Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 815 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 1 -
nguyên văn: the beekeeper of aleppo dành tặng cha, và cũng dành tặng s.

Tôi rất sợ nhìn vào mắt vợ mình. Em không thể nhìn thấy ai và không ai có thể nhìn thấy em. Nhìn mà xem, chúng như những viên đá, đá xám, đá biển. Nhìn đi. Nhìn cách em ngồi bên mép giường, váy ngủ vứt dưới sàn, lăn lăn viên bi ve của Mohammed giữa những ngón tay và đợi tôi mặc đồ cho. Tôi từ từ mặc quần áo của mình, bởi tôi đã chán việc mặc quần áo cho em lắm rồi. Nhìn những nếp gấp trên bụng của em xem, như màu mật của loài ong nơi sa mạc, màu sậm hơn ở những nếp gấp, và những đường vân bạc trên bầu ngực, và những đầu ngón tay với bao vết cắt nho nhỏ. Dưới đầu những ngón tay ấy từng một thời hiện ra bao rặng núi đồi và thung lũng với đủ sắc xanh, vàng hay đỏ. Tiếng cười của em từng lấp lánh như kim ngân, bạn phải nhìn thấy cũng như nghe thấy nó mới hiểu. Hãy nhìn em đi, bởi tôi nghĩ em sắp tan biến.

“Đêm qua em cứ mơ mấy giấc mơ linh tinh,” em nói. “Chúng lấp kín cả phòng này.” Mắt em nhìn đăm đăm vào khoảng không bên trái tôi một chút. Tôi bỗng thấy mệt quá.

“Thế nghĩa là sao?”

“Chúng bị vỡ. Những giấc mơ của em ở khắp mọi nơi. Em không biết là mình đã tỉnh hay còn ngủ. Có nhiều giấc mơ lắm, như ong ấy, như kiểu căn phòng toàn là ong. Em không thể thở được. Rồi em tỉnh và nghĩ, xin anh đừng để em đói.”

Tôi bối rối nhìn khuôn mặt em. Vẫn không có biểu cảm gì. Tôi không kể với em rằng giờ tôi chỉ mơ thấy vụ giết người, luôn luôn cùng một giấc mơ như thế. Chỉ có tôi và người đàn ông đó, và tôi đang cầm cái gậy bóng chày, tay thì chảy máu. Những người khác không thấy đâu. Anh ta nằm trên đất, dưới những bóng cây và nói gì đó mà tôi không thể nghe được.

“Và em thấy đau nữa,” em nói.

“Ở đâu?”

“Đằng sau mắt ấy. Đau nhói.”

Tôi quỳ xuống trước mặt em và nhìn vào đôi mắt. Sự trống rỗng ở đó làm tôi thấy sợ. Tôi lấy chiếc điện thoại trong túi ra, bật đèn pin lên soi vào chúng. Đồng tử mắt em đã giãn.

“Em có nhìn thấy gì không?” Tôi hỏi.

“Không.”

“Một cái bóng cũng không? Không có tí thay đổi sáng tối hay màu sắc nào à?”

“Toàn một màu đen thôi.”

Tôi đút điện thoại vào túi rồi đi ra xa. Từ lúc đến đây tình trạng của em tệ đi nhiều, như thể tâm hồn em đang bốc hơi dần dần.

“Anh đưa em đi bác sĩ được không? Đau không chịu được ấy,” em nói.

“Tất nhiên rồi,” tôi trấn an, “sớm thôi em.”

“Lúc nào?”

“Ngay khi chúng ta lấy được giấy tờ.”

***

Tôi thấy mừng vì Afra không thấy được nơi này. Nhưng có lẽ em sẽ thích lũ hải âu, chúng bay điên cuồng. Ở Aleppo chúng tôi ở sâu trong đất liền. Tôi chắc chắn em muốn nhìn thấy loài chim này và có lẽ cả bờ biển nữa, vì em lớn lên bên biển còn tôi đến từ phía đông của Aleppo, vùng tiếp giáp với sa mạc của thành phố.

Lúc chúng tôi kết hôn và em chuyển đến sống với tôi, Afra nhớ biển đến nỗi em bắt đầu vẽ cảnh nước, ở bất cứ nơi nào em tìm thấy chúng. Vùng bình nguyên khô cằn này của Syria vẫn có những ốc đảo và sông suối đổ ra đầm lầy và các hồ nhỏ. Trước khi có Sami, chúng tôi thường đi theo dòng nước và em sẽ vẽ chúng bằng màu dầu. Có một bức em vẽ dòng Aleppo mà tôi ước mình có thể xem lần nữa. Em vẽ dòng sông trông như một lòng ống ngập nước mưa xối, chạy xuyên qua công viên thành phố. Afra tìm sự thật trong cảnh vật như thế. Bức tranh và dòng sông đục ngầu ấy nhắc tôi nhớ về cuộc sống đầy những vật lộn để sinh tồn. Dòng Aleppo chảy thêm khoảng ba mươi cây số nữa về phía bắc là sẽ đầu hàng vùng thảo nguyên khắc nghiệt và hóa thân thành những đầm lầy.

Tôi sợ đôi mắt em. Nhưng những bức tường ẩm thấp, những đường điện chạy khắp trần nhà và những biển quảng cáo ngoài trời kia – tôi không biết em ra sao nếu nhìn thấy chúng. Cái biển to đùng ngay bên ngoài kia nói rằng đang có quá nhiều người như chúng tôi, rằng hòn đảo này rồi sẽ sụp đổ dưới sức nặng của chúng tôi. Tôi lại mừng vì em không nhìn thấy gì. Tôi biết nó nghe kỳ cục chứ! Giá mà tôi có thể cho em chiếc chìa khóa để mở cánh cửa khác bước vào một thế giới khác, thì tôi mới mong em sáng mắt trở lại. Nhưng nó sẽ phải là một thế giới rất khác thế giới này. Một thế giới nơi bình minh vừa hé, nắng sớm chiếu lên những bức tường bao quanh thành phố cổ kính, bên ngoài những bức tường ấy, phố phường vuông vắn như những tế bào với những căn hộ và khách sạn, với ngõ nhỏ và chợ trời, nơi hàng nghìn chiếc vòng cổ lấp lánh trong những tia nắng sớm ấy, và phía xa xa, qua vùng đất hoang vu, là trời đỏ và cát vàng.

