Tôi tỉnh dậy, thấy mình đang nằm giữa vườn. Chắc trời vừa mưa, quần áo tôi âm ẩm. Trong khoảnh sân bê tông này có đúng một cái cây. Rễ của nó đang vươn khỏi lớp lát và chọc vào lưng tôi. Tôi nhận ra mình đang nắm một bông hoa trong tay và ai đó đang đứng trước mặt tôi, che mất ánh sáng mặt trời.
“Đang làm gì thế hả anh khọm?” Ông lão Maroc nhìn xuống tôi, cười ngoác miệng. Ông vẫn nói bằng tiếng Ả Rập. “Anh ngủ ở đây, trong cái vườn này hả, anh khọm?” Ông lão chìa tay ra với tôi, kéo tôi dậy, khỏe và vững một cách khó hiểu ở độ tuổi như thế.
“Anh khờ?” Tôi hỏi, vẫn chưa tỉnh hẳn.
“Khọm!” Ông lão trả lời, cười vui vẻ. “Gã bán hàng ở cửa tiệm nói thế. Từ đấy nghĩa là ông già.”
Tôi đi theo ông lão vào nhà, tới nơi ấm áp. Ông bảo Afra đang tìm tôi. “Con bé khóc đấy.” Ông lão nói, tôi lại thấy khó tin, và khi tôi nhìn thấy em, Afra đã thay đồ gọn gàng và ngồi bất động ở chiếc bàn y như lúc Lucy Fisher ở đây. Như tôi thấy thì em đâu có khóc, và tôi chưa từng thấy hoặc nghe em khóc kể từ khi chúng tôi rời Aleppo. Em đang cầm mấy viên bi của Mohammed, xoay chúng trong lòng bàn tay. Tôi đã cố lấy chúng đi mà không được.
“Em tự mặc đồ cho mình được rồi đúng không?” Tôi nói, nhưng ngay lập tức hối hận khi thấy khuôn mặt em sầm xuống.
“Anh đã đi đâu thế?” Em hỏi. “Em thức gần suốt đêm và em không biết anh ở đâu.”
“Anh ngủ quên ở dưới tầng.”
“Bác Hazim bảo em anh ngủ trong vườn mà!”
Tôi sững người.
“Bác ấy tốt,” em nói, “bác ấy bảo sẽ đi tìm anh cho em và bảo em đừng lo.”
*
Tôi quyết định ra ngoài đi bộ. Đây là lần đầu tiên tôi ra ngoài. Nơi này hoàn toàn xa lạ với tôi, những cửa hàng cũ kỹ đứng kiêu hãnh: Go Go Pizza, Chilli Tuk-Tuk, Polskie Smaki, Pavel India, Moshimo. Cuối đường là một cửa hàng tiện lợi, bên trong ai đó đang bật thứ âm nhạc Ả Rập huyên náo. Tôi tìm đường ra gần biển. Bờ biển này không có cát, chỉ có sỏi và đá cuội, nhưng dọc con đường đi dạo ven bờ này có một hố cát lớn làm chỗ chơi cho mấy đứa trẻ. Một cậu nhóc mặc soóc đỏ đang xây một lâu đài cát. Trời không nóng, nhưng người Anh nghĩ là nóng, mẹ thằng nhóc đã cho nó mặc soóc như thế. Thằng bé xúc cát và nén cẩn thận vào cái xô xanh, cho tới khi cái xô đầy ắp, và nó cầm cái bay của mình gạt ngang một cái rất chuẩn.Những đứa trẻ khác nô đùa xung quanh với kem và những cái kẹo mút to ngang đầu chúng. Lâu đài cát thằng bé vừa xây xong đã trở thành một thành phố – nó lấy vụn túi nilon, nắp chai, vỏ kẹo để trang hoàng cho những tòa nhà. Lá cờ là một chiếc tất cũ lồng vào que kẹo bông và thằng bé đặt vào tòa nhà giữa khu lâu đài một chiếc vương miện bằng chén uống trà.
Thằng bé đứng dậy và lùi lại để chiêm ngưỡng công trình của mình. Rất ấn tượng. Nó còn biết dùng chén trà để tạo thành những ngôi nhà xung quanh tòa thành, và một tòa tháp quan sát trong suốt làm từ vỏ chai nước. Có lẽ thằng bé biết tôi đang quan sát nó, bởi nó quay lại và liếc thấy tôi, rồi dừng tay và bình tĩnh nhìn lại tôi. Một cái nhìn ngây thơ trong trẻo, như những đứa trẻ nơi tôi sống trước khi chiến tranh xảy ra. Trong giây lát, tôi tưởng thằng bé sắp nói gì đó với mình nhưng một cô bé khác đang gọi nó đến chơi cùng. Cô bé cố mời gọi nó bằng một quả bóng. Thằng bé do dự, liếc nhìn công trình tuyệt vời của mình một lần nữa, nhìn tôi một lần nữa trước khi chạy biến đi, bỏ lại tòa lâu đài.
