấy cho các trại viên của mình cưỡi và để anh thực hành việc đồng áng với ngựa. Con ngựa chậm chạp ì ạch, nhưng thậm chí ở bên con vật u sầu đó cũng đủ khiến huyết quản của Eustace rần rật. Anh muốn nhiều hơn. Thế là anh mua cho mình một con ngựa kéo trẻ trung rắn rỏi tên là Bonnie và, với nàng ngựa ấy, học cách lường trước những mối lo cũng như trí năng của loài ngựa, cách có những quyết định ra lệnh chớp nhoáng, và cách tin tưởng hoàn toàn vào những mệnh lệnh của mình. Eustace cũng tìm được cho mình hai người thầy - một nông dân già miền núi tên Hoy Moretz, ông biết mọi điều về thuần gia súc theo phương thức truyền thống, và một thanh niên là tín đồ dòng Mennonite tên Johnny Ruhl, Eustace tin rằng anh chàng có khả năng trực giác với loài ngựa không ai bì kịp. Eustace thường dẫn ngựa qua chỗ hai người này để học hỏi và rồi quanh quẩn bên cạnh khi họ làm việc với gia súc của họ, quan sát và học tập. Hoy và Johnny thấy Eustace là một học trò lý tưởng - tập trung và xuất sắc, và dễ dạy, bởi vì dường như bằng trực giác anh hiểu rõ câu ngạn ngữ cũ của vùng này về chuyện tại sao Thượng đế cho con người hai cái tai nhưng chỉ một cái miệng: anh ta có thể im lặng và anh ta có thể lắng nghe.
Eustace liên tục sử dụng Bonnie vào việc đồng áng
và làm sức kéo, và nó sinh ra để dành cho điều đó. Nó là một con bò đội lốt ngựa, anh rất cảm kích nó. Nhưng anh cũng say mê với ý tưởng cùng một con ngựa rong ruổi trên đường cho một hành trình thật dài nào đó. Thế nên anh thường xuyên đóng yên cho con ngựa cái làm nông to lớn của mình và đi vào vùng núi mấy ngày liền, chỉ để biết cảm giác ra sao nếu chu du cùng bạn đồng hành là một con vật. Eustace yêu ý tưởng này, nhưng Bonnie rõ ràng không sinh ra để dành cho những cuộc phiêu lưu như thế. Nó quá chậm chạp, . Thế là Eustace bắt đầu khao khát một con ngựa để cưỡi đích thực. Anh muốn một chiếc mô tô êm ru chứ không phải một chiếc xe ủi cồng kềnh là Bonnie. Và thế là, với lời khuyên và sự chấp thuận của các thầy, năm 1994 anh mua cho mình một con ngựa thuần chủng Morgan, một con ngựa đua đường trường vô địch tên là Hasty.
Hasty - Siêu tốc - đúng y như cái tên của nó. Hơn nữa, khi về tay Eustace thì Hasty đã được huấn luyện thuần thục. Trước đây Eustace phải dạy cho Bonnie cách xử sự thì giờ Hasty dạy cho Eustace cách xử sự. Eustace hết sức tập trung chú ý và học rất nhanh, cho đến khi anh và Hasty đạt trình độ ngang nhau, đều có thể trải qua nhiều ngày dài chỉ bảo lẫn nhau cách kết thành một đôi. Eustace bắt đầu thực hiện những hành trình trên chặng đường dài với Hasty, phi từ trên núi xuống bờ biển Bắc Carolina. Đúng như đã nghĩ, anh thực sự vô cùng yêu lối thử thách cơ thể này, duy trì tốc độ nhanh băng qua địa hình mấp mô khó đoán định với con ngựa đồng hành và không có sự đảm bảo an toàn. Tuy nhiên, điều anh không nghĩ đến là mức độ tương tác mãnh liệt hơn với những người Mỹ bình thường mà anh trải nghiệm được khi trên lưng ngựa phi ngang qua đời họ. Có cái gì đó ở sự hiện diện và vẻ lãng mạn của con ngựa đã thu hút được mọi người.
Phản ứng đó vừa đặc biệt vừa phổ biến. Một ngày đầu năm mới, khi Eustace đang cưỡi Hasty ra biển, anh phi qua một xóm nghèo xơ xác ở vùng nông thôn Bắc Carolina. Nơi đó toàn những túp lều và những chiếc xe moóc điêu tàn và những khoảnh sân đầy ô tô gỉ sét. Khi phi qua một mái nhà xiêu vẹo, anh thấy có tiếng huyên náo ầm ĩ ở sân sau. Có lẽ cũng cả trăm người, tất cả đều là người da đen nghèo, tụ tập lại trong một buổi tiệc sum họp đại gia đình. Mùi thịt nướng ngào ngạt trong không khí tháng Giêng lạnh ngắt. Toàn bộ khu đất nghèo nàn đang rung chuyển và rộn ràng với sự náo nhiệt của buổi lễ. Khi mọi người nhìn thấy Eustace - anh chàng người rừng râu quai nón bộ dạng trông rất đáng ngờ này, gã công tử da trắng ngồi trên mình ngựa với một khẩu súng ngắn trên yên này - họ cười lớn và hoan hô và gọi to, “Phi vào đây!” Thế là Eustace quay ngựa đi ngay vào sân, ngay vào giữa buổi đoàn viên đại gia đình. Y như thể anh là người trong gia đình. Mọi người ôm hôn chào đón và tán dương anh như một người họ hàng xa. Cả gia đình xúm đông quanh anh và lần lượt đề nghị được cưỡi ngựa. Họ có cả triệu câu hỏi. Họ muốn biết mọi điều về Eustace và thông điệp không tưởng cũng như đích đến của anh. Họ tiếp đồ ăn cho anh cho tới khi anh khó lòng di chuyển nổi, nhồi anh no căng với đùi lợn muối, bánh ngọt, cải bẹ, bánh bột ngô và bia hảo hạng, và rồi để anh đi tiếp đoạn đường của mình, với một đoàn người nô nức chạy theo sau, chúc anh may mắn, rồi hình ảnh họ mờ dần cho đến khi biến mất hẳn
Đối với Eustace, người gần như suốt đời nghĩ ra những cách phá bỏ mọi tường ngăn mà đi vào tâm thức của mọi kiểu người Mỹ, đây quả là một phát lộ. Đó là một cuộc gặp gỡ tình cờ và mãn nguyện, và anh biết rõ rằng anh sẽ không bao giờ được chào đón ở một cuộc hội họp như thế nếu không có con ngựa làm tàu phá băng. Eustace đã chu du khắp nước Mỹ - đi bộ, đi nhờ xe, ngồi trong toa chở hàng, lái xe đường trường - nhưng không phương tiện nào trang bị cho anh tình ái hữu dân tộc mà một chú ngựa có thể trao cho anh. Đó là câu trả lời.
Rõ ràng, đã đến lúc lập kế hoạch cho một hành trình trên lưng ngựa xuyên lục địa.
Eustace muốn cưỡi ngựa xuyên nước Mỹ và anh muốn đưa cậu em trai Judson đi cùng. Judson Conway là người đồng hành tuyệt vời, là người bạn chu du đáng mơ ước cho một chuyến đi như thế này. Nhưng hơn thế, Eustace cảm thấy rằng anh và Judson, với tư cách anh em trai, cần chia sẻ một trải nghiệm hào hùng nào đó. Anh nhận ra rằng mình vẫn nghĩ về Judson như một cậu bé, như một thằng nhóc trốn trong phòng ngủ với những bức tượng nhỏ các nhân vật trong phim Star Wars, và anh muốn xóa bỏ hình ảnh đó. Judson giờ đây đã thành đàn ông. Judson là một tay thợ săn, một kỵ sĩ, một lữ khách dạn dày, một chàng cao bồi hăng say lao động. Eustace muốn chứng kiến Judson trong tất cả các khuôn dạng này, đồng thời cũng là để trải nghiệm một chặng phiêu lưu dài mà chắc chắn sẽ kéo hai anh em xích lại gần nhau như những người ngang tài ngang sức.
Judson, khỏi cần phải nói, mê tít kế hoạch này. Anh muốn biến khỏi xã hội hiện đại và cưỡi ngựa xuyên nước Mỹ như một kẻ lang bạt kiêu hùng đích thực trên cao nguyên như phim Hollywood ư? Chết tiệt, đúng thế! Judson cuồng si kế hoạch đó, khao khát cơ hội có “cuộc đời chênh vênh thử thách, được dịp sống tự do phóng khoáng”. Anh lao ngay vào thả mình chìm đắm trong ý tưởng ấy, tuyên bố rằng anh sẵn sàng khởi hành liền tức thì, nóng lòng sốt ruột với cuộc săn đuổi. Chỉ cần trỏ về hướng Tây và ra lệnh cho anh rồi hãy xem ngựa anh tung vó.
Vậy là chuyện đã được định đoạt. Họ còn đồng ý lấy cho chính mình một cái tên. Họ sẽ là nhóm Kỵ sĩ Đường trường. Eustace, tất nhiên, ngay lập tức đứng ra tổ chức. Anh tính xem họ cần bao nhiêu ngựa, nên mang theo bao nhiêu tiền, nên mang theo loại súng gì, và toàn bộ hành trình sẽ đòi bao nhiêu thời gian. Anh tập hợp bản đồ và những chuyện kể đó đây của những lữ khách dặm trường trên lưng ngựa khác, cố gắng tiên lượng mọi sự việc có khả năng xảy ra. Tất nhiên hầu như không thể mường tượng chính xác điều gì sẽ xảy ra với họ ngoài kia; điều quan trọng là có một lộ trình thông minh, ngựa tốt, và một khởi đầu thuận lợi.
Eustace chọn một tuyến đường miền Nam xuyên qua đất nước. Kỵ sĩ Đường trường sẽ khởi hành từ đảo Jekyll, ngoài bờ biển Georgia, vận hết tốc lực phi thẳng về hướng Tây, băng qua Alabama, Mississippi, Louisiana, Texas, New Mexico, Arizona, và vào ngay California. Kế hoạch tổng quát của Eustace là đi men quanh các thành phố chính để không bị tống giam hay bị xe tải đâm (mẹ anh bắt anh phải hứa không để Judson bé bỏng có mệnh hệ nào) - và đó là tất cả những gì mà trước mắt anh có thể dự trù một cách hợp lý. Bắt buộc phải tập trung vào tốc độ. Đây sẽ không phải là một chuyến lang thang suy tư thong thả. Anh muốn ép bản thân và cậu em trai cùng mấy con ngựa đạt tới giới hạn tận cùng, để thấy chính xác họ có thể vượt ngần ấy dặm đường một cách suôn sẻ đến mức nào trong khi trải nghiệm sự chỉ đạo gay gắt của thử thách thể chất.
Và rồi, đột nhiên họ có một bạn đồng hành nữa.
Judson, theo đúng phong cách Judson, đã khoe khắp chốn về chuyến đi và tin đó tới tai người bạn của anh là Susan Klimkowski, một người bản địa Bắc Carolina đã làm việc cùng Judson ở nông trại trên Wyoming. Xinh một cách đằm thắm, hết sức e thẹn, và bền bỉ lạ lùng, cô gái Susan hai mươi lăm tuổi đã có thâm niên kinh nghiệm trên lưng ngựa nhiều hơn cả Judson và Eustace cộng lại. Cô là một trong số những người biết cưỡi ngựa trước khi biết đi. Cô không phải là người tìm cảm giác mạnh và không khoe mẽ, và cô không vờ vịt là đứa con thiên mệnh, nhưng khi nghe về hành trình xuyên nước Mỹ, lòng cô dậy lên một quyết tâm mãnh liệt. Cô phải đi cùng.
Judson đã làm việc với Susan ở dãy Rocky đủ lâu để biết rằng cô có thể kham được các đòi hỏi thể chất của chuyến đi này, nhưng anh bảo cô sẽ phải nói chuyện trực tiếp với Eustace. Vừa tỏ ra hoàn toàn tôn trọng và đồng thời cũng do thôi thúc bản thân không cưỡng được, Susan hỏi Eustace Conway liệu cô có thể tham gia nhóm Kỵ sĩ Đường trường chăng, không phải bằng cách gọi điện cho anh để xin xỏ, mà bằng cách phi ngựa lên núi tới nhà anh và ngồi trên lưng ngựa để thảo luận vấn đề. Nói cách khác, cô trình diện trước Eustace như cô sẽ trình diện trước toàn bộ thử thách này - khăn gói sẵn sàng, rõ ràng đủ năng lực, và mong mỏi không gì khác ngoài một từ “Đồng ý”.
Eustace đã trao từ đó cho cô. Anh thực sự ấn tượng với sự trình diện của cô và có thể nói rằng cô rất giỏi điều khiển ngựa. Nếu cô theo được, cô có thể đi cùng. Và điều hấp dẫn cộng thêm vào là Susan đến cùng một chiếc xe tải xinh xắn và một chiếc xe moóc chở ngựa mới tinh rất đẹp, Eustace nghĩ những thứ này hẳn sẽ là một bổ sung tuyệt vời cho cuộc hành trình. Anh biết rằng có thể hoàn thành một chuyến đi như thế mà không cần phương tiện hỗ trợ, nhưng anh cũng biết rằng họ có quá nhiều khó khăn nghiêm trọng trước mắt chưa thể đoán định, và có thêm một không gian an toàn di động để chứa ngựa bị thương và chăn mùng tăng cường thì sẽ giảm bớt phần nào áp lực và nguy hiểm. Sẽ hơi trở ngại một chút - mỗi ngày Eustace và Judson và Susan sẽ phải thay phiên nhau lái chiếc xe moóc đi trước trên đường, rồi đi nhờ xe quay lại để bắt đầu cưỡi ngựa. Họ sẽ cùng nhau ra sức phi hết dặm đường tới chỗ chiếc xe moóc đậu và rồi tiếp tục lên đường vào sáng hôm sau. Đó sẽ là một gánh nặng, nhưng là rắc rối đáng giá.
Đâu đã vào đấy. Thế là giờ họ có ba người. Ba người và bốn con ngựa và một chiếc xe tải và một chiếc xe moóc và cả lục địa trải ra trước mặt họ. Giáng sinh năm 1995, họ khởi hành. Họ đội mũ ông già Noel, cười vang, tràn đầy sinh lực và phấn khích. Ngay lập tức, họ tìm thấy một chai Bacardi chưa khui bên vệ đường. “Phước lành từ Chúa, một món quà từ tự nhiên,” Eustace tuyên bố, và họ ném phịch chai rượu xuống chỗ cũ rồi khởi hành.
Eustace cưỡi Hasty. Susan cưỡi Mac, một con ngựa mười hai tuổi đen tuyền đáng tin cậy giống Tennessee Walker. Judson thay đổi giữa Spur, một con ngựa Ả rập lông bạc rất đẹp anh đã mua ở một cuộc đấu giá, và con Tư lệnh, vừa mua cho cuộc phiêu lưu này, nó được anh em nhà Conway đặt tên theo tên người ông huyền thoại của họ, Tư lệnh Johnson.
