Ðây là những hình ảnh cảm động và có thể khiến ta ngạc nhiên. Năm1960, vào cuối tháng 10 có ba buổi biểu diễn thời trang nhỏ do Trung tâm Khuếch trương Tiểu thủ công nghệ tổ chức tại Sài Gòn. Nơi tổ chức là Gian hàng Công nghệ Việt Nam tại đường Tự Do (nay là Đồng Khởi), quận 1. Mục đích là giúp cơ quan từ thiện “Hội bạn người mù”.
Điểm đặc biệt là các sản phẩm thời trang biểu diễn được may bằng nguyên liệu và sản phẩm ở miền Nam: tơ tằm, đũi Quảng Nam, vải dệt của người dân tộc ít người... khán giả được thấy các thứ lụa nội hóa với in hay thêu bông, thêu bướm, in hoa tuyết hay thêu cườm. Các đồ trang sức làm bằng các nguyên liệu có nhiều trong nước như cói, đay, dây dừa, lá buông, trai ốc, đồi mồi, da thuộc. Thảm trải để các “người mẫu” biểu diễn bằng cói dệt tay...
Hai trăm năm mươi khách đến xem, đa số là phụ nữ, một số người nước ngoài và quan chức nhà nước. Họ thích thú khi bà Đàm Thị Hiếu, phụ trách gian hàng lên phát biểu khai mạc trong trang phục nón quai thao, nón nhiễu hồng lồng áo the thâm, yếm thắm, thắt lưng màu, dây tích bạc, quần lãnh và guốc đen... Đó cũng là tiết mục biểu diễn đầu tiên. Sau đó là 44 kiểu trình diễn trang phục phụ nữ năm 1960-1961. Trang phục biểu diễn là đồ đi chơi, dạ hội, đi biển, thể thao... Người mẫu, trong đó có cả người nước ngoài, không ai thuộc giới biểu diễn chuyên nghiệp trừ Nghệ sĩ Kiều Chinh. Trước khi trình diễn trang phục đương đại, khán giả được xem các kiểu áo dài thông dụng của miền Bắc từ khoảng năm 1840 và 1900, trang phục của thôn nữ và trang phục của thiếu nữ miền Nam thông dụng khoảng thập niên 1930.
Sau đợt trình diễn ba ngày, tất cả trang phục, các loại vải mới đều được đem ra bán để đóng góp quỹ từ thiện.

Một phụ nữ nước ngoài tham gia chương trình diễn mẫu áo dệt theo áo người dân tộc thiểu số

Bộ trang phục đi chơi biển thêu bản vật biển

Váy đầm thêu máy

Kiểu áo dài được xem là tân thời nhất lúc đó

Áo dài Việt may bằng vải nội hóa do trung tâm tiểu công nghệ thiết kế
Trong bài phát biểu khai mạc, có câu: “Chúng tôi không có tham vọng tổ chức một buổi trình diễn lộng lẫy thuộc các loại do các cửa hàng may danh tiếng tổ chức tại các nước tân tiến. Chúng tôi chỉ muốn chứng minh những khả năng hiện hữu với những ý kiến và sáng tác của giới công nghệ Việt Nam. Chúng tôi cố hết sức dùng nguyên liệu và sản phẩm nội hóa... Vài thứ hàng vải đã được vẽ riêng để may áo trình bày ở đây cho quý vị thấy những mẫu hàng để may áo phụ nữ hoặc sơ mi đàn ông. Thị trường tiêu thụ loại vải này có hy vọng bành trướng ngay trong xứ”. Đọc lại lời phát biểu ngắn gọn, chân thành và tâm huyết, chúng ta thấy một niềm tự hào, trân trọng sản phẩm Việt xuất phát từ tâm thức tốt đẹp, đã bắt đầu từ rất lâu tại thành phố này.

