ước Đức vào những năm đầu của thập niên 1950 là một mạng lưới khổng lồ của những mối liện hệ công khai và ngấm ngầm, những nỗi nhục thầm kín và lòng trung thành giấu kín ở cả hai phía Hữu và Tả. Không có gì là chắc chắn, không thể tin ai một cách tuyệt đối, dễ lầm khi nhìn bề ngoài. Kết quả là một xúc cảm mãnh liệt và tính đa nghi, một bầu không khí đã được Billy Wilder ghi nhận trong những bộ phim về cuộc sống trong vùng Hoa Kỳ chiếm đóng - đặc biệt trong phim Foreign Affair - và được chính em tôi quay lại trong những phim nói về những năm đầu trong vùng Nga chiếm đóng. Báo cáo chính thức do người dân tự thẩm định chỉ là vỏ bề ngoài. “Cứ hai người trong nước là có một người tham gia kháng chiến bí mật” cha tôi thường hay mỉa mai đùa cợt sau khi nghe những báo cáo vô căn cứ của người dân Berlin về cách họ chống Hitler một cách ngấm ngầm. “Nhưng rủi thay, họ chẳng bao giờ thấy người này”.
Cả hai nước Đức đều hô hào mục đích của họ là thống nhất đất nước. Chính tôi cũng không tin điều này có thể thực hiện được trong tương lai gần vì những xung đột quyền lợi của những thế lực chiến thắng đã chia cắt nước Đức thời hậu chiến. Ngay cả tại Washington và London, biến động tháng 6-1953 tại Đông Đức tạo thêm xác quyết là chiến lược đẩy lui quyền lực của Xô viết sẽ thành công. Hy vọng thống nhất sau này tiêu tan dần vì áp lực chính trị, kinh tế và, chưa hẳn là tác động cuối, quân sự - việc tái quân trang Tây Đức và việc Tây Đức gia nhập liên minh quân sự phương Tây là những ưu tiên trong lịch trình của phương Tây. Tuy nhiên cấp lãnh đạo của Cộng hoà Dân chủ Đức vẫn tiếp tục bám víu vào khẩu hiệu thống nhất nước Đức, mặc dù quá nhiều công dân của họ đã bỏ nước ra đi.
Mối ưu tư hàng đầu của giới cầm quyền là cuộc đấu tranh thiết lập một bộ mặt khác biệt của phương Đông. Tình cảnh bấp bênh nội tại của “quốc gia Đức thứ hai” luôn đeo đuổi trí não của họ. Điếu này buộc họ phải phát động việc tôn sùng lòng ái quốc đến độ vô lý. Chúng tôi mặc quân phục, tôi có ít nhất năm bộ, đây là một thành tích đáng kể cho một người không bao giờ phục vụ trong quân đội. Một trong những ý kiến kỳ quặc nhất của Ulbricht áp dụng vào thời kỳ này là việc sử dụng biểu tượng quân sự - một cuộc xoay chiều thấy rõ, vì chúng tôi chỉ trích việc dân Tây Đức vẫn tiếp tục truyền thống quốc gia quân sự của quân đội Hitler. Nhạc quân sự truyền thống cũng được phục hồi và công khai hoà tấu lần đầu tiên tại Đông Berlin tại Thế vận hội thanh niên khối Xô viết năm 1951. Như phần đông các đảng viên cộng sản đã được đào tạo để đánh giá cách pha trộn quân sự với nhạc này chuẩn bị con đường đi đến chế độ Quốc Xã, tôi cảm thấy khó chịu. Khi những bài quân nhạc trổ lên, tôi quay sang nhà văn Nga gốc Do thái Ilya Ehrenburg, đứng bên cạnh tôi trên khán đài, và hỏi ông nghĩ thế nào về quang cảnh này. Ông nhún vai theo kiểu cách nhẫn nhục của người Nga và nói: “Người Đức lúc nào cũng thích diễu hành”.
***
Trong khi đó, cơ quan non nớt của chúng tôi cố gắng học hỏi xây dựng cơ sở với phong cách ít phô trương hơn. Mặc dù vậy, không phải lúc nào cũng được êm thấm. Vào những năm đầu việc quản lý cơ quan điệp báo mới luôn có khuynh hướng ngả theo luật của Murphy (Lời dịch giả: Murphy’s Law: Điều gì mình nghĩ là hỏng nó sẽ hỏng– Người dịch) và môi trường khoa học kỹ thuật tạo vô số cơ hội để lầm lẫn và tính toán sai lầm.
Trong những thập niên 1950, hàng ngàn công dân nước Cộng hoà Dân chủ Đức tràn qua biên giới Tây Berlin và Tây Đức lúc đó hầu như mở ngỏ. Con số gia tăng nhanh chóng sau cuộc nổi dậy tháng 6-1953, và gần 500.000 người của một nước có dân số 18 triệu người bỏ trốn trong vòng ba năm kế tiếp.
Điệp viên của chúng tôi trà trộn trong làn sóng người này không khó. Họ thường là thanh niên, có lý tưởng Cộng sản cao độ và họ đặt nền tảng cho nhiều thành công của chúng tôi sau này. Mặc dù họ thường bị mời lên tra vấn tại các trại tị nạn một khi họ sang phía Tây, họ vẫn có cơ hội tốt để hoà nhập với đám đông mới đến nếu họ được trang bị một lý lịch khả tín, chẳng hạn như ước muốn đoàn tụ với thân nhân bên Tây Đức. Chúng tôi dùng nhiều lý cớ khác nhau: Một điệp viên có thể trình bày là y bị bắt tại trận man khai quá khứ đảng viên Đảng Quốc Xã hoặc tố chức Waffen SS, hoặc y tỏ ý phê bình nét xấu của những chính sách của chính phủ. Chúng tôi đi xa hơn nữa cài đặt “những vết nhơ” trong lý lịch cá nhân của các điệp viên trong hồ sơ các bộ để tăng cường độ khả tín nếu phản gián Tây Đức bằng phương cách nào đó lấy được hồ sơ của họ.
Chúng tôi tránh kết nạp vào cơ sở chúng tôi những người có thân nhân bên Tây Đức, vì tôi nghĩ rằng những cơ quan tình báo phương Tây có thể dễ dàng xâm nhập cơ quan chúng tôi - như chúng tôi đã xâm nhập họ - qua liên hệ và áp lực gia đình.
Mỗi một người chúng tôi gửi đi đều có một công tác nhất định và mỗi một điệp viên được huấn luyện bởi một đội trách nhiệm về công tác này. Chúng tôi giới hạn việc huấn luyện trong những nguyên tắc sơ đẳng về tình báo và phương cách thu thập những tin tức mà chúng tôi muốn. Việc huấn luyện những điệp viên về những vấn đề và phương thức không liên quan đến công tác của họ xét ra không cần thiết; trên một phương diện nào đó, điều này có thể khiến cho công tác của họ nguy hiểm hơn vì công tác của họ sẽ trở nên phức tạp hơn một cách không cần thiết. Trong một vài trường hợp chúng tôi triệu hồi điệp viên từ Tây Đức và đưa họ trở về Đông Đức để huấn luyện bổ túc khi có thời cơ thuận tiện.
Sự kiện chúng tôi gửi điệp viên sang Tây Đức, một nước có cùng ngôn ngữ và văn hoá, rõ ràng là một điểm lợi. Quả nhiên, việc đưa người của Liên Xô xâm nhập Hoa Kỳ và ngược lại là một việc khó khăn hơn nhiều. Khi cả hai nước Đức trưởng thành theo hai chiều chương khác nhau, công tác xâm nhập trở nên khó khăn hơn, và việc xây cất Bức tường Berlin hạn chế hẳn làn sóng di dân trong đó chúng tôi cài điệp viên. Điều này có nghĩa là lý lịch nguỵ tạo phải tinh vi hơn. Nhưng vào thời điểm này Tây Đức vẫn lép vế hơn, vì việc di dân từ Tây sang Đông rất hiếm và bị quan sát kỹ lưỡng. Mặt khác, Tây Đức không có nhu cầu gửi người đi: Họ có thể mua chuộc người trong đám đông công dân bất mãn tại Đông Đức chúng tôi.
Để khắc phục những khó khăn hành chính trong việc định cư tại Tây Đức, phần đông điệp viên của chúng tôi thường bắt đầu công tác bằng cách trải qua một thời gian lao động chân tay đơn sơ. Vì lý do này, chúng tôi thường chọn các thí sinh có tay nghề khéo léo và có kính nghiệm thực tiễn trong một ngành nghề. Tuy nhiên, không phải ai cũng đi qua nẻo đường này. Như đã đề cập trước đây, hầu hết các khoa học gia và sinh viên ngành khoa học di cư vào thời đó đều kiếm được việc tại các hãng hoặc cơ sở nghiên cứu mà chúng tôi chú ý. Chúng tôi cũng thâu thập tin tức qua các mối liên lạc không chính thức với các khoa học gia Tây Đức. Nhiều người cảm thấy bồn chồn về hiểm hoạ hạt nhân, vũ khi sinh trùng và hoá học. Họ bị chấn động mạnh vì hai quả bom nguyên tử thả xuống Hiroshima và Nagasaki, họ cung cấp cho các điệp viên chúng tôi rất nhiều cơ hội và đề tài để bàn thảo.
Có một vài người của chúng tôi xâm nhập vào các khu vực có những nguyên tắc bảo mật khắt khe. Những người khác vào được những vị trí lãnh đạo, lương bổng cao trong các tổ chức xí nghiệp. Nhưng việc xâm nhập vào thâm cung của các trung tâm quân sự và chính trị tại Bonn, nơi những quyết định lớn được thực hiện, khó hơn nhiều.
***
Sau những cuộc nổi dậy năm 1953, cuộc họp thượng đỉnh của các Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của phía Đồng minh năm sau đó là một mối quan tâm bức xúc nhất của chúng tôi. Đây là lần đầu tiên một biến cố như vậy diễn ra trước ngưỡng cửa chúng tôi và tôi không rõ tôi phải có những hoạt động tình báo nào. Như thường lệ, ông bạn Xô viết yêu cầu chúng tôi có một kế hoạch hành động chính xác. Trong tinh thần ước vọng hơn là trông chờ, tôi cố gắng chuẩn bị một kế hoạch nhằm tạo nên nhu câu bức thiết để có được tin tức phẩm chất cao từ các nhân viên của tôi.
Moscow phái một cố vấn đặc biệt đến để xem xét bản sơ đồ lớn nằm trên bàn của tôi và, giống như một anh thợ phát giác một lỗ hở trong máy, y nói: “Lẽ cố nhiên, quý vị cần có một “malina” trong thời gian công tác này”. Tôi đâm ra bối rối. Malina theo tiếng Nga có nghĩa là “quả mâm xôi”, nhưng chắc chắn ông bạn KGB không nói về trái cây ăn tráng miệng. Hoá ra đương sự dùng tiếng lóng để chỉ động chị em ta, nơi đây các nhân viên của chúng tôi quyến rũ các viên chức lạc lối từ hội nghị ra trút bớt gánh nặng vào nơi có chút xa hoa.
Việc này diễn ra hàng mấy năm trước khi tôi khai triển chiến lược sử dụng tình dục trong nghề điệp báo, nhưng tôi không muốn để lộ cho ông bạn đồng nghiệp Nga biết là tôi quá ngây ngô. Chúng tôi cấp tốc biến một căn nhà nhỏ mà chúng tôi đôi khi dùng ở phía nam ngoại ô Đông Berlin thành vừa là nhà chứa và là trung tâm gài bẫy với đầy dụng cụ nghe lén và máy quay phim có đèn hồng ngoại tuyến, giấu trong phòng ngủ có ánh sáng thích hợp. Ngày nay những dụng cụ này tỏ vẻ rất thô sơ, chính vì vậy các nhiếp ảnh viên phải luồn lách trong tủ quần áo nhỏ và đứng chờ cho đến khi đối tượng họ quan sát ra đi.
Vấn đề kế tiếp là kiếm các giai nhân. Chúng tôi tiếp xúc một ông cảnh sát cao niên đã từng chỉ huy đội tuần tra thuần phong mỹ tục tại Berlin. (Điều ngộ nghĩnh, việc kiểm soát mãi dâm và hình ảnh khiêu dâm được cả hai bên Đông và Tây cùng thực hiện giữa những năm 1945 và 1949). Ông đi mòn giầy cao su biết hết những nơi hành nghề của chị em ta và những nơi họ trú ngụ vì nay cái nghề xưa nhất trái đất đã đi vào bóng tối trong một xã hội mới trong sạch của chúng tôi. Nhưng không may, ông dẫn chúng tôi đến khu Mulackstrasse, một khu từ xưa đến nay luôn biểu tượng cho thị trường buôn bán da thịt hạ cấp nhất Berlin. Cấp trên của tôi lúc đó, đã từng trải cuộc đời trong nghề điệp báo mặc dù điềm nhiên trước những sự kiện này, điện thoại cho tôi với giọng nhăn nhó: “Anh không thể nào đặt chân đến những nơi như vậy cho dù chỉ tốn một DM”.
