Người Đàn Ông Mỹ Cuối Cùng

Lượt đọc: 1355 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương tám

Chỉ một mình tôi nhận thức thấu đáo kế hoạch đích thực và cách thức hoàn thành nó.

- Charles Fourier, nhà chủ nghĩa xã hội không tưởng

Ông ngoại của Eustace Conway thành lập Trại Sequoyah vào năm 1924 và ông ã điều hành lãnh thổ của mình với sự chỉ huy khắt khe cho tới lúc ông qua đời do đau tim ở tuổi tám mươi. Người ta kể lại, ông chết trong khi đang làm việc, không bao giờ mỏi gối chồn chân. Và ông không chỉ định người thừa kế di sản của mình. Sau đám tang của ông, mọi chuyện trở nên rõ ràng là chẳng có kế hoạch nào cho trại tiếp tục hoạt động khi không có ông. Mặc dù có một lực lượng đông đảo nhân viên làm việc cho mình, Tư lệnh không tin ai đủ để chuyển giao quyền quản lý hoạt động, chưa từng tìm được một ai khiến ông tin tưởng có thể điều hành Sequoyah thân yêu - “Trại Mục Tiêu” của ông nơi “Người Yếu Trở Nên Mạnh và Người Mạnh Trở Thành Vĩ Đại” - đạt tới những chuẩn mực khắt khe của ông.

Khi các trại viên và nhân viên đến Trại Sequoyah vào mùa hè, Tư lệnh coi sóc mọi mặt trong cuộc sống của họ. Ông chỉ thị cho họ phải mặc đồ ra sao, khi nào luyện tập, khi nào cầu nguyện, và ăn món gì. Một nhân viên tư vấn nhớ lại rằng Tư lệnh Johnson dẫn anh ta vào văn phòng của ông và làm một bài thuyết giảng tròn một tiếng đồng hồ về cách quét nhà tốt nhất. Một tư vấn viên khác có lần được một bài giảng về cách sử dụng kẹp giấy tốt nhất. (“Cái móc lớn vòng ra sau tập tài liệu; cái móc nhỏ thì ở phía trước.”) Đương nhiên là Tư lệnh cấm thuốc lá chửi bậy và rượu chè trên đất đai của ông. Nhưng không chỉ vậy, ông còn tuyệt đối nghiêm cấm Coca-Cola, giấm ớt và vải bông. Nghe đồn Tư lệnh đã cho diêm tiêu vào món táo thắng đường để “kiềm chế dục vọng” và giữ các chàng trai tránh khỏi ham muốn thủ dâm (“Chúng tôi thực sự đã ăn nhiều táo thắng đường,” một trại viên Sequoyah nay đã già nói khi tôi nêu chuyện này lên.) Tóc không được chạm tai. Vào Chủ nhật trại viên phải mặc áo trắng ủi thẳng. Y tá của trại, những người phụ nữ duy nhất trong lực lượng nhân viên ở đây, phải hết sức đoan trang và giản dị để không gây ra xao xuyến dục tình vì sự có mặt của họ. Nhân viên được xếp hạng trong suốt mùa hè dựa trên tiến bộ thể chất và xã hội của họ, với điểm cộng cho những nét tiêu biểu như Trung thành, sẵn sàng Gánh vác Nhiệm vụ, và Sức hút Cá nhân.

Ông không nhân nhượng. Ông không khen ngợi. Chưa một ai đủ tốt trong mắt Tư lệnh. Chưa ai làm việc chăm chỉ hay hiệu quả hơn Tư lệnh. Ông tạo nên khu trại đó từ vùng đất đai hoang dã chưa dấu chân người, tạo ra nó bằng sức mạnh và tài năng của bản thân ông. Ông đã chịu đựng qua những mùa đông đầu tiên ở Trại Sequoyah trong một lán gỗ, đã định ra mọi ý niệm triết học để biến khu trại này thành độc nhất, đã xây dựng mọi kiến trúc ở đó, và đã giữ cho hoạt động duy trì (và thịnh đạt) qua suốt những thời kỳ gian khó Đại suy thoái và Thế chiến Thứ hai. Thế thì ai được phép nói cho Tư lệnh Johnson cách thực hiện một điều gì đó? Không ai cả. Cũng giống như người cháu Eustace sẽ than phiền năm mươi năm sau trong nhật ký về những nhân viên bê trễ tại vương quốc của riêng anh, Đảo Rùa, “Tôi đã làm việc quần quật để làm cho nơi này được như ngày hôm nay. Còn họ làm được gì? Làm sao họ có thể coi trọng điều đó? Họ đã bỏ công sức vào thứ gì thực sự thử thách nào? Làm sao tôi có thể chịu đựng nổi họ?”

Ồ, anh có thể chịu đựng được họ bằng cách phủ chụp quyền lực tuyệt đối lên họ, cả thể xác lẫn tâm hồn. Đó là điều Tư lệnh đã làm. Tư lệnh có một loạt “cuộc trò chuyện” dành cho các trại viên vào nhiều thời điểm khác nhau trong quá trình họ sống trong trại, dựa theo tuổi tác của họ. Trong đó gồm những cuộc thảo luận về Thượng đế, Tự nhiên, Trung thực, Dũng cảm, Cách Trở thành Người Mang Sứ Mệnh, và đồng thời còn có các răn dạy về Thủ dâm và Hẹn hò. Ông nói chuyện với các chàng trai về “Ảnh hưởng của đời sống tình dục chừng mực đối với hôn nhân và con cái” (Cuộc trò chuyện số 5) và về “Bệnh lây qua đường tình dục” (Cuộc trò chuyện số 6). Khi các chàng trai của ông rời khỏi Trại Sequoyah, Tư lệnh vẫn giữ liên lạc với họ - với hàng nghìn người trong số họ - gửi những lời nhắn nhủ khích lệ vào mỗi dịp Giáng sinh, cũng như gửi những cuốn sách mỏng đầy tha thiết của chính ông, những cuốn sách mà ông gửi qua đường bưu điện cho họ vào những thời khắc quan trọng của cuộc đời:

Lá thư gửi các cậu bé về chuyện rời nhà đi học tiểu học

Lá thư gửi các chàng trai về chuyện bước vào đại học

Lá thư gửi các chàng trai nhân dịp sinh nhật hai mươi mốt

Lá thư gửi các chàng trai về việc kết hôn

Lá thư gửi các chàng trai vừa trở thành bố

Tất cả các cậu bé đều là con trai của Tư lệnh. Và các cậu bé của ông lớn lên đều trở thành bác sĩ, thẩm phán, giáo viên, người lính - trụ cột vững chắc của miền Nam nước Mỹ trong nhiều thập kỷ. Mỗi thành tựu của họ là thành tựu của chính ông. Vào thập niên 1950, một phụ nữ  đã viết cho Tư lệnh một lá thư quả quyết với ông rằng con trai bà, vốn là trại viên Trại Sequoyah, đã trải qua hai năm trong Hải quân mà không bị nhiễm “thói hư tật xấu nào vốn hay thấy ở lính thủy. Tôi cảm thấy rằng cảnh mộng thằng bé đã được chứng kiến ở Sequoyah đã và sẽ mãi còn là ánh sáng dẫn dắt soi rọi suốt con đường của nó.”

Tất cả cậu bé đều là con của Tư lệnh, đúng thế. Nhưng ông cũng có hai người con ruột, Harold và Bill Johnson, anh của mẹ Eustace Conway, Karen.

“Lớp trẻ mỗi thế hệ nên nhận thức được vai trò mà một số trong họ sẽ được vinh dự đảm trách trong tiến trình của con người đạt tới một Sứ Mệnh Cao Hơn,” Tư lệnh viết, và không thanh niên nào chịu trách nhiệm này đè lên vai mình nặng hơn các con trai của Tư lệnh. Ấy thế nhưng Harold và Bill, có lẽ chúng ta sẽ ngạc nhiên khi biết điều này, đều trở nên phản kháng lại người cha của họ. Họ hút thuốc và rượu chè từ năm mười lăm tuổi. Khi thì rầu rĩ khi thì ngang ngạnh. Nổ súng và đua xe. Bất phục tùng và phẫn nộ.

“Họ hoàn toàn trái ngược,” một trại viên Sequoyah cũ nhớ lại, “với những gì mà Tư lệnh vô cùng mong mỏi ở con trai. Ông ấy luôn hình dung họ sẽ là những cậu bé mẫu mực.

Tư lệnh chẳng tài nào hiểu nổi tại sao các con trai của ông lại trở nên hư hỏng. Có thể là do lỗi của bà mẹ. Bà Tư lệnh, người ta bao giờ cũng gọi bà với cái tên đó, luôn gây cản trở cho ông chồng bởi không nghiêm khắc và kỷ luật như ông mong đợi. Nhưng ta có thể mong đợi điều gì? Bà Tư lệnh không giáo điều như ông. Bà là một nghệ sĩ dương cầm tài năng, tốt nghiệp đại học, và là một người thời lưu thành thị bất đắc chí, nhiều cảm xúc và tâm trạng khó lường, và thường bất mãn vì phải sống cả đời trong rừng với hàng nghìn cậu bé. Bà có “khí chất nghệ sĩ”, là điều mọi người vẫn nói một cách hết mực tế nhị. Không giống ông chồng, lúc nào cũng xét những khía cạnh thuộc bản năng loài thú hằn trong bản tính con người từ góc độ logic, bà Tư lệnh nổi tiếng là đôi khi gào thét ầm ĩ trong những cơn tuyệt vọng và giận dữ. Bà cũng có tiếng là thỉnh thoảng trốn vào đâu đó để chơi những giai điệu ractim rạo rực dục tình trên đàn piano mỗi khi chồng bà không nghe thấy. Có lẽ bà còn rất thích ớt nữa.

Thế nên có thể những gì xảy ra với mấy cậu con trai đều do lỗi của bà Tư lệnh. Có lẽ Tư lệnh đã nghĩ vậy. Cứ hễ có cơ hội là cả hai cậu con trai đó trốn khỏi nhà. Harold, cậu con cả của Tư lệnh, là người gây cho ông nhiều phiền toái hơn cả. Con không thể nghe lời được sao? Không, Harold Johnson không thể nghe lời và phục tùng cha, không thể, ngay từ ngày đầu tiên. Và anh không thể chịu được sống ở nhà. Y như người cháu của Harold, Eustace, viết trong nhật ký thời niên thiếu nhiều thập kỷ sau: “Mặc dù bỏ trốn là điều rất ngớ ngẩn, tôi nghĩ chỉ cần tôi có thể trốn chạy thì ở bất cứ đâu trong rừng tôi cũng sẽ hạnh phúc hơn. Nếu thật sự ra đi, tôi sẽ nỗ lực hết mình để không quay lại, dù cho tôi có chết đói đi nữa. Bất cứ cái gì cũng đều tốt hơn thế này.”

Harold bỏ nhà đi Alaska khi anh mười bảy tuổi. Giống như những thế hệ thanh niên Mỹ thời trước anh, anh thẳng tiến tới vùng biên để thoát khỏi uy quyền của ông già. Anh không thể ở chung dưới một mái nhà với cha mình. Họ không có phương cách nào để trò chuyện. Người cha sẽ chẳng bao giờ khen ngợi Harold, chẳng bao giờ nương tay với anh, chẳng bao giờ cho anh một chút không gian nào để anh nhúc nhích hay phát triển. Nhưng Harold muốn trở thành một người đàn ông vĩ đại, và rõ ràng là chẳng có chỗ nào trong thành phố này cho cả hai người. Harold phải ra đi.

Anh đã đọc Jack London và cảm thấy rất khao khát.

Lúc anh tới được Seward chỉ có vỏn vẹn năm mươi xu trong túi. Anh đói, sợ hãi và đơn độc, nhưng anh chắc chắn một điều rằng sẽ không quay về Trại Sequoyah. Anh tìm được việc trong một đội làm đường. Rồi anh mua cho mình một chiếc mô tô và đi học sửa chữa động cơ. Và rồi khi Thế chiến II sắp nổ ra, anh gia nhập lực lượng lính thủy đánh bộ (gây nên nỗi khiếp sợ của người cha, vốn là một người hết lòng với hòa bình từ khi chứng kiến cảnh tàn sát trong những chiến hào ở Pháp). Harold đóng quân ở Hawaii, ở đó anh dạy cách sống sót trong rừng rậm cho các phi công của Lực lượng Không quân. Sau chiến tranh, anh từ chối quay trở lại miền Nam, và trên Alaska, anh mở hết cơ sở kinh doanh này đến cơ sở kinh doanh khác - một tiệm kem, một đại lý bán thuyền bè, một cơ sở phát triển kinh doanh bản kính dương màu theo đơn đặt hàng. Rồi anh làm và bán máy phát điện, một kế hoạch sinh lợi cao ở một bang mà lúc bấy giờ vẫn chưa có mạng lưới điện. Rồi anh gây dựng một doanh nghiệp buôn bán động cơ diesel và trở thành triệu phú. Anh cao gần hai mét, khỏe mạnh và bảnh bao. Và luôn nổi tiếng là một người đàn ông quyến rũ, lôi cuốn, to cao, mạnh mẽ và đầy uy lực, một người làm việc không ngừng không nghỉ, rất giỏi tự quảng bá bản thân, và không dễ gì khen ngợi hay hoan nghênh ý kiến của người khác.

Khi Tư lệnh Johnson qua đời ở tuổi tám mươi, không có ai tiếp quản Trại Sequoyah. Hai con trai ông chẳng ai muốn điều hành trại. Harold ghét miền Nam và đã có đế chế của riêng mình ở Alaska để quản lý. Bill, cậu con trai nhỏ tuổi hơn và rắc rối hơn, đã trở thành một tay chủ thầu bất động sản. Anh ta muốn bán một phần vương triều tươi đẹp giữa rừng già của Trại Sequoyah mà cha anh ta đã bảo tồn suốt nhiều thập kỷ, để làm nhà và đốn gỗ.

Có một điều cốt yếu về gia đình Johnson cần phải lưu ý ở đây. Khả năng cô con gái của Tư lệnh có thể tiếp quản Trại Sequoyah là điều dường như không bao giờ được bàn đến. Bất chấp sự tận tụy sâu sắc của Karen đối với mộng tưởng của người cha và khả năng sống nơi hoang dã của cô, cô không bao giờ được xem như một ứng viên cho cương vị lãnh đạo. Xem ra không đủ mạnh mẽ, có lẽ vậy. Nhưng chồng cô rất mong được điều khiển trại, khao khát có được cơ hội này. Và tất nhiên, như chúng ta biết, chồng cô là Eustace Robinson Conway.