Sami sẽ ở đó, cười đùa và chạy nhảy dọc những con phố trên đôi giày thể thao đã mòn vẹt của nó, tay cầm tiền lẻ, tung tăng đến tiệm bán sữa. Tôi cố không nghĩ về Sami nữa. Mohammed thì sao? Tôi vẫn đang đợi nó tìm được lá thư và số tiền tôi để lại dưới lọ bơ đậu phộng. Tôi nghĩ một buổi sớm nào đó sẽ có tiếng gõ cửa, và khi tôi mở ra sẽ thấy nó đang đứng đó và tôi sẽ nói, “Làm sao cháu tới được đây vậy Mohammed? Sao cháu tìm được chú?”

Hôm qua tôi thấy một người qua tấm gương mờ hơi nước trong phòng tắm chung. Cậu ta mặc chiếc áo phông màu đen, nhưng khi tôi quay lại nhìn kỹ, hóa ra là người đàn ông đến từ Maroc, đang ngồi tiểu trên toilet. “Cậu nên đóng cửa vào chứ.” Ông nói bằng thứ tiếng Ả Rập của mình.

Tôi không thể nhớ tên ông ấy là gì nhưng tôi biết ông đến từ một ngôi làng gần Taza, phía dưới rặng Rif. Ông kể với tôi là đêm qua họ suýt chuyển ông tới một trung tâm chờ xét duyệt, ở một nơi gọi là Rừng Yarl – nhân viên xã hội nghĩ có thể họ sẽ chấp nhận ông. Chiều nay là đến lượt tôi gặp cô ấy. Người đàn ông Maroc nói cô ấy rất xinh, trông giống một nữ vũ công Paris đã ngủ với ông ấy trong một khách sạn ở Rabat, rất lâu trước khi ông lấy vợ mình bây giờ. Ông hỏi tôi về cuộc sống ở Syria. Tôi kể cho ông nghe về những đàn ong của mình ở Aleppo.

Bà chủ nhà trọ đem sữa và trà cho chúng tôi mỗi tối. Người đàn ông đến từ Maroc già rồi, có lẽ đã tám mươi, hay thậm chí chín mươi. Dáng vẻ cùng mùi hương trên người làm người ta thấy như thể cả người ông được làm bằng da thuộc. Ông ấy đọc quyển How to be a Brit (tạm dịch: Thế nào là một người Anh), thỉnh thoảng lại cười mỉa một cái. Luôn đặt điện thoại trên đùi, đọc xong một trang lại liếc điện thoại một cái, nhưng cái điện thoại chưa từng đổ chuông. Tôi không biết ông ấy đang đợi ai, làm thế nào ông ấy đến được đây và tại sao ông ấy ở tuổi này rồi còn quyết định lên đường, bởi ông ấy trông như đang chờ chết. Ông ấy ghét kiểu tiểu đứng của mấy người đàn ông không theo đạo Hồi.

Có khoảng mười người nhập cư như chúng tôi trong cái nhà trọ ven biển tồi tàn này. Mười người đến từ mười nơi khác nhau, tất cả đều đang chờ đợi. Họ có thể sẽ giữ chúng tôi lại, hoặc đưa chúng tôi đi xa, nhưng cũng không có gì mà phân vân nữa. Đi đường nào, tin tưởng ai, có cần lại cầm gậy lên và giết một gã nữa không. Những chuyện này đã thành quá khứ rồi. Chúng cũng sẽ tan biến sớm thôi, như dòng Aleppo.

***

Tôi mở tủ quần áo, lấy chiếc abaya[1] của Afra đang treo trên mắc. Em nghe thấy tiếng động, đứng dậy và giơ tay lên. Em trông già hơn nhưng lại cư xử trẻ con hơn, như thể đã biến thành một đứa bé vậy. Tóc em vàng hoe và thô ráp như cát từ lúc chúng tôi nhuộm nó để chụp ảnh, để tẩy đi chút Ả Rập. Tôi búi tóc và quàng hijab[2] cho em, giữ nó bằng một chiếc trâm cài trong khi em hướng dẫn tôi cách như em vẫn luôn làm.

Nhân viên xã hội sẽ đến đây lúc một giờ chiều, và tất cả các buổi gặp sẽ diễn ra trong bếp. Cô ấy sẽ muốn biết làm thế nào chúng tôi đến được đây và sẽ tìm một lý do để tống chúng tôi đi. Nhưng tôi biết nếu mình nói dúng những điều nên nói, nếu tôi thuyết phục được cô ấy rằng tôi không phải là một tên sát nhân, thì chúng tôi sẽ được ở lại bởi chúng tôi là những người may mắn, bởi chúng tôi đến từ nơi tồi tệ nhất trên thế giới này. Người dàn ông Maroc kia không may mắn cho lắm, ông ấy sẽ phải chứng minh nhiều hơn. Giờ ông ấy đang ngồi trong phòng khách, bên cánh cửa kính và giữ chiếc đồng hồ quả quýt của mình bằng cả hai tay, nâng niu như thể đang ấp một quả trứng. Ông nhìn chằm chằm vào nó và chờ đợi. Để làm gì cơ chứ? Khi nhận ra tôi đang đứng, ông ấy nói, “Nó không chạy, cậu biết đấy. Nó đã chết vào khoảnh khắc ấy.” Ông ấy cầm chiếc dây, đưa nó ra ngoài sáng và lắc nhẹ. Chiếc đồng hồ làm từ

đồng
là màu của thành phố dưới xa kia. Chúng tôi sống trên một ngọn đồi, trong một ngôi nhà hai phòng ngủ. Từ trên cao đây chúng tôi có thể nhìn thấy tất cả những cấu trúc lộn xộn cùng những mái vòm và tòa tháp xinh đẹp của các giáo đường, và thấp thoáng xa xa là ngôi thành cổ.

