Sáng hôm sau, Afra thức dậy và hỏi tôi sao em lại thấy có mùi hoa thơm ở đây.
“Có lẽ là nước hoa của em đó”, tôi đáp.
“Nhưng không phải hương hoa hồng. Mùi hương này nhạt thôi, như hoa mai.”
Em vươn tay về phía tủ đầu giường và tôi nhớ đến cái bát đựng chìa khóa. Em đưa tay sờ xung quanh cho đến khi chạm được vào cái bát. Em ngồi dậy, đặt nó vào lòng mình, cúi xuống và hít một hơi thật sâu, cầm chiếc bát bằng cả hai bàn tay. Lúc ấy, tôi mới nhận ra chiếc bát không hề đựng chìa khóa mà trong đó là một nắm hoa màu trắng.
“Anh hái cho em đấy à?” Em hỏi.
“Ừ.”
“Một món quà nữa à?” Đôi mắt em lại ngập tràn nắng sớm. Tôi không muốn nhìn. Tôi ghét thấy em thế này, và tôi cũng không hiểu sao mình lại thế. Tôi ngồi dậy và kéo rèm lại, thấy bóng của chúng lướt qua gương mặt em. “Lâu rồi anh không đem hoa cho em”, em nói, và em đưa hoa lên gần mặt, hít lấy hương thơm của chúng, rồi trong khoảnh khắc ấy, em khẽ nở nụ cười, cũng thoáng qua như làn hương hoa ấy.
“Cảm ơn anh”, em nói. “Anh thấy hoa ở đâu thế?”
“Trong vườn có một cái cây.”
“Vườn rộng không?”
“Không, chỉ là một mảnh sân vuông bé tí, toàn là bê tông thôi, nhưng có một cái cây.”
“Em cứ tưởng anh không bao giờ tặng gì cho em nữa.”
Em đặt lại chiếc bát lên tủ đầu giường và đưa tay kiểm tra xem mấy viên bi còn đó không. Tôi đưa em vào phòng vệ sinh, ngồi lên bệ đợi khi em đánh răng, và sau đó giúp em mặc đồ. Lấy chiếc abaya từ trên mắc áo xuống, giúp em lồng vào cánh tay, thả áo xuống phủ lấy cơ thể, che đi phần bụng nhô lên cùng vết sẹo mổ khi em sinh Sami – một nụ cười vĩnh cửu tươi mới trên vùng bụng – cuối cùng là lớp lông mượt mà ở phần đùi. Tôi khẽ ngửi. Hương hoa hồng và mùi mồ hôi. Vết sẹo đó và những nếp da nhăn trên bụng không ngừng nhắc tôi rằng em đã mang đứa con của chúng tôi, đã đưa nó đến thế giới này và tôi không muốn chạm vào em nữa. Tôi buộc tóc cho em và quấn chiếc hijab quanh đầu, cài trâm tóc vào chỗ em muốn. Tôi cố không ngăn cản em, cố để không gạt tay em ra. Trên môi em dường như vẫn còn vương nụ cười và tôi không muốn phá hỏng nó. Tôi thấy sợ hãi rằng giờ đây một món quà của tôi cũng đủ sức mạnh khiến em cười, dù cho nó nhỏ bé đến mức gần như không là gì. Tất cả những lần đó tôi đã muốn yêu thương em, muốn đem chút ánh sáng cho đôi mắt em, nhưng giờ khi tôi đã làm được, tôi lại căm ghét việc này đến thế. Em vẫn yêu tôi, em vẫn hy vọng tôi còn yêu em. Nhưng tôi không còn xứng đáng với em, với sự khoan dung của em nữa rồi.
*
Chiều hôm đó chúng tôi có một buổi gặp nữa với Lucy Fisher. Vậy nên, chúng tôi lại ngồi vào chỗ từng ngồi trong buổi gặp trước đó, bên chiếc bàn trong bếp. Afra vẫn không muốn đối diện với Lucy Fisher. Em úp tay lên mặt bàn, trông như thể đang nhìn ra ngoài cửa sổ.Lucy Fisher hôm nay trông có vẻ vui hơn. Cô ấy đem theo giấy tờ chứng minh chúng tôi có thể xin tị nạn. Rất năng suất – cô tích vào một loạt ô và viết nhanh vài dòng vào một cuốn sổ bìa còng.
“Rất mừng là chúng ta không cần tìm một người phiên dịch cho anh”, cô nói, không để ý lắm, đôi mắt to xanh lơ nhìn lướt qua tôi. Hôm nay cô ấy thả tóc. Tóc cô ấy mềm mượt khiến tôi nghĩ tới những sợi lông vũ, không giống như tóc của Afra. Mái tóc em dày và nặng, từng đen nhánh như hắc ín.
