Cô nhân viên xã hội nói cô ấy ở đây là để giúp chúng tôi. Cô tên là Lucy Fisher và có vẻ rất ấn tượng với khả năng nói tiếng Anh của tôi. Tôi kể cho có ấy nghe về công việc của minh ở Syria, về những con ong và bầy của chúng, nhưng cô ấy không thực sự nghe, tôi biết. Cô ấy còn đang bận tâm với đống giấy tờ trước mặt mình.
Afra thậm chí còn chẳng ngoảnh mặt nhìn. Nếu không biết Afra không thể nhìn được, bạn sẽ tưởng em đang ngắm khung cảnh ngoài cửa sổ. Hôm nay trời có chút nắng. Chúng phản chiếu trong lòng mắt em, khiến hai con ngươi càng lung linh như có nước. Hai bàn tay nắm lấy nhau và đặt trên bàn ăn, mỗi mím chặt. Afra cũng biết chút tiếng Anh, tuy chỉ đủ để xoay xở, nhưng em sẽ không nói chuyện với ai, trừ tôi. Người duy nhất tôi nghe em từng nói chuyện cùng là Angeliki. Angeliki với bầu sữa chảy thấm ướt áo. Tôi tự hỏi không biết cô có thể tìm được đường ra khỏi khu rừng đó hay không.
“Chỗ này ổn chứ, anh chị Ibrahim?” Lucy Fisher hỏi, đôi mắt xanh và cặp kính viền bạc xem xét đống giấy tờ như thể chúng có câu trả lời cho câu hỏi kia của cô. Tôi đang cố nhìn xem ông lão người Maroc kia đã nói gì.
Cô bỗng ngẩng lên nhìn tôi và khuôn mặt bừng lên sự ấm áp.
“Tôi thấy rất sạch sẽ và an toàn, so với nhiều chỗ khác,” tôi đáp. Tôi không kể cho cô nghe về những nơi khác, và tôi chắc chắn sẽ không kể cô nghe về những con chuột và gián trong phòng chúng tôi. Tôi e kể ra thì chúng tôi lại thành những kẻ vô ơn.
Cô không hỏi gì nhiều, nhưng thông báo rằng sẽ sớm có một nhân viên nhập cư đến phỏng vấn chúng tôi. Cô đẩy đẩy gọng kính trên sống mũi và trấn an chúng tôi bằng giọng nói nhẹ nhàng, rõ ràng rằng ngay khi chúng tôi nhận được giấy chấp nhận tị nạn, Afra sẽ được gặp bác sĩ và khám mắt. Cô liếc nhìn Afra và tôi thấy cô cũng đang để tay hệt như em. Chuyện này bỗng khiến tôi cảm thấy có chút là lạ. Rồi cô đưa cho chúng tôi một loạt giấy tờ. Một bộ hồ sơ từ văn phòng Bộ Nội vụ: thông tin về việc xin tị nạn, giấy tờ pháp nhân, chứng nhận chấp thuận, thông báo quy trình phỏng vấn. Tôi xem qua một lượt và cô quan sát tôi, kiên nhẫn đợi.
Để lưu lại nước Anh với tư cách người tị nạn, bạn phải chứng minh được rằng mình không thể sống an toàn tại bất kỳ nơi nào trên lãnh thổ đất nước mình, do bạn bị truy sát hoặc bức hại.
“Bất kỳ nơi nào?” Tôi nói. “Các vị sẽ gửi chúng tôi về một nơi khác ư?”
Cô cau mày, vuốt tóc một cái và mím môi như thể vừa ăn phải cái gì khủng khiếp lắm.
“Điều anh cần làm bây giờ là hãy kể lại câu chuyện của mình thật thành thật,” cô nói. “Hãy nghĩ xem anh sẽ nói gì với nhân viên nhập cư. Rõ ràng, mạch lạc và thành thật nhất có thể.”
“Nhưng các vị sẽ trả chúng tôi về Thổ Nhĩ Kỳ hay Hy Lạp? Các vị nghĩ truy sát và bức hại nghĩa là gì chứ?” Tôi không định nói to như vậy và những đường gân trên cánh tay tôi bắt đầu co giật. Tôi đưa tay chà lên những thớ cơ căng và vết thương còn da non đỏ hồng, nhớ tới lưỡi dao sắc bén đó, và khuôn mặt của Lucy Fisher mờ đi, tay tôi run rẩy. Tôi gỡ nút trên cùng của chiếc áo cho dễ thở và cố giữ tay ngừng chuyển động.
“Cô không thấy nóng sao?” Tôi nói.
Tôi không thể nghe được cô nói cái gì, chỉ thấy đôi môi mấp máy. Giờ cô đứng lên và tôi cảm thấy Afra cũng đang thấp thỏm trên chiếc ghế đằng sau mình. Có tiếng nước chảy. Một dòng sông cuồn cuộn. Nhưng tôi chỉ thấy bọt nước bắn lên, sắc như lưỡi dao kia. Lucy tắt vòi nước, bước về phía tôi, đặt cốc nước vào tay tôi và đỡ nó lên như thể tôi vẫn là một đứa trẻ cần cho uống nước. Tôi uống, uống hết và cô lại ngồi xuống. Giờ tôi đã nhìn rõ, trông cô đang rất sợ hãi. Afra đặt một tay lên đùi tôi.
Bầu trời nứt toác. Mưa. Mưa như trút. Mưa còn dữ dội hơn cả trên đảo Leros, nơi đất đai đã hòa vào với nước mưa và biển cả. Tôi nhận ra là cô đang nói, tôi nghe thấy tiếng cô qua màn mưa, tôi nghe thấy từ kẻ thù, và cô nhìn tôi chăm chú, nhíu mày, khuôn mặt trắng trẻo bỗng ửng đỏ.
“Cô nói sao cơ?” Tôi nói.
“Tôi nói, chúng tôi ở đây là để giúp đỡ anh chị, nhiều nhất có thể.”
“Tôi nghe thấy từ kẻ thù,” tôi nói.
Cô so vai lại và bặm môi, liếc nhìn Afra, và trong một thoáng giận dữ đang bùng lên trên khuôn mặt và trong đôi mắt của cô, tôi đã hiểu ông lão Maroc kia nói gì. Nhưng không phải là cô đang nổi giận với tôi, cô chẳng thể nhìn thấu tôi là ai.
“Tôi chỉ nói là tôi không phải kẻ thù của anh.” Giọng cô giờ nghe có vẻ hơi ân hận, đáng lẽ cô không nên nói như thế, cô lỡ lời thôi, cô đang phải chịu áp lực. Tôi biết điều đó khi thấy cô giật giật nhúm tóc của mình. Nhưng lời thốt ra vẫn vang vọng trong căn phòng, ngay cả khi cô đã thu dọn đống giấy tờ, khi cô nói chuyện với Afra giờ đang khẽ gật đầu chào cô như thể chỉ để nói tôi biết cô ở đây rồi.