Bà Đàm Thị Hiếu trình diễn y phục phụ nữ miền Bắc khoảng từ 1840-1900
Ảnh trong bài: Ngọc Tùng
ĐỒ CẨN XÀ CỪ
Ðầu những năm 2000, thỉnh thoảng tôi lui tới một căn biệt thự kiểu Pháp thời thuộc địa ở Phú Nhuận để xem những món đồ cổ bày trong nhà. Căn nhà không xưa lắm, xây bằng xi măng từ khoảng thập niên 1930 khiến ai có dịp đến thăm đều thích thú vì được chiêm ngưỡng đồ đạc xưa trong nhà, vẫn còn giữ nguyên từ thời mới xây, không có tình trạng “còn vỏ, rỗng ruột” của nhiều nhà cổ trên khắp đất nước này. Trong phòng khách, gia chủ bày hai bộ bàn ghế Louis, tủ thờ kiểu Huế ở giữa và hai tủ thờ hai gian bên. Các bình sứ sáu tấc hình chim trĩ, hoa mẫu đơn của Trung Hoa đầu thế kỷ 20 bày trên bệ cắm lông đuôi chim công. Trên ba cái tủ thờ, các bộ lư đồng được đúc sắc sảo, được đánh bóng hoàn toàn bằng tay dịp Tết đến nên màu sắc lư nhìn rất dễ chịu, không quá bóng loáng. Ở các phòng ngủ, vẫn còn giường đồng, tủ cổ dành cho các quý bà. Khi bày bàn ăn, toàn là đồ sứ Nhật thập kỷ 1940 hiệu Đại Nam. Sau bữa ăn, chủ nhân mời ra ngồi uống trà ở bộ ghế Louis, mưa đang rơi ngoài kia khiến trời tối sầm và khi một ánh chớp lóe mạnh, tôi thấy cái tủ thờ cẩn xà cừ như sáng rực lên, ửng máu đỏ hồng pha xanh tím vô cùng đẹp.
Câu chuyện đưa về đồ cẩn xà cừ ở đất Sài Gòn này. Chắc chắn đó là loại đồ vật chỉ có thể xuất hiện trong nhà giàu có, hoặc một ít nhà trung lưu biết xài. Tuy chỉ là một món đồ gỗ gia dụng, có người đã đeo bám để mua cho mình nhiều khi chỉ một món trong cả đời. Nhiều người coi đó là của gia bảo, là món đồ để khoe với khách, hãnh diện vì nếp nhà sung túc và có gia phong. Đồ gỗ cẩn ốc có khi là một cái tủ dày đặc chi tiết cẩn, một cặp liễn đối, hay có khi chỉ là một cái khay, một kỷ trà, một hộp gỗ nhỏ, nhưng có khi là một bộ tràng kỷ, một bộ sập gụ tủ chè. Tất nhiên đó phải là những món được cẩn tỉ mỉ, tạo hình khéo léo và ốc xà cừ phải đẹp, là hàng đặt chứ không phải hàng chợ. Đồ cẩn với màu gỗ nâu, ốc óng ánh trắng vàng đỏ tím nổi bật hoặc làm nền cho cái thống, cái chóe, cái bình sứ men lam Hồi của Trung Hoa, cùng tông và làm nổi bật một cách dễ chịu bức tranh sơn mài có nền trời đỏ son hay bức đại tự thếp vàng rực rỡ. Đồ cẩn ngụ ý về gia thế, trình độ thẩm mỹ của chủ nhân xưa kia và bây giờ là vẻ “biết chơi” của họ. Đồ cẩn quyến rũ, nên nhiều món xuất sắc ra đi không trở lại từ hồi thập niên 1990 mới mở cửa, cùng với các nhà kinh doanh Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc đến rồi trở về nước, đóng từng kiện hàng những món đẹp nhất, từng bày trong cung vua phủ chúa hay nhà quan lại, địa chủ...

Biệt thự trên đường Phan Đăng Lưu, Phú Nhuận với đồ gỗ cẩn ốc
Ảnh: Nguyễn Đình

Bức hoành có chữ “Vạn gia sinh Phật” được làm vào năm Bảo Đại thứ 17 (1943) tặng cho một viên ngự y
Ảnh: P.C.L

Chiếc tủ Huế mua ở đợt Đấu xảo tại Hà Nội năm 1031
Ảnh: Nguyễn Đình

Trong bức ảnh xưa, hai người thợ đang hoàn thiện mâm cúng. Sau lưng là khung tranh, hai tủ đựng thức ăn có quai xách hình rồng dành cho quan lại triều đình
Đồ cẩn ốc được chưng bày ở Sài Gòn hoặc các tỉnh Nam bộ đa phần xuất xứ ở Huế hay Bình Định. Người biết dùng đồ thích nhất các món từ Huế, do Huế là nơi tập hợp nghệ nhân làm đồ gỗ và cẩn ốc tài cao nhiều nhất nhằm phục vụ triều đình, quan lại thời nhà Nguyễn. Nghệ nhân ở đó ảnh hưởng nghệ thuật cung đình trong chế tác, trang trí đồ gỗ không bị cứng nhắc, khuôn mẫu mà gần gũi với tự nhiên, trong trang trí chi tiết luôn có cuộc sống hiện thực, đó là các loại hoa lá trong “tứ hữu” (mai, lan, cúc, trúc), các con thú gần gũi với đời sống thường ngày như con cá, con trâu, con vịt... hoặc đôi khi lấy nguyên mẫu các cây cỏ bình thường khác như bông lục bình, dây khổ qua, trái mướp, bí... Họa tiết người thì tuồng tích quen thuộc như Tô Vũ chăn dê, Văn Vương cầu hiền, Lã Vọng chờ thời... Kiểu trang trí ô hộc trong tủ gỗ Huế tạo tính hài hòa và giúp thợ đầu tư tỉ mỉ trong trang trí từng ô hộc, kỹ thuật chạm lộng lại nhuần nhuyễn, tài hoa. Nghệ thuật cẩn khảm xà cừ của người thợ Huế thành công trong việc làm lộng lẫy sản phẩm.