“Tội nghiệp Tư lệnh,” Judson nói, ngày họ mua chú ngựa. “Nó đã lang thang ngoài đồng cỏ cả đời rồi nên đâu có biết nó sắp bước vào cái gì. Nó đang trên đường vỡ vạc ra mọi điều về chuyện làm thân ngựa.”
Nói thế không phải là có bất kỳ ai trong họ, cả người lẫn ngựa, có một ý niệm rõ ràng về điều họ sắp bước vào. (“Chúng tôi đã không biết mình đang làm gì,” Eustace sau này sẽ nói thế. “Và đó là một thực tế.”) Eustace căng thẳng và lo lắng hơn nhiều so với Susan và Judson, hai người này lúc bấy giờ vẫn còn nghĩ rằng chuyến đi sẽ không gì hơn là niềm vui bất tận. Eustace đủ tỉnh táo để clo không biết liệu thậm chí họ có thể sống sót không. Tuy nhiên, bất kể có điều gì xảy ra, Eustace cũng đã sẵn sàng ghi lại- Anh mang một máy ghi âm nhỏ bên mình cùng mười tám cuộn băng, và anh ghi một cuốn nhật ký bằng lời trong khi họ phi ngựa. Một phần lý do anh làm thế là để tránh cái chuyện phải ghi lại hồi ức của mình bằng tay, quá chậm. Và quả thực, những lời nói không dứt theo lối dòng ý thức trong các cuốn băng ấy càng được tiếng chim, tiếng xe cộ và tiếng vó ngựa làm nền làm cho sống động hơn.
“Tôi đang một tay cầm máy ghi âm, một tay giữ ngựa,” anh nói vào Ngày Hai của hành trình. “Đã thấy một số cảnh tầm gửi Tây Ban Nha tuyệt đẹp, một bé gái mặc áo khoác sáng màu vắt vẻo trên cây thông già to, máy ép đường, lò luyện kim, những cây cọ lùn. Đường ở đây khá bừa bãi rác rưởi, cốc, thùng bia, bao thuốc, vỏ chai, giấy gói, lon hộp, giấy nhôm. Thật đáng kinh ngạc, rác rưởi. Tuy nhiên, đi thêm mươi mét nữa thì cảnh vật lại đẹp. Những thân cây ngược nắng, vườn thông. Một kiểu độc canh. Đất nhiều cát. Ngay lúc này đây, tôi tự do như bất kỳ người nào trên nước Mỹ. Thật mãn nguyện được ở đây, xa mọi trách nhiệm, tôi mong thêm nhiều người có cuộc đời giản dị.”
Thế đấy, anh ghi lại trải nghiệm của mình, nhưng trong anh còn tồn tại cả một nhà dân tộc học đang làm việc, Eustace háo hức phỏng vấn những người Mỹ bình thường mà họ gặp dọc đường. Trong mấy năm lại đây anh càng ngày càng suy nghĩ nhiều về sự biến mất của phương ngữ do ảnh hưởng sâu rộng của truyền thông đại chúng. Anh có thể nghe thấy điều đó diễn ra tại thung lũng quê nhà, nơi người già Appalachia dường như nói một thứ tiếng khác hẳn ngôn ngữ của cháu chắt họ. Bậc ông bà vẫn có giọng nói điệu đà kiểu thời Elizabeth (ví như, họ phát âm từ “sword” với âm w rất rõ) và gọi công cụ và gia súc bằng những từ cổ mà chẳng bao lâu nữa sẽ biến mất, bởi vì thế hệ hậu bối của họ đều đang bắt đầu nói giọng nghe như đám DJ ở thành phố New York. Eustace rất yêu thích những phương ngữ rõ ràng và đích thực, và anh cũng là một người có tài bắt chước rất giỏi. Anh biết đây sẽ là cơ hội
cuối cùng để anh có được hình dung bao quát về các giọng nói miền Nam nước Mỹ, bởi vì Kỵ sĩ Đường trường thường phi băng qua sân sau nhà mọi người theo đứng nghĩa đen. Họ có giấy thông hành khắp lục địa và phi ngựa băng qua ngay chính giữa lòng đời sống người Mỹ - không rào cản, không biên cương, không mép giới hạn. Gần như thể họ là ma, và mọi bức tường trước mặt họ đều trở thành phi thực. Họ có thể ngửi và chạm và với tới mọi người khi họ đi qua.
Eustace ghi âm lại một cụ già da trắng nghèo khó người Georgia hỏi, “Anh có loại trang trại nào vậy?”
“Vâng, thưa ông,” Eustace cất tiếng, “cháu có khoảng một nghìn mẫu đất ở Bắc Carolina. Cháu nghĩ có thể nói là cháu trông coi một trang trại truyền thống và nguyên thủy trên đó, đồng thời cũng là một trung tâm giáo dục tự nhiên…”
Nhưng ông già da trắng cắt lời. Không, không. Ông không muốn biết Eustace có loại trang trại (farm) nào; ông muốn biết Eustace có loại súng (fire arm) nào cơ. Thế là trong cuốn băng ấy ta có thể nghe thấy Eustace cười mãi không ngớt và lịch sự trình bày rõ để đáp lời ông.
Và anh cũng rất yêu những giọng nói của người da đen ở Georgia, ví như cụ già ngồi trên xích đu bên hiên nhà nọ đã sử dụng băng ghi âm của Eustace để hồi tưởng về tuổi thơ của ông trong một gia đình nông dân lĩnh canh:
“Cha tôi thường đi khắp các phòng và nói, ‘Dị đi, các chàng trai’ Chúng tôi chẳng hiểu gì. Ông nói, ‘Dị đi, các chàng trai!’ rồi lần sau ông nói, ‘Cha nghĩ các con phải dị đi’... Thời ấy tuyệt không có cái gì gọi là ngược đãi trẻ em cả nên tốt nhất là ta nên ra khỏi giường thôi, bởi vì tôi nói anh nghe cái này - bố tôi là người đàn ông đích thực nặng 130 cân, và khi ông nói, ‘Dị đi, chàng trai,’ thì tốt nhất là ta nên bước xuống sàn nhà.”
Gợi chuyện mọi người là việc rất dễ. Tất nhiên, đó là nhờ những kỵ sĩ này có vẻ gợi cảm vô cùng lãng mạn. Eustace cao ráo và mảnh khảnh ngồi trên cái yên ngựa Kỵ binh Hoa Kỳ cũ, mình trần hoang dã và râu ria bờm xờm, cắm lông trên tóc và phi ngựa thuần thục nên điều khiển Hasty không tốn sức tí nào. Anh trông như một kẻ đào tẩu từ Đội biệt động Texas, một tay săn tội phạm nào đó được tự do sau khi lạc mất đơn vị rồi trở thành người bản xứ. Judson và Susan mặc đồ cao bồi bụi bặm thời xưa - đủ cả quần da, đinh thúc ngựa, mũ rộng vành, áo khoác dài và khăn quấn đầu lớn in hoa sặc sỡ. Dáng vẻ của họ chỉ phần nào mang tính khoe mẽ; đây đúng là trang phục mặc khi ta trên mình ngựa cả ngày, phơi ra trước nắng, mưa, tuyết, lùm cây, bụi bặm.
Khá khen cho Judson, thỉnh thoảng anh cũng sẵn sàng hy sinh hình ảnh cao bồi chính hiệu cho tính thực dụng. Anh mặc một chiếc quần bó vải bóng màu nhạt dưới quần da, khiến những tay lái xe tải và công nhân nông trang họ gặp trên đường đi mê tít. Nhưng chất vải mát lịm giúp cho Judson khỏi bị bỏng vì yên ngựa, và khi quá chồn chân với chặng phi bất tận, anh có thể cởi ủng ra, xỏ đôi giày Nike vào, và túc tắc chạy vài dặm bên cạnh chú ngựa, chỉ để giữ dáng và để hết tê chân.
Bản thân các kỵ sĩ hết sức quyến rũ. Nhưng chính những con ngựa mới thu hút mọi người hơn cả. “Nơi nào chúng tôi đến,” Judson nói, “chúng tôi đều là một cuộc diễu hành.” Những đứa trẻ vùng ngoại ô Atlanta chạy theo sau họ mà không hề chùn bước ngại ngần, chỉ để được ôm ngựa của họ. Với những gia đình nông dân da trắng nghèo sau này họ gặp ở Texas cũng y như vậy.
Chuyện cũng giống y như vậy với khu vực thổ dân Apache sinh sống ở ngoại vi Arizona. Khu thổ dân này là một mảnh đất hoang vắng nghèo nàn mà đoàn kỵ sĩ dự tính sẽ đi vòng qua, bởi vì những người da trắng quanh đó hàng trăm dặm đã cảnh báo họ đừng có liều nộp mạng cho “bọn Apache hung dữ đáng sợ” đó. Nhưng Eustace, vốn biết đủ về cả lịch sử cổ đại lẫn chính trị đương đại để tôn trọng lời cảnh báo, sẽ không thay đổi tuyến đường mình đã chọn. Như anh tuyên bố với các bạn đồng hành lòng đầy lo lắng, “Chúng ta sẽ không thay đổi lộ trình chỉ vì định kiến chủng tộc chết tiệt. Tới giờ chúng ta đã học được gì về chuyến đi này, mọi người? Ai đã không tốt với chúng ta nào? Người da đen, da trắng, người gốc Latinh, ai cũng tốt với chúng ta cả. Và nếu chúng ta bắt đầu né tránh mọi người vì sợ thì chúng ta đã phá hủy mọi thứ đáng ra chúng ta phải bênh vực. Các em có thể đi đường vòng, còn anh vẫn sẽ phi ngựa xuyên thẳng qua khu thổ dân này, dù có hay không có các em. Và anh cóc cần biết có phải lãnh một viên đạn vào đầu vì chuyện này hay không.”
Thế là tất cả Kỵ sĩ Đường trường quả đã kề vai sát cánh phi ngựa xuyên thẳng qua khu thổ dân Apache. Và người Apache hóa ra phần nào là những tay hung dữ đáng sợ thật, họ lôi Kỵ sĩ Đường trường vào nhà nghỉ qua đêm, cho cả người lẫn ngựa ăn.
Chuyện cũng y như vậy khi, sau nhiều tháng rong ruổi trên đường, họ đi qua những khu ổ chuột bẩn thỉu nội đô San Diego (“Đừng làm thế!” người da trắng cảnh báo), và những đứa trẻ dân Mexico từ trong nhà chạy ào ra xin cưỡi ngựa trong khi bố mẹ chúng thi nhau chụp ảnh, cho đồ ăn thức uống và cầu chúc may mắn. Khắp dọc đất nước này, đâu đâu cũng cùng một sự đón chào như thế. Khắp mọi nơi máy quay truyền hình và đội hộ tống của cảnh sát trưởng sẽ theo chân họ từ ranh giới hạt này tới ranh giới hạt kia. Họ gặp các thị trưởng và bộ trưởng từ bờ nọ tới bờ kia đất nước, những người đứng ra yêu cầu dân chúng trong thành phố này thành phố khác chào đón họ. Đó là một cơn cuồng nhiệt của tình mến khách và niềm phấn khích.
Ô tô sẽ tạt vào vệ đường, tài xế nhảy ra, chạy tới chỗ Kỵ sĩ Đường trường, hỏi đi hỏi lại cùng một câu: “Các bạn là ai? Các bạn đi đâu? Chúng tôi có thể làm gì giúp các bạn?”
Và luôn luôn có câu này: “Chúng tôi muốn làm điều các bạn đang làm.”
“Các bạn làm được,” Eustace lần nào cũng trả lời vậy. “Các bạn làm được chứ!”
Ngày của họ bắt đầu từ bốn giờ sáng, khi họ chăm sóc ngựa và cố nghĩ xem trong vòng ba mươi đến năm mươi dặm tới nơi nào họ sẽ tìm được thức ăn và nước cho bản thân và cho mấy con vật. Hằng ngày, một trong ba người sẽ lái xe moóc đi trước nhiều dặm và rồi đi nhờ xe quay trở lại trại để bắt đầu phi ngựa cùng nhau. Việc này mất rất nhiều thời gian; đôi khi hai Kỵ sĩ Đường trường sẽ phải trì hoãn hàng giờ trong khi người thứ ba cố xin đi nhờ xe. Và ngày của họ mãi sau nửa đêm mới kết thúc. Nhịp độ phi của họ thật kinh khủng. Họ rạc hết cả người vì phi quá cật lực, nhưng họ không bao giờ ngừng lại, không bao giờ đi bộ, chỉ phi nước kiệu là cùng.
Những chặng đường họ phải phi từ chỗ bác sĩ thú y đến chỗ thợ đóng móng ngựa xa đến độ Eustace trở nên thành thạo chữa bệnh cho thú và chăm sóc móng cho chúng. Anh đã quan sát cánh thợ đóng móng cho lũ ngựa của anh nhiều lần tới mức anh tin chắc mình có thể tự suy ra cách làm việc đó. Anh gọi cho Hoy Moretz, người thầy miền núi sành sỏi về ngựa của anh ở Bắc Carolina, hỏi ông nếu anh tự đóng móng ngựa ngay trên chặng hành trình thì có nên không, và ông già nghiêm khắc cảnh báo anh, “Đừng làm thế. Anh rất thông minh, nhưng anh không phải dân chuyên. Anh có thể học cách tự đóng móng ngựa lấy tại trang trại ở nhà, nhưng liều lĩnh làm bị thương một con vật trên hành trình vì thiếu hiểu biết là rất nguy đấy.” Lời khuyên chí lý, và Eustace hoàn toàn đồng ý, nhưng cuối cùng anh phớt lờ đi vì tất cả chúng ta đều biết cái khó ắt ló cái khôn. Anh phải học, thế nên anh thực sự đã học. Anh còn chích thuốc và cho ngựa uống thuốc, điều chỉnh khẩu phần ăn cho chúng, và nói không ngừng về thể trạng của chúng trong các cuốn băng.
“Gần cuối d nước tiểu của Hasty thực sự có máu đen; điều đó khiến tôi lo lắng... hôm nay ngã hai lần, dường như vô lý, nhưng đã xảy ra, nó đập mặt xuống đất... Tôi bịt mắt nó và dẫn nó đi loanh quanh để chuẩn bị tinh thần cho nó vượt qua cây cầu sắp tới. Vì có cơ may là nếu chúng tôi đưa được một con ngựa qua cây cầu kiểu mới có sàn lưới kim loại mà bọn ngựa có thể nhìn thấy bên dưới và thực sự là sợ thì, ừm, có lẽ chúng sẽ qua được hết và chúng tôi sẽ an toàn... Tìm thấy một viên đá nhỏ trong móng của Spur đang làm nó đau... cố gắng coi chừng dây chằng của chúng; không thể để cho dù chỉ một vết thương không được chữa trị ở ngoài này.”
Nhiều lần đi dọc đường, Eustace nhận ra rằng họ cần sức ngựa mới mẻ khỏe khoắn hơn, thế là anh dừng lại để mua hay trao đổi gia súc. Đó là cách họ có được Cajun, Albert Béo, Blackie và Chavez. Đó cũng là cách họ có con la dẻo dai, Peter Thỏ.