Đi ngược lại với chủ thuyết, chúng tôi hành động theo bản năng của một xí nghiệp tự do. Tại một quán bán sữa trên đại lộ Karl Marx chúng tôi kiếm ra được nhiều cô gái hấp dẫn, mặc dù sống cuộc đời đáng kính ban ngày, chấp nhận sống một cuộc đời kém trang trọng hơn về đêm nhân danh Tổ quốc xã hội chủ nghĩa. Kế hoạch dự tính gửi một đám điệp viên của chúng tôi đến trung tâm báo chí tại Tây Berlin và các quán ăn, quán rượu nằm xung quanh những nơi hội họp của các Bộ trưởng ngoại giao. Họ có công tác mời mọc các viên chức và cố vấn đến giải khát và, nếu tình hình có vẻ khả quan, đưa họ đến tham gia một “nhóm nhỏ” tại căn “malina”, nơi đây bảo đảm có sự hiện diện của phái nữ.
Sự việc diễn tiến êm xuôi. Nhưng vào giữa đêm, điện thoại của tôi reo vì xảy ra một “biến chuyển bất ngờ”. Bà Tám yêu cầu kiểm soát vệ sinh kỹ lưỡng và khám phá một trong những cô nàng không lấy gì làm cảnh vẻ cho lắm. Cô ta có rận. Tôi ra lệnh rút cô ta ra khỏi nhóm công tác.
Cuộc họp bắt đầu, đội công tác chúng tôi trông chờ hành động, nhưng không thấy xuất hiện một anh bạn nào cả. Nhân viên tháp tùng năm nay hình như đạo đức một cách bất thường, vì người duy nhất lọt bẫy, lại vào đêm cuối, là một ký giả Tây Đức. Nước và thức ăn khai vị được trưng bày thịnh soạn, các giai nhân đứng vào vị trí của mình. Nhưng trong lúc cao hứng, nhân viên trách nhiệm của chúng tôi đêm đó uống nhầm ly rượu chứa thuốc cường dương dành cho khách. Để kết thúc đẹp, có chiếu phim khiêu dâm. Lẽ cố nhiên những loại phim này bị cấm tại Đông Đức, nhưng cũng được ông cựu cấp chỉ huy đội tuần tra thuần phong trình chiếu mỗi khi có dịp cần đến. Trong khi người của chúng tôi không phút nào rời đoạn phim, con mồi chúng tôi không hề chú ý một chút nào đến màn ảnh hoặc các cô gái và rút lui vào trong bếp để nói chuyện gẫu với cô gia nhân.
Ngày hôm sau, anh ký giả là người duy nhất có đầu óc tỉnh táo. Anh ta hiểu chò trơi và nói sẵn sàng làm việc cho chúng tôi. Đây cũng là một loại chiến thắng, nhưng quá bất xứng với công lao bỏ ra. Chúng tôi trả lương các cô chiêu đãi thất vọng và mời họ về với chỉ thị họ triệt để không được bàn tán về vở kịch hỏng này.
Sau đó sự vụ này tiếp diễn một cách kỳ lạ. Khi chúng tôi gửi điệp viên đến gặp anh ký giả, một người bạn đồng nghiệp đến thay anh ta, tên là Heinz Losecaat van Nouhuys, tự nhân làm việc tờ tuần bán danh tiếng Tây Đức Der Spiegel. Hoặc giả họ tự dàn xếp cuộc trao đổi hoặc việc này do phản gián Tây Đức tổ chức, tôi chẳng bao giờ đoán ra sự thật. Nhưng ông van Nouhuys tỏ ra là một điệp có tinh thần cộng tác cao độ. Mặc dù tôi nghi ngờ lời nói của ông cho rằng những tin tức của ông lấy từ các Bộ ra, tin tức ông cung cấp cho chúng tôi năm này qua tháng nọ ăn khớp với những báo cáo khác. Sau đó ông vào ban biên tập của tờ Quick. Tờ tuần báo cánh hữu rất phổ biến này chống Đông Đức mãnh liệt, nhưng nơi đây ông vẫn tiếp tục làm việc cho chúng tôi.
Chúng tôi bắt đầu sử dụng hội chợ thương mại Leipzig để bắt liên lạc với giới thương gia và qua họ bắt mối liên hệ với các chính trị gia bảo thủ và các khuôn mặt nổi bật có lòng tin trong việc công tác với Đông Đức, họ bằng cách này hay cách nọ muốn duy trì không cắt đứt hoàn toàn mối liên hệ giữa hai mảnh nước Đức. Các giao ước thương mại Đông Tây tại đây phải tuân thủ lệnh cấm vận của phương Tây trên những mặt hàng có tính chiến lược, ví dụ như những vật liệu căn bản như ống thép. Những hạn chế này khiến các thương gia phải lập nên những mối liên lạc đáng tin cậy và gian xếp các giao dịch kinh doanh bất hợp pháp, và một bộ phận của Uỷ ban Trung ương Đảng phụ trách về thượng lượng đút lót, cho dù sau này chúng tôi đảm nhiệm công việc này. Tôi thường hay đi Leipzig đóng vai trò nghiêm trang của một viên chức cao cấp thương mại hoặc một đại diện của Hội đồng Bộ trưởng.
Nhờ vậy tôi gặp Christian Steinrücke, người liên quan đến việc buôn bán thép tại Tây Đức. Steinrücke giao hảo với các kỹ nghệ gia lớn như Otto Wolff von Amerongen, gia đình ông quản trị một công ty thép tiên phong giao thương với Liên Xô vào đầu những thập niên 1920 và giúp xây dựng đường xe hoả Mãn Châu. Một hôm ngồi ăn tối với Steinrücke, tôi nói với ông tôi là một vị tướng trong Bộ Nội vụ Đông Đức, và từ đó chúng tôi tâm đầu ý hợp. Sáng hôm sau, tại một buổi họp kín của Liên đoàn Sắt và Thép Tây Đức, ông giới thiệu tôi là đồng nghiệp của ông ta cho vị giám đốc, ông Ernst Wolf Mommsen. Nhờ sự bảo trợ của Steinrücke, không một ai trong nhóm tinh anh kín đáo này để ý đến sự hiện diện của tôi, nói gì đến chú ý đến tôi. Steinrücke có vợ thuộc gia đình Wehrhahn, một trong những gia đình thế lực nhất của tư bản Đức. Anh của cô vợ là rể của Adenauer - tai tôi rung động vui mừng khi tôi nghe điều này - và hơn thế nữa, chị dâu của cô vợ là cháu của Hồng Y Frings, gương mặt kỳ cựu của giáo hội Công giáo Tây Đức.
Mối liên lạc của chúng tôi kéo dài nhiều năm. Để duy trì mối hữu nghị này, đôi khi tôi mời Steinrücke đến dùng cơm tối với tôi và nguỵ tạo một gia đình thứ hai. Tôi chọn một biệt thự tại Rauchfangwerder và một cô xướng ngôn viên xinh xắn tại đài truyền hình Đông Đức để làm vợ. Hình con cái của cô ta được treo trên tường mỗi khi Steinrücke ghé thăm tôi. Khi vấn đề buôn bán vũ khí trở nên phức tạp hơn, những cuộc đối thoại với đương sự càng lúc trở nên hữu ích, và đến khoảng giữa thập niên 1970 ông là cố vấn của Lockheed Corporation với nhiều mối liên hệ với cấp lãnh đạo của Không quân Tây Đức và quan hệ với những sinh hoạt của Franz-Josef Strauss, lãnh tụ chính trị vùng Bavaria đồng thời là Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Tây Đức. Tôi chưa hề đề nghị hoặc mời ông làm việc cho chúng tôi, mặc dù ông cũng đoán được vai trò nếu không muốn nói đến tên tuổi đích thực của tôi. Mối liên lạc giữa chúng tôi bất đắc dĩ chấm dứt vì tôi cắt đứt do sự hiện diện của người bạn Steinrücke, bác sĩ Walter Bauer.
Bauer tỏ ra vẻ là một thương gia khiêm tốn buôn bán mỡ của Tây Đức để đổi lấy nỉ của Đông Đức trong vùng Lausitz của Đông Đức. Điều này không phù hợp với tài sản Bauer đương có. Mối nghi ngờ của chúng tôi không sai. Vào khoảng trước năm 1945, ông giữ một chức vụ cao trong tổ hợp kỹ nghệ Flick, sở hữu tiền chiến của mỏ than phát đạt của vùng Lausitz. Hình ảnh của một thương gia tầm thường và tồi tàn của ông phản nghịch với bức hình chụp chúng tôi tìm thấy ông ta đứng cạnh Konrad Adenauer trong một hội nghị Công giáo. Chúng tôi tình nghi nhiệm vụ chính của ông là giúp chủ nhân của ông có chân đứng tại Đông Đức nhân danh các kỹ nghệ gia lớn trông chờ ngày thống nhất đất nước Đức. Theo đạo luật hình sự của chúng tôi, công tác của ông bị kết tội gián điệp lẫn hoạt động phản động. Điều này cho tôi lý cớ để đưa Bauer vào tròng, tôi nghĩ như vậy.
Tôi biết ông cũng là cộng sự viên thân cận với một người tên Hans Bern Gisevius, người đã từng trong Chiến tranh thế giới II là giao liên giữa kháng chiến trung lưu Đức và OSS (Office of Strategic Services), tiền thân của CIA. Trang bị với dữ liệu này, tôi quyết định tấn công trực diện với Bauer. Chúng tôi gặp nhau tại Johannishof, khách sạn dành cho khách của chính phủ tại Đông Berlin. Trái với hình ảnh của một công tác viên nhã nhạn và phóng khoáng, Bauer là một người tròn trịa khoác một bộ quần áo cũ kỹ.
Steinrücke, có vẻ thích thú với vai trò trung gian mới này, cho y biết tôi là một viên chức cao cấp trong Bộ Nội vụ đặc trách về những vấn đề kinh tế. Chúng tôi nói chuyện hàng tiếng đồng hồ và tôi dùng hết lá bài này sang lá bài khác nhưng không có kết quả. Bauer luôn có câu giải đáp hoặc lời giải thích cho những gì y làm và y không tỏ vẻ lo sợ hoặc do dự khi bị áp lực, kể cả lúc tôi báo cho y tôi biết những đường giây liên lạc của y với Hoa Kỳ. Đây là lá bài tẩy của tôi nhưng tôi đã thất bại một cách thảm não.
Một thương gia chính tông hoá ra là một tay hoạt động điêu luyện, quá cứng rắn để một sĩ quan trẻ háo thắng có thể áp đảo được. Ông cũng quen biết quá nhiều để chúng tôi hăm doạ. Điều này dạy cho tôi một bài học quý giá, cho những nhân viên điệp vụ quá cường điệu.
Ước đoán của tôi về Bauer được xác nhận ngay sau đó khi Steinrücke không xuất hiện trong lần hẹn sau với tôi. Ông bị cơ quan tình báo Hoa Kỳ gắt gao thẩm vấn. Họ cho ông biết tôi thực sự là ai và cảnh báo ông nên tránh tiếp tục liên lạc với tôi và Steinrücke đã siêu lòng. Ông tiếp tục củng cố mối liên hệ với những khối áp lực sản xuất vũ khí của Đức và Hoa Kỳ, điều khiến tôi trước đây thắc mắc về ông.
Vì cách hành xử hống hách của tôi đối với Bauer, tôi đã đánh mất đi một đường giây liên lạc quý báu, lý ra vẫn còn có thể tiếp tục trên căn bản hiểu biết đắn đo. Với thời gian chúng tôi hoàn chỉnh kỹ thuật nhằm thuyết phục thiên hạ làm việc cho chúng tôi và ghi nhận việc ép các đối tượng có khả năng trở thành điệp viên ký khế ước trên giấy tờ là một điều dại dột, thiếu khôn ngoan. Phần đông những kẻ vì một lý do nào đó muốn thương lượng với cơ quan tình báo đối nghịch sẽ lẩn tránh vì không muốn cam kết một cách chính thức, họ muốn ở một vị thế trung hoà. Tôi khuyên các sĩ quan của tôi: nếu các anh nghĩ câu trả lời là không, các anh đừng đặt câu hỏi. Đừng ép uổng con người vào một khuôn mẫu đã được các cơ chế hành chính định trước. Hàng mấy năm nay chúng tôi cố gắng rũ bỏ những ám ảnh hành chính của các quan thầy Xô viết. Điều này thích hợp với chúng tôi.
Chúng tôi rất ham muốn xâm nhập đế chế kỹ nghệ Krupp và cố thu nạp Carl Hundhausen, một thành viên của ban quản trị vừa có năng khiếu nghệ sĩ vừa hiểu biết Đông Đức nhiều hơn các đồng nghiệp. Ông chỉ trích thái độ của chính quyền Bonn đối với việc giao thương liên quốc Đức, nhưng sau đó ông nhận ra mối liên lạc với tôi vượt quá mục tiêu tạo lợi nhuận cho nhóm Krupp.
Tại một hội nghị bàn về tính đồng nhất của nước Đức, chúng tôi gặp ông Heinrich Wiedemann, một nhà hoạt động cho việc thống nhất của nước Đức và cũng là một người bạn của Joseph Wirth, cựu thủ tướng của Cộng hoà Weimar. Tôi rất thích thu khi nghe Wiedemann nói rằng những diễn văn chống lại việc củng cố liên minh Washington - Bonn vẫn chưa đủ và đương sự ngầm báo muốn chúng tôi đóng góp vốn liếng để thành lập một cơ sở kinh doanh tại Bonn. Một bản giao kèo được soạn thảo bảo đảm cho chúng tôi được tham dự vào phần lợi nhuận của cơ sở. Đây là một phiêu lưu hiếm hoi của cơ quan tình báo chúng tôi vào lãnh vực tư bản rủi ro; đồng thời với sự trợ giúp của chúng tôi, Wiedemann mở Văn phòng Hỗ trợ Kinh tế cho những người có lương bổng cố định, một nhóm áp lực có liên lạc với các bộ và nhân viên của họ. Qua ngã này, chúng tôi tạo được liên lạc với Rudolf Kriele, một cơ quan tham mưu trong Phủ Thủ tướng Tây Đức đặc trách về chính sách quốc phòng và liên minh quân sự. Là một quan chức có thế lực thường lui tới văn phòng lobby của chúng tôi, Kriele chuốc rượu Rhine và nói chuyện tầm phào về những công việc nội bộ của các chính trị gia Đức.