“Tôi hy vọng là anh ổn, anh Ibrahim,” cô nói trước khi về.
Ước gì tôi biết kẻ thù của mình là ai.
***
Lát sau, tôi ra vườn và ngồi xuống chiếc ghế dưới tán cây. Tôi nhớ tha thiết tiếng vo ve của bầy ong, thứ âm thanh của bình yên, tôi có thể ngửi thấy hương mật, hương hoa chanh và dương hồi, nhưng chúng bỗng biến mất và thay vào đó là mùi hương của khói tro.
Có tiếng vo ve. Không phải tiếng của cả bầy hàng ngàn con trong vườn ong mà chỉ là một tiếng đơn độc. Trên mặt đất dưới chân tôi là một con ong. Tôi cúi xuống và nhìn kỹ, nó không có cánh. Tôi chìa tay ra và con bé bò lên, tự tìm đường đi vào lòng bàn tay tôi – một bé ong nghệ mũm mĩm và gắt gỏng, một khối mềm mềm, với những dải lông vàng đen rõ và rộng, cùng chiếc vòi dài giấu dưới thân. Con bé đã bò lên đến cổ tay tôi, tôi bèn mang nó vào trong phòng rồi ngồi trên ghế bành mà quan sát nó làm ổ trong tay mình, chuẩn bị đánh giấc. Trong phòng khách, bà chủ nhà đã mang trà với sữa cho chúng tôi. Ở đây buổi tối khá bận rộn. Hầu hết phụ nữ đã đi ngủ cả, trừ một người đang thì thầm gì đó với người đàn ông ngồi cạnh bằng tiếng Ba Tư. Từ cách người này mặc hijab và trùm lên đầu lấy lệ, tôi đoán có lẽ cô là người Afghanistan.
Ông lão Maroc húp trà xì xụp như thể chưa từng được nếm thứ gì ngon hơn thế. Cứ uống xong một ngụm ông lão lại chép miệng một cái, vẫn kiểm tra điện thoại thường xuyên như cũ, sau đó gập sách lại và vỗ vỗ lên cuốn sách như vỗ đầu một đứa trẻ.
“Tay cậu có cái gì thế?”
Tôi chìa tay ra để ông lão có thể nhìn thấy con ong. “Nó không có cánh, chắc bị virus cánh biến dạng rồi,” tôi đáp.
“Cậu biết không, ở Maroc chúng tôi có một con đường gọi là con đường mật ong. Người ta từ khắp nơi trên thế giới đổ về để nếm mật ong của chúng tôi. Agadir có rất nhiều thác nước và núi non, vô số loài hoa thu hút cả người lẫn ong. Tôi tự hỏi không biết ong của nước Anh thì như thế nào.” Ông ấy rướn người lên để nhìn rõ hơn, định nhấc ngón tay nựng nó như nựng cún con, nhưng rồi lại thôi. “Nó có đốt không đấy?” Ông hỏi.
“Có đấy.”
Ông lại rụt tay về đặt lên đùi cho an toàn. “Cậu định làm gì với nó?”
“Có làm được gì, lát cháu lại đem nó ra ngoài thôi. Nó sẽ không sống được lâu với tình trạng thế này, nó bị đàn bỏ lại rồi, vì không có cánh.”
Ông ấy yên lặng nhìn ra khu vườn qua ô cửa kính. Nó là một cái sân bê tông nhỏ, vuông vắn với lối đi được lát đá và một cây anh đào trồng ở chính giữa.
Tôi đứng dậy và áp mặt vào cửa kính. Đã chín giờ tối nhưng mặt trời chỉ vừa mới lặn. Cây anh đào cao lớn và đen thẫm trên nền trời hoàng hôn rực rỡ.
“Giờ nắng thế này thôi chứ lát nữa là mưa ngay đấy. Trời mưa, lũ ong sẽ không ra ngoài. Chúng không bao giờ ra ngoài khi trời mưa, mà ở đây thì gần như lúc nào cũng mưa,” tôi nói.
“Tôi nghĩ lũ ong của người Anh sẽ khác đấy,” ông ấy bảo. Tôi quay lại nhìn và ông lại cười. Ông lão cứ cười khi tôi ngạc nhiên làm tôi thấy khó chịu.
Dưới tầng có một phòng tắm và một gã nào đó đang ở bên trong. Tiếng nước tiểu rơi xuống bồn cầu ào ào như thác.
“Bọn kinh tởm kia,” ông lão đứng dậy để về giường ngủ. “Không ai đứng đái hết! Ngồi xuống đi!”
Tôi ra sân và đặt con ong lên một cái cây khỏe mạnh bên hàng rào.
***
Trong góc phòng có một chiếc máy vi tính được nối mạng. Tôi ngồi xuống và xem anh Mustafa có gửi cho tôi bức thư nào nữa không. Anh rời Syria trước tôi và chúng tôi vẫn email cho nhau suốt quãng đường. Anh ấy đang đợi tôi ở miền Bắc nước Anh, ở Yorkshire. Tôi nhớ rõ những lời anh nói đã giúp tôi gắng gượng đi tiếp thế nào. Nơi nào có ong, nơi ấy có hoa. Nơi nào có hoa, nơi ấy sẽ có sự sống và hy vọng. Mustafa là lý do tôi tới đây. Anh là lý do để tôi và Afra gắng gượng đến Anh. Nhưng bây giờ, tất cả những gì tôi có thể làm là nhìn chăm chăm vào hình ảnh phản chiếu của mình trên màn hình. Tôi không muốn Mustafa biết tôi đã trở thành người như thế nào. Chúng tôi cuối cùng cũng ở trên cùng một đất nước, nhưng nếu gặp lại, anh ấy sẽ chỉ thấy một con người tan vỡ. Tôi không còn như xưa. Tôi không nghĩ anh ấy sẽ nhận ra mình. Tôi quay mặt đi, không nhìn vào màn hình nữa.
Tôi đợi đến khi phòng khách không còn ai, đến khi mọi cư dân trong nhà trọ này, với những ngôn ngữ xa lạ và hành động xa lạ của họ biến mất và chỉ còn tiếng xe cộ vọng lại từ xa. Tôi tưởng tượng lũ ong đang rù rì tụ lại thành bầy, và chúng bay đi, bay cao, bay xa để tìm mật. Tôi cố gắng hình dung vùng đất chúng đến, những con đường cao tốc, phố xá sáng đèn và biển rộng trời đêm.