Quả đựng trầu cau họa tiết “bướm hoa” rất chi tiết và tinh tế

Quả đựng thức ăn của nhà giàu gốc Triều Châu, còn gọi là Quả Tiều, do thợ Huế thực hiện

Cảnh “Tam cố thảo lư” trích trong một mâm hút thuốc phiện

Quả cẩn ốc kín hết mặt trên, mô tả cảnh phồn thịnh của kinh thành, đầu thế kỷ 20
Gần đây, có dịp xem lại bộ sưu tập đồ gỗ cẩn ốc xà cừ của một nhà sưu tầm ở Sài Gòn, tôi như sống lại đam mê của mười năm trước đây, mải mê nhìn từng họa tiết của đồ cẩn. Trên nền gỗ gõ mật đen bóng của một cái khay, một người cưỡi ngựa từ một ngôi nhà dưới bóng cây, giương cung bắn một con chim trời phía trời xa, có một chú bé đuổi theo đợi nhặt. Ở góc khác là đôi nam nữ áo mão dài, mỗi người đều cưỡi một con ngựa đi lững thững theo chiều ngược lại, có hai chú lính đội nón vác giáo hộ tống chạy bộ theo. Tất cả trong một khuôn oval nhỏ, bao quanh là lá cỏ bướm hoa dầy đặc, tỉ mỉ được tạo tác bằng những mảnh xà cừ được tạo hình, khảm cẩn tinh vi đến từng sợi dây tơ cũng uốn éo không một đường gẫy khúc... Phong cảnh trong khay lóng lánh màu sắc, tỉ mỉ và tinh tế làm say lòng người không khác khi ngắm một hình cảnh sinh hoạt trên đồ sứ cổ, nhưng rõ ràng công phu cẩn ốc từng chút một trên một cái khay như vậy quá lớn và chỉ có hàng quý tộc, địa chủ giàu có thời xưa mới đủ sức thuê thợ, đặt hàng ở những làng nghề hay nghệ nhân giỏi nhất của xứ sở. Có thể nói, tính quý giá của những đồ cẩn loại này không hề thua kém các loại đồ sứ cổ từ Trung Hoa lâu nay vốn được ưa chuộng.
Người chủ kể về cái tủ thờ trước bộ bàn ghế uống trà. Cái tủ được bà ngoại anh mua năm 1931 tại Hội chợ đấu xảo ở Hà Nội. Khi đó, danh tiếng về đồ cẩn ốc Việt được triều đình Huế gửi sang Pháp dự Hội chợ đấu xảo năm 1877 đã khiến bà ngoại anh chú ý về loại đồ mỹ nghệ này. Đến năm 1945, lính Pháp tràn vào nhà và dùng báng súng đập vào tủ khiến mặt tủ chạm lộng bị vỡ một góc. Giặc rút, cả nhà đau xót nhìn cái tủ bị bầm dập. Sau đó mấy năm, bà ngoại anh tìm được thợ phục chế ở Sài Gòn, cái tủ lại liền lạc vì rất may thợ đã phục chế rất tốt.
Mùa mưa năm nay (2014), tôi đi ngang ngã tư Phan Đăng Lưu và Phan Xích Long ở Phú Nhuận. Ngôi biệt thự xưa được nhắc ở trên đang được đập bỏ sau khi được bán cho chủ mới. Gia đình anh bạn dọn đi, có lẽ mang theo cái tủ thờ gia bảo. Dù đã được ngắm nhìn rất nhiều món đồ cẩn ốc tuyệt đẹp của anh Nguyễn Trọng Cơ được giới thiệu trong những trang sách này, tôi vẫn nhớ về cái tủ cẩn ốc ở ngôi nhà này. Một cái tủ cũng có thăng trầm như đời người.

Quả đựng trầu cau đầu thế kỷ 20
Các ảnh từ trang 172 đến trang 178 nằm trong bộ sưu tập của ông Nguyễn Trọng Cơ (Tân Bình), đã tham gia Triển lãm cổ vật tại: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM (2003, 2008), Festival Huế (2009, 2013), Kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long tại Hà Nội (2010). Ảnh: PCL

Khay trà đầu thế kỷ 20

Rương đựng đồ của phu nhân quan một vị quan trong triều đình nhà Nguyễn, cuối thế kỷ 19

Khay thuốc phiện kích thước... Giữa vẽ cảnh sinh hoạt, viền ngoài hình mai hóa rồng