Điều này kích thích tham vọng của chúng tôi. Chúng tôi dự tính khuếch trương văn phòng để trở thành một nơi trú ngụ bất hợp pháp (một danh từ trong trao đổi tình báo để chỉ định một công tác nguỵ trang lâu dài), và sau này biến thành một điểm liên lạc vào những thời điểm căng thẳng giữa Đông và Tây. Chúng tôi cung cấp cho điệp viên những dụng cụ để thu thanh những cuộc đối thoại của những viên chức ghé thăm và nhận, chọn lọc và chuyển thông tin về cho chúng tôi. Chúng tôi cũng tuyển dụng cô bạn gái của Wiedemann, cấp trên của cô này làm việc tại Phủ Thủ tướng, và chúng tôi đặt cho cô mã danh là Iris. Nhưng có một vấn đề khó xử. Wiedemann, mặc dù có năng khiếu thuyết phục, không phải là một thương gia đặc biệt giỏi, và chi phí điều hành văn phòng vượt quá xa lợi tức thu vào, một sự kiện khó có thể che giấu thiên hạ lâu được. Chúng tôi làm việc với tâm niệm là phản gián Tây Đức có khả năng tìm được hồ sơ thuế vụ và sẽ sớm tự hỏi tiền từ đâu ra. Công tác kết thúc nhanh chóng hơn dự định của tôi khi một kẻ đào thoát trốn bộ Tổng tham mưu của chúng tôi sang Tây Đức, và chúng tôi buộc phải triệu hồi điệp viên của chúng tôi vì mối nguy kẻ đào tẩu sẽ tiết lộ hành tung cho chính phủ Bonn.
Giải an uỷ là Iris, dù là niềm vui của chúng tôi bị suy giảm vì thượng cấp của cô được chuyển từ Phủ Thủ tướng sang Bộ Khoa học và Giáo dục. Tại đây trong vòng 10 năm, cô ta chuyển cho chúng tôi những chi tiết về những dự án nghiên cứu bén nhạy của chính quyền và giúp chúng tôi lập kế hoạch do thám khoa học và kỹ thuật.
Trong thời gian văn phòng Wiedemann làm việc, một nữ khách đầy quyến rũ tại Bonn cũng tỏ ra đầy hưa hẹn vào thập niên đầu 1950. Chúng tôi đã ước đoán tiềm năng của cô ta khi chúng tôi biết đến tên Susanne Sievers trong khi duyệt xét danh sách các tù bình Tây Đức bị giam giữ tại Đông Đức chờ ngày phóng thích do ân xá. Cô ấy bị cơ quan phản gián của chúng tôi bắt trong một chuyến tham dự hội chợ Leipzig năm 1951 và bị kết án tám năm tù giam vì tội làm gián điệp. Hồ sơ ghi nghề nghiệp của cô là ký giả tự do, điều này làm cho chúng tôi chú ý. Một Đại tá dàn xếp một cuộc gặp gỡ trước khi cô ấy biết sẽ được thả. Trong căn phòng thăm viếng, nhân viên của chúng tôi đứng trước một người đàn bà cao, mảnh khảnh vào khoảng trung tuần ba mươi. Phong cách nghiêm trang và tự tin toát ra từ bộ áo tù và cô vẫn tiếp tục bàn cãi việc giam giữ cô là một bất công, cô không hề tìm ân huệ của những người bắt giam cô. Nhưng cô cũng nói đến những vấn đề của nước Đức và chính sách thân Mỹ của Adenauer. Nhân viên chúng tôi dò hỏi cô ấy có muốn tiếp tục cuộc đối thoại trong một tình cảnh khác không. Sau đó cô được thả và họ gặp nhau trên cầu Warsaw tại Đông Berlin, tại đây hai bên thoả thuận khi cô ấy về Tây Đức, cô sẽ cung cấp tin tức cho chúng tôi. Chúng tôi đặt cho cô ấy bí danh là Lydia.
Chúng tôi vui sướng khi Susanne chọn nơi cư ngụ tại một căn phòng ấm cúng tại Bonn, tại đây cô mở văn phòng tiếp khách có sự gặp gỡ của những khuôn mặt thế gia bàn về chính trị và văn hoá. Chúng tôi nhận được những thông tin quý giá về các tổ chức cực hữu của Tây Đức gọi là Cứu nguy Tự do (Rettet die Freiheit), dưới sự lãnh đạo của chính trị gia Dân chủ Thiên Chúa giáo Rainer Barzel. Tổ chức này có mối liên hệ với các nước Đông Âu qua ngã người di dân và có liên minh với Otto van Hapsburg, một hậu duệ của gia đình hoàng gia Áo-Hung rất năng động trong lãnh vực chính trị. Sau này Barzel luôn ám ảnh chúng tôi khi ông đạt đến chức vụ chủ tịch của CDU (Đoàn kết Dân chủ Thiên Chúa giáo) và ứng cử chống lại Willy Brandt, cương quyết chống lại nỗ lực của Brandt muốn Tây Âu chấp nhận liên hệ ngoại giao với Đông Đức.
Trước khi cô bị Đông Đức bắt, Susanne đã có một mối tình say đắm với Willy Brandt khi ông là thị trưởng của Berlin. Ông đã viết một loạt thơ tình gửi cho cô, sau này được các đối thủ của Brandt tiết lộ công khai trong một mùa bầu cử quốc hội năm 1961, trong đó có cả Franz-Josef Strauss. Chính nhờ những báo cáo của cô đã ép chúng tôi phải suy nghĩ lại về hình ảnh rập khuôn mẫu về Strauss, mô tả đương sự như một kẻ thù bất cộng đái thiên của chủ nghĩa xã hội, hình ảnh mà đương sự muốn trình cho quần chúng. Cô nhận định Strauss là một người thực tiễn không đam mê. Khi cô tiết lộ Strauss và Brandt có hẹn nhau để gặp gỡ tại căn phòng của cô, có tin đồn một liên minh lớn sẽ đưa nhóm Dân chủ Xã hội vào chính quyền lần đầu tiên kể từ khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ. Brandt xác nhận những cuộc đàm đạo này trong hồi ký của ông nhưng không đề cập đến khung cảnh và mối liên hệ của ông với Susanne.
Tôi thường hay tự hỏi điều gì đã khiến người đàn bà này quay ra thích thú với những cuộc gặp gỡ mưu đồ tại Berlin và báo cáo về những tổ chức và cá nhân có quan điểm chính trị gần gũi với cô hơn là chúng tôi, đặc biệt sau khi cô chịu cảnh tù đày vì những tội mà tôi cho là nguỵ tạo. Cô chắc chắn biết rõ cô đang tiếp xúc với ai. Nếu cô là một gián điệp nhị trùng, chắc chắn cô sẽ hỏi một số chuyện về công tác của chúng tôi, nhưng cô không bao giờ đặt vấn đề. Cô chỉ nhận những bù trừ cho những chi phí của cô, ngoài ra không có gì khác. Để có cớ sang Berlin, cô tạo dựng ra một người bạn gái sinh sống tại phía Tây thành phố.
Mối giây liên lạc với nguồn cung cấp cực kỳ quý giá này thình lình bị cắt đứt vì Bức tường Berlin được xây năm 1961. Cô là một trong nhiều nguồn cung cấp bên Tây Đức ngưng làm việc với chúng tôi kể từ đó. Nhưng tôi tin rằng Susanne đóng góp hơn thế nữa; có những chỉ dấu cho thấy cô bắt đầu làm việc với tình báo Tây Đức. Cô biệt tích với Fred Sagner, một Đại tá của quân đội Tây Đức người đầu tiên thông báo cho cô về tổ chức Cứu nguy Tự do, để đi Viễn Đông, tại đây y được bổ nhiệm vào các Toà đại sứ của Cộng hoà Liên bang Đức với chức vụ tham tán quân sự. Đến năm 1968, cô làm việc cho hệ thống tình báo dưới sự kiểm soát của một viên chức Tây Đức tên Hans Langemann, một đường giây của CIA để kiểm soát nhân viên tại châu Âu và Viễn Đông.
Sau này Susanne Sievers - đã có lần là một Lydia trợ giúp chúng tôi - trở thành trưởng khối Tình báo Tây Đức (Bundesnach-richtendienst- BND) tại Hồng Kông với bí số 150, điều khiển các phó trạm tại Tokyo, Manila, Jakarta và Singapore. Hồ sơ của tình báo Tây Đức mà chúng tôi xem được vào những thập niên 1970 ghi cô đã nhận một tài khoản 96.000 DM, như vậy vai trò của cô chắc chắn phải quan trong. Khi Klaus Kinkel trở thành trùm điệp báo Tây Đức năm 1968, công việc đầu tiên của ông là quét sạch những điệp viên giả hiệu và chấm dứt những cơ cấu tổ chức vô lối do Gehlen để lại, lúc bây giờ vẫn là tiêu chuẩn, mặc dù đã có hai người khác lãnh đạo BND sau Gehlen. Susanne Sievers rời cơ quan và nghe nói đã nhận 300.000 DM để không tiết lộ việc BND nhúng tay vào chính trị nội bộ. Tôi không còn tin gì về cô, và cho đến nay cô là một khuôn mặt mà lòng trung thành và ý nghĩa hành động vẫn còn là một bí ẩn đối với tôi.
***
Bị tổn thương vì lỗi lầm của tôi trong vụ Steinrücke, tôi nhận thức bí quyết để xâm nhập chính trị Cộng hoà Liên bang nằm trong tính đa dạng của các nguồn tin và cách vận dụng chúng một cách liên lỉ một khi đường dây đã được móc nối. Về phía cánh hữu, chúng tôi đã xây dựng đường giây liên lạc với Günter Gereke, một người Đức ái quốc, một dân biểu tiền chiến đã bị bỏ tù vì chống đối Hitler và sau này gia nhập nhóm âm mưu ám sát Hitler năm 1944. Về mọi mặt Gereke là một mẫu mực của nhóm bảo thủ kiên quyết những rồi cuối cùng hợp tác với chúng tôi. Nhiều người không chịu đựng được Adenauer, phản bác ý niệm của ông nhằm bảo toàn sự tái sinh của nước Đức phải trông cậy vào bà đỡ người Mỹ. Gereke phản đối bằng cách gặp gỡ Ulbricht công khai và bị trục xuất khỏi đảng của Adenauer. Chúng tôi bám vào ông vì ông là một nguồn tin quý giá trong giới Dân chủ Thiên Chúa giáo, mà ông báo cáo một cách tường tận.
Khi có tin tiết lộ phụ tá của Gereke là một điệp viên của tình báo Anh, đối với Gereke rõ ràng là chính phủ Bonn hầu như chắc chắn đang lập hồ sơ để đánh phá ông, đồng thời cũng hy vọng hạ uy tín tất cả các đối thủ của chính sách phò Mỹ cho họ là những điệp viên cộng sản. Chúng tôi quyết định hành động nhanh và báo cho Gereke di chuyển sang Berlin. Đây là điều ông không hề nghĩ đến trong vị thế xã hội của ông, nhưng vào thời buổi này chúng tôi có phần bốp chát và ông không còn lựa chọn nào khác. Dù sao danh tiếng của ông đã chấm dứt tại Tây Đức khi Adenauer quyết định biến ông thành một thí dụ điển hình.
Chúng tôi đưa ông ra trước cuộc họp báo tại Đông Berlin và ông giải thích lý do muốn giữ liên lạc như một người Đức yêu nước. Đây là một thắng lợi tuyên truyền đối với chúng tôi, khiến cho cấp lãnh đạo của chúng tôi phải thích thú. Quá thích thú đến độ khiến cho họ có một mối thèm khát bệnh hoạn xui khiến kẻ khác đào thoát ngoạn mục, không thèm để ý đến sự kiện một điệp viên tốt tại chỗ thường đáng giá hơn một chục người đào thoát. Tôi từng có một nguồn tin, bí danh là Timm, một dân biểu CDU, tên thật là Karlfranz Schmidt-Wittmack. Là một thành viên của Uỷ ban về Vấn đề An ninh châu Âu và đứng đầu uỷ ban bảo vệ của ngành thanh niên CDU, đương sự được các thế lực kỹ nghệ đỡ đầu và trên đường công danh đi đến đỉnh cao của đảng. Tôi trở về sau lần nghỉ hè năm 1954 và thấy giấy báo của Wollweber nói rằng Schmidt-Wittmack phải được rút về Đông Đức. Tôi phát cáu khi nghĩ một người cung cấp tài liệu cho chúng tôi ghi rõ những chi tiết để Bonn gia nhập NATO (Liên minh Bắc Đại Tây Dương) lại có thể bị hy sinh cho một cuộc họp báo, và tôi biết đương sự sẽ miễn cường từ bỏ sự nghiệp thăng tiến để trốn chạy sang Đông Đức. Nhưng thẩm quyền không thuộc về tôi. Mặc dù cơ quan tình báo có bản năng bén nhạy đến đâu đi nữa, họ luôn luôn là con cờ của chính quyền mà nó phục vụ.
