Sài Gòn, Chuyện Đời Của Phố Tập 2

Lượt đọc: 1422 | 3 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
BỘ TRANH CỦA HỢP TÁC XÃ TRƯỜNG MỸ THUẬT GIA ĐỊNH

Ðược biết đến rộng rãi từ Hội thi “Những cuốn sách vàng” lần thứ 3 năm 2006, bộ tranh Monographie dessinée de l’Indochine (Chuyên khảo có minh họa về Đông Dương) đoạt giải Nhất. Từ sự giới thiệu của báo chí, người đọc khám phá ra những bức tranh minh họa tuyệt đẹp được in thạch bản bằng một kỹ thuật có từ rất sớm nhưng có lẽ đã đạt mức hoàn thiện nên màu sắc, đường nét đẹp và hài hòa. Cảnh sinh hoạt của người dân các vùng miền, nhất là của Nam bộ như kéo quá khứ lại gần hơn. Đó là khoảng ký ức rất cảm động, gần gũi, về cuộc sống cần mẫn ở nông thôn hay chốn thị thành, về những phong tục ma chay cưới hỏi, viếng mộ ngày Tết, thăm viếng đền chùa hay cảnh sinh hoạt đánh cá, làm ruộng, hái cau... cha mẹ, ông bà họ đã trải qua. Thiên nhiên trong tranh tươi tắn như có nắng vàng lấp lánh trên thân dừa, hàng cau, con kinh nước trong xanh, cây cầu khỉ hay trên cái lu đựng nước... Trước đó, năm 1995, nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh in lại 40 bức tranh trong số đó, lấy tên là Sài Gòn - Gia Định xưa - Ký họa đầu thế kỷ 20 và cuốn sách này nhanh chóng được mua hết, trở thành hàng hiếm trên thị trường sách cũ.

Bộ sách này là một công trình của trường Mỹ thuật Gia Định năm 1935 mà người thực hiện là các học sinh đang học tại trường. Chúng ta không biết họ là ai, ngoại trừ một tác giả quen thuộc là họa sĩ Duy Liêm, theo như xác định của giáo sư Đinh Trọng Hiếu ở Paris. Các học sinh đi vào cuộc sống đời thường, ký họa và vẽ lại, rồi dùng kỹ thuật in litho thực hiện. Có tổng cộng 8 tập trong bộ tranh này, vẽ phong cảnh, sinh hoạt, văn hóa, phong tục tập quán… của người dân Đông Dương vào khoảng những năm 30 của thế kỷ 20.

Việc thực hiện bộ tranh này không thể tách rời sự thành lập Hợp tác xã mỹ nghệ của trường Mỹ thuật Gia Định. Thời điểm đó, có thể nói Nam kỳ chưa có một nền mỹ nghệ bản xứ đúng nghĩa ngoài kỹ nghệ kim hoàn ở Sa Đéc và làm đồi mồi ở Hà Tiên. Đầu thế kỷ XX, chính quyền Pháp mở ra liên tiếp các trường Mỹ nghệ Thủ Dầu Một (1901), Biên Hòa (1903), Gia Định (1913). Đội ngũ các thợ mỹ nghệ được sự hướng dẫn của các nghệ sĩ giỏi đã tăng lên và có một số trở nên xuất sắc. Trong các cuộc đấu xảo thuộc địa, khách tham quan triển lãm đều thán phục cách cấu tạo hoàn hảo, sự hoàn thành các kiệt tác của các trường mỹ nghệ ở Nam Kỳ. Sự thành công này đã dẫn tới quyết định tổ chức ở Nam Kỳ các hội tiểu thủ công nghiệp theo kiểu mẫu hợp tác xã đang ăn nên làm ra. Vì thế hợp tác xã (HTX) Mỹ nghệ được thành lập năm 1933 bên cạnh mỗi trường Mỹ nghệ. Ở trường mỹ thuật Gia Định, Hợp tác xã Mỹ nghệ Gia Định được chính thức thành lập vào tháng 7 năm 1933 với cái tên đầy đủ là “Hợp tác xã trang trí, chạm trổ và in li tô Gia Định”. Các xã viên HTX Gia Định thực hiện tất cả các công việc về nghệ thuật vẽ như: tranh vẽ, chạm khắc đồng và in li tô, minh họa sách khoa học và văn chương, họa tiết đường viền và đế đèn, danh thiếp, áp phích. Họ nhận thực hiện theo hợp đồng trang trí tường các ngôi nhà, trang trí vải dùng trong nhà và hàng dệt các loại như thảm treo tường và đăng ten, màn, chao đèn, váy phương Tây, váy Việt Nam và Trung Quốc, băng chéo (đai), cà vạt, khăn tay, quạt,… Các tác phẩm nổi bật của HTX là tranh trang trí, tranh lụa, tranh sơn dầu, tranh ảnh khắc bằng axít, đồ in thạch bản... thể hiện các kiểu mẫu, phong cảnh, cảnh vật, nhân vật địa phương cùng các loại ấn phẩm như bích chương, danh thiếp,… được bày bán rất nhiều ở phòng trưng bày của nhà trường và có thể thực hiện theo hợp đồng.

157

Biểu trưng Hợp tác xã mỹ nghệ Gia Định

Nội dung trang quảng cáo ba trường Mỹ nghệ Nam kỳ đầu thập niên 193:

MỸ NGHỆ NAM KỲ

Hãy đến thăm

Trường Mỹ nghệ GIA ĐỊNH

Tranh vẽ - Chạm khắc - Thạch bản

Trường Mỹ nghệ THỦ DẦU MỘT

Bàn tủ mỹ thuật - Sơn mài - Đồ gỗ

Trường Mỹ nghệ BIÊN HÒA

Đồ gốm - đồ đồng

Và thăm cửa hàng trưng bày thường trực tại “CÁI

CHÙA” 193 đường Catinat

158

Sản xuất ra nhiều sản phẩm có chất lượng tốt, HTX Mỹ nghệ Gia Định tham dự nhiều cuộc triển lãm trong và ngoài nước, ký được nhiều hợp đồng đáng kể ở Pháp. Cho đến năm 1935, hợp đồng về bộ sách chúng ta đang nói tới đã được giao cho Hợp tác xã. Tác phẩm này gồm 17 album, mỗi album 40 trang tranh vẽ, in thành 500 bản. Các tranh vẽ về phong cảnh, nhân vật, công trình, đời sống sinh hoạt của các vùng miền xứ Đông Dương (Việt, Miên, Lào).