Lucy Fisher có một vẻ nhẹ nhàng mà tôi rất thích. Cô tự hào về bản thân mình khi giữ được mọi thứ trong trật tự. Và khi mọi chuyện không diễn ra như mong đợi, khuôn mặt cô đỏ bừng lên và cô trở nên thật xinh đẹp. Tôi tự hỏi không biết cô ấy có biết điều này không. Dù vậy, bây giờ trông cô rất bình thản, và khuôn mặt cô không có gì đặc biệt. Cô làm tôi nhớ đến những phát thanh viên bản tin. Giọng nói của cô cũng như vậy. Nhớ tới phản ứng của cô ấy vào hôm trước, tôi cố gắng hình dung cô ấy đã làm việc với bao nhiêu người, đã trả lời bao nhiêu câu hỏi, hình dung ai cũng bám víu lấy cô như thể cô là chiếc áo phao của họ giữa cơn biển động.
“Cô sẽ đưa ông lão người Maroc đi à?” Tôi hỏi.
“Ai cơ?” Cô đáp.
“Ông lão.”
“Hazim?”
“Phải.”
“Tôi e đây là thông tin bí mật. Tôi không được phép thảo luận về bất kỳ trường hợp nào. Trường hợp của anh cũng vậy.” Cô lại mỉm cười với tôi và đóng tập hồ sơ lại trước khi tiếp tục. “Giờ việc anh cần làm là đưa bức thư này tới phòng khám đa khoa, địa chỉ thì ở đây.” Cô chỉ vào một mảnh giấy. “Anh sẽ ổn thôi”, cô nói, “và khi đến đó, anh có thể hẹn lịch khám cho vợ anh, và cho cả anh nữa. Kiểm tra qua một chút cũng tốt.” Cô nhìn sang Afra và tôi có thể thấy là vợ tôi đang không thoải mái.
“Vậy khi nào chúng tôi được phỏng vấn?” Tôi hỏi khi cô quay lại nhìn mình.
“Tôi sẽ liên lạc lại và báo với anh sớm. Tôi nghĩ anh nên bắt đầu chuẩn bị được rồi. Hãy nghĩ về câu chuyện của anh, làm thế nào anh tới được đây, chuyện gì đã xảy ra trên quãng đường đó. Họ sẽ hỏi anh những câu kiểu như vậy và anh cần sẵn sàng đấy, vì việc trả lời có thể sẽ rất khó khăn.”
Tôi không nói gì.
“Anh đã nghĩ về chuyện đó chưa?”
“Vâng, rồi.” Tôi đáp, “Tất nhiên, tôi nghĩ suốt.” Và một lần nữa tôi lại thấy điều gì đó chân thực ở cô, hơn việc chỉ như một người đọc tin tức trôi chảy.
Cô đưa mu bàn tay lên xoa xoa đôi mắt, làm lớp trang điểm mờ đi một chút, đúng kiểu các thiếu nữ hay làm. “Chỉ là họ sẽ xét nét mọi chuyện”, cô nói, “nhất là nếu câu chuyện của anh có chút lộn xộn.”
Tôi gật đầu, thấy lo lắng nhưng hình như cô không nhận ra. Cô liếc nhìn đồng hồ để báo cho tôi biết rằng cuộc gặp mặt đã kết thúc. Tôi cùng Afra đứng dậy và rời đi.
Người tiếp theo là Diomande. Chúng tôi đổi chỗ với cậu ta, ra phía cửa ngồi. Cậu đi vào và ngồi xuống chỗ chúng tôi vừa ngồi, với đôi cánh gập lại gồ lên dưới lớp áo phông. Cậu ta hoạt ngôn hơn tôi nhiều. Chào hỏi nhiệt tình với thứ tiếng Anh sứt sẹo và ngay lập tức nói mình đến từ đâu, đến đây như thế nào. Lucy chưa kịp hỏi cậu ta câu nào, cậu ta đã nói liến thoắng. Tôi đi đến cuối hành lang rồi vẫn còn nghe được giọng cậu ta, một giọng nói vấp váp nhưng sôi nổi hào hứng, khiến tôi nghĩ tới tiếng vó ngựa phi nước đại.
Afra nói em thấy mệt nên tôi đưa em về phòng ngủ. Em ngồi bên mép giường, nhìn ra cửa sổ, y như em đã từng ngồi trong ngôi nhà ở Aleppo của chúng tôi. Tôi nhìn em một lát, muốn nói gì đó với em nhưng trong đầu không nghĩ ra được từ nào, rồi tôi xuống tầng.
Ông lão Maroc không có trong phòng khách. Tôi nghĩ ban ngày ông ấy sẽ ra ngoài, đi loanh quanh mấy cửa hàng, nói chuyện với người ta, nhặt nhạnh vài từ mới, nhân tiện quan sát và học vài thứ. Phòng khách có vài người nữa: người phụ nữ Afghan với bộ hijab thêu tay. Cô đang dùng mấy sợi dây xanh để làm thứ gì đó. Ở đây chẳng có gì nhiều để làm ngoại trừ việc ngồi trong phòng và xem tivi. Một chính trị gia trông như con cóc đang phát biểu.