Ngồi bên hiên mỗi bận xuân về thật dễ chịu. Chúng tôi có thể ngửi thấy hương đất từ sa mạc thổi về và ngắm vầng mặt trời đỏ rực lặn xuống trên cả dải đất. Dù vậy, vào mùa hè, chúng tôi sẽ ở trong nhà với quạt chạy không ngừng và khăn ướt phủ trên đầu, chân ngâm trong chậu nước lạnh vì trời nóng như một cái lò.

Tháng Bảy, đất khô rang, nhưng trong vườn chúng tôi đã có mận và hạnh nhân, tulip và diên vỹ, cùng bối mẫu. Khi dòng sông cạn khô, tôi sẽ đi xuống hồ trữ để lấy nước cho khu vườn. Nhưng đến tháng Tám, công việc này giống như phải hồi sinh cho một cái xác vậy, nên tôi đành nhìn chúng chết khô rồi lại chìm vào đất. Khi thời tiết dịu đi, chúng tôi sẽ đi bộ và ngắm những con ưng lượn ngang bầu trời, bay về phía sa mạc.

Trong vườn, tôi có bốn thùng ong, thùng nọ chồng lên thùng kia, số còn lại đều ở cánh đồng chỗ ngoại thành phía đông Aleppo. Tôi không thích phải cách xa lũ ong. Mỗi sáng, tôi sẽ dậy sớm, trước khi mặt trời mọc, trước khi các thầy tu báo giờ cầu kinh. Tôi lái xe ba mươi dặm, đến khu nuôi ong khi mặt trời vừa ló dạng. Cả cánh đồng ngập ánh mặt trời, tiếng vo ve đồng thanh tạo thành một nốt nhạc trong ngần duy nhất.

Xã hội loài ong là một xã hội lý tưởng, một thiên đường nhỏ giữa những hỗn loạn. Ong thợ đi khắp nơi tìm thức ăn, sẵn sàng tới những cánh đồng xa nhất. Chúng mang về mật của hoa chanh, cỏ ba lá, thìa là và dương hồi, bạch đàn, bông, mận gai và thạch thảo. Thi thoảng, tôi tạo thùng mới, tách đàn hoặc nuôi thêm ong chúa – tôi sẽ lấy đám ấu trùng từ một đàn khác và quan sát những con ong thợ mớm sữa ong chúa cho chúng.

Sau đó, suốt mùa thu hoạch, tôi sẽ kiểm tra các thùng xem chúng đã tạo được bao nhiêu mật, rồi tôi sẽ đặt các cầu ong vào máy quay mật, đợi từng xô đựng đầy lên, gạt bỏ lớp váng và thu lấy thứ chất lỏng vàng óng bên dưới. Nhiệm vụ của tôi là bảo vệ đàn ong, giữ chúng khỏe và mạnh, trong khi chúng cũng làm nhiệm vụ của mình, là tạo mật và thụ phấn cho cây trái để nuôi sống chúng tôi.

***

Người đưa tôi đến với nghề nuôi ong là ông anh họ Mustafa. Bác và ông tôi đều là người nuôi ong trong những thung lũng xanh mướt ở phía tây rặng Anti-Lebanon. Mustafa là một thiên tài với trái tim của một cậu bé. Anh theo học rồi trở thành giáo sư tại Đại học Damascus, nghiên cứu về thành phần chính xác của mật ong. Vì phải liên tục di chuyển giữa Damascus và Aleppo, anh muốn tôi quản lý vườn ong. Anh dạy cho tôi rất nhiều về hành vi của loài ong và làm sao để kiểm soát chúng. Những con ong bản địa rất hung hăng, nhưng anh đã chỉ cho tôi cách hiểu chúng.

Lúc nhà trường nghỉ hè, Mustafa đến Aleppo và làm toàn thời gian với tôi. Cả hai chúng tôi cần mẫn suốt hàng giờ đồng hồ – cuối cùng chúng tôi cũng suy nghĩ như loài ong, thậm chí còn ăn uống như chúng! Phấn hoa trộn với mật giúp chúng tôi tiếp tục làm việc dưới cái nắng nóng.

Hồi đầu, ngày tôi mới khoảng hai mươi và còn bỡ ngỡ với công việc, những thùng ong của chúng tôi thường làm từ vỏ cây trát bùn. Sau này chúng tôi thay vỏ cây bần và thùng đất nung bằng thùng gỗ, và nhanh chóng có được hơn năm trăm đàn! Chúng tôi sản xuất được ít nhất mười tấn mật mỗi năm. Số lượng ong rất lớn, chúng làm tôi cảm thấy mình đúng là đang sống. Lúc nào phải xa chúng, tôi thấy như bản thân sắp phải kết thúc một bữa tiệc tuyệt vời vậy. Sau vài năm, Mustafa mở một cửa hàng ở khu mở rộng của thị trấn. Ngoài mật ong, anh ấy còn bán thêm các sản phẩm khác như kem dưỡng, xà phòng và dưỡng tóc. Tất cả đều từ những đàn ong của chúng tôi, thơm ngọt và sánh quyện. Anh mở cửa tiệm này là để cho cô con gái. Dù hồi ấy còn rất nhỏ nhưng con bé đã tin rằng lớn lên nó sẽ học nông nghiệp như cha mình. Vậy nên Mustafa đặt tên cửa hàng là Aya’s Paradise (Thiên đường của Aya) và hứa với con bé rằng nếu nó học hành chăm chỉ, cửa hàng này sẽ là của nó. Con bé thích đến chơi và hít hà những bánh xà phòng, rồi tự bôi đầy kem lên tay. Ở tuổi đó thì con bé đã được coi là khá thông minh, và tôi nhớ một lần nó đã bảo: “Cháu thấy cửa hàng mình có mùi hương như của trái đất lúc vắng bóng con người ấy.”