Liễn đối cẩn ốc và bình sứ cổ
Ảnh: Đức Trí
TÂM SỰ CỦA CỤ SỂN
Sau khi nhà văn, nhà nghiên cứu cổ ngoạn Vương Hồng Sển từ trần năm 1996, bộ sưu tập cổ vật huyền thoại của cụ đã được trưng bày trong Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM. Ngôi nhà gỗ vẫn còn lại trên đường Nguyễn Thiện Thuật, quận Bình Thạnh. Nhưng có nhiều thứ gắn liền với cuộc sống của cụ Sển lúc sinh thời, như sách, giấy tờ đã tứ tán khắp nơi. Thỉnh thoảng có sách, báo của cụ bán trên mạng. Có người trong giới sưu tập mua được các văn bản giấy tờ hay hình ảnh liên quan đến cuộc đời của cụ. Vì lòng yêu mến cụ, họ cố công giữ gìn những món đó với giá tiền không rẻ.
Tôi có dịp tiếp cận một tập văn bản có lẽ đã từng được cụ gìn giữ kỹ lưỡng vì liên quan đến công việc (không có thư từ giao dịch riêng) mà cụ gắn bó, cống hiến với niềm tự hào, đó là công việc quản thủ Bảo tàng Blanchard de la Brosse, sau là Viện Bảo tàng Sài Gòn, nay là Bảo tàng Lịch sử Việt Nam TP.HCM. Trong bộ hồ sơ này, có văn bản chứng nhận cụ Vương Hồng Sển đảm trách nhiệm vụ của chánh Văn phòng Bảo tàng Blanchard de la Brosse do ông Pierre DUPONT, Giám thủ Bảo tàng ký tên ngày 11 tháng 12 năm 1949, còn có Khế ước về lương khoán hằng tháng trong thời gian làm việc tại bảo tàng năm 1954. Có những bức thư qua lại bằng tiếng Pháp viết tay giữa cụ Sển và ông Marellet, giám thủ bảo tàng này từ 1935 đến 1945. Bên cạnh nhiều văn bản khác nữa, có một bức thư dài mà cụ Sển gửi đến Thủ tướng chính quyền Sài Gòn năm 1968 nói về chế độ hưu trí của cụ. Đây không phải là một bức thư đòi hỏi, mà nêu hiện trạng áp dụng chế độ hưu trí qua trường hợp một người. Qua thư, ta có thể hình dung cách xử lý công việc của viên chức chánh phủ thời ấy, những phân tích về cách làm việc bất hợp lý hay cứng nhắc của giới công chức văn phòng. Chúng ta hiểu thêm công của cụ Sển trong cố gắng ngăn chận đưa cổ vật ra nước ngoài khi số đồ này được chuyển từ miền Bắc vào Nam năm 1954. Văn phong cụ Sển trong bức thư cũng là điều thú vị khi đọc, cho những ai từng thích đọc sách của cụ. Bức thư không ký tên, vì có thể là bản nháp, và không thể biết là nó đã được gửi đi hay không. Chúng tôi xem và tin rằng đây là một tư liệu quý về đời sống Sài Gòn, dù chưa phải là xưa lắm.

