Người Nuôi Ong Thành Aleppo

Lượt đọc: 818 | 1 Đánh giá: 10/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
- 6 -

Lần này, khi tôi tỉnh dậy trên nền sân bê tông trong khu vườn, ông lão đã đứng sẵn phía trước và chìa tay ra với tôi.

“Nay cậu sao rồi?” Ông lão nói bằng tiếng Anh, vừa nói vừa kéo tôi đứng dậy, rồi lại dùng tiếng Ả Rập bảo tôi rằng Afra đang đợi tôi, có vẻ còn buồn bực hơn cả lần trước. Khi tôi lên đến phòng, em đang ngồi trên giường, quay lưng về phía cửa và trong lòng là chiếc bát đựng hoa hôm trước.

“Anh đi đâu thế?” Em hỏi, trước khi tôi kịp nói gì.

“Anh ngủ quên ở dưới tầng.”

“Lại ở trong vườn à?”

Tôi không trả lời.

“Anh không muốn ngủ cạnh em nữa rồi.”

Tôi phớt lờ câu nói của em. Tôi đưa cho em cuốn sổ vẽ và hộp chì màu, đặt chúng vào lòng em, cầm tay em chạm vào chúng để em biết chúng ở đó.

“Một món quà nữa à?” Em nói.

“Còn nhớ lúc ở Athens em đã làm gì không?” Tôi nói, và dù mỉm cười, em đặt chúng sang một bên.

“Em đã thay đồ xong rồi thì anh sẽ ra ngoài đi dạo chút. Em có muốn đi không?”

Tôi đứng đó chờ đợi chỉ để nghe lời đáp im lặng của em. Khi hiểu rằng em sẽ không trả lời mình, tôi xuống nhà và ra phố, hòa vào ánh mặt trời. Tôi đến chỗ có lâu đài cát. Bãi cát lẫn lộn đủ thứ tạp nham. Tôi nhặt một mẩu nhựa trong màu hồng, có lẽ là một mảnh vỡ từ chiếc cốc nào đó, và vung tay ném nó xuống biển. Những con sóng nhanh chóng nuốt chửng nó.

Đằng sau tôi, dưới tán dù, một người phụ nữ lớn tuổi đang ngồi đọc sách trên chiếc ghế võng, đầu đội mũ rộng vành, bên cạnh là một lọ kem chống nắng. Có vẻ cô không nhận ra rằng hôm nay không nắng và thậm chí trời còn có thể có mưa.

Một vài người dắt chó đi dạo, một người phục vụ đang nhặt rác. Hậu quả của một buổi tắm nắng. Hậu quả của một cuộc chiến tranh là thứ gì đó hoàn toàn khác. Ở đây có bầu không khí bình yên, không khí của một cuộc sống đang tiếp diễn. Hy vọng một ngày nắng nữa. Xa xa bên trái, tiếng nhạc khi có khi không vẳng lại từ bến tàu. Tiếng nhạc ấy chưa bao giờ ngừng.

Mặt trời ló khỏi những đám mây và mặt biển trở nên lấp lánh.

“Xin lỗi anh,” một giọng nói vang lên phía sau tôi. Tôi quay lại và thấy người phụ nữ đó đang cau mày. Làn da của cô nâu sạm như thể vừa tắm nắng giữa những thảo nguyên cát bụi của Syria.

“Vâng?”

“Anh vui lòng dịch ra một chút để không chắn mất ánh nắng của tôi được không? Cảm ơn anh.” Cô cảm ơn tôi khi tôi còn chưa di chuyển. Đúng là khó mà quen được với kiểu cách người Anh thế này – tôi có thể hiểu sự bối rối của ông lão. Và rõ ràng, ở đây việc xếp hàng rất quan trọng. Người ta thực sự xếp thành đúng một hàng trước một cửa tiệm nào đó. Tôi khuyên anh nên giữ cho mình một chỗ trong hàng và đừng tìm cách chen lên phía trước, vì như thế sẽ làm người ta nổi điên đấy! Đây là những điều người phụ nữ ở Tesco đã nói với tôi tuần trước. Nhưng tôi không thích những hàng lối của họ, cái kiểu trật tự của họ, những khu vườn vuông vắn gọn ghẽ, những hành lang ngăn nắp, những ô cửa sổ nhô ra sáng lên hằng đêm nhờ màn hình nhấp nháy của chiếc tivi. Tất cả chúng đều nhắc tôi nhớ rằng những người này chưa từng chứng kiến chiến tranh, Tất cả đều nhắc tôi nhớ rằng nơi quê nhà không ai có thể xem tivi trong phòng khách hay ngoài hiên, và khiến tôi nhớ tới mọi thứ mình đã bị tước mất, đã bị hủy hoại.