Đó là Eustace Cha, người đã tới Trại Sequoyah sau khi tốt nghiệp Học viện Công nghệ Massachusetts để được làm việc với lũ trẻ và sống giữa thiên nhiên. Là một trong những tư vấn viên sáng giá, thông minh, nghị lực, tận tụy, có thể chất phù hợp, Eustace Cha yêu thiên nhiên hoang dã, nắm giữ kỷ lục về khả năng đi bộ đường trường của toàn trại, và là một giáo viên tài năng, người dẫn dắt đầy kiên nhẫn các trại viên. Ông rất được yêu mến. (Một lần, tôi tới buổi họp mặt của Trại Sequoyah và gặp rất nhiều người đàn ông đã trưởng thành, khi tôi đề cập với Eustace Conway họ liền bảo, “Ông ấy có đến đây không? Chúa ơi, tôi sẵn sàng đánh đổi tất cả để được gặp lại ông ấy! Ông ấy là nhà giáo dục về tự nhiên xuất sắc nhất tôi từng được học! Tôi tôn thờ ông ấy!” Mất một lúc làm tính nhẩm ước lượng tuổi tác tôi mới nhận ra những người đàn ông đứng tuổi này đang nói về bố của Eustace bạn tôi.) Với trí tuệ sắc bén và đam mê dành cho tự nhiên, Eustace Cha tin mình có bộ não và tinh thần để tiếp quản Trại Sequoyah một ngày nào đó. Và, như ông thoải mái thừa nhận với tôi, ông cưới Karen Johnson “nửa phần là vì con người của bà ấy, còn nửa phần là để đặt tay lên khu của cha bà ấy.”

Sự thật thì, ông hẳn sẽ rất xuất sắc trong việc điều hành nơi đó. Như một trại viên Sequoyah cũ nhớ lại, Eustace Cha “cũng nghiêm khắc, tận tâm, giỏi giang y như chính Tư lệnh vậy. Chúng tôi ai cũng cho rằng một ngày nào đó ông ấy sẽ tiếp quản trại. Ông ấy là người có khả năng hơn ai hết trong việc giữ cho khu trại đạt tới các tiêu chuẩn của Tư lệnh.” Nhưng khi Tư lệnh qua đời, ông không viết một lời nào như thế trong di chúc. Và Harold và Bill tuyên bố họ sẽ đấu tranh tới cùng để giữ không cho khu trại lọt vào tầm kiểm soát của người em rể. Họ không ưa gì chồng của cô em gái. Họ ghét ông bởi sự ngạo mạn về tri thức của ông và sự coi thường của ông đối với họ. Họ nghĩ ông là một kẻ cơ hội và sẽ không để ông được bén mảng tới nơi đó.

Thế là khu trại cứ lay lắt qua nhiều năm dưới sự quản lý không đạt chuẩn, được lãnh đạo bởi những người đàn ông kém cỏi hơn vốn không thuộc gia đình Tư lệnh. Còn với Eustace Cha, ông từ bỏ giấc mơ trở thành nhà giáo dục tự nhiên mà đến làm kỹ sư cho một nhà máy hóa chất. Sống trong một cái hộp, làm việc trong một cái hộp, lái từ cái hộp này tới cái hộp khác trong một cái hộp có bánh xe. Ông không bao giờ đặt chân tới gần Sequoyah nữa. Và khi Eustace Con lại thành ra một cậu bé hoang dã và ngang ngạnh, yêu thích rừng già hơn trường học, Eustace Cha thường xuyên tấn công cậu với lời lên án rằng cậu “vô nguyên tắc, bất thường, cứng đầu và khó chịu, y hệt như mấy ông cậu nhà Johnson vậy.”

Trại Sequoyah rốt cuộc tàn lụi thành con số không. Những ngôi nhà gỗ tự làm vững chãi nằm im lìm trống trải. Khi cuối cùng trại bị bỏ hoang vào thập niên 1970, Eustace Conway Con đã bước vào tuổi thiếu niên. Cậu đã là một kẻ đi rừng thuần thục và một người chỉ huy đáng sợ, cậu bé đã bắt tất cả trẻ con xóm luân phiên làm việc theo ca suốt cả ngày trời để phục vụ bộ sưu tập rùa lớn của cá nhân

“Con muốn Trại Sequoyah,” Eustace Con nói. “Trao nó cho con! Hãy để con điều khiển nó! Con biết con làm được!”

Tất nhiên là chẳng ai nghe cậu. Cậu chỉ là một đứa trẻ.

 

Mùa hè năm 1999.

Khi trở về với hàng nghìn mẫu đất Đảo Rùa sau những chuyến phiêu lưu xuyên nước Mỹ trên lưng ngựa và trên xe ngựa, Eustace Conway thấy thiên đường của anh là, phải, một đống hỗn độn.

Sau nhiều năm dưới bàn tay mở mang và phát triển của Eustace, Đảo Rùa đã phong phú hơn rất nhiều; nơi này không còn là khu bảo tồn thiên nhiên thô mộc nữa mà đã trở thành một trang trại nguyên thủy vô cùng trật tự và hoạt động hiệu quả. Đây đó có những tòa nhà, tất cả đều được Eustace xây dựng với nhiều kiểu cách truyền thống khác nhau, vẫn còn đó văn phòng sử dụng năng lượng mặt trời của riêng anh, phải. Nhưng anh cũng đã xây nhiều công trình công cộng, trong đó có một khu nhà nghỉ thoải mái cho khách tham quan tên là “Nhà Cho Mọi Người”, được anh thiết kế theo nguyên mẫu là nhà kho truyền thống của một người hàng xóm.

Anh đã xây một kho chứa dụng cụ rất đẹp, làm thủ công một cách hoàn hảo giống hệt như những ngôi nhà thời Daniel Boone, với cánh cửa bằng gỗ sồi tự xẻ và bản lề tự làm và những khe hở trát đầy phân bón và đất sét. Anh dựng kiến trúc này dựa trên những ngôi nhà anh đã thấy tại các di tích lịch sử. Và một chuồng lợn từ những thanh gỗ lắp mộng đuôi én, khắc hình chữ V theo phong cách truyền thống của người Appalachia. Và một chuồng gà với phần móng bằng đá sâu hai mươi phân trong lòng đất để không cho bọn thú ăn thịt đào đất vào chuồng trộm. Một nhà kho đựng ngô với những tấm ván sàn rất đẹp, và mặc dù “một trăm năm sau có thể ai đó sẽ ước gì tôi đã không sử dụng gỗ thông thì cũng đành. Tôi cần phải làm cho xong việc.” Anh đã dựng một xưởng rèn từ gỗ bồ kết và gỗ sồi, ngay bên cạnh một xưởng rèn đã đứng đó từ cách đây hai trăm năm, khi nơi mà giờ đây là Đảo Rùa chỉ là con đường lớn duy nhất cho toàn bộ khu vực thuộc dãy Appalachia này. Anh dùng đá của xưởng cũ để làm lò luyện, nơi giờ đây anh làm mọi việc gò rèn. Anh còn tạo một khu bếp ngoài trời. Và, trong suốt một mùa hè, với một đội hơn mười vốn chưa bao giờ làm công việc xây dựng, anh đã dựng một nhà kho cao mười hai mét bằng cây dương, cây thông và bồ kết ghép lại với nhau mà không có lấy một tấm gỗ xẻ, có những thanh xà dài hai mươi mét và khoe ra một mái vỉa rộng, sáu ô chuồng ngựa, và hàng nghìn tấm ván xẻ thủ công.

Và vẫn còn nhiều nữa.

Giữa công cuộc xây dựng này, một giáo sư ngành nhân học ở Bắc Carolma được nghe về chàng thanh niên thiên tài sống trên núi, xây nhà không cần đinh, làm nông cùng gia súc, và hoàn toàn tự cấp tự túc. Tò mò, một hôm bà bảo một sinh viên lên Đảo Rùa hỏi Eustace xem liệu anh có vui lòng xuống núi trò chuyện với lớp của bà và giải thích làm sao anh thực hiện được tất cả việc này. Với tinh thần trách nhiệm, Eustace cân nhắc lời đề nghị. Rồi anh bảo cậu sinh viên trở xuống núi với một lời nhắn nhủ ngắn gọn cho vị giáo sư đáng mến đó. “Nói với bà ấy tôi làm được điều đó bằng cách làm bở hơi tai.”

Đảo Rùa giờ đây là một khu đất rộng lớn và phức hợp. Chưa kể việc tổ chức các chương trình giáo dục, chỉ điều hành trang trại không thôi cũng đã là một việc đồ sộ. Nào là trông nom ngựa và bò và gà tây, nào là giữ gìn chuồng trại, sửa chữa hàng rào, xới cỏ, trồng vườn, rồi còn đóng kiện cỏ khô. Giữ cho nơi này hoạt động là cả một khối lượng công việc khổng lồ, và Eustace đã phó mặc tất cả vào tay những người học việc. Anh làm thế mà lo lắng vô cùng. Trước khi thực hiện những hành trình cùng ngựa, anh đưa cho các học viên các danh sách và các bài giảng để đảm bảo họ hiểu chính xác cách trông coi khu đất này, nhưng cuối cùng, anh rút gọn yêu cầu của mình xuống còn hai điều căn bản: “Làm ơn,” Eustace khẩn nài. “Chỉ cần không làm chết một con vật nào và không làm cháy một ngôi nhà nào của tôi.”

Ồ, họ không làm chết con vật nào của anh. Họ cũng không làm cháy bất kỳ ngôi nhà nào của anh. Nhưng khi Eustace trở lại, anh thấy Đảo Rùa chìm trong hỗn độn kinh khủng. Vườn tược um tùm cỏ; cầu cống cần sửa chữa; dê thả không đúng bãi; lối đi cây cối rậm rì. Chẳng có ai lo việc quảng bá và xếp lịch, điều đó có nghĩa là chẳng có lấy một nhóm học sinh nào tới thăm Đảo Rùa vào mùa thu năm ấy, và điều này lại có nghĩa là tiền bạc sẽ eo hẹp suốt mùa đông.

Nhân công của Eustace đều là những người năng nổ và chăm chỉ, nhưng sự thực thì Eustace chưa bao giờ tìm được bất kỳ ai anh tin cậy giao quản lý Đảo Rùa để làm cho cơ sở này phát đạt khi anh đi vắng. Tất nhiên, thật khó mà tưởng được rằng có ai đó có thể hoặc sẵn lòng làm việc bằng số giờ Eustace vẫn thường làm. Anh có một số học viên biết đối nhân xử thế, một số rất yêu gia súc, một số giỏi lao động chân tay, một số khá thạo kinh doanh. Nhưng không ai có thể làm mọi việc như Eustace, nghĩa là mọi thứ. Và chẳng ai sẵn lòng xây dựng nhà kho suốt cả ngày rồi lại thức suốt đêm để gọi điện và viết chứng thư đất đai.

Cái anh cần là một bản sao của mình.

Thay vào đó, anh đã thuê một quản lý chương trình, nhà tự nhiên trẻ đầy tài năng có thể lãnh trách nhiệm điều hành trại và lo mặt giáo dục ở Đảo Rùa, để Eustace có thể tập trung vào con cưng của mình, chương trình học nghề. Eustace tin rằng thông qua chương trình dạy kèm tập trung này anh sẽ có được tầm ảnh hưởng mạnh mẽ nhất. Từ rất lâu Eustace đã bắt đầu tự hỏi liệu lo cho hết nhóm này tới nhóm kia những trại viên bất kỳ thì có thực sự thay đổi được gì trong xã hội Mỹ hiện nay không.

“Tôi đang ngồi dưới cây óc chó trong bãi đỗ xe trên thảm cỏ vừa mới cắt,” anh đã viết vào nhật ký trong một lần khủng hoảng tâm lý như thế, không bao lâu sau khi Đảo Rùa mở cửa. “Tôi phải nấu bữa tối cho những kẻ biếng nhác thuộc nhóm 'thanh niên dễ sa ngã' ở đây. Tôi chẳng muốn đối mặt với họ. Cứ hễ đối diện với thái độ xấc láo của họ là chẳng mấy chốc tôi lại sinh ra cái thái độ như thể muốn họ cứ phải đau đớn mà chết quách đi cho rồi. Tôi cảm thấy mình yếu đuối... Tôi không biết liệu mình có thực sự muốn làm cho nơi này được như mình từng mơ ước không. Tôi biết tôi có thể. Tôi có thể khiến nó thành công, nhưng tôi có muốn điều đó không?”

Anh đã quyết định rằng câu trả lời là duy trì việc tổ chức trại và các chương trình trong ngày, nhưng để một người khác quán xuyến các hoạt động đó để anh có thể tập trung vào những người học việc. Anh muốn dồn sinh lực và khả năng của mình vào những mối quan hệ giảng dạy trực tiếp, lâu dài, thân mật với những đệ tử trực tiếp của anh. Rồi sau đó họ sẽ đem những kỹ năng của bản thân vào đời mà dạy dỗ người khác, những người khác ấy sẽ dạy những người khác nữa, và thế là sự thay đổi sẽ đến, có lẽ sẽ chậm hơn so với Eustace từng mơ mộng khi anh hai mươi, nhưng dù sao sự thay đổi cũng sẽ đến.

Anh hầu như chắc chắn về điều đó

 

Có một cô gái. Cô là một hippy. Tên cô là Alice. Alice yêu tự nhiên hơn bất cứ gì, và cô muốn sống trong rừng theo cách tự cấp tự túc, và chị gái cô, vốn có biết Eustace Conway, bảo rằng, “Này Alice, đây là người đàn ông dành cho em đấy”. Alice liên lạc với Eustace và bảo anh rằng cô muốn sống gần tự nhiên, như anh. Một chiều, cô tới thăm Đảo Rùa, và Eustace dẫn cô đi một vòng và đưa cho cô mấy tập sách hướng dẫn rồi bảo cô nghĩ xem liệu cô có thích làm người học việc không. Cô lướt nhìn những dòng suối chảy róc rách, những hàng cây rì rào, đàn gia súc nhởn nha gặm cỏ trên đồng, và tấm biển chào mừng đầy vẻ thanh bình ở cổng chính (Không Áo, Không Giày, Không Sao Cả!), và nghĩ chắc chắn mình đã lên tới thiên đường.

Ngay lập tức, Alice viết cho Eustace, cam đoan với anh rằng “bản năng của tôi bảo ĐỒNG Ý! Qua những điều ít ỏi tôi đã nhìn thấy và đọc được, Đảo Rùa có những phẩm chất dường như là gần gũi nhất với trái tim tôi. Giống như giấc mơ trở thành hiện thực vậy. Tôi cũng rất biết ơn trước sự chào đón cởi mở của anh và sẽ lấy làm vinh dự được đến sống, học tập, làm việc và vui chơi cùng anh và vùng đất ấy. Tôi nhớ khi còn bé xem phim Ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên tôi đã thầm mơ một ngày nào đó sẽ được sống như thế thay vì chỉ được xem trên màn ảnh. Cống hiến cho gia đình, sống hài hòa với thiên nhiên. Ôi... cuộc sống ngọt ngào.”