Chúng ta đã mở cửa vô điều kiện, chính xác là như thế, mà không thể kiểm tra an ninh bất kỳ ai… Kế hoạch đánh bom Dusseldorf đã bị bại lộ, thôi được rồi… âm mưu về một cuộc tấn công hàng loạt rất đáng lo ngại cùng kiểu đó tại Paris hoặc Brussels. Tất cả những người đó đều đã tị nạn đến Đức vào năm ngoái…
Mặt tôi nóng bừng lên. Tôi chuyển kênh khác.
Anh này đã thừa nhận gian lận sáu lần! Nhưng đó chỉ tính riêng lúc giải lao! Vậy mà các bạn muốn anh ta rời đi sao! Ashley trên The Jeremy Kyle Show, thưa quý vị.
Tôi tắt tivi, cả căn phòng rơi vào yên lặng. Dường như không ai buồn để ý.
Tôi bước ra chỗ bàn máy tính và ngồi xuống. Tôi nghĩ về những cánh đồng ở Aleppo lúc còn chưa bị thiêu rụi, về những đàn ong là là trên mặt đất như những đám mây, rù rì giai điệu của chúng. Tôi có thể nhìn thấy Mustafa đang lấy cầu ong từ một cái thùng, nhìn nó chăm chú, quệt ngón tay vào lớp mật và nếm thử. Nơi ấy là thiên đường của chúng tôi, thiên đường nằm ven sa mạc và bên rìa thành phố.
Tôi nhìn vào gương mặt mình phản chiếu trên màn hình tối om, nghĩ xem sẽ viết gì cho anh. Mustafa, em nghĩ em không ổn rồi. Em không còn giấc mơ nào nữa.
*
Bà chủ nhà bước vào và bắt đầu dọn dẹp phòng khách với một cái chổi quét vàng chói. Bà cố với tới mấy cái mạng nhện ở góc phòng, nhón đôi chân bé xinh như chân voi trên đôi giày đế xuồng. Tôi thấy vậy liền đứng lên và bảo để tôi giúp. Thế là tôi dành cả buổi chiều quét tước những bức tường, bàn ghế, tủ chạn trong phòng khách và mọi căn phòng trên gác mà để cửa mở. Tôi ngó qua vào chỗ ở của những người khác. Một số người gấp chăn gối gọn gàng, một số khác để phòng mình thành một đống lộn xộn. Một số để vài món nữ trang trong chiếc tủ đầu giường, những thứ quý giá của một quãng đời đã qua, những bức ảnh trên bàn phấn. Chúng được dựng lên mà không cần khung. Tôi không chạm vào bất cứ thứ gì.Căn phòng của ông lão Maroc rất gọn gàng. Mọi thứ được gấp vuông vắn. Một lọ đựng xà phòng cạo râu đặt trên bàn phấn, dao cạo nằm thẳng hàng. Có một bức ảnh đen trắng chụp một người phụ nữ đang đứng trong vườn. Bức ảnh đã mờ và viền ảnh bạc trắng, cùng một chiếc nhẫn cưới nhỏ bằng vàng bên cạnh. Bức ảnh tiếp theo vẫn là người phụ nữ ấy, khoảng vài năm sau đó. Vẫn đôi mắt và nụ cười ấy, cô ngồi trên một chiếc ghế mây ôm một đứa bé, đứng bên cạnh là một bé khác đang tuổi tập đi. Một bức ảnh nữa, được ép plastic chỉn chu bóng mượt, rất nhiều năm sau đó, một bức ảnh gia đình: một người đàn ông, một người phụ nữ và hai đứa con đang tuổi niên thiếu. Bức ảnh cuối cùng có một người phụ nữ đứng một mình trên bãi cát, phía sau cô là biển rộng. Tôi lật bức ảnh lại và đọc dòng chữ viết bằng tiếng Ả Rập:
Bố, nơi con thích nhất. Yêu bố :x
Tôi xuống nhà, thấy còn nặng nề hơn khi nãy và quyết định đi dạo. Tôi đi con đường dẫn tới cửa hàng tiện lợi, tiếng nhạc Ả Rập vọng tới bên tai khi tôi bước dọc con phố. Dù không biết bài hát ấy, nhưng nó đã đưa tôi về nhà, cao độ và giai điệu của nó, âm thanh của tiếng mẹ đẻ ôm lấy và an ủi tôi khi tôi bước vào cửa tiệm bé xíu đó.
“Xin chào”, người đàn ông nói tiếng Anh. Ngữ điệu của anh ta thật tốt. Trung tuổi, râu ria được cạo cẩn thận. Anh ta đứng thẳng tắp như thể đang canh gác cho nơi này. Anh ta bật nhạc nhỏ lại và nhìn theo tôi khi tôi bước loanh quanh. Tôi đứng lại cạnh quầy, nhìn chăm chú vào những tờ báo lạ lẫm: The Times, tờ Telegraph, tờ Guardian, tờ Daily Mail.
“Hôm nay đẹp trời thật”, anh ta nói.
Tôi định đáp lời bằng tiếng Ả Rập, nhưng lại không muốn nói chuyện với người đàn ông này. Tôi không muốn anh ta hỏi tôi từ đâu tới, làm thế nào tới được đây.