Peter Thỏ xuất thân từ dưới vùng Mississippi. Eustace nhất quyết mua cho Kỵ sĩ Đường trường một con la, vì anh muốn họ có một con vật thồ hàng khỏe mạnh. Thế là anh bắt đầu mở lời với bất kỳ ai anh gặp trên đường rằng anh đang tìm mua. Có người đã chỉ cho một kỵ sĩ sống gần đó trong một trang trại lớn, ông này chắc chắn có gia súc muốn bán. Người chủ nông trang ấy tên là Pierson Gay, đẹp trai, bảo thủ và thanh lịch - một quý ông miền Nam cổ điển với chòm ria mép bạc phơ được tỉa tót cẩn thận. Kỵ sĩ Đường trường gọi cho ông từ ngoài đường và trình bày với ông họ đang tìm gì. Ông đồng ý đưa họ tới các chuồng ngựa của ông tối hôm đó để bàn bạc chuyện bán ngựa. Nhưng như Judson nhớ lại, “Khi chúng tôi phi ngựa lên trang trại của ông ấy, cả ba đều tóc tai bờm xờm, người ngợm nhầy nhụa, trông chẳng khác gì một lũ hippy bẩn thỉu, Pierson thực sự phải quay đầu tránh nhìn chúng tôi. Ông ấy là một người đàn ông cực kỳ sạch sẽ, thề có Chúa, ông ấy suýt phát nôn vì kinh tởm.”
Nhưng người nuôi ngựa có cách để nói lên sự thông thạo của mình về ngựa - một mật mã riêng, có lẽ thế. Y như Eustace trước đây đã ngay lập tức tin rằng Susan Klimkowski biết cách cưỡi ngựa thông qua việc quan sát cô tới trình diện trên lưng ngựa tại nhà anh trên núi, Pierson Gay nhanh chóng nhận thấy các thanh niên này biết mình đang làm gì. Còn về gia súc, Pierson có một con vật ông sẵn lòng bán - một con la rất đặc biệt, lông trắng, đẹp mã, to lớn. Vô cùng khỏe. Tên là Peter Thỏ. Eustace và Judson và Susan kiểm tra Peter Thỏ và thấy anh chàng rất cường tráng và sung sức, đúng thứ họ cần để mang chỗ đồ đạc phát sinh. Pierson bảo họ ông sẽ bán con la với giá 1.000 đô. Giờ đây các Kỵ sĩ Đường trường, đặc biệt là Eustace, biết cách thương lượng giá mua gia súc; không bao giờ chấp nhận giá khởi điểm. Họ trở lại chỗ Piers đề nghị giá 900 đô. Nghe đoạn, ông Pierson Gay bỏ đi, lầm bầm trong khi ra khỏi chuồng, “Một nghìn đô la; giá thế đấy. Đó là giá trị của con la đối với tôi và đó là cái giá tôi đã quyết cho nó, thế nên hoặc các anh đưa tôi một nghìn đô hoặc tôi sẽ để Peter Thỏ lại ngay trên đồng cỏ đó; chuyện đó chẳng mảy may làm tổn thương cảm xúc của tôi.”
Họ nhả ra một nghìn đô la.
Tuy nhiên, có một số vấn đề với Peter Thỏ. Pierson Gay chẳng cố giấu họ làm gì. Bọn la lúc nào chẳng có vấn đề. Không giống hầu hết loài ngựa, la ranh mãnh và thường xấu tính. La biết nghĩ, suy luận, bày mưu, trả đũa. Ta phải thủ thế sẵn khi ở cạnh loài la, và con la này lại còn đặc biệt nham hiểm. Đây là quy định. Ta không thể chạm vào tai Peter Thỏ, nếu không nó sẽ cố giết ta. Điều đó khiến cho kiềm chế con la là một việc liều mạng. Ta không được chạm vào bụng Peter Thỏ, nếu không nó sẽ cố giết ta. Điều đó cũng khiến cho thắng yên cho con la là một việc mạo hiểm. Ngoài ra, Pierson Gay cảnh báo (ông là một chuyên gia sành sỏi về động vật bốn chân và từ rất lâu đã từ bỏ ý định thuần dưỡng con la này), Peter Thỏ có khả năng cố giết người mà chẳng vì lý do rõ ràng nào hết. Và ta cũng không được chạm vào chân nó. Nếu không nó sẽ cố giết ta.
Tuy nhiên, nó là một con vật đầy sức mạnh phi thưòng. Thế nên họ mua nó.
Kỵ sĩ Đường trường ra đi vào ngày hôm sau cùng với Peter Thỏ hoàn toàn sung mãn và khỏe mạnh trong đoàn thồ hàng. Chẳng được bao lâu con la đã cho thấy sự có mặt của mình là lợi hại nhường nào. Lúc đó trời mưa như trút, Jusdon đang cố phủ một tấm bạt lên ngựa của mình để bảo vệ đồ đạc. Tấm bạt bay phần phật và đập phành phạch trong gió, và Peter Thỏ chẳng thích thế tí nào. Nó co cẳng phóng cho Judson một cú đá tận lực nhằm vào ngay chỗ nhiều thịt nhất trên đùi của chàng cao bồi. Nếu cú đá hạ xuống chỗ nào khác, đó có thể đã là một cú đòn làm vỡ đầu gối, gãy tay, giập hông, bẹp sọ, hoặc nát ruột. Với sức mạnh của nó, cú đá khủng khiếp của Peter Thỏ đã ném Judson bay lên không tầm một mét rưỡi rồi đáp thẳng xuống mặt đất, nơi, theo Judson thừa nhận, anh đã nằm im trên cỏ ướt, để mặc mưa rơi trên mặt và thầm nghĩ mới sung sướng làm sao khi được ngả lưng nghỉ ngơi một lát giữa cuộc hành trình bạo liệt này.
Nhưng Eustace bắt đầu ra tay hành động. Anh đã luôn để mắt đến Peter Thỏ, chờ một sự bất đồng ý chí giữa họ, và chờ đợi giây phút để anh giải thích rõ cho con la ai là kẻ cầm ở đây. Đây chính là khoảnh khắc đó. Con la và người đàn ông thủ thế tấn công trong cuộc vật lộn đầu tiên trong hàng tá cuộc vật lộn rồi đây sẽ xảy ra. Eustace đấm một phát vào mặt con la, như thể anh đang trong một vụ ẩu đả ở quán bar, và hét thẳng vào mặt con la, “Đừng bao giờ đá em tao lần nữa nghe chưa!” Con la quay ngoắt lại để đá Eustace, nhưng một tay anh chụp lấy dây cương của con vật còn tay kia chộp lấy một cái roi và bắt đầu đánh con la. Peter Thỏ đá và kéo lê Eustace mấy chục mét, nhưng Eustace bám chặt dữ dằn vào dây cương. Peter Thỏ quật mạnh Eustace vào cây cối và đất đá, đá và cắn, cả người lẫn thú đều gào rú hết cỡ. Judson và Susan khiếp sợ chạy vào nấp trong rừng, và Judson không ngừng hét lên, “Chúa ơi, Eustace! Thôi ngay đi! Nó đang cố giết anh đấy!” Nhưng Eustace vẫn trụ vững, chịu đá rồi đánh đuổi con la tới một hàng máy bơm xăng cổ kính nên thơ tại một trạm xăng cũ kỹ ọp ẹp và trói con la lại.
Sau đó họ có một cuộc trò chuyện ngắn.
Eustace, giờ đây đã rơi vào (hay bốc lên) một trạng thái hoàn toàn hung bạo, dùng răng kẹp chặt mũi Peter Thỏ và cắn phập thật mạnh. Rồi anh cạy mồm Peter Thỏ ra và gầm gừ vào đó như một con gấu xám đang tấn công. Rồi anh còn chộp lấy tai Peter Thỏ và vừa nhai ngấu nghiến vừa gầm thét hò la như một con yêu tinh bị thương. Rồi anh đi quanh con la, thụi nó. Rồi anh nhấc chân con la lên - từng chân một, để tỏ rõ sự thống trị của mình - hét vào từng cái móng guốc như thể đó là một kiểu điện thoại thú vật. Ô tô đang trên đường lớn chạy chậm cả lại - khựng lại - khi họ đi ngang qua cảnh tượng này, và những khuôn mặt tái nhợt thò ra khỏi ô tô, nhìn trân trối. Judson và Susan, kinh ngạc tột độ, thu lu trong rừng, quan sát tất cả chuyện này diễn ra.
“Anh có thể nói gì với em đây?” Judson thì thầm với Susan, vừa sợ hãi vừa vô cùng tự hào. “Anh trai anh là một con thú.”
Eustace trị Peter Thỏ thêm một lát nữa rồi buông tha. Peter Thỏ len lén lẩn mất, chắc chắn đang thầm nghĩ, Khốn thật...
Một vài cuộc chuyện trò như thế nữa diễn ra giữa Eustace Conway và Peter Thỏ suốt lộ trình chuyến đi trước khi con la, vốn chẳng ngu gì, hiểu ra vấn đề. Nó công nhận, lần đầu tiên trong kiếp làm la của mình, rằng một ai đó khác sẽ đưa ra quyết định. Và khi họ tới Califonia, con la đó đã trở nên lịch sự, kỷ luật và được huấn luyện tốt đến mức Kỵ sĩ Đường trường phải cho Pierson Gay biết về điều này. Họ chụp ảnh Peter Thỏ. Trong bức ảnh, Eustace đứng trước con la, cắn một bên tai nó. Susan đang ngồi xổm phía dưới con la, cù bụng nó. Còn Judson đứng trên lưng con la, hai tay dang rộng, cười tươi rói.
Họ gửi tấm ảnh tới Mississippi, tới những chủ nhân đầu tiên của Peter Thỏ. Mấy tuần sau, Eustace gọi về nhà Pierson Gay để xem họ đã nhận được ảnh chưa. Bà Pierson Gay, một quý bà miền Nam vô cùng lịch thiệp và quý phái, trả lời điện thoại. Ô, có, bà kéo dài giọng quyến rũ, họ nhận được bức ảnh rồi.
“Thế giờ bà nghĩ sao về con la già đó ạ?” Eustace hỏi.
“Ta thề đấy, cháu yêu,” bà Pierson Gay trả lời bằng ngữ âm miền Nam vô cùng nhẹ nhàng hệt như trước Nội chiến, “trông như Peter Thỏ đã học hành cẩn thận và nhận được nền giáo dục Hah-vahd vậy.”
Không phải ngày nào cũng là một cuộc diễu hành. Họ có những quãng thời gian tuyệt vời trong cuộc hành trình, nhưng họ cũng có những chương hồi mệt mỏi lê thê cưỡi ngựa trên những con đường lớn hoang vu nơi chẳng ai lái xe qua và rác rưởi bay như cỏ lăn. Trong vùng nông thôn Texas, họ cưỡi ngựa băng qua một cơn bão cát mù mịt, sống sót được chỉ nhờ kéo khăn tay lên bịt mặt, một phương thức hữu hiệu cho tới khi một tay cảnh sát bang Texas dừng họ lại và yêu cầu họ bỏ “mặt nạ” ra vì “mọi người đang sợ các anh là một kiểu ngoài vòng pháp luật”, ở một thời điểm khác của cuộc hành trình, họ gặp phải những đợt nóng chết người, ngột ngạt đến mức Eustace sợ rằng mấy con ngựa có thể chết mất và phổi của chính họ sẽ cháy sém. Thỉnh thoảng họ dừng lại vào giờ ăn trưa và ngồi dưới một vạt bóng râm để cố tránh cái nóng.
Judson thường hỏi, “Chúng ta được nghỉ bao lâu?”
“Mười phút,” Eustace đáp, và thế là Judson và Susan nằm xuống, lấy mũ che mặt, và chợp mắt đúng mười phút. Nhưng Eustace không bao giờ ngủ. Sinh lực của anh dành hết để chăm sóc ngựa. Trong mười phút đó, anh sẽ đi vòng quanh, kiểm tra chân, xem xét các nút thắt trên dây cưong, nhìn vào mắt con vật, dò tìm những vết trầy do yên ngựa. Anh không quan tâm đến cái nóng hay sự kiệt sức của chính mình; chỉ lo cho lũ ngựa.
Thời tiết khủng khiếp nhất mà họ gặp phải là ở Louisiana, nơi họ cưỡi ngựa phi vào một cơn bão băng tê dại kéo dài bốn ngày. Thình lình phủ chụp lấy họ dưới dạng một cơn mưa lạnh cóng dữ dội, và chẳng mấy chốc ba kỵ sĩ trông như thể bị bọc trong lớp kính dày gần một phân. Mọi thứ đều đóng băng - mũ, bàn đạp ngựa, túi yên, ủng, râu. Đây là kiểu thời tiết duy nhất từng dừng được chân Kỵ sĩ Đường trường, và đó không phải vì nỗi khó khăn của con người; đó là vì Eustace tránh mạo hiểm sự an toàn của ngựa trên những con đường băng cứng trơn như đổ mỡ đó. Cố tìm một chỗ để ẩn náu qua cơn bão, cuối cùng họ trú lại dưới mái hiên của một hiệu tạp hóa cũ nho nhỏ. Eustace để Judson đi vào khu dân cư địa phương, bảo cậu em dùng sức quyến rũ trứ danh của mình mà tìm cho được mấy cái giường ấm cho ba kỵ sĩ và một cái chuồng ấm cho ngựa.
“Đi giải quyết tình hình này đi, em trai,” Eustace nói. “Làm tốt hết mức đấy nhé.”
Judson, vốn lúc nào cũng làm việc rất nhanh, tận tụy kết bạn với một số gã đang ngồi nhai thuốc lá trong tiệm tạp hóa. Và chỉ trong mấy phút, Kỵ sĩ Đường trường đã được mời tới tránh cơn bão băng tại một khuôn viên gần đó, vốn thuộc một tổ chức dân quân gồm các dân nghèo da trắng đại diện cho Phong trào Yêu nước. Theo miêu tả của Eustace Conway, những tay dân quân này là “nhóm người nghĩ rằng chính phủ Mỹ có kiểu áp chế quá đáng đối với đời sống của họ, điều đó về căn bản không phải là một ý niệm sai lầm và tôi đồng ý với nhiều quan điểm của họ, tuy nhiên tôi không thích mấy mức độ mất trật tự của họ, và cả đám họ uống rượu nhiều tới mức chẳng thể chuyển tải thông điệp của họ sao cho có hiệu quả.”
“Có, chúng tôi có một chỗ các anh ở được đấy,” một tay dân quân lè nhè. “Các anh có súng cả à? Ô, ở chỗ chúng tôi thì các anh chả cần tới súng đâu! Chúng tôi có vô khối súng.”