Chiếc đèn cảm ứng trong vườn bỗng bật sáng. Từ chỗ ghế bành đối diện cửa sổ, tôi có thể thấy một cái bóng nho nhỏ, vụt qua hàng hiên. Trông như một con cáo. Tôi đứng dậy xem, nhưng bóng đèn đã tắt. Tôi lại gí sát mặt vào cửa kính, nhưng cái bóng hóa ra lớn hơn một con cáo nhiều và nó đang đứng thẳng lên. Nó lại di chuyển và đèn lại bật sáng. Một cậu bé đang đứng quay lưng về phía tôi. Nó nhìn qua hàng rào, sang một mảnh vườn khác. Tôi gõ liên tục lên cửa kính nhưng nó không quay lại. Tôi vội vàng lục tìm chìa khóa và thấy nó treo trên một cái móc đằng sau tấm rèm. Lúc tôi đến được gần thằng bé, nó quay lại nhìn tôi, như thể vẫn đang đợi tôi vậy. Nó nhìn tôi bằng đôi mắt đen thẳm, như đợi tôi trả lời mọi câu hỏi trên thế giới này.
“Mohammed!” Tôi nói thật khẽ, nhỡ thằng bé sợ mà chạy mất.
“Chú Nuri!” Nó nói. “Chú xem cái vườn kia, xanh chưa kìa!”
Nó bước sang bên cạnh để cho tôi nhìn. Trời tối quá, tôi chẳng thấy chút xanh nào, chỉ có những cái bóng mờ ảo của lùm cây và bụi cỏ.
“Sao cháu tìm được chú?” Tôi hỏi nhưng thằng bé không nói gì. Tôi nghĩ mình cần phải cẩn thận một chút. “Cháu muốn vào nhà không?” Nhưng thằng bé lại ngồi xuống mặt sân bê tông, khoanh chân lại và chăm chăm nhìn qua cái lỗ trên hàng rào. Tôi bèn ngồi xuống cạnh nó.
“Chỗ này là ven biển đấy chú,” nó nói.
“Ừ, chú biết.”
“Cháu không thích biển.”
“Chú biết. Chú nhớ.” Trong tay thằng bé có cái gì đó. Tôi nhìn thấy màu trắng và ngửi thấy hương chanh, dù quanh đây chẳng có cây chanh nào.
“Cái gì thế?” Tôi hỏi thằng bé.
“Một bông hoa.”
“Ở đâu ra thế?” Tôi xòe tay ra và Mohammed đặt bông hoa vào lòng bàn tay tôi. Nó bảo nó hái từ cây chanh ở
Aleppo
toàn bụi là bụi. Afra sẽ không đi. Những người khác đã đi cả rồi. Ngay cả anh Mustafa giờ cũng chỉ muốn rời đi. Nhưng Afra thì không. Nhà Mustafa nằm trên con đường dẫn ra sông và tôi vẫn thường đi bộ xuống đồi để thăm anh ấy. Quãng đường không dài nhưng có nhiều tay bắn tỉa nên tôi phải cẩn thận. Lũ chim vẫn hót. Tiếng của chúng chẳng bao giờ thay đổi. Bao năm trước Mustafa đã bảo tôi như thế, và bất cứ khi nào tiếng bom đạn lắng xuống, chúng lại bay ra. Chúng véo von trên những cành cây khẳng khiu, bên những hố bom, những đường dây điện, những bức tường đổ nát, và cứ thế hót. Chúng bay cao tít, tới mảnh trời vẫn còn nguyên vẹn và hót.
Lúc sắp tới nhà anh, dù vẫn còn cách một quãng, tôi thường nghe thấy tiếng nhạc văng vẳng. Lần nào tới thăm tôi cũng thấy anh đang ngồi trên giường, trong căn phòng vì trúng bom đã sập một nửa, đĩa than đang chạy trên một cái máy quay cũ. Anh chậm rãi hút thuốc, làn khói uốn lượn từng cuộn bay lên, bên cạnh là một con mèo đang rên khừ khừ. Nhưng hôm nay khi tôi đến, Mustafa không có ở đó. Con mèo đang ngủ ở chỗ anh hay ngồi, đuôi cuộn tròn ôm lấy thân mình. Trên chiếc tủ đầu giường, tôi thấy một bức ảnh chụp hai chúng tôi vào cái năm bắt đầu mở vườn ong. Chúng tôi đều nheo mắt dưới nắng, anh Mustafa phải cao hơn tôi ít nhất ba mươi phân, đằng sau là vườn ong. Xung quanh chúng tôi toàn là ong, dù trong bức ảnh không nhìn rõ chúng. Dưới bức ảnh là một lá thư.
Nuri thân mến,
Đôi khi anh nghĩ, nếu cứ đi tiếp có lẽ anh sẽ thấy chút ánh sáng, nhưng anh biết anh có bước tới thế giới nào đi nữa thì ở đó vẫn là bóng tối mà thôi. Không phải cái bóng tối của màn đêm với chút ánh sáng ít ỏi từ trăng và các vì sao. Cái bóng tối này ở trong lòng anh, chẳng có gì liên quan đến thế giới bên ngoài.
Bức ảnh thằng bé vẫn ở trên bàn và không gì có thể xóa nhòa nó được. Mỗi lần nhắm mắt là anh lại nhìn thấy thằng bé.
Cảm ơn ngày nào em cũng tới vườn với anh. Giá mà chúng ta có chút hoa để đặt lên mộ thằng bé. Nhiều lúc anh thấy nó đang ngồi trên bàn, ăn lakhma[4], tay kia quệt mũi rồi lau luôn vào quần soóc. Anh bảo nó “đừng bắt chước bố cậu làm thế”, và thằng bé nói “nhưng bác là bố cháu mà” rồi cười. Tiếng cười ấy. Anh nghe thấy nó, Nuri ạ. Âm thanh bay lên khỏi mặt đất và tan biến vào khoảng không cùng bầy chim. Anh chắc đấy là linh hồn nó, giờ nó đã được tự do. Lạy Thánh Allah cho anh được sống đến khi không còn điều gì tốt hơn cái chết, khi đó, xin Người hãy tới đưa anh đi.
Ngày hôm qua anh đi dạo ở bờ sông, và anh thấy bốn tên lính đang bắt một nhóm các cậu bé xếp thành một hàng. Chúng bịt mắt lũ trẻ và bắn, từng đứa một, rồi vứt xác xuống sông. Anh đứng lùi lại và quan sát tất cả. Và anh như trông thấy Firas cũng đứng ở đó, trong lòng khiếp sợ, biết rằng nó sẽ chết, biết rằng nó không trông thấy điều gì đang diễn ra và chỉ nghe thấy tiếng súng. Anh mong nó sẽ là đứa đầu tiên ra đi. Anh không ngờ sẽ có ngày anh lại có một mong ước như thế. Anh cũng nhắm mắt lại và lắng nghe. Giữa những tiếng súng và tiếng cơ thể ngã gục xuống nền đất, anh nghe tiếng một cậu bé bật khóc. Nó đang gọi bố. Những đứa khác sợ đến nỗi không thốt lên được tiếng nào. Trong nhóm lúc nào cũng có đứa dũng cảm hơn những đứa còn lại. Phải dũng cảm lắm mới dám bật khóc như thế, mới dám để nỗi sợ trong lòng thoát ra. Rồi bọn chúng làm cho thằng bé im. Trong tay anh lúc ấy có một khẩu súng trường. Anh tìm thấy bên vệ đường tuần trước, bên trong còn ba viên đạn. Vậy là anh có ba cú bắn nhưng bọn kia lại có bốn tên. Anh đợi đến khi chúng mất cảnh giác, đến lúc chúng ngồi bên bờ sông và hút thuốc, thả chân trong dòng nước chúng vừa ném lũ trẻ xuống.