“Vâng”, cuối cùng tôi cũng nói, và anh ta mỉm cười.
Ngay bên dưới chỗ tạp chí, hàng cuối cùng của chiếc giá, tôi thấy một tập giấy vẽ và bút chì màu. Còn chút tiền lẻ trong túi nên tôi mua chúng cho Afra. Người đàn ông nhìn tôi vài lần và mở miệng định nói gì đó nhưng một người phụ nữ ở đằng sau cửa hàng đang gọi anh ta, và tôi rời đi.
***
Chiều muộn hôm ấy, ông lão Maroc trở về và gọi tên tôi khi vừa mới qua cửa.
“Nuri! Cậu Nuri Ibrahim! Đến đây nào! Tôi có cái này cho cậu đây!”
Tôi đi ra hành lang và thấy ông lão đang đứng đó, cười rất tươi, cầm một khay gỗ bên trên đựng năm cái cây gì không rõ.
“Gì thế ạ?” Tôi hỏi.
“Tôi có chút tiền tiết kiệm nên đến chỗ hàng rong trên phố và mua cho con ong của cậu đó!” Ông lão đặt cái khay lên cánh tay tôi và thúc tôi đi qua phòng khách, hướng về phía hiên. Ông chọn một cái bàn nhựa đang chổng vó trong góc sân vườn, rồi lấy tay gạt hết bùn đất và lá khô.
“Đây”, ông nói, “cậu để lên đây đi!” Và ông lão đứng đó chiêm ngưỡng những bông hoa: có nhãn hương, bồ công anh, cúc gai. “Anh ta chỉ cho tôi những loại mà ong sẽ thích”, nói đoạn ông lão lại đi vào bếp và trở ra với một âu nước. Ông sắp xếp những cây hoa thành một hàng để con ong có thể bò từ cây này sang cây khác mà không cần bay, và cuối cùng đặt âu nước lên khay.
“Tôi nghĩ là nó sẽ thấy khát”, ông nói.
Tôi đứng bất động trong giây lát. Tôi có thể thấy ông lão đang nhìn mình chăm chú, đợi tôi đặt con ong vào nhà mới của nó, và rồi một thoáng thất vọng xuất hiện trong đôi mắt khi thấy tôi thiếu nhiệt tình như vậy. Trong giây phút ấy, đứng dưới tán cây với hoa cỏ bên cạnh và mặt trời đang tỏa sáng, tôi bỗng nhớ đến cha. Tôi nhớ ánh mắt của cha khi tôi nói mình không muốn tiếp quản việc kinh doanh của gia đình, nói tôi không có hứng thú với việc buôn bán vải vóc. Tôi muốn nuôi ong với anh Mustafa, muốn làm việc ngoài trời giữa thiên nhiên rộng lớn, muốn cảm nhận mặt đất dưới chân và mặt trời trên đầu, muốn nghe khúc nhạc của bầy ong.
Suốt nhiều năm tôi đã chứng kiến cha làm lụng vất vả trong cửa tiệm chật hẹp tối tăm đó, với cây kéo, kim chỉ, thước đo và những khớp tay sưng phồng. Màu sắc của thế giới này, của sa mạc và sông ngòi và rừng rậm, in trên những tấm vải lụa và đũi xung quanh cha. “Lụa này làm rèm rất đẹp! Bà không thấy nó giống màu của rặng Hamad lúc hoàng hôn sao?” Cha sẽ nói với khách như thế, còn với tôi, cha sẽ bảo “Kéo cái rèm vào Nuri, kẻo nắng lại chiếu hỏng vải bây giờ!” Sao tôi nhớ ánh mắt ấy thế, ánh mắt khi nghe tôi nói tôi không muốn làm việc trong cái hang động chật hẹp tối tăm đó suốt quãng đời còn lại.
“Cậu không thích à?” Ông lão Maroc hỏi. Giờ biểu cảm đã khác hẳn, cau mày thấy rõ.
“Cháu thích,” tôi nói. “Cảm ơn bác.”
Tôi đưa tay ra đón con ong và nó bò lên ngón tay tôi, tôi đưa nó tới nhà mới. Nó thăm dò kỹ lưỡng mấy bông hoa, tìm đường đi từ bông này sang bông kia.
“Sao bác lại tới đây?” Tôi hỏi ông lão. “Bác đang làm gì ở đây thế?”
Hai vai ông lão cứng lại và ông bước lùi lại khỏi cái hộp gỗ. “Chúng ta vào nhà đi, ngày mai cậu có thể lại ra đây và nhìn nó.”
Trong phòng khách, ông lão ngồi trên chiếc ghế bành và mở quyển sách của mình ra. “Tôi thấy ở đây việc xếp hàng rất là quan trọng”, ông lão nói với tôi bằng cái giọng cười ngầm quen thuộc.
“Gia đình bác đâu?” Tôi nói. “Bác cho cháu hoa, làm cháu nhớ đến Syria và cháu hỏi sao bác lại ở đây thì bác phớt lờ cháu.”