Tôi ngồi xuống con đường đi dạo bên rìa hố cát và ngắm mặt trời ngả dần về tây. Buổi chiều, nơi này yên tĩnh hơn, mây dồn lại, lũ trẻ đã về hết. Tôi lôi tờ giấy xin tị nạn từ trong túi ra đọc:
Để lưu lại nước Anh với tư cách người tị nạn, bạn phải chứng minh được rằng mình không thể sống an toàn tại bất kỳ nơi nào trên lãnh thổ đất nước mình, do bạn bị truy sát hoặc bức hại.
Bầu trời bỗng nứt toác và một tia chớp lóe lên. Từng giọt mưa lớn rơi lên tờ giấy trên tay tôi.
Nước Anh.
Bất kỳ nơi nào.
Truy sát, bức hại.
Mưa nặng hạt hơn. Tôi cất lại tờ giấy vào túi và đứng dậy quay về nhà trọ.
Afra đang ngồi cạnh lối cửa chính trong phòng khách, vài người khác nhàn rỗi đi lại xung quanh và tivi đang bật âm lượng hết cỡ. Ông lão người Maroc nhướng mày chào hỏi tôi, “Thế nào rồi, anh khọm?” Giờ là cả câu tiếng Anh đầy đủ, đôi mắt đen sáng lấp lánh.
“Không tệ lắm, ông khọm ạ.” Tôi nói, cố gượng cười. Thế là ông lão hài lòng, bật cười sang sảng và vỗ tay lên đầu gối. Tôi ngồi lại vào bàn và nhìn gương mặt mình phản chiếu trên chiếc màn hình máy tính. Tôi chạm vào bàn phím nhưng không thể nhấc tay lên mở email kiểm tra thư mới. Tôi cứ liếc nhìn sang những cánh cửa kính. Mỗi khi trời nổi gió và đến giờ lên đèn, tôi lại mong nhìn thấy bóng dáng Mohammed trong khu vườn kia.
Tôi đi ra sân và tìm con ong hôm trước. Cuối cùng cũng thấy nó đang bò phía trên mấy nhánh cây con lẫn với cánh hoa rụng dưới tán cây. Tôi chia tay ra, nó bò lên ngón tay rồi tiến vào lòng bàn tay tôi, gập chân lại và làm ổ ở đó. Tôi đem nó vào nhà.
Bà chủ nhà đem trà cho mọi người kèm một món bánh nào đó kiểu Kenya vàng ươm màu nghệ. Bà ấy nói tiếng Anh hoàn hảo, tôi có thể khẳng định như thế. Dáng người thấp bé, nhỏ xinh như búp bê. Bà mang đôi guốc gỗ cả khối to đùng dưới đôi chân mảnh khảnh, lộc cộc quanh phòng khách mời mọi người trà bánh. Hình ảnh ấy làm tôi nghĩ tới một bé voi con.
Ông lão Maroc bảo bà ấy là một kế toán, làm việc bán thời gian ở một văn phòng mạn nam Luân Đôn, thời gian còn lại thì chăm lo cái nhà trọ này. Ủy ban trả tiền cho bà để bà cho chúng tôi ở đây. Bà cọ tường và sàn nhà như thể muốn gột sạch hết dơ dáy từ những chuyến đi của chúng tôi. Nhưng bà ấy không chỉ có vậy, câu chuyện của bà ấy không đơn giản, tôi dám cá như thế. Có một cái tủ gỗ gụ trong góc phòng khách. Nó được mài bóng đến lấp lánh như phủ nước, bên trong đựng đầy cốc uống rượu. Ngày nào bà ấy cũng lau đi chùi lại những cái cốc đã sạch bong đó bằng một miếng giẻ như xé ra từ một chiếc sơ mi đàn ông. Tôi còn nhìn thấy một cái khuy áo trên miếng giẻ đó. Và dù không thể lau sạch được đường gờ xanh lét trên tường, hay cọ hết vết dầu mỡ trong bếp dày ngang lớp da tôi, nhưng tôi có thể thấy, bà ấy tự hào khi chăm sóc cho chúng tôi. Bà ấy nhớ tên của tất cả mọi người, và thế là quá giỏi khi xét đến số lượng đã đến rồi đi. Bà ấy còn dành thời gian nói chuyện với người phụ nữ Afghanistan, hỏi cô mua chiếc hijab chỉ vàng thêu tay ở đâu.
“Nó vẫn còn sống cơ à!” Ông lão Maroc kêu lên.
Tôi nhìn ông và cười. “Nó đúng là một chiến binh đấy!” Tôi nói, “Đêm qua có mưa, nhưng dù sao thì nếu không có cánh nó cũng không thể tồn tại được lâu ở ngoài kia đâu.”