Mustafa không muốn sống một đời bình lặng. Anh ấy lúc nào cũng cố gắng học thêm và thêm nữa. Tôi chưa bao giờ thấy điều này ở ai khác. Dù chúng tôi có lớn mạnh đến đâu – thậm chí khi đã có cả những khách hàng lớn từ châu Âu, châu Á và vùng Vịnh – tôi vẫn là người chăm sóc đàn ong, là người anh ấy tin tưởng giao cho công việc này. Anh nói rằng tôi có sự nhạy cảm mà hầu hết mọi người không có, rằng tôi hiểu nhịp điệu và chu kỳ của chúng. Anh ấy nói đúng. Tôi đã thực sự học cách lắng nghe và nói chuyện với chúng như thể chúng cũng là một cơ thể có hơi thở, có trái tim, bởi bạn thấy đấy, ong làm việc cùng nhau. Thậm chí khi đến cuối mùa hè, ong thợ sẽ giết lũ ong đực để giữ nguồn lương thực, thì cả bầy ong vẫn hoạt động như một thể thống nhất. Chúng giao tiếp với nhau bằng một điệu nhảy. Mất nhiều năm tôi mới hiểu được chúng, và khi hiểu được rồi, thế giới quanh tôi đã hoàn toàn khác trước.

Nhưng năm này qua năm khác, sa mạc dần mở rộng, khí hậu trở nên khắc nghiệt, các dòng sông khô cạn, nông dân thì chật vật, chỉ có lũ ong là giống loài chịu được hạn. “Anh nhìn những chiến binh tí hon này,” Afra reo lên vào những hôm em đến thăm vườn ong với Sami, mấy con ong nhỏ bay quanh đầu ngón tay em, “chúng vẫn làm việc trong khi mọi thứ khác đang chết dần!” Lúc nào Afra cũng cầu mưa bởi em rất sợ bão cát và hạn hán. Mỗi khi có cơn bão cát kéo đến, từ hiên nhà, chúng tôi có thể thấy bầu trời phía thành phố chuyển sang màu tím, và rồi một hồi rít dài vang lên trong không khí, Afra sẽ chạy khắp nhà để đóng tất cả các cánh cửa, khóa chặt cửa sổ và cửa chớp.

***

Thứ Bảy nào chúng tôi cũng tới nhà Mustafa ăn tối. Dahab và Mustafa sẽ cùng nấu ăn. Anh họ tôi sẽ đo đếm từng thành phần, từng loại gia vị một cách tỉ mỉ trên chiếc cân điện tử như thể một nhầm lẫn nhỏ thôi cũng sẽ làm hỏng cả bữa ăn. Chị Dahab là một người phụ nữ cao lớn, cao gần bằng chồng mình, và chị sẽ đứng cạnh chồng mà lắc đầu chán ngán, như cách tôi thấy chị làm với Firas và Aya. Chị sẽ bảo, “Nhanh lên anh ơi, cứ với tốc độ này thì đến thứ Bảy tuần sau chúng ta mới được ăn bữa tối này đấy.” Anh tôi thì vừa nấu nướng vừa ngâm nga, cứ khoảng hai mươi phút lại ra hút thuốc một lần, đứng trong sân dưới tán cây đang nở hoa, và đưa đầu lọc lên miệng hít từng hơi.

Tôi sẽ ra đứng cùng anh, nhưng dạo này anh hay im lặng, hai mắt lấp lánh vì hơi nóng từ căn bếp, suy nghĩ lang thang tận đâu đó. Mustafa bắt đầu lo lắng về điều tồi tệ nhất trước cả tôi, và tôi có thể nhìn thấy sự lo lắng từ những đường nét trên khuôn mặt anh.

Anh chị tôi sống ở tầng trệt của một tòa chung cư, khoảnh sân ba mặt được bọc kín giữa những bức tường của các tòa nhà bên cạnh, vậy nên lúc nào nó cũng đầy bóng râm và rất mát mẻ. Âm thanh từ những ban công phía trên vọng xuống chỗ chúng tôi – những đoạn trò chuyện rời rạc, tiếng nhạc, tiếng tivi văng vẳng câu được câu không. Trong sân trồng nho, trĩu quả. Giàn hoa nhài phủ kín một bên tường và bên kia là một giá những lọ rỗng cùng mấy tảng mật ong.

Chiếc bàn kim loại đặt ngay dưới tán cây chanh đã chiếm phần lớn diện tích khoảnh sân nhưng dọc mép sân, Mustafa vẫn đặt mấy máng thức ăn cho lũ chim và còn chừa lại một khoảnh đất nhỏ làm vườn, chỗ anh cố trồng mấy cây rau thơm. Chúng gần như héo cả vì không có đủ ánh nắng. Tôi nhìn anh dùng ngón cái và ngón trỏ cầm lền một bông hoa chanh rồi tận hưởng mùi hương của nó.