Tôi hỏi đường tới phòng khám đa khoa và thấy nó nằm trên một con dốc, từ biển đi men lên theo con đường phụ là tới. Nơi này đang đầy trẻ em bị cúm. Một người mẹ giữ tờ khăn giấy trên mặt đứa con trai và dạy nó cách xì mũi. Vài đứa trẻ khác thì đang ngồi trên một chiếc chiếu trong góc phòng và chơi đồ chơi. Những người lớn đọc báo hoặc nhìn màn hình, chờ mình được gọi tên.

Tôi đứng vào hàng người ở trước quầy lễ tân. Có vài người đằng trước tôi. Có một vạch kẻ vàng trên sàn với dòng chữ “Xếp hàng sau vạch kẻ này”.

Người phụ nữ đằng trước đang đưa cho lễ tân một mẫu nước tiểu. Cô lễ tân kéo cặp kính gọng đỏ từ đám tóc xoăn xù của mình xuống, nhìn kỹ cái ống, gõ gõ gì đó vào máy tính, bỏ cái ống vào túi bóng kính, dán kín lại và nói to: “Tiếp theo!”

Mất mười lăm phút mới đến lượt tôi và tôi đã chuẩn bị sẵn tờ đơn xin tị nạn. Khi tôi đặt nó lên bàn, cô hạ cặp kính xuống và đọc kỹ.

“Chúng tôi không thể xếp lịch khám cho anh được”, cô nói.

“Tại sao thế?”

“Vì đơn tị nạn của anh không có ghi địa chỉ.”

“Tại sao cô lại cần địa chỉ?”

“Để xếp lịch khám cho anh, chúng tôi cần một địa chỉ.”

“Tôi có thể nói địa chỉ cho cô.”

“Địa chỉ phải được ghi trên đơn tị nạn. Anh vui lòng quay lại khi đủ giấy tờ hợp lệ nhé.”

“Nhưng vợ tôi cần gặp bác sĩ.”

“Tôi rất tiếc, nhưng đây là quy định của chúng tôi.”

“Chỉ dẫn của dịch vụ y tế quốc gia ghi rõ là phòng khám không được phép từ chối tiếp nhận bệnh nhân chỉ vì họ không có chứng minh nhân thân hoặc địa chỉ.”

“Tôi rất tiếc”, cô nói, đẩy cặp kính lên lại mái tóc xoăn, miệng mím thành một đường thẳng, “đó là quy định của chúng tôi.”

Người phụ nữ đứng đằng sau tôi chặc lưỡi sốt ruột. Cô lễ tân đưa lại tờ đơn cho tôi với vẻ xin lỗi. Tôi đứng đó nhìn họ, và trong khoảnh khắc ấy, tôi cảm giác như có thứ gì đè bẹp mình. Chỉ là một tờ giấy thôi mà. Chỉ là một người lễ tân ở phòng khám. Nhưng tiếng người nói chuyện, tiếng người đi lại, tiếng điện thoại reo từ những phòng ngăn phía sau chiếc bàn, tiếng trẻ con cười đùa… tôi nghe thấy tiếng bom xé trời và tiếng kính vỡ vụn…

“Anh không sao chứ ạ?”

Tôi ngẩng đầu lên. Có một luồng sáng chớp nhoáng và tiếng đổ vỡ. Tôi quỳ sụp xuống và đưa hai tay bịt tai. Tôi thấy có bàn tay đặt lên lưng mình, và rồi có nước đưa tới.

“Tôi thật sự rất tiếc”, cô lễ tân nói, khi tôi đã đứng dậy và uống xong cốc nước. “Tôi không thể làm khác được. Anh có thể về chuẩn bị đúng giấy tờ cần thiết và quay lại sau được không?”

Tôi men theo con đường uốn lượn đi càng xa khỏi bờ biển. Những ngôi nhà xây bằng gạch đỏ giống y hệt nhau đứng san sát hai bên đường. Tôi quay lại nhà trọ.

Tôi lại thấy Afra đang ngồi trên giường, trong tay là mấy bông hoa. Tôi quỳ xuống trước mặt em và nhìn vào mắt em.