Tôi đem con ong ra ngoài, đặt nó lên một bông hoa rồi quay vào đi ngủ với Afra. Tôi giúp em thay đồ và nằm xuống bên cạnh em.
“Anh Mustafa giờ đang ở đâu? Anh có nghe tin gì từ anh ấy không?” Em hỏi.
“Cũng lâu rồi không có tin tức gì.” Tôi đáp.
“Anh kiểm tra email chưa? Có khi anh ấy đang cố tìm anh đấy. Anh ấy có biết ta ở đây không?”
Bỗng có tiếng gì rất lạ, một tiếng huýt dài vọng ngang bầu trời.
“Em có nghe thấy không?” Tôi hỏi.
“Tiếng mưa đập vào cửa sổ mà.” Em nói.
“Không, tiếng huýt cơ. Có một tiếng huýt, ngân mãi, như kiểu sắp có một cơn bão cát ấy.”
“Ở đây thì làm gì có bão cát.” Em nói. “Chỉ có mưa hay không mưa thôi.”
“Em không nghe thấy thật hả?”
Em trông bắt đầu lo lắng và đưa tay lên kê đầu, áp dưới má. Em đang định nói gì thì tôi bật cười, ngăn em lại. “Hôm nay lạnh nhưng có nắng. Giờ thì lại đang mưa. Thời tiết của Anh sao như gã khùng vậy! Hay mai em muốn ra ngoài không? Chúng ta có thể đi bộ một chút dọc bờ biển.”
“Không, không được, em không thể. Em không muốn ra ngoài tiếp xúc với thế giới này.”
“Nhưng giờ em tự do rồi, em có thể đi ra ngoài. Em không cần phải sợ gì nữa.”
Em lặng thinh không đáp lời tôi.
“Có một cậu nhóc làm lâu đài cát đẹp lắm, cả một thành phố với nhà cửa và tháp canh!”
“Ừ, hay đấy.” Em đáp.
Từng có lúc em đã muốn biết thêm, em sẽ hỏi tiếp rằng tôi nhìn thấy gì. Giờ em không muốn biết gì hết.
“Chúng ta phải liên lạc với anh Mustafa.” Em nói.
*
Bóng tối thấm lên tôi, mùi hương của em thấm vào tôi, một mùi hương của nước hoa hồng và mùi mồ hôi. Em hay xức nước hoa trước khi đi ngủ, lấy cái lọ thủy tinh trong túi ra, chạm nhẹ lên cổ và cổ tay. Những người khác vẫn còn đang nói chuyện trong phòng khách dưới tầng, sự kết hợp kỳ lạ của mọi ngôn ngữ ấy. Ai đó cười, và có tiếng bước chân lên cầu thang. Tấm ván sàn kêu kẽo kẹt, và tôi biết đấy là ông lão Maroc. Tôi đã có thể nhận ra tiếng ông ấy đi lại. Ông ấy có cách dừng rất đặc biệt, lúc đầu bạn sẽ tưởng nó là ngẫu nhiên, nhưng thật ra nó có một nhịp điệu đặc biệt. Ông ấy đi ngang phòng chúng tôi, và đúng lúc đó, tôi nghe tiếng bi lăn trên tấm ván sàn. Tôi biết rõ âm thanh ấy. Tôi bật dậy và bật đèn lên. Tôi tìm thấy viên bi của Mohammed đang lăn về phía cái thảm, tôi nhặt nó lên và soi dưới ánh đèn, đường màu đỏ như chạy xuyên qua nó.“Gì thế anh?” Afra hỏi.
“Chỉ là một viên bi thôi. Không có gì đâu. Em ngủ tiếp đi.”
“Đặt nó vào tủ đầu giường phía bên em đi.” Em nói.
Tôi làm như em muốn và trở về giường ngủ, nằm quay lưng lại với em. Em đặt tay lên lưng tôi, đưa tay ấn vào xương sống như thể muốn cảm nhận hơi thở của tôi. Trong bóng tối, hai mắt tôi vẫn mở to bởi tôi sợ
màn đêm
buông xuống và chúng tôi đang ở thành cổ Bab al-Faraj. Tôi và vợ đứng dưới tán cây cam chua, đợi một chiếc Toyota. Xác người đàn ông kia cũng đang đợi cùng chúng tôi. Chiếc Toyota là kiểu bán tải, không đèn pha, hông xe có gắn thanh chắn kim loại, loại thường để chở gia súc như bò hoặc dê. Người chết kia nằm ngửa, một tay đưa lên vắt ngang trán, chắc khoảng giữa tuổi hai mươi, mặc một chiếc áo len và quần jean đều màu đen. Tôi không nói cho Afra biết rằng cậu ấy nằm đó.Đây là chỗ tên buôn lậu kia bảo chúng tôi đứng đợi.