Dạo này, trong cái tĩnh lặng của buổi tối thứ Bảy, anh thường bắt đầu suy nghĩ, trầm tư. Tâm trí anh chưa bao giờ nghỉ ngơi, chưa bao giờ yên tĩnh. “Em có bao giờ nghĩ tới việc sống một cuộc đời khác thì sẽ như thế nào không?” Anh hỏi tôi vào một buổi tối như thế.

“Ý anh là gì?”

“Thỉnh thoảng anh thấy sợ khi nghĩ đến chuyện cuộc đời ta có thể đã đi theo những lối rẽ khác. Sẽ ra sao nếu anh làm văn phòng ở nơi nào đó, nếu em nghe lời bố và vào làm ở tiệm vải? Chúng ta phải biết ơn nhiều điều lắm.”

Tôi không đáp lại. Dù đời tôi có thể dễ dàng đi theo lối rẽ khác thì cũng khó có chuyện Mustafa lại đi làm việc văn phòng được. Không, mấy cái suy nghĩ u ám này của anh ấy là do chuyện gì khác, như thể Mustafa đã bắt đầu thấy sợ đánh mất tất cả, như thể tiếng vọng của tương lai đang dội về và thì thẩm vào tai anh.

Thằng bé Firas, dù bố nó có phàn nàn thể nào, vẫn không chịu rời máy vi tính để phụ giúp bố mẹ chuẩn bị bữa ăn. “Firas!!!” Mustafa gọi vọng từ căn bếp, “Đứng dậy ngay kẻo mông không gỡ ra khỏi cái ghế được đâu!” Nhưng thằng bé vẫn ngồi yên trên cái ghế mây ở phòng khách, trong bộ đồ áo phông quần soóc. Mười hai tuổi, mặt thuôn dài, cao lêu nghêu và tóc lòa xòa, mặc kệ bố nói, thằng bé cười một cái và trông nó khi ấy thật giống một con chó săn Saluki, loại mà bạn hay thấy trên sa mạc ấy.

Chị thằng bé, Aya, hơn nó có một tuổi, sẽ một tay bế Sami nhà chúng tôi một tay bày bàn ăn. Bây giờ Sami đã ba tuổi và lon ton khắp nơi như một sứ giả hăm hở và háo hức. Aya sẽ cho nó cầm một cái đĩa hoặc một cái cốc không để nó cảm thấy mình đang giúp cô bé thật. Cô bé có mái tóc dài vàng óng giống mẹ và Sami sẽ kéo lấy những lọn tóc xoăn ấy mỗi khi cô bé cúi xuống rồi tự cười khúc khích khi chúng rung lên và co lại như lò xo. Rồi tất cả chúng tôi cùng nhau dọn bàn, cả Firas – Mustafa sẽ kéo nó ra khỏi cái ghế máy bằng cánh tay gầy gò của anh – và chúng tôi sẽ đem những đĩa thức ăn vẫn còn đang nghi ngút, những bát salad đầy màu sắc cùng nước xốt chấm và bánh mì ra chiếc bàn ngoài sân. Lúc thì chúng tôi có đậu lăng đỏ và xúp khoai lang rắc thìa là Ai Cập, hoặc món cà tím hầm thịt bò và bí ngòi, hoặc hoa artiso nhồi với đậu xanh hầm, hoặc salad lúa mì và ngò tây, hoặc rau chân vịt với hạt thông và lựu. Sau đó, chúng tôi tráng miệng với baklava[3] rưới đẫm mật ong và bánh rán nhúng siro, hoặc nước mơ ngâm trong những chiếc bình mà Afra đã cất công chuẩn bị. Firas thường sẽ lại nghịch điện thoại và Mustafa sẽ giật nó khỏi tay thằng bé, thả vào trong một chiếc lọ mật ong rỗng. Tuy thế, anh tôi không bao giờ cáu với thằng bé – giữa họ có một kiểu hài hước ngầm, ngay cả khi đang “đối đầu” nhau như thế.

“Lúc nào thì bố trả con điện thoại?” Firas hỏi.

“Lúc sa mạc có tuyết.”

Và đến lúc cà phê được bày sẵn sàng trên bàn, cái điện thoại đã được ra khỏi lọ đựng mật ong và trở về tay thằng bé. “Lần tới bố sẽ không để nó vào cái lọ rỗng đâu đấy, Firas!”

Miễn là còn đang nấu nướng hoặc ăn uống, Mustafa sẽ thấy hạnh phúc bình yên. Nhưng sau đó, khi mặt trời đã lặn và hương hoa nhài buổi đêm vây lấy chúng tôi, nhất là khi không khí trở nên tĩnh lặng và ngột ngạt, anh ấy sẽ chùng xuống, và tôi biết anh đang nghĩ rằng màn đêm yên ắng và tối tăm này lại đang mang tới những lời thì thầm từ tương lai.

“Gì thế, anh Mustafa?” Tôi hỏi khi Dahab và Afra đang cho đống bát đĩa vào máy rửa bát. Tiếng cười vang dội của chị Dahab khiến lũ chim bay vọt khỏi tòa nhà và lặn vào màn đêm. “Dạo này anh cứ khang khác.”

“Tình hình ngày càng tệ,” anh trả lời. Tôi biết anh nói đúng, dù chẳng ai trong chúng tôi muốn nói về chuyện đó. Anh dập tắt điếu thuốc và đưa mu bàn tay lên xoa xoa mắt.

“Chuyện sẽ còn tệ nữa. Chúng ta đều biết thế còn gì? Nhưng chúng ta cứ cố tiếp tục sống bình thường như trước đây.” Anh tống một cái bánh rán vào miệng như để chứng minh mình đúng. Bấy giờ là cuối tháng Sáu, và từ tháng Ba năm đó, cuộc nội chiến đã nổ ra với các cuộc phản kháng ở Damascus, khiến Syria trở nên bất ổn và đầy bạo lực. Chắc hẳn tôi đang nhìn xuống khi anh nói và có lẽ anh đã thấy sự lo lắng trên gương mặt tôi, vì khi tôi ngẩng đầu lên nhìn, anh lại đang mỉm cười.