Chỉ sau đó ba tháng, hai hợp tác xã trường Mỹ nghệ Biên Hòa và Mỹ nghệ Thủ Dầu Một, Bình Dương được chính thức thành lập và từ đó đã có nhiều thành quả rực rỡ từ các tác phẩm dự đấu xảo ở hội chợ quốc tế. Ba hợp tác xã này, do vị trí địa lý gần nhau đã tạo thành một cung đường nghệ thuật ở miền Nam cho khách yêu thích nghệ thuật trong suốt thời gian dài sau đó. Khách dạo chơi có thể đi qua những phong cảnh đẹp như tranh của xứ Nam kỳ và ghé xem sản phẩm trưng bày ở Gia Định, Biên Hòa và Thủ Dầu Một. Hoặc có thể đến thăm nơi trưng bày thường xuyên các sản phẩm ở trung tâm Sài Gòn tại lầu 1 tòa nhà mang tên La Pagode số 191 và 193 đường Catinat (nay là đường Đồng Khởi).

159

Thầy trò trường Vẽ Gia Định năm 1924. Hàng ngồi từ trái sang, người thứ ba là ông Gaston Huỳnh Đình Tựu, Hiệu trưởng người Việt đầu tiên của trường

• Một số ảnh và tư liệu dùng trong bài của Nguyễn Minh Anh

160

Bức tranh in litho gốc trong bộ sưu tập của Nhà sưu tập Loan De Fontbrune (Paris, Pháp). Kích thước 53,5 cm x 44 cm. Ký tên tác giả là “Công”. Mua từ người buôn tranh và đồ cổ. Tranh này có in trong bộ tranh với tên là “Rạch bordé de cocotiers à Phu-lâm”

161

Tết tại Nghĩa trang Tân Sơn Nhứt

162

Cầu Băng ky

163

Lò gốm Thủ Dầu Một

164

Lễ bàn thờ ông bà

165

Một bữa ăn

166

Mộ một vị quan ở Gia Định

167

Cảnh buôn bán thời Gia Định

168

Kiểu tóc đàn ông nông thôn

• Tranh từ trang 204 - 210 thuộc bộ sưu tập của bà Loan de Fontbrune (Paris - Pháp)

“CON CÔNG VÀ CON CÁO” TRONG TRANH ANDRÉ JOYEUX

Một trăm năm trôi qua từ khi “trường vẽ Gia Định” (Ecole de Dessin), tiền thân của trường Đại học Mỹ thuật TP Hồ Chí Minh ngày nay được thành lập, trước cả trường Mỹ thuật Đông Dương 12 năm. Tuy nhiên, hầu như chúng ta không thể tìm thấy bất cứ tấm ảnh nào của người thầy đầu tiên và là giám đốc của trường này, ông André Joyeux, một họa sĩ từng được công nhận giỏi nhất ở đất nước của mình vào năm 1922 tại Triển lãm quốc gia thuộc địa ở Marseille.

Tài liệu về cuộc đời ông André Joyeux cũng rất ít ỏi, ngay cả trên cuốn Kỷ yếu 100 năm thành lập của Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2013. Trong giới sưu tầm sách quý của Sài Gòn, có vài người sở hữu tập sách do ông vẽ minh họa và làm thơ về cuộc đời Đức Phật mang tựa đề là La Terre de Bouddha. Ông cũng là tác giả một cuốn sách mang cái tựa khá hấp dẫn cho những ai quan tâm đề tài Sài Gòn, đó là cuốn Silhouette Saigonnaises bao gồm 22 tấm, xuất bản tại Sài Gòn năm 1909. Cuốn này hiếm thấy ở Việt Nam.

André Joyeux sinh ra tại Essones (Seine-et-Oise), ngày 18 tháng 4 năm 1871 và tốt nghiệp trường Mỹ thuật ở Paris, ngành học chính là kiến trúc. Sau đó, ông đến Nam kỳ thuộc Đông Dương, làm việc trong bộ phận dịch vụ công cộng với vai trò là phó thanh tra các công trình dân dụng. Năm 1910, ông được bổ nhiệm là giáo sư tại trường Mỹ nghệ Biên Hòa, hiện vẫn còn tồn tại với tên gọi là trường Cao đẳng Mỹ thuật Trang trí Đồng Nai. Trường có các khóa học về mộc, kim loại và đồ gốm. Ở đây ông đã giúp xây dựng một nhóm những người có chuyên môn để sau này góp phần quan trọng thúc đẩy sự phát triển ngành mỹ nghệ ở Nam kỳ và nhiều nơi khác. Ông trở thành thanh tra chính vào năm 1911 và do đó trở thành thanh tra của tất cả các trường mỹ thuật tại Đông Dương. Đến năm 1913, ông trở thành Giám đốc trường Mỹ thuật Gia Định.

Trong suốt cuộc đời, ông thể hiện mình là một họa sĩ vẽ tranh biếm họa có những thành công được ghi nhận. Sau này, dưới bút danh Pierre Ray, ông đã xuất bản các tác phẩm minh họa có phần thần bí nhưng rất lãng mạn, đầy chất thơ của đạo Phật như đã nói ở trên. Hai tập của chủ đề này xuất bản vào năm 1923. Sau thời gian đó, André Joyeux không còn thấy được đề cập trong những thư mục về những nhân vật quan trọng ở Đông Dương. Có tài liệu cho rằng ông làm việc tại trường cho đến năm 1926, sau đó trở về Pháp và qua đời tại quê nhà.

Ở bài viết này, chúng tôi muốn nhắc đến một tập tranh biếm họa quan trọng do ông thực hiện năm 1912, cuốn La vie Large des Colonies , có phiên bản tiếng Anh là Colonial Good Life (Cuộc sống tốt đẹp ở thuộc địa).

Joyeux không phải là người đầu tiên hay duy nhất là người sử dụng tranh biếm họa để ghi lại cuộc sống ở thuộc địa. Trong những năm 1880, tức là sau khi Pháp áp đặt ách thống trị thực dân của mình chưa tới 20 năm, đã có một số tạp chí ở Sài Gòn và Hà Nội thực hiện những tranh biếm họa thường xuyên chế giễu những thông lệ và tập tục của cuộc sống Pháp ở nước ngoài. Với sự hài hước đầy châm biếm, chủ đích của Joyeux là mô tả những căng thẳng, nghịch lý, và ngụy biện của luật lệ Pháp ở Đông Nam Á. Cho dù là một quan chức của chế độ thực dân thống trị xứ thuộc địa, ông thể hiện sự mẫn cảm, chán chường và có ý khinh bỉ chế độ và tính cách thực dân của những viên chức từ Pháp sang áp chế người dân Việt thuộc địa. Hình ảnh của ông được thực hiện bằng bút mực tuy có phong cách tương đối đơn giản, nhưng đã thành công trong việc nắm bắt chi tiết quan trọng của cuộc sống hàng ngày.