Bỗng nhiên gương mặt cậu thanh niên sáng lên. Một vầng sáng nhạt. Sáng rồi lại tắt. Là chiếc điện thoại trong tay cậu, ở cánh tay đang vắt ngang trán. Đôi mắt cậu màu nâu với đôi lông mày rậm. Một vết sẹo cũ trên má trái. Một sợi dây chuyền bạc lóe lên với mặt tên được viết chữ mềm mại kiểu thư pháp: Abbas.
“Ở đây đẹp đấy!” Em nói. “Em biết chính xác chúng ta đang ở đâu.”
Bên kia đường từng có rất nhiều cây dây leo và cuối đường là mấy bậc thang dẫn đến một dãy phòng học có cổng đóng kín.
“Chúng ta đã đến chỗ tháp đồng hồ đó,” em nói, “và có một nhà hàng ở góc đó bán kem hoa hồng, lần đó chúng ta đã đưa Sami đi cùng, anh còn nhớ không?”
*
Ngay phía sau những tòa nhà, con số thời gian trên tháp đồng hồ Bab al-Faraj tỏa ra ánh sáng màu xanh lục. Mười một giờ năm mươi lăm phút. Còn năm phút nữa. Tôi đứng yên, chỉ nhìn em đang được ký ức sưởi ấm. Em đã cười và đã khóc, em đã trở về, dù chỉ trong từng mảnh rời rạc. Qua một khe nứt ký ức nào đấy, một chút của em hiện ra rồi lại biến mất. Giờ đứng đây, với gương mặt em kề sát bên như thế này, tôi có thể thấy được mong mỏi ấy, quyết tâm ấy giữ cho chắc một ảo ảnh, một khung cảnh cuộc đời, cuộc đời ở Aleppo. Afra trước đây có lẽ sẽ vô cùng căm ghét điều này. Bỗng nhiên tôi có cảm giác sợ em. Màn hình chiếc điện thoại đã ngừng nháy. Không gian lại càng tối tăm hơn.Phía xa kia tôi nhìn thấy ngôi thành cổ đứng trên gờ đất tròn tròn, trông như đứng bên miệng núi lửa. Gió đang lao xao thoảng theo chút hương hoa hồng.
“Em thấy hương hoa hồng không?” Tôi hỏi.
“Em đang xức nước hoa mà!” Em nói.
*
Em lục tìm trong túi và lấy ra một lọ thủy tinh, đặt nó trong lòng bàn tay. Tôi đã làm chiếc lọ ấy cho em vào năm chúng tôi lấy nhau. Một người bạn của tôi có xưởng chiết xuất hoa hồng, còn hoa thì tôi tự mình chọn.Em đang thì thầm với tôi, rằng em muốn quay về mùa xuân khi bao loài hoa đang nở rộ. Em sẽ xức nước hoa và mặc chiếc váy vàng, rồi chúng tôi sẽ đi dạo cùng nhau. Bắt đầu từ nhà, qua các con phố, lên trên đồi và đến khu chợ. Chúng tôi sẽ lang thang khắp những con ngõ khuất nẻo trong khu chợ cũ, những sạp hàng bán gia vị, xà phòng, trà, đồ đồng, đồ vàng, đồ bạc, bán chanh khô, mật ong và thảo mộc, và tôi sẽ mua cho em một chiếc khăn lụa.
Tôi bỗng rùng mình. Tôi đã nói với em rằng khu chợ đó giờ trống không, các ngõ hẻm đã bị trúng bom và cháy hết, chỉ còn những gã lính, và chuột, và mèo lang thang nơi bao thương lái và khách du lịch từng đi qua. Tất cả các sạp hàng đã bị bỏ không, trừ cái sạp của ông lão bán cà phê cho bọn lính. Ngôi thành cổ giờ đã thành căn cứ, quân lính đầy bên trong và xe tăng vây bên ngoài.
Khu chợ al-Madina từng là một trong những khu chợ lâu đời nhất thế giới, một điểm dừng quan trọng trên Con đường Tơ lụa, nơi thương lái từ Ai Cập, châu Âu và Trung Quốc đi qua. Afra đang nói về Aleppo như thể nó là vùng đất thần tiên trong câu chuyện cổ, như thể em đã quên đi mọi chuyện khác, quên những năm hỗn loạn trước chiến tranh, những vụ bạo loạn, những trận bão cát, những vụ hạn hán, quên chúng tôi đã phải chật vật thế nào, ngay cả trước khi những trận bom giội xuống, để sống sót.
Chiếc điện thoại của cậu thanh niên đã chết kia lại sáng. Có ai đó đang gọi tìm cậu ấy trong tuyệt vọng. Một con chim đầu rìu đang đậu trên cây cam chua, đôi mắt đen láy dịu dàng. Nó xòe đôi cánh, ánh sáng từ chiếc điện thoại chiếu lên làm lộ ra những sọc trắng và đen. Tôi thấy e sợ cái ánh sáng này, bèn quỳ xuống, gỡ chiếc điện thoại từ những ngón tay cứng ngắc của cậu thanh niên và bỏ nó vào chiếc ba lô sau lưng mình.