“Anh bảo này, hay là chúng ta làm thêm vài công thức cho Aya? Anh mới nghĩ ra một thứ – mật ong bạch đàn với oải hương!” Mắt anh sáng ngời khi bắt đầu suy nghĩ về loại xà phòng mới. Anh gọi Aya mang cho anh chiếc laptop, rồi hai bố con cùng tìm công thức chính xác cho nó. Dù lúc đó Aya mới chỉ mười bốn tuổi, Mustafa vẫn quyết tâm dạy con bé bằng được. Aya thì đang bận chơi với Sami – sao thằng nhóc này quấn con bé thế! Nó lúc nào cũng phải dính lấy Aya, dùng đôi mắt xám to tròn của mình để quét một vòng xem con bé đang ở đâu. Mắt Sami giống hệt mẹ nó. Màu của sỏi đá. Hay màu của đôi mắt trẻ sơ sinh trước khi chúng chuyển sang màu nâu, trừ khi đôi mắt nó không đổi màu như thế, và cũng chẳng chuyển sang màu xanh lơ. Sami sẽ đi theo Aya khắp nơi, kéo kéo váy cô bé rồi Aya sẽ bế nó, nâng lên cao thêm để nó nhìn lũ chim đang đậu bên máng ăn hay mấy con côn trùng hoặc thằn lằn đang bò trên bức tường và qua khoảnh sân bê tông.

Với mỗi công thức, Mustafa và Aya sẽ cùng xem xét các chất màu và axit, các khoáng chất có trong mỗi loại mật ong, để tạo nên sự kết hợp mang đến hiệu quả hoàn hảo, như cách anh ấy gọi. Sau đó họ sẽ tính độ cô đặc của đường, tính kết hạt, khả năng hút ẩm, khả năng bảo quản. Tôi sẽ đưa ra vài đề xuất và hai bố con anh thường rộng lượng mỉm cười đón nhận, nhưng Mustafa mới là người suy nghĩ như loài ong. Anh là người quyết định các ý tưởng, còn tôi là người hiện thực chúng.

Và trong những buổi tối như thế, với hương mơ ngọt ngào và hương hoa nhài thơm ngát màn đêm, thằng bé Firas cắm cúi với chiếc máy vi tính của nó, Aya ngồi bên cạnh chúng tôi, Sami ngồi trong lòng Aya và nhai tóc con bé, tiếng Afra và Dahab cười nói vọng tới từ căn bếp, chúng tôi vẫn còn hạnh phúc. Cuộc sống vẫn đủ bình thường để chúng tôi quên đi những hoài nghi lo lắng, hoặc ít nhất đủ để giữ chúng lại ở đâu đó, nơi xa xôi khuất nẻo của tâm trí, trong khi bình tâm lên kế hoạch cho tương lai.

***

Khi rắc rối mới bắt đầu, Dahab và Aya rời đi. Mustafa đã thuyết phục được hai mẹ con đi trước. Đến lúc nỗi sợ của anh bắt đầu trở thành sự thật, anh nhanh chóng lên kế hoạch, nhưng cần ở lại lâu hơn để chăm sóc bầy ong. Lúc đó, tôi nghĩ anh quá vội vàng và cho rằng cái chết của mẹ khi anh còn nhỏ, điều đã ám ảnh anh kể từ lúc chúng tôi biết nhau, có lẽ đã khiến anh có thái độ bảo vệ quá mức với những người phụ nữ trong cuộc đời mình, và kết quả là Dahab và Aya là những người đầu tiên rời đi, may mắn thoát khỏi những gì sắp xảy đến. Mustafa có một người bạn ở Anh, một giáo sư xã hội học và đã chuyển tới đó sống vài năm trước vì công việc. Người này đã gọi điện và thúc giục anh tôi mau lên đường sang Anh, vì anh ta tin tình hình sẽ ngày càng xấu đi. Mustafa đưa cho vợ và con gái số tiền đủ để họ yên ổn suốt cuộc hành trình, trong khi anh vẫn ở lại Syria với Firas.

“Anh không thể bỏ lũ ong được, Nuri.” Một tối anh nói với tôi như vậy, đưa đôi bàn tay to lớn lên xoa xoa khuôn mặt và bộ râu, như thể đang cố vuốt sạch vẻ u ám giờ lúc nào cũng hiển hiện trên khuôn mặt anh. “Lũ ong cũng là gia đình của chúng ta.”

Trước khi mọi chuyện trở nên thực sự tồi tệ, Mustafa và Firas sẽ đến ăn tối với chúng tôi. Chúng tôi sẽ cùng ngồi nơi hàng hiên, nhìn xuống thành phố bên dưới và lắng nghe tiếng ầm ì của bom đạn xa xôi vẳng lại, thấy khói bốc lên và tan vào trời đêm. Sau đó, tình hình xấu đi, chúng tôi bắt đầu nói về chuyện cùng nhau rời đi. Mọi người quây quanh quả địa cầu trong cái ánh sáng nhập nhòa của buổi chạng vạng, khi Mustafa đưa tay lần theo tuyến hành trình mà Dahab và Aya đã đi. Mọi chuyện đã dễ dàng hơn với họ. Trong chiếc ví da dày cộp của mình, Mustafa có tên và số điện thoại của rất nhiều tay môi giới, Chúng tôi xem xét lại hết sổ sách, kiểm tra các khoản tài chính, tính toán mọi chi phí cho cuộc chạy trốn. Tất nhiên ta chẳng chắc chắn được điều gì, lũ môi giới đó sẽ đổi giá tùy hứng, nhưng chúng tôi đã có một kế hoạch. Mustafa thích lên kế hoạch, danh sách và lộ trình. Chúng làm anh ấy cảm thấy an toàn. Nhưng tôi biết anh ấy nói vậy thôi. Anh vẫn chưa nỡ bỏ đàn ong mà đi.

