Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 816 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 4 -

Nhà trọ có một vị khách mới. Vai của anh chàng nhọn hoắt và lưng còng đến nỗi khi thấy cậu ta ngồi xuống ghế, khom lưng về trước, tôi tưởng cậu ta có một đôi cánh giấu dưới lớp áo phông. Cậu ta đang nói chuyện với ông lão Maroc và cả hai cố giao tiếp bằng thứ ngôn ngữ bản thân đều không rành. Ông lão có vẻ quý anh chàng này. Cậu ta tên Diomande, đến từ Bờ Biển Ngà. Cậu ta liếc nhìn tôi hết lần này đến lần khác khi đang nói, nhưng tôi không để cậu ta thấy tôi chú ý đến cậu ta.

Con ong vẫn sống. Tôi thấy nó trong vườn, vẫn đậu đúng trên cành hoa hôm trước tôi để nó lại. Một lần nữa, tôi khẽ ấp nó trong lòng bàn tay và đem nó vào phòng khách ngồi với mình. Giờ nó đang bò trên cánh tay tôi. Mắt tôi gần như lúc nào cũng dán lên những cánh cửa dẫn ra ngoài hiên. Tôi nhìn vào hình ảnh phản chiếu của Diomande trên ô cửa kính và những bóng cây nửa rõ nửa mờ đằng sau nó.

“Cháu đang làm việc ở Gabon”, Diomande kể, “và cháu nghe người ta bảo là cháu nên tới Libya, nơi đó có nhiều cơ hội lắm. Bạn bè thì bảo ngày trước ở đấy có chiến tranh nhưng giờ an toàn rồi, thế nên cháu quyết định đi và tìm một công việc tốt. Cháu đã trả mười lăm nghìn francs Tây Phi và lái xe xuyên sa mạc suốt tám ngày trời nhưng bị bắt và tống vào tù.” Cậu thanh niên chống khuỷu tay lên đầu gối lúc kể chuyện và khi cậu cử động để ngồi thẳng lên, tôi nghĩ có lẽ cậu ta sắp dang cánh ra. Cậu cao, gầy gò lêu khêu, chân dài đến mức trông như người gập thành ba khúc.

“Bọn cháu đi suốt ba ngày mà không có gì ăn”, cậu kể tiếp, “chỉ một tí bánh mì và nước, một tí cho rất nhiều người chia nhau. Chúng nó đánh tụi cháu, đánh suốt ngày. Cháu cũng không biết tụi nó là ai, nhưng tụi nó muốn hai trăm nghìn francs thì mới thả cháu. Cháu đã gọi về nhà nhưng tiền không bao giờ tới.”

Cậu thay đổi tư thế một chút, đưa những ngón tay dài và sạm đặt lên đầu gối. Tôi không nhìn hình ảnh cậu phản chiếu trên lớp kính nữa mà quay ra nhìn cậu thật kỹ. Những khớp ngón tay phồng lên và con mắt như sắp rơi ra. Người cậu chẳng có tí thịt nào, như thể đã có cả bầy chim đến ăn mất. Cậu như một cái xác, một tòa nhà bị bom đánh trơ trụi. Cậu nhận thấy ánh mắt của tôi, nhìn tôi trong thoáng chốc rồi nhìn lên trần nhà nơi có chiếc bóng đèn trần trụi.

“Sao cháu thoát ra được thế nhóc?” Ông lão Maroc hỏi, nóng lòng muốn nghe tiếp.

“Sau ba tháng thì có dân quân phá nhà tù và họ thả tất cả các con tin. Cháu được tự do. Cháu đi bộ đến Tripoli, tìm bạn và tìm việc.”

“Tôi mừng cho cháu đấy!” Ông lão Maroc nói.

“Nhưng chủ mới không trả lương cho cháu. Lúc cháu đòi thì ông ta nói ông ta sẽ giết cháu. Cháu muốn trở về Gabon nhưng không còn đường về nữa rồi, thế là cháu lên một con thuyền lậu vượt Địa Trung Hải.”

Ông lão Maroc nghe vậy ngả người tựa vào chiếc ghế bành và nhìn theo ánh mắt đang nhìn chiếc bóng đèn trên trần của cậu thanh niên.

“Và cuối cùng cháu đã đến được đây. Cháu đi như nào?”

“Chuyện dài lắm ạ”, Diomande đáp, nhưng không nói gì thêm nữa. Giờ trông cậu đã có vẻ mệt, và có lẽ cũng nhận ra điều này, ông già Maroc vỗ vỗ đầu gối cậu, đổi chủ để nói chuyện và kể cho cậu nghe những thói quen kỳ lạ của các vị khách trong nhà trọ này.

“Họ mặc đồ bộ và đi giày thể thao chứ. Ai lại phối như thế không? Lại còn mặc đồ ngủ đi ra ngoài! Sao thế được?”

“Đây là đồ bộ thể thao mà bác”, Diomande nói, chỉ vào bộ đồ mình đang mặc.

Đến giờ này buổi tối là ông lão thường mặc đồ ngủ rồi, nhưng ban ngày thì ông sẽ mặc một bộ vest xanh nhạt và thắt cà vạt.

Tôi đợi đến khi họ đi ngủ hết mới bước ra vườn và đặt con ong về lại cành hoa. Tiếng xe cộ vẳng lại êm đềm và gió thổi khe khẽ làm lá cây rung rinh. Chiếc đèn cảm ứng không sáng, màn đêm thật là dễ chịu. Trăng đã lên cao, tròn đầy. Đúng lúc ấy tôi cảm thấy có gì đó phía sau mình. Tôi quay lại. Mohammed đang ngồi trên mặt sân với viên bi của nó, lăn lăn trên những khe nứt của mặt bê tông. Bên cạnh thằng bé, một con giun đang chầm chậm trườn vào vũng nước. Thằng bé ngước lên nhìn tôi.