Trong hai ngày sau đó, Kỵ sĩ Đường trường làm khách của Phong trào Yêu nước. Chết gí trong ngôi nhà nông trang nhỏ ở Louisiana bởi thời tiết, Susan và Judson dành hai ngày ấm cúng đó say bí tỉ với những người bảo vệ trung thành các quyền bất khả xâm phạm trong Tu chính án số Hai(1) này và bắn súng làm khuây. Trong khi đó, Eustace cố giữ cho mình tỉnh táo và được việc, dành bốn mươi tám giờ đó gọi điện cho tất cả những người anh đã từng gặp trên khắp nước Mỹ, cố thử xem có ai biết người nào đó muốn gia nhập Kỵ sĩ Đường trường để lái chiếc xe tải kéo xe moóc không. Eustace đã chán ngấy tất cả những phiền toái phải lái xe đi trước rồi đi nhờ xe quay lại. Quả nhiên, sau khoảng một trăm cuộc gọi, anh tìm được người lái xe cho mình, một thanh niên mười chín tuổi biệt danh Người Đầm Lầy, ngay vào thời điểm ấy a chẳng biết làm gì với cuộc đời mình ngoài nhảy lên một chiếc xe khách ở Bắc Carolina tới nhập đoàn ở Louisiana.
Khi bão băng tan, Kỵ sĩ Đường trường chào tạm biệt những người bạn dân quân rồi lại Tây tiến với bạn đồng hành mới, chàng Người Đầm Lầy lái chiếc xe hỗ trợ, hối hả tiến về Texas.
Đối với Eustace thì Texas là một điểm đến đáng nhớ bởi vì đó là nơi anh mua cho mình con ngựa xuất sắc nhất đời anh - Hobo yêu dấu. Hobo là một con ngựa sinh-ra-để-chu-du nhà nòi. Hobo rồi đây sẽ trở thành một huyền thoại, con ngựa nhanh nhất thông minh nhất và trung thành nhất Eustace từng gặp. Eustace mua Hobo trên đường đi ở trung tâm Texas từ một chủ trang trại là ông Garland, và đó quả là một phát hiện. Khi Kỵ sĩ Đường trường phi ngựa qua thì ông chủ trang trại đang đứng dựa hàng rào, và tất cả họ bắt đầu trò chuyện. Khi ông Garland miêu tả con ngựa ông ta đang định bán (“nó gầy và rất nhanh”) Eustace gần như đã rỏ dãi. Từ cuộc trò chuyện ngắn ngủi này, anh có thể suy ra toàn bộ câu chuyện. Người đàn ông Texas này đã mua cho mình một con ngựa thần tốc đẹp mã bởi vì ông thích cái ý đó, nhưng giờ ông thấy rằng con vật đó nhanh quá khó điều khiển. Dẫn nó lại đi!
“Anh muốn cưỡi thử nó không?” ông chủ trang trại hỏi.
Eustace phóc lên lưng Hobo để cưỡi thử và nói, “Chạy đi nào.” Trong chớp mắt, con ngựa đang từ khoan khoái gặm cỏ ngoài đồng chuyển sang phi nước đại cực kỳ kinh khủng. Mũ Eustace bay vèo và anh chỉ kịp bám chắc bằng gót chân.
“Tôi nghĩ anh trai cậu không điều khiển được con ngựa ấy đâu,” ông Garland nói với Judson lúc này đang quan sát từ chỗ hàng rào, và Judson nói, “Ô, anh ấy sẽ điều khiển được.
Một ngày kỳ diệu! Eustace sợ sẽ là thô lỗ và tục tĩu khi nói với người đàn ông Texas này rằng thật sướng khi cảm nhận con ngựa giữa hai chân anh trong chuyến phi thử ấy, thật khoái cảm và rung động khi Hobo căng mình băng qua đồng cỏ “như một kẻ chuyên thách thức bẩm sinh, như tên lửa,” rằng anh không thể không nghĩ rằng chẳng có gì trên thế gian này khiến anh cảm thấy sướng đến thế giữa hai chân mình, có lẽ chỉ ngoại trừ tấm thân Carla...
Anh mua Hobo liền tay và thế là người ngựa phóng đi. Eustace và con ngựa phi thường này có một sự tương tác vô cùng kỳ thú, ngay từ ngày đầu tiên. Như Eustace sau này sẽ nói, “Tất cả những gì tôi phải làm là nghĩ, và tôi có thể nói ra suy nghĩ đó nhanh bao nhiêu thì Hobo có thể đáp ứng nhanh bấy nhiêu.” Đây là con vật mà rốt cuộc cũng vừa ý Eustace - một người bạn đường chân chính, một con vật muốn đi. Hobo là một phần thêm vào rất tuyệt vời. Kỵ sĩ Đường trường cần một con ngựa dẫn đầu hăm hở như Hobo để giữ đà cho họ. Đôi khi chẳng dễ gì còn mãi nhiệt tình. Tất cả họ - ngựa và người cưỡi ngựa - đều bị thương, căng thẳng và kiệt sức. Ví như chuyện này, Judson luôn bắn một phát súng ăn mừng khi họ vượt qua biên giới các bang, nhưng một hôm tai nạn thật khủng khiếp đã xảy ra, khi anh làm thế ở biên giới giữa Arizona-New Mexico thì ngựa của Eustace hoảng sợ lồng lên ném Eustace xuống đất. Ngày hôm đó Eustace không cưỡi Hobo hay Hasty mà đang cưỡi thử một con ngựa họ mới mua - Blackie, một con lai nòi ngựa thảo nguyên bất kham dũng mãnh, loài vốn rõ là chẳng ưa gì súng ống. Khi Judson khai hỏa, con ngựa nổi cơn tam bành làm Eustace té chúi mũi xuống một tảng đá toạc cả da đầu. Anh bị thương nặng, đầu óc quay cuồng, mỗi bước chân đều khiến anh co giật, nhưng anh quấn một miếng băng quanh chỗ bầm máu rồi cứ thế phi tiếp, bởi vì “Tôi phải làm gì chứ? Không tiếp tục sao?”
Đây không phải chuyện phi ngựa cho vui. Không phải họ đang thảnh thơi rong ruổi xuyên nước Mỹ. Họ đang ngốn bao dặm trường, điều đó đồng nghĩa họ lúc nào cũng mệt mỏi. Họ đói và đau nhức. Họ cãi nhau. Đáng buồn là điều ngược lại với những gì Eustace mong mỏi từ chuyến đi này lại đang diễn ra. Anh đã khao khát thắt chặt mối quan hệ với Judson, nhưng thay vì thế, Judson đang càng ngày càng mất dần thái độ tôn thờ người hùng đối với anh trai. Judson muốn được vui trong hành trình này, và thấy bực mình vì Eustace cứ khăng khăng giữ nguyên tốc độ, một tốc độ không bao giờ cho phép họ có thời gian dừng lại để thưởng thức cảnh vật xung quanh.
“Tôi có thể nói gì về Eustace?” Judson sau này có hỏi. “Lúc nào anh ấy cũng phải là Ernest Shaton(2) chết tiệt, thiết lập mọi kỷ lục thế giới, nhanh nhất trong chuyện này và giỏi nhất trong chuyện nọ. Anh ấy chẳng bao giờ ngơi nghỉ và thưởng thức. Đó không phải lý do mà Susan và tôi tham gia chuyến đi.”
Hành trình đi xuyên đất nước đang biến thành một bức tranh sơn dầu khổng lồ mà trên đó sự khác biệt giữa hai anh em Conway được nhấn đậm. Một bên là Eustace - được những câu chuyện thần thoại cổ xưa về các anh hùng và định mệnh thúc giục. Và bên cạnh anh là Judson - được điều khiển bởi khao khát có một khoảng thời gian vui vẻ và được trang bị một cảm quan hoàn toàn hiện đại về vai trò của con người trong thế giới này. Chính nhờ cảm quan tự thức ưu việt này của Judson Conway (tiện thể xin nói, một cảm quan mà anh chia sẻ được với hầu như tất cả người Mỹ hiện đại ngoại trừ anh trai anh) mà anh có thể đùa, “Này, giờ em đã là một chàng cao bồi đích thực rồi!” khi anh khai hỏa khẩu súng sáu của mình. Judson phi ngựa xuyên nước Mỹ bởi vì anh biết rằng xưa kia người ta vốn hay làm những việc kiểu này và bởi vì thật quyến rũ và vui thú khi giả bộ là một biểu tượng. Eustace cưỡi ngựa xuyên nước Mỹ bởi vì anh muốn cái biểu tượng ấy sống. Đối với Judson đó là một trò chơi thú vị; đối với Eustace, đó là một nỗ lực hết sức nghiêm túc.
“Susan và tôi chắc sẽ vui lắm nếu đi với nửa vận tốc hiện tại để có thêm thời gian lang thang ngửi hoa,” Judson nói.
“Đâu phải vì tôi chạy năm mươi dặm một ngày mà tôi không thể ngửi hoa,” Eustace phản đối. “Tôi có ngửi hoa khi phi ngang qua đấy chứ! Và tôi ngửi được hơn người khác năm mươi dặm hoa. Thứ nhất, chúng tôi cần tốc độ đó trên hành trình này bởi vì kế hoạch đã định - Judson và Susan phải quay lại với công việc của hai đứa, thế nên chúng tôi đâu có vô khối thời gian để tới California. Hơn nữa, tôi muốn biết khả năng của chúng tôi tới đâu. Cả ngựa lẫn người. Tôi muốn thúc bách, nghiên cứu kỹ lưỡng, thách thức, khuất phục địa hạt cái khả dĩ. Tôi muốn đặt những giới hạn của chứng tôi dưới kính hiển vi và nhìn chúng, hiểu rõ chúng, và khước từ chúng. Nghe này, cái chuyện mình có được thoải mái hay thậm chí có niềm vui trên lộ trình này hay không chẳng hề với tôi. Khi tôi có một cái đích, khi tôi đang đứng giữa một thách thức như thế này, tôi không cần những thứ người khác cần. Tôi không cần ngủ hay ăn hay ấm hay khô ráo. Khi không ăn không ngủ thì tôi có thể sống mà chẳng lệ thuộc vào cái gì.”
“Thế gọi là chết, Eustace,” tôi nói.
“Không,” anh cười tươi. “Thế gọi là sống.”
Khó mà thấy được làm sao sự khẩn thiết này lại phù hợp với triết lý sống kiểu thiền của Eustace trong sự hài hòa tuyệt đối với nhịp điệu dịu êm của tự nhiên, trong sự “hành như thủy”. Hành trình này rõ ràng không phải là chuyện hành như thủy; nó là chuyện vắt kiệt lực phi ngựa xuyên đất nước. Và tác động là không hề yên ả. Những người đồng hành của Eustace khó lòng chịu nổi quyết tâm không suy chuyển của anh. Judson đâm ra đêm nào trong chuyến đi cũng uống rượu như một cách để làm dịu ảnh hưởng từ sự dữ dội của người anh.
“Tôi biết Eustace ghét nhìn thấy tôi say xỉn lơ mơ,” anh nói, “nhưng có thế thì tôi mới khỏi phát rồ.”
Eustace luôn gay gắt và sự lãnh đạo của anh thường mang tính đàn áp, nhưng anh luôn bảo vệ mọi quyết định của mình, thậm chí cho tới bây giờ. “Mọi người không hiểu - Judson và Susan đã không hiểu - rằng chẳng phải ngẫu nhiên khi chúng tôi đi được chừng ấy dặm đường mà bản thân và gia súc không hề gặp thương vong gì nghiêm trọng. Tôi biết nhiều người đã cố phi ngựa xuyên nước Mỹ và rồi rối bời hết cả lên - ngựa bị thương, đồ đạc bị ăn trộm, bị trấn lột, bị đánh, bị xe đâm. Điều đó đã không xảy ra với chúng tôi, bởi vì tôi cực kỳ cảnh giác. Mỗi ngày tôi ra hàng nghìn quyết định cá nhân, mỗi quyết định lại thu hẹp một phần tỉ lệ gặp rắc rối. Nếu tôi quyết định băng qua đường, điều đó là có lý do. Nếu tôi có thể chỉnh một tí cho con ngựa đi trên bãi cỏ thay vì trên sỏi dù chỉ được bốn bước thôi tôi cũng sẽ làm, tránh cho chân ngựa sự va chạm mạnh trong bốn bước.
“Vào cuối ngày, khi chúng tôi đang tìm chỗ cắm trại bộ não máy tính của tôi sẽ góp khởi động và đánh giá từng khả năng, nhập vào khoảng ba chục sự kiện bất ngờ mà không ai khác xem xét đến. Đồng cỏ này gần kiểu khu dân cư nào vậy? Có đường thoát hiểm nào phía sau đồng cỏ này không trong trường hợp chúng ta cần chạy vội? Có dây điện rơi trên mặt đất dễ khiến ngựa quấn phải không? Bên kia đường liệu có cỏ tươi lôi cuốn bọn ngựa cắm đầu băng qua đường lớn lúc nửa đêm để rồi bị xe đâm không? Từ ngoài đường mọi người có nhìn thấy chúng ta rồi dừng lại hỏi xem chúng ta đang làm gì và tiêu phí năng lượng của chúng ta trong khi chúng ta cần chăm sóc ngựa không? Judson và Susan không bao giờ thấy được quá trình này. Chúng cứ luôn miệng nói, 'Chỗ này thế nào anh Eustace? Chỗ này có vẻ là địa điểm cắm trại được đấy'. Và tôi nói, 'Không, không, không' mà chẳng buồn giải thích tại sao.”
Judson và Susan, vốn sẵn bực mình dưới sự chỉ huy của Eustace, nổi loạn ở Arizona. Họ thực sự chia ngả trên đường đi. Ngày hôm đó, Judson và Susan muốn rời đường lớn để thực hiện lộ trình hoang dã hơn, phi thẳng xuống đi tắt qua hẻm núi chông gai hứa hẹn một cuộc phiêu lưu ra trò trên mọi địa hình. Eustace ngăn cản. Anh muốn tiếp tục trên đường lớn, một chặng phi đều đều và kém thú vị hơn sẽ khiến ngựa phải đi thêm nhiều dặm, nhưng bớt phải chịu tác động mạnh hơn đáng kể. Kỵ sĩ Đường trường mở một cuộc họp nhóm.
“Như thế không an toàn,” Eustace nói. “Ta không thể biết mình sẽ đụng phải cái gì dưới đó. Ta có thể gặp một vách núi hoặc một con sông không thể vượt qua và đành phải quay lại đường cũ mất mười dặm, mất cả ngày trời. Ta có thể bị chết. Ta không có bản đồ hay bất kỳ thông tin khả tín nào. Ta sẽ gặp phải đá lở hoặc đường mòn gập ghềnh hoặc những con lạch nguy hiểm sẽ hạ gục ngựa của ta. Lũ thú của chúng ta vốn đã bị vắt kiệt sức rồi; đòi hỏi điều này ở chúng thật quá tàn nhẫn. Làm vậy là liều mạng quá nguy hiểm.”
“Bọn em chán cưỡi ngựa trên đường lớn lắm rồi,” Judson phàn nàn. “Bọn em tham gia chuyến đi này bởi vì bọn em muốn nhìn ngắm đất nước, và đây là cơ hội để bọn em về với thiên nhiên. Bọn em muốn phóng khoáng hơn, sống chênh vênh thử thách hơn.”
Họ bỏ phiếu, và tất nhiên Judson và Susan thắng. Eustace không lay chuyển. “Anh nhất định không là không,” anh nói. “Các em có thể đi đường mòn qua hẻm núi nếu các em muốn, nhưng anh không tham gia.”