“Anh nằm xuống đây với em”, em nói, và câu này có nghĩa là “Em yêu anh, xin hãy ôm em.” Gương mặt em mang biểu cảm tôi đã quen thuộc từ bao năm trước, và nó khiến nỗi buồn của tôi trở thành điều có thể chịu đựng được, chỉ như một cú rung nhẹ; nhưng nó cũng làm tôi sợ, sợ số phận và vận mệnh, sợ tổn thương và đau đớn, sợ đau khổ ập đến bất ngờ, sợ mất tất cả trong phút chốc. Dù đang là buổi chiều, tôi vẫn nằm xuống bên em, để em vòng tay ôm tôi và đặt tay lên ngực tôi, nhưng tôi không chạm vào em. Em cố nắm tay tôi nhưng tôi tránh đi. Đôi bàn tay tôi đã nằm ở một quãng đời khác, khi yêu thương vợ mình là một điều rất đơn giản.

Tôi tỉnh dậy thì trời đã tối, bóng đêm đang cựa quậy. Tôi đã mơ gì đó, không rõ nữa, lần này không phải là tên giết người, tôi nhớ thoáng thấy những hành lang và cầu thang, những con đường đan xen nhau thành một mạng lưới chằng chịt, một nơi nào đó rất xa nơi đây, hình ảnh bầu trời buổi sớm và một

ngọn lửa
lập lòe trên bãi biển lúc hừng đông. Như những khúc gỗ bị dạt vào bờ, chúng tôi được cho lên một hòn đảo nhỏ tên là Farmakonisi. Chúng tôi ướt sũng, run rẩy, và mặt trời đã bắt đầu lên. Mặt Mohammed trắng bệch và tái nhợt. Thằng bé vẫn đang quấn chiếc khăn của người phụ nữ nọ và như thế nào đó mà nó lại đang nắm tay Afra. Dù vậy, hai người vẫn chẳng nói gì với nhau, không một lời nào. Cả hai chỉ đứng trên bờ, quay lưng về phía biển và nhìn mặt trời đang ló ra chào hỏi. Một người đàn ông gom hết chỗ áo phao lại và dùng chúng đốt thành một đống lửa lớn. Chúng tôi quây quanh ngọn lửa và sưởi ấm mình.

“Cháu đã bị ngã xuống nước.” Mohammed nói, giờ nó đang nắm tay tôi.

“Chú biết.”

“Cháu chết mất một lúc.”

“Gọi là suýt chết.”

“Nhưng cháu đã chết một lúc.”

“Làm sao cháu biết?”

“Cháu nhìn thấy mẹ. Mẹ đang nắm tay cháu trong nước và kéo kéo cháu, mẹ bảo không được ngủ, vì nếu ngủ cháu sẽ ngủ mãi mãi, cháu sẽ không bao giờ tỉnh dậy để chơi được nữa, nên cháu nghĩ cháu đã chết một lúc nhưng mẹ bảo cháu đừng thế.”

Tôi tự hỏi mẹ thằng bé đã xảy ra chuyện gì, nhưng tôi không muốn nói ra. Có vẻ một chiếc thuyền cứu nạn nữa sẽ đến đón và đưa chúng tôi tới một hòn đảo khác, tới lúc đó chúng tôi vẫn sẽ phải đợi ở hòn đảo này. Có một tàu chở hàng lớn đi qua nhưng nó đã đầy ắp người rồi, những người đó kể rằng họ đến từ một vùng biển xa của Thổ Nhĩ Kỳ, tới đây từ đêm trước và sẽ sang một đảo khác nhưng động cơ thuyền bị hỏng và chiếc thuyền trôi về phía đảo Farmakonisi này. Tuần vệ bờ biển tìm thấy họ và đem họ về đây. Một vài người đàn ông và mấy đứa trẻ xuống tàu, ngồi quanh đống lửa sưởi ấm và nói chuyện với chúng tôi.

“Chú Nuri!” Mohammed gọi, cười toe toét để lộ mấy cái răng sún. “Chỗ này được gọi là đảo Bánh Quy! Cái bạn nữ trên tàu bảo cháu thế!”