“Chú Nuri”, thằng bé gọi, “cháu thắng con giun này rồi này! Tên nó là Habib. Chú có muốn chào Habib một câu không?”

Thằng bé nhặt lấy con giun và giơ lên cho tôi xem.

“Cháu đang làm gì ở đây thế?” Tôi hỏi.

“Cháu đang đi tìm chìa khóa, cháu muốn ra ngoài.”

“Chìa khóa nào?” Tôi hỏi.

“Cháu đoán chắc nó ở trên cái cây kia. Nó đang treo kia kìa nhưng cháu không biết là cái nào.”

Tôi quay đầu và thấy hơn trăm chiếc chìa khóa vàng đang lơ lửng trên cây. Chúng xoay tròn trong gió và lấp lánh dưới ánh trăng.

“Chú lấy giúp cháu nhé chú Nuri?” Thằng bé nói. “Cháu không với tới được, mà Habib thì mệt rồi.”

Tôi nhìn vào con giun Habib đang đung đưa trên tay thằng bé.

“Tất nhiên rồi”, tôi đáp. “Nhưng làm sao chú biết được cháu cần cái nào?”

“Chú cứ lấy tất cả xuống cho cháu rồi chúng ta thử cho đến khi tìm ra cái đúng.”

Tôi đi vào bếp và tìm một chiếc bát to hay dùng để trộn. Mohammed vẫn ngồi kiên nhẫn đợi tôi trở lại. Tôi bắt đầu lấy chìa khóa từ trên cây xuống. Trong vườn có một cái thang chữ A, tôi lấy thang để với những chiếc trên cành cao. Cái bát đựng đầy lên nhanh chóng và tôi kiểm tra đi rồi kiểm tra lại để không bỏ sót chiếc chìa khóa nào. Khi tôi mang theo chiếc bát quay lại thì Mohammed đã không còn ở đó nữa. Con giun đã bò được hẳn vào trong vũng nước.

Tôi đem chiếc bát vào trong nhà, lên phòng ngủ và đặt trên chiếc tủ đầu giường phía Afra nằm, bên cạnh mấy viên bi. Tôi cẩn thận từng tí để không đánh thức em. Tôi nằm xuống bên em. Afra nằm nghiêng về phía tôi, hai mắt nhắm nghiền, hai tay đặt kề dưới má. Tôi biết em đã ngủ say vì tiếng thở sâu và chậm rãi. Tôi trở mình và nhìn đăm đăm vào bóng tối vì không thể chợp mắt nổi. Tôi nhớ lại lúc chúng tôi còn ở

Istanbul
là nơi tôi đã gặp được Mohammed.

Bên kia bờ sông Asi là hàng rào dây thép gai với một vòng tròn rộng khoảng hai mét, như một cái miệng đang ngoác ra. Mọi người vứt đồ đạc của mình qua hàng rào và truyền những đứa bé sơ sinh qua vòng tròn đó. Trời vẫn còn tối, những gã buôn lậu bảo chúng tôi nằm sấp xuống, dùng tay và đầu gối bò qua khoảng đất đầy bụi sỏi với dương xỉ diều hâu.

Vào được đất Thổ Nhĩ Kỳ, chúng tôi đã đi bộ tưởng gần như trăm dặm, qua bao cánh đồng lúa mạch và lúa mì. Rất yên ắng. Afra ôm chặt lấy cánh tay tôi và run rẩy vì cái lạnh không thể chịu nổi. Cứ đi như thế khoảng nửa tiếng thì từ đằng xa, chúng tôi nhìn thấy một đứa trẻ xuất hiện giữa con đường, cái bóng rõ nét dưới ánh mặt trời. Nó đang vẫy tay với ai đó và rồi chạy tót về phía những ngôi nhà.

Chúng tôi đi vào một ngôi làng. Những ngôi nhà nhỏ với hàng hiên và các cửa chớp mở toang. Người thì đứng cạnh cửa sổ và nhìn ra, người thì ra hẳn khỏi nhà để đứng bên vệ đường, hai mắt ngỡ ngàng như thể đang nhìn một rạp xiếc kéo qua. Có một chiếc bàn dài để cốc nhựa và bình nước. Chúng tôi dừng lại và uống, phụ nữ từ trong làng đem chăn ra nữa. Họ cho chúng tôi bánh mì và anh đào, những túi nhỏ đựng các loại hạt rồi đứng lùi lại và nhìn chúng tôi rời đi. Sau này tôi nhận ra rằng cái nhìn mà tôi nghĩ là ngỡ ngàng ấy, thật ra là sợ hãi, và tôi tưởng tượng mình đổi chỗ với họ, đứng nhìn cảnh hàng trăm người tàn tạ vì chiến tranh đang đi về một tương lai bất định.

Chúng tôi đi tiếp trong ít nhất một giờ nữa và gió ngày càng mạnh hơn, đẩy chúng tôi lại. Trong gió bỗng đưa tới mùi nước thải. Chúng tôi đã tới một khu đất rất rộng. Lều trại ở khắp nơi và người ta quấn chăn mà ngủ, giữa rác rến.

Tôi tìm thấy một khoảng trống chỗ mấy cái cây. Sự yên lặng ở đây thật xa lạ với tôi. Ở Syria, yên lặng luôn ẩn giấu nguy hiểm, nó có thể vỡ tan tành bất cứ lúc nào vì một quả bom hoặc tiếng đạn pháo hoặc tiếng bước chân của bọn lính. Đâu đó đằng xa, ở phía Syria, mặt đất đang ầm ì.