Đó là một khoảnh khắc tan hoang trong lòng Judson. Họ đã ra quy ước trước khi khởi hành chuyến đi này rằng mọi chuyện sẽ phải tuân thủ nguyên tắc dân chủ; nếu có xảy ra tranh cãi về bước đi tiếp theo của hành trình, ý kiến đa số sẽ quyết định. Đáng ra họ không bao giờ chia rẽ bởi bất đồng quan điểm, thế mà giờ họ đang làm đúng điều đó. Trên hành trình hai nghìn năm trăm dặm phi thường này, có một khoảng ngắt quãng ba mươi dặm đáng buồn ở giữa lòng đất nước nơi những người đồng hành khăng khít phải chia lìa bởi họ không thể đạt tới đồng thuận.
“Em đã nghĩ chúng ta lẽ ra phải là một đội,” Judson nói với anh trai.
Và Eustace trả lời, “Anh rất vui được là một đội chừng nào chúng ta luôn làm những điều anh biết là đúng.”
Judson và Susan phi thẳng xuống hẻm núi.
“Đó là ngày lạnh nhất trong cả hành trình ấy,” Judson nhớ lại. “Cảnh trí thiên nhiên hoang dã. Chúng tôi phi ngựa qua những con sông nước ngập tới bụng ngựa và chúng tôi phi ngựa qua những tháp đá dựng đứng cổ xưa. Chúng tôi say mê từng giây từng phút trong chặng đường ấy, cười đùa và ca hát không ngừng. Đó là tất cả những gì tôi đã từng mường tượng về chuyến đi này. Chúng tôi thấy mình như những kẻ lang bạt thời xưa. Và Eustace đã bỏ lỡ tất cả.”
“Khi quay trở lại, ngựa của hai đứa nó đều tập tễnh mệt mỏi,” Eustace nhớ lại. “Chúng đáng lẽ chẳng bao giờ nên xuống dưới đó. Chúng có thể chết, hoặc có thể chúng đã hủy hoại ngựa. Tôi đã đúng.”
Từ đó trở đi, Judson quyết định im miệng mà làm theo sự chỉ huy của Eustace, bởi vì chịu quy phục sẽ bình yên hơn cãi nhau. Nhưng khi phi ngựa bên cạnh anh trai, Judson chịu đựng một cảm giác kinh khủng rằng sau chuyện này họ sẽ không bao giờ được như trước nữa.
Họ tới được Thái Bình Dương vào lễ Phục sinh đúng như đã định. Không bỏ cuộc và không chết chóc. Họ phi xuyên qua San Diego tới nơi họ có thể ngửi thấy mùi biển cả. Khi đi hết con đường lớn cuối cùng và đến bờ biển, Eustace cưỡi ngựa phi thẳng vào sóng nước, như thể anh muốn cưỡi Hobo phi một mạch tới Trung Hoa. Anh đầm đìa nước mắt, vẫn đầy thôi thúc.
Judson và Susan thì không. Họ đã cạn kiệt với chuyến đi tàn bạo này rồi. Nó đã kết thúc, và họ rất vui mừng. Judson đi thẳng tới chỗ có người. Anh phi ngựa thẳng vào một quán bar và ngồi - trên lưng ngựa! nhiều giờ liền, xoay xoay khẩu súng sáu và kể vô khối chuyện trong khi các vị khách xúm đông xúm đỏ quanh anh và tay bartender đưa cho anh hết chầu này tới chầu khác, về phần Susan, cô buộc ngựa ngoài quán bar và lặng lẽ đi vào giữa đám đông mà không ai đặc biệt chú ý.
Tuần sau đó họ ở lại San Diego, nơi hai bà mẹ của bọn họ tới thăm. Bà Conway và bà Klimkowski muốn đưa mấy thanh niên đi quanh thành phố để cho họ xem Sea World và tham quan sở thú và ăn trong những tiệm thượng hạng. Judson và Susan vô cùng sung sướng vì được chiều chuộng, nhưng Eustace tránh xa mọi người, im lặng và rầu rĩ.
“Tôi chẳng hiểu sao họ có thể giũ bỏ nó như thế,” về sau Eustace có nói. “Tôi muốn nói với bọn họ, 'Này, hai người vừa mới có trải nghiệm phi thường với ngựa của mình thế mà các người có thể quên sao? Ngày hôm trước các người đang sống cuộc đời vô cùng mãnh liệt mà đến ngày hôm sau các người đã có thể phóc lên ô tô để đi kiếm một tiệm đồ ăn nhanh Tastee-Freez chết giẫm sao? Như thể chuyện kia chưa từng xảy ra?' Họ có vẻ chẳng mảy may bận lòng.”
Anh trải qua một tuần cô đơn ủ rũ, ngày nào cũng phi ngựa từ sáng tới tối, đi lên đi xuống bãi biển. Các bạn đồng hành của anh thường hỏi, “Anh chưa ớn cưỡi ngựa à?” Không. Không bao giờ. Eustace cưỡi ngựa dọc bãi biển hàng giờ, ngẫm nghĩ về chuyến đi, nhìn xuống cái giới hạn không thể chối cãi của Thái Bình Dương, và đối diện với hiện thực địa lý của Vận mệnh Hiển nhiên của cá nhân anh: rằng chẳng còn nơi nào khác để đi. Đất nước tận cùng ở đây. Thế là hết. Giá như một lục địa khác sẽ xuất hiện ngoài biển khơi kia để anh chinh phục cả nó...
Họ lái xe moóc chở ngựa về lại Bắc Carolina. Cho lũ ngựa được nghỉ ngơi thoải mái. Có thể Eustace không cần thư giãn sau hành trình, nhưng anh nhất quyết để Hobo thân yêu thư giãn một thời gian.
Thế là Hobo có một kỳ nghỉ thoải mái trên xe moóc, đi một mạch về nhà ở Bắc Carolina như một ngôi sao. Về đến Đảo Rùa, Eustace cho con ngựa nhởn nha mấy tháng ngoài đồng cỏ để dưỡng sức rồi họ mới lại bắt đầu tiếp tục phi cùng nhau. Tất nhiên, cưỡi ngựa ở Đảo Rùa sẽ rất khác so với ở trên đường trước đây. Giờ anh cần Hobo cho việc nông trang hơn là vì tốc độ. Anh cần cưỡi Hobo khi anh đi ra ngoài để khảo sát đất đai và anh cần buộc Hobo vào để giúp kéo gỗ và kéo x trượt chất đầy công cụ. Họ làm việc rất chăm chỉ và hiệu quả cùng nhau. Sự đáng yêu của Hobo thậm chí còn nổi bật hơn tốc độ của nó.
Và rồi, một hôm, nhiều tháng sau khi hành trình Kỵ sĩ Đường trường kết thúc, Eustace quyết định rằng anh và Hobo xứng đáng một chuyến rong chơi kiểu cổ. Thế là họ khởi hành, rời xa căng thẳng mệt mỏi cùng sự huyên náo của Đảo Rùa và phi lên núi. Họ trèo lên mãi cho tới một đồng cỏ trên cao, Eustace nhớ ở đó anh đã thả dây cương và dang rộng cánh tay để mặc cho Hobo tự do chạy trong niềm vui sướng thuần khiết của nó giữa không khí trong lành trên cao.
Họ phi ngựa trở lại nhà, lặng lẽ và hạnh phúc. Nhưng khi họ đã thấp thoáng thấy chuồng ngựa, Hobo trượt ngã. Nó vấp phải một viên đá nhỏ. Khó có thể gọi đó là một tai nạn, chuyện thật quá nhỏ nhặt. Con ngựa đẹp đẽ này, con vật đã phi xuyên lục địa mà không hề bị thương hay than thở, con vật có thể trèo đá lở và những sườn dốc Appalachia thẳng đứng mà không do dự một giây và luôn phản ứng hết sức thông minh và hăm hở trước dù một dấu hiệu giao tiếp mờ nhạt nhất của Eustace, chỉ vấp phải một viên đá tầm thường. Hobo bước ngắn là lạ và gãy chân, và xương đùi sắp gãy đôi.
“Không,” Eustace kêu lên, nhảy xuống ngựa. “Không, làm ơn, đừng…”
Hobo không thể dồn chút sức nặng nào lên cái chân đó. Nó bối rối và cứ ngoái lại để nhìn cái chân bị thương. Rồi nhìn Eustace, hy vọng một câu trả lời xem có chuyện gì không hay. Eustace để Hobo lại đó một mình và chạy về văn phòng để gọi điện trong niềm tuyệt vọng cho các bậc thầy, ông già miền núi Hoy Moretz và anh chàng tín đồ dòng Mennonnite Johnny Ruhl. Anh gọi cho mọi bác sĩ thú y anh biết, và mọi bác sĩ chuyên về ngựa, nhưng khi anh miêu tả sự tình, tất cả những gì họ có thể làm là xác nhận điều anh vốn biết rõ rồi: chẳng thể làm được gì nữa cả. Eustace sẽ phải bắn người bạn của mình. Sau tất cả những gì họ đã trải qua cùng nhau, để chuyện này xảy ra vào một buổi chiều tươi đẹp ở nhà, khi họ đã thoáng thấy chuồng ngựa...
Eustace cầm súng săn quay trở lại chỗ con ngựa. Hobo vẫn đứng đó như lúc trước, nhìn chân mình rồi nhìn Eustace, cố hiểu cho ra sự tình. “Tao rất tiếc, Hobo,” Eustace nói, “Tao yêu mày nhiều lắm.” Và rồi anh bắn vào đầu Hobo.
Con ngựa ngã nhào xuống đất, và Eustace sụp xuống cùng nó, khóc nấc lên. Anh bám chặt lấy cổ Hobo khi con ngựa chết, kể với nó về những lúc hạnh phúc họ đã bên nhau và nó đã luôn dũng cảm ra sao và cảm ơn nó. Sao chuyện này lại xảy ra được? Họ chỉ còn cách chuồng ngựa mấy bước...
Chiều muộn ngày hôm đó - và đây là thời khắc khó khăn nhất - Eustace quay lại để cắt bờm và đuôi Hobo. Những thứ này sẽ vô cùng ý nghĩa với anh trong những năm về sau. Có thể nếu một ngày nào đó Eustace có một con ngựa xứng đáng, anh cho thể lấy những sợi lông ở bờm và đuôi Hobo để đan thành dây cưong cho con ngựa mới, và điều này sẽ là một lời tri ân đẹp đẽ. Tuy nhiên, cắt nhát đầu tiên, kinh động thân thể người bạn của mình bằng một con dao, hầu như là việc bất khả, và Eustace khóc ầm lên như thể sức nặng của nỗi đau đớn trong anh có thể đốn ngã mọi cây cối trong rừng.
Anh để Hobo lại nơi nó ngã xuống. Anh muốn kền kền ăn thịt nó. Anh biết thổ dân Mỹ tin rằng kền kền là phương tiện chuyển tải linh thiêng, phương tiện mà qua đó hồn được đưa từ hạ giới lên trời. Thế nên Eustace để Hobo lại đó, nơi lũ chim có thể tìm ra nó. Điều đó có nghĩa là, thậm chí tới tận bây giờ, mỗi khi làm việc ngoài trời mà thấy những con kền kền chao lượn trên không, Eustace vẫn sẽ ngẩng đầu lên chào, bởi vì anh biết đó là nơi giờ đây Hobo đang sống.
Khi xuân sang, Eustace quay lại nơi Hobo đã ngã xuống để xem xương của bạn. Anh muốn nhặt nhạnh lông kền kền anh tìm thấy quanh xác Hobo mà cất ở một nơi thiêng. Nhưng mục đích của anh không chỉ mang tính chất tâm linh; Eustace còn muốn kiểm tra xương đùi bị gãy của Hobo, lúc này da thịt đã rã nát. Anh vẫn nuôi một nỗi hồ nghi liệu pha gãy chân đó có đúng là không tránh được hay không. Anh thường tự hỏi có phải Hobo vốn là một con ngựa đua bị thương nặng phải giải nghệ, và đó là lý do tay chủ trại Texas không giữ nó nữa mà sẵn lòng bán cho anh với giá phải chăng. Có thể Hobo đã mang vết rạn căng thẳng này trong suốt nhiều năm, và trong chỗ xương đó luôn tồn tại sự yếu ớt này, và chuyện nó bị gãy lại đủ là vấn đề thời gian thôi.
Và thực sự là thế, khi Eustace xem xét những khúc xương bạc trắng của Hobo, anh nhận ra rằng những nghi ngờ của anh là chính xác - cái xương đùi đó vốn đã bị rạn; vết thương luôn tồn tại ở đó. Khoảnh khắc ấy, khi Eustace quỳ trên mặt đất kiểm tra khúc xương bằng con mắt khoa học, là hết sức cốt yếu, bởi vì nó cho thấy rằng, ngay cả trong lúc đau buồn, Eustace Conway cũng luôn tìm kiếm logic và những câu trả lời. Suy cho cùng, cuộc đời vẫn tiếp diễn, và con người phải luôn luôn tìm kiếm những bài học ngay cả qua nỗi buồn. Không bao giờ được tĩnh tại; không bao giờ ngừng thu thập thông tin.
Và cũng chính là bản tính không chịu ngồi yên ổn đã khiến Eustace Conway, mới hai năm sau khi chuyến đi của Kỵ sĩ Đường trường kết thúc, cố gắng vượt qua một hành trình bằng ngựa đầy tham vọng điên cuồng khác. Bởi vì con người phải luôn tiến tới. Con người phải luôn nghiền ngẫm và thách thức và đặt những giới hạn của mình dưới kính hiển vi để kiểm tra và loại bỏ.
Tất nhiên, Eustace không dấn thân vào chuyến đi y như cũ. Nói cho cùng thì không có lý do gì để lặp lại trải nghiệm. Nhưng lần này là một cuộc phiêu lưu hơi khác đi. Đã có khả năng ngồi trên yên ngựa phi xuyên lục địa vô cùng thành thạo, Eustace quyết định buộc những con ngựa của mình vào một chiếc độc mã nhẹ và cho chúng thực hiện hành trình chớp nhoáng trên Đồng bằng Lớn của Bắc Mỹ, phi một vòng hai ngàn năm trăm dặm qua Nebraska, Nam Dakota, Bắc Dakota, lên Canada, qua Manitoba, Alberta và Saskatchewan, rồi quay xuống Montana và Wyoming. Anh ước đoán anh có thể hoàn thành hành trình này trong chưa đầy sáu mươi ngày. Giờ đây anh có một bạn đồng hành mới. Anh đi ngựa cùng với cô bạn gái mới. Anh vừa cho phép mình yêu lần đầu tiên kể từ sau khi sống sót qua cơn bão lốc Carla. Mới chỉ có mấy năm, nhưng anh đã sẵn sàng. Anh rất phấn khích về tình yêu mới này, và anh gọi cho tôi chẳng bao lâu sau khi anh gặp cô gái đó để kể cho tôi nghe mọi điều về cô.
“Cô ấy trông thế nào?” tôi hỏi.
“Xinh đẹp, thông minh, tốt bụng, trẻ trung. Người Mexico lai. Có làn da đẹp nhất người ta từng thấy.”
“Tên cô ấy là gì?” tôi hỏi.
“Patience.” (3)
“C bằng!”