Anh nhắm chuẩn. Một vào đầu, một vào bụng, một vào tim. Thằng thứ tư đứng lên và giơ tay hàng. Khi nhận ra anh đã hết đạn, nó vội mò mẫm khẩu súng của nó và anh bỏ chạy. Nó đã thấy mặt anh, bọn chúng sẽ tìm anh. Tối nay anh phải rời khỏi đây. Anh phải đến với Dahab và Aya. Đáng lẽ anh phải đi sớm hơn, nhưng anh không muốn đi mà không có em, không muốn bỏ mặc em ở cái địa ngục này.
Anh không thể đợi em đến để nói lời tạm biệt. Em phải thuyết phục Afra đi ngay. Em dịu dàng và tinh tế, điều này rất đáng quý khi làm việc với bầy ong, nhưng bây giờ thì không. Anh sẽ lên đường đi Anh, tìm vợ và con gái anh. Hãy rời khỏi đây đi, Nuri. Đây không còn là nhà của chúng ta nữa. Aleppo giờ chỉ như cái xác của người ta yêu. Nó không có tâm hồn, không có sự sống, chỉ có máu tươi đầm đìa.
Anh nhớ lần đầu tiên em đến vườn ong của bố anh dưới chân núi. Chúng vây xung quanh em mà em không có quần áo bảo hộ, chỉ có thể đưa hai tay lên che mắt và em nói với anh “Mustafa, đây chính là chỗ em muốn tới”, dù em biết như thế bố em sẽ không vui. Hãy nhớ tới lúc đó, Nuri. Hãy nhớ sức mạnh em đã có khi ấy. Hãy đưa Afra đi và đến tìm anh.
Mustafa.
Tôi ngồi xuống giường và khóc nức nở như một đứa trẻ. Từ ngày hôm đó, tôi luôn giữ bức ảnh và lá thư trong túi, nhưng Afra sẽ không đi, vậy nên tôi phải ra ngoài mỗi ngày và lục lọi trong đống đổ nát xem có gì ăn được, rồi trở về với một món quà cho em. Tôi thấy rất nhiều những đồ vật lạ lùng, những mảnh vỡ từ cuộc đời mọi người: một chiếc giày trẻ em, một chiếc vòng cổ cho chó, một chiếc điện thoại di động, một chiếc găng tay, một cái chìa khóa. Hay thật, tìm thấy một cái chìa khi không có cánh cửa nào để mở. Hãy nghĩ mà xem, còn lạ lùng hơn khi tìm thấy một chiếc giày hay một chiếc găng tay mà không còn đôi chân hay bàn tay nào mang vừa chúng.
Đó là những món quà buồn, nhưng tôi vẫn đưa cho em, đặt vào lòng em và đợi phản ứng của em. Nhưng em chẳng bao giờ phản ứng. Tôi vẫn cố gắng. Đấy là một cách tốt để tôi sao nhãng đôi chút, ra ngoài mỗi ngày và tìm một thứ mới. Một ngày, tôi tìm thấy món quà tuyệt vời hơn hết thảy: một trái lựu.
“Anh đã thấy gì thế?” Em hỏi khi tôi đứng ở ngưỡng cửa.
Em đang ngồi trên chiếc giường cắm trại, nơi Sami hay ngủ, quay lưng về phía tường và nhìn ra cửa sổ. Với bộ hijab màu đen, gương mặt trắng trẻo lạnh lùng và đôi mắt xám to tròn ấy, em làm tôi nghĩ đến một cô mèo. Không một chút biểu cảm nào. Tôi chỉ có thể hiểu em đang cảm thấy gì khi nghe em nói, hoặc khi em cấu vào da thịt mình mạnh đến nỗi chảy máu.
Căn phòng tràn ngập hương bánh mì nồng ấm, hương vị của cuộc sống bình thường. Tôi mở lời nói chuyện nhưng ngừng lại, và em quay sang tôi, rất nhẹ, chỉ là khẽ nghiêng cái tai.
Tôi biết em lại làm bánh mì. “Em làm bánh khubz[5] à?” Tôi hỏi.
“Em làm cho Sami, không phải cho anh đâu,” em đáp. “Anh đã nhìn thấy cái gì?”
“Afra…”
“Em không phải con ngốc, em cũng chưa điên. Em chỉ muốn làm bánh mì cho thằng bé thôi, được chưa? Em thông minh hơn anh đấy, đừng quên. Anh đã nhìn thấy gì?”
“Chúng ta có nhất thiết lần nào cũng phải thế này không?” Tôi nhìn em. Em đan những ngón tay vào nhau.
“Thì… những ngôi nhà,” tôi bắt đầu “chúng như những bộ xương cháy khô ấy, Afra. Những bộ xương khô. Em mà nhìn thấy thì sẽ khóc đấy.”
“Hôm qua anh kể cho em rồi.”
“Và cả cửa hàng tạp hóa nữa, giờ chẳng còn ai. Nhưng vẫn còn hoa quả trong các thùng gỗ Adnan để lại, lựu này, sung này, chuối với táo. Nhưng thối hết cả rồi, ruồi nhặng nữa chứ. Cả bầy hàng nghìn con bay trong tiết trời nóng nực này. Anh đi soát một hồi và thấy cái này. Anh mang về cho em đây.” Tôi bước đến bên em và đặt quả lựu vào lòng em. Afra cầm lên, lấy tay xoa lớp vỏ vẫn còn tươi của nó, xoay tròn và ấn nó trong tay.
“Cảm ơn anh.” Em nói, nhưng chẳng có chút biểu cảm nào. Tôi mong quả lựu có thể chạm được đến em. Trước đây em dành hàng giờ để gọt vỏ và tách hạt. Cắt đôi, khẽ đẩy phần lõi ra rồi lấy thìa gỗ gõ gõ để hạt rơi ra. Khi chiếc bát thủy tinh to đã đầy có ngọn, em sẽ cười vui vẻ và nói em đang có hàng nghìn viên đá quý. Tôi ước gì bây giờ em cười. Nhưng đúng là một điều ước ngớ ngẩn và ích kỷ nữa. Có gì để khiến em cười đây? Tôi nên ước cho cuộc chiến này kết thúc thì hơn. Nhưng tôi cần níu lấy thứ gì đó. Nếu em cười, nếu có phép màu nào đó khiến em cười, tôi như người lữ hành tìm được nước giữa sa mạc.