Sáng sớm thật lạnh. Lũ hải âu và bồ nông đang vục mỏ xuống biển. Trong sự an toàn của hòn đảo và hơi ẩm của ngọn lửa, mọi người bắt đầu gà gật. Mohammed đang nằm thẳng cẳng. Nó vẫn chưa ngủ mà nhìn ngắm trời xanh mênh mông, nheo nheo mắt trước những tia sáng ngày càng mạnh. Trong tay thằng bé là mấy viên đá cuội bé xíu, lăn qua lăn lại giữa những ngón tay. Afra đang ngồi bên cạnh tôi, ngả đầu lên vai tôi và siết chặt lấy cánh tay tôi, cả khi thiếp đi rồi cũng không buông lỏng. Và tôi nhớ đến Sami khi còn bé, con ngủ mà miệng vẫn ngậm ti mẹ, bàn tay tí hon níu chặt chiếc khăn quàng của Afra. Thật kỳ diệu phải không, chúng ta yêu thương nhau từ khi mới lọt lòng, chúng ta nắm chặt tình yêu ấy như nắm chặt sự sống.

“Chú Nuri?” Mohammed nói.

“Ừ.”

“Chú kể chuyện dỗ cháu ngủ được không? Mẹ hay kể chuyện cho cháu nghe lúc cháu không ngủ được.”

Tôi nhớ lại câu chuyện mẹ tôi từng kể khi tôi còn bé, nhớ mái đầu mẹ nghiêng nghiêng bên trang sách, nhớ chiếc quạt đỏ mẹ phe phẩy trên tay và tay kia ăn món kol w Shkor[7] yêu thích.

“Đi mà, chú Nuri!” Mohammed nói. “Chú kể đi mà, không cháu tự ngủ mà không cần nghe chuyện gì hết!”

Tôi bỗng thấy khó chịu vì thằng nhóc. Tôi chỉ muốn ở yên trong ký ức với giọng nói của mẹ, tiếng quạt phe phẩy và ánh sáng của ngọn đèn.

“Tự ngủ được thì tại sao lại cứ muốn nghe một câu chuyện hả?”

“Thì để cháu tự ngủ dễ hơn.”

“Được rồi”, tôi nói. “Câu chuyện thế này nhé: Một vị khalip[8] thông thái sai những kẻ hầu của mình – bao nhiêu kẻ thì chú không nhớ chính xác nữa – lên đường đi tìm Thành phố Đồng trong truyền thuyết giữa sa mạc xa xôi, nơi chưa từng có ai đặt chân tới. Chuyến đi kéo dài hơn hai năm trời và đầy gian khó. Những người hầu đã mang theo một nghìn con lạc đà và hai nghìn kỵ binh. Chú nhớ là như thế.”

“Nhiều vậy sao! Người ta làm gì với tận một nghìn con lạc đà chứ?”

“Đúng vậy, nhưng câu chuyện nó là như thế. Họ đi qua một vùng đất hoang vu, những phế tích hoang tàn và một sa mạc với gió nóng như lửa, nơi không có một giọt nước, không một tiếng động nào.”

“Làm sao lại không có tiếng động nào được?”

“Thì không có là không có thôi.”

“Không tiếng chim, tiếng gió hay tiếng nói chuyện luôn ạ?”

“Ừ, không có gì.”

Thằng bé ngồi hẳn dậy, còn tỉnh táo hơn cả lúc nãy. Chắc tôi chọn nhầm truyện rồi.

“Chú kể tiếp đi.”

“Đây”, tôi tiếp tục. “Một hôm, họ đến được một đồng bằng mênh mông. Họ nhìn thấy có thứ gì đó ở phía chân trời, cao lớn, đen sẫm và tỏa khói nghi ngút. Đến gần hơn, họ nhận ra đó là một tòa thành xây bằng đá đen và cửa thành được làm bằng thép.”

“Oa.” Mohammed mở to hai mắt, vô cùng kinh ngạc và tò mò.

“Chắc giờ hết buồn ngủ rồi hả?”

“Vâng!” Thằng bé đáp, lắc lắc cánh tay tôi, mong tôi kể tiếp.

“Trước mắt họ chính là Thành phố Đồng được bảo vệ bên trong dãy tường thành cao ngất. Đằng sau bức tường ấy là một thiên đường lung linh những đền đài, thánh đường, vương cung, những tòa tháp và những khu chợ. Cháu có hình dung ra không?”

“Có ạ. Đẹp tuyệt vời!”

“Đúng là rất đẹp. Chúng lấp lánh màu vàng óng của đồng thau, của trang sức châu báu, của đủ loại đá quý và cẩm thạch. Nhưng…”

“Nhưng sao ạ?”