Sau bảy tháng sống ở Đảo Rùa, Alice viết cho Eustace một lá thư theo kiểu hoàn toàn khác.

“Khi lần đầu đến đây, tôi đã đề nghị mỗi tuần một ngày nghỉ. Anh bảo tôi là tôi không xứng đáng với điều đó. Nhưng mới là dịp cuối tuần thứ hai của Jennie ở đây mà cô ấy đã có một ngày nghỉ. Anh chỉ cho cô ấy cách lột da nai trong khi tôi phải làm bở hơi chỉ để anh công nhận tôi là một học viên... anh bắt tôi làm quá cực nhọc... khiến tôi cảm thấy mình vô dụng... Tôi cảm thấy mình không được đánh giá đúng và thừa thãi... anh bảo càng hiểu được tôi anh càng thất vọng về tôi... anh bắt tôi làm việc mười đến mười hai tiếng mỗi ngày... có lẽ tôi không nên ở đây.”

Thế rồi Alice bị đuổi đi. Sa thải. Giải tán.

Có vấn đề gì vậy? Điều gì xảy ra trong bảy giữa “cuộc sống ngọt ngào” với “có lẽ tôi không nên ở đây” thế nhỉ?

À, theo Eustace, vấn đề ở chỗ Alice là một cô nàng hippy, một người mộng mơ, một kẻ lười biếng. Trong đời mình cô nàng đã dùng rất nhiều ma túy, và có thể vì thế mà não bộ hoạt động chậm chạp, cô đãng trí và gặp khó khăn trong việc học làm mọi thứ đúng cách. Cô làm việc không nhanh và không hiệu quả. Cô không thể hấp thụ được các kỹ năng, cho dù có được xem quy trình đúng bao nhiêu lần đi chăng nữa. Và cô làm hao tổn quá nhiều năng lượng cảm xúc của Eustace, lúc nào cũng muốn ngồi trong văn phòng của anh để nói về tự nhiên rồi những cảm nhận của cô rồi giấc mơ đêm qua rồi cả bài thơ cô vừa viết.

Và Eustace sợ rằng Alice có thể vô tình hại chết ai đó hoặc chính bản thân cô. Alice thường xuyên có những trò nguy hiểm vô cùng kỳ cục như bỏ mặc nến cháy bên bậu cửa sổ căn nhà gỗ mà chẳng buồn để ý. Nhiều lần cô nàng lang thang mơ mộng vào con đường chỗ cây cối đổ xuống khi Eustace phát rừng làm đồng cỏ. Tệ hại nhất, một hôm khi Alice làm việc với Eustace trong lúc anh lên xe ngựa để huấn luyện một con ngựa trẻ, chưa đưa dây cương cho Eustace thì cô nàng đã tháo dây buộc thả con ngựa ra. Con ngựa, trẻ và bất kham, bắt đầu phi như điên, và Eustace mắc kẹt trong chiếc xe ngựa, tay không, chẳng tài nào điều khiển nổi con vật. Con ngựa lao băng qua khu rừng trong khi Eustace bám chặt để thoát chết, cố gắng nghĩ xem chỗ nào mềm nhất để nhảy ra đặng cứu mạng mình. Cuối cùng anh lao đầu vào ngay một bụi rậm với vận tốc hai mươi lăm dặm mỗi giờ, đập mặt xuống và bị thương nghiêm trọng. Con ngựa đập tan chiếc xe vào bên hông xưởng rèn và bản thân nó cũng đầy thương tích.

“Phải mấy tháng ròng tôi mới sửa được chiếc xe ngựa đó nó là đồ cổ của người phái Mennonite,” Eustace nhớ lại “nó hỏng hoàn toàn. Tôi mất tới 2.000 đô. Đó là tôi chưa tính 10.000 đô bồi thường chấn thương tâm lý chuyện này đã gây ra cho con ngựa khi khiến nó phải ở trong tình trạng lồng lộn tồi tệ như thế lúc còn nhỏ tuổi tới vậy. Phải mất gần một năm tôi mới làm cho con ngựa có thể thoải mái kéo xe ngựa trở lại. Và tất cả là do sự bất cẩn của Alice.”

Hai tuần sau, cô nàng tái phạm đúng lỗi ấy. Đó là khi Eustace bảo là cô ta phải đi. Cô nàng quá thiếu lý tính và nguy hiểm không thể nào giữ lại, ngơ ngác như thể lúc nào cũng ở trong ngôi nhà nhỏ trên thảo nguyên thần tiên của mình vậy.

 

Đuổi người học việc không bao giờ là chuyện dễ dàng, nhất là khi đó là vấn đề tự trọng đối với Eustace Conway khi tuyên bố rằng bất kỳ ai cũng có thể học cách sống cuộc sống nguyên thủy này và anh là người có thể dạy cho bất kỳ ai. Giấc mơ sẽ sụp đổ khi phải nói với một ai đó, “Bạn phải rời khỏi đây bởi vì bạn không có khả năng tiếp thu.” Hoặc, “Bạn phải rời khỏi đây bởi vì bạn không thể thích ứng với nơi này.” Quả là một khoảnh khắc tệ hại khi điệp khúc của Eustace Conway chuyển từ “Bạn có thể!” sang “Bạn không thể!”

Một lần tôi hỏi Eustace bao nhiêu phần trăm người học việc rời khỏi Đảo Rùa trong tình cảnh tức giận hoặc cay đắng. Không chút chần chừ, anh nói, “Tám lăm phần trăm. Tuy nhiên người quản lý chương trình của tôi có lẽ sẽ nói là gần chín lăm phần trăm.”

OK, vậy hãy làm tròn là 90 phần trăm. Khi nhìn vào một tỉ lệ tiêu hao như vậy thì thật khó mà không gắn danh hiệu lãnh đạo tồi cho Eustace. Rốt cuộc, Đảo Rùa là thế giới của anh, và anh chịu trách nhiệm về những gì xảy ra trong thế giới của mình. Nếu anh không thể giữ được dân của mình thì rõ ràng có gì đó sai lầm trong chiến lược của anh. Nếu tôi là một cổ đông của một công ty hằng năm có tới 90 phần trăm nhân viên bỏ việc hoặc bị sa thải, có lẽ tôi sẽ nghĩ tới chuyện đặt ra cho giám đốc điều hành một số câu hỏi nghiêm túc về đường lối quản lý của anh ta.

Mặt khác, có lẽ bản thân con số đó cũng hết sức có ý nghĩa. Có lẽ chẳng dễ dàng gì trụ được ở Đảo Rùa. Có lẽ chỉ 10 phần trăm dân số có thể làm được điều đó. Sẽ như thế nào nếu mẫu so sánh là chương trình luyện tập của Lực lượng Biệt Hải? Mỗi năm họ mất bao nhiêu người trong số các chàng trai đó? Và ai là người ở lại sau khi tất cả những người khác bỏ đi? Người mạnh nhất, phải không? Tuy nhiên, những người lên Đảo Rùa không nhất thiết phải là người phù hợp nhất cho nơi ấy.

“Hết lần này tới lần khác,” Eustace nói, “tôi mời mọc những người có mơ ước về thiên nhiên nhưng lại hoàn toàn không có kinh nghiệm với thiên nhiên. Họ lên đây, và câu so sánh duy nhất của họ là, 'Ôi, nơi này trông giống y như trên kênh Thiên Nhiên vậy.' “

Một trong những người học việc ở Đảo Rùa mà tôi yêu mến là Jason, một cậu thanh niên thông minh, ăn nói nhẹ nhàng. Cậu xuất thân từ một gia đình giàu có, lớn lên trong điều kiện đầy đủ, và được giáo dục cẩn thận trong những trường tư thục hạng sang. Khi tôi hỏi Jason tại sao cậu muốn dành hai năm tới trong đời mình theo học Eustace Conway, cậu nói, “Bởi vì tôi đã không hạnh phúc, và tôi không biết đi đến nơi nào khác để tìm hạnh phúc.”

Đau buồn trước cái chết bất ngờ của người cha thân yêu, giận mẹ vì đầu óc “Thiên Chúa giáo thiển cận”, bực mình với “những vị giáo sư vô dụng”, chán ghét đám bạn bè đồng trang lứa “ngu dốt không chịu lắng nghe những bài hát của tôi và lời cảnh báo trong những bài hát đó về sự hủy hoại môi trường”, Jason bỏ đại học giữa chừng. Khi nghe về Eustace, cậu nghĩ rằng ở Đảo Rùa một thời gian sẽ mang lại sự khai sáng mà cậu kiếm tìm. Cậu thấy Eustace là một người hùng phi thường “bước ra thế giới và đón nhận sứ mệnh của mình mà không hề sợ chướng ngại, và là người có thể làm mọi việc đâu ra đó khi mà hầu hết mọi người bằng lòng đứng chống mắt xem mọi thứ hỏng hoại.” Một cách đầy ấn tượng, Jason quyết định đi bộ một mạch từ Charlotte lên Đảo Rùa đúng vào dịp Giáng sinh, thế nhưng cậu chỉ đi được có năm dặm. Trời đổ mưa băng, cậu lại mang quá nhiều hành lý và không thể nghĩ ra chỗ nào để cắm trại đêm đó hoặc phải làm sao để được khô ráo. Nản chí và đói lả, cậu gọi cho bạn gái từ một trạm xăng, thế là cô gái lái xe tới chở cậu nốt phần đường còn lại tới Đảo Rùa.

Mơ ước của Jason là sống được lối sống hoàn toàn tự cấp tự túc. Cậu không muốn đối mặt với những người Mỹ rởm rít và sự mê muội vật chất của họ. Cậu dự định chuyển tới Alaska và xây nhà dựng cửa ở đó giữa vùng biên cuối cùng của nước Mỹ. Cậu muốn sống hoàn toàn dựa vào đất đai, và cậu hy vọng rằng Eustace sẽ dạy cho cậu cách làm điều đó. Cậu mong là cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn ở Alaska, nơi “một người đàn ông vẫn có thể săn bắn tìm kiếm thức để nuôi sống gia đình mà không cần phải chịu đựng sự quan liêu để có một giấy phép săn bắn.”

“Cậu đã bao giờ săn bắn chưa?” tôi hỏi Jason.

“À, chưa,” Jason nói, cười bẽn lẽn.

Jason chính là hình mẫu của những thanh niên đến với Eustace Conway để được dìu dắt. Cậu đang cố gắng tìm cách trở thành một người đàn ông trong cái xã hội đã không còn lấy một lối đi quang đãng dành cho cậu. Cũng hệt như Eustace Conway thời niên thiếu đã nỗ lực tìm kiếm những nghi thức dẫn anh vào tuổi trưởng thành, Jason đang nỗ lực tìm kiếm một nghi lễ hoặc ý nghĩa nào đó có thể giúp vạch định con đường tiến bước của chính cậu. Nhưng cậu không có hình mẫu, nền văn hóa của cậu không có nghi lễ bước vào tuổi trưởng thành nào vừa ý cho cậu, và nền tảng tri thức của cậu không cung cấp cho cậu những kỹ năng đàn ông vốn dĩ vô cùng lôi cuốn cậu. Như cậu thừa nhận, cậu lạc lối.

Đây cũng chính là câu hỏi về văn hóa gây bất an mà Joseph Campbell[1] đã đặt ra trong suốt bao nhiêu năm. Điều gì sẽ xảy ra với những người trẻ trong một xã hội đã đánh mất mọi dấu vết của nghi thức? Bởi vì thời niên thiếu là một giai đoạn chuyển tiếp, đó là một hành trình vốn dĩ mang nhiều hiểm họa. Nhưng văn hóa và nghi thức được cho là bảo vệ chúng ta qua những giai đoạn chuyển tiếp của cuộc đời, giữ chúng ta an toàn giữa hiểm nguy và trả lời những câu hỏi hóc búa về căn tính và về sự thay đổi, để giữ chúng ta không xa rời cộng đồng trong những hành trình gian khó nhất của bản thân.

Trong những xã hội nguyên thủy hơn, một cậu bé có thể phải trải qua một năm trời thực hiện các nghi thức kết nạp để đưa cậu vào tuổi trưởng thành. Cậu sẽ chịu sự đày đọa mang tính nghi thức hoặc những thử thách sức chịu đựng khắt khe, cũng có thể cậu sẽ phải rời khỏi cộng đồng để trải nghiệm một giai đoạn trầm tư và cô độc, sau giai đoạn đó cậu sẽ trở về với gia đình và mọi người sẽ nhìn cậu như một con người đã hoàn toàn thay đổi. Cậu sẽ chuyển tiếp an toàn từ thời thiếu niên sang tuổi trưởng thành, và cậu sẽ biết chính xác khi điều đó xảy ra và biết từ đấy người ta chờ đợi điều gì ở cậu, bởi vì vai trò của cậu đã được ghi thành điển lệ rõ ràng. Nhưng làm thế nào một thiếu niên Mỹ hiện đại biết được khi nào cậu bước qua ngưỡng cửa trưởng thành? Khi cậu nhận bằng lái xe chăng? Khi cậu hút ma túy lần đầu? Hay khi cậu trải nghiệm tình dục không an toàn với một cô gái trẻ mà bản thân chẳng biết giờ mình đã là phụ nữ hay chưa?

Jason không biết. Tất cả những gì cậu biết là cậu khao khát một kiểu thừa nhận nào đó đối với sự trưởng thành của cậu, và cuộc sống ở trường đại học không trao cho cậu điều ấy. Cậu chẳng biết phải tìm điều cậu đang tìm kiếm ở đâu, nhưng cậu bị thôi thúc bởi ý nghĩ Eustace có thể giúp được. Jason có một người bạn gái xinh đẹp, và cậu nuôi ý tưởng lãng mạn rằng một ngày nào đó hai người sẽ cùng nhau định cư ở Alaska, nhưng rõ ràng cô gái có những ý tưởng của riêng mình. Cô trẻ trung, giàu có, là một sinh viên xuất sắc, luôn bê vực nữ quyền như hầu hết những người thuộc thế hệ cô, và cô khao khát được thấy thế giới. Cô có những triển vọng bất tận trước mắt. Jason hy vọng cuối cùng cô sẽ “ổn định” với cậu, nhưng tôi cảm thấy nghi ngờ điều đó, và quả nhiên mấy tháng sau cô rời bỏ cậu. Và điều đó khó lòng khiến Jason cảm thấy dễ chịu hơn về bản thân mình như một người đang trong quá trình chuyển hóa thành đàn ông.