Trang đầu và cuối bức thư gửi Thủ tướng chế độ Sài Gòn của cụ Sển năm 1968
Thư gửi thủ tướng chánh phủ Việt Nam Cộng hòa
Gia Định, ngày 5 tháng 6 năm 1968.
Kính gởi: Thủ tướng Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa
7, đại lộ Thống Nhứt, Sài Gòn
Một bổn sao kính gửi:
- Quốc Vụ Khanh, ông Mai Thọ Truyền
- Tổng trưởng Phủ Thủ tướng, ông Huỳnh Văn Đạo
Kính,
Tôi không có tánh “thấy người sang bắt quàng làm họ”, nhưng cho phép tôi vui mừng, khi thấy hai anh: một thủ tướng, một, Quốc Vụ khanh.
Một đồng liêu cũ, quen biết nhau từ Sốc Trăng, nhỏ hơn vài tuổi, nay nghiễm nhiên là Tổng trưởng phủ thủ tướng.
Vào đề như vậy không phải để xin xỏ. Xin là hèn. Xin không nhằm chỗ, mấy ai cho. Lại càng nhục. Dẫu không ai biết, cũng thẹn với lòng. Nói, thà chịu chết, chớ xin thì không. Nhưng nay mừng vì thấy lần đầu có một Chánh phủ như ý muốn, trong sạch, dốc lòng tẩy uế. Nên không nhịn được, muốn bàn góp: “những thấp cổ bé miệng bị hiếp”, “những công hạn mã bị bỏ bê” nay có nên đem công bằng soi sáng làm gương chăng? Nói tới đây, ắt có người cười: “sao không nhớ câu: Hữu xạ tự nhiên hương...?” Câu nệ lắm thì mất cơ hội. Không nói bây giờ, còn đợi buổi nào? Nhưng nói rồi bỏ qua chớ không xin, bằng có xin là yêu cầu tìm phương pháp chấm dứt những chế độ hà khắc, sẽ kể.
I. - Bị xử chìm xuồng. - Năm 1944, binh Nhựt có mặt khắp xứ, tôi xin hưu trí non, vừa 40 tuổi và 21 năm công nghiệp. Tưởng thoát khỏi là tôi một cơ quan dị quốc thứ nhì, vì đã làm tôi cho Pháp 21 năm, từ 1923 đến 1944: da cổ chưa lành, cứng sầng nô lệ. Dè đâu tính già hóa ra non: tưởng về hưu làm viên ngoại vui thú với điền viên, với tóc bạc. Số phần không có, xảy ra gia đình tan rã. Năm 1947, trở lại kiếp ngựa trâu như cũ. Và bởi trót xin hưu trí sớm, nên lâm vào thế kẹt. Phải chi đừng hưu trí, cứ tiếp tục làm thơ ký quèn, tính từ 1923 đến năm thôi việc 1964, đếm có 37 năm công nghiệp thì nay hưu bổng đâu có tệ bạc đến đỗi không đủ nuôi sống cơm tẻ ngày hai (3,451 đồng mỗi tháng). Nhưng việc đó không đáng phàn nàn, vì mình làm mình chịu. Nay chỉ kêu nài:
1) Mấy chánh phủ trước, dùng tôi làm quản thủ viện bảo tàng, nhưng về lương vẫn trả chiếu lệ lương thơ ký cũ, khi thôi việc 1944: như vậy hợp lý không? Nếu hỏi: tại sao bấy lâu biết vậy không kêu nài? Xin đáp: “Đói, sợ mất chén cơm. Vả lại kêu nài ai nghe? Phải giả dại qua ải”. Chỉ xin từ đây, bỏ chánh sách “mót tim đèn, sáp vụn” nầy đi cho kẻ đến sau nhờ.
2) Năm 1964, Bộ Quốc Gia Giáo dục của Chánh phủ Khánh cho tôi nghỉ, vì 57 tuổi. Chánh phủ Khánh đãi tôi không bằng một anh gác dan quèn của viện, thôi cũng có sáu tháng tiền xúp. Tôi thôi, phủi hai tay không, và chỗ giảng viên trường đại học Văn khoa cũng mất theo. Cũng may lương hưu vẫn còn. Đã xem tôi như thảo giái [1] , bảo sao tôi không có cảm tình gì từ cao té xuống và chạy mất luôn.
3) Các chánh phủ thời đó không cho tôi đóng tiền vào quỹ hưu bổng, hóa ra 17 năm thâm niên nơi viện, 1947-1964, trôi sông trôi biển. Như vậy có công bình không? Năm 1947, khi trở vô, tôi đóng được vài tháng thì có viên chức Pháp mở ngân khố nói: “Khi có sổ hưu trí là kể như đã chết về mặt luật”. Hưu thiệt thọ, rồi, đóng tiền không được nữa”. Các Chánh phủ ta cũng noi theo đó mà từ khước 17 năm thâm niên làm cho viện: vắt chanh bỏ xác. Cũng tại tôi không biết noi gương “lão kỵ quy y” cho trọn, lại thoát y nhào vô kiếp trầm luân phen nhì, thì ráng chịu. Giả thử nay cho đóng lại tiền vào quỹ để hưu bổng tăng thêm, thì tôi cũng xá dài từ chối. Tiền đâu đóng một lần số lớn? Đóng ích gì khi cận địa viễn thiên? Duy xin hỏi nhơn đạo đâu và công lý đâu? Phiền một điều: trả tôi lương thơ ký, khi dùng bắt làm trọng trách quản thủ? Cũng bởi tôi cô thế. Say với nghề nên đã ký giao kèo “đã ưng thuận”, phải câm miệng chớ sao? Xin từ đây bỏ chánh sách thiếu rộng lượng ấy.
Tưởng cam số phận cho xong một kiếp, nhưng cũng không được với căn quả. Đã không được ban bố ân huệ nào, bỗng từ mấy tháng nay bị ốp lương hưu, khổ chưa? Chỉ tháng 10-1967, còn lãnh 3.451 đồng mỗi tháng, không chỉ đủ khỏi lo mỗi ngày một cữ lót lòng cho gia đình mỗi sáng. Nhưng từ tháng 11-1967, sở kho bạc ra lịnh chận lại mỗi tháng 670 đồng (có cấp biên lai đàng hoàng), làm vậy để bắt buộc tôi phải trả số thuế lợi tức còn thiếu năm 1963. Về số thuế này, khi còn làm việc, năm 1964, tôi biết trước, có đến kho bạc hỏi trả, được trả lời: “Về đi, sau sẽ hay”. Đến chừng tôi thôi việc, có tháng phải bán từng món ưa thích để ăn, khi ấy, năm 1965, lại thúc thuế dữ dội. Tôi làm đơn xin miễn, đơn bị bất (bác?). Tôi đến kho bạc Gia Định xin vào ngồi tù trừ nợ kiểu giam-thâu cũ, trả lời không có luật như vậy, nhưng sẽ bị ốp hưu bổng. Rồi có thiệt. Xin hỏi:
Ốp tôi mỗi tháng 670 đồng, có “mập” cho ngân quỹ chút nào không? Bị đục khoét tận xương tủy không lo, lo gỡ từ miếng mày ghẻ ngoài da. Riêng tôi, mất 670 đồng, tôi thấy “ốm”, ốm mỗi ngày một ổ bánh hai mươi đồng cho cháu con nó gặm.
Vả lại, ốp như vậy độ bốn năm nữa mới dứt số nợ. Khi ấy, Sở Thuế vụ có hãnh diện đã bắt một tên già có tánh ương ngạnh tùng phục phép nước chăng? Riêng tôi, tôi tủi hổ thầm. Cho phép tôi ví dụ, nếu có vụng về là ngoài ý muốn, chớ tôi không vô lễ chút nào. Tôi ví Chánh phủ lớn, khỏe mạnh và sức như sức trâu cui. Thằng chăn là sở Thuế vụ. Thân tôi như bọ mắt. Bọ mắt cắn sừng trâu. Có thấm vào đâu? Thế mà thằng chăn mảng lo bắt cho được bọ mắt tý hon quên gỡ hằng hà đỉa trâu đỉa mén bu nhau nút máu trâu cui đến ốm tong teo. Ngân quỹ hao mòn vì nạn đục khoét, thâm lạm triệu này triệu kia không lo, để lo bóp họng chận hầu công chức về hưu: dẹp đi, tôi có tiền thì trả ngay, đâu thèm giựt. Tìm ra một ví dụ hết sức vô duyên, phải tốn đến 25.000 đồng trả làm bốn năm dài. Nếu được sống mãi đến sạch nợ thì đây là một cách bảo kê sự sống, cám ơn biết mấy. Nếu phải chết trước, trước khi dứt nợ Chánh phủ Việt Nam Cộng Hòa. Thì nghĩ cũng tội nghiệp: vì một tên công chức làm sổ trễ, đòi thuế trễ, khiến cho ai đây “nợ còn mang xuống Tuyền đài chưa tan”. Mỗi tháng đi lãnh tiền hưu, tôi làm thất công người phát bạc không ít: đếm, chận, trừ. Hình như y muốn tôi trả một lần cho gọn. Tôi về nhà bụng nghĩ: muốn đi làm thằng ăn trộm. Nói vậy chứ tôi không xin bỏ số thuế này đâu. Để mới thấy cái tàn nhẫn, hà khắc của Sở Thuế vụ.
II. Công hạn mã trôi theo dòng nước – tôi vô làm viện bảo tàng, là vì chán cảnh quan trường chen lấn. Muốn tu ở viện cho thỏa thích tánh ham mê đồ cổ. Năm 1947, nếu tôi nghe lời ông Huỳnh Văn Đạo theo làm Sở Tài chánh có lẽ được vô ngạch và không lận đận như vậy. Làm cho viện bảo tàng, tôi kể ba công thôi, cũng hữu ích hơn làm thư ký bên Tài chánh:
Công thứ nhứt: - Chính tôi tiếp nhận bảo tàng trong tay Pháp bỏ lại năm 1947 sửa sang, xếp đặt, cho ra hình.
Công thứ nhì: - 17 năm khéo giữ gìn, trau giồi, nhận bộ môn bảo vật Óc Eo rồi khi thôi việc, giao đủ số cho người thừa kế.
Công thứ ba: - Từ Hà Nội, năm 1954, trường Bác Cổ mang vô gửi một mớ cổ vật của viện ngoài Bắc, định mang về Pháp, nhưng tôi khuyên một lời, họ bằng lòng để lại cho Sài Gòn hưởng những vật này, không khéo đã mất bao nhiêu vật quý. Xem lại số mục lục tài liệu thì biết.
Làm tôi 37 năm: trong sạch, không biết ăn của hôi một đồng. Nghĩ ra tổ dại. Sách dạy không biết nghe? Biết sớm, cứ ăn cho khéo, lấy đó mua bạc ròng, đúc làm một con hổ đặc, vì tuổi “Nhâm Dần”, rồi chặt lần ra ăn, lớp trả thuế, lại khỏi làm thơ dài kể lể. Ông Huyện tuổi “Sửu” nói trước mà không biết...
Vì quá mừng có tân Chánh phủ xứng đáng, tôi viết thư chúc mừng lê thê, việc dĩ lỡ ra rồi, viết lại không được nữa, xin bỏ qua cho là đủ. Đừng làm gì cho tôi hết, vì tôi không muốn, và tôi không ước ao chi hết.
Trân trọng kính chúc an khang và mát tay.
Vương Hồng Sển
Nhà số 5 đường Nguyễn Thiện Thuật, Gia Định