Gió từ những đỉnh núi thổi xuống, mang theo hơi tuyết. Một hình ảnh lại hiện lên trong tâm trí tôi: lớp tuyết trắng sáng của ngọn Jabal al-Shaykh. Chuyện rất nhiều năm trước rồi. Đó là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tuyết. Rặng núi làm đường biên tự nhiên, bên trái là Syria, bên phải là Lebanon, biển nằm xa xa bên dưới. Chúng tôi đập một quả dưa lên mặt sông và nó nứt toác trên lớp băng. Mẹ tôi ăn ngon lành thứ quả xanh mát ấy. Chúng tôi đã làm gì khi hạnh phúc như đang bay thế nhỉ?

Người đàn ông ngồi cạnh tôi nói, “Khi anh thuộc về một người nhưng người ấy đi rồi thì anh còn là ai?” Anh ta trồng tiều tụy, gương mặt nhem nhuốc, tóc tai rối bời. Chiếc quần đang mặc thì đầy vệt ố và thoảng mùi hôi khai. Trong bóng đêm văng vẳng những âm thanh nghe như tiếng kêu khóc của động vật, và tôi nghĩ mình ngửi được cả mùi thối rữa mòn mỏi của cái chết. Anh ta đưa cho tôi một chai nước và bảo tôi ngồi lên một lúc cho chai nước ấm lên rồi hãy uống. Màn đêm đến rồi đi và mặt trời xuất hiện. Thức ăn được để trên mặt đất và chúng tôi có một chiếc chăn mới. Có người mang bánh mì giòn với chuối và pho mát. Afra ăn và lại tựa đầu vào vai tôi ngủ thiếp đi.

“Cậu quê ở đâu?” Người đàn ông hỏi tôi.

“Aleppo. Còn anh?”

“Phía bắc Syria.” Nhưng anh không nói cụ thể là ở đâu.

Anh rút điếu thuốc cuối cùng trong bao ra và châm lửa. Anh hút chậm rãi, nhìn ra mảnh đất khô cằn. Có lẽ anh từng là một người rất khỏe mạnh, nhưng giờ người anh không còn chút thịt nào.

“Anh tên là gì?” Tôi hỏi.

“Tôi đã mất vợ và con gái”, anh đáp, quẳng cái đầu lọc của điếu thuốc xuống nền đất. Và anh chỉ nói như vậy, bằng một giọng bình tĩnh. Nhưng rồi anh lại như nghĩ ngợi điều gì đó. “Một vài người…”, cuối cùng anh cũng nói sau một lúc lâu im lặng, “một vài người đã ở đây một tháng trời, có lẽ tốt nhất là né chính quyền ra và tìm một tay buôn lậu, tôi có chút tiền.” Anh nhìn sang tôi, đầy hy vọng, chờ xem tôi sẽ nói gì.

“Anh biết cách không?” Tôi hỏi.

“Tôi đã nói chuyện với vài người, có một cái xe buýt có thể đưa chúng ta vào thị trấn và từ đó có thể tìm được người trung gian. Tôi từng thấy người ta đi và không trở về. Tôi không muốn đi một mình.”

Khi tôi đồng ý đi với anh, anh nói với tôi, tên anh là Elias.

Trong khoảng thời gian còn lại của ngày hôm đó, Elias làm nhiệm vụ. Anh nói chuyện với vài người, dùng chiếc điện thoại chỉ còn lại một chút pin của tôi để gọi điện. Đến chiều, anh đã thu xếp được để ba người chúng tôi cùng gặp một tên trung gian ở thị trấn gần đó và từ đó chúng tôi sẽ tới Istanbul. Thật lạ lùng khi thấy chuyện này được sắp đặt dễ dàng đến thế: có cả một hệ thống chặt chẽ dành cho những ai đủ may mắn và đủ tiền cho nó.

*

Ngày hôm sau, chúng tôi đi bộ ra bến xe buýt và bắt xe tới thị trấn gần nhất, nơi chúng tôi gặp gã trung gian – một người đàn ông nhỏ thó ho hẹn với đôi mắt đảo liên hồi như ruồi bay. Gã lấy xe của mình đưa chúng tôi tới Istanbul. Đến nơi, Elias không bao giờ tách tôi quá xa. Những tòa nhà trong thành phố này cao lớn, sạch sẽ, cả cũ cả mới, đứng tụ tập quanh eo biển Bosporus, nơi biển Marmara hòa vào biển Đen. Tôi đã quên mất rằng các tòa nhà có thể đứng thẳng, rằng ngoài kia, bên ngoài Aleppo, vẫn còn một thế giới nguyên vẹn chưa bị phá hủy.

Ban đêm chúng tôi ngủ trên sàn trong căn hộ của gã. Có hai phòng, một phòng cho nam và một phòng cho nữ. Trên bức tường trong căn phòng bên tôi có một bức ảnh của gia đình đã từng sống ở đây. Màu ảnh đã bạc thếch dưới ánh mặt trời và tôi tự hỏi họ là ai, họ đã đi đâu. Đêm rất lạnh và gió từ biển thổi vào lồng lộng. Nó rít lên dưới những khung cửa gỗ và bậu cửa sổ, mang theo tiếng ẳng ẳng của bầy chó và ồn ào của xe cộ. Ở trong căn phòng này ấm hơn nhiều so với ở bãi đất trống kia, và ít nhất ở đây chúng tôi có một nhà vệ sinh và một mái che trên đầu.