Đồng hồ chỉ mười hai giờ. Có tiếng động cơ vẳng lại từ xa. Afra cứng người lại, khuôn mặt em lộ đầy sợ hãi. Một chiếc Toyota rẽ vào, tắt đèn, tro cát từ bánh xe rơi ra. Người lái xe bước ra, thân hình hơi thô. Anh ta để râu, trán hói, mặc một chiếc áo phông đen, mang ủng quân đội, quần cũng là quân phục, súng cài vào chiếc túi đang đeo ở thắt lưng. Một bản sao hoàn hảo của những gã lính. Lẽ ra anh ta nên cạo râu đi, và cả tóc nữa. Một trò để qua mặt nếu chẳng may bị quân Shabiha của Assad tóm được.
Anh ta đứng đó một lúc, nhìn tôi như tra xét. Afra vùi chân xuống lớp bụi, nhưng anh ta không nhìn cô ấy.
“Anh có thể gọi tôi là Ali.” Cuối cùng anh ta nói, và cười. Một nụ cười rộng đến mức cả khuôn mặt hiện lên toàn nếp nhăn. Nhưng nụ cười ấy có gì đó khiến tôi không thoải mái, nó làm tôi nhớ đến nụ cười của anh hề chạy bằng dây cót mà bà của Sami đã mua ở chợ cho thằng bé. Nụ cười ấy bỗng tắt ngóm và đôi mắt của Ali ngó nghiêng xung quanh trong bóng tối.
“Gì vậy?” Tôi hỏi.
“Người ta bảo tôi là có ba người.”
Tôi chỉ vào cậu thanh niên đang nằm dưới đất.
“Quá xui.” Giọng nói của Ali có chút buồn bã mà tôi không ngờ tới, anh ta đứng đó cúi đầu trong giây lát trước thi thể của cậu thanh niên và sau đó quỳ xuống, lấy chiếc nhẫn cưới ở ngón tay cậu ta, đeo lên tay mình, vừa vặn. Anh ta thở dài, nhìn về phía tháp đồng hồ và sau đó nhìn lên trời. Tôi nhìn theo anh ta.
“Trời trong đấy. Chúng ta đang ở dưới một vòm trời đầy sao và có bốn tiếng trước khi mặt trời mọc. Chúng ta phải đến Armanaz lúc ba giờ nếu hai người muốn vượt biên lúc bốn giờ.”
“Sẽ đi mất bao lâu vậy?” Afra hỏi.
Giờ Ali đã quay sang nhìn em như thể bây giờ anh ta mới biết vợ tôi ở đó, nhưng anh ta đáp mà mắt vẫn nhìn chặt vào tôi, “Chưa đến hai tiếng đâu, và hai người sẽ không ngồi với tôi, ra đằng sau ngồi đi.”
Thùng xe đằng sau có một con bò cái, phân của nó rải rắc khắp sàn xe. Tôi đỡ Afra lên và Ali dạy chúng tôi cách ngồi thật thấp để không bị ai nhìn thấy. Nếu chúng tôi rơi vào tầm ngắm, những tên bắn tỉa sẽ bắn vào con bò cái. Nó đang nhìn chúng tôi chằm chằm. Động cơ nổ, chiếc Toyota lăn bánh trên tro bụi và sỏi đá, lặng lẽ nhất có thể.
“Có tiếng chuông điện thoại,” Afra nói.
“Em nói sao cơ?”
“Em thấy có gì đang rung trên chân em, trong túi của anh ấy. Ai đang gọi chúng ta thế?”
“Không phải điện thoại của anh,” tôi nói. “Anh tắt nguồn rồi.”
“Thế thì điện thoại của ai?”
Tôi lấy chiếc điện thoại từ trong ba lô ra. Năm mươi cuộc gọi nhỡ. Nó lại đổ chuông lần nữa.
Zujet Abbas: Vợ của Abbas.
“Ai thế?” Afra hỏi. “Anh nghe máy đi.”
“Đưa anh hijab của em,” tôi nói.
Afra tháo chiếc hijab trùm đầu ra và đưa nó cho tôi. Tôi lấy nó trùm lên đầu mình và nghe điện thoại.
“Abbas!”
“Không phải.”
“Anh đang ở đâu thế Abbas?”
“Tôi rất tiếc, tôi không phải Abbas.”
“Anh ấy đâu rồi? Tôi nói chuyện với anh ấy được không? Anh ấy được đón chưa? Anh ấy được đón chưa?”
“Abbas không ở đây.”
“Nhưng tôi vừa nói chuyện với anh ấy mà. Chúng tôi bị tách khỏi nhau.”