“Nói cho em nghe,” em vẫn chưa thôi. “Anh đã nhìn thấy cái gì thế?”
“Anh đã kể cho em rồi mà.”
“Không, đấy là cái anh nhìn thấy hôm qua, không phải hôm nay. Hôm nay anh thấy có người chết.”
“Em đừng tự lừa mình thế. Em không nhìn thấy gì mà.”
Lẽ ra tôi không nên nói thế. Tôi xin lỗi, một lần, hai lần, ba lần, nhưng sắc mặt em không thay đổi chút nào.
“Em đã biết từ lúc anh điều chỉnh nhịp thở rồi mới bước vào nhà rồi,” em đáp.
“Thế anh thở thế nào?”
“Hồng hộc.”
“Anh vô cùng bình thản.”
“Bình thản như bão.”
“Thôi được, lúc anh rời tiệm tạp hóa,” tôi nói, “anh đã đi một con đường khác. Anh muốn xem Akram còn ở đây không, và anh đi một đoạn xa đến tận Damascus, qua bờ sông một chút, đến khúc cua hay có chiếc xe hàng màu đỏ đỗ vào những ngày thứ Hai ấy.”
Cô ấy gật đầu. Giờ em đã có thể nhìn thấy nó, trong tâm trí. Em cần mọi chi tiết. Tôi dần nhận ra điều này, em cần cả những chi tiết rất nhỏ để hình dung được toàn thể, để có thể vờ như chính mắt em đã nhìn thấy chúng. Em lại gật một lần nữa, thúc giục tôi nói tiếp.
“Anh đến gần hai gã có súng và nghe chúng đang cá cược gì đó. Chúng định dùng thứ gì đấy làm mục tiêu tập bắn. Lúc chúng thống nhất với nhau xong anh mới nhận ra thứ gì đấy là một đứa bé tám tuổi đang chơi một mình bên vệ đường. Nói thật là anh không biết thằng bé đang làm gì ở đấy, tại sao mẹ nó lại để nó…”
“Nó mặc cái gì?” Em hỏi. “Thằng bé tám tuổi ấy, nó đang mặc cái gì?”
“Một cái áo len chui đầu màu đỏ với quần soóc xanh. Quần soóc jean.”
“Mắt nó màu gì?”
“Anh không nhìn thấy mắt nó, chắc có lẽ là màu nâu.”
“Em có biết thằng bé không nhỉ?”
“Có lẽ,” tôi nói, “anh không nhận ra nó.”
“Nó đang chơi gì thế?”
“Nó có một cái xe tải đồ chơi.”
“Màu gì?”
“Màu vàng.”
Em dừng lại, trì hoãn điều không thể tránh, cố giữ hình ảnh cậu bé càng lâu càng tốt, giữ cậu bé còn sống càng lâu càng tốt. Tôi cứ để em ngồi yên lặng như thế, khi tâm trí em vẫn còn xoay quanh hình ảnh ấy. Có lẽ em đang ghi nhớ những sắc màu, những cử động của cậu bé. Em sẽ ghi nhớ chúng.
“Anh nói tiếp đi,” em bảo.
“Anh nhận ra muộn quá,” tôi nói. “Cái thằng nhận cược đã bắn vào đầu thằng bé. Mọi người chạy hết và con phố vắng tanh.”
“Anh đã làm gì?”
“Anh đứng im. Thằng bé cứ nằm trên đường như thế và anh đứng im.”
“Có lẽ anh cũng đã bị bắn.”
“Phát đạn ấy không gọn, thằng bé không chết ngay. Mẹ nó đang ở trong nhà, ngôi nhà ngay trên con phố đó, và gào thét. Cô ấy muốn chạy đến bên nó nhưng thằng kia vẫn đang xả súng. Chúng hét ‘Mày không được lấy xác nó, mày không được lấy xác nó.’”
Tôi úp mặt vào lòng bàn tay và khóc. Tôi giữ chặt đôi mắt. Ước gì tôi xóa được nó, xóa được những gì tôi đã nhìn thấy. Tôi muốn xóa sạch chúng.
Rồi tôi thấy một vòng tay ôm lấy mình, và mùi hương bánh mì bao bọc lấy tôi.
*
Một quả bom nổ tung giữa đêm, bầu trời lóe sáng. Tôi chuẩn bị cho Afra đi ngủ. Giờ em đã thạo đường quanh nhà, đưa tay lần theo tường để đi lại, xòe rộng bàn tay, lê chân dò dẫm. Em đã có thể làm bánh mì, nhưng buổi tối em muốn tôi thay đồ cho em. Em yêu cầu tôi gập quần áo của em lại, đặt lên chiếc ghế bên giường nơi em thường đặt chúng. Em đưa hai cánh tay lên đầu như một đứa trẻ để tôi cởi giúp em chiếc abaya. Tôi gỡ hijab, tóc em xõa xuống hai vai. Rồi em ngồi trên giường, đợi tôi trong lúc tôi thay đổ. Đó là một đêm im ắng, không còn tiếng bom nào nữa, căn phòng yên tĩnh và ngập ánh trăng.Căn phòng này có một hố bom lớn, bức tường đằng xa và một phần trần nhà đã bay mất, mở miệng trống hoác thông với khu vườn và bầu trời. Cây hoa nhài vươn cao quá mái vòm bắt được chút ánh sáng, và đằng sau nó, cái bóng đen thẫm của cây sung trĩu xuống, che chở cái xích đu bằng gỗ tôi làm cho Sami. Sự yên tĩnh chẳng có chút vọng âm nào của cuộc sống. Ngoài kia là cuộc chiến không ngừng. Những ngôi nhà hoặc trống không hoặc chỉ có người chết. Đôi mắt của Afra lấp lánh trong chút ánh sáng le lói. Tôi muốn ôm em, muốn hôn lên bầu ngực mềm mại của em, muốn đánh mất mình trong em. Trong giây lát, chỉ giây lát thôi, tôi đã quên mất. Rồi em quay lại, như thể nhìn thấy tôi, như thể biết tôi đang nghĩ gì. Em bảo, “Anh biết đấy, nếu chúng ta yêu thứ gì, thứ đó sẽ mất đi.”
Chúng tôi cùng nằm xuống, và từ ngoài kia bay vào là mùi khói lửa, mùi khét, mùi tro tàn. Dù em đang nằm đối diện với tôi, em cũng không chạm vào tôi. Chúng tôi đã không làm tình từ lúc Sami mất. Nhưng đôi lúc, em vẫn để tôi nắm tay, và tôi bao bọc tay em trong tay mình.
“Chúng ta phải đi thôi, Afra,” tôi nói.
“Em đã nói với anh rồi. Không đi.”
“Nếu ở lại...”
“Nếu ở lại, chúng ta sẽ chết,” em nói.
“Đúng vậy.”