Hòn non bộ trong khoảng sân giữa ngôi nhà gỗ của cụ Vương Hồng Sển ở đường Nguyễn Thiện Thuật, Bình Thạnh. Khách đến thăm không khỏi ngậm ngùi
Ảnh: P.C.L
VIỆN VIỄN ĐÔNG BÁC CỔ
Bảo tàng Blanchard de la Brosse
SAIGON

Bản gốc giấy chứng nhận cụ Sển đảm trách nhiệm vụ chánh văn phòng Bảo tàng năm 1948
Saigon, ngày 11 tháng 12 năm 1948
GIẤY CHỨNG NHẬN
Giám thủ Bảo tàng Blanchard de la Brosse, ký tên dưới đây, chứng nhận rằng, Ông Vương Hồng Sển, thư ký chính của Văn Phòng Chính phủ, thẻ chứng minh chức vụ số C. 39704 cấp tại Sài Gòn ngày 21 tháng 6 năm 1926, đảm trách nhiệm vụ của chánh Văn phòng Bảo tàng Blanchard de la Brosse tại Sài Gòn.
Để làm tin, giấy chứng nhận này được cấp cho đương sự để thực hiện quyền của mình.
Làm tại Sài-Gòn ngày 11 tháng 12 năm 1948
Giám thủ Bảo tàng Blanchard de la Brosse
Pierre DUPONT (đã ký và đóng dấu)
Thành viên viện Viễn Đông Bác Cổ
(bản dịch của LM. Nguyễn Phú Sơn)