“Lúc nào?”
“Chưa lâu, mới khoảng một tiếng thôi, làm ơn cho tôi nói chuyện với anh ấy.”
Ngay lúc đó chiếc xe bán tải dừng lại, động cơ tắt ngóm, tiếng bước chân lại gần. Gã tài xế giật chiếc hijab và ném nó ra sau, tôi cảm thấy có cái gì sắc lạnh cứng rắn gí vào ấn đường mình.
“Mày bị ngu à?” Ali nói. “Muốn chết phải không?” Anh ta lại gí khẩu súng giữa trán tôi, hai mắt lóe sáng. Từ chiếc điện thoại, người vợ của Abbas vẫn đang nói không ngừng: “Abbas, Abbas…”
“Đưa cho tao!” Anh ta ra lệnh, vậy nên tôi đưa chiếc điện thoại cho anh ta và chúng tôi lại lên đường.
Chúng tôi tới Urum al-Kubra, cách Aleppo khoảng hai mươi cây số về phía tây. Chúng tôi luồn lách qua những đống đổ nát của ngôi thành cổ, khu vực phía tây do lực lượng của chính phủ kiểm soát, quân nổi dậy chiếm phía đông. Dòng sông hẳn đã thấy tất cả. Giờ nó chảy qua những vùng đất không người giữa hai chiến tuyến đối địch. Nếu có gì đó bị ném xuống dòng Aleppo ở bên chính phủ thì thể nào nó cũng sẽ trôi về bên quân nổi loạn. Khi tới ven thành phố, chúng tôi đi qua một tấm biển rất lớn in hình Bashar al-Assad, đôi mắt xanh sáng quắc của ông trông như những viên ngọc, dù cả trong bóng tối. Tấm biển không hề xây xước, vẫn hoàn toàn nguyên vẹn.
Chúng tôi gặp một tuyến đường đôi và thế giới bỗng như mở ra trước mắt. Những cánh đồng đen thẫm trải dài, những cây dâu tằm và ô liu xanh mờ buồn bã dưới ánh trăng. Tôi biết quân nổi dậy và quân chính phủ đã giao tranh ở đây, giữa khu Tử Thành này, một cụm các làng mạc cổ từ thời Đông La Mã đã bị bỏ hoang hàng trăm năm nằm rải rác trên vùng đồng quê bên ngoài thành Aleppo. Giữa cái trống trải buồn lặng này, tôi cố quên đi những điều tôi đã biết, những điều tôi nghe được. Tôi cố tưởng tượng rằng mọi thứ vẫn còn nguyên vẹn, như đôi mắt của Bashar al-Assad. Cái gì đã mất sẽ vĩnh viễn không tìm lại được. Những pháo đài của quân Thập Tự Chinh, những nhà thờ và thánh đường, những bức tranh khảm, những khu chợ cổ, nhà cửa, gia đình, tình yêu, vợ chồng, con cái. Con. Tôi nhớ đôi mắt của Sami, cái khoảnh khắc ánh sáng trôi đi mất và chúng trở nên trong suốt như thủy tinh.
Afra yên lặng. Tóc em đã tuột ra, một màu trời đêm. Tôi nhìn em ngồi đó, bàn tay bám chặt vào da thịt mình, khuôn mặt tái hơn mọi khi. Mắt tôi dần khép lại, và khi mở ra, tôi thấy chúng tôi đã đến Urum al-Kubra. Trước mặt chúng tôi là một chiếc xe tải đã bị trúng bom chỉ còn trơ lại khung xe. Người tài xế bước loanh quanh, bảo chúng tôi sẽ đợi đón một bà mẹ với một đứa trẻ nữa.
Không gian vẫn vắng lặng. Trời tối om. Ali đã phát bực. “Chúng ta phải kịp đến nơi trước bình minh,” anh ta nói. “Nếu không kịp thì sẽ không bao giờ kịp nữa.”
Từ trong bóng tối, giữa các tòa nhà, một người đàn ông xuất hiện với một chiếc xe đạp.
“Hai người không được nói gì, để tôi nói thôi.” Ali nói. “Gã có thể là bất kỳ ai, gián điệp cũng nên.”
Khi người đàn ông tới gần, tôi thấy anh ta cũng xám ngoét như bê tông, trông anh ta không có vẻ gì là gián điệp cả, nhưng Ali sẽ không mạo hiểm.
“Không biết các vị có chút nước nào không?” Người đàn ông nói.
“Có đấy, anh bạn.” Ali nói. “Chúng tôi có một chút đây.” Anh ta lấy một chai nước từ ghế hành khách và đưa cho người đàn ông, anh ta vội uống nó như thể đã chịu khát cả trăm năm.
“Chúng tôi có ít đồ ăn nữa.” Ali lấy một quả cà chua ra khỏi chiếc túi.