Tôi nghĩ tôi phải đích thân báo cho Schmidt-Wittmack. Những biện luận chính trị tôi cố bày vẽ không thuyết phục được đương sự tí nào: đương sự không muốn trở thành một con tốt trong cỗ xe quay không ngừng của bộ máy tuyên truyền. Tôi không còn lựa chọn nào khác là nói dối và báo rằng phản gián Tây Đức đang theo dõi y và cơ may duy nhất để tránh tù tội là trốn sang Đông Đức. Đương sự quyết định cùng lúc với sự thoả thuận của vợ y. Chúng tôi ước định, mặc dù cô vợ quen thuộc với công tác của y cho Đông Đức, cô ấy chẳng vui sướng gì khi nghĩ đến việc phải rời về đó. Chúng tôi thuyết phục đương sự viết cho cô vợ trước khi đương sự trở về Hamburg để thu xếp đồ đạc, và thư tín đi trước, cho cô vợ có thời gian tiêu thụ tin chấn động này. Buộc phải lựa chọn giữa một ông chồng bị thất sủng ở tù hoặc khởi đầu một cuộc sống mới nơi một căn nhà sinh sắn gần bờ hồ ở Đông Đức, cô vợ chọn giải pháp thứ hai.
Ngày 26-8-1954, Schmidt-Wittmack xuất hiện trong một cuộc họp báo tại Đông Berlin. Đương sự tiết lộ Adenauer đã giấu những thông tin quan trọng về ý định của ông trong chính sách đối ngoại và an ninh. Như mọi trường hợp tương tự, chúng tôi bồi thêm cho tấn tuồng này bằng cách tiết lộ thông tin ngoại lệ từ những nguồn khác - trong trường hợp này là tình báo quân sự Liên Xô - để tố cáo rằng chính quyền Bonn, trái với những tuyên bố công khai, đã hoạch định thiết lập một đội quân với hai mươi bốn sư đoàn.
Schmidt-Wittmack được giao phó nhiệm vụ chủ tịch thương mại ngoại vụ, nhưng tôi luôn tiếc quyết định triệu hồi ông về và đôi khi tự hỏi chúng tôi đã hy sinh một ông bộ trưởng tương lai chỉ vì muốn nằm trên trang nhất của báo chí. Gereke trở thành một công chức trong đảng Dân chủ Quốc gia, một đảng tại Đông Đức đại diện cho cựu chiến binh, nghệ nhân và tiểu thương. Đây không phải là một phương cách đặc biệt hữu ích cho thân già của Gereke sống qua những ngày tháng còn lại.
Người đào thoát ngoạn mục nhất của những năm đó đến với chúng tôi lại không do chúng tôi chủ sự và đương sự cũng chẳng phải là một trong những nguồn cung cấp tin của chúng tôi. Trái lại nghề nghiệp của đương sự là phát hiện và phơi bày các điệp viên của chúng tôi, người đó tên là Otto John, trưởng khối phản gián Tây Đức (Văn phòng Bảo vệ Hiến pháp). Thời buổi bây giờ khó mà hình dung được cảm giác việc này gây nên lúc các câu chuyện cá nhân và lòng trung thành buổi ấy của tất cả người Đức vẫn bị kẻ thù trước đó nghi ngờ và phe tả vẫn còn uy tín.
Là một người chống đối Quốc Xã, John biệt tăm khỏi Tây Berlin sau một buổi lễ kỷ niệm năm thứ mười ngày lật đổ thất bại chống lại Hitler hôm 20-7-1944. Người ta thấy ông lần cuối tại Tây Đức đi cùng với một người quen thuộc, bác sĩ Wolfgang Wohlgemuth, một chuyên gia về sản phụ và cuối cùng xuất hiện ngày 21 tháng 7 năm 1954 tại căn cứ quân sự Xô viết tại Karlshorst ở ngoại ô Berlin. Hiển nhiên cả hai người đã di chuyển vào Đông Berlin trên xe của Wohlgemuth.
Tiếp theo đó Tây Đức bấn loạn, họ giải thích trường hợp này là một cuộc bắt cóc gây hấn do tình báo Cộng sản tổ chức. Nhưng với một thời điểm trùng hợp khôi hài, đúng lúc phát ngôn nhân của chính phủ Bonn tuyên bố John không tự ý rời bỏ Liên bang Đức, ông trưởng khối tình báo tuyên bố trên đài phát thanh Đông Đức là ông tự ý rời bỏ vì Adenauer đã trở thành dụng cụ của Mỹ, “vì nhu cầu chiến tranh đánh lại binh sĩ Đông Đức… vui mừng đón tiếp những ai chưa rút tỉa bài học từ đại hoạ qua và chờ đợi giây phút để phục hận năm 1945”. Khi ông đồng thời tuyên bố nhóm Quốc Xã khống chế hệ thống tình báo của Tây Đức, lời của ông rất nặng ký.
Nhưng cũng như mọi biến cố vào lúc cao điểm Chiến tranh Lạnh, biến cố này không hoàn toàn diễn biến như người ta tưởng. Đây là lần đầu tiên sự thật mà tôi biết được về sự việc kỳ dị này.
Mấu chốt nằm ở kinh nghiệm của John trong thời chiến, khi ông trở thành người tin cậy của nhóm kháng chiến nhỏ nằm trong cơ quan phản gián của Quốc Xã nhằm âm mưu giết Hitler. Ông được giới thiệu với Claus Schenk Graf von Stauffenberg, sĩ quan đã tổ chức bất thành cuộc ám sát, và có nhiệm vụ ước định xem Đồng minh chấp nhận đề nghị hoà bình của nhóm âm mưu nếu họ khử trừ được Hitler. John, lúc đó làm việc tại thủ đô Madrid trung lập cho một hãng máy bay thương mại của Đức, hãng Lufthansa, có bắt liên lạc với Toà đại sứ Mỹ và đặc biệt với tuỳ viên quân sự Đại tá William Hohenthal, vị này có đường giây liên lạc ở cấp độ tối cao trong bộ tham mưu của Eisenhower. John cũng có gửi thư tín để xin London hỗ trợ qua Toà đại sứ Anh tại Lisbon.
Mấy năm sau, John cho tôi biết ông nghĩ là bức điện của ông đã bị Kim Philby ngăn chặn, vào lúc đó ở đỉnh cao quyền lực trong vai trò điệp viên KGB nằm trong lòng tình báo Anh. Cấp lãnh đạo Nga chống đối quyết liệt mọi thương thuyết giữa phe đối lập Hitler tại Đức và Đồng minh, vì họ lo sợ có một cuộc đảo chánh bảo thủ đánh tan tất cả và kết hợp lại để chống lại Nga. “Những tài liệu tôi chuyển cho Philby có lẽ đã biến mất trong đống hồ sơ của ông” John kể cho tôi nghe mãi sau khi Philby chết. “Tôi nghĩ rằng chúng tôi chẳng bao giờ đến London”.
Khi âm mưu thất bại và các kẻ âm mưu bị truy lùng và ám sát không nương tay, John tìm cách trốn sang Anh qua ngã Madrid và Lisbon. Ký giả Sefton Delmer bao che cho ông và giao cho ông công việc của ngành ước tính trong hệ thống thông tấn. Sau thế chiến, John trình bằng chứng cho tình báo Anh đương sự rất quen thuộc với những vụ án của các Thống tướng von Brauchitsch, von Rundstedt và von Manstein. Với quá trình như vậy, không có gì đáng ngạc nhiên khi ông được bổ nhiệm đứng đầu cơ quan phản gián Tây Đức, đặt trụ sở tại Cologne trong vùng chiếm đóng của Anh.
John không phải là một đồng minh khách quan của cựu quốc xã Reinhard Gehlen, người đã được Hoa Kỳ đặt vào chức vụ cai quản tình báo hải ngoại, kể cả các viên chức Quốc Xã vây quanh Adenauer và ngay cả chính Adenauer cũng không ưa Gehlen vì giống như phần đông cánh thủ cựu Tây Đức họ nhận xét âm mưu của nhóm Stauffenberg mang tính chất phiêu lưu. John muốn được bổ nhiệm trong ngành ngoại giao mới hình thành, nhưng, sau này ông cho tôi biết, ông không muốn gây dựng sự nghiệp trong ngành này bởi vì toàn bộ tham mưu vẫn là một nhóm ngoại giao trước đây làm việc với Bộ trưởng ngoại giao Quốc Xã, Joachim von Ribbentrop. Bồi thêm nhục mạ vào phần thương tổn, phó chủ tịch của cơ quan Gehlen, Olaf Radtke, được thuyên chuyển sang ngành phản giản, mục đích rõ ràng để kiểm soát John. Người ta không lấy làm ngac nhiên là vào năm 1954 ông cảm thấy thất vọng và lần xuất hiện của ông bên Đông Đức vào một ngày đẹp trời tháng Bảy được xem là một cảnh đào thoát.
Sự thật hoàn toàn trái ngược và kỳ quặc hơn nhiều. John không hề có ý định đào thoát. Bác sĩ Wohlgemuth là một điệp viên của Nga Xô, ông quyết định lợi dụng tinh thần sa sút của anh bạn để lừa y sang Đông Đức. Các bạn đồng nghiệp Xô viết của tôi thề rằng họ không khuyến khích ông làm việc này, nhưng tôi có thể mường tượng Wohlgemuth nói với sĩ quan điều hợp: “Tôi có thể đưa Otto John về cho anh”. Và sĩ quan điệp báo Xô viết lòng phân vân trả lời: “Được, chúng tôi tin anh nếu chúng tôi thấy đương sự ở đây”.
Tuy nhiên, điều chắc chắn là nguồn tin kiểm chứng độc lập thấy John lần cuối là trên xe của Wohlgemuth khi cả hai người băng qua biên giới Đông Berlin vào lúc nửa đêm. Tôi đoán chừng John hoặc là đã say khượt hoặc đã bị ông bạn đánh thuốc. Cả hai người được thấy chệnh choạng đi qua các một dãy các hộp đêm, uống rượu để tưởng nhớ các bạn hữu chết trong lúc kháng chiến. Khi người lữ hành bất đắc dĩ thức giấc, vỡ lẽ mình nằm trong khu quân đội Xô viết tại Karlshorst, một ác mộng đối với một người đã từng là trưởng khối phản gián của Tây Đức. Tôi nghĩ rằng họ cũng kinh ngạc về sự xuất hiện của John trong tay họ cũng như chính John vì họ gọi tướng Yevgeni P. Pitovranov, trưởng trạm KGB tại Berlin, và một người tên Turgarinov, đại diện cho Uỷ ban thông tin của Bộ Ngoại giao dưới quyền của W.M. Molotov, để quyết định phương cách tốt nhất để khai thác John. John biết là số phận mình bấp bênh tột độ và, coi như đương sự là một tù binh thực thụ tại Karlshorst, Nga Xô nắm sinh mệnh của y trong tay. Đương sự sẽ vào tù khi trở về quê quán và sự nghiệp của đương sự coi như chấm dứt.
Sau khi đương sự xuất hiện công khai và cơn chấn động đã chìm lặng tại Cologne, Nga Xô như thường lệ vứt đồ phế thải lại cho chúng tôi. John tỏ ra cực kỳ lạc lõng, vì vậy ưu tư đầu tiên của chúng tôi là tạo cho John một nhóm bạn để hỗ trợ. Chúng tôi để cho John bắt liên lạc với Hermann Henselmann, kiến trúc sư trưởng của thành phố Đông Berlin và Wilhelm Girnus, một người tôi quen biết vào thời tôi làm việc cho Đài phát thanh Berlin, đồng thời chia sẻ một số bạn bè cũ chống Quốc Xã của John. Bộ An ninh quốc gia phái cận vệ để bảo vệ John không cho tình báo Tây Âu bắt cóc, nhưng họ làm việc bất cẩn. Mười bảy tháng sau khi xuất hiện bên Đông Đức, John biến mất, không kèn không trống, rời một cuộc họp mặt tại Đại học Humboldt (Đông Berlin) để nói chuyện với một ký giả Đan Mạch tên Bonde-Henrickson. Cả hai người lên xe của Henrickson và vội vã đi về hương Tây qua cửa ngõ Brandenburg.
Chuyện xảy ra năm 1955. Ba mươi bảy năm sau, tháng 4-1992, tôi ngồi với một ông John tám mươi ba tuổi trong một quán ăn, nhìn sang cạnh Đại học Humboldt nơi ông đã trốn chạy trở về Tây Đức. Ông vẫn còn hậm hực khi ông trở về Tây Đức, ông bị kết án bốn năm tù giam vì tội phản bội tổ quốc. Ông ta chỉ bị mười tám tháng, điều này cho thấy chính phủ Tây Đức không quả quyêt về tội trạng của ông. Về vấn đề “đào thoát” sang Đông Đức, ông kể cho tôi rằng “Tôi bất tỉnh và tôi thức dậy tại Karlshorst. Tôi không hề có ý định sang Đông Đức”. Ông nói ông không bao giờ cảm nhận Đông Đức là nhà của ông và ông quyết định một cách giản dị sau một năm ông quá chán ngán, ông tìm cách liên lạc với ai đó để giúp ông trốn thoát.