Đối với tôi thì dường như nỗi bức bối của Jason là điển hình cho rất nhiều nam thanh niên Mỹ, những người cứ nhìn các bạn gái đồng trang lứa bay vào một thế giới mới và thường khó mà bắt kịp được. Rốt cuộc, khi trông ra xã hội Mỹ, Jason thấy gì? Ngoài những khủng hoảng về tiêu thụ và về môi trường vốn gây bực mình sâu sắc cho sự nhạy cảm của cậu, cậu đang đối mặt với một thế giới đang trải qua biến chuyển toàn diện về văn hóa và về giới. Đàn ông chủ yếu vẫn nắm quyền, xin nhớ cho, nhưng họ đang tuột dốc rất nhanh. Nước Mỹ hiện đại là một xã hội mà đàn ông tốt nghiệp đại học đã chứng kiến thu nhập của họ giảm sút 20 phần trăm trong hai mươi lăm năm trở lại đây. Một xã hội mà tỉ lệ phụ nữ học xong trung học và đại học cao hơn nhiều so với nam giới, và những cánh cửa cơ hội mới mở ra cho họ mỗi ngày. Một xã hội mà một phần ba tổng số bà vợ kiếm được nhiều tiền hơn ông chồng. Một xã hội mà phụ nữ ngày càng kiểm soát được vận mệnh kinh tế cũng như số mệnh sinh học của họ, thường lựa chọn đơn thân nuôi con hoặc không sinh con hoặc hoàn toàn gạt bỏ một người đàn ông có danh tính cụ thể ra ngoài chuyện sinh nở, thông qua phép lạ của ngân hàng tinh trùng. Nói cách khác, một xã hội mà người đàn ông không còn thiết yếu theo cách nhân loại cần họ trước đây - để bảo vệ, để cung ứng, để truyền giống.

Gần đây tôi có tới xem một trận bóng rổ nữ nhà nghề ở New York. Thời thiếu nữ tôi từng là một vận động viên bóng rổ đáng mặt, nhưng hồi đó không có cái gì như WNBA[2], thế nên tôi rất quan tâm theo dõi liên đoàn này phát triển trong những năm gần đây. Tôi thích đến các trận đấu xem các vận động viên nữ xuất sắc thi đấu để giành những khoản lương không hề nhỏ. Tuy nhiên chủ yếu tôi thích quan sát khán giả, thường là những cô gái mười một mười hai tuổi đời đầy nhiệt tình và sung mãn. Vào một tối có đội New York Liberty thi đấu, tôi đã thấy một điều thật đáng ngạc nhiên. Một nhóm thiếu nữ mười hai tuổi chạy tới rào chắn trước ghế ngồi của các em và giăng ra một tờ giấy có viết:

W.N.B.A: WHO NEEDS BOYS, ANYHOW?

Khi tiếng reo hò cổ vũ dậy lên khắp khán đài, tất cả những gì tôi nghĩ được là ông ngoại của Eustace Conway hẳn đang quay cuồng đầu óc dưới nấm mồ.

Thế đấy, xét trên nền văn hóa đương đại, không có gì đáng ngạc nhiên khi một thanh niên như Jason muốn chuyển đến Alaska và giành lại ý niệm cổ xưa cao quý nào đó về chí nam nhi. Nhưng cậu có một khoảng cách mênh mông phải vượt - không phải về địa lý - trước khi cậu có thể nghĩ tới chuyện trở thành người khai hoang, trước khi cậu có thể hiểu một cách đúng đắn cậu sinh ra “để làm gì”. Jason rất thiết tha và, có trời chứng giám, rất chân thành. Cậu có nụ cười vô cùng dễ thương, và Eustace thích sự bầu bạn cũng như những bài hát cảnh báo nguy cơ hủy hoại môi trường của cậu. Nhưng Jason có bản tính yếu mềm và dễ tổn thương như một vết bầm tím vừa va đập, và cậu lại xử sự có phần tự kiêu thành thử rất khó mà dạy cậu. Và, xét trên nền tảng giáo dục thành thị luôn được bảo vệ che chở của cậu, cậu có một lỗ hổng lớn, rất lớn về thường thức. Chẳng bao lâu sau khi tới Đảo Rùa, cậu mượn một chiếc xe tải của Eustace để đi xuống Nam Carolina và vô tình chạy xe suốt cả chặng đường với vận tốc bảy mươi lăm dặm một giờ trong khi hệ dẫn động bốn bánh vẫn khóa.

Như về sau Eustace kinh ngạc nói, “Tôi không tin nổi là chiếc xe tải của tôi tồn tại được qua chặng đường đó trong tình trạng như thế.”

Quả nhiên, khi Jason về tới Đảo Rùa, động cơ đã hỏng.

“Cậu chẳng hề để thấy chút gì khác lạ khi chiếc xe đang chạy à?” Eustace hỏi Jason, khi anh chàng gọi cho anh để thông báo rằng động cơ của chiếc xe “đột nhiên” gãy rắc.

“Lúc nãy nó kêu to kinh khủng,” Jason thừa nhận, là lạ lắm. “Động cơ gầm rú ầm ĩ. Em đã phải bật nhạc suốt đường để át tiếng ồn.”

Eustace mất hàng nghìn đô la để đưa chiếc xe tải tốt nhất của anh hoạt động trở lại.

Suốt chín tháng tiếp theo thời gian học việc của Jason (rồi đây cậu sẽ từ bỏ rất sớm trước khi đến hạn hai năm theo cam kết của cậu do ngày càng cảm thấy không hài lòng với sự lãnh đạo của Eustace), cậu đạt được sự thành thạo rất ấn tượng trong việc làm nông theo phương thức nguyên thủy và trong nhiều kỹ năng phức tạp khác, nhưng cậu cũng phá hỏng thêm hai chiếc xe khác của Eustace. Và khi Eustace đề nghị Jason nghĩ đến chuyện bồi thường phần nào tổn thất, Jason cảm thấy hết sức khó chịu. Sao kẻ được gọi là người của thiên nhiên này lại dám thể hiện sự tham luyến của cải vật chất kia chứ! Eustace quả là một kẻ đạo đức giả!

“Đừng có mà xử tệ với tôi, Eustace,” Jason viết chẳng bao lâu sau khi rời Đảo Rùa. “Tôi không muốn cảm nhận theo cách này. Tôi muốn những mối quan hệ làm phong phú cuộc đời tôi, không phải những quan hệ hạ nhục tôi đâu. Tôi cảm thấy với anh cái xe tải quan trọng hơn tôi. Xin mượn lời của Lester, nhân vật người cha trong phim Vẻ đẹp Mỹ, 'Nó chỉ là một cái ghế chết tiệt!' “

Hết lần này tới lần khác, sự thay đổi kiểu này diễn ra trong đời Eustace. Anh được tôn thờ, và rồi những người tôn thờ anh khiếp sợ nhận ra rằng anh chẳng phải hình mẫu thần thánh của họ. Thông thường, những người đến với Eustace đều là những người tìm kiếm, và khi họ gặp biểu tượng đầy sức hút này, họ tin chắc công cuộc tìm kiếm của mình đã xong xuôi, rằng tất cả những câu hỏi của họ sẽ được trả lời, đó là lý do tại sao họ ngay lập tức trao trọn cuộc đời mình vào tay anh một cách vô điều kiện. Và chẳng phải chỉ có những nam thanh mới mắc phải câu chuyện rập khuôn này.

“Tôi vui sướng cực độ suốt năm ngày trời,” một cô gái với nỗi kinh ngạc điển hình viết cho Eustace sau chuyến thăm ngắn tới Đảo Rùa. “Những mảnh hơi thở nhỏ xíu của tôi tản mác khắp nơi trong những cây thông trắng và cây de vàng. Cảm ơn Người, Đấng Tạo hóa! Cảm ơn anh, Eustace! Nó để lại ảnh hưởng trong tôi mãi mãi. Tôi biết dây là nơi duy nhất tôi muốn sống. Nếu có khi nào anh cần thêm một tay, tôi sẽ trao anh cả hai tay mình!”

Sau một lời giới thiệu đầy ắp tán dương như thế, có thể sẽ rất xấu hổ khi nhận ra rằng cuộc sống ở Đảo Rùa vắt kiệt sức lao động và Eustace cũng là một con người không toàn mỹ, với những ấp ủ đầy câu hỏi chưa lời đáp của riêng anh. Chẳng mấy người tìm kiếm qua được nỗi choáng váng đó, nỗi choáng váng mà cuối cùng tôi đã phải gọi là Hiệu ứng Roi da Eustace Conway. (Nhân tiện xin nói, từ khi chính Eustace áp dụng cụm từ đó, anh đã đi xa tới mức băn khoăn không biết anh có nên phân phát nẹp cổ cho tất cả người học việc như một biện pháp phòng ngừa giúp họ sống sót qua chấn thương vỡ mộng không thể tránh khỏi hay không. Anh đùa, “Mọi người sẽ hỏi, 'Tại sao tôi phải đeo cái nẹp cổ này hả Eustace?' và tôi sẽ gật đầu đầy thông hiểu mà đáp, 'Ô, rồi bạn sẽ thấy.' “)

Đây cũng là lý do tại sao duy trì được những tình bạn lâu bền là một thử thách với Eustace. Có hàng trăm, có lẽ là hàng nghìn người có quan hệ mật thiết với cuộc sống của anh, nhưng nhiều người trong số họ dường như rơi vào một trong hai nhóm: những môn đệ đầy háo hức hoặc những kẻ dị giáo vỡ mộng. Hầu hết mọi người thấy chẳng thể nào từ bỏ được ý niệm về Eustace như một biểu tượng trong thời gian đủ dài để có thể kết bạn với anh như một con người. Có lẽ anh chỉ đếm được trên một bàn tay số người anh xem là bạn thân, và thậm chí những mối quan hệ ấy cũng thường căng thẳng, vừa bởi nỗi sợ dai dẳng cả đời Eustace, sợ bị phản bội (khiến anh không theo đuổi sự thân thiết tuyệt đối trong tình bạn) vừa bởi anh khăng khăng rằng không ai có thể hiểu đúng về anh cả (điều này cũng chẳng ích hơn gì). Eustace thậm chí không tin người mà anh gọi là bạn thân nhất - một sơn nhân thuần thục, tốt bụng và nhạy cảm tên là Preston Roberts anh gặp ở cao đẳng - hoàn toàn hiểu được anh.

Thời học cao đẳng, Preston và Eustace thường mơ họ sẽ cùng nhau thành lập một khu bảo tồn thiên nhiên, xây dựng gia đình bên nhau, cùng với cậu bạn thân Frank Chambless của họ, người đã đi bộ trên Đường mòn Appalachia với Eustace. Nhưng đến lúc mua Đảo Rùa, Preston và Frank chỉ tham gia qua loa trong hoạt động đó. Frank mua một mảnh đất nhỏ gần khu bảo tồn nhưng rồi mấy năm sau lại bán đi lấy tiền trong nỗi thất vọng ê chề của Eustace. Sau cuộc buôn bán đó, Frank gần như mất hút khỏi cuộc đời Eustace, và Eustace chẳng bao giờ hiểu tại sao.

Preston Roberts mua đất gần Đảo Rùa và giữ mảnh đất ấy. Anh góp phần xây dựng nhiều công trình ở Đảo Rùa và đã giảng dạy tại trại hè trong nhiều năm. Anh và Eustace thỉnh thoảng lại làm một chuyến phi ngựa hoặc một hành trình đi bộ, qua đó họ có thể thả hồn trong tình bầu bạn và trong sự tráng lệ của thiên nhiên. Preston vô cùng ngưỡng mộ Eustace và sẽ rất sẵn lòng lãnh đạn che chở cho anh. Nhưng bất chấp những lời mời mọc triền miên của Eustace, anh vẫn chưa quyết định đưa gia đình vào sống hẳn trong Đảo Rùa. Theo vợ của Preston giải thích thì, “Chồng tôi luôn có hơi lo rằng anh ấy sẽ đánh mất tình bạn với Eustace nếu phải làm việc với Eustace hằng ngày.” Thực ra kiểu gần gũi đó dường như thật sự thách thức hầu hết mọi người. Đặc biệt là trong quá trình học việc. Tất nhiên, chẳng tránh được rằng ngay từ đầu những người học việc hăm hở tới Đảo Rùa đã là những người dễ tổn thương tình cảm.

“Một số người muốn tới sống ở đây là những người khổ sở bất mãn xã hội và khó hòa nhập nhất trong xã hội,” một lần Eustace bảo tôi. “Họ nghĩ Đảo Rùa là nơi rốt cuộc sẽ khiến họ hạnh phúc. Họ viết thư cho tôi nói họ ghét nhân loại tới mức nào... Chúa ơi, cô có tưởng tượng nổi phải nỗ lực sắp xếp một chi tiết công việc cho kiểu người ấy là trần ai khoai củ như thế nào không? Đám thiếu niên bỏ nhà đi bụi muốn tới đây. Có người ở hệ thống nhà tù của bang viết thư cho tôi bảo muốn tới đây. Tôi thu hút những kiểu người bị xã hội ruồng bỏ bất mãn như vậy đó.”

Khi tôi tới thăm Eustace vào tháng Tám năm 1999, anh có một cậu thanh niên học việc có biệt danh là Nhánh Cây. Nhánh Cây tới đây là do một thảm họa của một gia đình bất thường nào đó ở Ohio, cậu liên tục bị ném ra khỏi nhà và gặp rắc rối với pháp luật. Eustace chấp nhận Nhánh Cây vì triết lý căn bản nhất của anh là ai cũng có thể xoay xở sống cuộc sống nguyên thủy này nếu anh ta hoàn toàn sẵn lòng và được chỉ dạy đúng cách. Tuy nhiên, Nhánh Cây là một kẻ chuyên gây rối. Cậu ta là một tay du côn hung hăng và không thể tin cậy được, và nhiều người học việc khác (lúc bấy giờ còn có ba chàng trai cô gái khác, con số thông thường mỗi năm) đề nghị Eustace đuổi cổ cậu ta bởi vì cậu ta làm hỏng tinh thần sự nghiệp của họ. Và chẳng cần phải nói, Nhánh Cây chẳng có lấy một kỹ năng làm việc nặng. Nhưng Eustace muốn cho Nhánh Cây một cơ hội, và anh đầu tư nhiều thì giờ làm việc với cậu ta, giúp cậu ta dịu xuống, dạy cậu ta cách sử dụng công cụ và cố gắng chỉ cho cậu ta cách sống chung với mọi người.

Có một số tiến bộ rõ rệt. Khi tới Đảo Rùa, Nhánh Cây yếu ớt, xanh xao và biếng nhác. Cuối cùng, ta có thể thấy từng múi cơ trên ngực và lưng cậu mỗi khi cậu làm việc nặng. (Sự chuyển biến từ bạc nhược sang sung sức này diễn ra thường xuyên ở Đảo Rùa, và có lẽ đây là điều Eustace thích chứng kiến nhất.) Và cậu bé kém cỏi này giờ đây biết buộc cày vào ngựa, biết chăm sóc lợn, biết nấu ăn trên lửa trại. Một tối cậu thậm chí còn nấu cho tôi một bát xúp nhộng, món ăn của người Cherokee cổ đại. Nhưng quả là hết sức kinh khủng khi nghĩ đến số lượng những điều Nhánh Cây còn chưa học được.