Bọn phiến quân đã phá hủy vườn ong vào một đêm cuối hạ. Chúng đốt cháy khu vườn và lúc chúng tôi đến nơi vào sáng hôm sau, mọi thứ đã thành than. Bầy ong chết hết và cả cánh đồng cháy đen. Tôi sẽ không bao giờ quên được sự im lặng bất tận đó. Không có những đám máy ong bay trên cánh đồng, chúng tôi phải đối mặt với sự tĩnh mịch của ánh sáng và bầu trời. Vào thời khắc ấy, khi đứng bên rìa cánh đồng nơi mặt trời vẫn rọi sáng những thùng ong giờ đã cháy rụi, từng hơi thở tôi hít vào như đều thấm đẫm sự trống rỗng, một sự nhẹ bẫng hư vô. Mustafa ngồi sụp xuống giữa cánh đồng, hai mắt nhắm nghiền. Tôi bước quanh, nhìn khắp một lượt để tìm những con còn sống rồi giẫm lên chúng, bởi chúng đâu còn tổ hay bầy để trở về nữa. Hầu hết các thùng ong đều đã chảy vụn nhưng một vài thùng vẫn còn lại bộ khung và số ong đáng kể: mười hai, hai mươi mốt, một trăm hai mươi mốt – những bầy ong với thế hệ bà, mẹ, con cái. Tôi biết rõ vì chính tay tôi đã tách đàn cho chúng. Ba thế hệ ong. Nhưng giờ tất cả không còn nữa. Tôi về nhà và cho Sami đi ngủ, ngồi bên giường một lúc ngắm nó chìm vào giấc, rồi đi ra hàng hiên và nhìn bầu trời đang tối dần cùng thành phố đang ì ầm bên dưới.

Chảy dưới chân đồi là dòng Aleppo. Lần cuối cùng tôi trông thấy nó là khi lòng sông đang ngập trong rác. Vào mùa đông ấy, họ câu được xác của những người đàn ông và các cậu bé. Hai tay bị trói, đạn găm trên đầu. Ngày mùa đông ấy ở Bustan al-Qasr, khu phố phía nam, tôi thấy họ kéo những cái xác đi. Tôi theo chân họ đến một ngôi trường cũ, thấy những thi thể ấy được đặt trong sân trường. Bên trong rất tối, chỉ có chút ánh sáng từ mấy ngọn nến được thắp trong một chiếc xô rỗng. Một người phụ nữ trung niên quỳ trên sàn, cạnh một chiếc xô khác đựng đầy nước. Chị nói mình sẽ lau mặt cho người đàn ông đã chết đó, để những người phụ nữ yêu thương anh ấy có thể nhận ra anh khi họ đến đây tìm kiếm. Nếu tôi có là một trong những người đàn ông đã chết trên dòng sông ấy, Afra có lẽ cũng sẽ trèo đèo lội suối để tìm tôi. Em có lẽ sẽ lặn xuống tận lòng sông, nhưng đấy là trước khi chúng làm mù mắt em.

Trước khi cuộc chiến xảy ra, Afra là một người rất khác. Em lúc nào cũng bừa bộn. Ví dụ, nếu em đang nướng bánh, bột mì thể nào cũng sẽ dính ở mọi nơi, kể cả mặt Sami. Thằng bé như bị lăn trong bột vậy. Lúc vẽ tranh, em cũng sẽ bừa bộn như thế. Và nếu có cả Sami cùng vẽ, thì chuyện còn kinh khủng hơn nhiều, như thể hai người họ vung vẩy những chiếc cọ sũng màu khắp cả căn phòng. Ngay cả lúc em nói, em cũng vẫn tùy hứng như thế, lúc trước nói vài câu, lúc sau lại nói vài câu, xong lại sửa lại, xong lại nói tiếp. Đôi khi em còn ngắt lời chính mình và lúc em cười thì cười nghiêng nhà đổ cửa.

Nhưng lúc Afra buồn, thế giới của tôi cũng tăm tối theo. Tôi không làm sao khác được. Em mạnh mẽ hơn tôi. Em khóc như trẻ con, cười như chuông ngân, và nụ cười ấy là nụ cười đẹp nhất tôi từng thấy. Em có thể tranh cãi hàng tiếng đồng hồ không cần nghỉ. Afra yêu, ghét và tận hưởng thế giới này như thể nó là một bông hồng. Tất cả những điều này khiến tôi yêu em hơn cả sinh mệnh của mình.

Em tạo ra một thứ nghệ thuật tuyệt vời, giành được nhiều giải thưởng với những bức tranh vẽ cảnh làng mạc, cảnh phố xá ở mọi miền đất nước. Vào những sáng Chủ nhật, cả nhà chúng tôi sẽ ra chợ, dựng một gian hàng nhỏ, ngay đối diện gian của anh Hamid bán trà và gia vị. Gian hàng nằm ở nơi khuất nẻo của khu chợ, hơi tối và bụi nhưng bạn có thể ngửi được hương bạch đậu khấu, quế, dương hồi và hàng triệu hương vị khác. Và dù chỉ với chút ánh sáng yếu ớt đó, những bức tranh phong cảnh của Afra vẫn sống động rực rỡ, như thể chúng đang chuyển động. Nước đang chảy và mây đang bay.