Sáng sớm, khi những con chim bắt đầu cất tiếng, mọi người cũng trở dậy, duỗi mình sau một đêm co quắp và ngồi cầu nguyện. Ở đây không có gì để làm ngoài việc chờ đợi. Mỗi ngày, gã môi giới lại trở về từ nơi ẩn nấp nào đó và thông báo với chúng tôi về tình hình thời tiết và trạng thái của biển. Chúng tôi không thể liều mình vượt biển khi gió còn quá mạnh. Anh ta rời đi, mọi người trò chuyện trong chốc lát, kể những câu chuyện của những người không bao giờ tới được đất Hy Lạp, của những gia đình, cả đàn ông và đàn bà và trẻ nhỏ, mất tích giữa biển. Tôi không tham gia vào những cuộc trò chuyện ấy, tôi chỉ nghe và đợi sự yên tĩnh quay lại. Afra ngồi trên một chiếc ghế mây bên cửa sổ, đầu khẽ giật nhẹ sang trái hoặc sang phải, lắng nghe mọi thứ.

Khi tôi đến bên cạnh, em nói: “Nuri, em không muốn đi.”

“Chúng ta không thể ở đây được.”

“Tại sao?”

“Bởi nếu ở lại, chúng ta sẽ phải sống mãi ở khu lều trại. Em muốn như vậy sao?”

“Em không muốn gì hơn.”

“Chúng ta sẽ mắc kẹt cả đời. Anh sẽ làm việc thế nào đây?”

Em không đáp lời tôi.

“Chúng ta đã bắt đầu cuộc hành trình này, bây giờ từ bỏ nó thì thật vô nghĩa.”

Em lầm bầm.

“Và anh Mustafa đang đợi chúng ta nữa. Em có muốn gặp lại chị Dahab không? Em có muốn được ổn định và an toàn không? Sống như thế này anh mệt mỏi lắm rồi.”

“Em sợ nước”, cuối cùng em cũng nói.

“Cái gì em cũng sợ.”

“Không phải thế.”

Đó cũng là lúc tôi nhìn thấy một cậu bé khoảng bảy tám tuổi đang ngồi khoanh chân trên sàn và lăn lăn viên bi ve trên mặt đá lát. Có điều gì đó thật kỳ lạ ở thằng bé này, như thể nó đang ở một nơi rất xa, chìm đắm trong thế giới của mình. Và có vẻ nó ở đó một mình.

Lát sau, khi tôi ra ban công đứng, thằng bé đi theo tôi. Nó đứng cạnh tôi một lát, bồn chồn chuyển chân nọ sang chân kia, xì xì mũi rồi lau vào sau quần.

“Chúng ta sẽ ngã xuống nước ạ?” Nó hỏi, ngước đôi mắt to tròn lên nhìn tôi, như Sami đã từng làm thế.

“Không đâu.”

“Như những người khác ấy ạ?”

“Không đâu.”

“Gió sẽ lật thuyền sao ạ? Thuyền sẽ lật úp xuống biển ạ?”

“Không. Mà nếu có thế, chúng ta cũng có áo phao mà. Tất cả mọi người sẽ không sao.”

“Đấng Allah – người thương xót chúng ta – sẽ giúp chúng ta phải không ạ?”

“Phải. Đấng Allah sẽ giúp chúng ta.”

“Cháu tên là Mohammed”, thằng bé nói.

Tôi chìa tay ra và nó bắt tay tôi như một người đàn ông thực thụ.

“Rất vui được biết cháu, Mohammed. Chú là Nuri.”

Thằng bé lại ngước mắt lên nhìn tôi, lần này mắt nó còn mở to hơn khi nãy, đầy sợ hãi. “Nhưng tại sao Người lại không giúp những bạn đó khi họ bắn các bạn ấy?”

“Ai bắn các bạn ấy?”

“Lúc các bạn ấy đứng thành hàng và đợi. Tại các bạn ấy không mặc đồ màu đen. Bố cháu bảo thế. Cháu đang mặc đồ đen đây. Chú thấy không?”

Thằng bé kéo kéo chiếc áo phông của nó, một chiếc áo màu đen đã phai màu.

“Cháu đang nói chuyện gì thế?”

“Xong rồi bố đưa cho cháu một chiếc chìa khóa, bảo cháu đi đến một ngôi nhà, bố nói địa chỉ cho cháu, và bảo cháu đi vào trong rồi khóa cửa lại, nhưng khi cháu đến được ngôi nhà đó, nó lại không có cửa.” Thằng bé lấy từ túi sau ra một chiếc chìa khóa và cho tôi xem, như thể nó đang mong tìm được cánh cửa có ổ khóa khớp với cái chìa, rồi nó lặng lẽ đút lại vào túi.

“Nhưng khi ở dưới nước Đấng Allah sẽ giúp chúng ta chứ ạ? Bởi vì ở dưới nước thì họ sẽ không tìm thấy chúng ta được.”

“Ừ, Người sẽ giúp chúng ta vượt biển.”

Đôi vai của Mohammed thả lỏng và thằng bé đứng cạnh tôi thêm một lúc nữa, trong bộ đồ quần jean đen, áo phông đen, đôi mắt đen và móng tay cũng đen. Nhiều ngày trôi qua, tôi thấy rằng ngoài mình ra, không có ai khác nói chuyện với Mohammed nữa. Và sau cuộc trò chuyện trên ban công hôm ấy, thằng bé luôn luôn nhìn về phía tôi, liên tục kiểm tra xem tôi có còn ở trong tầm mắt nó không. Tôi nghĩ tôi giúp nó cảm thấy an toàn.

Vào ngày thứ ba, tôi ra ngoài đi dạo. Có một con đường bê tông dẫn vào sâu trong rừng, và nếu cứ đi tiếp, cuối cùng nó sẽ dẫn tới một khu có rất nhiều tòa nhà lớn. Trời không nhiều mây lắm, thời tiết ở đây khá giống ở Syria, có lẽ mát hơn một chút. Bầu trời lúc nào cũng mù sương vì ô nhiễm, đặc biệt là vào buổi sáng. Một màn sương xám đục dày nặng lơ lửng trên mặt nước và những con phố, không được thanh sạch như sương giá mùa đông mà đầy mùi của thành phố cùng những con người sống trong nó.