Một buổi hoàng hôn, tôi đi tới một cánh đồng xa với Eustace để quan sát anh chỉ dạy Nhánh Cây cách sử dụng cày đĩa. Họ phải kéo cái cày ra cánh đồng này qua nửa dặm đường rừng với một con la và một con ngựa thồ, sử dụng một chiếc xe trượt tuyết cứng cáp kiểu cũ của người Appalachia để chở cái máy đó. Mọi khía cạnh của công việc này đều cho thấy nguy hiểm thương vong tiềm tàng - những con vật vụng về ngang bướng, chiếc xe trượt tuyết tròng trành, những sợi xích và dây đai da và dây thừng giật liên hồi, mấy cái lưỡi sắc như dao lam của cái máy cày cũ kỹ nặng nề. Thế mà, dù đã biết hết mọi điều này, và đã sống ở Đảo Rùa được sáu tháng, Nhánh Cây lại quyết định đi dép tông để ra làm công việc này.

“Cá nhân tôi mà nói thì tôi sẽ không điều khiển cày đĩa trên một đồng cỏ lởm chỏm đá với con la tính khí thất thường như Thỏ Peter mà lại đi dép tông đâu,” Eustace nói với tôi trong khi chúng tôi quan sát Nhánh Cây làm việc, “nhưng nếu cậu ta muốn mất chân thì tôi sẽ giao việc này cho cậu ta.”

“Anh sẽ không nói gì với cậu ấy sao?” tôi hỏi.

Eustace tỏ vẻ mệt mỏi. “Mười năm trước thì hẳn tôi sẽ nói. Tôi hẳn sẽ lên lớp cậu ta một trận về việc đi giày dép hợp lý khi làm đồng và về việc tự bảo vệ mình khi ở cạnh loài vật và máy móc nặng, nhưng giờ thì tôi oải lắm rồi, tôi mệt mỏi khi cứ phải gặp những người không có mảy may kiến thức phổ thông nào. Tôi có thể sửa cho Nhánh Cây trong chuyện này, và tôi có thể sửa cho cậu ta bảy trăm lần mỗi ngày về những thứ kiểu này, nhưng giờ đây tôi phải dồn tất cả sinh lực để ngăn không cho mọi người tự giết mình hoặc giết tôi hoặc giết nhau. Cô biết không, khi Nhánh Cây lần đầu đến đây, cậu ta nài nỉ tôi quẳng thẳng cậu ta vào rừng thẳm, bởi vì cậu ta muốn sống gần thiên nhiên. Sự thật là cậu ta quá dốt nát. Cậu ta sẽ chẳng sống nổi năm phút trong vùng hoang dã thực. Cậu ta thậm chí không biết bản thân cậu ta hiểu biết được bao nhiêu. Và tôi phải liên miên đối phó với kiểu chuyện này, chẳng phải chỉ từ Nhánh Cây mà còn từ hàng trăm người như cậu ta.”

Rồi, với Nhánh Cây, kẻ lúc này đã bắt đầu cày cánh đồng rộng lớn với những vòng tròn bé tí kỳ quái, Eustace nói: “Có một ý tưởng đây, Nhánh Cây. Mỗi lần quay đầu gia súc, cậu đang dồn sức ép lên miệng chúng và sức ép lên chính cậu cũng như cái máy. Hãy cố nghĩ ra một cách cày hợp lý hơn thay vì cứ cua gắt nhiều như vậy. Cày những chặng thật dài thì sao, đi hết một đường từ đầu này tới đầu kia cánh đồng, giữ nguyên một hướng chừng nào cậu còn có thể duy trì sức đẩy? Cậu hiểu tôi đang nói gì chứ? Có thể cậu muốn cày con dốc ở đây, nhưng tôi khuyên cậu đi từ dưới lên, vì cậu còn thiếu kinh nghiệm và cậu sẽ không muốn phải lo lắng chuyện cán máy cày lên gia súc đâu.”

Khi Nhánh Cây đi xuống phía dưới, kiểu như làm theo lờ của Eustace, anh bảo tôi, “Cậu ta sẽ tốn vô tận thời gian với việc này mất thôi. Ngay lúc này tôi chỉ muốn ở trong văn phòng của mình để lo bảy trăm lá thư tôi cần phải viết và bảy trăm hóa đơn thuế tôi phải thanh toán. Nhưng tôi phải ở đây quan sát cậu ta, bởi vì tôi chưa thể giao phó gia súc hay cái máy của tôi cho cậu ta. Thế tại sao tôi phải bận lòng? Bởi vì hy vọng của tôi là một ngày nào đó cậu ấy sẽ học được cách xử lý công việc này, rồi tôi có thể để cậu ấy ra ngoài mà bảo, 'Đi cày cánh đồng đó đi,' và cậu ấy sẽ biết chính xác phải làm gì và tôi có thể tin tưởng công việc đó sẽ được làm đúng. Nhưng còn lâu chúng ta mới tới được điều đó. Ý tôi là, cậu ta đang đi dép tông! Nhìn cậu ta kìa.”

Quả thực, cậu đang đi dép tông, mặc quần soóc, cởi trần, và gài một điếu thuốc sau tai.

“Tôi thích nghĩ rằng mình đang dạy những người này các kỹ năng mà một ngày nào đó họ sẽ sử dụng trong đời họ, nhưng khi nghĩ về hàng trăm người đã tới đây trong những năm qua, tôi không thể hình dung ra có người nào hoàn toàn một mình mà lo liệu được một cuộc sống nguyên thủy ngay lúc này. Có khi một ngày nào đó Christian Kaltrider sẽ làm được. Cậu ấy xuất sắc. Hiện nay cậu ấy đang xây một căn nhà gỗ trên đất của chính mình, trông đẹp lắm. Cậu ấy học được tất cả điều đó ở đây. Có một cậu bé tên là Avi Aski, một người học việc cừ khôi. Cậu ấy đang tìm mua đất ở Tennessee, và có thể cậu ấy sẽ xoay xở được. Có thể.”

Nhánh Cây đi lại chỗ chúng tôi với cái cày, xới được một rãnh đất xiêu vẹo.

“Cậu đang làm tốt đấy,” Eustace nói với cậu. “Tốt hơn tôi mong đợi nhiều.”

Eustace đưa ra lời nhận xét ấy với khuôn mặt không biểu lộ gì và giọng nói bằng lặng. Nhưng ẩn dưới câu tán dương đó tôi có thể nghe thấy những dấu vết đáng sợ của cơn giận, sự mất kiên nhẫn và nỗi thất vọng được kìm nén mà tôi thường nghe thấy trong giọng Eustace vào giờ này của buổi chiều muộn, khi mặt trời đang lặn mà bao nhiêu công việc còn dang dở và một người nào đó lại đang làm hỏng việc cả. Vào khoảng thời gian này của buổi ngày tàn, thật rất rõ ràng: điều Eustace thực sự muốn làm là bắt cả lũ chúng ta đứng sát lại thành hàng rồi thì cốc vào những cái đầu ngu dốt của chúng ta cho tỉnh ngộ.

Tất nhiên, anh sẽ không bao giờ..

Thay vì vậy anh nói, “Làm tốt lắm Nhánh Cây. Cảm ơn cậu đã tập trung.”

Eustace thường nhận được những người học việc chưa bao giờ xách một cái xô. Anh sẽ giao cho nhiệm vụ dễ nhất trên đời - đi múc cho đầy xô nước - và rồi anh sẽ kinh hãi quan sát khi họ cố gắng xách xô nước đầy. Họ không biết phải làm sao. Họ giơ cái xô nặng ra xa người mình hết cỡ, giữ cánh tay thẳng đơ về phía trước, song song với mặt đất, lãng phí năng lượng và sức lực chỉ để nâng gánh nặng của họ. Quan sát điều đó khiến anh phải nhăn mặt vì đau đớn. Với búa cũng vậy. Anh có những thanh niên lên Đảo Rùa mà chưa từng nhìn thấy cái búa. Họ chẳng hiểu cái búa hoạt động ra sao. Họ tới chỗ anh bởi vì họ quả quyết muốn sống “tự cấp tự túc”, nhưng khi anh bảo họ đóng một cái đinh, họ nắm chặt cái búa, đến tận đằng đầu, rồi đấm vào mục tiêu.

“Khi thấy cảnh tượng ấy,” Eustace nói long trọng, “tôi chỉ muốn nằm xuống chết quách cho rồi.”

Khi dạy bọn trẻ ở trường công, thỉnh thoảng anh thử chơi một trò chơi của thổ dân ngày xưa với chúng, lăn một cái vòng rồi cố ném gậy qua cái vòng đó trong khi nó đang lăn lông lốc. Nhưng hết lần này tới lần khác anh nhận ra rằng các cô cậu học sinh Mỹ trong tất cả các lớp đều không biết cách lăn cái vòng.

“Thật là điên rồ, trẻ con mà lại không biết lăn một cái vòng!” anh quát mắng. “Tôi chỉ cho bọn chúng cách làm việc đó rồi đưa cái vòng cho bọn chúng và chúng thả nó. Tất nhiên là chúng chỉ kiểu như ngẫu nhiên thả cái vòng ra, nó nằm bẹp xuống mặt sàn cách chân bọn chúng nửa mét. Thế là chúng nhìn nó chằm chằm. Sao nó không lăn gì cả nhỉ? Chúng chẳng hiểu. Thậm chí sau khi tôi chỉ cho chúng cách làm một lần, chúng vẫn không hiểu. Sau hồi lâu, có thể có một đứa nhận ra rằng cần lực đẩy mới lăn được cái vòng, và nếu tôi gặp may, có thể có một thiên tài sẽ nghĩ, A! Thử lăn chiếc vòng xem sao!

“Tôi chứng kiến chuyện này lặp đi lặp lại. Tôi quan sát những đứa trẻ ấy mà nghĩ, 'Lẽ nào cơn khủng hoảng không tin nổi này là thực?' Chúng ta đang nuôi dạy kiểu trẻ con gì ở Bắc Mỹ vậy? Này, tôi cá với cô rằng mọi đứa trẻ ở châu Phi đều biết cách lăn một cái vòng chết giẫm. Đó là vấn đề hiểu biết quy luật tự nhiên. Thế giới được điều khiển bởi một số ít định luật vật lý căn bản - lực đòn bẩy, quán tính, mô men, nhiệt động lực - và nếu xa rời những nguyên lý nền tảng đó thì ta không thể đóng đinh, xách nước hay lăn vòng. Điều đó đồng nghĩa với việc ta xa rời thế giới tự nhiên. Xa rời thế giới tự nhiên có nghĩa là ta đã đánh mất nhân tính của mình và ta sống trong một môi trường mà ta hoàn toàn không hiểu. Cô có thể tưởng tượng được nỗi kinh hoàng của tôi trước chuyện này không? Cô có thể thấu hiểu những gì đã bị quên lãng chỉ trong vài thế hệ không? Nhân loại mất một triệu năm để học cách lăn vòng, nhưng chỉ mất năm mươi năm để chúng ta quên.”

Chúng ta đã quên, tất nhiên, bởi vì quy luật tự nhiên cũ xưa nhất trong sách có nói là: không dùng thì sẽ quên. Bọn trẻ không thể điều khiển những công cụ đơn giản nhất bởi vì chúng đâu có cần học. Nó chẳng phục vụ được cho mục đích gì trong đời sống thoải mái, đầy đủ của chúng. Bố mẹ chúng không thể dạy chúng kiểu khéo léo tay chân này, bởi vì chủ yếu họ cũng không có kỹ năng đó. Không cần tới nó, không bao giờ học nó, không nhờ tới nó nữa. Nhưng chúng ta biết đâu phải xưa tới nay mọi thứ luôn thế này. Ví như, ngay cả là một thế kỷ trước, không có người đàn ông nào trên nước Mỹ mà không luôn giắt theo mình một con dao. Dù nó là để lột da gấu hay gọt điếu xì gà, người đàn ông cần con dao như một công cụ sống căn bản, và anh ta biết cách giữ gìn, mài giũa và cầm nó. Giờ thì ai cần dao nữa?

Lại nói thêm, giờ đây còn ai cần ngựa? Thậm chí có ai cần biết ngựa là gì? Trên những hành trình cùng ngựa, Eustace nhận ra rằng những người ở độ tuổi bảy mươi tám mươi có thể thoải mái khi ở bên lũ ngựa, vì họ đã trưởng thành nhờ làm việc với gia súc từ khi còn nhỏ hoặc được bố mẹ kể cho nghe về điều đó. Nhưng cứ mỗi thế hệ sau thì ý niệm về loài ngựa ngày càng trở nên xa xôi, kỳ lạ, chẳng tài nào hình dung được. Những người trẻ tuổi không hề biết cách ứng xử khi ở bên lũ ngựa, cách để bảo vệ bản thân, cách nắm bắt được khái niệm về một sinh vật khác.

“Và con cái của họ sẽ nghĩ gì?” Eustace băn khoăn. “Hai mươi năm sau, người ta sẽ thấy con ngựa sao mà giống lạc đà, giống một con vật dở hơi nào đó trong sở thú.”

Thế nên kết quả là sự kém cỏi cứ lan rộng dần theo mỗi thế hệ. Tuy nhiên, Eustace cảm thấy anh có thể xử lý được sự kém cỏi này nếu không có cái sai lầm khủng khiếp mà anh thấy ở người Mỹ hiện đại ở mọi lứa tuổi: người ta không lắng nghe. Họ không biết chú ý. Họ không biết cách tập trung. Thậm chí nếu có tuyên bố muốn học hỏi, họ cũng chẳng có kỷ luật

“Điều khó khăn nhất là làm cho lớp thanh niên tin theo tôi và làm như tôi bảo,” Eustace nói. “Nếu có bốn người làm việc với tôi ở trên này và tôi bảo, 'OK, mọi người nghe đây. Ba người hợp lực lăn khúc gỗ này đi nhé,' thì một người sẽ bắt đầu lăn khúc gỗ ngay lập tức, hai người sẽ kéo khúc gỗ để đếm cho đủ ba người, còn người thứ tư sẽ thong dong lang thang đâu đó mà ngoáy mũi. Và họ thường xuyên nghi vấn về thẩm quyền của tôi. Họ luôn muốn biết Tại sao chúng tôi phải làm thế này, tại sao chúng tôi phải làm thế kia? Nghe này, tôi biết tại sao, thế là đủ, tôi chẳng có thời gian đâu mà giải thích mọi quyết định. Họ không bao giờ tin khi tôi nói tôi đúng. Nếu tôi nói tôi đúng thì anh có thể yên tâm là tôi thực sự đúng, bởi vì tôi không mắc lỗi. Nếu tôi không chắc điều gì thì tôi sẽ nói tôi không chắc về điều đó, nhưng hầu hết mọi lúc thì tôi luôn biết chắc. Mọi người phát rồ lên mà bảo, 'Eustace nghĩ cách của anh ta là cách duy nhất trên đời,' Ô, đương nhiên rồi. Cách của tôi là cách duy nhất. Và tôi tin công việc được thực hiện tốt nhất khi mọi người chịu phục tùng quyền lực của một người, giống như trong quân đội ấy. Đó là cách hiệu quả và hợp lý nhất để tạo ra sức lao động. Ví dụ, nếu tôi là tướng trong quân đội, kỷ luật sẽ đâu ra đó hơn và tôi có thể yêu cầu mọi người làm răm rắp như tôi nói, và rồi mọi thứ sẽ diễn ra đúng.”