Ông lão gấp quyển sách lại và nhìn thẳng vào mắt tôi.
“Ngay khi đặt chân lên con thuyền đi Tây Ban Nha đó, tôi biết tôi đã bán mất cuộc đời mình, dù đời tôi cũng còn lại gì mấy. Các con tôi muốn đi, chúng muốn tìm kiếm một cuộc đời tốt đẹp hơn. Tôi thì không muốn cô đơn một mình. Chúng có những giấc mơ. Người trẻ vẫn có những giấc mơ. Cuộc sống ở quê nhà ngày càng khó khăn. Chúng không lấy được visa. Có chút vấn đề, có rất nhiều vấn đề… Thế là chúng làm chui, chuyện này rất nguy hiểm. Chúng tôi đã quyết định tất cả sẽ đi cùng nhau, nhưng con trai và con gái tôi bị đưa tới một nhà trọ khác nơi người ta chấp nhận trẻ em. Cả hai đứa cũng đang đợi, và con gái tôi… con gái tôi…” Ông lão không nói nữa và tôi nhìn vào đôi mắt có chút ánh sáng nhưng bị giấu đi gần hết dưới những nếp nhăn kia. Tâm trí ông ấy không còn ở đây nữa. Tôi cũng không hỏi thêm câu nào.
Diomande đang ở trong phòng mình. Cậu ta lên tầng ngay sau khi Lucy Fisher rời đi, đóng cửa lại và từ lúc ấy vẫn chưa ra ngoài. Khi ông lão Maroc và mọi người đều đã đi ngủ, tôi lại đi ra khoảnh sân. Tôi đến gần chiếc đèn cảm ứng để nó tự bật và tôi thấy con ong đang bò trên cây bồ công anh, an vị trên nhà mới của nó.
Và bỗng những bông hoa trên cây lọt vào mắt tôi. Có hàng ngàn bông. Tôi nhìn khắp xung quanh và mong thấy Mohammed trong một góc vườn tối nào đấy. Tôi quỳ xuống và nhìn qua cái lỗ trên hàng rào, cố gắng tìm màu xanh của lá trong bụi rậm và trên tán cây. Tôi ngồi xuống dựa hẳn vào thân cây, duỗi thẳng chân và nhắm mắt lại. Thật yên tĩnh, chỉ có tiếng ô tô. Tôi nhắm nghiền hai mắt, tập trung và tôi có thể nghe thấy tiếng sóng. Chúng dâng lên thật ồn ào, một tiếng thở dài và sâu, rồi lại rút đi. Tôi cảm thấy có nước ngay bên thân mình, ngay tại đây, một con quái vật đen xì đang chụp lấy chân tôi. Tôi nằm ngửa ra, và cả thân thể lẫn tâm trí tôi đều bị cuốn vào
biển
tối om và dữ dội. Mohammed đang đứng trên bờ. Trong bộ quần áo đen, thằng bé như vô hình trước trời đêm và biển nước như mực. Thằng bé lùi lại mỗi khi con sóng xô vào chân nó và nắm chặt lấy tay tôi. Afra đứng ngay kia, nhìn về phía đất liền chứ không về phía biển. Chuyến xe khách dài ba tiếng đồng hồ băng qua Thổ Nhĩ Kỳ đã đưa chúng tôi tới đây. Tất cả đang co ro trong chiếc áo phao cùng hành lý ít ỏi. Dù chỉ có hai mươi người trong căn hộ của gã trung gian, số người lên dọc đường đã lên tới bốn mươi. Gã trung gian đang đứng nói chuyện với người đàn ông sẽ chỉ huy con xuồng của chúng tôi đêm nay.Con thuyền rời đi đêm qua đã bị lật và đoàn người mất tích giữa lòng biển. Người ta kéo lên được bốn người và tám cái xác. Đấy là những gì tôi nghe được từ các cuộc nói chuyện đang diễn ra xung quanh mình.
“Ít nhất cũng không tệ như từ Libya đến Ý. Đấy mới là cuộc vượt biển đáng sợ nhất!” Một người phụ nữ đứng gần đó với một người đàn ông. “Vài thi thể đã bị sóng đánh vào bờ biển Tây Ban Nha đó.”
Mohammed siết chặt lấy tay tôi.
“Cháu bảo rồi mà”, thằng bé nói. “Cháu nói chuyện này với chú rồi đúng không?”
“Phải, cháu nói rồi, nhưng mà…”
“Vậy thế là đúng, đúng không? Chúng ta sẽ ngã xuống nước sao?”
“Chúng ta sẽ không ngã.”
“Làm sao chú biết?”
“Vì Thánh Allah sẽ bảo vệ chúng ta.”
“Vì sao Người không bảo vệ những người khác? Chúng ta đặc biệt hơn à?”
Thằng bé lanh lợi này. Tôi cúi xuống nhìn nó.
“Đúng vậy.”
Nó nhướn mày. Một cơn gió mạnh thổi tới và sóng lại nổi lên.
“Nó như một con quái vật í”, Mohammed nói.
“Đừng nghĩ đến nó nữa.”