Khi mọi việc đã xong, những kẻ đào thoát nổi danh không có một giá trị chiến lược nào. Đúng vậy, Adenauer vì lời tiết lộ của một kẻ đào thoát bắt buộc phải công nhận ông thương thảo để tái võ trang nước Đức. Và ảnh hưởng vương vất của cánh cựu Quốc Xã tại Bonn cũng đã được tiết lộ trong một trạng huống đầy kịch tích nên đối tượng vẫn trỗi dậy trong tiến trình chính trị và vẫn lưu lại. Nhưng Tây Đức rồi ra cũng gia nhập khối NATO (Liên minh Bắc Đại Tây Dương). Chúng tôi đã không thành công trong mục tiêu ngăn chặn họ gia nhập liên minh Tây Âu, ngay cả trì hoãn cũng không được.
Chương 6. Khrushchev mở mắt cho chúng tôi
Như mọi người sống trong thế giới Cộng sản, tôi không có khả năng từ bỏ lòng kính phục đối với Stalin và chủ nghĩa Stalin trong hàng nhiều năm. Động cơ xúc tác khiến cho tôi tỉnh ngộ là Báo cáo mật nhưng lại công khai nhất thế giới của Nikita Khrushchev tại Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô tại Moscow tháng 2-1956. Nguồn gốc đích xác của trình tự lâu dài và đau đớn của việc tôi cắt đứt với chủ nghĩa Stalin rất khó xác định; những nhen nhúm nghi ngờ thấm nhập hàng rào phòng thủ ý thức hệ của tôi trong không khí ái ngại của Đông Đức trong những những thập niên đầu 1950 có lẽ là khởi đầu. Nhưng biến cố làm lay động thế giới quan mà tôi đã dầy công nuôi dưỡng cùng với rất đông các đảng viên cộng sản vào thế hệ của tôi chính là diễn văn của Khrushchev, trong đó ông tiết lộ những tội ác của Stalin. Sau sự cố đó, mặc dù chúng tôi vẫn còn tự xưng là những đảng viên trung kiên nhưng chúng tôi không thể nào tuyên bố chúng tôi vô tội được.
Cho đến mãi tháng 2-1956, chân dung của Stalin vẫn treo phía trên bàn làm việc của tôi, tay đang mồi ống điếu, gợi nên hình ảnh của một cha già dân tộc đầy lòng ưu ái. Một ngày trong tháng đó, báo chí phương Tây đến từng sấp dày như thương lệ. Tôi luôn luôn đọc The New York Times và ấn bản Paris của tờ International Herald Tribune để ước định khuynh hướng của người Mỹ. Tôi cũng đọc một số tờ báo và tuần báo Tây Đức, kể cả tờ lá cải Bild-Zeitung, mặc dù nó có tính cách thoả mãn thị hiếu quần chúng, đôi khi nó có những tin tức cục bộ và tình báo chính xác hơn những đối thủ sang giá hơn nó. Tôi cũng đọc The Times của London và tờ Le Monde. Việc đọc toàn bộ báo chí này là một đặc quyền trong công tác của tôi. Báo chí phương Tây bị cấm bên Đông Âu, lấy cớ không xác thực là chúng hàm chứa những luận điệu gây loạn chống thế giới Cộng sản, nhưng lý do thực sự là Bộ Chính trị biết trong tận đáy lòng thâm kín của họ những bài tường thuật về cuộc sống đằng sau Bức Màn Sắt trong rất nhiều chi tiết quá sát với sự thực khiến cho họ không thể an tâm.
Tại Đại hội Đảng, Khrushchev cuối cùng đã thắng trong cuộc tranh giành quyền lực phức tạp và đẫm máu sau cái chết của Stalin, tố giác kẻ độc tài, tiết lộ rằng trong số 139 thành viên và ứng cử viên đắc cử vào Trung ương Đảng năm 1934 tại Đại hội lần thứ VII của Đảng cộng sản Liên Xô, 98 người đã bị bắt giam và xử bắn. Trong số 1936 đại biểu tại Đại hội mà bậc cha mẹ chúng tôi long trọng báo cho thiếu niên chúng tôi lễ tiến cử, quá nửa đã bị kết tội phản cách mạng và rất ít người sống sót. Khrushchev kết luận cuộc đàn áp tàn bạo của Stalin đã vi phạm tất cả những quy chế chính thống cách mạng.
Đây là một ngôn ngữ mà người cộng sản chúng tôi, vì quen với lối tẩy rửa tinh thần chao đảo dù nhỏ nhặt đến đâu trong tổ chức, chưa bao giờ gặp. Bây giờ cái thây xác của hệ thống này đã được phơi bày công khai qua một cuộc mổ xẻ tận tình, chúng tôi cảm nhận ngôn ngữ tố cáo Stalin của Khrushchev có vẻ mơ hồ và thiên kiến. Nhưng vào lúc đó, chẳng khác gì chúng tôi bị một nhát búa trên đầu. Khi tôi đọc xong bản diễn văn trên báo chí phương Tây, phản ứng đầu tiên của tôi là đem bức chân dung của Stalin treo trên tường xuống và đá nó vào một góc. Tôi không thể nói rằng những gì tôi vừa đọc gây chấn động cực kỳ nơi bản thân - vì tôi biết quá nhiều qua những kinh nghiệm cá nhân của tôi trong cuộc sống ở Liên Xô - nhưng từ đó xuất phát nỗi đau khi tôi nhìn xuống vực thẳm hiển hiện những tội ác của ông. Cảm giác giống như chỉ một thoáng những sợ hãi kinh hoàng nhất về chế độ mà chúng tôi gắn liền cuộc sống đã trở thành sự thật.
Thấm nhập qua Đông Âu qua ngã truyền thông của phương Tây và qua rỉ tai, diễn văn nảy lửa của Khrushchev đã làm leo thang những mối bất bình tại Ba Lan và Hungary. Cuộc nổi dậy của Hungary vào tháng 10 và 11-1956 là kết quả trực tiếp của những lời tố cáo của Khrushchev. Lãnh tụ cải cách của Hungary là Imre Nagy, người tôi quen biết tại Moscow từ năm 1943 đến năm 1945 khi ông lãnh đạo đài phát thanh Hungary lưu vong trong khi tôi là đặc phái viên của Đài phát thanh nhân dân Đức. Chúng tôi cùng đi một chuyến xe buýt để về nhà khi phiên làm chấm dứt. Nagy, với bộ râu mép đặc thù của người Hung và khuôn mặt tròn, luôn luôn tỏ ra điềm đạm và vui tính và dễ kết bạn trong nhóm lưu vong quá khích. Bấy giờ tôi tin chắc ông với sự thoả thuận của cấp lãnh đạo Moscow sẽ tìm ra phương cách để tái lập lại ổn định tại Budapest. Xe tăng rút ra khởi Budapest sau những ngày đầu nổi dậy và Nagy hứa sẽ có cởi mở tự do.
Nhưng những lời lẽ đó không đủ thuyết phục và cũng đã quá trễ. Các cuộc phản đối và đổ máu vẫn tiếp diễn và xe tăng của Liên Xô trở lại ngày 4-11-1956. Xô viết luôn gọi trên đường giây khẩn cấp của tôi và câu hỏi luôn đặt ra: NATO sẽ phản ứng ra sao? Tôi cũng chẳng lấy gì làm tự tin lắm. Một mặt có rất nhiều chỉ dấu cho thấy NATO đang chuẩn bị những công tác bí mật chống Liên Xô. Mặt khác, có những tín hiệu từ các nguồn tin của chúng tôi cho chúng tôi biết phương Tây tự kềm chế vì sợ leo thang. Tôi đánh liều và điện báo cho Moscow: “NATO sẽ không can thiệp”.
Nếu tôi ước định sai - và tôi không lấy gì làm chắc chắn - sự nghiệp của tôi có lẽ đã chấm dứt, cho dù đây là điều cùng cực. Nhưng tôi đã có lý, và Nagy trở thành con vật tế của Liên Xô. Họ hứa không truy tố Nagy và những người Hung khác tại Toà đại sứ Nam Tư, nhưng họ nuốt lời hứa. Họ bắt cóc ông đưa ông ra khỏi Toà đại sứ Nam Tư, đưa ông sang Roumany, và hạ sát ông sau một màn toà án bí mật lố bịch; đây là một lập lại phương pháp tồi tệ nhất của đường lối Stalin. Sau này, lãnh đạo của tình báo hải ngoại Hungary, Sandor Rajnai, tâm sự với tôi là ông bị dày vò tội lỗi vì vai trò cá nhân của ông ta trong việc thẩm vấn Nagy. Ông nói “Mischa, việc như thế này không bao giờ nên tái diễn nữa”.
Hungary với hình ảnh tàn sát và huỷ hoại là một bài học đắng cay cho tất cả anh em chúng tôi. Việc này có thể nhất thời cho phép nhóm giáo điều của Moscow gắn nhãn hiệu phản cách mạng cho thành phần cải cách, nhưng đối với những người Cộng sản biết suy nghĩ, tính cách phức tạp của cuộc nổi dậy khó nắm bắt vì những thông điệp trộn lẫn trong đó. Những câu hỏi khuôn mẫu cũ kiểu Lê-nin trở lại trong tâm não của tôi: Chúng ta có nên hy sinh quyền lực mà chúng ta đã khổ nhọc chiếm được? Tự do cho ai và chống lại ai?
Chúng tôi có một cuộc họp tại Bộ An ninh quốc gia vào tháng 3-1956 để bàn thảo về ý nghĩa của Đại hội Moscow. Ernst Wollweber lúc đó vẫn còn tại chức, nhờ vậy chúng tôi tránh được những loại hội họp kiểu Mielke, người kế vị của ông. Đối với Mielke ý niệm thảo luận có nghĩa là đương sự nói hàng tiếng đồng hồ và sau đó giải tán phiên họp. Tôi lên tiếng và chào mừng phương cách các đồng nghiệp Xô viết tiếp cận với quá khứ và bày tỏ lòng nhẹ nhõm bớt được gánh nặng nghi ngờ đã gây hoang mang nơi tôi hàng mấy năm nay. Mielke tỏ vẻ kinh hoàng. Y nói “Tôi chưa bao giờ đau khổ phải gánh chịu một gánh nặng nào. Tôi không hiểu đồng chí Wolf muốn ám chỉ điều gì”. Y tiếp tục nói y không hề biết có một cuộc đàn áp nào tại Liên Xô và thòng một câu để tỏ ra biết điều là Đông Đức cũng chẳng xảy ra việc này.
Lẽ cố nhiên nước chúng tôi không thể tránh khỏi một vài hệ quả của không khí đầm ấm này. Tám mươi tám tù nhân Đức bị toà án quân sự Xô viết kết án được trả tự dọ và thêm vào trước đó bảy trăm tội nhân được thả khỏi tù. Trong nội bộ Đảng, những biện pháp kỷ luật đối với Anton Ackermann, Franz Dahlem, Hans Jendretzky và nhiều uỷ viên trong Trung ương Đảng khác bị thất sủng (từ năm 1953) được bãi bỏ. Những kế hoạch cải cách thình lình lại được lôi ra khỏi ngăn cất hồ sơ của các vị công chức. Ngay trong Trung ương Đảng, đã có những bàn thảo tìm kiếm cách xây dựng một nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, một sự việc chỉ có thể xảy ra với một hình thức dân chủ nào đó. Tôi phục vụ trong một uỷ ban nghiên cứu hỗn hợp trong đó có những chuyên viên về kinh tế, điều hành ngân hàng, chính trị, quân sự và các cơ quan an ninh. Kinh tế không phải là bộ môn sở trường của tôi, nhưng tôi chăm chú nghe. Tôi cảm thấy, về mặt tri thức, sẵn sàng chấp nhận cách phân bố về tài sản tư hữu nhiều hơn và sâu sắc đặt vấn đề tương quan giữa tự do ngôn luận và giáo điều của nhà nước tuân theo những huấn thị của Đảng.
Nhưng Ulricht vẫn muốn tiếp tục đóng kín. Đúng hai tháng sau Đại hội Đảng tại Moscow, Bộ Chính trị Đông Đức bỏ phiếu chống lại tất những bàn luận về những sai lầm, để tránh cung cấp đạn dược cho kẻ thù. Kỷ luật được tái lập qua những khẩu hiệu vô lý như “khắc phục những sai trái trên con đường tiến tới của chúng ta”. Tôi là một trong những người trong Đảng, đã có lần hy vọng có những động lực mới, lại một lần nữa khép mình tuân phục trước kỷ luật toàn năng. Tuy nhiên, Đại hội XX Đảng cộng sản Liên Xô là bước đầu của một hành trình dài tiên tới điều mà sau này chúng tôi được biết đến là Perestroika và glasnost, khởi đầu của một vòng cung mà đoạn kết sẽ được mô tả vào năm 1989.
Phần tôi, tôi cũng phải trải qua con đường gồ ghề cho đến lúc tôi chấp nhận những ý kiến mới và bỏ lại đằng sau cơ quan tình báo và những nét xơ cứng trong suy nghĩ của tôi.
***
Những bùng nổ về địa lý chính trị năm 1956 càng sói mòn mọi hy vọng thay đổi. Những sự cố tại Poznan - nơi, trước khi xảy ra vụ Khrushchev tiết lộ, một cuộc đình công của công nhân Ba Lan đã bị chính quyền Ba Lan đàn áp đẫm máu - cuộc nổi dậy tại Hungary và cuộc khủng hoảng kinh đào Suez, tất cả những dữ kiện này khiến cho chúng tôi phải suy nghĩ trở lại theo chiều hướng Chiến tranh Lạnh. Theo quan điểm của chúng tôi, tất cả những gì chúng tôi chứng kiến là các đồng minh của hai siêu cường rất có kỷ luật khi họ cố gắng thực thi chính sách độc lập - Hungary do Moscow, và Anh và Pháp do Washington. Thế giới được chia thành hai khối và chúng tôi biết chúng tôi thuộc khối nào.