Để làm cho Đảo Rùa hoạt động, cuối cùng Eustace nắm quyền kiểm soát - giống như ông của anh đã làm với trại viên và nhân viên của ông - mọi mặt đời sống của những người học việc.

“Tới mức độ mà,” một người học việc nói, “bạn cảm thấy phải xin phép Eustace rồi mới được đại tiện. Bởi vì lạy trời đừng có vào rừng đi đại tiện khi mà anh ấy đang cần dạy bạn cách sử dụng máy xát có bàn đạp hoặc cách rèn móng ngựa.”

Quả thế, Eustace không chối chuyện đó. Tôi đã nghe thấy anh giảng cho những người học việc cách buộc dây giày cho đúng, bởi vì tại sao người ta lại đi lãng phí thời gian để dây giày sút ra trong khi còn bao nhiêu việc cần làm chứ? Nhưng đó là cách các cộng đồng xã hội không tưởng Mỹ - những cộng đồng tồn tại được lâu hơn một tuần - đã luôn hoạt động. Kỷ luật, trật tự và sự phục tùng giúp họ duy trì. Từ thế kỷ mười chín, trong phòng ngủ của phụ nữ Shaker ta đã thấy tấm bảng chỉ dẫn này:

“Mọi người đều phải ngồi dậy trên giường ngay từ 'tiếng kèn đầu tiên'. Quỳ xuống trong im l nơi bạn đặt chân xuống trước nhất khi ra khỏi giường. Không nói chuyện trong phòng trừ khi bạn muốn đặt một câu hỏi với người chị em đang dọn dẹp phòng. Trong trường hợp đó, hỏi nhỏ. Xỏ tay phải vào áo trước. Bước chân phải trước. Đến 'tiếng kèn thứ hai' thì duyệt đều nghiêm trang, bên phải xoay về phía cấp trên. Đi nhón chân. Nắm tay trái ngang trên bụng. Để tay phải thõng bên hông. Đi đều nghiêm trang tới xưởng. Không hỏi những câu không cần thiết.”

Chúa ơi, Eustace Conway hẳn sẽ mê biết chừng nào nếu có kiểu mệnh lệnh như thế ở Đảo Rùa. Nhưng mỗi ngày anh đủ có thể kiểm soát chừng ấy thôi. Tới bây giờ, đó là tất cả những gì anh có thể làm để buộc những người học việc của mình hợp lực ba người lăn một khúc gỗ.

Hoàn toàn trung thực mà nói thì hầu hết mọi người sống trong nỗi sợ Eustace. Họ nói về anh bất cứ khi nào anh không thể nghe thấy - những cuộc chuyện trò thì thụt và có phần tuyệt vọng - túm tụm lại như đám triều thần đang cố đoán động cơ và tâm trạng của nhà vua, rỉ tai nhau lời khuyên để sống sót, tự hỏi tiếp tới ai sẽ bị đuổi đi. Đích thân đối diện Eustace thì thật quá đáng sợ, chẳng biết phải làm sao cho vừa lòng ông thầy đòi hỏi khắt khe, những người học việc bèn tìm kiếm lời khuyên từ bạn gái hoặc các cậu em trai hoặc bạn thân của Eustace, hỏi những cộng sự có nhiều đặc quyền này: Anh ấy muốn gì từ tôi? Tại sao tôi luôn gặp rắc rối? Bằng cách nào tôi có thể giữ cho anh ấy vui? Eustace biết cái kiểu chuyện trò diễn ra sau lưng mình này, và anh căm ghét nó. Anh xem nó là hình thức bất phục tột cùng.

Đó là lý do tại sao anh ghim lá thư này lên bảng thông cáo chung của Đảo Rùa vào mùa hè 1998:

“Gửi các nhân viên, khách quen và cộng sự của Đảo Rùa. Tôi, Eustace Conway, rất bực mình. Bạn gái tôi Patience lên đây năm ngày vừa rồi, và có quá nhiều người trong các bạn tìm đến cô ấy để thảo luận về những khúc mắc của các bạn với tôi. Đây là một thách thức và một gánh nặng không cần thiết cho cô ấy cũng như cho mối quan hệ mới mẻ của chúng tôi. Tôi rất giận vì sự tiếp cận này là để 'với đến tôi'. Nếu các bạn có vấn đề với tôi, hãy đem chuyện đó đến gặp tôi, KHÔNG PHẢI cô ấy. Nếu chúng ta không thể giải quyết chuyện đó hoặc các bạn không thể tìm được sự thỏa mãn, ĐỪNG giải quyết thông qua cô ấy. Nếu các bạn không thể dừng nói về những mặt tiêu cực trong mối quan hệ của các bạn với tôi, hãy từ bỏ hoặc rời khỏi đây ngay lập tức. Tôi không chấp nhận được thái độ này. Tôi tổn thương, buồn, và vô cùng đau đớn khi một chuyện như thế lại có thể xảy ra. Cá nhân tôi sẽ muốn đánh hộc máu các bạn hơn là để các bạn giải quyết mâu thuẫn của các bạn với tôi thông qua Patience. Nếu phản ứng thế này có vẻ quá gay gắt, à, đó là gánh nặng cảm xúc-xã hội mà tôi sẽ gánh lấy. Tôi hy vọng mình đã nói rất rõ yêu cầu của mình. Cảm ơn và trân trọng sự quan tâm của các bạn, kẻ hèn, Eustace Conway.”

Không áo. Không giày. Không cãi lời.

Nghe qua tất cả những điều này thì có vẻ như những người duy nhất sống sót được ở Đảo Rùa là những người không ương bướng, những người yếu đuối và dễ sai phái, những người sẽ ngoan ngoãn làm y lời trong nhiều tháng trời mà không có lấy một tiếng phàn nàn. Nhưng điều này không đúng. Những người ngoan ngoãn thất bại ở đây và họ thất bại rất nhanh. Họ cố hết sức làm hài lòng Eustace, và khi nhận ra họ sẽ không bao giờ có được sự công nhận mà họ hằng khao khát, họ liền suy sụp thảm thiết, tan nát bởi cảm thấy bị xúc phạm nặng nề. (Thời gian học việc kiểu này thường kết thúc trong nước mắt: Tôi đã cống hiến cống hiến nữa cống hiến mãi, nhưng thế chẳng bao giờ là đủ với anh). Thất bại nhanh hơn những người ngoan ngoãn thì chỉ có những kẻ tự phụ lúc nào cũng sẵn sàng gây sự, những kẻ ngoan cố không chịu khuất phục. Họ là những kẻ tin mình sẽ bị người khác giết mất nếu phải sống dưới quyền lực của người ta dù chỉ trong một phút. (Những chuyến học việc này thường kết thúc trong một trận cãi nhau to: Tôi không phải nô lệ của anh!)

Nhưng những người thành đạt ở đây - chẳng có nhiều người như thế - đều là những cá nhân rất thú vị. Họ thuộc số người tự ý thức về mình một cách lặng lẽ nhất mà tôi từng gặp. Họ có chung sự tĩnh tại tinh thần sâu sắc. Họ không nói nhiều, và họ không tìm kiếm lời tán dương, mà dường như họ tự tin. Họ biến mình thành chỗ chứa kiến thức mà không chết chìm trong đó. Cứ như thể khi tới đây họ đã quyết định lấy cái tôi nhạy cảm và mong manh của mình ra gói ghém lại thật chặt rồi cất vào chỗ nào đó an toàn, và hứa thâu nhặt nó về hai năm sau, khi quá trình học việc kết thúc. Đó là điều mà Christian Kaltrider, người học việc sáng giá nhất từ trước tới nay của Eustace Conway, đã làm.

“Tôi tới đây trong một tình trạng rất tệ hại,” Christian giải thích, “nhưng cũng vô cùng nhiệt huyết và háo hức. Dự định của tôi là học, và tất cả chỉ có thế. Eustace sẽ dạy tôi điều gì đấy, và tôi sẽ đi làm điều đó. Tôi không dành chút thời gian nào để nói - chỉ lắng nghe, quan sát và làm những gì mình được bảo. Tất nhiên là anh ấy điều khiển tôi mọi lúc, nhưng tôi không để điều đó làm mình nản chí. Tôi tự nhủ, 'Mình để anh ấy điều khiển mình như vậy là vì mục đích học tập của mình. Anh ấy chỉ điều khiển kiến thức chứ không phải điều khiển căn tính của mình.' Đó là một sự khác biệt tinh tế. Bạn trao con người bạn cho Eustace, hay là bạn đang để anh ấy tóm lấy bạn? Tôi quyết định trao con người tôi với tư cách một học viên vào tay anh ấy, và đó là lý do tại sao trải nghiệm của tôi rất khác so với trải nghiệm của nhiều người tới đây. Những người khác tới đây tôn thờ Eustace. Họ muốn làm hài lòng anh ấy, thế nên họ để anh ấy nhận lãnh toàn bộ con người họ, và đó là khi nỗi oán giận bắt đầu hình thành. Nó hình thành chầm chậm theo thời gian. Thứ bào mòn mọi người ở đây không phải là công việc lao động chân tay mà là sự căng thẳng tâm lý khi họ đánh mất cái tôi. Tôi không bao giờ gặp nguy cơ đó.”

“Nếu ta không tự bảo vệ mình trước Eustace,” Candice giải thích, cô là một người học việc khác ở Đảo Rùa đã quyết định làm cho những trải nghiệm của mình thành công, “thì anh ấy sẽ sấy khô ta. Ta phải giữ lại một phần nào đó của bản thân mình - bản ngã, tôi nghĩ thế - nơi anh ấy không thể với tới. Và ta phải âm thầm ngoan cố về điều đó. Tôi đã có quyết định của mình. Tôi sẽ ở đây tròn hai năm học việc, bất kể chuyện này khó khăn tới chừng nào đi nữa. Tôi từ chối trở thành một DETI khác.”

“DETI ư?” tôi hỏi.

“Disgruntled Ex-Turtle Islander[3],” cô giải thích. “Nghe này, tôi tới đây để học, và tôi đang học. Và tôi thấy Eustace rất công bằng và kiên nhẫn, ngay cả khi tôi là một kẻ ngốc. Tôi cố gắng yên lặng và riêng tư, và đó là cách duy nhất để làm việc ở quanh đây và nhận được gì đó từ nơi này. Anh ấy là chủ, và ta thực sự phải chấp nhận những quyết định của anh ấy. Ta phải xem trọng sự lãnh đạo của anh ấy, nhưng ta không nên xem đó là nhắm vào cá nhân mình.”

Đó cũng là cách làm nên một người lính tốt - không tuân lệnh một cách vô thức, mà tuân lệnh một cách đầy ý thức. Đó có lẽ lý do tại sao một trong những người học việc thành công nhất ở Đảo Rùa là một cô gái tên Siegal, trước khi tới Bắc Carolina cô này đã phục vụ trong quân đội Israel. Sự rèn luyện hoàn hảo! Siegal tồn tại được với Eustace Conway theo đúng cách cô tồn tại trong quân ngũ. “Ta phải thu mình thật nhỏ lại,” cô giải thích, như thể đó là một việc cực kỳ dễ làm.

Tuy nhiên, chuyện đó không hoàn toàn đơn giản như thế. Không nhiều người có thể kìm nén bản ngã của mình. Khả năng phục tùng càng đặc biệt khó khăn với thiếu niên Mỹ hiện đại, vốn được nuôi nấng trong một nền văn hóa dạy người ta từ tấm bé rằng mọi mong muốn của họ đều quan trọng và thiêng liêng. Bố mẹ, thầy cô, người lãnh đạo và cả truyền thông đại chúng đều luôn hỏi họ, “Bạn muốn gì?” Tôi đã thường thấy điều này nhiều nhất dạo tôi làm bồi bàn. Các bậc phụ huynh sẽ ngừng gọi thức ăn cho cả bàn để cúi xuống bên đứa con chập chững mà hỏi, 'Con muốn gì, con yêu?' Rồi họ sẽ tròn mắt nhìn chằm chằm vào đứa trẻ, khẩn thiết chờ câu trả lời. Ôi Chúa ơi, đứa bé sẽ nói gì? Đứa bé muốn gì? Cả thế gian như ngừng thở! Eustace Conway rất đúng khi anh nói một trăm năm trước cha mẹ không trao cho con cái kiểu quyền năng này. Hay thậm chí chỉ mới năm mươi năm trước. Bản thân tôi có thể khẳng định với tất cả sự trung thực rằng hồi mẹ tôi còn nhỏ, mỗi lần mẹ tôi và sáu anh chị em sinh trưởng ở miền Trung Tây của bà đi ăn tối ở nhà hàng, nếu có ai trong số họ dám đưa ra một yêu cầu riêng với người cha... Ái chà, họ sẽ không được gì sất, thế thôi.

Nhưng giờ người Mỹ được nuôi dạy rất khác. Và cái nền văn hóa “Con muốn gì, con yêu?” đã tạo nên những đứa trẻ lũ lượt kéo đến với Eustace ngày nay. Họ phải chịu cơn sốc cực độ khi nhanh chóng nhận ra rằng anh chẳng đếm xỉa đến cái họ muốn. Và từ 85 đến 90 phần trăm trong số họ không chịu đựng được điều đó.

Và rồi còn chuyện thức ăn.