“Đúng vậy,” hai mắt em mở to, vô hồn.
“Em đợi một quả bom giội xuống chúng ta ư? Nếu em muốn như thế thì nó sẽ không xảy ra đâu.”
“Thế thì em không đợi nữa. Nhưng em sẽ không bỏ con lại.”
Tôi định nói, “Nhưng con đã đi rồi. Sami đã mất rồi. Con không còn ở đây nữa. Con không còn phải ở trong cái địa ngục này cùng chúng ta nữa. Con đã tới nơi khác rồi. Ở đây cũng không giúp chúng ta gần con hơn được đâu.” Và em sẽ đáp, “Phải, em biết, em không ngu ngốc.”
Vậy nên tôi vẫn im lặng. Tôi đưa ngón tay xoa nhẹ mu bàn tay em, trong lúc em đợi một quả bom sẽ giội xuống chúng tôi. Và khi tôi tỉnh giấc giữa đêm, tôi sẽ vươn tay ra chạm vào em, đảm bảo em vẫn ở đây, xác nhận chúng tôi vẫn còn sống. Trong bóng tối, tôi nhớ đến những con chó ăn xác những người bị vứt trên cánh đồng, nơi hoa hồng đã từng mọc, và đâu đó xa xa, tôi nghe thấy những tiếng rít hoang dại, kim loại va chạm, như thể một sinh vật nào đó đang bị kéo xuống địa ngục. Tôi đặt tay mình lên ngực em, giữa hai bầu ngực, cảm nhận nhịp tim đập của em rồi lại ngủ thiếp đi.
*
Buổi sáng, thầy tu báo giờ vẫn đi tới những căn nhà trống gọi người ta dậy cầu nguyện. Tôi ra ngoài cố tìm chút bột mì và trứng trước khi bánh mì hết sạch. Tôi lê chân bước trong lớp bụi dày, dày như tuyết vậy. Những chiếc xe cháy nham nhở, những hàng quần áo bẩn thỉu phơi dở dang trên những ban công bỏ hoang, những đường dây điện võng xuống lòng đường, những cửa hàng tan hoang, chung cư bị thổi bay mất mái, rác chất thành đống trên vỉa hè. Mọi thứ bốc mùi của cái chết và mùi cao su cháy khét. Phía đằng xa có đám khói cuộn tròn, từ từ bay lên. Tôi thấy miệng mình khô khốc, hai tay siết chặt và run rẩy, vùng vẫy giữa những con phố lộn xộn này. Vùng đất trước mặt, làng mạc đã bị đốt, người ta ào ra như lũ để trốn chạy. Những người phụ nữ hoảng loạn tột độ vì họ sợ bọn phiến quân không ai quản lý kia hãm hiếp mình. Nhưng ngay bên cạnh chỗ tôi đang đứng, một bụi hồng Damask đang nở rộ. Khi tôi nhắm mắt lại và hít thật sâu, trong khoảnh khắc, tôi có thể vờ rằng mình chưa từng nhìn thấy những điều kia.Ngước nhìn lên, tôi nhận ra mình đã đến một trạm gác. Có hai gã lính đứng chặn đường tôi, cả hai đều mang súng máy. Một trong hai quấn một chiếc keffiyeh[6]. Gã còn lại lấy một khẩu súng từ đằng sau chiếc xe tải và ấn nó lên ngực tôi.
“Cầm lấy,” gã nói.
Tôi cố bắt chước gương mặt của Afra. Tôi không muốn lộ ra bất cứ cảm xúc nào. Chúng sẽ xử tôi luôn. Gã lại ấn khẩu súng mạnh hơn, và tôi ngã ngửa ra sau, lưng đập xuống mặt đất toàn sỏi đá.
Gã ném khẩu súng xuống đất. Tôi ngẩng lên nhìn hai gã đang đứng trước mặt mình. Giờ gã đeo khăn keffiyeh đang chĩa súng vào ngực tôi. Tôi không thể giữ bình tĩnh nữa và nghe thấy giọng mình đang cầu xin chúng đừng giết tôi, quỳ sụp xuống nền đất bụi.
“Xin các anh, không phải tôi không muốn, tôi rất vinh hạnh, tôi phải là người thấy vinh hạnh nhất thế giới này khi cầm súng nhân danh các anh, nhưng vợ tôi đang ốm nặng, thập tử nhất sinh rồi, tôi phải trông nom cô ấy.” Dù miệng thì nói vậy nhưng tôi biết bọn chúng sẽ chẳng quan tâm. Sao chúng lại phải bận tâm về người vợ đang ốm của tôi chứ?
“Tôi khỏe, và khôn ngoan nữa. Tôi sẽ làm việc chăm chỉ cho các anh. Nhưng tôi cần thêm vài ngày nữa. Chỉ vài ngày nữa thôi. Đó là tất cả những gì tôi cần.”
Gã còn lại vỗ vai gã quấn keffiyeh và hắn hạ súng xuống.
“Lần sau bọn tao nhìn thấy mày, hoặc là mày cầm súng lên và đứng cạnh bọn tao, hoặc là mày tìm người nhặt xác mình đi nhé.”
Tôi quyết định đi thẳng về nhà. Dọc đường tôi cứ có cảm giác một cái bóng bám theo mình và tôi không chắc là mình bị bám đuôi hay đang bị ảo giác nữa. Đầu tôi cứ hiện lên hình ảnh một cái bóng với chiếc áo choàng, như ta hay gặp trong những cơn ác mộng thời thơ ấu, lơ lửng phía trên đám bụi sau lưng tôi. Nhưng khi tôi quay lại thì không thấy ai hết.
Tôi về đến nhà và Afra đang ngồi trên chiếc giường xếp, lưng dựa vào tường, nhìn ra cửa sổ. Em cầm quả lựu trong tay và xoay tròn nó. Tai em khẽ động khi tôi bước vào phòng, nhưng trước khi em kịp nói gì, tôi đã đi tìm một chiếc túi và nhét hết đồ vào trong đó.
“Có chuyện gì thế?” Mắt em tìm kiếm trong khoảng không trống rỗng.
“Chúng ta sẽ đi.”
“Em không đi.”
“Chúng sẽ giết anh nếu chúng ta ở lại.” Tôi đang ở trong bếp, mở vòi để đổ đầy nước vào chiếc bình nhựa. Tôi lấy cho em và tôi mỗi người thêm một bộ quần áo, rồi đưa tay tìm hộ chiếu và cục tiền giấu dưới giường. Afra không biết tiền giấu ở đó. Đấy là chỗ tiền tôi và anh Mustafa đã cố để dành trước khi việc kinh doanh không thể tiếp tục nữa, và tôi vẫn còn một chút trong tài khoản riêng. Tôi hy vọng sẽ rút được chúng khi đã thoát khỏi nơi này. Từ đầu kia của căn phòng, Afra đang nói gì đó. Lại càm ràm phản đối. Tôi gói theo cả hộ chiếu của Sami. Tôi không thể để nó ở đây được, và tôi ra phòng khách với cái túi.