Patience Harrison là một cô giáo hai mươi ba tuổi. Cô rất trẻ, nhưng đương nhiên đủ dẻo dai cho một hành trình chuyến đi Eustace sắp thực hiện. Cô là một vận động viên điền kinh cừ khôi, cựu đội trưởng đội khúc côn cầu trên cỏ của Đại học Duke, và cô rất can trường; cô từng chu du xuyên châu Phi trong hoàn cảnh khắc nghiệt hơn những gì cô sẽ đụng phải ở Canada nhiều. Euscate cuồng si cô.
Anh yêu Patience vì trí tuệ của cô và vì tính cách lôi cuốn của cô và vì thể chất bền bỉ của cô. Lần đầu cô tới thăm Đảo Rùa, Eustace đưa cô đi xe độc mã một vòng. Anh hỏi cô có muốn thử điều khiển con ngựa một lát không, thế là cô với lấy dây cương mà không mảy may ngần ngại, hoàn toàn sẵn sàng. Anh nghĩ, Chà, đó là người con gái dành cho mình. Anh cũng bị khuất phục khi xem cuốn băng Patience chơi khúc côn cầu hồi đại học. Trong cuốn băng, ta có thể thấy cô bị một đối thủ xấu chơi quật một gậy nhanh như chớp khiến cô đau đớn ngã khuỵu xuống sân. Cô bị sái cổ tay. Rồi cô đứng dậy và cố gắng chạy đuổi theo đối thủ, cho dù cánh tay cô đang lủng lẳng bên người hoàn toàn vô dụng. Rồi cô lại ngã xuống sân trong đau đớn. Rồi cô lại nỗ lực đứng dậy lần nữa, chạy hết tốc lực xuống sân, răng nghiến chặt, không chịu dừng chơi. Quên phim khiêu dâm đi; đây là hình ảnh của người phụ nữ trong video gợi cảm nhất Eustace từng thấy.
Và phải nói rằng anh yêu Patience vì nhan sắc của cô. Cô tuyệt đẹp. À, Eustace Conway chưa từng có cô bạn gái nào không tuyệt đẹp, nhưng như về sau Eustace thừa nhận, Patience là “hình mẫu lý tưởng của tôi. Cô có thể tưởng tượng được ở bên hình mẫu lý tưởng của mình là thế nào không? Với dòng máu Mexico, cô ấy có làn da sẫm màu và đôi mắt đen láy và hàm răng trắng muốt mà tôi thấy là những nét đẹp nhất thế gian. Tôi vô cùng khao khát cô ấy. Chẳng có khi nào ở bên cạnh mà tôi không khao khát cô ấy. Mọi thứ ở cô ấy - bàn tay, cơ thể, đôi môi, đôi tai, mái tóc óng ả - tôi tôn thờ từng li ở người con gái ấy.”
Anh bày tỏ tình yêu với cô theo kiểu tha thiết điển hình của anh.
“Với cầu vồng trong mắt, anh thấy nhan sắc của em,” anh viết cho cô trong một lá thư thuở ban đầu. “Với vầng dương trong trái tim, anh biết yêu em. Với những cánh bướm rập rờn chỉ lối, anh bay về phía tự do bên em. Với những cơn mưa tươi tốt của niềm hy vọng, anh mơ về tương lai của chúng ta. Với nhiều khao khát si mê hơn mức em thấy thoải mái, anh muốn em
Lời tuyên bố cuối cùng ấy quả nhiên không có gì phải bàn cãi. Patience Harrison cực kỳ bị thu hút bởi Eustace và bị lôi cuốn bởi cuộc đời lãng mạn của anh, nhưng ngay từ đầu cô đã lạnh lùng trước lửa nhiệt tình của anh. Anh phải mất vô khối thời gian mới dỗ dành được cô ân ái ở nơi riêng tư, và cô không bao giờ ân cần vuốt ve anh ở nơi công cộng, khi mọi người đang nhìn thì dù chỉ là một cái nắm tay cô cũng không làm. Cô đương nhiên không thoải mái với sự khao khát si mê của anh và thấy thật khó mà không bối rối nhìn đi chỗ khác mỗi lần anh cố nhìn sâu vào mắt cô. Cô ghét cay khi anh gọi cô là Baby, và đâm bực cả mình vì anh quá chú trọng vào nhan sắc của cô đến mức cô thường trách, “Anh có thể thỉnh thoảng nói với em rằng em thông minh hoặc xuất sắc hoặc thú vị thay vì lúc nào cũng là tuyệt đẹp không?”
Khi đó Eustace sẽ đùa, “Em có mái tóc đen huyền óng ánh thông minh nhất anh từng thấy. Nụ cười và ánh mắt em xuất sắc đầy ám ảnh. Em có cơ thể thú vị nhất trần đời.”
Với hầu hết những người quen biết, đây dường như không phải một cặp đôi hoàn hảo. Patience là một cô gái hoàn toàn hiện đại, luôn giữ một khoảng cách với những người bạn trai của mình để duy trì sự độc lập. (Cô vẫn hay nói vui, cô quá lạnh lùng cảnh giác đến mức một người tình cũ đã đặt cho cô biệt hiệu “Prudence”(4))- Eustace, như thường lệ, luôn khao khát một sự hòa hợp trơn tru ở mức độ nồng nàn từ cả hai phía, cảm thấy nhức nhối trước sự lạnh lùng của cô. Hơn thế nữa, Patience không thực sự chắc về việc từ bỏ cuộc đời riêng của mình để tới sống ở Đảo Rùa mãi mãi với tư cách tân Đệ nhất Phu nhân. Nhưng về sau cô thừa nhận, nỗi e dè lớn nhất ở cô là cô thấy sợ hãi trước một câu Eustace phát biểu hồi mới yêu nhau rằng anh muốn có mười ba đứa con với cô.
Đúng thế: mười ba.
Tôi phải hỏi Eustace về điều này mới
Thực ra chính xác thì câu hỏi của tôi là: “Hãy nói với tôi thật tình anh đã không nói thế đi.”
Câu đáp của anh là, “Một trăm năm trước phụ nữ đâu có sợ ý tưởng ấy!”
Đó là một câu trả lời cực kỳ đáng thất vọng. Chưa nói đến sự thật rờ rỡ rằng đây chẳng phải một trăm năm trước, có rất nhiều điều sai quấy khác trong lời tuyên bố này đến độ tôi không chắc nên bắt đầu mổ xẻ từ đâu. Eustace Conway, vốn là một sinh viên giỏi ngành lịch sử và nhân học, đáng lẽ phải hiểu biết nhiều hơn. Ngay cả từ một trăm năm trước, tỉ lệ sinh trung bình của phụ nữ Mỹ đã giảm xuống chỉ còn 3,5 đứa trẻ trên một người. Thời điểm ấy phụ nữ đã sử dụng biện pháp ngừa thai và bắt đầu công khai tranh luận về chuyện nuôi dạy gia đình đông con sẽ ảnh hưởng như thế nào tới vị thế kinh tế và xã hội của họ. Nói cách khác, phải nhìn lùi lại xa hơn một thế kỷ rất nhiều mới hầu mong tìm được kiểu người tạo giống nhiệt tình mà Eustace đang mơ ước.
Và ngay cả khi đó vẫn có nhiều điều khác phải lưu tâm. Ví dụ hãy xem vợ của Daniel Boone, bà Rebecca Boone mạnh mẽ. Kết hôn năm mười bảy tuổi, Rebecca ngay lập tức đón nhận hai đứa cháu mồ côi, con của người anh trai đã khuất của Boone. Rồi bà có mười đứa con ruột (sống được) ở ngoài vùng biên, nhận nuôi sáu đứa con mất mẹ của người anh trai góa vợ của bà, và giúp chăm sóc phần lớn trong số ba mươi ba nhóc tì của bốn cô con gái.
Rebecca Boone sống phần lớn cuộc đời trong một pháo đài. Bà và các con đói khát suốt những mùa đông. Các con trai của bà bị người da đỏ gây thương tích và sát hại; các con gái bà bị bọn họ bắt cóc. Giữa giai đoạn hôn nhân, Rebecca được đưa gia đình trở lại ngôi nhà thoải mái và an toàn của bà ở Bắc Carolina trong hai năm tuyệt vời trong khi Daniel ra đi thành lập một thuộc địa mới ở Kentucky. Khi ông trở lại đón bà, bà gần như nổi loạn, gần như cự tuyệt quay lại rừng sâu với ông. Ông khăng khăng; bà kháng cự. Cuộc hôn nhân, theo lịch sử cho biết, mấp mé tan vỡ. Tuy nhiên, Rebecca là người vợ chung thủy, thế nên cuối cùng bà lại theo chồng vào vùng hoang dã. Nhưng bà đã kiệt quệ. Một người truyền giáo đi qua khu định cư của Boone vào thập niên 1780 nhớ đã gặp Rebecca Boone và ngồi với “linh hồn câm nín” này trước cái lán bé tí của bà trong khi bà khóc mà kể với ông về những phiền muộn và gian khổ của bà và về “nỗi buồn đau sợ hãi trong tim bà.”
Thế đấy, quả là Eustace đứng ở một khía cạnh. Rất nhiều phụ nữ đi khai khẩn có rất nhiều con. Nhưng họ có hoàn toàn thích thú chuyện đó không? Họ có hoàn toàn khao khát có tất cả những đứa con đó không? Đây có phải là một kiểu quyết định đầy cảm hứng? Chẳng hiểu sao tôi không thể tưởng tượng ra Rebecca Boone nhảy cẫng lên vui sướng vào cái ngày bà nhận ra, trong rừng thẳm và khi đã bốn mươi mấy tuổi, rằng bà đang mang thai lần thứ mười. Tương tự, tôi không thể tưởng tượng cô gái trẻ Patience Harrison - vừa tốt nghiệp Đại học Duke, sinh viên ưu tú, nhà du lịch thế giới đầy tham vọng - ngây ngất chờ mong khi Eustace Conway nói anh muốn có mười ba đứa con với cô.
Và cô không thấy được an ủi khi Eustace cam đoan với cô rằng mười ba đứa con chỉ là giấc mơ của anh, rằng anh có rất nhiều giấc mơ anh chẳng hòng mong được thỏa, rằng anh thậm chí sẽ cân nhắc chuyện không có đứa con nào cả nếu đó là điều cô muốn, hoặc họ có thể nhận con nuôi, hoặc họ có thể thảo luận vô số lựa chọn khác. Hơn nữa, anh muốn biết liệu Patience từng sống với một tộc người, như cộng đồng Amish hoặc người Maya ở Guatemala, những người thực sự yêu mến và coi trọng trẻ em chưa? Có thể ý kiến của cô sẽ khác nếu cô được tận mục sở thị, như Eustace đã từng, cái phương thức đầy cảm hứng để những nền văn hóa đó hòa trộn các đại gia đình vào xã hội lớn hơn một cách dễ dàng và hạnh phúc như thế. Dẫu vậy, con số đó vẫn vang vọng trong đầu Patience như những âm vang từ một quả chuông nhà thờ đều nhịp.
Mười-ba! Mười-ba! Mười-ba!
Tuy nhiên, đó không phải phức tạp duy nhất giữa họ. Patience rất thận trọng, ngập ngừng và xa cách với Eustace. Nhưng anh vẫn yêu cô. Anh cho rằng có nỗi ngập ngừng ấy là bởi cô còn quá trẻ, và anh hy vọng theo thời gian họ sẽ từ từ xích lại gần nhau để cháy bùng bằng niềm đam mê tươi sáng hơn. Có thể họ sẽ giải quyết hết khúc mắc trong chuyến đi này. Có thể hành trình trên xe ngựa sắp tới sẽ làm cho mọi điều tốt đẹp lên.
Eustace, thậm chí còn hơn cả trong hành trình Kỵ sĩ Đường trường, muốn ép bản thân và lũ ngựa tới tận cùng sức chịu đựng. Anh biết khi kéo xe loài ngựa có thể đi nhanh hơn nhiều so với khi chở người trên lưng, và anh muốn xem chúng có thể chạy nhanh tới đâu. Chiếc xe rất nhẹ và nhanh, không phải loại thiết dành làm việc nặng, và lũ ngựa được đóng bộ yên cương bằng ni lông bóng được việc hơn đồ da.
Anh bị ám ảnh với chuyện không để ngựa phải mang trọng lượng thừa. Anh phải duyệt từng cái quần cái áo Patience muốn mang theo cho chắc rằng không có lấy một đôi tất phù phiếm nào làm tăng thêm dù chỉ chút xíu sức nặng lên những con vật của anh. Có lần Patience dừng lại ở một cửa hàng tại Bắc Dakota mua một hũ dưa chua để ăn nhanh, Eustace đã quở trách cô nặng nề về chuyện đó. “Tất cả chỗ thủy tinh và nước và dưa chua này khiến ngựa của anh phải kéo thêm quá nhiều trọng lượng thừa suốt cả ngày dài,” anh làm ầm lên và không dừng lại cho đến khi thứ gây bực mình đó được ăn hết và vứt đi. Đối với ngựa của mình, đặc biệt trên một hành trình gian khó, anh rất quan tâm, chú ý, thận trọng. Cách xa bác sĩ thú y hàng ngàn dặm và ép lũ ngựa tới giới hạn chịu đựng nên anh rất để ý “mỗi bước chân chúng đi, từng thứ chúng ăn, từng thứ chúng uống, từng cái vảy trên vết thương lành miệng, từng cái khập khiễng, mỗi chút dịch nhầy, màu nước giải mỗi khi chúng đi tè, số lần đi ngoài, mỗi lần tai khẽ dỏng lên, mọi thứ.”
Trong hành trình này Eustace thậm chí còn cuồng si tốc độ hơn chuyến đi Kỵ sĩ Đường trường. Anh quá ám ảnh với chuyện không phí phạm một phút đến độ nếu nhìn thấy cổng chào, anh sẽ đưa cương cho Patience, nhảy khỏi xe ngựa, vận tốc lực chạy trước để mở cổng. Rồi anh đóng sầm cổng lại và vận hết tốc lực chạy theo để bắt kịp cô. Anh thậm chí sẽ không dừng xe ngựa để giải tỏa mà thay vào đó quyết định nhảy xuống tè ở rừng cây trong khi ngựa tiếp tục phi nước kiệu, rồi anh chạy bộ nhanh hết cỡ đuổi theo.
Eustace và Patience đạt tới trình độ có thể thay móng cho ngựa - hơn năm mươi điểm dừng như thế trên cả hành trình - nhanh hơn cả đội sửa chữa xe đua, Patience đưa đồ nghề cho Eustace, Eustace thay cái móng chớp nhoáng và hoàn hảo. Họ băng qua những đồng bằng, như Eustace sau này thuật lại, “nhanh hơn cả bóng mây lướt qua bãi cỏ”.