Một trong những điều khiến sự học việc ở Đảo Rùa đầy thử thách là thức ăn ở trên núi này có thể… ừm, rất thất thường. Tôi đã thưởng thức một số bữa ăn ngon nhất đời mình ở đó, sau một ngày làm việc cực nhọc và tắm rửa cho tươi tỉnh trong con lạch, ngồi quanh chiếc bàn gỗ sồi chắc chắn với những người bạn cùng lao động với mình, ăn những sản phẩm tươi rói từ vườn và một khoanh sườn từ những con lợn trứ danh của nhà ông Will Hicks, tất cả chấm với bánh mì ngô nóng hôi hổi lấy ra từ một cái nồi sắt vừa bắc ra khỏi than hồng. Rất tuyệt. Tôi đã ăn vô kể nấm moscela dại ở Đảo Rùa, chọc Eustace đến mức phát cáu khi cứ sau mỗi miếng, “Anh có biết những thứ này ở New York đắt bao nhiêu không?” (“Không,” anh đáp. “Cô có biết những thứ này ở Bắc Carolina ăn ngon tới cỡ nào không?”) Nhưng tôi cũng đã từng suốt một tuần trong tháng Một ở Đảo Rùa ăn ngày ba bữa toàn thịt nai hầm. Đó là thứ thịt nai già, hôi, dai nhách. Cứ tối tối lại đun nóng món đó lên, cố tránh không ăn miếng cháy và gỉ sắt từ đáy nồi. Và những thành phần khác của món hầm đó hình như là chỉ có hành củ và năm quả đậu.

Trong khi những vị khách trả tiền - các nhóm đặc biệt và trại viên trẻ tới thăm Đảo Rùa - được phục vụ thức ăn tuyệt hảo từ những đầu bếp cừ khôi được thuê cho những dịp như thế, thì lại không có sự sắp xếp nào tương tự dành cho người học việc, vì thế tình trạng thức ăn đôi khi có thể trở nên khá khắc nghiệt, đặc biệt là vào mùa đông. Bí ngô là một ví dụ. Bí ngô là nguyên liệu chính cho thực đơn thường ngày vào mùa đông của người học việc. Họ chế biến bí ngô thành bất cứ món gì họ có thể tưởng tượng ra - bánh mì bí ngô, bánh ngọt bí ngô, xốt bí ngô, canh bí ngô. Và rồi họ bí luôn và cứ thế ăn món bí ngô nấu nhuyễn cho đến khi khu vườn sinh sôi trở lại vào mùa xuân. Cứ như thể họ là những thủy thủ thế kỷ mười sáu và bí ngô là lương khô, là thứ thực phẩm dự trữ cuối cùng của họ vậy. Đã có những cuộc nổi loạn với món bí ngô trường kỳ. Đã có những cuộc họp đầy nước mắt khi những người học việc vốn chịu đựng được mọi thử thách thể chất khác vùng dậy đồng lòng phản đối, kêu gào với Eustace, “Phải thôi bí ngô đi!”

Tuy nhiên, họ không nhận được là bao sự thông cảm từ phía anh. Bởi vì đâu phải anh trốn trong ngôi nhà gỗ của mình trên đó mà húp nước xốt béo ngậy của món vịt hầm cam trong khi những người học việc kiên trì chịu đựng của anh phải nuốt thêm bí ngô xuống thực quản. Nếu chỉ có mỗi bí ngô để ăn, đấy cũng là món anh ăn, thế nên đừng có than thở gì. Cũng như với mọi thứ khác ở Đảo Rùa, chẳng có điều gì anh đòi hỏi ở người học việc mà bản thân anh không trải qua. (Anh chẳng phải Peter Sluyter, nhà xã hội chủ nghĩa không tưởng vô lương tâm đã điều hành một ấp của giáo phái Labidist ở ngoại vi New York. Lò sưởi bị nghiêm cấm đối với các tín đồ, thế nhưng Sluyter lại luôn có một chiếc lò sưởi kêu tí tách vô cùng thoải mái trong nhà mình.) Không, Eustace Conway chịu lạnh khi những người của anh bị lạnh; anh đói khi người của anh đói; anh làm việc khi họ làm việc. Không những thế, anh còn hay làm việc khi người của anh đã ngủ ngon. Trong đời mình Eustace từng sống ở những nơi đói kém, những nơi mà món bí ngô nấu nhuyễn sẽ là bữa đại yến hùng tráng, thế nên anh không mấy cảm thông. Dù sao, nếu thực sự quá tuyệt vọng, họ luôn có thể đi thẳng xuống Boone để Bới Thùng Rác

Bới Thùng Rác là một truyền thống của gia đình Conway. Đó là điều (có lẽ là điều vui thú nhất) mà anh em Conway học được từ cha họ. Suốt đời mình, Eustace Conway Cha là một nghệ sĩ tận dụng đồ phế thải. Do thôi thúc của tính tiết kiệm và tính ưa phiêu lưu mà ông thích bới rác nhà người khác. Đối với ông thì chẳng có loại rác rưởi nào là quá hôi thối không thể soi kỹ nhằm tìm kiếm một khám phá vĩ đại. Eustace, Walton và Judson đều thừa hưởng kỹ năng đó từ cha họ, nhưng họ hoàn thiện nó tới mức họ học được cách nhìn vào rác nhà người khác không chỉ để tìm máy nghe nhạc hay máy điều hòa cũ mà để tìm cả thức ăn. Thứ đồ ăn hỏng mà vẫn ngon lành. Những thùng rác phía sau các đại siêu thị của giấc mơ nước Mỹ hóa ra lại là những bữa tiệc đứng tự-do-như-ngọn-gió cho những kẻ tháo vát đích thực.

Rất tự nhiên, Eustace Conway đã biến Bới Thùng Rác thành một nghệ thuật. Trong suốt thời học cao đẳng, anh giải quyết cái ăn bằng cách thêm vào những mẻ thú săn được bằng ống xì đồng của mình các thứ đồ ăn thừa còn ngon lành vứt ở hẻm sau siêu thị. Và anh đã hoàn thiện được cách thức bởi vì, bạn có thể tin chắc thế, nếu anh định làm điều đó, anh sẽ làm được một cách hoàn hảo, y như mọi việc khác.

“Thời điểm là vô cùng quan trọng,” anh giải thích. “Ta phải chọn thật chính xác khoảnh khắc hợp lý trong ngày để bắt đầu lục lọi thùng rác. Tốt nhất là đi loanh quanh siêu thị một lát để kiểm tra mọi thứ, xem coi mỗi ngày thức ăn vứt ra lúc mấy giờ để nhờ đó ta có thể lấy nó khi đang tươi sốt nhất. Một điều cũng rất quan trọng nữa là ta phải quay lại chỗ thùng rác như thể ta thuộc về nơi đó, đi nhanh và tự tin. Cúi đầu thấp nhìn xuống đất và đừng có lãng phí thời gian. Tôi luôn tìm ngay một cái hộp các tông gắn xi chắc chắn có những cái móc cầm tử tế, tôi chộp lấy nó và lao vào thùng rác. Nghiêng người qua thành mà chòi móc lung tung không phải là cách sử dụng thời gian tiết kiệm. Tôi không lãng phí thời gian với bất cứ sản phẩm nào kém giá. Ta đang ăn từ trong thùng rác không có nghĩa là ta phải ăn rác. Tôi xem nhanh sản phẩm, ném qua một bên bất cứ thứ gì thối rữa hoặc kém chất lượng. Nếu có một giỏ táo hỏng, tôi có thể tìm được ba quả táo tuyệt hảo trong đó và quẳng vào cái hộp các tông của mình. Ta thường tìm được một quả dưa ngon lành trong một thùng dưa nẫu, và đôi khi có thể tìm thấy cả một sọt nho bị vứt đi chỉ vì những quả nho đã lìa cuống. Còn thịt nữa chứ! Tôi từng mang về nhà hàng tá tảng thăn bò, tất cả đều bọc gọn gàng trong lớp nhựa, bị quẳng đi vì nó vừa quá hạn sử dụng một ngày. Hầu như lúc nào tôi cũng có thể tìm thấy nguyên những lốc sữa chua - tôi mê sữa chua - còn rất tuyệt bị vứt đi với lý do tương tự. Chẳng phải tội lỗi sao, những gì đang bị lãng phí trong đất nước này? Chuyện này nhắc tôi nhớ tới ông hàng xóm người Appalachia Lonnie Carlton của tôi từng bảo: 'Chúng tôi từng sống nhờ vào ít hơn những thứ ngày nay người ta ném đi.' “

Một sự vụ kỳ khôi đã xảy ra khi Eustace một mình chui vào thùng rác ở Boone trong một lần xuất kích lặng lẽ quen thuộc. Tỏ vẻ tự tin, cúi thấp đầu, tìm ra cái hộp các tông đặc biệt của mình, anh đang thực hiện tiến trình chớp nhoáng trong thùng rác và gom được “một giỏ rau quả sắp xếp đẹp mắt nhất trần đời” thì nghe thấy tiếng xe tải đỗ lại phía sau cửa hàng bách hóa. Rồi tiếng bước chân. Chết giẫm! Eustace nấp sâu vào trong góc của thùng rác và hết sức thu mình lại. Và rồi một người đàn ông, một quý ông đứng tuổi trông rất bảnh bao trong bộ quần áo chỉn chu, cúi xuống thùng rác và bắt đầu sục sạo khắp lượt. Một tay bới rác anh em! Eustace nín thở. Người lạ không để ý thấy anh nhưng chẳng bao lâu ông ta đã để ý thấy cái hộp các gắn xi chắc chắn đựng đầy thứ phẩm vật ngon lành vốn chẳng mua nổi bằng tiền.

“Hừm,” người lạ cất tiếng, hài lòng với phát hiện này.

Ông ta với ra xa cầm cái hộp lên rồi xách nó đi. Eustace nghe tiếng xe tải khởi động trở lại, anh ngồi đó, thu lu như con chuột trong góc thùng, nghĩ kỹ về chuyện này. Anh có nên ẩn nấp cho đến khi chiếc xe tải đi hẳn? Chơi ăn chắc? Bắt đầu tìm kiếm lại? Nhưng, đợi đã. Người đàn ông đó đang đánh cắp sản phẩm của anh. Anh mất trọn mười lăm phút mới tìm được những thứ ấy, và chúng là phần thức ăn ngon lành nhất có sẵn trong ngày hôm đó. Eustace không thể chịu đựng chuyện ấy. Ta không thể để một người giật miếng ăn khỏi miệng ta! Anh nhảy ra khỏi thùng rác như tên bắn và lao tới sau chiếc xe tải. Anh vẫy người đàn ông xuống, vừa hét gọi vừa chạy theo. Người lạ dừng xe lại, tái mặt, run rẩy trước hình nhân hoang dã từ trong lòng thùng rác của siêu thị lù lù hiện ra rồi vừa chạy vừa la ó này.

“Chào ông,” Eustace cất tiếng, và nở nụ cười quyến rũ nhất mình có. “Tôi phải nói với ông, thưa ông, ông vừa lấy mất chỗ rau quả của tôi.”

Người lạ nhìn chằm chằm. Trông ông ta như sắp lên cơn đau tim đến nơi.

“Đúng thế, ông bạn, tôi đã nhặt nhạnh tất cả chỗ thực phẩm đó cho mình và tôi phải mất hồi lâu để làm việc đó. Tôi sẽ rất vui lòng chia sẻ nó với ông, nhưng tôi không thể để ông mang tất cả đi được. Sao ông không đợi đây trong khi tôi tìm cho ông một cái hộp, rồi tôi sẽ chia chỗ thức ăn đó cho cả hai chúng ta?”

Rồi Eustace chạy tới thùng rác tìm một cái hộp các tông gắn xi chắn chắn khác. Anh chạy lại, nhảy lên thùng xe tải của người lạ, nhanh chóng chia đều chỗ sản phẩm ra làm hai phần bằng nhau. Anh cầm lấy một hộp cho mình, nhảy ra khỏi xe tải và đi lại cửa sổ buồng lái. Người đàn ông há hốc miệng nhìn anh chăm chăm. Eustace nở một nụ cười bát ngát nữa.

“OK được rồi, thưa ông. Giờ ông đã có cho mình một hộp rau quả xinh xắn, tôi cũng thế.”

Người lạ không nhúc nhích.

“Giờ ông đi được rồi, thưa ông,” Eustace nói. “Chúc một ngày tốt lành.”

Chầm chậm, người lạ nọ lái xe đi. Ông ta chẳng hề nói được lấy một từ.

Thế đấy. Trong khoảng thời gian cư trú của bất kỳ người học việc nào ở Đảo Rùa cũng luôn có một lần kỹ năng Bới Thùng Rác được giới thiệu. Hầu hết học việc đều chào đón dịp này như bầy chuột đến bãi đồng nát, vui vẻ hưởng thụ cơ hội được vào thành phố cho một chuyến đi thực tế và được trở lại giao tiếp với xã hội theo một cách nổi loạn. Họ gọi những cuộc thám hiểm chọn hàng nho nhỏ này là “những chuyến viếng thăm Siêu Thị Rác,” và khi món bí ngô nấu nhuyễn đã được dọn ra tới tuần thứ tư liên tiếp, thứ trái cấm từ A&P[4]  ấy bắt đầu tỏ ra thật tuyệt. Điều này là một phần lý do cho sự đa dạng kỳ quái về thức ăn mà tôi đã trải nghiệm ở Đảo Rùa. Phải, có bánh mì gừng cây nhà lá vườn rất ngon ăn với bơ đào cây nhà lá vườn. Phải, có rau bina hảo hạng tươi rói hái từ vườn. Nhưng tôi cũng ăn ở trên đó những món ăn hoàn toàn không phải của vùng Appalachia như dứa, dừa, pudding sô cô la, và, có một lần rất đáng nhớ, cả món gì đó tôi tìm được ở trong một hộp xốp có dán nhãn đề “bánh sừng bò trắng phủ đầy kem ngon tuyệt”.

“Trong tất cả các tháng tôi đã ở đây tôi chưa từng một lần hiểu nổi vì chúng tôi sống sót,” cô gái học việc Candice nói với tôi. “Thật lòng mà nói tôi không biết chúng tôi sống như thế nào nữa. Như chúng ta đều biết, Bới Thùng Rác chỉ có thể giúp ta được bấy nhiêu thôi, và vào mùa đông chúng tôi đói mềm. Đôi khi mọi người mang thức ăn cho chúng tôi, điều này thật tuyệt, bởi vì chúng tôi không được phép mua bất cứ thứ gì. Tôi lãnh trách nhiệm nấu nướng trong hầu hết thời gian tôi sống ở đây, và tôi chỉ mới tiêu tiền của Eustace có hai lần, mua những nguyên liệu chính thực sự, như bột ngô hoặc dầu hoặc hạt tiêu. Ngoài thế ra, chúng tôi đi đào bới.”

Một lần tôi hỏi Candice cô dùng nguyên liệu gì cho món bánh mì ngon tuyệt cô làm, cô đáp, “Toàn là bột mì thôi. Ngoài ra,” cô vừa nói vừa lướt tay qua một hạt nhỏ màu cát mà cô cất giữ trong một hộp cà phê cũ, “tôi luôn thả một ít cái thứ kỳ lạ này vào. Tôi lấy nó từ một trong mấy hộp thức ăn cho ngựa ở trong chuồng. Tôi chẳng biết nó là cái gì, nhưng chị không ngửi thấy mùi của nó trong bánh mì đâu, nó làm lúa mì để được lâu hơn.”