Trong đó, ông như một người đi rong chơi, ngồi trong một quán cà phê và xem thế giới xung quanh. Ông thấy rõ tính chất thực dân suy đồi, tàn bạo và tham lam. Ông nhìn ra sự đối đầu của người Việt thời phong kiến suy tàn, kiêu hãnh nhưng yếu đuối như một con công trước một tên thực dân khôn ranh như một con cáo già. Ông mô tả người Việt, người Hoa và những người Ấn chuyên cho vay tiền ở Sài Gòn (người Việt gọi là “xã tri” hay Chà Chetty) hối hả kiếm sống trong trật tự của nếp sống thực dân. Ông cho thấy những nhỏ nhen và tầm thường của các cá nhân được giao nhiệm vụ xây dựng đế chế của Pháp. Tuy nhiên, ngòi bút của ông không mất cái nhìn nhân bản. Ông miêu tả và phản ánh về cuộc chiến thường xuyên với bệnh tật và khả năng bị tử thần lôi kéo đối với những quan chức thực dân phải đến đất Đông Dương này. Ông quan sát cộng đồng người định cư, người quản lý và những người lính - những người đã rời quê hương của họ để đi tìm lợi ích, thám hiểm, và phục vụ “Sứ mệnh khai sáng” của người Pháp. Họ sống trong nền văn minh đô thị, là cư dân ở các thành phố ở Đông Dương như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, và Phnom-Penh của Campuchia. Túm tụm cùng với nhau trong mảnh đất xa lạ này, họ mong muốn trở về tổ ấm, tìm cách tái tạo lại các nơi quen thuộc họ đã từng sống ở chính quốc. Lợi dụng sức mạnh to lớn mà họ được hưởng trong cuộc chinh phục, thực dân Pháp xây dựng nền văn hóa giải trí, xa hoa, và đặc quyền ở tầng lớp ưu tú chủng tộc da trắng. Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại mối đe dọa từ nhiều người Việt, Khmer, và những người bản địa khác không cam chịu sự mất mát chủ quyền của mình, từ các loại bệnh nhiệt đới, từ bản chất bí hiểm của những người châu Á mà họ sống cùng, luôn tạo nên một mức độ lo lắng nhất định trong tâm trí của người Pháp. Mặc dù có nhiều tiện nghi, họ thường không thoải mái.

Joyeux không phải là người đầu tiên hay duy nhất là người sử dụng tranh biếm họa để ghi lại cuộc sống ở thuộc địa. Trong những năm 1880, tức là sau khi Pháp áp đặt ách thống trị thực dân của mình chưa tới 20 năm, đã có một số tạp chí ở Sài Gòn và Hà Nội thực hiện những tranh biếm họa thường xuyên chế giễu những thông lệ và tập tục của cuộc sống Pháp ở nước ngoài. Với sự hài hước đầy châm biếm, chủ đích của Joyeux là mô tả những căng thẳng, nghịch lý, và ngụy biện của luật lệ Pháp ở Đông Nam Á. Cho dù là một quan chức của chế độ thực dân thống trị xứ thuộc địa, ông thể hiện sự mẫn cảm, chán chường và có ý khinh bỉ chế độ và tính cách thực dân của những viên chức từ Pháp sang áp chế người dân Việt thuộc địa. Hình ảnh của ông được thực hiện bằng bút mực tuy có phong cách tương đối đơn giản, nhưng đã thành công trong việc nắm bắt chi tiết quan trọng của cuộc sống hàng ngày.

Trong đó, ông như một người đi rong chơi, ngồi trong một quán cà phê và xem thế giới xung quanh. Ông thấy rõ tính chất thực dân suy đồi, tàn bạo và tham lam. Ông nhìn ra sự đối đầu của người Việt thời phong kiến suy tàn, kiêu hãnh nhưng yếu đuối như một con công trước một tên thực dân khôn ranh như một con cáo già. Ông mô tả người Việt, người Hoa và những người Ấn chuyên cho vay tiền ở Sài Gòn (người Việt gọi là “xã tri” hay Chà Chetty) hối hả kiếm sống trong trật tự của nếp sống thực dân. Ông cho thấy những nhỏ nhen và tầm thường của các cá nhân được giao nhiệm vụ xây dựng đế chế của Pháp. Tuy nhiên, ngòi bút của ông không mất cái nhìn nhân bản. Ông miêu tả và phản ánh về cuộc chiến thường xuyên với bệnh tật và khả năng bị tử thần lôi kéo đối với những quan chức thực dân phải đến đất Đông Dương này. Ông quan sát cộng đồng người định cư, người quản lý và những người lính - những người đã rời quê hương của họ để đi tìm lợi ích, thám hiểm, và phục vụ “Sứ mệnh khai sáng” của người Pháp. Họ sống trong nền văn minh đô thị, là cư dân ở các thành phố ở Đông Dương như Sài Gòn, Hà Nội, Hải Phòng, và Phnom-Penh của Campuchia. Túm tụm cùng với nhau trong mảnh đất xa lạ này, họ mong muốn trở về tổ ấm, tìm cách tái tạo lại các nơi quen thuộc họ đã từng sống ở chính quốc. Lợi dụng sức mạnh to lớn mà họ được hưởng trong cuộc chinh phục, thực dân Pháp xây dựng nền văn hóa giải trí, xa hoa, và đặc quyền ở tầng lớp ưu tú chủng tộc da trắng. Tuy nhiên, vẫn luôn tồn tại mối đe dọa từ nhiều người Việt, Khmer, và những người bản địa khác không cam chịu sự mất mát chủ quyền của mình, từ các loại bệnh nhiệt đới, từ bản chất bí hiểm của những người châu Á mà họ sống cùng, luôn tạo nên một mức độ lo lắng nhất định trong tâm trí của người Pháp. Mặc dù có nhiều tiện nghi, họ thường không thoải mái.

169

Bìa sách tiếng Anh (được dịch từ bản gốc tiếng Pháp của André Joyeux)

Cuốn sách được chia làm năm phần, trong đó phần đầu bối cảnh ở Sài Gòn, cảng lớn của Pháp ở châu Á. Phần lớn tranh vẽ mô tả các thủy thủ đang... trên bờ. Bất cứ ai đã sống gần một căn cứ hải quân sẽ nhận ra những điều thường thấy: nhậu nhẹt say sưa, giao du với gái điếm, hành xử ồn ào và bạo lực. Đó là cảnh sống ở thành phố cảng thuộc địa. Có khi là cảnh tượng thô bạo khi một thủy thủ Pháp đá mạnh vào mông một người phu xe kéo như một cách trả công. Hành động tàn bạo này vô cùng hiếm trên đường phố của Pháp, nhưng nó phổ biến trong xã hội đầy phân biệt chủng tộc của thế giới thuộc địa. Còn có những câu chuyện khác: sự suy đồi của cuộc sống thuộc địa, sự tha hóa của những thực dân trắng u sầu, buồn chán dẫn đến chứng nghiện rượu. Điều này phản ánh sự căng thẳng xã hội đang diễn ra giữa dân thường Pháp, sĩ quan và thủy thủ trên đường phố Sài Gòn.