Họ hầu như không bao giờ dừng. Eustace đã làm sẵn tờ rơi với những thông tin về chuyến đi - thật ra là thông cáo báo chí - để đưa cho mọi người khi họ đặt ra hàng triệu câu hỏi không thể tránh được mà hai người thì phải hối hả theo lộ trình. Họ không có lấy một giây rảnh rỗi. Khi có mấy tay chủ trại gia súc ở Canada mời họ lưu lại mấy ngày để tham gia buổi hội đóng dấu gia súc thường niên, Patience muốn ở lại, nhưng Eustace nói, “Sẽ còn rất nhiều buổi hội đóng dấu gia súc, nhưng chỉ có duy nhất cơ hội này cho chúng ta thiết lập một kỷ lục thế giới về tốc độ bằng cách hai nghìn năm trăm dặm trong năm mươi sáu ngày.”
Chuyến đi hết sức rõ ràng là một thành công trong việc điều khiển ngựa, tổ chức, và đảm bảo an toàn. Nhưng mối quan hệ, vốn sẵn mong manh, đã bị nó giết chết. Eustace và Patience chỉ ngủ bốn tiếng mỗi đêm, lao đi nghiêng ngả qua thảo nguyên, lạnh cóng, khổ sở, riết róng. Thời tiết vô cùng khắc nghiệt. Hết gió 70 dặm/giờ lại đến mưa băng. Bàn tay họ tê cóng đơ ra trong cái lạnh, thế nên vào cuối mỗi ngày họ không thể tháo dây cương và khóa móc được. Họ ăn những thứ kinh khiếp hoặc hoàn toàn nhịn đói.
Tất nhiên, cũng có những khoảnh khắc khó quên. Khung cảnh thật hùng vĩ. Họ có khoảng thời gian mấy ngày tuyệt diệu khi phi ngựa qua mảnh đất vô chủ - một vạt cỏ trên vùng đất không thuộc về ai nằm trong khu vực biên giới Canada-Mỹ, ở đó họ cảm thấy như thể mình đang ruổi ngựa trên vùng đất chưa xuất hiện trên bản đồ thế giới. Khi mưa và tuyết ngớt, họ đọc tiểu thuyết của Cormac McCarthy cho nhau nghe. Thật thú vị. Họ gặp nhiều người phóng khoáng, và Eustace thích lùi ra sau để cho Patience thể hiện con người lịch thiệp, ân cần của cô. Anh thích ngắm nhìn cô được lòng những người lạ, ai cũng yêu mến cô nên cho họ chỗ ở, cái ăn, giúp chăm sóc ngựa. Sự hợp tác của họ với những chú ngựa hết sức đặc biệt. Tuy nhiên, ấn tượng nhất là Patience - với phẩm chất vận động viên thi đấu đối kháng - không một lần than thở về sự suy giảm thể chất và những giờ dài bất tận của cuộc hành trình.
“Đó là phần dễ của chuyến đi,” cô nói với tôi.
Phần khó khăn là họ đang trải qua cả ngày dài không nói chuyện với nhau, ngoại trừ về bọn ngựa. Và họ không ngủ cùng nhau. Không hàn huyên, không đụng chạm thể xác.
“Tôi không bao giờ khóc vì mệt hay đau,” Patience nói. “Nhưng gần cuối hành trình tôi đã khóc rất nhiều về mối quan hệ với Eustace. Nó thật tệ hại.”
Nói một cách khác, bản thân hành trình đó là hết sức hào hùng, nhưng hoàn cảnh đó chẳng may lại gợi nhắc đến sự quan sát tinh tường của Ursula K.Le Guin rằng “mặt sau của chủ nghĩa anh hùng thường là buồn thảm; phụ nữ và người hầu hiểu điều đó.”
Patience không thể chịu đựng được sự thống trị không ngừng của Eustace đối với cô. “Tôi từng là đứa con gái tinh nghịch,” cô nói. “Tôi từng khiến đàn ông sợ vì sự mạnh mẽ của mình. Trước khi gặp anh ấy, tôi là một phụ nữ hiện đại tràn đầy tự tin trong huyết quản. Nhưng anh ấy lấn lướt tôi dần dần cho đến khi tôi không còn chút quyền lực nào nữa. Với Eustace chuyện luôn xảy ra như thế; ta bị cuốn vào cơn lốc những mục tiêu của anh ấy và cuộc đời anh ấy, và rồi ta mất tích. Tôi biến mất vào trong anh ấy. Rất nhiều lần, cánh phóng viên địa phương xin nhập đoàn với chúng tôi, thế là anh ấy đánh xe ngựa đi cùng với tay phóng viên còn tôi sẽ lái xe của phóng viên theo sau. Anh ấy sẽ trò chuyện suốt cả ngày để làm say lòng từng tay phóng viên, nhưng ngày hôm sau, khi tôi đánh xe cạnh anh suốt hai mươi tiếng đồng hồ thì anh chẳng nói với tôi lấy một lời. Tất cả những gì anh ấy thực hiện trên hành trình đó là hoạnh họe và bảo tôi phải làm gì.”
“Tất nhiên là tôi đã bảo cô ấy phải làm gì,” Eustace thừa nhận. “Tất nhiên tôi nắm quyền, vì tôi biết phải làm gì. Tôi có kiến thức và kinh nghiệm để hiểu được lũ ngựa và những thực tế của việc sống sót trên đường trường, để giữ mạng sống của cô ấy và của tôi và của lũ ngựa trong hai nghìn dịp khác nhau, trong khi có đến một nghìn năm trăm lần cô ấy thậm chí không nhận thấy. Cô ấy không bao giờ trân trọng tôi về điều đó. Cô ấy càng lúc càng hờn dỗi và thiếu chín chắn hơn mỗi khi chúng tôi làm việc với nhau. Cô ấy không hề biết điều gì đã giúp chúng tôi sống sót trên thảo nguyên đó. Chúng tôi đã đặt ra mục tiêu lập kỷ lục thế giới về tốc độ. Và nếu tôi định gánh vác điều gì như thế, tôi sẽ gánh vác nó một trăm phần trăm, nên cô ấy cần tôn trọng hiểu biết của tôi và dừng ngay những phản ứng trẻ con trước sự lãnh đạo của tôi.”
Khi tôi hỏi liệu có ích gì không nếu hai người dừng xe ngựa một ngày để ngồi giữa đồng cỏ nói cho bằng hết những vấn đề đang khúc mắc, anh bảo, “Điều đó không phải một phần của chương trình. Điều đó sẽ làm hỏng mục tiêu của chúng tôi.”
Sau này Patience than thở (y như Judson đã than thở trên hành trình Kỵ sĩ Đường trường) rằng trong suốt chuyến đi Eustace cư xử chẳng khác gì cha anh. Patience đã có đủ thời gian ở bên bố mẹ Eustace để cảm thấy khó chịu trước thái độ thống trị và thiếu tôn trọng mà Eustace Cha thể hiện với vợ ông, và giờ đây cô cảm thấy cô đang nhận sự đối xử y hệt như thế từ Eustace Con. Cùng một kiểu chuyên quyền, cùng một mức độ cầu toàn, cùng một lối khước từ đáp lại những nhu cầu của người khác. Đối với cả Patience lẫn Judson, trong những hành trình trên lưng ngựa này Eustace không chỉ thật quá quắt như cha anh mà còn đầy bi kịch cũng như cha anh. Còn gì có thể đáng buồn hơn một người đàn ông đi đến tận cùng trái đất theo đúng nghĩa đen mà vẫn không tránh được chuyện trở thành cha của anh ta?
Nhưng tôi không tin trên những hành trình đó Eustace đang trở thành bố anh mà thật ra là anh đề cao ông, bằng cách cố gắng chứng minh lần nữa rằng anh có giá trị, dũng cảm, hoàn hảo và logic. Cũng y như anh đã cố chứng tỏ bằng tất cả những chuyến phiêu lưu táo bạo và đống thành tích buồn tẻ của mình. Dù mong mỏi được yêu Patience và em trai bao nhiêu đi nữa, anh vẫn không thể đặt nhu cầu của họ lên hàng đầu khi mà khoản đặt cược vào mỗi hành trình này đều quá lớn - giải thưởng đích thị là cuối cùng anh sẽ nhận được sự chú ý của cha anh. Anh vẫn còn chú tâm vào câu chuyện yêu thương buồn bã cũ xưa, câu chuyện còn chưa phân giải quá ư chua chát. Bất chấp mọi thành tựu của anh, Eustace Cha chưa bao giờ cho con trai một lời nói hay một cái gật đầu công nhận. Eustace phải làm gì hơn nữa để được bố anh thừa nhận rằng anh không phải là một kẻ thất bại ngu dốt, thảm hại, đáng thương? Một kỷ lục về tốc độ phi ngựa trên thế giới có giúp ích không?
Hai thì sao?
Chẳng có lời buộc tội nào nhắm vào Eustace gây tổn thương hơn là cho rằng anh đang cư xử chẳng khác gì bố anh. “Tôi sẵn lòng kê súng vào miệng mà bắn vỡ đầu mình,” anh nói, “nếu tôi từng tin rằng tôi đối xử với ai đó theo cái cách ông già đó đã đối xử với tôi.” Tất nhiên Eustace mở lòng mình để tự ngờ vực và tự phê bình hơn so với cha anh, và anh đau buồn sâu sắc (chưa bao giờ đến mức độ như trong những hành trình phi ngựa đường trường đó) trước những rắc rối trong quan hệ giữa anh với mọi người. Anh biết rõ những rắc rối đó; anh thấy những khuôn mẫu lặp đi lặp lại; anh nỗ lực điều chỉnh lại tình thế. Nhưng chẳng phải lúc nào anh cũng biết phải làm gì. Anh hiểu bản thân đủ để biết rằng anh, theo đúng từ anh dùng, “hỏng”, nhưng anh không biết làm cách nào sửa đổi bản thân. Anh biết rằng anh không hiểu được Patience Harrison, rằng dù bởi lý do gì thì thật sự trên hành trình đó anh cũng đã không thể giao tiếp với cô theo cái cách sẽ cho họ cơ hội nào đó trong tình yêu. Có thể vì cô non nớt; có thể do chủ nghĩa hoàn hảo gay gắt của anh; có thể đó là sự kết hợp đầy hủy hoại gồm những khuyết điểm của cả hai. Dù sao đi nữa toàn bộ chuyện này là một nỗi bất hạnh.
“Có lẽ chúng tôi nên tập trung nhiều hơn vào mối quan hệ của mình thay vì vào các mục tiêu,” anh nói, “nhưng đôi khi có cảm giác như các mục tiêu ấy lại là thứ duy nhất chung giữa chúng tôi. Tôi không biết mình nên làm gì nữa. Tôi không giỏi chuyện nà chỉ hy vọng sau này chúng tôi có thể giải quyết chuyện đó.”
Chẳng còn có sau này nữa. Không hẳn. Họ dần dứ mối quan hệ ấy thêm một năm sau hành trình trên xe ngựa nhưng cuối cùng Patience nhận việc ở Boone, làm huấn luyện viên khúc côn cầu trên cỏ, và dần dần tách khỏi Eustace và Đảo Rùa. Và dù bao nhiêu lá thư mười lăm trang thổn thức của anh đi nữa (“Anh xin lỗi nếu anh đã không thể hiện rõ được con người, tình cảm, cách nhìn của mình sao cho em hiểu... Anh cầu trời sẽ đến một ngày em đủ sức mạnh hoặc sẵn sàng để có thể cảm nhận tình yêu sâu sắc anh đang nếm trải lúc này”) cũng không thể đưa cô trở lại.
Patience đã không còn gì nữa với chuyện này.
Điều làm Eustace tan nát về Patience là cô không hiểu anh. Cô không hiểu anh yêu cô biết chừng nào. Cô không hiểu những giới hạn cảm xúc và những vết thương trong anh. Những cái đích của anh. Anh mong mỏi tình yêu của cô biết bao nhiêu. Anh sẵn lòng trao tình yêu cho cô nhiều bao nhiêu. Và anh mong muốn thấy cô tin tưởng mình biết bao nhiêu. Cô không hiểu gì về anh cả.
Và chính sự thiếu đánh giá đúng mực, sự thiếu hiểu biết sự thiếu niềm tin lộ rõ này đã thiêu rụi trái tim Eustace. Sau khi phải trải qua đau khổ vì cha mình, người luôn bảo anh là một kẻ hoàn toàn thất bại điên khùng và vô dụng, làm sao giờ đây anh chịu đựng nổi khi có người (đặc biệt đó lại là người đáng ra phải yêu anh) không tin tưởng anh hoặc không tin vào sự tài giỏi của anh? Sao mà lại giống nhau đến vậy. Và nếu người phụ nữ anh yêu không thể hiểu anh thì anh còn mong đợi gì có được sự thấu hiểu từ người khác? Anh có thể tìm thấy sự công nhận và sự cảm thông ở đâu? Trong vòng tay ai? Trong con mắt ai? Eustace Conway càng lúc càng tin rằng sẽ chẳng bao giờ có người nào thực sự hiểu anh, rằng nỗi cô đơn tận cùng này sẽ là vĩnh cửu. Rằng trên thế gian này anh chỉ là một kẻ tị nạn từ lúc sinh ra và từ trong số phận.
“Tôi cảm thấy mình giống như Ishi(5) vậy,” anh nói.
Câu chuyện về Ishi là một câu chuyện ám ảnh Eustace từ thời thơ ấu. Ishi là một thổ dân da đỏ thuộc tộc người ở California, một nền văn hóa thời kỳ đồ đá đã sống nhiều thế kỷ trong những hẻm núi ngoại vi Los Angeles. Cuối thế kỷ mười chín, tộc người của Ishi bị sát hại trong một cuộc tấn công diệt chủng khi người da trắng tiến vào sâu hơn trong các hẻm núi để tìm vàng và đất nông trang. Sang đầu thế kỷ hai mươi, các nhà nhân học đều có chung một nhận định là thổ dân California đã tuyệt diệt.
Tức là cho đến ngày 29 tháng Tám năm 1911. Hôm đó, ngay giữa thời đại hỏa xa và điện thoại, Ishi, một thổ dân lực lưỡng khoảng trên năm mươi tuổi, đi lang thang xuống một thung lũng nông trang ở Oroville, California. Ông trần truồng, mái tóc cháy trơ, để cho thấy đang để tang. Ông đã ẩn mình trong những hẻm núi từ thời thơ ấu với bà và một cô em gái, và giờ đây khi cả hai người kia đã qua đời, trong lòng tràn ngập nỗi buồn bã cô đơn, ông đi bộ suốt một hành trình dài, sẵn sàng chu du “vào thế giới bên kia”. Đó chính là nơi ông dừng chân. Ông là một người thời kỳ đồ đá bước vào ngay giữa nước Mỹ công nghiệp hiện đại. Phải mất nhiều tuần trời các nhà nghiên cứu và các nhà dân tộc học mới đoán ra Ishi là ai và mới có thể chắp nối một thứ ngôn ngữ để thông qua đó giao tiếp với ông. Tất nhiên, họ thấy ông là một kho tàng vô giá về thông tin nhân học. Ông dạy họ ngôn ngữ, thần thoại và kỹ thuật săn bắn (bao gồm cả một dạng nghệ thuật bắn cung vốn trước đây chỉ thấy ở Mông Cổ). Các nhà nhân học nghiên cứu Ishi cuối cùng đã đưa ông tới viện bảo tàng của họ, ở đây ông làm một chân quét sân.