Một buổi chiều khác, tôi đang loanh quanh với Candice ở khu bếp ngoài trời để giúp cô nấu nướng thì Jason lững thững vào.

“Này Jason,” cô lên tiếng. “Cậu có thể dời Barn Kitty đi giúp tôi không?”

Barn Kitty là thợ săn chuột lão luyện bậc nhất ở Đảo Rùa, một con mèo làm việc chăm chỉ có thể bắt gặp trong kho thóc hoặc trên những cái giá cao nhất của bếp ngoài trời. Tôi nhận ra bấy lâu nay mình đâu có thấy Barn Kitty.

“Nó đâu?” Jason hỏi.

“Phải rồi,” tôi nói. “Nó đâu?”

“Dưới máng nước ấy,” Candice đáp. “Mấy con chó cứ vờn rồi tha nó đi lung tung suốt, mùi nó kinh lắm.”

Tôi nhìn xuống dưới máng nước. Ổ, đó là lý do tại sao bấy lâu nay tôi không thấy Barn Kitty. Bởi vì lúc này Barn Kitty là một cái xác không chân, bê bết bốc mùi hôi thối. Candice giải thích rằng mấy tuần trước một đêm có một con mèo hoang tấn công Barn Kitty. Kể từ đó, phần thân thể còn sót lại bầm giập chả ra hình thù gì của Barn Kitty cứ xuất hiện khắp nơi trên Đảo Rùa, bị những con vật khác tha đi lung tung. Jackson dùng que khều những mảnh xác đó ném lên mái tôn trên bếp, nơi mặt trời sẽ sấy khô chúng và lũ chó không thể với tới.

“Cảm ơn Jason,” Candice nói, rồi khẽ nói thêm, “Thánh thần ơi, tôi chẳng hiểu tại sao chúng ta không ăn con mèo già đó đi cho rồi. Eustace bắt chúng ta ăn mọi thứ chết toi khác quanh đây mà.”

 

Một hôm tôi nghe lỏm thấy Eustace nói chuyện điện thoại với một thanh niên gọi tới từ Texas để nói rằng anh ta muốn được nhận làm người học việc ở Đảo Rùa. Cậu thanh niên nghe có vẻ rất hứa hẹn. Cậu tên là Shannon Nunn. Cậu lớn lên ở trang trại, và cậu bảo cậu làm nông từ nhỏ đến lớn. Cậu còn biết sửa động cơ ô tô. Và cậu là một vận động viên sáng giá có kỷ luật cá nhân mạnh mẽ. Eustace luôn cố không hy vọng hão về mọi người, nhưng chỉ mấy nhân tố này thôi cũng đủ khiến Shannon Nunn nghe có vẻ 1.000 phần trăm hứa hẹn hơn hàng loạt những cô cậu sinh viên nuôi lý tưởng hão, lãng mạn và kém cỏi thường đến Đảo Rùa “mà chẳng biết mở cửa xe ô tô”. Shaimon nói rằng cậu đã đọc về Eustace trong tạp chí Life thế nên cậu gọi đến vì cậu muốn có một thách thức mới cho bản thân. Nếu cậu có thể học cách sống hoàn toàn dựa vào đất đai, có thể cậu sẽ tránh phải sống cuộc đời mình trong nền văn hóa Mỹ hiện đại cạn xợt, nơi “mọi người đang lún sâu trong tự mãn.”

Tới đây thì nghe tuyệt vời đấy.

Tuy nhiên, Eustace vẫn dành một tiếng đồng hồ để giải thích cho Shannon cậu ta có thể mong đợi gì ở Đảo Rùa. Đó là một bài phát biểu hoàn toàn chân thật và rành mạch.

“Tôi không phải một người bình thường, Shannon,” tôi nghe anh nói. “Nhiều người thấy tôi không dễ hòa thuận hay làm việc cùng. Những kỳ vọng của tôi là rất cao, và tôi không hay tán dương người làm của mình. Đôi khi mọi người đến đây với ý nghĩ họ đã sẵn có rất nhiều kỹ năng giá trị để thể hiện ra, nhưng hiếm khi tôi thấy ấn tượng. Nếu cậu đến, người ta trông đợi cậu làm việc. Đảo Rùa không phải là một trường học. Chẳng có lớp học nào ở đây. Đây không phải một khóa học tìm cách sống còn. Tôi sẽ không đưa cậu vào rừng vài giờ mỗi ngày để dạy cho cậu một giáo trình soạn sẵn về những kỹ năng sống trong vùng hoang dã. Nếu đó là kiểu trải nghiệm mà cậu muốn thì xin đừng đến đây. Có rất nhiều nơi cậu có thể tìm thấy điều đó, những ni sẽ đặt nhu cầu và mong muốn của cậu lên đầu bảng. Outward Bound rất thích hợp cho điều đó, Trường National Outdoor Leadership cũng thế. Cậu trả tiền cho họ; họ sẽ dạy cậu. Tôi không phải như vậy. Tôi không bao giờ đặt nhu cầu và mong muốn của cậu lên hàng đầu, Shannon. Nhu cầu của trang trại này luôn là hàng đầu. Rất nhiều việc mà tôi sẽ giao cho cậu rất đơn điệu và buồn tẻ, và có lẽ cậu sẽ cảm thấy mình đang chẳng học được gì. Nhưng tôi có thể hứa với cậu là nếu cậu ở lại với chương trình học việc trong ít nhất hai năm, và nếu cậu làm theo những gì tôi bảo, cậu sẽ đạt được những kỹ năng khó mà nhờ đó cho cậu sẽ có một trình độ tự cấp tự túc hầu như còn xa lạ trong nền văn hóa của chúng ta. Nếu tôi thấy rằng cậu sẵn lòng học và có khả năng làm việc, dần dà sau nhiều tháng tôi sẽ dành thêm thời gian cho cá nhân cậu. Nhưng tất cả mọi điều sẽ đến rất chậm, và tôi sẽ luôn duy trì quyền lực của tôi đối với cậu.

“Tôi nói với cậu điều này bởi vì tôi mệt mỏi rồi. Mệt mỏi khi có những người tới đây với định kiến hoàn toàn khác so với những điều tôi vừa giải thích cho cậu để rồi thất vọng bỏ đi. Tôi không có thời gian cho chuyện đó, thế nên tôi đang cố nói về con người mình cho thật rõ. Tôi sẽ đòi hỏi ở cậu nhiều hơn cậu từng đòi hỏi bản thân từ xưa tới nay. Và nếu cậu không sẵn sàng làm việc nặng nhọc và làm chính xác những gì tôi bảo thì xin hãy ở nhà.”

Shannon Nunn nói, “Tôi hiểu. Tôi muốn tới đó.”

Shannon Nunn trình diện một tháng sau cuộc trò chuyện này, sẵn sàng làm việc. Cậu bảo cậu thấy háo hức hơn cậu từng háo hức về bất kỳ điều gì trước nay. Cậu là một thanh niên đang tìm kiếm sự vẹn tuyền tâm linh trong rừng thẳm, và cậu tin cậu đã tìm được người thầy. Cậu nói cậu đang mong đợi “được uống thứ nước mà - một khi ta tìm thấy - ta sẽ không bao giờ thấy khát nữa.”

Bảy ngày sau, cậu đóng gói đồ đạc và rời khỏi Đảo Rùa, vô cùng tức giận, tổn thương và thất vọng.

“Tôi tới đó,” hơn một năm sau Shannon nói với tôi, “bởi vì tôi đã nghĩ tôi hiểu sự thỏa thuận. Eustace hứa với tôi rằng nếu tôi làm việc cho anh ấy, anh ấy sẽ dạy tôi cách sống tự cung tự cấp. Tôi đã nghĩ anh ấy sẽ dạy tôi những kỹ năng tồn tại, cô hiểu chứ? Kiểu như săn bắn và hái lượm ấy. Kiểu như cách dựng lều trong rừng hoang và cách đánh lửa - tất cả những thứ anh ấy biết. Tôi đã bỏ ra rất nhiều thời gian và sinh lực để tới Đảo Rùa. Chuyện này kinh khủng bởi vì tôi đã rời bỏ mọi thứ - nhà cửa, gia đình, trường lớp - để tới đây và để được anh ấy dạy dỗ. Nhưng tất cả những gì anh ấy bảo tôi làm là thứ việc chân tay không cần động não! Anh ấy không dạy tôi bất kỳ điều gì về sống tự cung tự cấp cả. Anh ấy bắt tôi dựng hàng rào và đào mương. Và tôi bảo anh, 'Trời ơi, tôi có đào mương ở nhà và được trả công. Tôi không cần thứ này đâu.' “

Shannon thất vọng tới mức chỉ vừa đến được một tuần là cậu đã tới gặp Eustace để thảo luận về những gút mắc của cậu với chương trình học việc. Eustace nghe cậu nói hết. Câu đáp của anh là: “Nếu cậu không thích thì đi đi.” Rồi anh bỏ đi không nói nữa. Điều này khiến Shannon tức đến phát khóc. Chờ một phút! Tại sao Eustace lại bỏ đi như thế? Anh không thấy Shannon buồn bực đến thế nào à? Họ không thể nói chuyện về điều này sao? Giải quyết chuyện này cho rõ ràng?

Nhưng Eustace đã nói từ trước và anh cảm thấy không muốn nói thêm gì nữa. Anh đã có cuộc trò chuyện y như thế này hết lần nọ qua lần kia với rất nhiều Shannon Nunn khác nhau trong nhiều năm qua, và anh chẳng còn gì để nói. Eustace bỏ đi không nói chuyện nữa vì anh đã mệt mỏi và vì anh phải quay lại với công việc.

 

Anh chỉ ngủ vài tiếng mỗi đêm.

Đôi khi anh mơ về Guatemala, ở đó anh thấy những đứa trẻ biết dùng dao rựa thành thạo từ khi lên ba. Đôi khi anh mơ về những trang trại kỷ luật và những gia đình lặng lẽ tín đồ dòng Mennonite. Đôi khi anh mơ thấy mình từ bỏ công cuộc cứu nhân loại và công cuộc, như anh viết trong nhật ký, “biến Đảo Rùa thành một khu bảo tồn riêng 'cho tôi' để cố gắng sống cho qua được cái bản chất lố bịch của thế giới ngày nay.”

Nhưng rồi anh thường mơ về ông ngoại, người ông có lần đã viết, “Lâu bền hơn những tòa nhà chọc trời, cầu cống, thánh đường và những biểu tượng vật chất khác của thành tựu nhân loại là những tượng đài vô hình của sự hiền minh, cảm hứng và những tấm gương tiêu biểu dựng lên trong trái tim và khối óc con người. Khi bạn nỗ lực hết mình cho chân, thiện, mỹ, cuộc đời bạn sẽ đạt được sự huy hoàng vĩnh cửu.”

Và anh mơ về cha mình. Anh tự hỏi mình còn phải vắt kiệt sức, được thêm bao nhiêu thành công nữa thì mới nhận được một lời khen ngợi từ ông già.

Và rồi anh tỉnh giấc.

Mỗi buổi sáng, anh tỉnh giấc thấy cùng một điều đó, cuộc khủng hoảng mang tính quốc gia. Một đất nước bất lực tự mình hủy hoại mọi thứ trên con đường của mình. Anh tự hỏi liệu có chút hy vọng nào sửa chữa được điều này không. Anh tự hỏi tại sao anh lại đứng mũi chịu sào để cứu cuộc đời của mọi người khác. Tại sao anh chịu để cho mảnh đất thiêng liêng của mình bị tàn phá bởi những kẻ ngu ngốc vụng về, những kẻ đối xử với nơi này vô cùng thô lỗ. Anh tự hỏi làm sao mọi chuyện lại thành ra như thế, khi mà tất cả những gì anh hằng mong muốn là trở thành người tình của thiên nhiên, thay vào đó anh lại cảm thấy mình đã trở thành ma cô cho nàng. Anh cố gắng thấu hiểu sự khác biệt giữa điều anh buộc phải làm trong đời và điều anh được phép làm. Nếu được làm chỉ những điều mình thật sự thích, có thể anh sẽ bán sạch toàn bộ cái gánh nặng Đảo Rùa này đi và dùng số tiền đó để mua một thửa đất rộng thênh thang đâu đó giữa New Zealand. Ở đấy, anh có thể sống yên tĩnh, hoàn toàn một mình. Eustace yêu New Zealand. Một đất nước vô cùng hùng vĩ! Không có loài sinh vật độc nào, thưa thớt dân cư với những con người chân thật và đáng tin cậy, sạch sẽ và ẩn dật. Quỷ tha ma bắt nước Mỹ đi, Eustace nghĩ. Có lẽ anh nên rút lui khỏi cuộc tranh đua của sơn nhân này và bỏ mặc những kẻ đồng hương của anh cho số phận của họ.

Đó là một câu chuyện tưởng tượng tráng lệ, nhưng Eustace tự hỏi liệu mình đã quyết tâm làm thế chưa. Có lẽ khi mới chuyển tới New Zealand, anh chẳng khác gì những nhà buôn chứng khoán ở chốn thị thành mơ bán hết lấy tiền mặt và chuyển tới Vermont để mở một cửa hàng đồ ngũ kim. Có lẽ, cũng giống như những nhà buôn chứng khoán đó, anh sẽ không bao giờ thực hiện cuộc dời chuyển ấy. Có lẽ, cũng như họ, anh đã dấn thân quá sâu vào phong cách sống của mình đến nỗi không thể một khi nào đó thay đổi được nữa.

“Có thể tôi đã đưa ra thông điệp quá muộn,” anh nói. “Cũng có thể quá sớm. Tất cả những gì tôi có thể nói là tôi nghĩ đất nước này đang trải qua một tình trạng khẩn cấp chí tử. Tôi nghĩ đây là một cơn ác mộng và chúng ta sẽ phải chịu số phận bi đát nếu không thay đổi. Và tôi thậm chí không biết phải khuyên gì thêm nữa. Tôi chán nghe bản thân mình nói lắm rồi.”

Chú thích:

[1]  Joseph Campbell (1904 -1987): nhà thần thoại học, nhà văn và học giả người Mỹ.

[2] Women's National Basketball Association: Hiệp hội Bóng rổ nữ nhà nghề Mỹ. Đoạn sau có chơi chữ; “Who needs boys, anyhow?” có nghĩa là, “Ai mà cần bọn con trai chứ?”

[3] Người cũ đầy bất mãn của Đảo Rùa.

[4] Chuỗi siêu thị nổi tiếng tại Mỹ

« Lùi
Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của elizabeth gilbert