Bạn nên thấy Afra khi có khách hỏi mua, khi họ đến gian hàng của chúng tôi. Thương nhân, nam và nữ, chủ yếu là từ châu Âu hoặc châu Á. Những lần như thế em sẽ ngồi yên lặng, Sami thì ngồi trong lòng mẹ, Afra sẽ chăm chú nhìn vị khách khi họ tiến lại gần bức tranh, bỏ kính ra nếu như họ có đeo, rồi lại lùi ra xa, thường xa đến khi chạm phải khách ở gian của Hamid, rồi cứ đứng sững như thế một lúc lâu. Và sau đó, họ thường hỏi: “Cô là Afra?” và vợ tôi sẽ đáp: “Phải, tôi là Afra.” Và thế là đủ, bức tranh được bán.

Trong em có cả thế giới, và người khách mua tranh có thể thấy điều đó. Vào giây phút ấy, khi họ nhìn vào bức tranh rồi nhìn sang Afra, họ đã hiểu em cất giữ điều gì trong lòng. Tâm hồn của Afra rộng lớn như những cánh đồng và những sa mạc, như trời và như biển mà em vẽ, và cũng huyền bí hấp dẫn như thế. Luôn luôn có điều gì đó để biết thêm, để hiểu thêm, và như tôi biết, như thế là chưa đủ, tôi muốn nhiều hơn. Nhưng người Syria có câu rằng: Ở trong mỗi người mà bạn biết có một người mà bạn không biết. Tôi yêu Afra từ ngày đầu tiên gặp em, trong đám cưới đứa con lớn của ông anh họ Ibrahim ở khách sạn Dama Rose tại Damascus. Em mặc một chiếc váy màu vàng cùng hijab lụa. Và đôi mắt của em, không xanh màu của trời hay của biển, mà là màu xanh của dòng Aleppo với những xoáy nước nâu và xanh.

Tôi nhớ mãi đêm tân hôn vào hai năm sau đó, nhớ cách em bảo tôi phải cởi hijab ra sao. Tôi nhẹ nhàng rút từng chiếc trâm cài tóc, gỡ lớp vải ra và lần đầu tiên được thấy mái tóc dài mượt của em, đen nhánh như bầu trời sa mạc vào một đêm không sao.

Nhưng tôi yêu nhất là tiếng cười của em. Afra cười như thể chúng tôi sẽ sống hạnh phúc mãi, như thể chúng tôi sẽ không bao giờ chết.

***

Lũ ong đã chết, Mustafa đã sẵn sàng rời Aleppo, nhưng khi chuẩn bị đi thì Firas mất tích, bởi vậy chúng tôi ở lại đợi thằng bé. Suốt thời gian đó, Mustafa gần như không nói lời nào, tâm trí anh luôn bị ám ảnh, tưởng tượng hết điều này đến điều khác. Thỉnh thoảng anh lại tự đoán thằng bé đang ở đâu đó. “Có khi nó đi tìm đứa bạn nào đấy, Nuri ạ,” hoặc “Có khi thằng bé không muốn rời Aleppo, nó lại trốn ở đâu đó để chúng ta phải ở lại với nó đấy,” hoặc một lần khác thì “Có khi nó chết rồi, Nuri ơi. Có khi con trai của anh chết rồi.”

Hành lý đã gói ghém xong và chúng tôi đã sẵn sàng, nhưng ngày qua ngày, Firas vẫn bặt tin. Vậy nên, Mustafa làm việc trong một nhà xác, tạm đặt ở một tòa nhà bỏ hoang, nơi anh ghi lại thông tin của người chết và nguyên nhân cái chết – những viên đạn, những mảnh bom, những vụ nổ. Anh ấy ở trong phòng kín, không thấy ánh sáng mặt trời, điều ấy thật lạ lẫm với tôi. Mustafa có một cuốn sổ đen, làm việc như chạy đua với thời gian, viết thông tin bằng một mẩu bút chì. Khi tìm được giấy tờ của người chết, công việc sẽ dễ dàng hơn một chút; những khi khác, anh sẽ ghi lại những đặc điểm nổi bật, như màu tóc hay màu mắt, dáng mũi, một nốt ruồi trên má trái. Mustafa vẫn cần mẫn làm công việc đó cho tới ngày mùa đông hôm ấy, khi tôi bế Firas trở về từ lòng sông. Tôi nhận ra cậu thiếu niên nằm chết trên phiến gỗ giữa sân trường ấy chính là cháu tôi. Tôi nhờ hai người đàn ông có xe ô tô đưa thằng bé về nhà xác. Khi Mustafa nhìn thấy Firas, anh bảo chúng tôi đặt thằng bé xuống bàn, anh vuốt mắt cho nó rồi đứng lặng hồi lâu, rất lâu, và nắm tay thằng bé. Tôi đứng ở bậc thềm khi những người đàn ông kia rời đi, tiếng động cơ vang lên, chiếc xe đi khỏi và chỉ còn lại sự tĩnh lặng, một sự tĩnh lặng vĩnh hằng. Qua khung cửa sổ, ánh sáng chiếu lên chiếc bàn nơi thằng bé đang nằm, nơi Mustafa đang đứng nắm tay nó. Trong giây lát, âm thanh như biến mất, không một tiếng bom, không một tiếng chim, không một hơi thở.

Sau đó, Mustafa rời chiếc bàn, đeo kính lên và lấy dao cẩn thận chuốt lại chiếc bút chì, bình tĩnh ngồi vào bàn, mở cuốn sổ đen và viết:

Tên: Con trai tôi

Nguyên nhân tử vong: Thế giới đổ nát này

Và đó là lần cuối cùng Mustafa làm công việc đó. Đúng một tuần sau, Sami chết.

« Lùi
Tiến »