“Người đàn ông này,” Eustace nói với sự nghi hoặc, “với khả năng thông thạo đáng kinh ngạc để sống trong rừng thẳm, đang suốt ngày đưa chổi quét nhà.”
Ishi cũng làm đầu mũi tên cho khách tham quan, họ thường mỗi lần một tuần lại đến xem ông được trưng bày ở viện bảo tàng. Ông học nói ít tiếng Anh, tập mặc quần dài, xem kịch, đi tàu hỏa, rồi chưa được mười năm thì ông chết vì bệnh lao.
“Thề có Chúa là đôi khi tôi cảm thấy mình giống như Ishi,” Eustace nói. “Hoàn toàn khác với mọi người trong thế giới này, kẻ cuối cùng trong chủng loại của mình, như con cá mắc cạn. Chỉ biết cố gắng truyền đạt. Cố gắng dạy mọi người điều gì đó. Nhưng lúc nào cũng bị hiểu lầm.”
Eustace đã luôn bị hiểu sai như thế trong suốt những chuyến đi ngựa. Anh gặp các thanh niên vốn là những nhà môi trường ăn chay, họ rất phiền lòng khi thấy anh mặc da thú cũng như khi biết rằng anh săn bắn lấy thịt. Anh chán ngán đến độ chẳng còn hơi sức đâu mà giải thích rằng quần áo sợi tổng hợp của họ mới là thứ hủy hoại môi trường hơn nhiều, bởi đó là thứ nguyên liệu không thể tái chế sản xuất trong các nhà máy ngốn tài nguyên và gây ô nhiễm. Hoặc rằng họ chẳng biết thức ăn của họ có từ đâu, hay trái đất này phải chịu đựng ra sao bởi các hoạt động sản xuất và đóng gói. Và rồi còn có những người bảo vệ quyền động vật, họ phản đối sự tàn bạo mà họ chứng kiến khi quan sát Eustace thúc ép ngựa của anh quá khắc nghiệt.
“Ở đời có những người sở hữu những con ngựa béo tốt, những con ngựa chỉ là thứ nằm ì ngoài đồng cỏ,” Eustace quan sát, “và họ chưa bao giờ thấy một con ngựa thật sự sung sức trước khi nhìn thấy con ngựa của tôi. Đàn ngựa của tôi thuần thục, thon gầy, múi cơ dài, suốt đời làm việc và chu du. Chúng là những vận động viên sinh ra để kéo xe đường trường. Chức năng của loài ngựa vốn là như vậy. Chẳng ai chăm sóc động vật chu đáo hơn tôi. Thế mà tôi cứ nghe mọi người nói, 'Anh không cho ngựa ăn đủ!' nghe thật là bực. Tôi muốn nói, 'Nghe này mọi người, tôi cho ngựa của tôi ăn nhiều tới nỗi phải như con ngựa già lười nhác chết gí trong cái đồng cỏ bé tin hin ngớ ngẩn của các người thì chắc là đã chết đứ đừ rồi.' Nhưng ngựa của tôi gầy vì chúng đốt cháy hết năng lượng.”
Sự việc đáng buồn nhất xảy ra ở Gillette, Wyoming. Khi đó Eustace và Patience cùng lũ ngựa vừa kết thúc một ngày đi 51 dặm đường. Họ buộc xe ngựa vào lan can bên ngoài một quán rượu bụi bặm trông chẳng khác gì một cảnh trong phim rồi đi vào trong mua bánh. Khi họ rời thị trấn, một ông già dáng dấp cao bồi phóng ngang và con ngựa tốt nhất của Eustace, Hasty, con ngựa giống Morgan trung thành của anh, vừa ăn no uống say nên đang cúi đầu nghỉ ngơi. Tay cao bồi nói, “Con ngựa này tịnh chẳng có tim đâu. Tôi ở cạnh lũ ngựa cả đời rồi nên tôi có thể nói với anh rằng con vật này sắp chết đến nơi. Tốt nhất anh nên lôi nó ra và bỏ nó đi.”
Eustace chẳng nói tiếng nào. Anh không nói với gã cao bồi đó rằng trong đời mình Hasty đã đi hàng nghìn dặm rồi. Anh không nói rằng Hasty từng có nhịp tim 45 nhịp một phút sau khi phi nước kiệu mười bốn dặm - thấp hơn mạch đập của hầu hết lũ ngựa khi nghỉ ngơi. Thậm chí không hề thở khó nhọc. Anh chẳng đề cập tới chuyện Hasty sẽ đi hết gần 450 dặm trong tám ngày tới. Hay rằng Eustace Conway sẽ không đánh đổi con ngựa đó lấy một triệu đô la.
“Hasty chỉ là một con ngựa hồng,” Eustace bảo tôi. “Lông nâu đỏ, bờm đen đuôi màu đen. Nó là con ngựa có vẻ bề ngoài bình thường nhất ta từng thấy, nhưng nó là một anh hùng. Người ta chẳng hề biết tôi có được gì với con ngựa đó. Gã cao bồi ấy nói Hasty không hề có tim; tôi nói thật, con ngựa này chẳng là gì khác ngoài trái tim. Hasty là nhà vô địch của tôi, và nó rất thích chu du. Chúng tôi đã trải qua bao chuyến phiêu lưu cùng nhau mà gã cao bồi kia thậm chí chẳng tài nào tưởng tượng nổi, và chúng tôi rất hiểu nhau. Chúng tôi thúc nhau chạy xa và chạy nhanh hết sức, Hasty say mê điều đó. Tôi nói thật, con ngựa đó thậm chí vẫn chưa tìm thấy giới hạn của nó đâu. Và tôi chưa bao giờ gặp một ai hiểu điều đó có nghĩa là gì.”
Có một người đàn ông ở Kentucky vốn là chuyên gia lỗi lạc nhất thế giới (vì đương nhiên phải có ai đó nắm giữ vị trí này) về lịch sử chu du đường trường cùng ngựa. Tên ông là CuChullaine O'Reilly, và ông sở hữu bộ sưu tập sách đồ sộ nhất thế giới về hành trình phiêu lưu cùng ngựa. Bản thân ông đã thực hiện năm chuyến đi ngựa hào hùng xuyên Trung Á, một trong số đó là tới dãy Himalaya, nơi
một con ngựa của ông bỏ mạng và người dân địa phương đã ăn thịt nó.
“Cô phải đặt Eustace Conway vào bối cảnh chung,” CuChullaine O'Reilly nói, ông quả đã làm được việc đó. “Tôi hiểu lĩnh vực của mình và tôi có thể nói rằng anh chàng này là một tay cực kỳ đấy. Nghĩ xem cả đất nước này có bao nhiêu người nuôi ngựa? Hàng trăm nghìn người đúng không? Thế bao nhiêu người trong số họ từng cưỡi ngựa ra xa khỏi chuồng trại hơn năm mươi dặm? Chẳng có ai. Bởi vì thật kinh khủng khi đưa mình cùng lũ ngựa ra ngoài đời mà không có phương tiện bảo vệ. Tôi biết rất rõ điều này.
“Nghe này, những chặng đường trường Eustace đã chu du, bản thân chúng chẳng có gì thật sự nổi trội. Tôi biết một cặp đã đi hơn mười tám nghìn dặm trên lưng ngựa. Tôi biết một anh chàng ở Maine mấy năm trước đã phi ngựa mười bốn nghìn dặm. Thế nên đi xuyên đất nước này không có gì là ghê gớm. Điều phi thường nằm ở chỗ Eustace thực hiện hành trình đó trong 103 ngày. Không tin nổi. Đó là nhà vô địch về tốc độ chu du đường trường trên lưng ngựa trong ít nhất hai mươi lăm năm qua, có thể còn lâu hơn. Cà đáng kinh ngạc là Eustace làm được điều đó trong khi trước đó anh ta chưa từng là một kỵ sĩ thật sự. Anh ta đã sử dụng những kỹ năng sống trong vùng hoang vu, sự gan dạ và trí thông minh, và anh ta thực hiện hành trình này hầu như không hề mắc sai sót. Còn hành trình xe ngựa ư? Điều khiển xe ngựa nhanh tới thế ấy à? Chuyện này thật dị thường. Chỉ có rất ít người đứng được ngang hàng với Eustace trong thuật điều khiển ngựa, thế mà tất cả bọn họ đều suốt đời chăm chăm mỗi chuyện cưỡi ngựa chứ chẳng làm gì khác. Họ nghiên cứu tới hai năm trước một chuyến đi dài, và rồi họ có được các nhà tài trợ và đưa theo bác sĩ thú y riêng và hàng núi tiền. Và họ mắc phải rất nhiều sai lầm mà anh ta không hề mắc phải.”
Theo ý kiến của CuChullaine O’ReilIy, có ba yếu tố mà một người cần để trở thành một kỵ sĩ đường trường xuất sắc: lòng dũng cảm, ý chí kiên định, và sự lãng mạn. Eustace có cả ba, ở một mức độ phi thường. Và cả một số điều khác nữa. Anh có một kiểu tư chất thiên bẩm. Đối với CuChullaine O'Reilly, hành trình xuyên đất nước trong 103 ngày của Eustace Conway là một thành tích thú vị sánh ngang việc một cậu bé nông thôn người Iowa chưa hề được huấn luyện tình cờ tham gia thi đi bộ rồi bỗng nhiên lập kỷ lục một dặm đường trong chưa đầy bốn phút. Ta không thể làm điều đó. Nhưng Eustace có thể.
Xét ở mặt trên, và xét về giá trị nhân vật thực tiễn và thuần túy, CuChullaine O'Reilly thấy chỉ có thể đưa Eustace ra so sánh với một người khác, một người hoang dã ở Alaska tên là Eugene Glasscock. Eugene Glasscock là một tay ẩn dật râu ria xồm xoàm, tính cách sắt đá (ở nhà mọi người gọi anh ta là “Ông Núi”), một ngày vào hồi thập niên 1980 đột nhiên nổi hứng quyết định cưỡi ngựa từ vòng Bắc Cực tới Xích đạo. Mặc đồ da hoẵng tự khâu, tất nhiên. Một kẻ kỳ cục điên khùng. Khó khăn lắm anh ta mới sống sót qua được lãnh thổ Yukon và dãy Rocky, và anh ta bị bọn cướp tay lăm lăm dao rựa ở Mexico tấn công, và anh ta phải bơi bên cạnh ngựa mà băng qua mấy dòng sông hung hãn ở Guatemala. Tuy nhiên, anh ta thích rừng rậm. Đó là lý do tại sao Ông Núi vẫn sống dưới Trung Mỹ, một nơi nào đấy hoàn toàn không có trên bản đồ. Thật tệ là khó liên lạc với anh ta quá, CuChullaine O'Reilly nói, bởi vì chắc chắn sẽ rất thú vị nếu một dịp cuối tuần nào đó cho Eugene Glasscock và Eustace Conway gặp nhau “để họ có thể đi lang thang và kể chuyện và uống say và ăn thịt mấy con thú có túi.”
“Chẳng ai hiểu được Eustace,” ông nói. “Bởi vì khi người Mỹ hiện đại chạm trán với Eustace Conway và ngựa của anh thì đây là thế kỷ hai mươi mốt đụng phải một truyền thống du cư sáu nghìn năm tuổi mà người bình thường không tài nào hiểu nổi. Họ tách rời khỏi chương đoạn đó của nhân loại đến mức trở nên quá xa lạ với họ. Họ chẳng hề hiểu giao tiếp giữa các loài nghĩa là gì. Họ không hiểu rằng Eustace sử dụng thuật điều khiển ngựa của mình không phải như một mánh lới quảng cáo phô trương thanh thế hay như một phương tiện để giật giải xanh hoặc để sưu tập mặt khóa dây đai(6) cuộc thi cao bồi, mà như một cách để gắn kết với một loài vật khác để rồi cùng nhau trải qua hết lớp nọ tới đến lớp kia những trải nghiệm vô hình không ai hiểu nổi cho đến khi họ tới được bến bờ hãy còn mù mờ vô định bên kia.”
Nhưng còn có một điều nữa mà vị chuyên gia lỗi lạc nhất thế giới về chu du đường trường cùng ngựa này tin tưởng về Eustace Conway. Ông cho rằng vẫn còn nhiều nữa từ Eustace. Ông nghĩ Eustace còn chưa cho ta thấy anh có thể làm gì. Ông nghĩ Eustace đủ khả năng cho “một chuyến phiêu lưu phi thường thực sự kiểu như trong phim Dũng sĩ diệt rồng. Có thể.”
Tại sao chỉ là có thể?
“Bởi vì,” ông giải thích, “tôi nghĩ anh ấy đã đạt tới một trạng thái bình ổn trong cuộc đời mình. Sử dụng sức thu hút và lòng dũng cảm của mình, anh đã thúc đẩy bản thân tới tầm xa nhất anh có thể đến, thế nên giờ đây anh cần thực hiện một hành trình tâm linh. Anh cần làm một điều gì đó riêng tư. Anh đã khoe mình với công chúng trong nhiều năm đến mức anh chẳng hiểu được bản thân. Có những mảnh tâm hồn mình anh chưa hiểu, và chừng nào còn chưa hiểu ra được những điều này về bản thân, anh sẽ không bao giờ có thể trở thành kẻ phiêu bạt như anh mong mỏi. Anh rất can trường, nhưng anh chưa phải là một nhà du hành tâm linh. Chừng nào anh chưa ra khỏi thế giới này, hoàn toàn một mình, và cắt đứt mọi sợi dây liên lạc, sự quảng cáo rùm beng, cái tôi và những chuyện nhảm nhí mà làm một cái gì đó thực sự anh hùng, anh sẽ chỉ lừa phỉnh tâng bốc bản thân mà thôi. Và để tôi nói cô nghe điều này nữa. Anh ấy tuyệt nhiên chả phải một tay chủ nông trang, và anh ấy nên thôi cố gắng làm thế đi. Đó không phải tư chất của anh ấy. Anh ấy cần rời bỏ tất cả những thứ này. Anh ấy nên ngừng cố gắng cứu thế giới. Bởi vì nếu không thôi sống dưới bóng cha mình và thôi giả vờ rằng anh ấy thích cuốc đất trồng rau dưa trên cái nông trang chết giẫm đó, anh ấy sẽ chẳng bao giờ trở thành Jason Dũng sĩ diệt rồng được cả.”
CuChullaine O'Reilly nói thêm, “Nhưng đó chỉ là ý kiến của tôi.”
Chú thích:
[1] Thuộc Tuyên ngôn Nhân quyền Mỹ, thông qua năm 1791, quy định quyền sử dụng vũ khí của công dân.
[2] Ernest Shackleton (1874 – 1922): nhà thám hiểm đến Ireland, ông dẫn đầu bốn cuộc thám hiểm đến Nam Cực.
[3] Kiên nhẫn.
[4] Nghĩa là thận trọng.
[5] Ishi (kh.1860-1916) là thổ dân cuối của tộc người Yana sống ở Carolina. Cái tên Ishi (tiếng dân tộc nghĩa là “người đàn ông”) do một nhà nghiên cứu đặt cho ông.
[6] Giải xanh và mặt khóa dây đai là những biểu tượng cho giải nhất.