170

Sự đối đầu của con công và con cáo: Vẻ kiêu hãnh, tự tin của tầng lớp quan lại phong kiến đối đầu với những biểu hiện và bản chất xảo quyệt, dối trá và cáo già của tên quan chức thực dân Pháp

171

Cảnh thường thấy gần căn cứ của lính hải quân ở Sài Gòn. Chứng nghiện ngập giúp những người lính thực dân xả được những căng thẳng, lo lắng hằng ngày khi đối đầu với sự chống đối của dân chúng Việt và bệnh tật xứ nhiệt đới

Những phần sau, về những phụ nữ Pháp vợ các quan chức thích tận hưởng những thú xa hoa của thuộc địa, về sự cai trị khinh khỉnh đối với đồng nghiệp Việt, Hoa dưới bàn tay các ông sếp Pháp mạnh mẽ, xảo quyệt, những trận chiến liên tục với bệnh tật, trong đó có một bức chân dung cảm động của một người vợ trẻ nhận được tin về cái chết của chồng. Có khi là sự lém lỉnh và tha hóa của người dân thuộc địa, luôn tìm cách kiếm thêm ít tiền mặt bằng mọi cách. Bên cạnh đó, họa sĩ thể hiện người đàn ông thực dân như kẻ săn tình luôn lợi dụng sức mạnh đồng tiền để được đáp ứng ham muốn. Những bức tranh khác mô tả một người Pháp to lớn đánh đập đầy tớ của mình. Trong phần “Những tên cướp biển”, ông mô tả người Pháp như bọn cướp biển tham lam vơ vét những cổ vật quý của tổ tiên những người dân thuộc địa để lại. Phần cuối cùng, “Vui sống”, cung cấp tóm lược về cuộc sống thời thuộc địa. Ở đó có sự lo lắng thường xuyên về sức khỏe và tiềm năng của một cái chết không tránh khỏi, các mối quan hệ không thoải mái giữa thực dân và thuộc địa, và sự buồn chán của đời sống lưu vong có thể dẫn đến một kết cục tệ hại bao gồm ám ảnh tình dục và bị thuốc phiện quyến rũ. Đáng chú ý là hình ảnh của phụ nữ trong xã hội thời ấy. Bên cạnh phụ nữ châu Á được giả định là công cụ tình dục có sẵn để đáp ứng mong muốn của thực dân da trắng, là đám phụ nữ da trắng, suy đồi và lười biếng, với cuộc sống như bị mắc kẹt trong cái lồng mạ vàng, đơn điệu và buồn tẻ.

Qua trang phục các nhân vật, ta thấy diện mạo một tầng lớp người Sài Gòn đầu thế kỷ hiện ra, lam lũ và nghèo khổ, khổ sở gầy gò như anh xe kéo, những người khách trú còn mang đuôi sam trong Chợ Lớn trong quán rượu phục vụ lính Tây hay bận áo xẩm hầu hạ bà đầm, những người đàn ông Việt chưa cởi bỏ lớp áo the đen, khúm núm phục vụ lớp quan chức Tây với nét mặt cam chịu hay người phụ nữ quấn khăn đi với ông Tây to đùng, nét mặt vừa kênh kiệu vừa có gì sượng sùng trước cái nhìn của đàn ông Việt đồng chủng… Với nét vẽ sắc sảo chuyên nghiệp, Họa sĩ André Joyeux đã đặc tả tuyệt vời ngoại hình và nội tâm của họ, không thua những bức ảnh chụp.

172

Mô tả về tên người lính thực dân nổi tiếng về hành vi ngược đãi và bạo lực trong thành phố, cũng như cuộc sống khốn khổ của những phu kéo xe Việt Nam

Cuốn sách này là một đóng góp không nhỏ của ông André Joyeux trong việc phơi bày đời sống thuộc địa đầy những mâu thuẫn, trên đường phố, dưới mái từng ngôi nhà và trong nội tâm của con người, chủ yếu của những người đi áp bức, đè nén cuộc sống của dân tộc một đất nước khác. Chủ nghĩa thực dân thảm hại, lạm dụng bạo lực, đầy rẫy bất công trắng trợn cùng thói đạo đức giả, suy đồi, tha hóa, tham lam, sống theo bản năng và cả nỗi sợ hãi của con người thuộc địa một trăm năm trước… trình bày trọn vẹn trong chỉ hơn 50 tấm tranh. Giá trị tố cáo, không chỉ như vậy, còn là cái nhìn nhân bản về chế độ thuộc địa cũ càng mà André Joyeux trải qua và ghi lại, từ trăm năm xưa.

173

Sự trả thù của thực dân Pháp khi đụng phải sự phản kháng của người dân thuộc địa. Các nhiếp ảnh gia đang chụp những bức ảnh, nhiều khả năng sẽ được sử dụng như bưu thiếp, việc hành quyết các cá nhân bị kết tội trong một âm mưu ngộ độc. Có một vài sự cố như vậy, nổi tiếng nhất là nỗ lực đầu độc toàn bộ lính đồn trú Hà Nội vào năm 1908 mà Pierre Dieulefils đã thực hiện một loạt bưu thiếp về sự kiện này

174

Những bà nội trợ giỏi: “Tôi nên mua cái gì?”

“Tôi không quan tâm... bà biết phải làm gì mà...”

Ở đây Joyeux chế giễu các bà nội trợ thuộc địa được cho là lười biếng và phù phiếm. Họ không quản lí người hầu của mình, và chỉ đơn giản là đưa về để làm việc nhà. Người vợ Pháp ở tầng lớp trung lưu ở thuộc địa đã thiếu trách nhiệm trong việc nội trợ

175

“Nếu ông muốn, thưa ông, em gái tôi hoàn toàn trinh nguyên có thể làm người vợ cho ông”

Trong bức này, Joyeux nêu tính thực tế của một số người xứ thuộc địa, khi người đầy tớ chào bán em gái của mình như một “congai”, một cách gọi thiếu nữ của người Pháp. Điều đáng chú ý là nền kinh tế thuộc địa khá khẩm đáp ứng tất cả các nhu cầu cho những thực dân Pháp đến đây định cư

176

Những người phụ nữ Việt sống với thực dân Pháp chịu đựng cái nhìn căm ghét của người bản xứ

177

Trong mắt của Joyeux, xã hội Việt Nam thuộc địa là xã hội của những tên cướp biển. Trớ trêu là dù trên thực tế quân đội Pháp thường xuyên phải mạo hiểm chống lại cái gọi là cướp biển ở đồng bằng Bắc bộ và các kế hoạch xâm nhập vào đất liền, dù thực dân Pháp ở đây để được cho là thiết lập và duy trì trật tự, tác giả trình bày họ như những tên cướp tồi tệ nhất. Họ vơ vét tất cả, những đồ vật quý báu và tôn quý của nước Việt cổ xưa

178

Tranh minh họa màu nước của André Joyeux trong cuốn La Terre de Bouddha

179
180

Bảo tàng Mỹ thuật TP.HCM.