“Làm sao cháu đừng nghĩ được khi nó đang ở ngay trước mặt cháu thế này? Như kiểu chú đưa một con gián đang vùng vẫy giãy giụa ra ngay trước mặt cháu và bảo cháu đừng có nghĩ đến nó nữa ấy!”
“Chà, thế thì cứ nghĩ tiếp đi, cho đến lúc con gián nó ị lên quần cháu ấy!”
“Ý cháu không phải thế!”
“Giả vờ là chúng ta đang trên thuyền đi.”
“Nhưng rõ ràng không phải mà, chúng ta đi xuồng cao su. Nếu tất cả chúng ta đều rơi xuống nước, có khi mấy bác ngư dân chài lưới lại vớt được. Họ sẽ nghĩ họ bắt được cá to lắm, nhưng rồi sẽ ngã ngửa với cú sốc lớn nhất trong đời cho mà xem.”
Afra nghe chúng tôi nói chuyện nhưng không tham gia. Em ngồi quay lưng lại với chúng tôi. Chúng tôi đợi ở đó ít nhất phải một tiếng đồng hồ. Mọi người bắt đầu thấp thỏm.
“Đây có thể là lần cuối cùng chúng ta ở trên trái đất này”, Mohammed nói. “Có kem thì tuyệt quá. Hoặc một điếu thuốc lá.”
“Thuốc lá? Nhóc con cháu mới bảy tuổi thôi đấy.”
“Cháu biết cháu bao tuổi. Bố bảo đừng bao giờ thử dù chỉ một điếu, vì nó sẽ giết cháu. Cháu tính đến năm bảy mươi tuổi thì sẽ thử một điếu. Nhưng xét thấy chúng ta có thể chết đêm nay thì thử luôn bây giờ cũng không tồi. Chú muốn làm gì nếu đêm nay chú chết?”
“Đêm nay chúng ta sẽ không chết. Đừng có nghĩ đến chuyện đó nữa.”
“Nhưng nếu thế thì chú muốn làm gì?”
“Chú muốn có một ít phân lạc đà.”
“Tại sao ạ?”
“Tốt cho tóc chứ sao.”
Thằng bé cười ngặt nghẽo.
Tôi thấy một người phụ nữ đứng gần đó đang nhìn mình, ánh mắt lướt nhanh qua tôi rồi lại nhìn sang chỗ Mohammed đang đứng. Một phụ nữ trẻ, mới khoảng ba mươi, mái tóc dài và đen như tóc Afra đang bị gió thổi quét ngang gương mặt. Cô đưa tay giữ chúng lại và một lần nữa nhìn tôi.
“Chị không sao chứ?” Tôi hỏi.
“Tôi á?” Cô nói.
Tôi gật đầu, cô liếc nhìn Mohammed và bước lại gần tôi một bước. “Chỉ là…” Cô ngần ngại. “Chỉ là tôi cũng đã mất con trai. Tôi… Tôi hiểu. Tôi hiểu cảm giác ấy thế nào. Khoảng trống ấy. Tăm tối như biển sâu.”
Cô quay đi và không nói gì nữa, nhưng gió thổi từ biển vào và tiếng vọng lại của những lời ấy thấm qua da và làm tim tôi đông cứng lại.
Vị thuyền trưởng đã bước lên chiếc xuồng và tay trung gian đang chỉ cho anh ta xem thứ gì đó trên điện thoại, rồi lại chỉ ra biển. Mọi người tiến đến gần mép nước hơn, hiểu rằng sắp đến lúc lên đường. Tất cả bắt đầu mặc áo phao màu cam. Tôi tập trung điều chỉnh cái khóa ở áo của Mohammed và giúp Afra mặc áo của em.
Tay trung gian vẫy tay gọi chúng tôi và mọi người đi sát đến mép nước, từng người từng người trèo lên chiếc xuồng đang tròng trành. Mohammed ngoan ngoãn ngồi cạnh tôi. Afra vẫn không nói gì. Em không nói một lời nào nhưng tôi biết em sợ: Bây giờ tâm trí em cũng đen như trời đêm và dậy sóng như biển.
Tay trung gian bảo chúng tôi tắt hết đèn pin và điện thoại đi. Không được phép có bất cứ ánh sáng hay âm thanh nào cho tới khi chúng tôi ra đến hải phận quốc tế.
“Làm sao chúng ta biết được là đã đến hải phận quốc tế?” Một người đàn ông hỏi.
“Bởi vì nước sẽ thay đổi. Nó khác hẳn.” Tay trung gian nói.
“Nghĩa là sao?”
“Nước sẽ đổi màu, rồi anh sẽ thấy, nó trông rất khác.”
Chỉ có thuyền trưởng còn đang bật điện thoại, để dùng GPS. Tay trung gian nhắc anh ta nhớ phải theo sát tọa độ, và nếu điện thoại có vấn đề gì thì cứ nhìn theo ánh sáng đằng xa và đi theo chúng.
Động cơ khởi động và chúng tôi đi vào bóng tối, chiếc xuồng cao su bập bềnh giữa những con sóng.