Tôi tự hỏi nếu tôi cầm quyền tôi có hành động khác không. Tôi hy vọng là có, những tôi không dám đoan chắc. Khi tôi nói chuyện với Yuri Andropov vào thập niên 1980 về những vấn đề cải cách - đề tài đề cập đến liên quan đến Ba Lan, không phải là Đức, nhưng vấn đề tương tự cho cả hai - tôi hỏi ông đảng viên cộng sản tiến bộ này tại sao ông có quá ít ảnh hưởng lên trên những vấn đề này. “Đồng chí Wolf”, ông đáp lại, “khi bất cứ ai trở thành Tổng bí thư, các anh có khoảng một năm để gây ảnh hưởng lên đương sự. Nhưng khi những người vây quanh đương sự nói rằng đương sự là thiên hạ đệ nhất và hoan hô từng cử chỉ của đương sự, và lúc đó đã quá trễ”. Andropov kể đến Nicolae Ceaucescu ở Romania, vào những năm đầu có vẻ như đi con đường độc lập với Moscow để rồi mau chóng trở thành một kẻ độc tài.
Tôi nghe văng vẳng những chỉ trích cho rằng tôi phải chờ đến hai mươi năm để đem ra áp dụng những điều tôi suy nghĩ. Nhưng sự thể nó đã như vậy. Tất cả căn bản suy tư của tôi về Chiến tranh Lạnh là phương Tây và hệ thống xã hội của nó không trình bày một phương hướng khác khả dĩ chấp nhận được. Vào thời điểm này và nhiều năm về sau, tôi không dự tính một bước đi nào hết, ngay cả trong đường hướng tư duy, để giúp cho đất nước của tôi và của các quốc gia khác trong khối Warsaw tiếp cận hệ thống tư bản. Tôi vẫn tin tưởng bất di bất dịch là hệ thống chủ nghĩa xã hội, cho dù nó có những thất bại hãi hùng, biểu trưng một khuôn mẫu có tiềm năng tốt đẹp hơn cho nhân loại hơn là phương Tây. Vào lúc thời điểm quyết định, cho dù tôi có bao nhiêu mối nghi ngờ về cách thực hiện của Đảng cộng sản, tôi tin rằng chúng tôi không nhượng bộ trước ảnh hưởng của phương Tây. Tôi có viết trong đoạn mở đầu dài và khắc khoải của quyển nhật ký của tôi viết năm 1968:
Cơ cấu quyền lực trong thời kỳ quá độ đã triển khai con đường tiến tới Xã hội chủ nghĩa đích thực, nó có những luật lệ riêng biệt và có sức sống độc lập. Chúng được điều khiển bởi những yếu tố chủ quan và quyền lợi.
Những cơ cấu này, những bộ máy này và những công chức này có thể đôi khi lạm dụng quyền hành đối với quần chúng theo những đường hướng chẳng phụ hợp tí nào với Cách mạng.
Sự pha trộn giữa lòng trung tín nồng nhiệt và mối nghi ngờ ray rứt thấm nhập trí não của các đảng viên cộng sản có trí tuệ. Nhưng cơn cám dỗ lúc nào cũng trực sẵn để chôn vùi những câu hỏi bất an và thay vào đó tập trung vào những thắng lợi kỹ thuật và khoa học do hệ thống của chúng tôi lập nên và ảnh hưởng cân tanh của nó đối với các xã hội chậm tiến như Nga và Trung Hoa. Tất cả mọi thứ khác đều cho đóng băng cho đến khi chủ nghĩa xã hội trở nên ổn định hơn. Những thay đổi không thể xảy ra vào thời đó vì sự kiện này nằm trong bản chất của chính hệ thống và mối căng thẳng của tình hình quốc tế. Bất cứ một chấp nhận cải cách nào đều xem như họ chấp nhận thất bại, và tự động biến thành chiến thắng của phương Tây. Đây là vòng tà ác mà tôi bị lôi cuốn vào trong, liên tục năm này qua năm nọ.
***
Sau những cuộc nổi dậy năm 1956, mối ưu tư chính của Khrushchev là làm dịu bớt các xung đột và căng thẳng trong khối Đông Âu để có thể tập trung vào các kế hoạch kinh tế đầy tham vọng của ông tại quê nhà. Một loạt những thống kê và diễn văn lạc quan của ông được các bạn đồng nghiệp đón nhận với một chút hài hước, nhưng ông thực sự tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của ông, đất nước không những bắt kịp nhưng vượt trội sự phồn thịnh của Hoa Kỳ. Điều này đã được các cố vấn của Ulbricht chuyển ngữ một cách kính cẩn nhưng vụng về là “vượt lên trên mà không cần bắt kịp” (überholen ohne einzuholen), một câu mà ngài Tổng bí thư của chúng tôi lập đi lập lại nhiều lần cho đến khi có người bạo dạn báo cho ông biết đây là một nghịch lý.
Cũng đã có một số người cười thầm về lòng say mê của Khrushchev đối với ngũ cốc, ông tin tưởng đây là vũ khí bí mật để giải quyết nạn khan hiếm thực phẩm của đất nước rộng lớn của ông ta. Trong dịp viếng thăm đầu tiên Đông Đức năm 1957, Mielke và tôi đưa ông đến cánh đồng sản xuất ngũ cốc to lớn nhất của cộng hoà trong vùng Magdeburg. Tại đây ông gặp gỡ các kỹ sư nông nghiệp giúp soi sáng và làm vừa lòng ông. Ông cẩn thận ghi lại tất cả các phương thức và sau này tôi nghe ông gây khốn khổ cho các công chức của ông, mắng mỏ họ vì không bắt kịp được ngay cả mức sản xuất của Cộng hoà Dân chủ Đức.
Phong cách thô kệch của Khrushchev và những diễn văn giông dài của ông khiến cho một số người bực bội khi ông trở về nước, nhưng tại Đông Đức, nơi chúng tôi phải chịu trận nghe lưỡi gỗ của Ulbricht, tính chất hồn nhiên của Khrushchev đã gây một ấn tượng mạnh. Ông được tiếng tốt nhất trong giới lãnh đạo Xô viết cho đến khi Gorbachev lên cầm quyền, nhưng không như Gorbachev, ông là một người bình dị với một bản chất bẩm sinh thấu hiểu được tâm tư của người dân bình thường. Ông có thể nói hàng giờ về quê mẹ Kalinovka của ông với đầy lòng hãnh diện, đồng thời tỏ ra thái độ chê bai rõ rệt phong cách ngoại giao mượt mà.
Tôi còn nhớ một sự việc sau buổi tiếp tân tiễn đưa tại Đông Đức để kết thúc chuyến viếng thăm nước Cộng hoà Dân chủ Đức của Khrushchev. Đoàn tuỳ tùng thân cận được sắp xếp tiếp tân tại những căn phòng của Đại sứ Liên Xô tại Toà đại sứ để cất chén tiễn đưa lần cuối. Anastas Mikoyan, ông chủ tịch niên trưởng của Xô viết Tối cao đột nhiên buồn ngủ sau một vài ly và không muốn di chuyển sang lâu đài Niederschönhausen trong vùng ngoại ô Pankow, nơi nghỉ ngơi chính thức của các thượng khách, nhưng lại thích ngủ một đêm tại Toà đại sứ. Ulbricht tỏ vẻ phiền lòng vì ông đã sắp xếp trên con đường từ Niederschönhausen đến phi trường hàng dãy người Đông Đức trung thành vẫy chào từ giã các quan khách.
Một cuộc bàn cãi tiếp diễn sau đó, cho đến lúc Khrushchev can thiệp “Anastas này, không thể nào biện luận với Ulbricht được đâu. Người Đức họ cực kỳ chi ly”. Ulbricht giận tím gan nhưng không nói lời nào.
Ngày hôm sau, trên đường đi đến phi trường sau một đêm bắt buộc phải ngủ tại lâu đài, Mikoyan tỏ vẻ khó chịu. Ông phàn nàn quyết định của chủ nhà buộc ông phải đương đầu lần cuối với đám đông ngoan ngoãn đứng xếp ngay hàng đón tiếp trên đường đi, rồi ông ngủ gục trên xe. Khrushchev quay sang sang tôi và điềm đạm nói: “Trở về cơ xưởng của chúng tôi tại Kalinovka, có lần chúng tôi có một nghệ nhân người Đức tên Müller. Một hôm hè anh đưa vị hôn thê của anh từ bên Đức sang. Anh ta rất lấy làm hãnh diện anh ta không hề đụng đến cô ta cho đến khi hai người chính thức lấy nhau trước luật pháp. Chuyện này đến tai những anh em trong cơ xưởng và một người bạn của tôi tên Vaska chụp ngay cơ hội. Y phục vụ cô nàng suốt một mùa hè. Đồng chí Wolf thấy không, tính chi ly của người Đức không phải lúc nào cũng tốt đâu”.
Lẽ cố nhiên Khrushchev có thể là một người thô kệch, khả năng trí tuệ giới hạn và kinh nghiệm yếu kém của ông về các quốc gia khác trên thế giới đã khiến cho ông không thấy được những thiếu sót của chính đất nước ông. Ông cũng không có khả năng thấu hiểu những hậu quả sâu rộng của bài Báo cáo mật của ông, rốt cuộc điều này chứng tỏ ông vẫn còn gắn chặt với hệ thống cũ và phương cách tư duy của nó. Nhưng ông là một chính trị gia quả cảm, không phải là một anh thư lại và ông tin tưởng một cách cuồng nhiệt vào ý thức hệ của ông, đến độ ông thường hy sinh những ưu đãi ngoại giao để chỉ thoả mãn lối biện giải.
***
Khoảng năm 1956, sự xung đột giữa các siêu cường đã trở nên cảnh tượng mà Bertolt Brecht mô tả ba mươi năm chiến tranh trong vở tuồng Người Mẹ Anh Dũng (Mother Courage): Nó xác định đúng tình hình lúc bấy giờ. Cả hai bên, kỹ nghệ súng ống, các chính trị gia và các cơ quan tình báo sống thoải mái nhờ lối làm ăn thịnh vượng này.
Vào một buổi sáng sớm cuối tháng 4-1956, người trông nhà đánh thức tôi dạy với một câu chào hỏi bất thường: “Ông bộ trưởng đang chờ ông ở cửa vườn nhà”. Tôi có lòng cảnh giác tức khắc. Nhìn qua kẽ màn, tôi thấy một chiếc xe Volkwagen nhỏ cũ kỹ đậu ở dưới. Tôi đâm nghi ngờ thêm bội phần, vì đây không phải là phương tiên một bộ trưởng của nhà nước Đông Đức di chuyển. Cực kỳ thắc mắc, tôi chụp khẩu súng lục đã lên đạn tôi để trên tủ giường ngủ, bỏ vào trong túi áo ngủ, tôi bước xuống cầu thang, đến trước cửa nhà.
Trước mặt tôi, bóng dáng Wollweber đứng sừng sững, với mẩu xì-gà trên môi. Ra dấu về phía chiếc xe, tôi hỏi mọi sự đều bình thường chứ. Ông giải thích ông bị đánh thức vì một cú điện thoại khẩn cấp của Xô viết và để tiết kiệm thời gian, ông đã mượn chiếc xe của người hàng xóm thay vì chờ các cận vệ và tài xế của ông. Ông quở trách tôi: “Nhanh lên đi Mischa, anh không thể tưởng tượng những gì họ mới khám phá”.
Chúng tôi lạch cạch đi qua các đường phố vắng vẻ đến phi trường Schönefeld. Phía sau Alt-Glienecke, khoảng bốn trăm thước cách biên giới khu vực Hoa Kỳ và ngay sát tường một nghĩa trang, chúng tôi thấy một nhóm bóng dáng hiện trong ánh sáng màu xám ban mai. Một nửa là binh lính Xô viết, đang hì hục đào. Những người khác đứng nhìn, tôi biết họ là những cấp chỉ huy cao cấp của tình báo quân sự Moscow tại Berlin. Một đường hầm gián điệp vừa được khám phá.
Binh lính đã đào được một đường khá sâu và chúng tôi tiếp tục quan sát, sững sờ khi thấy họ bước lên đó và đâm thọc vào một sườn sắt hình tròn nằm trong đất cứng. Trong đó là một cánh cửa sắt. Ổ khoá chảy nhão ra dưới sức nóng của ngọn lửa hàn và họ đẩy bật tung cánh cửa trước mắt chúng tôi. Một cách lặng lẽ, các anh lính dò mìn và gỡ bom đi xuống để kiếm soát khoảng không gian trống vắng xem có bị gài mìn không. Họ không thấy gì cả. Người lính gác mời chúng tôi bước vào trong.
Tôi đứng trong một căn phòng rộng lớn bằng một căn phòng đọc sách. Có hai chiếc ghế và một cái bàn nhỏ ở giữa. Dọc theo tường là từng bó giây cáp, phân chia rõ rệt. Mỗi một bó đều có bộ phận khuếch đại gắn liền trước khi chạy trở lại bó cáp chính ở phía bên kia. Tín hiệu được đón bắt, được khuếch đại và tán phát đến một căn lều đặc biệt được xây dựng cách đó năm trăm thước tại Tây Berlin. Đây là một đài nghe lén nguy trang tài tình.