Người đàn ông chìa tay ra, lòng bàn tay xòe rộng như thể nhận được vàng. Và rồi anh ta cứ đứng như vậy, đứng bất động, với quả cà chua trong tay, nhìn từng người chúng tôi bằng ánh mắt dò xét. “Các vị đi đâu đây?” Anh ta nói.
“Chúng tôi đi thăm bà dì,” Ali đáp. “Bà ấy ốm quá.”
Ali đưa tay về phía con đường để chỉ hướng chúng tôi đang đi. Rồi sau đó không nói thêm một lời nào, người đàn ông bỏ quả cà chua vào giỏ xe, trèo lên xe và quay đi. Nhưng thay vì đi khỏi, anh ta đi một vòng rộng rồi quay lại chỗ chúng tôi.
“Tôi xin lỗi,” người đàn ông nói, “tôi quên mất, tôi phải nói cho các vị điều này.” Anh ta đưa tay lên vò vò khuôn mặt mình, gạt đi chút bụi bẩn và giờ các vệt xoa hiện lên gò má, để lộ làn da trắng.
“Tôi thấy mình không phải kẻ tử tế nếu lấy nước và cà chua của anh rồi rời đi mà không nói gì. Tối nay tôi sẽ đi ngủ mà băn khoăn anh còn sống hay đã chết. Nếu anh đi con đường anh vừa nói, anh sẽ thấy một tay bắn tỉa phía trên một thùng nước sau năm cây số nữa. Hắn sẽ nhìn thấy anh. Tôi thực sự khuyên anh nên đi đường này thì hơn.” Người đàn ông chỉ vào con đường hoang dẫn tới làn đường về vùng quê, và hướng dẫn chúng tôi đi tiếp ra sao để quay lại được đúng tuyến đường đã định.
Ali không đợi bà mẹ và đứa bé kia nữa. Chúng tôi quyết định sẽ tin người đàn ông này và đi đường vòng anh ta chỉ, rẽ phải vào làn đường về vùng quê đưa chúng tôi đi giữa những làng mạc vùng Zardana và Maarat Misrin.
“Chúng ta đến đâu rồi?” Afra hỏi khi xe chúng tôi lọc cọc lăn bánh trên con đường vùng quê. “Anh nhìn thấy gì?”
“Nho và ô liu trồng khắp mấy dặm quanh đây. Trời tối nhưng quang cảnh vẫn rất đẹp.”
“Như trước đây à?”
“Như chưa từng có chuyện gì xảy ra.”
Em gật đầu và tôi tưởng tượng rằng không có cuộc chiến tranh nào cả, rằng chúng tôi thật sự đang đi thăm bà dì bị ốm, và rằng khi chúng tôi tới những ngôi nhà, những con phố kia, người người vẫn tấp nập ở đó như vẫn vậy. Đây chính là điều tôi mong: ở bên Afra trong một thế giới vẫn vẹn nguyên.
Khi chiếc xe bán tải dập dềnh lên xuống theo những ổ gà ổ chó trên đường, tôi cố ép mình phải tỉnh táo, cố hít vào mùi hương đêm của vùng đất này với những vì sao nguyên vẹn, những cánh đồng nho nguyên vẹn. Tôi bắt được mùi dạ lý hương và thoang thoảng xa xa là hoa hồng. Tôi hình dung ra cả cánh đồng mênh mông, những thoáng màu đỏ say ngủ dưới ánh trăng, và khi mặt trời lên, những người thợ sẽ đến chọn những bông có cánh dày dặn và gói chúng thành thùng. Và rồi tôi thấy vườn ong của mình, ngay cánh đồng bên cạnh, các thùng ong xếp thành hàng dài, mỗi thùng đầy ắp cầu ong, mỗi cầu ong lại được phủ kín bằng những hình lục giác óng vàng đẹp đẽ. Thùng ong có mái che và từ những lỗ cửa ở mặt bên, bầy ong thợ rù rì bay ra bay vào, tiết dịch từ tuyến sáp, đưa vào miệng nhai rồi xây nên hàng hàng đa giác cân xứng đều tắp, mỗi cái đường kính chỉ năm milimet, như thể chúng ta đặt xuống tổ những viên pha lê. Ong chúa đang ở trong ô riêng của nó với một vài con khác hầu cận. Mùi hương thanh cao của nó như chiếc nam châm thu hút cả bầy. Và tiếng rù rì ấy, bản nhạc thầm lặng ấy sẽ vang mãi không ngừng. Chúng sẽ bay quanh tôi, ngang qua trước mắt, vướng vào mái tóc, rồi tự thoát ra được và lại vướng vào lần nữa.