Ngày thứ tư, Elias quyết định đi cùng tôi. Anh ấy hiếm khi nói gì trừ chuyện thời tiết, mà gần như ngày nào cũng như ngày nào, nhưng anh hay để ý tới những thay đổi rất nhỏ nhặt, kiểu như “sương sớm nay dày hơn”, “tối nay gió sẽ buốt hơn đấy”. Anh luôn nói những điều hiển nhiên nhất, nhưng chuyện thời tiết trở nên quan trọng khi chúng tôi đang quan sát và chờ đợi những dấu hiệu biển lặng để có thể tiếp tục cuộc hành trình.

Trong lúc đi bộ, tôi cũng nhận ra những điều khác nữa, ví dụ như lũ mèo. Chúng khiến tôi nhớ về Aleppo, cái cách chúng thức dậy, thoát khỏi trạng thái lờ đờ buồn ngủ và nằm trong bóng râm cả ngày để chờ đợi thức ăn. Và cả lũ chó lang thang trên phố, ngông cuồng và nhem nhuốc, với những vết sẹo cả cũ cả mới, vì bị thương, bị bệnh hay bị tai nạn. Chúng trông rất giống nhau với lớp lông nâu nhạt, đôi khi nâu sậm. Chúng ở khắp mọi nơi: lang thang trong những con hẻm và hè phố đằng sau những cửa tiệm, chờ đợi chút thức ăn, hoặc lang thang giữa đường phố. Ban đêm, lũ chó hoang sẽ gọi nhau khắp thành phố Istanbul này. Và đến buổi sáng, chúng nằm nghỉ dưới những gầm ghế gầm bàn ở các quán cà phê trên quảng trường Taksim. Thường chúng chỉ lười biếng nằm đó gà gật, hồi sức sau buổi đêm náo nhiệt. Hầu hết mọi người chẳng ai để ý đến chúng, nhưng lũ chó quan sát tất cả, với đôi mắt khép hờ và đầu gác lên chân trước. Chúng nhìn lũ trẻ vọt qua vọt lại giữa dòng xe cộ, gõ gõ vào các ô cửa xe để cố bán vài chai nước cho khách qua đường.

Có nhiều gia đình đi lang thang qua các con phố, một vài nhà còn đi chân trần. Đôi khi họ ngồi bên vỉa hè khi đã quá mệt vì đi bộ. Một số người khác vào chợ, cố gắng kiếm chút tiền để đi tiếp bằng cách bán mấy đồ thiết yếu: sạc pin, áo phao, thuốc lá.

Đôi lúc tôi quên mất rằng tôi cũng là một người trong số họ. Như những con chó kia, ngày nào tôi cũng đến ngồi trên cùng một băng ghế và nhìn những chiếc taxi vàng đi quanh bùng binh trồng đầy anh túc đỏ. Tôi hít lấy mùi thơm từ các quán thịt nướng và tiệm bánh mì kebab, với những thanh xiên và củi đốt, mùi hương tuyệt vời từ những chiếc bánh vòng, nóng hổi mới ra lò, hay từ những chiếc xe bán hàng rong chạy quanh quảng trường mỗi ngày. Những chiếc bánh mềm được trưng bày trong tủ kính và qua những ô cửa sổ mặt tiền của các cửa hàng, tôi thấy những người phụ nữ trong trang phục truyền thống đang cuộn bánh crêpe. Tôi thấy lũ trẻ tị nạn đã học cách thích ứng như thế nào, chúng thành thạo các phương thức để tồn tại ra sao – những đứa nhóc khôn ngoan, những đứa trẻ may mắn ấy. Sami sẽ nghĩ sao về những con phố này nhỉ, về những sạp hàng, những cửa tiệm và ánh đèn đường của đại lộ Istiklal, chỉ cách khu ổ chuột và khu ở của người Do Thái một con phố. Có lẽ thằng bé sẽ kéo tay tôi vào cửa tiệm sô cô la, còn Afra sẽ rất thích các cửa tiệm quần áo, hiệu sách và tiệm bánh ngọt.

Từ ngày chúng tôi đến căn hộ của người trung gian, Afra lại không muốn ra ngoài. Mỗi khi đi bộ trên phố trở về, tôi thường kể em nghe về những tòa nhà mang phong cách thời Ottoman, về chuyện xe cộ ồn ào huyên náo, về những món ăn, và về lũ chó hoang. Nếu tôi có vài xu lẻ, tôi sẽ mua cho em một chiếc bánh vòng rắc vừng. Em thích lắm, nhất là khi bánh còn nóng, em sẽ bẻ đôi và chia cho tôi một nửa. Afra chưa bao giờ ăn bất cứ thứ gì mà không chia sẻ với ai – tính cách em như thế. Tôi không kể cho em nghe về lũ trẻ trên phố. Tôi không muốn em nhìn thấy chúng để rồi lại bị kẹt trong những đường hầm không lối thoát của tâm trí mình.

Buổi đêm, khi lũ chó hoang thức dậy, Afra không ngủ. Em nằm trong căn phòng ngủ kế bên, cùng những người phụ nữ khác. Tối nào em cũng thoa chút nước hoa hương hoa hồng lên cổ và cổ tay như thể sẽ đi đến đâu đó giữa màn đêm này. Phòng tôi ngủ còn có mười người nữa. Tôi rất nhớ Afra. Đây là lần đầu tiên trong nhiều năm tôi không ngủ bên em. Tôi nhớ hơi thở khẽ khàng của em. Tôi nhớ tay mình được đặt lên ngực em, nghe tiếng tim còn đập. Tôi không ngủ được mấy. Tôi nghĩ về Afra. Tôi biết có những lần trong đêm, em sẽ quên mất là mình không còn ở Aleppo nữa. Tâm trí sẽ đánh lừa em, và em sẽ đi ra ngoài hành lang. Tôi nhận ra tiếng chân em bước trên những tấm ván lát sàn và tôi sẽ dậy trò chuyện với em trên lối hành lang với trần cao tít và ô cửa sổ rộng.