Ảnh: Peter Stuckings / Shutterstock.com

CHUYỆN VỀ BỨC TRANH “KHỞI NGHĨA”

Năm 1970, họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh đang giảng dạy tại trường Mỹ nghệ Biên Hòa. Nhân lúc rảnh rỗi, ông vẽ một bức tranh lụa vốn là sở trường, lấy đề tài là Khởi nghĩa. Bức tranh thể hiện ba người đàn ông đứng tựa lưng vào nhau. Người đứng chính diện khoanh tay trước bụng, thanh gươm còn trong vỏ đeo bên thắt lưng, đôi mắt nhìn xuống ra chiều đăm chiêu suy nghĩ. Người đứng bên trái bức tranh cầm cung trên tay, người đứng bên phải cầm quyển binh thư trên tay phải và thanh gươm bên tay trái. Khác với người đứng giữa bới tóc, hai nhân vật hai bên đều quấn khăn, ra dáng sĩ phu hơn là binh sĩ. Cả ba đều có cái nhìn trầm tư, suy nghĩ, mày lưỡi mác giương cao. Các hình tượng trong tranh đều tĩnh, cho dù tên bức tranh Khởi nghĩa thể hiện sức đột phá, sự biến đổi mạnh mẽ. Mấy thanh tre vót nhọn như chuẩn bị sẵn. Tất cả như là mũi tên, chực lao đi nhưng thực tế chỉ như cánh cung đang giương lên. Phía sau ba người là liễn chữ Nho mang dòng chữ “Thất phu hữu trách”, là đoạn sau của câu tục ngữ Hán Việt nổi tiếng “quốc gia hưng vong thất phu hữu trách” (Nước nhà hưng thịnh hay lúc suy vong, dân thường cũng phải có trách nhiệm).

Nhìn ngắm bức tranh, thấy rằng cái tên “Trước ngày khởi nghĩa” có lẽ thích hợp hơn. Tâm trạng ba chàng trai thời “xếp bút nghiên theo việc đao cung” đầy vẻ rắn rỏi nhưng có gì đó trầm tư, suy tính và chấp nhận bước vào cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, dù chỉ là kẻ “thất phu”, người dân áo vải vô danh. Sự thể hiện hơi mang tính tượng trưng như một thủ pháp của sân khấu. Họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh thừa nhận như vậy. Ông nói: “Tôi nhận thấy bức tranh hơi có tính sân khấu, nên chưa cảm thấy hài lòng về nó”.

Họa sĩ nào cũng có những bức tranh mà bản thân không cảm thấy vừa lòng. Nhưng bức tranh Khởi nghĩa lại có số phận không bình thường. Khi vẽ xong, một người thân quen của tác giả là họa sĩ Văn Ý đến thăm. Thấy bức tranh này, ông Văn Ý tỏ ý muốn mang về Sài Gòn để dự cuộc thi Văn học Nghệ thuật Quốc gia hằng năm. Ông Hoanh vốn dễ tính, sao cũng được. Bức tranh được mang đi.

Câu chuyện dần quên đi cho đến khi báo chí công bố giải thưởng Văn học Nghệ thuật quốc gia đầu năm 1970, thông báo 12 bộ môn văn học nghệ thuật được trao giải, bao gồm Hội họa, Nhiếp ảnh, Văn, Thơ, Kịch nói, Biên khảo, Ca kịch, Điêu khắc, Âm nhạc, Điện ảnh.v.v... Bức Khởi nghĩa của ông Nguyễn Hoàng Hoanh được trao giải Nhất, giải cao nhất bộ môn Hội họa với trị giá giải thưởng là 200.000 đồng, cộng thêm 20.000 đồng để đi du khảo tại Huế và Văn bằng, Huy hiệu kỷ niệm. Giải nhì là bức tranh Một ngày qua của họa sĩ Đỗ Quang Em và giải ba là bức Phân hóa của họa sĩ Trương Đình Hải. Cùng nhận giải trong các bộ môn khác có những tác giả và tác phẩm nổi tiếng như: Biên khảo Việt sử có giải Nhất cho Lịch sử nội chiến ở Việt Nam từ 1771-1802 của Tạ Chí Đại Trường. Văn có giải Nhất cho Những sợi sắc không của Túy Hồng. Thơ có giải Nhất cho tập Sầu ở lại của Tạ Ký. Điêu khắc có giải Nhì cho tượng của Lê Thành Nhơn...

181

Bức Khởi nghĩa , giải nhất Văn học Nghệ thuật Quốc gia 1970 tại Sài Gòn

182

Họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh thời trẻ và hiện nay

Ngày đến nhận giải, tất cả quan khách đều mặc complet đen rất trang trọng. Sau khi lên nhận giải, họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh thấy có một ký giả đến nói nhỏ: “Ông có biết một chữ Hán trong tranh bị viết sai không?!”. Ông Hoanh toát mồ hôi. Trong bốn chữ “Thất phu hữu trách”, chữ Thất ở đây mang nghĩa là tầm thường, hèn mọn, nhưng trên tranh là chữ Thất có nghĩa là Nhà. Số là khi vẽ bức này, ông đã nhờ một học trò ở trường Mỹ nghệ Biên Hòa về hỏi gia đình vốn có người biết chữ Nho để ghi lại giúp. Họ viết sai, ông viết sai theo và cuối cùng bức tranh lại được soi rất kỹ dưới bao nhiêu quan khách và ký giả đến dự.

Ngay sau đó, ông Hoanh vội tìm người thầy dạy tranh lụa của ông ở trường Mỹ thuật Gia Định là họa sĩ Đới Ngoạn Quân, vốn là người gốc Hoa để hỏi ý kiến. Ông Quân khuyên ông Hoanh tìm cách chỉnh sửa ngay. Cho dù đây là một lỗi nhỏ không ảnh hưởng đến bố cục và tư tưởng của tranh, tuy nhiên nếu để yên thì sẽ là chuyện lớn. Ngay sau đó, ông Hoanh tìm gặp ban tổ chức để xin sửa lại chữ “Thất” bằng cách vẽ chồng lên. Ban tổ chức đồng ý với một việc ngoại lệ, là nhúng bút sửa tranh sau khi chấm giải.

Kể về chuyện này, ông Hoanh cho đó là một kỷ niệm khó quên trong cuộc đời nghệ thuật của mình.