“Không đến nỗi tệ nhỉ”, tôi nghe thấy tiếng trẻ con. “Không hề tệ chút nào!” Giọng cô bé vui vẻ như thể chúng tôi vừa thoát được một mối nguy lớn.
“Suỵttt!” mẹ cô bé ra hiệu. “Họ bảo phải trật tự!”
Một người đàn ông bắt đầu đọc một đoạn thơ trong kinh Coran, và đến khi chúng tôi xa bờ hơn, nhiều người khác cũng làm vậy. Tiếng đọc thầm của họ hòa lẫn với tiếng sóng và tiếng gió giữa biển tối.
Tôi để một tay trong nước. Tôi cứ giữ như vậy, cảm nhận sự chuyển động của dòng chảy, sự vội vã của biển cả, sự vô cảm của nó, càng xa đất liền thì càng lạnh. Tôi đặt tay kia lên vai Afra nhưng em không phản ứng gì, hai môi đã mím chặt, đóng kín như vỏ sò.
Mohammed đang run cầm cập, hàm răng thằng bé va vào nhau liên tục. “Chúng ta vẫn chưa rơi xuống biển”, nó nói.
Tôi cười: “Ừ, vẫn chưa.”
Hai mắt thằng bé mở lớn, thực sự sợ hãi. Có vẻ nó đang trông cậy cả vào sự lạc quan ngây thơ của tôi.
“Cháu đừng lo”, tôi nói. “Chúng ta sẽ không ngã xuống đâu. Mọi người đang cầu nguyện kìa. Thánh Allah sẽ nghe được.”
“Thế tại sao Người không nghe thấy những người khác?”
“Chúng ta đã nói về chuyện này rồi mà.”
“Cháu biết, bởi vì chúng ta đặc biệt. Chân cháu bị ướt rồi.”
“Chân chú cũng thế.”
“Chân cháu lạnh quá!”
“Chú cũng thế.”
Mohammed nhìn sang Afra. “Chân vợ chú có ướt không?”
“Chú nghĩ là có.”
“Sao cô ấy không nói gì thế ạ?”
Thằng bé nhìn Afra một hồi lâu, gương mặt em, khăn choàng của em, quần áo của em, đôi tay, đôi chân và bàn chân. Tôi cũng nhìn theo nó, tự hỏi nó đang nghĩ gì, nó đang cố hiểu điều gì, mẹ nó đang ở đâu.
“Đi sẽ mất bao lâu ạ?”
“Sáu tiếng.”
“Chúng ta đi được bao lâu rồi ạ?”
“Sáu phút.”
“Không! Phải lâu hơn rồi chứ!”
“Thế sao cháu còn hỏi chú?”
“Mười sáu phút.”
“Được rồi, mười sáu phút.”
“Vậy chúng ta còn năm tiếng bốn mươi bốn phút nữa. Cháu sẽ đếm.”
“Ừ. Đếm đi.”
Thằng bé bắt đầu đếm thật, và đến lúc đếm được tới phút thứ mười lăm, nó đã ngả đầu vào vai tôi và ngủ thiếp đi.
Tôi vẫn đặt một tay lên cánh tay Afra, một tay kia để trong nước. Tôi nhìn vào bóng tối của biển và trời, không biết đâu là ranh giới giữa chúng. Đây là thứ Afra thấy mỗi ngày ư? Một trống rỗng mênh mông vô hình này.
Một cô bé bắt đầu khóc. “Suỵt.” Mẹ cô bé lại nói. “Chúng ta phải trật tự cơ mà!”
“Nhưng chúng ta đã ra đến hải phận quốc tế rồi!” Con bé nói to. “Con được phép khóc rồi!”
Bà mẹ bật cười. Chị cười thành tiếng và con bé đang khóc cũng bỗng cười ngon lành. Cuối cùng, bà mẹ ngừng lại để thở và nói, “Chưa, chúng ta vẫn chưa ra đến hải phận quốc tế đâu.”
“Sao mẹ biết?”
“Mẹ biết.”
“Được rồi. Khi nào ra đến đó, mẹ nhớ bảo con biết nhé?”
“Để con khóc hả?”
“Vâng, con cần khóc thật to”, con bé đáp.
“Tại sao?”
“Tại con sợ lắm.”
“Thôi giờ con ngủ đi”, bà mẹ nói.
Rồi lại là sự tĩnh lặng. Không có tiếng cầu nguyện, không có tiếng tụng niệm, không có tiếng thì thầm.
Và có lẽ tôi cũng ngủ mất rồi, vì tôi thấy trước mắt mình bao nhiều hình ảnh:
Những mẩu lego vứt lung tung trên sàn nhà
Gạch lát xanh và những bông hoa màu đen
Afra mặc chiếc váy vàng rực rỡ
Sami chơi lego trong phòng khách, thằng bé đang xây một ngôi nhà
Vườn ong dưới cái nắng ban trưa
Những tổ ong cháy rụi và những con ong đã chết
Mustafa ngồi sụp giữa vườn
Những thi thể trôi trên dòng sông
Firas nằm trên cái bàn trong nhà xác
Mustafa nắm tay thằng bé
Afra ở giữa khu chợ đang ôm Sami vào lòng
Đôi mắt của Sami
Và rồi lại là bóng tối.