“Nuri, là anh à? Em không ngủ được. Anh thức rồi à?”

“Ừ.”

“Em không ngủ được. Em muốn đi dạo.”

“Giờ muộn rồi, không an toàn đâu. Mai chúng ta đi.”

“Em muốn sang gặp ông Khamid, xem chiếc quần cỡ lớn của ông treo trên dây phơi.”

Khamid là em trai của ông Afra. Ông cụ sống trong căn nhà ở cuối phố, trông ra bãi đất khô cằn có một chiếc xích đu và cầu trượt. Buổi tối, Afra hay dẫn Sami tới chỗ cái xích đu và hai mẹ con cùng cười nắc nẻ vì những chiếc quần ngoại cỡ của ông cụ.

Tôi đưa hai tay lên ôm lấy khuôn mặt em, hôn lên từng mí mắt. Nơi nào đó trong tôi ước rằng mình có thể giết em bằng những nụ hôn ấy, giúp em ngủ yên mãi mãi không bao giờ tỉnh lại. Em làm tôi sợ. Những gì em có thể thấy, có thể nhớ, bị khóa chặt đằng sau đôi mắt ấy.

Sau vài ngày, tôi cố gắng tìm chút việc làm. Có quá nhiều người tị nạn đang bán áo phao và thuốc lá trên các con phố, tất cả đều phi pháp vì họ đâu được phép ở đây. Tìm một chân rửa xe không quá khó. Elias làm cùng với tôi. Chúng tôi cùng nhau cọ sạch những vết muội và sạn bẩn, đôi lúc thó được vài thứ lặt vặt từ ngăn hành lý hoặc hộp đựng găng, những thứ mà khách hàng không để ý – kẹo cao su, chai nước uống dở, vài tờ tiền lẻ. Elias lấy đầu lọc vứt trong gạt tàn. Chủ của chúng tôi là một người đàn ông Thổ Nhĩ Kỳ sáu mươi tuổi, hút sáu mươi điếu thuốc một ngày và trả công chúng tôi không được mấy đồng. Nhưng tôi tới Istanbul đã ba tuần trời và thời tiết vẫn tệ như vậy, nên thêm được một chút tiền ít ỏi và có việc gì đó để làm giết thời gian cũng là khá tốt với chúng tôi rồi.

Một buổi chiều, sau khi xong việc ở chỗ rửa xe, tôi đi loanh quanh trên quảng trường Taksim cho tới khi tìm được một quán cà phê có mạng Internet. Điện thoại của tôi không dùng được và tôi muốn biết liệu anh Mustafa có cố liên lạc với tôi không. Tôi biết nếu anh còn sống, anh nhất định sẽ gửi tin nhắn cho tôi, và đúng như thế, khi tôi đăng nhập vào tài khoản của mình, tôi thấy ba thư mới anh gửi cho tôi.

*

Ngày 22 tháng 11 năm 2015

Nuri thân mến,

Anh hy vọng em tìm được lá thư anh để lại cho em. Anh nghĩ tới em và Afra mỗi ngày. Anh rất xin lỗi vì đã đi mà không nói lời từ biệt. Nếu anh ở lại, chắc chắn chúng sẽ tìm ra và giết anh. Anh mong em hiểu và có thể tha thứ cho anh.

Từng ngày trôi qua, anh đều tự hỏi làm sao chúng ta lại ra nông nỗi này, làm sao cuộc đời lại tàn nhẫn đến mức này. Gần như lúc nào anh cũng cảm thấy mình không sống nổi. Những ý nghĩ ấy đầu độc anh, và anh phải một mình đương đầu với chúng. Anh biết mỗi người ở đây đều đang mắc kẹt trong địa ngục của chính mình. Có một người đàn ông cứ ngồi ôm lấy đầu gối của mình và đung đưa suốt đêm, và ông ấy hát, Nuri ạ. Ông ấy hát một bài hát ru làm trái tim anh đông cứng. Anh muốn hỏi ông ấy đã từng hát bài hát ấy cho ai nghe hay ai đã từng hát bài hát ấy cho ông ấy nghe, nhưng anh sợ câu trả lời của ông ấy. Vậy nên anh mời ông ấy một điếu thuốc. Đó là tất cả những gì anh có thể làm, vì ông ấy sẽ ngừng hát trong vài phút để hút thuốc. Anh ước gì anh có thể thoát khỏi tâm trí của mình, thoát khỏi thế giới này và mọi điều anh đã biết, đã thấy trong suốt mấy năm qua. Những đứa trẻ sống sót được – chúng sẽ trở nên như thế nào? Làm sao trẻ em có thể sống được trong một thế giới như thế này?

Hành trình đã không diễn ra như kế hoạch. Anh đi qua Thổ Nhĩ Kỳ và Hy Lạp, rồi vượt biên vào Macedonia, nhưng mọi chuyện ở đây trở nên phức tạp – anh bị bắt và trục xuất, bị tống lên một con tàu tới Bulgaria, nơi anh đang ở đây, trong một chiếc lều ở giữa rừng. Anh mượn được điện thoại của một cậu thanh niên. Có mấy cái lều lớn, bọn anh ngủ trên giường tầng, người nọ chen với người kia. Anh nghĩ có gió lớn thì mọi thứ sẽ đổ hết. Ở đây còn có một ga tàu. Những đoàn tàu cũ kĩ đi qua ga này, người ta cố nhảy lên và đu mình trên những toa xe vì muốn tới Serbia. Đến giờ anh vẫn cố gắng không nhảy lên chuyến tàu đó.