Vốn xuất thân là sinh viên Mỹ thuật Gia Định năm 1959, họa sĩ Nguyễn Hoàng Hoanh gắn bó với sự nghiệp đi dạy hội họa, từ trường Mỹ nghệ Biên Hòa cho đến khi quay trở lại làm giảng viên của ngôi trường Mỹ thuật Gia Định nơi từng học hồi còn trai trẻ. Ông trung thành với tranh lụa, cho dù có lúc vẽ màu nước và sơn dầu. Tuy vậy, dù với chất liệu nào, tranh của ông cũng có vẻ mơ màng dịu nhẹ của tranh lụa. Nhân vật trong tranh thường là các thiếu nữ, người già, em bé của cuộc sống đời thường đậm chất Nam bộ. Cuộc sống trên tranh của ông không u ám, như thường thấy trên các bức tranh lụa cổ điển, mà là bừng sáng một cách dịu dàng, qua thiên nhiên hoa lá rực rỡ, vẻ mắt tươi sáng, bình thản của các thiếu nữ, em bé và cả người già. Có sự chân tình, hiền hậu, chất phác và một nỗi buồn nhẹ trong tranh của họa sĩ năm nay đã gần bước vào tuổi tám mươi này.

183

Mẹ con (lụa) khổ 50x65cm

184

Một ván cờ ba thế hệ (lụa) khổ 65x81cm

185

Bà Út bánh dừa (lụa) khổ 80x100cm

186

Giấc mơ (lụa) khổ 45x60cm

QUÊ HƯƠNG DIỄM ẢO CỦA LOAN DE FONTBRUNE

Một buổi chiều tháng 3 năm 1994, có một thiếu phụ đến thăm cụ Vương Hồng Sển và được Cụ tiếp ở trong sân vườn phía sau nhà. Cô nhắc về ông bà nội mình là ông Chưởng khế Đoàn Bá Lộc và bà Sáu Nhân, vốn là người quen cũ của ông ở Sa Đéc. Cụ Sển hỏi thăm về ông Chưởng khế, hỏi về số sách quý khi sang Pháp năm 1979 có mang theo được không. Cụ Sển cho cô xem một số đồ cổ và sau đó khách ra về.

Cuộc gặp chóng vánh đó được cụ Sển ghi lại trong cuốn Tạp bút năm 1994 vừa xuất bản đầu năm nay: “ ...Khách này ra về để lại một bức danh thiếp, tôi tiễn khách ra về rồi ăn năn không kịp vì vị khách này, danh thiếp đề:... Tôi viết đến đây và chực viết tên họ của thiếu nữ tân khách của tôi ra đây, nhưng chợt nghĩ lại và không viết, vì thiếu nữ trên danh thiếp là mạng phụ của một dòng tộc (dòng đơ “de Fontbr...) thiếu nữ này là nhân viên “đặc cách” (chargée de mission) của viện trứ danh Musée Guimet ở Paris của Pháp - cho hay năm 1963, tôi đã từng qua học tập tại viện này về khoa đồ cổ từ tháng sáu... và tôi nói hối hận vì không được tiếp xúc lâu với thiếu nữ này để học mới thêm chút ít về chuyên môn khảo cứu... ”

Hai mươi năm sau, chị Loan De Fontbrune vẫn nhớ cuộc gặp đó. Ghé thăm cụ Sển, không chỉ để tìm hiểu về thú chơi cổ ngoạn. Đó là chút thời gian trở về quá khứ, khi chị còn là nữ sinh trường Tây, chớm thích hội họa và cổ ngoạn, từng tìm đến nhà vài họa sĩ để mua tranh. Khi gặp cụ Sển, chị như sống lại với ông bà nội những ký ức thời Pháp thuộc, khi bà nội còn quen biết bà Dương Thị Tuyết vợ trước cụ Sển, chơi thân với bà Marguerite Duras và bà Năm Sa Đéc, người vợ sống cho đến cuối đời với cụ Sển.

Con đường trở thành chuyên gia nghiên cứu và sưu tầm nghệ thuật tại Paris của chị Loan là chặng đường dài luôn được dẫn dắt từ ngọn lửa đam mê mạnh mẽ. Ba mất sớm, chị sống cùng với mẹ và người cha kế là bác sĩ phẫu thuật ở Sài Gòn. Ham đọc sách, chị khám phá trong sách thế giới của nghệ thuật. Chị học tiếng Pháp từ mẫu giáo, học trung học ở trường Marie-Curie, đậu tú tài Pháp năm 1977. Năm 1979, vì ông nội có quốc tịch Pháp nên cả nhà sang Pháp sinh sống. Ra đi ở tuổi hai mươi, quý nhất trong hành trang mang theo của chị là ba bức tranh lụa của họa sĩ Tú Duyên và bốn bức tranh nhỏ chạm ngà của họa sĩ Đới Ngoạn Quân. Qua Pháp, chị học 7 năm ở Viện Ngôn ngữ và Văn minh phương Đông gọi tắt là Langues’O, nổi tiếng dạy về các sinh ngữ và văn hóa của Á châu. Chị tốt nghiệp, lấy bằng về tiếng Việt, Hoa và Nhật.

Trong thời gian học Đại học, năm 22 tuổi chị được chọn làm Hoa hậu trong cuộc thi Hoa hậu Á châu do người Hoa ở Paris tổ chức lần đầu ở quận V, giải nhất là một vé khứ hồi đi Hong Kong. Chị toại nguyện giấc mơ đến du lịch Trung Hoa khi còn học tiếng Hoa.

Học ngôn ngữ xong, chị tiếp tục giấc mơ đến với nghệ thuật của mình: học mỹ thuật Châu Á tại Ecole du Louvre, Institut d’Art et d’Archéologie, Đại học Sorbonne,… Vừa học, chị tự tìm tòi, sưu tầm và nghiên cứu thêm về mỹ thuật Việt Nam. Lúc đó ở Pháp không có nhiều người chuyên môn về văn hóa Việt. Chị tìm hiểu và học cách phân biệt đồ cổ Việt Nam với đồ của các xứ châu Á khác và dần đi sâu vào ngành này. Chị được nhận làm việc với chức danh là nhân viên “đặc cách” (Chargée de mission) của bảo tàng Guimet (Musée National des Arts Asiatiques) khu vực Đông Nam Á. Chị được phép mở các tủ kính trưng bày để chạm vào các hiện vật quý, nghiên cứu các hiện vật trong kho. Nhờ vậy, chị phát hiện nhiều tượng gỗ sơn son thếp vàng, bàn thờ, chuông và khánh đồng của Việt Nam rất đẹp nhưng ở bảo tàng không rõ xuất xứ từ đâu. Từ đó, một số bức tượng được đem ra khỏi kho để trùng tu, trưng bày. Sau đó, các bảo tàng khác của nước Pháp (Bảo tàng Lịch sử tự nhiên Paris-Museum d’Histoire Naturelle de Paris, Bảo tàng quốc gia về gốm sứ Sèvres-Musée National de la Céramique de Sèvres, Bảo tàng Limoges-Musée de Limoges,…) mời chị vào kho để giám định các hiện vật. Chị tìm được nhiều món gốm Việt ở các bảo tàng này, ví dụ bộ đồ trà Bát Tràng mà Sứ đoàn của cụ Phan Thanh Giản đã tặng cho bảo tàng Sèvres mà chị đã từng nghe kể.