Và rồi tôi nhớ đến Mustafa, những ngày anh từ trường đại học đến thẳng vườn ong, vẫn trong bộ đồ chỉnh tề, cầm theo một lọ cà phê và một túi đầy sách vở giấy tờ. Anh nhanh chóng thay đồ, mặc bộ đồ bảo hộ và ra vườn với tôi, kiểm tra các cầu ong, nhón tay nếm mật để xem độ quánh, mùi hương và mùi vị của mật. “Nuri à, Nuri à”, anh sẽ bảo tôi, “anh nghĩ ong của chúng ta tạo ra thứ mật ngon nhất thế giới đấy.” Và sau đó, khi mặt trời lặn, chúng tôi tạm biệt bầy ong, lách qua dòng xe cộ trên đường phố để về nhà. Sami sẽ đứng đợi bên cửa sổ, vẻ mặt như vừa làm sai điều gì, và Afra ra đón tôi ở cửa trước…
“Nuri! Nuri! Nuri!”
Tôi mở mắt. “Sao thế?”
Gương mặt của em kề sát gương mặt tôi. “Anh đang khóc”, em nói. “Em nghe thấy tiếng anh khóc.” Và em đưa cả hai tay lau nước mắt cho tôi. Em nhìn vào mắt tôi như thể em nhìn thấu được tôi. Trong giây phút ấy, tôi thấy mình cũng có thể nhìn thấy em, thấy người phụ nữ ẩn giấu bên trong, người phụ nữ tôi đã đánh mất. Em vẫn ở đó, bên tôi, tâm hồn em vẫn rộng mở, vẫn hiện diện và vẫn trong trẻo như ánh sáng. Trong giây phút ngắn ngủi ấy, tôi thấy mình không còn sợ hãi hành trình này, sợ hãi con đường phía trước. Nhưng chỉ thoáng sau, đôi mắt em lại tối sầm, ánh sáng biến mất, em lại chìm xuống và trôi xa khỏi tôi. Tôi biết mình không thể bắt em ở lại với tôi, tôi chẳng thể nói gì để đưa em trở lại một khi em đã đi mất. Tôi chỉ có thể để em đi và đợi em quay về.
Chúng tôi đi vòng qua Maarat Misrin và rồi quay lại con đường đôi, đi qua một ngọn núi, tới thung lũng nằm giữa Haranbush và Kafar Nabi, rồi cuối cùng cũng đến được Armanaz. Ở đó, ngay phía trước là những cột đèn sáng chói dọc biên giới Thổ Nhĩ Kỳ, chiếu khắp vùng đất phẳng lặng như vầng mặt trời trắng lóa.
Nằm giữa Armanaz và đường biên giới là con sông Asi. Nó ngăn cách Thổ Nhĩ Kỳ với Syria và tôi biết chúng tôi sẽ phải qua sông. Lái xe đỗ chiếc bán tải vào một chỗ khuất sau mấy cái cây rồi dẫn chúng tôi băng qua rừng. Afra nắm tay tôi rất chặt, thỉnh thoảng vấp và ngã, tôi phải vòng tay qua eo mà ôm giữ lấy em. Trong bóng tối như thế, tôi gần như chẳng nhìn thấy gì, giữa vòm lá và cành cây có thứ gì chuyển động. Tôi có thể nghe những giọng nói vọng lại từ xa, và khi ra khỏi rừng, chúng tôi thấy khoảng ba bốn chục người gì đó, như những hồn ma, đứng bên bờ sông. Một người đàn ông đang đặt một cô bé vào một chiếc nồi lớn – loại chúng tôi thường dùng để luộc mì couscous. Cái nồi buộc với một sợi cáp dài để người đàn ông bên kia bờ có thể kéo qua. Anh ta đang cố để con bé ngồi vào nhưng nó khóc dữ dội và hai tay ôm chặt cổ anh không chịu buông.
“Xin con đấy, ngồi vào đi”, người đàn ông nói. “Đi với các chú này đi, bố sẽ gặp con ở bờ bên kia.”
“Nhưng sao bố không đi với con?” Con bé khóc.
“Bố hứa bố sẽ gặp con ở bờ bên kia. Đừng khóc nữa. Họ sẽ nghe thấy chúng ta đấy.” Con bé vẫn không nghe lời. Anh ấn nó ngồi xuống và tát mạnh vào mặt con bé. Con bé sững sờ, ngồi xuống, hai tay ôm má. Người đàn ông kéo kéo sợi dây và con bé trôi đi về bên kia. Đến khi bóng dáng con bé đã khuất hẳn, anh ngồi sụp xuống đất và bắt đầu khóc nức nở. Tôi biết anh sẽ không gặp lại con bé. Và khi đó, tôi ngoái đầu nhìn lại. Lẽ ra tôi đừng làm thế, nhưng tôi tránh xa khỏi đám đông và nhìn lại bóng tối nơi vùng đất tôi vừa bỏ lại. Tôi thấy lối vào giữa hàng cây, con đường sẽ dẫn tôi trở lại nơi tôi xuất phát.