Thức ăn vừa tới, bọn anh sẽ đợi người ta mang đến. Cá mòi và bánh mì. Đây là món bọn anh ăn mỗi ngày. Nếu anh có thể thoát khỏi nơi này, anh sẽ không bao giờ ăn một con cá mòi nào nữa.

Mong tin của em. Cầu mong em được an toàn.

Anh họ,

Mustafa.

*

Ngày 29 tháng 12 năm 2015

Nuri thân mến,

Anh đang ở Serbia, trong một cái lều dựng gần nhà máy. Ga cuối của chuyến tàu là một khu công nghiệp, không thể đi xa hơn được nữa. Vậy là anh đã đến ga cuối. Anh mong nó không phải chỉ bảo rằng chuyến hành trình của anh đến đây là hết. Từ Bulgaria, anh đã lên một chuyến tàu chạy một ngày một đêm và được đem tới khu trại rào dây thép gai bên ngoài một ngôi làng. Anh không làm cách nào ra khỏi đây được – khu trại được canh gác kỹ và phải xếp hàng mới được ra ngoài. Ga tàu không có thềm đợi. Từ trên chiếc xe đến đây, anh thấy người ta bước qua một cái thang để lên tàu, nhưng ít nhất họ đang rời đi. Ở đây có một cô gái không nói được – con bé chắc phải mười tám tuổi rồi, và ngày nào người mẹ cũng cầu xin con gái mình nói vài lời, và con bé mở miệng thật nhưng không nói được tiếng nào. Anh tự hỏi điều gì bị kẹt lại bên trong thiếu nữ ấy mà không thể thoát ra được. Con bé trái ngược hẳn với cậu nhóc đang ngồi bên bờ sông, gào khóc gọi cha nó. Nhưng ai mà biết được con bé đã trải qua những gì, đã chứng kiến những gì…

Ở đây rất yên ắng, cái yên ắng đầy hỗn loạn và điên rồ. Anh cố nhớ tới âm thanh của bầy ong, cố nhắm mắt lại để tìm chút ánh sáng và tưởng tượng về cánh đồng và những thùng ong. Nhưng rồi anh nhớ đến ngọn lửa hôm ấy, nhớ Firas và Sami. Các con đã tới nơi có bầy ong rồi, Nuri ạ, nơi có hoa tươi và mật ngọt. Đấng Allah giúp chúng ta trông nom chúng, cho tới ngày chúng ta có thể gặp lại các con, khi cuộc đời này kết thúc.

Anh mệt rồi, Nuri. Anh mệt mỏi với cuộc sống này rồi, nhưng anh nhớ Dahab và con. Hai mẹ con đang đợi anh và anh không biết liệu mình có bao giờ gặp lại họ. Cả hai đã đến Anh tốt đẹp, đợi xem có được chấp nhận tị nạn không. Nếu được, anh sẽ tới đó dễ dàng hơn.

Anh nhất định phải đi tiếp, và nếu em đọc được những dòng này, anh tha thiết mong em cũng làm thế. Hãy dùng tiền cho khôn khéo – những gã trung gian sẽ cố moi của em nhiều nhất có thể nhưng em phải nhớ rằng mình còn một chặng đường dài hơn ở phía trước. Phải học cách thương lượng. Con người không giống loài ong. Con người sẽ không hợp tác, không có nhận thức gì về cái gọi là điều lớn lao hơn. Bây giờ anh đã nhận ra điều này.

Tin tốt là anh không phải ăn cá mòi trong vòng một tuần. Ở đây họ cho pho mát, bánh mì, vài ngày còn có chuối nữa.

Mustafa.

Lá thư cuối cùng được viết bằng tiếng Anh:

Ngày 20 tháng 1 năm 2016

Nuri thân mến,

Anh mất một ngày ở Áo, trong một doanh trại gần biên giới Đức, nơi họ rà soát và lấy vân tay rồi đưa bọn anh đến một nhà trọ vùng núi trên đất Đức. Mùa đông ở đây cực kỳ lạnh – xung quanh tuyết phủ và ngôi nhà cũ này cao gần như chạm mây. Nó làm anh nhớ tới rặng Anti-Lebanon, nhớ cha và ông nội, nhớ những ngày ở vườn ong, học về loài ong. Nhưng Anti-Lebanon ngập nắng và trông ra biển, còn núi này toàn một màu trắng toát và lặng im. Anh không biết nó chạy về đâu hay khởi nguồn từ đâu.

Anh sẽ đến Pháp. Một người lính gác tốt bụng đã rất tử tế cho anh gửi thư này qua điện thoại của anh ấy, và anh ấy đang gõ chữ giúp anh đây. Anh cũng đã gửi một email cho Dahab, cô ấy vẫn đang đợi anh và cầu nguyện. Anh cầu nguyện cho cô ấy, cầu nguyện cho em và Afra. Anh không nghe được tin gì từ em nhưng anh sẽ không nghĩ bất cứ điều gì.

Người bạn của em,

Mustafa.

Tôi ngồi lặng một lúc và nghĩ về chuyện gì sẽ đến sau điểm dừng tại Đức. Bây giờ là đầu tháng Hai. Anh Mustafa có đến được Pháp không? Anh vẫn còn sống chứ? Sống ổn chứ? Tôi nhớ lại lần đầu tiên đến thăm vườn ong trên núi. Phải, nơi ấy ngập ánh nắng mặt trời và bạn có thể thấy mặt biển lăn tăn phía dưới xa. Mustafa đưa tôi đi giới thiệu một vòng. Hồi ấy anh còn trẻ, chưa đến ba mươi, tôi mới mười tám. Anh đi lại thoải mái với chiếc quần soóc và đôi dép tông, không e dè lũ ong chút nào.