Sau này tôi mới biết những chi tiết về tính chất tối tân của con đường hầm nhờ các đồng nghiệp Xô viết. Người Mỹ đã khám phá dưới luống đất này đường giây cáp điện thoại chính thời tiền chiến nối liền với miền Nam nay trở thành Đông Berlin. Nó gồm luôn trong đó đường giây gọi là Ve-Che (“tần số cao”, tiếng Nga viết tắt) nối liền Moscow với Tổng tham mưu quân sự Xô viết tại Wünsdorf, phía nam Berlin.
Không cần phải giàu tưởng tượng để biết đây là mộng ước của một điệp viên. Người Mỹ có thể đón bắt những cuộc đối thoại về việc thu mua vũ khí, khan hiếm, những sai sót kỹ thuật và bí danh về kỹ thuật vũ khí vừa mới khai triển giữa Bộ Quốc phòng tại Moscow và căn cứ Đông Berlin tại Karlshorst, căn cứ lớn nhất Đông Âu. Họ cũng có thể nghe lén những kế hoạch công tác và những cuộc thảo luận về những khó khăn triền miên về tài khoản của quân độ Xô viết.
Người Nga họ tin tưởng mãnh liệt vào hệ thống bảo toàn an ninh đường dây liên lạc Ve-Che của họ. Họ đã khai triển một kỹ thuật mới bơm hơi nén vào các trong các đường dây nhỏ nằm trong cáp. Nó ghi nhận mọi biến động trong mạch điện đi qua đường dây - điều này xảy ra mỗi khi một bộ phận nghe lén, dù cao siêu đến mấy, được gài đặt lên trên.
Là đứa con của thời Stalin tại Nga, tôi không bao giờ tin có một đường dây không thể nghe lén và cho đến nay tôi vẫn không tin. (Mức độ người Nga tin tưởng vào đường dây đặc biệt của họ ngay cả khi đã khám phá đường hầm kể trên được biểu lộ cho tôi thấy đến mãi mấy năm sau này, khi, trong một cuộc viếng thăm đồng nghiệp KGB tại Berlin, họ vui vẻ chìa điện thoại cho tôi để nói chuyện với Yuri Andropov, lúc bấy giờ là giám đốc KGB tại Moscow).
Cơ quan tình báo Anh và Hoa Kỳ trước tiên xây dựng một cái chòi sát biên giới bên phía Tây để đánh cắp những trao đổi một cách an toàn. Họ thiết lập một cái nắp vòng cung để cho giống hình thù của một trạm tiên đoán thời tiết, đánh lạc hướng ở phía trên để không ai để ý sinh hoạt thực sự dưới hầm để thu thập mọi nguồn cung cấp tín hiệu của làn sóng vô tuyến.
Để tránh bị phát giác gây dao động trên cường độ vào lúc đường dây bị đón bắt, các kỹ sư Anh đã thiết kế một máy khuếch đại nhỏ cho mỗi một đường dây của hàng trăm đường dây điện thoại nằm trong ba bó cáp lớn. Đây là một kỳ công kỹ thuật và tôi đoán chừng nếu không có sự giúp đỡ của KGB, chúng tôi không dễ gì đơn phương tìm ra đường hầm này.
Chúng tôi lần mò đường hầm trong bóng tối và im lắng, chúng tôi chỉ có ánh sáng của bóng đèn tay hướng dẫn. Tôi bắt gặp một mẩu bìa cứng trắng và rọi đèn để xem. Nơi đây, dưới lòng đất, qua lằn ranh chia cắt hai hệ thống và hai ý thức hệ, một nhân viên tình báo có đầu óc hài hước cao độ đã đặt một cuộn kẽm gai nhỏ và một miếng bìa cứng trên đó ghi bằng mực đen “Quý vị bước sang khu vực của Hoa Kỳ”. Tôi, một trong những kẻ thù bất công đái thiên của CIA, đến đây để chia sẻ trò khôi hải của một anh nhân viên tình báo Hoa Kỳ! Lần đầu tiên trong suốt buổi sáng bất hủ này, tôi tự véo mình để đoan chắc tôi không nằm mơ.
Lẽ cố nhiên, có một điểm sơ sót trong công trình thiết lập kỳ công kỹ thuật này mà ngay cả một chuyên viên kỹ thuật tài giỏi nhất cũng không có thể sửa chữa: Liên Xô biết sự hiện hữu con đường hầm này ngay từ đầu, nhờ anh gián điệp nhị trùng Anh, George Blake. Nhưng, trong khi họ bảo toàn những trao đổi bằng những phương tiện này, họ không hề cho chúng tôi biết bất cứ chuyện gì, để mặc cho chúng tôi không phòng bị và lộ trần. Đức tính tồi tệ này không nằm ngoài bản tính của Liên Xô. Đối với họ, tình báo thông thường chỉ đi một chiều.
Tôi đã ngờ từ lâu có một điệp viên Anh cao cấp làm việc cho Liên Xô tại Tây Berlin. Liên Xô đương nhiên tuyệt đối bí mật về điều này, nhưng một trong những ông tướng của họ không kìm hãm nổi tính khoe khoang cho tôi biết ông đang điều khiển một công tác lớn trong lòng nước Anh. Nhưng Liên Xô muốn để cho Hoa Kỳ hoàn tất công trình vĩ đại này để có thể ước định trình độ kỹ thuật của họ. Hoa Kỳ rơi vào bẫy. Tình báo Xô viết quan sát công tác cài đặt trong khoảng một năm và sau đó công khai tiết lộ bí mật.
Sau đó Blake bị bắt và vào tù năm 1961, để rồi ngoạn mục vượt ngục trốn khỏi London sang Liên Xô năm năm sau. Ngay sau khi ông đã định cư tại Moscow và lập một gia đình mới, Nga Xô vẫn ngần ngại cho phép ông di chuyển. Cuối cùng họ chấp nhận lời thình cầu của ông để ông đi nghỉ hè và cho phép ông đi cùng với người canh gác đến một trong những nơi nghỉ mát của bộ chúng tôi tại đảo Usedom trên biển Baltic. Blake đến thăm viếng Đông Berlin tất cả bốn lần, luôn luôn có hộ vệ KGB theo sau. Tôi mời ông phát biểu trước nhóm điệp viện đang được huấn luyện về những cuộc phiêu lưu của ông với hy vọng sẽ tạo tinh thần nhập thuộc và truyền thống trong cộng đồng tình báo Cộng sản.
Đến lượt thăm viếng lần thứ ba, những người tháp tùng Blake có vẻ nới lỏng và cho phép người vợ Nga đi theo ông. Ông cũng xin gặp gỡ riêng với tôi. Chúng tôi cùng lứa tuổi với nhau và chúng tôi nhanh chóng kết thân với nhau. Tôi có ấn tượng đặc biệt với thói quen hạ xưng của người Anh của ông. Trong khi vợ ông đi phố, vui hưởng sự phồn thịnh của các cửa hàng quốc doanh Đông Đức sau những ngày tháng thiếu thốn tại Nga, chúng tôi ngồi trò chuyện tại một quán trọ. Ông rất giỏi về ngôn ngữ, ông thông thạo tiếng Ả-rập, tiếng Pháp và tiếng Hà Lan, ngay bây giờ ông cũng nói lưu loát tiếng Đức và tiếng Nga, mặc dù ông có giọng nói của một người Anh lịch lãm có lẽ đã thấm nhập khi ông học Đại học Cambridge.
Blake cho tôi biết ý kiến về đường hầm nguyên uỷ phát xuất từ phía Anh. Sau khi ông từ Triều Tiên trở về, tại đây ông giữ chức phó trạm trưởng Cơ quan Tình báo Anh trong vùng. Blake cũng đã giữ chức vụ tương tự tại Vienna. Kế hoạch đào hầm khởi xuất từ Tổng tham mưu Quân cảnh Anh qua đường Simmeringstrasse tại Vienna đến phái bộ quân sự Xô viết gặp trở ngại kỹ thuật nhưng có vẻ là một tiến trình khả quan. Vì tham dự trong dự án đó, ông được kêu gọi tham khảo với Hoa Kỳ về đường hầm Berlin.
Sau khi Blake ra khỏi tù và đào thoát sang Moscow, chúng tôi lại gặp nhau một lần nữa, lúc đó tôi cùng đi với em Koni tôi, đến để trình chiếu ra mắt cuộn phim “Mama, I’m alive!”(Mẹ ơi, con còn sống!). Chuyện kể về các tù binh Đức tại Nga. Hôm đó là một buổi tối êm ả, chúng tôi nói về phim sách của Nga. Ngay cả với tư cách một cựu điệp viên, ông kín đáo hơn thương lệ khi chúng tôi đề cập đến những chi tiết gút mắc về thương trường. Ông nói tình bằng hữu với Kim Philby tại Moscow hỗ trợ cho ông vô kể. Tôi ngạc nhiên khi Blake tỏ ra rất đau khổ vì mang tiếng là một điệp viên bẩn thỉu và mong thiên hạ coi ông ta là một người có lý tưởng. Mặc dù ông dấn thân cho chính nghĩa Xô viết, tôi có cảm tưởng ông từ chối chấp nhận trên thực tế ông là kẻ phản bội đối với đất nước của ông và chính nước ông nhìn ông như kẻ phản bội. Có lẽ ông kém thông minh hơn Philby, một người mà tôi cũng quen biết và thán phục vô cùng. Cả hai đều có vẻ nhẹ nhõm khi có người để nói chuyện và người này thấu hiểu sự dấn thân của họ cho hệ thống xã hội chủ nghĩa đồng thời chia sẻ cái nhìn phê phán trên tiến trình tại Moscow. Đi trước Gorbachev, họ cũng tin tưởng cuộc thay đổi sẽ diễn ra từ bên trong.
Mặc dù Philby và Blake cả hai đều có chức vụ thích hợp với hiểu biết của họ, nhưng cuộc sống của những điệp viên về vườn sau một cuộc sống náo động tại phương Tây không thể nào dễ dàng, đặc biệt trong một nước đang vật lộn với nhiều mâu thuẫn như Liên Xô. Philby có bản tính cởi mở hơn Blake, tự tin, mềm mỏng và thoải mái trong giao tiếp. Ông cũng có đến Đông Berlin nhiều lần để nghỉ hè và thụ hưởng những đêm dài nói chuyện với bạn bè và đồng chí cũ, nhâm nhi vài chung rượu. Nhưng sau một vài năm sống tại Moscow, cái nhìn của ông về Liên Xô trở nên khô khan hơn. Ông có lần than phiền với tôi về nền kinh tế khốn khó và hố ngăn cách giữa người lãnh đạo và nhân dân. Tôi luôn cảm thấy thú vị vì người Anh nghĩ mình là người đầu tiên khám phá ra những sự thật hiển nhiên như sản phẩm tiêu thụ khan hiếm và hành chính luộm thuộm. Philby không có nhiều cơ hội để nói chuyện với giới trí thức tại Moscow, nhưng tôi không đồng ý với những thông tin của phương Tây cho rằng ông sống khốn khổ tại Moscow. Sự thật là ông không còn lựa chọn nào khác, nhưng Philby có khả năng xoay xở giỏi hơn các điệp viên khác.
Tôi có cảm nghĩ rằng KGB thu xếp cho họ đi nghi hè tại các nước như Đông Đức và Hungary, nơi đây mức sống trung bình cao hơn tại Nga và đó là phương cách để những người như Philby và Blake xả xú-páp. KGB lo sợ những thành tích danh giá phương Tây này sẽ trở về xứ sở và giáng một đòn nặng cho bộ máy tuyên truyền của điện Kreml và những chuyện tẩu thoát không có gì là khó khăn. Philby cho tôi biết tình báo Anh tìm cách đề nghị nhiều phương thức để mời ông trở về Anh.
Philby yêu chuộng cảnh đồng quê Đông Đức và khi ông đến thăm, chúng tôi bàn về nhiều vấn đề - sách vở, tư tưởng, và ngay cả nấu nướng; chúng tôi cùng làm món hoành thánh để chúng tôi so tài về cách làm món này, vì cách chọn lựa gia vị mang tính cách cá nhân cao độ. Có một lần viếng thăm, ông đưa cho tôi một ấn bản về hồi ký của ông với lời đề tặng: “Gửi tặng đồng chí Thiếu tướng Wolf, với lòng kính phục và biết ơn đã được tiếp đón nồng hậu tại DDR, Kim Philby”. Đây là ấn bản Tây Đức và ông chua thêm trong phần tái bút: “Bản dịch FRG (Cộng hoà Liên bang Đức) chưa được hoàn hảo. K.P”. Có lẽ ông nghĩ cần phải lịch sự đánh Tây Đức khi gửi tặng một món quà cho cấp lãnh đạo của tình báo hải ngoại Đông Đức. Cho dù thế nào đi nữa, phần phụ chú này làm cho tôi cảm thấy thú vị về kiểu cách tỉ mỉ của Philby.