Tập giấy tờ còn lại liên quan đến thời gian làm việc ở Viện Bảo tàng của cụ Sển
Khế ước về lương khoán hằng tháng trong thời gian làm việc tại bảo tàng
QUỐC GIA VIỆT NAM
NAM-VIỆT
NGÂN SÁCH ĐỊA PHƯƠNG NAM VIỆT
BỔ DI những khế ước thuê công ông Vương Hồng Sển
....
Hai đàng ký tên dưới đây:
- Ông Đại biểu Chánh phủ tại Nam Việt là một đàng.
- và ông Vương Hồng Sển, phó Giám thủ viện bảo tàng Blanchard de la Brosse, sanh ngày 4 tháng 11 năm 1904 tại làng Khánh Hưng (tỉnh Sốc trăng) là một đàng khác nữa.
Cả hai đồng ưng thuận, cam kết và qui định như sau đây:
Điều khoản duy nhứt. – Chiếu theo biên bản số 31/54 đề ngày 29 tháng 9 năm 1954 của Hội đồng Khế ước và Công nhựt địa phương Nam Việt, thì lương khoán hằng tháng của ông Vương Hồng Sển kể từ ngày 1 tháng 1 năm 1954 dĩ hậu, được đem lên bằng 85 phần trăm lương bổng và phụ cấp của một thơ ký Nam Việt thượng hạng hạng nhì.
Để hợp thức hóa tình trạng của đương sự thì:
Riêng đối với số lương khoán được đem lên theo biên bản kể trên, có ba khế ước hiện hành thuộc về niên khóa 1954 phải bổ di là:
- Khế ước số 2274-Cab/P1 đề ngày 23.9.53 (khoản 1.1.54 đến 31.3.54)
- Khế ước số 1028-Cab/P1 đề ngày 3.5.54 (khoản 1.4.54 đến 30.9.54)
- Khế ước số 1635-NCC/1 đề ngày 9.8.54 (khoản 1.10.54 dĩ hậu).
Tính ra số lương khoán mới của ông Vương Hồng Sển là như vầy:
85% lương chưa trừ hưu liễm của một thơ ký Nam Việt
thượng hạng hạng nhì 6.140$80 x 85%:.............4.369$68
85% phụ cấp một thơ ký hạng kể trên, có vợ và 1 con:
2.500 x 85%:.....................2.125$00
Cộng hết là: 6.494$68
Có đọc và ưng thuận
Ký tên: Vương Hồng Sển
Số 2372 – NCC/1
Saigon, ngày 10 tháng 12 năm 1954
TM. Đại-biểu Chánh phủ tại Nam-Việt
Ủy viên Chánh trị và Hành chánh
Ký tên: Cao Thái Bảo
Số 1750-TC/PMS
Chiểu hội
Saigon, ngày 10 tháng 11 năm 1954
Giám đốc Tài Chánh Nam-Việt
Ký tên: Nguyễn Văn Hải

Kiểm nhận tại Kiểm soát ước chi
ngày 8 tháng 12d.l 1954
số 2102 - Pers
SAO Y:
Saigon, ngày 15 tháng 12 d.l 1954
TM. Giám thủ Bảo tàng viện,
Phó giám thủ, Xử lý thường vụ
Vương Hồng Sển (đóng dấu và ký tên)

Một tấm ảnh chụp lúc cuối đời treo ở nhà số 5 Nguyễn Thiện Thuật, gần Bà Chiểu. Dáng cao gầy, râu tóc bạc phơ, cụ Vương Hồng Sển trông như một ông tiên, nhưng đôi mắt không thanh thoát nhẹ nhàng, như có tâm sự. Từ khi cụ mất (1996) cho đến nay 2014, gần 20 năm, ngôi nhà cụ vẫn chưa thành Bảo tàng như cụ mong muốn
Ảnh chụp lại: Nguyễn Đình
• Các văn bản dẫn trong bài là tài liệu sưu tầm của Linh mục Trần Phú Sơn - Chánh xứ Giáo xứ Kẻ Sặt, Biên Hòa, Đồng Nai
ĐỒ TẾ NHUYỄN CỦA MỘT CÔ ĐÀO
Cách nay gần hai mươi năm, một nhà sưu tầm cổ vật được một người quen cho biết có một diễn viên nổi tiếng của đoàn Kim Chưởng xưa kia muốn bán hai hộp sơn mài đựng nữ trang và đồ trang điểm đã cũ nhưng còn đẹp, hiệu Thành Lễ. Đó là một hiệu mỹ nghệ nổi tiếng nên anh đã tìm đến để mua hai chiếc hộp đó. Giá đưa ra không rẻ, chỉ có một hộp là đồ sơn mài Thành Lễ, hộp kia không có hiệu, nhưng anh chấp nhận mua khi nhìn được chúng. Hai chiếc hộp đã cũ kỹ, hơi trầy lớp sơn bọc ngoài. Cảnh vật trên nắp hộp sơn mài Thành Lễ đã bay mất phần nhiều, chỉ còn lại vài chi tiết cành lá đã được cẩn bằng ngà và sừng. Đồ bên trong chiếc hộp này có ba món, một cái quạt và hai cái hộp dẹp, tất cả đều làm bằng đồi mồi còn rất đẹp. Hộp kia bên trong có mấy món: một hộp tròn nhỏ, lót nhung có lẽ để đựng nữ trang, một hộp dẹp nhỏ có lẽ chứa phấn dồi và một cái lược lớn để chải tóc. Mặt hộp và trên mặt các món đồ đều vẽ hình sông nước, có hình người nổi lên chạm bằng ngà đang bơi thuyền qua sông. Ngà cũng được gắn từng mảnh viền chung quanh hộp. Cả hai hộp lớn đều có nắp mở ra là một cái gương lớn còn trong veo, chứng tỏ chủ nhân giữ gìn chúng rất kỹ.
Về nhà, anh ngắm nhiều lần hai cái hộp. Chủ nhân hẳn phải là người từng có lúc sung túc. Hộp trang điểm hiệu Thành Lễ mua khoảng đầu thập niên 1960 không rẻ, bán tại cửa hàng riêng trên đường Tự Do với khách đến mua phần lớn là người nước ngoài và một ít người Việt giàu có. Hộp được cẩn nổi sừng và ngà vốn là chất liệu mắc tiền. Bên trong có ba món bằng đồi mồi, đồ mỹ nghệ cao cấp của miền Nam, từ Hà Tiên hay Phú Quốc. Suy nghĩ của anh về thân phận chủ nhân càng chắc chắn hơn khi sau đó anh mua được thêm một số đồ nữ trang từ nguồn đó. Có hai đôi khuyên tai ngà bọc bạc, năm cái nút áo ngà, một miếng mề đay là khung chạm hoa văn bằng ngà bọc một tấm ảnh phong cảnh. Một cái nhẫn và một trái tim bằng ngà để đeo với sợi dây chuyền nào đó. Những món nữ trang này có lẽ chủ nhân cố giữ lại sau khi bán hai cái hộp kia, để rồi cuối cùng phải buông tay bán nốt mấy món tế nhuyễn muốn giữ làm kỷ niệm một thời vàng son dưới ánh đèn sân khấu.Anh mường tượng đó là những món đồ luôn có ở bên cạnh nữ nghệ sĩ đang thời xuân sắc.