“Anh không sợ à?” Tôi hỏi, mắt không ngừng ngó nghiêng, cảnh giác với xung quanh.

“Anh quen chúng nó,” anh đáp. “Anh biết khi nào thì chúng tức giận.”

“Sao anh biết được?”

“Lúc ấy chúng sẽ tỏa ra một mùi hương như mùi chuối.”

“Mùi chuối á?”

Anh gật đầu, rất hài lòng trước sự kinh ngạc của tôi. “Những con ong khác sẽ ngửi thấy mùi đó và biết đã đến lúc tấn công.”

“Nhưng anh sẽ làm thế nào nếu chúng tức giận?”

“Đứng im, tuyệt đối yên lặng, không được cử động một li. Em hãy giả làm một cái cây.”

Thế là anh đứng đó, như một bức tượng khổng lồ, hai tay đưa lên che mắt và mỉm cười. Tôi bắt chước anh, đứng yên nhất có thể, nín thở khi bầy ong hàng trăm con bay quanh mình, hay là nghìn con nhỉ. Tiếng chúng bao quanh tôi, trùm lấy tôi, uốn lượn quanh tôi như một tấm mạng vô hình. Không có con ong nào đậu lên người tôi cả.

“Em thấy chưa”, anh nói thầm. “Em cứ thư giãn và hòa mình vào thiên nhiên. Em sẽ ổn thôi.”

Ngày 1 tháng 2 năm 2016

Anh Mustafa thân mến,

Sau cái email anh gửi đi từ tháng Một, em không nhận được thư nào nữa nên em không biết anh đã đến được Pháp chưa. Điều em mong nhất là anh đã đến được Anh cùng chị và cháu. Em vừa nhớ tới lần đầu tiên em đến thăm vườn ong trên núi. Trong tâm trí em nó vẫn thật sống động. Chúng ta trẻ quá. Giá như hồi đó chúng ta biết được cuộc đời sau này sẽ ra sao. Nhưng nếu biết rồi, chúng ta sẽ làm gì đây? Chúng ta sẽ sợ hãi đến mức không dám sống, không dám tự do, không dám lên kế hoạch ư. Em ước gì mình có thể quay lại giây phút ấy, đứng đó giữa bầy ong, mỗi giây trôi qua đều hiểu rằng chúng không phải kẻ thù của em.

Giờ em đang ở Istanbul. Afra và em đang ở tại nhà của một người trung gian với hai mươi người khác và chúng em sẽ tới Hy Lạp. Nhưng giờ gió đang to quá. Ở đây em gặp một cậu bé, tầm tuổi Sami. Cậu nhóc có một mình, em không biết gia đình của đứa nhỏ đã xảy ra chuyện gì. Em không dám nghĩ. Thằng bé tin em, và em đang chăm sóc nó.

Em biết mình còn một hành trình dài phía trước. Nhiều lúc em nghĩ em không thể bước tiếp nữa, nhưng em mong, em luôn mơ ước trong lòng rằng sẽ gặp lại anh tại Anh. Nhờ thế em mới bước tiếp được. Em có tiền và hộ chiếu. Em thấy mình thật may vì có chúng khi thấy nhiều người không có gì trong tay. Em sẽ đợi thư anh.

Nuri.

Trở về nhà của gã trung gian tối hôm đó, tôi đưa những thứ mình tìm được cho Mohammed: vài cái kẹo cao su và kẹo bạc hà, một con dao nhíp, một chiếc bút, một cái vòng móc chìa khóa, một lọ hồ dán và một tấm bản đồ.

Thằng bé thích tấm bản đồ nhất. Nó trải ra sàn và đưa ngón tay lần theo những đường chỉ phố xá và núi non. Nó tìm thấy mấy viên đá trong các chậu cây ở ban công, và với cái bút kia, nó vẽ các khuôn mặt. Một gia đình những viên đá, được gắn vào tấm bản đồ như thể họ thực sự đang trên một hành trình. Bố, mẹ, bà, anh trai và hai cô em gái. Tối hôm đó tôi thấy thằng bé ngủ thiếp đi trên tấm bản đồ, tôi bế nó lên, ngả đầu nó lên vai mình và mang vào phòng ngủ, đặt xuống tấm chăn mềm. Nó còn không buồn trở mình. Cậu bé Mohammed đang chìm trong những giấc mơ rồi.

“Chúng ta sẽ rời đi sớm thôi,” tối hôm sau tôi nói với Elias. Anh đứng trên ban công như một bức tượng vĩ đại thời cổ, mở một gói thuốc lá mới tinh, lấy ra một điều rồi châm lửa và nhìn về phía cánh rừng. Anh đã ăn nhiều hơn và làm việc quần quật, người anh nở nang và dễ thấy anh khỏe mạnh vững chắc thế nào.

“Gã trung gian nói còn hai ngày nữa.”

Elias suy ngẫm cho đến khi hút hết điếu thuốc, và châm điếu nữa. “Tôi không muốn đi nữa. Tôi sẽ ở lại đây.”

“Không phải anh đã đưa tiền cho gã trung gian rồi à? Anh định ở đâu?”

“Tôi sẽ tìm thấy chỗ thôi. Đừng lo cho tôi. Tôi không muốn đi tiếp nữa. Tôi đã đi quá xa rồi. Tôi đến đây thôi.” Đôi mắt anh buồn nhưng nụ cười đã khác trước. Khuôn mặt anh đã có sức sống và một sức mạnh ẩn giấu bên trong.

Cả hai chúng tôi đứng đó, yên lặng suốt một lúc lâu, nghe những âm thanh của màn đêm trong tiếng gió, tiếng xe cộ và tiếng chó sủa.

« Lùi
Tiến »