“Anh đã bị hai gã chặn lại. Chúng gí súng vào ngực anh.” Tôi nói.
“Anh nói dối. Trước đây làm gì xảy ra chuyện như thế!”
“Có lẽ khi ấy quanh đây vẫn còn thanh niên trai tráng, chúng không để ý tới anh. Có gì mà để ý đâu. Chúng ta chỉ là những kẻ ngu ngốc bị bỏ lại.”
“Em sẽ không đi.”
“Chúng sẽ giết anh.”
“Kệ chúng.”
“Anh đã bảo chúng là anh cần vài ngày để chăm sóc em. Chúng đã đồng ý, nhưng chỉ vài ngày thôi. Nếu chúng nhìn thấy anh một lần nữa và anh không gia nhập với chúng, anh sẽ chết. Chúng bảo anh nên tìm người nhặt xác cho mình.”
Nghe đến những chữ cuối cùng, Afra mở to mắt và gương mặt em bỗng hiện lên nỗi sợ, một nỗi sợ thực sự. Khi nghĩ đến việc mất tôi, có lẽ nghĩ đến cái xác của tôi, em mới như sống lại và đứng vụt dậy. Em bước lần theo bức tường, tôi nín thở theo sau, rồi em lên giường nằm và nhắm mắt lại. Tôi cố giữ bình tĩnh, bảo mình phải cư xử lý trí nhưng em cứ nằm đó như một con mèo ươn, trong chiếc abaya và hijab đen tuyền cùng gương mặt vô cảm đã khiến tôi bắt đầu cảm thấy tuyệt vọng.
Tôi ngồi lên giường của Sami và nhìn đăm đăm qua cửa sổ, trông thấy bầu trời đêm xám bạc, không một bóng chim. Tôi cứ ngồi thế cho đến ngày hôm sau và cả tối hôm sau, khi bóng tối nuốt chửng lấy tôi. Tôi nhớ tới những con ong thợ đi xa vạn dặm để tìm hoa và mật rồi quay về báo tin cho những con ong khác. Chúng nó sẽ lắc lắc thân mình, góc nó đứng so với cái cầu ong sẽ cho những con khác biết hoa mới và mật ở hướng nào so với mặt trời. Tôi ước sao cũng có ai đó chỉ đường cho tôi như thế, có ai đó bảo tôi nên làm gì, nên đi đường nào. Nhưng tôi hoàn toàn cô độc.
*
Sắp nửa đêm tôi mới nằm xuống bên cạnh Afra. Em vẫn nằm yên như tượng. Tôi để bức ảnh và lá thư xuống dưới gối. Nửa đêm tỉnh giấc, tôi thấy em đang nhìn mình và thì thầm gọi tên tôi.“Sao thế em?” Tôi hỏi.
“Anh nghe đi.”
Từ phía đằng trước ngôi nhà truyền tới tiếng bước chân và giọng nói của đàn ông, rồi sau đó là tiếng cười, một tiếng cười đầy hả hê.
“Chúng đang làm gì thế?” Em hỏi.
Tôi bò ra khỏi giường và đi thật khẽ về phía em, cầm tay em, đỡ em ngồi dậy, đưa em ra cửa sau và bước xuống vườn. Em đi theo tôi mà không thắc mắc, không do dự. Tôi gõ gõ chân lên mặt đất để tìm tấm nắp bạc, nhấc nó sang bên cạnh. Để em ngồi trên miệng hầm và thả chân xuống dưới, tôi trèo xuống trước rồi đỡ em xuống. Và tôi kéo tấm nắp bạc lại che kín phía trên đầu chúng tôi.
Chân chúng tôi đang ngập trong nước. Xung quanh là lũ thằn lằn và côn trùng đã biến nơi đây thành nhà của chúng. Tôi đã đào cái hầm trú này từ năm ngoái. Afra đưa cả hai tay ôm lấy tôi và vùi mặt vào cổ tôi. Chúng tôi cứ như vậy ngồi yên trong bóng tối. Chúng tôi giờ đều mù cả, trong ngôi mộ dành cho hai người này. Trong bóng tối tịch mịch, tiếng hít thở của em là âm thanh duy nhất còn tồn tại trên Trái đất này. Có lẽ vợ tôi nói đúng. Chúng tôi có lẽ cứ nên chết như thế này, không cần ai đến nhặt xác. Bỗng có thứ gì đó chuyển động, nó ở ngay bên tai trái của tôi, và bên trên tôi. Ngoài kia, mọi thứ vỡ vụn và tan nát. Mấy gã đó chắc giờ phải vào đến trong nhà rồi. Tôi thấy Afra trong lòng tôi đang run lên.
“Em biết không, Afra?” Tôi nói.
“Sao anh?”
“Anh buồn đánh rắm.”
Một giây im lặng và rồi em bắt đầu cười. Em cười và vùi mặt vào cổ tôi mà cười. Em cười không thành tiếng nhưng cả người em đang run lên. Tôi vòng tay ôm em chặt hơn, tiếng cười của em đúng là điều tuyệt vời nhất còn lại trên thế giới này. Nhưng trong giây lát, tôi không thể nói chắc là em đang cười hay đã bắt đầu khóc, cho tới khi tôi thấy cổ tôi ướt đẫm nước mắt. Và rồi hơi thở của em nhẹ dần, em bắt đầu thiu thiu ngủ, như thể cái hầm trú này là nơi duy nhất giúp em cảm thấy an toàn, nơi bóng đêm trong lòng hòa với bóng đêm ngoài kia.
Trong phút chốc tôi đã hiểu bị mù là cảm giác như thế nào. Và rồi ký ức ùa về rực rỡ, như những giấc mơ, lung linh sắc màu. Cuộc sống của chúng tôi trước khi chiến tranh ập tới. Afra mặc chiếc váy xanh ngát, cầm tay dắt Sami. Thằng bé mới bắt đầu tập đi và đang chập chững xung quanh mẹ nó, chỉ cho chúng tôi xem một chiếc máy bay đang ngang qua bầu trời trong vắt. Chúng tôi đang đi đâu đó. Khi ấy là mùa hè và em đi lên trước sánh vai cùng các dì, các bác. Ola mặc màu vàng. Zeinah thì hồng. Zeinah, như mọi khi, vừa nói vừa khua tay loạn xạ. “Không!” Hai người kia đồng thanh khi Zeinah vừa nói gì đó. Có một người đàn ông đang đi cạnh tôi, là chú tôi. Chú kể chuyện công việc cho tôi nghe: Chú có một quán cà phê ở thành cổ Damascus, giờ chú muốn nghỉ hưu rồi nhưng cậu con trai lại không muốn tiếp quản công việc, “thằng nhãi lười biếng vô ơn ấy, nó cưới một đứa chẳng ra gì chỉ để lấy tiền của nó, và rồi tiền thì hết còn con kia vẫn thế…” Đúng khoảnh khắc ấy, Afra bế Sami lên, em quay lại nhìn tôi mỉm cười. Đôi mắt em long lanh nhưng nhòa lệ. Và rồi tất cả tan biến. Những con người năm xưa ấy đâu rồi?