Khi sắp đến giờ diễn, cô bật cái hộp đựng phấn, son lên để trang điểm, chọn một trong hai đôi khuyên tai và đeo vào, đeo vào ngón tay chiếc nhẫn và mề đay lên cổ. Chiếc gương hẳn đã soi rõ một nhan sắc lộng lẫy sau khi trang điểm, một công chúa, một quý bà, một nàng tiểu thơ đài các... hay có khi chỉ là một cô gái nghèo. Chiếc gương soi gương mặt người đào hát từ khi còn là thiếu nữ cho đến khi nhan sắc lụi tàn, hẳn có nụ cười và những giọt nước mắt của cô nữa... Cái quạt đồi mồi đưa hơi gió mát sau một màn diễn xuất thần, cái lược chải lại mái tóc sau một màn múa may đánh võ.

Triện nổi bằng ngà voi trên hộp đựng nữ trang

Sau khi mua hai hộp này, anh được người môi giới cho biết chủ nhân còn muốn bán cả hai bức tranh mà bà rất thích và luôn mang theo mình trên đường đời nghệ sĩ. Đó là hai bức tranh vẽ cảnh tuồng Thoại Khanh-Châu Tuấn. Đó là một truyện thơ quen thuộc với giới bình dân, và cũng là một vở tuồng sân khấu quen thuộc ca ngợi tình nghĩa vợ chồng, con dâu mẹ chồng với câu chuyện Thoại Khanh chí hiếu cắt thịt cánh tay nuôi mẹ chồng, Châu Tuấn đạt vinh quang nhưng không phụ rẫy người vợ thuở hàn vi. Hai bức tranh này được gọi là “tranh kiếng”, họa sĩ vẽ mặt sau tấm kiếng thể hiện tranh ra mặt trước. Đây không phải dòng tranh kiếng Lái Thiêu, vốn vẽ các tuồng Tàu mà là dòng tranh của Long Xuyên. Phải chăng chủ nhân bức tranh là người miệt An Giang, vốn sản sinh nhiều nghệ sĩ sân khấu nổi tiếng, và vì vậy dù có trôi nổi đi theo gánh hát từ trẻ, cô đào chủ nhân bức tranh luôn mang theo bên mình để đỡ nhớ quê hương?
Cách nay nửa thế kỷ, giới sân khấu có câu: Nhất Chưởng (Kim Chưởng), nhì Thơ (bầu Thơ), tam Long (bầu Long), Tứ Út (Út Trà Ôn) để tôn vinh những bầu gánh giỏi, lèo lái thành công gánh hát của mình. Trong số đó, đoàn Kim Chưởng là đoàn hát rất được khán giả hâm mộ, trên đường lưu diễn các tỉnh miền Trung, miền Nam. Nhiều nghệ sĩ tài danh đã đầu quân về đoàn này như Diệp Lang, Phương Quang, Phượng Liên, Thành Được, Út Bạch Lan, Thanh Nguyệt, Dũng Thanh Lâm, Trương Ánh Loan, Kim Liên… Bà Kim Chưởng và nhiều tài danh đã mất, số người còn lại cũng đã già yếu, không mấy khi xuất hiện trên sân khấu. Đời họ nay đã như sân khấu về khuya, khán giả ra về, màn buông, ngồi tẩy trang bên hộp son phấn, gương, lược… Chủ nhân những món đồ này là ai trong số các cô đào trong đoàn Kim Chưởng năm xưa hay có khi là của chính chủ nhân đoàn hát nếu căn cứ vào giá trị của chúng?

Các món đồ trong bài thuộc bộ sưu tập của ông Nguyễn Trọng Cơ (TP.HCM)