“Nhưng toàn bộ nơi này tĩnh lặng tuyệt đối. Không có một chuyển động, không có một âm thanh nào. Không có một ai. Trong các cửa hàng, các ngôi nhà, trên các đường phố… Chỉ có sự tĩnh lặng hoang vu. Tòa thành này không có sự sống. Sự sống vô nghĩa như cát bụi. Không gì mọc được. Không gì thay đổi được.”

“Tại sao lại thế ạ?”

“Nghe đã nào. Ở giữa thành có một đình nghỉ chân rất lớn, mái vòm cao vút chọc trời. Đoàn người đi vào đình nghỉ chân, đến bên một chiếc bàn dài, thấy trên đó có khắc chữ: Từng ngồi dùng bữa tại chiếc bàn này là một ngàn ông vua bị mù mắt phải, cùng một ngàn ông vua bị mù mắt trái, và một ngàn ông vua mù cả hai mắt. Tất cả họ đã qua đời và nằm lại trong các lăng tẩm và hầm mộ. Mọi ông vua trị vì vương quốc này, nói theo một cách nào đó, đều không thể nhìn. Vậy nên họ để lại nó toàn vẹn trong sự giàu sang và trống rỗng vô hồn.”

Tôi quan sát gương mặt thằng bé, thấy những suy nghĩ của nó đang lay động trong đôi mắt. Một thoáng ngừng lại, như thể thằng bé đang nín thở. Và rồi nó thở dài một cái.

“Truyện buồn thật đấy.”

“Ừ, đó là một câu chuyện buồn.”

“Nó có thật không ạ?”

“Nó luôn là thật. Cháu không nghĩ thế à?”

“Như ở nhà chúng ta?”

“Phải, như ở nhà.”

Mohammed nằm xuống và quay mặt về phía ngọn lửa, nhắm mắt lại.

Nhìn làn khói bay lên vào bầu trời buổi sớm, tôi lại nhớ tới cảnh anh Mustafa phun khói ong trong mùa thu hoạch. Chúng tôi làm vậy để bảo vệ mình khi lấy mật ong, vì khói sẽ làm lũ ong không ngửi thấy mùi của nhau và không hung hăng đốt chúng tôi để tự vệ.

Chúng tôi để dăm gỗ và mùn gỗ đầy trong một cái thủng rồi châm lửa. Khi gỗ đã bắt lửa và bắt đầu cháy, chúng tôi dập lửa đi rồi chất tiếp nguyên liệu cháy vào. Không được để lửa cháy to thành ngọn vì nó sẽ lan đến đáy thùng và biến thành cái thổi lửa làm cháy mất cánh của lũ ong.

Khi đã tạo được nhiều đàn rồi, chúng tôi không thể tự mình làm hết nên đã thuê thêm người đến giúp. Gây đàn mới, nuôi ong chúa, kiểm tra thùng ong, và cả lấy mật. Trên cánh đồng chỗ Mustafa đang đứng, những người làm thuê cũng đang phun khói. Những làn khói bay lên dưới bầu trời xanh ngắt và mặt trời bỏng rát. Mustafa chuẩn bị bữa trưa cho tất cả mọi người, thường là đậu lăng hoặc lúa mì nứt với salad, pasta và trứng chần, phô mai baladi với mật ong. Chúng tôi có một căn lều nhỏ kèm bếp và một mái che bên ngoài với rất nhiều quạt để xua bớt chút nóng. Chúng tôi ngồi ăn cùng nhau. Mustafa ngồi đầu bàn, chấm bánh mì vào xốt cà chua và ăn uống ngon lành sau buổi sáng mệt nhọc. Anh ấy rất hãnh diện, luôn tự hào và biết ơn với những gì chúng tôi đã đạt được, nhưng một phần trong tôi luôn tự hỏi liệu lòng biết ơn ấy có xuất phát từ nỗi sợ, một nỗi sợ mơ hồ về một thảm họa tương lai hay không.

Mustafa mất mẹ khi mới lên năm. Mẹ anh mất cùng người em trai còn chưa chào đời của anh, và tôi nghĩ anh ấy luôn sống với cảm giác bi kịch chực chờ như vậy, nên anh trân trọng mọi thứ với niềm vui và nỗi lo của một đứa trẻ. “Nuri”, anh lau vệt nước xốt dưới cằm và gọi tôi, “nhìn những thứ chúng ta đã tạo ra này! Tuyệt diệu phải không? Thật là thần kỳ nhỉ?” Nhưng trong đôi mắt anh luôn thoáng gợn một điều gì khác, một vùng tối của trái tim ấu thơ mà mãi tôi mới nhận ra.

« Lùi
Tiến »