Tôi giật mình tỉnh lại vì cơn hoảng loạn.
Sóng đã lớn hơn.
Tiếng một người đàn ông đang hét: “Múc nước đổ đi! Trong thuyền đang nhiều nước quá!”
Có ánh đèn pin lóe sáng, có tiếng tay múc nước hất đi, rồi tiếng trẻ con khóc. Mohammed tỉnh như sáo và giúp chúng tôi hất nước ra ngoài. Tôi thấy có người nhảy xuống nước, chiếc xuồng ngay lập tức nhẹ đi và nổi lên.
“Nuri!” Afra gọi. “Anh có ở trên thuyền không?”
“Đừng lo”, tôi đáp. “Chúng ta đều đang trên thuyền.”
“Hãy ở trên thuyền. Đừng có xuống nước.”
Mohammed vẫn đang múc nước bằng hai bàn tay, mọi người trên thuyền cũng đang làm vậy. Cô bé ban nãy bắt đầu khóc. Nó gọi những người vừa nhảy xuống, gọi họ quay trở lại thuyền.
Nước tiếp tục dâng cao và càng có nhiều người nhảy ra. Đứa trẻ nào cũng đang khóc, ngoại trừ Mohammed. Tôi có thể nhìn thấy gương mặt thằng bé giữa những lần đèn lóe sáng, nghiêm túc và đầy quyết tâm.
Mọi thứ tối om trong chốc lát, và khi ánh đèn pin lóe sáng trở lại, thằng bé đã biến mất. Mohammed không còn ở trên thuyền nữa. Tôi nhìn khắp mặt nước, những con sóng đen ngòm, nhìn ra xa nhất có thể và sau đó, không nghĩ ngợi gì, nhảy xuống nước. Nước lạnh cóng nhưng sóng không lớn như tôi nghĩ. Tôi bơi quanh, ánh đèn thoáng rọi mặt nước.
“Mohammed!” Tôi gọi. “Mohammed!” Nhưng không có tiếng đáp lại.
Tôi có thể nghe thấy giọng Afra từ trên thuyền. Em đang gọi tôi, nhưng tôi không nghe được em nói gì. Tôi tiếp tục tìm trong làn nước đen như mực. Làm sao tôi nhìn được thằng bé với bộ đồ đen và mái tóc đen của nó đây?
“Mohammed!” Tôi gọi. “Mohammed!”
Ánh đèn chiếu qua gương mặt của những người đàn ông. Tôi lại lặn xuống màn đen tĩnh mịch, nhưng dù có đèn, tôi gần như chẳng nhìn thấy gì. Tôi cố lặn lâu nhất có thể, quờ tay mong có thể tóm được thử gì, một cánh tay hay một bàn chân, đến khi phổi không còn chút dưỡng khi nào, áp lực của cái chết đè nặng, tôi trở lại mặt nước, hổn hển hít vào màn đêm đen đặc và gió.
Tôi đang định lấy hơi một lần nữa để lặn xuống thì thấy một người đàn ông đang ôm Mohammed, nhấc thằng bé lên thuyền. Người phụ nữ đón lấy đứa trẻ đang sặc nước và ho dữ dội vào lòng mình, tháo khăn ra rồi quấn quanh người nó.
Giờ chúng tôi đã đi sâu vào hải phận quốc tế. Người trung gian nói đúng, nước đã thay đổi, sóng cũng khác hẳn, những nhịp sóng xa lạ. Mọi người đều bật đèn pin, hy vọng một chiếc tàu tuần duyên nào đó sẽ nhìn thấy, hy vọng chúng tôi đã tới Hy Lạp đủ gần và được ai đó cứu giúp. Những ánh đèn pin giữa đêm tối như những lời cầu nguyện, bởi chẳng có dấu hiệu gì cho thấy sẽ có người tới. Những người đã nhảy xuống không thể quay lại thuyền được nữa. Con thuyền vẫn còn quá nhiều nước. Tôi cảm thấy cơ thể mình đờ đẫn dần đi. Tôi muốn ngủ, tôi muốn gối đầu lên những con sóng đang đến và ngủ một giấc thật dài.
“Nuri!” Ai đó đang gọi. “Nuri!”
Tôi nhìn thấy những vì sao trên đầu mình, và thấy gương mặt của Afra.
“Nuri! Nuri! Có một chiếc thuyền!” Một bàn tay đang nắm lấy cánh tay tôi. “Chú Nuri! Có một chiếc thuyền đang tới!”
Mohammed đang nhìn tôi, kéo tôi lên. Chiếc áo phao đang xẹp dần, tôi đạp chân liên tục để giữ cho mình nổi, để máu nóng một lần nữa tỏa đi khắp cơ thể.
Phía đằng xa, một ngọn đèn sáng rực đang tiến về phía chúng tôi.