Tôi chớp mắt trong cái bóng tối không thể xuyên qua này. Afra khẽ thở dài trong giấc ngủ say. Tôi tự hỏi giờ mình có nên bẻ gãy cổ em không, để cứu em khỏi những đau khổ này, cho em sự yên bình em mong muốn. Sami nằm lại trong khu vườn này. Em sẽ muốn ở gần con. Em sẽ không cần phải bỏ con lại một mình nữa. Mọi điều em tự tra tấn mình sẽ chấm dứt.
“Anh Nuri,” em nói.
“Ừ?”
“Em yêu anh.”
Tôi không đáp lời. Từng chữ của em hòa vào bóng tối, tôi để chúng chìm xuống đất, lắng xuống mặt đất ẩm thấp và tù đọng này.
“Chúng sẽ giết chúng ta à?” Em hỏi, giọng thoáng run rẩy.
“Em đang sợ.”
“Không. Chúng ta đã tới rất gần đích rồi.”
Và rồi có tiếng bước chân lại gần, giọng nói vang lên to hơn. “Tao đã bảo mày rồi,” gã đàn ông nói, “tao đã bảo mày đừng có để nó đi rồi.”
Tôi nín thở và giữ em thật chặt để em không thể cựa quậy gì. Tôi đã nghĩ phải đưa tay bịt miệng em lại. Tôi chỉ sợ em cất tiếng hoặc hét lên. Giờ em phải lựa chọn: sống hay chết. Phía trên là tiếng người di chuyển, tiếng nói lao xao, lầm bầm và cuối cùng tiếng bước chân cũng xa dần rồi lặng hẳn. Mãi cho tới khi thấy Afra khẽ thở phào một hơi tôi mới nhận ra rằng em vẫn còn bản năng muốn sống.
Đến khi trời sáng tôi mới dám chắc chắn mấy gã đó đã rời đi. Suốt mấy tiếng đồng hồ liền không có một tiếng động nào và nắng sớm đã tràn qua mép của tấm nắp hầm, chiếu lên vách bùn. Tôi đẩy cái nắp ra và trông lên bầu trời phía trên, mênh mông và không một gợn mây: màu xanh trong những giấc mơ. Afra đã tỉnh nhưng vẫn im lặng, lang thang trong thế giới màn đêm của em.
Tôi đã ước mình bị mù khi bước chân vào lại ngôi nhà. Phòng khách đầy rác rưởi và bức tường bị vẽ kín graffiti. Chúng tôi thắng hoặc chúng tôi chết.
“Nuri?”
Tôi không đáp.
“Nuri… Chúng đã làm gì thế?”
Tôi nhìn em đứng đó, giữa những thứ đổ nát vụn vỡ, dáng vẻ âm u như của một hồn ma thẳng tắp, bất động và mù lòa.
Nhưng tôi vẫn yên lặng. Em tiến thêm một bước rồi quỳ xuống, đưa tay khua khua tìm kiếm. Em nhặt lên một mẩu vỡ: một con chim bằng pha lê với đôi cánh rộng mở khắc dòng chữ mạ vàng 99 names of Allah. Món quà cưới mà bà em tặng em.
Em хоaу nó trong đôi bàn tay, như em đã làm với quả lựu, cảm nhận những đường cong, những vết xước của nó. Rồi bằng một giọng mềm yếu nhẹ nhàng, như giọng của một đứa trẻ hồi sinh từ quá khứ, em bắt đầu tụng niệm những cái tên đã khắc sâu trong tâm trí mình: “Đấng Tạo hóa, Đấng Xoa dịu, Đấng Thông thái, Đấng Thấu suốt, Đấng Phục sinh, Đấng Toàn năng…”
“Afra!” Tôi khẽ quát.
Em đặt mảnh vỡ xuống và lại vươn tới trước, đưa tay dò tìm khoảng trống trước mặt. Em tìm thấy một chiếc ô tô đồ chơi. Tôi đã cất hết chúng vào tủ vài tuần sau khi Sami mất. Giờ tôi không thể chịu nổi nữa khi nhìn thấy nó vỡ vụn và lăn lóc dưới nền đất. Thậm chí còn có một lọ sô cô la vung vãi, đây là món Sami thích nhất, lăn đi xa tầm với của Afra và dừng lại ở chân ghế. Chắc giờ nó đã lên mốc rồi nhưng tôi vẫn giữ nó trong tủ, cùng với bao thứ khác gợi tôi nhớ về con. Khi nhận ra mình đang cầm một cái ô tô đồ chơi, Afra đặt nó xuống ngay lập tức và quay sang tôi, như thể cố gắng bắt được ánh mắt tôi.
“Anh sẽ đi, dù em có đi hay không!” Tôi nói.
Tôi để em sang một bên và đi tìm chiếc túi. Tôi thấy nó ở phòng ngủ, vẫn nguyên xi. Tôi quàng qua vai và quay lại phòng khách, thấy em đang đứng giữa căn phòng. Trong lòng bàn tay đang mở ra là một mẩu lego: mảnh vụn còn lại từ ngôi nhà Sami đã ghép – ngôi nhà chúng ta sẽ sống khi đến nước Anh, thằng bé bảo thế, khi nó đồng ý rằng rời đi là một chuyện tốt.
“Ở đó sẽ không có bom,” nó nói, “và nhà cửa cũng sẽ không đổ nát như ở đây.” Tôi không biết thằng bé muốn nói đến những ngôi nhà lego hay những ngôi nhà thật. Tôi buồn khổ nhận ra rằng Sami được sinh ra trong một thế giới nơi mọi thứ đều có thể đổ vỡ. Những ngôi nhà thực sự bị nghiền nát, vỡ vụn. Không có gì chắc chắn trong thế giới cho Sami. Vậy mà thằng bé vẫn đang cố gắng hình dung về một nơi có những ngôi nhà không đổ sụp xuống quanh nó. Tôi đã cất ngôi nhà lego thật cẩn thận vào trong tủ, đảm bảo nó vẫn y nguyên như khi Sami để lại. Tôi thậm chí còn nghĩ tới việc tháo chúng ra rồi gắn lại bằng keo, để chúng tôi có thể mãi mãi giữ nó bên mình.
“Nuri!” Afra lên tiếng, phá vỡ sự yên tĩnh. “Được. Xin anh. Đưa em rời khỏi đây.”
Và em đứng đó đưa mắt nhìn khắp căn phòng một lần nữa, như thể em có thể nhìn thấy nó.