Philby và Blake có thứ hạng trong những khuôn mặt nổi tiếng trong lịch sử tình báo. Những thành quả nghề nghiệp của họ rất lớn, bất kể khuynh hướng chính trị của họ. Đặc biệt buồn cho số phận của Blake vì ông mất tổ quốc không những một lần, khi ông rời bỏ nước Anh, nhưng đến hai lần khi Liên Xô sụp đổ và ông bị bỏ rơi, sống một cuộc đời lầm lũi trên mảnh đất của một tổ quốc vay mượn đã từ bỏ lý tưởng của ông. Philby, đã từng tham dự những biến cố lớn của thế kỷ, khởi sự với Cuộc nội chiến Tây Ban Nha, có lẽ là người may mắn nhất vì đã chết đúng lúc. Tôi không bận tâm việc Philby là một tên phản bội đối với đất nước của ông, vì những gì ông làm là do quyết đoán của ông. Ông đoan quyết ngay từ thuở ban đầu Liên Xô là quốc gia biểu hiện rõ rệt nhất lý tưởng chống phát-xít của ông. Nếu quý vị có quyết tâm trong cuộc đời, quý vị đi theo con đường quý vị đã tự vạch sẵn và không đi lệch hướng - cho dù quý vị có thể bắt gặp những điều kinh khủng trên đường đi. Lẽ cố nhiên, đường đi của mỗi người mỗi khác và thứ tự ưu tiên cũng khác. Có những người như Arthur Koestler, đã quyết định theo lý tưởng công bằng và bình đẳng của Cộng sản và sau đó quay lưng đi vì những thái quá trong chế độ Xô viết. Điều này cũng xảy ra cho người bạn cũ của tôi Wolfgang Leonhard. Đã có lần tôi không hiểu được họ, nhưng tôi có nói chuyện với Leonhard và tôi nghĩ rằng bây giờ chúng tôi đã hiểu nhau.
***
Nhờ quy chế hoá các luật lệ trong Chiến tranh Lạnh, điệp viên không còn xuất hiện như là những nhân tố ác độc của phía bên kia nhưng đúng hơn là những món vật - đôi khi là con cờ - trong một cuộc chơi giữa Đông và Tây. Họ thường được giam giữ bởi cơ quan tình báo đối nghich, sau khi bị bắt, chứ không bị xử bắn, mặc dù đôi lúc việc hành quyết cũng xảy ra, rất thường khi một chính trị gia muốn gửi một thông điệp cho dân nước mình hoặc cho phía bên kia. Sự thay đổi này khiến cho tôi nhận biết những cuộc trao đổi có thể trở thành một phần quan trọng trong kho vũ khí tình báo của chúng tôi. Tôi khởi sự xem xét tỉ mỉ phía chúng tôi giam giữ những ai để có thể trao đổi với nhân viên chúng tôi bị bắt giam bên Tây Đức.
Tại Đức, lề lối này đã trờ thành thủ tục nhờ các dịch vụ của Wolfgang Vogel, luật sư Đông Berlin đai diện cho quyền lợi quốc tế của Cộng hoà Dân chủ Đức (GDR), và Jürgen Stange, đối tác bên Tây Đức. Ngày tháng trôi qua, việc thu xếp trao đổi qua bức Bức tường Sắt trở nên dễ dàng hơn. Vogel làm ăn khá phát đạt nhờ làm trung gian giữa hai cường quốc kình địch.
Cuộc trao đổi quốc tế quan trọng đầu tiên giữa Tây và Đông liên quan đến Francis Gary Powers, phi công của chiếc máy bay trinh sát U-2 bị bắn hạ ngày 1-5-1960 trên không phận Liên Xô.
Việc này tạo bối rối chính trị lớn cho Tổng thống Eisenhower và sự cố tai hại này phá vỡ cuộc họp thượng đỉnh với Khrushchev tại Paris. Tôi kinh qua một cảm giác ngại ngùng khi tham dự phiên toà xét xử Powers trong đại sảnh Nhà Công đoàn thương mại tại Moscow, nơi đây những màn xét xử của Stalin đã diễn ra vào thập niên 1930. Lúc đó tôi đang ở phố bận việc khác và quyết định đi xem. Tôi ngồi trên hàng ghế cứng dưới một trần nhà màu lợt thật êm ả đối chọi với không khí lúc bấy giờ, trên bàn bày những chân đèn lóng lánh thích hợp cho một phòng khiêu vũ hơn là một toà án.
Đây là lấn đầu tiên kể từ khi Stalin chết, toà án xét xử một gián điệp được công khai mở rộng và thiên hạ bàn tán về việc xét xử Powers suốt mùa hè tại Moscow. Thường dân Moscow đi vòng dinh toà án, tò mò tìm kiếm anh Mỹ đã bị bắn hạ trên không phận Xô viết. Các bạn đồng nghiệp KGB rỉ tai rằng chính ông tổng thư ký sẽ đứng ra xác quyết bản án và phán quyết.
Powers xuất hiện trong chiếc lồng tù, vẻ hơi bối rối vì những mệnh lệnh toà án được phát biểu bằng tiếng Nga. Anh có một khuôn mặt dịu dàng và thơ trẻ và có thói quen nhíu mày thật mạnh khi anh không hiểu một câu hỏi. Phong cách nhã nhặn và phần nào ngây ngô khiến tôi có chút cảm tình với anh ta, mặc dù anh ta làm việc cho phía bên kia. Nhờ qua một thông dịch viên mặt lạnh lùng, anh trả lời suôn sẻ và chi tiết những câu hỏi của công tố viên, anh xác nhận nội dung của nhiệm vụ công tác của anh và anh phục vụ cho ai. “Đồ điên” tôi thầm tự nhủ.
Rồi ra, chính sự ngây ngô của Powers và sự cộng tác với Liên Xô đã giúp các cường quốc đơn giản hoá lần trao đổi gián điệp quan trọng đầu tiên. Powers chỉ bị kết án mười năm tù giam, và các bạn của tôi trong KGB giải thích bản án khoan hồng này là một tín hiệu của Moscow cho Washington biết rằng họ sẵn sàng trao đổi điệp viên.
Phia bên kia Đại Tây Dương, Đại tá KGB Rudolf Ivanovich Abel bị giam trong nhà tù Liên bang tại Atlanta. Con của một công nhân sinh sống tại Saint Petersburg, giòng dõi Đức, vui vẻ chọn theo chủ nghĩa bolshevik và gặp Lênin nhiều lần, Abel (tên thật là William Fischer) đã được KGB lén lút cài đặt vào Hoa Kỳ năm 1947, tại đây ông đội lốt một nhiếp ảnh gia và hoạ sĩ tên Emil Goldfus. Từ căn nhà này tại Brooklyn ông điều khiển một chuỗi điệp viên có chân trong chính quyền, cơ sở thương mại và cơ mật quân sự trước khi ông bị bắt năm 1956 và sau đó bị kết án ba mươi năm tù giam. Vogel làm trung gian thu xếp trao đổi Powers với Abel vào tháng 10-1962.
Mấy năm sau, Abel đến Đông Berlin để thuyết trình cơ quan của tôi về những kinh nghiệm của ông. KGB đã phong quân hàm đại tướng và giao cho ông nhiệm vụ lãnh đạo hệ thống Anh-Mỹ. Ông cũng dạy các tân binh của tôi và tôi thu xếp nhiều lần gặp gỡ với các sĩ quan cao cấp của tôi để vinh dự đón tiếp ông. Ông là người vui tính khi ông gặp đúng đối tượng và sau khi nâng ly chúc mừng thành công trong công tác gián điệp của mọi người, chúng tôi bàn về kịch trường của những thập niên 1920 và 1930, và luôn cả các vở kịch của cha tôi. Abel là một người của thời Phục Hưng sống trong một thời đại tân tiến, rất ham thích môn hoá học và vật lý và đặc biệt say mê Albert Einstein. Những bức hoạ của ông - ông dùng tại Brooklyn để làm bình phong che giấu hoạt động gián điệp của ông - tương đối đẹp. Tôi vẫn lưu giữ một vài phác hoạ nhỏ ông tặng tôi làm kỷ niệm. Sau khi ông chết vào năm 1971, bà vợ goá của ông phải áp lực mạnh với Xô viết để ghi tên thật của ông dưới tên KGB của ông trên bia mộ. Họ không bỏ nổi thói quen giữ bí mật, ngay cả khi một trong những điệp viên xuất sắc của họ đã chết và được chôn.
Một dấu hiệu khác về tập quán gay gắt của Chiến tranh Lạnh xuất hiện sau cuộc gặp gỡ thượng đỉnh giữa Khrushchev và Tổng thống Kennedy tại Vienna năm 1961. Tôi được biết cuộc xung đột trở nên trầm trọng tột độ khi Khrushchev trở về nước tuyên bố với quân đội và nâng cao vai trò của Tây Berlin. Do hai nguồn tin của chúng tôi - một tại tư lệnh quân sự Anh tại Berlin và một tại Tổng tham mưu NATO, chúng tôi biết những chuẩn bị nóng bỏng của phía Hoa Kỳ để phản ứng chống lại trong trường hợp Moscow ra lệnh phong toả Berlin lần thứ hai. Khi tôi đọc những tài liệu lưu trữ được sắp xếp lại như một lắp lại những mẩu hình ghép rời rạc từ một mớ vi phim, tôi nhận thấy chỉ lỡ một bước kém khôn ngoan của cả hai phía là có thể đưa đến chiến tranh. Và nó sẽ khởi sự tại đây, tại Berlin.
Một tổ chức tối mật của Hoa Kỳ gọi là Live Oak (Cây Sồi Sống) đã được thành lập năm 1958 bởi ngoại trưởng Hoa Kỳ John Foster Dulles, và đặt dưới quyền chỉ huy của Tướng Lauris Norstad, chỉ huy trưởng khối NATO, cốt để phá vỡ việc phong toả Berlin lần thứ hai. Một hôm có người trình cho tôi một tài liệu do Norstad ký tên ghi rõ những phần thiết yếu trong “Ước định sơ khởi về y đồ của Xô viết”. Tài liệu này, tôi có được qua một nguồn tin tại Tổng tham mưu Anh tại Đức, vẫn còn được xem là mật tại Hoa Kỳ mặt dù được viết cách đây 40 năm. Nếu việc hạch sách ở mức độ thấp các loại xe của quân đội di chuyền qua hành lang một trăm dặm nối liền Berlin với Tây Đức có chiều hướng leo thang, kế hoạch của Live Oak đề nghị phái một đoàn quân xa để mở đường vào phía Tây Berlin và thử phản ứng của Xô viết. Tài liệu tiếp tục đề nghị những giải pháp quân sự rộng lớn hơn. Trước hết là một tiểu đoàn gồm có binh lính Hoa Kỳ, Anh và Pháp đi vào hành lang này. Rồi vào giai đoạn cuối của mức độ đọ sức, một sư đoàn gồm có quân đội của ba nước đi vào hành lang để khẳng định quyền được vào thành phố Berlin. Chỉ có quân đội Hoa Kỳ, Anh và Pháp gia nhập trong công tác này, vì họ là những người duy nhất có quyền gửi quân đội qua Đông Đức đế đến vùng chiếm đóng phía Tây của Berlin.
Tôi không dễ hoảng sợ, nhưng kế hoạch Live Oak làm cho tôi lạnh xương sống. Các nguồn tin tại Moscow cho tôi biết Khrushchev nói không ngừng về Berlin. Ông cũng có nói với Đại sứ Hoa Kỳ Llewellin Thompson là giải quyết vấn đề Berlin là một vấn đề “uy tín cá nhân” của ông và ông đã “chờ đợi khá lâu” để tiến hành. Vì biết rõ lòng tự ái cố chấp của Khruschev nên tôi đâm ra lo ngại hơn. Các cường quốc thường gây chiến với nhau chỉ vì muốn bảo vệ cái uy tín mong manh của các cấp lãnh đạo.
Điều mà tôi không biết vào lúc đó, có một chống đối mãnh liệt kế hoạch Live Oak trong nội bộ của NATO. Mấy năm sau, cơ quan tình báo CIA giải mật tài liệu cho biết trưởng khối quốc phòng Anh, Thống đốc Lord Mountbatten, đã hạch hỏi Kennedy về kế hoạch này:
Điều gì sẽ xảy ra cho sư đoàn nằm trên xa lộ? Nga sẽ cho nổ một chiếc cầu đàng trước, một chiếc cầu đằng sau và lúc đó họ bán vé chỗ ngồi để thiên hạ đến xem và cười vào mặt. Nếu đây là một trò cười, một tiểu đoàn sẽ là một thảm kịch. Phải trải một mặt trận dài 30 dặm để tiến tới và có thể họ xem đây là một cuộc xâm chiếm Đông Đức và đưa đến một cuộc chiến toàn diện.
Tôi càm thấy nhẹ nhõm khi nghe thấy con ngựa chiến già của Anh đã tỏ ra hiểu biết hơn về tính cách phiêu lưu của kế hoạch Live Oak. Bộ tham mưu của Live Oak mãi đến năm 1987 mới được NATO xác nhận, khi họ đeo huy hiệu SHAPE (Supreme Headquarters, Allied Powers Europe, Tổng tham mưu tối cao, Lực lượng Đồng minh châu Âu) trên quân phục của họ, giống như những đội khác của NATO. Tổ chức này vẫn chưa giải tán ngay cả sau khi nước Đức đã thống nhất. May mắn thay, tầm quan trọng của cơ quan này trong chiến lược của Hoa Kỳ đã giảm đi sau khi Khrushchev quyết định không phát động chiến tranh cho một vấn đề riêng biệt của nước Đức. Ngược lại ông tìm kiếm một giải pháp khác và giải pháp này là đúc một bức tường bằng bê-tông.