Trong năm năm làm việc ở đây, chị viết nhiều bài về đồ sứ ký kiểu cung đình Huế (bài nghiên cứu đầu tiên về đề tài này ở Pháp), các lăng tẩm triều Nguyễn; thuyết trình về văn hóa Việt,… Chị giúp Bảo tàng Hoàng gia Bỉ tổ chức cuộc triển lãm đầu tiên ở nước ngoài về mỹ thuật Việt Nam. Nhờ làm việc ở đây, chị có dịp đến nhà các tư nhân để xem các hiện vật của Việt Nam mà họ muốn tặng cho Bảo tàng Guimet, phần lớn do ông bà, cha mẹ khi xưa sống ở Việt Nam để lại.

187

Loan De Fontbrune ngày đậu tú tài trường Marie Curie, lãnh thưởng cuốn sách hội họa của Danh họa Van Dongen

188

Trong vương miện Hoa hậu châu Á ở Paris năm 1981

Ảnh do nhân vật cung cấp

Khi Bảo tàng Guimet đóng cửa để sửa chữa, chị trở về sống ở Việt Nam trong bảy năm, tham gia khai quật các lò gốm xưa ở Bình Định (Gò Hời) với Bảo tàng Hoàng gia Bỉ (tài trợ) và Viện Khảo cổ Hà Nội, bảo tàng Bình Định.

Niềm say mê nghệ thuật từ nhỏ cùng với ngành học chuyên môn khiến chị nghĩ đến việc sưu tầm nghệ thuật rất sớm. Mỗi khi tình cờ thấy đồ Việt Nam ở Pháp, một cái khay trầu, cái dĩa đồ sứ men lam Huế, chị như được gặp một người đồng hương hay bạn cũ. Nhiều vật đối với chị như có linh hồn, có lịch sử, có chuyện để kể. Khi có hiện vật trong tay, chị muốn tìm hiểu và nghiên cứu sâu, biết thêm được nhiều điều thú vị.

Sống ở Paris, được thấy tranh đẹp của các họa sĩ nổi tiếng, chị rất mê nhưng đang là sinh viên nên không mua nổi. Sau này khi lập gia đình, chồng của chị là chủ galerie Cahiers d’Art nổi tiếng, chuyên nghiệp trong lĩnh vực sách và mỹ thuật hiện đã giúp chị sưu tầm tranh Việt Nam mà cách nay 25 năm ít ai quan tâm. Ở Pháp có nhiều tranh của các họa sĩ mỹ thuật Đông Dương mà người Pháp mua vào những năm 1930 ở Việt Nam hay ở Paris trong các triển lãm. Đó là một thời kỳ phát triển hội họa vàng son nhất của mỹ thuật hiện đại Việt Nam. Chị bắt đầu mua tranh Lê Phổ, Vũ Cao Đàm, Mai Trung Thứ,... là các tác giả sống ở Pháp, có thể mua qua các buổi đấu giá. Rồi có khi “của tìm người”, nhờ bạn bè giới thiệu hay chính người bán mang tranh đến chào. Chị bỏ công sức theo dõi tất cả các cuộc đấu giá ở Pháp và các nước, đến xem triển lãm và mua tranh, rảo các chợ trời bán đồ cổ hay mua thẳng từ họa sĩ hoặc gia đình của họ... Về sau, biết dễ bị thách giá vì ham mua, chị đấu giá qua điện thoại.

Qua thời gian, bộ sưu tập của chị, riêng về tranh có khoảng 500 tấm, gần như đầy đủ các họa sĩ nổi tiếng của Việt Nam và Pháp thời kỳ trên. Trong đó cũng có những bức tranh đẹp của họa sĩ ít tiếng tăm hơn, mua để nghiên cứu. Ngoài tranh, còn có các chủ đề khác như tài liệu, hình ảnh, bưu thiếp, sách vở xưa, đồ gốm, đồ gỗ, đồ cẩn ốc, đồ đồng, đồ thêu, cổ vật thời nhà Nguyễn, tranh, tượng, bàn ghế, vật dụng các dân tộc ít người...

Vài bức tranh quý hiếm nhất mà chị có, gắn với những kỷ niệm đẹp khi đi mua tranh. Đa số đều có tiểu sử và nguồn gốc rõ ràng mà dưới con mắt chuyên môn, chị đã nghiên cứu, tìm đọc tài liệu và thư từ của ông Giám đốc đầu tiên Mỹ thuật Đông Dương, Victor Tardieu và các catalogues triển lãm xưa ở Pháp. Trong đó có những bức như Jeunes femmes prenant le thé của Vũ Cao Đàm, Deux jeunes filles của Mai Trung Thứ, Les Cannas của Nguyễn Tường Lân, là một bức lụa rất hiếm của hoạ sĩ nổi tiếng này. Trong số đó, có những kỷ niệm chị còn lưu:

Một hôm, chồng chị đến nhà một bà cụ ở Paris cần bán sách để chia gia tài cho con cháu. Bước vào nhà, ông thấy bức tranh lụa trên tường nên hỏi thăm. Bà cụ nói bức này được ông chồng mua tặng lúc mới cưới nhau, đã được in trong tạp chí l’Illustration, số Noël 1932. Bà nói bức này treo trên tường từ đó đến nay và đồng ý bán cho “cô vợ Việt Nam” sưu tầm tranh Việt của khách. Chị rất mừng khi nhận bức tranh vì nó vô cùng quý giá, đó chính là bức Lên đồng của họa sĩ tài danh Nguyễn Phan Chánh. Bà cụ, tên là Pierre Massé viết giấy chứng nhận để lại bức tranh cho chị, nêu cái tên mà chị thuộc lòng từ lâu qua chú thích trong tờ tạp chí: “Les sorcières, sưu tập P. Massé”. Chị không ngờ có ngày mình tìm lại được và sở hữu bức tranh ngỡ đã thất lạc từ lâu. Chị nghĩ đúng hơn, bức tranh đã tìm ra chị..!

Bức La classe familiale của họa sĩ Phạm (Quang) Hậu là một bức lụa hiếm hoi vì tác giả chuyên vẽ sơn mài. Số là chị có một cô bạn làm y tá, người Pháp. Khi đến chăm sóc một bà cụ, cô bạn phát hiện bức tranh nằm trên tường rất đẹp. Hỏi ra, bà cụ cho biết khi dọn về căn hộ này cách nay vài chục năm đã thấy nó nằm trên tường do người chủ cũ bỏ lại. Qua sự giới thiệu của cô bạn, chị rất sung sướng mua được bức này.

Có lần, chị đến phòng đấu giá Paris và lần đầu thấy hai bức tranh lụa quý hiếm của họa sĩ Tô Ngọc Vân nổi tiếng về sơn dầu, được bán bởi con trai của bác sĩ nổi tiếng Pierre Huard (đã viết quyển Connaissance du Viet Nam ). Rất tiếc hai bức tranh đẹp này tuy được chị đẩy giá rất cao nhưng không mua được. Vài năm sau, chồng của chị đến một galerie ở Paris đã mua tặng sinh nhật chị bức tranh lụa “Les brodeuses” , là một trong hai bức đã bị vuột mất trước kia.

189

Về bức “La couturière” của họa sĩ Nguyễn Văn Thịnh. Bức lụa này có lẽ là duy nhất và rất quý hiếm của ông. Chị không biết họa sĩ Nguyễn Văn Thịnh là ai, người bán cũng không biết. Sau này, xác định được họa sĩ này tốt nghiệp thủ khoa Khóa IV Trường Cao đẳng Mỹ thuật Đông Dương (1928-1933).

Bức sơn mài lớn thật đẹp “La rencontre” của họa sĩ Nguyễn Tiến Chung là bức tranh đã được tặng cho bà Mộng Điệp, thứ phi của Vua Bảo Đại, khoảng đầu thập niên 1950 khi bà ở Ban Mê Thuột. Lúc bà còn sống ở Paris, chị thường đến nhà bà thăm viếng và trò chuyện cả ngày. Bà thương chị, thường kể chuyện xưa trong cung, về mẹ vua Bảo Đại, Nam Phương hoàng hậu, về ấn kiếm… và cho xem hình ảnh xưa. Bà đã để lại cho chị bức tranh này, nhiều đố sứ ký kiểu cung đình Huế khác của vua Bảo Đại...

Nhờ có nhiều tranh của các họa sĩ trường Mỹ thuật Đông Dương, chị được giới nghệ thuật Paris biết đến. Các nhà đấu giá, chuyên môn thường nhờ chị thẩm định giúp tranh Việt, thật, giả. Lợi thế của chị là có tranh gốc để nghiên cứu, so sánh cũng như kinh nghiệm, quen nhìn tranh. Đến năm 2012, bảo tàng Cernuschi (Paris) có ý định tổ chức triển lãm về Việt Nam cho Năm chéo Pháp-Việt, chị đề nghị tổ chức triển lãm tranh Việt Nam và các thầy trò của trường Mỹ thuật Đông Dương do người Pháp lập ra. Triển lãm rất thành công, khoảng 15.000 người từ các nước đã đến xem, trong số đó có gia đình và học trò của các họa sĩ Việt Nam và Pháp như Nam Sơn, Lê Văn Đệ, Nguyễn Phan Chánh, Jules Galand, Robert và Mariette Balick,… đến xem và viết thư khen ngợi, cho biết thêm thông tin về các họa sĩ Pháp trong triển lãm. Chị là “Commissaire invité” của triển lãm này.

190

Bức scène villageoise (cảnh làng) của Họa sĩ Nguyễn Quang Bảo (1929-?). Sơn mài. Khổ 50 x 70 cm. Copyright: Christian Murtin.

191

Một bức sơn mài của Lê Thy. Khổ 69 x 146 cm. Copyright: Christian Murtin

192

Chị Loan de Fontbrune chụp lưu niệm với bà Mộng Điệp bên bức La recontre

193

Bên bức tranh của Trịnh Công Sơn tại Bảo tàng Mỹ thuật TP. Hồ Chí Minh tháng 4. 2011

Ảnh: Nguyễn Minh Anh

Cũng trong năm chéo Pháp-Việt 2013/2014, Viện Hàn Lâm Hải Ngoại Pháp (ASOM) mời chị làm “Commissaire” cho triển lãm họ tổ chức ở Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh về đề tài “4 Thế Kỷ Giao Lưu Pháp-Việt”. Sau đó, ở Trung Tâm Lưu Trữ Quốc Gia Paris (CARAN), tổ chức triển lãm đề tài đặc biệt là “Các Nhà Nhiếp ảnh Pháp đầu tiên ở Việt Nam”. Chị giữ vai trò chính trong triển lãm, được tự do lựa chọn các hình ảnh xưa và chi phí không giới hạn, mời những nhà nghiên cứu để viết bài trong catalogue, sắp đặt triển lãm…Triển lãm thành công, được dư luận khen ngợi và các tỉnh phía Nam nước Pháp cũng đề nghị mang xuống đó trưng bày.

Cuối tháng 6, chị được bầu với số phiếu cao nhất để nhận chức danh “Académicienne” của Viện Hàn Lâm Hải Ngoại Pháp (5e section - Enseignement, Littérature, archéologie, beaux-arts). Trong số những người nổi tiếng có tên trong Viện Hàn Lâm, là: Alexandre Yersin, các vua Khải Định, Bảo Đại, hoàng tử Bửu Lộc; Phạm Quỳnh, Phạm Duy Khiêm, Nguyễn Tiến Lãng,…

Đối với chị Loan de Fontbrune, nghệ thuật giúp chị nhận diện và đánh thức tình yêu quê hương nằm sẵn trong lòng. Quê hương ban đầu là Sài Gòn, nơi sinh ra và lớn lên, với những tiếng rao hàng, tiếng ca cải lương văng vẳng trên radio, hương vị mì Tàu Chợ Lớn,... Khi bước vào thế giới nghệ thuật, quê hương mang tầm vóc lớn hơn, của những phụ nữ Việt nâu sồng trong tranh của Nguyễn Phan Chánh, của Hà Nội hào hoa thanh lịch và nét mơ màng trên gương mặt thiếu nữ Hà Thành trong tranh Tô Ngọc Vân, Lê Phổ. Quê hương thấm vào chút một, nên khi trở về Paris sau bảy năm về Việt Nam làm công việc nghiên cứu từ 1989, chị cảm thấy mình lại làm một cuộc ly hương nữa. Như tất cả những người Việt ở hải ngoại, chị nhớ thương về Sài Gòn xưa và tiếc những kiến trúc, cảnh quan đẹp đã không giữ được. Những bức tranh, cổ vật Việt Nam đang bù đắp những trống trải trong lòng như vậy. Quê hương trong tranh luôn rất đẹp, nên chị Loan de Fontbrune luôn nhìn thấy một quê hương đầy diễm ảo và thơ mộng. Đó là hạnh phúc của chị.

194

Bức La Sorcière (Lên đồng) của Nguyễn Phan Chánh (1892-1984) Lụa. Khổ 63,5 x 87,5 cm

Copyright: Christian Murtin

195

Bức jeunes femmes prenant le thé của Vũ Cao Đàm Lụa. Khổ 78 x 114 cm

Copyright: Christian Murtin

196

Bức Deux jeunes filles, sáng tác 1942 của Mai Trung Thứ. Lụa Khổ 68,5 x 48,5 cm

Copyright: Christian Murtin

« Lùi
Tiến »